S1S7
DIVISION C - THE ETHERIC BODY AND PRANA — PHÂN ĐOẠN C - THỂ DĨ THÁI VÀ PRANA
(34)
(34)
(34) “Prana, or the vital principle, is the special relation of the Atma with a certain form of matter which by the relation of Atma organises and builds up as a means of having experience. This special relation constitutes the individual Prana in the individual body. The cosmic all-pervading Prana is not Prana in the gross sense, but is a name for the Brahman as the author of the individual Prana....All beings, whether Devatas, men or animals, exist only so long as the Prana is within the body. It is the life duration of all....Prana, or vitality, is the common function of the mind and all the senses.”—Serpent Power, pp. 94, 95. (back)
(34) “Prana, hay nguyên khí sinh lực, là mối liên hệ đặc biệt của Atma với một dạng vật chất nào đó mà nhờ mối liên hệ của Atma, nó tổ chức và xây dựng lên như một phương tiện để có kinh nghiệm. Mối liên hệ đặc biệt này cấu thành prana cá nhân trong thể cá nhân. Prana vũ trụ bao trùm khắp nơi không phải là prana theo nghĩa thô trược, mà là một danh xưng dành cho Brahman như tác giả của prana cá nhân....Mọi hữu thể, dù là Devata, con người hay động vật, chỉ tồn tại chừng nào prana còn ở trong thể. Nó là thời lượng sự sống của tất cả....Prana, hay sinh lực, là chức năng chung của trí tuệ và mọi giác quan.”—Serpent Power, tr. 94, 95. (trở lại)
I. The nature of the etheric body.
I. Bản chất của thể dĩ thái.
1. Its purpose and description.
1. Mục đích và mô tả của nó.
2. Eight statements.
2. Tám mệnh đề.
II. The nature of prana.
II. Bản chất của prana.
1. Solar prana.
1. Prana thái dương.
2. Planetary prana.
2. Prana hành tinh.
3. The prana of forms.
3. Prana của các hình tướng.
III. The function of the etheric body.
III. Chức năng của thể dĩ thái.
1. It is the receiver of prana.
1. Nó là bộ tiếp nhận prana.
2. It is the assimilator of prana.
2. Nó là bộ đồng hoá prana.
3. It is the transmitter of prana.
3. Nó là bộ truyền dẫn prana.
4. Disorders of the etheric body.
4. Những rối loạn của thể dĩ thái.
IV. Macrocosmic and microcosmic ethers.
IV. Các dĩ thái đại thiên địa và tiểu thiên địa.
1. The planetary Logos and the ethers.
1. Hành Tinh Thượng đế và các dĩ thái.
2. Cosmic and systemic ethers.
2. Các dĩ thái vũ trụ và hệ thống.
3. Protective purpose of etheric body.
3. Mục đích bảo vệ của thể dĩ thái.
V. Death and the etheric body.
V. Cái chết và thể dĩ thái.
1. Microcosmic death.
1. Cái chết tiểu thiên địa.
2. Macrocosmic pralaya.
2. Giai kỳ qui nguyên đại thiên địa.
I. THE NATURE OF THE ETHERIC BODY — I. BẢN CHẤT CỦA THỂ DĨ THÁI
[Page 77] In our consideration of the internal fires of the system we shall find much of very real interest to the coming [Page 78] generation of thinkers for three main reasons, which might be enumerated as follows:
[Page 77] Trong khi xem xét các ngọn lửa bên trong của hệ thống, chúng ta sẽ thấy nhiều điều thực sự rất đáng quan tâm đối với thế hệ [Page 78] các nhà tư tưởng sắp đến vì ba lý do chính, có thể được liệt kê như sau:
1. Its Purpose and Description — 1. Mục đích và Mô tả của nó
First. In the study of the etheric body lies hid (for scientists and those of the medical profession) a fuller comprehension of the laws of matter and the laws of health. The word health has become too localised in the past, and its meaning confined to the sanity of the body corporeal, to the co-operative action of the atoms of the physical body of man, and to the full expression of the powers of the physical elemental. In days to come it will be realised that the health of man is dependent upon the health of all allied evolutions, and upon the co-operative action and full expression of the matter of the planet and of the planetary elemental who is himself a composite manifestation of the physical elementals of all manifested nature.
Thứ nhất. Trong việc nghiên cứu thể dĩ thái, có ẩn giấu (đối với các nhà khoa học và những người trong ngành y) một sự thấu hiểu đầy đủ hơn về các định luật của vật chất và các định luật của sức khỏe. Từ ngữ sức khỏe trong quá khứ đã trở nên quá cục bộ hóa, và ý nghĩa của nó bị giới hạn vào sự lành mạnh của thể xác vật lý, vào hoạt động hợp tác của các nguyên tử trong thể xác hồng trần của con người, và vào sự biểu lộ trọn vẹn các quyền năng của tinh linh thể xác. Trong những ngày sắp đến, người ta sẽ chứng nghiệm rằng sức khỏe của con người tùy thuộc vào sức khỏe của mọi tiến hoá liên hệ, và vào hoạt động hợp tác cùng sự biểu lộ trọn vẹn của vật chất của hành tinh và của tinh linh linh địa cầu, vốn chính là một biểu hiện tổng hợp của các tinh linh thể xác của toàn bộ bản chất biểu hiện.
Second. In the study of the etheric body and prana lies the revelation of the effects of those rays of the sun which (for lack of better expression), we will call “solar pranic emanations.” These solar pranic emanations are the produced effect of the central heat of the sun approaching other bodies within the solar system by one of the three main channels of contact, and producing on the bodies then contacted certain effects differing somewhat from those produced by the other emanations. These effects might be considered as definitely stimulating and constructive, and (through their essential quality) as producing conditions that further the growth of cellular matter, and concern its adjustment to environing conditions; they concern likewise the internal health (demonstrating as the heat of the atom and its consequent activity) and the uniform evolution of the form of which that particular atom of matter forms a constituent part. Emanative prana does little in connection with [Page 79] form building; that is not its province, but it conserves the form through the preservation of the health of its component parts. Other rays of the sun act differently, upon the forms and upon their substance. Some perform the work of the Destroyer of forms, and others carry on the work of cohering and of attracting; the work of the Destroyer and of the Preserver is carried on under the Law of Attraction and Repulsion. Some rays definitely produce accelerated motion, others produce retardation. The ones we are dealing with here—pranic solar emanations—work within the four ethers, that matter which (though physical) is not as yet objectively visible to the eye of man. They are the basis of all physical plane life considered solely in connection with the life of the physical plane atoms of matter, their inherent heat and their rotary motion. These emanations are the basis of that “fire by friction” which demonstrates in the activity of matter.
Thứ hai. Trong việc nghiên cứu thể dĩ thái và prana có sự mặc khải về các hiệu quả của những tia của mặt trời mà (vì thiếu một cách diễn đạt tốt hơn), chúng ta sẽ gọi là “các phát xạ prana thái dương.” Các phát xạ prana thái dương này là hiệu quả được tạo ra bởi nhiệt trung tâm của mặt trời khi tiếp cận các thể khác trong hệ mặt trời qua một trong ba kênh tiếp xúc chính, và tạo ra trên các thể được tiếp xúc những hiệu quả phần nào khác với những hiệu quả do các phát xạ khác tạo ra. Những hiệu quả này có thể được xem là có tính kích thích và kiến tạo rõ rệt, và (qua phẩm tính cốt yếu của chúng) như tạo ra những điều kiện thúc đẩy sự tăng trưởng của vật chất tế bào, và liên quan đến sự điều chỉnh của nó đối với các điều kiện môi trường xung quanh; chúng cũng liên quan đến sức khỏe nội tại (biểu lộ như nhiệt của nguyên tử và hoạt động kéo theo của nó) và sự tiến hoá đồng đều của hình tướng mà nguyên tử vật chất đặc thù ấy tạo thành một phần cấu thành. Prana phát xạ ít làm việc liên quan đến [Page 79] việc xây dựng hình tướng; đó không phải là phạm vi của nó, nhưng nó bảo tồn hình tướng qua việc duy trì sức khỏe của các phần cấu thành của nó. Những tia khác của mặt trời tác động khác đi lên các hình tướng và lên chất liệu của chúng. Một số thực hiện công việc của Đấng Hủy Diệt các hình tướng, và những tia khác tiếp tục công việc kết dính và thu hút; công việc của Đấng Hủy Diệt và của Đấng Bảo Tồn được tiến hành dưới Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi. Một số tia rõ rệt tạo ra chuyển động gia tốc, những tia khác tạo ra sự trì hoãn. Những tia mà ở đây chúng ta đang bàn đến—các phát xạ thái dương prana—hoạt động bên trong bốn dĩ thái, tức loại vật chất mà (dù là hồng trần) vẫn chưa hiện rõ khách quan trước mắt người. Chúng là nền tảng của toàn bộ sự sống cõi hồng trần nếu chỉ xét trong mối liên hệ với sự sống của các nguyên tử vật chất của cõi hồng trần, nhiệt cố hữu của chúng và chuyển động quay của chúng. Các phát xạ này là nền tảng của “lửa ma sát” biểu lộ trong hoạt động của vật chất.
Finally, in the study of the etheric body and prana comes comprehension of the method of logoic manifestation, and therefore much of interest to the metaphysician, and all abstract thinkers. The etheric body of man holds hid the secret of his objectivity. It has its correspondence on the archetypal plane,—the plane we call that of the divine manifestation, the first plane of our solar system, the plane Adi. The matter of that highest plane is called often the “sea of fire” and it is the root of the akasha, the term applied to the substance of the second plane of manifestation. Let us trace the analogy a little more in detail, for in its just apprehension will be found much of illumination and much that will serve to elucidate problems both macrocosmic and microcosmic. We will begin with man and his etheric body.
Sau cùng, trong việc nghiên cứu thể dĩ thái và prana xuất hiện sự thấu hiểu về phương pháp biểu hiện Thượng đế, và do đó có nhiều điều đáng quan tâm đối với nhà siêu hình học và mọi nhà tư tưởng trừu tượng. Thể dĩ thái của con người ẩn giữ bí mật về tính khách quan của y. Nó có sự tương ứng của nó trên cõi nguyên mẫu,—cõi mà chúng ta gọi là cõi của sự biểu hiện thiêng liêng, cõi thứ nhất của hệ mặt trời chúng ta, cõi Adi. Vật chất của cõi cao nhất ấy thường được gọi là “biển lửa” và là cội rễ của akasha, thuật ngữ được áp dụng cho chất liệu của cõi biểu hiện thứ hai. Chúng ta hãy lần theo sự tương đồng này chi tiết hơn một chút, vì trong sự nắm bắt đúng đắn về nó sẽ tìm thấy nhiều sự soi sáng và nhiều điều sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề cả đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa. Chúng ta sẽ bắt đầu với con người và thể dĩ thái của y.
The etheric body has been described as a network, permeated with fire, or as a web, animated with golden light. It is spoken of in the Bible as the “golden bowl.” [Page 80] It is a composition of that matter of the physical plane which we call etheric, and its shape is brought about by the fine interlacing strands of this matter being built by the action of the lesser Builders into the form or mould upon which later the dense physical body can be moulded. Under the Law of Attraction, the denser matter of the physical plane is made to cohere to this vitalised form, and is gradually built up around it, and within it, until the interpenetration is so complete that the two forms make but one unit; the pranic emanations of the etheric body itself play upon the dense physical body in the same manner as the pranic emanations of the sun play upon the etheric body. It is all one vast system of transmission and of interdependence within the system. All receive in order to give, and to pass on to that which is lesser or not so evolved. Upon every plane this process can be seen.
Thể dĩ thái đã được mô tả như một mạng lưới thấm đẫm lửa, hay như một tấm lưới được làm sinh động bởi ánh sáng vàng kim. Trong Kinh Thánh, nó được nói đến như “chiếc bát vàng.” [Page 80] Nó là một cấu hợp của loại vật chất của cõi hồng trần mà chúng ta gọi là dĩ thái, và hình dạng của nó được tạo ra bởi những sợi mảnh đan xen của loại vật chất này được các vị tiểu kiến tạo xây dựng thành hình tướng hay khuôn mẫu mà về sau thể xác hồng trần đậm đặc có thể được nắn theo khuôn. Dưới Định luật Hấp Dẫn, vật chất đậm đặc hơn của cõi hồng trần được làm cho kết dính vào hình tướng đã được tiếp sinh lực này, và dần dần được xây dựng quanh nó và bên trong nó, cho đến khi sự xuyên thấm lẫn nhau hoàn toàn đến mức hai hình tướng chỉ tạo thành một đơn vị; các phát xạ prana của chính thể dĩ thái tác động lên thể xác hồng trần đậm đặc theo cùng cách như các phát xạ prana của mặt trời tác động lên thể dĩ thái. Tất cả chỉ là một hệ thống truyền dẫn và tương thuộc bao la bên trong hệ thống. Mọi sự đều nhận để cho đi, và để chuyển tiếp đến cái thấp hơn hay chưa tiến hoá bằng. Trên mọi cõi, tiến trình này đều có thể được thấy.
Thus the etheric body forms the archetypal plane in relation to the dense physical body. The thinker on his own plane stands, in relation to the physical, as the Logos to His system. In the synthesis of thought it might be expressed thus: The thinker on the astral plane, the plane of desire and of necessity, stands to the physical body as the Logos on the cosmic astral plane stands to His system.
Như vậy, thể dĩ thái tạo thành cõi nguyên mẫu trong mối liên hệ với thể xác hồng trần đậm đặc. Thức giả trên cõi riêng của y đứng, trong mối liên hệ với cõi hồng trần, như Logos đối với hệ thống của Ngài. Trong sự tổng hợp của tư tưởng, điều này có thể được diễn đạt như sau: thức giả trên cõi cảm dục, cõi của dục vọng và nhu cầu, đứng đối với thể xác hồng trần như Logos trên cõi cảm dục vũ trụ đứng đối với hệ thống của Ngài.
As we continue the study we will work out the correspondence in the cosmos, the system, and in the three worlds, for we need to remember that the analogy must be perfect.
Khi tiếp tục nghiên cứu, chúng ta sẽ triển khai sự tương ứng trong vũ trụ, trong hệ thống, và trong ba cõi thấp, vì chúng ta cần nhớ rằng sự tương đồng phải là hoàn hảo.
1. Man, the Microcosm, the manifesting Monad, or One.
1. Con người, Tiểu thiên địa, chân thần đang biểu hiện, hay Đấng Duy Nhất.
2. The Heavenly Man, the planetary Logos, or the manifesting group.
2. Đấng Thiên Nhân, Hành Tinh Thượng đế, hay nhóm đang biểu hiện.
3. The Grand Man of the Heavens, the Macrocosm, the solar Logos, the manifestation of all groups and of all evolutions within His Body, the solar system.
3. Đại Nhân của Thiên Giới, Đại thiên địa, Thái dương Thượng đế, sự biểu hiện của mọi nhóm và mọi tiến hoá bên trong Thể của Ngài, tức hệ mặt trời.
[Page 81] All these bodies—the body of a man, a planetary Logos, and a solar Logos—are the product of desire originating on the planes of abstract mind, whether cosmic, systemic, or mind in the three worlds, whether cosmic desire-mind or human desire-mind, and all their bodies are “Sons of Necessity,” as H. P. B. so aptly expressed it. (S. D., I, 74), (36)
[Page 81] Tất cả các thể này—thể của một con người, của một Hành Tinh Thượng đế, và của một Thái dương Thượng đế—đều là sản phẩm của dục vọng khởi nguồn trên các cõi trí trừu tượng, dù là vũ trụ, hệ thống, hay trí tuệ trong ba cõi thấp, dù là trí-cảm vũ trụ hay trí-cảm nhân loại, và tất cả các thể của chúng đều là “Các Con của Nhu Cầu,” như H. P. B. đã diễn đạt rất xác đáng. (S. D., I, 74), (36)
(36) “This whole solar system being conceived of as one vast mechanism, with an exquisite adjustment of its parts in all major details, is only the physical expression of Vishnu, or the ethereal basic substance, as we may understand the word for the present. All the harmonies observable in the manifested cosmos are only the result of the harmoniously working energies that resolve ether into the expression that we recognise. All planets, worlds, human beings, etc., are only parts of the body, each functioning in subordination to the law which governs the whole. The evolution, preservation and destruction of the world is therefore one vast process called Yagna, which takes place in the body of Yagna Purusha, or the psychical body of nature. Humanity taken collectively is the heart and brain of this Purusha and therefore all the Karma generated by humanity, physical, mental, or spiritual, determines mainly the character of this Yagnic process....Sri Krishna therefore calls the process the Yagnic life that he has been giving out to Arjuna as Yoga (1st Sloka 4th Chr). In fact, Yoga and Yagna are very closely allied and even inseparable, though at the present day people seem to disconnect the two. Yoga derived from the root Yuj to join means an act of joining. Now as the heart is the great centre in man, likewise the Yogee of the heart keeps his central position in the universe and hence his individuality. The individuality or the Higher Manas being the pivot of the human constitution or the centre on which two hemispheres of higher and lower existence turn as I have already said, the Yogee of the heart has a heavenly dome above and earthly abyss below and his yoga becomes twofold as a consequence. He joins himself on to the thing above in dhyana and the thing below in action. The word yagna derived from the root Yaj—to serve also means a twofold service, service done to the thing above through service done unto its expression the thing below.”—Some Thoughts on the Gita, pp. 18, 134. (back)
(36) “Toàn thể hệ mặt trời này, được quan niệm như một bộ máy bao la duy nhất, với sự điều chỉnh tinh vi của các bộ phận trong mọi chi tiết chính yếu, chỉ là biểu hiện hồng trần của Vishnu, hay chất liệu căn bản dĩ thái, theo cách chúng ta có thể hiểu từ ngữ ấy vào lúc này. Mọi sự hài hòa có thể quan sát được trong vũ trụ biểu hiện chỉ là kết quả của những năng lượng vận hành hài hòa, những năng lượng phân giải dĩ thái thành biểu hiện mà chúng ta nhận biết. Mọi hành tinh, thế giới, con người, v.v., chỉ là những phần của thể, mỗi phần hoạt động trong sự lệ thuộc vào định luật chi phối toàn thể. Do đó, sự tiến hoá, bảo tồn và hủy diệt của thế giới là một tiến trình bao la duy nhất gọi là Yagna, diễn ra trong thể thông linh của Purusha Yagna, hay thể thông linh của bản chất. Nhân loại, xét như một toàn thể, là tim và não của Purusha này, và vì thế mọi nghiệp quả do nhân loại tạo ra, dù hồng trần, trí tuệ hay tinh thần, chủ yếu quyết định đặc tính của tiến trình Yagna này....Vì vậy, Sri Krishna gọi tiến trình ấy là sự sống Yagna mà Ngài đã truyền đạt cho Arjuna như Yoga (Sloka thứ 1, Chương 4). Thật vậy, Yoga và Yagna liên hệ rất mật thiết với nhau, thậm chí không thể tách rời, mặc dù ngày nay người ta dường như tách rời hai điều ấy. Yoga, bắt nguồn từ gốc Yuj, nghĩa là nối kết, có nghĩa là một hành vi nối kết. Giờ đây, cũng như tim là trung tâm lớn trong con người, thì Yogi của tim cũng giữ vị trí trung tâm của mình trong vũ trụ, và do đó giữ được tính cá thể của mình. Tính cá thể hay Higher Manas, là trục xoay của cơ cấu con người hay trung tâm mà trên đó hai bán cầu của sự tồn tại cao và thấp xoay chuyển, như tôi đã nói, nên Yogi của tim có một vòm trời thiên thượng ở trên và một vực thẳm trần thế ở dưới, và vì vậy yoga của y trở thành nhị phân. Y nối kết chính mình với điều ở trên trong dhyana và với điều ở dưới trong hành động. Từ yagna, bắt nguồn từ gốc Yaj—phụng sự, cũng có nghĩa là một sự phụng sự nhị phân, sự phụng sự dâng lên điều ở trên thông qua sự phụng sự đối với biểu hiện của nó là điều ở dưới.”—Một Vài Tư Tưởng về Gita, tr. 18, 134. (trở lại)
2. Eight Statements. — 2. Tám Mệnh Đề.
It is with the etheric bodies of all we are dealing, and with their vivification by prana (whether cosmic, solar, planetary or human), with the organs of reception and with the basis of emanations. Here, therefore, we can arrive at certain dicta anent the etheric body which for purposes of clarity might well be enumerated:
Điều chúng ta đang bàn đến là các thể dĩ thái của mọi hữu thể, và sự tiếp sinh lực cho chúng bằng prana (dù là vũ trụ, thái dương, hành tinh hay nhân loại), các cơ quan tiếp nhận và nền tảng của các phát xạ. Vì vậy, ở đây chúng ta có thể đi đến một số mệnh đề liên quan đến thể dĩ thái mà vì mục đích minh bạch, rất nên được liệt kê ra:
First. The etheric body is the mould of the physical body.
Thứ nhất. Thể dĩ thái là khuôn mẫu của thể xác.
Second. The etheric body is the archetype upon which [Page 82] the dense physical form is built, whether it is the form of a solar system, or of a human body in any one incarnation.
Thứ hai. Thể dĩ thái là nguyên mẫu mà trên đó [Page 82] hình tướng hồng trần đậm đặc được xây dựng, dù đó là hình tướng của một hệ mặt trời hay của một thể người trong bất kỳ một lần lâm phàm nào.
Third. The etheric body is a web or network of fine interlacing channels, formed of matter of the four ethers, and built into a specific form. It forms a focal point for certain radiatory emanations, which vivify, stimulate and produce the rotary action of matter.
Thứ ba. Thể dĩ thái là một mạng lưới hay hệ thống các kênh đan xen tinh vi, được tạo thành từ vật chất của bốn loại dĩ thái và được xây dựng thành một hình thể đặc thù. Nó tạo thành một tiêu điểm cho một số phát xạ bức xạ nhất định, những phát xạ này tiếp sinh lực, kích thích và tạo ra chuyển động quay của vật chất.
Fourth. These pranic emanations when focalised and received, react upon the dense matter which is built upon the etheric scaffolding and framework.
Thứ tư. Những phát xạ prana này, khi được hội tụ và tiếp nhận, sẽ tác động trở lại lên vật chất đậm đặc được xây dựng trên giàn khung và bộ khung dĩ thái.
Fifth. This etheric web, during incarnation, forms a barrier between the physical and astral planes, which can only be transcended when consciousness is sufficiently developed to permit of escape. This can be seen in both the microcosm and the macrocosm. When a man has, through meditation and concentration, expanded his consciousness to a certain point he is enabled to include the subtler planes, and to escape beyond the limits of the dividing web.
Thứ năm. Mạng dĩ thái này, trong thời kỳ lâm phàm, tạo thành một hàng rào giữa cõi hồng trần và cõi cảm dục, chỉ có thể được vượt qua khi tâm thức phát triển đủ để cho phép thoát ra. Điều này có thể thấy được trong cả tiểu thiên địa lẫn đại thiên địa. Khi một người, nhờ tham thiền và tập trung, đã mở rộng tâm thức của mình đến một mức độ nhất định, y có thể bao gồm các cõi vi tế hơn và thoát ra ngoài giới hạn của mạng ngăn cách.
Physical Sub Planes
Solar System Planes
1.
First ether. Atomic plane
Adi. Divine. Sea of fire. First cosmic ether.
2.
Second ether. Sub-atomic
Anupadaka. Monadic plane. Akasha. Second cosmic ether.
3.
Third ether. Super-etheric
Atmic. Spiritual plane. Aether. Third cosmic ether.
4.
Fourth ether. Super-gaseous
Buddhic. Intuitional Plane. Air. Fourth cosmic ether.
Dense Physical
Planes of Humanity
5.
Gaseous. Sub-etheric
Mental. Fire. Cosmic gaseous.
6.
Liquid
Astral. Emotional plane. Water. Cosmic liquid.
7.
Earthly. Dense
Physical plane. Earth. Cosmic dense.
[Page 83] When the Logos has expanded His Consciousness on cosmic levels He can then transcend the logoic etheric web, and escape beyond the ring-pass-not of His objective manifestation. In thinking out this analogy we must hold closely in mind the fact that the seven major planes of our solar system are the seven subplanes of the cosmic physical or the lowest cosmic plane.
[Page 83] Khi Thượng đế đã mở rộng Tâm thức của Ngài trên các cấp độ vũ trụ, khi đó Ngài có thể vượt qua mạng dĩ thái Thượng đế và thoát ra ngoài vòng-giới-hạn của biểu hiện khách quan của Ngài. Khi suy xét sự tương đồng này, chúng ta phải luôn ghi nhớ chặt chẽ sự kiện rằng bảy cõi chính của hệ mặt trời chúng ta là bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ, hay cõi vũ trụ thấp nhất.
We might note here the accurate working out of the correspondence in matter and the radiatory correspondence is equally accurate.
Ở đây, chúng ta có thể lưu ý đến sự vận hành chính xác của định luật tương ứng trong vật chất, và sự tương ứng bức xạ cũng chính xác như vậy.
Sixth. In all the three bodies—human, planetary, and systemic or logoic—will be found a great organ within the organism which acts as the receiver of prana. This organ has its etheric manifestation and its dense physical correspondence.
Thứ sáu. Trong cả ba thể—nhân loại, hành tinh và hệ thống hay Thượng đế—đều sẽ thấy có một cơ quan lớn bên trong cơ cấu, hoạt động như cơ quan tiếp nhận prana. Cơ quan này có biểu hiện dĩ thái của nó và sự tương ứng hồng trần đậm đặc của nó.
In the system. In the system, the organ of cosmic prana, of the force vitalising matter, is the central sun, which is the direct receiver and dispenser of cosmic radiation. This is one of the threefold divisions of the Primordial Ray of active intelligence. Each of the cosmic Rays is in essence threefold, a fact which is oft overlooked, though logically obvious; each Ray is the vehicle for a cosmic Entity, and all existence is necessarily triple in manifestation. The central Sun has within its periphery a centre of reception with a surface radiation.
Trong hệ thống. Trong hệ thống, cơ quan của prana vũ trụ, của mãnh lực tiếp sinh lực cho vật chất, là mặt trời trung tâm, vốn là cơ quan tiếp nhận và phân phối trực tiếp bức xạ vũ trụ. Đây là một trong ba phân bộ của Cung nguyên thủy của trí tuệ linh hoạt. Mỗi cung vũ trụ về bản chất đều là tam phân, một sự kiện thường bị bỏ qua, dù về mặt logic là hiển nhiên; mỗi cung là vận cụ cho một Thực Thể vũ trụ, và mọi sự tồn tại tất yếu đều là tam phân trong biểu hiện. Mặt trời trung tâm có bên trong chu vi của nó một trung tâm tiếp nhận với một bức xạ bề mặt.
In the Planet. In the planet there will be found a similar organ or receiver within its etheric body, the locality of which is not for exoteric publication and cannot therefore be revealed. It is connected with the location of the two poles, north and south, and is the centre around which the globe rotates, and is the source of the legend of a sacred fertile land within the sphere of polar influences. The mythic land of exceeding fertility, of abundant [Page 84] luxuriance, and of phenomenal growth, vegetable, animal and human would naturally lie where prana is received. It is the esoteric Garden of Eden, the land of physical perfection. Surface radiation demonstrates, after distribution, as planetary prana.
Trong Hành tinh. Trong hành tinh cũng sẽ thấy có một cơ quan hay bộ phận tiếp nhận tương tự bên trong thể dĩ thái của nó; vị trí của cơ quan này không thể công bố công truyền và vì vậy không thể tiết lộ. Nó liên hệ với vị trí của hai cực, bắc và nam, và là trung tâm quanh đó bầu hành tinh quay, đồng thời là nguồn gốc của truyền thuyết về một vùng đất thiêng liêng màu mỡ nằm trong phạm vi các ảnh hưởng cực. Vùng đất thần thoại với sự phì nhiêu tột bậc, sự sum suê dồi dào và sự tăng trưởng phi thường của giới thực vật, giới động vật và nhân loại, dĩ nhiên sẽ nằm ở nơi prana được tiếp nhận. Đó là Vườn Địa Đàng huyền bí, vùng đất của sự hoàn hảo hồng trần. Bức xạ bề mặt, sau khi được phân phối, biểu lộ thành prana hành tinh.
In Man. The organ of reception is the spleen through its etheric counterpart. After distribution over the entire body via the etheric network it demonstrates in surface radiation as the health aura.
Trong Con Người. Cơ quan tiếp nhận là lá lách thông qua đối phần dĩ thái của nó. Sau khi được phân phối khắp toàn thân qua mạng dĩ thái, nó biểu lộ trong bức xạ bề mặt như hào quang sức khỏe.
Seventh. Thus in all the three bodies will the resemblance clearly be seen, and the working out in perfect correspondence is easily demonstrable:
Thứ bảy. Như vậy, trong cả ba thể, sự tương tự sẽ được thấy rõ ràng, và sự triển khai trong tương ứng hoàn hảo có thể được chứng minh dễ dàng:
PRANA OF THE SOLAR SYSTEM
PRANA CỦA HỆ MẶT TRỜI
THE SOLAR SYSTEM
HỆ MẶT TRỜI
Entity manifesting
The solar Logos.
Body of manifestation
The solar system.
Receptive centre
Pole of the central Sun.
Surface radiation or emanation
Solar prana.
Movement produced
Systemic rotation.
Distributive effect
Solar etheric radiation (felt cosmically).
THE PLANET
HÀNH TINH
Entity manifesting
A planetary Logos.
Body of manifestation
A planet.
Receptive centre
The planetary pole.
Surface radiation or emanation
Planetary prana.
Movement produced
Planetary rotation.
Distributive effect
Planetary etheric radiation (felt within the system).
A HUMAN BEING
MỘT CON NGƯỜI
Entity manifesting
The thinker, a Dhyan Chohan
Body of manifestation
Physical body.
Receptive centre
The spleen.
Surface radiation or emanation
Health aura.
Movement produced
Atomic rotation.
Distributive effect
Human etheric radiation (felt by environment).
[Page 85]
[Page 85]
THE ATOM OF MATTER
NGUYÊN TỬ CỦA VẬT CHẤT
Entity manifesting
An elementary life.
Body of manifestation
The atomic sphere.
Receptive centre
Pole of the atom.
Surface radiation or emanation
Contribution of atom to the united health aura of body.
Movement produced
Atomic rotation.
Distributive effect
Atomic etheric radiation (felt within the physical form).
Eighth. When the “will to live” vanishes, then the “Sons of Necessity” cease from objective manifestation. This is logically inevitable, and its working out can be seen in every case of entified objectivity. When the Thinker on his own plane withdraws his attention from his little system within the three worlds and gathers within himself all his forces, then physical plane existence comes to an end and all returns within the causal consciousness; this is as much an abstraction in the three worlds of the Thinker as the Absolute is in the threefold solar system of the Logos. This demonstrates on the physical plane in the withdrawing from out of the top of the head of the radiant etheric body and the consequent disintegration of the physical. The framework goes and the dense physical form falls apart; the pranic life is abstracted bodily from out of the dense sheath, and the stimulation of the fires of matter ceases to be. The latent fire of the atom remains; it is inherent, but the form is made by the action of the two fires of matter—active and latent, radiatory and inherent—aided by the fire of the second Logos, and when they are separated the form falls apart. This is a picture in miniature of the essential duality of all things acted upon by Fohat.
Thứ tám. Khi “ý chí sống” biến mất, thì “Các Con của Sự Tất Yếu” chấm dứt biểu hiện khách quan. Điều này tất yếu về mặt logic, và sự vận hành của nó có thể thấy trong mọi trường hợp của tính khách quan được định danh. Khi Đấng Tư Tưởng trên cõi riêng của mình rút sự chú ý của y khỏi hệ thống nhỏ bé của y trong ba cõi thấp và thu hồi vào bên trong mình mọi mãnh lực, thì sự tồn tại trên cõi hồng trần chấm dứt và mọi sự trở về trong tâm thức nguyên nhân; điều này cũng là một sự trừu xuất trong ba cõi của Đấng Tư Tưởng, giống như Đấng Tuyệt Đối là như vậy trong hệ mặt trời tam phân của Thượng đế. Điều này biểu lộ trên cõi hồng trần bằng việc thể dĩ thái bức xạ rút ra khỏi đỉnh đầu và hậu quả là sự tan rã của thể xác. Bộ khung mất đi và hình tướng hồng trần đậm đặc tan rã; sự sống prana bị rút toàn bộ ra khỏi vỏ bọc đậm đặc, và sự kích thích các lửa của vật chất không còn nữa. Lửa tiềm ẩn của nguyên tử vẫn còn; nó vốn cố hữu, nhưng hình tướng được tạo ra bởi tác động của hai lửa của vật chất—chủ động và tiềm ẩn, bức xạ và cố hữu—được trợ giúp bởi lửa của Logos thứ hai, và khi chúng bị tách rời thì hình tướng tan rã. Đây là một bức tranh thu nhỏ về tính nhị nguyên cốt yếu của mọi sự vật chịu tác động của Fohat.
[Page 86] There is a close connection between the spleen and the top of the head in connection with the etheric body. The organ of the spleen has an interesting correspondence to thebilical cord which attaches an infant to the mother for purposes of nourishment, and which is separated at birth. When a man starts to live his own life of conscious desire, when a man is born into a new world of a subtler form of life, that interlaced cord of etheric matter (which had united him to his physical body) is broken; the “silver cord is loosed” and the man severs his connection with the dense physical body and passes out through the highest center of the body instead of the lowest to life in a higher world and of another dimension. So it will be found in all the bodies and sheaths of the microcosm, for the analogy will persist on all planes during manifestation. When more scientific knowledge has been gained it will be found that the same procedure on a larger scale, takes place in planetary manifestation. A planet is but the body of a planetary Logos, that body being etheric, and the Logos expressing Himself through it and building upon the etheric scaffolding a vehicle of manifestation. The MOON once was the body of expression for one of the Logoi; the Earth now is, and the cycles change continuously. The centre of escape for the etheric body is found likewise in a physical planet, and the planetary silver cord is loosed at the time appointed; but the times and cycles, their commencement and termination are hid in the mysteries of Initiation, and do not concern us.
[Page 86] Có một mối liên hệ mật thiết giữa lá lách và đỉnh đầu liên quan đến thể dĩ thái. Cơ quan lá lách có một sự tương ứng thú vị với dây rốn nối đứa trẻ với người mẹ nhằm mục đích nuôi dưỡng, và bị cắt đứt khi sinh ra. Khi một người bắt đầu sống đời sống riêng của mình với dục vọng có ý thức, khi một người được sinh ra vào một thế giới mới của một hình thái sự sống vi tế hơn, thì sợi dây đan xen bằng vật chất dĩ thái ấy (vốn đã nối y với thể xác) bị cắt đứt; “sợi dây bạc được tháo lỏng” và người ấy cắt đứt liên hệ với thể xác đậm đặc, rồi đi ra qua trung tâm cao nhất của thể thay vì trung tâm thấp nhất để bước vào sự sống trong một thế giới cao hơn và thuộc một chiều kích khác. Điều này cũng sẽ được thấy trong mọi thể và vỏ bọc của tiểu thiên địa, vì sự tương đồng sẽ tiếp diễn trên mọi cõi trong thời kỳ biểu hiện. Khi tri thức khoa học đạt được nhiều hơn, người ta sẽ thấy rằng cùng một tiến trình ấy, ở quy mô lớn hơn, diễn ra trong biểu hiện hành tinh. Một hành tinh chỉ là thể của một Hành Tinh Thượng đế, thể ấy là dĩ thái, và Thượng đế biểu hiện chính Ngài qua nó và xây dựng trên giàn khung dĩ thái một vận cụ biểu hiện. MẶT TRĂNG xưa kia từng là thể biểu hiện của một trong Các Thượng đế; nay Trái Đất là như vậy, và các chu kỳ liên tục thay đổi. Trung tâm thoát ra của thể dĩ thái cũng được tìm thấy tương tự trong một hành tinh hồng trần, và sợi dây bạc hành tinh được tháo lỏng vào thời điểm đã định; nhưng các thời kỳ và chu kỳ, sự khởi đầu và chấm dứt của chúng, đều được che giấu trong các huyền nhiệm của điểm đạo, và không liên quan đến chúng ta.
Again in the solar system itself similar action will eventuate at the close of a Mahamanvantara. The Logos will withdraw within Himself, abstracting His three major principles. (37) His body of manifestation—the Sun [Page 87] and the seven sacred Planets, all existing in etheric matter—will withdraw from objectivity and become obscured. From the usual physical standpoint, the light of the system will go out. This will be succeeded by a gradual inbreathing until He shall have gathered all unto Himself; the etheric will cease to exist, and the web will be no more. Full consciousness will be achieved, and in the moment of achievement existence or entified manifestation will cease. All will be reabsorbed within the Absolute; pralaya, (38) or the cosmic heaven of rest will then ensue, and the Voice of the Silence will be heard no more. The reverberations of the WORD will die away, and the “Silence of the High Places” will reign supreme.
Một lần nữa, trong chính hệ mặt trời, hành động tương tự sẽ xảy ra vào lúc kết thúc một Đại giai kỳ sinh hóa. Thượng đế sẽ rút vào bên trong chính Ngài, trừu xuất ba nguyên khí chính của Ngài. (37) Thể biểu hiện của Ngài—Mặt Trời [Page 87] và bảy Hành Tinh thiêng liêng, tất cả đều tồn tại trong vật chất dĩ thái—sẽ rút khỏi tính khách quan và trở nên mờ khuất. Theo quan điểm hồng trần thông thường, ánh sáng của hệ thống sẽ tắt. Tiếp theo đó sẽ là một sự hô hấp vào dần dần cho đến khi Ngài thu hồi mọi sự vào chính mình; dĩ thái sẽ không còn tồn tại nữa, và mạng lưới sẽ không còn. Tâm thức trọn vẹn sẽ đạt được, và trong khoảnh khắc đạt được ấy, sự tồn tại hay biểu hiện được định danh sẽ chấm dứt. Mọi sự sẽ được tái hấp thu vào trong Đấng Tuyệt Đối; giai kỳ qui nguyên, (38) hay cõi trời nghỉ ngơi vũ trụ, khi đó sẽ tiếp diễn, và Tiếng Nói của Im Lặng sẽ không còn được nghe nữa. Những vang động của LINH TỪ sẽ lịm dần, và “Sự Im Lặng của Những Chốn Cao Cả” sẽ ngự trị tối thượng.
(37) Principles, the basic differentiations, essential qualities or types of energy upon which all things are built; they give the distinctive nature of all forms. (back)
(37) Các nguyên khí, những sự biến phân căn bản, những phẩm tính cốt yếu hay những loại năng lượng mà trên đó mọi sự vật được xây dựng; chúng ban cho mọi hình tướng bản chất đặc thù của chúng. (trở lại)
(38) Pralaya....A period of obscuration or repose—planetary, systemic or cosmic. An interlude between two periods of manifestation. (back)
(38) Giai kỳ qui nguyên....Một thời kỳ mờ khuất hay nghỉ ngơi—hành tinh, hệ thống hay vũ trụ. Một quãng gián đoạn giữa hai thời kỳ biểu hiện. (trở lại)
S1S8
II. THE NATURE OF PRANA — II. BẢN CHẤT CỦA PRANA
In dealing with the subject of the etheric body and its functions as an assimilator and distributor of prana, we have dealt with it from the standpoint of its place in the scheme of things. We have considered this matter of etherics from the angle of correspondences, and have traced analogies in the system, the planet, and man. We have seen that it formed the foundation of the dense physical form, and in itself constituted a most important link between:
Khi bàn đến chủ đề thể dĩ thái và các chức năng của nó như một bộ máy đồng hóa và phân phối prana, chúng ta đã bàn đến nó từ quan điểm về vị trí của nó trong hệ thống sự vật. Chúng ta đã xem xét vấn đề dĩ thái học này từ góc độ các tương ứng, và đã truy nguyên các tương đồng trong hệ thống, hành tinh và con người. Chúng ta đã thấy rằng nó tạo thành nền tảng của hình tướng hồng trần đậm đặc, và tự nó cấu thành một mối liên kết hết sức quan trọng giữa:
a. Physical man, and the emotional or astral plane.
a. Con người hồng trần và cõi cảm xúc hay cõi cảm dục.
b. Planetary Man, and essential emotional quality.
b. Con Người Hành Tinh và phẩm tính cảm xúc cốt yếu.
c. The Logos, the grand Heavenly Man, and the cosmic astral plane.
c. Thượng đế, Đấng Thiên Nhân vĩ đại, và cõi cảm dục vũ trụ.
We might now narrow the subject down to the consideration of the etheric body of the human being and not touch upon correspondences to things systemic or cosmic at all, though it may be necessary to remind ourselves that for the wise student the line along which wisdom [Page 88] comes is the interpretative one; he who knows himself (in objective manifestation, essential quality, and comprehensive development) knows likewise the Lord of his Ray, and the Logos of his system. It is only then a matter of application, conscious expansion, and intelligent interpretation, coupled to a wise abstention from dogmatic assertion, and a recognition that the correspondence lies in quality and method more than in detailed adherence to a specified action at any given time in evolution.
Giờ đây, chúng ta có thể thu hẹp chủ đề lại để chỉ xem xét thể dĩ thái của con người mà hoàn toàn không đụng đến các tương ứng với những sự vật thuộc hệ thống hay vũ trụ, mặc dù có lẽ cần nhắc mình rằng đối với đạo sinh minh triết, đường lối mà theo đó minh triết [Page 88] đến là đường lối diễn giải; ai biết chính mình (trong biểu hiện khách quan, phẩm tính cốt yếu và sự phát triển bao quát) thì cũng biết Chúa Tể cung của mình và Thượng đế của hệ thống mình. Khi đó, chỉ còn là vấn đề áp dụng, mở rộng có ý thức và diễn giải thông minh, đi đôi với sự kiêng tránh khôn ngoan đối với những khẳng định giáo điều, và sự nhìn nhận rằng sự tương ứng nằm ở phẩm tính và phương pháp nhiều hơn là ở sự tuân thủ chi tiết đối với một hành động xác định nào đó tại bất kỳ thời điểm nào trong tiến hoá.
All that it is possible to give here is material which, if rightly pondered on, may result in more intelligent practical living in the occult sense of the term “living”; which, if studied scientifically, religiously and philosophically, may lead to the furthering of the aims of the evolutionary process in the immediately coming lesser cycle. Our aim, therefore, is to make the secondary body of man more real, and to show some of its functions and how it can eventually be brought consciously into the range of mental comprehension.
Tất cả những gì có thể trình bày ở đây là tài liệu mà, nếu được suy ngẫm đúng đắn, có thể dẫn đến một đời sống thực tiễn thông minh hơn theo nghĩa huyền bí của từ “sống”; mà, nếu được nghiên cứu một cách khoa học, tôn giáo và triết học, có thể dẫn đến việc thúc đẩy các mục tiêu của tiến trình tiến hoá trong chu kỳ nhỏ sắp đến ngay trước mắt. Vì vậy, mục tiêu của chúng ta là làm cho thể thứ yếu của con người trở nên thực hơn, và chỉ ra một số chức năng của nó cùng cách cuối cùng nó có thể được đưa một cách có ý thức vào phạm vi thấu hiểu của trí tuệ.
Science, as we know, is fast reaching the point where it will be forced to admit the fact of the etheric body, because the difficulties of refusing to acknowledge it, will be far more insuperable than an admission of its existence. Scientists admit already the fact of etheric matter; the success of photographic endeavor has demonstrated the reality of that which has hitherto been considered unreal, because (from the standpoint of the physical) intangible. Phenomena are occurring all the time which remain in the domain of the supernatural unless accounted for through the medium of etheric matter, and in their anxiety to prove the spiritualists wrong, scientists have aided the cause of the true and higher spiritism by falling back on reality, and on the fact of the etheric body, even though they consider it a body of [Page 89] emanative radiation—being concerned with the effect and not having yet ascertained the cause. Medical men are beginning to study (blindly as yet) the question of vitality, the effect of solar rays upon the physical organism, and the underlying laws of inherent and radiatory heat. They are beginning to ascribe to the spleen functions hitherto not recognised, to study the effect of the action of the glands, and their relation to the assimilation of the vital essences by the bodily frame. They are on the right road, and before long (perhaps within this century) the FACT of the etheric body and its basic function will be established past all controversy, and the whole aim of preventive and curative medicine will shift to a higher level. All we can do here is to give simply, and in a condensed form, a few facts which may hasten the day of recognition, and further the interest of the true investigator. Let me, therefore, briefly state what will be dealt with in our remaining three points:
Như chúng ta biết, khoa học đang nhanh chóng đạt đến điểm mà ở đó nó sẽ buộc phải thừa nhận sự kiện về thể dĩ thái, bởi vì những khó khăn của việc từ chối thừa nhận nó sẽ vượt xa mức không thể khắc phục hơn là việc chấp nhận sự tồn tại của nó. Các nhà khoa học đã thừa nhận sự kiện về vật chất dĩ thái; thành công của nỗ lực nhiếp ảnh đã chứng minh tính hiện thực của điều từ trước đến nay bị xem là không thực, bởi vì (từ quan điểm hồng trần) không thể sờ chạm được. Các hiện tượng đang xảy ra mọi lúc vẫn còn nằm trong lĩnh vực siêu nhiên trừ phi được giải thích thông qua trung gian của vật chất dĩ thái, và trong sự sốt sắng muốn chứng minh các nhà thần linh học là sai, các nhà khoa học đã giúp ích cho chính nghĩa của thần linh học chân chính và cao hơn bằng cách quay về với thực tại, và với sự kiện về thể dĩ thái, dù họ xem nó là một thể của [Page 89] bức xạ phát xạ—vì họ quan tâm đến hiệu quả mà chưa xác định được nguyên nhân. Các y sĩ đang bắt đầu nghiên cứu (dù còn mù mờ) vấn đề sinh lực, tác động của các tia thái dương lên cơ thể hồng trần, và các định luật nền tảng của nhiệt cố hữu và nhiệt bức xạ. Họ đang bắt đầu quy cho lá lách những chức năng từ trước đến nay chưa được nhận biết, nghiên cứu tác động của hoạt động các tuyến và mối liên hệ của chúng với sự đồng hóa các tinh chất sinh lực bởi cơ thể. Họ đang đi đúng đường, và chẳng bao lâu nữa (có lẽ trong thế kỷ này) SỰ KIỆN về thể dĩ thái và chức năng căn bản của nó sẽ được xác lập vượt ngoài mọi tranh cãi, và toàn bộ mục tiêu của y học phòng ngừa và chữa trị sẽ chuyển lên một cấp độ cao hơn. Tất cả những gì chúng ta có thể làm ở đây chỉ là trình bày đơn giản, dưới hình thức cô đọng, một vài sự kiện có thể đẩy nhanh ngày được công nhận và thúc đẩy sự quan tâm của nhà nghiên cứu chân chính. Vì vậy, hãy để tôi ngắn gọn nêu ra những gì sẽ được bàn đến trong ba điểm còn lại của chúng ta:
The functions of the etheric body.
Các chức năng của thể dĩ thái.
Its relation to the physical during life.
Mối liên hệ của nó với thể xác trong lúc sống.
The ills or diseases of the etheric body (taking care to retain the original meaning of the word “disease.”)
Những tật bệnh hay bệnh tật của thể dĩ thái (cẩn thận giữ nguyên ý nghĩa nguyên thủy của từ “disease.”)
Its after death condition.
Tình trạng của nó sau khi chết.
This will embody all that is as yet of practical use. More may later be forthcoming for our helping if that which is now given to the public is carefully followed up, and if investigators wisely, sanely and broadly study this important matter.
Điều này sẽ bao gồm tất cả những gì hiện nay còn có ích về mặt thực tiễn. Về sau, có thể sẽ có thêm điều được đưa ra để giúp đỡ chúng ta nếu những gì hiện đang được công bố cho công chúng được theo đuổi cẩn trọng, và nếu các nhà nghiên cứu học hỏi vấn đề quan trọng này một cách khôn ngoan, lành mạnh và bao quát.
As the nature and functions of the etheric body of man assume their rightful place in the thought of the world and as it is realised that the etheric is the most important of the two physical bodies, man will be brought into closer conscious contact with the other evolutions [Page 90] that evolve in etheric matter just as he does in a dense physical body. There are certain large groups of devas, called “the devas of the shadows,” or the violet devas, who are closely allied with the evolutionary development of man’s etheric body, and who transmit to him solar and planetary radiation. The etheric body of man receives prana in different ways and of different kinds, and all these ways bring him into touch with varying entities.
Khi bản chất và các chức năng của thể dĩ thái của con người chiếm vị trí đúng đắn của chúng trong tư tưởng của thế giới, và khi người ta chứng nghiệm rằng thể dĩ thái là quan trọng hơn trong hai thể hồng trần, con người sẽ được đưa vào sự tiếp xúc có ý thức gần gũi hơn với các tiến hoá khác [Page 90] đang tiến hoá trong vật chất dĩ thái, cũng như y tiến hoá trong một thể hồng trần đậm đặc. Có những nhóm lớn thiên thần nhất định, được gọi là “các thiên thần của bóng tối,” hay các thiên thần tím, có liên hệ mật thiết với sự phát triển tiến hoá của thể dĩ thái con người, và truyền cho y bức xạ thái dương và hành tinh. Thể dĩ thái của con người tiếp nhận prana theo những cách khác nhau và thuộc những loại khác nhau, và tất cả những cách này đưa y vào tiếp xúc với những thực thể khác nhau.
1. Solar prana. — 1. Prana thái dương.
This is that vital and magnetic fluid which radiates from the sun, and which is transmitted to man’s etheric body through the agency of certain deva entities of a very high order, and of a golden hue. It is passed through their bodies and emitted as powerful radiations, which are applied direct through certain plexi in the uppermost part of the etheric body, the head and shoulders, and passed down to the etheric correspondence of the physical organ, the spleen, and from thence forcibly transmitted into the spleen itself. These golden hued pranic entities are in the air above us, and are specially active in such parts of the world as California, in those tropical countries where the air is pure and dry, and the rays of the sun are recognised as being specially beneficial. Relations between man and this group of devas are very close, but fraught as yet with much danger to man. These devas are of a very powerful order, and, along their own line, are further evolved than man himself. Unprotected man lies at their mercy, and in this lack of protection, and man’s failure to understand the laws of magnetic resistance, or of solar repulsion comes, for instance, the menace of sunstroke. When the etheric body and its assimilative processes are comprehended scientifically, man will then be immune from dangers due to solar radiation. He will protect himself by the application of the laws governing [Page 91] magnetic repulsion and attraction, and not so much by clothing and shelter. It is largely a question of polarisation. One hint might here be given: When men understand the deva evolution somewhat more correctly and recognise their work along certain lines in connection with the Sun and realise that they represent the feminine pole as they themselves represent the masculine (the fourth Creative Hierarchy being male) (39) they will comprehend the mutual relationship, and govern that relationship by law.
Đây là lưu chất sinh lực và từ tính phát ra từ mặt trời, và được truyền đến thể dĩ thái của con người qua trung gian của một số thực thể thiên thần thuộc đẳng cấp rất cao và có sắc vàng. Nó đi qua các thể của họ và được phát ra như những bức xạ mạnh mẽ, được áp dụng trực tiếp qua một số đám rối ở phần cao nhất của thể dĩ thái, nơi đầu và vai, rồi được dẫn xuống đối phần dĩ thái của cơ quan hồng trần là lá lách, và từ đó được truyền mạnh mẽ vào chính lá lách. Những thực thể prana sắc vàng này ở trong không khí phía trên chúng ta, và đặc biệt hoạt động mạnh ở những vùng như California, ở những xứ nhiệt đới nơi không khí trong lành và khô ráo, và các tia mặt trời được nhận biết là đặc biệt có lợi. Mối liên hệ giữa con người và nhóm thiên thần này rất mật thiết, nhưng hiện nay vẫn đầy nguy hiểm đối với con người. Những thiên thần này thuộc một đẳng cấp rất mạnh, và trên đường lối riêng của họ, họ tiến hoá xa hơn chính con người. Con người không được bảo vệ nằm dưới quyền chi phối của họ, và chính trong sự thiếu bảo vệ này, cùng với việc con người không hiểu các định luật về sức kháng từ tính hay về sự đẩy lùi thái dương, mà chẳng hạn, xuất hiện mối đe dọa của chứng cảm nắng. Khi thể dĩ thái và các tiến trình đồng hóa của nó được thấu hiểu một cách khoa học, khi đó con người sẽ miễn nhiễm với những nguy hiểm do bức xạ thái dương gây ra. Y sẽ tự bảo vệ mình bằng cách áp dụng các định luật chi phối [Page 91] sự đẩy lùi và hút vào từ tính, chứ không quá nhiều bằng quần áo và nơi trú ẩn. Điều này phần lớn là vấn đề sự phân cực. Ở đây có thể đưa ra một gợi ý: Khi con người hiểu đúng hơn đôi chút về tiến hoá thiên thần và nhận biết công việc của họ theo một số đường lối nhất định liên quan đến Mặt Trời, và chứng nghiệm rằng họ tượng trưng cho cực nữ tính cũng như chính con người tượng trưng cho cực nam tính (Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư là nam) (39) thì họ sẽ hiểu mối liên hệ hỗ tương và chi phối mối liên hệ ấy bằng định luật.
(39) S. D., I, 232-238.
(39) S. D., I, 232-238.
The whole cosmos is guided, controlled and animated by an almost endless series of Hierarchies of sentient Beings, each having a mission to perform.—S. D., I, 295.
Toàn thể vũ trụ được hướng dẫn, kiểm soát và làm sinh động bởi một chuỗi gần như vô tận các Huyền Giai của những Hữu thể hữu tri, mỗi vị đều có một sứ mệnh phải hoàn thành.—S. D., I, 295.
Among these the Hierarchy of human Monads has a place. (back)
Trong số đó, Huyền Giai các Chân thần nhân loại có một vị trí. (trở lại)
These solar devas take the radiatory rays of the sun which reach from its centre to the periphery along one of the three channels of approach, pass them through their organism and focalise them there. They act almost as a burning glass acts. These rays are then reflected or transmitted to man’s etheric body, and caught up by him and again assimilated. When the etheric body is in good order and functioning correctly, enough of this prana is absorbed to keep the form organised. This is the whole object of the etheric body’s functioning, and is a point which cannot be sufficiently emphasised. The remainder is cast off in the form of animal radiation, or physical magnetism—all terms expressing the same idea. Man therefore repeats on a lesser scale the work of the great solar devas, and in his turn adds his quota of repolarised or remagnetised emanation to the sumtotal of the planetary aura.
Những thiên thần thái dương này tiếp nhận các tia bức xạ của mặt trời vươn từ trung tâm đến chu vi của nó theo một trong ba kênh tiếp cận, đưa chúng đi qua cơ cấu của họ và hội tụ chúng tại đó. Họ hoạt động gần giống như một thấu kính hội tụ. Những tia này sau đó được phản chiếu hay truyền đến thể dĩ thái của con người, và được y tiếp nhận rồi lại đồng hóa. Khi thể dĩ thái ở trong tình trạng tốt và hoạt động đúng đắn, đủ lượng prana này được hấp thu để giữ cho hình tướng được tổ chức. Đây là toàn bộ mục đích của hoạt động của thể dĩ thái, và là một điểm không thể được nhấn mạnh quá mức. Phần còn lại bị thải ra dưới dạng bức xạ động vật, hay từ điện hồng trần—tất cả đều là những thuật ngữ diễn đạt cùng một ý tưởng. Vì vậy, con người lặp lại ở quy mô nhỏ hơn công việc của các thiên thần thái dương vĩ đại, và đến lượt mình, y bổ sung phần phát xạ được tái phân cực hay được tái từ hóa của mình vào tổng thể hào quang hành tinh.
2. Planetary prana. — 2. Prana hành tinh.
This is the vital fluid emanated from any planet, which constitutes its basic coloring or quality, and is produced by a repetition within the planet of the same process [Page 92] which is undergone in connection with man and solar prana. The planet (the Earth, or any other planet) absorbs solar prana, assimilates what is required, and radiates off that which is not essential to its well-being in the form of planetary radiation. Planetary prana, therefore, is solar prana which has passed throughout the planet, has circulated through the planetary etheric body, has been transmitted to the dense physical planet, and has been cast off thence in the form of a radiation of the same essential character as solar prana, plus the individual and distinctive quality of the particular planet concerned. This again repeats the process undergone in the human body. The physical radiations of men differ according to the quality of their physical bodies. So it is with a planet.
Đây là lưu chất sinh lực phát ra từ bất kỳ hành tinh nào, cấu thành sắc thái hay phẩm tính căn bản của nó, và được tạo ra bởi sự lặp lại bên trong hành tinh cùng một tiến trình [Page 92] đã diễn ra liên quan đến con người và prana thái dương. Hành tinh (Trái Đất, hay bất kỳ hành tinh nào khác) hấp thu prana thái dương, đồng hóa phần cần thiết, và bức xạ ra phần không thiết yếu cho sự an lành của nó dưới dạng bức xạ hành tinh. Vì vậy, prana hành tinh là prana thái dương đã đi xuyên suốt hành tinh, đã lưu chuyển qua thể dĩ thái hành tinh, đã được truyền đến hành tinh hồng trần đậm đặc, và từ đó đã bị thải ra dưới dạng một bức xạ có cùng bản chất cốt yếu như prana thái dương, cộng thêm phẩm tính cá biệt và đặc thù của hành tinh liên hệ. Điều này lại lặp lại tiến trình diễn ra trong thể người. Các bức xạ hồng trần của con người khác nhau tùy theo phẩm tính của các thể xác của họ. Hành tinh cũng vậy.
Planetary emanative prana (as in the case of solar prana) is caught up and transmitted via a particular group of devas, called the “devas of the shadows,” who are ethereal devas of a slightly violet hue. Their bodies are composed of the matter of one or other of the four ethers, and they focalise and concentrate the emanations of the planet, and of all forms upon the planet. They have a specially close connection with human beings owing to the fact of the essential resemblance of their bodily substance to man’s etheric substance, and because they transmit to him the magnetism of “Mother Earth” as it is called. Therefore we see that there are two groups of devas working in connection with man:
Prana phát xạ hành tinh (như trong trường hợp của prana thái dương) được một nhóm thiên thần đặc biệt tiếp nhận và truyền dẫn, được gọi là “thiên thần của bóng tối”, là những thiên thần dĩ thái có sắc tím nhạt. Thể của họ được cấu tạo bằng vật chất của một trong bốn cõi dĩ thái, và họ hội tụ và tập trung các phát xạ của hành tinh, cũng như của mọi hình tướng trên hành tinh. Họ có một mối liên hệ đặc biệt mật thiết với con người do sự tương đồng cốt yếu giữa chất liệu thể của họ với chất liệu dĩ thái của con người, và vì họ truyền cho y từ điện của “Mẹ Địa Cầu” như cách gọi thông thường. Do đó, chúng ta thấy có hai nhóm thiên thần hoạt động liên hệ với con người:
a. Solar devas, who transmit the vital fluid which circulates in the etheric body.
a. Các thiên thần thái dương, truyền dẫn lưu chất sinh lực lưu chuyển trong thể dĩ thái.
b. Planetary devas of a violet color, who are allied to man’s etheric body, and who transmit earth’s prana, or the prana of whichever planet man may be functioning upon during a physical incarnation.
b. Các thiên thần hành tinh có màu tím, liên kết với thể dĩ thái của con người, và truyền dẫn prana của địa cầu, hay prana của bất cứ hành tinh nào mà con người có thể đang hoạt động trên đó trong một kiếp lâm phàm hồng trần.
A very pertinent question might here be asked, and though we may not fully explain the mystery, a few suggestive [Page 93] hints may be possible. We might ask: What causes the apparent deadness of the Moon? Is there deva life upon it? Does solar prana have no effect there? What constitutes the difference between the apparently dead Moon, and a live planet, such as the Earth? (S. D., I, 170-180. )
Ở đây có thể nêu ra một câu hỏi rất thích đáng, và dù chúng ta có thể không giải thích trọn vẹn được huyền nhiệm này, một vài gợi ý [Page 93] ám chỉ có lẽ vẫn có thể đưa ra. Chúng ta có thể hỏi: Điều gì gây ra trạng thái dường như chết của Mặt Trăng? Có sự sống thiên thần trên đó không? Prana thái dương không có tác động gì ở đó sao? Điều gì tạo nên sự khác biệt giữa Mặt Trăng dường như đã chết và một hành tinh sống như Trái Đất? (S. D., I, 170-180.)
Here we touch upon a hidden mystery, of which the solution lies revealed for those who seek, in the fact that human beings and certain groups of devas are no longer found upon the Moon. Man has not ceased to exist upon the Moon because it is dead and cannot therefore support his life, but the Moon is dead because man and these deva groups have been removed from off its surface and from its sphere of influence. (S. D., I, 179.) Man and the devas act on every planet as intermediaries, or as transmitting agencies. Where they are not found, then certain great activities become impossible, and disintegration sets in. The reason for this removal lies in the cosmic Law of Cause and Effect, or cosmic karma, and in the composite, yet individual, history of that one of the Heavenly Men Whose body, the Moon or any other dead planet at any time happened to be.
Ở đây chúng ta chạm đến một huyền nhiệm ẩn kín, mà lời giải của nó được mặc khải cho những ai tìm kiếm, trong sự kiện rằng con người và một số nhóm thiên thần nào đó không còn được tìm thấy trên Mặt Trăng nữa. Con người không chấm dứt hiện hữu trên Mặt Trăng vì nó đã chết và do đó không thể duy trì sự sống của y, mà Mặt Trăng chết là vì con người và các nhóm thiên thần này đã bị dời khỏi bề mặt của nó và khỏi phạm vi ảnh hưởng của nó. (S. D., I, 179.) Con người và các thiên thần hoạt động trên mọi hành tinh như những trung gian, hay như những tác nhân truyền dẫn. Nơi nào họ không hiện diện, thì một số hoạt động lớn lao trở nên bất khả, và sự tan rã bắt đầu xuất hiện. Lý do của sự di dời này nằm trong Định luật Nhân Quả vũ trụ, hay nghiệp quả vũ trụ, và trong lịch sử tổng hợp nhưng cá biệt của một trong các Đấng Thiên Nhân mà thể của Ngài, vào một thời điểm nào đó, chính là Mặt Trăng hay bất kỳ hành tinh chết nào khác.
S1S9
3. The prana of forms. — 3. Prana của các hình tướng.
It must first be pointed out that forms are necessarily of two kinds, each having a different place in the scheme:
Trước hết cần chỉ ra rằng các hình tướng tất yếu thuộc hai loại, mỗi loại có một vị trí khác nhau trong hệ thống:
Forms that are the result of the work of the third and the second Logos, and Their united life. Such forms are the units in the vegetable, animal and mineral kingdoms.
Những hình tướng là kết quả công việc của Thượng đế thứ ba và thứ hai, cùng sự sống hợp nhất của Các Ngài. Những hình tướng như thế là các đơn vị trong giới thực vật, giới động vật và giới kim thạch.
Forms that are the result of the united action of the three Logoi, and comprise the strictly deva and human forms.
Những hình tướng là kết quả của tác động hợp nhất của ba Thượng đế, và bao gồm các hình tướng thiên thần và nhân loại theo nghĩa nghiêm ngặt.
There is also the still simpler form embodied in the substance of which all the other forms are made. This matter is strictly speaking the atomic and molecular matter, and is animated by the life or energy of the third Logos.
Cũng còn có hình tướng đơn giản hơn nữa được nhập thể trong chất liệu mà từ đó mọi hình tướng khác được tạo nên. Nói một cách chính xác, vật chất này là vật chất nguyên tử và phân tử, và được tiếp sinh lực bởi sự sống hay năng lượng của Thượng đế thứ ba.
[Page 94] CHART II — LOGOS OF A SOLAR SYSTEM
[Page 94] BIỂU ĐỒ II — THƯỢNG ĐẾ CỦA MỘT HỆ MẶT TRỜI
[Page 95] In dealing with the first group of forms, it must be noted that the pranic emanations given off by units of the animal and vegetable kingdom (after they have absorbed both solar and planetary prana) are naturally a combination of the two, and are transmitted by means of surface radiation, as in solar and planetary prana, to certain lesser groups of devas of a not very high order, who have a curious and intricate relationship to the group soul of the radiating animal or vegetable. This matter cannot be dealt with here. These devas are also of a violet hue, but of such a pale color as to be almost grey; they are in a transitional state, and merge with a puzzling confusion with groups of entities that are almost on the involutionary arc. (42, 43, 43a)
[Page 95] Khi bàn đến nhóm hình tướng thứ nhất, cần lưu ý rằng các phát xạ prana do các đơn vị của giới động vật và giới thực vật phát ra (sau khi chúng đã hấp thu cả prana thái dương lẫn prana hành tinh) tự nhiên là một sự kết hợp của cả hai, và được truyền dẫn bằng bức xạ bề mặt, như trong prana thái dương và prana hành tinh, đến một số nhóm thiên thần nhỏ hơn thuộc cấp không cao lắm, những vị có một mối liên hệ kỳ lạ và phức tạp với Hồn nhóm của loài động vật hay thực vật đang bức xạ. Vấn đề này không thể được bàn đến ở đây. Các thiên thần này cũng có sắc tím, nhưng màu sắc nhạt đến mức gần như xám; họ ở trong một trạng thái chuyển tiếp, và hòa lẫn một cách rối rắm khó hiểu với các nhóm thực thể gần như đang ở trên cung giáng hạ tiến hoá. (42, 43, 43a)
(42) Involutionary Arc is the term applied to the first part of the evolutionary process. It covers the “path of descent,” or the coming down of Spirit into ever denser matter until the lowest point is reached, the point of densest concretion. The latter half of the process is called evolutionary and marks the ascent or return of Spirit to its emanating source, plus the gains of the evolutionary process. (back)
(42) Cung Giáng Hạ Tiến Hoá là thuật ngữ áp dụng cho phần đầu của tiến trình tiến hoá. Nó bao trùm “con đường đi xuống”, hay sự đi xuống của Tinh thần vào vật chất ngày càng đậm đặc hơn cho đến khi đạt tới điểm thấp nhất, điểm cô đặc dày đặc nhất. Nửa sau của tiến trình được gọi là tiến hoá và đánh dấu sự đi lên hay trở về của Tinh thần đến nguồn phát xạ của nó, cộng thêm những thành quả của tiến trình tiến hoá. (trở lại)
[Page 96] In dealing with the second group, the human form transmits the emanative radiations to a much higher grade of deva. These devas are of a more pronounced hue, and after due assimilation of the human radiation, they transmit it principally to the animal kingdom, thus demonstrating the close relationship between the two kingdoms. If the above explanation of the intricate inter-relation between the sun and the planets, between the planets and the evolving forms upon them, between the forms themselves in ever descending importance demonstrates nothing more than the exquisite interdependence of all existences, then much will have been achieved.
[Page 96] Khi bàn đến nhóm thứ hai, hình tướng con người truyền các bức xạ phát xạ đến một cấp thiên thần cao hơn nhiều. Các thiên thần này có sắc màu đậm hơn, và sau khi đồng hoá thích đáng bức xạ của con người, họ truyền nó chủ yếu đến giới động vật, nhờ đó chứng minh mối liên hệ mật thiết giữa hai giới này. Nếu lời giải thích trên về mối tương liên phức tạp giữa mặt trời và các hành tinh, giữa các hành tinh và các hình tướng đang tiến hoá trên chúng, giữa chính các hình tướng với nhau theo tầm quan trọng ngày càng giảm dần, không chứng minh gì hơn ngoài sự tương thuộc tinh tế của mọi hiện hữu, thì như thế cũng đã đạt được rất nhiều.
Another fact which must also be brought out is the close relationship between all these evolutions of nature, from the celestial sun down to the humblest violet via the [Page 97] deva evolution which acts as the transmitting transmuting force throughout the system.
Một sự kiện khác cũng cần được nêu ra là mối liên hệ mật thiết giữa tất cả các tiến hoá này của thiên nhiên, từ mặt trời thiên giới xuống đến loài tím khiêm tốn nhất thông qua [Page 97] tiến hoá thiên thần vốn hoạt động như mãnh lực truyền dẫn và chuyển hoá xuyên suốt toàn hệ thống.
Lastly, all work with fire. Fire internal, inherent and latent; fire radiatory and emanative; fire generated, assimilated and radiated; fire vivifying stimulating, and destroying; fire transmitted, reflected, and absorbed; fire, the basis of all life; fire, the essence of all existence; fire, the means of development, and the impulse behind all evolutionary process; fire, the builder, the preserver and the constructor; fire, the originator, the process and the goal; fire the purifier and the consumer. The God of Fire and the fire of God interacting upon each other, till all fires blend and blaze and till all that exists, is passed through the fire—from a solar system to an ant—and emerges as a triple perfection. Fire then passes out from the ring-pass-not as perfected essence, whether essence emerging from the human ring-pass-not, the planetary ring-pass-not or the solar. The wheel of fire turns and all within that wheel is subjected to the threefold flame, and eventually stands perfected.
Sau hết, tất cả đều làm việc với lửa. Lửa nội tại, cố hữu và tiềm ẩn; lửa bức xạ và phát xạ; lửa được tạo ra, được đồng hoá và được bức xạ; lửa tiếp sinh lực, kích thích và hủy diệt; lửa được truyền dẫn, phản chiếu và hấp thu; lửa, nền tảng của mọi sự sống; lửa, tinh túy của mọi hiện hữu; lửa, phương tiện phát triển và xung lực đứng sau mọi tiến trình tiến hoá; lửa, đấng kiến tạo, đấng bảo tồn và đấng cấu tạo; lửa, kẻ khởi xướng, tiến trình và mục tiêu; lửa, đấng thanh luyện và kẻ tiêu thụ. Thượng đế của Lửa và lửa của Thượng đế tương tác lẫn nhau, cho đến khi mọi ngọn lửa hòa nhập và bùng cháy, và cho đến khi mọi cái đang hiện hữu đều đi qua lửa—từ một hệ mặt trời đến một con kiến—và xuất hiện như một sự hoàn thiện tam phân. Khi đó lửa vượt ra khỏi vòng-giới-hạn như tinh chất đã được hoàn thiện, dù là tinh chất xuất hiện từ vòng-giới-hạn của con người, của hành tinh hay của thái dương. Bánh xe lửa quay chuyển và mọi thứ bên trong bánh xe ấy đều chịu tác động của ngọn lửa tam phân, và cuối cùng đứng vững trong sự hoàn thiện.
S1S10
III. THE FUNCTION OF THE ETHERIC BODY — III. CHỨC NĂNG CỦA THỂ DĨ THÁI
We will now continue with the discussion of the etheric body, and take up the consideration of its function and its relation to the physical body.
Giờ đây chúng ta sẽ tiếp tục bàn về thể dĩ thái, và xét đến chức năng của nó cùng mối liên hệ của nó với thể xác.
The two may wisely be considered together, for the inter-relation is so close that it is not possible to discuss them separately. Primarily the functions of the etheric body are three in number:
Thật khôn ngoan khi xem xét hai thể này cùng nhau, vì mối tương liên quá mật thiết đến nỗi không thể bàn riêng từng thể. Trước hết, các chức năng của thể dĩ thái có ba loại:
1. It is the receiver of prana.
1. Nó là bộ tiếp nhận prana.
2. It is the assimilator of prana.
2. Nó là bộ đồng hoá prana.
3. It is the transmitter of prana.
3. Nó là bộ truyền dẫn prana.
1. The receiver of prana. — 1. Bộ tiếp nhận prana.
The etheric body may therefore be described as negative or receptive in respect to the rays of the sun, and as [Page 98] positive and expulsive in respect to the dense physical body. The second function—that of assimilation—is strictly balanced or internal. As stated earlier, the pranic emanations of the sun are absorbed by the etheric body, via certain centres which are found principally in the upper part of the body, from whence they are directed downwards to the centre which is called the etheric spleen, as it is the counterpart in etheric matter of that organ. The main centre for the reception of prana at present is a centre between the shoulder blades. Another has been allowed to become partially dormant in man through the abuses of so-called civilisation, and is situated slightly above the solar plexus. In the coming rootrace, and increasingly in this, the necessity for the exposure of these two centres to the rays of the sun, will be appreciated, with a corresponding improvement in physical vitality and adaptability. These three centres,
Do đó, thể dĩ thái có thể được mô tả là âm hay tiếp nhận đối với các cung của mặt trời, và là [Page 98] dương và tống xuất đối với thể xác đậm đặc. Chức năng thứ hai—chức năng đồng hoá—được giữ cân bằng nghiêm ngặt hay mang tính nội tại. Như đã nói trước đây, các phát xạ prana của mặt trời được thể dĩ thái hấp thu qua một số trung tâm chủ yếu nằm ở phần trên của thể, từ đó chúng được dẫn xuống trung tâm được gọi là lá lách dĩ thái, vì nó là đối phần trong vật chất dĩ thái của cơ quan đó. Trung tâm chính để tiếp nhận prana hiện nay là một trung tâm nằm giữa hai xương bả vai. Một trung tâm khác đã được để cho trở nên phần nào ngủ yên nơi con người do những lạm dụng của cái gọi là văn minh, và nằm hơi phía trên tùng thái dương. Trong giống dân gốc sắp tới, và ngày càng nhiều trong giống dân này, sự cần thiết phải để hai trung tâm này tiếp xúc với các tia mặt trời sẽ được nhận thức, cùng với sự cải thiện tương ứng về sinh lực hồng trần và khả năng thích ứng. Ba trung tâm này,
1. Between the shoulder blades,
1. Giữa hai xương bả vai,
2. Above the diaphragm,
2. Phía trên cơ hoành,
3. And the spleen
3. Và lá lách
make, if one could but see it, a radiant etheric triangle, which triangle is the originating impulse for the later pranic circulation throughout the entire system. The etheric body is really a net-work of fine channels, which are the component parts of one interlacing fine cord,—one portion of this cord being the magnetic link which unites the physical and the astral bodies and which is snapped or broken after the withdrawal of the etheric body from the dense physical body at the time of death. The silver cord is loosed, as the Bible expresses it (The Bible. Ecc: XII, 6.), and this is the basis of the legend of the fateful sister who cuts the thread of life with the dreaded shears.
tạo thành, nếu người ta có thể thấy được, một tam giác dĩ thái rực sáng, mà tam giác này là xung lực khởi nguyên cho sự tuần hoàn prana về sau trong toàn bộ hệ thống. Thể dĩ thái thực sự là một mạng lưới các kênh nhỏ mịn, là những bộ phận cấu thành của một sợi dây mịn đan xen duy nhất,—một phần của sợi dây này là liên kết từ tính nối thể xác với thể cảm dục và bị đứt hay gãy sau khi thể dĩ thái rút ra khỏi thể xác đậm đặc vào lúc chết. Sợi dây bạc được tháo lỏng, như Kinh Thánh diễn tả (Kinh Thánh. Truyền: XII, 6.), và đây là cơ sở của truyền thuyết về người chị em định mệnh cắt sợi dây sự sống bằng chiếc kéo đáng sợ.
The etheric web is composed of the intricate weaving of this vitalised cord, and apart from the seven centres [Page 99] within the web (which correspond to the sacred centres, and of which the spleen is frequently counted as one) it has the two above mentioned, which make—with the spleen—a triangle of activity. The etheric web of the solar system is of an analogous nature, and likewise has its three receptive centres for cosmic prana. The mysterious band in the heavens, which we call the Milky Way, (S. D. II. 250) is closely connected with cosmic prana, or that cosmic vitality or nourishment which vitalises the solar etheric system.
Mạng dĩ thái được cấu tạo bởi sự dệt đan phức tạp của sợi dây đã được tiếp sinh lực này, và ngoài bảy trung tâm [Page 99] bên trong mạng (tương ứng với các trung tâm thiêng liêng, và trong đó lá lách thường được tính là một) nó còn có hai trung tâm đã nói ở trên, hợp với lá lách thành một tam giác hoạt động. Mạng dĩ thái của hệ mặt trời có bản chất tương tự, và cũng có ba trung tâm tiếp nhận prana vũ trụ. Dải bí ẩn trên bầu trời mà chúng ta gọi là Dải Ngân Hà, (S. D. II. 250) có liên hệ mật thiết với prana vũ trụ, hay sinh lực hay dưỡng chất vũ trụ tiếp sinh lực cho hệ dĩ thái thái dương.
2. The assimilator of prana. — 2. Bộ đồng hoá prana.
The process of assimilation is carried on in this triangle, and the prana which enters into either centre, circulates three times around the triangle before being transmitted to all parts of the etheric vehicle and from thence to the dense physical body. The main organ of assimilation is the spleen—the etheric centre and the dense physical organ. The vital essence from the sun is passed into the etheric spleen, and is there subjected to a process of intensification or devitalisation, according to the condition, healthy or not, of that organ. If the man is in a healthy state the emanation received will be augmented by his own individual vibration, and its rate of vibration will be keyed up before it is passed on into the physical spleen; or it will be slowed down and lowered if the man is in a poor condition of health.
Tiến trình đồng hoá được thực hiện trong tam giác này, và prana đi vào bất kỳ trung tâm nào sẽ tuần hoàn ba lần quanh tam giác trước khi được truyền đến mọi phần của vận cụ dĩ thái và từ đó đến thể xác đậm đặc. Cơ quan chính của sự đồng hoá là lá lách—trung tâm dĩ thái và cơ quan hồng trần đậm đặc. Tinh chất sinh lực từ mặt trời được chuyển vào lá lách dĩ thái, và tại đó chịu một tiến trình tăng cường hay làm mất sinh lực, tùy theo tình trạng lành mạnh hay không của cơ quan ấy. Nếu con người ở trong trạng thái khỏe mạnh thì phát xạ tiếp nhận được sẽ được tăng cường bởi rung động cá nhân của chính y, và nhịp rung của nó sẽ được nâng cao trước khi được chuyển vào lá lách hồng trần; hoặc nó sẽ bị làm chậm lại và hạ thấp nếu con người ở trong tình trạng sức khỏe kém.
These three centres are in the form that all centres take, of saucer-like depressions, resembling somewhat the appearance of small whirlpools, and which draw within their sphere of influence the currents that come their way.
Ba trung tâm này có hình dạng mà mọi trung tâm đều có, là những chỗ lõm như chiếc đĩa, phần nào giống các xoáy nước nhỏ, và hút vào trong phạm vi ảnh hưởng của chúng các dòng chảy đi ngang qua.
The centres should be pictured as whirling vortices with a closely woven threefold channel passing from each centre to the other, and forming an almost separate circulatory system. This finds its point of departure for [Page 100] the entire system at the further side of the spleen to that at which the prana entered. The vital fluid circulates through and between these three centres three times, before it finally passes out from them to the periphery of its little system. This final circulation carries the prana, via the fine interlacing channels, to every part of the body, which becomes entirely impregnated by these emanations, if it might be so expressed. These emanations find their way finally out of the etheric system by means of surface radiation. The pranic essence escapes from the circumference of its temporary ring-pass-not as emanative human prana, which is the same prana as earlier received, plus the peculiar quality that any single individual may convey to it during its transitory circulation. The essence escapes, plus individual quality.
Nên hình dung các trung tâm như những xoáy lốc quay tròn với một kênh tam phân đan dệt chặt chẽ đi từ mỗi trung tâm sang trung tâm kia, tạo thành một hệ tuần hoàn gần như riêng biệt. Hệ này tìm thấy điểm khởi hành của nó cho [Page 100] toàn bộ hệ thống ở phía bên kia của lá lách so với nơi prana đi vào. Lưu chất sinh lực tuần hoàn xuyên qua và giữa ba trung tâm này ba lần, trước khi cuối cùng đi ra khỏi chúng đến chu vi của hệ nhỏ của nó. Sự tuần hoàn cuối cùng này mang prana, qua các kênh nhỏ đan xen, đến mọi phần của thể, vốn trở nên hoàn toàn thấm đẫm các phát xạ này, nếu có thể diễn tả như vậy. Các phát xạ này cuối cùng tìm đường ra khỏi hệ dĩ thái bằng bức xạ bề mặt. Tinh chất prana thoát ra khỏi chu vi của vòng-giới-hạn tạm thời của nó như prana phát xạ của con người, tức chính là prana đã tiếp nhận trước đó, cộng thêm phẩm tính đặc thù mà bất kỳ cá nhân nào cũng có thể truyền cho nó trong thời gian tuần hoàn thoáng qua của nó. Tinh chất thoát ra, cộng thêm phẩm tính cá nhân.
Here again can be seen the correspondence to the escape of all essences from within any ring-pass-not when the cycle has been completed.
Ở đây một lần nữa có thể thấy định luật tương ứng với sự thoát ra của mọi tinh chất từ bên trong bất kỳ vòng-giới-hạn nào khi chu kỳ đã hoàn tất.
This matter of the etheric body is of a very practical interest, and when its importance is better realised, men will attend to the distribution of prana within the body with closer attention, and will see that the vitalisation of the body, via the three centres, proceeds unhindered.
Vấn đề về thể dĩ thái này có một ý nghĩa thực tiễn rất lớn, và khi tầm quan trọng của nó được chứng nghiệm rõ hơn, con người sẽ chú ý sát sao hơn đến sự phân phối prana trong thể, và sẽ thấy rằng sự tiếp sinh lực cho thể, qua ba trung tâm, diễn ra không bị cản trở.
The subject has necessarily to be handled in a superficial manner, and only outlines and scattered hints can be given. Nevertheless, it will be found that if this teaching is studied with care, it will convey a knowledge of truths whose calibre and content will prove invaluable and of a kind hitherto not given out. The place of the etheric sheath as a separator or ring-pass-not, and its functions as a receiver and distributor of prana, are dealt with here in a larger sense than heretofore, and the subject may later be enlarged.
Đề tài này tất yếu phải được trình bày một cách khái quát, và chỉ có thể đưa ra những nét phác cùng những gợi ý rải rác. Tuy nhiên, sẽ thấy rằng nếu giáo huấn này được nghiên cứu cẩn trọng, nó sẽ truyền đạt tri thức về những chân lý mà tầm mức và nội dung của chúng sẽ chứng tỏ là vô giá và thuộc loại từ trước đến nay chưa từng được công bố. Vị trí của lớp vỏ dĩ thái như một vật ngăn cách hay vòng-giới-hạn, và các chức năng của nó như bộ tiếp nhận và phân phối prana, ở đây được bàn đến theo một ý nghĩa rộng lớn hơn trước kia, và đề tài này về sau có thể được khai triển thêm.
Two fundamental truths stand out from the aggregate of facts so slightly dealt with here: [Page 101]
Hai chân lý căn bản nổi bật lên từ toàn bộ các sự kiện chỉ được đề cập rất sơ lược ở đây: [Page 101]
First. The fourth etheric subplane of the physical plane is the immediate concern of
Thứ nhất. Cõi phụ dĩ thái thứ tư của cõi hồng trần là mối quan tâm trực tiếp của
a. Man, the Microcosm,
a. Con người, Tiểu thiên địa,
b. The Heavenly Man, the planetary Logos,
b. Đấng Thiên Nhân, Hành Tinh Thượng đế,
c. The Grand Man of the Heavens, the solar Logos.
c. Đại Nhân của Thiên Giới, Thái dương Thượng đế.
Second. In this fourth chain and fourth round, the fourth ether is beginning to be studied, and—viewed as a separating web—it permits occasional exit to those of suitable vibration.
Thứ hai. Trong dãy thứ tư và cuộc tuần hoàn thứ tư này, dĩ thái thứ tư đang bắt đầu được nghiên cứu, và—khi được xem như một mạng ngăn cách—nó cho phép sự thoát ra từng lúc của những ai có rung động thích hợp.
3. The Transmitter of Prana. — 3. Bộ truyền dẫn Prana.
We have touched but little on the subject of the fire, the purpose of the etheric body being to convey it and distribute it to all parts of its system. We have dwelt on facts which might stimulate interest and emphasise the utility of this pranic vehicle. Certain facts need emphasis and consideration as we study this static ring and its circulating fires. Let me briefly recapitulate for the sake of clarity:
Chúng ta mới chỉ chạm rất ít đến đề tài lửa, trong khi mục đích của thể dĩ thái là chuyển tải nó và phân phối nó đến mọi phần trong hệ thống của nó. Chúng ta đã lưu tâm đến những sự kiện có thể khơi dậy sự quan tâm và nhấn mạnh tính hữu dụng của vận cụ prana này. Có một số sự kiện cần được nhấn mạnh và xem xét khi chúng ta nghiên cứu vòng tĩnh này và các ngọn lửa tuần hoàn của nó. Xin cho phép tôi tóm lược ngắn gọn để được rõ ràng:
The System receives prana from cosmic sources via three centres, and redistributes it to all parts of its extended influence, or to the bounds of the solar etheric web. This cosmic prana becomes colored by solar quality and reaches the furthest confines of the system. Its mission might be described as the vitalisation of the vehicle which is the physical material expression of the solar Logos.
Hệ thống tiếp nhận prana từ các nguồn vũ trụ qua ba trung tâm, và phân phối lại nó đến mọi phần trong phạm vi ảnh hưởng mở rộng của nó, hay đến các ranh giới của mạng dĩ thái thái dương. Prana vũ trụ này được nhuốm phẩm tính thái dương và đạt đến những biên giới xa nhất của hệ thống. Sứ mạng của nó có thể được mô tả như là sự tiếp sinh lực cho vận cụ là biểu hiện vật chất hồng trần của Thái dương Thượng đế.
The Planet receives prana from the solar centre, and redistributes it via the three receiving centres to all parts of its sphere of influence. This solar prana becomes colored by the planetary quality and is absorbed by all evolutions found within the planetary ring-pass-not. Its mission might be described as the vitalisation of the vehicle which is the physical material expression of one or other of the seven Heavenly Men.
Hành tinh tiếp nhận prana từ trung tâm thái dương, và phân phối lại nó qua ba trung tâm tiếp nhận đến mọi phần trong phạm vi ảnh hưởng của nó. Prana thái dương này được nhuốm phẩm tính hành tinh và được hấp thu bởi mọi tiến hoá hiện diện trong vòng-giới-hạn hành tinh. Sứ mạng của nó có thể được mô tả như là sự tiếp sinh lực cho vận cụ là biểu hiện vật chất hồng trần của một trong bảy Đấng Thiên Nhân.
[Page 102] The Microcosm receives prana from the sun after it has permeated the planetary etheric vehicle, so that it is solar prana, plus planetary quality. Each planet is the embodiment of some one ray aspect, and its quality is marked predominantly on all its evolution.
[Page 102] Tiểu thiên địa tiếp nhận prana từ mặt trời sau khi nó đã thấm qua vận cụ dĩ thái hành tinh, do đó nó là prana thái dương cộng thêm phẩm tính hành tinh. Mỗi hành tinh là hiện thân của một phương diện cung nào đó, và phẩm tính của nó được ghi dấu nổi trội trên toàn bộ tiến hoá của nó.
Prana, therefore, which is active radiatory heat, varies in vibration and quality according to the receiving Entity. Man passes the prana through his etheric vehicle, colors it with his own peculiar quality, and so transmits it to the lesser lives that make up his little system. Thus, the great interaction goes on, and all parts blend, merge and are interdependent; and all parts receive, color, qualify and transmit. An endless circulation goes on that has neither a conceivable beginning nor possible end from the point of view of finite man, for its source and end are hid in the unknown cosmic fount. Were conditions everywhere perfected this circulation would proceed unimpeded and might result in a condition of almost endless duration, but limitation and termination result as the effects of imperfection giving place to a gradual perfection. Every cycle originates from another cycle of a relative completeness, and will give place ever to a higher spiral; thus eventuate periods of apparent relative perfection leading to those which are still greater.
Do đó, prana, vốn là nhiệt bức xạ hoạt động, thay đổi về rung động và phẩm tính tùy theo Thực Thể tiếp nhận. Con người chuyển prana qua vận cụ dĩ thái của mình, nhuốm nó bằng phẩm tính đặc thù riêng của mình, và như thế truyền nó đến các sự sống nhỏ hơn cấu thành hệ nhỏ của mình. Như vậy, sự tương tác lớn lao tiếp diễn, và mọi phần hòa nhập, dung hợp và tương thuộc lẫn nhau; và mọi phần đều tiếp nhận, nhuốm màu, định tính và truyền dẫn. Một sự tuần hoàn vô tận tiếp diễn, không có khởi đầu nào con người hữu hạn có thể quan niệm được, cũng không có kết thúc nào có thể có theo quan điểm của con người hữu hạn, vì nguồn và đích của nó ẩn kín trong suối nguồn vũ trụ chưa biết. Nếu các điều kiện ở khắp nơi đều hoàn thiện thì sự tuần hoàn này sẽ diễn ra không bị ngăn trở và có thể dẫn đến một trạng thái gần như kéo dài vô tận, nhưng sự giới hạn và chấm dứt lại là kết quả của sự bất toàn nhường chỗ cho một sự hoàn thiện dần dần. Mỗi chu kỳ khởi sinh từ một chu kỳ khác có tính hoàn tất tương đối, và sẽ luôn nhường chỗ cho một vòng xoắn cao hơn; do đó xuất hiện những thời kỳ hoàn thiện tương đối bề ngoài dẫn đến những thời kỳ còn lớn lao hơn nữa.
The aim for this greater cycle is the blending, as we know, of the two fires of matter, latent and active, and their merging with the fires of mind and spirit till they are lost from sight in the general flame; the fires of mind and spirit burn up matter and thereby bring about liberation from the confining vehicles. The altar of earth is the birthplace of spirit, its liberator from the mother (matter), and its entrance into higher realms.
Mục tiêu của chu kỳ lớn hơn này, như chúng ta biết, là sự hòa nhập của hai ngọn lửa của vật chất, tiềm ẩn và hoạt động, và sự dung hợp của chúng với các ngọn lửa của trí tuệ và tinh thần cho đến khi chúng mất hút trong ngọn lửa chung; các ngọn lửa của trí tuệ và tinh thần thiêu đốt vật chất và nhờ đó đem lại sự giải thoát khỏi các vận cụ giam hãm. Bàn thờ của đất là nơi sinh ra tinh thần, là đấng giải thoát nó khỏi người mẹ (vật chất), và là lối vào của nó đến các cõi cao hơn.
Hence, when the pranic vehicle is working perfectly in all three groups, human, planetary and solar, the union with latent fire will be accomplished. Here lies [Page 103] the reason for the emphasis laid on the necessity for building pure, refined physical vehicles. The more refined and rarefied the form, the better a receiver of prana will it be, and the less will be the resistance found to the uprising of kundalini at the appointed time. Coarse matter and crude immature physical bodies are a menace to the occultist, and no true seer will be found with a body of a gross quality. The dangers of disruption are too great, and the menace of disintegration by fire too awful. Once in the history of the race (in Lemurian days) this was seen in the destruction of the race and the continents by means of fire. (45) The Guides of the race at that time availed Themselves of just this very thing to bring about the finish of an inadequate form. The latent fire of matter (as seen in volcanic display, for instance) and the radiatory fire of the system were combined. Planetary kundalini and solar emanation rushed into conjunction, and the work of destruction was accomplished. The same thing may again be seen, only in matter of the second ether, and the effects therefore will be less severe owing to the rarity of this ether and the comparatively greater refinement of the vehicles.
Do đó, khi vận cụ prana hoạt động hoàn hảo trong cả ba nhóm, nhân loại, hành tinh và thái dương, thì sự hợp nhất với lửa tiềm ẩn sẽ được hoàn thành. Chính trong đây có [Page 103] lý do của sự nhấn mạnh đặt vào nhu cầu xây dựng những vận cụ hồng trần thanh khiết, tinh luyện. Hình tướng càng tinh luyện và càng thanh nhẹ, nó sẽ càng là một bộ tiếp nhận prana tốt hơn, và sẽ càng ít gặp sự kháng cự đối với sự trỗi dậy của kundalini vào thời điểm đã định. Vật chất thô nặng và các thể xác hồng trần thô sơ chưa trưởng thành là một mối nguy cho nhà huyền bí học, và sẽ không tìm thấy một nhà thông nhãn chân chính nào với một thể có phẩm chất thô trược. Những nguy cơ đổ vỡ là quá lớn, và mối đe dọa tan rã bởi lửa là quá khủng khiếp. Đã từng có một lần trong lịch sử nhân loại (vào thời Lemuria) điều này được thấy trong sự hủy diệt của nhân loại và các lục địa bằng lửa. (45) Các Đấng Hướng Dẫn của nhân loại vào thời đó đã vận dụng chính điều này để đem lại sự kết thúc cho một hình tướng không thích hợp. Lửa tiềm ẩn của vật chất (chẳng hạn như thấy trong các biểu hiện núi lửa) và lửa bức xạ của hệ thống đã được kết hợp. Kundalini hành tinh và phát xạ thái dương lao vào đồng vị, và công việc hủy diệt đã được hoàn tất. Điều tương tự có thể lại được thấy, chỉ khác là trong vật chất của dĩ thái thứ hai, và do đó các hiệu quả sẽ ít nghiêm trọng hơn vì tính thanh nhẹ của dĩ thái này và sự tinh luyện tương đối lớn hơn của các vận cụ.
(45) In the Secret Doctrine, Vol. I, p. 473, footnote, the destruction of Lemuria by fire is hinted at, and in the Secret Doctrine, II, 149, footnote, the words occur, “Lemuria was not submerged but was destroyed by volcanic action, and afterward sank.” (back)
(45) Trong Giáo Lý Bí Nhiệm, Tập I, tr. 473, chú thích, sự hủy diệt của Lemuria bằng lửa được ám chỉ đến, và trong Giáo Lý Bí Nhiệm, II, 149, chú thích, có những lời như sau, “Lemuria không bị nhấn chìm mà bị hủy diệt bởi hoạt động núi lửa, và sau đó chìm xuống.” (trở lại)
We might here note a fact of interest, though of a mystery insoluble as yet to most of us, and that is, that these destructions by fire are part of the tests by fire of an initiation of that one of the Heavenly Men Whose karma is bound up with our earth.
Ở đây chúng ta có thể lưu ý một sự kiện đáng quan tâm, dù vẫn còn là một huyền nhiệm chưa thể giải được đối với phần lớn chúng ta, đó là những sự hủy diệt bằng lửa này là một phần của các cuộc thử thách bằng lửa trong một cuộc điểm đạo của một trong các Đấng Thiên Nhân mà nghiệp quả của Ngài gắn liền với địa cầu của chúng ta.
Each destruction of a portion of the web results in a greater facility of exit, and is in reality (when seen from the higher planes) a step forward and an expansion. A repetition of this takes place likewise in the system at the stated cycles.[Page 104]
Mỗi sự hủy diệt một phần của mạng đều dẫn đến sự dễ dàng thoát ra lớn hơn, và thực ra (khi được nhìn từ các cõi cao hơn) là một bước tiến và một sự mở rộng. Sự lặp lại của điều này cũng diễn ra trong hệ thống vào những chu kỳ đã định.[Page 104]
S1S11
4. Disorders of the etheric body. — 4. Những rối loạn của thể dĩ thái.
We will now study the etheric body, and its ills and also its after death condition. This matter can be only briefly touched upon. All that may now be indicated is a general idea of the fundamental ailments to which the etheric may be subject, and the trend which applied medicine may later take when occult laws are better understood. One fact must here be brought out—a fact but little comprehended or even apprehended. This is the significant fact that the ills of the etheric vehicle, in the case of the microcosm, will be found likewise in the Macrocosm. Herein lies the knowledge that ofttimes explains the apparent miseries of nature. Some of the great world evils have their source in etheric ills, extending the idea of the etheric to planetary conditions and even to solar. As we touch upon the causes of etheric distress in man, their planetary and solar correspondences and reactions may perhaps be realised. We will need to bear carefully in mind when studying this matter, that all the diseases of the etheric body will appertain to its threefold purpose and be either:
Giờ đây chúng ta sẽ nghiên cứu thể dĩ thái, các bệnh trạng của nó và cả tình trạng của nó sau khi chết. Vấn đề này chỉ có thể được chạm đến một cách ngắn gọn. Tất cả những gì hiện nay có thể nêu ra chỉ là một ý niệm tổng quát về các bệnh căn bản mà thể dĩ thái có thể phải chịu, và xu hướng mà y học ứng dụng về sau có thể đi theo khi các định luật huyền bí được thấu hiểu rõ hơn. Ở đây cần nêu ra một sự kiện—một sự kiện rất ít được thấu hiểu hay thậm chí được nhận biết. Đó là sự kiện quan trọng rằng các bệnh trạng của vận cụ dĩ thái, trong trường hợp của tiểu thiên địa, cũng sẽ được tìm thấy trong Đại thiên địa. Chính trong đây có tri thức thường giải thích những khổ đau bề ngoài của thiên nhiên. Một số đại ác của thế giới có nguồn gốc trong các bệnh trạng dĩ thái, nếu mở rộng ý niệm về dĩ thái sang các điều kiện hành tinh và thậm chí cả thái dương. Khi chúng ta chạm đến các nguyên nhân của sự khốn khổ dĩ thái nơi con người, các tương ứng và phản ứng hành tinh và thái dương của chúng có lẽ sẽ được chứng nghiệm. Khi nghiên cứu vấn đề này, chúng ta cần cẩn thận ghi nhớ rằng mọi bệnh của thể dĩ thái sẽ thuộc về mục đích tam phân của nó và sẽ hoặc là:
a. Functional and thereby affecting its apprehension of prana,
a. Chức năng và do đó ảnh hưởng đến sự tiếp nhận prana của nó,
b. Organic, and thereby affecting its distribution of prana,
b. Cơ quan, và do đó ảnh hưởng đến sự phân phối prana của nó,
c. Static, and thereby affecting the web, when viewed solely from the angle of providing a physical ring-pass-not, and acting as a separator between the physical and the astral.
c. Tĩnh, và do đó ảnh hưởng đến mạng, khi chỉ được nhìn từ góc độ cung cấp một vòng-giới-hạn hồng trần, và hoạt động như một vật ngăn cách giữa hồng trần và cảm dục.
These three different groups of functions or purposes are each of paramount interest, lead to totally different results, and react in a different manner both outwardly and inwardly.
Ba nhóm chức năng hay mục đích khác nhau này, mỗi nhóm đều cực kỳ quan trọng, dẫn đến những kết quả hoàn toàn khác nhau, và phản ứng theo những cách khác nhau cả bên ngoài lẫn bên trong.
Viewed from the planetary standpoint the same conditions will be perceived, and the etheric planetary body [Page 105] (which is fundamentally the body in the case of the sacred planets, of which the Earth is not one) will have its functional disorders, which will affect its reception of prana, will suffer its organic troubles which may affect its distribution, and those disorders which permit of trouble in the etheric web, which forms the ring-pass-not for the involved planetary Spirit. Here I would point out that in the case of the planetary Spirits Who are on the divine evolutionary arc, the Heavenly Men Whose bodies are planets, the etheric web does not form a barrier, but (like the Karmic Lords on a higher plane) They have freedom of movement outside the bounds of the planetary web within the circumference of the solar ring-pass-not. (46)
Được nhìn từ quan điểm hành tinh, cũng sẽ nhận thấy các điều kiện tương tự, và thể dĩ thái hành tinh [Page 105] (vốn về căn bản là thể trong trường hợp các hành tinh thiêng liêng, mà Trái Đất không phải là một trong số đó) sẽ có những rối loạn chức năng, ảnh hưởng đến sự tiếp nhận prana của nó, sẽ chịu những trục trặc hữu cơ có thể ảnh hưởng đến sự phân phối của nó, và những rối loạn cho phép phát sinh sự cố trong mạng dĩ thái, vốn tạo thành vòng-giới-hạn cho Tinh thần hành tinh liên hệ. Ở đây tôi muốn chỉ ra rằng trong trường hợp các Tinh thần hành tinh đang ở trên cung tiến hoá thiêng liêng, các Đấng Thiên Nhân mà thể của Các Ngài là các hành tinh, thì mạng dĩ thái không tạo thành một rào cản, mà (giống như các Đấng Nghiệp Quả ở một cõi cao hơn) Các Ngài có tự do di chuyển ra ngoài giới hạn của mạng hành tinh trong chu vi của vòng-giới-hạn thái dương. (46)
(46) The planetary Spirit is another term for the Logos of our planet, one of the “seven Spirits before the Throne,” and therefore one of the seven Heavenly Men. He is on the evolutionary arc of the universe, and has passed many stages beyond the human.
(46) Tinh thần hành tinh là một thuật ngữ khác chỉ Thượng đế của hành tinh chúng ta, một trong “Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai”, và do đó là một trong bảy Đấng Thiên Nhân. Ngài ở trên cung tiến hoá của vũ trụ, và đã vượt qua nhiều giai đoạn vượt xa con người.
The planetary Entity is on the involutionary arc and is a very low grade Entity. He is the sum total of all the elemental lives of the planet. (back)
Thực Thể Hành Tinh ở trên cung giáng hạ tiến hoá và là một Thực Thể có cấp độ rất thấp. Y là tổng thể của mọi sự sống hành khí của hành tinh. (back)
Again from the systemic standpoint, these same effects may be observed, functionally, this time in connection with the cosmic centre; organically, in connection with the sum total of the planetary systems; and statically, in connection with the solar or logoic ring-pass-not.
Một lần nữa, từ quan điểm hệ thống, cũng có thể quan sát các hiệu quả tương tự này: về mặt chức năng, lần này trong liên hệ với trung tâm vũ trụ; về mặt hữu cơ, trong liên hệ với tổng thể các hệ hành tinh; và về mặt tĩnh, trong liên hệ với vòng-giới-hạn thái dương hay logoi.
We might now, for purposes of clarity, take up these three groups separately and briefly touch upon them and hint (for more will not be possible) at methods of cure and of adjustment.
Giờ đây, để cho rõ ràng, chúng ta có thể xét riêng ba nhóm này và đề cập ngắn gọn đến chúng, đồng thời gợi ý (vì không thể làm hơn) về các phương pháp chữa trị và điều chỉnh.
a. Microcosmic functional disorders. These have to do with the reception by man, via the necessary centres, of the pranic fluids. We must always bear in mind, and thus keep the distinction clear, that these emanations of prana have to do with the heat latent in matter; when received and functioning through the etheric body correctly, they co-operate with the natural latent bodily [Page 106] warmth, and (merging therewith) hold the body in a vitalised condition, imposing upon the matter of the body a certain rate of vibratory action that leads to the necessary activity of the physical vehicle, and the right functioning of its organs. It will, therefore, be apparent that the A. B. C. of bodily health is wrapped up in the right reception of prana, and that one of the basic changes that must be made in the life of the human animal (which is the aspect we are dealing with now) will be in the ordinary conditions of living.
a. Các rối loạn chức năng vi mô. Những rối loạn này liên quan đến sự tiếp nhận của con người, qua các trung tâm cần thiết, các lưu chất prana. Chúng ta phải luôn ghi nhớ, và nhờ đó giữ cho sự phân biệt được rõ ràng, rằng các phát xạ prana này liên quan đến nhiệt ẩn tàng trong vật chất; khi được tiếp nhận và hoạt động đúng đắn qua thể dĩ thái, chúng hợp tác với nhiệt tự nhiên tiềm ẩn của thể [Page 106] và (hòa nhập với nó) giữ cho thể ở trong trạng thái được tiếp sinh lực, áp đặt lên vật chất của thể một nhịp độ hoạt động rung động nhất định dẫn đến hoạt động cần thiết của vận cụ hồng trần, và sự vận hành đúng đắn của các cơ quan của nó. Vì vậy, hiển nhiên là ABC của sức khỏe thể xác gắn liền với sự tiếp nhận đúng đắn prana, và một trong những thay đổi căn bản phải được thực hiện trong đời sống của người thú (là phương diện chúng ta đang bàn đến lúc này) sẽ nằm ở các điều kiện sinh hoạt thông thường.
The three fundamental centres whereby reception is brought about must be allowed to function with greater freedom, and with less restriction. Now, owing to centuries of wrong living, and to basic mistakes (originating in Lemurian days) man’s three pranic centres are not in good working order. The centre between the shoulder blades is in the best receptive condition, though owing to the poor condition of the spinal column (which in so many is out of accurate alignment), its position in the back is apt to be misplaced. The splenic centre near the diaphragm is sub-normal in size and its vibration is not correct. In the case of the aboriginal dwellers in such localities as the South Seas, better etheric conditions will be found; the life they lead is more normal (from the animal standpoint) than in any other portion of the world.
Ba trung tâm căn bản nhờ đó sự tiếp nhận được thực hiện phải được để cho hoạt động với tự do lớn hơn và với ít hạn chế hơn. Hiện nay, do nhiều thế kỷ sống sai lầm, và do những sai lầm căn bản (bắt nguồn từ thời Lemuria), ba trung tâm prana của con người không ở trong tình trạng hoạt động tốt. Trung tâm giữa hai bả vai ở trong tình trạng tiếp nhận tốt nhất, dù do tình trạng kém của cột sống (vốn ở rất nhiều người không được chỉnh hợp chính xác), vị trí của nó ở lưng dễ bị lệch chỗ. Trung tâm lá lách gần cơ hoành thì có kích thước dưới mức bình thường và rung động của nó không đúng. Trong trường hợp các cư dân bản địa ở những địa phương như Nam Hải, sẽ thấy các điều kiện dĩ thái tốt hơn; đời sống họ sống bình thường hơn (xét từ quan điểm động vật) so với bất kỳ phần nào khác của thế giới.
The race suffers from certain incapacities, which may be described as follows:
Nhân loại chịu đựng một số sự bất lực, có thể được mô tả như sau:
First. Inability to tap pranic currents, owing to the unhealthy lives passed by so many. This involves the cutting off of the source of supply, and the consequent atrophying and shrinkage of the receptive centres. This is seen in an exaggerated form in the children of the congested quarters of any great city, and in the vitiated anemic dwellers of the slums. The cure is apparent—the bringing about of better living conditions, the employment [Page 107] of more appropriate clothing, and the adoption of a freer and more salubrious mode of living. When the pranic rays can find free access to the shoulders, and to the diaphragm, the subnormal state of the average spleen will adjust itself automatically.
Thứ nhất. Không có khả năng khai thác các dòng prana, do đời sống không lành mạnh mà quá nhiều người đã sống. Điều này kéo theo việc cắt đứt nguồn cung cấp, và hậu quả là các trung tâm tiếp nhận bị teo đi và co rút lại. Điều này được thấy dưới hình thức cường điệu nơi trẻ em ở các khu chật chội của bất kỳ thành phố lớn nào, và nơi những cư dân thiếu máu, suy nhược của các khu ổ chuột. Phương thuốc thì rõ ràng—tạo ra các điều kiện sống tốt hơn, sử dụng [Page 107] y phục thích hợp hơn, và chấp nhận một lối sống tự do hơn và lành mạnh hơn. Khi các tia prana có thể tự do đi vào vai và cơ hoành, tình trạng dưới mức bình thường của lá lách trung bình sẽ tự động điều chỉnh.
Second. Over-ability to tap pranic currents. The first type of functional disorder is common and widespread. Its reverse can be found where conditions of life are such that the centres (through too direct and prolonged submittal to solar emanation) become overdeveloped, vibrate too rapidly, and receive prana in too great an amount. This is rarer, but is found in some tropical countries, and is responsible for much of the troublesome debility that attacks dwellers in these lands. The etheric body receives prana or solar rays too rapidly, passes it through and out of the system with too much force, and this leaves the victim a prey to inertia and devitalisation. Putting it otherwise, the etheric body becomes lazy, is like an unstrung web, or (to use a very homely illustration) it resembles a tennis racket which has become too soft, and has lost its resilience. The inner triangle transmits the pranic emanations with too great rapidity, giving no time for the subsidiary absorption, and the whole system is thereby the loser. Later it will be found that many of the ills that Europeans, living in India, fall heir to, originate in this way; and by attention, therefore, to the spleen, and by wise control of living conditions, some of the trouble may be obviated.
Thứ hai. Khả năng khai thác các dòng prana quá mức. Loại rối loạn chức năng thứ nhất là phổ biến và lan rộng. Điều ngược lại của nó có thể được tìm thấy ở nơi các điều kiện sống khiến cho các trung tâm (do chịu trực tiếp và kéo dài quá mức các phát xạ thái dương) trở nên phát triển quá độ, rung động quá nhanh, và tiếp nhận prana với số lượng quá lớn. Điều này hiếm hơn, nhưng được thấy ở một số nước nhiệt đới, và là nguyên nhân của phần lớn tình trạng suy nhược phiền toái tấn công cư dân ở những vùng đất này. Thể dĩ thái tiếp nhận prana hay các tia thái dương quá nhanh, truyền nó xuyên qua và ra khỏi hệ thống với lực quá mạnh, và điều này khiến nạn nhân trở thành mồi cho quán tính và sự mất sinh lực. Nói cách khác, thể dĩ thái trở nên lười biếng, giống như một mạng lưới bị chùng, hoặc (dùng một minh họa rất đời thường) nó giống như một cây vợt tennis đã trở nên quá mềm và đã mất tính đàn hồi. Tam giác bên trong truyền các phát xạ prana với tốc độ quá lớn, không cho thời gian để sự hấp thu phụ trợ diễn ra, và bởi vậy toàn bộ hệ thống bị thiệt hại. Về sau người ta sẽ thấy rằng nhiều chứng bệnh mà người châu Âu sống ở Ấn Độ phải gánh chịu phát sinh theo cách này; và do đó, bằng sự chú ý đến lá lách, và bằng sự kiểm soát khôn ngoan các điều kiện sống, một phần rắc rối có thể được ngăn ngừa.
In touching upon similar conditions in the planet, both these types of trouble will be found. More cannot be said, but in the wise study of solar radiation upon the surface of the planet in connection with its rotary action, some of the group rules of health may be comprehended and followed. The spirit of the planet (or the planetary entity) likewise has his cycles, and in the absorption of [Page 108] planetary prana, and in its correct distribution, lies the secret of fertility and equable vegetation. Much of this is hidden in the fabled story of the war between fire and water, which has its basis in the reaction of the fire latent in matter, to the fire emanating outside of matter, and playing upon it. In the interval that has to elapse while the two are in process of blending, come those periods where, through karmic inheritance, reception is unstable and distribution inequable. As the point of race equilibrium is reached, so planetary equilibrium will likewise be attained, and in planetary attainment will come the equilibrium that must mutually take place between the solar planets. When they attain a mutual balance and interaction then the system is stabilised and perfection reached. The even distribution of prana will parallel this balancing in the man, in the race, in the planet and in the system. This is but another way of saying that uniform vibration will be achieved.
Khi đề cập đến các điều kiện tương tự trong hành tinh, sẽ thấy cả hai loại rắc rối này. Không thể nói thêm, nhưng trong việc nghiên cứu khôn ngoan bức xạ thái dương trên bề mặt hành tinh liên hệ với chuyển động quay của nó, có thể thấu hiểu và tuân theo một số quy luật sức khỏe của nhóm. Tinh linh linh địa cầu của hành tinh (hay thực thể hành tinh) cũng có các chu kỳ của y, và chính trong sự hấp thu [Page 108] prana hành tinh, và trong sự phân phối đúng đắn của nó, có bí mật của sự phì nhiêu và thực vật sinh trưởng đồng đều. Phần lớn điều này được che giấu trong câu chuyện huyền thoại về cuộc chiến giữa lửa và nước, vốn có cơ sở trong phản ứng của lửa ẩn tàng trong vật chất đối với lửa phát ra từ bên ngoài vật chất và tác động lên nó. Trong khoảng thời gian phải trôi qua khi cả hai đang trong tiến trình hòa trộn, xuất hiện những giai đoạn mà, do di sản nghiệp quả, sự tiếp nhận thì bất ổn và sự phân phối thì không đồng đều. Khi đạt đến điểm quân bình của nhân loại, thì quân bình hành tinh cũng sẽ đạt được; và trong sự thành tựu của hành tinh sẽ đến sự quân bình phải diễn ra một cách hỗ tương giữa các hành tinh thái dương. Khi chúng đạt đến sự cân bằng và tương tác hỗ tương thì hệ thống được ổn định và sự hoàn hảo được đạt tới. Sự phân phối đồng đều prana sẽ song hành với sự quân bình này nơi con người, nơi nhân loại, nơi hành tinh và nơi hệ thống. Đây chỉ là một cách khác để nói rằng rung động đồng nhất sẽ được đạt tới.
b. Microcosmic organic disorders. These are basically two in number:
b. Các rối loạn hữu cơ vi mô. Về căn bản, chúng có hai loại:
Troubles due to congestion.
Các rắc rối do tắc nghẽn.
Destruction of tissue due to over-absorption of prana, or its too rapid blending with latent physical fire.
Sự phá hủy mô do hấp thu prana quá mức, hoặc do nó hòa trộn quá nhanh với lửa hồng trần tiềm ẩn.
We have a curious illustration of both of these forms of trouble in sun stroke and in heat stroke. Though supposedly understood by physicians, they are nevertheless altogether etheric disorders. When the nature of the etheric body is better understood, and its wise care followed both these types of disease will be prevented. They are due to solar pranic emanation; in one case the effect of the emanation is to bring about death or serious illness through the congestion of an etheric channel, while in the other the same result is brought about by destruction of etheric matter.
Chúng ta có một minh họa kỳ lạ cho cả hai dạng rắc rối này trong chứng say nắng và sốc nhiệt. Dù được cho là đã được các y sĩ hiểu rõ, tuy nhiên chúng hoàn toàn là các rối loạn dĩ thái. Khi bản chất của thể dĩ thái được hiểu rõ hơn, và việc chăm sóc khôn ngoan đối với nó được thực hiện, cả hai loại bệnh này sẽ được ngăn ngừa. Chúng là do phát xạ prana thái dương; trong một trường hợp, hiệu quả của phát xạ là gây ra cái chết hoặc bệnh nặng do sự tắc nghẽn của một kinh dĩ thái, trong khi ở trường hợp kia cùng một kết quả được gây ra bởi sự phá hủy vật chất dĩ thái.
The above illustration has been used with definite intent, [Page 109] but it should be pointed out that etheric congestion may lead to many forms of disease and of mental incompetence. Etheric congestion leads to the thickening of the web to an abnormal extent, and this thickening may prevent, for instance, contact with the higher Self or principles and its resultants, idiocy and mental unbalance. It may lead to abnormal fleshy development, to the thickening of some internal organ, and consequent undue pressure; one portion of the etheric body being congested may lead to the entire physical condition being upset, resulting in diverse complaints.
Minh họa trên đã được dùng với chủ ý rõ rệt, [Page 109] nhưng cần chỉ ra rằng sự tắc nghẽn dĩ thái có thể dẫn đến nhiều dạng bệnh tật và sự bất lực trí tuệ. Sự tắc nghẽn dĩ thái dẫn đến việc mạng lưới dày lên đến mức bất thường, và sự dày lên này có thể chẳng hạn ngăn cản sự tiếp xúc với chân ngã hay các nguyên khí cao hơn và các kết quả của chúng, là chứng đần độn và mất quân bình trí tuệ. Nó có thể dẫn đến sự phát triển thịt bất thường, đến sự dày lên của một cơ quan nội tạng nào đó, và hậu quả là áp lực quá mức; một phần của thể dĩ thái bị tắc nghẽn có thể dẫn đến toàn bộ tình trạng hồng trần bị xáo trộn, gây ra nhiều chứng bệnh khác nhau.
Destruction of tissue may lead to insanity of many kinds, especially those kinds deemed incurable. The burning of the web may let in extraneous astral currents against which man is helpless; the brain tissue may be literally destroyed by this pressure, and serious trouble be caused through the etheric ring-pass-not having been destroyed in some one place.
Sự phá hủy mô có thể dẫn đến nhiều loại điên loạn, đặc biệt là những loại được xem là không thể chữa. Sự đốt cháy mạng lưới có thể để cho các dòng cảm dục ngoại lai tràn vào mà con người bất lực trước chúng; mô não có thể bị hủy hoại theo đúng nghĩa đen bởi áp lực này, và rắc rối nghiêm trọng phát sinh do vòng-giới-hạn dĩ thái đã bị phá hủy tại một điểm nào đó.
In connection with the planet a similar state of affairs may be found. Later information may be forthcoming, which is at present withheld; this will show that whole races have been influenced, and certain kingdoms of nature troubled by planetary etheric congestion, or the destruction of planetary etheric tissue.
Liên hệ với hành tinh, cũng có thể thấy một tình trạng tương tự. Về sau có thể sẽ có thêm thông tin, hiện đang được giữ lại; điều này sẽ cho thấy rằng toàn bộ các nhân loại đã bị ảnh hưởng, và một số giới tự nhiên đã bị xáo trộn bởi sự tắc nghẽn dĩ thái hành tinh, hoặc bởi sự phá hủy mô dĩ thái hành tinh.
We have dealt with the functional and organic ills of the etheric, giving certain indications for the extension of the concept to other realms than the purely human. In the human kingdom lies the key, but the turning of that key opens up a door to a wider interpretation as it admits one into the mysteries of nature. Though that key has to be turned seven times, yet even one turn reveals untold avenues of eventual comprehension. (47, 48)
Chúng ta đã bàn đến các bệnh chức năng và hữu cơ của dĩ thái, đưa ra một số chỉ dẫn để mở rộng khái niệm này sang những lĩnh vực khác ngoài lĩnh vực thuần túy nhân loại. Trong giới nhân loại có chiếc chìa khóa, nhưng việc xoay chiếc chìa khóa đó mở ra cánh cửa cho một cách giải thích rộng lớn hơn khi nó cho phép người ta bước vào các huyền nhiệm của thiên nhiên. Dù chiếc chìa khóa đó phải được xoay bảy lần, nhưng ngay cả một lần xoay cũng hé lộ những con đường vô kể dẫn đến sự thấu hiểu rốt ráo. (47, 48)
(47) The keys to the Secret Doctrine, by H. P. Blavatsky. See S. D., I, 343; note; II, 551.
(47) Các chìa khóa của Giáo Lý Bí Nhiệm, của H. P. Blavatsky. Xem S. D., I, 343; chú thích; II, 551.
1. Every symbol and allegory has seven keys.—S. D., II, 567; III, 3.
1. Mọi biểu tượng và ẩn dụ đều có bảy chìa khóa.—S. D., II, 567; III, 3.
2. Only three keys available in the nineteenth century.—S. D., II, 543. Compare II, 617, 842.
2. Chỉ có ba chìa khóa khả dụng trong thế kỷ mười chín.—S. D., II, 543. So sánh II, 617, 842.
3. There are seven keys to the Entrance door to the Mysteries.—S. D., III, 178. Compare I, 346; II, 330; II, 668, II, 731.
3. Có bảy chìa khóa mở cánh cửa dẫn vào các Huyền nhiệm.—S. D., III, 178. So sánh I, 346; II, 330; II, 668, II, 731.
4. The keys, as hinted by H. P. B., are:
4. Các chìa khóa, như H. P. B. gợi ý, là:
a. Psychological.—S. D., II, 25, note; I, 389.
a. Tâm lý học.—S. D., II, 25, chú thích; I, 389.
b. Astronomical.—S. D., II, 25, note; I, 389; III, 198.
b. Thiên văn học.—S. D., II, 25, chú thích; I, 389; III, 198.
c. Physical or physiological.—S. D., II, 25, note; III, 198.
c. Hồng trần hay sinh lý học.—S. D., II, 25, chú thích; III, 198.
d. Metaphysical.—S. D., II, 25, note; II, 394.
d. Siêu hình học.—S. D., II, 25, chú thích; II, 394.
e. Anthropological.—S. D., I, 389; III, 198.
e. Nhân chủng học.—S. D., I, 389; III, 198.
f. Astrological.—S. D., II, 343.
f. Chiêm tinh học.—S. D., II, 343.
g. Geometrical.—S. D., II, 494; III, 176.
g. Hình học.—S. D., II, 494; III, 176.
h. Mystical.—S. D., I, 401.
h. Thần bí.—S. D., I, 401.
i. Symbolical.—S. D., II, 561.
i. Biểu tượng học.—S. D., II, 561.
j. Numerical.—S. D., II, 198.
j. Số học.—S. D., II, 198.
5. Each key must be turned seven times.—S. D., I, 22.
5. Mỗi chìa khóa phải được xoay bảy lần.—S. D., I, 22.
6. The Jews availed themselves of two keys out of the seven.
6. Người Do Thái đã sử dụng hai chìa khóa trong số bảy chìa khóa.
7. The Metaphysical key is available.—S. D., I, 338. Compare III, 198. (back)
7. Chìa khóa Siêu hình học là khả dụng.—S. D., I, 338. So sánh III, 198. (back)
[Page 110] We have considered the reception and distribution of pranic emanations in man, the planet, and the system, and have seen what produces temporary disorders, and the devitalisation or the over-vitalisation of the organic form. Now we can look at the subject from a third angle and therefore study:
[Page 110] Chúng ta đã xem xét sự tiếp nhận và phân phối các phát xạ prana nơi con người, hành tinh và hệ thống, và đã thấy điều gì tạo ra các rối loạn tạm thời, cùng sự mất sinh lực hay sự quá tiếp sinh lực của hình tướng hữu cơ. Giờ đây chúng ta có thể nhìn đề tài này từ một góc độ thứ ba và do đó nghiên cứu:
c. Microcosmic static disorders, or a consideration of the etheric body in connection with its work of providing a ring-pass-not from the purely physical to the astral. As has been said, both here and in the books of H. P. B., the ring-pass-not (48a) is that confining barrier which acts as a separator or a division between a system and that which is external to that system. This, as may well be seen, has its interesting correlations when the subject is viewed (as we must consistently endeavour to view it) from the point of view of a human being, a planet and a system, remembering always that in dealing with the [Page 111] etheric body we are dealing with physical matter. This must ever be borne carefully in mind. Therefore, one paramount factor will be found in all groups and formations, and this is the fact that the ring-pass-not acts only as a hindrance to that which is of small attainment in evolution, but forms no barrier to the more progressed. The whole question depends upon two things, which are the karma of the man, the planetary Logos, and the solar Logos, and the dominance of the spiritual indwelling entity over its vehicle.
c. Các rối loạn tĩnh vi mô, hay sự xem xét thể dĩ thái trong liên hệ với công việc của nó là cung cấp một vòng-giới-hạn từ cõi thuần hồng trần sang cõi cảm dục. Như đã nói, cả ở đây lẫn trong các sách của H. P. B., vòng-giới-hạn (48a) là rào cản giới hạn hoạt động như một yếu tố ngăn cách hay phân chia giữa một hệ thống và cái ở bên ngoài hệ thống đó. Điều này, như có thể thấy rõ, có những tương quan thú vị khi đề tài được nhìn (như chúng ta phải luôn cố gắng nhìn nó) từ quan điểm của một con người, một hành tinh và một hệ thống, luôn ghi nhớ rằng khi bàn về thể dĩ thái, chúng ta đang bàn về [Page 111] vật chất hồng trần. Điều này phải luôn được ghi nhớ cẩn thận. Do đó, sẽ thấy một yếu tố tối quan trọng trong mọi nhóm và mọi cấu tạo, và đó là sự kiện rằng vòng-giới-hạn chỉ hoạt động như một sự cản trở đối với cái có thành tựu nhỏ trong tiến hoá, nhưng không tạo thành rào cản nào đối với cái tiến bộ hơn. Toàn bộ vấn đề tùy thuộc vào hai điều, đó là nghiệp quả của con người, của Hành Tinh Thượng đế, và của Thái dương Thượng đế, cùng sự thống trị của thực thể tinh thần nội tại đối với vận cụ của nó.
S1S12
IV. MACROCOSMIC AND MICROCOSMIC ETHERS — IV. CÁC DĨ THÁI VĨ MÔ VÀ VI MÔ
1. The Planetary Logos and the Ethers — 1. Hành Tinh Thượng đế và các dĩ thái
Man, the indwelling thinker, passes at night from out of his etheric ring-pass-not and functions elsewhere. Therefore, under the law, the planetary Logos likewise can pass His ring-pass-not at stated seasons which correspond in the planet to the hours of man’s temporary repose, or pralaya.
Con người, thức giả nội tại, ban đêm đi ra khỏi vòng-giới-hạn dĩ thái của mình và hoạt động ở nơi khác. Do đó, theo định luật, Hành Tinh Thượng đế cũng có thể vượt qua vòng-giới-hạn của Ngài vào những mùa kỳ nhất định tương ứng nơi hành tinh với những giờ nghỉ ngơi tạm thời, hay giai kỳ qui nguyên, của con người.
The solar Logos likewise does the same during stated cycles, which are not the cycles succeeding those which we term solar pralaya, but lesser cycles succeeding the ‘days of Brahma’ or periods of lesser activity, periodically viewed. All these are governed by karma, and just as the true Man himself applies the law of karma to his vehicles, and in his tiny system is the correspondence to that fourth group of karmic entities whom we call the Lipika Lords; He applies the law to his threefold lower nature. The fourth group of extra-cosmic Entities Who have Their place subsidiary to the three cosmic Logoi Who are the threefold sumtotal of the logoic nature, can pass the bounds of the solar ring-pass-not in Their stated cycles. This is a profound mystery and its complexity is increased by the recollection that the fourth Creative Hierarchy of human Monads, and the Lipika Lords in Their three groups (the first [Page 112] group, the second, and the four Maharajahs, making the totality of the threefold karmic rulers who stand between the solar Logos and the seven planetary Logoi), are more closely allied than the other Hierarchies, and their destinies are intimately interwoven.
Thái dương Thượng đế cũng làm như vậy trong những chu kỳ nhất định, không phải là những chu kỳ tiếp nối những chu kỳ mà chúng ta gọi là thái dương pralaya, mà là những chu kỳ nhỏ hơn tiếp nối “những ngày của Brahma” hay những thời kỳ hoạt động nhỏ hơn, được nhìn theo chu kỳ. Tất cả những điều này đều do nghiệp quả chi phối, và cũng như Chân Nhân đích thực tự mình áp dụng định luật nghiệp quả lên các vận cụ của mình, và trong hệ thống nhỏ bé của y là sự tương ứng với nhóm thứ tư các thực thể nghiệp quả mà chúng ta gọi là các Đấng Lipika; y áp dụng định luật ấy lên bản chất thấp tam phân của mình. Nhóm thứ tư các Thực thể ngoài vũ trụ, có vị trí phụ thuộc vào ba Thượng đế vũ trụ là tổng thể tam phân của bản chất logoi, có thể vượt qua giới hạn của vòng-giới-hạn thái dương trong các chu kỳ nhất định của Các Ngài. Đây là một huyền nhiệm sâu xa và tính phức tạp của nó tăng thêm khi nhớ rằng Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư của các chân thần nhân loại, và các Đấng Lipika trong ba nhóm của Các Ngài (nhóm thứ nhất, [Page 112] nhóm thứ hai, và bốn Maharajah, tạo thành toàn thể các vị cai quản nghiệp quả tam phân đứng giữa Thái dương Thượng đế và bảy Hành Tinh Thượng đế), liên hệ mật thiết với nhau hơn các Huyền Giai khác, và số phận của họ đan xen mật thiết với nhau.
A further link in this chain which is offered for consideration lies in the fact that the four rays of mind (which concern the karma of the four planetary Logoi) in their totality hold in their keeping the present evolutionary process for Man, viewing him as the Thinker. These four, with the karmic four, work in the closest co-operation. Therefore, we have the following groups interacting:
Một mối liên kết nữa trong chuỗi này được đưa ra để suy xét nằm ở sự kiện rằng bốn cung của trí tuệ (liên quan đến nghiệp quả của bốn Hành Tinh Thượng đế) trong tổng thể của chúng nắm giữ trong tay tiến trình tiến hoá hiện tại của Con người, xét y như Thức Giả. Bốn cung này, cùng với bốn vị nghiệp quả, hoạt động trong sự hợp tác mật thiết nhất. Do đó, chúng ta có các nhóm tương tác sau đây:
First. The four Maharajahs, the lesser Lipika Lords, (49) who apply past karma and work it out in the present.
Thứ nhất. Bốn Maharajah, các Đấng Lipika nhỏ hơn, (49) là những Đấng áp dụng nghiệp quả quá khứ và triển khai nó trong hiện tại.
(49) The four Lipika Lords stand between the first and second plane.—S. D., I, 155.
(49) Bốn Đấng Lipika đứng giữa cõi thứ nhất và cõi thứ hai.—S. D., I, 155.
a. They can pass the ring-pass-not.—S. D., I, 157.
a. Các Ngài có thể vượt qua vòng-giới-hạn.—S. D., I, 157.
b. They are connected with karma.—S. D., I, 153.
b. Các Ngài liên hệ với nghiệp quả.—S. D., I, 153.
c. They are concerned with the Hereafter.—S. D., I, 151.
c. Các Ngài quan tâm đến đời sau.—S. D., I, 151.
d. They are in three groups.—S. D., I, 153.
d. Các Ngài ở trong ba nhóm.—S. D., I, 153.
e. They are the spirits of the Universe.—S. D., I, 153. (back)
e. Các Ngài là các tinh thần của Vũ trụ.—S. D., I, 153. (back)
Second. The four Lipikas of the second group, referred to by H. P. B. as occupied in applying future karma, and wielding the future destiny of the races. The work of the first group of four cosmic Lipika Lords is occult and is only revealed somewhat at the fourth Initiation (and even then but slightly) so it will not be touched upon here.
Thứ hai. Bốn Lipika của nhóm thứ hai, được H. P. B. nhắc đến như đang bận rộn áp dụng nghiệp quả tương lai, và nắm giữ vận mệnh tương lai của các nhân loại. Công việc của nhóm thứ nhất gồm bốn Đấng Lipika vũ trụ là huyền bí và chỉ được tiết lộ phần nào ở lần điểm đạo thứ tư (và ngay cả khi đó cũng chỉ rất ít) nên sẽ không được đề cập ở đây.
Third. The fourth Creative Hierarchy of human Monads, held by a fourfold karmic law under the guidance of the Lipikas.
Thứ ba. Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư của các chân thần nhân loại, bị giữ dưới một định luật nghiệp quả tứ phân dưới sự hướng dẫn của các Lipika.
Fourth. The four planetary Logoi (50) of Harmony, Knowledge, Abstract Thought and Ceremonial, who [Page 113] are in Their totality the Quaternary of Manas while in process of evolution, and who pass under Their influence all the sons of men.
Thứ tư. Bốn Hành Tinh Thượng đế (50) của Hài Hòa, Tri Thức, Tư Tưởng Trừu Tượng và Nghi Lễ, là những Đấng mà [Page 113] trong tổng thể của Các Ngài là Bộ Tứ của Manas trong tiến trình tiến hoá, và là những Đấng đưa tất cả những người con của nhân loại đi qua dưới ảnh hưởng của Các Ngài.
(50) The four rays of mind are the four minor rays which form the logoic Quaternary and which are synthesised eventually into a fifth ray, the third major ray of active intelligence, or adaptability. The names of the rays are as follows:
(50) Bốn cung của trí tuệ là bốn cung phụ tạo thành Bộ Tứ logoi và cuối cùng được tổng hợp thành một cung thứ năm, cung chính thứ ba của trí tuệ linh hoạt, hay khả năng thích ứng. Tên các cung như sau:
The three major rays:
Ba cung chính:
1. The Ray of Will or Power.
1. Cung Ý Chí hay Quyền Năng.
2. The Ray of Love or Wisdom.
2. Cung Bác Ái hay Minh Triết.
3. The Ray of Active Intelligence.
3. Cung Trí Tuệ Linh Hoạt.
The four minor Rays:
Bốn cung phụ:
4. The Ray of Beauty, Harmony, Art or Rhythm.
4. Cung Mỹ Lệ, Hài Hòa, Nghệ Thuật hay Nhịp Điệu.
5. The Ray of Concrete Knowledge or Science.
5. Cung Tri Thức Cụ Thể hay Khoa Học.
6. The Ray of Abstract Idealism.
6. Cung Lý Tưởng Trừu Tượng.
7. The Ray of Ceremonial Order or Organisation. (back)
7. Cung Trật Tự hay Tổ Chức Nghi Lễ. (back)
Fifth. The Deva Lords of the four planes of Buddhi, or the plane of spiritual Intuition, Manas, or the mental plane, Desire, and the Physical, who are likewise allied to the human evolution in a closer sense than the higher three.
Thứ năm. Các Chúa Tể thiên thần của bốn cõi Bồ đề, hay cõi Trực giác tinh thần, Manas, hay cõi trí, Dục vọng, và cõi Hồng trần, cũng liên hệ với tiến hoá nhân loại theo một ý nghĩa mật thiết hơn so với ba cõi cao hơn.
A further interesting correspondence is found in the following facts that are even now in process of development:
Một sự tương ứng thú vị nữa được tìm thấy trong các sự kiện sau đây hiện nay vẫn đang trong tiến trình phát triển:
The fourth plane of Buddhi is the one on which the planetary Logoi begin to make Their escape from Their planetary ring-pass-not, or from the etheric web that has its counterpart on all the planes.
Cõi thứ tư, cõi Bồ đề, là cõi trên đó các Hành Tinh Thượng đế bắt đầu thoát ra khỏi vòng-giới-hạn hành tinh của Các Ngài, hay khỏi mạng dĩ thái có đối phần của nó trên mọi cõi.
When man begins in a small sense to co-ordinate the buddhic vehicle or, to express it otherwise, when he has developed the power to contact ever so slightly the buddhic plane, then he begins simultaneously and consciously to achieve the ability to escape from the etheric web on the physical plane. Later he escapes from its correspondence on the astral plane, and finally from the correspondence on the fourth subplane of the mental plane this time via the mental unit. This leads eventually to causal functioning, or to the ability to dand to be active in, the vehicle of the Ego, who is the embodiment of the love and wisdom aspect of the Monad. Note here the correspondence to that proved fact, that many can even now escape from the etheric body, and function in their [Page 114] astral sheath, which is the personality reflection of that same second aspect.
Khi con người bắt đầu, theo một nghĩa nhỏ, phối hợp vận cụ Bồ đề hay, nói cách khác, khi y đã phát triển năng lực tiếp xúc dù chỉ rất nhẹ với cõi Bồ đề, thì y đồng thời và một cách hữu thức bắt đầu đạt được khả năng thoát ra khỏi mạng dĩ thái trên cõi hồng trần. Về sau y thoát khỏi đối phần của nó trên cõi cảm dục, và cuối cùng khỏi đối phần trên cõi phụ thứ tư của cõi trí, lần này qua đơn vị hạ trí. Điều này cuối cùng dẫn đến hoạt động nguyên nhân, hay đến khả năng dand và hoạt động trong vận cụ của chân ngã, là hiện thân của phương diện bác ái và minh triết của chân thần. Hãy lưu ý ở đây sự tương ứng với sự kiện đã được chứng minh rằng ngay cả hiện nay nhiều người có thể thoát ra khỏi thể dĩ thái và hoạt động trong [Page 114] thể cảm dục của họ, vốn là phản ánh phàm ngã của cùng phương diện thứ hai đó.
When a man takes the fourth Initiation, he functions in the fourth plane vehicle, the buddhic, and has escaped permanently from the personality ring-pass-not, on the fourth subplane of the mental. There is naught to hold him to the three worlds. At the first Initiation he escapes from the ring-pass-not in a more temporary sense, but he has yet to escape from the three higher mental levels, which are the mental correspondences to the higher ethers, and to develop full consciousness on these three higher subplanes. We have here a correspondence to the work to be done by the initiate after he has achieved the fourth solar plane, the buddhic. There yet remains the development of full consciousness on the three higher planes of spirit before he can escape from the solar ring-pass-not, which is achieved at the seventh Initiation, taken somewhere in the system, or in its cosmic correspondence reached by the cosmic sutratma, or cosmic thread of life. (51)
Khi một người trải qua lần điểm đạo thứ tư, y hoạt động trong vận cụ cõi thứ tư, tức vận cụ Bồ đề, và đã vĩnh viễn thoát khỏi vòng-giới-hạn phàm ngã trên cõi phụ thứ tư của cõi trí. Không còn gì giữ y lại với ba cõi thấp. Ở lần điểm đạo thứ nhất, y thoát khỏi vòng-giới-hạn theo một nghĩa tạm thời hơn, nhưng y vẫn còn phải thoát khỏi ba cấp độ trí tuệ cao hơn, là những tương ứng trí tuệ với các dĩ thái cao hơn, và phát triển tâm thức đầy đủ trên ba cõi phụ cao hơn này. Ở đây chúng ta có một sự tương ứng với công việc mà điểm đạo đồ phải làm sau khi đã đạt đến cõi thái dương thứ tư, cõi Bồ đề. Vẫn còn sự phát triển tâm thức đầy đủ trên ba cõi cao hơn của tinh thần trước khi y có thể thoát khỏi vòng-giới-hạn thái dương, điều này đạt được ở lần điểm đạo thứ bảy, được thực hiện ở một nơi nào đó trong hệ thống, hay trong sự tương ứng vũ trụ của nó do sutratma vũ trụ, hay sợi dây sự sống vũ trụ, đạt tới. (51)
(51) Sutratma. The “silver thread” which incarnates from the beginning of a period of manifestation until the end, stringing upon itself the pearls of human existence. It is the line of energy which connects the lower personal man with his Father in Heaven via the ego, the mediating middle principle. Upon it are found those focal points of energy we call the permanent atoms. (back)
(51) Sutratma. “Sợi chỉ bạc” nhập thể từ đầu một thời kỳ biểu hiện cho đến cuối thời kỳ ấy, xâu trên chính nó những hạt ngọc của sự tồn tại nhân loại. Nó là đường năng lượng nối kết con người phàm ngã thấp với Cha của y trên Thiên Đàng qua chân ngã, nguyên khí trung gian ở giữa. Trên đó có những điểm hội tụ năng lượng mà chúng ta gọi là các nguyên tử trường tồn. (back)
This fourth earth chain is in this connection one of the most important, for it is the appointed place for the domination of the etheric body by the human monad, with the aim in view of both human and planetary escape from limitations. This earth chain, though not one of the seven sacred planetary chains, is of vital importance at this time to the planetary Logos, who temporarily employs it as a medium of incarnation, and of expression. This fourth round finds the solution of its strenuous and chaotic life in the very simple fact of the shattering of [Page 115] the etheric web in order to effect liberation, and permit a later and more adequate form to be employed.
Dãy địa cầu thứ tư này, trong mối liên hệ này, là một trong những dãy quan trọng nhất, vì đó là nơi đã được chỉ định cho sự thống ngự của thể dĩ thái bởi chân thần nhân loại, nhằm mục đích giúp cả nhân loại lẫn hành tinh thoát khỏi các giới hạn. Dãy địa cầu này, tuy không phải là một trong bảy dãy hành tinh thiêng liêng, nhưng hiện nay có tầm quan trọng thiết yếu đối với Hành Tinh Thượng đế, Đấng tạm thời sử dụng nó như một trung gian lâm phàm và biểu lộ. Cuộc tuần hoàn thứ tư này tìm thấy giải pháp cho đời sống căng thẳng và hỗn loạn của nó trong sự kiện rất đơn giản là làm tan vỡ [Page 115] mạng lưới dĩ thái để thực hiện sự giải thoát, và cho phép về sau sử dụng một hình tướng thích đáng hơn.
A further chain of ideas may be followed up in the remembrance that the fourth ether is even now being studied and developed by the average scientist, and is already somewhat harnessed to the service of man; that the fourth subplane of the astral plane is the normal functioning ground of the average man and that in this round escape from the etheric vehicle is being achieved; that the fourth subplane of the mental plane is the present goal of endeavor of one-fourth of the human family; that the fourth manvantara will see the solar ring-pass-not offering avenues of escape to those who have reached the necessary point; that the four planetary Logoi will perfect Their escape from Their planetary environment, and will function with greater ease on the cosmic astral plane, paralleling on cosmic levels the achievement of the human units who are the cells in Their bodies.
Một chuỗi ý tưởng khác nữa có thể được theo đuổi nếu nhớ rằng dĩ thái thứ tư ngay lúc này đang được nhà khoa học trung bình nghiên cứu và phát triển, và đã phần nào được chế ngự để phụng sự con người; rằng cõi phụ thứ tư của cõi cảm dục là nền hoạt động bình thường của con người trung bình và rằng trong cuộc tuần hoàn này, sự thoát khỏi vận cụ dĩ thái đang được thành tựu; rằng cõi phụ thứ tư của cõi trí là mục tiêu nỗ lực hiện nay của một phần tư gia đình nhân loại; rằng giai kỳ sinh hóa thứ tư sẽ chứng kiến vòng-giới-hạn thái dương mở ra những lối thoát cho những ai đã đạt đến điểm cần thiết; rằng bốn Hành Tinh Thượng đế sẽ hoàn thiện sự thoát ly của Các Ngài khỏi môi trường hành tinh của Các Ngài, và sẽ hoạt động dễ dàng hơn trên cõi cảm dục vũ trụ, song hành trên các cấp độ vũ trụ với thành tựu của các đơn vị nhân loại là những tế bào trong các thể của Các Ngài.
Our solar Logos, being a Logos of the fourth order, will begin to co-ordinate His cosmic buddhic body, and as He develops cosmic mind He will gradually achieve, by the aid of that mind, the ability to touch the cosmic buddhic plane.
Thái dương Thượng đế của chúng ta, là một Thượng đế thuộc đẳng cấp thứ tư, sẽ bắt đầu phối hợp thể Bồ đề vũ trụ của Ngài, và khi Ngài phát triển trí tuệ vũ trụ, Ngài sẽ dần dần đạt được, nhờ sự trợ giúp của trí tuệ ấy, khả năng chạm đến cõi Bồ đề vũ trụ.
These possibilities and correspondences have been somewhat dwelt upon, as it is necessary for us to realise the work to be done in connection with the etheric web before we take up the matter of the various causes which may hinder the desired progress, and prevent the appointed escape and destined liberation. Later we will take up the consideration of the etheric web, and its static condition. This will entail the recollection of two things:
Những khả năng và những tương ứng này đã được bàn đến phần nào, vì chúng ta cần phải chứng nghiệm công việc phải được thực hiện liên quan đến mạng lưới dĩ thái trước khi xét đến vấn đề các nguyên nhân khác nhau có thể cản trở sự tiến bộ mong muốn, và ngăn trở sự thoát ra đã được chỉ định cùng sự giải thoát đã được định sẵn. Về sau chúng ta sẽ xem xét mạng lưới dĩ thái và trạng thái tĩnh của nó. Điều này đòi hỏi phải ghi nhớ hai điều:
First, that this static condition is only so when viewed from the standpoint of man at the present time, and is [Page 116] only termed so in order to make plainer the changes that must be effected and the dangers that must be offset. Evolution moves so slowly from man’s point of view that it seems to be almost stationary, especially where etheric evolution is concerned.
Thứ nhất, trạng thái tĩnh này chỉ là như vậy khi được nhìn từ quan điểm của con người ở thời điểm hiện tại, và chỉ được gọi như thế để [Page 116] làm rõ hơn những thay đổi phải được thực hiện và những nguy hiểm phải được hóa giải. Từ quan điểm của con người, tiến hoá vận động chậm đến nỗi dường như gần như đứng yên, đặc biệt là khi liên quan đến tiến hoá dĩ thái.
Second, that we are only concerning ourselves with the physical etheric body and not with its correspondences on all planes. This is because our system is on the cosmic etheric levels, and hence is of prime importance to us.
Thứ hai, chúng ta chỉ đang đề cập đến thể dĩ thái hồng trần chứ không phải các tương ứng của nó trên mọi cõi. Điều này là vì hệ thống của chúng ta ở trên các cấp độ dĩ thái vũ trụ, và do đó có tầm quan trọng hàng đầu đối với chúng ta.
2. Cosmic and Systemic Ethers — 2. Các Dĩ Thái Vũ Trụ và Hệ Thống