← A Treatise on Cosmic Fire All

This must be interpreted in terms of consciousness, and not of locality.

[Page 705] This should be pondered on, and His close connection therefore, as a transmitter of force within the Moon chain, the third chain, in connection with the third kingdom, the animal, and with the third round, must be borne in mind. One symbol that may be found in the archaic records in lieu of His Name or description is an inverted five-pointed star, with the luminous Triangle at the centre. It will be noted that the points involved in this symbol number eight—a picture of that peculiar state of consciousness brought about when the mind is seen to be the slayer of the Real. The secret of planetary avitchi (235) is hidden here, just as the third major scheme can be viewed as systemic avitchi, and the moon at one time held an analogous position in connection with our scheme.

[Page 705] Điều này cần được suy ngẫm, và do đó mối liên hệ mật thiết của Ngài, với tư cách là một kênh truyền mãnh lực trong Dãy Mặt Trăng, dãy thứ ba, liên hệ với giới thứ ba, giới động vật, và với cuộc tuần hoàn thứ ba, phải được ghi nhớ. Một biểu tượng có thể được tìm thấy trong các cổ thư thay cho Danh xưng hay mô tả của Ngài là một ngôi sao năm cánh đảo ngược, với Tam giác sáng chói ở trung tâm. Cần lưu ý rằng các điểm liên quan trong biểu tượng này là tám—một bức tranh về trạng thái tâm thức đặc biệt được tạo ra khi trí tuệ được thấy là kẻ sát hại Cái Thực. Bí mật của avitchi hành tinh (235) được ẩn giấu ở đây, cũng như hệ hành tinh lớn thứ ba có thể được xem như avitchi của hệ thống, và mặt trăng đã từng giữ một vị trí tương tự liên hệ với hệ hành tinh của chúng ta.

(235) Avitchi. A state of consciousness, not necessarily after death or between births for it can take place on earth as well. Literally it means “uninterrupted hell.” The last of the eight hells we are told where “the culprits die and are reborn without interruption—yet not without hope of final redemption.” See S. D., III, 510, 521, 528, 529. (back)

(235) Avitchi. Một trạng thái tâm thức, không nhất thiết sau khi chết hay giữa các lần sinh, vì nó cũng có thể xảy ra trên trái đất. Nghĩa đen là “địa ngục không gián đoạn.” Chúng ta được cho biết đó là địa ngục cuối cùng trong tám địa ngục, nơi “những kẻ phạm tội chết đi và tái sinh không gián đoạn—nhưng không phải là không có hy vọng được cứu chuộc cuối cùng.” Xem Giáo Lý Bí Nhiệm, III, 510, 521, 528, 529. (back)

This must be interpreted in terms of consciousness, and not of locality.

Điều này phải được giải thích theo các thuật ngữ của tâm thức, chứ không phải của địa điểm.

In the fifth round, at its middle point, certain things will eventuate.

Trong cuộc tuần hoàn thứ năm, tại điểm ở giữa của nó, một số việc sẽ xảy ra.

The fifth Hierarchy will rise to its full power. This will precede the Judgment Day, and will mark a point of tremendous struggle, for the manasic vehicle “manas” (which they embody) will rebel against the translation of the life within (the buddhi). There will, therefore, be seen on a racial scale and involving millions simultaneously, a repetition of the self-same struggle which embroils the man who seeks to transcend mind and to live the life of Spirit. This will be the final Armageddon, the planetary kurukshetra, and will be succeeded by the Judgment Day when the Sons of Manas will be cast out and the Dragons of Wisdom rule. This only means that those in whom the manasic principle is over-potent or under-developed will be considered as failures and will [Page 706] have to wait for a more suitable period for development, while those who are living the buddhic life, and in whom it is waxing stronger—spiritual men, aspirants, disciples of various degrees, initiates and adepts—will be left to pursue the natural course of evolution on this scheme.

Huyền Giai thứ năm sẽ vươn lên đến toàn bộ quyền năng của nó. Điều này sẽ đi trước Ngày Phán Xét, và sẽ đánh dấu một điểm đấu tranh ghê gớm, vì vận cụ manasic “manas” (mà họ hiện thân) sẽ nổi loạn chống lại sự chuyển dịch của sự sống bên trong (bồ đề). Do đó, trên quy mô nhân loại và liên quan đồng thời đến hàng triệu người, sẽ thấy một sự lặp lại của chính cuộc đấu tranh đã cuốn con người vào khi y tìm cách vượt lên trên trí tuệ và sống đời sống của tinh thần. Đây sẽ là Armageddon cuối cùng, kurukshetra của hành tinh, và tiếp theo sẽ là Ngày Phán Xét khi các Con của Manas bị loại ra và các Rồng Minh Triết cai quản. Điều này chỉ có nghĩa là những ai trong đó nguyên khí manasic quá mạnh hoặc kém phát triển sẽ bị xem là thất bại và sẽ [Page 706]phải chờ một thời kỳ thích hợp hơn để phát triển, trong khi những ai đang sống đời sống bồ đề, và trong họ nó đang mạnh dần lên—những người tinh thần, người chí nguyện, các đệ tử ở nhiều cấp độ, các điểm đạo đồ và các chân sư—sẽ được để tiếp tục tiến trình tiến hoá tự nhiên trên hệ hành tinh này.

The mystery of Capricorn is hidden in these five and in the Biblical words “the sheep and the goats.” (Bible. Rev., 20:6-7. Matt., 25:32.) The Christian hints at this when he speaks of the Christ reigning on earth a thousand years during which the serpent is imprisoned. The Christ principle will triumph for the remainder of the manvantara, and the lower material nature and mind will be held in abeyance until the next round, when fresh opportunity will arise for certain groups of the discarded, though the majority will be held over until another system. Something similar again will take place on the fifth chain but as it concerns a centre in the planetary Logos of which we know but little, we need not here enlarge upon it.

Huyền nhiệm của Ma Kết được ẩn giấu trong năm vị này và trong những lời trong Kinh Thánh “cừu và dê.” (Kinh Thánh. Rev., 20:6-7. Matt., 25:32.) Người Kitô hữu ám chỉ điều này khi nói về Đức Christ trị vì trên trái đất một ngàn năm trong thời gian đó con rắn bị giam cầm. Nguyên khí Christ sẽ chiến thắng trong phần còn lại của giai kỳ sinh hóa, và bản chất vật chất thấp cùng trí tuệ sẽ bị giữ trong trạng thái đình chỉ cho đến cuộc tuần hoàn kế tiếp, khi cơ hội mới sẽ xuất hiện cho một số nhóm bị loại bỏ, dù đa số sẽ bị trì hoãn cho đến một hệ thống khác. Một điều tương tự cũng sẽ diễn ra trên dãy thứ năm nhưng vì nó liên quan đến một trung tâm trong Hành Tinh Thượng đế mà chúng ta biết rất ít, nên ở đây không cần nói rộng thêm.

The planetary chains embody centres, and as they are awakened and come under stimulation, they swing into physical incarnation certain types of manasaputras. The type dominated by the fifth chain energy is little known as it is yet in process of evolution within another scheme, the fifth, so it is waste of our time to consider it. It is connected with the unfoldment of the fifth egoic petal of a planetary Logos on His Own plane and consequently with the activity of the fifth spirilla. When the hour strikes, these units of energy will “come in” from another scheme on a stream of cosmic energy which will swing through a particular systemic triangle, just as when the egos came in this round.

Các dãy hành tinh hiện thân cho các trung tâm, và khi chúng được thức tỉnh và chịu sự kích thích, chúng đưa vào nhập thể hồng trần một số loại manasaputra nhất định. Loại bị chi phối bởi năng lượng dãy thứ năm ít được biết đến vì nó còn đang trong tiến trình tiến hoá trong một hệ hành tinh khác, hệ thứ năm, nên việc xem xét nó là lãng phí thời gian của chúng ta. Nó liên hệ với sự khai mở cánh hoa chân ngã thứ năm của một Hành Tinh Thượng đế trên cõi riêng của Ngài và do đó với hoạt động của loa tuyến thứ năm. Khi giờ điểm đến, các đơn vị năng lượng này sẽ “đi vào” từ một hệ hành tinh khác trên một dòng năng lượng vũ trụ sẽ quét qua một tam giác hệ thống đặc biệt, cũng như khi các Chân ngã đã đi vào trong cuộc tuần hoàn này.a particular systemic triangle, just as when the egos came in this round.

It might here be pointed out that the solar Angels concerned with the fifth Hierarchy are naturally a potent factor in the evolution of the fifth or spiritual kingdom; they are that which make it possible, for they not only [Page 707] bridge the gap between the fourth and third kingdoms, but bridge that found between the fourth and fifth.

Ở đây có thể chỉ ra rằng các Thái dương Thiên Thần liên quan đến Huyền Giai thứ năm tự nhiên là một yếu tố mạnh mẽ trong sự tiến hoá của giới thứ năm hay giới tinh thần; các Ngài là điều làm cho điều đó trở nên khả hữu, vì các Ngài không chỉ [Page 707]bắc cầu khoảng cách giữa giới thứ tư và giới thứ ba, mà còn bắc cầu khoảng cách giữa giới thứ tư và giới thứ năm.

We need not consider any further this question of the fifth principle, for two reasons:

Chúng ta không cần xem xét thêm vấn đề này về nguyên khí thứ năm, vì hai lý do:

First, that the subject has been sufficiently covered for our purpose in an earlier section, and secondly, that the full revelation in connection with cosmic manas and the entities who come in on that influence may not further be revealed at this moment. That which is given in the Secret Doctrine, and supplemented here by further details, will suffice for the investigations of students for another generation. Each generation should produce those able to ascertain subjective fact for themselves; they will utilize that which is exoteric and known as stepping stones on the path to perfect knowledge. They will know, and they will give out, and only the next cycle of fifty years after their work is accomplished will see the recognition by the many of the truth revealed by the few. In the case of H. P. B. this is apparent. On the tide of the present endeavour, the Secret Doctrine will be vindicated and her work justified.

Thứ nhất, vì chủ đề này đã được trình bày đầy đủ cho mục đích của chúng ta trong một phần trước, và thứ hai, vì sự mặc khải trọn vẹn liên hệ với manas vũ trụ và các thực thể đi vào dưới ảnh hưởng đó hiện không thể được tiết lộ thêm. Điều đã được nêu trong Giáo Lý Bí Nhiệm, và được bổ sung ở đây bằng các chi tiết thêm, sẽ đủ cho các cuộc khảo cứu của các đạo sinh trong một thế hệ nữa. Mỗi thế hệ nên sản sinh ra những người có thể tự mình xác định sự kiện chủ quan; họ sẽ sử dụng điều ngoại môn và đã biết như những viên đá bước trên con đường dẫn đến tri thức hoàn hảo. Họ sẽ biết, và họ sẽ công bố, và chỉ đến chu kỳ năm mươi năm kế tiếp sau khi công việc của họ hoàn tất thì số đông mới công nhận chân lý được số ít mặc khải. Trong trường hợp của H. P. B. điều này là hiển nhiên. Trên làn sóng của nỗ lực hiện tại, Giáo Lý Bí Nhiệmsẽ được minh oan và công trình của bà sẽ được biện minh.

S6S11

b. On Individualisation.

b. Về Biệt ngã hóa.

(a.) The Work of the Solar Angels. Let us briefly consider the general construction of the body of the Ego enumerating its component parts and bearing in mind that the form is ever prepared prior to occupancy. From the study of this body, we can get some idea of, and some light upon macrocosmic Individualisation.

(a.) Công việc của các Thái dương Thiên Thần. Chúng ta hãy ngắn gọn xem xét cấu trúc tổng quát của thể của Chân ngã bằng cách liệt kê các thành phần của nó và ghi nhớ rằng hình tướng luôn luôn được chuẩn bị trước khi có sự cư ngụ. Từ việc nghiên cứu thể này, chúng ta có thể có được một vài ý niệm và một vài ánh sáng về Biệt ngã hóa đại vũ trụ.

The causal body, called sometimes (though inaccurately) the “karana sarira,” has its place on the third subplane of the mental plane, the lowest abstract plane, and the one whereon the Ray of the third Logos provides the necessary “light for construction.” (This is because each subplane comes specially under the influence of its Number, Name, or Lord.) When the hour [Page 708] strikes and the vehicles for buddhi are to be co-ordinated certain great Beings, Lords of the Flame, or Manasadevas, through driving external force, come in conjunction with the material of that subplane, and vitalise it with Their Own energy. They form a new and positive impulse which co-ordinates the material of the plane and produces a temporary balancing of forces. Hence the meaning of the “white,” or transparent condition of the new causal body. It remains with the new-born ego first to upset the equilibrium, and then to regain it, at the close of the process, producing a radiant form, full of primal colours.

Thể nguyên nhân, đôi khi được gọi (dù không chính xác) là “karana sarira,” có vị trí của nó trên cõi phụ thứ ba của cõi trí, cõi trí trừu tượng thấp nhất, và là cõi mà trên đó cung của Logos thứ ba cung cấp “ánh sáng cần thiết cho việc kiến tạo.” (Điều này là vì mỗi cõi phụ đặc biệt chịu ảnh hưởng của Con số, Danh xưng, hay Chúa Tể của nó.) Khi giờ điểm [Page 708]đến và các vận cụ cho bồ đề phải được phối hợp, một số Đấng vĩ đại, các Đấng Chúa Tể của Ngọn Lửa, hay các Manasadeva, thông qua mãnh lực bên ngoài thúc đẩy, đi vào đồng vị với chất liệu của cõi phụ ấy, và tiếp sinh lực cho nó bằng chính năng lượng của Các Ngài. Các Ngài tạo thành một xung lực mới và dương, phối hợp chất liệu của cõi và tạo ra một sự quân bình tạm thời của các mãnh lực. Do đó mới có ý nghĩa của trạng thái “trắng,” hay trong suốt, của thể nguyên nhân mới. Chân ngã mới sinh trước hết phải phá vỡ sự quân bình ấy, rồi sau đó tái lập nó vào lúc kết thúc tiến trình, tạo ra một hình tướng rực rỡ, đầy các màu sắc nguyên sơ.

At the coming in of the Manasadevas to produce self-consciousness and to bring about the incarnation of the divine Egos, four things occur on that plane. If the student adds to these four those which have been already imparted in various occult books anent the effect of individualisation on animal man and his appearance as a self-conscious identity on the physical plane, a working hypothesis is provided whereby man can scientifically undertake his own unfoldment. These four are given in the order of their appearance in time and space:

Khi các Manasadeva đi vào để tạo ra ngã thức và đem lại sự nhập thể của các Chân ngã thiêng liêng, bốn điều xảy ra trên cõi ấy. Nếu đạo sinh cộng thêm vào bốn điều này những điều đã được truyền đạt trong nhiều sách huyền bí học khác liên quan đến hiệu quả của sự biệt ngã hóa trên người thú và sự xuất hiện của y như một bản sắc ngã thức trên cõi hồng trần, thì sẽ có được một giả thuyết làm việc nhờ đó con người có thể một cách khoa học đảm nhận sự khai mở của chính mình. Bốn điều này được nêu ra theo thứ tự xuất hiện của chúng trong thời gian và không gian:

First. There appear upon the third subplane of the mental plane certain vibratory impulses—nine in number—corresponding to the fivefold vibration of these Manasadevas in conjunction with the fourfold vibration set up from below and inherent in the matter of this subplane, the fifth from the lower standpoint. This produces “the ninefold egoic lotus,” which is at this stage tightly closed, the nine petals folded one upon the other. They are vibrant, and scintillating “light” but not of excessive brightness. These “lotus buds” are in groups, according to the influence of the particular ones of the fivefold Dhyanis Who are acting upon it and Who form it out of Their own substance, colouring it faintly with the “fire of manas.”

Thứ nhất. Trên cõi phụ thứ ba của cõi trí xuất hiện một số xung lực rung động—gồm chín xung lực—tương ứng với rung động ngũ phân của các Manasadeva này phối hợp với rung động tứ phân được thiết lập từ bên dưới và vốn có trong vật chất của cõi phụ này, tức cõi phụ thứ năm theo quan điểm từ dưới lên. Điều này tạo ra “hoa sen chân ngã cửu phân”, vào giai đoạn này vẫn khép kín chặt chẽ, chín cánh hoa gập chồng lên nhau. Chúng rung động, và lấp lánh “ánh sáng” nhưng không quá rực rỡ. Các “nụ sen” này ở thành nhóm, tùy theo ảnh hưởng của những vị đặc thù trong các Dhyanis ngũ phân đang tác động lên chúng và tạo thành chúng từ chính chất liệu của Các Ngài, nhuộm chúng một cách mờ nhạt bằng “lửa của trí tuệ.”

[Page 709] Second. There appears a triangle on the mental plane, produced by manasic activity, and this triangle of fire begins slowly to circulate between the manasic permanent atom, and a point at the centre of the egoic lotus, and thence to the mental unit, which has appeared upon the fourth subplane through innate instinct approximating mentality. This triangle of fire, which is formed of pure electrical manasic force, waxes ever brighter until it produces an answering vibration from both the lower and the higher. This triangle is the nucleus of the antaskarana. The work of the highly evolved man is to reduce this triangle to a unity, and by means of high aspiration (which is simply transmuted desire affecting mental matter) turn it into the Path and thus reproduce in a higher synthetic form the earlier “path” along which the descending Spirit came to take possession of its vehicle, the causal body, and from thence again work through the lower personal self.

[Page 709] Thứ hai. Trên cõi trí xuất hiện một tam giác, được tạo ra bởi hoạt động manas, và tam giác lửa này bắt đầu tuần hoàn chậm rãi giữa nguyên tử trường tồn manas, một điểm ở trung tâm hoa sen chân ngã, rồi từ đó đến đơn vị hạ trí, vốn đã xuất hiện trên cõi phụ thứ tư nhờ bản năng bẩm sinh tiến gần đến trí tuệ. Tam giác lửa này, được cấu thành bằng mãnh lực manas điện thuần túy, ngày càng sáng hơn cho đến khi tạo ra một rung động đáp ứng từ cả bên dưới lẫn bên trên. Tam giác này là hạt nhân của antaskarana. Công việc của con người tiến hóa cao là quy tam giác này về nhất thể, và bằng khát vọng cao cả (vốn chỉ là dục vọng đã được chuyển hoá tác động lên vật chất trí tuệ) biến nó thành Con Đường, nhờ đó tái tạo dưới một hình thức tổng hợp cao hơn “con đường” trước kia mà theo đó Tinh thần giáng xuống để chiếm hữu vận cụ của nó, thể nguyên nhân, rồi từ đó lại hoạt động qua phàm ngã thấp.

Third. At a certain stage of vibratory activity, the work of the Lords of the Flame having produced a body or form and a vibration calling for response, there occurs a practically simultaneous happening.

Thứ ba. Ở một giai đoạn nhất định của hoạt động rung động, khi công việc của các Đấng Chúa Tể của Ngọn Lửa đã tạo ra một thể hay hình tướng và một rung động kêu gọi sự đáp ứng, thì xảy ra một biến cố gần như đồng thời.

A downflow of buddhi takes place along the line of the manasic triangle until it reaches a point at the very centre of the lotus. There, by the power of its own vibration, it causes a change in the appearance of the lotus. At the very heart of the lotus, three more petals appear which close in on the central flame, covering it closely, and remaining closed until the time comes for the revelation of the “jewel in the Lotus.” The egoic lotus is now composed of twelve petals, nine of these appear at this stage in bud form and three are completely hidden and mysterious.

Một dòng Bồ đề tuôn xuống theo đường của tam giác manas cho đến khi đạt tới một điểm ngay tại trung tâm hoa sen. Ở đó, bằng quyền năng của chính rung động của nó, nó gây ra một sự thay đổi trong sắc tướng của hoa sen. Ngay nơi tâm điểm của hoa sen, xuất hiện thêm ba cánh hoa nữa khép lại quanh ngọn lửa trung tâm, che phủ nó kín mít, và vẫn khép kín cho đến khi đến lúc mặc khải “ngọc trong Hoa Sen.” Hoa sen chân ngã lúc này gồm mười hai cánh hoa, trong đó chín cánh ở giai đoạn này hiện ra dưới dạng nụ và ba cánh hoàn toàn ẩn kín và huyền nhiệm.

At the same time, the three permanent atoms are enclosed within the lotus, and are seen by the clairvoyant as three points of light in the lower part of the bud, beneath [Page 710] the central portion. They form at this stage a dimly burning triangle. The causal body, though only in an embryonic condition, is now ready for full activity as the eons slip away, and is complete in all its threefold nature. The matter aspect, which concerns the material form of the man in the three worlds, or his active intelligent personal self call be developed and controlled through the medium of the mental unit, the astral permanent atom and the physical permanent atom. The Spirit aspect lies concealed at the heart of the lotus, in due course of time to stand revealed when the manasadevas have done their work. The will that persists forever is there. The consciousness aspect embodying the love-wisdom of the divine Ego as it reveals itself by the means of mind is predominantly there, and in the nine petals and their vibratory capacity lies hid all opportunity, all innate capacity to progress, and all the ability to function as a self-conscious unit, that entity we call Man. (237)

Đồng thời, ba nguyên tử trường tồn được bao bọc bên trong hoa sen, và được nhà thông nhãn thấy như ba điểm sáng ở phần dưới của nụ, bên dưới [Page 710] phần trung tâm. Ở giai đoạn này, chúng tạo thành một tam giác cháy mờ nhạt. Thể nguyên nhân, tuy mới chỉ ở tình trạng phôi thai, nay đã sẵn sàng cho hoạt động trọn vẹn khi các đại kiếp trôi qua, và hoàn chỉnh trong toàn bộ bản chất tam phân của nó. Phương diện vật chất, liên quan đến hình tướng vật chất của con người trong ba cõi giới, hay phàm ngã hoạt động thông minh của y, có thể được phát triển và kiểm soát qua trung gian của đơn vị hạ trí, nguyên tử trường tồn cảm dục và nguyên tử trường tồn hồng trần. Phương diện Tinh thần nằm ẩn kín nơi tâm hoa sen, để theo thời gian sẽ được mặc khải khi các manasadeva đã hoàn tất công việc của họ. Ý chí tồn tại mãi mãi ở đó. Phương diện tâm thức thể hiện Bác Ái – Minh Triết của chân ngã thiêng liêng khi nó tự biểu lộ qua phương tiện của trí tuệ thì hiện diện nổi trội ở đó, và trong chín cánh hoa cùng năng lực rung động của chúng ẩn giấu mọi cơ hội, mọi năng lực bẩm sinh để tiến bộ, và toàn bộ khả năng hoạt động như một đơn vị ngã thức, thực thể mà chúng ta gọi là Con Người. (237)

(237) The Solar Lord, the Divine Ego. Of the two courses of soul development referred to by H. P. B. in her “Voice of the Silence” as the path of “Dhyana” and “Dharma” or the “Paramitas,” Ramayana is based upon the latter. The “Seven Portals,” referred to in the book of the same name, correspond very probably to the seven cantos of this sacred poem. But I have read only the first canto, and I shall give you the analysis of it, so far as I know. Excluding the preface to the poem, the first thing, in the first canto, is a description of the peculiar circumstances that attended Rama’s birth in Dasaratha’s family. Dasaratha is, as you all know, a descendant of solar kings, who began to rule over this earth from the time of Manu the Vyvaswatha. As his name implies, he is a king whose car can travel in ten directions, or taking the occult microcosmic sense he is king of the human body, which has ten senses of action and perception that connect it with the ten directions. You are thoroughly familiar with the idea that our ancient philosophers used to describe the body as a town with nine gates. The nine gates are, as the nine orifices of the human body. If you add to the nine one more for the orifice known as the Brahma-rundra or the door of Brahma, you get ten gates corresponding to the ten directions. The word “Dasaratha” indicates the consciousness connected with our senses, which consciousness is inferior to the consciousness which we call mind.—The Theosophist, Vol. XIII, p. 340. (back)

(237) Nhật tinh quân, Chân ngã thiêng liêng. Trong hai lộ trình phát triển linh hồn được H. P. B. đề cập trong “Tiếng Nói của Im Lặng” của bà như con đường “Dhyana” và “Dharma” hay các “Paramitas,” Ramayana dựa trên con đường sau. “Bảy Cổng,” được nói đến trong cuốn sách cùng tên, rất có thể tương ứng với bảy khúc ca của bài thơ thiêng liêng này. Nhưng tôi chỉ mới đọc khúc ca thứ nhất, và tôi sẽ trình bày cho bạn phần phân tích của nó, trong phạm vi tôi biết. Không kể lời tựa của bài thơ, điều đầu tiên trong khúc ca thứ nhất là mô tả những hoàn cảnh đặc biệt đi kèm sự ra đời của Rama trong gia đình Dasaratha. Như tất cả các bạn đều biết, Dasaratha là hậu duệ của các vị vua mặt trời, những vị bắt đầu cai quản trái đất này từ thời Đức Manu Vyvaswatha. Như tên của ông hàm ý, ông là một vị vua có cỗ xe có thể đi theo mười hướng, hoặc nếu lấy ý nghĩa huyền bí vi mô thì ông là vua của thân thể con người, vốn có mười giác quan hành động và tri giác nối nó với mười phương. Các bạn rất quen thuộc với ý niệm rằng các triết gia cổ xưa của chúng ta thường mô tả thân thể như một thành phố có chín cổng. Chín cổng ấy là chín lỗ của thân thể con người. Nếu thêm vào chín cổng ấy một cổng nữa là lỗ được gọi là Brahma-rundra hay cửa của Brahma, ta có mười cổng tương ứng với mười phương. Từ “Dasaratha” chỉ tâm thức gắn với các giác quan của chúng ta, mà tâm thức ấy thấp hơn tâm thức mà chúng ta gọi là trí tuệ.—The Theosophist, Tập XIII, tr. 340. (back)

Mahadeva sits at the heart, Surya or Vishnu reveals Him in His essence as the Wisdom of Love and the Love of Wisdom, and Brahma, the Creative Logos makes that revelation possible. The Father in [Page 711] Heaven is to be revealed through the Christ, the Son, by the method of incarnation made possible through the work of the Holy Spirit. All this has been brought about by the sacrifice and instrumentality of certain cosmic entities who “offer Themselves” up in order that Man may be. From their very essence, they give out that which is needed to produce the individualising principle, and that which we call “self-consciousness,” and thus enable the divine Spirit to enter into fuller life by means of limitation by form, by means of the lessons garnered through a long pilgrimage, and through the “assimilation of manifold existences.”

Mahadeva ngự tại tâm điểm, Surya hay Vishnu mặc khải Ngài trong bản chất của Ngài như Minh Triết của Bác Ái và Bác Ái của Minh Triết, còn Brahma, Đấng Sáng Tạo Thượng đế, làm cho sự mặc khải đó trở nên khả hữu. Đức Cha trên [Page 711] Thiên Đàng sẽ được mặc khải qua Đức Christ, Người Con, bằng phương pháp nhập thể được làm cho khả hữu nhờ công việc của Chúa Thánh Thần. Tất cả điều này đã được thực hiện nhờ sự hi sinh và vai trò công cụ của một số thực thể vũ trụ, những Đấng “hiến dâng Chính Mình” để Con Người có thể hiện hữu. Từ chính bản chất của mình, các Ngài ban ra điều cần thiết để tạo nên nguyên khí biệt ngã hóa, và điều mà chúng ta gọi là “ngã thức,” nhờ đó làm cho Tinh thần thiêng liêng có thể đi vào sự sống đầy đủ hơn bằng phương tiện sự giới hạn bởi hình tướng, bằng những bài học thu lượm qua một cuộc hành hương dài lâu, và qua “sự đồng hoá nhiều hiện hữu đa tạp.”

The fourth point to be noted is that when these three events have occurred, the light or fire that circulates along the manasic triangle is withdrawn to the centre of the lotus, and this “prototype” of the future antaskarana, if so it may be expressed, disappears. The threefold energy of the petals, the atoms and the “jewel” is now centralised, because impulse must now be generated which will produce a downflow of energy from the newly made causal vehicle into the three worlds of human endeavour.

Điểm thứ tư cần lưu ý là khi ba biến cố này đã xảy ra, ánh sáng hay lửa tuần hoàn dọc theo tam giác manas được rút về trung tâm hoa sen, và “nguyên mẫu” này của antaskarana tương lai, nếu có thể nói như vậy, biến mất. Năng lượng tam phân của các cánh hoa, các nguyên tử và “viên ngọc” nay được tập trung vào trung tâm, vì lúc này phải phát sinh một xung lực sẽ tạo ra một dòng năng lượng tuôn xuống từ vận cụ nguyên nhân vừa được tạo thành vào ba cõi giới của nỗ lực nhân loại.

We have dealt with the method of individualisation through the coming in of the Lords of the Flame because it is the prime method in this solar system; whatever methods may be pursued in the varying schemes and chains, this—at the middle stage—is the universal rule. Karmic conditions having to do with a planetary Logos may effect modifications, and bring into action manasadevas whose activity may not be the same in working detail, but the results are ever similar, and the divine Egos in their causal bodies have analogous instruments to work through....

Chúng ta đã bàn đến phương pháp biệt ngã hóa qua sự xuất hiện của các Đấng Chúa Tể của Ngọn Lửa vì đó là phương pháp chủ yếu trong hệ mặt trời này; dù những phương pháp nào có thể được theo đuổi trong các hệ hành tinh và các dãy khác nhau, thì đây—ở giai đoạn giữa—vẫn là quy luật phổ quát. Những điều kiện nghiệp quả liên quan đến một Hành Tinh Thượng đế có thể tạo ra các biến đổi, và đưa vào hoạt động những manasadeva mà hoạt động của họ có thể không giống nhau trong chi tiết vận hành, nhưng kết quả luôn tương tự, và các chân ngã thiêng liêng trong các thể nguyên nhân của họ có những công cụ tương đồng để hoạt động qua đó....

A final point which is of profound significance is that the Agnishvattas construct the petals out of Their Own substance, which is substance energised by the principle [Page 712] of “I-ness,” or ahamkara. They proceed to energise the permanent atoms with Their own positive force, so as to bring the fifth spirilla in due course of time into full activity and usefulness. All possibility, all hopefulness and optimism, and all future success lies hid in these two points.

Một điểm sau cùng có ý nghĩa thâm sâu là các Agnishvatta kiến tạo các cánh hoa từ chính chất liệu của Các Ngài, tức chất liệu được tiếp sinh lực bởi nguyên khí [Page 712] “tính tôi,” hay ahamkara. Các Ngài tiếp tục tiếp sinh lực cho các nguyên tử trường tồn bằng mãnh lực dương của chính Các Ngài, để đến đúng thời điểm loa tuyến thứ năm đi vào hoạt động và công dụng trọn vẹn. Mọi khả năng, mọi niềm hy vọng và lạc quan, cùng mọi thành công tương lai đều ẩn giấu trong hai điểm này.

As we have seen, the work of the Agnishvattas on the mental plane resulted in a downflow of force or energy from the Monad (or Spirit) and this, in conjunction with the energy of the lower quaternary produced the appearance of the body of the Ego on the mental plane. In ordinary electric light, we have a faint illustration of the thought I seek to convey. By the approximation of the two polarities, light is created. By an analogous type of electrical phenomena, the light of the Monad shines forth, but we have to extend the idea to the subtler planes, and deal with seven types of force or energy in connection with the one polarity and with four in connection with the other. A scientific formula for the process of individualisation conveys this dual approximation with its differing types of energy in one symbol and a number, but it cannot here be revealed.

Như chúng ta đã thấy, công việc của các Agnishvatta trên cõi trí đã dẫn đến một dòng mãnh lực hay năng lượng tuôn xuống từ chân thần (hay Tinh thần), và điều này, phối hợp với năng lượng của bộ tứ thấp, đã tạo ra sự xuất hiện của thể của chân ngã trên cõi trí. Trong ánh sáng điện thông thường, chúng ta có một minh họa mờ nhạt cho tư tưởng mà tôi muốn truyền đạt. Do sự tiến gần của hai cực tính, ánh sáng được tạo ra. Bằng một loại hiện tượng điện tương tự, ánh sáng của chân thần chiếu rạng, nhưng chúng ta phải mở rộng ý niệm này lên các cõi vi tế hơn, và xét đến bảy loại mãnh lực hay năng lượng liên hệ với một cực tính và bốn loại liên hệ với cực tính kia. Một công thức khoa học cho tiến trình biệt ngã hóa diễn đạt sự tiến gần nhị nguyên này cùng các loại năng lượng khác nhau của nó trong một biểu tượng và một con số, nhưng ở đây không thể tiết lộ.

The Manasadevas are themselves energised by force from the cosmic mental plane—a force which has been in operation ever since the individualisation of the solar Logos in kalpas far distant. They, in Their corporate nature, embody the will or purpose of the Logos, and are the cosmic “prototypes” of our solar Angels. The solar Angels on the mental plane of the system embody as much of that will and purpose as the Logos can work through in one single incarnation and as They, in Their groups, can develop. They work, therefore, through egoic groups and primarily, after individualisation, upon the mental units of the separated identities who go to the constituency of the groups. This is Their secondary work. Their work in part might be described as follows:

Bản thân các Manasadeva được tiếp sinh lực bởi mãnh lực từ cõi trí vũ trụ—một mãnh lực đã hoạt động kể từ sự biệt ngã hóa của Thái dương Thượng đế trong những kalpa xa xăm. Trong bản chất tập thể của mình, họ thể hiện ý chí hay mục đích của Thượng đế, và là những “nguyên mẫu” vũ trụ của các Thái dương Thiên Thần của chúng ta. Các Thái dương Thiên Thần trên cõi trí của hệ thống thể hiện chừng nào ý chí và mục đích ấy mà Thượng đế có thể vận dụng qua trong một lần nhập thể duy nhất và chừng nào mà chính họ, trong các nhóm của mình, có thể phát triển. Vì vậy, họ hoạt động qua các nhóm chân ngã và chủ yếu, sau khi biệt ngã hóa, trên các đơn vị hạ trí của những bản sắc biệt lập tạo thành thành phần của các nhóm ấy. Đây là công việc thứ yếu của họ. Công việc của họ phần nào có thể được mô tả như sau:

[Page 713] Primarily, they bring about the union of the divine Ego and the lower personal self. This has been dealt with.

[Page 713] Trước hết, họ mang lại sự hợp nhất giữa chân ngã thiêng liêng và phàm ngã thấp. Điều này đã được bàn đến.

Secondly, they work through the mental units, impressing upon the atom that portion, microscopic as it may be, of the logoic purpose which the individual can work out on the physical plane. At first their influence is unconsciously assimilated, and the man responds to the plan blindly and ignorantly. Later, as evolution proceeds, their work is recognised by the man in a conscious co-operation with the plan of evolution. (238) After the third initiation, the will or purpose aspect predominates.

Thứ hai, họ hoạt động qua các đơn vị hạ trí, ghi khắc lên nguyên tử ấy phần mục đích của Thượng đế, dù vi mô đến đâu, mà cá nhân có thể thực hiện trên cõi hồng trần. Lúc đầu, ảnh hưởng của họ được đồng hoá một cách vô thức, và con người đáp ứng với Thiên Cơ một cách mù quáng và vô minh. Về sau, khi tiến hoá tiếp diễn, công việc của họ được con người nhận biết trong sự hợp tác có ý thức với Thiên Cơ tiến hoá. (238) Sau lần điểm đạo thứ ba, phương diện ý chí hay mục đích chiếm ưu thế.

(238) The Sacrificer or Yajamana. The yajamana is the person who has sacrificed himself for the good of the world and who has undertaken to mould the affairs of it, in obedience to the law. If the human body be taken as the sacrificial ground, the manas in him is the yajamana. All the doings of man in all his life from birth to death, form one grand yagnic process that is conducted by the true human entity called the Manas. He, who is willing to sacrifice his body, speech, and thought to the good of all the world, is a real yagnika and all the higher lokas are reserved for him. The central keynote of yagnika’s life is to do good unto all, irrespective of caste and creed even as the sun shines for all.—Some Thoughts on the Gita, page 90. (back)

(238) Người Hiến Tế hay Yajamana. Yajamana là người đã hi sinh chính mình vì lợi ích của thế gian và đã đảm nhận việc uốn nắn các sự vụ của thế gian ấy, trong sự tuân phục định luật. Nếu thân thể con người được xem như bãi hiến tế, thì manas trong y là yajamana. Mọi hành động của con người trong suốt cuộc đời từ sinh đến tử tạo thành một tiến trình yagnic vĩ đại được điều hành bởi thực thể nhân loại chân chính gọi là Manas. Người nào sẵn lòng hi sinh thân thể, lời nói và tư tưởng của mình cho lợi ích của toàn thế giới thì là một yagnika chân chính và mọi cõi loka cao hơn đều dành cho y. Chủ âm trung tâm của đời sống yagnika là làm điều thiện cho tất cả mọi người, bất kể giai cấp hay tín ngưỡng, cũng như mặt trời chiếu sáng cho tất cả.—Some Thoughts on the Gita, trang 90. (back)

It might here be noted that it is the positive force of the Manasadevas that produces initiation. Their function is embodied by the Hierophant. He, seeing before Him the vehicle for buddhi, passes the voltage from the higher planes through His body, and by means of the Rod (charged with positive manasic force) transmits this higher manasic energy to the initiate so that he is enabled to know consciously and to recognise the plan for his group-centre through the immensely increased stimulation. This force descends from the manasic permanent atom via the antaskarana and is directed to whichever centre the Hierophant—under the Law—sees should be stimulated. He stabilises the force, and regulates its flow as it circulates throughout the egoic Lotus, so that when the work of unfoldment is accomplished the sixth principle at the Heart of the Lotus can stand revealed. After each initiation the Lotus is more unfolded [Page 714] and light from the centre begins to blaze forth—a light or fire which ultimately burns through the three enshrining petals, and permits the full inner glory to be seen, and the electric fire of spirit to be manifested. As this is brought about on the second subplane of the mental plane (whereon the egoic lotus is now situated) a corresponding stimulation takes place in the dense substance which forms the petals or wheels of the centres on the astral and etheric levels.

Ở đây có thể lưu ý rằng chính mãnh lực dương của các Manasadeva tạo ra điểm đạo. Chức năng của họ được hiện thân bởi Đấng Điểm đạo. Ngài, khi thấy trước Ngài vận cụ dành cho Bồ đề, sẽ truyền điện thế từ các cõi cao qua thể của Ngài, và bằng Thần Trượng Điểm đạo (được nạp mãnh lực manas dương) truyền năng lượng manas cao này cho điểm đạo đồ để y có thể biết một cách hữu thức và nhận ra Thiên Cơ dành cho trung tâm nhóm của mình nhờ sự kích thích tăng lên vô cùng lớn. Mãnh lực này giáng xuống từ nguyên tử trường tồn manas qua antaskarana và được hướng đến bất cứ trung tâm nào mà Đấng Điểm đạo—dưới Định luật—thấy cần phải được kích thích. Ngài ổn định mãnh lực ấy, và điều hòa dòng chảy của nó khi nó tuần hoàn khắp Hoa sen chân ngã, để khi công việc khai mở được hoàn tất thì nguyên khí thứ sáu tại Tâm Hoa Sen có thể được mặc khải. Sau mỗi lần điểm đạo, Hoa Sen lại khai mở hơn và ánh sáng từ trung tâm bắt đầu bừng cháy—một ánh sáng hay ngọn lửa cuối cùng đốt xuyên qua ba cánh hoa bao bọc, cho phép toàn bộ vinh quang nội tại được nhìn thấy, và lửa điện của tinh thần được biểu lộ. Khi điều này được thực hiện trên cõi phụ thứ hai của cõi trí (nơi hoa sen chân ngã hiện tọa lạc) thì một sự kích thích tương ứng diễn ra trong chất liệu đậm đặc tạo thành các cánh hoa hay các bánh xe của các trung tâm ở các cấp độ cảm dục và dĩ thái.[Page 714]

(b.) Individualisation and the races. If this treatise serves no other purpose than to direct the attention of the scientific and philosophic students to the study of force or energy in man and in groups, and to interpret man and the human family in terms of electrical phenomena, much good will have been accomplished. The polarity of a man, of a group, and of a congery of groups, the polarity of the planets and their relationship to each other and to the Sun, the polarity of the solar system and its relationship to other systems, the polarity of one plane to another, and of one principle to another, the polarity of the subtler vehicles, and the scientific application of the laws of electricity to the totality of existence on the physical plane will bring about a revolution upon the planet second only to that effected at the time of individualisation. I would point out here a certain significant fact which students will do well carefully to consider.

(b.) Biệt ngã hóa và các nhân loại. Nếu chuyên luận này không phục vụ mục đích nào khác ngoài việc hướng sự chú ý của các đạo sinh khoa học và triết học đến việc nghiên cứu mãnh lực hay năng lượng trong con người và trong các nhóm, và diễn giải con người cùng gia đình nhân loại theo các hiện tượng điện, thì cũng đã đạt được nhiều điều tốt đẹp. Cực tính của một con người, của một nhóm, và của một tập hợp các nhóm, cực tính của các hành tinh và mối liên hệ của chúng với nhau và với Mặt Trời, cực tính của hệ mặt trời và mối liên hệ của nó với các hệ khác, cực tính của cõi này với cõi khác, và của nguyên khí này với nguyên khí khác, cực tính của các vận cụ vi tế hơn, cùng việc áp dụng khoa học các định luật điện vào toàn thể hiện hữu trên cõi hồng trần sẽ mang lại một cuộc cách mạng trên hành tinh chỉ đứng sau cuộc cách mạng đã diễn ra vào thời kỳ biệt ngã hóa. Ở đây tôi muốn chỉ ra một sự kiện có ý nghĩa mà các đạo sinh nên cẩn trọng suy xét.

In the third rootrace (239) individualisation took place.

Trong giống dân gốc thứ ba (239) đã diễn ra biệt ngã hóa.

(239) Root races. The Secret Doctrine teaches that these seven groups of human units inhabit seven continents during evolution.—S. D., II, 6, 7, 8.

(239) Các giống dân gốc. Giáo Lý Bí Nhiệm dạy rằng bảy nhóm đơn vị nhân loại này cư ngụ trên bảy châu lục trong tiến trình tiến hoá.—S. D., II, 6, 7, 8.

a. First race...........The Imperishable Sacred Land.

a. Giống dân thứ nhất...........Vùng Đất Thiêng Bất Hoại.

b. The 2nd race........The Hyperborean Land.

b. Giống dân thứ 2........Vùng Đất Hyperborea.

c. The 3rd race........ Lemurian.

c. Giống dân thứ 3........ Lemuria.

d. The 4th race........ Atlantean.

d. Giống dân thứ 4........ Atlantis.

e. The 5th race........ Aryan.

e. Giống dân thứ 5........ Arya.

f. Two more races will succeed the present one. (back)

f. Sẽ còn hai giống dân nữa tiếp nối giống dân hiện nay. (back)

It was an event which became possible through certain conditions and polar relationships, and because the scientific laws were understood and the Knowers took [Page 715] advantage of a peculiar electrical condition to hasten the evolution of the race. It was electrical phenomena of a stupendous kind, and produced the “lights which ever burn.” It was the result of the knowledge of natural law and its adaptation to opportunity.

Đó là một biến cố trở nên khả hữu nhờ những điều kiện nhất định và những tương quan cực tính, và vì các định luật khoa học đã được thấu hiểu nên các thức giả đã [Page 715] tận dụng một điều kiện điện đặc biệt để thúc đẩy nhanh sự tiến hoá của nhân loại. Đó là những hiện tượng điện có quy mô phi thường, và đã tạo ra “những ánh sáng luôn cháy.” Đó là kết quả của tri thức về định luật tự nhiên và sự thích ứng của nó với cơ hội.

In the fourth rootrace another adaptation of force occurred. Again time and opportunity were taken advantage of to open the door into the fifth kingdom by the method of forced initiation. A third type of electricity played its part in bringing about this event, and it is the effect of this electrical phenomenon upon the units (who are themselves centres of energy) which—scientifically viewed—indicates a man’s suitability for the ceremony of initiation, and his availability as a transmitter of spiritual energy to the world. Every initiate is technically a transmitter of force and his work is consequently threefold:

Trong giống dân gốc thứ tư đã xảy ra một sự thích ứng khác của mãnh lực. Một lần nữa, thời gian và cơ hội đã được tận dụng để mở cánh cửa vào giới thứ năm bằng phương pháp điểm đạo cưỡng bức. Một loại điện thứ ba đã góp phần tạo nên biến cố này, và chính tác động của hiện tượng điện này lên các đơn vị (vốn tự chúng là những trung tâm năng lượng) — xét theo khoa học — cho thấy sự thích hợp của một người đối với nghi lễ điểm đạo, và khả năng của y như một kẻ truyền dẫn năng lượng tinh thần cho thế giới. Mỗi điểm đạo đồ về mặt kỹ thuật đều là một kẻ truyền dẫn mãnh lực và vì thế công việc của y có tính tam phân:

1. To provide a threefold vehicle capable of the necessary resistance to the force and able to receive and hold it.

1. Cung cấp một vận cụ tam phân có khả năng chịu được sức kháng cần thiết đối với mãnh lực và có thể tiếp nhận và giữ nó.

2. To transmit it as energy to the world which he serves.

2. Truyền nó như năng lượng đến thế giới mà y phụng sự.

3. To store up a certain amount of it for a twofold purpose:

3. Tích trữ một lượng nhất định của nó cho mục đích nhị phân:

a. To provide a reservoir of force for emergencies and for special work as required by the Great Ones.

a. Tạo ra một hồ chứa mãnh lực cho những tình huống khẩn cấp và cho công việc đặc biệt theo yêu cầu của Các Đấng Cao Cả.

b. To act as a dynamo for the immediate group which all advanced souls, disciples and initiates gather around them on some one or other of the planes in the three worlds.

b. Hoạt động như một máy phát điện cho nhóm trực tiếp mà mọi linh hồn tiến hóa, đệ tử và điểm đạo đồ đều quy tụ quanh mình trên cõi này hay cõi khác trong ba cõi thấp.

In the fifth rootrace, another tremendous happening may be looked for, and the time lies immediately ahead. It had its beginning in the energy which eventually culminated in the world war. The first effect of the appearance of fresh electrical stimulation from extra-systemic [Page 716] centres, is ever to bring about a primary destruction leading on to revelation. That which is imprisoned must be loosed. So it will be in this rootrace, the fifth. Certain cosmic forces are at work and the full effect of their energy is not yet apparent. This incoming force, the Hierarchy will avail itself of in order to push forward the planetary plans. In every case the effect of the phenomenon is felt in some one or other of the kingdoms beside the human. In the individualisation period, it is apparent that a tremendous stimulation took place in the animal kingdom—a stimulation which has persisted, and which has led to the phenomenon of “domestic animals” as we call them, and their relatively high stage of intelligence as compared to the wild animals. In Atlantean days the opening of the door into the fifth kingdom, or into the stage of buddhic consciousness, had a profound effect upon the vegetable kingdom. This effect can be seen working out in such results as are achieved by Burbank, and which are of a nature corresponding to the initiatory process in man, involving a rapid achievement of relative perfection.

Trong giống dân gốc thứ năm, có thể trông đợi một biến cố to lớn khác, và thời điểm ấy đang ở ngay phía trước. Nó đã khởi đầu trong năng lượng cuối cùng lên đến tột đỉnh trong cuộc thế chiến. Tác động đầu tiên của sự xuất hiện một kích thích điện mới từ các trung tâm [Page 716] ngoài hệ thống luôn là gây ra một sự hủy diệt ban đầu dẫn đến mặc khải. Điều bị giam hãm phải được giải phóng. Trong giống dân gốc này, giống dân thứ năm, cũng sẽ như vậy. Một số mãnh lực vũ trụ đang hoạt động và tác động trọn vẹn của năng lượng của chúng vẫn chưa biểu lộ rõ. Thánh đoàn sẽ tận dụng mãnh lực đang đi vào này để thúc đẩy các kế hoạch hành tinh. Trong mọi trường hợp, tác động của hiện tượng ấy được cảm nhận trong một giới nào đó ngoài giới nhân loại. Trong thời kỳ biệt ngã hóa, rõ ràng là đã có một sự kích thích to lớn diễn ra trong giới động vật—một sự kích thích vẫn còn kéo dài, và đã dẫn đến hiện tượng “thú nuôi trong nhà” như chúng ta gọi, cùng trình độ trí tuệ tương đối cao của chúng so với thú hoang. Trong thời Atlantis, việc mở cánh cửa vào giới thứ năm, hay vào giai đoạn tâm thức Bồ đề, đã có một tác động sâu sắc lên giới thực vật. Tác động này có thể thấy đang biểu hiện qua những kết quả mà Burbank đạt được, vốn có bản chất tương ứng với tiến trình điểm đạo nơi con người, bao hàm sự đạt đến nhanh chóng một mức hoàn thiện tương đối.

In the tremendous event which is impending, in the great revelation which is near at hand, the Hierarchy will again take advantage of the time and the energy to bring about certain events which will work out primarily in the human kingdom but which will also be seen as force regeneration in the mineral kingdom. The energy, when first felt in the human kingdom, brought about the conditions which caused the tremendous activity which resulted in war, and which is causing the present world stress; in the mineral kingdom it affected certain of the minerals and elements, and the radioactive substances made their appearance. This characteristic (or radioactivity) of pitchblende and the other involved units is comparatively a new development under the evolutionary law, and one which, though latent, only [Page 717] needed the drawing forth of the type of energy now beginning to pour in on the earth. This force began to flow in at the end of the eighteenth century, and its full effect is by no means yet felt, for it will be several hundred years before it passes away. By means of it, certain discoveries are possible, and the new order comes in upon it. The Great Ones, Who know the time and the hour, will bring about, in our rootrace, that which corresponds to the occurrences in the earlier third and fourth races.

Trong biến cố to lớn đang cận kề, trong cuộc mặc khải vĩ đại đang ở gần trước mắt, Thánh đoàn sẽ lại tận dụng thời gian và năng lượng để tạo ra một số biến cố trước hết sẽ biểu hiện trong giới nhân loại nhưng cũng sẽ được thấy như sự tái sinh lực của mãnh lực trong giới kim thạch. Năng lượng ấy, khi lần đầu được cảm nhận trong giới nhân loại, đã tạo ra những điều kiện gây nên hoạt động mãnh liệt dẫn đến chiến tranh, và đang gây ra sự căng thẳng thế giới hiện nay; trong giới kim thạch, nó tác động lên một số khoáng chất và nguyên tố, và các chất phóng xạ đã xuất hiện. Đặc tính này (hay tính phóng xạ) của pitchblende và các đơn vị liên quan khác tương đối là một sự phát triển mới dưới định luật tiến hoá, và tuy tiềm ẩn, nhưng chỉ [Page 717] cần được lôi ra bởi loại năng lượng hiện đang bắt đầu tuôn vào trái đất. Mãnh lực này bắt đầu tuôn vào từ cuối thế kỷ mười tám, và tác động trọn vẹn của nó còn lâu mới được cảm nhận hết, vì phải vài trăm năm nữa nó mới qua đi. Nhờ nó, một số khám phá trở nên khả hữu, và trật tự mới đi vào trên nền tảng đó. Các Đấng Cao Cả, những Đấng biết thời gian và giờ khắc, sẽ tạo ra trong giống dân gốc của chúng ta điều tương ứng với những biến cố trong các giống dân thứ ba và thứ tư trước kia.

(c.) Methods of Individualisation. We have seen how the characteristic method of individualisation in this solar system is the result of force emanating from the cosmic mental plane, which sweeps into activity those entities whose function it is to form the body of the ego out of their own living substance on the mental plane and thus, through their own quality and nature, endow human units on the physical plane with the faculty of self-consciousness, thus producing Man. It is their work also to energise the mental units of all men, and to co-ordinate, by means of the force which they embody, and to energise the sheaths of the threefold lower man, so that they may in due course of time intelligently express the will and purpose of the indwelling Thinker. Through the carrying out of this function in the case of the human family, certain planetary and systemic conditions are brought about. The dense and etheric bodies of the Logos and of the planetary Logoi are merged, and one coherent vehicle of expression is provided for these cosmic Entities.

(c.) Các phương pháp biệt ngã hóa. Chúng ta đã thấy phương pháp đặc trưng của biệt ngã hóa trong hệ mặt trời này là kết quả của mãnh lực phát ra từ cõi trí vũ trụ, quét vào hoạt động những thực thể có chức năng tạo thành thể của chân ngã từ chính chất liệu sống của họ trên cõi trí và nhờ đó, qua chính phẩm tính và bản chất của họ, phú cho các đơn vị nhân loại trên cõi hồng trần năng lực ngã thức, nhờ đó tạo ra Con Người. Công việc của họ cũng là tiếp sinh lực cho các đơn vị hạ trí của mọi người, và điều hợp, bằng mãnh lực mà họ thể hiện, đồng thời tiếp sinh lực cho các vỏ bọc của phàm nhân tam phân, để đến đúng thời điểm chúng có thể biểu lộ một cách thông minh ý chí và mục đích của Đấng Tư Tưởng nội tại. Qua việc thực hiện chức năng này trong trường hợp gia đình nhân loại, một số điều kiện hành tinh và hệ thống được tạo ra. Các thể đậm đặc và dĩ thái của Thượng đế và của các Hành Tinh Thượng đế được hòa nhập, và một vận cụ biểu lộ nhất quán được cung cấp cho các Thực Thể vũ trụ này.

In the producing of self-consciousness in the human family, the full conscious occupation by the Logos involved is consummated. It is the moment of fruition, and (from a certain esoteric standpoint) marks the attainment of one perfected Septenary. The three involutionary or elemental kingdoms and the three sub-human [Page 718] kingdoms find their seventh principle in the fourth kingdom in nature, 3 + 4 = 7. When the life of God has circled through these seven kingdoms, then full self-consciousness is achieved from a certain relative standpoint, and the Son is on the way to attainment. This relative perfection has then to be carried on to other stages, but they are stages in which the separated self-consciousness of the Identities concerned (whether human or planetary) must eventually merge itself in universal consciousness.

Trong việc tạo ra ngã thức trong gia đình nhân loại, sự chiếm hữu hoàn toàn có ý thức của Thượng đế liên quan được hoàn tất. Đó là khoảnh khắc kết quả viên mãn, và (theo một quan điểm huyền bí nhất định) đánh dấu sự đạt thành một Thất Phân hoàn hảo. Ba giới giáng hạ tiến hoá hay giới hành khí và ba giới dưới nhân loại [Page 718] tìm thấy nguyên khí thứ bảy của chúng trong giới thứ tư trong thiên nhiên, 3 + 4 = 7. Khi Sự sống của Thượng đế đã tuần hoàn qua bảy giới này, thì ngã thức trọn vẹn được đạt đến từ một quan điểm tương đối nhất định, và Người Con đang trên đường đạt thành. Sự hoàn thiện tương đối này sau đó phải được tiếp tục đến các giai đoạn khác, nhưng đó là những giai đoạn trong đó ngã thức biệt lập của các Bản Sắc liên hệ (dù là nhân loại hay hành tinh) cuối cùng phải hòa nhập vào tâm thức phổ quát.

Certain centres in the bodies logoic and planetary are also stimulated and the Rays (if it might be so expressed) become radioactive. It is this radiation which will eventually bring about conscious group activity, which will lead to interaction between the planets, and which, under the Law of Attraction and Repulsion, will bring about eventual synthesis.

Một số trung tâm trong các thể của Thượng đế và hành tinh cũng được kích thích và các cung (nếu có thể diễn đạt như vậy) trở nên có tính phóng xạ. Chính bức xạ này cuối cùng sẽ mang lại hoạt động nhóm có ý thức, dẫn đến sự tương tác giữa các hành tinh, và dưới Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi, sẽ mang lại sự tổng hợp sau cùng.

On extra-systemic or cosmic levels, the individualisation process produces a corresponding activity in the egoic body of the Logos, and hence increased vibration in that centre in the body of the ONE ABOUT WHOM NOUGHT MAY BE SAID, which our Logos represents. It also produces a reaction or “occult recognition” in the prototype of the Septenate, or in the seven Rishis of the Great Bear, and this reaction in cosmic circles will persist until the end of the mahamanvantara, when the Logos is set free (even though temporarily), from physical plane existence.

Trên các cấp độ ngoài hệ thống hay vũ trụ, tiến trình biệt ngã hóa tạo ra một hoạt động tương ứng trong thể chân ngã của Thượng đế, và do đó làm tăng rung động trong trung tâm ấy trong thể của Đấng Bất Khả Tư Nghị mà Thượng đế của chúng ta đại diện. Nó cũng tạo ra một phản ứng hay “sự nhận biết huyền bí” trong nguyên mẫu của Thất Phân, hay trong bảy vị Rishi của Đại Hùng Tinh, và phản ứng này trong các vòng tròn vũ trụ sẽ kéo dài cho đến hết Đại giai kỳ sinh hóa, khi Thượng đế được giải thoát (dù chỉ tạm thời) khỏi sự hiện hữu trên cõi hồng trần.

It also brings about a setting loose of force from the cosmic mental plane which is cyclic in character. In this round, the fourth, the maximum force of this cycle was felt in the third root race. In the next round, during the fourth root race, and for a very brief period, a fresh cycle will reach its zenith, and will again open the door of individualisation in order to permit the entry of certain very advanced Egos who are seeking [Page 719] incarnation in order to carry out a special piece of work. This round will provide no bodies adequate to their need. The next round may do so if the plans proceed as anticipated. In this case the Manasadevas concerned will not individualise animal men as in the previous round, but will stimulate the mental germ in those members of the present human family who—as H. P. B. says—though apparently men, are without the spark of mind. (240)

Nó cũng gây ra sự giải phóng một mãnh lực từ cõi trí vũ trụ có tính chu kỳ. Trong cuộc tuần hoàn này, cuộc tuần hoàn thứ tư, mãnh lực tối đa của chu kỳ này đã được cảm nhận trong giống dân gốc thứ ba. Trong cuộc tuần hoàn kế tiếp, trong giống dân gốc thứ tư, và trong một thời kỳ rất ngắn, một chu kỳ mới sẽ đạt đến cực điểm, và sẽ lại mở cánh cửa biệt ngã hóa để cho phép một số chân ngã rất tiến hóa đi vào [Page 719] lâm phàm nhằm thực hiện một công việc đặc biệt. Cuộc tuần hoàn này sẽ không cung cấp những thể thích hợp với nhu cầu của họ. Cuộc tuần hoàn kế tiếp có thể làm được điều đó nếu các kế hoạch tiến triển như dự kiến. Trong trường hợp này, các Manasadeva liên hệ sẽ không biệt ngã hóa những người thú như trong cuộc tuần hoàn trước, mà sẽ kích thích mầm trí tuệ nơi những thành viên của gia đình nhân loại hiện nay mà—như H. P. B. nói—dù bề ngoài là người, nhưng không có tia lửa trí tuệ. (240)

(240) Such are the Veddhas of Ceylon, the Bushman of Australia, and certain of the lowest of the African races. See S. D., II, 206, 300, 439. (back)

(240) Đó là những người Veddhas ở Ceylon, người Bushman ở Australia, và một số chủng tộc thấp nhất ở châu Phi. Xem S. D., II, 206, 300, 439. (back)

During the next seven hundred years, these low aboriginal races will practically die out and will not—in this round—reincarnate. They will be rejected. In the next round opportunity will again occur, and the Manasadevas will again renew their work of forming individualistic nuclei for the development of self-consciousness. The Egos awaiting opportunity will not, of course, enter in until the human type of that era is sufficiently refined for their purpose. They are concerned with the unfoldment of the sixth petal of the logoic egoic Lotus, and are of such a nature that we can scarcely conceive of them. They are on the line of the Buddhas of Activity, but the above named are free for this mahamanvantara, whereas these particular Egos have yet somewhat to work out. They could only “come in” in the middle of the fifth round, and were a group of initiates who arrested their own evolution (technically speaking) in order to take up a special piece of work on the planet Vulcan; therefore, they must return to continue and complete that which has been left undone. Owing to the results of their experience on Vulcan, the physical vehicle necessitated is of such an order that they could not at this time, and in this round, incarnate without disaster.

Trong bảy trăm năm tới, các giống dân thổ dân thấp kém này trên thực tế sẽ tuyệt chủng và sẽ không—trong cuộc tuần hoàn này—tái sinh. Họ sẽ bị loại bỏ. Trong cuộc tuần hoàn kế tiếp, cơ hội sẽ lại đến, và các Manasadeva sẽ lại tiếp tục công việc tạo thành các hạt nhân biệt ngã cho sự phát triển ngã thức. Dĩ nhiên, các chân ngã đang chờ cơ hội sẽ không đi vào cho đến khi loại hình nhân loại của thời đại ấy được tinh luyện đủ cho mục đích của họ. Họ liên quan đến sự khai mở cánh hoa thứ sáu của Hoa Sen chân ngã của Thượng đế, và có bản chất đến mức chúng ta hầu như không thể hình dung được. Họ thuộc tuyến của các Đức Phật Hoạt Động, nhưng các Đấng vừa nêu ở trên thì tự do trong Đại giai kỳ sinh hóa này, còn các chân ngã đặc thù này vẫn còn đôi điều phải hoàn tất. Họ chỉ có thể “đi vào” vào giữa cuộc tuần hoàn thứ năm, và là một nhóm điểm đạo đồ đã tự đình lại sự tiến hoá của chính mình (nói theo thuật ngữ kỹ thuật) để đảm nhận một công việc đặc biệt trên hành tinh Vulcan; vì thế, họ phải trở lại để tiếp tục và hoàn tất điều đã bị bỏ dở. Do kết quả kinh nghiệm của họ trên Vulcan, vận cụ hồng trần cần thiết có trật tự đến mức hiện nay, và trong cuộc tuần hoàn này, họ không thể nhập thể mà không gây tai họa.

Individualisation in the next round will begin to show indications of the third method,—that of the next system. [Page 720] This method has been described as that of “occult abstraction.” It will concern itself with the withdrawal from out of the lowest type of the then existing men (through knowledge of the etheric constitution of the body) of the vitality latent in it, and a temporary turning of that latent fire to the increase of the activity of the germ or spark of mind; this will be effected by a dynamic action of the will. This seems impossible, and well nigh senseless phraseology when considered in terms of consciousness and of spirituality, but let the student study the phenomenon in terms of the cosmic physical plane, and from the standpoint of the gaseous and etheric subplanes, and he will see that in all these septenary fires it is ever the fire of matter in reality, and these sevenfold diversifications of electrical phenomena can ever affect each other.

Biệt ngã hóa trong cuộc tuần hoàn kế tiếp sẽ bắt đầu cho thấy dấu hiệu của phương pháp thứ ba,—phương pháp của hệ thống kế tiếp. [Page 720] Phương pháp này đã được mô tả là phương pháp “trừu xuất huyền bí.” Nó sẽ liên quan đến việc rút ra khỏi loại người thấp nhất lúc bấy giờ đang tồn tại (thông qua tri thức về cấu tạo dĩ thái của thể) sinh lực tiềm ẩn trong đó, và tạm thời chuyển ngọn lửa tiềm ẩn ấy sang làm tăng hoạt động của mầm hay tia lửa trí tuệ; điều này sẽ được thực hiện bằng một tác động năng động của ý chí. Điều này có vẻ bất khả và gần như vô nghĩa khi xét theo tâm thức và tinh thần, nhưng hãy để đạo sinh nghiên cứu hiện tượng ấy theo các thuật ngữ của cõi hồng trần vũ trụ, và từ quan điểm của các cõi phụ khí và dĩ thái, thì y sẽ thấy rằng trong tất cả các ngọn lửa thất phân này, thực ra luôn là lửa của vật chất, và các biến phân thất phân này của hiện tượng điện luôn có thể tác động lẫn nhau.

Thus, in the mahamanvantara, the three methods of individualisation in connection with our planetary scheme are to be seen

Như vậy, trong Đại giai kỳ sinh hóa, có thể thấy ba phương pháp biệt ngã hóa liên hệ với hệ hành tinh của chúng ta

a. In the Moon chain, the gradual evolution of self-consciousness under natural law.

a. Trong Dãy Mặt Trăng, sự tiến hoá dần dần của ngã thức dưới định luật tự nhiên.

b. In the Earth chain that of achieved self-consciousness through the aid of extraneous agencies. It is the distinctive method of this system.

b. Trong Dãy Địa Cầu là ngã thức đạt được nhờ sự trợ giúp của các tác nhân bên ngoài. Đó là phương pháp đặc thù của hệ thống này.

c. In the next round and chain the method will be abstraction through will power, but this in an embryonic manner.

c. Trong cuộc tuần hoàn và dãy kế tiếp phương pháp sẽ là trừu xuất bằng quyền năng ý chí, nhưng theo cách phôi thai.

I have dealt with these three from the standpoint of our own scheme. In all the schemes whereon man is found at some period or another, these three methods will be contacted. They mark the gradual control by the Logos on cosmic levels of His threefold lower nature. In the first, the correspondence lies in the latent consciousness of matter, and works under the Law of Economy. It concerns primarily the Self-consciousness of the Logos [Page 721] in His dense physical body, and His polarisation therein. It is likewise the same for a Heavenly Man, and a part of the mystery of evil is to be found in the readiness of certain of these cosmic entities (particularly our planetary Logos in the moon chain) to remain polarised in the physical etheric body after having supposedly dominated the material aspect, or gained the control of the third Fire in an earlier system. A hint lies here for the wise student anent present evil on this planet.

Tôi đã bàn đến ba phương pháp này từ quan điểm của hệ hành tinh riêng của chúng ta. Trong mọi hệ hành tinh nơi con người được tìm thấy vào giai đoạn này hay giai đoạn khác, ba phương pháp này đều sẽ được tiếp xúc. Chúng đánh dấu sự kiểm soát dần dần của Thượng đế trên các cấp độ vũ trụ đối với bản chất thấp tam phân của Ngài. Trong phương pháp thứ nhất, sự tương ứng nằm trong tâm thức tiềm ẩn của vật chất, và hoạt động dưới Định luật Tiết Kiệm. Nó chủ yếu liên quan đến ngã thức của Thượng đế trong thể hồng trần đậm đặc của Ngài, và sự phân cực của Ngài trong đó. Điều này cũng tương tự đối với một Đấng Thiên Nhân, và một phần của huyền nhiệm về điều ác có thể được tìm thấy trong sự sẵn lòng của một số thực thể vũ trụ này (đặc biệt là Hành Tinh Thượng đế của chúng ta trong Dãy Mặt Trăng) tiếp tục phân cực trong thể dĩ thái hồng trần sau khi được cho là đã chế ngự phương diện vật chất, hay đã đạt quyền kiểm soát ngọn Lửa thứ ba trong một hệ thống trước đó. Ở đây có một gợi ý cho đạo sinh minh triết liên quan đến điều ác hiện nay trên hành tinh này.[Page 721]

The second correspondence concerns the latent “consciousness of desire,” and works under the Law of Attraction; it is the law for this system, and deals with the ability of the Logos to “love wisely,” in the occult sense of the term. It has relation to the polarisation of the Logos in His astral body, and produces the phenomenon called “sex activity” on all planes in the system. In the earlier system, emancipation was effected through the faculty of discrimination, though that word as used to-day is but a faint indication of the systemic process in those days. Through the force engendered during the process that vibration was set up which persists to-day in matter. It is evidenced by the active intelligence and the discriminative selective capacity of the atom of substance. In this system emancipation will be brought about through the line of occult dispassion; this likewise will leave its mark upon matter, tinging it in such a way that in the third system, primordial substance will demonstrate a second quality. In the next system “non-attachment through abstraction” is as near as we can get to the method of the liberating process but it is useless for man to speculate upon this as his mind cannot conceive of the condition.

Sự tương ứng thứ hai liên quan đến “tâm thức của dục vọng” tiềm ẩn, và hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn; đó là định luật của hệ thống này, và liên quan đến khả năng của Thượng đế “yêu thương một cách minh triết,” theo nghĩa huyền bí của thuật ngữ ấy. Nó có liên hệ với sự phân cực của Thượng đế trong thể cảm dục của Ngài, và tạo ra hiện tượng gọi là “hoạt động tính dục” trên mọi cõi trong hệ thống. Trong hệ thống trước, sự giải thoát đã được thực hiện qua năng lực phân biện, dù từ ấy như được dùng ngày nay chỉ là một chỉ dấu mờ nhạt về tiến trình hệ thống trong những thời kỳ đó. Qua mãnh lực được tạo ra trong tiến trình ấy, rung động đó đã được thiết lập và vẫn còn tồn tại trong vật chất cho đến ngày nay. Nó được chứng tỏ qua trí thông minh hoạt động và năng lực chọn lọc phân biện của nguyên tử chất liệu. Trong hệ thống này, sự giải thoát sẽ được mang lại qua con đường vô dục huyền bí; điều này cũng sẽ để lại dấu ấn của nó trên vật chất, nhuộm nó theo cách mà trong hệ thống thứ ba, chất liệu nguyên sơ sẽ biểu lộ một phẩm tính thứ hai. Trong hệ thống kế tiếp, “vô chấp qua trừu xuất” là cách gần nhất mà chúng ta có thể diễn đạt phương pháp của tiến trình giải thoát, nhưng con người suy đoán về điều này là vô ích vì trí tuệ của y không thể hình dung được trạng thái ấy.

S6S12

(d.) Avatars, Their nature and Their Work. We have, in our discussion above, connected the phenomenon of individualisation with the appropriation by the Logos, or by a planetary Logos, of Their dense physical vehicles, [Page 722] and Their self-conscious existence through the medium of the physical body. A very difficult and mysterious subject might be touched upon here,—that of AVATARS, and though it will not be possible for us to expound it fully, as it is one of the most occult and secret of the mysteries, perhaps a little light may be thrown upon this profound subject. For purposes of clarity and in order to elucidate a matter of extreme difficulty to the occidental mind above all (on account of the fact that it has not yet grasped the rationale of the process of reincarnation), it would be wise to divide the differing types of avatars into five groups, bearing in mind that every avatar is a Ray, emanated from a pure spiritual source, and that a self-conscious entity only earns the right to this peculiar form of work through a previous series of lives of achievement.

(d.) Các Đấng Hoá Thân, bản chất và Công việc của Các Ngài. Trong phần bàn luận trên, chúng ta đã liên kết hiện tượng biệt ngã hóa với việc Thượng đế, hay một Hành Tinh Thượng đế, chiếm hữu các vận cụ hồng trần đậm đặc của Các Ngài, [Page 722] và sự hiện hữu ngã thức của Các Ngài qua trung gian thể hồng trần. Ở đây có thể chạm đến một chủ đề rất khó và huyền nhiệm,—đó là các Đấng Hoá Thân, và dù chúng ta không thể trình bày đầy đủ, vì đó là một trong những huyền nhiệm huyền bí và bí mật nhất, có lẽ vẫn có thể soi rọi đôi chút ánh sáng lên chủ đề thâm sâu này. Vì mục đích minh bạch và để làm sáng tỏ một vấn đề cực kỳ khó đối với tâm trí phương Tây trên hết (do thực tế là nó vẫn chưa nắm được căn cứ hợp lý của tiến trình tái sinh), sẽ là khôn ngoan nếu chia các loại Đấng Hoá Thân khác nhau thành năm nhóm, đồng thời ghi nhớ rằng mỗi Đấng Hoá Thân là một cung, phát ra từ một nguồn tinh thần thuần khiết, và rằng chỉ một thực thể ngã thức mới giành được quyền đối với hình thức công việc đặc thù này qua một chuỗi đời sống thành tựu trước đó.

1. Cosmic Avatars.

1. Các Đấng Hoá Thân vũ trụ.

2. Solar Avatars.

2. Các Đấng Hoá Thân thái dương.

3. Inter-planetary Avatars.

3. Các Đấng Hoá Thân liên hành tinh.

4. Planetary Avatars.

4. Các Đấng Hoá Thân hành tinh.

5. Human Avatars.

5. Các Đấng Hoá Thân nhân loại.

As just said, an avatar is a Ray of effulgent and perfected glory, clothing itself in matter for the purpose of service. All avatars in the strict sense of the word are liberated souls, but the cosmic and solar avatars are liberated from the two lower planes of the cosmic planes. While the planetary and the interplanetary avatars are liberated from the cosmic physical plane, our systemic planes, the human avatar has achieved freedom from the five planes of human endeavour. In a strictly technical and lower sense, a Master in physical plane incarnation is a type of avatar, for He is a “freed soul” and therefore only chooses to incarnate for specific purpose, but we [Page 723] will not deal with Them. Let us again subdivide these groups so as still further to clarify our ideas:

Như vừa nói, một Đấng Hoá Thân là một cung của vinh quang rực sáng và hoàn hảo, khoác lấy vật chất vì mục đích phụng sự. Mọi Đấng Hoá Thân theo nghĩa nghiêm ngặt của từ này đều là những linh hồn được giải thoát, nhưng các Đấng Hoá Thân vũ trụ và thái dương được giải thoát khỏi hai cõi thấp của các cõi vũ trụ. Trong khi đó, các Đấng Hoá Thân hành tinh và liên hành tinh được giải thoát khỏi cõi hồng trần vũ trụ, tức các cõi của hệ thống chúng ta, còn Đấng Hoá Thân nhân loại đã đạt tự do khỏi năm cõi của nỗ lực nhân loại. Theo nghĩa kỹ thuật nghiêm ngặt và thấp hơn, một Chân sư đang lâm phàm trên cõi hồng trần là một loại Đấng Hoá Thân, vì Ngài là một “linh hồn được giải thoát” và do đó chỉ chọn nhập thể vì một mục đích đặc thù, nhưng chúng ta [Page 723] sẽ không bàn đến Các Ngài. Chúng ta hãy lại chia nhỏ các nhóm này để làm sáng tỏ hơn nữa các ý niệm của mình:

1. Cosmic Avatars: They represent embodied force from the following cosmic centres among others:

1. Các Đấng Hoá Thân vũ trụ: Các Ngài đại diện cho mãnh lực nhập thể từ những trung tâm vũ trụ sau đây, cùng những trung tâm khác:

a. Sirius.

a. Sirius.

b. That one of the seven stars of the Great Bear which is ensouled by the prototype of the Lord of our third major Ray.

b. Ngôi sao trong bảy ngôi sao của Đại Hùng Tinh được phú linh bởi nguyên mẫu của Đấng Chúa Tể cung chính thứ ba của chúng ta.

c. Our cosmic centre.

c. Trung tâm vũ trụ của chúng ta.

They represent entities as far removed from the consciousness of Man, as man is from the consciousness of the atom of substance. Thousands of those great cycles which we call “a hundred years of Brahma” have passed since They approximated the human stage, and They embody force and consciousness which is concerned with the intelligent co-ordination of the starry Heavens.

Các Ngài đại diện cho những thực thể cách xa tâm thức của Con Người cũng như con người cách xa tâm thức của nguyên tử chất liệu. Hàng ngàn đại chu kỳ mà chúng ta gọi là “một trăm năm của Brahma” đã trôi qua kể từ khi Các Ngài tiến gần giai đoạn nhân loại, và Các Ngài thể hiện mãnh lực và tâm thức liên quan đến sự điều hợp thông minh của các Thiên giới đầy sao.

They have achieved all that man can conceive of as the transcendence of will, of love and of intelligence, and in the synthesis of those three have added qualities and vibrations for which we have no terms, and which cannot be visioned by even our highest adepts. Their appearance in a solar system is very unusual, and is only recognised on the highest two planes. Yet, owing to the material nature of our solar system, Their advent is literally the appearance in a physical form of a spiritual Being Who is fully conscious.

Các Ngài đã đạt được mọi điều mà con người có thể hình dung là sự siêu vượt của ý chí, của bác ái và của trí tuệ, và trong sự tổng hợp của ba điều ấy, Các Ngài đã thêm vào những phẩm tính và rung động mà chúng ta không có từ ngữ để diễn tả, và ngay cả các chân sư cao nhất của chúng ta cũng không thể có linh ảnh về chúng. Sự xuất hiện của Các Ngài trong một hệ mặt trời là điều rất hiếm, và chỉ được nhận biết trên hai cõi cao nhất. Tuy nhiên, do bản chất vật chất của hệ mặt trời chúng ta, sự giáng lâm của Các Ngài theo nghĩa đen là sự xuất hiện trong một hình tướng hồng trần của một Thực Thể tinh thần hoàn toàn hữu thức.

Such entities from Sirius appear at the occasion of the initiation of the solar Logos, and They have a peculiar connection with the five Kumaras and through Them (using Them as focal points for force) with the Mahachohan’s department in all the occult Hierarchies of the system. Only once has such a Being visited our system, in connection with the appearance in time and space of the five mind-born Sons of Brahma. The effect of such a visit as that of the Avatar from Sirius is seen [Page 724] as the sumtotal of civilisation and culture, viewing these from the standpoint of the entire system and in one flash of time.

Những thực thể như vậy từ Sirius xuất hiện vào dịp điểm đạo của Thái dương Thượng đế, và Các Ngài có một mối liên hệ đặc biệt với năm vị Kumara và qua các Ngài (dùng các Ngài như những tiêu điểm của mãnh lực) với bộ phận của Đức Mahachohan trong mọi Huyền Giai huyền bí của hệ thống. Chỉ một lần duy nhất một Thực Thể như vậy đã viếng thăm hệ thống của chúng ta, liên quan đến sự xuất hiện trong thời gian và không gian của năm Người Con do tâm sinh của Brahma. Tác động của một cuộc viếng thăm như của Đấng Hoá Thân từ Sirius được thấy [Page 724] như tổng thể của văn minh và văn hóa, nếu nhìn chúng từ quan điểm của toàn bộ hệ thống và trong một khoảnh khắc thời gian duy nhất.

An avatar from the cosmic centre will appear as pralaya is nearing and will produce in the body of the Logos that which we call “Death.” He is the cosmic Reaper, and (to reduce the above to words of an understandable nature) He belongs to a group which represents the abstracting energy of the cosmos, of which we find faint correspondences in the work of the “destroyer” aspect of the Logos, and in the forces which produce physical death, and the disintegration of the physical body of man. It is not possible to say more on these fundamentally esoteric matters, and the value of what is said lies largely in the bringing to the mind of the student the reality of our cosmic interrelation.

Một Đấng Hoá Thân từ trung tâm vũ trụ sẽ xuất hiện khi Giai kỳ qui nguyên đang đến gần và sẽ tạo ra trong thể của Thượng đế điều mà chúng ta gọi là “Cái Chết.” Ngài là Đấng Gặt Hái vũ trụ, và (để giản lược điều trên thành những lời có thể hiểu được) Ngài thuộc về một nhóm tiêu biểu cho năng lượng rút tách của vũ trụ, mà chúng ta thấy những tương ứng mờ nhạt trong công việc của phương diện “hủy diệt” của Thượng đế, và trong các mãnh lực tạo ra cái chết hồng trần, cùng sự tan rã của thể xác con người. Không thể nói thêm gì về những vấn đề nội môn căn bản này, và giá trị của điều được nói ra phần lớn nằm ở chỗ đem đến cho trí tuệ của đạo sinh thực tại về sự tương liên vũ trụ của chúng ta.

2. Solar Avatars: These avatars are of three types though there are really many more. They are also extra-systemic visitors, and are mainly concerned with certain processes in the system, among others the administration of the law of cause and effect, or of karma. They embody the karma of the past kalpas as far as our Logos is concerned, and give the initiatory impulse to the processes of adjustment, of expiation and of recognition as it concerns the present system as a whole. One such Entity, the “Karmic Avatar” appeared upon the second logoic vibration, being swept in on the second Breath; He has stayed until now: He will remain with us until all the schemes have entered upon their fifth round, and are nearing their “Judgment Day.” At that time, He can withdraw, leaving the planetary Logoi concerned to fulfil the karmic purpose unwatched. The vibratory impulse will then be so strong and the realisation of the buddhic principle so consciously vivid that nothing can then arrest the onward march of affairs. Under Him work a number of cosmic entities who, as stated in the Secret Doctrine [Page 725], [(241) These are the Lipika Lords. See S. D., I, 157] have the privilege of “passing the ring-pass-not”; these are, nevertheless, not avatars for They are Themselves evolving through the administration of karma. It is Their work, and opportunity to progress. An avatar can learn nothing from the place of His appearance. His work is to apply the force of some type of electrical energy to substance in one of its many grades, and thus bring about anticipated results.

2. Các Đấng Hoá Thân Thái Dương: Những Đấng Hoá Thân này có ba loại dù thực ra còn nhiều hơn nữa. Các Ngài cũng là những vị khách ngoài hệ, và chủ yếu liên quan đến một số tiến trình trong hệ, trong đó có việc quản trị định luật nhân quả, hay nghiệp quả. Các Ngài hiện thân cho nghiệp quả của các giai kỳ sinh hóa quá khứ xét theo Thượng đế của chúng ta, và ban xung lực điểm đạo cho các tiến trình điều chỉnh, đền bù và nhận biết khi liên quan đến toàn bộ hệ hiện tại. Một Thực Thể như thế, “Đấng Hoá Thân Nghiệp Quả,” đã xuất hiện trên rung động logoi thứ hai, được cuốn vào theo Hơi Thở thứ hai; Ngài đã lưu lại cho đến nay: Ngài sẽ ở với chúng ta cho đến khi mọi hệ hành tinh đã bước vào cuộc tuần hoàn thứ năm của chúng, và đang tiến gần “Ngày Phán Xét” của chúng. Khi đó, Ngài có thể rút lui, để lại các Hành Tinh Thượng đế liên hệ tự hoàn thành mục đích nghiệp quả mà không bị giám sát. Khi ấy xung lực rung động sẽ mạnh đến mức và sự chứng nghiệm nguyên khí Bồ đề sẽ sống động một cách hữu thức đến mức không gì còn có thể ngăn cản bước tiến đi lên của các sự việc. Dưới quyền Ngài hoạt động một số thực thể vũ trụ, những vị mà, như được nói trong Giáo Lý Bí Nhiệm [Page 725] [(241) Đây là các Đấng Lipika. Xem G. L. B. N., I, 157] có đặc quyền “vượt qua vòng-giới-hạn”; tuy nhiên, các vị này không phải là các Đấng Hoá Thân vì chính Các Ngài đang tiến hoá thông qua việc quản trị nghiệp quả. Đó là công việc của Các Ngài, và là cơ hội để tiến bộ. Một Đấng Hoá Thân không thể học được gì từ nơi Ngài xuất hiện. Công việc của Ngài là áp dụng mãnh lực của một loại năng lượng điện nào đó lên chất liệu ở một trong nhiều cấp độ của nó, và nhờ đó mang lại những kết quả đã được dự liệu trước.

Another type of solar avatar, Who can be seen appearing in the schemes, has relation to the heart centre of a planetary Logos, and appears on the higher planes (never on the lower) when the heart activity is making itself felt, and when the energising process is seen to bring about three things:

Một loại Đấng Hoá Thân thái dương khác, có thể được thấy xuất hiện trong các hệ hành tinh, có liên hệ với trung tâm tim của một Hành Tinh Thượng đế, và xuất hiện trên các cõi cao (không bao giờ trên các cõi thấp) khi hoạt động tim đang tự biểu lộ, và khi tiến trình tiếp năng lượng được thấy là mang lại ba điều:

a. An expansion of consciousness.

a. Một sự mở rộng tâm thức.

b. An increase of spiritual light and brilliancy.

b. Một sự gia tăng ánh sáng tinh thần và sự rực rỡ.

c. Planetary radioactivity.

c. Tính phóng xạ hành tinh.

It is this planetary phenomenon which produces (in connection with the fourth kingdom in nature) the throwing open of the door of initiation to man. Such avatars do not come in connection with any particular Hierarchy but only in relation to the total system. They produce the blending of the colours, and the synthesis of the units in their groups.

Chính hiện tượng hành tinh này tạo ra (liên quan đến giới thứ tư trong thiên nhiên) việc mở rộng cánh cửa điểm đạo cho con người. Những Đấng Hoá Thân như thế không đến trong liên hệ với bất kỳ Thánh đoàn riêng biệt nào mà chỉ trong liên hệ với toàn bộ hệ. Các Ngài tạo ra sự hòa trộn các màu sắc, và sự tổng hợp các đơn vị trong các nhóm của chúng.

At the initiation of a planetary Logos, an avatar may appear in His scheme on the seventh globe from that cosmic centre or star which is ensouled by the particular Rishi Who (in the constellation of the Great Bear) is His cosmic prototype. This is, for the Entity concerned, the taking of a physical form, for our higher planes are but matter from Their standpoint. This has been emphasised frequently, as its significance is not yet sufficiently grasped. By means of the appearance of this Avatar on the seventh globe, the planetary Logos is [Page 726] enabled to preserve continuity of cosmic consciousness even when in physical incarnation; this solar avatar performs the same function for the planetary Logos as the Guru does for His disciple. He makes certain events possible by means of the stimulation and protection of His aura, and He acts as a transmitter of electrical energy from the cosmic centre. We must be careful to hold this analogy very lightly, for the real work accomplished cannot be grasped by man. This avatar has naturally a direct effect upon the centres of the Heavenly Man and therefore upon the units or human Monads, but only indirectly and upon the Monad on its own plane. This influence meets with little response from the Monad until after the third Initiation when its conscious life becomes so strong that it grips afresh its egoic expression in one direction, and awakens to planetary realisation in another. This type of avatar appears only at the time of the initiation of a planetary Logos. The number of initiations taken by a planetary Logos in this system vary from two to four.

Vào lúc điểm đạo của một Hành Tinh Thượng đế, một Đấng Hoá Thân có thể xuất hiện trong hệ hành tinh của Ngài trên bầu hành tinh thứ bảy từ trung tâm vũ trụ hay ngôi sao được phú linh bởi vị Rishi đặc biệt là nguyên mẫu vũ trụ của Ngài (trong chòm Đại Hùng Tinh). Đối với Thực Thể liên hệ, đây là việc mang lấy một hình thể hồng trần, vì các cõi cao của chúng ta chỉ là vật chất theo quan điểm của Các Ngài. Điều này đã được nhấn mạnh nhiều lần, vì ý nghĩa của nó vẫn chưa được nắm bắt đầy đủ. Nhờ sự xuất hiện của Đấng Hoá Thân này trên bầu hành tinh thứ bảy, Hành Tinh Thượng đế được [Page 726] giúp duy trì tính liên tục của tâm thức vũ trụ ngay cả khi đang lâm phàm; Đấng Hoá Thân thái dương này thực hiện cùng một chức năng đối với Hành Tinh Thượng đế như Guru đối với đệ tử của Ngài. Ngài làm cho một số biến cố trở nên khả hữu nhờ sự kích thích và bảo vệ của hào quang Ngài, và Ngài hành động như một kênh truyền năng lượng điện từ trung tâm vũ trụ. Chúng ta phải cẩn trọng khi nắm giữ phép loại suy này một cách rất nhẹ nhàng, vì công việc thực sự được hoàn thành thì con người không thể hiểu được. Đấng Hoá Thân này dĩ nhiên có một tác động trực tiếp lên các trung tâm của Đấng Thiên Nhân và do đó lên các đơn vị hay các chân thần nhân loại, nhưng chỉ gián tiếp và lên chân thần trên chính cõi của nó. Ảnh hưởng này ít nhận được đáp ứng từ chân thần cho đến sau lần điểm đạo thứ ba khi sự sống hữu thức của nó trở nên mạnh đến mức nó lại nắm lấy biểu hiện chân ngã của mình theo một hướng, và thức tỉnh đối với sự chứng nghiệm hành tinh theo một hướng khác. Loại Đấng Hoá Thân này chỉ xuất hiện vào lúc điểm đạo của một Hành Tinh Thượng đế. Số lần điểm đạo mà một Hành Tinh Thượng đế tiếp nhận trong hệ này thay đổi từ hai đến bốn.

3. Interplanetary Avatars. A very interesting group of avatars is here to be found. They are mainly concerned with three things: first with the superintendence of the transfer of force units or egoic groups from one scheme to another (not with individual units from chain to chain). They appear usually twice in the history of a scheme, and though unable to take physical bodies of grosser material than those formed of atmic and the buddhic substance, they work with impulse in mental matter and thus effect these group transfers. They Themselves are subdivided into three groups:

3. Các Đấng Hoá Thân Liên Hành Tinh. Ở đây có thể tìm thấy một nhóm Đấng Hoá Thân rất thú vị. Các Ngài chủ yếu liên quan đến ba điều: thứ nhất là việc giám sát sự chuyển dịch các đơn vị mãnh lực hay các nhóm chân ngã từ hệ hành tinh này sang hệ hành tinh khác (không phải các đơn vị cá biệt từ dãy này sang dãy khác). Các Ngài thường xuất hiện hai lần trong lịch sử của một hệ hành tinh, và dù không thể mang các thể xác hồng trần bằng vật chất thô nặng hơn những thể được tạo thành từ chất liệu atma và Bồ đề, Các Ngài vẫn hoạt động với xung lực trong chất liệu trí tuệ và nhờ đó thực hiện các sự chuyển dịch nhóm này. Chính Các Ngài lại được phân chia thành ba nhóm:

a. Those effecting the transfer from the minor schemes or Ray manifestations on to the third Ray; They concern Themselves with the result of the merging of the polar opposites in the four [Page 727] lesser schemes until but one is left; and then with the transference of the life and quality of this remaining one on to the third Ray.

a. Những vị thực hiện sự chuyển dịch từ các hệ hành tinh nhỏ hay các biểu hiện cung sang cung ba; Các Ngài quan tâm đến kết quả của sự hợp nhất các cực đối lập trong bốn [Page 727] hệ hành tinh nhỏ cho đến khi chỉ còn lại một; rồi sau đó đến sự chuyển dịch sự sống và phẩm tính của hệ còn lại này sang cung ba.

b. Those dealing with the transference and interaction of the life forces between the three major Rays.

b. Những vị xử lý sự chuyển dịch và tương tác của các mãnh lực sự sống giữa ba Cung chính yếu.

c. Those producing the final systemic transfer at the end of the age.

c. Những vị tạo ra sự chuyển dịch hệ thống cuối cùng vào cuối thời đại.

Secondly, certain avatars from the fourth Creative Hierarchy, for esoteric and for us inexplicable reasons, leave Their Own Hierarchy, and appear in one or other of the deva Hierarchies. This happens only once in the history of each scheme and occurs at the time of its densest physical appearance, and has relation to the transference of deva impulse from one scheme to another. They are connected in this way with the appearance of the self-conscious units, being the primal embodiment of the latent self-consciousness of the atom of deva substance. They set the type for the devas of any particular scheme.

Thứ hai, một số Đấng Hoá Thân từ Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, vì những lý do huyền bí và không thể giải thích đối với chúng ta, rời khỏi chính Huyền Giai của Các Ngài, và xuất hiện trong một hay một Huyền Giai thiên thần khác. Điều này chỉ xảy ra một lần trong lịch sử của mỗi hệ hành tinh và diễn ra vào lúc biểu hiện hồng trần đậm đặc nhất của nó, và có liên hệ đến sự chuyển dịch xung lực thiên thần từ hệ hành tinh này sang hệ hành tinh khác. Theo cách này, Các Ngài liên hệ với sự xuất hiện của các đơn vị ngã thức, là hiện thân nguyên sơ của ngã thức tiềm tàng của nguyên tử chất liệu thiên thần. Các Ngài đặt ra kiểu mẫu cho các thiên thần của bất kỳ hệ hành tinh đặc biệt nào.

Once in the history of each scheme, an avatar from the constellation Capricorn appears on mental levels. This level is the lowest one on which these interplanetary deities appear. No more can be communicated on this matter. “The mystery of the goat” lies hidden here. This avatar makes His appearance in the third round of the third chain, and disappears in the fifth round of the fourth chain.

Một lần trong lịch sử của mỗi hệ hành tinh, một Đấng Hoá Thân từ chòm Ma Kết xuất hiện trên các cấp độ trí tuệ. Đây là cấp độ thấp nhất mà trên đó các thần linh liên hành tinh này xuất hiện. Không thể truyền đạt thêm gì về vấn đề này. “Bí nhiệm của con dê” được ẩn giấu ở đây. Đấng Hoá Thân này xuất hiện trong cuộc tuần hoàn thứ ba của dãy thứ ba, và biến mất trong cuộc tuần hoàn thứ năm của Dãy Thứ Tư.

These interplanetary avatars come in, as the products of much earlier kalpas when systemic conditions are refined enough to permit of Their appearance. They are the nirmanakayas of an earlier solar cycle Who now again take the opportunity to effect (in an active sense and through physical manifestation) certain uncompleted work.

Các Đấng Hoá Thân liên hành tinh này đi vào như những sản phẩm của các giai kỳ sinh hóa sớm hơn rất nhiều khi các điều kiện hệ thống đã đủ tinh luyện để cho phép Các Ngài xuất hiện. Các Ngài là các nirmanakaya của một chu kỳ thái dương trước kia, nay lại nắm lấy cơ hội để thực hiện (theo nghĩa chủ động và thông qua biểu hiện hồng trần) một số công việc chưa hoàn tất.

4. Planetary Avatars. These emanate from the central [Page 728] planetary Logos of a scheme and embody His will and purpose. They are of two different kinds. The first type is a manifestation on etheric physical levels of the planetary Logos Himself for a specific length of time. It involves the definite taking of a physical body by one of the Kumaras. Such an avatar is to be seen in Sanat Kumara, Who, with the three other Kumaras, embodies the four planetary quaternic principles. In a very real sense, Sanat Kumara is the incarnation of the Lord of the Ray Himself; He is the Silent Watcher, the great Sacrifice for humanity. (S. D., I, 494; II, 112, 149, 333.)

4. Các Đấng Hoá Thân Hành Tinh. Các Ngài xuất lộ từ Hành Tinh Thượng đế trung tâm của một hệ hành tinh và hiện thân cho ý chí và mục đích của Ngài. Các Ngài có hai loại khác nhau. Loại thứ nhất là một biểu hiện [Page 728] trên các cấp độ hồng trần dĩ thái của chính Hành Tinh Thượng đế trong một khoảng thời gian xác định. Điều này bao hàm việc một trong các Kumara nhất định mang lấy một thể xác hồng trần. Một Đấng Hoá Thân như thế có thể thấy nơi Đức Sanat Kumara, Đấng cùng với ba Kumara khác hiện thân cho bốn nguyên khí tứ phân hành tinh. Theo một ý nghĩa rất thực, Đức Sanat Kumara là sự nhập thể của chính Chúa Tể của Cung; Ngài là Đấng Quan Sát Thầm Lặng, là Sự Hy Sinh vĩ đại cho nhân loại. (G. L. B. N., I, 494; II, 112, 149, 333.)

As noted in the above paragraph, there are secondly three Entities Who embody planetary principles. They are (speaking from the present standpoint) the dynamic energy which holds together the three lower kingdoms, viewing these kingdoms as units and not as differentiations. They are closely connected with the energy aspect of the three earlier chains, and it only needed the work of an interplanetary avatar (at the formation of the triangle which resulted in the individualisation period in Lemurian days) to enable Them to take etheric bodies and incarnate among men. They act as focal points for the energy of the planetary Logos on His own plane. The first Kumara is in a mysterious sense the energy which produces self-consciousness in the human family. The three other kumaras, or the three Buddhas of Activity, act as similar focal points for the energy which animates the three lower kingdoms, and which produces their differing grades of consciousness. It is not possible to express this great mystery more clearly but if the student couples these few hints with those earlier given in the Secret Doctrine, the mystery of the “Holy Four” may be somewhat clarified from the standpoint of energy and evolution.

Như đã lưu ý trong đoạn trên, thứ hai có ba Thực Thể hiện thân cho các nguyên khí hành tinh. Các Ngài là (nói từ quan điểm hiện tại) năng lượng động lực giữ ba giới thấp lại với nhau, xét các giới này như những đơn vị chứ không phải như những sự biến phân. Các Ngài liên hệ mật thiết với phương diện năng lượng của ba dãy trước đó, và chỉ cần công việc của một Đấng Hoá Thân liên hành tinh (vào lúc hình thành tam giác dẫn đến thời kỳ biệt ngã hóa trong những ngày Lemuria) là đủ để giúp Các Ngài mang lấy các thể dĩ thái và nhập thể giữa loài người. Các Ngài hành động như những điểm hội tụ cho năng lượng của Hành Tinh Thượng đế trên chính cõi của Ngài. Kumara thứ nhất, theo một ý nghĩa huyền nhiệm, là năng lượng tạo ra ngã thức trong gia đình nhân loại. Ba Kumara khác, hay ba Đức Phật Hoạt Động, hành động như những điểm hội tụ tương tự cho năng lượng làm sinh động ba giới thấp, và tạo ra các cấp độ tâm thức khác nhau của chúng. Không thể diễn đạt bí nhiệm lớn lao này rõ hơn, nhưng nếu đạo sinh kết hợp vài gợi ý này với những điều đã được đưa ra trước đó trong Giáo Lý Bí Nhiệm, thì bí nhiệm của “Bốn Đấng Thiêng Liêng” có thể phần nào được làm sáng tỏ từ quan điểm năng lượng và tiến hoá.

The times and seasons of their appearing vary according [Page 729] to the particular karma of the Lord of the Ray, and nothing in connection with these great cycles, and incarnation periods, can be revealed to the unpledged and the profane.

Thời điểm và mùa kỳ xuất hiện của Các Ngài thay đổi tùy theo [Page 729] nghiệp quả đặc biệt của Chúa Tể của Cung, và không điều gì liên quan đến các chu kỳ lớn lao này, cùng các thời kỳ nhập thể, có thể được tiết lộ cho những người chưa tuyên thệ và kẻ phàm tục.

5. Human Avatars. These are fully dealt with by H. P. B. and there is nothing further to add to her information, for the time is not ripe. (S. D., III, Section 41; III, 345.) All the above has its place here, as it concerns the mystery of force and consciousness, and the fullest manifestation of a planetary Logos and of a solar Logos in a dense physical body is hidden in the appearance of these various avatars and in their effect.

5. Các Đấng Hoá Thân Nhân Loại. Các Ngài đã được H. P. B. bàn đến đầy đủ và không còn gì để thêm vào thông tin của bà, vì thời cơ chưa chín muồi. (G. L. B. N., III, Phần 41; III, 345.) Tất cả những điều trên đều có chỗ đứng ở đây, vì chúng liên quan đến bí nhiệm của mãnh lực và tâm thức, và sự biểu hiện đầy đủ nhất của một Hành Tinh Thượng đế và của một Thái dương Thượng đế trong một thể xác hồng trần đậm đặc được ẩn giấu trong sự xuất hiện của các Đấng Hoá Thân khác nhau này và trong tác động của Các Ngài.

(e.) Individualisation, a form of Initiation. There is but little more that can be said at this time anent individualisation. What has been said here and in the Secret Doctrine is but a manner of endeavouring to express profound and significant facts, concerning existence and manifestation, in terms of human thought, and through the limiting medium of language. From the most esoteric standpoint “Man is a deva;” he is Spirit and deva substance, united through the work of conscious deva energy. He unites within himself the three aspects of the Deity. He is, while in objectivity:

(e.) Biệt ngã hóa, một hình thức điểm đạo. Hiện nay chỉ có thể nói thêm rất ít về biệt ngã hóa. Điều đã được nói ở đây và trong Giáo Lý Bí Nhiệm chỉ là một cách cố gắng diễn đạt những sự kiện sâu xa và đầy ý nghĩa liên quan đến hiện hữu và biểu hiện bằng những thuật ngữ của tư tưởng con người, và thông qua môi trường hạn chế của ngôn ngữ. Từ quan điểm huyền bí nhất, “Con người là một thiên thần;” y là tinh thần và chất liệu thiên thần, được hợp nhất nhờ công việc của năng lượng thiên thần hữu thức. Y hợp nhất trong chính mình ba phương diện của Thượng đế. Khi ở trong tính khách quan, y là:

1. The Self, the Not-Self, and the intelligent link in a very vital sense.

1. Bản Ngã, Phi Ngã, và mối liên kết thông tuệ theo một ý nghĩa rất sinh động.

2. He is Shiva, Vishnu, and Brahma, in synthetic manifestation.

2. Y là Shiva, Vishnu, và Brahma, trong biểu hiện tổng hợp.

3. He is the medium whereby the Will of God, the Love of God, and the Mind of God become intelligible and apparent.

3. Y là môi trường nhờ đó Ý Chí của Thượng Đế, Tình thương/Bác ái của Thượng đế, và Trí của Thượng đế trở nên có thể hiểu được và hiển lộ.

4. He is positive electrical force, plus negative electrical force, plus the equilibrising medium.

4. Y là mãnh lực điện dương, cộng với mãnh lực điện âm, cộng với môi trường quân bình hóa.

5. He is the Flame, the Fire, and the Spark in essential manifestation.

5. Y là Ngọn Lửa, Lửa, và Tia Lửa trong biểu hiện cốt yếu.

6. He is electric fire, solar fire and fire by friction.

6. Y là Lửa Điện, Lửa Thái dương và Lửa ma sát.

[Page 730] But the point which it is necessary here to emphasise, is that man does not, in space and time and in the three worlds, demonstrate all these aspects simultaneously, but only simultaneously towards the close of the process of evolution. As in the Macrocosm, Brahma manifests activity first, then the second or middle aspect and finally the first or purposeful will makes itself seen, so with the microcosm.

[Page 730] Nhưng điểm cần được nhấn mạnh ở đây là con người không biểu lộ tất cả các phương diện này đồng thời trong không gian và thời gian và trong ba cõi giới, mà chỉ đồng thời vào gần cuối tiến trình tiến hoá. Cũng như trong Đại thiên địa, Brahma biểu lộ hoạt động trước tiên, rồi đến phương diện thứ hai hay trung gian, và cuối cùng ý chí thứ nhất hay có mục đích mới tự biểu lộ, thì với tiểu thiên địa cũng vậy.

The Brahma aspect, that in which the Not-Self or material aspect is apparent and predominant. This covers the sub-human stages, and the first three cycles of the Personality Life:

Phương diện Brahma, tức phương diện trong đó Phi Ngã hay phương diện vật chất là hiển nhiên và chiếm ưu thế. Điều này bao trùm các giai đoạn dưới nhân loại, và ba chu kỳ đầu của Đời Sống Phàm ngã:

a.

First cycle

savage state.

b.

Second cycle

average man.

c.

Third cycle

intellectual successful man.

The Vishnu aspect, that in which the love-wisdom aspect gradually predominates and emerges through the medium of the Brahma aspect. It covers the final two stages of the human personality life, and that period of egoic growth which embraces the final two Initiations:

Phương diện Vishnu, tức phương diện trong đó phương diện bác ái – minh triết dần dần chiếm ưu thế và xuất hiện thông qua môi trường của phương diện Brahma. Nó bao trùm hai giai đoạn cuối của đời sống phàm ngã con người, và giai đoạn tăng trưởng chân ngã bao gồm hai lần điểm đạo cuối cùng:

a.

First cycle

The Path of Probation.

b.

Second cycle

The Path of Initiation.(till the third Initiation)

c.

Third cycle

That covering the fourth and fifth Initiations.

This is the temporary consummation, but just as in the animal kingdom, the human mind was latent and instinctive, and just as in the human kingdom the buddhic aspect is latent and instinctive, so during the final cycle of human endeavour, the Atma, or highest aspect of the Monad, is also latent and instinctive. This must produce later stages of development. There are no gaps in evolution, and no periods wherein there is total absence of any one aspect; all are ever present but they [Page 731] “show forth” in alternation. Only when the fires of matter are blazing brightly, and become radiatory, does it become possible for the fire of mind to show forth, even though ever inherently present. Only when these two fires of matter and of mind have reached a stage of energetic heat and light, can the electric fire of Spirit show forth in its glory. Only again when these three are unitedly burning does the fire of matter die down for lack of that which it may consume, and only when that occurs is it possible for the fires of mind (on mental levels) to burn up that which it has hitherto animated. When this is accomplished, the fire of pure Spirit (increased and intensified by the gaseous essence of the fire of matter, or “fire by friction,” and coloured, and rendered radiatory by the fire of mind) blazes forth in perfected glory, so that naught is seen save one vibrant flame. This idea can be extended away from Man to a Heavenly Man, and again to the Logos in His cosmic relationship.

Đây là sự viên mãn tạm thời, nhưng cũng như trong giới động vật, trí tuệ con người còn tiềm tàng và bản năng, và cũng như trong giới nhân loại, phương diện Bồ đề còn tiềm tàng và bản năng, thì trong chu kỳ cuối cùng của nỗ lực nhân loại, Atma, hay phương diện cao nhất của chân thần, cũng còn tiềm tàng và bản năng. Điều này tất phải tạo ra các giai đoạn phát triển về sau. Không có khoảng trống nào trong tiến hoá, và không có thời kỳ nào mà ở đó có sự vắng mặt hoàn toàn của bất kỳ phương diện nào; tất cả đều luôn hiện diện nhưng chúng [Page 731] “tự biểu lộ” luân phiên. Chỉ khi các lửa của vật chất đang bùng cháy sáng rực và trở nên phóng xạ thì lửa của trí tuệ mới có thể biểu lộ, dù vốn luôn hiện diện nội tại. Chỉ khi hai lửa này của vật chất và của trí tuệ đã đạt đến một giai đoạn nhiệt và quang năng mãnh liệt thì Lửa Điện của tinh thần mới có thể biểu lộ trong vinh quang của nó. Chỉ khi ba lửa này cùng cháy hợp nhất thì lửa của vật chất mới lắng xuống vì thiếu cái để nó có thể tiêu thụ, và chỉ khi điều đó xảy ra thì lửa của trí tuệ (trên các cấp độ trí tuệ) mới có thể thiêu rụi cái mà trước đây nó đã làm sinh động. Khi điều này được hoàn tất, lửa của tinh thần thuần túy (được tăng cường và làm mãnh liệt bởi tinh chất khí của lửa vật chất, hay “lửa ma sát,” và được nhuốm màu, được làm cho phóng xạ bởi lửa của trí tuệ) bùng lên trong vinh quang hoàn hảo, đến nỗi không còn gì được thấy ngoài một ngọn lửa rung động duy nhất. Ý tưởng này có thể được mở rộng từ Con người đến một Đấng Thiên Nhân, và rồi lại đến Thượng đế trong mối liên hệ vũ trụ của Ngài.

Individualisation marks one stage of the process in the intensification of “fire by friction.” It has relation to the achievement of Brahma, and marks a point in the energising of substance. Certain forms are ready for self-consciousness. Two cosmic Rays of differing polarities are mutually attracted.

Biệt ngã hóa đánh dấu một giai đoạn của tiến trình tăng cường “lửa ma sát.” Nó có liên hệ đến thành tựu của Brahma, và đánh dấu một điểm trong sự tiếp năng lượng cho chất liệu. Một số hình tướng đã sẵn sàng cho ngã thức. Hai cung vũ trụ có cực tính khác nhau hút nhau lẫn nhau.

Initiation marks a stage in the intensification of “solar Fire.” It has relation to the achievement of Vishnu, and marks a point in the evolution of consciousness, through self-consciousness to group consciousness, or universal consciousness.

Điểm đạo đánh dấu một giai đoạn trong sự tăng cường của “Lửa Thái dương.” Nó có liên hệ đến thành tựu của Vishnu, và đánh dấu một điểm trong sự tiến hoá của tâm thức, từ ngã thức đến tâm thức nhóm, hay tâm thức vũ trụ.

Identification with the aggregate of all groups might be the term used to express the final stages of the evolutionary process; it marks a period towards the close of the mahamanvantara when all groups begin consciously to work out the eternal Will. It involves a type of realisation, incredible to man now but which is conceivable [Page 732] (though not yet practicable) to the Chohans of the Hierarchy now on Earth. They work consciously carrying out the Will of the planetary Logos in the planet, but even They are as yet far from appreciating fully the Will and purpose of the Logos as He works through the system. Glimpses They may get, and an idea of the general plan, but the details are as yet unrecognisable.

Đồng hoá với tổng thể của mọi nhóm có thể là thuật ngữ dùng để diễn tả các giai đoạn cuối cùng của tiến trình tiến hoá; nó đánh dấu một thời kỳ vào gần cuối Đại giai kỳ sinh hóa khi mọi nhóm bắt đầu một cách hữu thức thực hiện Ý Chí vĩnh cửu. Nó bao hàm một loại chứng nghiệm mà hiện nay con người không thể tin nổi nhưng lại có thể hình dung được [Page 732] (dù chưa thể thực hành) đối với các Chohan của Thánh đoàn hiện đang ở trên Trái Đất. Các Ngài hoạt động một cách hữu thức để thực hiện Ý Chí của Hành Tinh Thượng đế trên hành tinh, nhưng ngay cả Các Ngài cũng còn rất xa mới có thể đánh giá đầy đủ Ý Chí và mục đích của Thượng đế khi Ngài hoạt động thông qua hệ. Các Ngài có thể thoáng thấy, và có một ý niệm về kế hoạch tổng quát, nhưng các chi tiết thì hiện vẫn chưa thể nhận biết được.

Cosmic Fire S7A

(Trang 733-853)