← A Treatise on Cosmic Fire All

a. Lack of sustained will or concentration,

The etheric body of the solar system is now complete, though it will not be perfected till the end of another manvantara. The greater body of vitality is ready to energise the dense physical vehicle. The seven centres with their forty-nine major petals are vibrant, and consciousness thrills through every atom in the system.

Thể dĩ thái của hệ mặt trời giờ đây đã hoàn tất, dù nó sẽ chưa được hoàn thiện cho đến cuối một giai kỳ sinh hóa khác. Đại thể sinh lực lớn hơn đã sẵn sàng tiếp năng lượng cho vận cụ hồng trần đậm đặc. Bảy trung tâm với bốn mươi chín cánh hoa chính của chúng đang rung động, và tâm thức rung lên xuyên qua mọi nguyên tử trong hệ thống.

An interlude or period of pause is to be found at this stage of development; in it the processes of co-ordination and of stabilisation are carried on; the energy or the vibration is increased until it becomes possible, by a simultaneous effort, emanating from all the three aspects, to bring into objectivity that which is as yet subjective. This is paralleled by man on the physical plane in the applied effort he has to make to bring through and materialise, that which he has conceived and desired. The reason so many people fail in materialising their concepts, and hence come to be reckoned as failures, is owing to the fact of their inability to make a co-ordinated applied effort, and thus set in motion substance of the three lower subplanes of the physical plane. They succeed [Page 928] in bringing their concept through from the mental plane (as does the Logos on cosmic levels) as far as the fourth etheric level of the physical, and there their energy becomes exhausted owing to three things:

Ở giai đoạn phát triển này có một khoảng gián đoạn hay thời kỳ tạm ngưng; trong đó các tiến trình phối hợp và ổn định được tiến hành; năng lượng hay rung động được gia tăng cho đến khi có thể, bằng một nỗ lực đồng thời phát xuất từ cả ba phương diện, đưa vào khách quan điều vẫn còn là chủ quan. Điều này được con người trên cõi hồng trần phản ánh qua nỗ lực ứng dụng mà y phải thực hiện để đưa ra và hiện hình điều y đã quan niệm và mong muốn. Lý do khiến rất nhiều người thất bại trong việc hiện hình các khái niệm của mình, và do đó bị xem là những kẻ thất bại, là vì họ không có khả năng thực hiện một nỗ lực ứng dụng có phối hợp, và do đó không thể làm cho chất liệu của ba cõi phụ thấp của cõi hồng trần chuyển động. Họ thành công [Page 928] trong việc đưa khái niệm của mình từ cõi trí xuống (như Thượng đế làm trên các cấp độ vũ trụ) đến tận cấp dĩ thái thứ tư của cõi hồng trần, và tại đó năng lượng của họ bị cạn kiệt vì ba điều:

a. Lack of sustained will or concentration,

a. Thiếu ý chí bền bỉ hay sự tập trung,

b. Lack of alignment with the Ego,

b. Thiếu chỉnh hợp với chân ngã,

c. A weakness of co-ordination between the two parts of the physical vehicle.

c. Sự yếu kém trong phối hợp giữa hai phần của vận cụ hồng trần.

The logoic Phrase - The gaseous body.

Fifth plane

The plane of the logoic mantram of 35 stanzas.

The gaseous form of the solar system now appears, and the energy centres become veiled and hidden. Accretion and concretion rapidly proceeds. The three groups of builders co-ordinate their efforts afresh and a new influx of energy—bearing devas from the logoic head centre—pours in. The lesser builders respond to the logoic mantram chanted anew at each manvantara, and the seven streams of energy from the seven logoic centres are directed downwards.

Hình tướng thể khí của hệ mặt trời giờ đây xuất hiện, và các trung tâm năng lượng trở nên được che phủ và ẩn kín. Sự bồi tụ và cô đặc tiến triển nhanh chóng. Ba nhóm đấng kiến tạo lại phối hợp nỗ lực của họ, và một dòng năng lượng mới—mang theo các thiên thần từ trung tâm đầu của Thượng đế—tuôn vào. Các vị tiểu kiến tạo đáp ứng với mantram của Thượng đế được xướng lại trong mỗi giai kỳ sinh hóa, và bảy dòng năng lượng từ bảy trung tâm của Thượng đế được hướng xuống dưới.

The logoic Song of Love or Desire - The logoic liquid body.

The Sixth plane

A poem in forty-two verses.

This song or vibration causes the bringing in of a body of devas from the logoic heart centre to swell the efforts of those already active. The liquid body of the solar Logos appears, and the form exists in its six differentiations. Concretion is very rapid, and activity is considerably more violent owing to the greater density of the accruing substance.

Bài ca hay rung động này khiến một đoàn thiên thần từ trung tâm tim của Thượng đế được đưa vào để tăng cường nỗ lực của những vị đã hoạt động. Thể lỏng của Thái dương Thượng đế xuất hiện, và hình tướng tồn tại trong sáu sự biến phân của nó. Sự cô đặc diễn ra rất nhanh, và hoạt động mãnh liệt hơn đáng kể do mật độ lớn hơn của chất liệu đang bồi thêm.

The logoic Book of Life

Seventh plane

Exists in forty-nine chapters.

The entire form stands revealed. During evolution it must manifest its purpose and its nature. A third group [Page 929] of devas from the logoic throat centre appear, and cooperate with their brothers. All the fires are burning, all the centres are active, and every petal, forty-nine in number, on the fourth plane of Buddhi is producing a reflex activity upon the dense physical plane.

Toàn bộ hình tướng được bộc lộ. Trong tiến hoá, nó phải biểu hiện mục đích và bản chất của nó. Một nhóm thứ ba [Page 929] các thiên thần từ trung tâm cổ họng của Thượng đế xuất hiện, và hợp tác với các huynh đệ của họ. Mọi ngọn lửa đều đang cháy, mọi trung tâm đều hoạt động, và mỗi cánh hoa, tổng cộng bốn mươi chín, trên cõi thứ tư của Bồ đề đang tạo ra một hoạt động phản chiếu trên cõi hồng trần đậm đặc.

Men, when occupied in creation of any kind, and in the process of producing forms on earth which embody an idea, work along similar lines. The analogy is perfect.

Con người, khi bận rộn trong bất kỳ loại sáng tạo nào, và trong tiến trình tạo ra các hình tướng trên trái đất thể hiện một ý tưởng, đều hoạt động theo những đường lối tương tự. Sự tương đồng là hoàn toàn chính xác.

In connection with those human beings who create nothing, but who are only swept into activity under the urge of circumstance—and they are the bulk of the human race—it should be pointed out that they are a part of the creative activity of some greater, and more advanced, entity. As self-conscious evolution proceeds, more and more of the human family will become creators and intelligent workers in connection with deva substance. In the initial stages, therefore, of their dissociation from a passive attitude, there will be found a revolt against law and order, a refusal to be governed, and an ability evidenced to follow out an individual concept at the expense of the group, great or small. This apparent defect, evolution itself and experience will remedy, and as the consciousness becomes alive to higher vibrations the man will become aware of the purpose and plan of the Intelligence of his group. He will awaken to the beauty of that plan and will begin to submerge his own interests in the greater, and to co-operate intelligently. The creative power which had before been of a separative nature will be offered as a willing sacrifice to the greater energy, and his small plans and ideas will be merged in the greater ones. He will no longer, however, be a passive unit, swept hither and thither by the energy of his group, but will become a positive, active potent force, self-immolated through intelligent recognition of the greater plan.

Liên quan đến những con người không sáng tạo gì cả, mà chỉ bị cuốn vào hoạt động dưới sự thúc đẩy của hoàn cảnh—và họ là phần lớn nhân loại—cần chỉ ra rằng họ là một phần trong hoạt động sáng tạo của một thực thể lớn hơn và tiến bộ hơn. Khi sự tiến hoá ngã thức tiếp diễn, ngày càng nhiều thành viên của gia đình nhân loại sẽ trở thành những người sáng tạo và những người hoạt động trí tuệ liên hệ với chất liệu thiên thần. Vì vậy, trong các giai đoạn đầu của sự tách mình khỏi thái độ thụ động, sẽ thấy có một sự nổi loạn chống lại luật pháp và trật tự, một sự từ chối bị cai quản, và một khả năng được biểu lộ là theo đuổi một quan niệm cá nhân bằng giá phải trả của nhóm, dù lớn hay nhỏ. Khuyết điểm bề ngoài này sẽ được chính tiến hoá và kinh nghiệm chữa lành, và khi tâm thức trở nên sống động với những rung động cao hơn, con người sẽ nhận biết mục đích và Thiên Cơ của Trí Tuệ của nhóm mình. Y sẽ thức tỉnh đối với vẻ đẹp của Thiên Cơ ấy và sẽ bắt đầu dìm lợi ích riêng của mình vào lợi ích lớn hơn, và hợp tác một cách trí tuệ. Quyền năng sáng tạo trước kia vốn có tính chia rẽ sẽ được dâng hiến như một sự hi sinh tự nguyện cho năng lượng lớn hơn, và những kế hoạch cùng ý tưởng nhỏ bé của y sẽ được hòa nhập vào những kế hoạch lớn hơn. Tuy nhiên, y sẽ không còn là một đơn vị thụ động, bị năng lượng của nhóm cuốn đi đây đó, mà sẽ trở thành một mãnh lực tích cực, hoạt động, đầy năng lực, tự hiến mình qua sự nhận biết trí tuệ về Thiên Cơ lớn lao hơn.

He will become alive to the fact that there are living [Page 930] forces in nature. As the greater energy thrills through him, his own latent powers are awakened. He sees and knows the deva forces and can consequently work with them intelligently. Some he will control and manipulate, with others he will co-operate, and others still he will obey.

Y sẽ trở nên nhận biết sự kiện rằng trong thiên nhiên có những [Page 930] mãnh lực sống động. Khi năng lượng lớn hơn rung động xuyên qua y, các quyền năng tiềm ẩn của chính y được đánh thức. Y thấy và biết các mãnh lực thiên thần và do đó có thể làm việc với chúng một cách trí tuệ. Một số y sẽ kiểm soát và vận dụng, với một số khác y sẽ hợp tác, và những vị khác nữa y sẽ tuân phục.

It is in the realisation of these facts anent deva substance, the power of sound, the law of vibration, and the ability to produce forms in conformity with law, that the true magician can be seen. Herein too lies one of the distinctions to be found between magicians of the Good Law, and those of the Left-hand Path. A white magician can control and manipulate deva substance, and he proceeds to do it through an intelligent co-operation with the greater builders. Owing to the purity and holiness of his life, and the height of his own vibration, he can contact them in some one or other of their grades. The magician of the shadows controls and manipulates deva substance on the astral and physical plane and on the lower levels of the mental plane through the force of his own vibration and knowledge, but not through co-operation with the directing builders. He cannot contact them, as his character is impure through selfishness, and his vibration is too low; his power therefore is limited and destructive, yet immense within certain restrictions.

Chính trong sự chứng nghiệm các sự kiện này liên quan đến chất liệu thiên thần, quyền năng của âm thanh, định luật rung động, và khả năng tạo ra các hình tướng phù hợp với định luật, mà nhà huyền thuật chân chính có thể được nhận ra. Chính trong đây cũng có một trong những sự phân biệt giữa các nhà huyền thuật của Định luật Thiện và những kẻ thuộc tả đạo. Một nhà huyền thuật chánh đạo có thể kiểm soát và vận dụng chất liệu thiên thần, và y tiến hành điều đó qua sự hợp tác trí tuệ với các đấng đại kiến tạo. Do sự thanh khiết và thiêng liêng của đời sống y, và do độ cao của rung động riêng của y, y có thể tiếp xúc với họ ở một cấp bậc nào đó của họ. Nhà huyền thuật của bóng tối kiểm soát và vận dụng chất liệu thiên thần trên cõi cảm dục và cõi hồng trần, cũng như trên các cấp thấp của cõi trí, bằng mãnh lực của rung động và tri thức riêng của y, nhưng không phải qua sự hợp tác với các đấng kiến tạo chỉ đạo. Y không thể tiếp xúc với họ, vì tính cách của y bất tịnh do ích kỷ, và rung động của y quá thấp; do đó quyền năng của y bị giới hạn và có tính hủy diệt, tuy vẫn to lớn trong những giới hạn nhất định.

The devas of the etheric doubles fall into two groups. They are those who are the lesser builders, and who, under direction from the greater builders, form the etheric doubles of all that can be seen and all that is tangible on the dense physical plane. They exist in vast hosts and are omnipresent; they gather and build the material needed to form the etheric double of everything, and they do this under certain laws and work under certain restrictions. They are called in occult phraseology “the listening devas,” for they are the ones who pick up that particular note and tone from the transmitters of [Page 931] the physical plane sound which is needed to gather the substance for any intended material form. Again, they are spoken of as “having ears but seeing not.” They work in close co-operation with the elementals of the dense physical body. This second group are spoken of as the “seeing elementals,” for they exist in matter of the three lower subplanes and can therefore see on the objective plane in the occult sense which always implies an analogy between sight and knowledge. The “listening builders” gather the material; the “seeing elementals” take that gathered material, and build it into any specific form. They exist in many groups according to their point in evolution, and some of them might be tabulated as follows:

Các thiên thần của các bản sao dĩ thái thuộc vào hai nhóm. Họ là những vị tiểu kiến tạo, dưới sự chỉ đạo của các đấng đại kiến tạo, tạo thành các bản sao dĩ thái của mọi điều có thể được thấy và mọi điều sờ chạm được trên cõi hồng trần đậm đặc. Họ tồn tại thành những đạo quân khổng lồ và hiện diện khắp nơi; họ tập hợp và kiến tạo chất liệu cần thiết để tạo thành bản sao dĩ thái của mọi vật, và họ làm điều này dưới những định luật nhất định và hoạt động dưới những hạn chế nhất định. Trong cụm từ thần bí huyền bí học, họ được gọi là “các thiên thần lắng nghe,” vì họ là những vị tiếp nhận âm điệu và thanh âm đặc thù từ những vị truyền dẫn [Page 931] âm thanh của cõi hồng trần, vốn cần thiết để tập hợp chất liệu cho bất kỳ hình tướng vật chất dự định nào. Hơn nữa, họ còn được nói đến như “có tai mà không thấy.” Họ hoạt động trong sự hợp tác chặt chẽ với các hành khí của thể hồng trần đậm đặc. Nhóm thứ hai này được gọi là “các hành khí thấy,” vì họ tồn tại trong vật chất của ba cõi phụ thấp và do đó có thể thấy trên cõi khách quan theo nghĩa huyền bí, vốn luôn hàm ý một sự tương đồng giữa thị giác và tri thức. Các “đấng kiến tạo lắng nghe” tập hợp chất liệu; còn “các hành khí thấy” lấy chất liệu đã được tập hợp ấy và xây dựng nó thành bất kỳ hình tướng đặc thù nào. Họ tồn tại trong nhiều nhóm tùy theo điểm tiến hoá của mình, và một số trong họ có thể được lập bảng như sau:

1. The builders of the human vehicle.

1. Các đấng kiến tạo vận cụ con người.

This is the highest group of lesser builders, who are highly specialised. These will be dealt with somewhat in detail later.

Đây là nhóm cao nhất của các vị tiểu kiến tạo, những vị có tính chuyên môn hóa rất cao. Những vị này sẽ được bàn đến phần nào chi tiết hơn về sau.

2. The builders of the forms in the three kingdoms of nature in their two divisions.

2. Các đấng kiến tạo các hình tướng trong ba giới của thiên nhiên theo hai phân bộ của họ.

First. The builders of the mineral kingdom. These are the workers occultly called “the elemental alchemists.” They are in many groups connected with the differing elements, metals, chemicals, and minerals, and with what are called active and radioactive substances. They are the custodians of two secrets, that of the immetalisation of the Monad, and the secret of the transmutation of metals.

Thứ nhất. Các đấng kiến tạo giới kim thạch. Đây là những người hoạt động được gọi một cách huyền bí là “các nhà luyện kim hành khí.” Họ thuộc nhiều nhóm liên hệ với các nguyên tố, kim loại, hóa chất và khoáng vật khác nhau, cũng như với những gì được gọi là các chất liệu hoạt động và phóng xạ. Họ là những người gìn giữ hai bí mật, một là bí mật về sự kim loại hóa của chân thần, và một là bí mật về sự chuyển hoá kim loại.

Second. The builders of the vegetable kingdom. They exist in many groups and are termed “the surface alchemists” and “the bridging units.” They build the doubles of every form of vegetable life, and just as the “alchemists” of the mineral kingdom are mostly concerned with the action of fire, these other alchemical workers are concerned with the liquid action of divine [Page 932] manifestation. They work, therefore, in co-operation with the devas of the waters, or liquid substance, whilst the earlier mentioned group work with the gaseous devas. A hint is here conveyed, but greater expansion of the statement is not possible, owing to the danger of the knowledge to be reached. With them is hidden three secrets: One is concerned with the earlier solar system, or the green solar system; another deals with the laws of bridging, or the interaction between the kingdoms of nature, and the third is connected with the history of the second round; this secret when revealed will make clear why man (under the law) should be a vegetarian and not carnivorous. Scientists are learning already certain things connected with the second secret, and they may hope, as the knowledge of the significance of colour is extended, to glean hints as to the first. The third secret will not be indicated more clearly till the sixth race is living upon earth.

Thứ hai. Các đấng kiến tạo giới thực vật. Họ tồn tại trong nhiều nhóm và được gọi là “các nhà luyện kim bề mặt” và “các đơn vị bắt cầu.” Họ kiến tạo các bản sao của mọi hình thức sự sống thực vật, và cũng như các “nhà luyện kim” của giới kim thạch chủ yếu quan tâm đến tác động của lửa, thì những người hoạt động luyện kim khác này quan tâm đến tác động lưu chất của biểu hiện thiêng liêng. Do đó, họ hoạt động trong sự hợp tác với các thiên thần của nước, hay chất liệu lỏng, trong khi nhóm được nhắc đến trước đó hoạt động với các thiên thần thể khí. Ở đây có một gợi ý, nhưng không thể khai triển thêm lời phát biểu này, do sự nguy hiểm của tri thức có thể đạt đến. Nơi họ ẩn giấu ba bí mật: một bí mật liên quan đến hệ mặt trời trước kia, hay hệ mặt trời [Page 932]xanh; một bí mật khác bàn đến các định luật bắt cầu, hay sự tương tác giữa các giới trong thiên nhiên; và bí mật thứ ba liên hệ với lịch sử của cuộc tuần hoàn thứ hai; khi được mặc khải, bí mật này sẽ làm sáng tỏ vì sao con người (theo định luật) nên ăn chay chứ không nên ăn thịt. Các nhà khoa học hiện đã học được một số điều liên hệ với bí mật thứ hai, và họ có thể hy vọng, khi tri thức về thâm nghĩa của màu sắc được mở rộng, sẽ nhặt nhạnh được những gợi ý về bí mật thứ nhất. Bí mật thứ ba sẽ không được chỉ ra rõ hơn cho đến khi nhân loại thứ sáu sống trên trái đất.

Third. The builders of all animal etheric forms. These are a group closely allied with those who build the human form. They came in force from a reservoir of energy which was kept in a quiescent condition until the physical condition of any particular scheme warranted their activity. With them came in much that accounts for the present sad condition, for much of the fear, hatred, and destructive condition to be found among the animals is caused by their bodies being built, and the work of evolution carried on by the “imperfect gods” (as H. P. B. expresses it) working in imperfect matter as yet imperfectly manipulated. The secret of fear is hidden in the etheric body, and the particular type of substance out of which it may be built.

Thứ ba. Các đấng kiến tạo mọi hình tướng dĩ thái động vật. Đây là một nhóm có liên hệ rất gần với những vị kiến tạo hình tướng con người. Họ đã đến một cách mạnh mẽ từ một hồ chứa năng lượng vốn được giữ trong trạng thái tĩnh cho đến khi điều kiện hồng trần của một hệ hành tinh đặc thù nào đó bảo đảm cho hoạt động của họ. Cùng với họ đã đến nhiều điều giải thích cho tình trạng đáng buồn hiện nay, vì phần lớn nỗi sợ hãi, lòng căm ghét và tình trạng hủy diệt được thấy nơi loài vật là do các thể của chúng được kiến tạo, và công việc tiến hoá được tiến hành bởi “các vị thần bất toàn” (như H. P. B. diễn tả) hoạt động trong vật chất bất toàn, cho đến nay vẫn được vận dụng một cách bất toàn. Bí mật của nỗi sợ hãi được ẩn giấu trong thể dĩ thái, và trong loại chất liệu đặc thù mà từ đó nó có thể được kiến tạo.

3. The builders of the planetary etheric web.

3. Các đấng kiến tạo mạng lưới dĩ thái hành tinh.

Their work is exceedingly obscure and exists in three divisions: [Page 933]

Công việc của họ cực kỳ mơ hồ và tồn tại trong ba phân bộ: [Page 933]

a. The materialisation of the web. This is only perfected by the fourth round, and was purposely hurried in connection with our planet owing to karmic conditions, and under the law of spiritual necessity. A correspondence to this can be seen in the case of man himself. The etheric web was very loosely co-ordinated in man at the beginning of the fourth rootrace. Spiritual necessity forced its rapid consolidation, and it is now so constituted that it forms a barrier between the physical and the astral plane.

a. Sự hiện hình của mạng lưới. Điều này chỉ được hoàn thiện vào cuộc tuần hoàn thứ tư, và đã được cố ý thúc đẩy nhanh liên hệ với hành tinh của chúng ta do các điều kiện nghiệp quả, và theo định luật của sự cần thiết tinh thần. Một sự tương ứng với điều này có thể được thấy trong trường hợp của chính con người. Mạng lưới dĩ thái đã được phối hợp rất lỏng lẻo nơi con người vào đầu giống dân gốc thứ tư. Sự cần thiết tinh thần đã buộc nó phải được củng cố nhanh chóng, và hiện nay nó được cấu tạo sao cho tạo thành một hàng rào giữa cõi hồng trần và cõi cảm dục.

b. The preservation of the planetary web. This will be continued until the sixth round. During this period spiritual evolution proceeds with a certain degree of planetary safety, for the web protects from certain solar influences, and acts largely as a sifter and a distributor of solar forces.

b. Sự bảo tồn mạng lưới hành tinh. Điều này sẽ được tiếp tục cho đến cuộc tuần hoàn thứ sáu. Trong thời kỳ này, tiến hoá tinh thần diễn ra với một mức độ an toàn hành tinh nhất định, vì mạng lưới bảo vệ khỏi một số ảnh hưởng thái dương, và phần lớn hoạt động như một bộ lọc và một bộ phân phối các mãnh lực thái dương.

c. The destruction of the web. This takes place towards the end of planetary evolution, thus permitting the escape of the imprisoned planetary life and the absorption of the life essence into its synthesiser. The process of destruction can only be described in the words perforation and disintegration.

c. Sự hủy diệt mạng lưới. Điều này diễn ra về cuối tiến hoá hành tinh, nhờ đó cho phép sự sống hành tinh bị giam hãm thoát ra và tinh chất sự sống được hấp thu vào đấng tổng hợp của nó. Tiến trình hủy diệt chỉ có thể được mô tả bằng các từ sự đục thủng và sự tan rã.

4. The builders of the etheric body of the planetary Entity.

4. Các đấng kiến tạo thể dĩ thái của Thực Thể Hành Tinh.

This great involutionary life must remain for many aeons a mystery. His etheric body is now in process of building, and only in another solar system will he assume definite physical form. Sufficient energy has not yet been generated to permit of his manifestation objectively. He remains as yet subjective. He has his solar correspondence. [Page 934]

Sự sống giáng hạ tiến hoá vĩ đại này phải còn là một huyền nhiệm trong nhiều đại kiếp. Thể dĩ thái của Ngài hiện đang trong tiến trình được kiến tạo, và chỉ trong một hệ mặt trời khác Ngài mới đảm nhận hình tướng hồng trần xác định. Năng lượng đầy đủ vẫn chưa được tạo ra để cho phép Ngài biểu hiện một cách khách quan. Hiện nay Ngài vẫn còn chủ quan. Ngài có sự tương ứng thái dương của Ngài. [Page 934]

5. The builders of the planetary body.

5. Các đấng kiến tạo thể hành tinh.

This proceeds under the same law as that of the solar system and of man, but, as in the solar system, it proceeds upon the higher planes. Students are here recommended to trace the relation between the solar and cosmic planes in this specific connection.

Điều này tiến hành theo cùng định luật như của hệ mặt trời và của con người, nhưng cũng như trong hệ mặt trời, nó tiến hành trên các cõi cao hơn. Ở đây, các đạo sinh được khuyến nghị truy tìm mối liên hệ giữa các cõi thái dương và các cõi vũ trụ trong mối liên hệ đặc thù này.

6. The etheric doubles of all that man creates.

6. Các bản sao dĩ thái của mọi điều con người tạo ra.

These are a special group of etheric builders who, under karma, are forced to act in conjunction with human beings.

Đây là một nhóm đặc biệt các đấng kiến tạo dĩ thái, dưới nghiệp quả, bị buộc phải hoạt động phối hợp với con người.

These are but a few out of the many groups possible to touch upon; it is needless further to enlarge, as no substantial profit will eventuate from the impartation of further information. Only the briefest indications can be given and touched upon. It is neither safe nor advisable as yet to impart to men knowledge anent the workers in etheric matter, which would enable them to contact them, nor is it wise as yet to link up coherently the scattered facts already given in different occult books. Science is treading on the borderland of discovery, and trespassing already into the domain of the building devas. Caution is needed. Yet if the hints given above are studied, if the various secrets of the builders are pondered upon, and if the esoteric side of Masonry is carefully and persistently meditated upon, the work of the Great Architect and His many assistants will stand forth in a clearer and a fuller light. One hint may here be given, forgetting not that the work is twofold:

Đây chỉ là một vài trong số rất nhiều nhóm có thể được đề cập đến; không cần thiết phải khai triển thêm, vì sẽ không có lợi ích thực chất nào phát sinh từ việc truyền đạt thêm thông tin. Chỉ có thể đưa ra và chạm đến những chỉ dẫn ngắn gọn nhất. Hiện nay, việc truyền cho con người tri thức liên quan đến những người hoạt động trong vật chất dĩ thái, tri thức có thể giúp họ tiếp xúc với các vị ấy, là điều không an toàn cũng không nên làm; cũng chưa khôn ngoan để liên kết một cách mạch lạc các sự kiện rời rạc đã được đưa ra trong những sách huyền bí khác nhau. Khoa học đang bước trên ranh giới của khám phá, và đã xâm nhập vào lĩnh vực của các thiên thần kiến tạo. Cần có sự thận trọng. Tuy nhiên, nếu các gợi ý nêu trên được nghiên cứu, nếu các bí mật khác nhau của các đấng kiến tạo được suy ngẫm, và nếu phương diện huyền bí của Hội Tam Điểm được tham thiền một cách cẩn trọng và bền bỉ, thì công việc của Đại Kiến Trúc Sư và nhiều trợ thủ của Ngài sẽ hiện ra trong một ánh sáng rõ ràng và đầy đủ hơn. Ở đây có thể đưa ra một gợi ý, mà không quên rằng công việc là nhị phân:

The construction of the tabernacle, or the building of the temporary forms is the work of the Divine Carpenter, whilst the building of the Temple of Solomon, or the construction of the more permanent structure is the work of the Supervising Architect. One concerns operative, and the other speculative Masonry in the true esoteric significance of the word.

Việc dựng lều tạm, hay xây dựng các hình tướng tạm thời là công việc của Người Thợ Mộc Thiêng Liêng, trong khi việc xây Đền Solomon, hay kiến tạo cấu trúc bền vững hơn là công việc của Vị Kiến Trúc Sư Giám Sát. Một bên liên quan đến Hội Tam Điểm thực hành, và bên kia liên quan đến Hội Tam Điểm chiêm nghiệm theo thâm nghĩa huyền bí chân chính của từ này.

[Page 935] The devas who form the etheric doubles of all objects out of their own substance must also be considered. These builders are the sumtotal of all physical plane substance, and constitute the matter of the etheric levels of the physical plane. They exist, therefore, in four groups, and each group has a curious karmic relation to one of the four kingdoms in nature:

[Page 935] Các thiên thần tạo thành các bản sao dĩ thái của mọi vật từ chính chất liệu của họ cũng phải được xem xét. Các đấng kiến tạo này là tổng số mọi chất liệu của cõi hồng trần, và cấu thành vật chất của các cấp dĩ thái của cõi hồng trần. Do đó, họ tồn tại trong bốn nhóm, và mỗi nhóm có một mối liên hệ nghiệp quả kỳ lạ với một trong bốn giới trong thiên nhiên:

Group.

Plane.

Kingdom.

First

One

Human

Second

Two

Animal

Third

Three

Vegetable

Fourth

Four.

Mineral

The substance of the highest physical form of a human being is therefore atomic. The Master’s physical body is made of atomic matter, and when He wishes to materialise it on the dense physical plane, He forms a sheath of gaseous substance upon that atomic matter, perfect in its delineation of all the known physical traits. The substance of the highest form of animal body is that of the second ether, and herein is to be found a clue as to the relation between all sea and watery forms to the animal. The highest form of body possible for the vegetable form of life is that of the third ether. These facts will be demonstrated in the seventh round when the present three kingdoms of nature—the human, the animal, and the vegetable will objectively exist in etheric matter; that will be for them their densest manifestation. The mineral kingdom will find its highest manifestation in matter of the fourth ether, and this transmutation is already taking place, for all the radioactive substances now being discovered are literally becoming matter of the fourth ether. The mineral kingdom is relatively nearing its possible manvantaric perfection, and by the time the seventh round is reached all mineral lives (not forms) [Page 936] will have been transferred to another planet. This will not be so with the other three kingdoms.

Chất liệu của hình tướng hồng trần cao nhất của một con người vì thế là nguyên tử. Thể hồng trần của Chân sư được tạo bằng vật chất nguyên tử, và khi Ngài muốn hiện hình nó trên cõi hồng trần đậm đặc, Ngài tạo thành một lớp vỏ bằng chất liệu thể khí trên vật chất nguyên tử ấy, hoàn hảo trong việc phác họa mọi đặc điểm hồng trần đã biết. Chất liệu của hình thức thể cao nhất của động vật là chất liệu của dĩ thái thứ hai, và ở đây có thể tìm thấy một đầu mối về mối liên hệ giữa mọi hình thức biển và nước với loài vật. Hình thức thể cao nhất có thể có đối với hình thức sự sống thực vật là của dĩ thái thứ ba. Những sự kiện này sẽ được chứng minh trong cuộc tuần hoàn thứ bảy khi ba giới thiên nhiên hiện nay—giới nhân loại, giới động vật và giới thực vật—sẽ tồn tại một cách khách quan trong vật chất dĩ thái; đối với chúng, đó sẽ là biểu hiện đậm đặc nhất của chúng. Giới kim thạch sẽ tìm thấy biểu hiện cao nhất của nó trong vật chất của dĩ thái thứ tư, và sự chuyển hoá này hiện đã đang diễn ra, vì mọi chất liệu phóng xạ hiện đang được khám phá thực sự đang trở thành vật chất của dĩ thái thứ tư. Giới kim thạch tương đối đang tiến gần đến sự hoàn hảo có thể có của nó trong giai kỳ sinh hóa, và vào lúc đạt đến cuộc tuần hoàn thứ bảy, mọi sự sống kim thạch (không phải các hình tướng) [Page 936] sẽ được chuyển dịch sang một hành tinh khác. Điều này sẽ không xảy ra với ba giới kia.

The etheric deva substance is acted upon in two ways:

Chất liệu thiên thần dĩ thái bị tác động theo hai cách:

It is awakened into a specific activity by the sounding of the physical plane word, and it is built into forms by the lesser builders.

Nó được đánh thức vào một hoạt động đặc thù bởi việc xướng linh từ của cõi hồng trần, và được các vị tiểu kiến tạo xây dựng thành các hình tướng.

It will, therefore, be apparent that it comes under the influence of two types of force or energy.

Do đó, sẽ rõ ràng rằng nó chịu ảnh hưởng của hai loại mãnh lực hay năng lượng.

We will now briefly take up the subject of the work of the devas who build man’s etheric and dense physical body. By dividing our thoughts into two sections, we may be able to cover the ground somewhat more easily, dealing first with the building devas and the microcosm and then with the lesser builders of the etheric levels.

Giờ đây chúng ta sẽ ngắn gọn bàn đến chủ đề công việc của các thiên thần kiến tạo thể dĩ thái và thể hồng trần đậm đặc của con người. Bằng cách chia tư tưởng của chúng ta thành hai phần, chúng ta có thể bao quát lĩnh vực này phần nào dễ dàng hơn, trước hết bàn đến các thiên thần kiến tạo và tiểu thiên địa, rồi đến các vị tiểu kiến tạo của các cấp dĩ thái.

d. The Elementals and the Microcosm.

d. Các Hành Khí và Tiểu thiên địa.

Man and the building devas. Man, in the process of evolution, as he pursues the method of reincarnation, works with four types of builders and three major grades of building essence or deva substance.

Con người và các thiên thần kiến tạo. Con người, trong tiến trình tiến hoá, khi theo đuổi phương pháp tái sinh, hoạt động với bốn loại đấng kiến tạo và ba cấp chính của tinh chất kiến tạo hay chất liệu thiên thần.

He connects with the transmitting devas who are found in connection with the microcosm on the fourth subplane of the mental plane, and on the atomic subplanes of the astral and physical plane. He connects next with the devas concerned with:

Y liên kết với các thiên thần truyền dẫn được tìm thấy liên hệ với tiểu thiên địa trên cõi phụ thứ tư của cõi trí, và trên các cõi phụ nguyên tử của cõi cảm dục và cõi hồng trần. Kế đó y liên kết với các thiên thần liên quan đến:

1. The mental unit.

1. đơn vị hạ trí.

2. The astral permanent atom.

2. Nguyên tử trường tồn cảm dục.

3. The physical permanent atom.

3. Nguyên tử trường tồn hồng trần.

He co-operates with the work of the building devas who form the etheric body, and influences the building devas of the dense physical substances, so that the necessary physical vehicle for his objective manifestation becomes an actuality.

Y hợp tác với công việc của các thiên thần kiến tạo tạo thành thể dĩ thái, và ảnh hưởng đến các thiên thần kiến tạo của các chất liệu hồng trần đậm đặc, để vận cụ hồng trần cần thiết cho biểu hiện khách quan của y trở thành hiện thực.

These are the four main groups of devas which come under the influence of any particular Ego. They unitedly [Page 937] produce the lower man, and bring into manifestation the Personality, that reflection of the Ego and shadow of the Monad. The three grades of building essence which are built into forms through the activity of the above four groups are here briefly recognised as the mental substance, built into the mental body, the astral substance, built into the astral vehicle and the matter of the physical body. These seven groups form, in their totality, what we might call the Brahma aspect of the microcosm.

Đây là bốn nhóm thiên thần chính chịu ảnh hưởng của bất kỳ chân ngã đặc thù nào. Họ cùng nhau [Page 937] tạo ra phàm nhân, và đưa Phàm ngã vào biểu hiện, sự phản chiếu của chân ngã và cái bóng của chân thần. Ba cấp tinh chất kiến tạo được xây dựng thành các hình tướng qua hoạt động của bốn nhóm trên đây được nhìn nhận ngắn gọn ở đây là chất liệu trí tuệ, được xây thành thể trí, chất liệu cảm dục, được xây thành vận cụ cảm dục, và vật chất của thể hồng trần. Bảy nhóm này, trong tổng thể của chúng, tạo thành điều mà chúng ta có thể gọi là phương diện Brahma của tiểu thiên địa.

From another point of view, we may be considered as studying the action of the solar Angel, or Lord, upon the lunar angels, and the process whereby the solar Lord imposes a certain rhythm and vibration upon different aspects of lower manifestation. Esoterically, this is all hidden in the words of a very ancient writing, which says:

Từ một quan điểm khác, chúng ta có thể được xem như đang nghiên cứu tác động của Thái dương Thiên Thần, hay Chúa Tể, lên các thái âm thiên thần, và tiến trình nhờ đó Chúa Tể thái dương áp đặt một nhịp điệu và rung động nhất định lên các phương diện khác nhau của biểu hiện thấp. Một cách huyền bí, tất cả điều này được ẩn giấu trong lời của một bản văn rất cổ, nói rằng:

“As the moon revolves, she reflects. As she reflects, she causes response in that which failed to radiate. These three, the Sun, the Moon, and the Mother, produce that which pursues a tiny cycle, and burns.”

“Khi mặt trăng xoay chuyển, nàng phản chiếu. Khi nàng phản chiếu, nàng gây ra sự đáp ứng nơi điều đã không phát xạ. Ba điều này, Mặt Trời, Mặt Trăng và Mẹ, tạo ra điều theo đuổi một chu kỳ nhỏ bé, và cháy sáng.”

The first step of the Ego towards producing a “shadow” is expressed in the words “The Ego sounds his note.” He utters his voice, and (as in the logoic process) the lesser “army of the voice” responds immediately to it. According to the tone and quality of the voice, so is the nature of the responsive agents. According to the depth or height of the note, and according to its volume, so is the status or grade of building deva which replies to the call. This egoic note produces, therefore, certain effects:

Bước đầu tiên của chân ngã trong việc tạo ra một “cái bóng” được diễn tả trong lời “Chân ngã xướng lên âm điệu của mình.” Y phát ra tiếng nói của mình, và (như trong tiến trình của Thượng đế) “đạo quân của tiếng nói” nhỏ hơn lập tức đáp ứng với nó. Tùy theo âm sắc và phẩm tính của tiếng nói mà bản chất của các tác nhân đáp ứng sẽ như thế. Tùy theo độ trầm hay cao của âm điệu, và tùy theo âm lượng của nó, mà địa vị hay cấp bậc của thiên thần kiến tạo đáp lời sẽ như thế. Vì vậy, âm điệu chân ngã này tạo ra những hiệu quả nhất định:

It sweeps into activity devas who proceed to transmit the sound. They utter a word.

Nó cuốn các thiên thần vào hoạt động, những vị này tiến hành truyền dẫn âm thanh. Họ thốt ra một từ.

It reaches the listening devas of the second grade who take up the word and proceed to elaborate it into what might be called a mantric phrase. The building process definitely begins in a sequential threefold manner. The [Page 938] mental body begins to co-ordinate in three stages. All the building stages overlap. When, for instance, the co-ordination of the mental body is in its second stage, the first stage of astral concretion begins. This is carried on for seven stages (three major and four minor) which overlap in an intricate fashion. Again, when the second stage is reached, a vibration is produced which awakens response in etheric matter on the physical plane, and the builders of the etheric double commence their activity. Again the process is repeated. When the second stage of the work of these etheric devas is begun, conception takes place upon the physical plane. This is a very important point to be remembered, for it brings the entire process of human birth definitely into line with established karmic law. It shows the close connection between that which is subjective and that which is tangible and seen. The building of the physical body proceeds like that of the three stages during the prenatal period:

Nó đến với các thiên thần lắng nghe của cấp thứ hai, những vị tiếp nhận từ ấy và tiến hành khai triển nó thành điều có thể được gọi là một cụm từ mantram. Tiến trình kiến tạo xác định bắt đầu theo một cách tam phân tuần tự. [Page 938] Thể trí bắt đầu phối hợp trong ba giai đoạn. Tất cả các giai đoạn kiến tạo đều chồng lấn lên nhau. Chẳng hạn, khi sự phối hợp của thể trí đang ở giai đoạn thứ hai, thì giai đoạn đầu của sự cô đặc cảm dục bắt đầu. Điều này được tiếp tục qua bảy giai đoạn (ba giai đoạn chính và bốn giai đoạn phụ) chồng lấn lên nhau theo một cách phức tạp. Hơn nữa, khi giai đoạn thứ hai đạt đến, một rung động được tạo ra, đánh thức sự đáp ứng trong vật chất dĩ thái trên cõi hồng trần, và các đấng kiến tạo của bản sao dĩ thái bắt đầu hoạt động. Tiến trình lại được lặp lại. Khi giai đoạn thứ hai của công việc của các thiên thần dĩ thái này bắt đầu, sự thụ thai diễn ra trên cõi hồng trần. Đây là một điểm rất quan trọng cần ghi nhớ, vì nó đưa toàn bộ tiến trình sinh ra của con người vào đúng hàng ngũ của định luật nghiệp quả đã được thiết lập. Nó cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa điều chủ quan với điều sờ chạm được và được thấy. Việc kiến tạo thể hồng trần tiến hành như của ba giai đoạn trong thời kỳ trước khi sinh:

a. The work of the building devas during the three and a half months prior to the realisation of life. This period sees the third stage of the building of the etheric body entered upon.

a. Công việc của các thiên thần kiến tạo trong ba tháng rưỡi trước khi có sự chứng nghiệm về sự sống. Thời kỳ này chứng kiến giai đoạn thứ ba của việc kiến tạo thể dĩ thái được bước vào.

b. The building work of the next three and a half months of the gestation period.

b. Công việc kiến tạo của ba tháng rưỡi kế tiếp của thời kỳ thai nghén.

c. The final process of concretion carried on through the remaining two months.

c. Tiến trình cô đặc cuối cùng được tiến hành trong hai tháng còn lại.

Students will here find it interesting to trace out the correspondence in this method of producing evolutionary manifestation in a planetary scheme with its rounds and races, and in a solar system with its manvantaras and greater cycles.

Ở đây, các đạo sinh sẽ thấy thú vị khi truy tìm sự tương ứng trong phương pháp tạo ra biểu hiện tiến hoá này trong một hệ hành tinh với các cuộc tuần hoàn và các giống dân của nó, và trong một hệ mặt trời với các giai kỳ sinh hóa và các chu kỳ lớn hơn của nó.

In summing up this very cursory outline, the work of the etheric devas does not cease at the birth of the man, but is continued likewise in three stages, which find a close analogy in the life period of a solar system.

Tóm lại phác thảo rất sơ lược này, công việc của các thiên thần dĩ thái không chấm dứt khi con người ra đời, mà cũng được tiếp tục trong ba giai đoạn, những giai đoạn này có sự tương đồng chặt chẽ với thời kỳ sống của một hệ mặt trời.

[Page 939] First, their work is directed to the steady increase of the human physical vehicle, so that it may follow accurately the lines of growth of the two subtler bodies. This is carried on till maturity is reached. The next stage is that in which their work consists largely of repair work, and the preservation of the body during the years of full manhood so that it can measure up to the purpose of the subjective life. This purpose necessarily varies according to the stage of development of the man. Finally comes the stage when the work of building ceases. The vitality in the etheric body waxes dim, and the processes of destruction begin. The Ego begins to call in his forces. The “sound” becomes faint and dim; there is less and less volume for the transmitters to pass on, and the initial vibration gets fainter and fainter. The period of obscuration comes in. First the physical body waxes weak and useless; then the Ego withdraws from the centres, and functions for a few hours in the etheric double. This in turn is devitalised, and so the process is carried on till one by one the sheaths are discarded and the egoic “shadow” is dissipated.

[Page 939] Trước hết, công việc của họ được hướng đến sự tăng trưởng đều đặn của vận cụ hồng trần của con người, để nó có thể theo sát một cách chính xác các đường tăng trưởng của hai thể vi tế hơn. Điều này được tiếp tục cho đến khi đạt đến trưởng thành. Giai đoạn kế tiếp là giai đoạn trong đó công việc của họ phần lớn gồm công việc sửa chữa và bảo tồn thể trong những năm sung mãn của đời người để nó có thể đáp ứng mục đích của sự sống chủ quan. Mục đích này tất yếu thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển của con người. Cuối cùng đến giai đoạn khi công việc kiến tạo chấm dứt. Sinh lực trong thể dĩ thái mờ dần, và các tiến trình hủy diệt bắt đầu. Chân ngã bắt đầu thu hồi các mãnh lực của mình. “Âm thanh” trở nên yếu và mờ; âm lượng để các vị truyền dẫn chuyển tiếp ngày càng ít đi, và rung động ban đầu ngày càng nhạt dần. Thời kỳ che khuất xuất hiện. Trước hết thể hồng trần trở nên yếu và vô dụng; rồi chân ngã rút khỏi các trung tâm, và hoạt động trong vài giờ trong bản sao dĩ thái. Đến lượt nó, bản sao này bị mất sinh lực, và cứ thế tiến trình tiếp diễn cho đến khi từng lớp vỏ một bị loại bỏ và “cái bóng” chân ngã bị làm tiêu tan.

The work of the building devas.

Công việc của các thiên thần kiến tạo.

Let us now consider the work of the building devas on the three planes, dealing with them in two groups:

Giờ đây chúng ta hãy xét công việc của các thiên thần kiến tạo trên ba cõi, bàn đến họ trong hai nhóm:

a. Those who are connected with the permanent atoms.

a. Những vị liên hệ với các nguyên tử trường tồn.

b. Those who are responsible for the building process.

b. Những vị chịu trách nhiệm về tiến trình kiến tạo.

The devas of the permanent atoms. This particular group of devas are the aggregate of the lives who form the mental unit and the two permanent atoms. They, as we know, have their place within the causal periphery, and are focal points of egoic energy. They are the very highest type of building devas, and form a group of lives which are closely allied to the solar Angels. They exist in seven groups connected with three of the spirillae of [Page 940] the logoic physical permanent atom. These three spirillae are to these seven groups of lives what the three major rays are to the seven groups of rays on the egoic subplanes of the mental plane. This phrase will bear meditating upon, and may convey much information to the intuitional thinker. There is a correspondence between the three permanent atomic triads, and the appearance of man in the third root race. A curiously interesting sequence of the three lines of force can be seen in:

Các thiên thần của các nguyên tử trường tồn. Nhóm thiên thần đặc thù này là tổng thể các sự sống tạo thành đơn vị hạ trí và hai nguyên tử trường tồn. Như chúng ta biết, họ có vị trí của mình trong chu vi nhân thể, và là các tiêu điểm của năng lượng chân ngã. Họ là loại thiên thần kiến tạo cao nhất, và tạo thành một nhóm sự sống có liên hệ mật thiết với các Thái dương Thiên Thần. Họ tồn tại trong bảy nhóm liên hệ với ba loa tuyến của [Page 940] nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế. Ba loa tuyến này đối với bảy nhóm sự sống ấy cũng giống như ba cung chính đối với bảy nhóm cung trên các cõi phụ chân ngã của cõi trí. Cụm từ này đáng để tham thiền, và có thể truyền đạt nhiều thông tin cho nhà tư tưởng trực giác. Có một sự tương ứng giữa ba tam nguyên nguyên tử trường tồn, và sự xuất hiện của con người trong giống dân gốc thứ ba. Một chuỗi rất thú vị của ba đường mãnh lực có thể được thấy trong:

a. The triads of the involutionary group soul.

a. Các tam nguyên của hồn nhóm giáng hạ tiến hoá.

b. The appearance of triple natured man in the third root race.

b. Sự xuất hiện của con người tam phân trong giống dân gốc thứ ba.

c. The triads in the causal bodies of any self-conscious unit.

c. Các tam nguyên trong các thể nguyên nhân của bất kỳ đơn vị ngã thức nào.

These building devas are the ones who take up the sound as the Ego sends it forth through certain of the transmitting deva agencies, and by the vibration which this sets up they drive into activity the surrounding deva essence in their two groups:

Các thiên thần kiến tạo này là những vị tiếp nhận âm thanh khi chân ngã phát nó ra qua một số tác nhân thiên thần truyền dẫn nhất định, và bằng rung động mà điều này tạo nên, họ thúc đẩy vào hoạt động tinh chất thiên thần chung quanh trong hai nhóm của nó:

a. Those who build the form.

a. Những vị kiến tạo hình tướng.

b. Those who are built into the form.

b. Những vị được kiến tạo vào trong hình tướng.

They only affect those of analogous vibration. The stages of the building of any of the four forms through which lower man (the Quaternary) functions, follow exactly analogous stages to the building of the dense physical body, for instance, of a planet, or of a solar system. This can be traced all the way from the nebulous and chaotic stages through the fiery to the solid, or to the relatively solid where a subtle body is concerned. There is no need for us further to enlarge. H. P. B. has outlined these stages in the Secret Doctrine, (I, 279, 280.) and they have been dealt with in an earlier part of this Treatise.

Các vị này chỉ tác động đến những ai có rung động tương tự. Các giai đoạn kiến tạo bất kỳ một trong bốn thể mà qua đó phàm nhân thấp (Bộ Tứ) hoạt động, đều tuân theo những giai đoạn hoàn toàn tương tự với sự kiến tạo thể xác hồng trần đậm đặc, chẳng hạn, của một hành tinh, hay của một hệ mặt trời. Điều này có thể được truy nguyên suốt từ các giai đoạn tinh vân và hỗn mang, xuyên qua giai đoạn rực lửa đến giai đoạn rắn chắc, hay đến mức tương đối rắn chắc khi liên quan đến một thể vi tế. Chúng ta không cần khai triển thêm. H. P. B. đã phác họa các giai đoạn này trong Giáo Lý Bí Nhiệm, (I, 279, 280.) và chúng đã được bàn đến trong một phần trước của bộ Luận này.

We have dealt at some length already with the work [Page 941] of the transmitting devas upon the three planes in the three worlds, and with that of the devas connected with those relatively permanent focal points—the permanent atoms within the causal periphery. We can now consider the group of builders who, responding to the note of the transmitting agencies and to the initial vibration of the second group of builders concerned with the triple lower self, begin the work of aggregating and moulding the living substance necessary for egoic manifestation upon the lower planes.

Chúng ta đã bàn khá dài về công việc [Page 941] của các thiên thần truyền dẫn trên ba cõi trong ba cõi giới, và về công việc của các thiên thần liên hệ với những điểm tiêu cự tương đối thường tồn ấy—các nguyên tử trường tồn bên trong chu vi nhân thể. Giờ đây chúng ta có thể xét đến nhóm các đấng kiến tạo, những vị, đáp ứng với âm điệu của các tác nhân truyền dẫn và với rung động khởi đầu của nhóm đấng kiến tạo thứ hai liên hệ với phàm ngã tam phân, bắt đầu công việc tập hợp và nắn tạo chất liệu sống cần thiết cho sự biểu hiện của chân ngã trên các cõi thấp.

We have seen that the first three stages of the egoic work are:

Chúng ta đã thấy rằng ba giai đoạn đầu của công việc chân ngã là:

1. The sounding of the appropriate note, which note is indicative of man’s place in evolution, and of the nature of his “psyche,” or Ego.

1. Xướng lên âm điệu thích hợp, âm điệu biểu thị vị trí của con người trong tiến hoá, và bản chất của “psyche” hay chân ngã của y.

2. The transmission of this note by the solar Angel, and the three groups of devas connected with the three permanent atoms.

2. Sự truyền đạt âm điệu này bởi Thái dương Thiên Thần, và ba nhóm thiên thần liên hệ với ba nguyên tử trường tồn.

3. The vibration set up within these atoms which is in line with the note sounded, and which becomes so strong as to make itself felt in the surrounding deva substance, thus awakening response.

3. Rung động được khởi lên bên trong các nguyên tử này, phù hợp với âm điệu đã được xướng lên, và trở nên mạnh đến mức tự làm cho mình được cảm nhận trong chất liệu thiên thần chung quanh, nhờ đó đánh thức sự đáp ứng.

These may be considered as the three primary stages, and we find demonstrated (in connection with the microcosm) the three factors of sound, colour and vibration, which, under the Law of Analogy, reflect the three aspects of the macrocosm. Here too is found a resemblance to the work of the first three Sephiroths of the Kabbalah,—the primary stage of manifestation finding its dim reflection in the work of the Ego in the three worlds.

Có thể xem đây là ba giai đoạn sơ khởi, và chúng ta thấy được chứng minh (liên hệ với tiểu thiên địa) ba yếu tố âm thanh, màu sắc và rung động, là những yếu tố, dưới định luật tương đồng, phản chiếu ba phương diện của đại thiên địa. Ở đây cũng thấy có sự tương tự với công việc của ba Sephiroth đầu tiên của Kabbalah,—giai đoạn sơ khởi của sự biểu hiện tìm thấy phản chiếu mờ nhạt của nó trong công việc của chân ngã trong ba cõi giới.

The second stage now takes place, in which the work of building proceeds until the microcosm, man, makes his appearance upon the physical plane. This is succeeded by a third stage of evolution, in which the psychic nature of man is to demonstrate through the medium of the [Page 942] created forms. Then the next two groups of Sephiroth are seen reproduced in man. He is demonstrated to be nine from another angle but we are only concerned in this section with the builders of the form.

Giờ đây giai đoạn thứ hai diễn ra, trong đó công việc kiến tạo tiếp tục cho đến khi tiểu thiên địa, con người, xuất hiện trên cõi hồng trần. Tiếp theo đó là giai đoạn tiến hoá thứ ba, trong đó bản chất thông linh của con người sẽ biểu lộ qua trung gian của các [Page 942] hình tướng đã được tạo ra. Khi ấy hai nhóm Sephiroth kế tiếp được thấy tái hiện trong con người. Y được chứng tỏ là số chín từ một góc độ khác nhưng trong phần này chúng ta chỉ quan tâm đến các đấng kiến tạo hình tướng.

These groups of builders are four in number:

Các nhóm đấng kiến tạo này có bốn nhóm:

1. The builders of the mental body.

1. Các đấng kiến tạo thể trí.

2. The builders of the astral body.

2. Các đấng kiến tạo thể cảm dục.

3. The builders of the etheric body.

3. Các đấng kiến tạo thể dĩ thái.

4. The builders of the dense physical.

4. Các đấng kiến tạo thể xác hồng trần đậm đặc.

Each of these groups can be subdivided into four or seven or three, according to the plane concerned. Students must remember that matter from the two lowest subplanes of the physical and of the astral planes are never built into the human body as now constituted; it is of too low a vibration, and too coarse a grade for even the lowest type of men on earth at this time. It must be pointed out also that in the average man, the matter of some subplane will preponderate according to the depth of his nature and his place on the ladder of evolution. The “builders” of the human body work under the direction of one of the Lords of Karma from the lowest group. These Lords are to be found in three groups, and a Lord out of the third group has the work of superintending the builders of the human being on the three planes. Under Him are to be found certain karmic agents, who again are divided into the following groups:

Mỗi nhóm này có thể được phân chia thành bốn hay bảy hay ba, tùy theo cõi liên hệ. Các đạo sinh phải nhớ rằng vật chất từ hai cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần và cõi cảm dục không bao giờ được kiến tạo vào trong thể người như hiện nay; rung động của nó quá thấp, và cấp độ của nó quá thô đối với ngay cả loại người thấp nhất trên trái đất vào lúc này. Cũng cần chỉ ra rằng nơi con người trung bình, vật chất của một cõi phụ nào đó sẽ chiếm ưu thế tùy theo chiều sâu bản chất của y và vị trí của y trên nấc thang tiến hoá. Các “đấng kiến tạo” của thể người hoạt động dưới sự chỉ đạo của một trong các Đấng Nghiệp Quả thuộc nhóm thấp nhất. Các Đấng này được tìm thấy trong ba nhóm, và một Đấng thuộc nhóm thứ ba có công việc giám sát các đấng kiến tạo con người trên ba cõi. Dưới quyền Ngài có một số tác nhân nghiệp quả, và các vị này lại được chia thành những nhóm sau:

1. Three karmic agents responsible to the karmic Lords for the work on the three planes.

1. Ba tác nhân nghiệp quả chịu trách nhiệm trước các Đấng Nghiệp Quả về công việc trên ba cõi.

2. Five karmic Lords who work in close connection with the Manus of the various races, and who are responsible for the correct building of the varying race types.

2. Năm Đấng Nghiệp Quả hoạt động trong liên hệ mật thiết với các Đức Manu của các nhân loại khác nhau, và chịu trách nhiệm về sự kiến tạo đúng đắn các loại hình nhân loại khác nhau.

3. Karmic agents responsible for the subrace types of the present time. [Page 943]

3. Các tác nhân nghiệp quả chịu trách nhiệm về các loại hình giống dân phụ của thời hiện tại. [Page 943]

4. Certain intermediary agents who represent (within these three groups) the seven Ray types.

4. Một số tác nhân trung gian đại diện (trong ba nhóm này) cho bảy loại cung.

5. Those agents of the good Law who are connected specifically with the work of the etheric centres, and their response to the different planetary centres.

5. Những tác nhân của Định luật thiện lành liên hệ đặc biệt với công việc của các trung tâm dĩ thái, và sự đáp ứng của chúng đối với các trung tâm hành tinh khác nhau.

6. The keepers of the records.

6. Những vị giữ hồ sơ.

These various intelligences manipulate the building forces through the medium of streams of energy, which streams are set in motion when the Ego sounds his note. It must be remembered that in more or less degree upon his own plane the Ego is aware of his karma, and of what must be done to promote growth during the coming incarnation. He works, therefore, in connection with these Lords, but is only directly in touch with an agent of the sixth group and of the fourth. Through these two the work proceeds as far as the Ego is individually concerned, and they set in motion for him (after he has sounded his note) the machinery of the Law.

Các trí tuệ khác nhau này điều khiển các mãnh lực kiến tạo qua trung gian các dòng năng lượng, những dòng này được khởi động khi chân ngã xướng lên âm điệu của mình. Cần nhớ rằng ở mức độ nhiều hay ít trên cõi riêng của mình, chân ngã ý thức được nghiệp quả của mình, và điều gì phải được thực hiện để thúc đẩy sự tăng trưởng trong kiếp lâm phàm sắp tới. Vì vậy, y hoạt động trong liên hệ với các Đấng này, nhưng chỉ trực tiếp tiếp xúc với một tác nhân của nhóm thứ sáu và của nhóm thứ tư. Qua hai vị này công việc được tiến hành trong chừng mực liên hệ cá nhân đến chân ngã, và các vị ấy khởi động cho y (sau khi y đã xướng lên âm điệu của mình) bộ máy của Định luật.

The builders of the human personality again are divided into seven main groups; all devas, just as is the case with the human Monads, come under one or other of the seven Rays, and are responsive to one or other of the seven logoic streams of fiery energy. According to a man’s egoic Ray, so will be the type of deva substance influenced.

Các đấng kiến tạo phàm ngã con người lại được chia thành bảy nhóm chính; mọi thiên thần, cũng như trường hợp các Chân thần nhân loại, đều thuộc về một hay nhóm khác trong bảy Cung, và đáp ứng với một hay nhóm khác trong bảy dòng năng lượng lửa của Thượng đế. Tùy theo cung chân ngã của một người mà loại chất liệu thiên thần bị ảnh hưởng sẽ như thế ấy.

These builders work with certain elementals, but it is only upon the physical plane that any idea can be given as to their nature and work. These elementals are the little entities who, adhering to the plan as embodied by the builders, blindly construct the fabric of the body, and form the sheaths through which the Ego is to express himself. On the etheric planes they build the real “form” out of etheric substance, and produce the sheath of intricate lines of interlacing fiery strands, which is in [Page 944] reality an extension of the sutratma, or life thread. As it is woven and interlaced it becomes vitalised with the life energy sent down from the Ego, just as Shiva, the Father, gives to the Son the real “bios” or life, while the Mother warms, builds, and nourishes the body. The work of the etheric elementals reaches its primary consummation when the sutratma is connected with the three centres of the physical nature within the cranium—the pineal gland, the pituitary body, and the alta major centre. Occultly, the most important connection is the entrance of the sutratma into the centre at the top of the head, that through which the life of the etheric body withdraws at the moment of death. This is the vital point. The “thread” of life there, by the time the seventh year is reached, has divided itself into three branches, reaching out to the three centres. The realisation of this fact will eventually prove of much interest to scientists. A good deal of imbecility, or of arrested development will be found to have its origin in the etheric connection with these three centres. The etheric web is literally the fine network of fiery threads which spreads itself over the centre, and forms an area of fairly large dimensions. It separates the two bodies, astral and physical. A similar corresponding area will be found in the solar system. Through it the cosmic forces must pass to the different planetary schemes.

Các đấng kiến tạo này làm việc với một số hành khí, nhưng chỉ trên cõi hồng trần mới có thể đưa ra một ý niệm nào đó về bản chất và công việc của chúng. Các hành khí này là những thực thể nhỏ bé, những kẻ, bám theo thiên cơ như được thể hiện bởi các đấng kiến tạo, một cách mù quáng xây dựng kết cấu của thể, và tạo thành các vỏ bọc qua đó chân ngã sẽ biểu lộ chính mình. Trên các cõi dĩ thái chúng xây dựng “hình tướng” thực sự bằng chất liệu dĩ thái, và tạo ra vỏ bọc gồm những đường nét phức tạp của các sợi lửa đan xen, mà trong [Page 944] thực tại là một sự mở rộng của sutratma, hay sinh mệnh tuyến. Khi nó được dệt và đan xen, nó trở nên được tiếp sinh lực bằng năng lượng sự sống được gửi xuống từ chân ngã, cũng như Shiva, Người Cha, ban cho Người Con “bios” hay sự sống thực sự, trong khi Người Mẹ sưởi ấm, xây dựng và nuôi dưỡng thể. Công việc của các hành khí dĩ thái đạt đến sự hoàn tất sơ khởi khi sutratma được nối với ba trung tâm của bản chất hồng trần bên trong hộp sọ—tuyến tùng, tuyến yên, và trung tâm alta major. Một cách huyền bí, sự nối kết quan trọng nhất là sự đi vào của sutratma vào trung tâm ở đỉnh đầu, trung tâm mà qua đó sự sống của thể dĩ thái rút lui vào lúc chết. Đây là điểm sinh tử. “Sợi dây” sự sống ở đó, vào lúc đứa trẻ đạt đến năm thứ bảy, đã tự phân chia thành ba nhánh, vươn tới ba trung tâm. Việc chứng nghiệm sự kiện này rốt cuộc sẽ chứng tỏ rất đáng quan tâm đối với các nhà khoa học. Phần lớn tình trạng đần độn, hay sự phát triển bị đình trệ, sẽ được thấy là có nguồn gốc trong sự nối kết dĩ thái với ba trung tâm này. Mạng dĩ thái theo nghĩa đen là mạng lưới tinh vi của các sợi lửa trải rộng trên trung tâm, và tạo thành một khu vực có kích thước khá lớn. Nó tách biệt hai thể, cảm dục và hồng trần. Một khu vực tương ứng tương tự sẽ được tìm thấy trong hệ mặt trời. Qua đó các mãnh lực vũ trụ phải đi đến các hệ hành tinh khác nhau.

The elemental groups of the dense physical plane who are swept into activity by the builders, are three in number:

Các nhóm hành khí của cõi hồng trần đậm đặc được các đấng kiến tạo cuốn vào hoạt động có ba nhóm:

a. The gaseous elementals.

a. Các hành khí thể khí.

b. The liquid elementals.

b. Các hành khí thể lỏng.

c. The strictly dense elementals.

c. Các hành khí đậm đặc đúng nghĩa.

One group concerns itself with the fiery channels, with the fires of the human body, and with the different gases to be found within the human periphery. Another group [Page 945] is to be seen working in connection with the circulatory system, and with all the liquids, juices, and waters of the body; whilst the third is largely involved in the construction of the frame, through the right apportioning of the minerals and chemicals. A hint in connection with medicine is here to be found; it is occultly true that just as the liquid devas and elementals are closely related to the vegetable kingdom, and both to the plane of the emotions, the logoic liquid body, so the ills of men which affect the circulatory system, the kidneys, the bladder, and the lubrication of the joints, will find a CURE in vegetable constituents and above all in the right adjustment of the emotional nature.

Một nhóm chuyên lo các kênh lửa, các ngọn lửa của thể người, và các loại khí khác nhau được tìm thấy trong chu vi con người. Một nhóm khác [Page 945] được thấy hoạt động liên hệ với hệ tuần hoàn, và với mọi chất lỏng, dịch thể, và nước của thể; trong khi nhóm thứ ba phần lớn tham gia vào việc xây dựng khung xương, qua sự phân bổ đúng đắn các khoáng chất và hóa chất. Ở đây có thể tìm thấy một gợi ý liên hệ với y học; theo huyền bí học, quả thật đúng rằng cũng như các thiên thần thể lỏng và các hành khí có liên hệ mật thiết với giới thực vật, và cả hai đều liên hệ với cõi cảm xúc, thể lỏng của Thượng đế, thì các chứng bệnh của con người ảnh hưởng đến hệ tuần hoàn, thận, bàng quang, và sự bôi trơn của các khớp, sẽ tìm được một PHƯƠNG THUỐC trong các thành phần thực vật và trên hết là trong sự điều chỉnh đúng đắn bản chất cảm xúc.

Several influences other than those mentioned have to be considered when the subject of the work of these builders of man’s body is under discussion. Not only are they affected by:

Khi bàn đến chủ đề công việc của các đấng kiến tạo thể người này, còn phải xét đến một số ảnh hưởng khác ngoài những điều đã nêu. Các vị ấy không chỉ bị ảnh hưởng bởi:

a. A man’s note,

a. Âm điệu của một người,

b. The colour poured forth by the transmitting agents,

b. Màu sắc được tuôn ra bởi các tác nhân truyền dẫn,

c. The karmic agents,

c. Các tác nhân nghiệp quả,

but they come under:

mà còn chịu dưới:

d. Group karma and vibration which will sweep in another group of agencies and builders, and thus affect a man’s bodies,

d. Nghiệp quả và rung động nhóm, là điều sẽ cuốn vào một nhóm tác nhân và đấng kiến tạo khác, và do đó ảnh hưởng đến các thể của một người,

e. Racial karma, an extension of the above,

e. Nghiệp quả chủng tộc, là sự mở rộng của điều trên,

f. Forces playing upon the planet from another scheme, or through the formation of a systemic triangle,

f. Các mãnh lực tác động lên hành tinh từ một hệ hành tinh khác, hay qua sự hình thành một tam giác hệ thống,

g. A cosmic triangle of force of some specific kind which may bring in entities and energies of any particular scheme incident upon the karma of the planetary Logos.

g. Một tam giác mãnh lực vũ trụ thuộc một loại đặc thù nào đó có thể đưa vào các thực thể và năng lượng của bất kỳ hệ hành tinh đặc biệt nào tùy theo nghiệp quả của Hành Tinh Thượng đế.

It will, therefore, be apparent to the student how intricate this subject is and how truly each man is the outcome of force of some kind—egoic primarily, but also [Page 946] planetary, and even systemic. Yet withal, no man is ever put into circumstances which are insurmountable, once he has reached the point where he has intelligently put himself on the side of evolution, or of God. Prior to that he may, and will, be driven by the gales of circumstance; the press of group and racial karma will force him into situations necessary for the process of awakening him to his own innate possibilities. Once he becomes the conscious builder himself, seeking to control the forces and builders of his lower nature, and to construct the Temple of Solomon, then he is no longer subject to the earlier conditions. He becomes a ruler, a builder, and a transmitter, until the time comes when he is one with the solar Angels, and the work of human evolution is accomplished.

Vì vậy, đạo sinh sẽ thấy rõ chủ đề này phức tạp đến mức nào và mỗi người thật sự là kết quả của một loại mãnh lực nào đó—trước hết là chân ngã, nhưng cũng còn [Page 946] hành tinh, và thậm chí hệ thống. Tuy nhiên, không người nào bao giờ bị đặt vào những hoàn cảnh không thể vượt qua, một khi y đã đạt đến điểm mà y đã một cách trí tuệ đặt mình về phía tiến hoá, hay về phía Thượng đế. Trước đó y có thể, và sẽ, bị những cơn gió của hoàn cảnh cuốn đi; sức ép của nghiệp quả nhóm và chủng tộc sẽ buộc y vào những tình huống cần thiết cho tiến trình đánh thức y đối với các khả năng bẩm sinh của chính mình. Một khi y trở thành chính đấng kiến tạo có ý thức, tìm cách kiểm soát các mãnh lực và các đấng kiến tạo của bản chất thấp của mình, và xây dựng Đền thờ Solomon, thì y không còn chịu lệ thuộc vào các điều kiện trước kia nữa. Y trở thành một người cai quản, một đấng kiến tạo, và một tác nhân truyền dẫn, cho đến khi thời điểm đến mà y là một với các Thái dương Thiên Thần, và công việc tiến hoá của con người được hoàn tất.

What has been said above is very superficial, and only that has been imparted which has a profound significance for man at this time. Much must be inferred, and more must be arrived at under the Law of Correspondences. It must ever be borne in mind likewise that our basic conception is one of fiery energy, of force centres set in motion, and kept in active vibration, by the pulsation of still greater centres. Every form is built of fiery atoms, or energetic lives, through the agency of greater lives, and is held in coherent form within the still greater sheaths,—that greater sheath being to the lesser what the macrocosm is to the microcosm. All these groups of building lives may be divided into three groups of energy units, and their nature deduced from the phrases:

Điều đã được nói ở trên rất bề mặt, và chỉ những gì có ý nghĩa sâu xa đối với con người vào lúc này mới được truyền đạt. Nhiều điều phải được suy ra, và còn nhiều điều hơn nữa phải đạt đến dưới định luật tương ứng. Cũng phải luôn ghi nhớ rằng quan niệm căn bản của chúng ta là về năng lượng lửa, về các trung tâm lực được khởi động, và được giữ trong rung động hoạt động bởi sự rung nhịp của những trung tâm còn lớn hơn. Mọi hình tướng đều được xây dựng bằng các nguyên tử lửa, hay các sự sống năng lượng, qua tác nhân của những sự sống lớn hơn, và được giữ trong hình tướng kết hợp bên trong những vỏ bọc còn lớn hơn nữa,—vỏ bọc lớn hơn ấy đối với vỏ bọc nhỏ hơn cũng như đại thiên địa đối với tiểu thiên địa. Tất cả các nhóm sự sống kiến tạo này có thể được chia thành ba nhóm đơn vị năng lượng, và bản chất của chúng được suy ra từ các cụm từ sau:

1. Groups of lives animated by dynamic energy.

1. Các nhóm sự sống được làm sinh động bởi năng lượng động lực.

2. Groups of lives animated by radiant energy.

2. Các nhóm sự sống được làm sinh động bởi năng lượng bức xạ.

3. Groups of lives animated by atomic energy.

3. Các nhóm sự sống được làm sinh động bởi năng lượng nguyên tử.

These again are the sumtotal of the three fires, electric fire, solar fire and fire by friction. In terms of the cosmic [Page 947] physical plane, the correspondence to the systemic plane can be seen in the following tabulation:

Đến lượt chúng, đây là tổng thể của ba ngọn lửa, Lửa Điện, Lửa Thái dương và Lửa ma sát. Xét theo cõi hồng trần vũ trụ, [Page 947] sự tương ứng với cõi hệ thống có thể được thấy trong bảng sau:

1.

Dynamic energy

electric fire

atomic subplane. - First etheric substance. - Plane adi.

2.

Radiant energy

solar fire

three cosmic etheric levels. - Logoic etheric body.

3.

Atomic energy

fire by friction

three planes of the three worlds. - Logoic dense vehicle.

Each plane will be found to reflect this order in an interesting manner.

Mỗi cõi sẽ được thấy phản chiếu trật tự này theo một cách thú vị.

III. Man as a creator in mental matter — III. Con người như một đấng sáng tạo trong chất liệu trí tuệ

1. The Creation of Thought Forms. — 1. Sự Sáng Tạo Các Hình Tư Tưởng.

The subject we are now to deal with cannot be handled too explicitly on account of the attendant dangers. In the creative processes man is dealing with electrical phenomena of some kind, with that which is vitally affected by each thought emanating from him, and with those lesser lives who (aggregated together) form, from certain angles of vision, a source of very real danger to man. We might embody that which can be said in certain statements.

Chủ đề mà giờ đây chúng ta sắp bàn đến không thể được trình bày quá minh bạch vì những nguy hiểm đi kèm. Trong các tiến trình sáng tạo, con người đang xử lý những hiện tượng điện thuộc một loại nào đó, xử lý điều bị ảnh hưởng một cách thiết yếu bởi mỗi tư tưởng phát ra từ y, và xử lý những sự sống nhỏ hơn kia, những kẻ (khi được tập hợp lại) tạo thành, từ một số góc độ tầm nhìn, một nguồn nguy hiểm rất thực đối với con người. Chúng ta có thể trình bày điều có thể nói ra trong một số mệnh đề.

a. Much that is to be seen now of a distressing nature in the world can be directly traced to the wrong manipulation of mental matter by man; to erroneous conceptions as to the nature of matter itself, and to dangerous conditions brought about by the united creative attempts of human beings down the centuries.

a. Phần lớn những gì hiện nay được thấy trong thế giới với tính chất đau khổ có thể trực tiếp truy nguyên đến sự điều khiển sai lầm chất liệu trí tuệ bởi con người; đến những quan niệm sai lạc về bản chất của chính vật chất, và đến những điều kiện nguy hiểm do những nỗ lực sáng tạo hợp nhất của loài người qua nhiều thế kỷ gây ra.

Misunderstandings have arisen as to the purpose of the vital fluids of the universe and this has added to the distress, as have certain distortions of the astral light, producing a subsidiary or secondary glamour, or reflected [Page 948] light which intensifies the maya already created. This secondary reflection has been produced by man himself in the evolutionary attempt to balance the pairs of opposites, and has produced a condition which must be surmounted before the true occult balancing begins. It might be regarded as the sumtotal of that great manifestation (created only by man) called “The Dweller on the Threshold.”

Những sự hiểu lầm đã phát sinh liên quan đến mục đích của các lưu chất thiết yếu của vũ trụ và điều này đã làm tăng thêm đau khổ, cũng như một số sự bóp méo của ánh sáng cảm dục, tạo ra một ảo cảm phụ hay thứ cấp, hay ánh sáng phản chiếu [Page 948] làm tăng cường ảo lực đã được tạo ra. Sự phản chiếu thứ cấp này đã được chính con người tạo ra trong nỗ lực tiến hoá nhằm quân bình các cặp đối lập, và đã tạo nên một tình trạng phải được vượt qua trước khi sự quân bình huyền bí chân chính bắt đầu. Nó có thể được xem như tổng thể của sự biểu hiện lớn lao ấy (chỉ do con người tạo ra) được gọi là “Kẻ Chận Ngõ.”

One of the greatest impediments upon the Path of Return and one for which man is distinctly responsible within occult limits are those animated forms which he has produced ever since the middle of the Atlantean root race when the mind factor began slowly to assume increasing importance. The selfishness, the sordid motives, the prompt response to evil impulses for which the human race has been distinguished has brought about a condition of affairs unparalleled in the system. A gigantic thought form hovers over the entire human family, built by men everywhere during the ages, energised by the insane desires and evil inclinations of all that is worst in man’s nature, and kept alive by the promptings of his lower desires. This thought form has to be broken up and dissipated by man himself during the latter part of this round before the conclusion of the cycle, and its dissipation will be one of the forces tending to the production of interplanetary pralaya. It is this piece of creative bungling, if so it might be called, which the Great Ones are occupied in destroying. Under the Law of Karma it has to be dissipated by those who have created it; the work of the Masters has to be carried on, therefore, indirectly, and must take the form of illuminating the sons of men in gradually increasing degree, so that they can see clearly this “Dweller on the Threshold” of the new life, and the antagonist who stands between the fourth kingdom of nature and the fifth. Every time a son of man stands upon the Probationary Path [Page 949] Their work is facilitated, for it means that one small stream of life-energy is directed into new channels, and away from the old stream, which tends to vitalise and feed the evil form, and one more conscious assailant can be trained to co-operate in the work of destruction. Every time an initiate is admitted to the Lodge degrees, it means that a new and powerful agent is available for the bringing down of force from higher levels to aid in the work of disintegration. In the comprehension of these two methods of aggressive work (that of the aspirant and the initiate) will come much of vital interest to the careful student of analogy. Here lies the clue to the present problem of evil, and to the vitality of the hold which the matter aspect has on the spiritual. This gigantic thought form, the product of man’s ignorance and selfishness, is kept alive and vitalised in three ways:

Một trong những chướng ngại lớn nhất trên Con Đường Trở Về và là điều mà con người rõ ràng phải chịu trách nhiệm trong các giới hạn huyền bí là những hình tướng được làm sinh động mà y đã tạo ra kể từ giữa giống dân gốc Atlantis khi yếu tố trí tuệ bắt đầu chậm rãi đảm nhận tầm quan trọng ngày càng tăng. Sự ích kỷ, những động cơ thấp hèn, sự đáp ứng mau lẹ với các xung lực xấu xa mà nhân loại đã nổi bật vì chúng đã tạo ra một tình trạng chưa từng có trong hệ thống. Một hình tư tưởng khổng lồ lơ lửng trên toàn thể gia đình nhân loại, được con người ở khắp nơi xây dựng qua các thời đại, được tiếp năng lượng bởi những ham muốn điên cuồng và những khuynh hướng xấu xa của tất cả những gì tệ hại nhất trong bản chất con người, và được duy trì sự sống bởi những thôi thúc của các ham muốn thấp của y. Hình tư tưởng này phải được chính con người phá vỡ và làm tiêu tan trong phần sau của cuộc tuần hoàn này trước khi chu kỳ kết thúc, và sự làm tiêu tan nó sẽ là một trong những mãnh lực có xu hướng tạo ra giai kỳ qui nguyên liên hành tinh. Chính mảnh vụng về sáng tạo này, nếu có thể gọi như vậy, mà Các Đấng Cao Cả đang bận tâm hủy diệt. Dưới Định luật Nghiệp Quả, nó phải được làm tiêu tan bởi những kẻ đã tạo ra nó; vì vậy công việc của các Chân sư phải được tiến hành một cách gián tiếp, và phải mang hình thức soi sáng những người con của nhân loại ở mức độ ngày càng tăng, để họ có thể thấy rõ “Kẻ Chận Ngõ” này của sự sống mới, và kẻ đối kháng đứng giữa giới thứ tư của thiên nhiên và giới thứ năm. Mỗi lần một người con của nhân loại đứng trên Con Đường Dự Bị [Page 949] công việc của Các Ngài được hỗ trợ, vì điều đó có nghĩa là một dòng nhỏ năng lượng-sự sống được hướng vào những kênh mới, và rời xa dòng cũ vốn có xu hướng tiếp sinh lực và nuôi dưỡng hình tướng xấu ác, và thêm một kẻ tấn công có ý thức nữa có thể được huấn luyện để hợp tác trong công việc hủy diệt. Mỗi lần một điểm đạo đồ được thừa nhận vào các cấp bậc của Thánh đoàn, điều đó có nghĩa là có thêm một tác nhân mới và mạnh mẽ sẵn có để đưa mãnh lực từ các cấp độ cao hơn xuống nhằm hỗ trợ công việc phân giải. Trong sự thấu hiểu hai phương pháp công việc tấn công này (của người chí nguyện và của điểm đạo đồ) sẽ có nhiều điều rất đáng quan tâm đối với đạo sinh cẩn trọng của định luật tương đồng. Chính ở đây có đầu mối cho vấn đề hiện tại của điều ác, và cho sức sống của sự bám giữ mà phương diện vật chất có trên tinh thần. Hình tư tưởng khổng lồ này, sản phẩm của sự vô minh và ích kỷ của con người, được duy trì sự sống và tiếp sinh lực theo ba cách:

First, by the aggregate of the evil desires, wicked intentions, and selfish purposes of each individual man. Every wrong thought, when embodied in speech or manifested in action on the physical plane, goes to swell the proportions of this evil entity.

Thứ nhất, bởi tổng thể những ham muốn xấu xa, ý định độc ác, và mục đích ích kỷ của từng cá nhân. Mỗi tư tưởng sai lầm, khi được thể hiện thành lời nói hay biểu lộ thành hành động trên cõi hồng trần, đều góp phần làm tăng kích thước của thực thể xấu ác này.

Second, by the fostering care of the brothers of the shadow, and those representatives of what may be called “cosmic evil” who (under the karma of the fourth or human family, in this fourth round), assume stupendous responsibilities, make possible the secondary vitalisation of the thought form and produce conditions of such a dire description that under law rapid crystallisation supervenes, and ultimate destruction becomes possible. Students would do well to broaden their concept as to the purpose of evil and the place the evil forces play in the general scheme.

Thứ hai, bởi sự chăm sóc nuôi dưỡng của các huynh đệ bóng tối, và những đại diện của điều có thể được gọi là “ác vũ trụ”, những kẻ (dưới nghiệp quả của gia đình thứ tư hay gia đình nhân loại, trong cuộc tuần hoàn thứ tư này), đảm nhận những trách nhiệm to lớn, làm cho sự tiếp sinh lực thứ cấp của hình tư tưởng trở nên khả hữu và tạo ra những điều kiện nghiêm trọng đến mức dưới định luật, sự kết tinh nhanh chóng xảy ra, và sự hủy diệt tối hậu trở nên khả hữu. Các đạo sinh nên mở rộng quan niệm của mình về mục đích của điều ác và vai trò mà các mãnh lực ác đóng trong toàn bộ hệ hành tinh.

Third, by the energy still extant and the vibration still to be felt which is the persistence of force from [Page 950] an earlier solar system, and an emanation from that which is no longer considered in this solar system to be a principle.

Thứ ba, bởi năng lượng vẫn còn tồn tại và rung động vẫn còn được cảm nhận là sự kéo dài của mãnh lực từ [Page 950] một hệ mặt trời trước kia, và một phát xạ từ điều mà trong hệ mặt trời này không còn được xem là một nguyên khí nữa.

These three factors are the main ones to be considered by the Great Ones in Their work of enabling men to break loose from the influence of this self-imposed form, to destroy that which they have themselves constructed, and to shake themselves free from the illusion cast by the persistent vampire which they have nourished and strengthened for millennia of years.

Ba yếu tố này là những yếu tố chính mà Các Đấng Cao Cả phải xét đến trong công việc giúp con người thoát khỏi ảnh hưởng của hình tướng do chính mình áp đặt này, hủy diệt điều mà họ đã tự xây dựng, và tự giải thoát khỏi ảo tưởng do con ma cà rồng dai dẳng mà họ đã nuôi dưỡng và làm mạnh thêm suốt hàng thiên niên kỷ tạo ra.

This work of destruction the Great Ones are bringing about in four main ways:

Công việc hủy diệt này đang được Các Đấng Cao Cả thực hiện theo bốn cách chính:

(1) By the strength of Their united thoughts and meditations.

(1) Bằng sức mạnh của những tư tưởng và sự tham thiền hợp nhất của Các Ngài.

(2) By the work of the Hierarchy in training and teaching individuals, who thus break away from blind group activity, and become conscious centres of force and co-operators in the work of destruction. This work has to be carried on from mental levels. Hence the training of disciples to meditate and work in mental matter.

(2) Bằng công việc của Thánh đoàn trong việc huấn luyện và dạy dỗ các cá nhân, nhờ đó họ thoát khỏi hoạt động nhóm mù quáng, và trở thành những trung tâm lực có ý thức và những người hợp tác trong công việc hủy diệt. Công việc này phải được tiến hành từ các cấp độ trí tuệ. Do đó mới có việc huấn luyện các đệ tử tham thiền và làm việc trong chất liệu trí tuệ.

(3) By the use of certain mantrams and words which bring in interplanetary force of the fourth order. This force is then directed towards this distorted creation of the fourth Creative Hierarchy (the fourth or human kingdom) and tends to augment the work of destruction. Much of this work is carried on by the Nirmanakayas.

(3) Bằng việc sử dụng một số mantram và linh từ mang vào mãnh lực liên hành tinh thuộc trật tự thứ tư. Mãnh lực này sau đó được hướng về sáng tạo méo mó này của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư (giới thứ tư hay giới nhân loại) và có xu hướng tăng cường công việc hủy diệt. Phần lớn công việc này được các Nirmanakaya thực hiện.

(4) By stimulating the egoic bodies of men so that the solar Angels may carry on with greater precision and force their conflict with the lunar gods. This is the true war in heaven. As the solar Gods (287) descend ever [Page 951] nearer to the physical plane, and in their descent assume a steadily increasing control of the lunar natures, the thoughts and desires of men are consequently purified and refined. The solar fires put out the lunar light, and the lower nature is eventually purified and transmuted. In time the solar Angels blaze forth in all their glory through the medium of the lower nature on the physical plane, that lower nature providing fuel to the flames. The hated “Dweller on the Threshold” thus gradually dies for lack of sustenance, and disintegrates for lack of vitality, and man is set free.

(4) Bằng cách kích thích các thể chân ngã của con người để các Thái dương Thiên Thần có thể tiến hành cuộc xung đột của mình với các nguyệt thần với độ chính xác và mãnh lực lớn hơn. Đây là cuộc chiến thực sự trên thiên giới. Khi các Thượng đế Thái dương (287) giáng xuống ngày càng [Page 951] gần cõi hồng trần hơn, và trong sự giáng xuống của mình đảm nhận sự kiểm soát ngày càng tăng đối với các bản chất nguyệt tính, thì các tư tưởng và ham muốn của con người do đó được thanh lọc và tinh luyện. Các ngọn lửa thái dương dập tắt ánh sáng nguyệt tính, và bản chất thấp cuối cùng được thanh lọc và chuyển hoá. Theo thời gian các Thái dương Thiên Thần bừng sáng trong toàn bộ vinh quang của mình qua trung gian bản chất thấp trên cõi hồng trần, bản chất thấp ấy cung cấp nhiên liệu cho ngọn lửa. “Kẻ Chận Ngõ” đáng ghét như thế dần dần chết đi vì thiếu sự nuôi dưỡng, và tan rã vì thiếu sinh lực, và con người được giải thoát.

(287) The Solar Gods are the “Fallen Angels.”—S. D., II, 287.

(287) Các Thượng đế Thái dương là những “Thiên Thần Sa Ngã.”—G. L. B. N., II, 287.

a. They warm the shadows...the human bodies.

a. Các Ngài sưởi ấm các bóng tối...các thể người.

b. They in their turn are warmed by the Monad, or Atma.—S. D., II, 116, 117, 284.

b. Đến lượt mình, Các Ngài được Chân thần, hay Atma, sưởi ấm.—G. L. B. N., II, 116, 117, 284.

c. They are the Serpents of Wisdom.—S. D., II, 240.

c. Các Ngài là những Xà Thần Minh Triết.—G. L. B. N., II, 240.

d. Their nature is Knowledge and Love.—S. D., II, 527.

d. Bản chất của Các Ngài là Tri Thức và Bác Ái.—G. L. B. N., II, 527.

e. They come in from the cosmic mental plane.—S. D., III, 540.

e. Các Ngài đi vào từ cõi trí tuệ vũ trụ.—G. L. B. N., III, 540.

The Ego, or Solar Angel is imprisoned.--S. D., I, 621.

Chân ngã, hay Thái dương Thiên Thần, bị giam cầm.--G. L. B. N., I, 621.

a. It has to liberate itself from the thraldom of sensuous perception.

a. Nó phải tự giải thoát khỏi sự nô lệ của tri giác cảm quan.

b. It has to see in the light of the one Reality.

b. Nó phải thấy trong ánh sáng của Thực Tại duy nhất.

c. See S. D., II, 578.

c. Xem G. L. B. N., II, 578.

d. To redeem humanity.—S. D., II, 257.

d. Để cứu chuộc nhân loại.—G. L. B. N., II, 257.

e. To endow him with human affections and aspirations.—S. D., II, 257.

e. Để ban cho y những tình cảm và khát vọng nhân loại.—G. L. B. N., II, 257.

f. They give to men intelligence and consciousness.—S. D., I, 204. (back)

f. Các Ngài ban cho con người trí thông minh và tâm thức.—G. L. B. N., I, 204. (back)

b. At present much of the manipulation of mental matter and its direction into forms of some kind or another emanates from lower levels, and is the result of powerful desire based on physical attraction. The desire bodies, and not the mental bodies of the majority of men are the most powerful, and set up such a strong vibration (due to the force of two groups of lunar lords) that the third group of lunar entities who construct the mental body are swept into a willing response, and the whole threefold lower nature is immediately engaged in the dire process of feeding the dreaded “Dweller.” This direction of energy follows the line of least resistance. One of the primary works of the Ego, as we well know, is to impose a new rhythm upon his shadow and reflection, the lower man, and it is this imposition which in time deflects energy away from man’s distorted creation, and brings his vibration into tune with that of his solar Angel.

b. Hiện nay phần lớn sự điều khiển chất liệu trí tuệ và sự hướng dẫn nó vào các hình tướng thuộc loại này hay loại khác phát ra từ các cấp độ thấp hơn, và là kết quả của ham muốn mạnh mẽ dựa trên sự hấp dẫn hồng trần. Thể ham muốn, chứ không phải thể trí của đa số con người, là mạnh nhất, và tạo ra một rung động mạnh đến mức (do mãnh lực của hai nhóm nguyệt tinh quân) nhóm thực thể nguyệt tính thứ ba kiến tạo thể trí bị cuốn vào một sự đáp ứng sẵn lòng, và toàn bộ bản chất thấp tam phân lập tức bị lôi kéo vào tiến trình khủng khiếp nuôi dưỡng “Kẻ Chận Ngõ” đáng sợ. Sự hướng dẫn năng lượng này đi theo con đường ít trở ngại nhất. Một trong những công việc sơ khởi của chân ngã, như chúng ta đều biết rõ, là áp đặt một nhịp điệu mới lên cái bóng và sự phản chiếu của mình, phàm nhân thấp, và chính sự áp đặt này theo thời gian làm lệch hướng năng lượng khỏi sáng tạo méo mó của con người, và đưa rung động của y hòa điệu với rung động của Thái dương Thiên Thần của y.

The devas who are the sumtotal of the energy of substance itself care not what form they build. They are [Page 952] irresponsibly responsive to energy currents, and theirs is not the problem of dealing with sources of energy. Therefore, the place of man in the cosmic plan becomes more vital and apparent when it is realised that one of his main responsibilities is the direction of energy currents from the mental plane, and the creation of that which is desired on higher levels. Men, as a whole, are undergoing evolutionary development in order that they may become conscious creators in matter. This involves

Các thiên thần là tổng thể của năng lượng của chính chất liệu không quan tâm họ xây dựng hình tướng nào. Họ [Page 952] đáp ứng một cách vô trách nhiệm với các dòng năng lượng, và vấn đề của họ không phải là xử lý các nguồn năng lượng. Vì vậy, vị trí của con người trong thiên cơ vũ trụ trở nên thiết yếu và hiển nhiên hơn khi nhận ra rằng một trong những trách nhiệm chính của y là hướng dẫn các dòng năng lượng từ cõi trí, và sáng tạo điều được mong muốn trên các cấp độ cao hơn. Toàn thể loài người đang trải qua sự phát triển tiến hoá để họ có thể trở thành những đấng sáng tạo có ý thức trong vật chất. Điều này bao hàm

A realisation of the archetypal plan,

Sự chứng nghiệm thiên cơ nguyên mẫu,

An understanding of the laws governing the building processes of nature,

Sự thấu hiểu các định luật chi phối các tiến trình kiến tạo của thiên nhiên,

A conscious process of willing creation, so that man co-operates with the ideal, works under law, and produces that which is in line with the planetary plan, and which tends to further the best interests of the race,

Một tiến trình sáng tạo bằng ý chí có ý thức, để con người hợp tác với lý tưởng, hoạt động dưới định luật, và tạo ra điều phù hợp với thiên cơ hành tinh, và có xu hướng thúc đẩy lợi ích tốt đẹp nhất của nhân loại,

A comprehension as to the nature of energy, and an ability to direct energy currents, to disintegrate (or withdraw energy from) all forms in the three worlds,

Sự hiểu biết về bản chất của năng lượng, và khả năng hướng dẫn các dòng năng lượng, phân giải (hay rút năng lượng khỏi) mọi hình tướng trong ba cõi giới,

An appreciation of the nature of the devas, their constitution and place as builders, and of the words and sounds whereby they are directed and controlled.

Sự đánh giá đúng bản chất của các thiên thần, cấu tạo và vị trí của họ như những đấng kiến tạo, và các linh từ cùng âm thanh nhờ đó họ được hướng dẫn và kiểm soát.

When the energy currents of the human family are directed from egoic levels only, when desire is transmuted, and the fifth principle awakened and finally illuminated by the sixth, then and only then will the strength of the impulse emanating from lower levels die out and the “Dweller on the Threshold” (who now haunts the human family) likewise die. In other words, when the dense physical body of the planetary Logos (composed of matter of the three worlds of human endeavour) is completely purified and vitalised by the force of the life flowing from etheric levels, and when all His centres (formed of human units) are fully awakened, then will [Page 953] those centres be channels for pure force, and such an entity as the “Dweller” be an impossibility.

Khi các dòng năng lượng của gia đình nhân loại chỉ được hướng dẫn từ các cấp độ chân ngã, khi ham muốn được chuyển hoá, và nguyên khí thứ năm được đánh thức và cuối cùng được soi sáng bởi nguyên khí thứ sáu, thì khi ấy và chỉ khi ấy sức mạnh của xung lực phát ra từ các cấp độ thấp hơn mới tắt đi và “Kẻ Chận Ngõ” (kẻ hiện đang ám ảnh gia đình nhân loại) cũng sẽ chết. Nói cách khác, khi thể xác hồng trần đậm đặc của Hành Tinh Thượng đế (được cấu thành bằng vật chất của ba cõi giới của nỗ lực nhân loại) được thanh lọc hoàn toàn và được tiếp sinh lực bởi mãnh lực của sự sống tuôn chảy từ các cấp độ dĩ thái, và khi mọi trung tâm của Ngài (được tạo thành bởi các đơn vị nhân loại) đều được đánh thức đầy đủ, thì [Page 953] các trung tâm ấy sẽ là những kênh dẫn của mãnh lực thuần khiết, và một thực thể như “Kẻ Chận Ngõ” sẽ là điều bất khả.

All that I have here said anent this “Dweller on the Threshold” of the Path between the two great kingdoms, the fourth and the fifth, can be studied by the student with a personal application. Facing each earnest aspirant to the Mysteries is that vitalised form which he has himself constructed and nourished during the course of his previous incarnations, and which represents the sum total of his evil desires, motives and thoughts. For ages it has vampirised him, and for ages it has represented that which he has failed to achieve. It affects not only himself but also all those units whom he contacts and meets. In its destruction he has to pursue methods similar to those followed by the Great Ones, and through the increasing power of his solar Angel, through the force of his Ego, and through a study of law, the knowledge of the power of sound, and the control of speech, he will eventually bring about its disintegration. The old Commentary says:

Tất cả những gì tôi đã nói ở đây liên quan đến “Kẻ Chận Ngõ” này của Con Đường giữa hai giới lớn, giới thứ tư và giới thứ năm, đều có thể được đạo sinh nghiên cứu với sự áp dụng cá nhân. Đối diện với mỗi người chí nguyện tha thiết hướng đến các Huyền Nhiệm là hình tướng được tiếp sinh lực mà chính y đã xây dựng và nuôi dưỡng trong tiến trình các kiếp lâm phàm trước đây của mình, và hình tướng ấy biểu thị tổng số những ham muốn, động cơ và tư tưởng xấu xa của y. Trong nhiều thời đại nó đã hút sinh lực của y, và trong nhiều thời đại nó đã biểu thị điều mà y đã không đạt được. Nó không chỉ ảnh hưởng đến chính y mà còn đến tất cả những đơn vị mà y tiếp xúc và gặp gỡ. Trong việc hủy diệt nó, y phải theo đuổi những phương pháp tương tự như những phương pháp được Các Đấng Cao Cả sử dụng, và nhờ quyền năng ngày càng tăng của Thái dương Thiên Thần của mình, nhờ mãnh lực của chân ngã mình, và nhờ nghiên cứu định luật, hiểu biết quyền năng của âm thanh, và kiểm soát lời nói, y cuối cùng sẽ mang lại sự phân giải của nó. Cổ Luận nói:

“The solar Angel must put out the light of the lunar angels and then for lack of warmth and light, that which has served to hinder no longer is.”

“Thái dương Thiên Thần phải dập tắt ánh sáng của các thiên thần nguyệt tính và rồi vì thiếu hơi ấm và ánh sáng, điều từng dùng để cản trở sẽ không còn nữa.”

c. As yet but few of the human family work deliberately and consciously in mental matter only. The energy exerted by men is mostly kama-manasic or desire coupled with lower mind, with a preponderance, as might be expected, of desire force. This is to be inferred from the second statement. The whole trend of evolution is to bring about ability to build in mental matter, and two things lie ahead of the race:

c. Cho đến nay chỉ có ít người trong gia đình nhân loại làm việc một cách có chủ ý và có ý thức chỉ trong chất liệu trí tuệ mà thôi. Năng lượng do con người vận dụng phần lớn là trí-cảm hay ham muốn kết hợp với hạ trí, với sự trội hơn, như có thể chờ đợi, của mãnh lực ham muốn. Điều này có thể được suy ra từ mệnh đề thứ hai. Toàn bộ xu hướng của tiến hoá là mang lại khả năng kiến tạo trong chất liệu trí tuệ, và có hai điều ở phía trước nhân loại:

First. The gradual dissipation of the indefinite masses of kama-manasic matter which surround practically every unit of the human family, producing a condition of murkiness and fog within, and around, each aura. Gradually [Page 954] this will clear away, and men will be seen surrounded by clear-cut thought forms, characterised by a distinctive vibration and distinguished by a particular quality incident to a man’s ray and therefore to his type of mind.

Thứ nhất. Sự làm tiêu tan dần dần những khối chất liệu trí-cảm mơ hồ bao quanh hầu như mọi đơn vị của gia đình nhân loại, tạo ra một tình trạng mờ đục và sương mù bên trong và chung quanh mỗi hào quang. Dần dần [Page 954] điều này sẽ tan đi, và con người sẽ được thấy được bao quanh bởi những hình tư tưởng rõ nét, được đặc trưng bởi một rung động riêng biệt và được phân biệt bởi một phẩm tính đặc thù tùy theo cung của một người và do đó theo loại trí tuệ của y.

Second. The aggregate of human thought forms which now are of a personal character, vibrating around each human being as the planets vibrate around the sun, will tend to approximate a group centre. Thought energy, which now emanates from each human being as a comparatively weak stream of an indefinite conglomeration of mental matter, of no particular character, forming no particularly distinct forms and persisting in animating those forms for but a brief period, will be directed towards the creation of that desired by the group, and not solely towards that desired by the unit. This is the basis, very largely, for the antagonism that all constructive thinkers and group workers encounter. The stream of energy which they emanate, and which constructs vital thought forms, runs counter to that of the masses of men, awakens opposition, and produces temporary chaos. The prominent workers and thinkers of the human family, under the direction of the Lodge, are engaged in three things:

Thứ hai. Tổng thể các hình tư tưởng của nhân loại hiện nay còn mang tính cá nhân, rung động quanh mỗi con người như các hành tinh rung động quanh mặt trời, sẽ có xu hướng tiến gần đến một trung tâm nhóm. Năng lượng tư tưởng, hiện nay phát ra từ mỗi con người như một dòng tương đối yếu của một hỗn hợp không xác định của chất liệu trí tuệ, không có đặc tính riêng biệt, không tạo thành những hình tướng đặc biệt rõ rệt nào và chỉ tồn tại để làm sinh động những hình tướng ấy trong một thời gian ngắn, sẽ được hướng đến việc sáng tạo điều được mong muốn bởi nhóm, chứ không chỉ hướng đến điều được mong muốn bởi đơn vị. Đây phần lớn là cơ sở cho sự đối kháng mà mọi nhà tư tưởng có tính xây dựng và những người hoạt động nhóm đều gặp phải. Dòng năng lượng mà họ phát ra, và dòng này xây dựng những hình tư tưởng sống động, đi ngược lại dòng của quần chúng, đánh thức sự chống đối, và tạo ra hỗn loạn tạm thời. Những người hoạt động và nhà tư tưởng nổi bật của gia đình nhân loại, dưới sự chỉ đạo của Thánh đoàn, đang dấn thân vào ba việc:

a. The imposition of the newer and higher rhythm upon men.

a. Áp đặt nhịp điệu mới hơn và cao hơn lên con người.

b. The dissipation of the murky clouds of half-vitalised indefinite thought forms which surround our planet, thus permitting the entry of interplanetary force, and of force from the higher mental levels.

b. Làm tiêu tan những đám mây mờ đục của các hình tư tưởng nửa sống động, không xác định bao quanh hành tinh chúng ta, nhờ đó cho phép mãnh lực liên hành tinh và mãnh lực từ các cấp độ thượng trí đi vào.

c. The awakening within men of the power to think clearly, to energise their thought forms accurately, and to hold in vital form those thought constructions whereby they may attain their objective, and [Page 955] bring about desired conditions upon the physical plane.

c. Đánh thức nơi con người quyền năng tư duy rõ ràng, tiếp năng lượng cho các hình tư tưởng của họ một cách chính xác, và giữ cho những cấu trúc tư tưởng ấy ở trong hình thức sống động nhờ đó họ có thể đạt được mục tiêu của mình, và [Page 955] mang lại những điều kiện mong muốn trên cõi hồng trần.

These three objectives necessitate a clear comprehension among such vital thinkers and workers, of the power of thought; of the direction of thought currents, of the science of thought building, of the manipulation under law and order of mental matter, and of the process of thought manifestation through the two factors of sound and vitalisation. It involves likewise the ability to negate or render futile all impulses arising from the lower self which are of a centralised and purely personal aspect, and the faculty of working in group form, each thought being sent upon the definite mission of adding its quota of energy and matter to some one stream which is specific and known. This last is of importance, for no worker for humanity becomes of real assistance until he (consciously and with full knowledge of his work) definitely directs his thought energy towards some particular channel of service to the race.

Ba mục tiêu này đòi hỏi nơi những nhà tư tưởng và người hoạt động sống động như thế một sự thấu hiểu rõ ràng về quyền năng của tư tưởng; về sự hướng dẫn các dòng tư tưởng, về khoa học kiến tạo tư tưởng, về sự điều khiển chất liệu trí tuệ dưới định luật và trật tự, và về tiến trình biểu hiện tư tưởng qua hai yếu tố âm thanh và sự tiếp sinh lực. Điều đó cũng bao hàm khả năng phủ nhận hay làm cho vô hiệu mọi xung lực phát sinh từ phàm ngã vốn mang tính tập trung và thuần túy cá nhân, và năng lực làm việc theo hình thức nhóm, mỗi tư tưởng được gửi đi trong một sứ mệnh xác định là thêm phần năng lượng và chất liệu của nó vào một dòng nào đó vốn đặc thù và đã được biết rõ. Điều cuối cùng này rất quan trọng, vì không người hoạt động nào cho nhân loại trở thành sự trợ giúp thực sự cho đến khi y (một cách có ý thức và với sự hiểu biết đầy đủ về công việc của mình) dứt khoát hướng năng lượng tư tưởng của mình vào một kênh phụng sự đặc biệt nào đó cho nhân loại.

d. In all thought building, therefore, of a high order, men have several things to do, which might be enumerated as follows:

d. Vì vậy, trong mọi sự kiến tạo tư tưởng thuộc trật tự cao, con người có một số việc phải làm, có thể được liệt kê như sau:

First, to purify their lower desires so that they are enabled to see clearly in the occult sense. No man has clear vision who is obsessed with his own needs, actions, and interests, and unconscious of that which is higher and of group activity. This clear vision brings about an ability to read, even if unconsciously at first, the akashic records, and thus ascertain the point of departure for the new and incoming thought impulses, an ability to lose sight of self interest in group interest, and thus co-operate with the plan, and a faculty that enables him to become aware of the keynote of the race, and aware of the “cry of humanity.”

Trước hết, thanh lọc các ham muốn thấp của mình để họ có thể thấy rõ theo nghĩa huyền bí. Không người nào có linh thị rõ ràng nếu bị ám ảnh bởi các nhu cầu, hành động, và quyền lợi riêng của mình, và vô thức đối với điều cao hơn và đối với hoạt động nhóm. Linh thị rõ ràng này mang lại khả năng đọc, dù lúc đầu có thể là vô thức, các hồ sơ akasha, và nhờ đó xác định điểm khởi hành cho các xung lực tư tưởng mới và đang đi vào, khả năng quên đi quyền lợi bản thân trong quyền lợi nhóm, và nhờ đó hợp tác với thiên cơ, và một năng lực cho phép y nhận biết chủ âm của nhân loại, và nhận biết “tiếng kêu của nhân loại.”

Next, to secure control over the mind. This involves [Page 956] certain important things: A realisation of the nature of the mind and brain through concentration, an understanding of the relation which should exist between the physical brain and Man, the real Thinker on the physical plane, an ability, gradually developed once the mind is brought under control through concentration, to meditate in the occult sense, and thus bring through the plan from higher levels, ascertain his individual share in the plan, and then co-operate in the work of some particular group of Nirmanakayas. This is succeeded by a consideration of the laws of energy. A man discovers how to build a thought form of a particular quality and tone, to energise it with his own life, and thus have—on mental levels—a small creation, the child of his will, which he can use as a messenger, or as a means for the manifestation of an idea. Students will do well to consider these points with care, if they seek to become conscious operators.

Kế đến, đạt được sự kiểm soát đối với trí tuệ. Điều này bao hàm [Page 956] một số điều quan trọng: chứng nghiệm bản chất của trí tuệ và bộ não qua sự tập trung, thấu hiểu mối liên hệ cần phải tồn tại giữa bộ não hồng trần và Con Người, Đấng Tư Tưởng thực sự trên cõi hồng trần, một khả năng, được phát triển dần dần một khi trí tuệ được đặt dưới sự kiểm soát qua sự tập trung, để tham thiền theo nghĩa huyền bí, và nhờ đó mang thiên cơ từ các cấp độ cao hơn xuống, xác định phần chia cá nhân của mình trong thiên cơ, và rồi hợp tác trong công việc của một nhóm Nirmanakaya đặc biệt nào đó. Tiếp theo đó là sự xem xét các định luật năng lượng. Một người khám phá ra cách xây dựng một hình tư tưởng có phẩm tính và âm điệu đặc thù, tiếp năng lượng cho nó bằng chính sự sống của mình, và nhờ đó có được—trên các cấp độ trí tuệ—một sáng tạo nhỏ, đứa con của ý chí mình, mà y có thể dùng như một sứ giả, hay như một phương tiện cho sự biểu hiện của một ý tưởng. Các đạo sinh nên suy xét cẩn trọng những điểm này, nếu họ tìm cách trở thành những người vận hành có ý thức.

Finally, having constructed a thought form, the next thing the servant of humanity has to learn is how to send it on its mission, whatever that may be, holding it through his own vital energy in its due form, keeping it vibrating to its own measure, and eventually bringing about its destruction when it has fulfilled its mission. The average man is often the victim of his own thought forms. He constructs them, but is neither strong enough to send them out to do their work, nor wise enough to dissipate them when required. This has brought about the thick swirling fog of half-formed, semi-vitalised forms in which eighty five percent of the human race is surrounded.

Sau cùng, sau khi đã kiến tạo một hình tư tưởng, điều kế tiếp mà người phụng sự nhân loại phải học là làm thế nào để gửi nó đi thi hành sứ mệnh của nó, dù sứ mệnh ấy là gì, giữ nó bằng chính sinh lực của mình trong hình dạng thích đáng, duy trì cho nó rung động theo nhịp độ riêng của nó, và cuối cùng đưa đến sự hủy diệt của nó khi nó đã hoàn tất sứ mệnh. Con người trung bình thường là nạn nhân của chính các hình tư tưởng của mình. Y tạo dựng chúng, nhưng không đủ mạnh để phóng chúng ra làm công việc của chúng, cũng không đủ minh triết để làm tiêu tan chúng khi cần. Điều này đã tạo ra màn sương mù dày đặc xoáy cuộn của những hình thể nửa thành hình, nửa được tiếp sinh lực, trong đó tám mươi lăm phần trăm nhân loại bị bao quanh.

In his work as thought builder, man has to show forth the characteristics of the Logos, the great Architect or Builder of the universe. He has to parallel His work as:

Trong công việc của mình với tư cách là người kiến tạo hình tư tưởng, con người phải biểu lộ các đặc tính của Thượng đế, Đấng Đại Kiến Trúc Sư hay Đấng Kiến Tạo của vũ trụ. Y phải song hành với công việc của Ngài như:

The one who conceives the idea.

Đấng quan niệm ra ý tưởng.

The one who clothes the idea in matter. [Page 957]

Đấng khoác chất liệu cho ý tưởng. [Page 957]

The one who energises the idea, and thus enables the form to preserve its outline and perform its mission.

Đấng tiếp năng lượng cho ý tưởng, và nhờ đó làm cho hình thể có thể giữ được đường nét của nó và thực hiện sứ mệnh của nó.

The one who—in time and space—through desire and love, directs that thought form, vitalises it continuously, until the objective is attained.

Đấng mà—trong thời gian và không gian—qua dục vọng và tình thương, điều khiển hình tư tưởng ấy, tiếp sinh lực cho nó liên tục, cho đến khi mục tiêu đạt được.

The one who, when the desired end has been accomplished, destroys or disintegrates the thought form by withdrawing his energy (occultly, the “attention is withdrawn,” or “the eye is no longer upon” it), so that the lesser lives (which had been built into the desired form) fall away and return to the general reservoir of deva substance.

Đấng mà, khi cứu cánh mong muốn đã được hoàn thành, hủy diệt hay phân rã hình tư tưởng bằng cách rút năng lượng của mình lại (theo huyền bí học, “sự chú ý được rút đi,” hay “con mắt không còn đặt trên” nó nữa), để cho các sự sống nhỏ hơn (đã được xây vào hình thể mong muốn) rơi rụng đi và trở về kho chứa chung của chất liệu thiên thần.

Thus, in all creative work in mental matter, man is likewise to be seen as a Trinity at work; he is the creator, preserver, and destroyer.

Như vậy, trong mọi công việc sáng tạo trong chất liệu trí tuệ, con người cũng được thấy như một Tam Vị đang hoạt động; y là kẻ sáng tạo, bảo tồn và hủy diệt.

e. In all occult work in mental matter which has to manifest upon the physical plane, and thus achieve objectivity, man has to work as a unit. This infers the ability, therefore, of the threefold lower man to be subordinated to the Ego, so that the dynamic will of the Ego may be imposed upon the physical brain.

e. Trong mọi công việc huyền bí trong chất liệu trí tuệ mà phải biểu hiện trên cõi hồng trần, và nhờ đó đạt được tính khách quan, con người phải làm việc như một đơn vị. Vì vậy, điều này hàm ý khả năng để phàm ngã tam phân phải được đặt dưới chân ngã, để cho ý chí năng động của chân ngã có thể được áp đặt lên bộ não hồng trần.

The method of the man on the physical plane who is engaged in conscious work in mental matter is to be considered in two divisions: first, the initial process of alignment with the Ego, so that the plan, purpose and method of achievement may be impressed upon the physical brain, and then a secondary process in which the man, using the physical brain consciously, proceeds to carry out the plan, construct through will and purpose the necessitated form, and then, having built and energised the form, to “keep his eye upon it.” This is stating occultly the great truth back of all processes of energising. “The eye of the Lord” is much referred to in the Christian Bible, and occultly understood, the eye is that which brings power to its servant, the thought form. Scientists [Page 958] are becoming interested in the power of the human eye, and that faculty of control and of recognition which is everywhere seen as existing will have its scientific and occult explanation when it is studied as an instrument of initiatory energy.

Phương pháp của con người trên cõi hồng trần đang dấn thân vào công việc hữu thức trong chất liệu trí tuệ cần được xét thành hai phần: trước hết là tiến trình ban đầu chỉnh hợp với chân ngã, để cho kế hoạch, mục đích và phương pháp thành tựu có thể được in sâu vào bộ não hồng trần, rồi đến một tiến trình thứ yếu trong đó con người, sử dụng bộ não hồng trần một cách hữu thức, tiến hành thực hiện kế hoạch, kiến tạo bằng ý chí và mục đích hình thể cần thiết, rồi sau khi đã xây dựng và tiếp năng lượng cho hình thể, thì “giữ mắt mình trên nó.” Đây là cách phát biểu theo huyền bí học về chân lý lớn lao nằm sau mọi tiến trình tiếp năng lượng. “Con mắt của Chúa” được nhắc đến rất nhiều trong Kinh Thánh Cơ Đốc, và được hiểu theo huyền bí học, con mắt là cái mang quyền năng đến cho kẻ phụng sự của nó, tức hình tư tưởng. Các nhà khoa học [Page 958] đang bắt đầu quan tâm đến quyền năng của mắt người, và năng lực kiểm soát cùng nhận biết vốn được thấy là hiện hữu khắp nơi ấy sẽ có được lời giải thích khoa học và huyền bí khi nó được nghiên cứu như là một khí cụ của năng lượng điểm đạo.

Therefore, it will be apparent that a thought form is the result of two types of energy:

Do đó, sẽ rõ ràng rằng một hình tư tưởng là kết quả của hai loại năng lượng:

That emanating in the first instance from the Ego on abstract levels.

Loại phát ra trước tiên từ chân ngã trên các cấp độ trừu tượng.

That originating in a secondary sense from the man on the physical plane through the medium of the brain.

Loại phát sinh theo nghĩa thứ yếu từ con người trên cõi hồng trần qua trung gian của bộ não.

That men do not recognise the first factor as a general rule is that which is responsible for much that is evil. When the “Science of the Self” has assumed due proportions men will be careful to ascertain the egoic impulses in all thought process, and to utilise true egoic energy before they begin manipulating deva substance, and building forms of deva lives.

Việc con người nói chung không nhận ra yếu tố thứ nhất chính là điều chịu trách nhiệm cho nhiều điều xấu ác. Khi “Khoa Học về Bản Ngã” đã đạt đến tầm mức thích đáng, con người sẽ cẩn trọng xác định các xung lực chân ngã trong mọi tiến trình tư tưởng, và sử dụng năng lượng chân ngã chân chính trước khi họ bắt đầu vận dụng chất liệu thiên thần và xây dựng các hình thể của những sự sống thiên thần.

2. Thought Form Building in the Three Worlds. — 2. Xây Dựng Hình Tư Tưởng trong Ba Cõi Giới.

I have a few more words to say anent this subject of man as a Creator in mental matter. The words are addressed to all those students who—through their ability to concentrate—have developed a certain measure of thought control, and who desire to understand the process of creation with greater scientific accuracy. We will, therefore, consider two factors in the process of thought-form building:

Tôi còn vài lời nữa muốn nói về chủ đề con người như một Đấng Sáng Tạo trong chất liệu trí tuệ. Những lời này được gửi đến tất cả những đạo sinh mà—nhờ khả năng tập trung—đã phát triển được một mức độ kiểm soát tư tưởng nào đó, và mong muốn hiểu tiến trình sáng tạo với độ chính xác khoa học lớn hơn. Vì vậy, chúng ta sẽ xét hai yếu tố trong tiến trình xây dựng hình tư tưởng:

a. That of aligning with the Ego. (288)

a. Việc chỉnh hợp với chân ngã. (288)

(288) Alignment: See Letters on Occult Meditation, pp. 1-7. (back)

(288) Chỉnh hợp: Xem Letters on Occult Meditation, tr. 1-7. (back)

b. The process of impressing the egoic will, on the physical brain, or (to word it otherwise) the initial utilisation of egoic energy.

b. Tiến trình in sâu ý chí chân ngã lên bộ não hồng trần, hay (nói cách khác) việc sử dụng ban đầu năng lượng chân ngã.

[Page 959] Let us take them one by one:

[Page 959] Chúng ta hãy xét từng điểm một:

a. Alignment with the Ego. This, as we know, is only possible to the man who has reached the Probationary Path, or a certain very definite point in evolution. Through knowledge and practice, the power has been acquired of automatically and scientifically utilising the sutratma (or channel) as a means of contact. When to this ability is added that of utilising with equal ease the antaskarana (or bridge between the Triad and the personality) then we have a powerful agent of the Hierarchy on the earth. We might generalise in the following manner as to the stages of growth and consequent ability to become the agent of ever increasing powers, tapping the resources of dynamic energy in the three worlds.

a. Chỉnh hợp với chân ngã. Điều này, như chúng ta biết, chỉ có thể đối với con người đã đạt đến Con Đường Dự Bị, hay một điểm tiến hoá rất xác định nào đó. Qua tri thức và thực hành, quyền năng sử dụng sutratma (hay kênh dẫn) như một phương tiện tiếp xúc một cách tự động và khoa học đã được thủ đắc. Khi vào khả năng này được thêm vào khả năng sử dụng với sự dễ dàng tương đương antaskarana (hay cây cầu giữa Tam nguyên tinh thần và phàm ngã) thì chúng ta có một tác nhân mạnh mẽ của Thánh đoàn trên Trái Đất. Chúng ta có thể khái quát theo cách sau về các giai đoạn tăng trưởng và năng lực hệ quả để trở thành tác nhân của những quyền năng ngày càng gia tăng, khai thác các nguồn năng lượng năng động trong ba cõi thấp.

Lower types of humanity use the sutratma as it passes through the etheric body.

Các loại thấp của nhân loại sử dụng sutratma khi nó đi qua thể dĩ thái.

Average men utilise almost entirely that part of the sutratma which passes through the astral plane. Their reactions are largely based on desire, and are emotional.

Những người trung bình hầu như hoàn toàn sử dụng phần của sutratma đi qua cõi cảm dục. Các phản ứng của họ phần lớn dựa trên dục vọng, và mang tính cảm xúc.

Intellectual men utilise the sutratma as it passes through the lower levels of the mental plane, down through the astral to the physical in its two sections. Their activities are energised by mind and not by desire, as in the earlier cases.

Những người trí thức sử dụng sutratma khi nó đi qua các cấp thấp của cõi trí, xuống qua cõi cảm dục đến cõi hồng trần trong hai phần của nó. Các hoạt động của họ được tiếp năng lượng bởi trí tuệ chứ không phải bởi dục vọng, như trong các trường hợp trước.

Aspirants on the physical plane use the sutratma as it passes through the two lower subplanes of the abstract levels of the mental plane, and are beginning gradually to build the antaskarana, or the bridge between the Triad and the Personality. The power of the Ego can begin to make itself felt.

Những người chí nguyện trên cõi hồng trần sử dụng sutratma khi nó đi qua hai cõi phụ thấp của các cấp độ trừu tượng của cõi trí, và đang dần dần bắt đầu xây dựng antaskarana, hay cây cầu giữa Tam nguyên tinh thần và Phàm ngã. Quyền năng của chân ngã có thể bắt đầu tự biểu lộ.

Applicants for initiation and initiates up to the third initiation use both the sutratma and the antaskarana, employing them as a unit. The power of the Triad begins to pour through, thus energising all human [Page 960] activities upon the physical plane, and vitalising in ever increasing degree the man’s thought forms. The key to the formation of the Mayavirupa is found in the right comprehension of the process.

Những người xin điểm đạo và các điểm đạo đồ cho đến lần điểm đạo thứ ba sử dụng cả sutratma lẫn antaskarana, dùng chúng như một đơn vị. Quyền năng của Tam nguyên tinh thần bắt đầu tuôn đổ qua, nhờ đó tiếp năng lượng cho mọi hoạt động của con người [Page 960] trên cõi hồng trần, và tiếp sinh lực cho các hình tư tưởng của con người ở mức độ ngày càng tăng. Chìa khóa của sự hình thành Mayavirupa được tìm thấy trong sự thấu hiểu đúng đắn tiến trình này.

If students will study carefully the above differentiations, much light will be thrown upon the quality of the energy employed in thought-form building.

Nếu các đạo sinh nghiên cứu cẩn thận những sự phân biệt trên, nhiều ánh sáng sẽ được rọi vào phẩm tính của năng lượng được dùng trong việc xây dựng hình tư tưởng.

In the early stages of alignment, it has to be concisely and carefully brought about through concentration and meditation. Later, when the right rhythm has been set up in the bodies, and the purification of the sheaths has been rigidly pursued, the dual activity will become practically instantaneous, and the student can then turn his attention to the work of conscious building and vitalisation; his point of concentration will not then be given to the attainment of alignment.

Trong các giai đoạn đầu của sự chỉnh hợp, nó phải được tạo ra một cách ngắn gọn và cẩn trọng qua tập trung và tham thiền. Về sau, khi nhịp điệu đúng đã được thiết lập trong các thể, và sự thanh luyện các vỏ bọc đã được theo đuổi nghiêm ngặt, hoạt động kép sẽ trở nên hầu như tức thời, và khi ấy đạo sinh có thể hướng sự chú ý của mình vào công việc xây dựng và tiếp sinh lực một cách hữu thức; điểm tập trung của y khi ấy sẽ không còn đặt vào việc đạt được sự chỉnh hợp nữa.

Accurate alignment entails,

Sự chỉnh hợp chính xác đòi hỏi,

Mental quiescence, or stable vibration,

Sự tĩnh lặng của trí tuệ, hay rung động ổn định,

Emotional stability, resulting in limpid reflection,

Sự ổn định cảm xúc, đưa đến sự phản chiếu trong sáng,

Etheric poise, producing a condition in the head centre which would permit of the direct application of force to the physical brain via the centre.

Sự quân bình dĩ thái, tạo ra một tình trạng trong trung tâm đầu cho phép áp dụng trực tiếp mãnh lực vào bộ não hồng trần qua trung tâm ấy.

b. Physical brain impression. The accurate realisation by the physical brain of what the Ego is seeking to convey concerning the work to be done only becomes possible when two things are realised:

b. Sự in sâu lên bộ não hồng trần. Việc bộ não hồng trần chứng nghiệm chính xác điều mà chân ngã đang tìm cách truyền đạt liên quan đến công việc phải làm chỉ trở nên khả hữu khi hai điều được nhận ra:

Direct alignment.

Sự chỉnh hợp trực tiếp.

The transmission of the egoic energy or will to one or other of the three physical centres in the head:

Sự truyền năng lượng hay ý chí chân ngã đến một trong ba trung tâm hồng trần ở đầu:

The pineal gland.

Tuyến tùng.

The pituitary body.

Thể tuyến yên.

The alta major centre, or that nerve centre at the top of the spine, where the cranium and the spine make approximate contact. When this congery of nerves is fully developed, it forms a centre of communication between the vital energy of the spinal column (the kundalini fire) and the energy of the two head centres above enumerated. It is the physical correspondence to the antaskarana on higher levels. [Page 961]

Trung tâm alta major, hay trung tâm thần kinh ở đỉnh cột sống, nơi hộp sọ và cột sống tiếp xúc gần nhau. Khi đám dây thần kinh này phát triển đầy đủ, nó tạo thành một trung tâm giao thông giữa sinh lực của cột sống (lửa kundalini) và năng lượng của hai trung tâm đầu kể trên. Nó là đối phần hồng trần của antaskarana trên các cấp độ cao hơn. [Page 961]

CHART X

BIỂU ĐỒ X

THE SCIENCE OF MEDITATION

KHOA HỌC THAM THIỀN

[Page 962] The pituitary body (in all cases of correct normal development) forms the centre which receives the threefold vitalisation pouring through the sutratma from the lower mental, the astral, and the etheric planes. The pineal gland comes into activity when this action is enhanced by the pouring through of energy from the Ego on its own plane. When the antaskarana is in process of utilisation the alta major centre is likewise employed, and the three physical head centres begin to work as a unit, thus forming a kind of triangle. By the time the third Initiation is reached, this triangle is fully awakened and the fire (or energy) is circulated freely.

[Page 962] Thể tuyến yên (trong mọi trường hợp phát triển đúng đắn bình thường) tạo thành trung tâm tiếp nhận sự tiếp sinh lực tam phân tuôn qua sutratma từ các cõi hạ trí, cảm dục và dĩ thái. Tuyến tùng đi vào hoạt động khi tác động này được tăng cường bởi sự tuôn qua của năng lượng từ chân ngã trên cõi riêng của nó. Khi antaskarana đang trong tiến trình được sử dụng thì trung tâm alta major cũng được dùng, và ba trung tâm đầu hồng trần bắt đầu hoạt động như một đơn vị, nhờ đó tạo thành một loại tam giác. Vào lúc đạt đến lần điểm đạo thứ ba, tam giác này hoàn toàn thức tỉnh và lửa (hay năng lượng) được lưu chuyển tự do.

It will be apparent, therefore, that man’s ability to create in mental matter grows as he treads the Path. He needs to remember that (from the angle from which we are studying) we are not considering the power of the Ego to produce forms on the mental plane, but the ability of physical plane man to create upon the mental plane those vehicles for energy which—when set in motion by his conscious will—will produce certain specific effects upon the physical plane. This is brought about by egoic energy passed down the sutratma to the physical brain, and retransmitted back to the mental plane, plus or minus that which has been gained or lost in the process. The true Adept, through knowledge, conserves all energy while in process of transmission, and augments it with the energy contacted. It is, therefore, the energy of will, plus that of desire, fed by the energy of the physical brain. Literally, therefore, it is a small resume of the creative process of the Godhead, being the [Page 963] energy of the three persons unified, and considered from the standpoint of the physical. It is the at-one-ment of the three fires in man, being in fact:

Vì vậy, sẽ rõ ràng rằng khả năng sáng tạo trong chất liệu trí tuệ của con người tăng trưởng khi y bước đi trên Con Đường. Y cần nhớ rằng (xét từ góc độ mà chúng ta đang nghiên cứu) chúng ta không xét quyền năng của chân ngã trong việc tạo ra các hình thể trên cõi trí, mà xét khả năng của con người trên cõi hồng trần trong việc sáng tạo trên cõi trí những vận cụ cho năng lượng mà—khi được đặt vào chuyển động bởi ý chí hữu thức của y—sẽ tạo ra những hiệu quả đặc thù nào đó trên cõi hồng trần. Điều này được thực hiện bởi năng lượng chân ngã truyền xuống qua sutratma đến bộ não hồng trần, rồi được truyền ngược trở lại cõi trí, cộng hoặc trừ phần đã thu được hay mất đi trong tiến trình. Chân sư đích thực, nhờ tri thức, bảo toàn mọi năng lượng trong khi truyền dẫn, và gia tăng nó bằng năng lượng được tiếp xúc. Vì vậy, đó là năng lượng của ý chí, cộng với năng lượng của dục vọng, được nuôi bằng năng lượng của bộ não hồng trần. Theo nghĩa đen, do đó, nó là một bản tóm lược nhỏ của tiến trình sáng tạo của Thượng đế, là [Page 963] năng lượng của ba ngôi vị được hợp nhất, và được xét từ quan điểm hồng trần. Đó là sự hợp nhất của ba ngọn lửa trong con người, thực ra là:

a. That much of the fire of spirit, or electric fire, which any particular Ego is embodying (relatively little prior to the third Initiation) or is able to transmit, coupled with,

a. Phần lửa tinh thần, hay Lửa Điện, mà bất kỳ chân ngã riêng biệt nào đang thể hiện (tương đối ít trước lần điểm đạo thứ ba) hay có thể truyền dẫn, kết hợp với,

b. That much of the fire of the solar Angel (solar fire) or the egoic aspect which the Ego is able to transmit. This is but little in average man, a good deal in the man on the probationary path, and a full downpour by the time the third Initiation is reached.

b. Phần lửa của Thái dương Thiên Thần (Lửa Thái dương) hay phương diện chân ngã mà chân ngã có thể truyền dẫn. Điều này chỉ rất ít nơi con người trung bình, khá nhiều nơi con người trên Con Đường Dự Bị, và là một sự tuôn đổ trọn vẹn vào lúc đạt đến lần điểm đạo thứ ba.

c. That much of the fire of substance in its purified state which can penetrate. This is dependent upon the purity of the three sheaths, and in the case of a highly advanced man is the kundalinic fire as it swells the blaze produced by the other two.

c. Phần lửa của chất liệu trong trạng thái thanh luyện của nó có thể xuyên thấu. Điều này tùy thuộc vào sự thanh khiết của ba vỏ bọc, và trong trường hợp một người rất tiến hóa, đó là lửa kundalini khi nó làm bùng lớn ngọn lửa do hai loại kia tạo ra.

When, therefore, the alignment is corrected, and the physical head centres are awakening, it becomes possible for man to become a conscious creator in mental matter.

Vì vậy, khi sự chỉnh hợp được điều chỉnh đúng và các trung tâm đầu hồng trần đang thức tỉnh, con người có thể trở thành một đấng sáng tạo hữu thức trong chất liệu trí tuệ.

IV. Man and the Fire Spirits or Builders — IV. Con Người và các Hỏa Tinh Linh hay các Đấng Kiến Tạo

This section we will consider in somewhat greater detail than the previous one, as it concerns much of present practical value to man. This will be seen particularly as we study the effects of speech, and the occult significance of the spoken word.

Phần này chúng ta sẽ xét chi tiết hơn đôi chút so với phần trước, vì nó liên quan đến nhiều điều có giá trị thực tiễn hiện nay đối với con người. Điều này sẽ thấy rõ đặc biệt khi chúng ta nghiên cứu các hiệu quả của lời nói, và ý nghĩa huyền bí của lời được thốt ra.

1. The Will Aspect and Creation. — 1. Phương diện Ý chí và Sáng tạo.