A Treatise on Cosmic Fire
Luận về Lửa Vũ Trụ
by
do
ALICE A. BAILEY
ALICE A. BAILEY
Dedicated with Gratitude to
Trân trọng hiến tặng với lòng biết ơn đến
HELENA PETROVNA BLAVATSKY,
HELENA PETROVNA BLAVATSKY,
that great disciple who lighted her torch in the
vị đại đệ tử đã thắp lên ngọn đuốc của bà ở
East and brought the light to Europe and America in 1875.
phương Đông và mang ánh sáng đến châu Âu và châu Mỹ vào năm 1875.
EXTRACT FROM A STATEMENT BY THE TIBETAN — TRÍCH TỪ MỘT TUYÊN BỐ CỦA CHÂN SƯ TÂY TẠNG
Suffice it to say, that I am a Tibetan disciple of a certain degree, and this tells you but little, for all are disciples from the humblest aspirant up to, and beyond, the Christ Himself. I live in a physical body like other men, on the borders of Tibet, and at times (from the exoteric standpoint) preside over a large group of Tibetan lamas, when my other duties permit. It is this fact that has caused it to be reported that I am an abbot of this particular lamasery. Those associated with me in the work of the Hierarchy (and all true disciples are associated in this work) know me by still another name and office. A.A.B. knows who I am and recognises me by two of my names.
Chỉ cần nói rằng, tôi là một đệ tử Tây Tạng ở một cấp độ nào đó, và điều này nói với các bạn rất ít, vì tất cả đều là đệ tử, từ người chí nguyện khiêm tốn nhất cho đến, và vượt lên trên, chính Đức Christ. Tôi sống trong một thể xác như những người nam và nữ khác, ở vùng biên giới Tây Tạng, và đôi khi (theo quan điểm ngoại môn) chủ trì một nhóm lớn các lạt ma Tây Tạng, khi những bổn phận khác của tôi cho phép. Chính sự kiện này đã khiến người ta truyền đi rằng tôi là viện trưởng của tu viện lạt ma đặc biệt này. Những người cộng tác với tôi trong công việc của Thánh đoàn (và mọi đệ tử chân chính đều cộng tác trong công việc này) biết tôi dưới một tên gọi và chức vụ khác nữa. A.A.B. biết tôi là ai và nhận ra tôi qua hai trong các danh xưng của tôi.
I am a brother of yours, who has travelled a little longer upon the Path than has the average student, and has therefore incurred greater responsibilities. I am one who has wrestled and fought his way into a greater measure of light than has the aspirant who will read this article, and I must therefore act as a transmitter of the light, no matter what the cost. I am not an old man, as age counts among the teachers, yet I am not young or inexperienced. My work is to teach and spread the knowledge of the Ageless Wisdom wherever I can find a response, and I have been doing this for many years. I seek also to help the Master M. and the Master K.H. whenever opportunity offers, for I have been long connected with Them and with Their work. In all the above, I have told you much; yet at the same time I have told you nothing which would lead you to offer me that blind obedience and the foolish devotion which the emotional aspirant offers to the Guru and Master Whom he is as yet unable to contact. Nor will he make that desired contact until he has transmuted emotional devotion into unselfish service to humanity-not to the Master.
Tôi là một huynh đệ của các bạn, người đã đi trên Con Đường lâu hơn một chút so với đạo sinh trung bình, và vì thế đã gánh lấy những trách nhiệm lớn hơn. Tôi là người đã vật lộn và chiến đấu để tiến vào một mức độ ánh sáng lớn hơn so với người chí nguyện sẽ đọc bài viết này, và vì vậy tôi phải hành động như một kẻ truyền đạt ánh sáng, bất kể giá nào. Tôi không phải là một người già, theo cách tính tuổi giữa các huấn sư, nhưng tôi cũng không trẻ hay thiếu kinh nghiệm. Công việc của tôi là giảng dạy và truyền bá tri thức của Minh Triết Ngàn Đời ở bất cứ nơi nào tôi có thể tìm thấy một sự đáp ứng, và tôi đã làm điều này trong nhiều năm. Tôi cũng tìm cách giúp Chân sư M. và Chân sư K.H. bất cứ khi nào có cơ hội, vì tôi đã gắn bó lâu dài với Các Ngài và với công việc của Các Ngài. Trong tất cả những điều trên, tôi đã nói với các bạn nhiều điều; tuy nhiên đồng thời tôi cũng không nói với các bạn điều gì có thể khiến các bạn dành cho tôi sự phục tùng mù quáng và lòng sùng mộ ngu xuẩn mà người chí nguyện phân cực cảm xúc dành cho Guru và Chân sư mà y còn chưa thể tiếp xúc. Y cũng sẽ không tạo được sự tiếp xúc mong muốn đó cho đến khi y đã chuyển hoá lòng sùng mộ cảm xúc thành sự phụng sự vô ngã đối với nhân loại—không phải đối với Chân sư.
The books that I have written are sent out with no claim for their acceptance. They may, or may not, be correct, true and useful. It is for you to ascertain their truth by right practice and by the exercise of the intuition. Neither I nor A.A.B. is the least interested in having them acclaimed as inspired writings, or in having anyone speak of them (with bated breath) as being the work of one of the Masters. If they present truth in such a way that it follows sequentially upon that already offered in the world teachings, if the information given raises the aspiration and the will-to-serve from the plane of the emotions to that of the mind (the plane whereon the Masters can be found) then they will have served their purpose. If the teaching conveyed calls forth a response from the illumined mind of the worker in the world, and brings a flashing forth of his intuition, then let that teaching be accepted. But not otherwise. If the statements meet with eventual corroboration, or are deemed true under the test of the Law of Correspondences, then that is well and good. But should this not be so, let not the student accept what is said.
Những cuốn sách mà tôi đã viết được gửi ra mà không đòi hỏi phải được chấp nhận. Chúng có thể đúng, hoặc không đúng, chân thật và hữu ích. Việc xác định chân lý của chúng bằng thực hành đúng đắn và bằng sự vận dụng trực giác là phần việc của các bạn. Cả tôi lẫn A.A.B. đều không hề quan tâm đến việc chúng được tung hô như những trước tác được cảm hứng, hay việc có ai đó nói về chúng (với hơi thở nín lại) như là công trình của một trong các Chân sư. Nếu chúng trình bày chân lý theo cách tiếp nối tuần tự với điều đã được cống hiến trong các giáo huấn của thế gian, nếu thông tin được đưa ra nâng khát vọng và Ý Chí-Phụng sự từ cõi cảm xúc lên cõi trí (cõi mà tại đó có thể tìm thấy các Chân sư) thì chúng sẽ hoàn thành mục đích của mình. Nếu giáo huấn được truyền đạt khơi dậy một sự đáp ứng từ trí tuệ được soi sáng của người hoạt động trong thế gian, và mang lại sự bừng lóe của trực giác của y, thì hãy chấp nhận giáo huấn ấy. Nhưng không phải cách khác. Nếu các phát biểu ấy gặp được sự xác chứng về sau, hoặc được xem là chân thật dưới phép thử của định luật tương ứng, thì điều đó là tốt và đáng mừng. Nhưng nếu không phải vậy, đạo sinh chớ chấp nhận điều được nói ra.
AUGUST 1934
THÁNG TÁM 1934
THE GREAT INVOCATION — ĐẠI KHẤN NGUYỆN
From the point of Light within the Mind of God
Từ điểm Ánh sáng trong Trí Thượng Đế
Let light stream forth into the minds of men.
Cầu xin Ánh sáng tràn vào Trí Con người
Let Light descend on Earth.
Cầu xin Ánh sáng giáng xuống trần gian
From the point of Love within the Heart of God
Từ nguồn Tình thương trong Tâm Thượng đế
Let love stream forth into the hearts of men.
Cầu xin Tình thương tràn vào Tâm Con người
May Christ return to Earth.
Cầu xin Đức Christ trở lại trần gian
From the centre where the Will of God is known
Từ Trung tâm biết được Ý chí Thượng đế
Let purpose guide the little wills of men—
Cầu xin Thiên Ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của Con người
The purpose which the Masters know and serve.
Thiên Ý mà các Chân sư đều biết và phụng sự
From the centre which we call the race of men
Từ trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người
Let the Plan of Love and Light work out.
Cầu xin Thiên Cơ của Tình thương và Ánh sáng được thực thi
And may it seal the door where evil dwells.
Và cầu mong Thiên cơ đóng kín cửa vào nẻo ác
Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth.
Cầu xin Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên cơ trên Trần gian
“The above Invocation or Prayer does not belong to any person or group but to all Humanity. The beauty and the strength of this Invocation lies in its simplicity, and in its expression of certain central truths which all men, innately and normally, accept—the truth of the existence of a basic Intelligence to Whom we vaguely give the name of God; the truth that behind all outer seeming, the motivating power of the universe is Love; the truth that a great Individuality came to earth, called by Christians, the Christ, and embodied that love so that we could understand; the truth that both love and intelligence are effects of what is called the Will of God; and finally the self-evident truth that only through humanity itself can the Divine Plan work out.”
“Bài Khấn Nguyện hay Lời Cầu Nguyện trên không thuộc về bất kỳ cá nhân hay nhóm nào mà thuộc về toàn thể Nhân loại. Vẻ đẹp và sức mạnh của bài Khấn Nguyện này nằm ở sự đơn giản của nó, và ở sự diễn đạt những chân lý cốt lõi nhất định mà tất cả mọi người, một cách bẩm sinh và bình thường, đều chấp nhận—chân lý về sự tồn tại của một Trí Thông Minh cơ bản mà chúng ta mơ hồ đặt tên là Thượng đế; chân lý rằng đằng sau mọi vẻ ngoài, động lực của vũ trụ là Tình Thương; chân lý rằng một Cá Thể Tính vĩ đại đã đến trái đất, được người Kitô giáo gọi là Đức Christ, và hiện thân cho tình thương đó để chúng ta có thể hiểu được; chân lý rằng cả tình thương và trí thông minh đều là kết quả của cái được gọi là Ý Chí của Thượng đế; và cuối cùng là chân lý hiển nhiên rằng chỉ thông qua chính nhân loại, Thiên Cơ mới có thể thực hiện được.”
ALICE A. BAILEY
ALICE A. BAILEY
INTRODUCTION — LỜI MỞ ĐẦU
“To the God Who is in the FIRE and Who is in the waters;
“Kính dâng lên Thượng đế ở trong LỬA và ở trong các dòng nước;
To the God Who has suffused Himself through all the world;
Kính dâng lên Thượng đế đã thấm nhuần chính Ngài qua toàn thế giới;
To the God Who is in summer plants and in the lords of the forest;
Kính dâng lên Thượng đế ở trong cây cỏ mùa hạ và trong các chúa tể của rừng xanh;
To that God be adoration, adoration.”
Xin tôn thờ Thượng đế ấy, tôn thờ.”
SH’VET UPANISHAD, II.17
SH’VET UPANISHAD, II.17
[vi] The story of the many years of telepathic work by the Tibetan with Alice A. Bailey is revealed in her Unfinished Autobiography, published in 1951. This includes the circumstances of her first contact with him, on the physical plane, which took place in California in November 1919. Thirty years’ work was planned. When this had been accomplished, and within thirty days after that period, Mrs. Bailey gained her release from the limitations of the physical vehicle.
[vi] Câu chuyện về nhiều năm làm việc viễn cảm của Chân sư Tây Tạng với Alice A. Bailey được thuật lại trong cuốn Tự Truyện Chưa Hoàn Tất của bà, xuất bản năm 1951. Tác phẩm này bao gồm các hoàn cảnh của lần tiếp xúc đầu tiên của bà với ông, trên cõi hồng trần, diễn ra tại California vào tháng Mười Một năm 1919. Ba mươi năm làm việc đã được hoạch định. Khi điều này đã được hoàn tất, và trong vòng ba mươi ngày sau thời kỳ đó, bà Bailey đã được giải thoát khỏi những giới hạn của vận cụ hồng trần.
The Autobiography also contains certain statements by the Tibetan in regard to his work and some information as to the reasons why it was undertaken. In the early stages the work involved careful attention to the physical plane conditions which might best help to make the telepathic process more successful. But during the latter years the technique was so perfected and the etheric mechanism of A.A.B. so skilfully attuned and adjusted that the whole process was practically effortless, and the reality and practical usefulness of telepathic interplay was demonstrated to an unique degree.
Cuốn Tự Truyện cũng chứa đựng một số phát biểu của Chân sư Tây Tạng liên quan đến công việc của ông và một số thông tin về những lý do tại sao công việc ấy được đảm nhận. Trong các giai đoạn đầu, công việc này đòi hỏi sự chú ý cẩn trọng đến các điều kiện trên cõi hồng trần có thể giúp tốt nhất để làm cho tiến trình viễn cảm thành công hơn. Nhưng trong những năm về sau, kỹ thuật ấy đã được hoàn thiện đến mức và bộ máy dĩ thái của A.A.B. đã được khéo léo chỉnh hợp và điều chỉnh đến mức toàn bộ tiến trình hầu như không cần nỗ lực, và tính hiện thực cùng tính hữu dụng thực tiễn của sự tương tác viễn cảm đã được chứng minh ở một mức độ độc đáo.
The spiritual truths dealt with involved in many cases the expression by the lower concrete mind (often with the insuperable restrictions of the English language) of abstract ideas and hitherto quite unknown concepts of spiritual realities. This unescapable limitation of truth has been frequently called to the attention of the readers of the books so produced but is all too often forgotten. Its constant remembrance will constitute in the years to come one of the chief factors in preventing the crystallisation of the teaching from producing yet one more dogmatic sectarian cult.
Những chân lý tinh thần được bàn đến trong nhiều trường hợp liên quan đến sự biểu đạt, bởi hạ trí cụ thể (thường với những hạn chế không thể vượt qua của Anh ngữ), các ý tưởng trừu tượng và những khái niệm cho đến nay hoàn toàn chưa được biết đến về các thực tại tinh thần. Giới hạn không thể tránh khỏi này của chân lý đã thường xuyên được lưu ý đến với độc giả của những cuốn sách được tạo ra như thế nhưng lại quá thường xuyên bị quên lãng. Việc luôn luôn ghi nhớ điều đó trong những năm sắp tới sẽ cấu thành một trong những yếu tố chính để ngăn chặn sự kết tinh của giáo huấn khỏi tạo ra thêm một giáo phái giáo điều bè phái nữa.
The present volume, A Treatise on Cosmic Fire, first published in 1925, was the third book jointly produced and carries inherent evidence that it will stand as the major and most far-reaching portion of the thirty-year teachings, notwithstanding the profundity and usefulness of the volumes published in the series [vii] entitled A Treatise on the Seven Rays or of any other of the books.
Tập sách hiện tại, Luận về Lửa Vũ Trụ, xuất bản lần đầu năm 1925, là cuốn thứ ba được cùng nhau thực hiện và tự thân mang bằng chứng rằng nó sẽ đứng như phần chủ yếu và có tầm ảnh hưởng sâu rộng nhất của giáo huấn ba mươi năm, bất chấp chiều sâu và tính hữu ích của các tập đã xuất bản trong bộ [vii] mang tên Luận về Bảy Cung hay của bất kỳ cuốn sách nào khác.
During the long course of the work the minds of the Tibetan and A.A.B. became so closely attuned that they were in effect—so far as much of the production of the teaching was concerned—a single joint projecting mechanism. Even to the end A.A.B. often spoke of her amazement at the glimpses she obtained through contact with the Tibetan’s mind, of limitless vistas of spiritual truths which she could not possibly have otherwise contacted, and often of a quality she could not possibly express. This experience was the basis of her often proclaimed but frequently little-understood assertion that all the teachings she was aiding in producing was in fact only the A B C of esoteric knowledge, and that in the future she would gladly abandon any pronoucement in the present teaching, when she found better and more deeply esoteric teaching available. Clear and profound as the teaching actually is in the books published in her name, the truths imparted are so partial and subject to later revelation and expansion that this fact, if constantly remembered, will give us a second much-needed safeguard against that quality of the concrete mind which constantly tends to produce sectarianism.
Trong suốt tiến trình lâu dài của công việc, trí tuệ của Chân sư Tây Tạng và A.A.B. đã trở nên chỉnh hợp chặt chẽ đến mức, trên thực tế—ít nhất là trong phần lớn việc truyền đạt giáo huấn—họ là một bộ máy phóng chiếu chung duy nhất. Ngay cho đến cuối cùng, A.A.B. thường nói về sự kinh ngạc của bà trước những thoáng thấy mà bà có được qua sự tiếp xúc với trí tuệ của Chân sư Tây Tạng, về những viễn cảnh vô hạn của các chân lý tinh thần mà nếu không thì bà hoàn toàn không thể tiếp xúc, và thường là về một phẩm tính mà bà hoàn toàn không thể diễn đạt. Kinh nghiệm này là nền tảng cho lời khẳng định mà bà thường tuyên bố nhưng lại thường ít được thấu hiểu, rằng toàn bộ giáo huấn mà bà đang trợ giúp để tạo ra thực ra chỉ là bảng chữ cái A B C của tri thức huyền bí học, và rằng trong tương lai bà sẽ sẵn lòng từ bỏ bất kỳ phát biểu nào trong giáo huấn hiện tại, khi bà tìm thấy một giáo huấn tốt hơn và huyền bí hơn sâu sắc hơn. Rõ ràng và sâu sắc như giáo huấn thực sự là trong các cuốn sách xuất bản dưới tên bà, các chân lý được truyền đạt vẫn chỉ là từng phần và còn tùy thuộc vào sự mặc khải và mở rộng về sau; vì thế sự kiện này, nếu luôn được ghi nhớ, sẽ đem lại cho chúng ta một sự bảo vệ thứ hai rất cần thiết chống lại phẩm tính của trí cụ thể vốn luôn có khuynh hướng tạo ra tinh thần bè phái.
At the very beginning of the joint effort and after careful consideration it was decided between the Tibetan (D.K.) and A.A.B. that she as the working disciple on the outer plane should shoulder as much as possible of karmic responsibility on that plane, and that the teaching should go to the public over her signature. This involved the burden of leadership in the esoteric field and precipitated attack and condemnation from persons and organisations whose positions and activities were more Piscean and authoritarian.
Ngay từ lúc bắt đầu nỗ lực chung và sau khi cân nhắc cẩn thận, đã có quyết định giữa Chân sư Tây Tạng (D.K.) và A.A.B. rằng bà, với tư cách là đệ tử hoạt động trên cõi bên ngoài, nên gánh vác càng nhiều càng tốt trách nhiệm nghiệp quả trên cõi đó, và rằng giáo huấn nên được công bố ra công chúng dưới chữ ký của bà. Điều này kéo theo gánh nặng lãnh đạo trong lĩnh vực huyền bí học và làm ngưng tụ sự công kích và lên án từ những cá nhân và tổ chức có lập trường và hoạt động mang tính Song Ngư và độc đoán hơn.
The entire platform upon which esoteric teaching stands before the public today has been liberated from the limitations and follies of mystery, glamour, claim-making and impracticality, by the position taken by the Tibetan and A.A.B. The stand taken against dogmatic assertion has helped to establish a new era of mental freedom for the students of the progressively unfolding revelation of the Ageless Wisdom.
Toàn bộ nền tảng mà trên đó giáo huấn huyền bí học hiện nay đứng trước công chúng đã được giải phóng khỏi những giới hạn và sai lầm của sự bí hiểm, ảo cảm, sự tự xưng và tính thiếu thực tiễn, nhờ lập trường mà Chân sư Tây Tạng và A.A.B. đã giữ vững. Lập trường chống lại sự khẳng định giáo điều đã giúp thiết lập một kỷ nguyên mới của tự do trí tuệ cho các đạo sinh của sự mặc khải đang dần dần khai mở của Minh Triết Ngàn Đời.
[viii]The age-old method of arriving at truth by the process of accepting new authorities and comparing them with previously established doctrines, while of undoubted value in the training of the mind, is gradually being transcended. In its place is emerging in both the religious and philosophical worlds a new capacity to take a more scientific position. Spiritual teaching will be increasingly accepted as an hypothesis to be proved less by scholasticism, historical foundation and authority, and more by the results of its effect upon the life lived and its practical usefulness in solving the problems of humanity.
[viii]Phương pháp lâu đời để đạt đến chân lý bằng tiến trình chấp nhận những thẩm quyền mới và so sánh chúng với các giáo lý đã được thiết lập trước đó, tuy có giá trị không thể phủ nhận trong việc rèn luyện trí tuệ, đang dần dần được vượt qua. Thay vào đó, trong cả thế giới tôn giáo lẫn triết học đang xuất hiện một năng lực mới để giữ một lập trường khoa học hơn. Giáo huấn tinh thần sẽ ngày càng được chấp nhận như một giả thuyết cần được chứng minh không phải chủ yếu bằng tính kinh viện, nền tảng lịch sử và thẩm quyền, mà nhiều hơn bằng kết quả của tác động của nó lên đời sống được sống và tính hữu dụng thực tiễn của nó trong việc giải quyết các vấn đề của nhân loại.
Heretofore, advanced esoteric teaching has almost invariably been obtainable only by the student’s acceptance of the authority of the teacher, varying degrees of personal obedience to that teacher and pledges of secrecy. As the new Aquarian dispensation progresses these limitations will disappear. The personal relation of the disciple to the Master remains, but already discipleship training has been attempted in Group formation. The record of one such experiment and attempt to use this new age method has been made available to the public in the book entitled Discipleship in the New Age, which gives the direct personal instructions by the Tibetan to a selected group.
Trước đây, giáo huấn huyền bí học cao cấp hầu như luôn chỉ có thể đạt được khi đạo sinh chấp nhận thẩm quyền của huấn sư, tuân phục cá nhân đối với huấn sư ấy ở những mức độ khác nhau, và cam kết giữ bí mật. Khi kỷ nguyên Bảo Bình mới tiến triển, những giới hạn này sẽ biến mất. Mối liên hệ cá nhân của đệ tử với Chân sư vẫn còn, nhưng việc huấn luyện địa vị đệ tử đã được thử nghiệm trong hình thức nhóm. Hồ sơ của một thử nghiệm như thế và nỗ lực sử dụng phương pháp của kỷ nguyên mới này đã được công bố cho công chúng trong cuốn sách mang tựa đề Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, trình bày những chỉ huấn cá nhân trực tiếp của Chân sư Tây Tạng dành cho một nhóm được tuyển chọn.
In A Treatise on Cosmic Fire the Tibetan has given us what H. P. Blavatsky prophesied he would give, namely the psychological key to the Cosmic Creation. H.P.B. stated that in the 20th century a disciple would come who would give the psychological key to her own monumental work The Secret Doctrine on which treatise the Tibetan worked with her; and Alice A. Bailey worked in complete recognition of her own task in this sequence.
Trong Luận về Lửa Vũ Trụ, Chân sư Tây Tạng đã trao cho chúng ta điều mà H. P. Blavatsky đã tiên tri rằng Ngài sẽ trao, tức là chiếc chìa khóa tâm lý học cho Sáng Tạo Vũ Trụ. H.P.B. đã nói rằng trong thế kỷ 20 sẽ xuất hiện một đệ tử, người sẽ trao chiếc chìa khóa tâm lý học cho chính công trình đồ sộ của bà là Giáo Lý Bí Nhiệm, bộ luận mà Chân sư Tây Tạng đã cùng làm việc với bà; và Alice A. Bailey đã làm việc trong sự nhận biết trọn vẹn về nhiệm vụ riêng của bà trong chuỗi tiếp nối này.
FOSTER BAILEY, TUNBRIDGE WELLS, DECEMBER 1950
FOSTER BAILEY, TUNBRIDGE WELLS, DECEMBER 1950
FOREWORD — LỜI NÓI ĐẦU
[xii] This “Treatise on Cosmic Fire’’ has a fivefold purpose in view:
[xii] “Luận về Lửa Vũ Trụ” này nhắm đến một mục đích ngũ phân:
First, to provide a compact and skeleton outline of a scheme of cosmology, philosophy, and psychology which may perhaps be employed for a generation as a reference and a textbook, and may serve as a scaffolding upon which more detailed instruction may later be built, as the great tide of evolutionary teaching flows on.
Thứ nhất, cung cấp một đại cương cô đọng và khung sườn của một hệ thống vũ trụ luận, triết học và tâm lý học, có thể được dùng trong một thế hệ như một tài liệu tham khảo và giáo trình, và có thể làm giàn giáo để về sau xây dựng trên đó những chỉ huấn chi tiết hơn, khi làn sóng lớn của giáo huấn tiến hoá tiếp tục tuôn chảy.
Secondly, to express that which is subjective in comprehensible terms, and to point out the next step forward in the understanding of the true psychology. It is an elucidation of the relation existing between Spirit and Matter, which relation demonstrates as consciousness. It will be found that the Treatise deals primarily with the aspect of mind, with consciousness and with the higher psychology, and less with matter as we know of it on the physical plane. The danger involved in giving out information concerning the various energies of atomic matter is too great, and the race as yet too selfish to be entrusted with these potencies. Man is already, through the able work of the scientists, discovering the needed knowledge with adequate rapidity. The emphasis in this book will be found to be laid upon those forces which are responsible for the objective manifestation of a solar Logos and of man, and only in the first section will indication be given as to the nature of those energies which are strictly confined to the physical plane.
Thứ hai, diễn đạt điều chủ quan bằng những thuật ngữ có thể hiểu được, và chỉ ra bước tiến kế tiếp trong việc thấu hiểu tâm lý học chân chính. Đây là sự làm sáng tỏ mối liên hệ hiện hữu giữa tinh thần và vật chất, mối liên hệ biểu lộ thành tâm thức. Sẽ thấy rằng bộ Luận này chủ yếu bàn đến phương diện trí tuệ, đến tâm thức và tâm lý học cao hơn, và ít bàn hơn đến vật chất như chúng ta biết về nó trên cõi hồng trần. Mối nguy liên quan đến việc công bố thông tin về các năng lượng khác nhau của vật chất nguyên tử là quá lớn, và nhân loại vẫn còn quá ích kỷ để có thể được giao phó những tiềm lực ấy. Con người, nhờ công trình tài giỏi của các nhà khoa học, đã đang khám phá tri thức cần thiết với tốc độ đủ nhanh. Trong sách này, trọng tâm sẽ được đặt vào những mãnh lực chịu trách nhiệm cho sự biểu hiện khách quan của một Thái dương Thượng đế và của con người, và chỉ trong phần thứ nhất mới có những chỉ dẫn về bản chất của những năng lượng bị giới hạn nghiêm ngặt trong cõi hồng trần.
Thirdly, to show the coherent development of all that is found within a solar system; to demonstrate that everything which exists evolves (from the lowest form of life at the densest point of concretion up to the highest and most tenuous manifestation) and that all forms are but the expression of a stupendous and divine Existence. This expression is caused by the blending of two divine aspects through the influence of a third, and produces the manifestation which we call a form, starting it upon its [xiii] evolutionary cycle in time and space. Thus is form brought to the point where it is an adequate medium for the demonstration of the nature of that which we call God.
Thứ ba, trình bày sự phát triển mạch lạc của mọi điều được tìm thấy trong một hệ mặt trời; chứng minh rằng mọi thứ hiện hữu đều tiến hoá (từ hình thức sự sống thấp nhất ở điểm cô đặc đậm đặc nhất cho đến biểu hiện cao nhất và tinh tế nhất) và rằng mọi hình tướng chỉ là biểu hiện của một Hiện Hữu thiêng liêng vĩ đại. Biểu hiện này được gây ra bởi sự hòa trộn của hai phương diện thiêng liêng dưới ảnh hưởng của một phương diện thứ ba, và tạo ra sự biểu hiện mà chúng ta gọi là một hình tướng, khởi đầu cho nó trên chu kỳ [xiii] tiến hoá của nó trong thời gian và không gian. Như thế, hình tướng được đưa đến điểm mà nó trở thành một trung gian thích hợp để biểu lộ bản chất của điều mà chúng ta gọi là Thượng đế.
Fourthly, to give practical information anent those focal points of energy which are found in the etheric bodies of the solar Logos, the macrocosm, and of man, the microcosm. As the etheric substratum which is the true substance underlying every tangible form is understood, certain great revolutions will be brought about in the domains of science, of medicine and of chemistry. The study of medicine, for instance, will eventually be taken up from a new angle, and its practice will be built upon a comprehension of the laws of radiation, of magnetic currents, and of the force centres found in men’s bodies and their relationship to the force centres and currents of the solar system.
Thứ tư, cung cấp thông tin thực tiễn liên quan đến những tiêu điểm năng lượng được tìm thấy trong các thể dĩ thái của Thái dương Thượng đế, tức Đại thiên địa, và của con người, tức Tiểu thiên địa. Khi nền tảng dĩ thái, tức chất liệu chân thực nằm bên dưới mọi hình tướng hữu hình, được thấu hiểu, những cuộc cách mạng lớn lao nhất định sẽ được tạo ra trong các lĩnh vực khoa học, y học và hóa học. Chẳng hạn, việc nghiên cứu y học cuối cùng sẽ được tiếp cận từ một góc độ mới, và việc thực hành nó sẽ được xây dựng trên sự thấu hiểu các định luật bức xạ, các dòng từ tính, và các trung tâm lực được tìm thấy trong thể của con người cùng mối liên hệ của chúng với các trung tâm lực và các dòng lực của hệ mặt trời.
Fifthly, to give some information, hitherto not exoterically imparted as to the place and work of those myriads of sentient lives who form the essence of objectivity; to indicate the nature of those Hierarchies of Existences who form out of their own substance all that is seen and known, and who are themselves Fire and the cause of all the heat, warmth, life and motion in the universe. In this way the action of Fire on Water, of Heat in Matter, whether macrocosmically or microcosmically considered, will be touched upon and some light thrown upon the Law of Cause and Effect (the Law of Karma) and its significance in the solar system.
Thứ năm, cung cấp một số thông tin, từ trước đến nay chưa từng được truyền dạy công khai, về vị trí và công việc của vô số sự sống hữu cảm tạo thành tinh túy của tính khách quan; chỉ ra bản chất của những Huyền Giai các Hiện Hữu tạo nên từ chính chất liệu của các Ngài mọi điều được thấy và được biết, và chính các Ngài là Lửa và là nguyên nhân của mọi nhiệt, hơi ấm, sự sống và chuyển động trong vũ trụ. Theo cách này, tác động của Lửa lên Nước, của Nhiệt trong Vật chất, dù được xét theo đại thiên địa hay tiểu thiên địa, sẽ được đề cập đến, và một ít ánh sáng sẽ được soi rọi lên Định luật Nhân Quả (Định luật Nghiệp quả) cùng thâm nghĩa của nó trong hệ mặt trời.
To sum up the matter, the teaching in this book should tend to an expansion of conscionsness, and should bring about a recognition of the adequacy, as a working basis, for both science and religion, of that interpretation of the processes of nature which has been formulated for us by the Master Minds of all time. It should tend to bring about a reaction in favor of a system of philosophy which will link both Spirit and matter, and demonstrate the essential unity of the scientific and religious idea. The two are at present somewhat divorced, and we are only just beginning to grope our intellectual way out of the depths of a materialistic interpretation. It must not be forgotten, however, that under the Law of Action and Reaction, the long period of materialistic thought has been a necessary one for humanity, because the mysticism of the Middle Ages has led [xiv] us too far in the opposite direction. We are now tending to a more balanced view, and it is hoped that this treatise may form part of the process through which equilibrium is attained.
Tóm lại, giáo huấn trong sách này nên dẫn đến sự mở rộng tâm thức, và nên đưa đến sự nhìn nhận rằng, như một nền tảng làm việc, cả khoa học lẫn tôn giáo đều có thể dựa vào cách diễn giải các tiến trình của bản chất đã được các Trí Tuệ Chân sư của mọi thời đại hình thành cho chúng ta. Nó nên giúp tạo ra một phản ứng thuận lợi đối với một hệ thống triết học sẽ nối kết cả tinh thần lẫn vật chất, và chứng minh tính hợp nhất cốt yếu của ý niệm khoa học và tôn giáo. Hiện nay hai lĩnh vực này phần nào bị tách rời, và chúng ta chỉ mới bắt đầu lần mò bằng con đường trí tuệ để thoát ra khỏi vực sâu của lối diễn giải duy vật. Tuy nhiên, không được quên rằng dưới Định luật Tác Động và Phản Tác Động, thời kỳ dài của tư tưởng duy vật là điều cần thiết đối với nhân loại, bởi vì thần bí học của thời Trung Cổ đã dẫn [xiv] chúng ta đi quá xa theo hướng ngược lại. Hiện nay chúng ta đang nghiêng về một quan điểm quân bình hơn, và hy vọng rằng bộ luận này có thể tạo thành một phần của tiến trình qua đó sự quân bình được đạt tới.
In studying this treatise the student is asked to bear in mind certain things:
Khi nghiên cứu bộ luận này, đạo sinh được yêu cầu ghi nhớ một số điều:
a. That in dealing with these subjects we are concerned with the essence of that which is objective, with the subjective side of manifestation, and with the consideration of force and of energy. It is well nigh impossible to reduce such concepts to concrete formulas and to express them in such a way that they can be easily apprehended by the average man.
a. Rằng khi bàn đến những chủ đề này, chúng ta quan tâm đến tinh túy của điều khách quan, đến mặt chủ quan của sự biểu hiện, và đến việc xem xét mãnh lực cùng năng lượng. Gần như không thể nào quy những khái niệm như thế thành những công thức cụ thể và diễn đạt chúng theo cách mà người bình thường có thể dễ dàng lĩnh hội.
b. That as we use words and phrases and speak in terms of modern language the whole subject necessarily becomes limited and dwarfed, and much of the truth is thereby lost.
b. Rằng khi chúng ta dùng từ ngữ và cụm từ, và nói bằng ngôn ngữ hiện đại, toàn bộ chủ đề tất yếu trở nên bị giới hạn và thu nhỏ lại, và do đó phần lớn chân lý bị mất đi.
c. That all that is in this treatise is offered in no dogmatic spirit but simply as a contribution to the mass of thought upon the subject of world origins and to the data already accumulated as to the nature of man. The best that man can offer as a solution of the world problem must perforce take a dual form and will demonstrate through a life of active service, tending to amelioration of environal conditions, and through a formulation of some cosmological scheme or plan which will seek to account as much as may be for conditions as they are seen to exist. Arguing as men do at present from the basis of the known and the demonstrated and leaving untouched and unaccounted for, those deep-seated causes which must be presumed to be producing the seen and known, all solutions as yet fail and will continue to fail in their objective.
c. Rằng tất cả những gì có trong bộ luận này được cống hiến không phải với tinh thần giáo điều mà chỉ đơn giản như một đóng góp vào khối tư tưởng về chủ đề nguồn gốc thế giới và vào dữ liệu đã được tích lũy về bản chất của con người. Điều tốt nhất mà con người có thể cống hiến như một giải pháp cho vấn đề thế giới tất phải mang hình thức nhị phân và sẽ biểu lộ qua một đời sống phụng sự tích cực, hướng đến việc cải thiện các điều kiện môi trường xung quanh, và qua việc hình thành một hệ thống hay Thiên Cơ vũ trụ luận nào đó nhằm cố gắng giải thích càng nhiều càng tốt các điều kiện như chúng được thấy đang hiện hữu. Vì hiện nay con người lập luận từ nền tảng của điều đã biết và đã được chứng minh, đồng thời bỏ mặc không đụng đến và không giải thích những nguyên nhân sâu xa vốn phải được giả định là đang tạo ra điều được thấy và được biết, nên mọi giải pháp cho đến nay đều thất bại và sẽ tiếp tục thất bại trong mục tiêu của chúng.
d. That all attempts to formulate in words that which must be felt and lived in order to be truly comprehended must necessarily prove distressingly inadequate. All that can be said will be after all but the partial statements of the great veiled Truth, and must be offered to the reader and student as simply providing a working hypothesis, and a suggestive explanation. To the open-minded student and the man who keeps the recollection in his mind that the truth is progressively revealed, it will be apparent that the fullest expression of the truth possible at any one time will be seen later to be but a fragment of a whole, and [xv] later still be recognised to be only portions of a fact and thus in itself a distortion of the real.
d. Rằng mọi nỗ lực diễn đạt bằng lời điều phải được cảm nhận và sống để có thể thực sự được thấu hiểu, tất yếu sẽ tỏ ra đau đớn thay là không đầy đủ. Rốt cuộc, tất cả những gì có thể nói ra chỉ là những phát biểu từng phần về Chân Lý vĩ đại còn được che giấu, và phải được trình bày cho độc giả và đạo sinh chỉ như một giả thuyết làm việc và một lời giải thích gợi ý. Đối với đạo sinh có tâm trí cởi mở và người luôn giữ trong trí nhớ rằng chân lý được mặc khải dần dần, sẽ hiển nhiên rằng sự biểu đạt đầy đủ nhất của chân lý có thể có ở bất kỳ thời điểm nào rồi sau này cũng sẽ được thấy chỉ là một mảnh của một toàn thể, và [xv]về sau nữa sẽ được nhìn nhận chỉ là những phần của một sự kiện và do đó tự nó là một sự bóp méo của điều thực tại.
This treatise is put out in the hope that it may prove useful to all broad-minded seekers after truth and of value to all investigators into the subjective Source of all that which is tangibly objective. It aims to provide a reasonably logical plan of systemic evolution and to indicate to man the part he must play as an atomic unit in a great and corporate Whole. This fragment of the Secret Doctrine, in the turning of the evolutionary wheel, goes out to the world making no claims as to its source, its infallibility or the correctness in detail of its statements.
Bộ luận này được công bố với hy vọng rằng nó có thể tỏ ra hữu ích cho mọi người truy tầm chân lý có đầu óc rộng mở và có giá trị đối với mọi nhà khảo cứu về Nguồn cội chủ quan của tất cả những gì khách quan hữu hình. Nó nhằm cung cấp một sơ đồ hợp lý vừa phải về sự tiến hoá có hệ thống và chỉ cho con người phần việc mà y phải đảm nhận như một đơn vị nguyên tử trong một Toàn Thể vĩ đại và tập thể. Mảnh đoạn này của Giáo Lý Bí Nhiệm, trong vòng quay của bánh xe tiến hoá, được gửi ra thế giới mà không đưa ra bất kỳ tuyên bố nào về nguồn gốc của nó, tính vô ngộ của nó hay tính chính xác chi tiết trong các phát biểu của nó.
No book gains anything from dogmatic claims or declarations as to the authoritative value of its source of inspiration. It should stand or fall solely on the basis of its own intrinsic worth, on the value of the suggestions made, and its power to foster the spiritual life and the intellectual apprehension of the reader. If this treatise has within it anything of truth and of reality, it will inevitably and unfailingly do its work, carry its message, and thus reach the hearts and minds of searchers everywhere. If it is of no value, and has no basis in fact, it will disappear and die, and most rightly so. All that is asked from the student of this treatise is a sympathetic approach, a willingness to consider the views put forth and that honesty and sincerity of thought which will tend to the development of the intuition, of spiritual diagnosis, and a discrimination which will lead to a rejection of the false and an appreciation of the true.
Không cuốn sách nào đạt được điều gì nhờ những tuyên bố giáo điều hay những lời khẳng định về giá trị thẩm quyền của nguồn cảm hứng của nó. Nó chỉ nên đứng vững hay sụp đổ trên cơ sở giá trị nội tại của chính nó, trên giá trị của những gợi ý được đưa ra, và trên năng lực nuôi dưỡng đời sống tinh thần và sự lĩnh hội bằng trí tuệ của độc giả. Nếu bộ luận này chứa đựng bất cứ điều gì của chân lý và thực tại, nó tất yếu và chắc chắn sẽ làm công việc của nó, chuyển tải thông điệp của nó, và như thế chạm đến trái tim và trí óc của những người truy tầm ở khắp nơi. Nếu nó không có giá trị và không có nền tảng trong sự kiện, nó sẽ biến mất và chết đi, và điều đó hoàn toàn đúng đắn. Tất cả những gì được yêu cầu nơi đạo sinh của bộ luận này là một sự tiếp cận đầy cảm thông, một thiện chí xem xét những quan điểm được nêu ra, và sự trung thực cùng chân thành trong tư tưởng, những điều sẽ dẫn đến sự phát triển của trực giác, của sự chẩn đoán tinh thần, và của sự phân biện sẽ đưa đến việc bác bỏ điều sai lầm và trân trọng điều chân thật.
The words of the Buddha most appropriately have their place here, and make a fitting conclusion to these preliminary remarks:
Những lời của Đức Phật rất thích hợp để được đặt ở đây, và tạo thành một kết luận xứng đáng cho những nhận xét mở đầu này:
THE LORD BUDDHA HAS SAID
ĐỨC PHẬT ĐÃ DẠY
“that we must not believe in a thing said merely because it is said; nor traditions because they have been handed down from antiquity; nor rumours, as such; nor writings by sages, because sages wrote them; nor fancies that we may suspect to have been inspired in us by a Deva (that is, in presumed spiritual inspiration); nor from inferences drawn from some haphazard assumption we may have made; nor [xvi] because of what seems an analogical necessity; nor on the mere authority of our teachers or masters. But we are to believe when the writing, doctrine, or saying is corroborated by our own reason and consciousness. ‘’For this,” says he in concluding, “I taught you not to believe merely because you have heard, but when you believed of your consciousness, then to act accordingly and abundantly.”
“rằng chúng ta không được tin vào một điều chỉ vì nó được nói ra; cũng không tin vào truyền thống chỉ vì chúng đã được truyền lại từ thời cổ xưa; cũng không tin vào tin đồn, như chính chúng; cũng không tin vào các trước tác của các hiền triết chỉ vì các hiền triết đã viết ra chúng; cũng không tin vào những tưởng tượng mà chúng ta có thể ngờ rằng đã được một thiên thần gợi hứng trong chúng ta (nghĩa là, trong điều được cho là cảm hứng tinh thần); cũng không tin từ những suy luận rút ra từ một giả định ngẫu nhiên nào đó mà chúng ta có thể đã đưa ra; cũng không [xvi] vì điều gì đó dường như là một sự tất yếu theo loại suy; cũng không chỉ vì thẩm quyền đơn thuần của các huấn sư hay chân sư của chúng ta. Nhưng chúng ta phải tin khi trước tác, giáo lý hay lời nói ấy được xác nhận bởi chính lý trí và tâm thức của chúng ta. ‘Vì điều này,’ Ngài nói khi kết luận, ‘Ta đã dạy các con không được tin chỉ vì các con đã nghe, mà khi các con tin bằng tâm thức của mình, thì hãy hành động theo đó một cách dồi dào.’”
—SECRET DOCTRINE III. 401.
—SECRET DOCTRINE III. 401.
May this be the attitude of every reader of this “Treatise on Cosmic Fire.’’
Mong rằng đây sẽ là thái độ của mọi độc giả của “Luận về Lửa Vũ Trụ” này.
ALICE A. BAILEY.
ALICE A. BAILEY.
Note:—In the footnotes throughout this treatise ‘’The Secret Doctrine” by H. P. Blavatsky is designated by the initials S.D. The page references are to the “Third Revised Edition.”
Lưu ý:—Trong các chú thích xuyên suốt bộ luận này, “Giáo Lý Bí Nhiệm” của H. P. Blavatsky được ký hiệu bằng các chữ cái đầu S.D. Các tham chiếu trang là theo “Ấn bản Hiệu đính Lần thứ Ba.”
FIRE — LỬA
[xvii]“What says the esoteric teaching with regard to Fire?”
[xvii]“Giáo huấn huyền bí nói gì liên quan đến Lửa?”
Fire is the most perfect and unadulterated reflection, in Heaven as on earth, of the One Flame. It is life and death, the origin and the end of every material thing. It is divine Substance.”
Lửa là sự phản chiếu hoàn hảo nhất và thuần khiết nhất, trên Trời cũng như dưới đất, của Ngọn Lửa Duy Nhất. Nó là sự sống và cái chết, là nguồn gốc và chung cuộc của mọi vật chất. Nó là Chất liệu thiêng liêng.”
—SECRET DOCTRINE I. 146.
—SECRET DOCTRINE I. 146.
Our earth and man (are) the products of the Three Fires.
Trái Đất của chúng ta và con người là sản phẩm của Ba Lửa.
—SECRET DOCTRINE II. 258.
—SECRET DOCTRINE II. 258.
Fire and flame destroy the body of an Arhat; their essence makes him immortal.
Lửa và ngọn lửa thiêu hủy thể của một A La Hán; tinh túy của chúng làm cho ông trở nên bất tử.
—SECRET DOCTRINE I. 35.
—SECRET DOCTRINE I. 35.
THE THREE FIRES
BA LỬA
I. The Internal Fire or Fire by Friction.
I. Lửa Nội Tại hay Lửa ma sát.
“There is heat internal and heat external in every atom, the breath of the Father (Spirit) and the breath (or heat) of the Mother (matter).”
“Trong mỗi nguyên tử đều có nhiệt bên trong và nhiệt bên ngoài, hơi thở của Cha (Tinh thần) và hơi thở (hay nhiệt) của Mẹ (vật chất).”
—SECRET DOCTRINE I. 112.
—SECRET DOCTRINE I. 112.
II. The Fire of Mind or Solar Fire.
II. Lửa của Trí Tuệ hay Lửa Thái dương.
“The fire of knowledge burns up all action on the plane of illusion, therefore those who have acquired it and are emancipated are called ‘Fires.’”
“Lửa của tri thức thiêu rụi mọi hành động trên cõi ảo tưởng, vì vậy những ai đã đạt được nó và được giải thoát được gọi là ‘Những Lửa’.”
—SECRET DOCTRINE I.114.
—SECRET DOCTRINE I.114.
III. The Fire of Spirit or Electric Fire.
III. Lửa của Tinh thần hay Lửa Điện.
“Lift up thy head, O Lanoo; dost thou see one, or countless lights above thee, burning in the dark midnight sky?’’
“Hãy ngẩng đầu lên, hỡi Lanoo; ngươi có thấy một hay vô số ánh sáng phía trên ngươi, đang cháy trong bầu trời đêm đen thẳm không?”
“I sense one Flame, O Gurudeva; I see countless Undetached sparks shining in it.”
“Con cảm nhận một Ngọn Lửa, thưa Gurudeva; con thấy vô số tia lửa không tách rời đang chiếu sáng trong đó.”
—SECRET DOCTRINE I. 145.
—SECRET DOCTRINE I. 145.
The subjects dealt with in this treatise is of very real importance, for it forms the basis of that which we shall be considering. The total lack of a wider consciousness than the individual and the personal, acts as a bar to the true comprehension of things macrocosmic, but if the occult method is adhered to, if the Law of Correspondences is studied, and if we ever reason upward from the microcosm to the greater Whole, then glimpses will be caught of vast realms of realisation and vistas of spiritual unfoldment will open up before us, undreamt of hitherto.
Những chủ đề được bàn đến trong bộ luận này có tầm quan trọng rất thực, vì chúng tạo thành nền tảng cho điều mà chúng ta sẽ xem xét. Sự thiếu vắng hoàn toàn một tâm thức rộng lớn hơn tâm thức cá nhân và riêng tư hoạt động như một chướng ngại đối với sự thấu hiểu chân thực những điều thuộc đại thiên địa; nhưng nếu phương pháp huyền bí học được tuân thủ, nếu Định luật Tương Ứng được nghiên cứu, và nếu chúng ta luôn lập luận đi lên từ tiểu thiên địa đến Toàn Thể lớn lao hơn, thì những thoáng thấy về các lĩnh vực rộng lớn của sự chứng nghiệm sẽ được nắm bắt và những viễn cảnh về sự khai mở tinh thần sẽ mở ra trước mắt chúng ta, vượt ngoài mọi điều từ trước đến nay chưa từng được mơ tưởng.
CHARTS — CÁC BIỂU ĐỒ
I. Evolution of Matter - 56
I. Sự tiến hoá của Vật chất - 56
II. Logos of a Solar System - 94
II. Thượng đế của một Hệ Mặt Trời - 94
III. The Constitution of Man - 117
III. Cấu tạo của Con người - 117
IV. The Pleroma - 226
IV. Pleroma - 226
V. The Evolution of a Solar Logos - 344
V. Sự tiến hoá của một Thái dương Thượng đế - 344
VI. Solar Septenary Chart - 373
VI. Biểu đồ Thất phân Thái dương - 373
VII. The Earth Scheme - 385
VII. Hệ Địa Cầu - 385
VIII. The Egoic Lotus and the Centres - 817
VIII. Hoa Sen Chân Ngã và các Trung Tâm - 817
IX. The Egoic Lotus - 823
IX. Hoa Sen Chân Ngã - 823
X. The Science of Meditation - 961
X. Khoa học về Tham Thiền - 961
XI. The Atom - 1181
XI. Nguyên tử - 1181
XII. Parabrahm - 1230
XII. Parabrahm - 1230
XIII. Solar and Planetary Hierarchies - 1238
XIII. Các Huyền Giai Thái dương và Hành tinh - 1238
FULL PAGE TABULATIONS
CÁC BẢNG TOÀN TRANG
I. Fire and the Aspects - 42
I. Lửa và các Phương diện - 42
II. Evolution in the Universe - 293
II. Tiến hoá trong Vũ trụ - 293
III. The Aspects and Evolution - 444
III. Các Phương diện và Tiến hoá - 444
IV. The Building Entities - 565
IV. Các Thực Thể Kiến Tạo - 565
V. Agni-Lord of Fire - 607
V. Agni-Chúa Tể của Lửa - 607
VI. The Lives and their Goal - 844
VI. Các Sự sống và Mục tiêu của chúng - 844
VII. Energies - 1187
VII. Các Năng lượng - 1187
INTRODUCTORY POSTULATES — CÁC TIỀN ĐỀ NHẬP MÔN
[Page 3] The teaching which is given in this Treatise on Cosmic Fire might be formulated in the following terms. These postulates are simply extensions of the three fundamentals to be found in the Proem in the first volume of the Secret Doctrine (p 42-44) by H. P. Blavatsky. Students are recommended to study them carefully; in this way their understanding of the Treatise will be greatly aided.
[Page 3] Giáo huấn được đưa ra trong Luận về Lửa Vũ Trụ này có thể được phát biểu theo những thuật ngữ sau đây. Những tiền đề này chỉ đơn giản là sự mở rộng của ba nguyên lý căn bản được tìm thấy trong Lời Mở Đầu ở quyển thứ nhất của Giáo Lý Bí Nhiệm (tr. 42-44) của H. P. Blavatsky. Các đạo sinh được khuyến nghị nghiên cứu chúng cẩn thận; bằng cách này, sự thấu hiểu của họ về bộ Luận sẽ được hỗ trợ rất nhiều.
I. There is one Boundless Immutable Principle; one Absolute Reality which, antecedes all manifested conditioned Being. It is beyond the range and reach of any human thought or expression.
I. Có một Nguyên Khí vô biên bất biến; một Thực Tại Tuyệt Đối duy nhất, có trước mọi Bản Thể biểu hiện có điều kiện. Nó vượt ngoài phạm vi và tầm với của mọi tư tưởng hay diễn đạt của con người.
The manifested Universe is contained within this Absolute Reality and is a conditioned symbol of it.
Vũ trụ biểu hiện được bao hàm trong Thực Tại Tuyệt Đối này và là một biểu tượng có điều kiện của Nó.
In the totality of this manifested Universe, three aspects are to be conceived.
Trong toàn thể vũ trụ biểu hiện này, cần phải quan niệm ba phương diện.
1. The First Cosmic Logos, impersonal and unmanifested, the precursor of the Manifested.
1. Cosmic Logos thứ nhất, phi ngã và không biểu hiện, đấng tiền thân của Đấng Biểu Hiện.
2. The Second Cosmic Logos, Spirit-Matter, Life, the Spirit of the Universe.
2. Cosmic Logos thứ hai, Tinh thần-Vật chất, Sự sống, Tinh thần của Vũ trụ.
3. The Third Cosmic Logos, Cosmic Ideation, the Universal World-Soul.
3. Cosmic Logos thứ ba, Ý Niệm Vũ Trụ, Đại Hồn Vũ Trụ.
From these basic creative principles, in successive gradations there issue in ordered sequence the numberless Universes comprising countless Manifesting Stars and Solar Systems.
Từ những nguyên lý sáng tạo căn bản này, qua những cấp độ kế tiếp nhau, vô số Vũ trụ bao gồm vô số Tinh Tú biểu hiện và các Hệ Mặt Trời phát xuất theo trình tự có trật tự.
Each Solar System is the manifestation of the energy and life of a great Cosmic Existence, Whom we call, for lack of a better term, a Solar Logos.
Mỗi Hệ Mặt Trời là sự biểu hiện của năng lượng và sự sống của một Hiện Hữu Vũ Trụ vĩ đại, Đấng mà chúng ta gọi, vì không có thuật ngữ nào tốt hơn, là một Thái dương Thượng đế.
[Page 4] This Solar Logos incarnates, or comes into manifestation, through the medium of a solar system.
[Page 4] Thái dương Thượng đế này nhập thể, hay đi vào biểu hiện, thông qua trung gian của một hệ mặt trời.
This solar system is the body, or form, of this cosmic Life, and is itself triple.
Hệ mặt trời này là thể, hay hình tướng, của Sự sống vũ trụ này, và chính nó cũng là tam phân.
This triple solar system can be described in terms of three aspects, or (as the Christian theology puts it) in terms of three Persons.
Hệ mặt trời tam phân này có thể được mô tả theo ba phương diện, hay (như thần học Cơ Đốc giáo diễn đạt) theo ba Ngôi vị.
ELECTRIC FIRE, or SPIRIT.
LỬA ĐIỆN, hay TINH THẦN.
1st Person... Father. Life. Will. Purpose. Positive energy.
Ngôi thứ nhất... Cha. Sự sống. Ý chí. Mục đích. Năng lượng dương.
SOLAR FIRE, or SOUL.
LỬA THÁI DƯƠNG, hay LINH HỒN.
2nd Person... Son. Consciousness. Love-Wisdom. Equilibrised energy.
Ngôi thứ hai... Con. Tâm thức. Bác Ái – Minh Triết. Năng lượng quân bình.
FIRE BY FRICTION, or Body, or Matter.
LỬA MA SÁT, hay Thể, hay Vật chất.
3rd Person... Holy Spirit. Form. Active Intelligence. Negative energy.
Ngôi thứ ba... Chúa Thánh Thần. Hình tướng. Trí Tuệ Hoạt Động. Năng lượng âm.
Each of these three is also triple in manifestation, making therefore
Mỗi phương diện trong ba phương diện này cũng tam phân trong biểu hiện, do đó tạo thành
a. The nine Potencies or Emanations.
a. chín Quyền năng hay các Xuất lộ.
b. The nine Sephiroth.
b. chín Sephiroth.
c. The nine Causes of Initiation.
c. chín Nguyên nhân của điểm đạo.
These, with the totality of manifestation or the Whole, produce the ten (10) of perfect manifestation of the perfect MAN.
Những điều này, cùng với toàn thể sự biểu hiện hay Toàn Thể, tạo ra mười (10) của sự biểu hiện hoàn hảo của con NGƯỜI hoàn hảo.
These three aspects of the Whole are present in every form.
Ba phương diện này của Toàn Thể hiện diện trong mọi hình tướng.
a. The solar system is triple, manifesting through the three above mentioned.
a. Hệ mặt trời là tam phân, biểu hiện qua ba phương diện đã nêu trên.
b. A human being is equally triple, manifesting as Spirit, Soul and Body, or Monad, Ego and Personality.
b. Một con người cũng tam phân như vậy, biểu hiện thành Tinh thần, Linh hồn và Thể, hay Chân thần, Chân ngã và Phàm ngã.
c. The atom of the scientist is also triple, being composed of a positive nucleus, the negative electrons, and the totality of the outer manifestation, [Page 5] the result of the relation of the other two.
c. Nguyên tử của nhà khoa học cũng là tam phân, được cấu tạo bởi một hạt nhân dương, các điện tử âm, và toàn thể biểu hiện bên ngoài, [Page 5] là kết quả của mối liên hệ giữa hai yếu tố kia.
The three aspects of every form are inter-related and susceptible of intercourse, because
Ba phương diện của mọi hình tướng đều liên hệ với nhau và có thể giao tiếp với nhau, bởi vì
a. Energy is in motion and circulates.
a. Năng lượng đang chuyển động và tuần hoàn.
b. All forms in the solar system form part of the Whole, and are not isolated units.
b. Mọi hình tướng trong hệ mặt trời đều là một phần của Toàn Thể, và không phải là những đơn vị cô lập.
c. This is the basis of brotherhood, of the communion of saints, and of astrology.
c. Đây là nền tảng của tình huynh đệ, của sự hiệp thông của các thánh đồ, và của chiêm tinh học.
These three aspects of God, the solar Logos, and the Central Energy or Force (for the terms are occultly synonymous) demonstrate through seven centres of force,—three major centres and four minor. These seven centres of logoic Force are themselves so constituted that they form corporate Entities. They are known as
Ba phương diện này của Thượng đế, của Thái dương Thượng đế, và của Năng Lượng hay Mãnh Lực Trung Tâm (vì các thuật ngữ này, một cách huyền bí, là đồng nghĩa) biểu lộ qua bảy trung tâm lực,—ba trung tâm chính và bốn trung tâm phụ. Bảy trung tâm của Mãnh Lực Thượng đế này tự chúng được cấu thành theo cách tạo thành những Thực Thể tập thể. Chúng được biết đến như là
a. The seven planetary Logoi.
a. bảy Hành Tinh Thượng đế.
b. The seven Spirits before the Throne.
b. Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai.
c. The seven Rays.
c. bảy cung.
d. The seven Heavenly Men.
d. bảy Đấng Thiên Nhân.
The Seven Logoi embody seven types of differentiated force, and in this Treatise are known under the names of Lords of the Rays. The names of the Rays are
Bảy Logoi thể hiện bảy loại mãnh lực đã được biến phân, và trong bộ Luận này được biết dưới danh xưng các Đấng Chúa Tể của các Cung. Tên của các Cung là
Ray I
Ray of Will or Power
1st Aspect
Ray II
Ray of Love-Wisdom
2nd Aspect
Ray III
Ray of Active Intelligence
3rd Aspect
These are the major Rays.
Đây là các Cung chính.
Ray IV
Ray of Harmony, Beauty and Art.
Ray V
Ray of Concrete Knowledge or Science.
Ray V
Ray of Devotion or of Abstract Idealism.
Ray VII
Ray of Ceremonial Magic or Order.
II. There is a basic law called the Law of Periodicity.
II. Có một định luật căn bản được gọi là Định luật Chu Kỳ.
1. This law governs all manifestation, whether it is the manifestation of a solar Logos through the [Page 6] medium of a solar system, or the manifestation of a human being through the medium of a form. This law controls likewise in all the kingdoms of nature.
1. Định luật này chi phối mọi sự biểu lộ, dù đó là sự biểu lộ của một Thái dương Thượng đế qua [Page 6] trung gian của một hệ mặt trời, hay sự biểu lộ của một con người qua trung gian của một hình tướng. Định luật này cũng kiểm soát trong mọi giới của bản chất.
2. There are certain other laws in the system which are linked with this one; some of them are as follows:
2. Có một số định luật khác trong hệ thống có liên kết với định luật này; một vài trong số đó như sau:
a. The Law of Economy
the law governing matter, the third aspect.
b. The Law of Attraction
the law governing soul, the second aspect.
c. The Law of Synthesis
the law governing spirit, or the first aspect.
3. These three are cosmic laws. There are seven systemic laws, which govern the manifestation of our solar Logos:
3. Ba định luật này là các định luật vũ trụ. Có bảy định luật hệ thống, chi phối sự biểu lộ của Thái dương Thượng đế của chúng ta:
a. The Law of Vibration.
a. Định luật Rung động.
b. The Law of Cohesion.
b. Định luật Kết dính.
c. The Law of Disintegration.
c. Định luật Tan rã.
d. The Law of Magnetic Control.
d. Định luật Kiểm soát Từ tính.
e. The Law of Fixation.
e. Định luật Cố định.
f. The Law of Love.
f. Định luật Bác ái.
g. The Law of Sacrifice and Death.
g. Định luật Hi sinh và Chết.
4. Each of these Laws manifests primarily on one or other of the seven planes of the solar system.
4. Mỗi Định luật này biểu lộ chủ yếu trên một hay một cõi khác trong bảy cõi của hệ mặt trời.
5. Each law sweeps periodically into power and each plane has its period of manifestation and its period of obscuration.
5. Mỗi định luật tuần hoàn đi vào quyền năng và mỗi cõi có chu kỳ biểu lộ của nó cùng chu kỳ che khuất của nó.
6. Every manifested life has its three great cycles: [Page 7]
6. Mọi sự sống biểu lộ đều có ba chu kỳ lớn của nó: [Page 7]
Birth
Life
Death.
Appearance
growth
disappearance.
Involution
evolution
obscuration.
Inert motion
activity
rhythmic motion.
Tamasic life
rajasic life
sattvic life.
7. Knowledge of the cycles involves knowledge of number, sound and colour.
7. Kiến thức về các chu kỳ bao hàm kiến thức về số, âm thanh và màu sắc.
8. Full knowledge of the mystery of the cycles is the possession only of the perfected adept.
8. Sự hiểu biết trọn vẹn về huyền nhiệm của các chu kỳ chỉ thuộc sở hữu của chân sư đã hoàn thiện.
III. All souls are identical with the Oversoul.
III. Mọi linh hồn đều đồng nhất với đại hồn.
1. The Logos of the solar system is the Macrocosm. Man is the Microcosm.
1. Thượng đế của hệ mặt trời là Đại thiên địa. Con người là Tiểu thiên địa.
2. Soul is an aspect of every form of life from a Logos to an atom.
2. Linh hồn là một phương diện của mọi hình thức sự sống từ một Logos đến một nguyên tử.
3. This relationship between all souls and the Oversoul constitutes the basis for the scientific belief in Brotherhood. Brotherhood is a fact in nature, not an ideal.
3. Mối liên hệ này giữa mọi linh hồn và đại hồn tạo thành nền tảng cho niềm tin khoa học vào Tình Huynh Đệ. Tình Huynh Đệ là một sự kiện trong bản chất, không phải một lý tưởng.
4. The Law of Correspondences will explain the details of this relationship. This Law of Correspondences or of Analogy is the interpretive law of the system, and explains God to man.
4. Định luật tương ứng sẽ giải thích các chi tiết của mối liên hệ này. Định luật tương ứng hay định luật tương đồng này là định luật diễn giải của hệ thống, và giải thích Thượng đế cho con người.
5. Just as God is the Macrocosm for all the kingdoms in Nature, so man is the Macrocosm for all the sub-human kingdoms.
5. Cũng như Thượng đế là Đại thiên địa đối với mọi giới trong Bản chất, thì con người là Đại thiên địa đối với mọi giới dưới nhân loại.
6. The goal for the evolution of the atom is self-consciousness as exemplified in the human kingdom.
6. Mục tiêu cho sự tiến hoá của nguyên tử là ngã thức như được nêu gương trong giới nhân loại.
The goal for the evolution of man is group consciousness, as exemplified by a planetary Logos. (Ancient of Days. Daniel VII, pp.13, 22.)
Mục tiêu cho sự tiến hoá của con người là tâm thức nhóm, như được nêu gương bởi một Hành Tinh Thượng đế. (Đấng Thái Cổ. Daniel VII, tr.13, 22.)
The goal for the planetary Logos is God consciousness, as exemplified by the solar Logos.
Mục tiêu cho Hành Tinh Thượng đế là tâm thức Thượng đế, như được nêu gương bởi Thái dương Thượng đế.
7. The solar Logos is the sum-total of all the states of consciousness within the solar system. (3)
7. Thái dương Thượng đế là tổng thể của mọi trạng thái tâm thức bên trong hệ mặt trời. (3)
(3) “We have all got into the habit of viewing the universe as a vast group of isolated bodies having very little connection with each other, while the fact that the universe is one in its essence and many in its manifestations, descending from homogeneity on the highest plane to more and more marked heterogeneity as it reaches the lowest planes”—Some Thoughts on the Gita, p. 54. (back)
(3) “Tất cả chúng ta đều đã quen nhìn vũ trụ như một nhóm khổng lồ gồm những thể cô lập có rất ít liên hệ với nhau, trong khi sự kiện là vũ trụ là một trong bản chất của nó và là nhiều trong các biểu lộ của nó, đi xuống từ tính đồng nhất trên cõi cao nhất đến tính dị biệt ngày càng rõ nét hơn khi nó đạt tới các cõi thấp nhất”—Một Vài Tư Tưởng về Gita, tr. 54. (trở lại)
STANZAS OF DZYAN — CÁC BÀI KỆ DZYAN
STANZA I — BÀI KỆ I
[Page 11] The Secret of the Fire lieth hid in the second letter of the Sacred Word. The mystery of life is concealed within the heart. When the lower point vibrates, when the sacred triangle glows, when the point, the middle center, and the apex, connect and circulate the Fire, when the threefold apex likewise burns, then the two triangles—the greater and the lesser—merge into one flame, which burneth up the whole.
[Page 11] Bí mật của Lửa ẩn giấu trong chữ thứ hai của Linh từ Thiêng Liêng. Huyền nhiệm của sự sống được che giấu trong trái tim. Khi điểm thấp rung động, khi tam giác thiêng liêng rực sáng, khi điểm, trung tâm ở giữa, và đỉnh nối kết và làm cho Lửa tuần hoàn, khi đỉnh tam phân cũng bừng cháy, thì hai tam giác—tam giác lớn và tam giác nhỏ—hợp nhất thành một ngọn lửa, ngọn lửa ấy thiêu đốt toàn thể.
STANZA II — BÀI KỆ II
[Page 12] “AUM,” said the Mighty One, and sounded forth the Word. The sevenfold waves of matter resolved themselves, and varied forms appeared. Each took its place, each in the sphere ordained. They waited for the sacred flood to enter and to fill.
[Page 12] “AUM,” Đấng Đại Hùng phán, và xướng lên Linh từ. Những làn sóng vật chất thất phân tự phân giải, và những hình tướng đa dạng xuất hiện. Mỗi hình tướng nhận lấy vị trí của mình, mỗi hình tướng trong khối cầu đã được chỉ định. Chúng chờ đợi dòng tuôn đổ thiêng liêng đi vào và làm đầy.
The Builders responded to the sacred sound. In musical collaboration they attended to the work. They built in many spheres, beginning with the third. Upon this plane their work commenced. They built the sheath of atma and strung it to its Primary.
Các đấng kiến tạo đáp ứng âm thanh thiêng liêng. Trong sự cộng tác hài hòa, họ chăm lo công việc. Họ kiến tạo trong nhiều khối cầu, bắt đầu với khối cầu thứ ba. Trên cõi này công việc của họ khởi sự. Họ xây dựng vỏ bọc của atma và nối nó với Cội Nguồn của nó.
“AUM,” said the Mighty One. “Let now the work proceed. Let the Builders of the air continue with the plan.”
“AUM,” Đấng Đại Hùng phán. “Giờ đây hãy để công việc tiến hành. Hãy để các đấng kiến tạo của khí tiếp tục với Thiên Cơ.”
The Deva-Lord and Builders upon the plane of air worked with the forms within that sphere which is reckoned mainly theirs. They wrought for union, each in his group assigned. The moulds grew fast beneath their hands.
Chúa Tể thiên thần và các đấng kiến tạo trên cõi khí đã làm việc với các hình tướng bên trong khối cầu vốn được kể chủ yếu là của họ. Họ hoạt động vì sự hợp nhất, mỗi vị trong nhóm được chỉ định của mình. Những khuôn mẫu lớn lên nhanh chóng dưới tay họ.
The sacred plane of juncture, the fourth great plane, became the sphere within the greater circle which marked the goal for man.
Cõi thiêng liêng của sự nối kết, cõi lớn thứ tư, trở thành khối cầu bên trong vòng tròn lớn hơn, vòng tròn đánh dấu mục tiêu cho con người.
“AUM,” said the Mighty One, He breathed forth to the fifth, the plane which is the burning-ground, the meeting place for fire. This time a cosmic note is heard beneath the sound systemic. The fire within, the fire without, meet with the fire ascending. The guardians of the cosmic fire, the devas of fohatic heat, watched o’er the forms that formless stood, waiting a point in time.
“AUM,” Đấng Đại Hùng phán, Ngài thở ra tới cõi thứ năm, cõi là vùng đất cháy, nơi gặp gỡ của lửa. Lần này một âm điệu vũ trụ được nghe thấy bên dưới âm thanh hệ thống. Ngọn lửa bên trong, ngọn lửa bên ngoài, gặp ngọn lửa đang đi lên. Những vị canh giữ lửa vũ trụ, các thiên thần của nhiệt fohat, trông nom các hình tướng đang đứng vô tướng, chờ đợi một thời điểm trong thời gian.
[Page 13] The builders of a lesser grade, devas who work with matter, wrought at the forms. They stood in fourfold order. Upon the threefold levels in empty silence stood the forms. They vibrated, they responded to the key, yet useless stood and uninhabited.
[Page 13] Các đấng kiến tạo thuộc cấp thấp hơn, các thiên thần làm việc với vật chất, đã hoạt động trên các hình tướng. Họ đứng theo trật tự tứ phân. Trên các cấp độ tam phân, trong sự im lặng trống không, các hình tướng đứng đó. Chúng rung động, chúng đáp ứng với chủ âm, nhưng vẫn đứng vô dụng và không có cư dân.
“AUM,” said the Mighty One, “let the waters too bring forth.” The builders of the watery sphere, the denizens of moisture, produced the forms that move within the kingdom of Varuna. They grew and multiplied. In constant flux they swayed. Each ebb of cosmic motion increased the endless flow. The ripple of the forms was seen.
“AUM,” Đấng Đại Hùng phán, “hãy để nước cũng sinh ra.” Các đấng kiến tạo của khối cầu nước, những cư dân của ẩm chất, đã tạo ra các hình tướng chuyển động trong vương quốc của Varuna. Chúng lớn lên và sinh sôi. Trong lưu chuyển không ngừng chúng dao động. Mỗi lần triều xuống của chuyển động vũ trụ làm tăng thêm dòng chảy vô tận. Gợn sóng của các hình tướng được nhìn thấy.
“AUM,” said the Mighty One, “let the Builders deal with matter.” The molten solidified. The solid forms were built. The crust cooled. The rocks congealed. The builders wrought in tumult to produce the forms of maya. When the rocky strata were completed the work stood in completion. The builders of the lowest grade announced the work was finished.
“AUM,” Đấng Đại Hùng phán, “hãy để các Đấng kiến tạo bàn đến vật chất.” Chất nóng chảy đông đặc lại. Các hình tướng rắn chắc được xây dựng. Lớp vỏ nguội đi. Đá đông kết. Các đấng kiến tạo hoạt động trong hỗn động để tạo ra các hình tướng của ảo lực. Khi các tầng đá đã hoàn tất thì công việc đứng trong sự hoàn tất. Các đấng kiến tạo thuộc cấp thấp nhất tuyên bố công việc đã xong.
Forth from the rocky strata emerged the covering next. The builders of the second agreed the work was done. The first and second on the upward way stood forth in fourfold form. The inner five was somewhat seen by those whose sight was keen.
Từ các tầng đá, lớp bao phủ kế tiếp xuất hiện. Các đấng kiến tạo của cấp thứ hai đồng ý rằng công việc đã hoàn tất. Cấp thứ nhất và thứ hai trên đường đi lên xuất hiện trong hình thức tứ phân. Năm phần bên trong được phần nào nhìn thấy bởi những ai có thị lực sắc bén.
“AUM,” said the Mighty One, and gathered in His Breath. The spark within the peopling third impelled to further growth. The builders of the lowest forms, manipulating densest maya, merged their production with the forms built by the watery ones. Matter and water merged produced the third in time. Ascension thus progressed. The builders worked in union. They called the guardians of the fiery zone. [Page 14] Matter and water mixed with fire, the inner spark within the form were blended all together.
“AUM,” Đấng Đại Hùng phán, và thu hồi Hơi Thở của Ngài. Tia lửa bên trong cấp thứ ba đông đúc thúc đẩy sự tăng trưởng thêm nữa. Các đấng kiến tạo của những hình tướng thấp nhất, thao tác với ảo lực đậm đặc nhất, đã hòa sản phẩm của họ với các hình tướng do những vị của nước xây dựng. Vật chất và nước hòa nhập tạo ra cấp thứ ba theo thời gian. Sự thăng lên nhờ đó tiến triển. Các đấng kiến tạo làm việc trong hợp nhất. Họ gọi các vị canh giữ vùng lửa. [Page 14] Vật chất và nước hòa với lửa, tia lửa bên trong hình tướng được hòa trộn tất cả cùng nhau.
The Mighty One looked down. The forms met His approval. Forth came the cry for further light. Again He gathered in the sound. He drew to higher levels the feeble spark of light. Another tone was heard, the sound of cosmic fire, hid in the Sons of Manas. They called to their Primaries. The lower four, the higher three, and the cosmic fifth met at the great inbreathing. Another sheath was formed.
Đấng Đại Hùng nhìn xuống. Các hình tướng được Ngài chấp thuận. Tiếng kêu đòi thêm ánh sáng vang ra. Một lần nữa Ngài thu âm thanh lại. Ngài kéo tia lửa ánh sáng yếu ớt lên các cấp độ cao hơn. Một âm điệu khác được nghe thấy, âm thanh của lửa vũ trụ, ẩn trong các Con của Trí Tuệ. Họ gọi đến các Cội Nguồn của mình. Bốn phần thấp, ba phần cao, và phần thứ năm vũ trụ gặp nhau trong đại hít vào. Một vỏ bọc khác được hình thành.
STANZA III — BÀI KỆ III
[Page 15] The great Wheel turned upon itself. The seven lesser wheels rushed into being. They revolve like their Mother, around, within and forward. All that existeth was.
[Page 15] Bánh Xe lớn tự quay trên chính nó. Bảy bánh xe nhỏ hơn lao vào hiện hữu. Chúng quay như Mẹ của chúng, chung quanh, bên trong và tiến về phía trước. Mọi điều hiện hữu đều đã có.
The wheels were diverse, and in unification, one. As evolved the great Wheel, the inner fire burst forth. It touched into life wheel the first. It circulated. A million fires rose up. The quality of matter densified, but form was not. The Sons of God arose, scanned the depth of Flame, took from its heart the sacred Stone of Fire, and proceeded to the next.
Các bánh xe thì đa dạng, và trong hợp nhất, là một. Khi Bánh Xe lớn tiến hoá, ngọn lửa bên trong bùng phát. Nó chạm vào bánh xe thứ nhất để làm cho bánh xe ấy sống động. Nó tuần hoàn. Một triệu ngọn lửa bốc lên. Phẩm tính của vật chất trở nên đậm đặc hơn, nhưng hình tướng thì chưa. Các Con của Thượng đế trỗi dậy, khảo sát chiều sâu của Ngọn Lửa, lấy từ trái tim của nó Viên Đá thiêng của Lửa, rồi tiến sang bánh xe kế tiếp.
In turning next the Great Wheel launched the second. Again the flame burst forth, took to its heart the Stone and proceeded in revolution. The Sons of God again arose, and sought within the flame. “The form sufficeth not,” they said, “remove from without the fire.”
Trong lần quay kế tiếp, Bánh Xe Lớn phóng ra bánh xe thứ hai. Một lần nữa ngọn lửa bùng phát, nhận Viên Đá vào tim nó rồi tiếp tục trong vòng quay. Các Con của Thượng đế lại trỗi dậy, và tìm kiếm bên trong ngọn lửa. “Hình tướng chưa đủ,” họ nói, “hãy lấy lửa từ bên ngoài ra.”
Faster revolved the greater Wheel, blue white emerged the flame. The Sons of God again came down and a lesser wheel revolved. Seven times the revolution, and seven times great the heat. More solid grew the formless mass, and deeper sank the Stone. To the heart of inmost fire the sacred Stone went down. This time the work was better done, and the product more perfected. At the seventh revolution, the third wheel rendered back the Stone. Triple the form, rosy the light, and sevenfold the eternal principle.
Bánh Xe lớn quay nhanh hơn, ngọn lửa xanh trắng xuất hiện. Các Con của Thượng đế lại đi xuống và một bánh xe nhỏ hơn quay. Bảy lần vòng quay, và sức nóng lớn gấp bảy. Khối vô tướng trở nên rắn chắc hơn, và Viên Đá chìm sâu hơn. Viên Đá thiêng đi xuống trái tim của ngọn lửa sâu kín nhất. Lần này công việc được làm tốt hơn, và sản phẩm hoàn thiện hơn. Đến vòng quay thứ bảy, bánh xe thứ ba hoàn trả lại Viên Đá. Hình tướng tam phân, ánh sáng hồng, và nguyên khí vĩnh cửu thất phân.
[Page 16] From out the greater Wheel, down from the vault of heaven, came into light the lesser wheel that counted as the fourth. The eternal Lhas looked down, and the Sons of God reached forth. Down to the inmost point of death They flung the sacred Stone. The plaudits of the Chohans rose. The work had turned a point. From the pit of outer darkness, They gathered forth the Stone, translucent now and unalloyed, of colour rose and blue.
[Page 16] Từ Bánh Xe lớn hơn, từ vòm trời cao, bánh xe nhỏ hơn được kể là thứ tư đi vào ánh sáng. Các Lhas vĩnh cửu nhìn xuống, và các Con của Thượng đế vươn tới. Xuống đến điểm sâu kín nhất của cái chết, Các Ngài ném Viên Đá thiêng. Tiếng hoan hô của các Chohan vang lên. Công việc đã chuyển sang một điểm mới. Từ hố tối tăm bên ngoài, Các Ngài thu hồi Viên Đá, giờ đây trong suốt và không pha tạp, mang màu hồng và xanh lam.
The turning of the fifth wheel and its action on the Stone rendered it still more fit. Yellow the blending tint, orange the inner fire, till yellow, rose and blue mingled their subtle tones. The four wheels with the greater worked thus upon the Stone till all the Sons of God acclaimed, and said: “The work is done.”
Sự quay của bánh xe thứ năm và tác động của nó lên Viên Đá làm cho nó càng thích hợp hơn nữa. Màu pha trộn là vàng, ngọn lửa bên trong là cam, cho đến khi vàng, hồng và xanh lam hòa trộn các sắc điệu vi tế của chúng. Bốn bánh xe cùng với bánh xe lớn đã tác động như thế lên Viên Đá cho đến khi tất cả các Con của Thượng đế đều tung hô và nói: “Công việc đã hoàn tất.”
STANZA IV — BÀI KỆ IV
[Page 17] In revolution fifth of the great Wheel the period set was reached. The lesser wheel, that responded to that fifth great turn, passed through the cycle and entered into peace.
[Page 17] Trong vòng quay thứ năm của Bánh Xe lớn, thời kỳ đã định được đạt tới. Bánh xe nhỏ hơn, bánh xe đáp ứng với vòng quay lớn thứ năm ấy, đã đi qua chu kỳ và bước vào an bình.
The lesser wheels come forth and likewise do their work. The great Wheel gathers back the emanating sparks. The Five dealt with the work, the lesser two but wrought with detail. The Stone had gathered fire, lambent with flame it shone. The outer sheath met not the need till the sixth wheel and the seventh had passed it through their fires.
Các bánh xe nhỏ hơn xuất hiện và cũng làm công việc của chúng. Bánh Xe lớn thu hồi các tia lửa đã phát xạ ra. Năm vị xử lý công việc, còn hai vị nhỏ hơn chỉ làm phần chi tiết. Viên Đá đã thu nhận lửa, rực sáng với ngọn lửa nó chiếu sáng. Vỏ bọc bên ngoài không đáp ứng nhu cầu cho đến khi bánh xe thứ sáu và thứ bảy đã đưa nó đi qua các ngọn lửa của chúng.
The Sons of God emerged from out their source, gazed on the sevenfold work, and stated it was good. The Stone was set alone. In dual revolution moved the greater Wheel. The fourth Lord of the greater Twelve handled the work of sevenfold fire. “It is not fit,” He said, “merge thou this Stone within the wheel which started revolution.”
Các Con của Thượng đế xuất hiện từ cội nguồn của họ, nhìn ngắm công trình thất phân, và tuyên bố rằng nó là tốt lành. Viên Đá được đặt riêng ra. Trong vòng quay nhị phân, Bánh Xe lớn chuyển động. Chúa Tể thứ tư của Mười Hai lớn hơn xử lý công việc của lửa thất phân. “Nó chưa thích hợp,” Ngài nói, “hãy hòa Viên Đá này vào trong bánh xe đã khởi đầu vòng quay.”
The lords of the greater seven plunged the Stone within the moving wheel. The lords of the greater fifth and sixth likewise plunged their Stone.
Các chúa tể của bảy lớn hơn dìm Viên Đá vào bánh xe đang chuyển động. Các chúa tể của thứ năm và thứ sáu lớn hơn cũng dìm Viên Đá của họ vào.
Within the fire, deep at the inmost sphere, as whirled through space the greater Wheel, bearing the lesser seven, the two were fused. The fourth, the fifth, the sixth blended, merged and intermingled.
Bên trong lửa, sâu trong khối cầu sâu kín nhất, khi Bánh Xe lớn quay cuồng xuyên không gian, mang theo bảy bánh xe nhỏ hơn, hai viên đá được dung hợp. Thứ tư, thứ năm, thứ sáu hòa trộn, hợp nhất và xen lẫn vào nhau.
The aeon closed, the work was done. The stars stood still. The eternal Ones cried to inmost heaven: “Display the work. Draw forth the Stones.” And lo, the Stones were one.
aeon khép lại, công việc hoàn tất. Các vì sao đứng yên. Các Đấng vĩnh cửu kêu lên với thiên giới sâu kín nhất: “Hãy phô bày công trình. Hãy rút các Viên Đá ra.” Và kìa, các Viên Đá là một.
STANZA V — BÀI KỆ V
[Page 18] The moment manvantaric, for which had waited all the Triads, the hour that marked the solemn point of juncture, arrived within the scope of time, and lo, the work was done.
[Page 18] Khoảnh khắc manvantaric, mà mọi Tam nguyên tinh thần đã chờ đợi, giờ khắc đánh dấu điểm nối kết trang nghiêm, đã đến trong phạm vi thời gian, và kìa, công việc đã hoàn tất.
The hour for which the seven groups purushic, each vibrant to the sounding of the Word, seeking the adding of the power, had waited for millennia, passed in a flash of time, and lo, the work was done.
Giờ khắc mà bảy nhóm purushic, mỗi nhóm rung động theo sự xướng lên của Linh từ, tìm kiếm sự gia tăng quyền năng, đã chờ đợi suốt hàng thiên niên kỷ, trôi qua trong một thoáng thời gian, và kìa, công việc đã hoàn tất.
The First Degree in mighty acclamation deeming the hour propitious, sounded the triple note in threefold reverberation. The echo reached the goal. They three times sent it forth. Restless the sphere of blue felt the vibration and answering, roused herself and hastened to the call.
Đẳng cấp Thứ Nhất, trong sự tung hô mãnh liệt, cho rằng giờ đã thuận lợi, đã xướng lên âm điệu tam phân trong sự dội lại tam phân. Tiếng vọng đạt tới mục tiêu. Họ ba lần phát nó ra. Khối cầu xanh lam bất an cảm nhận rung động và, đáp lại, tự mình thức dậy và vội vã theo tiếng gọi.
The Second, with wise insistence, hearing the First sound forth, knowing the hour had likewise come, echoed the sound or note quadruple. This fourfold reverberation circled the gamut of the spheres. Again it was sent forth. Three times the note was sounded, pealing across the heavens. At the third intoning came the answer to the call. Vibrant as a key attuned, the eternal Primary replied. The blue to the dense one answered and responded to the need.
Đẳng cấp Thứ Hai, với sự kiên định minh triết, nghe Đẳng cấp Thứ Nhất xướng lên, biết rằng giờ của mình cũng đã đến, đã vọng lại âm thanh hay âm điệu tứ phân. Sự dội lại tứ phân này bao quanh toàn bộ âm giai của các khối cầu. Một lần nữa nó được phát ra. Ba lần âm điệu được xướng lên, ngân vang khắp các tầng trời. Ở lần xướng thứ ba, câu trả lời cho tiếng gọi đã đến. Rung động như một chủ âm được chỉnh hợp, Cội Nguồn vĩnh cửu đáp lại. Khối cầu xanh lam đáp lại khối cầu đậm đặc và đáp ứng nhu cầu.
Quivering the sphere heard the third take up the note, pealing it forth, a full-toned chord smote on the ears of the Watchers of the Flame.
Khối cầu run rẩy nghe cấp thứ ba tiếp nhận âm điệu, xướng nó ra, một hợp âm tròn đầy giáng vào tai các Đấng Canh Giữ Ngọn Lửa.
The Lords of Flame arose and prepared Themselves. It was decision’s hour. The seven Lords of the seven spheres watched breathless the result. The [Page 19] great Lord of sphere the fourth awaited the oncoming.
Các Chúa Tể của Lửa trỗi dậy và chuẩn bị chính Các Ngài. Đó là giờ quyết định. Bảy Chúa Tể của bảy khối cầu nín thở theo dõi kết quả. [Page 19] vị Đại Chúa Tể của khối cầu thứ tư chờ đợi điều đang đến.
The lower was prepared. The upper was resigned. The great Five waited for the point of equidistant merging. The foundation note ascended. Deep answered unto deep. The fivefold chord awaited the response from Those Whose hour had come.
Phần thấp đã sẵn sàng. Phần cao đã thuận theo. Năm vị lớn chờ đợi điểm hợp nhất cách đều. Âm điệu nền tảng đi lên. Cái sâu đáp lại cái sâu. Hợp âm ngũ phân chờ đợi sự đáp ứng từ Những Đấng mà giờ của Các Ngài đã đến.
Dark grew the space between the spheres. Radiant two balls became. The threefold thirty-five, finding the distance just, flashed like a sheet of intermittent flame, and lo, the work was done. The great Five met the Three and Four. The point intermediate was achieved. The hour of sacrifice, the sacrifice of Flame, arrived, and for aeons hath endured. The timeless Ones entered into time. The Watchers began Their task, and lo, the work proceeds.
Không gian giữa các khối cầu trở nên tối sẫm. Hai quả cầu trở nên rực sáng. Bộ ba ba mươi lăm, khi thấy khoảng cách vừa đúng, lóe lên như một tấm lửa chập chờn, và kìa, công việc đã hoàn tất. Năm vị lớn gặp Bộ Ba và Bốn. Điểm trung gian đã đạt được. Giờ hi sinh, sự hi sinh của Lửa, đã đến, và đã kéo dài qua các aeon. Những Đấng vô thời gian bước vào thời gian. Các Đấng Canh Giữ bắt đầu nhiệm vụ của Các Ngài, và kìa, công việc vẫn tiếp diễn.
STANZA VI — BÀI KỆ VI
[Page 20] Within the cavern dark the fourfold one groped for expansion and for further light. No light above, and all around the gloom enveloped. Pitchy the darkness that surrounded it. To the innermost centre of the heart, throbbing without the Warming Light, crept in the icy cold of uttermost darkness.
[Page 20] Bên trong hang động tối tăm, kẻ tứ phân lần mò tìm sự mở rộng và thêm ánh sáng. Không có ánh sáng ở trên, và khắp chung quanh bóng tối bao phủ. Sự tối tăm đen đặc vây quanh nó. Vào trung tâm sâu kín nhất của trái tim, đang đập mà không có Ánh Sáng Sưởi Ấm, cái lạnh băng giá của bóng tối cùng cực len vào.
Above the cavern dark shone all the light of day; yet the fourfold one saw it not, nor did the light pervade.
Phía trên hang động tối tăm, toàn bộ ánh sáng ban ngày chiếu rạng; tuy nhiên kẻ tứ phân không thấy nó, ánh sáng cũng không thấm vào.
The rending of the cavern precedes the light of day. Great, then, must be the shattering. No help is found within the cave, nor any hidden light. Around the fourfold one lieth the vault of stone; beneath him menaceth the root of blackness, of utter denseness; beside him and above, naught but the same is seen.
Sự xé toạc hang động đi trước ánh sáng ban ngày. Vì thế, sự tan vỡ hẳn phải lớn lao. Không tìm thấy sự trợ giúp nào bên trong hang, cũng không có ánh sáng ẩn giấu nào. Chung quanh kẻ tứ phân là vòm đá; bên dưới nó đe dọa là gốc rễ của bóng đen, của sự đậm đặc cùng cực; bên cạnh và phía trên nó, không thấy gì ngoài điều ấy.
The threefold Watchers know and see. The fourfold is now ready; the work of denseness is completed; the vehicle prepared.
Ba Đấng Canh Giữ biết và thấy. Kẻ tứ phân giờ đây đã sẵn sàng; công việc của sự đậm đặc đã hoàn tất; vận cụ đã được chuẩn bị.
Soundeth the trump of shattering. Blinding the power of the oncoming flame. The mystic earthquake rocks the cavern; the burning Flames disintegrate the maya, and lo, the work is done.
Xướng lên tiếng kèn của sự tan vỡ. Chói lòa là quyền năng của ngọn lửa đang đến. Cơn địa chấn thần bí làm rung chuyển hang động; các Ngọn Lửa rực cháy làm tan rã ảo lực, và kìa, công việc đã hoàn tất.
Gone is the gloom and the blackness; rent is the cavern’s roof. The light of life shines in; the warmth inspires. The Lords on-looking see the work commence. The fourfold one becomes the seven. The [Page 21] chant of those who flame rises to all creation. The moment of achievement is attained.
Bóng tối và sự đen tối đã biến mất; mái hang đã bị xé toạc. Ánh sáng của sự sống chiếu vào; hơi ấm truyền cảm hứng. Các Chúa Tể đang quan sát thấy công việc bắt đầu. Kẻ tứ phân trở thành bảy. Bài ca [Page 21] của những vị đang bừng cháy dâng lên khắp mọi tạo vật. Khoảnh khắc thành tựu đã đạt tới.
Proceedeth the work anew. Creation moveth on its way, while waxeth the light within the cavern.
Tiếp diễn công việc một lần nữa. Tạo hóa tiến bước trên con đường của nó, trong khi ánh sáng bên trong hang động lớn dần.
STANZA VII — BÀI KỆ VII
[Page 22] Riseth the cave of beauty rare, of colour iridescent. Shineth the walls with azure tint, bathed in the light of rose. The blending shade of blue irradiates the whole and all is merged in gleaming.
[Page 22] Vươn lên hang động của vẻ đẹp hiếm có, của màu sắc óng ánh. Những bức tường tỏa sáng với sắc xanh thiên thanh, được tắm trong ánh sáng hồng. Sắc thái pha trộn của xanh lam chiếu rạng toàn thể và mọi sự hòa vào ánh sáng lấp lánh.
Within the cave of iridescent colour, within its arching circle, standeth the fivefold One demanding further light. He struggleth for expansion, he wrestleth towards the day. The Five demand the greater Sixth and Seventh. The surrounding beauty meeteth not the need. The inner warmth sufficeth but to feed the urge for FIRE.
Bên trong hang động của màu sắc óng ánh, bên trong vòng cung của nó, đứng đó Đấng ngũ phân đòi hỏi thêm ánh sáng. Ngài vật lộn để mở rộng, Ngài tranh đấu hướng tới ban ngày. Năm vị đòi hỏi Đấng Thứ Sáu và Thứ Bảy lớn hơn. Vẻ đẹp bao quanh không đáp ứng nhu cầu. Hơi ấm bên trong chỉ đủ để nuôi dưỡng sự thôi thúc hướng tới LỬA.
The Lords of Flame look on; they chant aloud: “The time is come, that time for which We wait. Let the Flame become the FIRE and let the light shine forth.”
Các Chúa Tể của Lửa nhìn theo; Các Ngài xướng lớn: “Thời điểm đã đến, thời điểm mà Chúng Ta chờ đợi. Hãy để ngọn lửa trở thành LỬA và hãy để ánh sáng chiếu rạng.”
The effort of the Flame within the crystal cave becometh ever greater. The cry goes forth for other aid from other Flaming Souls. The response comes.
Nỗ lực của ngọn lửa bên trong hang động pha lê ngày càng lớn hơn. Tiếng kêu cầu sự trợ giúp khác từ những Linh Hồn Rực Cháy khác vang ra. Sự đáp ứng đến.
The Lord of Flame, the Ancient One, the Mighty Lord of Fire, the Point of Blue within the hidden diamond, the Youth of Timeless Aeons, assisteth in the work. The inner burning light and the outer waiting fire,—together with the ROD,—meet on the sphere of crystal, and lo, the work is done. The crystal rends and quivers.
Chúa Tể của Lửa, Đấng Cổ Xưa, vị Đại Chúa Tể của Lửa, Điểm Xanh Lam bên trong viên kim cương ẩn giấu, Thanh Niên của các Aeon Vô Thời, trợ giúp trong công việc. Ánh sáng cháy bên trong và ngọn lửa chờ đợi bên ngoài,—cùng với THẦN TRƯỢNG,—gặp nhau trên khối cầu pha lê, và kìa, công việc đã hoàn tất. Pha lê nứt vỡ và rung chuyển.
Seven times the work proceeds. Seven the efforts made. Seven the applications of the Rod, held by a Lord of Flame. Three are the lesser touches; four [Page 23] the divine assistance. At the final fourth the work is done and the whole cave disrupts. The lighted flame within spreads through the rending walls. It mounteth to its Source. Another fire is merged; another point of blue findeth its place within the diadem logoic.
Bảy lần công việc tiếp diễn. Bảy nỗ lực được thực hiện. Bảy lần áp dụng Thần Trượng, được một Chúa Tể của Lửa cầm giữ. Ba là những lần chạm nhỏ hơn; bốn [Page 23] là sự trợ giúp thiêng liêng. Ở lần thứ tư cuối cùng, công việc hoàn tất và toàn bộ hang động tan vỡ. Ngọn lửa được soi sáng bên trong lan qua những bức tường nứt vỡ. Nó vươn lên tới Cội Nguồn của nó. Một ngọn lửa khác được hòa nhập; một điểm xanh lam khác tìm thấy vị trí của nó trong vương miện Thượng đế.
STANZA VIII — BÀI KỆ VIII
[Page 24] The greater Three, each with their seven lesser wheels, in spiral evolution, rotate within the timeless Now, and move as one. The cosmic Lords from Their high place, view the past, control the Now, and ponder on the Day be with us.
[Page 24] Ba Đấng lớn hơn, mỗi Đấng với bảy bánh xe nhỏ hơn của mình, trong tiến hoá xoắn ốc, quay trong Hiện Tại Vĩnh Cửu vô thời gian, và chuyển động như một. Các Chúa Tể vũ trụ từ chỗ cao của Các Ngài nhìn quá khứ, kiểm soát Hiện Tại, và suy ngẫm về Ngày sẽ đến với chúng ta.
The Lhas of the eternal Sound, the product of the time that was, surmount the sevenfold display. Within the Ring-pass-not the Word of Love sounds forth.
Các Lhas của Âm Thanh vĩnh cửu, sản phẩm của thời gian đã qua, vượt lên trên biểu hiện thất phân. Bên trong vòng-giới-hạn, Linh từ của Bác ái vang lên.
The sevenfold Lords proceed with just vibration to carry out the work. They sound forth each a note of the deep logoic chord. Each to His greater Lord makes record due. In the solemn breathing forth the forms are built, the colour just apportioned, and the flame within reveals itself with ever growing light.
Các Chúa Tể thất phân tiến hành với rung động chính xác để thực hiện công việc. Mỗi vị xướng lên một âm điệu của hợp âm Thượng đế sâu thẳm. Mỗi vị ghi nhận đúng mức với Chúa Tể lớn hơn của mình. Trong sự thở ra trang nghiêm, các hình tướng được xây dựng, màu sắc được phân phối đúng mức, và ngọn lửa bên trong tự bộc lộ với ánh sáng ngày càng tăng.
Blue to the green is added and completion quick is seen. The vibration of the third is added to the one. Blue to the orange blends, and in their wise admixture is seen the stable scheme. To the yellow and the red, to the purple and the ultimate is the vibration of the seventh adjusted as the Primary.
Xanh lam được thêm vào xanh lục và sự hoàn tất mau chóng được thấy. Rung động của thứ ba được thêm vào một. Xanh lam hòa với cam, và trong sự pha trộn minh triết của chúng, hệ hành tinh ổn định được nhìn thấy. Với vàng và đỏ, với tím và cái tối hậu, rung động của thứ bảy được điều chỉnh như Cội Nguồn.
Each of the seven Lords, within Their seven schemes, adjusted to the second karmic circle, merge [Page 25] Their migrating spheres and blend Their myriad atoms.
Mỗi Chúa Tể trong bảy hệ hành tinh của Các Ngài, được điều chỉnh theo vòng nghiệp quả thứ hai lớn hơn, hợp nhất [Page 25] các khối cầu di chuyển của Các Ngài và hòa trộn vô số nguyên tử của Các Ngài.
The forms through which They work, the lesser million spheres, the cause of separation and the curse of the Asuras, shatter when sounds the Sacred Word within a point in time.
Các hình tướng mà qua đó Các Ngài hoạt động, hàng triệu khối cầu nhỏ hơn, nguyên nhân của sự phân ly và lời nguyền của các Asura, tan vỡ khi Linh từ Thiêng Liêng vang lên tại một thời điểm trong thời gian.
The life logoic surges out. The streams of colour melt together. The forms are left behind, and Parabrahm stands complete. The Lord of the cosmic Third utters a Word unknown. The sevenfold lesser Word forms part of the vaster chord.
Sự sống Thượng đế tuôn trào ra ngoài. Các dòng màu hòa tan vào nhau. Các hình tướng bị bỏ lại phía sau, và Parabrahm đứng trọn vẹn. Chúa Tể của Đấng Thứ Ba vũ trụ xướng ra một Linh từ chưa được biết đến. Linh từ thất phân nhỏ hơn tạo thành một phần của hợp âm bao la hơn.
The Now becomes the time that was. The aeon mergeth into space. The Word of Motion hath been heard. The Word of Love succeedeth. The Past controlled the form. The Now evolves the life. The Day that is to be sounds forth the Word of Power.
Hiện Tại trở thành thời gian đã qua. aeon hòa nhập vào không gian. Linh từ của Chuyển Động đã được nghe thấy. Linh từ của Tình thương tiếp nối. Quá Khứ kiểm soát hình tướng. Hiện Tại tiến hóa sự sống. Ngày Sắp Đến xướng lên Quyền năng từ.
The form perfected and the life evolved hold the third secret of the greater Wheel. It is the hidden mystery of living motion. The mystery, lost in the Now but known to the Lord of Cosmic Will.
Hình tướng được hoàn thiện và sự sống được tiến hóa nắm giữ bí mật thứ ba của Bánh Xe lớn hơn. Đó là huyền nhiệm ẩn kín của chuyển động sống động. Huyền nhiệm ấy bị mất trong Hiện Tại nhưng được Chúa Tể của Ý Chí Vũ Trụ biết đến.
STANZA IX — BÀI KỆ IX
[Page 26] The thirty thousand million Watchers refused to heed the call. “We enter not the forms,” they said, “until the seventh aeon.” The twice thirty thousand million hearkened to the call and took the forms designed.
[Page 26] Ba mươi ngàn triệu Đấng Quan Sát đã từ chối lưu tâm đến tiếng gọi. “Chúng ta không đi vào các hình tướng,” các Ngài nói, “cho đến aeon thứ bảy.” Sáu mươi ngàn triệu đã lắng nghe tiếng gọi và nhận lấy các hình tướng đã được thiết kế.
The rebellious ones laughed within themselves, and sought pralayic peace until the seventh aeon. But the seven great Lords called to the greater Chohans, and with the eternal Lhas of the third cosmic heaven entered into debate.
Những kẻ phản nghịch tự cười trong lòng, và tìm kiếm sự bình an pralaya cho đến aeon thứ bảy. Nhưng bảy Chúa Tể vĩ đại đã kêu gọi các Chohan cao cả hơn, và cùng với các Lha vĩnh cửu của cõi trời vũ trụ thứ ba bước vào cuộc nghị bàn.
The dictum then went forth. The laggards in the highest sphere heard it echo through the scheme. “Not till the seventh aeon, but at the fourteenth seventh will the chance again come round. The first shall be the last and time be lost for aeons.”
Khi ấy phán quyết được ban ra. Những kẻ chậm trễ trong khối cầu cao nhất nghe nó vang dội khắp hệ hành tinh. “Không phải cho đến aeon thứ bảy, mà đến lần thứ bảy của chu kỳ mười bốn thì cơ hội mới lại quay về. Kẻ đầu sẽ là kẻ cuối và thời gian sẽ mất đi trong nhiều aeon.”
The obedient Sons of Mind connected with the Sons of Heart, and evolution spiralled on its way. The Sons of Power stayed in their appointed place, though cosmic karma forced a handful to join the Sons of Heart.
Các Con của Trí Tuệ vâng phục đã kết nối với các Con của Tâm, và tiến hóa xoắn ốc trên đường đi của nó. Các Con của Quyền năng ở lại nơi đã được chỉ định cho mình, dù nghiệp quả vũ trụ buộc một số ít phải gia nhập các Con của Tâm.
At the fourteenth seventh aeon, the Sons of Mind and Heart, absorbed by endless flame, will join the Sons of Will, in manvantaric manifestation. Three times the wheel will turn.
Vào aeon thứ bảy của chu kỳ mười bốn, các Con của Trí Tuệ và Tâm, được hấp thụ bởi ngọn lửa vô tận, sẽ hợp nhất với các Con của Ý Chí, trong sự biểu hiện manvantara. Bánh xe sẽ quay ba lần.
At the centre stand the buddhas of activity, helped by the lords of love, and following their twofold work will come the radiant lords of power.
Tại trung tâm đứng các vị Phật của hoạt động, được các chúa tể của tình thương trợ giúp, và tiếp theo công việc nhị phân của các Ngài sẽ đến các chúa tể rạng ngời của quyền năng.
The buddhas of creation from out the past have [Page 27] come. The buddhas of love are gathering now. The buddhas of will at the final turn of the third major wheel will flash into being. The end will then be consummated.
Các vị Phật của sáng tạo từ quá khứ đã [Page 27] đến. Các vị Phật của tình thương hiện đang tụ hội. Các vị Phật của ý chí vào vòng quay cuối cùng của bánh xe lớn thứ ba sẽ lóe hiện vào hiện hữu. Khi ấy sự kết thúc sẽ được hoàn tất.
STANZA X — BÀI KỆ X
[Page 28] The Fifth progresseth and from the remnants of the Fourth multiplied and reproduced. The waters arose. All sank and was submerged. The sacred remnant, in the place appointed, emerged at later date from out the zone of safety.
[Page 28] Giống dân gốc thứ Năm tiến lên và từ những tàn dư của Giống dân gốc thứ Tư đã nhân lên và tái sinh sản. Nước dâng lên. Mọi sự chìm xuống và bị nhấn ngập. Phần tàn dư thiêng liêng, ở nơi đã được chỉ định, về sau xuất hiện từ vùng an toàn.
The waters dissipated. The solid ground emerged in certain destined places. The Fifth o’er-ran the Sacred Land, and in their fivefold groups developed the lower Fifth.
Nước tan đi. Đất rắn hiện ra ở một số nơi đã được định sẵn. Giống dân gốc thứ Năm tràn khắp Thánh Địa, và trong các nhóm ngũ phân của mình đã phát triển giống dân phụ thứ năm thấp hơn.
They passed from stage to stage. The watching Lords, recognising the rupas formed, gave a sign to the circulating Fourth and it speeded faster on its way. When the lesser Fifth had midway passed and all the lesser four were peopling the land, the Lords of Dark Intent arose. They said: “Not so shall go the force. The forms and rupas of the third and fourth, within the corresponding Fifth, approach too close the archetype. The work is far too good.”
Họ đi từ giai đoạn này sang giai đoạn khác. Các Chúa Tể quan sát, nhận ra các rupa đã được tạo thành, đã ra dấu cho Giống dân gốc thứ Tư đang tuần hoàn và nó tăng tốc nhanh hơn trên đường đi. Khi giống dân phụ thứ năm thấp hơn đã đi qua điểm ở giữa và tất cả bốn giống dân phụ thấp hơn đang cư trú trên đất, các Chúa Tể của Ý Định Hắc Ám trỗi dậy. Họ nói: “Mãnh lực sẽ không vận hành như thế. Các hình tướng và các rupa của giống dân thứ ba và thứ tư, bên trong giống dân thứ năm tương ứng, tiến quá gần nguyên mẫu. Công việc quá ư tốt đẹp.”
They constructed other forms. They called for cosmic fire. The seven deep pits of hell belched forth the animating shades. The incoming seventh reduced to order all the forms,—the white, the dark, the red, and shaded brown.
Họ kiến tạo những hình tướng khác. Họ kêu gọi lửa vũ trụ. Bảy vực sâu của địa ngục phun ra những bóng mờ được tiếp sinh lực. Đấng thứ bảy đi vào đã đưa tất cả các hình tướng vào trật tự,—trắng, đen, đỏ, và nâu sẫm.
The period of destruction extended far on either hand. The work was sadly marred. The Chohans of the highest plane gazed in silence on the work. The Asuras and the Chaitans, the Sons of Cosmic Evil, and the Rishis of the darkest constellations, [Page 29] gathered their lesser hosts, the darkest spawn of hell. They darkened all the space.
Thời kỳ hủy diệt kéo dài rất xa về cả hai phía. Công việc bị làm hư hại nặng nề. Các Chohan của cõi cao nhất lặng lẽ nhìn công việc. Các Asura và các Chaitan, các Con của Điều Ác Vũ Trụ, và các Rishi của những chòm sao tối tăm nhất, [Page 29] đã tập hợp các đạo quân nhỏ hơn của họ, bầy giống tối tăm nhất của địa ngục. Họ làm tối đen toàn bộ không gian.
* * * * *
* * * * *
From the coming of the heaven-sent One peace passed upon the earth. The planet staggered and belched forth fire. Part rose. Part fell. The form was changed. Millions took other forms or ascended to the appointed place of waiting. They tarried till the hour of progress should again sound forth for them.
Từ khi Đấng do trời sai đến, bình an giáng xuống địa cầu. Hành tinh chao đảo và phun lửa ra. Một phần trồi lên. Một phần sụp xuống. Hình tướng bị thay đổi. Hàng triệu sinh linh nhận lấy những hình tướng khác hoặc thăng lên nơi chờ đợi đã được chỉ định. Họ lưu lại đó cho đến khi giờ tiến bộ lại vang lên đối với họ.
* * * * *
* * * * *
The early Third produced the monsters, great beasts and evil forms. They prowled upon the surface of the sphere.
Giống dân gốc thứ Ba thời kỳ đầu đã tạo ra những quái vật, những thú lớn và những hình tướng xấu ác. Chúng lang thang trên bề mặt khối cầu.
The watery Fourth produced within the watery sphere, reptiles and spawn of evil fame, the product of their karma. The waters came and swept away the progenitors of the fluidic spawn.
Giống dân gốc thứ Tư thuộc nước đã tạo ra trong khối cầu nước những loài bò sát và giống nòi tai tiếng của điều ác, sản phẩm của nghiệp quả của chúng. Nước tràn đến và cuốn đi những tổ tiên của giống nòi lưu chất ấy.
The separating Fifth built in the rupa sphere the concrete forms of thought. They cast them forth. They peopled the lower four, and like a black and evil cloud shut out the light of day. The higher three were hid.
Giống dân gốc thứ Năm phân ly đã xây dựng trong khối cầu rupa những hình tư tưởng cụ thể. Họ phóng chúng ra ngoài. Họ cư trú trong bốn cõi thấp, và như một đám mây đen xấu ác che khuất ánh sáng ban ngày. Ba cõi cao hơn bị che giấu.
* * * * *
* * * * *
The war upon the planet had been waged. Both sides descended into hell. Then came the Conqueror of form. He drew on the Sacred Fire, and purified the rupa levels. The fire destroyed the lands in the days of the lesser Sixth.
Cuộc chiến trên hành tinh đã diễn ra. Cả hai phía đều sa xuống địa ngục. Rồi Đấng Chinh Phục hình tướng xuất hiện. Ngài vận dụng Lửa Thiêng và thanh lọc các cấp độ rupa. Lửa đã hủy diệt các vùng đất trong những ngày của giống dân phụ thứ sáu thấp hơn.
When the Sixth appeared the land was changed. The surface of the globe circled through another cycle. Men of the higher Fifth mastered the lower [Page 30] three. The work was shifted to the plane whereon the Pilgrim stood. The lesser triangle within the lower auric egg became the centre of cosmic dissonance.
Khi giống dân phụ thứ Sáu xuất hiện, đất đai đã thay đổi. Bề mặt của bầu hành tinh quay qua một chu kỳ khác. Những người nam và nữ của giống dân phụ thứ năm cao hơn đã chế ngự ba giống dân thấp hơn [Page 30]. Công việc được chuyển sang cõi nơi Người Hành Hương đứng. Tam giác nhỏ hơn bên trong noãn hào quang thấp hơn trở thành trung tâm của sự bất hòa vũ trụ.
STANZA XI
BÀI KỆ XI
[Page 31] The wheel of life turns within the wheel of outer form.
[Page 31] Bánh xe sự sống quay bên trong bánh xe của hình tướng bên ngoài.
The matter of Fohat circulateth, and its fire hardeneth all the forms. The wheel that is not glimpsed moveth in rapid revolution within the slower outer case, till it weareth out the form.
Chất liệu của Fohat tuần hoàn, và lửa của nó làm cứng mọi hình tướng. Bánh xe không được thoáng thấy chuyển động trong vòng quay nhanh chóng bên trong vỏ bọc bên ngoài chậm hơn, cho đến khi nó làm mòn hình tướng.
The forty-nine fires burn at the inner centre. The thirty-five circulating fiery vortices extend along the circle of the periphery. Between the two passeth in ordered sequence the various coloured flames.
Bốn mươi chín ngọn lửa cháy tại trung tâm bên trong. Ba mươi lăm xoáy lửa tuần hoàn trải dọc theo vòng tròn của chu vi. Giữa hai bên ấy đi qua theo trình tự có trật tự các ngọn lửa nhiều màu khác nhau.
The great Triangles in their just arrangement hold hid the secret of the wheel of life. The cosmic fire radiates as directed from the second sphere, controlled by the Ruler of the merging ray. The cohorts of the third encircling sphere in varied ranks mark out the lesser threes.
Các Tam Giác lớn trong sự sắp xếp đúng đắn của chúng cất giấu bí mật của bánh xe sự sống. Lửa vũ trụ bức xạ theo sự chỉ đạo từ khối cầu thứ hai, được kiểm soát bởi chủ tinh của cung đang hòa nhập. Các đoàn quân của khối cầu bao quanh thứ ba trong những hàng ngũ khác nhau vạch ra các bộ ba nhỏ hơn.
The wheel of life still moves within the form. The devas of the fourth connect the thirty-five, and blend them with the central forty-nine. Above they work, seeking to merge the whole. Upward they strive, who in their myriad forms revolve within the wheels of lesser magnitude. The whole is one, yet on the lower spheres only the forms appear. They seem in their divisions more than can be grasped or met.
Bánh xe sự sống vẫn chuyển động bên trong hình tướng. Các thiên thần của cõi thứ tư kết nối ba mươi lăm, và hòa trộn chúng với bốn mươi chín trung tâm. Phía trên, họ hoạt động, tìm cách hòa nhập toàn thể. Hướng lên trên, họ nỗ lực, những vị đang quay trong vô số hình tướng của mình bên trong các bánh xe có tầm mức nhỏ hơn. Toàn thể là một, tuy nhiên trên các khối cầu thấp hơn chỉ các hình tướng xuất hiện. Trong các phân chia của chúng, chúng dường như nhiều hơn mức có thể nắm bắt hay đối diện.
The many circulate. The forms are built, become too firm, are broken by the life, and circulate again. The few revolve, holding the many in the heat of motion. The one embraces all, and carries all from great activity into the heart of cosmic peace.
Số nhiều tuần hoàn. Các hình tướng được xây dựng, trở nên quá vững chắc, bị sự sống phá vỡ, rồi lại tuần hoàn. Số ít quay vòng, giữ số nhiều trong sức nóng của chuyển động. Đấng duy nhất ôm trọn tất cả, và mang tất cả từ hoạt động lớn lao vào trái tim của bình an vũ trụ.
STANZA XII — BÀI KỆ XII
[Page 32] The Blessed Ones hide Their threefold nature but reveal Their triple essence by means of the three great groups of atoms. Three are the atoms and threefold the radiation.
[Page 32] Các Đấng Chân Phúc che giấu bản chất tam phân của Các Ngài nhưng biểu lộ tinh túy bộ ba của Các Ngài bằng ba nhóm nguyên tử lớn. Ba là các nguyên tử và bức xạ là tam phân.
The inner core of Fire hides itself and is known only through radiation and that which radiates. Only after the blaze dies out and the heat is no longer felt can the fire be known.
Lõi bên trong của Lửa tự ẩn mình và chỉ được biết qua bức xạ và điều đang bức xạ. Chỉ sau khi ngọn lửa tắt đi và sức nóng không còn được cảm nhận nữa thì lửa mới có thể được biết.
STANZA XIII — BÀI KỆ XIII
[Page 33] Through the band of violet that encircleth the Heavens passeth the globe of purple dark. It passeth and returneth not. It becometh enrapt in the blue. Three times the blue enfoldeth, and when the cycle is completed the purple fadeth and is merged into the rose, and the path again is traversed.
[Page 33] Xuyên qua dải tím đang bao quanh các cõi trời, bầu hành tinh tím sẫm đi qua. Nó đi qua và không quay lại. Nó trở nên ngây ngất trong màu lam. Ba lần màu lam bao bọc, và khi chu kỳ hoàn tất, màu tím phai đi và hòa nhập vào màu hồng, rồi con đường lại được đi qua.
Three the great colours in the cycle that counteth as the fourth, violet, blue and rose, with the basic purple in revolution.
Ba là những màu lớn trong chu kỳ được tính là thứ tư, tím, lam và hồng, với màu tím nền tảng trong vòng quay.
Four are the colours secondary in the cycle of discrimination in which the revolution taketh place. It is circled to the midmost point and somewhat passed. Yellow the band that cometh, orange the cloud that hideth, and green for vivification. Yet the time is not yet.
Bốn là những màu thứ yếu trong chu kỳ của sự phân biện, trong đó vòng quay diễn ra. Nó được quay đến điểm giữa nhất và vượt qua đôi chút. Vàng là dải đang đến, cam là đám mây đang che giấu, và xanh lục là để tiếp sinh lực. Tuy nhiên, thời điểm vẫn chưa đến.
Many the circling fires; many the revolving rounds, but only when the complementary colours recognise their source, and the whole adjusteth itself to the seven will be seen completion. Then will be seen each colour in adjustment right, and the cessation of revolution.
Nhiều là các ngọn lửa tuần hoàn; nhiều là các cuộc tuần hoàn quay vòng, nhưng chỉ khi các màu bổ sung nhận ra nguồn gốc của chúng, và toàn thể tự điều chỉnh theo số bảy thì sự hoàn tất mới được thấy. Khi ấy sẽ thấy mỗi màu trong sự điều chỉnh đúng đắn, và sự chấm dứt của vòng quay.
SECTION ONE. The Internal Fires - Fire by Friction — PHẦN MỘT. Các Lửa Nội Tại - Lửa ma sát
INTRODUCTORY REMARKS — NHỮNG NHẬN XÉT MỞ ĐẦU
I. Fire in the Macrocosm.
I. Lửa trong Đại thiên địa.
II. Fire in the Microcosm.
II. Lửa trong Tiểu thiên địa.
III. Fire in manifestation.
III. Lửa trong biểu hiện.
[Page 37] We purpose in these few introductory remarks to lay down the foundation for a ‘Treatise on Cosmic Fire,’ and to consider the subject of fire both macrocosmically and microcosmically, thus dealing with it from the standpoint of the solar system, and of a human being. This will necessitate some preliminary technicalities which may seem at first perusal to be somewhat abstruse and complicated but which, when meditated upon and studied, may eventually prove illuminating and of an elucidating nature, and which also, when the mind has familiarised itself with some of the details, may come to be regarded as providing a logical hypothesis concerning the nature and origin of energy. We have elsewhere, in an earlier book, touched somewhat upon this matter, but we desire to recapitulate and in so doing to enlarge, thus laying down a broad foundation upon which the subject matter can be built up, and providing a general outline which will serve to show the limits of our discussion.
[Page 37] Trong vài nhận xét mở đầu này, chúng tôi dự định đặt nền tảng cho một ‘Luận về Lửa Vũ Trụ’, và xem xét chủ đề lửa cả theo phương diện đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa, như vậy bàn đến nó từ quan điểm của hệ mặt trời và của một con người. Điều này sẽ đòi hỏi một số điểm kỹ thuật sơ bộ, thoạt đọc có vẻ phần nào khó hiểu và phức tạp, nhưng khi được tham thiền và nghiên cứu, cuối cùng có thể chứng tỏ là soi sáng và có tính chất làm sáng tỏ; đồng thời, khi thể trí đã làm quen với một số chi tiết, chúng có thể được xem như cung cấp một giả thuyết hợp lý liên quan đến bản chất và nguồn gốc của năng lượng. Ở nơi khác, trong một quyển sách trước đây, chúng tôi đã phần nào đề cập đến vấn đề này, nhưng chúng tôi muốn tóm lược lại và khi làm như vậy sẽ mở rộng thêm, nhờ đó đặt ra một nền tảng rộng lớn để nội dung chủ đề có thể được xây dựng lên, đồng thời cung cấp một đại cương tổng quát nhằm cho thấy các giới hạn của cuộc bàn luận của chúng tôi.
Let us, therefore, look at the subject macrocosmically and then trace the correspondence in the microcosm, or human being.
Vì vậy, trước hết chúng ta hãy xem xét chủ đề theo phương diện đại thiên địa rồi truy tìm sự tương ứng trong tiểu thiên địa, hay con người.
I. FIRE IN THE MACROCOSM — I. LỬA TRONG ĐẠI THIÊN ĐỊA
In its essential nature Fire is threefold, but when in manifestation it can be seen as a fivefold demonstration, and be defined as follows: [Page 38]
Trong bản chất cốt yếu của nó, Lửa là tam phân, nhưng khi ở trong biểu hiện, nó có thể được thấy như một biểu lộ ngũ phân, và được định nghĩa như sau: [Page 38]
1. Fire by friction, or internal vitalising fire. These fires animate and vitalise the objective solar system. They are the sumtotal of logoic kundalini, when in full systemic activity.
1. Lửa ma sát, hay lửa tiếp sinh lực nội tại. Những ngọn lửa này làm linh hoạt và tiếp sinh lực cho hệ mặt trời khách quan. Chúng là tổng thể kundalini Thượng đế, khi ở trong hoạt động hệ thống trọn vẹn.
2. Solar Fire, or cosmic mental fire. This is that portion of the cosmic mental plane which goes to the animation of the mental body of the Logos. This fire may be regarded as the sumtotal of the sparks of mind, the fires of the mental bodies and the animating principle of the evolving units of the human race in the three worlds.
2. Lửa Thái dương, hay lửa trí tuệ vũ trụ. Đây là phần của cõi trí vũ trụ dùng để làm linh hoạt thể trí của Logos. Lửa này có thể được xem như tổng thể của các tia lửa trí tuệ, các ngọn lửa của các thể trí và nguyên khí làm linh hoạt của các đơn vị đang tiến hóa của nhân loại trong ba cõi thấp.
3. Electric Fire, or the logoic Flame Divine. This flame is the distinguishing mark of our Logos, and it is that which differentiates Him from all other Logoi; it is His dominant characteristic, and the sign of His place in cosmic evolution.
3. Lửa Điện, hay Ngọn Lửa Thiêng Thượng đế. Ngọn lửa này là dấu hiệu phân biệt của Logos của chúng ta, và chính nó phân biệt Ngài với tất cả các Logoi khác; đó là đặc tính trội vượt của Ngài, và là dấu hiệu về vị trí của Ngài trong tiến hóa vũ trụ.
This threefold fire may be expressed in ray terms as follows:
Lửa tam phân này có thể được diễn tả theo các thuật ngữ cung như sau:
First, we have the animating fires of the solar system, which are the fires of the primordial ray of active intelligent matter; these constitute the energy of Brahma, the third aspect of the Logos. Next are to be found the fires of the divine Ray of Love-Wisdom, the ray of intelligent love, which constitutes the energy of the Vishnu aspect, the second aspect logoic. (4) Finally are to be found [Page 39] the fires of the cosmic mental plane, which are the fires of the cosmic ray of will. They might be described as the rays of intelligent will and are the manifestation of the first aspect logoic, the Mahadeva aspect.(5) Therefore we have three cosmic rays manifesting:
Trước hết, chúng ta có các ngọn lửa làm linh hoạt của hệ mặt trời, là những ngọn lửa của cung nguyên sơ của vật chất hoạt động thông tuệ; chúng cấu thành năng lượng của Brahma, phương diện thứ ba của Logos. Kế đến là các ngọn lửa của Cung thiêng liêng Bác Ái – Minh Triết, cung của tình thương thông tuệ, cấu thành năng lượng của phương diện Vishnu, phương diện Thượng đế thứ hai. (4)Sau cùng là [Page 39] các ngọn lửa của cõi trí vũ trụ, là những ngọn lửa của cung vũ trụ của ý chí. Chúng có thể được mô tả như các cung của ý chí thông tuệ và là biểu hiện của phương diện Thượng đế thứ nhất, phương diện Mahadeva.(5) Vì vậy chúng ta có ba cung vũ trụ đang biểu hiện:
(4) “That whereinto all enter, vishanti, is Vishnu; he who covers up, envelopes, surrounds, undertakes all, is Brahma; he who sleeps, shete, in everything, is Shiva. Shiva sleeps, lies hidden, in all and everything as the nexus, the bond, and this is the nature of desire. Vrinite signifies the envelopment, the covering with an envelope, the demarcation of the limiting bounds or the periphery, and so the formation or creation (of all forms); and this is action presided over by Brahma. Vishanti sarvani indicates that all things enter into It and It into all, and such is the Self, connected with cognition and Vishnu. The summation or totality of these is Maha-Vishnu.
(4) “Cái mà mọi sự đi vào, vishanti, là Vishnu; đấng che phủ, bao bọc, vây quanh, đảm nhận mọi sự, là Brahma; đấng ngủ, shete, trong mọi sự, là Shiva. Shiva ngủ, ẩn tàng, trong mọi sự và mọi vật như mối nối, mối ràng buộc, và đó là bản chất của dục vọng. Vrinite có nghĩa là sự bao bọc, sự phủ bằng một lớp vỏ, sự phân định các giới hạn hay chu vi, và như vậy là sự hình thành hay sáng tạo (của mọi hình tướng); và đây là hành động do Brahma chủ trì. Vishanti sarvani chỉ rằng mọi sự đi vào Nó và Nó đi vào mọi sự, và đó là Bản Ngã, liên kết với nhận thức và Vishnu. Sự tổng hợp hay toàn thể của những điều này là Maha-Vishnu.
“Maha-Vishnu, ‘the overlord of all this world-system, is described as the Ishvara, white-coloured, four-armed, adorned with the conch, the discus, the mace, the lotus, the forest-wreath, and the kanstubha-gem, shining, vestured in blue and yellow, endless and imperishable in form, attributeless, yet ensouling and underlying all attributes. Here, the epithet Ishvara indicates the rule; the four arms, the four activities of cognition, etc.; the white resplendence is the illumination of all things; the shankha, conch or shell, indicates all sound, and the chakra, wheel or discus, all time, there being a connexion between the two; gada, the (whirling) mace, is the spiral method of the procession of the world and the lotus-flower is the whole of that procession; the vana-mala, the wreath of forest flowers, indicates the stringing together of all things into unity and necessity; the nila-pit-ambara, blue and yellow vestures, are darkness and light; the kaustubha jewel indicates inseparable connexion with all; Nirguna, attributeless, shows the presence of the nature of Negation; while saguna, attributeful, implies possession of name and form. The World-process (as embodied in our world-system) is the result of the ideation of Maha-Vishnu.”—Pranava-Vada, pp. 72-74, 94-95. (back)
“Maha-Vishnu, ‘vị chúa tể tối cao của toàn bộ hệ thống thế giới này, được mô tả là Ishvara, màu trắng, bốn tay, được trang sức bằng vỏ ốc, đĩa, chùy, hoa sen, vòng hoa rừng, và ngọc màu kanstubha, sáng chói, mặc y phục xanh và vàng, vô tận và bất hoại trong hình tướng, vô thuộc tính, nhưng phú linh và làm nền cho mọi thuộc tính. Ở đây, danh xưng Ishvara chỉ quyền cai quản; bốn cánh tay, bốn hoạt động của nhận thức, v.v.; sự rực sáng trắng là sự soi sáng của mọi sự; shankha, vỏ ốc hay vỏ sò, chỉ mọi âm thanh, và chakra, bánh xe hay đĩa, chỉ mọi thời gian, vì có một mối liên hệ giữa hai điều ấy; gada, cây chùy (xoay tròn), là phương pháp xoắn ốc của tiến trình thế giới và hoa sen là toàn bộ tiến trình ấy; vana-mala, vòng hoa rừng, chỉ sự kết chuỗi mọi sự thành hợp nhất và tất yếu; y phục nila-pit-ambara, xanh và vàng, là bóng tối và ánh sáng; ngọc kaustubha chỉ mối liên hệ bất khả phân với mọi sự; Nirguna, vô thuộc tính, cho thấy sự hiện diện của bản chất Phủ định; trong khi saguna, hữu thuộc tính, hàm ý sự sở hữu danh và sắc. Tiến trình Thế giới (như được thể hiện trong hệ thống thế giới của chúng ta) là kết quả của ý niệm hóa của Maha-Vishnu.”—Pranava-Vada, tr. 72-74, 94-95. (trở lại)
(5) Mahadeva is literally “great Deva.” The term is frequently applied to the first Person of the manifested Trinity, to Shiva, the Destroyer aspect, the Creator. (back)
(5) Mahadeva theo nghĩa đen là “đại Deva.” Thuật ngữ này thường được áp dụng cho Ngôi thứ nhất của Tam Vị biểu hiện, cho Shiva, phương diện Hủy Diệt, Đấng Sáng Tạo. (trở lại)
The Ray of intelligent activity. This is a ray of a very demonstrable glory, and of a higher point of development than the other two, being the product of an earlier mahakalpa, or a previous solar system. (6) It embodies [Page 40] the basic vibration of this solar system, and is its great internal fire, animating and vitalising the whole, and penetrating from the centre to the periphery. It is the cause of rotary motion, and therefore of the spheroidal form of all that exists.
Cung của hoạt động thông tuệ. Đây là một cung có vinh quang rất hiển nhiên, và ở một điểm phát triển cao hơn hai cung kia, vì là sản phẩm của một mahakalpa sớm hơn, hay một hệ mặt trời trước đây. (6) Nó thể hiện [Page 40] rung động căn bản của hệ mặt trời này, và là lửa nội tại lớn lao của nó, làm linh hoạt và tiếp sinh lực cho toàn thể, đồng thời xuyên thấu từ trung tâm đến chu vi. Nó là nguyên nhân của chuyển động xoay tròn, và do đó của hình cầu của mọi cái đang hiện hữu.
(6) “One day out of this long life of Brahma is called Kalpa; and a Kalpa is that portion of time which intervenes between one conjunction of all the planets on the horizon of Lanka, at the first point of Aries, and a subsequent similar conjunction. A Kalpa embraces the reign of fourteen Manus, and their sandhies (intervals); each Manu lying between two sandhies. Every Manu’s rule contains seventy-one Maha Yugas,—each Maha Yuga consists of four Yugas, viz., Krita, Treta, Dwapara, and Kali; and the length of each of these four Yugas is respectively as the numbers, 4, 3, 2 and 1.
(6) “Một ngày trong cuộc đời dài lâu này của Brahma được gọi là Kalpa; và một Kalpa là khoảng thời gian xen giữa một lần đồng vị của tất cả các hành tinh trên chân trời Lanka, tại điểm đầu tiên của Bạch Dương, và một lần đồng vị tương tự về sau. Một Kalpa bao gồm triều đại của mười bốn Manu, và các sandhi của các ngài (các khoảng gián đoạn); mỗi Manu nằm giữa hai sandhi. Sự cai quản của mỗi Manu gồm bảy mươi mốt Maha Yuga,—mỗi Maha Yuga gồm bốn Yuga, tức Krita, Treta, Dwapara, và Kali; và độ dài của mỗi Yuga trong bốn Yuga này lần lượt theo các số 4, 3, 2 và 1.
The number of sidereal years embraced in the foregoing different periods are as follows:
Số năm tinh tú bao gồm trong các thời kỳ khác nhau nói trên như sau:
Mortal years
360 days of mortals make a year
1
Krita Yuga contains
1,728,000
Treta Yuga contains
1,296,000
Dwapara Yuga contains
864,000
Kali Yuga contains
432,000
The total of the said four Yugas constitute a Maha Yuga
4,320,000
Seventy-one of such Maha Yugas form the period
of the reign of one Manu
306,720,000
The reign of 14 Manus embraces the duration of 994
Maha Yugas, which is equal to
4,294,080,000
Add Sandhis, i.e., intervals between the reign of each
Manu, which amount to 6 Maha Yugas, equal to
25,920,000
The total of these reigns and interregnums of 14
Manus, is 1,000 Maha Yugas, which constitute
a Kalpa, i.e., one day of Brahma, equal to
4,320,000,000
As Brahma’s night is of equal duration,
one day and night of Brahma will contain
8,640,000,000
360 of such days and nights make one year
of Brahma, equal to
3,110,400,000.000
100 of such years constitute the whole period
of Brahma’s age, i.e., Maha Kalpa
311,040,000,000,000