← A Treatise on Cosmic Fire All

a. The lowest cosmic plane is the cosmic physical, and it is the only one which the finite mind of man can in any way comprehend.

For the sake of those who read this treatise, and because the sequential repetition of fact makes for clarity, let us here briefly tabulate certain fundamental hypotheses that have a definite bearing upon the matter in hand, and which may serve to clear up the present existing confusion concerning the matter of the solar system. Some of the facts stated are already well known, others are inferential, while some are the expression of old and true correspondences couched in a more modern form.

Vì lợi ích của những người đọc bộ luận này, và bởi vì sự lặp lại tuần tự của sự kiện tạo nên tính sáng tỏ, ở đây chúng ta hãy tóm lược ngắn gọn dưới dạng bảng một số giả thuyết nền tảng có liên hệ xác định đến vấn đề đang bàn, và có thể giúp làm sáng tỏ sự lẫn lộn hiện đang tồn tại liên quan đến vấn đề hệ mặt trời. Một số sự kiện được nêu ra đã được biết rõ, một số khác là suy luận, trong khi một số là sự biểu đạt của những tương ứng cổ xưa và chân thực được trình bày dưới một hình thức hiện đại hơn.

a. The lowest cosmic plane is the cosmic physical, and it is the only one which the finite mind of man can in any way comprehend.

a. Cõi vũ trụ thấp nhất là cõi hồng trần vũ trụ, và đó là cõi duy nhất mà trí tuệ hữu hạn của con người có thể hiểu được phần nào.

b. This cosmic physical plane exists in matter differentiated into seven qualities, groups, grades, or vibrations.

b. Cõi hồng trần vũ trụ này tồn tại trong vật chất được biến phân thành bảy phẩm tính, nhóm, cấp độ, hay rung động.

c. These seven differentiations are the seven major planes of our solar system.

c. Bảy sự biến phân này là bảy cõi chính của hệ mặt trời chúng ta.

For purposes of clarity, we might here tabulate under the headings physical, systemic, and cosmic, so that the relationship and the correspondences may be apparent, and the connection to that which is above, and to that which is below, or included, may be plainly seen. [Page 117]

Để làm sáng tỏ, ở đây chúng ta có thể lập bảng dưới các tiêu đề hồng trần, hệ thống và vũ trụ, để mối liên hệ và các tương ứng được hiển lộ, và mối nối kết với điều ở trên, và với điều ở dưới, hay được bao gồm, có thể được thấy rõ ràng. [Page 117]

CHART III

BIỂU ĐỒ III

[picture]

[picture]

THE PLANES [Page 118]

CÁC CÕI [Page 118]

Physical Plane

Systemic Planes

Cosmic Planes

1.

Atomic plane

Divine. Adi.

Atomic plane

1st ether

Primordial matter

1st ether

2.

Sub-atomic

Monadic. Anupadaka The Akasha

Sub-atomic 2nd ether

3.

Super-etheric

Spiritual. Atmic Ether

3rd ether

Plane of Union or At-one-ment

Plane of Union or At-one-ment

4.

Etheric

Intuitional. Buddhic Air

4th Cosmic ether

The Lower Three Worlds

The Lower Three Worlds

5.

Gaseous

Mental. Fire

Gaseous Sub-etheric

6.

Liquid

Astral. Emotional

Liquid

7.

Dense physical

Physical plane

Dense physical

d. These major seven planes of our solar system being but the seven subplanes of the cosmic physical plane, we can consequently see the reason for the emphasis laid by H. P. B. (S. D., I, 136, 354; I, 87, 136, 731, 732. See also note page 8.) upon the fact that matter and ether are synonymous terms and that this ether is found in some form or other on all the planes, and is but a gradation of cosmic atomic matter, called when undifferentiated mulaprakriti or primordial pre-genetic substance, and when differentiated by Fohat (or the energising Life, the third Logos or Brahma) it is termed prakriti, or matter. (54)

d. Vì bảy cõi chính này của hệ mặt trời chúng ta chỉ là bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ, nên do đó chúng ta có thể thấy lý do của sự nhấn mạnh mà H. P. B. đặt (S. D., I, 136, 354; I, 87, 136, 731, 732. Xem thêm chú thích trang 8.) vào sự kiện rằng vật chất và dĩ thái là những thuật ngữ đồng nghĩa và rằng dĩ thái này được tìm thấy dưới hình thức này hay hình thức khác trên mọi cõi, và chỉ là một sự phân cấp của vật chất nguyên tử vũ trụ, được gọi khi chưa biến phân là mulaprakriti hay chất liệu nguyên sơ tiền sinh thành, và khi được Fohat (hay Sự sống tiếp sinh lực, Thượng đế thứ ba hay Brahma) biến phân thì được gọi là prakriti, hay vật chất. (54)

(54) Mulaprakriti. The Parabrahmic root, the abstract deific feminine principle—undifferentiated substance. Akasa. Literally, “the root of Nature” (Prakriti), or matter. (back)

(54) Mulaprakriti. Căn nguyên Parabrahmic, nguyên lý nữ tính thần thánh trừu tượng—chất liệu chưa biến phân. Akasa. Theo nghĩa đen là “căn nguyên của Bản Chất” (Prakriti), hay vật chất. (back)

e. Our solar system is what is called a system of the fourth order; that is, it has its location on the fourth cosmic etheric plane, counting, as always, from above downwards.[Page 119]

e. Hệ mặt trời của chúng ta là cái được gọi là một hệ thống thuộc đẳng cấp thứ tư; nghĩa là, nó có vị trí trên cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư, luôn luôn tính từ trên xuống dưới.[Page 119]

f. Hence this fourth cosmic etheric plane forms the meeting ground for the past and the future, and is the present.

f. Do đó cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư này tạo thành nơi gặp gỡ của quá khứ và tương lai, và là hiện tại.

g. Therefore, also, the buddhic or intuitional plane (the correspondence in the system of this fourth cosmic ether) is the meeting ground, or plane of union, for that which is man and for that which will be superman, and links the past with that which is to be.

g. Vì vậy, cõi Bồ đề hay trực giác (tương ứng trong hệ thống của dĩ thái vũ trụ thứ tư này) cũng là nơi gặp gỡ, hay cõi hợp nhất, của điều là con người và điều sẽ là siêu nhân, và nối kết quá khứ với điều sẽ đến.

h. The following correspondences in time would repay careful meditation. They are based on a realisation of the relationship between this fourth cosmic ether, the buddhic plane, and the fourth physical etheric subplane.

h. Những tương ứng sau đây trong thời gian rất đáng để tham thiền cẩn trọng. Chúng dựa trên sự chứng nghiệm về mối liên hệ giữa dĩ thái vũ trụ thứ tư này, cõi Bồ đề, và cõi phụ dĩ thái hồng trần thứ tư.

The fourth subplane of mind, the correspondence on the mental plane of the physical etheric, is likewise a point of transition from out of a lower into a higher, and is the transferring locality into a higher body.

Cõi phụ thứ tư của cõi trí, là tương ứng trên cõi trí của dĩ thái hồng trần, cũng là một điểm chuyển tiếp từ thấp lên cao, và là nơi chuyển dịch vào một thể cao hơn.

The fourth subplane of the monadic plane is in a very real sense the place of transition from off the egoic ray (whichever that ray may be) on to the monadic ray; these three major rays are organised on the three higher subplanes of the monadic plane in the same way that the three abstract subplanes of the mental are the group of transference from off the personality ray on to the egoic.

Cõi phụ thứ tư của cõi chân thần, theo một ý nghĩa rất thực, là nơi chuyển tiếp từ cung chân ngã (dù đó là cung nào) sang cung chân thần; ba cung chính này được tổ chức trên ba cõi phụ cao của cõi chân thần theo cùng cách mà ba cõi phụ trừu tượng của cõi trí là nhóm chuyển dịch từ cung phàm ngã sang cung chân ngã.

The four lesser rays blend with the third major ray of active intelligence on the mental plane and on the atmic plane. The four Logoi or planetary Spirits work as one, on the atmic plane.

Bốn cung nhỏ hòa nhập với cung chính thứ ba của trí tuệ linh hoạt trên cõi trí và trên cõi atma. Bốn Thượng đế hay các Tinh thần Hành tinh hoạt động như một trên cõi atma.

i. Another synthesis takes place on the synthetic second ray on the second subplane of the buddhic plane and the monadic plane, while the comparatively few Monads of will or power are synthesised on the atomic subplane of the atmic. All three groups of Monads work in triple form on the mental plane under the Mahachohan, the Manu, and the Bodhisattva, or the Christ; on the second or monadic plane they work as a unit, only demonstrating [Page 120] their dual work on the atmic plane, and their essential triplicity on the buddhic plane. (55)

i. Một sự tổng hợp khác diễn ra trên cung hai tổng hợp ở cõi phụ thứ hai của cõi Bồ đề và cõi chân thần, trong khi số tương đối ít các chân thần ý chí hay quyền năng được tổng hợp trên cõi phụ nguyên tử của cõi atma. Cả ba nhóm chân thần đều hoạt động dưới hình thức tam phân trên cõi trí dưới quyền Đức Mahachohan, Đức Manu, và Đức Bồ Tát, hay Đức Christ; trên cõi thứ hai hay cõi chân thần, các Ngài hoạt động như một đơn vị, chỉ biểu lộ [Page 120] công việc nhị phân của các Ngài trên cõi atma, và tính tam phân cốt yếu của các Ngài trên cõi Bồ đề. (55)

(55) The monads of the fourth Creative Hierarchy, the human Monads, exist in three main groups:

(55) Các chân thần của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, các chân thần nhân loại, tồn tại trong ba nhóm chính:

a. The Monads of Will.

a. Các Chân thần Ý chí.

b. The Monads of Love.

b. Các Chân thần Bác ái.

c. The Monads of Activity.

c. Các Chân thần Hoạt động.

Mahachohan. The officer in our planetary Hierarchy who presides over the activities carried on in the four minor rays and their synthesising third ray. He has to do with civilisation, with the intellectual culture of the races, and with intelligent energy. He is the head of all the Adepts.

Đức Mahachohan. Vị chức sắc trong Thánh đoàn hành tinh của chúng ta chủ trì các hoạt động được tiến hành trong bốn cung phụ và cung thứ ba tổng hợp của chúng. Ngài liên quan đến nền văn minh, đến văn hóa trí tuệ của các giống dân, và đến năng lượng thông tuệ. Ngài là thủ lĩnh của mọi chân sư.

Bodhisattva. The exponent of second ray force, the Teacher of the Adepts of men and of Angels. This office was originally held by the Buddha, but His place was taken (after His Illumination) by the Christ. The work of the Bodhisattva is with the religions of the world, and with the spiritual Essence in Man.

Đức Bồ Tát. Đấng biểu hiện mãnh lực cung hai, Huấn sư của các chân sư của loài người và của các Thiên Thần. Chức vụ này nguyên thủy do Đức Phật nắm giữ, nhưng vị trí của Ngài đã được Đức Christ đảm nhận (sau sự Soi Sáng của Ngài). Công việc của Đức Bồ Tát liên quan đến các tôn giáo của thế giới, và đến Tinh chất tinh thần trong Con Người.

The Manu. The One Who presides over the evolution of the races. He is the ideal man. He has to work with the forms through which Spirit is to manifest; he destroys, and builds up again. These three Individuals preside over the three Departments into which the Hierarchy is divided, and therefore represent in their particular sphere the three Aspects of divine manifestation. (back)

Đức Manu. Đấng chủ trì sự tiến hoá của các giống dân. Ngài là con người lý tưởng. Ngài phải làm việc với các hình tướng qua đó Tinh thần sẽ biểu lộ; Ngài hủy diệt, rồi xây dựng lại. Ba Cá Nhân này chủ trì ba Ban mà Thánh đoàn được phân chia thành, và do đó đại diện trong phạm vi riêng của các Ngài cho ba Phương diện của sự biểu lộ thiêng liêng. (back)

The fourth etheric plane holds the key to the dominance of matter, and it might be noted that:

Cõi dĩ thái thứ tư nắm giữ chìa khóa của sự thống ngự vật chất, và cần lưu ý rằng:

On the fourth physical ether man begins to co-ordinate his astral, or emotional body, and to escape at ever more frequent intervals into that vehicle. Continuity of consciousness is achieved when a man has mastered the four ethers.

Trên dĩ thái hồng trần thứ tư, con người bắt đầu phối hợp thể cảm dục, hay thể cảm xúc, của mình, và ngày càng thường xuyên thoát vào vận cụ đó. Sự liên tục của tâm thức đạt được khi con người đã làm chủ bốn dĩ thái.

On the fourth subplane of the mental plane, man begins to control his causal or egoic body, and to polarise his consciousness therein until the polarisation is complete. He functions then consciously on it when he has mastered the correspondences to the ethers on the mental plane.

Trên cõi phụ thứ tư của cõi trí, con người bắt đầu kiểm soát thể nguyên nhân hay thể chân ngã của mình, và phân cực tâm thức của mình trong đó cho đến khi sự phân cực hoàn tất. Khi đã làm chủ các tương ứng với các dĩ thái trên cõi trí, lúc ấy y hoạt động hữu thức trên đó.

On the buddhic plane (the fourth cosmic ether) the Heavenly Men (or the grouped consciousness of the human and deva Monads) begin to function, and to escape eventually from the cosmic etheric planes. When these three cosmic ethers are mastered, the functioning is perfected, polarisation is centred in the monadic vehicles, and the seven Heavenly Men have achieved Their goal.

Trên cõi Bồ đề (dĩ thái vũ trụ thứ tư), các Đấng Thiên Nhân (hay tâm thức nhóm của các chân thần nhân loại và thiên thần) bắt đầu hoạt động, và cuối cùng thoát khỏi các cõi dĩ thái vũ trụ. Khi ba dĩ thái vũ trụ này được làm chủ, sự hoạt động được hoàn thiện, sự phân cực được định tâm trong các vận cụ chân thần, và bảy Đấng Thiên Nhân đã đạt được mục tiêu của Các Ngài.

j. On these etheric levels, therefore, the Logos of our [Page 121] system repeats, as a grand totality, the experiences of His tiny reflections on the physical planes; He co-ordinates His cosmic astral body, and attains continuity of consciousness when He has mastered the three cosmic ethers.

j. Do đó, trên các cấp độ dĩ thái này, Thượng đế của hệ thống [Page 121] chúng ta lặp lại, như một toàn thể vĩ đại, những kinh nghiệm của các phản ánh nhỏ bé của Ngài trên các cõi hồng trần; Ngài phối hợp thể cảm dục vũ trụ của Ngài, và đạt được sự liên tục của tâm thức khi Ngài đã làm chủ ba dĩ thái vũ trụ.

k. It is to be observed that just as in man the dense physical body in its three grades—dense, liquid and gaseous—is not recognised as a principle, so in the cosmic sense the physical (dense) astral (liquid) and mental (gaseous) levels are likewise regarded as non-existing, and the solar system has its location on the fourth ether. The seven sacred planets are composed of matter of this fourth ether, and the seven Heavenly Men, whose bodies they are, function normally on the fourth plane of the system, the buddhic or the fourth cosmic ether. When man has attained the consciousness of the buddhic plane, he has raised his consciousness to that of the Heavenly Man in whose body he is a cell. This is achieved at the fourth Initiation, the liberating initiation. At the fifth Initiation he ascends with the Heavenly Man on to the fifth plane (from the human standpoint), the atmic, and at the sixth he has dominated the second cosmic ether and has monadic consciousness and continuity of function. At the seventh Initiation he dominates the entire sphere of matter contained in the lowest cosmic plane, escapes from all etheric contact, and functions on the cosmic astral plane.

k. Cần lưu ý rằng cũng như nơi con người, thể xác hồng trần đậm đặc trong ba cấp độ của nó—đậm đặc, lỏng và khí—không được thừa nhận là một nguyên khí, thì theo nghĩa vũ trụ, các cấp độ hồng trần (đậm đặc), cảm dục (lỏng) và trí tuệ (khí) cũng được xem như không tồn tại, và hệ mặt trời có vị trí của nó trên dĩ thái thứ tư. Bảy hành tinh thiêng liêng được cấu thành bằng vật chất của dĩ thái thứ tư này, và bảy Đấng Thiên Nhân, mà các hành tinh ấy là các thể của Các Ngài, hoạt động bình thường trên cõi thứ tư của hệ thống, cõi Bồ đề hay dĩ thái vũ trụ thứ tư. Khi con người đạt đến tâm thức của cõi Bồ đề, y đã nâng tâm thức của mình lên đến tâm thức của Đấng Thiên Nhân mà trong thể của Ngài y là một tế bào. Điều này đạt được ở lần điểm đạo thứ tư, cuộc điểm đạo giải thoát. Ở lần điểm đạo thứ năm, y thăng lên cùng với Đấng Thiên Nhân đến cõi thứ năm (theo quan điểm nhân loại), cõi atma, và ở lần thứ sáu, y đã thống ngự dĩ thái vũ trụ thứ hai và có tâm thức chân thần cùng sự liên tục của chức năng. Ở lần điểm đạo thứ bảy, y thống ngự toàn bộ khối cầu vật chất chứa trong cõi vũ trụ thấp nhất, thoát khỏi mọi tiếp xúc dĩ thái, và hoạt động trên cõi cảm dục vũ trụ.

The past solar system saw the surmounting of the three lowest cosmic physical planes viewed from the matter standpoint and the co-ordination of the dense threefold physical form in which all life is found, dense matter, liquid matter, gaseous matter. A correspondence may be seen here in the work achieved in the first three rootraces.(56, 57)

Hệ mặt trời quá khứ đã chứng kiến sự vượt qua ba cõi hồng trần vũ trụ thấp nhất xét từ quan điểm vật chất và sự phối hợp hình tướng hồng trần tam phân đậm đặc trong đó mọi sự sống được tìm thấy: vật chất đậm đặc, vật chất lỏng, vật chất khí. Ở đây có thể thấy một tương ứng trong công việc được hoàn thành trong ba giống dân gốc đầu tiên.giống dân gốc.(56, 57)

(56) Rootrace. The Secret Doctrine teaches us that in this evolution or Round on this planet the Jivatma—the human soul—passes through seven main types or “rootraces.” In the case of the two earliest of these, known as the “Adamic” and the “Hyperborean,” the forms ensouled were astral and etheric respectively: “huge and indefinite” they were with a low state or outward-going consciousness exercised through the one sense (hearing) possessed by the first race, or through the two senses (hearing and touch) possessed by the second. But with the third race the Lemurian, a denser and more human type was evolved, this being perfected in the fourth or Atlantean race. The fifth race, the Aryan, is now running its course on this globe concurrently with a large part of the fourth race and a few remnants of the third. For it must be noted that, although each race gives birth to the succeeding race, the two will overlap in time, coexisting for many ages. Of existing peoples the Tartars, Chinese and Mongolians belong to the fourth race, the Australian aborigines and Hottentots to the third. (back)

(56) Giống dân gốc. Giáo Lý Bí Nhiệm dạy chúng ta rằng trong cuộc tiến hoá này hay Cuộc tuần hoàn này trên hành tinh này, Jivatma—linh hồn nhân loại—đi qua bảy loại chính hay “giống dân gốc.” Trong trường hợp của hai loại sớm nhất này, được biết đến như “Adamic” và “Hyperborean,” các hình tướng được phú linh lần lượt là cảm dục và dĩ thái: chúng “khổng lồ và không xác định” với một trạng thái tâm thức thấp hay hướng ngoại được vận dụng qua một giác quan (thính giác) mà giống dân thứ nhất sở hữu, hoặc qua hai giác quan (thính giác và xúc giác) mà giống dân thứ hai sở hữu. Nhưng với giống dân thứ ba là Lemuria, một loại đậm đặc hơn và nhân loại hơn đã được tiến hóa, và loại này được hoàn thiện trong giống dân thứ tư hay Atlantis. Giống dân thứ năm, Arya, hiện đang vận hành tiến trình của nó trên bầu hành tinh này đồng thời với một phần lớn của giống dân thứ tư và một vài tàn dư của giống dân thứ ba. Vì cần lưu ý rằng, mặc dù mỗi giống dân sinh ra giống dân kế tiếp, hai giống dân sẽ chồng lấn nhau trong thời gian, cùng tồn tại trong nhiều thời đại. Trong các dân tộc hiện tồn, người Tartars, người Trung Hoa và người Mông Cổ thuộc giống dân thứ tư, còn thổ dân Úc và người Hottentots thuộc giống dân thứ ba. (back)

[Page 122]

[Page 122]

S1S13

3. The Protective Purpose of the Etheric Body. — 3. Mục Đích Bảo Vệ của Thể Dĩ Thái.

Now let us, after this somewhat lengthy digression, leave things cosmic and incomprehensible, and come down to practical evolution, and to the study of the matter of man’s etheric body, and of the harm that may ensue to him should that body (through the breaking of the law) no longer perform its protective function. Let us see first of all what those protective functions are:

Giờ đây, sau sự lạc đề khá dài này, chúng ta hãy rời khỏi những điều vũ trụ và bất khả lĩnh hội, để đi xuống tiến hoá thực tiễn, và đến với việc nghiên cứu vấn đề thể dĩ thái của con người, cùng sự tổn hại có thể xảy đến cho y nếu thể đó (do vi phạm định luật) không còn thực hiện chức năng bảo vệ của nó nữa. Trước hết hãy xem những chức năng bảo vệ ấy là gì:

First. The etheric web acts as a separator or a dividing web between the astral and the dense physical body.

Thứ nhất. Mạng lưới dĩ thái hoạt động như một tấm màn ngăn cách hay một mạng lưới phân chia giữa thể cảm dục và thể xác hồng trần đậm đặc.

Second. It circulates the inflowing vitality or pranic fluid and carries on its work in three stages.

Thứ hai. Nó luân chuyển sinh lực hay lưu chất prana đang tuôn vào và thực hiện công việc của nó trong ba giai đoạn.

The first stage is that wherein the pranic fluid and [Page 123] solar radiations are received, and circulated three times around the triangle, thence being distributed to the periphery of the body, animating and vitalising all the physical organs and conducing to the automatic subconscious workings of the body of dense matter. When perfectly accomplishing its object it protects from disease, and the ills of the flesh are unknown to the man who absorbs and distributes prana with accuracy. This hint is recommended to all physicians, and when properly comprehended, will result in a basic change in medicine, from a curative to a preventive foundation.

Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn trong đó lưu chất prana và [Page 123] các bức xạ thái dương được tiếp nhận, rồi luân chuyển ba lần quanh tam giác, từ đó được phân phối đến chu vi của thể, làm sinh động và tiếp sinh lực cho mọi cơ quan hồng trần và góp phần vào các hoạt động tự động vô thức của thể vật chất đậm đặc. Khi hoàn thành mục đích của nó một cách hoàn hảo, nó bảo vệ khỏi bệnh tật, và những chứng bệnh của xác thân là điều không được biết đến đối với người hấp thu và phân phối prana một cách chính xác. Gợi ý này được khuyến nghị cho mọi y sĩ, và khi được thấu hiểu đúng đắn, sẽ dẫn đến một thay đổi căn bản trong y học, từ nền tảng chữa trị sang nền tảng phòng ngừa.

The second stage is that in which the pranic fluids begin to blend with the fire at the base of the spine and to drive that fire slowly upwards, transferring its heat from the centres below the solar plexus to the three higher centres—that of the heart, the throat and the head. This is a long and slow process when left to the unaided force of nature, but it is just here that (in a few cases) a quickening of the process is permitted in order to equip workers in the field of human service. This is the object of all occult training. This angle of the matter we will take up in still greater detail when we handle our next point of “Kundalini and the Spine.”

Giai đoạn thứ hai là giai đoạn trong đó các lưu chất prana bắt đầu hòa trộn với lửa ở đáy cột sống và đẩy ngọn lửa ấy chậm rãi đi lên, chuyển nhiệt của nó từ các trung tâm bên dưới tùng thái dương đến ba trung tâm cao hơn—trung tâm tim, cổ họng và đầu. Đây là một tiến trình dài và chậm khi được để cho mãnh lực tự nhiên không được trợ giúp vận hành, nhưng chính ở đây mà (trong một vài trường hợp) sự thúc đẩy nhanh tiến trình được cho phép để trang bị cho những người hoạt động trong lĩnh vực phụng sự nhân loại. Đây là mục tiêu của mọi sự huấn luyện huyền bí học. Khía cạnh này của vấn đề chúng ta sẽ còn xét chi tiết hơn nữa khi bàn đến điểm kế tiếp là “Kundalini và Cột sống.”

The third stage is that in which active radiatory matter or prana is blended ever more perfectly with the fire latent in matter; this results (as will be brought out later) in certain effects.

Giai đoạn thứ ba là giai đoạn trong đó vật chất bức xạ linh hoạt hay prana ngày càng được hòa trộn hoàn hảo hơn với ngọn lửa tiềm ẩn trong vật chất; điều này dẫn đến (như sẽ được trình bày sau) một số hiệu quả nhất định.

It produces a quickening of the normal vibration of the physical body so that it responds with more readiness to the higher note of the Ego, and causes a steady rising of the blending fires through the threefold channel in the spinal column. In the second stage this vitalising blended fire reaches a centre between the lower part of the shoulder blades, which is the point of conjunction, and of complete merging, of the fire from the base of the [Page 124] spine and the fire circulating along the pranic triangle. It will be remembered how one point of this triangle originates there. When the threefold basic fire and the threefold pranic fire meet and merge, then evolution proceeds with greatly increased velocity. This is effected definitely at the first Initiation when the polarisation becomes fixed in one or other of the three higher centres,—which centre being dependent upon a man’s ray.

Nó tạo ra sự gia tốc trong rung động bình thường của thể xác hồng trần để thể này đáp ứng dễ dàng hơn với âm điệu cao hơn của chân ngã, và gây nên sự dâng lên đều đặn của các ngọn lửa hòa trộn qua kênh tam phân trong cột sống. Trong giai đoạn thứ hai, ngọn lửa hòa trộn tiếp sinh lực này đạt đến một trung tâm nằm giữa phần dưới của hai xương bả vai, là điểm giao hội và hòa nhập hoàn toàn của ngọn lửa từ đáy [Page 124] cột sống và ngọn lửa luân chuyển dọc theo tam giác prana. Sẽ nhớ rằng một điểm của tam giác này phát nguyên tại đó. Khi lửa căn bản tam phân và lửa prana tam phân gặp nhau và hòa nhập, thì tiến hoá diễn ra với tốc độ tăng mạnh. Điều này được thực hiện một cách xác định ở lần điểm đạo thứ nhất khi sự phân cực trở nên cố định trong một trong ba trung tâm cao hơn,—trung tâm nào tùy thuộc vào cung của một người.

The result of this merging leads to a change in the action of the centres. They become “wheels turning upon themselves,” and from a purely rotary movement become fourth dimensional in action, and manifest as radiant whirling centres of living fire.

Kết quả của sự hòa nhập này dẫn đến một thay đổi trong hoạt động của các trung tâm. Chúng trở thành “những bánh xe tự xoay trên chính mình,” và từ một chuyển động thuần túy quay tròn trở thành có tác động bốn chiều, và biểu lộ như những trung tâm lửa sống động xoáy tròn rực xạ.

The three major head centres (the sequence varying according to ray) become active and a similar process is effected between them as was effected in the pranic triangle. From being three centres that react faintly to each other’s vibratory movement (feeling the warmth and rhythm of each other, yet separated), the fire leaps from centre to centre, and each whirling wheel becomes linked by a chain of fire till there is a triangle of fire through which the kundalini and pranic fires radiate back and forth. Circulation is also carried on. The fire of kundalini produces the heat of the centre, and its intense radiance and brilliance, while the pranic emanatory fire produces ever increasing activity and rotation.

Ba trung tâm đầu chính (trình tự thay đổi tùy theo cung) trở nên linh hoạt và một tiến trình tương tự được thực hiện giữa chúng như đã được thực hiện trong tam giác prana. Từ chỗ là ba trung tâm chỉ phản ứng mờ nhạt với chuyển động rung động của nhau (cảm nhận hơi ấm và nhịp điệu của nhau, nhưng vẫn tách biệt), lửa nhảy từ trung tâm này sang trung tâm khác, và mỗi bánh xe xoáy tròn được nối kết bằng một chuỗi lửa cho đến khi có một tam giác lửa qua đó các lửa kundalini và prana bức xạ qua lại. Sự luân chuyển cũng được tiếp tục. Lửa kundalini tạo ra nhiệt của trung tâm, cùng sự rực xạ và chói sáng mãnh liệt của nó, trong khi lửa phát xạ prana tạo ra hoạt động và sự quay tròn ngày càng tăng.

As time elapses between the first and fourth Initiation, the threefold channel in the spine, and the entire etheric body is gradually cleansed and purified by the action of the fire till all “dross” (as the Christian expresses it) is burnt away, and naught remains to impede the progress of this flame.

Khi thời gian trôi qua giữa lần điểm đạo thứ nhất và thứ tư, kênh tam phân trong cột sống, và toàn bộ thể dĩ thái, dần dần được tẩy sạch và thanh lọc bởi tác động của lửa cho đến khi mọi “cặn bã” (như người Cơ Đốc giáo diễn đạt) đều bị đốt cháy, và không còn gì ngăn trở bước tiến của ngọn lửa này nữa.

As the fire of kundalini and prana proceed with their work, and the channel becomes more and more cleared, the centres more active, and the body purer, the flame [Page 125] of spirit, or the fire from the Ego, comes more actively downwards till a flame of real brilliance issues from the top of the head. This flame surges upwards through the bodies towards its source, the causal body.

Khi lửa kundalini và prana tiếp tục công việc của chúng, và kênh ngày càng được khai thông, các trung tâm linh hoạt hơn, và thể thanh khiết hơn, thì ngọn lửa [Page 125] của tinh thần, hay lửa từ chân ngã, đi xuống xuống dưới một cách linh hoạt hơn cho đến khi một ngọn lửa thực sự rực rỡ phát ra từ đỉnh đầu. Ngọn lửa này dâng lên xuyên qua các thể hướng về nguồn của nó, thể nguyên nhân.

Simultaneously with the activity of these fires of matter and of Spirit, the fires of mind, or manas, burn with greater intensity. These are the fires given at individualisation. They are fed continuously by the fire of matter, and their heat is augmented by solar emanatory fire, which originates on the cosmic levels of mind. It is this aspect of the manasic fire that develops under the forms of instinct, animal memory, and functional recollection which are so apparent in the little evolved man. As time progresses the fire of mind burns more brightly and thus reaches a point where it begins to burn through the etheric web—that portion of the web that can be found guarding the centre at the very top of the head, and admitting entrance to the downflow from the Spirit. By its means certain things are brought about:

Đồng thời với hoạt động của các lửa vật chất và Tinh thần này, các lửa của trí tuệ, hay manas, bùng cháy với cường độ lớn hơn. Đây là những ngọn lửa được ban cho vào lúc biệt ngã hóa. Chúng liên tục được nuôi dưỡng bởi lửa vật chất, và nhiệt của chúng được tăng cường bởi lửa phát xạ thái dương, phát nguyên trên các cấp độ vũ trụ của trí tuệ. Chính phương diện này của lửa manas phát triển dưới các hình thức bản năng, ký ức động vật, và sự hồi tưởng chức năng vốn rất hiển nhiên nơi con người ít tiến hóa. Khi thời gian trôi qua, lửa trí tuệ cháy sáng hơn và do đó đạt đến một điểm mà nó bắt đầu đốt xuyên qua mạng lưới dĩ thái—phần của mạng lưới có thể được tìm thấy đang bảo vệ trung tâm ở ngay đỉnh đầu, và cho phép sự tuôn xuống từ Tinh thần đi vào. Nhờ đó một số điều được thực hiện:

The kundalini fire is consciously directed and controlled by the mind or will aspect from the mental plane. The two fires of matter by the power of the mind of man are blended first with each other, and, secondly, with the fire of mind.

Lửa kundalini được trí tuệ hay phương diện ý chí từ cõi trí điều khiển và kiểm soát một cách hữu thức. Hai lửa của vật chất, nhờ quyền năng của trí tuệ con người, trước hết được hòa trộn với nhau, và thứ hai, được hòa trộn với lửa trí tuệ.

The united result of this blending is the destruction (under rule and order), of the etheric web, and the consequent production of continuity of consciousness and the admission into the personal life of man of “Life more abundant,” or the third fire of Spirit.

Kết quả hợp nhất của sự hòa trộn này là sự hủy diệt (dưới quy luật và trật tự) của mạng lưới dĩ thái, và hậu quả là tạo ra sự liên tục của tâm thức cùng sự tiếp nhận vào đời sống cá nhân của con người “Sự sống dồi dào hơn,” hay ngọn lửa thứ ba của Tinh thần.

The downrush of Spirit, and the uprising of the inner fires of matter (controlled and directed by the conscious action of the fire of mind) produce corresponding results on the same levels on the astral and mental planes, so that a paralleling contact is brought about, and the great work of liberation proceeds in an ordered manner.

Sự tuôn xuống của Tinh thần, và sự dâng lên của các lửa nội tại của vật chất (được kiểm soát và điều khiển bởi tác động hữu thức của lửa trí tuệ) tạo ra những kết quả tương ứng trên cùng các cấp độ của cõi cảm dục và cõi trí, nhờ đó một sự tiếp xúc song hành được thiết lập, và đại công cuộc giải thoát tiến hành một cách có trật tự.

The three first initiations see these results perfected, [Page 126] and lead to the fourth, where the intensity of the united fires results in the complete burning away of all barriers, and the liberation of the Spirit by conscious directed effort from out its threefold lower sheath. Man has consciously to bring about his own liberation. These results are self-induced by the man himself, as he is emancipated from the three worlds, and has broken the wheel of rebirth himself instead of being broken upon it.

Ba lần điểm đạo đầu tiên chứng kiến những kết quả này được hoàn thiện, [Page 126] và dẫn đến lần thứ tư, nơi cường độ của các lửa hợp nhất dẫn đến sự thiêu hủy hoàn toàn mọi rào cản, và sự giải thoát của tinh thần bằng nỗ lực hữu thức có định hướng ra khỏi lớp vỏ thấp tam phân của nó. Con người phải tự mình một cách hữu thức tạo ra sự giải thoát của chính mình. Những kết quả này do chính con người tự gây ra, khi y được giải phóng khỏi ba cõi giới, và tự mình phá vỡ bánh xe tái sinh thay vì bị nó nghiền nát.

It will be apparent from this elucidation that the exceeding importance of the etheric vehicle as the separator of the fires has been brought forward, and consequently we have brought to our notice the dangers that must ensue should man tamper injudiciously, ignorantly or wilfully with these fires.

Từ sự làm sáng tỏ này, sẽ hiển nhiên rằng tầm quan trọng vượt bậc của vận cụ dĩ thái như yếu tố phân cách các ngọn lửa đã được nêu bật, và do đó chúng ta được lưu ý đến những nguy hiểm chắc chắn sẽ xảy ra nếu con người can thiệp một cách thiếu thận trọng, vô minh hay cố ý vào các ngọn lửa này.

Should a man, by the power of will or through an over-development of the mental side of his character, acquire the power to blend these fires of matter and to drive them forward, he stands in danger of obsession, insanity, physical death, or of dire disease in some part of his body, and he also runs the risk of an over-development of the sex impulse through the driving of the force in an uneven manner upwards, or in forcing its radiation to undesirable centres. The reason of this is that the matter of his body is not pure enough to stand the uniting of the flames, that the channel up the spine is still clogged and blocked, and therefore acts as a barrier, turning the flame backwards and downwards, and that the flame (being united by the power of mind and not being accompanied by a simultaneous downflow from the plane of spirit), permits the entrance, through the burning etheric, of undesirable and extraneous forces, currents, and even entities. These wreck and tear and ruin what is left of the etheric vehicle, of the brain tissue and even of the dense physical body itself.

Nếu một người, bằng quyền năng của ý chí hoặc do sự phát triển quá mức mặt trí tuệ trong tính cách của mình, đạt được quyền năng dung hợp các lửa của vật chất này và thúc đẩy chúng tiến lên, y đứng trước nguy cơ bị ám nhập, điên loạn, chết về thể xác, hoặc mắc bệnh hiểm nghèo ở một phần nào đó của thể mình, và y cũng có nguy cơ phát triển quá mức xung lực tính dục do thúc đẩy mãnh lực đi lên một cách không đồng đều, hoặc ép sự bức xạ của nó đến những trung tâm không mong muốn. Lý do là vì vật chất của thể y không đủ thanh khiết để chịu đựng sự hợp nhất của các ngọn lửa, rằng kênh dọc theo cột sống vẫn còn bị nghẽn và bít lại, do đó hoạt động như một rào cản, làm ngọn lửa quay ngược trở xuống, và rằng ngọn lửa ấy (được hợp nhất bởi quyền năng của trí tuệ mà không đi kèm với một dòng tuôn xuống đồng thời từ cõi tinh thần), cho phép những mãnh lực, dòng lực, và ngay cả những thực thể không mong muốn và ngoại lai xâm nhập qua thể dĩ thái đang cháy. Chúng tàn phá, xé nát và hủy hoại những gì còn lại của vận cụ dĩ thái, của mô não và ngay cả của chính thể xác đậm đặc.

The unwary man, being unaware of his Ray and therefore of the proper geometrical form of triangle that is [Page 127] the correct method of circulation from centre to centre, will drive the fire in unlawful progression and thus burn up tissue; this will result then (if in nothing worse), in a setting back for several lives of the clock of his progress, for he will have to spend much time in rebuilding where he destroyed, and with recapitulating on right lines all the work to be done.

Người bất cẩn, vì không biết cung của mình và do đó không biết hình tam giác hình học thích hợp là gì, tức là [Page 127] phương pháp tuần hoàn đúng đắn từ trung tâm này sang trung tâm khác, sẽ thúc đẩy lửa theo một tiến trình trái luật và do đó thiêu hủy mô; điều này rồi sẽ dẫn đến ít nhất là sự trì hoãn đồng hồ tiến bộ của y trong nhiều kiếp sống, vì y sẽ phải dành nhiều thời gian để tái tạo nơi mình đã phá hủy, và làm lại theo những đường lối đúng đắn toàn bộ công việc cần phải làm.

If a man persists from life to life in this line of action, if he neglects his spiritual development and concentrates on intellectual effort turned to the manipulation of matter for selfish ends, if he continues this in spite of the promptings of his inner self, and in spite of the warnings that may reach him from Those who watch, and if this is carried on for a long period he may bring upon himself a destruction that is final for this manvantara or cycle. He may, by the uniting of the two fires of matter and the dual expression of mental fire, succeed in the complete destruction of the physical permanent atom, and thereby sever his connection with the higher self for aeons of time. H. P. B. has somewhat touched on this when speaking of “lost souls”; (58,59) we must here emphasise the reality of this dire disaster and sound a warning note to those who approach this subject of the fires of matter with all its latent dangers. The blending of these fires must be the result of spiritualised knowledge, and must be directed solely by the Light of the Spirit, who works through love and is love, and who seeks this unification and this utter merging not from the point of view of sense or of material gratification, but because liberation and purification is desired in order that the higher union with the Logos may be effected; this union must be desired, not for selfish ends, but because group perfection is the goal and scope for greater service to the race must be achieved.

Nếu một người cứ tiếp tục đường lối hành động này từ đời này sang đời khác, nếu y sao lãng sự phát triển tinh thần của mình và tập trung vào nỗ lực trí tuệ hướng đến việc thao túng vật chất vì những mục đích ích kỷ, nếu y tiếp tục như vậy bất chấp những thôi thúc của bản ngã bên trong, và bất chấp những cảnh báo có thể đến với y từ Các Ngài đang quan sát, và nếu điều này được tiếp diễn trong một thời gian dài, y có thể tự chuốc lấy một sự hủy diệt mang tính chung cuộc đối với giai kỳ sinh hóa hay chu kỳ này. Y có thể, bằng sự hợp nhất của hai lửa của vật chất và biểu hiện nhị phân của lửa trí tuệ, thành công trong việc hủy diệt hoàn toàn nguyên tử trường tồn hồng trần, và do đó cắt đứt mối liên hệ của y với chân ngã trong những đại kiếp thời gian. H. P. B. đã phần nào đề cập đến điều này khi nói về “những linh hồn lạc mất”; (58,59) ở đây chúng ta phải nhấn mạnh tính hiện thực của tai họa khủng khiếp này và lên tiếng cảnh báo cho những ai tiếp cận chủ đề về các lửa của vật chất với tất cả những hiểm nguy tiềm ẩn của nó. Sự dung hợp các lửa này phải là kết quả của tri thức đã được tinh thần hóa, và chỉ phải được định hướng bởi Ánh sáng của Tinh thần, Đấng hoạt động qua tình thương và là tình thương, và Đấng tìm kiếm sự hợp nhất này cùng sự hòa tan hoàn toàn này không phải từ quan điểm của cảm giác hay sự thỏa mãn vật chất, mà bởi vì sự giải thoát và thanh lọc được mong cầu để sự hợp nhất cao hơn với Thượng đế có thể được thực hiện; sự hợp nhất này phải được mong cầu không vì những mục đích ích kỷ, mà bởi vì sự hoàn thiện nhóm là mục tiêu và phạm vi cho sự phụng sự lớn lao hơn đối với nhân loại phải được đạt đến.

(58) Lost Souls. See Isis Unveiled, Vol. II, p. 368; also S. D., I, 255, and S. D., III 493, 513-516, 521, 525, 527.cosmic aether. This will not be then counted. (back)

(58) Những linh hồn lạc mất. Xem Isis Unveiled, Tập II, tr. 368; cũng xem S. D., I, 255, và S. D., III 493, 513-516, 521, 525, 527.cosmic aether. Khi đó điều này sẽ không được tính đến. (back)

S1S14

V. DEATH AND THE ETHERIC BODY — V. CÁI CHẾT VÀ THỂ DĨ THÁI

[Page 128] It is not our purpose to give facts for verification by science, or even to point the way to the next step onward for scientific investigators; that we may do so is but incidental and purely secondary. What we seek mainly is to give indications of the development and correspondence of the threefold whole that makes the solar system what it is—the vehicle through which a great cosmic ENTITY, the solar Logos, manifests active intelligence with the purpose in view of demonstrating perfectly the love side of His nature. Back of this design lies a yet more esoteric and ulterior purpose, hid in the Will Consciousness of the Supreme Being, which perforce will be later demonstrated when the present objective is attained. The dual alternation of objective manifestation and of subjective obscuration, the periodic out-breathing, followed by the in-breathing of all that has been carried forward through evolution embodies in the system one of the basic cosmic vibrations, and the key-note of that cosmic ENTITY whose body we are. The heart beats of the Logos (if it might be so inadequately expressed) are the source of all cyclic evolution, and hence the importance attached to that aspect of development called the “heart” or “love aspect,” and the interest that is awakened by the study of rhythm. This is true, not only cosmically and macrocosmically, but likewise in the study of the human unit. Underlying all the physical sense attached to rhythm, vibration, cycles and heart-beat, lie their subjective analogies—love, feeling, emotion, desire, harmony, synthesis and ordered sequence,—and back of these analogies lies the source of all, the identity of that Supreme Being Who thus expresses Himself.

[Page 128] Mục đích của chúng ta không phải là đưa ra những dữ kiện để khoa học kiểm chứng, hay thậm chí chỉ ra bước tiến kế tiếp cho các nhà nghiên cứu khoa học; việc chúng ta có thể làm như vậy chỉ là ngẫu nhiên và hoàn toàn thứ yếu. Điều chúng ta chủ yếu tìm cách làm là đưa ra những chỉ dẫn về sự phát triển và sự tương ứng của toàn thể tam phân tạo nên hệ mặt trời đúng như nó là—vận cụ qua đó một THỰC THỂ vũ trụ vĩ đại, Thái dương Thượng đế, biểu lộ trí tuệ linh hoạt với mục đích nhằm biểu hiện một cách hoàn hảo phương diện bác ái trong bản chất của Ngài. Đằng sau đồ án này còn có một mục đích huyền bí hơn và sâu xa hơn nữa, ẩn trong Tâm thức Ý Chí của Đấng Tối Cao, mục đích ấy tất yếu sẽ được biểu hiện về sau khi mục tiêu hiện tại đã đạt được. Sự luân phiên nhị nguyên giữa biểu hiện khách quan và sự che khuất chủ quan, sự thở ra theo chu kỳ tiếp theo bởi sự hít vào của tất cả những gì đã được đưa tiến lên qua tiến hoá, thể hiện trong hệ thống một trong những rung động vũ trụ căn bản, và chủ âm của THỰC THỂ vũ trụ mà chúng ta là thể của Ngài. Những nhịp đập tim của Thượng đế (nếu có thể diễn đạt một cách không đầy đủ như vậy) là nguồn gốc của mọi tiến hoá theo chu kỳ, và do đó tầm quan trọng được gán cho phương diện phát triển gọi là “tim” hay “phương diện bác ái,” cùng sự quan tâm được khơi dậy bởi việc nghiên cứu nhịp điệu. Điều này đúng không chỉ về mặt vũ trụ và đại thiên địa, mà cũng đúng trong việc nghiên cứu đơn vị con người. Nằm bên dưới mọi ý nghĩa hồng trần gắn với nhịp điệu, rung động, chu kỳ và nhịp tim là những tương đồng chủ quan của chúng—bác ái, cảm giác, cảm xúc, dục vọng, hài hòa, tổng hợp và trình tự có trật tự,—và đằng sau những tương đồng này là nguồn cội của tất cả, tức bản sắc của Đấng Tối Cao ấy, Đấng tự biểu lộ chính Ngài như vậy.

Therefore, the study of pralaya, or the withdrawal of the life from out of the etheric vehicle will be the same [Page 129] whether one studies the withdrawal of the human etheric double, the withdrawal of the planetary etheric double, or the withdrawal of the etheric double of the solar system. The effect is the same and the consequences similar.

Do đó, việc nghiên cứu pralaya, hay sự rút sự sống ra khỏi vận cụ dĩ thái sẽ giống nhau [Page 129] dù người ta nghiên cứu sự rút bản sao dĩ thái của con người, sự rút bản sao dĩ thái của hành tinh, hay sự rút bản sao dĩ thái của hệ mặt trời. Hiệu quả là như nhau và các hệ quả thì tương tự.

What is the result of this withdrawal, or rather what causes that something which we call death or pralaya? As we are strictly pursuing the text-book style in this treatise, we will continue our methods of tabulation. The withdrawal of the etheric double of a man, a planet, and a system is brought about by the following causes:

Kết quả của sự rút này là gì, hay đúng hơn điều gì gây ra cái mà chúng ta gọi là cái chết hay pralaya? Vì chúng ta đang nghiêm ngặt theo đuổi lối văn giáo khoa trong bộ luận này, chúng ta sẽ tiếp tục phương pháp liệt kê của mình. Sự rút bản sao dĩ thái của một người, một hành tinh và một hệ thống được gây ra bởi các nguyên nhân sau đây:

a. The cessation of desire. This should be the result of all evolutionary process. True death, under the law, is brought about by the attainment of the objective, and hence by the cessation of aspiration. This, as the perfected cycle draws to its close, will be true of the individual human being, of the Heavenly Man, and of the Logos Himself.

a. Sự chấm dứt dục vọng. Đây phải là kết quả của toàn bộ tiến trình tiến hoá. Cái chết chân chính, dưới định luật, được mang lại bởi việc đạt đến mục tiêu, và do đó bởi sự chấm dứt khát vọng. Điều này, khi chu kỳ hoàn thiện dần đi đến kết thúc, sẽ đúng đối với cá nhân con người, đối với Đấng Thiên Nhân, và đối với chính Thượng đế.

b. By the slowing down and gradual cessation of the cyclic rhythm, the adequate vibration is achieved, and the work accomplished. When the vibration or note is perfectly felt or sounded it causes (at the point of synthesis with other vibrations) the utter shattering of the forms.

b. Do sự chậm lại và dần dần chấm dứt của nhịp điệu chu kỳ, rung động thích đáng được đạt tới, và công việc được hoàn thành. Khi rung động hay âm điệu được cảm nhận hoặc được xướng lên một cách hoàn hảo, nó gây ra (tại điểm tổng hợp với các rung động khác) sự tan vỡ hoàn toàn của các hình tướng.

Motion is characterised, as we know, by three qualities:

Chuyển động được đặc trưng, như chúng ta biết, bởi ba phẩm tính:

1. Inertia,

1. Quán tính,

2. Mobility,

2. Tính động,

3. Rhythm.

3. Nhịp điệu.

These three are experienced in just the above sequence and presuppose a period of slow activity, succeeded by one of extreme movement. This middle period produces incidentally (as the true note and rate is sought) cycles of chaos, of experiment, of experience and of comprehension. Following on these two degrees of motion (which are characteristic of the atom, Man, of the Heavenly Man [Page 130] or group, and of the Logos or the Totality) comes a period of rhythm and of stabilisation wherein the point of balance is achieved. By the force of balancing the pairs of opposites, and thus producing equilibrium, pralaya is the inevitable sequence.

Ba phẩm tính này được trải nghiệm đúng theo trình tự trên và giả định trước một giai đoạn hoạt động chậm, tiếp theo là một giai đoạn chuyển động cực độ. Giai đoạn giữa này ngẫu nhiên tạo ra (khi âm điệu và tốc độ chân chính được tìm kiếm) các chu kỳ hỗn loạn, thử nghiệm, kinh nghiệm và thấu hiểu. Tiếp theo hai cấp độ chuyển động này (vốn là đặc trưng của nguyên tử, của Con Người, của Đấng Thiên Nhân [Page 130] hay nhóm, và của Thượng đế hay Toàn Thể) là một giai đoạn nhịp điệu và sự ổn định trong đó điểm quân bình được đạt tới. Bằng mãnh lực quân bình các cặp đối nghịch, và do đó tạo ra trạng thái cân bằng, pralaya là hệ quả tất yếu tiếp theo.

c. By the severing of the physical from the subtler body on the inner planes, through the shattering of the web. This has a threefold effect:

c. Do sự cắt rời thể xác khỏi thể vi tế hơn trên các cõi bên trong, thông qua sự phá vỡ màng lưới. Điều này có tác động tam phân:

First. The life that had animated the physical form (both dense and etheric) and which had its starting point in the permanent atom and from thence “pervaded the moving and the unmoving” (in God, the Heavenly Man, and the human being, as well as in the atom of matter) is withdrawn entirely within the atom upon the plane of abstraction. This “plane of abstraction” is a different one for the entities involved:

Thứ nhất. Sự sống đã làm sinh động hình tướng hồng trần (cả đậm đặc lẫn dĩ thái) và có điểm khởi đầu trong nguyên tử trường tồn, rồi từ đó “thấm khắp cái động và cái bất động” (trong Thượng đế, Đấng Thiên Nhân, và con người, cũng như trong nguyên tử vật chất) được rút hoàn toàn vào trong nguyên tử trên cõi trừu xuất. “Cõi trừu xuất” này là khác nhau đối với các thực thể liên quan:

a. For the physical permanent atom, it is the atomic level.

a. Đối với nguyên tử trường tồn hồng trần, đó là cấp độ nguyên tử.

b. For man, it is the causal vehicle.

b. Đối với con người, đó là vận cụ nguyên nhân.

c. For the Heavenly Man, it is the second plane of monadic life, His habitat.

c. Đối với Đấng Thiên Nhân, đó là cõi thứ hai của sự sống chân thần, nơi cư ngụ của Ngài.

d. For the Logos, it is the plane of Adi.

d. Đối với Thượng đế, đó là cõi Adi.

All these mark the points for the disappearance of the unit into pralaya. We need here to remember that it is always pralaya when viewed from below. From the higher vision, that sees the subtler continuously overshadowing the dense when not in objective manifestation, pralaya is simply subjectivity, and is not that “which is not,” but simply that which is esoteric.

Tất cả những điều này đánh dấu các điểm mà tại đó đơn vị biến mất vào pralaya. Ở đây chúng ta cần nhớ rằng đó luôn luôn là pralaya khi được nhìn từ bên dưới. Từ linh thị cao hơn, vốn thấy cái vi tế liên tục phủ bóng lên cái đậm đặc khi không ở trong biểu hiện khách quan, pralaya đơn giản chỉ là tính chủ quan, và không phải là “cái không hiện hữu,” mà chỉ đơn giản là cái huyền bí.

Second. The etheric double of a man, a planetary Logos, and a solar Logos, being shattered, becomes nonpolarised as regards its indweller, and permits therefore of escape. It is (to word it otherwise) no longer a source of attraction, nor a focal magnetic point. It becomes non-magnetic, and the great Law of Attraction ceases to [Page 131] control it; hence disintegration is the ensuing condition of the form. The Ego ceases to be attracted by its form on the physical plane, and, proceeding to inbreathe, withdraws its life from out of the sheath. The cycle draws to a close, the experiment has been made, the objective (a relative one from life to life and from incarnation to incarnation) has been achieved, and there remains nothing more to desire; the Ego, or the thinking entity, loses interest therefore in the form, and turns his attention inward. His polarisation changes, and the physical is eventually dropped.

Thứ hai. Bản sao dĩ thái của một người, một Hành Tinh Thượng đế, và một Thái dương Thượng đế, khi bị phá vỡ, trở nên không phân cực đối với đấng ngự bên trong của nó, và do đó cho phép sự thoát ra. Nói cách khác, nó không còn là một nguồn hấp dẫn, cũng không còn là một điểm hội tụ từ tính. Nó trở nên không từ tính, và Định luật Hấp Dẫn vĩ đại không còn [Page 131] kiểm soát nó nữa; do đó sự tan rã là tình trạng tiếp theo của hình tướng. Chân ngã không còn bị thu hút bởi hình tướng của mình trên cõi hồng trần, và, tiến tới hít vào, rút sự sống của mình ra khỏi vỏ bọc. Chu kỳ đi đến kết thúc, cuộc thử nghiệm đã được thực hiện, mục tiêu (một mục tiêu tương đối từ đời này sang đời khác và từ lần nhập thể này sang lần nhập thể khác) đã đạt được, và không còn gì để ham muốn nữa; do đó Chân ngã, hay thực thể tư duy, mất hứng thú đối với hình tướng, và quay sự chú ý vào bên trong. Sự phân cực của y thay đổi, và cuối cùng cái hồng trần bị buông bỏ.

The planetary Logos likewise in His greater cycle (the synthesis or the aggregate of the tiny cycles of the cells of His body) pursues the same course; He ceases to be attracted downward or outward, and turns His gaze within; He gathers inward the aggregate of the smaller lives within His body, the planet, and severs connection. Outer attraction ceases and all gravitates towards the centre instead of scattering to the periphery of His body.

Hành Tinh Thượng đế cũng vậy, trong chu kỳ lớn hơn của Ngài (sự tổng hợp hay tổng số các chu kỳ nhỏ bé của những tế bào trong thể Ngài) đi theo cùng một tiến trình; Ngài không còn bị thu hút xuống dưới hay ra bên ngoài nữa, mà quay ánh nhìn vào bên trong; Ngài thu gom vào trong tổng số các sự sống nhỏ hơn trong thể Ngài, tức hành tinh, và cắt đứt liên hệ. Sự hấp dẫn bên ngoài chấm dứt và mọi sự hấp dẫn về trung tâm thay vì tản ra chu vi thể Ngài.

In the system, the same process is followed by the solar Logos; from His high place of abstraction, He ceases to be attracted by His body of manifestation. He withdraws His interest and the two pairs of opposites, the spirit and the matter of the vehicle, dissociate. With this dissociation the solar system, that “Son of Necessity,” or of desire, ceases to be, and passes out of objective existence.

Trong hệ thống, cùng một tiến trình được Thái dương Thượng đế tuân theo; từ vị trí trừu xuất cao cả của Ngài, Ngài không còn bị thu hút bởi thể biểu hiện của Ngài nữa. Ngài rút lại sự quan tâm của mình và hai cặp đối nghịch, tinh thần và vật chất của vận cụ, phân ly. Với sự phân ly này, hệ mặt trời, “Con của Tất Yếu,” hay của dục vọng, không còn hiện hữu nữa, và ra khỏi sự tồn tại khách quan.

Third. This leads finally, to the scattering of the atoms of the etheric body into their primordial condition. The subjective life, the synthesis of will and love taking active form, is withdrawn. The partnership is dissolved. The form then breaks up; the magnetism that has held it in coherent shape is no longer present, and dissipation is complete. Matter persists, but the form no longer persists.

Thứ ba. Điều này cuối cùng dẫn đến sự phân tán các nguyên tử của thể dĩ thái trở về trạng thái nguyên sơ của chúng. Sự sống chủ quan, sự tổng hợp của ý chí và bác ái mang hình thức linh hoạt, được rút đi. Sự cộng tác bị giải thể. Khi đó hình tướng tan vỡ; từ điện đã giữ nó trong hình dạng kết hợp không còn hiện diện nữa, và sự tiêu tan hoàn tất. Vật chất vẫn tồn tại, nhưng hình tướng không còn tồn tại nữa.

The work of the second Logos ends, and the divine [Page 132] incarnation of the Son is concluded. But the faculty or inherent quality of matter also persists, and at the end of each period of manifestation, matter (though distributed again into its primal form) is active intelligent matter plus the gain of objectivity, and the increased radiatory and latent activity which it has gained through experience. Let us illustrate: The matter of the solar system, when undifferentiated, was active intelligent matter, and that is all that can be predicated of it. This active intelligent matter was matter qualified by an earlier experience, and coloured by an earlier incarnation. Now this matter is in form, the solar system is not in pralaya but in objectivity,—his objectivity having in view the addition of another quality to the logoic content, that of love and wisdom. Therefore at the next solar pralaya, at the close of the one hundred years of Brahma, the matter of the solar system will be coloured by active intelligence, and by active love. This means literally that the aggregate of solar atomic matter will eventually vibrate to another key than it did at the first dawn of manifestation.

Công việc của Thượng đế thứ hai chấm dứt, và sự nhập thể thiêng liêng [Page 132] của Người Con được hoàn tất. Nhưng năng lực hay phẩm tính cố hữu của vật chất cũng vẫn tồn tại, và vào cuối mỗi thời kỳ biểu hiện, vật chất (dù lại được phân bố vào hình thức nguyên sơ của nó) là vật chất trí tuệ linh hoạt cộng thêm thành quả của tính khách quan, và hoạt động bức xạ cùng hoạt động tiềm ẩn gia tăng mà nó đã đạt được qua kinh nghiệm. Chúng ta hãy minh họa: Vật chất của hệ mặt trời, khi chưa biến phân, là vật chất trí tuệ linh hoạt, và đó là tất cả những gì có thể được khẳng định về nó. Vật chất trí tuệ linh hoạt này là vật chất được định tính bởi một kinh nghiệm trước đó, và được nhuốm màu bởi một lần nhập thể trước đó. Hiện nay vật chất này đang ở trong hình tướng, hệ mặt trời không ở trong pralaya mà ở trong tính khách quan,—tính khách quan của nó nhằm thêm vào nội dung Thượng đế một phẩm tính khác, đó là bác ái và minh triết. Do đó, vào lần pralaya mặt trời kế tiếp, khi kết thúc một trăm năm của Brahma, vật chất của hệ mặt trời sẽ được nhuốm màu bởi trí tuệ linh hoạt, và bởi bác ái linh hoạt. Điều này theo nghĩa đen có nghĩa là tổng số vật chất nguyên tử mặt trời cuối cùng sẽ rung động theo một chủ âm khác với chủ âm của nó vào buổi bình minh đầu tiên của biểu hiện.

We can work this out in connection with the planetary Logos and the human unit, for the analogy holds good. We have a correspondence on a tiny scale in the fact that each human life period sees a man taking a more evolved physical body of a greater responsiveness, tuned to a higher key, of more adequate refinement, and vibrating to a different measure. In these three thoughts lies much information, if they are carefully studied and logically extended.

Chúng ta có thể triển khai điều này trong liên hệ với Hành Tinh Thượng đế và đơn vị con người, vì sự tương đồng là xác đáng. Chúng ta có một sự tương ứng ở quy mô nhỏ trong sự kiện là mỗi giai đoạn đời sống con người đều cho thấy một người đảm nhận một thể xác tiến hóa hơn, có khả năng đáp ứng lớn hơn, được chỉnh theo một chủ âm cao hơn, có sự tinh luyện thích đáng hơn, và rung động theo một nhịp độ khác. Chính trong ba ý tưởng này có nhiều thông tin, nếu chúng được nghiên cứu cẩn thận và được mở rộng một cách hợp lý.

d. By the transmutation of the violet into the blue. This we cannot enlarge on. We simply make the statement, and leave its working out to those students whose karma permits and whose intuition suffices.

d. Do sự chuyển hoá từ tím sang lam. Điều này chúng ta không thể nói rộng thêm. Chúng ta chỉ nêu ra mệnh đề ấy, và để việc triển khai nó cho những đạo sinh mà nghiệp quả cho phép và trực giác đủ sức đảm đương.

e. By the withdrawal of the life, the form should gradually dissipate. The reflex action here is interesting to note, for the greater Builders and Devas who are the [Page 133] active agents during manifestation, and who hold the form in coherent shape, transmuting, applying and circulating the pranic emanations, likewise lose their attraction to the matter of the form, and turn their attention elsewhere. On the path of out-breathing (whether human, planetary or logoic) these building devas (on the same Ray as the unit desiring manifestation, or on a complementary Ray) are attracted by his will and desire, and perform their office of construction. On the path of in-breathing (whether human, planetary or logoic) they are no longer attracted, and the form begins to dissipate. They withdraw their interest and the forces (likewise entities) who are the agents of destruction, carry on their necessary work of breaking up the form; they scatter it—as it is occultly expressed—to “The four winds of Heaven,” or to the regions of the four breaths,—a fourfold separation and distribution. A hint is here given for careful consideration.

e. Do sự rút sự sống, hình tướng phải dần dần tiêu tan. Phản ứng phản chiếu ở đây đáng chú ý, vì các đấng kiến tạo lớn hơn và các thiên thần là [Page 133] những tác nhân linh hoạt trong thời kỳ biểu hiện, và là những vị giữ hình tướng trong hình dạng kết hợp, chuyển hoá, áp dụng và tuần hoàn các phát xạ prana, cũng mất đi sự hấp dẫn đối với vật chất của hình tướng, và chuyển sự chú ý của họ sang nơi khác. Trên con đường thở ra (dù là con người, hành tinh hay Thượng đế) các thiên thần kiến tạo này (ở cùng cung với đơn vị mong muốn biểu hiện, hoặc ở một cung bổ sung) bị thu hút bởi ý chí và dục vọng của y, và thực hiện chức năng kiến tạo của mình. Trên con đường hít vào (dù là con người, hành tinh hay Thượng đế) họ không còn bị thu hút nữa, và hình tướng bắt đầu tiêu tan. Họ rút lại sự quan tâm của mình và các mãnh lực (cũng là các thực thể) là những tác nhân hủy diệt tiếp tục công việc cần thiết của họ là phá vỡ hình tướng; họ phân tán nó—như được diễn tả một cách huyền bí—vào “Bốn ngọn gió của Thiên Đàng,” hay vào các vùng của bốn hơi thở,—một sự phân ly và phân bố tứ phân. Ở đây có một gợi ý cần được suy xét cẩn thận.

Though no pictures have been drawn of death bed scenes nor of the dramatic escape of the palpitating etheric body from the centre in the head, as might have been anticipated, yet some of the rules and purposes governing this withdrawal have been mentioned. We have seen how the aim of each life (whether human, planetary or solar) should be the effecting and the carrying out of a definite purpose. This purpose is the development of a more adequate form for the use of the spirit; and when this purpose is achieved then the Indweller turns his attention away, and the form disintegrates, having served his need. This is not always the case in every human life nor even in each planetary cycle. The mystery of the moon is the mystery of failure. This leads, when comprehended, to a life of dignity and offers an aim worthy of our best endeavour. When this angle of truth is universally recognised, as it will be when the intelligence of the race suffices, then evolution will proceed with certainty, and the failures be less numerous.

Dù không có những bức tranh nào được vẽ ra về các cảnh bên giường chết hay về sự thoát ra đầy kịch tính của thể dĩ thái rung động từ trung tâm ở đầu, như người ta có thể chờ đợi, tuy nhiên một số quy luật và mục đích chi phối sự rút lui này đã được đề cập đến. Chúng ta đã thấy mục tiêu của mỗi đời sống (dù là con người, hành tinh hay mặt trời) phải là thực hiện và hoàn thành một mục đích xác định. Mục đích này là phát triển một hình tướng thích đáng hơn cho tinh thần sử dụng; và khi mục đích này đạt được thì Đấng Ngự Bên Trong quay sự chú ý đi nơi khác, và hình tướng tan rã, vì đã phục vụ nhu cầu của y. Điều này không phải lúc nào cũng đúng trong mọi đời sống con người, thậm chí cũng không đúng trong mỗi chu kỳ hành tinh. Bí nhiệm của mặt trăng là bí nhiệm của sự thất bại. Khi được thấu hiểu, điều này dẫn đến một đời sống có phẩm giá và đưa ra một mục tiêu xứng đáng với nỗ lực tốt nhất của chúng ta. Khi góc độ chân lý này được thừa nhận một cách phổ quát, như sẽ xảy ra khi trí tuệ của nhân loại đủ sức, thì tiến hoá sẽ tiến hành một cách chắc chắn, và những thất bại sẽ ít đi hơn.

Cosmic Fire S2

(134 – 220)

DIVISION D - KUNDALINI AND THE SPINE — PHÂN ĐOẠN D - KUNDALINI VÀ CỘT SỐNG

(60, 61)

(60, 61)

(60) “Kundalini, the serpent power or mystic fire; it is called the serpentine or annular power on account of its spiral-like working or progress in the body of the ascetic developing the power in himself. It is an electric fiery occult, or fohatic power, the great pristine force which underlies all organic and inorganic matter.”—H. P. Blavatsky. (back)

(60) “Kundalini, quyền năng rắn hay lửa thần bí; nó được gọi là quyền năng hình rắn hay hình vòng do hoạt động hay sự tiến triển giống xoắn ốc của nó trong thể của nhà khổ hạnh đang phát triển quyền năng ấy trong chính mình. Nó là một quyền năng huyền bí bằng lửa điện, hay fohat, là mãnh lực nguyên sơ vĩ đại làm nền tảng cho mọi vật chất hữu cơ và vô cơ.”—H. P. Blavatsky. (back)

[Page 134]

[Page 134]

I. Kundalini and the three triangles.

I. Kundalini và ba tam giác.

1. In the head.

1. Trong đầu.

2. In the body.

2. Trong thể.

3. At the base of the spine.

3. Ở đáy cột sống.

II. The arousing of Kundalini.

II. Sự đánh thức Kundalini.

Very briefly, owing to the impossibility of revealing much on this necessarily dangerous subject, we will consider the subject of kundalini and the spine.

Rất vắn tắt, do không thể tiết lộ nhiều về chủ đề tất yếu nguy hiểm này, chúng ta sẽ xem xét chủ đề kundalini và cột sống.

We must remember here that we are dealing with the etheric counterpart of the spine, and not with the bony structure which we call the spine or spinal column. This is a fact not sufficiently recognised by those who treat of the matter. Too much emphasis has been laid on the three spinal channels that compose the threefold spinal cord.

Ở đây chúng ta phải nhớ rằng mình đang đề cập đến đối phần dĩ thái của cột sống, chứ không phải cấu trúc xương mà chúng ta gọi là cột sống hay trụ sống. Đây là một sự kiện chưa được thừa nhận đầy đủ bởi những người bàn về vấn đề này. Quá nhiều sự nhấn mạnh đã được đặt vào ba kênh cột sống hợp thành tủy sống tam phân.

These channels are important in connection with the [Page 135] nervous system of the man, but in relation to the matter in hand, they are not primarily so important as the etheric channel, which is the unit enclosing these three. Therefore, we must strictly remember that we are dealing with

Những kênh này quan trọng trong liên hệ với [Page 135] hệ thần kinh của con người, nhưng đối với vấn đề đang bàn, chúng không quan trọng hàng đầu bằng kênh dĩ thái, là đơn vị bao bọc ba kênh ấy. Do đó, chúng ta phải nghiêm ngặt nhớ rằng mình đang đề cập đến

a. The etheric channel,

a. Kênh dĩ thái,

b. The fire that passes up the channel,

b. Ngọn lửa đi lên qua kênh ấy,

c. The conjunction of this fire with the radiatory energising fire of the physical body at the point between the shoulder blades,

c. Sự kết hợp của ngọn lửa này với ngọn lửa tiếp sinh lực bức xạ của thể xác tại điểm giữa hai xương bả vai,

d. Their united ascension into the head,

d. Sự thăng lên hợp nhất của chúng vào đầu,

e. Their blending eventually with the manasic fire which energises the three head centres.

e. Cuối cùng sự hòa trộn của chúng với lửa manas tiếp sinh lực cho ba trung tâm đầu.

I. KUNDALINI AND THE THREE TRIANGLES — I. KUNDALINI VÀ BA TAM GIÁC

The fire energising the triangle in the head is the higher correspondence to the triangle of prana, midway in the body, and its lower reflection at the base of the spine. We have, therefore, in the human unit three important triangles:

Ngọn lửa tiếp sinh lực cho tam giác trong đầu là sự tương ứng cao hơn với tam giác prana ở giữa thể, và sự phản chiếu thấp hơn của nó ở đáy cột sống. Do đó, trong đơn vị con người chúng ta có ba tam giác quan trọng:

1. In the head: The triangle of the three major centres,

1. Trong đầu: Tam giác của ba trung tâm chính,

a. The pineal gland,

a. Tuyến tùng quả,

b. The pituitary body,

b. Tuyến yên,

c. The alta major centre.

c. Trung tâm alta major.

2. In the body: The triangle of prana,

2. Trong thể: Tam giác prana,

a. Between the shoulders,

a. Giữa hai vai,

b. Above the diaphragm,

b. Phía trên cơ hoành,

c. The spleen.

c. Lá lách.

3. At the base of the spine: The three lower centres,

3. Ở đáy cột sống: Ba trung tâm thấp,

a. A point at the bottom of the spinal column.

a. Một điểm ở đáy trụ sống.

b. and c. The two major sex organs in the male and female. (62)

b. và c. Hai cơ quan tính dục chính ở nam và nữ. (62)

(62) It is not my intention to lay any stress on the sex side of this subject, for these are organs with which the occultist has nothing to do. I will not therefore enumerate them in detail. I would only point out that in the transference of the fire at the base of the spine and the turning of its attention to the two higher triangles comes the redemption of man. (back)

(62) Tôi không có ý định nhấn mạnh vào phương diện tính dục của chủ đề này, vì đây là những cơ quan mà nhà huyền bí học không có gì để làm với chúng. Do đó tôi sẽ không liệt kê chúng một cách chi tiết. Tôi chỉ muốn chỉ ra rằng trong sự chuyển dịch ngọn lửa ở đáy cột sống và việc quay sự chú ý của nó về hai tam giác cao hơn, có sự cứu chuộc của con người. (back)

[Page 136] The merging of the fires of matter and the fires of mind results in the energising of the sumtotal of the atoms of the matter of the body. This is the secret of the immense staying power of the great thinkers and workers of the race. It results also in a tremendous stimulation of the three higher centres in the body, the head, the heart, the throat and in the electrification of this area of the body. These higher centres then form a field of attraction for the downflow of the third fire, that of Spirit. The many-petalled head centre at the top of the head becomes exceedingly active. It is the synthetic head centre, and the sumtotal of all the other centres. The stimulation of the centres throughout the body is paralleled or duplicated by the concurrent vivification of the many-petalled lotus. It is the meeting place of the three fires, those of the body, of the mind, and of the Spirit. The at-one-ment with the Ego is completed when it is fully stimulated, and combustion then ensues; this is duplicated in the subtler vehicles and causes the final consummation and the liberation of Spirit.

[Page 136] Sự hòa nhập của các lửa của vật chất và các lửa của trí tuệ dẫn đến sự tiếp sinh lực cho tổng số các nguyên tử của vật chất trong thể. Đây là bí mật của sức bền phi thường nơi các nhà tư tưởng và người hoạt động vĩ đại của nhân loại. Nó cũng dẫn đến một sự kích thích mãnh liệt của ba trung tâm cao hơn trong thể, đầu, tim, cổ họng, và đến sự điện hóa khu vực này của thể. Khi đó các trung tâm cao hơn này tạo thành một trường hấp dẫn cho dòng tuôn xuống của lửa thứ ba, tức lửa của Tinh thần. Trung tâm đầu nhiều cánh ở đỉnh đầu trở nên cực kỳ linh hoạt. Nó là trung tâm đầu tổng hợp, và là tổng số của tất cả các trung tâm khác. Sự kích thích các trung tâm khắp thể được song hành hay lặp lại bởi sự làm sống động đồng thời của hoa sen nhiều cánh. Nó là nơi gặp gỡ của ba lửa, các lửa của thể, của trí tuệ, và của Tinh thần. Sự hợp nhất với Chân ngã được hoàn tất khi nó được kích thích đầy đủ, và khi đó sự cháy bùng xảy ra; điều này được lặp lại trong các vận cụ vi tế hơn và gây ra sự thành tựu tối hậu cùng sự giải thoát của Tinh thần.

The merging of the fires of matter is the result of evolutionary growth, when left to the normal, slow development that time alone can bring. The junction of the two fires of matter is effected early in the history of man, and is the cause of the rude health that the clean-living, high-thinking man should normally enjoy. When the fires of matter have passed (united) still further along the etheric spinal channel they contact the fire of manas as it radiates from the throat centre. Clarity of thought is here essential, and it will be necessary to elucidate somewhat this rather abstruse subject.

Sự dung hợp của các lửa của vật chất là kết quả của sự tăng trưởng tiến hoá, khi được để cho phát triển bình thường và chậm chạp mà chỉ thời gian mới có thể mang lại. Sự kết hợp của hai lửa của vật chất được thực hiện sớm trong lịch sử loài người, và là nguyên nhân của sức khỏe cường tráng mà người sống thanh sạch, suy nghĩ cao thượng lẽ ra bình thường phải được hưởng. Khi các lửa của vật chất đã đi xa hơn nữa (hợp nhất) dọc theo ống sống dĩ thái, chúng tiếp xúc với lửa của manas khi nó phát xạ từ trung tâm cổ họng. Ở đây, sự minh bạch của tư tưởng là điều thiết yếu, và cần phải làm sáng tỏ phần nào chủ đề khá trừu tượng này.

1. The three major head centres (from the physical standpoint) are the:

1. Ba trung tâm đầu chính yếu (xét từ quan điểm hồng trần) là:

a. Alta centre,

a. Trung tâm alta,

b. Pineal gland,

b. Tuyến tùng quả,

c. Pituitary body. [Page 137]

c. Tuyến yên. [Page 137]

2. They form a manasic triangle, after their juncture with the two fires of the two lower triangles, i.e., when they become synthetic.

2. Chúng tạo thành một tam giác manas sau khi kết hợp với hai lửa của hai tam giác thấp hơn, tức là khi chúng trở nên tổng hợp.

3. But the purely manasic triangle prior to this merging is,

3. Nhưng tam giác thuần manas trước sự dung hợp này là,

a. The throat centre,

a. Trung tâm cổ họng,

b. The pineal gland,

b. Tuyến tùng quả,

c. Pituitary body.

c. Tuyến yên.

This is during the period when the human unit consciously aspires and throws his will on the side of evolution, thus making his life constructive.

Đây là trong giai đoạn khi đơn vị nhân loại có ý thức khát vọng và đặt ý chí của y về phía tiến hoá, nhờ đó làm cho đời sống của y có tính xây dựng.

The other fire of matter (the dual fire) is attracted upward, and merges with the fire of mind through a junction effected at the alta major centre. This centre is situated at the base of the skull, and there is a slight gap between this centre and the point at which the fires of matter issue from the spinal channel. Part of the work the man who is developing thought power has to do, is to build a temporary channel in etheric matter to bridge the gap. This channel is the reflection in physical matter of the antaskarana (63) that the Ego has to build in order to bridge the gap between the lower and higher mental, between the causal vehicle on the third subplane of the mental plane, and the manasic permanent atom on the first subplane. This is the work that all advanced thinkers are unconsciously doing now. When the gap is completely [Page 138] bridged, man’s body becomes co-ordinated with the mental body and the fires of mind and of matter are blended. It completes the perfecting of the personality life, and as earlier said, this perfecting brings a man to the portal of initiation—initiation being the seal set upon accomplished work; it marks the end of one lesser cycle of development, and the beginning of the transference of the whole work to a still higher spiral.

Lửa kia của vật chất (lửa nhị phân) bị hút lên trên, và dung hợp với lửa của trí tuệ qua một sự kết hợp được thực hiện tại trung tâm alta major. Trung tâm này nằm ở đáy sọ, và có một khoảng hở nhỏ giữa trung tâm này với điểm mà các lửa của vật chất phát ra từ ống sống. Một phần công việc mà người đang phát triển quyền năng tư tưởng phải làm là xây dựng một ống dẫn tạm thời trong vật chất dĩ thái để bắt cầu qua khoảng hở đó. Ống dẫn này là sự phản ánh trong vật chất hồng trần của antaskarana (63) mà chân ngã phải xây dựng để bắt cầu qua khoảng hở giữa hạ trí và thượng trí, giữa vận cụ nguyên nhân trên cõi phụ thứ ba của cõi trí và nguyên tử trường tồn manas trên cõi phụ thứ nhất. Đây là công việc mà tất cả những nhà tư tưởng tiến bộ hiện nay đang vô thức thực hiện. Khi khoảng hở được [Page 138] bắt cầu hoàn toàn, thể của con người trở nên phối hợp với thể trí và các lửa của trí tuệ và của vật chất được hòa trộn. Điều đó hoàn tất sự hoàn thiện của đời sống phàm ngã, và như đã nói trước đây, sự hoàn thiện này đưa con người đến cổng điểm đạo—điểm đạo là dấu ấn đặt lên công việc đã hoàn thành; nó đánh dấu sự kết thúc của một chu kỳ phát triển nhỏ hơn, và sự khởi đầu của việc chuyển toàn bộ công việc sang một vòng xoắn cao hơn nữa.

(63) 1. “The Master-soul is Alaya, the universal soul or Atma, each man having a ray of it in him and being supposed to be able to identify himself with and to merge himself into it.

(63) 1. “Linh hồn-Chân sư là Alaya, linh hồn vũ trụ hay Atma, mỗi người đều có một tia của nó trong mình và được cho là có thể đồng hoá với nó và hòa nhập vào nó.

2. Antaskarana is the lower Manas, the path of communication or communion between the personality and the higher Manas or human soul.

2. Antaskarana là Hạ trí, con đường giao tiếp hay hiệp thông giữa phàm ngã và Thượng trí hay linh hồn nhân loại.

At death it is destroyed as a path or medium of communication, and its remains survive in a form as the Kama-rupa—the shell.”—Voice of the Silence, page 71.

Khi chết, nó bị hủy diệt như một con đường hay phương tiện giao tiếp, và phần còn lại của nó tồn tại dưới một hình thức là Kama-rupa—cái vỏ.” —Tiếng Nói của Im Lặng, trang 71.

“The antaskarana is the imaginary path between the personal and the impersonal self, and is the highway of sensation; it is the battlefield for mastery over the personal self. It is the path of aspiration, and where one longing for goodness exists the antaskarana persists.”—See Voice of the Silence, pp. 50, 55, 56, 88. (back)

“Antaskarana là con đường tưởng tượng giữa bản ngã cá nhân và bản ngã vô ngã, và là đại lộ của cảm giác; nó là chiến trường để làm chủ bản ngã cá nhân. Nó là con đường khát vọng, và nơi nào có một lòng khao khát điều thiện tồn tại thì antaskarana vẫn tồn tại.” —Xem Tiếng Nói của Im Lặng, các trang 50, 55, 56, 88. (trở lại

We must always bear in mind that the fires from the base of the spine and the splenic triangle are fires of matter. We must not lose this recollection nor get confused. They have no spiritual effect, and concern themselves solely with the matter in which the centres of force are located. These centres of force are always directed by manas or mind, or by the conscious effort of the indwelling entity; but that entity is held back in the effects he seeks to achieve until the vehicles through which he is seeking expression, and their directing, energising centres, make adequate response. Hence it is only in due course of evolution, and when the matter of these vehicles is energised sufficiently by its own latent fires that he can accomplish his long-held purpose. Hence again the need of the ascension of the fire of matter to its own place, and its resurrection from its long burial and seeming prostitution before it can be united with its Father in Heaven, the third Logos, Who is the Intelligence of matter itself. The correspondence, again, holds good. Even the atom of the physical plane has its goal, its initiations and its ultimate triumph.

Chúng ta phải luôn ghi nhớ rằng các lửa từ đáy cột sống và tam giác lá lách là các lửa của vật chất. Chúng ta không được đánh mất sự ghi nhớ này hay trở nên lẫn lộn. Chúng không có tác động tinh thần, và chỉ liên quan duy nhất đến vật chất trong đó các trung tâm lực được định vị. Các trung tâm lực này luôn luôn được manas hay trí tuệ, hoặc bởi nỗ lực có ý thức của thực thể nội tại, điều khiển; nhưng thực thể đó bị ngăn lại trong các kết quả mà y tìm cách đạt được cho đến khi các vận cụ mà qua đó y tìm cách biểu lộ, và các trung tâm tiếp sinh lực chỉ đạo của chúng, có đáp ứng thích đáng. Vì vậy, chỉ theo tiến trình thích đáng của tiến hoá, và khi vật chất của các vận cụ này được tiếp sinh lực đầy đủ bởi các lửa tiềm ẩn riêng của nó thì y mới có thể hoàn thành mục đích đã ôm giữ từ lâu. Vì vậy lại càng cần sự thăng lên của lửa vật chất đến đúng chỗ của nó, và sự phục sinh của nó khỏi sự chôn vùi lâu dài và sự dường như bị làm ô uế trước khi nó có thể được hợp nhất với Cha của nó trên Thiên Đàng, tức Thượng đế thứ ba, Đấng là Trí Tuệ của chính vật chất. Sự tương ứng, một lần nữa, vẫn đúng. Ngay cả nguyên tử của cõi hồng trần cũng có mục tiêu, các lần điểm đạo và chiến thắng tối hậu của nó.

Other angles of this subject, such as the centres and their relationship to manas, the fire of Spirit and manas, and the eventual blending of the three fires, will be dealt with in our next two main divisions. In this division we are confining ourselves to the study of matter and fire, and must not digress, or confusion will ensue.

Những góc độ khác của chủ đề này, như các trung tâm và mối liên hệ của chúng với manas, lửa của Tinh thần và manas, và sự hòa trộn sau cùng của ba lửa, sẽ được bàn đến trong hai phần chính tiếp theo của chúng ta. Trong phần này, chúng ta đang giới hạn mình vào việc nghiên cứu vật chất và lửa, và không được đi chệch hướng, nếu không sự lẫn lộn sẽ xảy ra.

II. THE AROUSING OF KUNDALINI — II. SỰ ĐÁNH THỨC KUNDALINI

[Page 139] How this fire at the base of the spine can be aroused, the form its progression should take (dependent upon the Ray), the blending of the fire with pranic fire and their subsequent united progression, are things of the past with many, and fortunately for the race, the work was achieved without conscious effort. The second blending with the fire of manas has to be effected. Scarcely as yet have men succeeded in directing the fire up more than one channel of the threefold column; hence two-thirds of its effect in the majority is yet confined to the stimulation of the organs of race propagation. Only when the fire has circled unimpeded up another channel is the complete merging with the fire of manas effected, and only when it progresses geometrically up all the three—with simultaneous action and at uniform vibration—is the true kundalini fire fully aroused, and therefore able to perform its work of cleansing through the burning of the confining web and of the separating particles. When this is accomplished the threefold channel becomes one channel. Hence the danger.

[Page 139] Việc lửa này ở đáy cột sống có thể được đánh thức như thế nào, hình thức tiến triển của nó nên diễn ra ra sao (tùy thuộc vào cung), sự hòa trộn của lửa này với lửa prana và sự tiến triển hợp nhất tiếp theo của chúng, là những điều đối với nhiều người đã thuộc về quá khứ, và may thay cho nhân loại, công việc ấy đã được hoàn thành mà không có nỗ lực có ý thức. Sự hòa trộn thứ hai với lửa của manas phải được thực hiện. Cho đến nay, con người hầu như chưa thành công trong việc hướng lửa đi lên quá một ống dẫn của cột tam phân; vì vậy hai phần ba tác động của nó nơi đa số vẫn còn bị giới hạn vào sự kích thích các cơ quan sinh sản của nhân loại. Chỉ khi lửa đã tuần hoàn không bị cản trở lên một ống dẫn khác thì sự dung hợp hoàn toàn với lửa của manas mới được thực hiện, và chỉ khi nó tiến lên theo hình học qua cả ba ống dẫn—với hoạt động đồng thời và ở rung động đồng nhất—thì lửa kundalini chân chính mới được đánh thức trọn vẹn, và do đó có thể thực hiện công việc thanh tẩy của nó bằng cách đốt cháy mạng lưới giam hãm và các hạt phân cách. Khi điều này được hoàn thành, ống dẫn tam phân trở thành một ống dẫn duy nhất. Vì vậy mới có sự nguy hiểm.

No more can be imparted concerning this subject. He who directs his efforts to the control of the fires of matter, is (with a dangerous certainty) playing with a fire that may literally destroy him. He should not cast his eyes backwards, but should lift them to the plane where dwells his immortal Spirit, and then by self-discipline, mind-control and a definite refining of his material bodies, whether subtle or physical, fit himself to be a vehicle for the divine birth, and participate in the first Initiation. When the Christ-child (as the Christian so beautifully expresses it) has been born in the cave of the heart, then that divine guest can consciously control the lower material bodies by means of consecrated mind. Only when buddhi has assumed an ever-increasing control [Page 140] of the personality, via the mental plane (hence the need of building the antaskarana), will the personality respond to that which is above, and the lower fires mount and blend with the two higher. Only when Spirit, by the power of thought, controls the material vehicles, does the subjective life assume its rightful place, does the God within shine and blaze forth till the form is lost from sight, and “The path of the just shine ever more and more until the day be with us.”

Không thể truyền đạt thêm gì nữa về chủ đề này. Kẻ hướng nỗ lực của mình vào việc kiểm soát các lửa của vật chất là (với một sự chắc chắn nguy hiểm) đang đùa với một ngọn lửa có thể theo nghĩa đen hủy diệt y. Y không nên ngoảnh mắt nhìn về phía sau, mà nên ngước chúng lên cõi nơi Tinh thần bất tử của y ngự trị, rồi bằng tự kỷ luật, kiểm soát trí tuệ và một sự tinh luyện rõ rệt các thể vật chất của mình, dù vi tế hay hồng trần, làm cho mình thích hợp để trở thành một vận cụ cho sự giáng sinh thiêng liêng, và tham dự vào lần điểm đạo thứ nhất. Khi Hài Nhi Christ (như tín đồ Cơ Đốc diễn tả thật đẹp) đã được sinh ra trong hang động của tim, thì vị khách thiêng liêng ấy có thể có ý thức kiểm soát các thể vật chất thấp hơn bằng phương tiện của trí tuệ đã được thánh hiến. Chỉ khi Bồ đề đã đảm nhận một sự kiểm soát ngày càng tăng [Page 140] đối với phàm ngã, qua cõi trí (vì thế mới cần xây dựng antaskarana), thì phàm ngã mới đáp ứng với điều ở bên trên, và các lửa thấp hơn mới thăng lên và hòa trộn với hai lửa cao hơn. Chỉ khi Tinh thần, bằng quyền năng của tư tưởng, kiểm soát các vận cụ vật chất, thì đời sống chủ quan mới đảm nhận vị trí chính đáng của nó, Thượng đế bên trong mới chiếu sáng và bừng cháy cho đến khi hình tướng khuất khỏi tầm mắt, và “Con đường của người công chính chiếu sáng ngày càng hơn cho đến khi ngày ở cùng chúng ta.”

DIVISION E - MOTION ON THE PHYSICAL AND ASTRAL PLANES — PHÂN ĐOẠN E - CHUYỂN ĐỘNG TRÊN CÕI HỒNG TRẦN VÀ CÕI CẢM DỤC

I. Preliminary remarks.

I. Những nhận xét sơ bộ.

1. The threefold goal.

1. Mục tiêu tam phân.

2. The threefold function.

2. Chức năng tam phân.

3. The threefold mode of activity.

3. Phương thức hoạt động tam phân.

II. The effects of rotary motion.

II. Các tác động của chuyển động quay.

1. Separation.

1. Sự phân ly.

2. Momentum.

2. Động lượng.

3. Friction.

3. Ma sát.

4. Absorption.

4. Sự hấp thu.

III. The qualities of rotary motion.

III. Các phẩm tính của chuyển động quay.

1. Inertia.

1. Quán tính.

2. Mobility.

2. Tính động.

3. Rhythm.

3. Nhịp điệu.

IV. Rotary motion and symbolism.

IV. Chuyển động quay và biểu tượng học.

V. Motion and the centres.

V. Chuyển động và các trung tâm.

1. The nature of the centres.

1. Bản chất của các trung tâm.

2. The centres and the rays.

2. Các trung tâm và các cung.

3. The centres and kundalini.

3. Các trung tâm và kundalini.

4. The centres and the senses.

4. Các trung tâm và các giác quan.

5. The centres and initiation.

5. Các trung tâm và điểm đạo.

I. PRELIMINARY REMARKS — I. NHỮNG NHẬN XÉT SƠ BỘ

[Page 141] I would point out primarily and emphasize the fact that the motion we are considering is that due to the fire latent in matter itself, a motion that is the prime characteristic and basic quality of the Primordial Ray of Active Intelligence. To express it otherwise: it is the outstanding faculty of the third Logos, of Brahma [Page 142] viewed as the Creator, and this faculty is the product or result of an earlier manifestation. Each of the three Logoi, when in manifestation and thus personified, is exemplifying some one quality which predominates over the others. Each, more or less, exemplifies all, but each demonstrates one of the three aspects so profoundly as to be recognised as that aspect itself. In much the same way, for instance, the different incarnating jivas carry a vibration which is their main measure, though they may also have lesser vibrations that are subsidiary to them. Let us get this clear, for the truth embodied is fundamental.

[Page 141] Trước hết, tôi muốn chỉ ra và nhấn mạnh sự kiện rằng chuyển động mà chúng ta đang xem xét là chuyển động do lửa tiềm ẩn trong chính vật chất tạo ra, một chuyển động là đặc tính chủ yếu và phẩm tính căn bản của Cung Nguyên Sơ của Trí Tuệ Hoạt Động. Nói cách khác: đó là năng lực nổi bật của Thượng đế thứ ba, của Brahma [Page 142] được xem như Đấng Sáng Tạo, và năng lực này là sản phẩm hay kết quả của một biểu lộ trước đó. Mỗi một trong ba Thượng đế, khi biểu lộ và do đó được nhân cách hóa, đều biểu hiện một phẩm tính nào đó trội hơn các phẩm tính khác. Mỗi vị, ít nhiều, đều biểu hiện tất cả, nhưng mỗi vị chứng tỏ một trong ba phương diện sâu sắc đến mức được nhận biết như chính phương diện ấy. Chẳng hạn, cũng gần giống như vậy, các jiva nhập thể khác nhau mang một rung động là thước đo chính của chúng, dù chúng cũng có thể có những rung động nhỏ hơn phụ thuộc vào rung động chính đó. Chúng ta hãy làm cho điều này rõ ràng, vì chân lý được hàm chứa ở đây là nền tảng.

1. The threefold goal,

1. Mục tiêu tam phân,

2. The threefold function,

2. Chức năng tam phân,

3. The threefold mode of activity.

3. Phương thức hoạt động tam phân.

The Third Logos. The third Logos, or Brahma, is characterised by active intelligence; His mode of action is that which we call rotary, or that measured revolution of the matter of the system, first as a grand totality, setting in movement the material circumscribed by the entire ring-pass-not, and secondly differentiating it, according to seven vibratory rates or measures into the seven planes. On each of these planes the process is pursued, and the matter of any plane within the plane ring-pass-not shows first as a totality and then as a sevenfold differentiation. This differentiation of matter is brought about by rotary motion, and is controlled by the Law of Economy (one of the cosmic laws) with which we will deal later, only pausing here to say that this Law of Economy might be considered as the controlling factor in the life of the third Logos. Therefore:

Thượng đế thứ ba. Thượng đế thứ ba, hay Brahma, được đặc trưng bởi trí tuệ hoạt động; phương thức hành động của Ngài là điều mà chúng ta gọi là quay tròn, hay sự xoay chuyển có chừng mực của vật chất của hệ thống, trước hết như một toàn thể vĩ đại, làm cho vật chất được bao bọc trong toàn bộ vòng-giới-hạn chuyển động, và thứ hai là biến phân nó, theo bảy tốc độ hay thước đo rung động, thành bảy cõi. Trên mỗi cõi này, tiến trình ấy được tiếp tục, và vật chất của bất kỳ cõi nào trong vòng-giới-hạn của cõi trước hết biểu lộ như một toàn thể rồi sau đó như một sự biến phân thất phân. Sự biến phân của vật chất này được tạo ra bởi chuyển động quay, và được kiểm soát bởi Định luật Tiết Kiệm (một trong các định luật vũ trụ) mà chúng ta sẽ bàn đến sau, ở đây chỉ dừng lại để nói rằng Định luật Tiết Kiệm này có thể được xem như yếu tố kiểm soát trong đời sống của Thượng đế thứ ba. Vì vậy:

a. His goal is the perfect blending of Spirit and matter.

a. Mục tiêu của Ngài là sự hòa trộn hoàn hảo giữa Tinh thần và vật chất.

b. His function is the manipulation of prakriti, or matter, so as to make it fit, or equal to, the demands and needs of the Spirit. [Page 143]

b. Chức năng của Ngài là vận dụng prakriti, hay vật chất, sao cho làm cho nó thích hợp, hay tương xứng, với những đòi hỏi và nhu cầu của Tinh thần. [Page 143]

c. His mode of action is rotary, or, by the revolution of matter, to increase activity and thereby make the material more pliable.

c. Phương thức hành động của Ngài là quay tròn, hay bằng sự xoay chuyển của vật chất, làm gia tăng hoạt động và nhờ đó khiến chất liệu trở nên dễ uốn nắn hơn.

All these three concepts are governed by the Law of Economy, which is the Law of Adaptation in time and space, or the line of least resistance. This line of least resistance is that which is sought for and followed on the matter side of existence. Incidentally, Brahma manifests Will, because He is purpose, and Love because in this solar system Love is the line of least resistance. While this is an occult statement worthy of consideration, yet it must be remembered that He is primarily activity and intelligence with the aim of adaptability, and that this is His main characteristic.

Cả ba khái niệm này đều được chi phối bởi Định luật Tiết Kiệm, tức Định luật Thích Ứng trong thời gian và không gian, hay con đường ít trở ngại nhất. Con đường ít trở ngại nhất này là điều được tìm kiếm và đi theo ở phía vật chất của sự tồn tại. Nhân đây, Brahma biểu lộ Ý Chí, vì Ngài là mục đích, và biểu lộ Bác ái vì trong hệ mặt trời này Bác ái là con đường ít trở ngại nhất. Dù đây là một phát biểu huyền bí đáng để suy ngẫm, vẫn phải nhớ rằng trước hết Ngài là hoạt động và trí tuệ với mục tiêu là khả năng thích ứng, và đó là đặc tính chính của Ngài.

The Second Logos. The second Logos, Vishnu, the divine Wisdom Ray, the great principle of Buddhi seeking to blend with the principle of Intelligence, is characterised by Love. His motion is that which we might term spiral cyclic. Availing Himself of the rotary motion of all atoms, He adds to that His own form of motion or of spiralling periodical movement, and by circulation along an orbit or spheroidal path (which circles around a central focal point in an ever ascending spiral) two results are brought about:

Thượng đế thứ hai. Thượng đế thứ hai, Vishnu, Cung Minh triết thiêng liêng, nguyên khí vĩ đại của Bồ đề đang tìm cách hòa trộn với nguyên khí của Trí Tuệ, được đặc trưng bởi Bác ái. Chuyển động của Ngài là điều mà chúng ta có thể gọi là xoắn ốc chu kỳ. Tận dụng chuyển động quay của mọi nguyên tử, Ngài thêm vào đó hình thức chuyển động riêng của Ngài hay chuyển động xoắn chu kỳ định kỳ, và bằng sự tuần hoàn dọc theo một quỹ đạo hay đường hình cầu (quay quanh một tiêu điểm trung tâm trong một đường xoắn ốc luôn đi lên) hai kết quả được tạo ra:

a. He gathers the atoms into forms.

a. Ngài tập hợp các nguyên tử thành các hình tướng.

b. By means of these forms He gains the needed contact, and develops full consciousness on the five planes of human development, gradually rarefying and refining the forms as the Spirit of Love or the Flame Divine spirals ever onward towards its goal, that goal which is also the source from which it came.

b. Bằng các hình tướng này, Ngài đạt được sự tiếp xúc cần thiết, và phát triển tâm thức trọn vẹn trên năm cõi của sự phát triển nhân loại, dần dần làm cho các hình tướng trở nên thanh nhẹ và tinh luyện hơn khi Tinh thần Bác ái hay Ngọn Lửa Thiêng liêng xoắn tiến mãi về mục tiêu của nó, mục tiêu ấy cũng chính là nguồn mà từ đó nó đã xuất phát.

These forms are the sumtotal of all spheres or atoms within the solar system, or within the solar ring-pass-not, and in their seven major differentiations they are the [Page 144] spheres of the seven Spirits, or the seven planetary Logoi.

Các hình tướng này là tổng số của mọi khối cầu hay nguyên tử trong hệ mặt trời, hay trong vòng-giới-hạn mặt trời, và trong bảy biến phân chính yếu của chúng, chúng là các [Page 144] khối cầu của bảy Thánh Linh, hay bảy Hành Tinh Thượng đế.

All lesser spheres ranging downward from these major spheres, include all grades of manifestation down to the elemental essence on the arc of involution. (64) We need to remember that on the Path of Involution, the action of Brahma is primarily felt, seeking the line of least resistance. On the Path of Evolution the work of the second Logos is felt, beginning at a point in time and space which hides the mystery of the second chain, but finding its point of accelerated vibration or the unification of the two modes of manifestation—rotary-spiral-cyclic—in the middle part of what we call the third chain. This is after all the blending of the activity of Brahma with the onward progress of Vishnu. We have the correspondence to this in the sumtotal of the effects brought about in the second and third root races.

Mọi khối cầu nhỏ hơn trải dài xuống dưới từ các khối cầu lớn này bao gồm mọi cấp độ biểu lộ cho đến Tinh chất hành khí trên cung giáng hạ tiến hoá. (64) Chúng ta cần nhớ rằng trên Con Đường Giáng Hạ Tiến Hoá, hoạt động của Brahma được cảm nhận chủ yếu, tìm kiếm con đường ít trở ngại nhất. Trên Con Đường Tiến Hoá, công việc của Thượng đế thứ hai được cảm nhận, bắt đầu tại một điểm trong thời gian và không gian che giấu huyền nhiệm của dãy thứ hai, nhưng tìm thấy điểm rung động gia tốc của nó hay sự hợp nhất của hai phương thức biểu lộ—quay tròn-xoắn ốc-chu kỳ—ở phần giữa của điều mà chúng ta gọi là dãy thứ ba. Rốt cuộc, đây là sự hòa trộn hoạt động của Brahma với sự tiến triển đi tới của Vishnu. Chúng ta có sự tương ứng với điều này trong tổng số các tác động được tạo ra trong giống dân gốc thứ hai và thứ ba.

(64) Elemental Essence is seen to consist of aggregations of matter, on one of the six non-atomic subplanes of the mental and the desire planes—aggregations which do not themselves serve as forms for any entity to inhabit, but as the material out of which such forms may be built. the turning of its attention. (back)

(64) Tinh chất hành khí được thấy là gồm những tập hợp vật chất trên một trong sáu cõi phụ không nguyên tử của cõi trí và cõi dục vọng—những tập hợp mà tự chúng không làm thành hình tướng cho bất kỳ thực thể nào cư ngụ, nhưng là chất liệu để từ đó những hình tướng như thế có thể được xây dựng. sự quay sự chú ý của nó. (trở lại)

The activity of the second Logos is carried on under the cosmic Law of Attraction. The Law of Economy has for one of its branches a subsidiary Law of marked development called the Law of Repulsion. The cosmic Laws of Attraction and Economy are therefore the raison d’être (viewed from one angle) of the eternal repulsion that goes on as Spirit seeks ever to liberate itself from form. The matter aspect always follows the line of least resistance, and repulses all tendency to group formation, while Spirit, governed by the Law of Attraction, seeks ever to separate itself from matter by the method of attracting an ever more adequate type of matter in the process of distinguishing the real from the unreal, and passing from one illusion to another until the resources of matter are fully utilised.

Hoạt động của Thượng đế thứ hai được tiến hành dưới Định luật Hấp Dẫn vũ trụ. Định luật Tiết Kiệm có một trong những phân nhánh của nó là một Định luật phụ thuộc đã phát triển rõ rệt gọi là Định luật Đẩy Lùi. Vì vậy, các Định luật Hấp Dẫn và Tiết Kiệm vũ trụ là raison d’être (xét từ một góc độ) của sự đẩy lùi vĩnh cửu diễn ra khi Tinh thần luôn tìm cách giải thoát chính nó khỏi hình tướng. Phương diện vật chất luôn đi theo con đường ít trở ngại nhất, và đẩy lùi mọi khuynh hướng hướng đến sự hình thành nhóm, trong khi Tinh thần, được chi phối bởi Định luật Hấp Dẫn, luôn tìm cách tách chính nó khỏi vật chất bằng phương pháp thu hút một loại vật chất ngày càng thích đáng hơn trong tiến trình phân biệt cái thực với cái không thực, và đi từ ảo tưởng này sang ảo tưởng khác cho đến khi các tài nguyên của vật chất được sử dụng trọn vẹn.

[Page 145] Eventually the Indweller of the form feels the urge, or attractive pull, of its Own Self. The reincarnating jiva, for instance, lost in the maze of illusion, begins in course of time to recognise (under the Law of Attraction) the vibration of its own Ego, which stands to it as the Logos of its own system, its deity in the three worlds of experience. Later, when the body egoic itself is seen as illusion, the vibration of the Monad is felt, and the jiva, working under the same law, works its way back through the matter of the two planes of superhuman evolution, till it is merged in its own essence.

[Page 145] Sau cùng, Đấng Nội Tại của hình tướng cảm nhận được sự thôi thúc, hay lực hút hấp dẫn, của chính Bản Ngã của nó. Chẳng hạn, jiva tái sinh, bị lạc trong mê cung của ảo tưởng, theo thời gian bắt đầu nhận biết (dưới Định luật Hấp Dẫn) rung động của chân ngã của chính nó, chân ngã này đối với nó cũng như Thượng đế của hệ thống riêng của nó, vị thần của nó trong ba cõi kinh nghiệm. Về sau, khi chính thể chân ngã được thấy là ảo tưởng, rung động của chân thần được cảm nhận, và jiva, hoạt động dưới cùng định luật ấy, lần đường quay trở lại xuyên qua vật chất của hai cõi của sự tiến hoá siêu nhân cho đến khi nó hòa nhập vào bản chất riêng của nó.

Therefore:

Vì vậy:

a. The goal of the second Logos is consciousness, to be achieved in co-operation with the third Logos.

a. Mục tiêu của Thượng đế thứ hai là tâm thức, đạt được trong sự hợp tác với Thượng đế thứ ba.

b. His function is the building of forms to be His instruments of experience.

b. Chức năng của Ngài là xây dựng các hình tướng để làm công cụ kinh nghiệm của Ngài.

c. His mode of action is cyclic and spiral, the revolution of the wheel of existence in ordered cycles for a specific purpose, and the progression of these spheres of matter around a fixed centre, within the solar periphery.

c. Phương thức hành động của Ngài là chu kỳ và xoắn ốc, sự quay của bánh xe tồn tại trong những chu kỳ có trật tự vì một mục đích xác định, và sự tiến triển của các khối cầu vật chất này quanh một trung tâm cố định, trong chu vi mặt trời.

These three concepts are governed by the Law of Attraction, or the law governing the interplay or the action and reaction.

Ba khái niệm này được chi phối bởi Định luật Hấp Dẫn, hay định luật chi phối sự tương tác hoặc tác động và phản tác động.

a. Between the Sun and its six brothers.

a. Giữa Mặt Trời và sáu huynh đệ của nó.

b. Between the circling whirling seven planes of the solar system.

b. Giữa bảy cõi quay tròn xoáy lượn của hệ mặt trời.

c. Between everything in the matter of all forms, the spheres of matter themselves and the aggregate of those spheres that are embodied in the forms of still others.

c. Giữa mọi thứ trong vật chất của mọi hình tướng, chính các khối cầu vật chất và tổng thể những khối cầu ấy được nhập thể trong các hình tướng của những khối cầu khác nữa.

The First Logos. The first Logos is the Ray of Cosmic Will. His mode of action is a literal driving forward of the solar ring-pass-not through space, and until the end of this mahamanvantara or day of Brahma (the logoic [Page 146] cycle) we shall not be able to conceive of the first aspect of will or power as it really is. We know it now as the will to exist, manifesting through the matter of the forms (the Primordial Ray and the Divine Ray), and we know it as that which in some occult manner links the system up with its cosmic centre. In a manner inconceivable to us the first Logos brings in the influence of other constellations. When this first aspect is better understood (in the next mahamanvantara) the work of the seven Rishis of the Great Bear, (65) and the supreme influence of Sirius will be comprehended; in this present manifestation of the Son, or of the Vishnu aspect, we are concerned more closely with the Pleiades and their influence via the Sun, and, in relation to our planet, via Venus.

Thượng đế thứ nhất. Thượng đế thứ nhất là Cung của Ý Chí Vũ Trụ. Phương thức hành động của Ngài là một sự thúc đẩy theo nghĩa đen vòng-giới-hạn mặt trời tiến xuyên qua không gian, và cho đến cuối Đại giai kỳ sinh hóa hay ngày của Brahma này (chu kỳ logoic [Page 146]) chúng ta sẽ không thể quan niệm được phương diện thứ nhất của ý chí hay quyền năng như nó thực sự là gì. Hiện nay chúng ta biết nó như ý chí tồn tại, biểu lộ qua vật chất của các hình tướng (Cung Nguyên Sơ và Cung Thiêng liêng), và chúng ta biết nó như điều bằng một cách huyền bí nào đó liên kết hệ thống với trung tâm vũ trụ của nó. Theo một cách không thể quan niệm được đối với chúng ta, Thượng đế thứ nhất mang vào ảnh hưởng của các chòm sao khác. Khi phương diện thứ nhất này được thấu hiểu rõ hơn (trong Đại giai kỳ sinh hóa kế tiếp) công việc của bảy Rishi của Đại Hùng Tinh, (65) và ảnh hưởng tối thượng của Sirius sẽ được hiểu rõ; trong biểu lộ hiện tại này của Con, hay của phương diện Vishnu, chúng ta quan tâm gần gũi hơn đến Pleiades và ảnh hưởng của chúng qua Mặt Trời, và, liên hệ với hành tinh của chúng ta, qua Sao Kim.

(65) “The Hindus place their seven primitive Rishis in the Great Bear. The prototypes or the animating source of the seven Heavenly Men, the planetary Logoi, are considered the seven Existences who function through the seven stars of the Bear.”—S. D., II, 668. (back)

(65) “Người Hindu đặt bảy vị Rishi nguyên thủy của họ trong Đại Hùng Tinh. Các nguyên mẫu hay nguồn sinh động của bảy Đấng Thiên Nhân, các Hành Tinh Thượng đế, được xem là bảy Hiện Hữu hoạt động qua bảy ngôi sao của chòm Gấu.” — S. D., II, 668. (trở lại)

This subject of the first Logos, manifesting only in connection with the other two in the system, is a profound mystery, which is not fully understood by even those who have taken the sixth Initiation.

Chủ đề này về Thượng đế thứ nhất, chỉ biểu lộ trong sự liên hệ với hai Thượng đế kia trong hệ thống, là một huyền nhiệm sâu xa mà ngay cả những người đã trải qua lần điểm đạo thứ sáu cũng chưa thấu hiểu trọn vẹn.

The first Logos embodies the “will to live” and it was through His instrumentality that the Manasaputras came into objective existence in relation to the human and deva hierarchies. In this system, the blending of the Divine Ray of Wisdom and the Primordial Ray of intelligent matter forms the great dual evolution; back of both these cosmic Entities stands another Entity Who is the embodiment of Will, and Who is the utiliser of forms—though not the forms of any other than the Greater Building devas and the human hierarchies in time and space. He is the animating principle; the will-to-live aspect of the seven Hierarchies. Nevertheless these seven Hierarchies are (as says H. P. B.) the sevenfold ray of wisdom, the dragon in its seven forms. (S. D., I, 100-108.) (67, 68) This is a [Page 147] deep mystery, and only a clue to it all can be found at this time by man in the contemplation of his own nature in the three worlds of his manifestation. Just as our Logos is seeking objectivity through His solar system in its threefold form of which the present is the second, so man seeks objectivity through his three bodies—physical, astral and mental. At this time he is polarised in his astral body, or in his second aspect in like manner as the undifferentiated Logos is polarised in His second aspect. In time and space as we now conceive it, the sum total of jivas are governed by feeling, emotion, and desire, and not by the will, yet at the same time the will aspect governs manifestation, for the Ego who is the source of personality shows in manifestation the will to love.

Thượng đế thứ nhất thể hiện “ý chí sống”, và chính nhờ công cụ của Ngài mà các Manasaputras đi vào sự tồn tại khách quan trong liên hệ với các huyền giai nhân loại và thiên thần. Trong hệ này, sự hòa trộn của Cung thiêng liêng Minh Triết và Cung nguyên sơ của vật chất thông tuệ tạo thành cuộc tiến hoá nhị nguyên vĩ đại; đằng sau cả hai Thực thể vũ trụ này còn có một Thực thể khác, Đấng là hiện thân của Ý Chí, và là người sử dụng các hình tướng—dù không phải các hình tướng nào khác ngoài các thiên thần đại kiến tạo và các huyền giai nhân loại trong thời gian và không gian. Ngài là nguyên khí linh hoạt; là phương diện ý chí-sống của bảy Huyền Giai. Tuy nhiên, bảy Huyền Giai này lại là (như H. P. B. nói) cung minh triết thất phân, con rồng trong bảy hình thức của nó. (S. D., I, 100-108.) (67, 68) Đây là một [Page 147] huyền nhiệm sâu xa, và hiện nay con người chỉ có thể tìm được một đầu mối cho toàn bộ điều này bằng cách chiêm ngưỡng bản chất của chính mình trong ba cõi thấp của sự biểu hiện của y. Cũng như Thượng đế của chúng ta đang tìm kiếm tính khách quan qua hệ mặt trời của Ngài trong hình thức tam phân của nó mà hiện nay là hình thức thứ hai, thì con người cũng tìm kiếm tính khách quan qua ba thể của mình—thể xác, thể cảm dục và thể trí. Hiện nay y đang phân cực trong thể cảm dục của mình, hay trong phương diện thứ hai của y, cũng giống như Thượng đế chưa biến phân đang phân cực trong phương diện thứ hai của Ngài. Trong thời gian và không gian như chúng ta hiện quan niệm, tổng số các jivas bị chi phối bởi cảm giác, cảm xúc và dục vọng, chứ không phải bởi ý chí, tuy nhiên đồng thời phương diện ý chí vẫn chi phối sự biểu hiện, vì chân ngã là nguồn của phàm ngã biểu lộ trong sự biểu hiện ý chí yêu thương.

(67) Subba Rao says in Five Years of Theosophy, page 102: “As a general rule, whenever seven entities are mentioned in the ancient occult science of India in any connection whatsoever, you must suppose that those seven entities came into existence from three primary entities; and that these three entities, again, are evolved out of a single entity or monad. To take a familiar example, the seven coloured rays in the solar ray are evolved out of three primary coloured rays; and the three primary colours coexist with the four secondary colours in the solar ray. Similarly the three primary entities which brought man into existence coexist in him with the four secondary entities which arose from different combinations of the three primary entities. Read also S. D., I, 190, 191. (back)

(67) Subba Rao nói trong Five Years of Theosophy, trang 102: “Theo quy luật chung, bất cứ khi nào bảy thực thể được nhắc đến trong khoa huyền bí cổ xưa của Ấn Độ trong bất kỳ mối liên hệ nào, bạn phải giả định rằng bảy thực thể ấy đi vào tồn tại từ ba thực thể sơ nguyên; và ba thực thể này, đến lượt chúng, lại được tiến hoá ra từ một thực thể đơn nhất hay chân thần. Lấy một ví dụ quen thuộc, bảy tia màu sắc trong tia mặt trời được tiến hoá ra từ ba tia màu sắc sơ nguyên; và ba màu sơ nguyên cùng đồng tồn tại với bốn màu thứ cấp trong tia mặt trời. Tương tự như vậy, ba thực thể sơ nguyên đã đưa con người vào tồn tại cùng đồng tồn tại trong y với bốn thực thể thứ cấp phát sinh từ những sự kết hợp khác nhau của ba thực thể sơ nguyên. Cũng hãy đọc S. D., I, 190, 191. (back)

The difficulty lies in the inability of the finite mind to grasp the significance of this threefold manifestation, but by thoughtful brooding over the Personality and its relation to the Ego, who is the love aspect and who nevertheless in relation to manifestation in the three worlds is the will aspect likewise, will come some faint light upon the same problems raised to Deity, or expanded from microcosmic to macrocosmic spheres.

Khó khăn nằm ở chỗ trí tuệ hữu hạn không thể nắm bắt được thâm nghĩa của sự biểu hiện tam phân này, nhưng bằng sự suy tư sâu sắc về Phàm ngã và mối liên hệ của nó với Chân ngã, vốn là phương diện bác ái và tuy vậy trong liên hệ với sự biểu hiện trong ba cõi thấp cũng đồng thời là phương diện ý chí, sẽ có chút ánh sáng mờ nhạt soi vào chính những vấn đề ấy khi được nâng lên tới Thượng đế, hay được mở rộng từ các khối cầu vi mô sang các khối cầu vĩ mô.

The Mahadeva aspect or the first Logos (who embodies cosmic will) is controlled by the Law of Synthesis, the cosmic law governing the tendency to unification; only in this case, it is not the unification of matter and Spirit, but the unification of the seven into the three, and into the one. These three figures primarily stand for Spirit, [Page 148] for quality, for principle, and not so primarily for matter, although matter, being inspired by spirit, conforms. The Law of Synthesis has a direct connection with One Who is still higher than our Logos, and is the law of control exercised by Him upon the Logos of our system. This is a spiritual relationship that tends to abstraction or to that synthesis of the spiritual elements that will result in their conscious return (the whole point lying in that word “conscious”) to their cosmic point of synthesis, or of unification with their source. Their source is the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID, as we have earlier seen.

Phương diện Mahadeva hay Thượng đế thứ nhất (Đấng thể hiện ý chí vũ trụ) được kiểm soát bởi Định luật Tổng Hợp, định luật vũ trụ chi phối khuynh hướng hướng tới hợp nhất; chỉ có điều trong trường hợp này, đó không phải là sự hợp nhất của vật chất và tinh thần, mà là sự hợp nhất của bảy vào trong ba, và vào trong một. Ba con số này trước hết tượng trưng cho Tinh thần, [Page 148] cho phẩm tính, cho nguyên khí, chứ không chủ yếu tượng trưng cho vật chất, mặc dù vật chất, vì được tinh thần truyền cảm hứng, vẫn tuân theo. Định luật Tổng Hợp có liên hệ trực tiếp với một Đấng còn cao hơn Thượng đế của chúng ta, và là định luật kiểm soát do Ngài thực thi lên Thượng đế của hệ chúng ta. Đây là một mối liên hệ tinh thần có khuynh hướng đi đến sự trừu xuất, hay đến sự tổng hợp các yếu tố tinh thần mà kết quả sẽ là sự trở về hữu thức của chúng (toàn bộ điểm then chốt nằm trong từ “hữu thức” ấy) về điểm tổng hợp vũ trụ của chúng, hay sự hợp nhất với cội nguồn của chúng. Cội nguồn của chúng là ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ, như chúng ta đã thấy trước đây.

Therefore, in connection with the first Logos, we can sum up as we did with the other Logoi:

Do đó, liên quan đến Thượng đế thứ nhất, chúng ta có thể tóm lược như đã làm với các Thượng đế khác:

a. His goal is the synthesis of the Spirits who are gaining consciousness through manifestation, and who, by means of experience in matter, are gaining in quality.

a. Mục tiêu của Ngài là sự tổng hợp các Tinh thần đang đạt được tâm thức qua sự biểu hiện, và đang nhờ kinh nghiệm trong vật chất mà gia tăng phẩm tính.

b. His function is, by means of will, to hold them in manifestation for the desired period, and later to abstract them, and blend them again with their spiritual source. Hence the necessity of remembering that fundamentally, the first Logos controls the cosmic entities or extra-systemic beings; the second Logos controls the solar entities; the third Logos controls the lunar entities and their correspondences elsewhere in the system.

b. Chức năng của Ngài là, bằng ý chí, giữ chúng trong sự biểu hiện trong thời kỳ mong muốn, và về sau trừu xuất chúng, rồi hòa trộn chúng trở lại với cội nguồn tinh thần của chúng. Vì thế cần nhớ rằng, về căn bản, Thượng đế thứ nhất kiểm soát các thực thể vũ trụ hay các hữu thể ngoài hệ; Thượng đế thứ hai kiểm soát các thực thể thái dương; Thượng đế thứ ba kiểm soát các thực thể thái âm và các tương ứng của chúng ở nơi khác trong hệ.

This rule must not be carried too far in detail as long as man’s mind is of its present calibre. The mystery lies in the realisation that all is carried on in a divine co-operation that has its base outside the system. Hence too the fact that the first Logos is called the Destroyer, because He is abstraction, if viewed from below upwards. His work is the synthesis of Spirit with Spirit, their [Page 149] eventual abstraction from matter, and their unification with their cosmic source. Hence also He is the one who brings about pralaya or the disintegration of form,—the form from which the Spirit has been abstracted.

Không nên đẩy quy luật này đi quá xa vào chi tiết chừng nào trí tuệ con người vẫn còn ở tầm mức hiện nay. Huyền nhiệm nằm trong sự chứng nghiệm rằng mọi sự đều được tiến hành trong một sự hợp tác thiêng liêng có nền tảng ở bên ngoài hệ. Vì thế cũng có sự kiện rằng Thượng đế thứ nhất được gọi là Đấng Hủy Diệt, bởi vì Ngài là sự trừu xuất, nếu nhìn từ dưới lên trên. Công việc của Ngài là sự tổng hợp Tinh thần với Tinh thần, sự [Page 149] trừu xuất cuối cùng của chúng ra khỏi vật chất, và sự hợp nhất của chúng với cội nguồn vũ trụ của chúng. Vì thế Ngài cũng là Đấng mang lại pralaya hay sự tan rã của hình tướng,—hình tướng mà từ đó Tinh thần đã được trừu xuất.

If we carry the analogy down to the microcosm a glimpse can be gained of the same idea and hence ability to comprehend with greater facility. The Ego (being to the man on the physical plane what the Logos is to His system) is likewise the animating will, the destroyer of forms, the producer of pralaya and the One Who withdraws the inner spiritual man from out of his threefold body; he draws them to himself the centre of his little system. The Ego is extra-cosmic as far as the human being on the physical plane is concerned, and in the realisation of this fact may come elucidation of the true cosmic problem involving the Logos and “the spirits in prison,” as the Christian puts it.

Nếu chúng ta đưa phép loại suy xuống tiểu thiên địa, có thể thoáng thấy cùng một ý tưởng ấy và nhờ đó có khả năng thấu hiểu dễ dàng hơn. Chân ngã (đối với con người trên cõi hồng trần cũng như Thượng đế đối với hệ của Ngài) cũng là ý chí linh hoạt, là kẻ hủy diệt các hình tướng, là tác nhân tạo ra pralaya và là Đấng rút con người tinh thần bên trong ra khỏi thể tam phân của y; chân ngã kéo chúng về với chính nó, trung tâm của hệ nhỏ bé của nó. Chân ngã là ngoài vũ trụ xét theo con người trên cõi hồng trần, và trong sự chứng nghiệm sự kiện này có thể xuất hiện sự làm sáng tỏ vấn đề vũ trụ chân thực liên quan đến Thượng đế và “những tinh thần trong ngục tù”, như cách người Cơ Đốc giáo nói.

c. His mode of action is a driving forward; the will that lies back of evolutionary development is His, and He it is who drives Spirit onward through matter till it eventually emerges from matter, having achieved two things:

c. Phương thức hành động của Ngài là một sự thúc đẩy tiến lên; ý chí nằm phía sau sự phát triển tiến hoá là của Ngài, và chính Ngài thúc đẩy Tinh thần tiến qua vật chất cho đến khi cuối cùng nó xuất hiện ra khỏi vật chất, sau khi đã đạt được hai điều:

First, Added quality to quality, and therefore emerging plus the gained faculty that experience has engendered.

Thứ nhất, cộng thêm phẩm tính vào phẩm tính, và do đó xuất hiện với năng lực đã đạt được mà kinh nghiệm đã tạo ra.

Second, Increased the vibration of matter itself by means of its own energy, so that matter at the moment of pralaya and obscuration will have two main characteristics,—activity, the result of the Law of Economy, and a dual magnetism which will be the result of the Law of Attraction.

Thứ hai, làm tăng rung động của chính vật chất bằng năng lượng riêng của nó, để cho vật chất vào lúc pralaya và sự che khuất sẽ có hai đặc tính chính,—hoạt động, là kết quả của Định luật Tiết Kiệm, và một từ điện nhị nguyên sẽ là kết quả của Định luật Hấp Dẫn.

All of these three concepts are governed by the Law of Synthesis, which is the law of a coherent will-to-be, persisting [Page 150] not only in time and space, but within a still vaster cycle.

Tất cả ba khái niệm này đều được chi phối bởi Định luật Tổng Hợp, là định luật của một ý chí-gắn bó-với-hiện-hữu mạch lạc, tồn tại bền bỉ [Page 150] không chỉ trong thời gian và không gian, mà còn trong một chu kỳ còn rộng lớn hơn nữa.

These preliminary statements have been laid down in an endeavour to show the synthesis of the whole. In the use of words comes limitation, and a clouding of the idea; words literally veil or hide thoughts, detract from their clarity, and confuse them by expression. The work of the second and third Logoi (being the production of the objectivity of the essential Spirit) is more easy to grasp in broad outline than the more esoteric work of the first Logos, which is that of the animating will.

Những phát biểu sơ bộ này đã được nêu ra nhằm cố gắng chỉ ra sự tổng hợp của toàn thể. Trong việc dùng ngôn từ có sự giới hạn, và có sự làm mờ ý tưởng; ngôn từ theo nghĩa đen che phủ hay giấu kín tư tưởng, làm giảm sự sáng tỏ của chúng, và làm chúng rối lên qua sự diễn đạt. Công việc của Thượng đế thứ hai và thứ ba (là tạo ra tính khách quan của Tinh thần cốt yếu) dễ nắm bắt trong đại cương hơn là công việc huyền bí hơn của Thượng đế thứ nhất, vốn là công việc của ý chí linh hoạt.

In terms of fire another angle of expression may perhaps elucidate.

Xét theo thuật ngữ của lửa, một góc độ diễn đạt khác có lẽ sẽ làm sáng tỏ hơn.

The third Logos is fire in matter. He burns by friction, and gains speed and added vibration by the rotation of the spheres, their interplay thus producing friction with each other.

Thượng đế thứ ba là lửa trong vật chất. Ngài bốc cháy bằng ma sát, và đạt được tốc độ cùng rung động gia tăng nhờ sự quay của các khối cầu, sự tương tác của chúng do đó tạo ra ma sát với nhau.

The second Logos is solar fire. He is the fire of matter and the electric fire of Spirit blended, producing, in time and space, that fire which we call solar. He is the quality of the flame, or the essential flame, produced by this merging. A correspondence to this may be seen in the radiatory fire of matter, and in the emanation, for instance, from the central sun, from a planet, or from a human being,—which latter emanation we call magnetism. A man’s emanation, or characteristic vibration, is the result of the blending of Spirit and matter, and the relative adequacy of the matter, or the form, to the life within. The objective solar system, or the sun in manifestation, is the result of the blending of Spirit (electric fire) with matter (fire by friction), and the emanations of the Son, in time and space, are dependent upon the adequacy of the matter, and of the form to the life within.

Thượng đế thứ hai là Lửa Thái dương. Ngài là lửa của vật chất và Lửa Điện của Tinh thần hòa trộn, tạo ra, trong thời gian và không gian, ngọn lửa mà chúng ta gọi là thái dương. Ngài là phẩm tính của ngọn lửa, hay ngọn lửa cốt yếu, được tạo ra bởi sự hòa nhập này. Một tương ứng của điều này có thể thấy trong lửa bức xạ của vật chất, và trong sự phát xạ, chẳng hạn, từ mặt trời trung tâm, từ một hành tinh, hay từ một con người,—mà sự phát xạ sau cùng này chúng ta gọi là từ điện. Sự phát xạ của một người, hay rung động đặc trưng của y, là kết quả của sự hòa trộn giữa Tinh thần và vật chất, và của mức độ tương đối thích đáng của vật chất, hay của hình tướng, đối với sự sống bên trong. Hệ mặt trời khách quan, hay mặt trời trong sự biểu hiện, là kết quả của sự hòa trộn giữa Tinh thần (Lửa Điện) với vật chất (Lửa ma sát), và các phát xạ của Con, trong thời gian và không gian, tùy thuộc vào mức độ thích đáng của vật chất, và của hình tướng đối với sự sống bên trong.

The first Logos is electric fire, the fire of pure Spirit. Yet in manifestation He is the Son, for by union with matter (the mother) the Son is produced by Whom He is [Page 151] known. “I and my Father are One” (Bible. John, 10:30) is the most occult statement in the Christian Bible, for it not only refers to the union of a man with his source, the monad, via the ego, but to the union of all life with its source, the will aspect, the first Logos.

Thượng đế thứ nhất là Lửa Điện, lửa của Tinh thần thuần túy. Tuy nhiên trong sự biểu hiện Ngài là Con, vì nhờ sự kết hợp với vật chất (người mẹ), Con được sinh ra, nhờ Đấng ấy mà Ngài được [Page 151] biết đến. “Ta và Cha Ta là Một” (Bible. John, 10:30) là phát biểu huyền bí nhất trong Kinh Thánh Cơ Đốc, vì nó không chỉ nói đến sự hợp nhất của một con người với cội nguồn của mình, chân thần, qua chân ngã, mà còn nói đến sự hợp nhất của mọi sự sống với cội nguồn của nó, phương diện ý chí, Thượng đế thứ nhất.

We will now endeavor to confine ourselves strictly to the subject of fire in matter, and its active effect upon the sheaths of which it is the animating factor, and upon the centers which come primarily under its control.

Giờ đây chúng ta sẽ cố gắng giới hạn mình một cách nghiêm ngặt vào chủ đề lửa trong vật chất, và tác động hoạt động của nó lên các vỏ bọc mà nó là nhân tố linh hoạt, cũng như lên các trung tâm chủ yếu nằm dưới sự kiểm soát của nó.

As we have been told, and as is generally recognised, the effect of heat in matter is to produce that activity which we call rotary, or the revolution of the spheres. Some of the ancient books, and among them a few that are not yet accessible in the occident, have taught that the entire vault of heaven is a vast sphere, revolving slowly like a stupendous wheel, and carrying with it, in its revolution, the entire number of constellations and of universes contained within it. This is a statement unverifiable by the finite mind of man at his present stage, and with his present scientific accessories, but (like all occult statements) it contains within it the seed of thought, the germ of truths, and the clue to the mystery of the universe. Suffice it here to say, that the rotation of the spheres within the solar periphery is a recognized occult fact, and indications are available to prove that science itself likewise formulates the hypothesis that the solar ring-pass-not similarly rotates in its appointed place among the constellations. But at this juncture we will not deal with this angle of the subject, but will study the rotary action of the spheres of the system, and of its content—all the lesser spheres of every degree—remembering ever to keep the distinction clearly in mind that we are dealing now simply with the inherent characteristic of matter itself, and not with matter in co-operation with [Page 152] its opposite, Spirit, which co-operation brings about spiral-cyclic movement.

Như chúng ta đã được bảo, và như thường được thừa nhận, tác động của nhiệt trong vật chất là tạo ra hoạt động mà chúng ta gọi là quay tròn, hay sự xoay chuyển của các khối cầu. Một số sách cổ, và trong số đó có vài sách vẫn chưa thể tiếp cận được ở phương Tây, đã dạy rằng toàn bộ vòm trời là một khối cầu bao la, quay chậm như một bánh xe khổng lồ, và mang theo trong vòng quay của nó toàn bộ số chòm sao và vũ trụ chứa bên trong nó. Đây là một phát biểu mà trí tuệ hữu hạn của con người ở giai đoạn hiện nay, với các phương tiện khoa học hiện có, không thể kiểm chứng được, nhưng (giống như mọi phát biểu huyền bí) nó chứa trong nó hạt giống của tư tưởng, mầm mống của chân lý, và đầu mối dẫn đến huyền nhiệm của vũ trụ. Ở đây chỉ cần nói rằng sự quay của các khối cầu bên trong chu vi thái dương là một sự kiện huyền bí đã được công nhận, và có những chỉ dấu sẵn có để chứng minh rằng chính khoa học cũng xây dựng giả thuyết rằng vòng-giới-hạn thái dương cũng quay tương tự trong vị trí đã định của nó giữa các chòm sao. Nhưng vào lúc này chúng ta sẽ không bàn đến góc độ ấy của chủ đề, mà sẽ nghiên cứu hoạt động quay tròn của các khối cầu của hệ, và của nội dung của nó—mọi khối cầu nhỏ hơn ở mọi cấp độ—luôn luôn nhớ giữ rõ trong tâm trí sự phân biệt rằng hiện nay chúng ta chỉ đang đề cập đến đặc tính cố hữu của chính vật chất, chứ không phải vật chất trong sự hợp tác với [Page 152] đối cực của nó là Tinh thần, mà sự hợp tác ấy tạo ra chuyển động xoắn ốc-chu kỳ.

II. THE EFFECTS OF ROTARY MOTION — II. CÁC TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỘNG QUAY TRÒN

Every sphere in the body macrocosmic rotates. This rotation produces certain effects, which effects might be enumerated as follows:

Mọi khối cầu trong thể đại thiên địa đều quay. Sự quay này tạo ra những tác động nhất định, và các tác động ấy có thể được liệt kê như sau:

1. Separation is produced by rotary movement. By means of this action, all the spheres became differentiated, and form, as we know, the following atomic units:

1. Sự phân ly được tạo ra bởi chuyển động quay tròn. Nhờ hoạt động này, mọi khối cầu trở nên biến phân, và tạo thành, như chúng ta biết, các đơn vị nguyên tử sau đây:

a. The solar system, recognised as a cosmic atom, all the so-called atoms within its periphery being regarded as molecular.

a. Hệ mặt trời, được công nhận như một nguyên tử vũ trụ, mọi cái gọi là nguyên tử bên trong chu vi của nó đều được xem là phân tử.

b. The seven planes, regarded as seven vast spheres, rotating latitudinally within the solar periphery.

b. Bảy cõi, được xem như bảy khối cầu bao la, quay theo vĩ độ bên trong chu vi thái dương.

c. The seven rays, regarded as the seven veiling forms of the Spirits, themselves spheroidal bands of colour, rotating longitudinally, and forming (in connection with the seven planes) a vast interlacing network. These two sets of spheres (planes and rays) form the totality of the solar system, and produce its form spheroidal.

c. Bảy cung, được xem như bảy hình tướng che phủ của các Tinh thần, bản thân chúng là những dải màu hình cầu, quay theo kinh độ, và tạo thành (liên hệ với bảy cõi) một mạng lưới đan xen bao la. Hai tập hợp khối cầu này (các cõi và các cung) tạo thành toàn thể của hệ mặt trời, và tạo ra hình thể cầu của nó.

Let us withdraw our thought at this juncture from the informing Consciousnesses of these three types of spheres, and concentrate our attention upon the realisation that each plane is a vast sphere of matter, actuated by latent heat and progressing or rotating in one particular direction. Each ray of light, no matter of what colour, is likewise a sphere of matter of the utmost tenuity, rotating in a direction opposite to that of the planes. These rays produce by their mutual interaction a radiatory effect upon each other. Thus by the approximation of the latent heat in matter, and the interplay of that heat upon other spheres that totality is produced which we call “fire by friction.”

Vào lúc này, hãy rút tư tưởng của chúng ta ra khỏi các Tâm thức phú linh của ba loại khối cầu này, và tập trung sự chú ý vào sự chứng nghiệm rằng mỗi cõi là một khối cầu vật chất bao la, được thúc động bởi nhiệt tiềm ẩn và đang tiến triển hay quay theo một hướng đặc biệt. Mỗi tia sáng, bất kể màu gì, cũng là một khối cầu vật chất cực kỳ tinh tế, quay theo hướng ngược lại với các cõi. Các tia này tạo ra, nhờ sự tương tác lẫn nhau, một hiệu quả bức xạ lên nhau. Như vậy, nhờ sự tiếp cận của nhiệt tiềm ẩn trong vật chất, và sự tương tác của nhiệt ấy lên các khối cầu khác, mà toàn thể ấy được tạo ra, cái mà chúng ta gọi là “Lửa ma sát.”

[Page 153] In connection with these two types of spheres we might, by way of illustration and for the sake of clarity, say that:

[Page 153] Liên quan đến hai loại khối cầu này, chúng ta có thể, để minh họa và cho rõ ràng, nói rằng:

a. The planes rotate from east to west.

a. Các cõi quay từ đông sang tây.

b. The rays rotate from north to south.

b. Các cung quay từ bắc xuống nam.

Students should here bear carefully in mind that we are not referring here to points in space; we are simply making this distinction and employing words in order to make an abstruse idea more comprehensible. From the point of view of the totality of the rays and planes there is no north, south, east nor west. But at this point comes a correspondence and a point of real interest, though also of complexity. By means of this very interaction, the work of the four Maharajahs or Lords of Karma, is made possible; the quaternary and all sumtotals of four can be seen as one of the basic combinations of matter, produced by the dual revolutions of planes and rays.

Ở đây các đạo sinh nên cẩn thận ghi nhớ rằng chúng ta không nói đến các điểm trong không gian; chúng ta chỉ đơn giản tạo ra sự phân biệt này và dùng ngôn từ để làm cho một ý tưởng khó hiểu trở nên dễ hiểu hơn. Xét từ quan điểm của toàn thể các cung và các cõi thì không có bắc, nam, đông hay tây. Nhưng tại điểm này xuất hiện một tương ứng và một điểm thật sự đáng quan tâm, dù cũng phức tạp. Chính nhờ sự tương tác này mà công việc của bốn Maharajah hay các Chúa Tể Nghiệp Quả trở nên khả hữu; bộ bốn và mọi tổng thể của bốn có thể được thấy như một trong những tổ hợp căn bản của vật chất, được tạo ra bởi các vòng quay nhị nguyên của các cõi và các cung.

The seven planes, likewise atoms, rotate on their own axis, and conform to that which is required of all atomic lives.

Bảy cõi, cũng là các nguyên tử, quay trên trục riêng của chúng, và tuân theo điều được đòi hỏi nơi mọi sự sống nguyên tử.

The seven spheres of any one plane, which we call subplanes, equally correspond to the system; each has its seven revolving wheels or planes that rotate through their own innate ability, due to latent heat—the heat of the matter of which they are formed.

Bảy khối cầu của bất kỳ một cõi nào, mà chúng ta gọi là các cõi phụ, cũng tương ứng với hệ; mỗi cõi có bảy bánh xe hay cõi quay của nó, quay nhờ năng lực bẩm sinh riêng, do nhiệt tiềm ẩn—nhiệt của vật chất mà chúng được tạo thành.

The spheres or atoms of any form whatsoever, from the form logoic, which we have somewhat dealt with, down to the ultimate physical atom and the molecular matter that goes to the construction of the physical body, show similar correspondences and analogies.

Các khối cầu hay nguyên tử của bất kỳ hình tướng nào, từ hình tướng logoic mà chúng ta đã phần nào bàn đến, xuống đến nguyên tử hồng trần tối hậu và vật chất phân tử dùng để cấu tạo thể xác, đều cho thấy những tương ứng và loại suy tương tự.

All these spheres conform to certain rules, fulfil certain conditions and are characterised by the same fundamental qualifications. Later we will consider these conditions, [Page 154] but must now continue with the effect of rotary action.

Tất cả các khối cầu này đều tuân theo những quy luật nhất định, đáp ứng những điều kiện nhất định và được đặc trưng bởi cùng những phẩm tính căn bản. Sau này chúng ta sẽ xem xét các điều kiện ấy, [Page 154] nhưng giờ đây phải tiếp tục với tác động của hoạt động quay tròn.

2. Momentum, resulting therefore in repulsion, was produced by the rotary movement. We have referred to the Law of Repulsion as one of the subsidiary branches of the great Law of Economy, which governs matter. Repulsion is brought about by rotary action, and is the basis of that separation which prevents the contact of any atom with any other atom, which keeps the planets at fixed points in space and separated stably from each other; which keeps them at a certain distance from their systemic centre, and which likewise keeps the planes and subplanes from losing their material identity. Here we can see the beginning of that age-long duel between Spirit and matter, which is characteristic of manifestation, one aspect working under the Law of Attraction, and the other governed by the Law of Repulsion. From aeon to aeon the conflict goes on, with matter becoming less potent. Gradually (so gradually as to seem negated when viewed from the physical plane) the attractive power of Spirit is weakening the resistance of matter till, at the close of the greater solar cycles, destruction (as it is called) will ensue, and the Law of Repulsion be overcome by the Law of Attraction. It is a destruction of form and not of matter itself, for matter is indestructible. This can be seen even now in the microcosmic life, and is the cause of the disintegration of form, which holds itself as a separated unit by the very method of repulsing all other forms. It can be seen working out gradually and inappreciably in connection with the Moon, which no longer is repulsive to the earth, and is giving of her very substance to this planet. H. P. B. hints at this in The Secret Doctrine, and I have here suggested the law under which this is so. (S. D., I, 179.) (70)

2. Động lượng, do đó dẫn đến sự đẩy lùi, được tạo ra bởi chuyển động quay tròn. Chúng ta đã đề cập đến Định luật Đẩy Lùi như một trong những nhánh phụ của Định luật Tiết Kiệm vĩ đại, định luật chi phối vật chất. Sự đẩy lùi được tạo ra bởi hoạt động quay tròn, và là nền tảng của sự phân ly ngăn cản sự tiếp xúc của bất kỳ nguyên tử nào với bất kỳ nguyên tử nào khác, giữ các hành tinh ở những điểm cố định trong không gian và ổn định tách biệt với nhau; giữ chúng ở một khoảng cách nhất định với trung tâm hệ của chúng, và cũng giữ cho các cõi và cõi phụ không đánh mất bản sắc vật chất của chúng. Ở đây chúng ta có thể thấy khởi đầu của cuộc đấu tranh lâu dài giữa Tinh thần và vật chất, vốn là đặc trưng của sự biểu hiện, một phương diện hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn, còn phương diện kia được chi phối bởi Định luật Đẩy Lùi. Từ aeon này sang aeon khác, cuộc xung đột vẫn tiếp diễn, với vật chất ngày càng kém mạnh hơn. Dần dần (chậm đến mức dường như bị phủ nhận khi nhìn từ cõi hồng trần) quyền năng hấp dẫn của Tinh thần đang làm suy yếu sức kháng cự của vật chất cho đến khi, vào lúc kết thúc các chu kỳ thái dương lớn hơn, sự hủy diệt (như cách gọi) sẽ xảy ra, và Định luật Đẩy Lùi bị Định luật Hấp Dẫn vượt thắng. Đó là sự hủy diệt hình tướng chứ không phải của chính vật chất, vì vật chất là bất khả hủy. Điều này có thể thấy ngay cả bây giờ trong sự sống tiểu thiên địa, và là nguyên nhân của sự tan rã của hình tướng, vốn tự giữ mình như một đơn vị tách biệt bằng chính phương pháp đẩy lùi mọi hình tướng khác. Có thể thấy điều này đang diễn ra dần dần và không dễ nhận ra liên quan đến Mặt Trăng, vốn không còn đẩy lùi Trái Đất nữa, và đang trao chính chất liệu của nó cho hành tinh này. H. P. B. gợi ý điều này trong Giáo Lý Bí Nhiệm, và ở đây tôi đã nêu ra định luật chi phối điều đó. (S. D., I, 179.) (70)

(70) “The moon (our satellite) pouring forth into the lowest globe of our planetary chain (Globe D. “Earth”), all its energy and powers; and having transferred them to a new centre, becoming virtually a dead planet in which, since the birth of our globe, rotation has ceased.”—S. D., I, 179. (back)

(70) “Mặt trăng (vệ tinh của chúng ta) tuôn đổ vào bầu hành tinh thấp nhất của dãy hành tinh chúng ta (Bầu D. “Trái Đất”), toàn bộ năng lượng và quyền năng của nó; và sau khi đã chuyển chúng sang một trung tâm mới, trên thực tế trở thành một hành tinh chết mà trong đó, kể từ khi bầu hành tinh của chúng ta ra đời, sự quay đã chấm dứt.”—S. D., I, 179. (back)

[Page 155] 3. Frictional effect on all other bodies atomic, producing:

[Page 155] 3. Tác động ma sát lên mọi thể nguyên tử khác, tạo ra:

a. Vitality of the atom,

a. Sinh lực của nguyên tử,

b. Coherence of the atom,

b. Sự kết dính của nguyên tử,

c. Ability to function.

c. Khả năng hoạt động.

d. Heat supplied to the composite form of which it may form a fragmentary part, whether it is the heat supplied by the rotation of a planet within the form macrocosmic, or the rotation of a cell in the physical body within the form microcosmic.

d. Nhiệt được cung cấp cho hình tướng hợp thành mà nó có thể là một phần tử cấu thành, dù đó là nhiệt được cung cấp bởi sự quay của một hành tinh trong hình tướng đại thiên địa, hay sự quay của một tế bào trong thể xác bên trong hình tướng tiểu thiên địa.

e. Final combustion or disintegration, when the fires latent and radiatory have achieved a specific stage. This is the secret of final obscuration and of pralaya, but cannot be dissociated from the two other factors of solar and electric fire.

e. Sự bốc cháy cuối cùng hay tan rã, khi các ngọn lửa tiềm ẩn và bức xạ đã đạt đến một giai đoạn nhất định. Đây là bí mật của sự che khuất cuối cùng và của pralaya, nhưng không thể tách rời khỏi hai yếu tố kia là Lửa Thái dương và Lửa Điện.

4. Absorption, through that expression which is seen in all whirling spheres of atomic matter at whichever surface in the sphere corresponds to the point called in a planet the North Pole. Some idea of the intention that I seek to convey may be grasped by a study of the atom as portrayed in Babbitt’s “Principles of Light and Colour,” and later in Mrs. Besant’s “Occult Chemistry.” This depression is produced by radiations which proceed counter to the rotations of the sphere and pass down from the north southwards to a midway point. From there they tend to increase the latent heat, to produce added momentum and to give specific quality according to the source from which the radiation comes. This absorption of extra-spheroidal emanation is the secret of the dependence of one sphere upon another, and has its correspondence in the cycling of a ray through any plane sphere. Every atom, though termed spheroidal, is more accurately a sphere slightly depressed at one location, [Page 156] that location being the place through which flows the force which animates the matter of the sphere. This is true of all spheres, from the solar down to the atom of matter that we call the cell in the body physical. Through the depression in the physical atom flows the vitalising force from without. Every atom is both positive and negative; it is receptive or negative where the inflowing force is concerned, and positive or radiatory where its own emanations are concerned, and in connection with its effect upon its environment.

4. Sự hấp thụ, thông qua biểu hiện được thấy trong mọi khối cầu xoáy của vật chất nguyên tử tại bất cứ bề mặt nào trong khối cầu tương ứng với điểm được gọi trên một hành tinh là Cực Bắc. Có thể nắm được phần nào ý định mà tôi muốn truyền đạt bằng cách nghiên cứu nguyên tử như được mô tả trong tác phẩm “Principles of Light and Colour,” của Babbitt, và sau đó trong “Occult Chemistry.” của bà Besant. Chỗ lõm này được tạo ra bởi các bức xạ đi ngược chiều quay của khối cầu và đi xuống từ phía bắc về phía nam đến một điểm ở giữa. Từ đó chúng có khuynh hướng làm tăng nhiệt tiềm ẩn, tạo ra thêm động lượng và ban cho phẩm tính đặc thù tùy theo nguồn mà bức xạ phát ra. Sự hấp thụ phát xạ ngoài khối cầu này là bí mật của sự phụ thuộc của khối cầu này vào khối cầu khác, và có tương ứng của nó trong sự tuần hoàn của một cung qua bất kỳ khối cầu cõi nào. Mọi nguyên tử, dù được gọi là hình cầu, chính xác hơn là một khối cầu hơi lõm tại một vị trí, [Page 156] vị trí ấy là nơi mà qua đó mãnh lực làm linh hoạt vật chất của khối cầu chảy vào. Điều này đúng với mọi khối cầu, từ khối cầu thái dương xuống đến nguyên tử vật chất mà chúng ta gọi là tế bào trong thể xác. Qua chỗ lõm trong nguyên tử hồng trần chảy vào mãnh lực tiếp sinh lực từ bên ngoài. Mọi nguyên tử vừa là dương vừa là âm; nó tiếp nhận hay âm xét theo mãnh lực chảy vào, và dương hay bức xạ xét theo các phát xạ riêng của nó, cũng như liên quan đến tác động của nó lên môi trường xung quanh.

This can be predicated likewise of the entire ring-pass-not of the solar system in relation to its cosmic environment. Force flows into the solar system from three directions via three channels:

Điều này cũng có thể được khẳng định đối với toàn bộ vòng-giới-hạn của hệ mặt trời trong liên hệ với môi trường vũ trụ của nó. Mãnh lực chảy vào hệ mặt trời từ ba hướng qua ba kênh:

a. The sun Sirius,

a. Sao Thiên Lang,

b. The Pleiades,

b. Thất Tinh,

c. The Great Bear.

c. Đại Hùng Tinh.

I would here point out the connection or correspondence in this statement to an earlier one made when speaking of solar radiation, and the channels through which it can be felt. These currents or radiations we call

Ở đây tôi muốn chỉ ra mối liên hệ hay tương ứng trong phát biểu này với một phát biểu trước đó khi nói về bức xạ thái dương, và các kênh mà qua đó nó có thể được cảm nhận. Những dòng hay bức xạ này chúng ta gọi là

a. Akashic.

a. Akashic.

b. Electrical.

b. Điện.

c. Pranic.

c. Prana.

In considering the occult meaning of what is here suggested, one point in elucidation may be imparted, leaving the working out of the other two relationships to the student. The Pleiades are to the solar system, the source of electrical energy, and just as our sun is the embodiment of the heart, or love aspect, of the Logos (Who is Himself the heart of ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID) so the Pleiades are the feminine opposite of Brahma. Think this out, for much is contained in this statement.

Khi xem xét ý nghĩa huyền bí của điều được gợi ra ở đây, có thể truyền đạt một điểm để làm sáng tỏ, còn việc khai triển hai mối liên hệ kia xin để lại cho đạo sinh. Pleiades đối với hệ mặt trời là nguồn năng lượng điện, và cũng như mặt trời của chúng ta là hiện thân của phương diện tim, hay phương diện bác ái, của Thượng đế (Đấng mà chính Ngài là tim của ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ) thì Pleiades là đối cực nữ tính của Brahma. Hãy suy ngẫm điều này, vì có rất nhiều điều được hàm chứa trong phát biểu ấy.

Certain broad statements have been laid down here concerning the rotation of matter, and the results produced [Page 157] in diverse spheres by that rotation. What is predicated of any one sphere or atom can be predicated of all, if it is in any way an occult statement of fact and we should be able to work out these four effects:

Ở đây đã nêu ra một số khẳng định khái quát liên quan đến sự quay của vật chất, và các kết quả được tạo ra [Page 157] trong những khối cầu khác nhau bởi sự quay đó. Điều được khẳng định về bất kỳ khối cầu hay nguyên tử nào cũng có thể được khẳng định về tất cả, nếu đó theo bất kỳ cách nào là một phát biểu huyền bí về sự kiện, và chúng ta phải có thể khai triển bốn hiệu quả này:

1. Separation, or the repulsive effect,

1. Sự tách rời, hay hiệu quả đẩy lùi,

2. Momentum, or the interior effect,

2. Động lượng, hay hiệu quả nội tại,

3. Frictional, environal effect,

3. Hiệu quả ma sát của môi trường chung quanh,

4. Absorption, the receptive or attractive effect,

4. Sự hấp thu, hiệu quả tiếp nhận hay thu hút,

in every grade and type of atom,—a solar system, a sun, a planet, a plane, a ray, the body of the Ego, or a cell in the physical body.

trong mọi cấp độ và loại nguyên tử,—một hệ mặt trời, một mặt trời, một hành tinh, một cõi, một cung, thể của chân ngã, hay một tế bào trong thể xác.