← A Treatise on Cosmic Fire All

The tabulation on page 42 may make the above ideas somewhat clearer.

That these figures are not fanciful, but are founded upon astronomical facts, has been demonstrated by Mr. Davis, in an essay in the Asiatic Researches; and this receives further corroboration from the geological investigations and calculations made by Dr. Hunt, formerly President of the Anthropological Society, and also in some respects from the researches made by Professor Huxley.

Rằng các con số này không phải là tưởng tượng, mà dựa trên các sự kiện thiên văn, đã được ông Davis chứng minh trong một tiểu luận đăng trong Asiatic Researches; và điều này còn được xác nhận thêm bởi các khảo cứu và tính toán địa chất của Tiến sĩ Hunt, nguyên Chủ tịch Hội Nhân chủng học, và cũng phần nào bởi các nghiên cứu của Giáo sư Huxley.

Great as the period of the Maha Kalpa seems to be, we are assured that thousands and thousands of millions of such Maha Kalpas have passed, and as many more are yet to come. (Vide Brahma-Vaivarta and Bhavishyre Puranas; and Linga Purana, ch. 171, verse 107, &c.) and this in plain language means that the Time past is infinite and the Time to come is equally infinite. The Universe is formed, dissolved, and reproduced, in an indeterminate succession (Bhagavata-gita, VIII, 19).”—The Theosophist, Vol. VII, p. 115.5. (back)

Dù thời kỳ của Maha Kalpa có vẻ lớn lao đến đâu, chúng ta vẫn được bảo đảm rằng hàng ngàn và hàng ngàn triệu Maha Kalpa như thế đã trôi qua, và cũng còn bấy nhiêu nữa sẽ đến. (Xem Brahma-Vaivarta và Bhavishyre Purana; và Linga Purana, ch. 171, câu 107, v.v.) và điều này, nói một cách đơn giản, có nghĩa là Thời gian đã qua là vô hạn và Thời gian sắp đến cũng vô hạn như vậy. Vũ trụ được hình thành, tan rã, và tái tạo, trong một chuỗi tiếp nối bất định (Bhagavata-gita, VIII, 19).”—The Theosophist, Tập VII, tr. 115.5. (trở lại)

The Ray of intelligent love. This is the ray which embodies the highest vibration of which our solar Logos or Deity is capable in this present solar system. It is not yet vibrating adequately nor has it yet attained the peak of its activity. It is the basis of the cyclic spiral movement of the body logoic, and just as the Law of Economy is the law governing the internal fires of the system so the cosmic Law of Attraction and Repulsion is the basic law of this divine Ray.

Cung của tình thương thông tuệ. Đây là cung thể hiện rung động cao nhất mà Thái dương Thượng đế hay Thượng đế của chúng ta có khả năng đạt được trong hệ mặt trời hiện tại này. Nó vẫn chưa rung động đầy đủ, cũng chưa đạt đến đỉnh cao hoạt động của nó. Nó là nền tảng của chuyển động xoắn ốc theo chu kỳ của thể Thượng đế, và cũng như Định luật Tiết Kiệm là định luật chi phối các lửa nội tại của hệ thống, thì Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi vũ trụ là định luật căn bản của Cung thiêng liêng này.

The Ray of intelligent will. Little as yet can be said about this ray. It is the ray of cosmic mind and in its evolution parallels that of cosmic love, but as yet its vibration is slower and its development more retarded. This is definitely and deliberately so, and is due to the underlying purpose and choice of the solar Logos, Who seeks on His high level (just as do His reflections, the sons of men) to achieve a more rounded out development, [Page 41] and He therefore concentrates on the development of cosmic love in this greater cycle.

Cung của ý chí thông tuệ. Hiện nay còn rất ít điều có thể được nói về cung này. Đây là cung của trí tuệ vũ trụ và trong tiến hóa của nó song hành với tiến hóa của tình thương vũ trụ, nhưng hiện nay rung động của nó còn chậm hơn và sự phát triển của nó còn bị trì hoãn hơn. Điều này rõ ràng và có chủ ý là như vậy, và là do mục đích nền tảng cùng sự lựa chọn của Thái dương Thượng đế, Đấng tìm cách trên cấp độ cao của Ngài (cũng như các phản chiếu của Ngài, những người con của nhân loại, đang làm) đạt được một sự phát triển viên mãn hơn, [Page 41] và vì vậy Ngài tập trung vào sự phát triển của tình thương vũ trụ trong chu kỳ lớn hơn này.

This ray is governed by the Law of Synthesis, and is the basis of the systemic movement which may be best described as that of driving forward through space, or forward progression. Little can be predicated anent this ray and its expression. It controls the movements of the entire ring-pass-not in connection with its cosmic centre. (7)

Cung này được chi phối bởi Định luật Tổng Hợp, và là nền tảng của chuyển động hệ thống có thể được mô tả đúng nhất như là sự lao tới xuyên qua không gian, hay sự tiến triển về phía trước. Còn rất ít điều có thể được khẳng định liên quan đến cung này và biểu hiện của nó. Nó kiểm soát các chuyển động của toàn bộ vòng-giới-hạn trong mối liên hệ với trung tâm vũ trụ của nó. (7)

(7) The term “ring-pass-not” is used in occult literature to denote the periphery of the sphere of influence of any central life force, and is applied equally to all atoms, from the atom of matter as dealt with by the physicist or chemist through the human and planetary atoms up to the great atom of a solar system. The ring-pass-not of the average human being is the spheroidal form of his mental body which extends considerably beyond the physical and enables him to function on the lower levels of the mental plane. (back)

(7) Thuật ngữ “vòng-giới-hạn” được dùng trong văn liệu huyền bí học để chỉ chu vi của khối cầu ảnh hưởng của bất kỳ mãnh lực sự sống trung tâm nào, và được áp dụng đồng đều cho mọi nguyên tử, từ nguyên tử vật chất như nhà vật lý hay nhà hoá học đề cập đến, xuyên qua các nguyên tử nhân loại và hành tinh, cho đến đại nguyên tử của một hệ mặt trời. Vòng-giới-hạn của con người trung bình là hình cầu noãn của thể trí của y, mở rộng khá xa vượt ra ngoài thể xác và giúp y hoạt động trên các cấp thấp của cõi trí. (back)

The tabulation on page 42 may make the above ideas somewhat clearer.

Bảng liệt kê ở trang 42 có thể làm cho các ý tưởng trên phần nào rõ ràng hơn.

These three expressions of the divine Life may be regarded as expressing the triple mode of manifestation. First, the objective or tangible universe; second, the subjective worlds or form; and thirdly, the spiritual aspect which is to be found at the heart of all. (8) The internal fires that animate and vitalise shew themselves in a twofold manner: [Page 42]

Ba biểu hiện này của Sự sống thiêng liêng có thể được xem như biểu lộ phương thức biểu hiện tam phân. Thứ nhất, vũ trụ khách quan hay hữu hình; thứ hai, các thế giới chủ quan hay hình tướng; và thứ ba, phương diện tinh thần được tìm thấy nơi trung tâm của tất cả. (8) Các lửa nội tại làm sinh động và tiếp sinh lực biểu lộ theo cách nhị phân: [Page 42]

(8) 1. The Primordial is the Ray and the direct emanation of the Sacred Four. S. D, I, 115, 116.

(8) 1. Cái Nguyên Sơ là cung và là sự phát xạ trực tiếp của Bộ Bốn Thiêng Liêng. S. D, I, 115, 116.

The Sacred Four are:

Bộ Bốn Thiêng Liêng là:

Unity

Hợp nhất

a. Father... Mahadeva...1st Logos... Will... Spirit.

a. Cha... Mahadeva... Logos 1... Ý chí... Tinh thần.

Duality

Nhị nguyên tính

b. Son... Vishnu...2nd Logos... Love-Wisdom.

b. Con... Vishnu... Logos 2... Bác Ái – Minh Triết.

Trinity

Ba Ngôi

c. Mother... Brahma... 3rd Logos... Intelligent activity.

c. Mẹ... Brahma... Logos 3... Hoạt động thông tuệ.

Sacred Four

Bộ Bốn Thiêng Liêng

d. The united manifestation of the three—Macrocosm.

d. Biểu hiện hợp nhất của ba Đấng—Đại thiên địa.

2. The manifested Quaternary and the seven Builders proceed from the Mother.—S. D., I, 402.

2. Bộ Bốn biểu hiện và bảy đấng kiến tạo phát xuất từ Mẹ.—S. D., I, 402.

a. The seven Builders are the Manasaputras, the Mind-born sons of Brahma, the third aspect. S. D., III, 540.

a. Bảy đấng kiến tạo là các Manasaputras, các con sinh ra từ Trí của Brahma, phương diện thứ ba. S. D., III, 540.

b. They come into manifestation to develop the second aspect.

b. Các Ngài đi vào biểu hiện để phát triển phương diện thứ hai.

S. D., I., 108.

S. D., I., 108.

c. Their method is objectivity.

c. Phương pháp của Các Ngài là tính khách quan.

3. The re-awakened Energies sprang into space.

3. Các Năng Lượng được đánh thức trở lại phóng vào không gian.

a. They are the veiled synthesis. S. D., I, 362

a. Chúng là tổng hợp được che giấu. S. D., I, 362

b. They are the totality of manifestation. S. D., I, 470

b. Chúng là toàn thể biểu hiện. S. D., I, 470

c. They are pre-cosmic. S. D., I, 152, 470. (back)

c. Chúng là tiền vũ trụ. S. D., I, 152, 470. (back)

TABULATION I.

BẢNG LIỆT KÊ I.

Fire

Ray

Aspect

Expression

Law

Quality

1.

Internal

Primordial

Intelligent Activity

Rotary motion

Economy

Fire by friction

2.

Of Mind

Love

Intelligent Love

Spiral Cyclic motion

Attraction

Solar Fire.

3.

Divine Flame

Will

Intelligent Will.

Forward Progression

Synthesis

Electric Fire.

[Page 43] First as latent heat. This is the basis of rotary motion and the cause of the spheroidal coherent manifestation of all existence, from the logoic atom, the solar ring-pass-not, down to the minutest atom of the chemist or physicist.

[Page 43] Thứ nhất nhưnhiệt tiềm ẩn. Đây là nền tảng của chuyển động quay và là nguyên nhân của biểu hiện hình cầu kết hợp của mọi hiện hữu, từ nguyên tử logoi, vòng-giới-hạn mặt trời, xuống đến nguyên tử nhỏ nhất của nhà hoá học hay nhà vật lý.

Second, as active heat. This results in the activity and the driving forward of material evolution. On the highest plane the combination of these three factors (active heat, latent heat and the primordial substance which they animate) is known as the ‘sea of fire,’ of which akasha is the first differentiation of pregenetic matter. Akasha, in manifestation, expresses itself as Fohat, or divine Energy, and Fohat on the different planes is known as aether, air, fire, water, electricity, ether, prana and similar terms.(9),(10), (11) It is the sumtotal [Page 44] of that which is active, animated, or vitalized, and of all that concerns itself with the adaptation of the form to the needs of the inner flame of life.

Thứ hai, như nhiệt hoạt động. Điều này dẫn đến hoạt động và sự thúc đẩy tiến lên của tiến hoá vật chất. Trên cõi cao nhất, sự kết hợp của ba yếu tố này (nhiệt hoạt động, nhiệt tiềm ẩn và chất liệu nguyên sơ mà chúng làm sinh động) được gọi là “biển lửa”, trong đó akasha là sự biến phân đầu tiên của vật chất tiền sinh thành. Akasha, trong biểu hiện, tự biểu lộ như Fohat, hay Năng lượng thiêng liêng, và Fohat trên các cõi khác nhau được biết đến như aether, không khí, lửa, nước, điện, dĩ thái, prana và các thuật ngữ tương tự. (9), (10), (11) Nó là tổng thể [Page 44] của tất cả những gì hoạt động, được làm sinh động, hay được tiếp sinh lực, và của mọi điều liên quan đến việc thích ứng hình tướng với các nhu cầu của ngọn lửa sự sống bên trong.

(9) Akasha. Definition S. D., II, 538

(9) Akasha. Định nghĩa S. D., II, 538

It is the synthesis of ether S. D., I, 353, 354

Nó là tổng hợp của ether S. D., I, 353, 354

It is the essence of ether S. D., I, 366

Nó là tinh túy của ether S. D., I, 366

It is primordial ether S. D., I, 585

Nó là ether nguyên sơ S. D., I, 585

(10) H. P. B., defines the Akasha in the following terms: S. D., II, 538. “Akasha the astral Light can be defined in a few words: It is the Universal soul, the Matrix of the Universe, the Mysterium Magicum from which all that exists is born by separation or differentiation. In the various occult books it is called by different terms and it would be of value perhaps if we enumerate some of them here: There is one universal element with its differentiations.

(10) H. P. B. định nghĩa Akasha theo các thuật ngữ sau đây: S. D., II, 538. “Akasha, Ánh sáng cảm dục, có thể được định nghĩa bằng vài lời: Nó là đại hồn Vũ trụ, Mẫu thể của Vũ trụ, Mysterium Magicum mà từ đó mọi cái hiện hữu được sinh ra bằng sự phân ly hay biến phân. Trong các sách huyền bí học khác nhau, nó được gọi bằng những thuật ngữ khác nhau, và có lẽ sẽ hữu ích nếu chúng ta liệt kê một số thuật ngữ ấy ở đây: Có một nguyên tố vũ trụ duy nhất với các biến phân của nó.

Homogeneous

Differentiated.

1.

Undifferentiated cosmic substance

1.

Astral Light.

2.

Primordial ether

2.

Sea of fire.

3.

Primordial electric entity

3.

Electricity.

4.

Akasha

4.

Prakriti.

5.

Super-astral light

5.

Atomic matter.

6.

Fiery serpent

6.

The serpent of evil.

7.

Mulaprakriti

7.

Ether, with its four divisions, air, fire, water, earth. “

8.

Pregenetic matter.

(back)

(back)

(11) Fohat is divine thought or energy (Shakti) as manifested on any plane of the cosmos. It is the interplay between Spirit and matter. The seven differentiations of Fohat are:

(11) Fohat là tư tưởng hay năng lượng thiêng liêng (Shakti) như được biểu lộ trên bất kỳ cõi nào của vũ trụ. Nó là sự tương tác giữa tinh thần và vật chất. Bảy biến phân của Fohat là:

1.

The Plane of divine life

Adi

Sea of fire.

2.

The Plane of monadic life

Anupadaka

Akasha.

3.

The Plane of Spirit

Atma

Aether.

4.

The Plane of the intuition

Buddhi

Air.

5.

The Plane of mind

Mental

Fire.

6.

The Plane of desire

Astral

Astral Light.

7.

The Plane of density

Physical

Ether.

—S. D. I, 105, 134, 135, 136. (back)

—S. D. I, 105, 134, 135, 136. (back)

It might here be useful to point out that magnetism is the effect of the divine ray in manifestation in the same sense that electricity is the manifested effect of the primordial ray of active intelligence. It would be well to ponder on this for it holds hid a mystery.

Ở đây có lẽ hữu ích khi chỉ ra rằng từ điện là hiệu quả của tia thiêng liêng trong biểu hiện cũng theo cùng ý nghĩa như điện là hiệu quả biểu hiện của tia nguyên sơ của thông tuệ hoạt động. Sẽ là điều tốt nếu suy ngẫm về điều này vì trong đó ẩn giấu một huyền nhiệm.

The fires of the mental plane also demonstrate in a twofold manner:

Các lửa của cõi trí cũng biểu lộ theo cách nhị phân:

First, as the Fire of Mind, the basis of all expression and in one peculiar occult sense the sumtotal of existence. It provides the relation between the life and the form, between spirit and matter, and is the basis of consciousness itself.

Thứ nhất, như Lửa của Trí Tuệ, nền tảng của mọi biểu lộ và theo một ý nghĩa huyền bí đặc biệt là tổng thể của hiện hữu. Nó cung cấp mối liên hệ giữa sự sống và hình tướng, giữa tinh thần và vật chất, và là nền tảng của chính tâm thức.

Second, as the Elementals of Fire, or the sumtotal of the active expression of thought, showing itself through the medium of those entities who, in their very essence, are fire itself.

Thứ hai, như các hành khí của lửa, hay tổng thể của biểu lộ hoạt động của tư tưởng, tự cho thấy qua trung gian của những thực thể mà trong chính bản chất của chúng là lửa.

These dualities of expression make the four necessary factors in the logoic quaternary, (12) or the lower nature of the Logos viewing His manifestation from one esoteric angle; exoterically, they are the sumtotal of the logoic quaternary, plus the logoic fifth principle, cosmic mind.

Các nhị nguyên tính biểu lộ này tạo nên bốn yếu tố cần thiết trong bộ bốn logoi, (12) hay bản chất thấp của Logos khi nhìn biểu hiện của Ngài từ một góc độ huyền bí; theo ngoại môn, chúng là tổng thể của bộ bốn logoi, cộng với nguyên khí thứ năm của logoi, trí tuệ vũ trụ.

(12) The quaternary is composed of the four lower principles and the sheaths through which they manifest as a coherent unit, being held together during manifestation by the life force of the indwelling entity. (back)

(12) Bộ bốn được cấu thành bởi bốn nguyên khí thấp và các vỏ bọc qua đó chúng biểu lộ như một đơn vị kết hợp, được giữ lại với nhau trong thời kỳ biểu hiện bởi mãnh lực sự sống của thực thể nội tại. (back)

The divine spark does not as yet manifest (as do the other two fires) as a duality, though what lies hidden in a later cycle, evolution alone will disclose. This third fire, along with the other two, make the necessary five of logoic evolutionary development and by its perfected merging with the other two fires as the evolutionary process proceeds is seen the goal of logoic attainment for this greater cycle or period of this solar system.

Tia lửa thiêng liêng chưa biểu lộ (như hai lửa kia) thành một nhị nguyên tính, dù điều gì ẩn giấu trong một chu kỳ sau này thì chỉ có tiến hoá mới tiết lộ. Lửa thứ ba này, cùng với hai lửa kia, tạo nên bộ năm cần thiết của sự phát triển tiến hoá logoi, và qua sự hoà nhập hoàn hảo của nó với hai lửa kia khi tiến trình tiến hoá tiếp diễn, mục tiêu thành tựu logoi cho đại chu kỳ này hay thời kỳ này của hệ mặt trời được thấy rõ.

[Page 45] When the primordial ray of intelligent activity, the divine ray of intelligent love, and the third cosmic ray of intelligent will meet, blend, merge, and blaze forth, the Logos will take His fifth initiation, thus completing one of His cycles. When the rotary, the forward, and the spiral cyclic movements are working in perfect synthesis then the desired vibration will have been reached. When the three Laws of Economy, of Attraction, and of Synthesis work with perfect adjustment to each other, then nature will perfectly display the needed functioning, and the correct adaptation of the material form to the indwelling spirit, of matter to life, and of consciousness to its vehicle.

[Page 45] Khi tia nguyên sơ của hoạt động thông tuệ, tia thiêng liêng của bác ái thông tuệ, và tia vũ trụ thứ ba của ý chí thông tuệ gặp nhau, hòa trộn, hợp nhất và bùng cháy rực lên, Logos sẽ nhận lần điểm đạo thứ năm của Ngài, nhờ đó hoàn tất một trong các chu kỳ của Ngài. Khi các chuyển động quay, tiến tới và xoắn ốc tuần hoàn hoạt động trong sự tổng hợp hoàn hảo, thì rung động mong muốn sẽ đạt được. Khi ba Định luật Tiết Kiệm, Hấp Dẫn và Tổng Hợp hoạt động trong sự điều chỉnh hoàn hảo với nhau, thì bản chất sẽ biểu lộ một cách hoàn hảo sự vận hành cần thiết, và sự thích ứng đúng đắn của hình tướng vật chất với tinh thần nội tại, của vật chất với sự sống, và của tâm thức với vận cụ của nó.

II. FIRE IN THE MICROCOSM — II. LỬA TRONG TIỂU THIÊN ĐỊA

Let us briefly consider therefore the correspondence between the greater whole and the unit man and then block out our subject in detail and consider the sections into which it will be wise to divide it.

Vì vậy, chúng ta hãy ngắn gọn xem xét sự tương ứng giữa toàn thể lớn lao hơn và đơn vị con người, rồi phác thảo chủ đề của chúng ta một cách chi tiết và xem xét các phần mà sẽ là khôn ngoan nếu chia nó ra.

Fire in the Microcosm is likewise threefold in essence and fivefold in manifestation.

Lửa trong Tiểu thiên địa cũng tam phân trong bản chất và ngũ phân trong biểu hiện.

1. There is Internal Vitalising Fire, which is the correspondence to fire by friction. This is the sumtotal of individual kundalini; it animates the corporeal frame and demonstrates also in the twofold manner:

1. Có Lửa Tiếp Sinh Lực Nội Tại, là sự tương ứng với lửa ma sát. Đây là tổng thể của kundalini cá nhân; nó làm sinh động khung thể xác và cũng biểu lộ theo cách nhị phân:

First, as latent heat which is the basis of life of the spheroidal cell, or atom, and of its rotary adjustment to all other cells.

Thứ nhất, như nhiệt tiềm ẩn là nền tảng của sự sống của tế bào hay nguyên tử hình cầu, và của sự điều chỉnh quay của nó với mọi tế bào khác.

Second, as active heat or prana; this animates all, and is the driving force of the evolving form. It shows itself in the four ethers and in the gaseous state, and a correspondence is here found on the physical plane in connection with man to the Akasha and its fivefold manifestation on the plane of the solar system.

Thứ hai, như nhiệt hoạt động hay prana; điều này làm sinh động tất cả, và là động lực của hình tướng đang tiến hoá. Nó tự biểu lộ trong bốn dĩ thái và trong trạng thái khí, và ở đây tìm thấy một sự tương ứng trên cõi hồng trần liên quan đến con người với Akasha và biểu hiện ngũ phân của nó trên cõi của hệ mặt trời.

This fire is the basic vibration of the little system in which the monad or human spirit is the logos, and it [Page 46] holds the personality or lower material man in objective manifestation thus permitting the spiritual unit to contact the plane of densest matter. It has its correspondence in the ray of intelligent activity and is controlled by the Law of Economy in one of its subdivisions, the Law of Adaptation in Time.

Lửa này là rung động căn bản của tiểu hệ trong đó chân thần hay tinh thần con người là logos, và nó [Page 46] giữ phàm ngã hay phàm nhân vật chất thấp trong biểu hiện khách quan, nhờ đó cho phép đơn vị tinh thần tiếp xúc với cõi vật chất đậm đặc nhất. Nó có sự tương ứng trong tia hoạt động thông tuệ và được kiểm soát bởi Định luật Tiết Kiệm trong một trong các phân bộ của nó, Định luật Thích Ứng trong Thời Gian.

2. There is next the Fire or Spark of Mind which is the correspondence in man to solar fire. This constitutes the thinking self-conscious unit or the soul. This fire of mind is governed by the Law of Attraction as is its greater correspondence. Later we can enlarge on this. It is this spark of mind in man, manifesting as spiral cyclic activity, which leads to expansion and to his eventual return to the centre of his system, the Monad—the origin and goal for the reincarnating Jiva or human being. As in the macrocosm this fire also manifests in a twofold manner.

2. Kế đến là Lửa hay Tia Lửa của Trí Tuệ là sự tương ứng nơi con người với lửa thái dương. Điều này cấu thành đơn vị tư duy có ngã thức hay linh hồn. Lửa của trí tuệ này được chi phối bởi Định luật Hấp Dẫn cũng như sự tương ứng lớn hơn của nó. Sau này chúng ta có thể khai triển thêm về điều này. Chính tia lửa của trí tuệ này nơi con người, biểu lộ như hoạt động xoắn ốc tuần hoàn, dẫn đến sự mở rộng và đến sự trở về sau cùng của y với trung tâm của hệ thống của y, Chân thần—nguồn gốc và mục tiêu của Jiva hay con người tái sinh. Cũng như trong đại thiên địa, lửa này cũng biểu lộ theo cách nhị phân.

It shows as that intelligent will which links the Monad or spirit with its lowest point of contact, the personality, functioning through a physical vehicle.

Nó biểu lộ như ý chí thông tuệ liên kết Chân thần hay tinh thần với điểm tiếp xúc thấp nhất của nó, phàm ngã, đang hoạt động qua một vận cụ hồng trần.

It likewise demonstrates, as yet imperfectly, as the vitalising factor in the thought forms fabricated by the thinker. As yet but few thought forms, comparatively, can be said to be constructed by the center of consciousness, the thinker, the Ego. Few people as yet are in such close touch with their higher self, or Ego, that they can build the matter of the mental plane into a form which can be truly said to be an expression of the thoughts, purpose or desire of their Ego, functioning through the physical brain. Most of the thought forms at present in circulation may be said to be aggregations of matter, built into form with the aid of kama-manas (or of desire faintly tinged with mind producing thus an admixture of astral and mental matter, mostly astral), and largely due to reflex elemental action.

Nó cũng biểu lộ, tuy còn bất toàn, như yếu tố tiếp sinh lực trong các hình tư tưởng do người tư duy tạo ra. Hiện nay, tương đối mà nói, chỉ có ít hình tư tưởng có thể được nói là được kiến tạo bởi trung tâm tâm thức, người tư duy, chân ngã. Hiện nay ít người còn ở trong sự tiếp xúc gần gũi đến thế với chân ngã, hay chân ngã cao hơn, của họ đến mức họ có thể xây dựng chất liệu của cõi trí thành một hình tướng mà thực sự có thể nói là biểu lộ các tư tưởng, mục đích hay ham muốn của chân ngã của họ, đang hoạt động qua bộ não hồng trần. Phần lớn các hình tư tưởng hiện đang lưu hành có thể được nói là những tập hợp chất liệu, được xây dựng thành hình tướng với sự trợ giúp của kama-manas (hay ham muốn được nhuốm nhẹ bởi trí tuệ, do đó tạo ra một hỗn hợp của vật chất cảm dục và trí tuệ, phần lớn là cảm dục), và phần lớn là do hoạt động phản xạ của hành khí.

These dualities of expression are: [Page 47]

Các nhị nguyên tính biểu lộ này là: [Page 47]

1. Active fire or prana.

1. Lửa hoạt động hay prana.

Latent fire or bodily heat.

Lửa tiềm ẩn hay nhiệt của thể xác.

2. Mental energy in the mental body.

2. Năng lượng trí tuệ trong thể trí.

Purely mental thought forms, animated by self-engendered fire, or by the fifth principle, and therefore part of the sphere, or system of control, of the Monad.

Các hình tư tưởng thuần túy trí tuệ, được làm sinh động bởi lửa tự phát sinh, hay bởi nguyên khí thứ năm, và do đó là một phần của khối cầu, hay hệ thống kiểm soát, của Chân thần.

These form an esoteric quaternary which with the fifth factor, the divine spark of intelligent will, make the five of monadic manifestation—manifestation in this case connotating a purely subjective manifestation which is neither altogether spiritual nor altogether material.

Chúng tạo thành một bộ bốn huyền bí mà cùng với yếu tố thứ năm, tia lửa thiêng liêng của ý chí thông tuệ, làm nên bộ năm của biểu hiện chân thần—biểu hiện trong trường hợp này hàm ý một biểu hiện chủ quan không hoàn toàn tinh thần cũng không hoàn toàn vật chất.

3. Finally there is the Monadic Flame Divine. This embodies the highest vibration of which the Monad is capable, is governed by the Law of Synthesis, and is the cause of the forward progressive movement of the evolving Jiva.

3. Sau cùng là Ngọn Lửa Thiêng Liêng Chân Thần. Điều này thể hiện rung động cao nhất mà Chân thần có khả năng đạt tới, được chi phối bởi Định luật Tổng Hợp, và là nguyên nhân của chuyển động tiến tới không ngừng của Jiva đang tiến hoá.

We now come, in due course, to the point of merging or to the end of manifestation, and to the consummation (viewing it monadically) of the great cycle or manvantara. What shall we therefore find? Just as in the macrocosm the blending of the three essential fires of the cosmos marked the point of logoic attainment, so, in the blending of the essential fires of the microcosm, do we arrive at the apotheosis of human attainment for this cycle.

Giờ đây, theo tiến trình tự nhiên, chúng ta đi đến điểm hoà nhập hay đến chỗ kết thúc biểu hiện, và đến sự viên mãn (khi nhìn theo chân thần) của đại chu kỳ hay giai kỳ sinh hóa. Vậy chúng ta sẽ thấy gì? Cũng như trong đại thiên địa, sự hòa trộn của ba lửa cốt yếu của vũ trụ đánh dấu điểm thành tựu logoi, thì trong sự hòa trộn của các lửa cốt yếu của tiểu thiên địa, chúng ta đi đến sự tôn vinh tối hậu của thành tựu nhân loại cho chu kỳ này.

When the latent fire of the personality or lower self blends with the fire of mind, that of the higher self, and finally merges with the Divine Flame, then the man takes the fifth Initiation in this solar system, and has completed one of his greater cycles. (13) When the three blaze forth as one fire, liberation from matter, or from material form is achieved. Matter has been correctly adjusted to spirit, and finally the indwelling life slips forth out of its sheath which forms now only a channel for liberation.

Khi lửa tiềm ẩn của phàm nhân hay phàm ngã hòa trộn với lửa của trí tuệ, tức lửa của Bản Ngã Cao Siêu, và cuối cùng hợp nhất với Ngọn Lửa Thiêng Liêng, thì con người nhận lần điểm đạo thứ năm trong hệ mặt trời này, và đã hoàn tất một trong các đại chu kỳ của y. (13) Khi cả ba bùng cháy như một lửa duy nhất, sự giải thoát khỏi vật chất, hay khỏi hình tướng vật chất, được thành tựu. Vật chất đã được điều chỉnh đúng đắn với tinh thần, và cuối cùng sự sống nội tại trượt ra khỏi vỏ bọc của nó, vỏ bọc giờ đây chỉ còn tạo thành một kênh giải thoát.

(13) These terms, Lower Self, Higher Self, Divine Self, are apt to be confusing until the student apprehends the various synonyms connected with them. The following table may be found helpful:

(13) Các thuật ngữ này, phàm ngã, Bản Ngã Cao Siêu, Bản Ngã Thiêng Liêng, dễ gây lẫn lộn cho đến khi đạo sinh nắm bắt được các từ đồng nghĩa khác nhau liên hệ với chúng. Bảng sau đây có thể hữu ích:

Father

Son

Mother

Spirit

Soul

Body

Life

Consciousness

Form

Monad

Ego

Personality

Divine Self

Higher Self

Lower Self

Spirit

Individuality

Personal Self

The Point

The Triad

The Quaternary

Monad

Solar Angel

Lunar Lords

(back)

(back)

III. FIRE IN MANIFESTATION. — III. LỬA TRONG BIỂU HIỆN.

[Page 48] To continue our consideration of the fires which sustain the economy of the visible solar system, and of the visible objective human being, which produce evolutionary development, and which are the bases of all objective efflorescence, it must be noted that they demonstrate as the sumtotal of the vital life of a solar system, of a planet, of the entire constitution of active functioning man upon the physical plane, and of the atom of substance.

[Page 48] Để tiếp tục việc xem xét các lửa duy trì sự vận hành của hệ mặt trời hữu hình, và của con người hữu hình khách quan, tạo ra sự phát triển tiến hoá, và là nền tảng của mọi sự nở rộ khách quan, cần lưu ý rằng chúng biểu lộ như tổng thể của sự sống sinh động của một hệ mặt trời, của một hành tinh, của toàn bộ cấu tạo của con người hoạt động tích cực trên cõi hồng trần, và của nguyên tử chất liệu.

Speaking broadly we would say that the first fire deals entirely with:

Nói một cách khái quát, chúng tôi sẽ nói rằng lửa thứ nhất hoàn toàn liên quan đến:

a. Activity of matter.

a. Hoạt động của vật chất.

b. The rotary motion of matter.

b. Chuyển động quay của vật chất.

c. The development of matter by the means of friction, under the law of Economy. H. P. B. touches on this in the Secret Doctrine. (14)

c. Sự phát triển của vật chất bằng phương tiện ma sát, dưới Định luật Tiết Kiệm. H. P. B. có đề cập đến điều này trong Giáo Lý Bí Nhiệm. (14)

(14) See S. D., I, 169, 562, 567, 569; II, 258, 390, 547, 551, 552. (back)

(14) Xem S. D., I, 169, 562, 567, 569; II, 258, 390, 547, 551, 552. (back)

The second fire, that from the cosmic mental plane, deals with:

Lửa thứ hai, lửa từ cõi trí tuệ vũ trụ, liên quan đến:

a. The expression of the evolution of mind or manas.

a. Sự biểu lộ của tiến hoá của trí tuệ hay manas.

b. The vitality of the soul.

b. Sinh lực của linh hồn.

c. The evolutionary expression of the soul as it shows forth in the form of that elusive something which brings about the synthesis of matter. As the two merge by means of this active energising factor, that which is termed consciousness appears. (15) As [Page 49] the merging proceeds and the fires become more and more synthesised, that totality of manifestation which we regard as a conscious existence becomes ever more perfected.

c. Sự biểu lộ tiến hoá của linh hồn khi nó tự bày tỏ trong hình thức của một cái gì đó khó nắm bắt, mang lại sự tổng hợp của vật chất. Khi cả hai hòa nhập nhờ yếu tố hoạt động tiếp năng lượng này, cái được gọi là tâm thức xuất hiện. (15) Khi [Page 49] sự hòa nhập tiếp diễn và các lửa ngày càng được tổng hợp hoá nhiều hơn, thì toàn thể biểu hiện mà chúng ta xem là một hiện hữu có tâm thức trở nên ngày càng hoàn hảo hơn.

(15) In the Study of Consciousness Mrs. Besant says (page 37): “Consciousness is the one reality, in the fullest sense of that much-used phrase; it follows from this that any reality found anywhere is drawn from consciousness. Hence, everything which is thought, is. That consciousness in which everything is, everything literally, “possible” as well as “actual”—actual being that which is thought of as existent by a separated consciousness in time and space, and possible all that which is not so being thought of at any period in time and any point in space—we call Absolute Consciousness. It is the All, the Eternal, the Infinite, the Changeless. Consciousness, thinking time and space, and of all forms as existing in them in succession and in places, is the Universal Consciousness, the One, called by the Hindu the Saguna Brahman—the Eternal with attributes—the Pratyag-Atma—the Inner Self; by the Parsi, Hormuzd; by the Mussulman, Allah. Consciousness dealing with a definite time, however long or short, with a definite space, however vast or restricted, is individual, that of a concrete Being, a Lord of many universes, or a universe or of any so-called portion of a universe, his portion and to him therefore a universe—these terms varying as to extent with the power of the consciousness; so much of the universal thought as a separate consciousness can completely think, i.e., on which he can impose his own reality, can think of as existing like himself, is his universe.” (back)

(15) Trong Nghiên Cứu về Tâm Thức bà Besant nói (trang 37): “Tâm thức là thực tại duy nhất, theo ý nghĩa đầy đủ nhất của cụm từ được dùng quá nhiều ấy; từ đó suy ra rằng bất kỳ thực tại nào được tìm thấy ở bất cứ đâu đều được rút ra từ tâm thức. Vì vậy, mọi điều được nghĩ tới, đều là. Tâm thức trong đó mọi sự đều hiện hữu, mọi sự theo nghĩa đen, cả “khả hữu” lẫn “hiện thực”—hiện thực là cái được một tâm thức tách biệt trong thời gian và không gian nghĩ là hiện hữu, còn khả hữu là tất cả những gì không được nghĩ như thế vào bất kỳ thời kỳ nào trong thời gian và bất kỳ điểm nào trong không gian—chúng ta gọi là Tâm thức Tuyệt đối. Nó là Tất Cả, Vĩnh Cửu, Vô Hạn, Bất Biến. Tâm thức, khi nghĩ về thời gian và không gian, và về mọi hình tướng như hiện hữu trong đó theo trình tự và ở các nơi chốn, là Tâm thức Vũ trụ, Đấng Duy Nhất, được người Hindu gọi là Saguna Brahman—Đấng Vĩnh Cửu với các thuộc tính—Pratyag-Atma—Bản Ngã Bên Trong; người Parsi gọi là Hormuzd; người Hồi giáo gọi là Allah. Tâm thức xử lý một thời gian xác định, dù dài hay ngắn, với một không gian xác định, dù rộng lớn hay hạn hẹp, là tâm thức cá nhân, tức tâm thức của một Hữu thể cụ thể, một Chúa Tể của nhiều vũ trụ, hay của một vũ trụ hoặc của bất kỳ phần nào được gọi là một phần của một vũ trụ, phần của ông và vì thế đối với ông là một vũ trụ—các thuật ngữ này thay đổi về phạm vi theo quyền năng của tâm thức; chừng nào tư tưởng vũ trụ mà một tâm thức tách biệt có thể nghĩ trọn vẹn, nghĩa là cái mà ông có thể áp đặt thực tại riêng của mình lên đó, có thể nghĩ là hiện hữu giống như chính ông, thì đó là vũ trụ của ông.” (back)

d. The operation of this fire under the Law of Attraction.

d. Sự vận hành của lửa này dưới Định luật Hấp Dẫn.

e. The subsequent result in the spiral-cyclic movement which we call, within the system, solar evolution, but which (from the standpoint of a cosmos) is the approximation of our system to its central point. This must be considered from the standpoint of time. (16)

e. Kết quả tiếp theo trong chuyển động xoắn ốc tuần hoàn mà chúng ta gọi, trong nội bộ hệ thống, là tiến hoá thái dương, nhưng (từ quan điểm của một vũ trụ) là sự tiến gần của hệ thống chúng ta đến điểm trung tâm của nó. Điều này phải được xem xét từ quan điểm thời gian. (16)

(16) Universal consciousness, manifesting as consciousness in time and space, as Mrs. Besant so ably expresses it, includes all forms of activity and spiral cyclic evolution from the standpoint of cosmic evolution, and in terms of absolute consciousness, may again be rotary. (back)

(16) Tâm thức vũ trụ, biểu lộ như tâm thức trong thời gian và không gian, như bà Besant đã diễn đạt rất tài tình, bao gồm mọi hình thức hoạt động và tiến hoá xoắn ốc tuần hoàn từ quan điểm tiến hoá vũ trụ, và xét theo các thuật ngữ của tâm thức tuyệt đối, lại có thể là chuyển động quay. (back)

The third fire deals with:

Lửa thứ ba liên quan đến:

a. The evolution of spirit.

a. Sự tiến hoá của tinh thần.

Practically nothing can at this stage be communicated anent this evolution. The development of spirit can be only expressed as yet in terms of the evolution of matter, and only through the adequacy of the vehicle, and through the suitability of the sheath, the body or form, can the point of [Page 50] spiritual development reached in any way be appraised. A word of warning should here be interpolated:—

Trên thực tế, ở giai đoạn này hầu như không thể truyền đạt điều gì liên quan đến sự tiến hoá này. Sự phát triển của tinh thần hiện nay chỉ có thể được diễn tả bằng các thuật ngữ của sự tiến hoá của vật chất, và chỉ thông qua sự đầy đủ của vận cụ, và thông qua sự thích hợp của vỏ bọc, thể hay hình tướng, mà điểm [Page 50] phát triển tinh thần đạt được mới có thể được lượng định theo bất kỳ cách nào. Ở đây cần xen vào một lời cảnh báo:—

Just as it is not possible upon the physical plane for the physical vehicle fully to express the total point of development of the Ego or higher self, so it is not possible even for the Ego fully to sense and express the quality of spirit. Hence the utter impossibility for human consciousness justly to appraise the life of the spirit or Monad.

Cũng như trên cõi hồng trần, vận cụ hồng trần không thể biểu lộ trọn vẹn toàn bộ mức phát triển của chân ngã hay Bản Ngã Cao Siêu, thì ngay cả chân ngã cũng không thể cảm nhận và biểu lộ đầy đủ phẩm tính của tinh thần. Vì thế, tâm thức con người hoàn toàn không thể lượng định một cách đúng đắn sự sống của tinh thần hay Chân thần.

b. The working of the flame divine under the Law of Synthesis—a generic term which will be seen eventually to include the other two laws as subdivisions.

b. Sự vận hành của ngọn lửa thiêng liêng dưới Định luật Tổng Hợp—một thuật ngữ tổng quát mà về sau sẽ thấy là bao gồm hai định luật kia như những phân bộ.

c. The subsequent result of forward progressive motion—a motion which is rotary, cyclic and progressive.

c. Kết quả tiếp theo của chuyển động tiến tới—một chuyển động vừa quay, vừa tuần hoàn, vừa tiến triển.

The whole matter dealt with in this Treatise concerns the subjective essence of the solar system, not primarily either the objective or spiritual aspect. It concerns the Entities who indwell the form, who demonstrate as animating factors through the medium of matter, and primarily through etheric matter; who are evolving a second faculty, the fire of mind, and who are essentially themselves points of fire, cast off through cosmic friction, produced by the turning of the cosmic wheel, swept into temporary limited manifestation and due eventually to return to their central cosmic centre. They will return plus the results of evolutionary growth, and through assimilation they will have intensified their fundamental nature, and be spiritual fire plus the fire manasic.

Toàn bộ vấn đề được bàn đến trong bộ Luận này liên quan đến tinh chất chủ quan của hệ mặt trời, chứ không chủ yếu liên quan đến phương diện khách quan hay tinh thần. Nó liên quan đến các Thực Thể cư ngụ trong hình tướng, biểu lộ như các yếu tố làm sinh động qua trung gian của vật chất, và chủ yếu qua vật chất dĩ thái; các Đấng đang tiến hoá một năng lực thứ hai, lửa của trí tuệ, và về bản chất chính Các Ngài là những điểm lửa, bị bắn ra do ma sát vũ trụ, được tạo ra bởi sự quay của bánh xe vũ trụ, bị cuốn vào biểu hiện tạm thời có giới hạn và cuối cùng phải trở về trung tâm vũ trụ trung tâm của mình. Các Ngài sẽ trở về cộng thêm các kết quả của sự tăng trưởng tiến hoá, và qua sự đồng hoá, Các Ngài sẽ tăng cường bản chất căn bản của mình, và sẽ là lửa tinh thần cộng với lửa manas.

The internal fire of matter is called in the Secret Doctrine “Fire by Friction.” It is an effect and not a cause. It is produced by the two fires of spirit and of mind (electric and solar fire) contacting each other through the medium of matter. This energy demonstrates in [Page 51] matter itself as the internal fires of the sun, and of the planets and finds a reflection in the internal fires of man. Man is the Flame Divine and the fire of Mind brought into contact through the medium of substance or form. When evolution ends, the fire of matter is not cognisable. It persists only when the other two fires are associated, and it does not persist apart from substance itself.

Lửa nội tại của vật chất được gọi trong Giáo Lý Bí Nhiệm là “Lửa ma sát.” Nó là một kết quả chứ không phải nguyên nhân. Nó được tạo ra bởi hai lửa của tinh thần và của trí tuệ (lửa điện và lửa thái dương) tiếp xúc với nhau qua trung gian của vật chất. Năng lượng này biểu lộ trong chính [Page 51] vật chất như các lửa nội tại của mặt trời và của các hành tinh, và tìm thấy một sự phản chiếu trong các lửa nội tại của con người. Con người là Ngọn Lửa Thiêng liêng và là lửa của Trí Tuệ được đưa vào tiếp xúc qua trung gian của chất liệu hay hình tướng. Khi tiến hoá chấm dứt, lửa của vật chất không còn có thể nhận biết được. Nó chỉ tồn tại khi hai lửa kia kết hợp với nhau, và nó không tồn tại tách rời khỏi chính chất liệu.

Let us now briefly recognise certain facts regarding fire in matter and let us take them in order, leaving time to elucidate their significance. First we might say that the internal fire being both latent and active, shows itself as the synthesis of the acknowledged fires of the system, and demonstrates, for instance, as solar radiation and inner planetary combustion. This subject has been somewhat covered by science, and is hidden in the mystery of physical plane electricity, which is an expression of the active internal fires of the system and of the planet just as inner combustion is an expression of the latent internal fires. These latter fires are to be found in the interior of each globe, and are the basis of all objective physical life.

Giờ đây, chúng ta hãy ngắn gọn ghi nhận một số sự kiện liên quan đến lửa trong vật chất và hãy xét chúng theo thứ tự, dành thời gian để làm sáng tỏ thâm nghĩa của chúng. Trước hết, chúng ta có thể nói rằng lửa nội tại, vừa tiềm ẩn vừa hoạt động, tự biểu lộ như sự tổng hợp của các lửa đã được thừa nhận của hệ thống, và chẳng hạn biểu lộ như bức xạ mặt trời và sự đốt cháy nội tại của hành tinh. Đề tài này phần nào đã được khoa học đề cập đến, và được che giấu trong huyền nhiệm của điện năng cõi hồng trần, vốn là một biểu hiện của các lửa nội tại hoạt động của hệ thống và của hành tinh, cũng như sự đốt cháy nội tại là biểu hiện của các lửa nội tại tiềm ẩn. Những lửa sau này được tìm thấy trong nội thất của mỗi bầu hành tinh, và là nền tảng của mọi sự sống hồng trần khách quan.

Secondly, we might note that the internal fires are the basis of life in the lower three kingdoms of nature, and in the fourth or human kingdom in connection with the two lower vehicles. The Fire of Mind, when blended with the internal fires, is the basis of life in the fourth kingdom, and united they control (partially now and later entirely) the lower threefold man or the personality; this control lasts up to the time of the first Initiation.

Thứ hai, chúng ta có thể lưu ý rằng các lửa nội tại là nền tảng của sự sống trong ba giới thấp của bản chất, và trong giới thứ tư hay giới nhân loại liên hệ với hai vận cụ thấp. Lửa của Trí Tuệ, khi hòa trộn với các lửa nội tại, là nền tảng của sự sống trong giới thứ tư, và khi hợp nhất lại chúng kiểm soát (một phần hiện nay và về sau là hoàn toàn) con người tam phân thấp hay phàm ngã; sự kiểm soát này kéo dài cho đến thời điểm của lần điểm đạo thứ nhất.

The fire of Spirit finally, when blended with the two other fires (which blending commences in man at the first initiation), forms a basis of spiritual life or existence. As evolution proceeds in the fifth or spiritual kingdom, these three fires blaze forth simultaneously, producing perfected consciousness. This blaze results in the final [Page 52] purification of matter and its consequent adequacy; at the close of manifestation it brings about eventually the destruction of the form and its dissolution, and the termination of existence as understood on the lower planes. In terms of Buddhistic theology it produces annihilation; this involves, not loss of identity, but the cessation of objectivity and the escape of Spirit, plus mind, to its cosmic centre. It has its analogy in the initiation at which the adept stands free from the limitations of matter in the three worlds.

Sau cùng, lửa của Tinh thần, khi hòa trộn với hai lửa kia (sự hòa trộn này bắt đầu nơi con người vào lần điểm đạo thứ nhất), tạo thành nền tảng của sự sống hay sự tồn tại tinh thần. Khi tiến hoá tiếp diễn trong giới thứ năm hay giới tinh thần, ba lửa này cùng lúc bùng cháy, tạo ra tâm thức hoàn hảo. Sự bùng cháy này dẫn đến sự [Page 52] thanh lọc cuối cùng của vật chất và do đó làm cho nó trở nên thích đáng; vào lúc kết thúc biểu hiện, cuối cùng nó mang lại sự hủy diệt của hình tướng và sự tan rã của nó, và sự chấm dứt của tồn tại như được hiểu trên các cõi thấp. Theo thuật ngữ thần học Phật giáo, nó tạo ra sự hủy diệt; điều này không hàm ý mất bản sắc, mà là sự chấm dứt tính khách quan và sự thoát ly của Tinh thần, cộng với trí tuệ, về trung tâm vũ trụ của nó. Nó có sự tương đồng của mình trong cuộc điểm đạo mà tại đó chân sư đứng tự do khỏi các giới hạn của vật chất trong ba cõi giới.

The internal fires of the system, of the planet, and of man are threefold:

Các lửa nội tại của hệ thống, của hành tinh và của con người là tam phân:

1. Interior fire at the centre of the sphere, those inner furnaces which produce warmth. This is latent fire.

1. Lửa bên trong tại trung tâm của khối cầu, những lò lửa nội tại tạo ra hơi ấm. Đây là lửa tiềm ẩn.

2. Radiatory fire. This type of fire might be expressed in terms of physical plane electricity, of light rays, and of etheric energy. This is active fire.

2. Lửa bức xạ. Loại lửa này có thể được diễn tả theo điện năng cõi hồng trần, các tia sáng, và năng lượng dĩ thái. Đây là lửa hoạt động.

3. Essential fire, or the fire elementals who are themselves the essence of fire. They are mainly divided into two groups:

3. Lửa bản chất, hay các hành khí của lửa vốn chính là tinh chất của lửa. Chúng chủ yếu được chia thành hai nhóm:

a. Fire devas or evolutionary entities.

a. Các thiên thần lửa hay các thực thể thăng thượng tiến hoá.

b. Fire elementals or involutionary entities.

b. Các hành khí của lửa hay các thực thể giáng hạ tiến hoá.

Later we will elaborate on this when we consider the Fire of Mind and deal with the nature of the thought elementals. All these elementals and devas are under the control of the fire Lord, Agni. When considering Him and His kingdom the subject can be taken up at greater length.

Về sau chúng ta sẽ khai triển điều này khi xét đến Lửa của Trí Tuệ và bàn đến bản chất của các hành khí tư tưởng. Tất cả các hành khí và thiên thần này đều ở dưới sự kiểm soát của Chúa Tể lửa, Agni. Khi xét đến Ngài và giới của Ngài, đề tài này có thể được trình bày dài hơn.

We might here point out, however, that our first two statements concerning the internal fires, express the effect that the fire entities have upon their environment. Heat and radiation are other terms which might be applied in this sense. Each of these effects produces a [Page 53] different class of phenomena. Latent fire causes the active growth of that in which it is embedded and causes that upward pushing which brings into manifestation all that is found in the kingdoms of nature. Radiatory fire causes the continued growth of that which has progressed, under the influence of latent fire, to a point receptive of the radiatory. Let us tabulate it thus:

Tuy nhiên, ở đây chúng ta có thể chỉ ra rằng hai phát biểu đầu tiên của chúng ta liên quan đến các lửa nội tại diễn tả kết quả mà các thực thể lửa tạo ra trên môi trường của chúng. Nhiệt và bức xạ là những thuật ngữ khác có thể được áp dụng theo nghĩa này. Mỗi một trong các kết quả này tạo ra một [Page 53] loại hiện tượng khác nhau. Lửa tiềm ẩn gây ra sự tăng trưởng hoạt động của cái trong đó nó được cắm vào và gây nên sự thúc đẩy đi lên, mang vào biểu hiện tất cả những gì được tìm thấy trong các giới của bản chất. Lửa bức xạ gây ra sự tăng trưởng liên tục của cái đã tiến triển, dưới ảnh hưởng của lửa tiềm ẩn, đến một điểm có khả năng tiếp nhận lửa bức xạ. Chúng ta hãy lập bảng như sau:

Systemic or Macrocosmic: The solar Logos or The Grand Man of the Heavens.

Hệ thống hay Đại thiên địa: Thái dương Thượng đế hay Đấng Đại Nhân của Thiên Giới.

Latent or interior fire produces the internal heat which makes the solar system productive of all forms of life. It is the inherent warmth that causes all fertilisation, whether human, animal, or vegetable.

Lửa tiềm ẩn hay lửa bên trong tạo ra nhiệt nội tại khiến hệ mặt trời sinh sản mọi hình tướng sự sống. Đó là hơi ấm cố hữu gây ra mọi sự thụ tinh, dù là nơi con người, động vật hay thực vật.

Active or radiatory fire retains in life and causes the evolution of all that has evolved into objectivity by means of latent fire.

Lửa hoạt động hay lửa bức xạ duy trì sự sống và gây ra sự tiến hoá của tất cả những gì đã tiến hoá vào tính khách quan bằng phương tiện của lửa tiềm ẩn.

Planetary, or the Heavenly Men:

Hành tinh, hay các Đấng Thiên Nhân:

What is laid down anent the system, as a whole, can be predicated of all planets which in their nature reflect the Sun, their elder brother.

Điều được xác lập liên quan đến toàn thể hệ thống có thể được khẳng định về mọi hành tinh, vốn trong bản chất của chúng phản chiếu Mặt Trời, người anh cả của chúng.

Human, or the Microcosmic Man:

Con người, hay Con Người Tiểu thiên địa:

Human latent fire, the heat interior of the human frame causes production of other forms of life, such as—

Lửa tiềm ẩn của con người, nhiệt bên trong cơ thể con người, gây ra việc sản sinh các hình tướng sự sống khác, như—

1. The physical body cells.

1. Các tế bào của thể xác.

2. Organisms nourished by the latent heat.

2. Các cơ thể sống được nuôi dưỡng bởi nhiệt tiềm ẩn.

3. The reproduction of itself in other human forms, the basis of the sex function.

3. Sự tái tạo chính nó trong các hình tướng con người khác, nền tảng của chức năng tính dục.

Human radiatory, or active fire, is a factor as yet but little comprehended; it relates to the health aura and to that radiation from the etheric which makes a man a healer, and able to transmit active heat.

Lửa bức xạ hay lửa hoạt động của con người là một yếu tố cho đến nay vẫn còn rất ít được thấu hiểu; nó liên hệ đến hào quang sức khỏe và đến bức xạ từ thể dĩ thái khiến một người trở thành người chữa lành, và có khả năng truyền dẫn nhiệt hoạt động.

It is necessary to differentiate between this radiation from the etheric, which is a radiation of prana, and magnetism, which is an emanation from a subtler body (usually the astral), and has to do with the manifestation of [Page 54] the Divine Flame within the material sheaths. The Divine Flame is formed on the second plane, the monadic, and magnetism (which is a method of demonstrating radiatory fire) is therefore felt paramountly on the fourth and sixth planes, or through the buddhic and astral vehicles. These are, as we know, closely allied to the second plane. This distinction is of importance and should be carefully recognised.

Cần phải phân biệt giữa bức xạ này từ thể dĩ thái, vốn là bức xạ của prana, và từ điện, vốn là một phát xạ từ một thể vi tế hơn (thường là thể cảm dục), và liên quan đến sự biểu lộ của [Page 54] Ngọn Lửa Thiêng liêng bên trong các lớp vỏ vật chất. Ngọn Lửa Thiêng liêng được hình thành trên cõi thứ hai, cõi chân thần, và vì thế từ điện (vốn là một phương pháp biểu lộ lửa bức xạ) được cảm nhận mạnh mẽ nhất trên cõi thứ tư và thứ sáu, hay qua các vận cụ Bồ đề và cảm dục. Như chúng ta biết, các cõi này có liên hệ mật thiết với cõi thứ hai. Sự phân biệt này rất quan trọng và cần được ghi nhận một cách cẩn thận.

Having, therefore, made the above statements, we can proceed to take up somewhat in greater detail the interior fires of the systems, microcosmic and macrocosmic.

Vì vậy, sau khi đã đưa ra các phát biểu trên, chúng ta có thể tiếp tục xét chi tiết hơn đôi chút về các lửa bên trong của các hệ thống, tiểu thiên địa và đại thiên địa.

DIVISION A - THE INTERNAL FIRES OF THE SHEATHS. — PHÂN ĐOẠN A - CÁC LỬA NỘI TẠI CỦA CÁC THỂ.

I. The three channels.

I. Ba kênh.

II. Fire Elementals and devas.

II. Các hành khí của lửa và các thiên thần.

I. THE THREE CHANNELS FOR THE FIRE — BA KÊNH CHO LỬA

[Page 55] From the very use of the term “sheath” it will be noted that we are considering those fires which manifest through the medium of those externalities, of those veils of substance which hide and conceal the inner Reality. We shall not here take up the subject of the sheaths on the higher planes, but simply deal with the fires that animate the three lower vehicles,—the physical body in its two divisions (etheric and dense), the emotional or astral body, and the mental sheath. It is frequently overlooked by the casual student that both the astral and the mental bodies are material, and just as material in their own way, as is the dense physical body, and also that the substance of which they are composed is animated by a triple fire, as is the physical.

[Page 55] Từ chính việc dùng thuật ngữ “thể”, cần lưu ý rằng chúng ta đang xét đến những lửa biểu lộ qua trung gian của những cái bên ngoài ấy, của những màn che bằng chất liệu che giấu và bao phủ Thực Tại bên trong. Ở đây chúng ta sẽ không đề cập đến chủ đề các thể trên các cõi cao, mà chỉ bàn đến các lửa làm sinh động ba vận cụ thấp,—thể xác trong hai phần của nó (dĩ thái và đậm đặc), thể cảm xúc hay thể cảm dục, và thể trí. Đạo sinh thông thường thường bỏ qua rằng cả thể cảm dục lẫn thể trí đều là vật chất, và theo cách riêng của chúng cũng vật chất y như thể xác đậm đặc, và rằng chất liệu cấu thành chúng cũng được làm sinh động bởi một lửa tam phân, giống như thể xác.

In the physical body we have the fires of the lower nature (the animal plane) centralised at the base of the spine. They are situated at a spot which stands in relation to the physical body as the physical sun to the solar system. This central point of heat radiates in all directions, using the spinal column as its main artery, but working in close connection with certain central ganglia, wherever located, and having a special association with the spleen. [Page 56]

Trong thể xác chúng ta có các lửa của bản chất thấp (cõi động vật) được tập trung tại đáy cột sống. Chúng tọa lạc tại một điểm có liên hệ với thể xác giống như mặt trời vật lý đối với hệ mặt trời. Điểm nhiệt trung tâm này bức xạ theo mọi hướng, dùng cột sống làm động mạch chính của nó, nhưng hoạt động trong liên hệ mật thiết với một số hạch trung tâm, ở bất cứ nơi nào chúng tọa lạc, và có một sự liên kết đặc biệt với lá lách. [Page 56]

[picture]

[picture]

[Page 57] In the etheric body, which is an exact replica of its denser counterpart, we have the organ of active or radiatory fire, and, as is well known, the vehicle of prana. Its function is to store up the rays of radiatory light and heat which are secured from the sun, and to transmit them, via the spleen, to all parts of the physical body. Hence in the future it will come to be recognised that the spine and the spleen are of the utmost importance to the physical well-being of man, and that when the spinal column is duly adjusted and aligned, and when the spleen is freed from congestion and in a healthy condition, there will be little trouble in the dense physical body. When the physical furnace burns brightly and when the fuel of the body (pranic rays) is adequately assimilated, the human frame will function as desired.

[Page 57] Trong thể dĩ thái, vốn là một bản sao chính xác của đối phần đậm đặc hơn của nó, chúng ta có cơ quan của lửa hoạt động hay lửa bức xạ, và như ai cũng biết, là vận cụ của prana. Chức năng của nó là tích trữ các tia sáng và nhiệt bức xạ thu nhận từ mặt trời, và truyền chúng, qua lá lách, đến mọi phần của thể xác. Vì thế, trong tương lai người ta sẽ nhận ra rằng cột sống và lá lách có tầm quan trọng tối đa đối với sự an khang hồng trần của con người, và rằng khi cột sống được điều chỉnh và chỉnh hợp đúng đắn, và khi lá lách được giải phóng khỏi sự tắc nghẽn và ở trong tình trạng lành mạnh, thì sẽ có rất ít rắc rối trong thể xác đậm đặc. Khi lò lửa hồng trần cháy sáng và khi nhiên liệu của thể (các tia prana) được đồng hoá đầy đủ, cơ thể con người sẽ hoạt động như mong muốn.

The subject of the blending of these two fires, which is complete in a normal and healthy person, should engross the attention of the modern physician. He will then concern himself with the removal of nerve congestion or material congestion, so as to leave a free channel for the inner warmth. This blending, which is now a natural and usual growth in every human being, was one of the signs of attainment or of initiation in an earlier solar system. Just as initiation and liberation are marked in this solar system by the blending of the fires of the body, of the mind and of the Spirit, so in an earlier cycle attainment was marked by the blending of the latent fires of matter with the radiatory or active fires, and then their union with the fires of mind. In the earlier period the effects in manifestation of the divine Flame were so remote and deeply hidden as to be scarcely recognisable, though dimly there. Its correspondence can be seen in the animal kingdom, in which instinct holds the intuition in latency, [Page 58] and the Spirit dimly overshadows. Yet all is part of a divine whole.

Chủ đề về sự hòa trộn của hai lửa này, vốn hoàn tất nơi một người bình thường và khỏe mạnh, cần thu hút sự chú ý của y học hiện đại. Khi đó, thầy thuốc sẽ quan tâm đến việc loại bỏ sự tắc nghẽn thần kinh hay sự tắc nghẽn vật chất, để chừa ra một kênh thông suốt cho hơi ấm bên trong. Sự hòa trộn này, hiện nay là một sự tăng trưởng tự nhiên và thông thường nơi mỗi con người, đã từng là một trong những dấu hiệu của thành tựu hay của điểm đạo trong một hệ mặt trời trước đây. Cũng như điểm đạo và giải thoát được đánh dấu trong hệ mặt trời này bởi sự hòa trộn của các lửa của thể, của trí tuệ và của Tinh thần, thì trong một chu kỳ trước kia, thành tựu được đánh dấu bởi sự hòa trộn của các lửa tiềm ẩn của vật chất với các lửa bức xạ hay hoạt động, rồi sau đó là sự hợp nhất của chúng với các lửa của trí tuệ. Trong thời kỳ trước đó, các hiệu quả trong biểu hiện của Ngọn Lửa thiêng liêng xa xôi và ẩn kín sâu đến mức hầu như không thể nhận ra được, dù vẫn mờ nhạt hiện diện. Sự tương ứng của nó có thể được thấy trong giới động vật, nơi bản năng giữ trực giác ở trạng thái tiềm ẩn, [Page 58] và Tinh thần phủ bóng một cách mờ nhạt. Tuy nhiên, tất cả đều là một phần của một toàn thể thiêng liêng.

The subject of the radiatory heat of the macrocosmic and microcosmic systems will be dealt with in detail in a later subdivision. Here we will only deal with the latent interior fire of the

Chủ đề về nhiệt bức xạ của các hệ thống đại thiên địa và tiểu thiên địa sẽ được bàn chi tiết trong một phân mục sau. Ở đây chúng ta sẽ chỉ bàn đến lửa nội tại tiềm ẩn của

a. Sun.

a. Mặt trời.

b. Planet.

b. Hành tinh.

c. Man.

c. Con người.

d. Atom.

d. Nguyên tử.

We must remember that in both the astral and the mental sheaths there exist the counterparts of the centres as found in the physical body. These centres concern matter and its evolution. One fundamental statement can be laid down anent the internal fires of all these four (sun, planet, man, and atom):

Chúng ta phải nhớ rằng trong cả thể cảm dục lẫn thể trí đều tồn tại các đối phần của các trung tâm như được tìm thấy trong thể xác. Các trung tâm này liên quan đến vật chất và sự tiến hoá của nó. Có thể nêu ra một phát biểu căn bản liên quan đến các lửa nội tại của cả bốn loại này (mặt trời, hành tinh, con người và nguyên tử):

There exists in the Sun, in the planet, in man, and in the atom, a central point of heat, or (if I might use so limiting and inappropriate a term) a central cavern of fire, or nucleus of heat, and this central nucleus reaches the bounds of its sphere of influence, its ring-pass-not by means of a threefold channel. (17)

Trong Mặt Trời, trong hành tinh, trong con người và trong nguyên tử, đều tồn tại một điểm nhiệt trung tâm, hay (nếu tôi có thể dùng một thuật ngữ quá giới hạn và không thích hợp như vậy) một hang lửa trung tâm, hay một hạt nhân nhiệt, và hạt nhân trung tâm này vươn đến các biên giới của khối cầu ảnh hưởng của nó, vòng-giới-hạn của nó, bằng phương tiện của một kênh tam phân. (17)

(17) “The divine essence that, pervading the entire universe of millions of solar systems, is caught up by our sun and passed out in a manifested form to the utmost boundaries of our solar system, so that this manifested essence may be the basic soil of the growth, preservation and destruction of our worlds, that divine essence is simple Nadam of our yogic philosophy and that Nadam or OM subsequently manifests itself as seven streams. The unmanifested is manifested by or borne by the subsequent ramifications. These streams are the seven vowels or seven notes. These seven vowels and notes must have special correlations with the seven vedic metres, since in the Vishnu Purana, Parasara describes the vedic metres as the coursers of the solar essence.”—Some Thoughts on the Gita, p. 74. (back)

(17) “Tinh chất thiêng liêng, thấm nhuần toàn thể vũ trụ gồm hàng triệu hệ mặt trời, được mặt trời của chúng ta thu hút và truyền ra dưới một hình thức biểu lộ đến tận những biên giới xa nhất của hệ mặt trời שלנו, ताकि tinh chất biểu lộ này có thể là mảnh đất căn bản cho sự tăng trưởng, bảo tồn và hủy diệt của các thế giới chúng ta, tinh chất thiêng liêng ấy chính là Nadam đơn nhất của triết học yoga của chúng ta, và Nadam hay OM ấy về sau biểu lộ thành bảy dòng. Cái không biểu lộ được biểu lộ ra bởi hay được chuyên chở bởi các phân nhánh tiếp theo. Những dòng này là bảy nguyên âm hay bảy nốt. Bảy nguyên âm và nốt này hẳn phải có những tương quan đặc biệt với bảy vedic nhịp luật, vì trong Vishnu Purana, Parasara mô tả các vedic nhịp luật như những tuấn mã của tinh chất thái dương.”—Một Vài Tư Tưởng về Gita, tr. 74. (trở lại)

a. The Sun. Within the sun, right at its very heart, is a sea of fire or heat, but not a sea of flame. Herein may lie a distinction that perhaps will convey no meaning to some. It is the centre of the sphere, and the point of fiercest internal burning, but has little relation to the flames or burning gases (whatever terms you care [Page 59] to use) that are generally understood to exist whenever the sun is considered. It is the point of fiercest incandescence, and the objective sphere of fire is but the manifestation of that internal combustion. This central heat radiates its warmth to all parts of the system by means of a triple channel, or through its “Rays of Approach” which in their totality express to us the idea of “the heat of the sun.”

a. Mặt trời. Bên trong mặt trời, ngay tại chính tim của nó, là một biển lửa hay nhiệt, nhưng không phải một biển ngọn lửa. Chính trong đây có thể có một sự phân biệt mà có lẽ sẽ không chuyển tải ý nghĩa gì đối với một số người. Đó là trung tâm của khối cầu, và là điểm bốc cháy nội tại mãnh liệt nhất, nhưng ít liên hệ với các ngọn lửa hay các khí đang cháy (dù bạn muốn dùng thuật ngữ nào [Page 59] đi nữa) mà người ta thường hiểu là tồn tại bất cứ khi nào xét đến mặt trời. Đó là điểm phát sáng mãnh liệt nhất, và khối cầu lửa khách quan chỉ là biểu hiện của sự đốt cháy nội tại ấy. Nhiệt trung tâm này bức xạ hơi ấm của nó đến mọi phần của hệ thống bằng phương tiện của một kênh tam phân, hay qua các “Cung Tiếp Cận” của nó, mà trong tổng thể của chúng biểu lộ cho chúng ta ý niệm về “nhiệt của mặt trời.”

1. The akasha, itself vitalised matter, or substance animated by latent heat.

1. Akasha, bản thân nó là vật chất được tiếp sinh lực, hay chất liệu được làm sinh động bởi nhiệt tiềm ẩn.

2. Electricity, substance of one polarity, and energised by one of the three aspects logoic. To express it more occultly, substance showing forth the quality of the cosmic Lord Whose energy it is.

2. Điện, chất liệu của một cực tính, và được tiếp năng lượng bởi một trong ba phương diện Thượng đế. Diễn tả một cách huyền bí hơn, đó là chất liệu biểu lộ phẩm tính của Đấng Chúa Tể vũ trụ mà năng lượng của Ngài là nó.

3. Light Rays of pranic aspect, some of which are being now recognised by the modern scientist. They are but aspects of the latent heat of the sun as it approaches the Earth by a particular line of least resistance.

3. Các tia sáng thuộc phương diện prana, một số trong đó hiện nay đang được nhận ra bởi nhà khoa học hiện đại. Chúng chỉ là các phương diện của nhiệt tiềm ẩn của mặt trời khi nó tiếp cận Trái Đất theo một con đường ít trở ngại nhất đặc biệt.

When the term “channel or ray of approach” is used, it means approach from the centre of solar radiation to the periphery. What is encountered during that approach—such as planetary bodies, for instance—will be affected by the akashic current, the electrical current, or the pranic current in some way, but all of these currents are only the internal fires of the system when viewed from some other point in universal, though not solar, space. It is, therefore, obvious that this matter of fire is as complex as that of the rays. The internal fires of the solar system become external and radiatory when considered from the standpoint of a planet, while the internal fires of the planet will affect a human being as radiation in exactly the same way as the pranic emanations of his etheric body affect another physical body as radiatory. The point to be grasped in all these [Page 60] aspects is that one and all have to do with matter or substance, and not with mind or Spirit.

Khi dùng thuật ngữ “kênh hay cung tiếp cận”, điều đó có nghĩa là sự tiếp cận từ trung tâm bức xạ mặt trời đến chu vi. Bất cứ điều gì gặp phải trong quá trình tiếp cận ấy—chẳng hạn như các thiên thể hành tinh—sẽ bị tác động bởi dòng akasha, dòng điện, hay dòng prana theo một cách nào đó, nhưng tất cả các dòng này chỉ là các lửa nội tại của hệ thống khi được nhìn từ một điểm khác trong không gian vũ trụ, dù không phải không gian thái dương. Vì vậy, hiển nhiên là vấn đề lửa này phức tạp cũng như vấn đề các cung. Các lửa nội tại của hệ mặt trời trở thành bên ngoài và bức xạ khi được xét từ quan điểm của một hành tinh, trong khi các lửa nội tại của hành tinh sẽ tác động lên một con người như bức xạ theo đúng cùng cách mà các phát xạ prana của thể dĩ thái của y tác động lên một thể xác khác như bức xạ. Điểm cần nắm bắt trong tất cả các [Page 60] phương diện này là tất cả đều liên quan đến vật chất hay chất liệu, chứ không liên quan đến trí tuệ hay Tinh thần.

b. The Planet. Deep in the heart of the planet—such a planet as the Earth, for instance—are the internal fires that occupy the central sphere, or the caverns which—filled with incandescent burning—make life upon the globe possible at all. The internal fires of the moon are practically burnt out, and, therefore, she does not shine save through reflection, having no inner fire to blend and merge with light external. These inner fires of the earth can be seen functioning, as in the sun, through three main channels:

b. Hành tinh. Sâu trong tim của hành tinh—chẳng hạn một hành tinh như Trái Đất—là các lửa nội tại chiếm giữ khối cầu trung tâm, hay các hang động mà—đầy sự cháy sáng rực—làm cho sự sống trên bầu hành tinh trở nên khả hữu. Các lửa nội tại của mặt trăng thực tế đã cháy cạn, và vì thế nó không chiếu sáng ngoại trừ bằng phản chiếu, không có lửa bên trong để hòa trộn và hợp nhất với ánh sáng bên ngoài. Các lửa nội tại này của trái đất có thể được thấy đang hoạt động, như trong mặt trời, qua ba kênh chính:

1. Productive substance, or the matter of the planet vitalised by heat. This heat and matter together act as the mother of all that germinates, and as the protector of all that dwells therein and thereon. This corresponds to the akasha, the active vitalised matter of the solar system, that nourishes all as does a mother.

1. Chất liệu sinh sản, hay vật chất của hành tinh được tiếp sinh lực bởi nhiệt. Nhiệt và vật chất này cùng nhau hoạt động như người mẹ của mọi thứ nảy mầm, và như người bảo hộ của mọi thứ cư ngụ trong đó và trên đó. Điều này tương ứng với akasha, vật chất hoạt động được tiếp sinh lực của hệ mặt trời, nuôi dưỡng mọi sự như một người mẹ.

2. Electrical fluid, a fluid which is latent in the planet though as yet but little recognized. It is perhaps better expressed by the term “animal magnetism.” It is the distinctive quality of the atmosphere of a planet, or its electrical ring-pass-not. It is the opposite pole to the solar electrical fluid, and the contact of the two and their correct manipulation is the aim—perhaps unrealised—-of all scientific endeavor at this time.

2. Lưu chất điện, một lưu chất tiềm ẩn trong hành tinh dù cho đến nay còn rất ít được nhận biết. Có lẽ nó được diễn tả tốt hơn bằng thuật ngữ “từ điện động vật.” Đó là phẩm tính đặc thù của khí quyển của một hành tinh, hay vòng-giới-hạn điện của nó. Nó là cực đối nghịch với lưu chất điện thái dương, và sự tiếp xúc của cả hai cùng sự vận dụng đúng đắn chúng là mục tiêu—có lẽ chưa được nhận ra—của mọi nỗ lực khoa học vào lúc này.

3. That emanation of the planet which we might term Planetary Prana. It is that which is referred to when one speaks of the health-giving qualities of Mother Nature, and which is back of the cry of the modern physician, when he wisely says “Back to the Earth.” It is the fluidic emanation of this prana which acts upon the physical body, though in this case not via the etheric body. It is absorbed [Page 61] through the skin purely and the pores are its line of least resistance.

3. Phát xạ của hành tinh mà chúng ta có thể gọi là Prana Hành Tinh. Đó là điều được nhắc đến khi người ta nói về các phẩm tính ban sức khỏe của Mẹ Thiên Nhiên, và là điều đứng sau tiếng kêu của vị thầy thuốc hiện đại, khi ông khôn ngoan nói “Hãy trở về với Trái Đất.” Chính phát xạ linh động của prana này tác động lên thể xác, dù trong trường hợp này không phải qua thể dĩ thái. Nó được hấp thu [Page 61] hoàn toàn qua da và các lỗ chân lông là con đường ít trở ngại nhất của nó.

c. The Man. At the base of the spine lie hid the fires of the human system, or the internal fires of the Microcosm. The centre is located there, and from it the radiations go forth along the three channels, recognisable in the spine.

c. Con người. Ở đáy cột sống ẩn giấu các lửa của hệ thống con người, hay các lửa nội tại của Tiểu thiên địa. Trung tâm tọa lạc ở đó, và từ đó các bức xạ phát ra dọc theo ba kênh, có thể nhận biết được trong cột sống.

1. Bodily warmth, the channel along which the heat radiates and which finds the goal of its attention to be the heating of the corporeal frame. This vitalisation of the dense matter of the body finds its correspondence in the systemic akasha, and in planetary productive substance.

1. Hơi ấm cơ thể, kênh dọc theo đó nhiệt bức xạ và mục tiêu chú ý của nó là làm nóng khung thể xác. Sự tiếp sinh lực này cho vật chất đậm đặc của thể tìm thấy sự tương ứng của nó trong akasha hệ thống, và trong chất liệu sinh sản của hành tinh.

2. Nervous response. This is the vitalising tenuous fluid which applies itself to the stimulation of the nervous centres, and which creates electrical response to contact between the nerves and the brain. It should now be more closely studied. It corresponds to systemic electricity, and to planetary electricity.

2. Đáp ứng thần kinh. Đây là lưu chất vi tế tiếp sinh lực, tự áp dụng vào việc kích thích các trung tâm thần kinh, và tạo ra đáp ứng điện đối với sự tiếp xúc giữa các dây thần kinh và bộ não. Hiện nay điều này cần được nghiên cứu chặt chẽ hơn. Nó tương ứng với điện của hệ thống, và với điện của hành tinh.

3. Pranic emanation. The emanation, via the etheric body, which corresponds in man to solar prana and to planetary prana. This demonstrates principally in the health aura and has naught to do with magnetic qualities, as generally interpreted when considering a personality, or man as a unit. I make this repetition as it is very necessary that no mental confusion exists between that magnetism which is a spiritual emanation and that which is purely animal.

3. Phát xạ prana. Phát xạ, qua thể dĩ thái, tương ứng nơi con người với prana thái dương và prana hành tinh. Nó biểu lộ chủ yếu trong hào quang sức khỏe và không liên quan gì đến các phẩm tính từ điện, như thường được diễn giải khi xét đến một phàm ngã, hay con người như một đơn vị. Tôi lặp lại điều này vì rất cần thiết để không có sự lẫn lộn trí tuệ nào giữa từ điện vốn là một phát xạ tinh thần và cái vốn thuần túy động vật.

It might be wise here to point out that this triple manifestation of fire demonstrates in the astral and mental bodies likewise, having to do with the substance of those bodies. We might express this fire in its triple manifestation as the sumtotal of the essential fire, or life activity of the third Logos. It should be carefully borne [Page 62] in mind that the manifestation of the work of the three Logoi is the expression of the mind of some cosmic Entity. In the same way, the seven planetary Entities, the seven Heavenly Men, are seven Logoi (likewise cosmic Beings) Who in Their totality form the Body of the threefold Logos. We have, therefore:

Ở đây có lẽ nên chỉ ra rằng sự biểu lộ tam phân này của lửa cũng biểu lộ trong thể cảm dục và thể trí, liên quan đến chất liệu của các thể ấy. Chúng ta có thể diễn tả lửa này trong biểu lộ tam phân của nó như là tổng số toàn bộ của lửa bản chất, hay hoạt động sự sống của Thượng đế thứ ba. Cần phải luôn ghi nhớ cẩn thận [Page 62] rằng sự biểu lộ công việc của Ba Ngôi Các Thượng đế là biểu hiện của trí tuệ của một Thực Thể vũ trụ nào đó. Cũng theo cách ấy, bảy Thực Thể Hành Tinh, bảy Đấng Thiên Nhân, là bảy Các Thượng đế (cũng là các Hữu thể vũ trụ), Đấng mà trong tổng thể của Các Ngài tạo thành Thể của Thượng đế tam phân. Vì vậy, chúng ta có:

1. The undifferentiated Logos—a cosmic Entity.

1. Thượng đế không phân hoá—một Thực Thể vũ trụ.

2. The Logos, threefold in manifestation:

2. Thượng đế, tam phân trong biểu lộ:

a. The cosmic Lord of Will Power.

a. Đấng Chúa Tể vũ trụ của Quyền năng Ý Chí.

b. The cosmic Lord of Love and Wisdom.

b. Đấng Chúa Tể vũ trụ của Bác Ái và Minh Triết.

c. The cosmic Lord of Active Intelligence.

c. Đấng Chúa Tể vũ trụ của Trí Tuệ Hoạt Động.

3. The triple Logos, sevenfold in manifestation., i.e. The seven planetary Logoi.(18),(19), (20)

3. Thượng đế tam phân, thất phân trong biểu lộ, tức là bảy Hành Tinh Thượng đế. (18), (19), (20)

(18) T. Subba Rao says on page 20, of Esoteric Writings: “As a general rule, whenever seven entities are mentioned in the ancient occult science of India in any connection whatsoever, you must suppose that those seven entities came into existence from three primary entities and that these three entities again are evolved out of a single entity or monad. To take a familiar example, the seven coloured rays in the solar ray are evolved out of three primary coloured rays; and the three primary colours co-exist with the four secondary colours in the solar ray. Similarly the three primary entities which brought man into existence co-exist in him with the four secondary entities which arose from different combinations of the three primary entities.”

(18) T. Subba Rao nói ở trang 20 của Esoteric Writings: “Theo quy luật tổng quát, bất cứ khi nào bảy thực thể được nhắc đến trong khoa huyền bí học cổ xưa của Ấn Độ trong bất kỳ mối liên hệ nào, bạn phải giả định rằng bảy thực thể ấy đã đi vào hiện hữu từ ba thực thể sơ cấp và ba thực thể này lại được tiến hoá ra từ một thực thể hay chân thần duy nhất. Lấy một ví dụ quen thuộc, bảy tia màu sắc trong tia thái dương được tiến hoá ra từ ba tia màu sắc sơ cấp; và ba màu sơ cấp cùng đồng hiện hữu với bốn màu thứ cấp trong tia thái dương. Tương tự như vậy, ba thực thể sơ cấp đã đưa con người vào hiện hữu cũng đồng hiện hữu trong y với bốn thực thể thứ cấp đã phát sinh từ những sự kết hợp khác nhau của ba thực thể sơ cấp.”

In Christian terminology these are the three Persons of the Trinity, and the seven Spirits which are before the Throne. Compare “Our God is a consuming fire.” Heb: 12.29. (back)

Theo thuật ngữ Ki-tô giáo, đây là ba Ngôi của Tam Vị, và Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai. Hãy so sánh câu “Thượng đế của chúng ta là ngọn lửa thiêu đốt.” Hê-bơ-rơ 12:29. (back)

(19) “I have already said in speaking of this Logos, that it was quite possible that it was the Logos that appeared in the shape of the first Dhyan Chohan, or planetary Spirit, when the evolution of man was recommenced after the last period of inactivity on this planet, as stated in Mr. Sinnett’s book, Esoteric Buddhism, and after having set the evolutionary current in motion, retired to the spiritual plane congenial to its own nature, and has been watching since over the interests of humanity, and now and then appearing in connection with a human individuality for the good of mankind. Or you may look upon the Logos represented by Krishna as one belonging to the same class as the Logos which so appeared. In speaking of himself Krishna says, (chap. x, verse 6):

(19) “Tôi đã nói rồi khi bàn đến Logos này, rằng hoàn toàn có thể đó chính là Logos đã xuất hiện dưới hình tướng của vị Dhyan Chohan đầu tiên, hay Tinh thần hành tinh, khi sự tiến hoá của con người được tái khởi động sau thời kỳ bất động cuối cùng trên hành tinh này, như đã nêu trong sách của ông Sinnett, Esoteric Buddhism, và sau khi đã làm cho dòng tiến hoá chuyển động, đã lui về cõi tinh thần phù hợp với bản chất riêng của nó, và từ đó đến nay vẫn dõi theo những lợi ích của nhân loại, thỉnh thoảng lại xuất hiện trong mối liên hệ với một cá thể nhân loại vì lợi ích của loài người. Hoặc bạn có thể xem Logos được Krishna biểu hiện là một Đấng thuộc cùng loại với Logos đã xuất hiện như thế. Khi nói về chính mình, Krishna nói (chương x, câu 6):

“The seven great Rishis, the four preceding Manus, partaking of my nature were born from my mind: from them sprang, was (born) the human race and the world.”

“Bảy vị Rishi vĩ đại, bốn vị Manu đi trước, cùng dự phần vào bản chất của ta, đã sinh ra từ trí của ta: từ các vị ấy đã phát sinh, hay đã sinh ra, nhân loại và thế giới.”

He speaks of the sapta Rishis and of the Manus as his manasaputras, or mind-born sons, which they would be if he was the so-called Prajapati, who appeared on this planet and commenced the work of evolution.”—The Theosophist, Vol. VIII, p. 443. (back)

Ngài nói về các sapta Rishi và các Manu như những manasaputras của Ngài, hay những người con sinh từ trí, đúng như họ sẽ là nếu Ngài là vị Prajapati như người ta thường gọi, Đấng đã xuất hiện trên hành tinh này và khởi sự công việc tiến hoá.”—The Theosophist, Tập VIII, tr. 443. (back)

(20) The following tabulation should be borne in mind:

(20) Cần ghi nhớ bảng liệt kê sau đây:

Seven branch races make

one subrace

Seven subraces make

one rootrace

Seven rootraces make

one world period

Seven world periods make

one round

Seven rounds make

one chain period

Seven chain periods make

one planetary scheme

Ten planetary schemes make

one solar system

(back)

(back)

[Page 63] Each of these cosmic Entities is, in His essential essence, Fire; each manifests as fire in a threefold manner. In point of time the cosmic Lord of active Intelligence, considered from the standpoint of cosmic evolution, is more evolved than His two Brothers. He is the life of matter, its latent internal Fire. His is the fire essence that lies at the heart of the Sun, of the planet, and of man’s material forms. He is the sumtotal of the Past.

[Page 63] Mỗi Thực Thể vũ trụ này, trong tinh túy cốt yếu của Ngài, là Lửa; mỗi Ngài biểu lộ như lửa theo cách tam phân. Xét về thời gian, Chúa Tể vũ trụ của Trí Tuệ linh hoạt, được nhìn từ quan điểm của sự tiến hoá vũ trụ, thì tiến hoá hơn hai Huynh Đệ của Ngài. Ngài là sự sống của vật chất, là Lửa nội tại tiềm ẩn của nó. Ngọn lửa tinh túy của Ngài nằm ở trung tâm của Mặt Trời, của hành tinh, và của các hình tướng vật chất của con người. Ngài là tổng thể của Quá Khứ.

The Lord of Cosmic Love now seeks union with His Brother, and, in point of time, embodies all the Present. He is the sumtotal of all that is embodied; He is conscious Existence. He is the Son divine and His life and nature evolve through every existent form. The Lord of Cosmic Will holds hid the future within His plans and consciousness. They are all three the Sons of one Father, all three the aspects of the One God, all three are Spirit, all three are Soul, and all three are Rays emanating from one cosmic centre. All three are substance, but in the past one Lord was the elder Son, in the present another Lord comes to the fore, and in the future still another. But this is so only in Time. From the standpoint of the Eternal Now, none is greater nor less than another, for the last shall be first, and the first last. Out of manifestation time is not, and freed from objectivity states of consciousness are not.

Chúa Tể của Bác Ái Vũ Trụ hiện đang tìm cách hợp nhất với Huynh Đệ của Ngài, và xét về thời gian, Ngài thể hiện toàn bộ Hiện Tại. Ngài là tổng thể của mọi điều được thể hiện; Ngài là Hiện Hữu hữu thức. Ngài là Con thiêng liêng và sự sống cùng bản chất của Ngài tiến hoá qua mọi hình tướng hiện hữu. Chúa Tể của Ý Chí Vũ Trụ giữ kín tương lai trong các kế hoạch và tâm thức của Ngài. Cả ba đều là những Người Con của một Cha, cả ba đều là các phương diện của một Thượng đế Duy Nhất, cả ba đều là tinh thần, cả ba đều là linh hồn, và cả ba đều là những cung phát ra từ một trung tâm vũ trụ. Cả ba đều là chất liệu, nhưng trong quá khứ một Chúa Tể là Người Con trưởng, trong hiện tại một Chúa Tể khác nổi lên hàng đầu, và trong tương lai lại là một Chúa Tể khác nữa. Nhưng điều này chỉ đúng trong Thời gian. Từ quan điểm của Hiện Tại Vĩnh Cửu, không ai lớn hơn hay nhỏ hơn ai, vì kẻ sau sẽ thành trước, và kẻ trước sẽ thành sau. Ngoài biểu hiện thì không có thời gian, và khi được giải thoát khỏi tính khách thể thì cũng không có các trạng thái tâm thức.

The fire of Spirit is the essential fire of the first Lord of Will plus the fire of the second Logos of Love. These two cosmic Entities blend, merge, and demonstrate as Soul, utilising for purposes of manifestation the aid of the third Logos. The three fires blend and merge. In this fourth round and on this fourth globe of our planetary scheme, the fires of the third Logos of intelligent matter are fusing somewhat with the fires of cosmic [Page 64] mind, showing as will or power, and animating the Thinker on all planes. The object of Their co-operation is the perfected manifestation of the cosmic Lord of Love. This should be pondered upon for it reveals a mystery.

Lửa của tinh thần là ngọn lửa cốt yếu của Chúa Tể thứ nhất của Ý Chí cộng với lửa của Logos thứ hai của Bác Ái. Hai Thực Thể vũ trụ này hòa trộn, dung nhập, và biểu lộ như linh hồn, sử dụng sự trợ giúp của Logos thứ ba cho các mục đích biểu hiện. Ba ngọn lửa hòa trộn và dung nhập. Trong cuộc tuần hoàn thứ tư này và trên bầu hành tinh thứ tư này của hệ hành tinh chúng ta, các ngọn lửa của Logos thứ ba của vật chất thông tuệ đang dung hợp phần nào với các ngọn lửa của trí tuệ [Page 64] vũ trụ, biểu lộ như ý chí hay quyền năng, và làm sinh động Nhà Tư Tưởng trên mọi cõi. Mục đích của sự hợp tác của Các Ngài là sự biểu hiện hoàn hảo của Chúa Tể vũ trụ của Bác Ái. Điều này cần được suy gẫm vì nó mặc khải một huyền nhiệm.

The blending of the three fires, the merging of the three Rays, and the co-operation of the three Logoi have in view (at this time and within this solar system) the development of the Essence of the cosmic Lord of Love, the second Person in the logoic trinity. Earlier it was not so, later it will not be, but now it is. When viewed from the cosmic mental plane these Three constitute the PERSONALITY OF THE LOGOS, and are seen functioning as one. Hence the secret (well recognised as fact, though not understood) of the excessive heat, occultly expressed, of the astral or central body of the triple personality. It animates and controls the physical body, and its desires hold sway in the majority of cases; it demonstrates in time and space the correspondence of the temporary union of spirit and matter, the fires of cosmic love and the fires of matter blended. A similar analogy is found in the heat apparent in this second solar system.

Sự hòa trộn của ba ngọn lửa, sự dung nhập của ba cung, và sự hợp tác của ba Logos đều nhắm đến (vào lúc này và trong hệ mặt trời này) sự phát triển Tinh Túy của Chúa Tể vũ trụ của Bác Ái, Ngôi thứ hai trong Tam Vị Thượng đế. Trước đây không phải vậy, về sau cũng sẽ không phải vậy, nhưng hiện nay là như thế. Khi được nhìn từ cõi trí vũ trụ, Ba Đấng này cấu thành PHÀM NGÃ CỦA LOGOS, và được thấy là vận hành như một. Do đó mới có bí mật (một sự kiện đã được thừa nhận rõ, dù chưa được thấu hiểu) về nhiệt quá mức, được diễn đạt theo huyền bí học, của thể cảm dục hay thể trung tâm của phàm ngã tam phân. Nó làm sinh động và kiểm soát thể xác, và các ham muốn của nó chi phối trong đa số trường hợp; nó biểu lộ trong thời gian và không gian sự tương ứng của sự hợp nhất tạm thời giữa tinh thần và vật chất, các ngọn lửa của bác ái vũ trụ và các ngọn lửa của vật chất được hòa trộn. Một sự tương đồng tương tự được tìm thấy trong sức nóng biểu hiện trong hệ mặt trời thứ hai này.

d. The Atom. The inner fires of the atom can likewise be seen functioning along similar lines, their demonstration being already somewhat recognised by science. This being so there exists no necessity for further elaboration. (21)

d. Nguyên tử. Các ngọn lửa bên trong nguyên tử cũng có thể được thấy đang vận hành theo những đường lối tương tự, và sự biểu lộ của chúng đã phần nào được khoa học thừa nhận. Vì đã như vậy, không cần phải khai triển thêm nữa. (21)

(21) “It should be remembered that the mere scale does not matter, for greatness and smallness are essentially relative. The destiny of each atom is to create a brahmanda. Brahmandas like or smaller or larger than ours, held together by a sun, are present in every atom. Vishvas, great world-systems, exist in an atom, and atoms again exist in these vishvas. This is the significance of ‘many from one’; wherever we see the one we should recognise the many also, and conversely. After securing the ability of, and then actually, creating a brahmanda, the next step is the creation of a jagat, then a vishva, then a maha-vishva and so on, till the status of maha-vishnu is reached.”—Bhagavan Das in the Pranava Vada, p. 94. (back)

(21) “Cần nhớ rằng bản thân quy mô không quan trọng, vì lớn và nhỏ về bản chất đều là tương đối. Định mệnh của mỗi nguyên tử là tạo ra một brahmanda. Những brahmanda giống như, nhỏ hơn, hay lớn hơn của chúng ta, được giữ lại với nhau bởi một mặt trời, hiện diện trong mọi nguyên tử. Những vishva, những hệ thống thế giới vĩ đại, tồn tại trong một nguyên tử, và các nguyên tử lại tồn tại trong những vishva này. Đây là ý nghĩa của ‘nhiều từ một’; ở đâu chúng ta thấy cái một thì cũng nên nhận ra cái nhiều, và ngược lại. Sau khi đạt được khả năng, rồi thực sự, tạo ra một brahmanda, bước kế tiếp là tạo ra một jagat, rồi một vishva, rồi một maha-vishva, và cứ thế cho đến khi đạt tới địa vị maha-vishnu.”—Bhagavan Das trong Pranava Vada, tr. 94. (back)

II. FIRE ELEMENTALS AND DEVAS — II. HÀNH KHÍ CỦA LỬA VÀ THIÊN THẦN

[Page 65] We might now briefly consider the subject of the fire elementals and devas, and then deal with the relation of the Personality Ray to this internal fire of the system in its threefold manifestation.

[Page 65] Giờ đây chúng ta có thể xét ngắn gọn về đề tài các hành khí của lửa và thiên thần, rồi sau đó bàn đến mối liên hệ của cung phàm ngã với ngọn lửa nội tại này của hệ thống trong biểu hiện tam phân của nó.

Certain facts are known in connection with the fire spirits (if so they may be termed). The fundamental fact that should here be emphasised is that AGNI, the Lord of Fire, rules over all the fire elementals and devas on the three planes of human evolution, the physical, the astral, and the mental, and rules over them not only on this planet, called the Earth, but on the three planes in all parts of the system. He is one of the seven Brothers (to use an expression familiar to students of the Secret Doctrine) Who each embody one of the seven principles, or Who are in Themselves the seven centres in the body of the cosmic Lord of Fire, called by H. P. B. “Fohat.” He is that active fiery Intelligence, Who is the basis of the internal fires of the solar system. On each plane one of these Brothers holds sway, and the three elder Brothers (for always the three will be seen, and later the seven, who eventually merge into the primary three) rule on the first, third and the fifth planes, or on the plane of adi, of atma (22) and of manas. It is urgent that we here remember that They are fire viewed [Page 66] in its third aspect, the fire of matter. In Their totality these seven Lords form the essence of the cosmic Lord, called in the occult books, Fohat. (23)

Một số sự kiện nhất định đã được biết liên quan đến các tinh linh lửa (nếu có thể gọi như vậy). Sự kiện căn bản cần được nhấn mạnh ở đây là AGNI, Chúa Tể của Lửa, cai quản mọi hành khí của lửa và thiên thần trên ba cõi của sự tiến hoá nhân loại, cõi hồng trần, cõi cảm dục và cõi trí, và cai quản họ không chỉ trên hành tinh này, gọi là Trái Đất, mà còn trên ba cõi ấy trong mọi phần của hệ thống. Ngài là một trong bảy Huynh Đệ (dùng một cách diễn đạt quen thuộc với các đạo sinh của Giáo Lý Bí Nhiệm) mà mỗi Đấng thể hiện một trong bảy nguyên khí, hay tự thân là bảy trung tâm trong thể của Chúa Tể vũ trụ của Lửa, được H. P. B. gọi là “Fohat.” Ngài là Trí Tuệ lửa linh hoạt ấy, Đấng là nền tảng của các ngọn lửa nội tại của hệ mặt trời. Trên mỗi cõi, một trong các Huynh Đệ này nắm quyền chi phối, và ba Huynh Đệ trưởng (vì luôn luôn sẽ thấy ba, rồi sau đó là bảy, những Đấng cuối cùng dung nhập vào ba nguyên thủy) cai quản trên các cõi thứ nhất, thứ ba và thứ năm, hay trên cõi adi, của atma (22) và của manas. Điều cấp thiết là ở đây chúng ta phải nhớ rằng Các Ngài là lửa được nhìn [Page 66] trong phương diện thứ ba của nó, lửa của vật chất. Trong tổng thể của Các Ngài, bảy Chúa Tể này tạo thành tinh túy của Chúa Tể vũ trụ, được gọi trong các sách huyền bí là Fohat. (23)

(22) Atma means as you all know the self or the ego or an individualised centre of consciousness around which all worldly experiences in their dual aspect of subjective and objective cluster and arrange themselves. It is as it were one of the foci from which emerge rays of light to illumine the cosmic waters and in which also converge the rays sent back by those waters. In Theosophical writings, it is called the selfconscious individuality or the Higher Manas. From this point of view, you will see that the Higher Manas is the most important principle or the central pivot of the human constitution or the true soul. It is the thread which ought to be caught hold of by one who wants to know the truth and lift himself out of this conditioned existence. To this it may be objected that Atma represents the seventh principle of the theosophical septenary and that the Manas is far lower in the scale. But the plain answer is that the seventh principle is the ultimate state attainable by the self after crossing the ocean of conditioned existence or samsara.”—Some Thoughts on the Gita, p. 26. (back)

(22) Atma có nghĩa, như tất cả các bạn đều biết, là bản ngã hay chân ngã hoặc một trung tâm tâm thức đã được biệt ngã hóa, quanh đó mọi kinh nghiệm thế gian trong phương diện kép chủ quan và khách quan của chúng tụ lại và tự sắp xếp. Nó có thể nói là một trong những tiêu điểm từ đó các tia sáng phát ra để soi sáng các đại dương vũ trụ và trong đó cũng hội tụ các tia được những đại dương ấy phản chiếu trở lại. Trong các trước tác Thông Thiên Học, nó được gọi là cá thể tính ngã thức hay Thượng trí. Từ quan điểm này, bạn sẽ thấy rằng Thượng trí là nguyên khí quan trọng nhất hay trục trung tâm của cấu tạo con người, hay linh hồn đích thực. Nó là sợi dây mà người nào muốn biết chân lý và nâng mình ra khỏi hiện hữu bị điều kiện hóa này, hay luân hồi, phải nắm lấy. Có thể có người phản đối điều này rằng Atma biểu hiện nguyên khí thứ bảy của bộ bảy nguyên lý theo Thông Thiên Học và rằng Manas ở thấp hơn nhiều trong thang bậc. Nhưng câu trả lời rõ ràng là nguyên khí thứ bảy là trạng thái tối hậu mà bản ngã có thể đạt được sau khi vượt qua đại dương của hiện hữu bị điều kiện hóa hay samsara.”—Some Thoughts on the Gita, tr. 26. (back)

(23) Fohat, or electricity, is an Entity.

(23) Fohat, hay điện, là một Thực Thể.

He is the primordial

electric Entity

S. D., I, 105.

He is

Will

S. D., I, 136.

He is

Love-Wisdom

S. D., I, 100,144,155.

He is

Active Intelligence

S. D., I, 136.

Therefore He is God

S. D., I, 167.

He is the sumtotal of the energy of the seven Spirits, Who are the sumtotal of the Logos.—S. D., I, 169. (back)

Ngài là tổng thể của năng lượng của bảy Thánh Linh, các Đấng là tổng thể của Logos.—S. D., I, 169. (back)

This is so in the same sense as the seven Chohans, (24) with Their affiliated groups of pupils, form the essence or centres in the body of one of the Heavenly Men, one of the planetary Logoi. These seven again in Their turn form the essence of the Logos.

Điều này cũng đúng theo cùng ý nghĩa như bảy Chohan, (24) cùng với các nhóm đệ tử trực thuộc của Các Ngài, tạo thành tinh túy hay các trung tâm trong thể của một trong các Đấng Thiên Nhân, một trong các Hành Tinh Thượng đế. Bảy Đấng này, đến lượt mình, lại tạo thành tinh túy của Logos.

(24) Chohan (Tibetan). A Lord or Master. A high Adept. An initiate who has taken more Initiations than the five major Initiations which make man a “Master of the Wisdom.” (back)

(24) Chohan (Tây Tạng). Một Chúa Tể hay Chân sư. Một chân sư cao cấp. Một điểm đạo đồ đã nhận nhiều lần điểm đạo hơn năm lần điểm đạo lớn khiến con người trở thành một “Chân sư Minh Triết.” (back)

Each of the seven Lords of Fire (25) are differentiated into numerous groups of fire entities, from the Deva-Lords of a plane down to the little salamanders of the internal furnaces. We are not dealing with the fiery essences of the higher planes at this stage in our discussion. We will only enumerate somewhat briefly some of the better known groups, as contacted in the three worlds.

Mỗi một trong bảy Chúa Tể của Lửa (25) đều được biến phân thành vô số nhóm thực thể lửa, từ các Chúa Tể Thiên thần của một cõi cho đến những salamander nhỏ bé của các lò lửa bên trong. Ở giai đoạn này của cuộc bàn luận, chúng ta không đề cập đến các tinh túy lửa của các cõi cao hơn. Chúng ta sẽ chỉ liệt kê thật ngắn gọn một vài nhóm được biết đến nhiều hơn, như được tiếp xúc trong ba cõi thấp.

(25) The seven Brothers. See S. D., I, 105. These seven are the seven differentiations of primordial electric energy.

(25) Bảy Huynh Đệ. Xem S. D., I, 105. Bảy vị này là bảy sự biến phân của năng lượng điện nguyên thủy.

Plane. As used in occultism, the term denotes the range or extent of some state of consciousness or of the perceptive power of a particular set of senses or the action or a particular force, or the state of matter corresponding to any of the above. (back)

Cõi. Như được dùng trong huyền bí học, thuật ngữ này chỉ phạm vi hay tầm mức của một trạng thái tâm thức nào đó, hay của năng lực tri giác của một tập hợp giác quan nhất định, hay hoạt động của một mãnh lực đặc thù, hay trạng thái của vật chất tương ứng với bất kỳ điều nào kể trên. (back)

1. Physical Plane.

1. Cõi Hồng Trần.

Salamanders, those little fire elementals who can be seen dancing in every flame, tending the fires of the hearth and the home, and of the factory. They are of the same group as the fire spirits who can be contacted deep in the fiery bowels of the planet.

Salamander, những hành khí của lửa nhỏ bé có thể được thấy nhảy múa trong mọi ngọn lửa, chăm nom các bếp lửa của lò sưởi và gia đình, cũng như của nhà máy. Chúng thuộc cùng một nhóm với các tinh linh lửa có thể được tiếp xúc sâu trong những lòng lò rực lửa của hành tinh.

Fire spirits, latent in all focal points of heat, who are themselves the essence of warmth, and can be contacted [Page 67] in the heat of the bodily frame, whether human or animal, and who are likewise the warmth terrestrial.

Các tinh linh lửa, tiềm ẩn trong mọi tiêu điểm của nhiệt, bản thân chúng là tinh túy của hơi ấm, và có thể được tiếp xúc [Page 67] trong sức nóng của khung thể, dù là người hay thú, và cũng chính là hơi ấm của địa cầu.

The Agnichaitans, a higher grade of fire spirit, who form a vortex of fire when viewed on a large scale, such as in volcanoes and large destructive burnings. They are closely allied to a still more important group of devas, who form the fiery envelope of the sun.

Các Agnichaitan, một cấp bậc cao hơn của tinh linh lửa, tạo thành một xoáy lửa khi được nhìn trên quy mô lớn, như trong núi lửa và những đám cháy hủy diệt lớn. Chúng có liên hệ mật thiết với một nhóm thiên thần còn quan trọng hơn nữa, những vị tạo thành lớp bao lửa của mặt trời.

The pranic elementals, those minute fiery essences who have the ability to permeate the texture of the human body, of a tree, or of all that may be found in the human, vegetable and animal kingdoms, and who blend with the fires of the microcosmic systems.

Các hành khí prana, những tinh túy lửa cực vi có khả năng thấm vào kết cấu của thể người, của cây cối, hay của mọi thứ có thể tìm thấy trong giới nhân loại, giới thực vật và giới động vật, và hòa trộn với các ngọn lửa của các hệ thống tiểu thiên địa.

Certain of the deva kingdom who may be described as ensouling certain of the great light rays, and Who are in Themselves the essence of those rays. Other forms of such elemental lives and of deva groups might be enumerated, but the above tabulation will suffice for our present purpose.

Một số vị trong giới thiên thần có thể được mô tả là đang phú linh cho một số tia sáng lớn, và tự thân Các Ngài là tinh túy của những tia ấy. Có thể liệt kê thêm những dạng khác của các sự sống hành khí như thế và của các nhóm thiên thần, nhưng bảng trên là đủ cho mục đích hiện tại của chúng ta.

2. The Astral Plane.

2. Cõi Cảm Dục.

The fiery essences of this plane are more difficult for us to comprehend, having not, as yet, the seeing eye upon that plane. They are in themselves the warmth and heat of the emotional body, and of the body of feeling. They are of a low order when upon the path of desire, and of a high order when upon the path of aspiration, for the elemental is then transmuted into the deva.

Các tinh túy lửa của cõi này khó để chúng ta hiểu hơn, vì chúng ta chưa có con mắt thấy trên cõi ấy. Tự thân chúng là hơi ấm và sức nóng của thể cảm dục, và của thể cảm xúc. Chúng thuộc cấp thấp khi ở trên con đường dục vọng, và thuộc cấp cao khi ở trên con đường khát vọng, vì khi đó hành khí được chuyển hoá thành thiên thần.

Their grades and ranks are many, but their names matter not save in one instance. It may be of interest to know the appellation applied to the devas of fire whose part it is to tend the fires that will later destroy the causal body. We need to remember that it is the upspringing of the latent fire of matter and its merging with two other fires that causes destruction. These elementals and devas are called the Agnisuryans, and in [Page 68] their totality are the fiery essences of buddhi, hence their lowest manifestation is on the sixth plane, the astral.

Cấp bậc và thứ hạng của chúng rất nhiều, nhưng tên gọi của chúng không quan trọng ngoại trừ trong một trường hợp. Có lẽ điều đáng quan tâm là biết danh xưng được áp dụng cho các thiên thần lửa có phần việc là chăm nom những ngọn lửa mà về sau sẽ hủy diệt thể nguyên nhân. Chúng ta cần nhớ rằng chính sự bùng lên của lửa tiềm ẩn của vật chất và sự dung nhập của nó với hai ngọn lửa khác gây ra sự hủy diệt. Những hành khí và thiên thần này được gọi là Agnisuryan, và trong [Page 68] tổng thể của chúng, chúng là các tinh túy lửa của Bồ đề, vì vậy biểu hiện thấp nhất của chúng là trên cõi thứ sáu, cõi cảm dục.

Further information concerning these deva lives will be found further on in the Treatise, where they are dealt with at some length.

Thông tin thêm về các sự sống thiên thần này sẽ được tìm thấy ở phần sau của Luận thuyết, nơi chúng được bàn đến khá dài.

S1S6

DIVISION B - THE PERSONALITY RAY AND FIRE BY FRICTION — PHÂN ĐOẠN B - CUNG PHÀM NGÃ VÀ LỬA MA SÁT

I. The work of the three rays

I. Công việc của ba cung

1. The personality ray.

1. Cung phàm ngã.

2. The Egoic ray.

2. Cung chân ngã.

3. The monadic ray.

3. Cung chân thần.

II. The personality ray and the permanent atom.

II. Cung phàm ngã và nguyên tử trường tồn.

III. The personality ray and karma,

III. Cung phàm ngã và nghiệp quả,

I. THE WORK OF THE THREE RAYS — I. CÔNG VIỆC CỦA BA CUNG

[Page 69] We here touch upon a matter of wide general interest yet which is withal very little comprehended. I refer to the subject of the permanent atoms. (26) Each body or form wherein Spirit functions has, for its focal point on each plane, an atom composed of matter of the atomic subplane of each plane. This serves as a nucleus for the distribution of force, for the conservation of faculty, for the assimilation of experience, and for the preservation [Page 70] of memory. These atoms are in direct connection with one or other of the three Great rays in connection with the microcosm:—

[Page 69] Ở đây chúng ta chạm đến một vấn đề được quan tâm rộng rãi nói chung nhưng lại rất ít được thấu hiểu. Tôi muốn nói đến đề tài các nguyên tử trường tồn. (26) Mỗi thể hay hình tướng mà trong đó tinh thần vận hành đều có, làm tiêu điểm của nó trên mỗi cõi, một nguyên tử được cấu tạo bằng vật chất của cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi. Nguyên tử này làm hạt nhân cho sự phân phối mãnh lực, cho sự bảo tồn năng lực, cho sự đồng hoá kinh nghiệm, và cho sự gìn giữ [Page 70] ký ức. Những nguyên tử này có liên hệ trực tiếp với một hay một khác trong ba cung lớn liên quan đến tiểu thiên địa:—

(26) Permanent Atom. An appropriated point of atomic matter. A tiny centre of force which forms the central factor and the attractive agency around which the sheaths of the incarnating Monad are built. These are strung like pearls upon the sutratma, or thread.

(26) Nguyên tử trường tồn. Một điểm vật chất nguyên tử được chiếm dụng. Một trung tâm mãnh lực cực nhỏ tạo thành yếu tố trung tâm và tác nhân hấp dẫn quanh đó các vỏ bọc của Chân thần đang lâm phàm được xây dựng. Chúng được xâu như những hạt ngọc trên sutratma, hay sợi dây.

Ray. A stream of force or an emanation. The solar Logos, or the Macrocosm, manifests through three major rays and four minor rays. The Monad or microcosm likewise manifests through three rays as mentioned in the text above. All rays express a peculiar and specialised type of force.

Cung. Một dòng mãnh lực hay một sự phát xạ. Thái dương Thượng đế, hay Đại thiên địa, biểu lộ qua ba cung chính và bốn cung phụ. Chân thần hay tiểu thiên địa cũng biểu lộ qua ba cung như đã nêu trong đoạn trên. Mọi cung đều biểu lộ một loại mãnh lực đặc thù và chuyên biệt.

Triad. This is literally Atma-buddhi-manas, the expression of the Monad, just as the personality is the expression of the Ego. The Monad expresses itself through the Triad, and in its lowest or third Aspect forms the Egoic or Causal body, the infant or germinal Ego. Similarly, the Ego expresses itself through the threefold lower man, mental, emotional, and etheric (these being the reflection of the higher triad) and these three give rise to the dense physical manifestation. (back)

Tam nguyên tinh thần. Theo nghĩa đen, đây là Atma-buddhi-manas, sự biểu lộ của chân thần, cũng như phàm ngã là sự biểu lộ của chân ngã. Chân thần biểu lộ qua Tam nguyên tinh thần, và trong Phương diện thấp nhất hay thứ ba của nó tạo thành thể Chân ngã hay thể nguyên nhân, chân ngã sơ sinh hay mầm mống. Tương tự như vậy, chân ngã biểu lộ qua phàm nhân tam phân thấp, trí tuệ, cảm xúc và dĩ thái (ba điều này là sự phản chiếu của tam nguyên cao hơn) và ba điều này làm phát sinh biểu hiện hồng trần đậm đặc. (back)

a. The Monadic Ray, the synthetic ray of the microcosm.

a. Cung Chân thần, cung tổng hợp của tiểu thiên địa.

b. The Egoic Ray.

b. Cung Chân ngã.

c. The Personality Ray.

c. Cung Phàm ngã.

of the higher Triad) and these three give rise to the dense physical manifestation.

của Tam nguyên tinh thần cao hơn) và ba điều này làm phát sinh biểu hiện hồng trần đậm đặc.

Each of these rays has a connection with one or other of the permanent atoms in the lower threefold man, and has a direct action upon the spirillae (27) found within the atom. We have noted in “Letters on Occult Meditation” that the atoms of the lower threefold man underwent a twofold process:—

Mỗi cung này có liên hệ với một hay một khác trong các nguyên tử trường tồn trong con người tam phân thấp, và có tác động trực tiếp lên các loa tuyến (27) được tìm thấy bên trong nguyên tử. Chúng ta đã lưu ý trong “Letters on Occult Meditation” rằng các nguyên tử của con người tam phân thấp đã trải qua một tiến trình nhị phân:—

(27) Spirilla: “In order to examine the construction of the atom, a space is artificially made, then, if an opening be made in the wall thus constructed, the surrounding force flows in, and three whorls immediately appear, surrounding the “hole” with their triple spiral of two and a half coils, and returning to their origin by a spiral within the atom; these are at once followed by seven finer whorls, which following the spiral of the first three on the outer surface and returning to their origin by a spiral within that, flowing in the opposite direction form a caduceus with the first three. Each of the three coarser whorls, flattened out, makes a closed circle; each of the seven finer ones, similarly flattened out, makes a closed circle. The forces which flow in them, again, come from “outside,” from a fourth-dimensional space. Each of the finer whorls is formed of seven yet finer ones, set successively at right angles to each other, each finer than its predecessor; these we call spirillae.

(27) Loa tuyến: “Để khảo sát cấu tạo của nguyên tử, người ta tạo ra một khoảng không một cách nhân tạo; rồi nếu tạo một lỗ mở trong bức tường được dựng nên như thế, mãnh lực chung quanh sẽ tràn vào, và ba vòng xoáy lập tức xuất hiện, bao quanh ‘lỗ’ bằng đường xoắn ốc tam phân của chúng gồm hai vòng rưỡi, rồi trở về điểm xuất phát bằng một đường xoắn ốc bên trong nguyên tử; ngay sau đó là bảy vòng xoáy mịn hơn, đi theo đường xoắn ốc của ba vòng đầu trên bề mặt ngoài và trở về điểm xuất phát bằng một đường xoắn ốc bên trong đường kia, chảy theo hướng ngược lại, tạo thành một caduceus với ba vòng đầu. Mỗi một trong ba vòng xoáy thô hơn, khi được trải phẳng ra, tạo thành một vòng tròn khép kín; mỗi một trong bảy vòng xoáy mịn hơn cũng vậy, khi được trải phẳng ra, tạo thành một vòng tròn khép kín. Các mãnh lực chảy trong chúng, một lần nữa, đến từ ‘bên ngoài’, từ một không gian bốn chiều. Mỗi vòng xoáy mịn hơn lại được tạo thành từ bảy vòng còn mịn hơn nữa, được đặt nối tiếp nhau theo góc vuông, mỗi vòng mịn hơn vòng trước; chúng tôi gọi những vòng này là các loa tuyến.

“Each spirilla is animated by the life-force of a plane, and four are at present normally active, one for each round. Their activity in an individual may be prematurely forced by yoga practice.”—Occult Chemistry, p. 28. (back)

“Mỗi loa tuyến được làm sinh động bởi sinh lực của một cõi, và hiện nay bốn loa tuyến hoạt động bình thường, một cho mỗi cuộc tuần hoàn. Hoạt động của chúng trong một cá nhân có thể bị cưỡng bức phát triển sớm bằng việc thực hành yoga.”—Occult Chemistry, tr. 28. (back)

They were first vivified in rotation, and each held the light in ordered sequence until the lower triangle was entirely illumined.

Thoạt tiên, chúng được tiếp sinh lực theo vòng tuần tự, và mỗi cái giữ ánh sáng theo trình tự có trật tự cho đến khi tam giác thấp hoàn toàn được soi sáng.

Eventually transmutation took place, or (to word it otherwise) the polarisation eventually shifted into the three permanent atoms of the Triad, and out of the three permanent atoms of the lower triangle. The physical permanent atom is transcended and the polarisation becomes manasic or mental, the astral permanent atom is transcended and the polarisation becomes buddhic, while the mental unit is superseded by the permanent [Page 71] atom, of the fifth plane, the atmic. This is all brought about by the action of the three rays upon the atoms and upon the life within each atom. The relationship between these three rays and the permanent atoms might be summarised as follows:

Cuối cùng, sự chuyển hoá đã diễn ra, hay (nói cách khác) sự phân cực rốt cuộc đã chuyển vào ba Nguyên tử trường tồn của Tam nguyên tinh thần, và ra khỏi ba Nguyên tử trường tồn của tam giác thấp. Nguyên tử trường tồn hồng trần được vượt qua và sự phân cực trở thành manas hay trí tuệ, nguyên tử trường tồn cảm dục được vượt qua và sự phân cực trở thành Bồ đề, trong khi đơn vị hạ trí được thay thế bởi nguyên tử trường tồn [Page 71] của cõi thứ năm, tức atma. Tất cả điều này được mang lại bởi tác động của ba cung lên các nguyên tử và lên sự sống bên trong mỗi nguyên tử. Mối liên hệ giữa ba cung này và các Nguyên tử trường tồn có thể được tóm lược như sau:

The Personality Ray has direct action upon the physical permanent atom.

Cung phàm ngã tác động trực tiếp lên nguyên tử trường tồn hồng trần.

The Egoic Ray has a similar action upon the astral permanent atom.

Cung chân ngã có tác động tương tự lên nguyên tử trường tồn cảm dục.

The Monadic Ray has a close connection with the mental unit.

Cung chân thần có liên hệ mật thiết với đơn vị hạ trí.

The effect which they have is threefold, but is not simultaneous; they work ever, as do all things in Nature, in ordered cycles. The stimulation, for instance, that is the result of the action of the monadic Ray upon the mental unit is only felt when the aspirant treads the Path, or after he has taken the first Initiation. The action of the egoic Ray upon the astral permanent atom is felt as soon as the Ego can make good connection with the physical brain; when this is so the egoic ray is beginning to affect the atom powerfully and continuously; this occurs when a man is highly evolved and is nearing the Path. This threefold force is felt in the following way:

Hiệu quả mà chúng tạo ra là tam phân, nhưng không đồng thời; chúng luôn hoạt động, như mọi sự trong bản chất, theo các chu kỳ có trật tự. Chẳng hạn, sự kích thích là kết quả của tác động của cung chân thần lên đơn vị hạ trí chỉ được cảm nhận khi người chí nguyện bước trên Con Đường, hoặc sau khi y đã nhận lần điểm đạo thứ nhất. Tác động của cung chân ngã lên nguyên tử trường tồn cảm dục được cảm nhận ngay khi chân ngã có thể tạo được sự liên kết tốt với bộ não hồng trần; khi điều này xảy ra, cung chân ngã bắt đầu ảnh hưởng mạnh mẽ và liên tục lên nguyên tử ấy; điều này xảy ra khi một người đã tiến hoá cao và đang đến gần Con Đường. Mãnh lực tam phân này được cảm nhận theo cách sau:

First. It plays upon the wall of the atom as an external force and affects its rotary and vibratory action.

Thứ nhất. Nó tác động lên vách của nguyên tử như một mãnh lực bên ngoài và ảnh hưởng đến chuyển động quay và rung động của nó.

Second. It stimulates the inner fire of the atom and causes its light to shine with increasing brilliancy.

Thứ hai. Nó kích thích lửa bên trong nguyên tử và khiến ánh sáng của nó chiếu rạng ngày càng chói lọi hơn.

Third. It works upon the spirillae, and brings them all gradually into play.

Thứ ba. Nó tác động lên các loa tuyến, và dần dần đưa tất cả chúng vào hoạt động.

II. THE PERSONALITY RAY AND THE PERMANENT ATOM — II. CUNG PHÀM NGÃ VÀ NGUYÊN TỬ TRƯỜNG TỒN

The Personality Ray deals with the first four spirillae, and is the source of their stimulation. Note here the [Page 72] correspondence to the lower quaternary and its stimulation by the ego. The Egoic Ray concerns itself with the fifth spirilla and with the sixth, and is the cause of their emerging from latency and potentiality into power and activity. The Monadic Ray is the source of the stimulation of the seventh spirilla.

Cung Phàm ngã đề cập đến bốn loa tuyến đầu tiên, và là nguồn kích thích của chúng. Ở đây, hãy lưu ý sự [Page 72] tương ứng với bộ tứ thấp và sự kích thích của nó bởi chân ngã. Cung Chân ngã liên quan đến loa tuyến thứ năm và thứ sáu, và là nguyên nhân khiến chúng thoát khỏi trạng thái tiềm ẩn và tiềm năng để đi vào quyền năng và hoạt động. Cung Chân thần là nguồn kích thích loa tuyến thứ bảy.

There is great interest attached to this subject and wide reaches of thought and vast fields for investigation open up before the earnest student. This threefold action varies in point of time and sequence according to the ray itself upon which the Monad may be found; but the subject is too vast to be handled at this time.

Đề tài này rất đáng quan tâm, và những chân trời tư tưởng rộng lớn cùng những lĩnh vực khảo cứu bao la mở ra trước mắt đạo sinh tha thiết. Tác động tam phân này thay đổi về thời điểm và trình tự tùy theo chính cung mà chân thần được tìm thấy trên đó; nhưng đề tài này quá bao la để có thể bàn đến vào lúc này.

In looking at the matter from the standpoint of fire the idea may be grasped a little through the realisation that the latent fire of matter in the atom is brought into brilliance and usefulness by the action of the personality Ray which merges with this fire and stands in the same position to the permanent atom in the microcosm as FOHAT does on the cosmic plane. The fire is there hidden within the sphere (whether the sphere systemic or the sphere atomic) and the personality Ray in the one case, and Fohat in the other, acts as the force which brings latency into activity and potentiality into demonstrated power. This correspondence should be thought out with care and judgment. Just as Fohat has to do with active manifestation or objectivity, so the personality Ray has to do with the third, or activity aspect in the microcosm. The work of the third aspect logoic was the arranging of the matter of the system so that eventually it could be built into form through the power of the second aspect. Thus the correspondence works out. By life upon the physical plane (that life wherein the physical permanent atom has its full demonstration) the matter is arranged and separated that must eventually be built into the Temple of Solomon, the egoic body, through the agency of the egoic life, the second [Page 73] aspect. In the quarry of the personal life are the stones prepared for the great Temple. In existence upon the physical plane and in the objective personal life is that experience gained which demonstrates as faculty in the Ego. What is here suggested would richly repay our closest attention, and open up before us reaches of ideas, which should eventuate in a wiser comprehension, a sounder judgment, and a greater encouragement to action.

Khi xem xét vấn đề từ quan điểm của lửa, ý tưởng này có thể được nắm bắt phần nào qua sự chứng nghiệm rằng lửa tiềm ẩn của vật chất trong nguyên tử được đưa đến chỗ rực sáng và hữu dụng nhờ tác động của cung phàm ngã, cung này hòa nhập với lửa ấy và đứng trong cùng vị trí đối với nguyên tử trường tồn trong tiểu thiên địa như FOHAT đứng trên cõi vũ trụ. Lửa ấy ẩn kín bên trong khối cầu (dù là khối cầu hệ thống hay khối cầu nguyên tử), và cung phàm ngã trong trường hợp này, còn Fohat trong trường hợp kia, hoạt động như mãnh lực đưa cái tiềm ẩn vào hoạt động và cái tiềm năng vào quyền năng được biểu lộ. Sự tương ứng này cần được suy nghĩ với sự cẩn trọng và phân biện. Cũng như Fohat liên quan đến sự biểu hiện tích cực hay tính khách quan, thì cung phàm ngã liên quan đến phương diện thứ ba, hay phương diện hoạt động, trong tiểu thiên địa. Công việc của phương diện thứ ba Thượng đế là sắp xếp vật chất của hệ thống để cuối cùng nó có thể được xây dựng thành hình tướng nhờ quyền năng của phương diện thứ hai. Như vậy sự tương ứng được triển khai. Bằng sự sống trên cõi hồng trần (sự sống mà trong đó nguyên tử trường tồn hồng trần có sự biểu lộ trọn vẹn của nó), vật chất được sắp xếp và phân tách để cuối cùng phải được xây dựng thành Đền thờ Solomon, thể chân ngã, thông qua tác nhân của sự sống chân ngã, phương diện thứ hai [Page 73]. Trong mỏ đá của đời sống cá nhân, những phiến đá được chuẩn bị cho Đại Đền thờ. Trong sự tồn tại trên cõi hồng trần và trong đời sống cá nhân khách quan, kinh nghiệm được thu nhận, kinh nghiệm ấy biểu lộ thành năng lực trong chân ngã. Điều được gợi ra ở đây rất đáng để chúng ta chú tâm sát sao nhất, và mở ra trước mắt chúng ta những chân trời ý tưởng, những điều này sẽ dẫn đến sự thấu hiểu minh triết hơn, sự phán đoán vững chắc hơn, và sự khích lệ hành động lớn lao hơn.

III. THE PERSONALITY RAY AND KARMA — III. CUNG PHÀM NGÃ VÀ NGHIỆP QUẢ

It might be wise here to recapitulate a little so that in the refreshing of the memory may come the basis of further knowledge. We dealt first with the three fires of the system, macrocosmic and microcosmic, and having laid down certain hypotheses we passed to the consideration of the first of the fires, that which is inherent in matter. Having studied it somewhat in its threefold manifestation in the various parts of the system, including man, we took up the matter of the personality Ray and its relationship to this third fire. We must recall here that all that has been dealt with has been in relation to matter, and for the whole of this first section this thought must be borne carefully in mind.

Ở đây, có lẽ nên tóm lược lại đôi chút để trong sự làm mới ký ức có thể xuất hiện nền tảng cho tri thức sâu hơn. Trước hết, chúng ta đã bàn đến ba ngọn lửa của hệ thống, đại thiên địa và tiểu thiên địa, và sau khi đặt ra một số giả thuyết, chúng ta chuyển sang xem xét ngọn lửa thứ nhất, tức ngọn lửa vốn cố hữu trong vật chất. Sau khi nghiên cứu phần nào sự biểu hiện tam phân của nó trong các phần khác nhau của hệ thống, kể cả con người, chúng ta đã đề cập đến vấn đề cung phàm ngã và mối liên hệ của nó với ngọn lửa thứ ba này. Ở đây, chúng ta phải nhớ rằng tất cả những gì đã được bàn đến đều liên quan đến vật chất, và trong toàn bộ phần thứ nhất này, tư tưởng ấy phải được ghi nhớ cẩn thận.

In our second section we will consider all from the standpoint of mind, and in the final from the standpoint of the Divine Ray. Here we are dealing with what H. P. B. calls the primordial ray and its manifestations in matter. (See S. D., I, 108; II, 596.) All these Rays of Cosmic Mind, Primordial Activity, and Divine Love-Wisdom are but essential quality demonstrating through the agency of some one factor.

Trong phần thứ hai, chúng ta sẽ xem xét mọi sự từ quan điểm của trí tuệ, và trong phần cuối cùng từ quan điểm của cung thiêng liêng. Ở đây, chúng ta đang bàn đến điều mà H. P. B. gọi là cung nguyên sơ và các biểu hiện của nó trong vật chất. (Xem S. D., I, 108; II, 596.) Tất cả các Cung của Trí Tuệ Vũ Trụ, Hoạt Động Nguyên Sơ, và Bác Ái – Minh Triết thiêng liêng này chỉ là phẩm tính cốt yếu được biểu lộ thông qua tác nhân của một yếu tố nào đó.

The Primordial Ray is the quality of motion, demonstrating through matter.

Cung Nguyên sơ là phẩm tính của chuyển động, được biểu lộ qua vật chất.

[Page 74] The Ray of Mind is the quality of intelligent organisation, demonstrating through forms, which are the product of motion and matter.

[Page 74] Cung Trí Tuệ là phẩm tính của sự tổ chức thông minh, được biểu lộ qua các hình tướng, vốn là sản phẩm của chuyển động và vật chất.

The Ray of Love-Wisdom is the quality of basic motive that utilises the intelligent organisation of matter in motion to demonstrate in one synthetic whole the great Love aspect of the Logos. (S. D., I, 99, 108; II, 596.)

Cung Bác Ái – Minh Triết là phẩm tính của động cơ căn bản, động cơ này sử dụng sự tổ chức thông minh của vật chất đang chuyển động để biểu lộ trong một toàn thể tổng hợp duy nhất phương diện Bác Ái vĩ đại của Logos. (S. D., I, 99, 108; II, 596.)

This line of thought can be worked out also correspondingly in the Microcosm, and will show how individual man is engaged in the same type of work on a lesser scale as the solar Logos.

Dòng tư tưởng này cũng có thể được triển khai tương ứng trong Tiểu thiên địa, và sẽ cho thấy con người cá nhân đang tham gia cùng một loại công việc ở quy mô nhỏ hơn như Thái dương Thượng đế.

At this point in the treatise we are confining our attention to the Ray of Active Matter, or to that latent heat in substance which underlies its activity and is the cause of its motion. If we think with sincerity and with clarity we will see how closely therefore the Lipika Lords or the Lords of Karma are associated with this work. Three of Them are closely connected with Karma as it concerns one or other of the three great Rays, or the three FIRES, while the fourth Lipika Lord synthesizes the work of his three Brothers and attends to the uniform blending and merging of the three fires. On our planet, the Earth, They find Their points of contact through the three “Buddhas of Activity,” (30) (the correspondence should be noted here) and the fourth Kumara, the Lord of the World. Therefore, we arrive at the realisation that the personality Ray, in its relation to the fire of matter, is directly influenced and adjusted in its working by one of the Buddhas of Activity.

Tại điểm này trong bộ luận, chúng ta đang giới hạn sự chú ý vào Cung của Vật Chất Hoạt Động, hay vào nhiệt tiềm ẩn trong chất liệu, thứ làm nền cho hoạt động của nó và là nguyên nhân của chuyển động của nó. Nếu chúng ta suy nghĩ với sự chân thành và sáng tỏ, do đó chúng ta sẽ thấy các Đấng Lipika hay các Đấng Nghiệp Quả gắn bó mật thiết với công việc này đến mức nào. Ba Vị trong Các Ngài liên hệ chặt chẽ với nghiệp quả khi nó liên quan đến một hay một khác trong ba Cung lớn, hay ba NGỌN LỬA, trong khi Đấng Lipika thứ tư tổng hợp công việc của ba Huynh đệ của Ngài và chăm lo sự hòa trộn và hòa nhập đồng đều của ba ngọn lửa. Trên hành tinh của chúng ta, Trái Đất, Các Ngài tìm thấy những điểm tiếp xúc của Các Ngài thông qua ba “Đức Phật Hoạt Động,” (30) (sự tương ứng ở đây cần được lưu ý) và Kumara thứ tư, Đức Chúa Tể Thế Giới. Vì vậy, chúng ta đi đến sự chứng nghiệm rằng cung phàm ngã, trong mối liên hệ của nó với lửa của vật chất, được một trong các Đức Phật Hoạt Động trực tiếp ảnh hưởng và điều chỉnh trong hoạt động của nó.

(30) “Buddhas of Activity.” The ‘Pratyeka Buddhas.’ This is a degree which belongs exclusively to the Yogacharya School, yet it is only one of high intellectual development with no true spirituality....It is one of the three paths to Nirvana, and the lowest, in which a yogi—”without teacher and without saving others”—by the mere force of will and technical observances, attains to a kind of nominal Buddahood individually.”—Theosophical Glossary. (back)

(30) “Các Đức Phật Hoạt Động.” Các ‘Pratyeka Buddha.’ Đây là một cấp độ chỉ riêng Trường phái Yogacharya mới có, tuy nhiên đó chỉ là một sự phát triển trí tuệ cao mà không có tinh thần chân chính.... Đó là một trong ba con đường dẫn đến Niết Bàn, và là con đường thấp nhất, trong đó một yogi—“không có huấn sư và không cứu giúp người khác”—chỉ bằng mãnh lực của ý chí và các nghi thức kỹ thuật, đạt đến một loại Phật quả trên danh nghĩa một cách cá nhân.”—Theosophical Glossary. (trở lại)

[Page 75] The karma (31, 32, 33) of matter itself is an abstruse subject and has as yet scarcely been hinted at. It is nevertheless indissolubly mixed up with the karma of the individual. It involves a control of the evolution of the monadic essence, the elemental essence and of the atomic matter of the plane; it is concerned with the development of the four spirillae, with their activity, with their attachment to forms when atomic, and with the development of the inner latent heat and its gradual fiery increase until we have within the atom a repetition of what is seen within the causal body: the destruction of the periphery of the atom by the means of burning. It deals with the subject of the building of matter into form by the interaction of the two rays, the Divine and the Primordial, producing thereby that fire by friction which tends to life and fusing.

[Page 75] Nghiệp quả (31, 32, 33) của chính vật chất là một đề tài thâm áo và cho đến nay hầu như chưa được gợi ý đến. Tuy nhiên, nó gắn bó bất khả phân ly với nghiệp quả của cá nhân. Nó bao hàm sự kiểm soát tiến hoá của tinh chất chân thần, tinh chất hành khí và vật chất nguyên tử của cõi; nó liên quan đến sự phát triển của bốn loa tuyến, hoạt động của chúng, sự gắn kết của chúng với các hình tướng khi ở trạng thái nguyên tử, và sự phát triển của nhiệt tiềm ẩn bên trong cùng sự gia tăng rực lửa dần dần của nó cho đến khi chúng ta có bên trong nguyên tử một sự lặp lại của điều được thấy bên trong thể nguyên nhân: sự phá hủy chu vi của nguyên tử bằng phương tiện đốt cháy. Nó bàn đến chủ đề xây dựng vật chất thành hình tướng bằng sự tương tác của hai cung, cung Thiêng liêng và cung Nguyên sơ, nhờ đó tạo ra lửa ma sát vốn có khuynh hướng hướng đến sự sống và sự dung hợp.

(31) “From the view taken of Karma as I have done it, you will see that no plane of the highest spirituality, be that the plane of the nirvanees, is outside the karmic wheel and when it is said in the Sanskrit writings and even in the Bhagavat Gita that men cross the karmic ocean, it must be understood with some allowance. The entities that have now succeeded in going outside the karmic wheel, have done so, only if that wheel be taken as the one that turns now. The cosmos is not going in one groove all the days of Brahma, but it is going on a higher and higher status as it fulfils its mission. Those who have attained unto a rest in a state of spirituality not reachable now, will therefore in a future day come within the action of the wheel, with perhaps a punishment for the great duties neglected for long ages.”—Some Thoughts on the Gita, p. 40.

(31) “Từ quan điểm về Karma như tôi đã trình bày, bạn sẽ thấy rằng không một cõi nào của tinh thần cao nhất, dù đó là cõi của các nirvanees, lại ở ngoài bánh xe nghiệp quả, và khi trong các trước tác Sanskrit và ngay cả trong Bhagavat Gita có nói rằng con người vượt qua đại dương nghiệp quả, thì điều đó phải được hiểu với một mức độ dè dặt nào đó. Những thực thể hiện nay đã thành công trong việc đi ra ngoài bánh xe nghiệp quả chỉ làm được như vậy nếu bánh xe ấy được hiểu là bánh xe hiện đang quay. Vũ trụ không đi trong một rãnh duy nhất suốt mọi ngày của Brahma, mà nó tiến lên những trạng thái ngày càng cao hơn khi nó hoàn thành sứ mệnh của mình. Vì vậy, những ai đã đạt đến sự an nghỉ trong một trạng thái tinh thần hiện nay chưa thể đạt tới, thì trong một ngày tương lai sẽ lại đi vào dưới tác động của bánh xe ấy, có lẽ kèm theo một sự trừng phạt vì những bổn phận lớn lao đã bị bỏ bê trong nhiều thời đại.”—Some Thoughts on the Gita, tr. 40.

The karma of form is likewise a vast subject, too [Page 76] involved for average comprehension but a factor of real importance which should not be overlooked in connection with the evolution of a world, a synthesis of worlds, or of a system when viewed from higher levels. Everything is, in its totality, the result of action taken by cosmic Essences and Entities in earlier solar systems, which is working out through the individual atoms, and through those congeries of atoms which we call forms. The effect of the personality Ray upon the internal fires is therefore, in effect, the result of the influence of the planetary Logos of whatever ray is implicated, as He works out that portion of Karma which falls to His share in any one cycle, greater or lesser. He thus brings about and eventually transmutes, the effects of causes which He set in motion earlier in relation to His six Brothers, the other planetary Logoi. We get an illustrative parallel in the effect which one individual will have upon another in worldly contact, in moulding and influencing, in stimulating or retarding. We have to remember that all fundamental influence and effects are felt on the astral plane and work thence through the etheric to the dense physical thereby bringing matter under its sphere of influence, yet not itself originating on the physical plane.

Nghiệp quả của hình tướng cũng là một đề tài bao la, quá [Page 76] phức tạp đối với sự thấu hiểu trung bình, nhưng là một yếu tố thực sự quan trọng không nên bị bỏ qua khi liên hệ với sự tiến hoá của một thế giới, một tổng hợp các thế giới, hay một hệ thống khi được nhìn từ các cấp độ cao hơn. Mọi sự, trong tính toàn thể của nó, đều là kết quả của hành động do các Tinh Chất và các Thực Thể vũ trụ thực hiện trong các hệ mặt trời trước đây, và hiện đang được triển khai qua các nguyên tử cá biệt, cũng như qua những tập hợp nguyên tử mà chúng ta gọi là các hình tướng. Vì vậy, hiệu quả của cung phàm ngã lên các ngọn lửa bên trong, trên thực tế, là kết quả của ảnh hưởng của Hành Tinh Thượng đế thuộc bất kỳ cung nào có liên can, khi Ngài triển khai phần Nghiệp Quả thuộc về phần của Ngài trong bất kỳ chu kỳ nào, lớn hay nhỏ. Như thế, Ngài mang lại và cuối cùng chuyển hoá các hiệu quả của những nguyên nhân mà trước đây Ngài đã khởi động trong mối liên hệ với sáu Huynh đệ của Ngài, các Hành Tinh Thượng đế khác. Chúng ta có một sự tương đồng minh họa trong hiệu quả mà một cá nhân sẽ có lên một cá nhân khác trong tiếp xúc thế gian, trong việc uốn nắn và ảnh hưởng, trong việc kích thích hay làm chậm lại. Chúng ta phải nhớ rằng mọi ảnh hưởng và hiệu quả căn bản đều được cảm nhận trên cõi cảm dục và từ đó hoạt động qua dĩ thái đến cõi hồng trần đậm đặc, nhờ đó đưa vật chất vào trong phạm vi ảnh hưởng của nó, tuy bản thân nó không khởi nguồn trên cõi hồng trần.