← A Treatise on Cosmic Fire All

a. Introductory.

a. Introductory.

a. Dẫn nhập.

It will be apparent now that in our consideration of the deva Builders, great and small, of the solar system, we have hitherto practically confined ourselves to those who are the functioning agents in the three worlds of human endeavour. We have dealt briefly with the Builders on the evolutionary arc, the greater entities who either have passed through the human kingdom, and therefore have left that stage of evolution behind them in earlier cycles, or are at this time the “solar agents” of human manifestation. All these forms of divine existence represent—in their own place—aspects of positive force. We come now to the consideration of the lesser builders in the three worlds, those who represent the negative aspect of force, being on the involutionary arc, and who are, therefore, the recipients of energy and influences. They are worked upon by energy, and through the activity of the greater Builders are forced into different directions in space, being built into the differing forms. The energy that works upon them, as is well known, emanates from the second aspect, and in their totality they form the great Mother.

Giờ đây sẽ thấy rõ rằng trong khi xem xét các thiên thần kiến tạo, lớn và nhỏ, của hệ mặt trời, cho đến nay chúng ta trên thực tế hầu như chỉ giới hạn vào những vị là các tác nhân hoạt động trong ba cõi giới của nỗ lực nhân loại. Chúng ta đã bàn sơ lược về các đấng kiến tạo trên cung tiến hoá, những thực thể lớn hơn hoặc đã đi qua giới nhân loại, và vì thế đã bỏ lại giai đoạn tiến hoá ấy phía sau trong các chu kỳ trước, hoặc hiện nay là các “tác nhân thái dương” của biểu hiện nhân loại. Tất cả các hình thức hiện hữu thiêng liêng này đại diện—ở vị trí riêng của mình—cho các phương diện của mãnh lực dương. Giờ đây chúng ta chuyển sang xem xét các vị tiểu kiến tạo trong ba cõi giới, những vị đại diện cho phương diện âm của mãnh lực, vì ở trên cung giáng hạ tiến hoá, và do đó là những vị tiếp nhận năng lượng và ảnh hưởng. Các vị ấy bị năng lượng tác động, và qua hoạt động của các đấng kiến tạo lớn hơn bị buộc phải đi theo những hướng khác nhau trong không gian, được xây dựng vào các hình tướng khác nhau. Năng lượng tác động lên các vị ấy, như ai cũng biết, phát ra từ phương diện thứ hai, và trong tính toàn thể của mình các vị ấy tạo thành Người Mẹ vĩ đại.

I would call to the attention of all students the fact that these lesser builders are literally a “sea of fire” upon which the great breath, or the AUM, takes effect. Each fiery spark, or atom, becomes (through the action of the Word), vitalised with new life, and impregnated with a different type of energy. In the union of the life of atomic substance itself with that which causes the atoms to cohere, and to form vehicles of some kind or another, can be seen demonstrating the “Son of God.” Herein lies the essential duality of all manifestation; this duality is later supplemented by the life of the One Who sounds the Word. Thus is the cosmic incarnation [Page 888] brought about with the three factors entering in. This has been sufficiently dealt with in earlier pages.

Tôi muốn lưu ý tất cả các đạo sinh đến sự kiện rằng các vị tiểu kiến tạo này theo nghĩa đen là một “biển lửa” mà trên đó đại hơi thở, hay AUM, tác động. Mỗi tia lửa, hay nguyên tử, nhờ tác động của Linh từ, được tiếp sinh lực bằng sự sống mới, và được thấm nhuần một loại năng lượng khác. Trong sự hợp nhất giữa sự sống của chính chất liệu nguyên tử với cái khiến các nguyên tử kết dính lại và tạo thành các vận cụ thuộc loại này hay loại khác, có thể thấy “Con của Thượng đế” đang được biểu lộ. Chính trong đó có tính nhị nguyên thiết yếu của mọi biểu hiện; tính nhị nguyên này về sau được bổ sung bởi sự sống của Đấng xướng Linh từ. Như vậy sự nhập thể vũ trụ [Page 888] được tạo ra với ba yếu tố cùng tham dự. Điều này đã được bàn đến đầy đủ trong các trang trước.

Much that will have to be said will be of a tabulatory nature, and the only way in which students can check up the approximate accuracy of that which is imparted will be through a careful meditation upon:

Nhiều điều sẽ phải được nói ra dưới dạng bảng biểu, và cách duy nhất để các đạo sinh kiểm tra độ chính xác gần đúng của điều được truyền đạt là qua sự tham thiền cẩn trọng về:

a. The Law of Correspondences.

a. định luật tương ứng.

b. The realisable probabilities.

b. những xác suất có thể chứng nghiệm được.

c. The indications in occult literature of a corroborative nature.

c. những chỉ dẫn trong văn liệu huyền bí có tính chất xác nhận.

Students should remember that we are dealing with involutionary substance, or atomic matter. This atomic matter is living substance, each atom being a tiny life palpitating with the vitality of the third Logos. These lives, being negative energy, are responsive to their polar opposite, and can (under the Law of Attraction and Repulsion) be built into forms which are the expression of the second aspect. Eventually the forms themselves become in their turn negative, and responsive to still another type of force, becoming recipients of the life of the first Logos when the fourth or human kingdom is reached.

Các đạo sinh nên nhớ rằng chúng ta đang bàn đến chất liệu giáng hạ tiến hoá, hay vật chất nguyên tử. Vật chất nguyên tử này là chất liệu sống, mỗi nguyên tử là một sự sống nhỏ bé rung động với sinh lực của Logos thứ ba. Các sự sống này, vì là năng lượng âm, nên đáp ứng với cực đối nghịch của mình, và có thể (theo Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi) được xây dựng thành những hình tướng là biểu hiện của phương diện thứ hai. Cuối cùng chính các hình tướng ấy đến lượt mình trở nên âm, và đáp ứng với một loại mãnh lực khác nữa, trở thành những kẻ tiếp nhận sự sống của Logos thứ nhất khi giới thứ tư hay giới nhân loại được đạt đến.

This Treatise seeks to prove, that in the fourth kingdom the three fires meet:

Luận về Lửa Vũ Trụ này tìm cách chứng minh rằng, trong giới thứ tư, ba ngọn lửa gặp nhau:

a. Fire by friction, or the negative Brahma Aspect, the third Aspect.

a. Lửa ma sát, hay phương diện Brahma âm, phương diện thứ ba.

b. Solar Fire, or the positive negative Vishnu Aspect, the second Aspect.

b. Lửa Thái dương, hay phương diện Vishnu dương-âm, phương diện thứ hai.

c. Electric Fire, or the positive Shiva Aspect, the first Aspect.

c. Lửa Điện, hay phương diện Shiva dương, phương diện thứ nhất.

Man in the three worlds, consciously or unconsciously, recapitulates the logoic process, and becomes a creator, working in substance through the factor of his positive energy. He wills, he thinks, he speaks, and thought-forms eventuate. Atomic substance is attracted to the [Page 889] enunciator. The tiny lives which compose that substance are forced (through the energy of the thinker), into forms, which are themselves active, vitalised and powerful. What man builds is either a beneficent or a maleficent creation according to the underlying desire, motive, or purpose.

Con người trong ba cõi giới, một cách hữu thức hay vô thức, lặp lại tiến trình logoic, và trở thành một đấng sáng tạo, hoạt động trong chất liệu qua yếu tố năng lượng dương của mình. Y ý chí, y suy nghĩ, y nói, và các Hình tư tưởng xuất hiện. Chất liệu nguyên tử bị hút đến [Page 889] người phát ngôn. Những sự sống nhỏ bé cấu thành chất liệu ấy bị buộc (qua năng lượng của người tư tưởng) vào các hình tướng, mà chính các hình tướng ấy lại hoạt động, được tiếp sinh lực và đầy quyền năng. Điều con người xây dựng là một sáng tạo thiện lành hay độc hại tùy theo dục vọng, động cơ hay mục đích nền tảng.

It is essential that we endeavour to make practical what is here to be imparted, as it is useless for man to study the groups of lesser builders, their functions and their names, unless he realises that with many of them he has an intimate connection, being himself one of the great builders, and a creator within the planetary scheme. Men should remember that through the power of their thoughts and their spoken words they definitely produce effects upon other human beings functioning on the three planes of human evolution and upon the entire animal kingdom. The separative and maleficent thoughts of man are largely responsible for the savage nature of wild beasts, and the destructive quality of some of nature’s processes, including certain phenomena, such as plague and famine.

Điều cốt yếu là chúng ta phải cố gắng làm cho những gì được truyền đạt ở đây trở nên thực tiễn, vì con người nghiên cứu các nhóm tiểu kiến tạo, các chức năng và tên gọi của họ sẽ là vô ích nếu y không chứng nghiệm rằng mình có một mối liên hệ mật thiết với nhiều vị trong số họ, vì chính y là một trong các đại kiến tạo, và là một đấng sáng tạo trong hệ hành tinh. Con người nên nhớ rằng qua quyền năng của tư tưởng và lời nói của mình, họ thực sự tạo ra các hiệu quả lên những con người khác đang hoạt động trên ba cõi của tiến hoá nhân loại và lên toàn bộ giới động vật. Những tư tưởng chia rẽ và độc hại của con người phần lớn chịu trách nhiệm về bản chất hung dữ của thú hoang, và phẩm tính hủy diệt của một số tiến trình trong tự nhiên, kể cả một số hiện tượng như dịch bệnh và nạn đói.

It is of no value to man to know the names of some of the “army of the voice” unless he comprehends his relationship to that army, unless he apprehends the responsibility which is his to be a beneficent creator, working under the law of love, and not impelled to the creative act through selfish desire, or uncontrolled activity.

Việc biết tên của một số thành phần trong “đạo quân của tiếng nói” không có giá trị gì đối với con người trừ phi y hiểu được mối liên hệ của mình với đạo quân ấy, trừ phi y lĩnh hội được trách nhiệm của mình là phải là một đấng sáng tạo thiện lành, hoạt động dưới định luật bác ái, chứ không bị thúc đẩy vào hành vi sáng tạo bởi dục vọng ích kỷ hay hoạt động không kiểm soát.

b. Physical Plane Elementals.

b. Hành khí cõi hồng trần.

It should be remembered that the devas we have been considering are the originators of impulse, and the manipulators of energy in their own degree, and on their own plane. In connection with them are to be found, therefore, the recipients of force, or the multitude of lives of an elemental nature which form the sumtotal of the matter of a plane. These are swept on waves of energy, through the impulse of the Breath, and as the result of [Page 890] vibratory action, into all forms as we know them on the physical plane. Therefore, in connection with manifestation on the physical plane the devas may be divided into three groups:

Cần nhớ rằng các thiên thần mà chúng ta đã xem xét là những vị khởi phát xung lực, và là những vị điều khiển năng lượng trong cấp độ riêng của mình và trên cõi riêng của mình. Vì vậy, liên hệ với các vị ấy có thể tìm thấy những kẻ tiếp nhận mãnh lực, hay vô số sự sống có bản chất hành khí tạo thành tổng số vật chất của một cõi. Các sự sống này bị cuốn đi trên những làn sóng năng lượng, qua xung lực của Hơi Thở, và như là kết quả của [Page 890] tác động rung động, vào mọi hình tướng như chúng ta biết trên cõi hồng trần. Vì vậy, liên quan đến biểu hiện trên cõi hồng trần, các thiên thần có thể được chia thành ba nhóm:

1. The transmitters of the will of God, the originators of activity in deva substance. These are the greater builders in their various groups.

1. Những vị truyền đạt Ý Chí của Thượng Đế, những vị khởi phát hoạt động trong chất liệu thiên thần. Đây là các đấng kiến tạo lớn hơn trong những nhóm khác nhau của các vị ấy.

2. The manipulators of the initiated energy. These are the myriads of workers with force who transmit the impulse in their turn to the elemental essence. They are the builders of lesser degree, but are on the evolutionary arc as are the first group.

2. Những vị điều khiển năng lượng đã được khởi phát. Đây là vô số người hoạt động với mãnh lực, đến lượt mình truyền xung lực đến Tinh chất hành khí. Họ là các đấng kiến tạo cấp thấp hơn, nhưng ở trên cung tiến hoá cũng như nhóm thứ nhất.

3. The recipients of force, the sumtotal of the living substance of a plane. These lives are passive in the hands of the builders of greater degree.

3. Những kẻ tiếp nhận mãnh lực, tổng số chất liệu sống của một cõi. Các sự sống này thụ động trong tay các đấng kiến tạo cấp cao hơn.

The three groups to be considered are:

Ba nhóm cần được xem xét là:

1. The elementals of densest matter.

1. Các hành khí của vật chất đậm đặc nhất.

2. The elementals of liquid matter.

2. Các hành khí của vật chất lỏng.

3. The elementals of gaseous matter.

3. Các hành khí của vật chất khí.

We must bear in mind as we study these three groups that we are not concerned with the transmitters, but with the manipulators and with the recipients of energy.

Khi nghiên cứu ba nhóm này, chúng ta phải ghi nhớ rằng chúng ta không bàn đến các vị truyền đạt, mà bàn đến các vị điều khiển và những kẻ tiếp nhận năng lượng.

The Elementals of Densest Matter. These are the workers and builders which are concerned with the tangible and objective part of all manifestation. In their totality they literally form that which can be touched, seen, and contacted physically by man. In considering these matters we must never dissociate the various groups in our minds in a too literal sense, for they all interpenetrate and blend, in the same manner as man’s physical body is compounded of dense, liquid, gaseous, and etheric matter. Diversity, producing a unity, is everywhere to be seen; this fact must constantly be borne [Page 891] in mind by the occult student when studying the subhuman forms of existence. There is a distinct danger in all tabulations, for they tend to the forming of hard and fast divisions, whereas unity pervades all.

Các hành khí của vật chất đậm đặc nhất. Đây là những người hoạt động và những đấng kiến tạo có liên quan đến phần hữu hình và khách quan của mọi biểu hiện. Trong tổng thể của chúng, chúng thực sự tạo thành cái có thể được con người chạm tới, nhìn thấy và tiếp xúc trên phương diện hồng trần. Khi xem xét các vấn đề này, chúng ta không bao giờ được tách rời các nhóm khác nhau trong trí óc mình theo nghĩa quá sát mặt chữ, vì tất cả chúng đều xuyên thấm lẫn nhau và hòa trộn với nhau, cũng theo cách mà thể xác của con người được cấu thành từ vật chất đậm đặc, lỏng, khí và dĩ thái. Tính đa dạng tạo ra một sự hợp nhất có thể được thấy ở khắp nơi; sự kiện này phải luôn luôn được ghi nhớ [Page 891] trong tâm trí của đạo sinh huyền bí học khi nghiên cứu các hình thức tồn tại dưới nhân loại. Có một nguy cơ rõ rệt trong mọi sự lập bảng, vì chúng có khuynh hướng tạo ra những phân chia cứng nhắc và cố định, trong khi sự hợp nhất thấm nhuần tất cả.

Among the manipulating devas of the lowest level of the dense physical plane are to be found certain subterranean forms of existence, of which hints are to be found in the ancient and occult books. There is to be found in the very bowels of the earth, an evolution of a peculiar nature, with a close resemblance to the human. They have bodies of a peculiarly gross kind, which might be regarded as distinctly physical as we understand the term. They dwell in settlements, or groups, under a form of government suited to their needs in the central caves several miles below the crust of the earth. Their work is closely connected with the mineral kingdom, and the “agnichaitans” of the central fires are under their control. Their bodies are constituted so as to stand much pressure, and they are not dependent upon as free a circulation of air as man is, nor do they resent the great heat to be found in the earth’s interior. Little can here be communicated anent these existences, for they are connected with the lesser vital portions of the physical body of the planetary Logos, finding their microcosmic correspondence in the feet and legs of a man. They are one of the factors which make possible the revolutionary progressive activity of a planet.

Trong số các thiên thần thao tác ở cấp thấp nhất của cõi hồng trần đậm đặc có thể tìm thấy một số dạng tồn tại dưới lòng đất, mà những ám chỉ về chúng có thể được thấy trong các sách cổ và huyền bí. Ngay trong lòng sâu của trái đất có một dòng tiến hoá có tính chất đặc biệt, rất giống với con người. Chúng có những thể thuộc loại đặc biệt thô nặng, có thể được xem là rõ rệt thuộc hồng trần theo cách chúng ta hiểu thuật ngữ này. Chúng sống trong các khu định cư, hay các nhóm, dưới một hình thức cai quản thích hợp với nhu cầu của chúng trong những hang động trung tâm cách lớp vỏ trái đất nhiều dặm bên dưới. Công việc của chúng liên hệ chặt chẽ với giới kim thạch, và các “agnichaitan” của những ngọn lửa trung tâm nằm dưới sự kiểm soát của chúng. Thể của chúng được cấu tạo để chịu được áp lực lớn, và chúng không phụ thuộc vào sự lưu thông không khí tự do như con người, cũng không khó chịu trước sức nóng lớn tìm thấy trong nội địa trái đất. Ở đây chỉ có thể truyền đạt rất ít điều liên quan đến các tồn tại này, vì chúng liên hệ với những phần sinh lực nhỏ hơn của thể xác của Hành Tinh Thượng đế, tìm thấy đối phần tiểu thiên địa của chúng nơi bàn chân và cẳng chân của con người. Chúng là một trong những yếu tố làm cho hoạt động tiến bộ mang tính cách mạng của một hành tinh trở nên khả hữu.

Allied with them are several other groups of low class entities, whose place in the scheme of things can only be described as having relation to the grosser planetary functions. Little is gained by enlarging upon these lives and their work; it is not possible for man in any way to contact them, nor would it be desirable. When they have pursued their evolutionary cycle, they will take their place in a later cycle in the ranks of certain deva bodies that are related to the animal kingdom.

Liên kết với chúng là vài nhóm thực thể cấp thấp khác, mà vị trí của chúng trong hệ sự vật chỉ có thể được mô tả là có liên hệ với những chức năng hành tinh thô nặng hơn. Mở rộng thêm về các sự sống này và công việc của chúng cũng không thu được bao nhiêu; con người không thể tiếp xúc với chúng theo bất kỳ cách nào, và điều đó cũng không đáng mong muốn. Khi chúng đã theo đuổi xong chu kỳ tiến hoá của mình, chúng sẽ đảm nhận vị trí trong một chu kỳ sau giữa hàng ngũ của một số thể thiên thần có liên hệ với giới động vật.

[Page 892] It is commonly supposed that all the fairies, gnomes, elves, and like nature spirits are to be found solely in etheric matter, but this is not so. They are to be found in bodies of gaseous and liquid substance likewise, but the mistake has arisen for the reason that the basis of all that which can be objectively seen is the etheric structure, and these little busy lives frequently protect their dense physical activities through the agency of glamour, and cast a veil over their objective manifestation. When etheric vision is present then they can be seen, for the glamour, as we understand it, is only a veil over that which is tangible.

[Page 892] Người ta thường cho rằng tất cả các tiên nữ, gnome, elf và những tinh linh tự nhiên tương tự chỉ được tìm thấy trong vật chất dĩ thái, nhưng điều này không đúng. Chúng cũng được tìm thấy trong những thể bằng chất liệu khí và lỏng, nhưng sự nhầm lẫn đã phát sinh vì lý do rằng nền tảng của mọi cái có thể được nhìn thấy một cách khách quan là cấu trúc dĩ thái, và những sự sống nhỏ bé bận rộn này thường bảo vệ các hoạt động hồng trần đậm đặc của chúng thông qua tác nhân của ảo cảm, và phủ một bức màn lên biểu hiện khách quan của chúng. Khi linh thị dĩ thái hiện diện thì chúng có thể được nhìn thấy, vì ảo cảm, theo cách chúng ta hiểu, chỉ là một bức màn che phủ cái hữu hình.

Students must at this juncture remember that all dense physical forms, whether of a tree, an animal, a mineral, a drop of water, or a precious stone, are in themselves elemental lives constructed of living substance by the aid of living manipulators, acting under the direction of intelligent architects. It will immediately become apparent why it is not possible in any way to tabulate in connection with this particular lowest group. A beautiful diamond, a stately tree, or a fish in the water are but devas after all. It is the recognition of this essential livingness which constitutes the basic fact in all occult investigation, and is the secret of all beneficent magic. It is not my purpose, therefore, to deal more specifically with these lowest forms of divine life, except to impart two facts, and thus give indication of the solution of two problems which have oft disturbed the average student; these are, first, the problem as to the purpose of all reptilian life, and, secondly, the specific connection of the bird evolution with the deva kingdom.

Đến lúc này, các đạo sinh phải nhớ rằng mọi hình tướng hồng trần đậm đặc, dù là của cây cối, động vật, khoáng vật, một giọt nước hay một viên đá quý, tự thân đều là những sự sống hành khí được cấu tạo từ chất liệu sống với sự trợ giúp của những đấng thao tác sống, hoạt động dưới sự chỉ đạo của các kiến trúc sư thông tuệ. Sẽ lập tức trở nên rõ ràng vì sao không thể theo bất kỳ cách nào lập bảng liên quan đến nhóm thấp nhất đặc biệt này. Một viên kim cương tuyệt đẹp, một cây cổ thụ uy nghi, hay một con cá trong nước, rốt cuộc cũng chỉ là các thiên thần. Chính sự nhận biết tính sống thiết yếu này tạo thành sự kiện nền tảng trong mọi khảo cứu huyền bí, và là bí mật của mọi huyền thuật từ thiện. Vì vậy, mục đích của tôi không phải là bàn đến cụ thể hơn về những hình thức thấp nhất này của sự sống thiêng liêng, ngoại trừ việc truyền đạt hai sự kiện, và như thế đưa ra chỉ dẫn về lời giải cho hai vấn đề vốn thường làm bối rối đạo sinh trung bình; đó là, thứ nhất, vấn đề về mục đích của toàn bộ sự sống loài bò sát, và thứ hai, mối liên hệ đặc thù của tiến hoá loài chim với giới thiên thần.

The secret of the reptile kingdom is one of the mysteries of the second round, and there is a profound significance connected with the expression “the serpents of wisdom” which is applied to all adepts of the good law. [Page 893] The reptile kingdom has an interesting place in all mythologies, and all ancient forms of truth impartation, and this for no arbitrary reason. It is not possible to enlarge upon the underlying truth which is hidden in the karmic history of our planetary Logos, and is revealed as part of the teaching given to initiates of the second degree.

Bí mật của giới bò sát là một trong những huyền nhiệm của cuộc tuần hoàn thứ hai, và có một thâm nghĩa sâu xa gắn với cách diễn đạt “những con rắn minh triết” được áp dụng cho mọi chân sư của thiện luật. [Page 893] Giới bò sát có một vị trí thú vị trong mọi thần thoại và mọi hình thức truyền đạt chân lý cổ xưa, và điều này không phải không có lý do. Không thể mở rộng về chân lý nền tảng được che giấu trong lịch sử nghiệp quả của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, và được mặc khải như một phần của giáo huấn ban cho các điểm đạo đồ bậc hai.

The second great life impulse, or life wave, initiated by our planetary Logos, when brought in conjunction with the first, was the basis of that activity which we call evolutionary energy; it resulted in a gradual unrolling, or revelation, of the divine form. The heavenly serpent manifested, being produced out of the egg, and began its convolutions, gaining in strength and majesty, and producing through its immense fecundity millions of lesser “serpents.” The reptile kingdom is the most important part of the animal kingdom in certain aspects, if such an apparently contradictory statement can be made. For all animal life can be seen passing through it during the prenatal stage, or returning to it when the form is in advanced decomposition. The connection is not purely a physical one, but it is also psychic. When the real nature and method of the kundalini, or serpent fire, is known, this relation will be better understood, and the history of the second round assume a new importance.

Xung lực sự sống lớn thứ hai, hay làn sóng sự sống, do Hành Tinh Thượng đế của chúng ta khởi xướng, khi được đưa vào đồng vị với xung lực thứ nhất, đã là nền tảng của hoạt động mà chúng ta gọi là năng lượng tiến hoá; nó dẫn đến sự mở cuộn dần dần, hay sự mặc khải, của hình tướng thiêng liêng. Con rắn thiên giới biểu hiện, được sinh ra từ quả trứng, và bắt đầu những vòng cuộn của nó, lớn lên về sức mạnh và uy nghi, và qua khả năng sinh sản to lớn của nó tạo ra hàng triệu “con rắn” nhỏ hơn. Giới bò sát là phần quan trọng nhất của giới động vật trong một số phương diện, nếu có thể đưa ra một phát biểu có vẻ mâu thuẫn như vậy. Vì mọi sự sống động vật đều có thể được thấy đi qua nó trong giai đoạn tiền sinh, hoặc quay trở lại nó khi hình tướng ở trong tình trạng phân huỷ cao độ. Mối liên hệ này không thuần túy là hồng trần, mà còn là thông linh. Khi bản chất và phương pháp thực sự của kundalini, hay lửa rắn, được biết đến, mối liên hệ này sẽ được thấu hiểu rõ hơn, và lịch sử của cuộc tuần hoàn thứ hai sẽ mang một tầm quan trọng mới.

The secret of life lies hidden in the serpent stage,—not the life of the Spirit, but the life of the soul, and this will be revealed as the “serpent of the astral light” is truly approached, and duly studied. One of the four Lipika Lords, Who stand nearest to our planetary Logos, is called “The Living Serpent,” and His emblem is a serpent of blue with one eye, in the form of a ruby, in its head. Students who care to carry the symbology a little further can connect this idea with the “eye of Shiva” which sees and knows all, and records all, as [Page 894] does the human eye in lesser degree; all is photographed upon the astral light, as the human eye receives impressions upon the retina. The same thought is frequently conveyed in the Christian Bible, in the Hebrew and Christian recognition of the all-seeing eye of God. The application and value of the hints here given may be apparent if the subject of the third eye is studied, and its relation to the spine, and the spinal currents investigated. This third eye is one of the objects of kundalinic vivification, and in the spinal territory there is first the centre at the base of the spine, the home of the sleeping fire. Next we have the triple channel along which that fire will travel in due course of evolution, and finally we find at the summit of the column, and surmounting all, that small organ called the pineal gland, which when vivified causes the third eye to open, and the beauties of the higher, subtler planes to stand revealed. All this physico-psychical occurrence is possible to man owing to certain events which happened to the Heavenly Serpent in the second, or serpent, round. These happenings necessitated the formation and evolution of that peculiar and mysterious family we call the reptilian. These forms of divine life are very intimately connected with the second planetary scheme, being responsive to energy emanating from that scheme, and reaching the earth via the second globe in the second chain. A group of special devas (connected with a particular open sound in the planetary Word), work with the reptile evolution.

Bí mật của sự sống ẩn giấu trong giai đoạn con rắn,—không phải sự sống của tinh thần, mà là sự sống của linh hồn, và điều này sẽ được mặc khải khi “con rắn của ánh sáng cảm dục” được tiếp cận đúng đắn và được nghiên cứu thích đáng. Một trong bốn Đấng Lipika, Đấng đứng gần Hành Tinh Thượng đế của chúng ta nhất, được gọi là “Con Rắn Sống,” và biểu tượng của Ngài là một con rắn màu lam với một con mắt, dưới hình thức một viên hồng ngọc, ở trong đầu nó. Những đạo sinh nào muốn đẩy biểu tượng học đi xa hơn một chút có thể nối kết ý tưởng này với “mắt của Shiva” là cái thấy và biết mọi sự, và ghi lại mọi sự, cũng như [Page 894] mắt người làm điều đó ở mức độ nhỏ hơn; mọi sự đều được chụp lại trên ánh sáng cảm dục, cũng như mắt người tiếp nhận các ấn tượng trên võng mạc. Cùng một tư tưởng này thường được chuyển tải trong Kinh Thánh Cơ Đốc, trong sự công nhận của Do Thái giáo và Cơ Đốc giáo về con mắt toàn tri của Thượng đế. Sự áp dụng và giá trị của những ám chỉ được đưa ra ở đây có thể sẽ rõ ràng nếu chủ đề về con mắt thứ ba được nghiên cứu, cùng mối liên hệ của nó với cột sống, và các dòng chảy trong cột sống được khảo sát. Con mắt thứ ba này là một trong những đối tượng của sự tiếp sinh lực kundalini, và trong khu vực cột sống trước hết có trung tâm ở đáy cột sống, nơi cư ngụ của ngọn lửa đang ngủ. Kế đó chúng ta có ba đường dẫn mà ngọn lửa ấy sẽ di chuyển theo trong tiến trình tiến hoá thích hợp, và cuối cùng chúng ta thấy ở đỉnh cột sống, và vượt lên trên tất cả, cơ quan nhỏ gọi là tuyến tùng, mà khi được tiếp sinh lực sẽ khiến con mắt thứ ba mở ra, và vẻ đẹp của các cõi cao hơn, vi tế hơn được mặc khải. Toàn bộ biến cố hồng trần-thông linh này trở nên khả hữu đối với con người nhờ một số sự kiện đã xảy ra cho Đấng Thiên Nhân Xà trong cuộc tuần hoàn thứ hai, hay cuộc tuần hoàn con rắn. Những biến cố này đòi hỏi sự hình thành và tiến hoá của họ đặc biệt và huyền bí mà chúng ta gọi là loài bò sát. Những hình thức sự sống thiêng liêng này liên hệ rất mật thiết với hệ hành tinh thứ hai, vì chúng đáp ứng với năng lượng phát ra từ hệ đó, và đến trái đất qua bầu hành tinh thứ hai trong dãy thứ hai. Một nhóm thiên thần đặc biệt (liên hệ với một âm thanh mở trong Linh từ hành tinh), làm việc với tiến hoá loài bò sát.

It should be noted here that this evolution on the etheric planes has a closer effect upon man than on the physical. If students will apply themselves to the consideration of these facts, to the investigation of the serpent lore in all lands, mythologies and scriptures, and if they will link up all this knowledge with that concerning those heavenly constellations which have a serpent appellation (such as, for instance, the Dragon), much [Page 895] illumination may come. If the intuition suffices, knowledge may then be imparted which will make clearer the connection between the physical bodies with their centres, and the psychic nature.

Cần lưu ý rằng tiến hoá này trên các cõi dĩ thái có ảnh hưởng gần gũi đến con người hơn là trên cõi hồng trần. Nếu các đạo sinh chuyên tâm xem xét các sự kiện này, khảo cứu truyền thuyết về rắn ở mọi xứ sở, thần thoại và kinh điển, và nếu họ nối kết toàn bộ tri thức này với tri thức liên quan đến những chòm sao thiên giới mang danh xưng con rắn (chẳng hạn như Rồng), thì nhiều [Page 895] soi sáng có thể đến. Nếu trực giác đủ mạnh, khi đó tri thức có thể được truyền đạt, điều sẽ làm sáng tỏ hơn mối liên hệ giữa các thể xác với các trung tâm của chúng, và bản chất thông linh.

The bird kingdom is specifically allied to the deva evolution. It is the bridging kingdom between the purely deva evolution and two other manifestations of life.

Giới chim liên minh một cách đặc thù với tiến hoá thiên thần. Đó là giới bắt cầu giữa tiến hoá thuần thiên thần và hai biểu hiện khác của sự sống.

First. Certain groups of devas who desire to pass into the human kingdom, having developed certain faculties, can do so via the bird kingdom, and certain devas who wish to get in communication with human beings can do so via the bird kingdom. This truth is hinted at in the Christian Bible and Christian religious representations by angels or devas being frequently represented as having wings. These cases are not many, as the usual method is for the devas gradually to work themselves towards individualisation through expansive feeling, but in the cases which do occur these devas pass several cycles in the bird kingdom, building in a response to a vibration which will ultimately swing them into the human family. In this way they become accustomed to the use of a gross form without the limitations, and impurities, which the animal kingdom engenders.

Thứ nhất. Một số nhóm thiên thần mong muốn đi vào giới nhân loại, sau khi đã phát triển một số năng lực nhất định, có thể làm như vậy qua giới chim, và một số thiên thần muốn đi vào giao tiếp với con người cũng có thể làm như vậy qua giới chim. Chân lý này được ám chỉ trong Kinh Thánh Cơ Đốc và trong các hình tượng tôn giáo Cơ Đốc khi các thiên thần thường được mô tả là có cánh. Những trường hợp này không nhiều, vì phương pháp thông thường là các thiên thần dần dần tự tiến tới biệt ngã hóa qua cảm xúc mở rộng, nhưng trong những trường hợp có xảy ra, các thiên thần này trải qua vài chu kỳ trong giới chim, xây dựng nơi mình một sự đáp ứng với một rung động mà cuối cùng sẽ đưa chúng vào gia đình nhân loại. Bằng cách này chúng quen với việc sử dụng một hình tướng thô nặng mà không có những giới hạn và tạp chất do giới động vật tạo ra.

Second. Many devas pass out of the group of passive lives in the effort to become manipulating lives via the bird kingdom, and before becoming fairies, elves, gnomes, or other sprites, pass a certain number of cycles in the bird realm.

Thứ hai. Nhiều thiên thần rời khỏi nhóm các sự sống thụ động trong nỗ lực trở thành các sự sống thao tác qua giới chim, và trước khi trở thành tiên nữ, elf, gnome hay các tinh linh khác, chúng trải qua một số chu kỳ trong giới chim.

Why the two above events occur will not be apparent to the casual reader, nor will the true connection between the birds and the devas be accurately realised by the occult student unless he applies himself to the consideration of the “bird or swan out of time and space,” and the place that birds play in the mysteries. Herein lies for him the clue. He must remember likewise the fact that every life of every degree, from a god to the most [Page 896] insignificant of the lesser devas, or builders, must at some time or another pass through the human family.

Vì sao hai biến cố trên xảy ra sẽ không rõ ràng đối với độc giả thông thường, và mối liên hệ thực sự giữa loài chim và các thiên thần cũng sẽ không được đạo sinh huyền bí học chứng nghiệm chính xác trừ phi y chuyên tâm xem xét “con chim hay thiên nga vượt ngoài thời gian và không gian,” và vai trò mà loài chim giữ trong các huyền nhiệm. Chính trong đó có đầu mối cho y. Y cũng phải nhớ sự kiện rằng mọi sự sống ở mọi cấp độ, từ một vị thần cho đến [Page 896] thiên thần nhỏ bé nhất hay đấng kiến tạo nhỏ nhất, vào lúc nào đó đều phải đi qua gia đình nhân loại.

As H. P. B. has pointed out, (S. D., Section X, Vol. I, 384, 435; II, 306.) birds and serpents are closely connected with wisdom, and therefore with the psychic nature of God, of men, and of devas. The study of mythology should reveal certain stages and relationships which will make this matter clearer.

Như H. P. B. đã chỉ ra, (S. D., Section X, Vol. I, 384, 435; II, 306.) chim và rắn liên hệ chặt chẽ với minh triết, và do đó với bản chất thông linh của Thượng đế, của con người, và của các thiên thần. Việc nghiên cứu thần thoại sẽ làm lộ ra một số giai đoạn và mối liên hệ khiến vấn đề này sáng tỏ hơn.

The Elementals and Lesser Devas of Liquid Matter. A very interesting illustration of the interpenetration of all the living matter of creation can be seen in connection with the atmosphere surrounding our planet. In it is to be found:

Các hành khí và các thiên thần nhỏ của vật chất lỏng. Một minh hoạ rất thú vị về sự xuyên thấm lẫn nhau của toàn bộ vật chất sống của tạo thành có thể được thấy liên quan đến bầu khí quyển bao quanh hành tinh chúng ta. Trong đó có thể tìm thấy:

a. Moisture, or those living essences which are the liquid elementals.

a. Độ ẩm, hay những tinh chất sống là các hành khí lỏng.

b. Gaseous substance, or those lives which are linked to all fiery essences, being volatile and the result of heat.

b. Chất liệu khí, hay những sự sống liên kết với mọi tinh chất lửa, có tính bốc hơi và là kết quả của nhiệt.

c. Etheric matter, or the lowest orders of the devas of the ethers.

c. Vật chất dĩ thái, hay các cấp thấp nhất của các thiên thần của các dĩ thái.

This major triplicity, when in conjunction, produces that which we breathe, and that in which we live and move and have our being. To the thoughtful student the air is full of symbology, for it is a synthesis, and that which bridges the higher and the lower strata of manifestation.

Bộ ba lớn này, khi kết hợp với nhau, tạo ra cái mà chúng ta hít thở, và cái trong đó chúng ta sống, vận động và hiện hữu. Đối với đạo sinh biết suy tư, không khí đầy biểu tượng học, vì nó là một tổng hợp, và là cái bắt cầu giữa các tầng cao hơn và thấp hơn của biểu hiện.

We must centre our attention first upon those lives which constitute the sumtotal of all that is watery, and liquid throughout manifestation, and in dealing with this we must remember that we are concerned with the most occult of investigations, and with matters which are very closely connected with man’s evolution.

Trước hết, chúng ta phải tập trung chú ý vào những sự sống tạo thành tổng số của mọi cái có tính nước và lỏng trong toàn bộ biểu hiện, và khi bàn đến điều này chúng ta phải nhớ rằng mình đang quan tâm đến một trong những khảo cứu huyền bí nhất, và đến những vấn đề liên hệ rất chặt chẽ với tiến hoá của con người.

The many groups of the water devas of the manipulatory class have been roughly grouped by mythological writers, under the terms undines, mermaids, and other [Page 897] expressions, but their diversity is great, and this will be necessarily apparent when it is remembered that the sumtotal of water upon the earth (oceans, seas, rivers, lakes and streams), far exceeds the dry portion, or land, and every drop of moisture is in itself a tiny life, fulfilling its function and running its cycle. The mythic forms above referred to are but those myriad lives built into a form through which an evolutionary deva is seeking expression.

Nhiều nhóm thiên thần nước thuộc loại thao tác đã được các tác giả thần thoại gom nhóm một cách đại khái dưới các thuật ngữ undine, nàng tiên cá, và những [Page 897] cách gọi khác, nhưng tính đa dạng của chúng rất lớn, và điều này tất yếu sẽ rõ ràng khi nhớ rằng tổng lượng nước trên trái đất (đại dương, biển, sông, hồ và suối) vượt xa phần khô, hay đất liền, và mỗi giọt ẩm tự thân là một sự sống nhỏ bé, hoàn thành chức năng của nó và vận hành chu kỳ của nó. Những hình thức thần thoại vừa được nhắc đến chỉ là những sự sống vô số ấy được xây dựng thành một hình tướng qua đó một thiên thần tiến hoá đang tìm cách biểu lộ.

The extreme interest of this subject might be expressed under certain statements which will give the student some idea of the close attention which should, and eventually will be paid to this subject of the deva lives of watery manifestation. As said above, the aggregate of these lives is greater than the aggregate of those lives which form the sum total of solid earth as we understand the term, even though they do not exceed the number of lives which form the gaseous portion of manifestation; this gaseous portion is found in the atmosphere, interpenetrating dense matter, and filling in a large degree the interior caverns of the planet. The microcosmic resemblance to the great Life of the planet is seen in the fact that both forms are but outer sheaths or frameworks, sheltering an inner “vault”; both forms are hollow, both have their negative and positive extremities, their poles, so to speak, and internally much proceeds affecting the outer evolutions.

Mối quan tâm cực lớn của chủ đề này có thể được diễn đạt qua một số phát biểu sẽ cho đạo sinh một ý niệm nào đó về sự chú ý sát sao nên được, và cuối cùng sẽ được, dành cho chủ đề này về các sự sống thiên thần của biểu hiện nước. Như đã nói ở trên, tổng số các sự sống này lớn hơn tổng số các sự sống tạo thành toàn bộ đất rắn như chúng ta hiểu thuật ngữ đó, dù chúng không vượt quá số lượng các sự sống tạo thành phần khí của biểu hiện; phần khí này được tìm thấy trong bầu khí quyển, xuyên thấm vật chất đậm đặc, và lấp đầy ở mức độ lớn các hang động bên trong hành tinh. Sự tương đồng tiểu thiên địa với Sự sống vĩ đại của hành tinh được thấy trong sự kiện rằng cả hai hình thức chỉ là những vỏ bọc hay khung sườn bên ngoài, che chở một “vòm” bên trong; cả hai hình thức đều rỗng, cả hai đều có các cực âm và dương của chúng, các cực của chúng, có thể nói như vậy, và bên trong nhiều điều diễn ra ảnh hưởng đến các tiến hoá bên ngoài.

One of the most occult of the planets, Neptune, presides over the “devas of the waters”; their presiding deva Lord, Varuna, the Raja of the astral plane, being an emanation from that planet. Students will find it of profound interest to study the close interaction therefore between:

Một trong những hành tinh huyền bí nhất, Sao Hải Vương, chủ trì các “thiên thần của nước”; vị Chúa Tể thiên thần chủ trì của họ, Varuna, Raja của cõi cảm dục, là một phát xạ từ hành tinh đó. Vì vậy, các đạo sinh sẽ thấy vô cùng thú vị khi nghiên cứu sự tương tác chặt chẽ giữa:

1. The sixth plane, the astral plane, and the sixth subplane of the physical plane, the liquid subplane. [Page 898]

1. Cõi thứ sáu, cõi cảm dục, và cõi phụ thứ sáu của cõi hồng trần, cõi phụ lỏng. [Page 898]

2. The sixth subplane of each plane in the solar system, and their relation to each other.

2. Cõi phụ thứ sáu của mỗi cõi trong hệ mặt trời, và mối liên hệ của chúng với nhau.

Herein will be found one reason why men of a relatively low type of physical body, and having an astral body with some sixth subplane matter in it are responsive to higher things and have a spiritual aspiration. The influence emanating from the sixth subplane of the buddhic plane calls out a reciprocal response from the sixth subplane matter in other bodies, and the sixth principle of buddhi under the Law of Correspondences intensifies that vibration.

Chính trong đó có một lý do vì sao những người có loại thể xác tương đối thấp, và có thể cảm dục chứa một ít vật chất cõi phụ thứ sáu, lại đáp ứng với những điều cao hơn và có một khát vọng tinh thần. Ảnh hưởng phát ra từ cõi phụ thứ sáu của cõi Bồ đề gọi ra một sự đáp ứng tương hỗ từ vật chất cõi phụ thứ sáu trong các thể khác, và nguyên khí thứ sáu của Bồ đề dưới định luật tương ứng làm tăng cường rung động đó.

The name Neptune is one under which the planetary Logos of one of the major three schemes is known upon our planet. Certain of His influences and energies affect paramountly the deva essence of this sixth subplane matter, reaching them via the Raja Lord Varuna. This knowledge is of practical value astrologically, for it will enable men to understand the nature of their own physical bodies, and above all of their astral bodies. It is an occult fact that the type of astral matter in a man’s body decides the quality of the watery substance of his physical body. There is, in occultism, no dissociating the physico-psychic natures, for the latter determines the former. The planet Neptune therefore has a profound effect and a close connection under the Law of Correspondences with the sixth, or astral plane, which is the plane of the liquid portion of the logoic physical body, with the sixth subplane of the physical plane, or with the liquid portion of the human physical body and of the planetary physical body, also with the sixth type of energy or force, or the sixth ray.

Tên Neptune là một danh xưng mà dưới đó Hành Tinh Thượng đế của một trong ba hệ lớn được biết đến trên hành tinh chúng ta. Một số ảnh hưởng và năng lượng của Ngài tác động tối cao lên tinh chất thiên thần của vật chất cõi phụ thứ sáu này, đến với chúng qua Chúa Tể Raja Varuna. Tri thức này có giá trị thực tiễn về mặt chiêm tinh, vì nó sẽ giúp con người hiểu bản chất của chính thể xác mình, và trên hết là của thể cảm dục của mình. Đó là một sự kiện huyền bí rằng loại vật chất cảm dục trong thể của một người quyết định phẩm tính của chất liệu nước trong thể xác của y. Trong huyền bí học, không có sự tách rời giữa bản chất hồng trần-thông linh, vì cái sau quyết định cái trước. Do đó, hành tinh Neptune có một ảnh hưởng sâu xa và một mối liên hệ chặt chẽ dưới định luật tương ứng với cõi thứ sáu, hay cõi cảm dục, là cõi của phần lỏng trong thể xác của Thượng đế, với cõi phụ thứ sáu của cõi hồng trần, hay với phần lỏng của thể xác con người và của thể xác hành tinh, cũng như với loại năng lượng hay mãnh lực thứ sáu, hay cung sáu.

The major scheme over which Neptune presides forms a systemic triangle of great interest for esoteric astrologers with the sixth scheme and one other. This is symbolised in the three pronged trident which the god Neptune [Page 899] is always portrayed as holding, the prongs being literally the symbolic triangles connected with each other by three lines of force.

Hệ lớn mà Neptune chủ trì tạo thành một tam giác hệ thống rất đáng quan tâm đối với các nhà chiêm tinh học nội môn cùng với hệ thứ sáu và một hệ khác nữa. Điều này được biểu tượng hóa trong cây đinh ba mà thần Neptune [Page 899] luôn được mô tả là cầm trong tay, các mũi nhọn thực sự là những tam giác biểu tượng nối kết với nhau bằng ba đường mãnh lực.

This planet has also a vital relation to the sixth logoic principle, or Buddhi, and therefore the sixth principle of man. No man begins to co-ordinate the buddhic vehicles until he comes under Neptunian influence in some life or another. When this is the case, his personality horoscope will show Neptunian influence dominating somewhere.

Hành tinh này cũng có một mối liên hệ thiết yếu với nguyên khí thứ sáu của Thượng đế, hay Bồ đề, và do đó với nguyên khí thứ sáu của con người. Không ai bắt đầu phối hợp các vận cụ Bồ đề cho đến khi y chịu ảnh hưởng của Neptune trong một kiếp sống nào đó. Khi điều này xảy ra, lá số chiêm tinh phàm ngã của y sẽ cho thấy ảnh hưởng của Neptune chi phối ở đâu đó.

The Neptunian scheme governs one of the three paths of return, and gathers to itself eventually all those Egos who attain primarily through the manipulation of the sixth type of energy usually called devotion. It is Neptunian influence likewise which presides over and makes possible the second Initiation, wherein the initiate produces results in the astral body, and wherein his astral centres are the object of the Hierophant’s attention. This particular type of energy flows through three centres:

Hệ Neptune cai quản một trong ba con đường trở về, và cuối cùng thu hút về mình tất cả những Chân ngã đạt được chủ yếu qua sự thao tác loại năng lượng thứ sáu thường được gọi là sùng tín. Cũng chính ảnh hưởng của Neptune chủ trì và làm cho lần điểm đạo thứ hai trở nên khả hữu, trong đó điểm đạo đồ tạo ra các kết quả trong thể cảm dục, và trong đó các trung tâm cảm dục của y là đối tượng chú ý của Đấng Điểm đạo. Loại năng lượng đặc biệt này chảy qua ba trung tâm:

a. That particular head centre which is linked to the heart centre.

a. Trung tâm đầu đặc biệt được nối kết với trung tâm tim.

b. The heart centre.

b. Trung tâm tim.

c. The solar plexus.

c. Tùng thái dương.

The planet Neptune, along with the planetary Logos of the sixth ray controls the astral centres in man. This statement involves much esoteric macrocosmic significance. When it is remembered that all centres—human and divine—are composed of deva essence, the connection between this influence and the devas, and their reflex effect upon man, will immediately become apparent.

Hành tinh Neptune, cùng với Hành Tinh Thượng đế của cung sáu, kiểm soát các trung tâm cảm dục trong con người. Phát biểu này bao hàm nhiều thâm nghĩa huyền bí vĩ mô. Khi nhớ rằng mọi trung tâm—nhân loại và thiêng liêng—đều được cấu thành từ tinh chất thiên thần, mối liên hệ giữa ảnh hưởng này và các thiên thần, cùng tác động phản chiếu của chúng lên con người, sẽ lập tức trở nên rõ ràng.

In the mystery of the sea and the secret of its occult “drying up” or absorption, will be revealed eventually the significance underlying: [Page 900]

Trong huyền nhiệm của biển cả và bí mật của sự “khô cạn” hay hấp thụ huyền bí của nó, cuối cùng sẽ được mặc khải thâm nghĩa nằm bên dưới: [Page 900]

a. The sex impulse, macrocosmically and microcosmically interpreted.

a. Xung lực tính dục, được giải thích theo đại thiên địa và tiểu thiên địa.

b. The cessation of desire.

b. Sự chấm dứt của dục vọng.

c. The direction of fire to the throat centre instead of to the generative organs.

c. Sự hướng lửa đến trung tâm cổ họng thay vì đến các cơ quan sinh dục.

d. Pralaya and obscuration.

d. Giai kỳ qui nguyên và sự che khuất.

e. The meaning of the words “There shall be no more sea” found in the Christian Bible.

e. Ý nghĩa của những lời “Sẽ không còn biển nữa” được tìm thấy trong Kinh Thánh Cơ Đốc.

When meditating upon these thoughts, students will find it well to bear in mind the fact that Neptune is one of the major or synthesising planets, that it is an “absorbing” or “abstracting” planet, and that it is connected with the process whereby eventual perfection is demonstrated. The Son is made perfect, and the cosmic incarnation is brought to a close.

Khi tham thiền về những tư tưởng này, các đạo sinh sẽ thấy hữu ích khi ghi nhớ sự kiện rằng Neptune là một trong những hành tinh lớn hay tổng hợp, rằng nó là một hành tinh “hấp thụ” hay “trừu xuất,” và rằng nó liên hệ với tiến trình qua đó sự toàn hảo tối hậu được biểu lộ. Người Con được làm cho toàn hảo, và sự nhập thể vũ trụ được đưa đến chỗ kết thúc.

There is again a very close esoteric connection between the fact lying behind the Biblical words “the Spirit of God moved upon the face of the waters,” (Bible. Gen., 1:2.) and the ordered lawful activity of the Great Mother as she performs her work of body-building under the impulse of desire. The true relation between the astral plane and the physical plane will only become apparent as students carefully bear in mind that the astral plane of the solar system is the sixth subplane of the cosmic physical plane, and constitutes the sumtotal of the liquid substance of the logoic physical body. When this is realised, the work of the deva essence takes due place; the factor of desire, or of astral motion, and its reflex action upon the physical body via the sixth subplane will become apparent, and the Great Mother will be seen actively engaged, under the influence of desire, in the work of building, nourishing, and producing that warmth and moisture which make manifestation possible. The Mother is the greatest of the devas, and closely linked [Page 901] with the devas of the waters, for moisture of some kind or another is an essential to all life.

Lại có một mối liên hệ huyền bí rất chặt chẽ giữa sự kiện nằm sau những lời trong Kinh Thánh “Thần của Thượng đế vận hành trên mặt nước,” (Bible. Gen., 1:2.) và hoạt động có trật tự theo luật của Đại Mẫu khi Bà thực hiện công việc xây dựng thể dưới xung lực của dục vọng. Mối liên hệ thực sự giữa cõi cảm dục và cõi hồng trần sẽ chỉ trở nên rõ ràng khi các đạo sinh cẩn thận ghi nhớ rằng cõi cảm dục của hệ mặt trời là cõi phụ thứ sáu của cõi hồng trần vũ trụ, và tạo thành tổng số chất liệu lỏng của thể xác của Thượng đế. Khi điều này được chứng nghiệm, công việc của tinh chất thiên thần sẽ có vị trí thích đáng; yếu tố dục vọng, hay chuyển động cảm dục, và tác động phản chiếu của nó lên thể xác qua cõi phụ thứ sáu sẽ trở nên rõ ràng, và Đại Mẫu sẽ được thấy đang tích cực tham gia, dưới ảnh hưởng của dục vọng, vào công việc xây dựng, nuôi dưỡng, và tạo ra sự ấm áp cùng độ ẩm khiến biểu hiện trở nên khả hữu. Mẹ là vĩ đại nhất trong các thiên thần, và liên hệ chặt chẽ [Page 901] với các thiên thần của nước, vì một loại độ ẩm nào đó là điều thiết yếu cho mọi sự sống.

The sixth principle, therefore, or the love aspect (the Christ principle), and the sixth plane, are connected; there is an interplay of energy between the fourth cosmic ether, or buddhic energy, and the sixth plane, or astral energy. The devas on both these planes belong essentially to groups over which Neptunian influence presides, hence the astral plane can, and eventually will, directly reflect the buddhic.

Do đó, nguyên khí thứ sáu, hay phương diện tình thương (nguyên khí Christ), và cõi thứ sáu có liên hệ với nhau; có một sự tương tác năng lượng giữa dĩ thái vũ trụ thứ tư, hay năng lượng Bồ đề, và cõi thứ sáu, hay năng lượng cảm dục. Các thiên thần trên cả hai cõi này về bản chất thuộc về những nhóm mà ảnh hưởng của Neptune chủ trì, vì thế cõi cảm dục có thể, và cuối cùng sẽ, phản chiếu trực tiếp cõi Bồ đề.

The greater building devas on the second plane of the solar system, the monadic plane or the second cosmic ether, direct the energies of the manipulating devas of the fourth cosmic ether, the buddhic plane.

Các đấng đại kiến tạo thiên thần trên cõi thứ hai của hệ mặt trời, cõi chân thần hay dĩ thái vũ trụ thứ hai, chỉ đạo các năng lượng của các thiên thần thao tác của dĩ thái vũ trụ thứ tư, cõi Bồ đề.

The manipulating devas of the fourth cosmic ether will, in due course of evolution, work out the plan in objective perfection through the medium of the living substance of the lesser devas of the liquid or astral plane. When they have done this two results will be seen: first, the astral plane will perfectly reflect the buddhic plane and, secondly, the result of that will be that the physical plane will produce the exact vehicle needed for microcosmic or macrocosmic expression through the force of water, or desire.

Các thiên thần thao tác của dĩ thái vũ trụ thứ tư, trong tiến trình tiến hoá thích hợp, sẽ thực hiện Thiên Cơ đến mức toàn hảo khách quan qua trung gian của chất liệu sống của các thiên thần nhỏ của cõi lỏng hay cõi cảm dục. Khi họ đã làm xong điều này, sẽ thấy hai kết quả: thứ nhất, cõi cảm dục sẽ phản chiếu hoàn hảo cõi Bồ đề và, thứ hai, kết quả của điều đó sẽ là cõi hồng trần tạo ra đúng vận cụ cần thiết cho sự biểu lộ tiểu thiên địa hay đại thiên địa qua mãnh lực của nước, hay dục vọng.

All this is revealed to esotericists in the symbology of the circulatory system in man. As the blood system, with its two types of channels (arteries and veins) and its two types of builders (the red and the white corpuscles), is studied from the occult standpoint, much will be ascertained of a revolutionary nature. The laws of the path of outgoing, and of the path of return, with the two groups of deva lives therein concerned, will be apprehended by man. A further hint may here be given. In the physical body of man in connection with the circulatory system, we find, in the three factors—the heart, the arteries, and the veins—the clue to the three types [Page 902] of devas, and also to the systemic triangle which they represent, and further, to the three modes of divine expression. There is a planetary as well as a systemic circulation, and it is carried on through the medium of deva substance everywhere, macrocosmically as well as microcosmically.

Tất cả điều này được mặc khải cho các nhà bí truyền học trong biểu tượng học của hệ tuần hoàn nơi con người. Khi hệ máu, với hai loại kênh của nó (động mạch và tĩnh mạch) và hai loại đấng kiến tạo của nó (huyết cầu đỏ và huyết cầu trắng), được nghiên cứu từ quan điểm huyền bí, nhiều điều có tính cách mạng sẽ được xác định. Các định luật của con đường đi ra, và của con đường trở về, cùng với hai nhóm sự sống thiên thần liên quan trong đó, sẽ được con người lĩnh hội. Ở đây có thể đưa ra thêm một ám chỉ. Trong thể xác con người, liên hệ với hệ tuần hoàn, chúng ta thấy, trong ba yếu tố—tim, động mạch, và tĩnh mạch—đầu mối cho ba loại [Page 902] thiên thần, và cũng cho tam giác hệ thống mà chúng biểu hiện, và hơn nữa, cho ba phương thức biểu lộ thiêng liêng. Có một sự tuần hoàn hành tinh cũng như hệ thống, và nó được thực hiện qua trung gian của chất liệu thiên thần ở khắp nơi, trên bình diện đại thiên địa cũng như tiểu thiên địa.

The devas of the sixth physical subplane can be divided into three groups, and these again into seven and into forty-nine, thus corresponding with all groups in the solar system. These groups (in their essential nature) respond to that “which lies above more than that which lies below,” which is only an occult way of expressing a relationship of an intimate nature between the devas of fire and the devas of water, and a negation of a close connection between the water devas and the earth. Occultly expressed, through the action of the fire devas, the water devas find liberation.

Các thiên thần của cõi phụ hồng trần thứ sáu có thể được chia thành ba nhóm, và các nhóm này lại chia thành bảy và thành bốn mươi chín, do đó tương ứng với mọi nhóm trong hệ mặt trời. Các nhóm này (trong bản chất thiết yếu của chúng) đáp ứng với “cái nằm bên trên nhiều hơn cái nằm bên dưới,” đó chỉ là một cách diễn đạt huyền bí về một mối liên hệ mật thiết giữa các thiên thần của lửa và các thiên thần của nước, và là sự phủ nhận một mối liên hệ chặt chẽ giữa các thiên thần nước và đất. Được diễn đạt theo huyền bí học, qua hoạt động của các thiên thần lửa, các thiên thần nước tìm thấy sự giải thoát.

The devas of water find for themselves the path of service in their great work of nourishing all the vegetable and animal life upon the planet; the goal for them is to enter into that higher group of devas which we call the gaseous or fire devas. These, through the action of their fire upon the waters, produce that sequence of evaporation, condensation, and eventual precipitation which—through its constant activity—nourishes all life upon the earth. Thus again can the psychic laws of love be seen at work in the deva kingdom as in the human; first, the withdrawal or segregation of the unit from the group (called individualisation in man, and evaporation in the water realm). Next, condensation, or the amalgamation of the unit with a newer or higher group, this we call condensation for the devas of the waters, and initiation in man; finally, the sacrifice of the group of human or deva atoms to the good of the whole. So does the law of service and sacrifice govern all the second aspect divine in all its departments great [Page 903] or small. Such is the law. But in the human kingdom, though love is the fulfilling of the law, it is arrived at along the path of pain and sorrow, and every true lover and server of humanity is stretched upon the cross until for them the sixth principle dominates, and the sixth type of matter in their bodies is completely subjected to the higher energy. (282) In the case of the devas, love is the fulfilling of the law without pain or sorrow. It is for them the line of least resistance, for they are the mother aspect, the feminine side of manifestation, and the easy path for them is to give, to nourish, and to tend. Therefore, the devas of the waters pour themselves out in service to the vegetable and animal kingdoms, and in the transmutative fires all that holds them on the sixth subplane will eventually be overcome, and through occult “distillation and evaporation” these devas will eventually form part of the gaseous fiery group and become those fires which are the basis of the divine alchemy.

Các thiên thần nước tìm thấy cho mình con đường phụng sự trong công việc lớn lao là nuôi dưỡng toàn bộ sự sống thực vật và động vật trên hành tinh; mục tiêu của họ là đi vào nhóm thiên thần cao hơn mà chúng ta gọi là các thiên thần khí hay thiên thần lửa. Những vị này, qua tác động của lửa của họ lên nước, tạo ra chuỗi bốc hơi, ngưng tụ, và cuối cùng là ngưng tụ thành giọt, mà—qua hoạt động liên tục của nó—nuôi dưỡng toàn bộ sự sống trên trái đất. Như vậy, một lần nữa có thể thấy các định luật thông linh của tình thương đang hoạt động trong giới thiên thần cũng như trong giới nhân loại; trước hết, sự rút lui hay tách riêng của đơn vị ra khỏi nhóm (được gọi là biệt ngã hóa nơi con người, và là bốc hơi trong giới nước). Kế đó, sự ngưng tụ, hay sự hòa nhập của đơn vị với một nhóm mới hơn hay cao hơn, điều này chúng ta gọi là ngưng tụ đối với các thiên thần của nước, và là điểm đạo nơi con người; cuối cùng, sự hi sinh của nhóm các nguyên tử người hay thiên thần cho thiện ích của toàn thể. Như thế định luật phụng sự và hi sinh cai quản toàn bộ phương diện thiêng liêng thứ hai trong mọi bộ phận lớn [Page 903] hay nhỏ. Đó là định luật. Nhưng trong giới nhân loại, dù tình thương là sự hoàn tất của định luật, nó đạt được dọc theo con đường đau đớn và buồn khổ, và mọi người thực sự yêu thương và phụng sự nhân loại đều bị căng trên thập giá cho đến khi đối với họ nguyên khí thứ sáu chi phối, và loại vật chất thứ sáu trong các thể của họ hoàn toàn bị chế ngự bởi năng lượng cao hơn. (282) Trong trường hợp của các thiên thần, tình thương là sự hoàn tất của định luật mà không có đau đớn hay buồn khổ. Đối với họ, đó là con đường ít trở ngại nhất, vì họ là phương diện mẹ, mặt nữ tính của biểu hiện, và con đường dễ dàng đối với họ là cho đi, nuôi dưỡng, và chăm sóc. Do đó, các thiên thần của nước tuôn đổ chính mình ra trong sự phụng sự đối với giới thực vật và giới động vật, và trong những ngọn lửa chuyển hoá, mọi điều giữ họ lại trên cõi phụ thứ sáu cuối cùng sẽ được vượt qua, và qua sự “chưng cất và bốc hơi” huyền bí, các thiên thần này cuối cùng sẽ tạo thành một phần của nhóm khí lửa và trở thành những ngọn lửa là nền tảng của thuật luyện kim thiêng liêng.

Speaking generally, it must be remembered that the earth devas of densest matter become, in the course of evolution, the devas of the waters, and find their way eventually on to the astral plane, the cosmic liquid; the devas of the waters of the physical plane find their way, through service, on to the gaseous subplane, and then to the cosmic gaseous, becoming the devas of the mental plane. This literally and occultly constitutes the transmutation of desire into thought.

Nói chung, phải nhớ rằng các thiên thần đất của vật chất đậm đặc nhất, trong tiến trình tiến hoá, trở thành các thiên thần của nước, và cuối cùng tìm đường lên cõi cảm dục, chất lỏng vũ trụ; các thiên thần của nước của cõi hồng trần tìm đường, qua phụng sự, lên cõi phụ khí, rồi đến cõi khí vũ trụ, trở thành các thiên thần của cõi trí. Điều này theo nghĩa đen và theo huyền bí học tạo thành sự chuyển hoá dục vọng thành tư tưởng.

The gaseous devas become eventually the devas of the fourth ether, and from thence in long aeons, find their way to the cosmic fourth ether, the buddhic plane. These three groups are therefore cosmically connected with: [Page 904]

Các thiên thần khí cuối cùng trở thành các thiên thần của dĩ thái thứ tư, và từ đó trong những đại kiếp dài lâu, tìm đường đến dĩ thái vũ trụ thứ tư, cõi Bồ đề. Do đó, ba nhóm này có liên hệ vũ trụ với: [Page 904]

1. The cosmic astral plane and the constellation whence emotional and desire energy originates.

1. Cõi cảm dục vũ trụ và chòm sao từ đó năng lượng cảm xúc và dục vọng phát sinh.

2. The cosmic mental plane, and therefore with the constellation Sirius.

2. Cõi trí vũ trụ, và do đó với chòm sao Sirius.

3. The cosmic buddhic plane, and the constellation of the Pleiades.

3. Cõi Bồ đề vũ trụ, và chòm sao Pleiades.

Thus can the whole process be worked out, if man carefully studies his own nature, and the law of analogy.

Như vậy toàn bộ tiến trình có thể được triển khai, nếu con người cẩn thận nghiên cứu bản chất của chính mình, và định luật tương đồng.

The Devas of the Gaseous Subplane. In dealing with the elementals, or lesser devas, under the manipulatory devas of this extensive group, we are dealing with the devas of fire, and with the fiery essences of substantial nature which can be seen manifesting in myriads of forms. Certain of the subdivisions of this group are known to students, such as:

Các thiên thần của cõi phụ khí. Khi bàn đến các hành khí, hay các thiên thần nhỏ, dưới quyền các thiên thần thao tác của nhóm rộng lớn này, chúng ta đang bàn đến các thiên thần của lửa, và các tinh chất lửa có bản chất chất liệu có thể được thấy biểu hiện trong vô số hình thức. Một số phân nhóm của nhóm này đã được các đạo sinh biết đến, chẳng hạn như:

The Salamanders, or the fiery lives which can be seen by clairvoyants leaping in the flames of a furnace or of a volcano; this group can be subdivided into four groups according to color—red, orange, yellow, and violet—the last of which approximate very closely to the devas of the fourth ether.

Các Salamander, hay những sự sống lửa mà các nhà thông nhãn có thể thấy đang nhảy múa trong ngọn lửa của lò nung hay núi lửa; nhóm này có thể được chia thành bốn nhóm theo màu sắc—đỏ, cam, vàng, và tím—trong đó nhóm cuối cùng rất gần với các thiên thần của dĩ thái thứ tư.

The Agnichaitans; this is a term applied to the fiery lives, which are the sumtotal of the plane substance, as seen in the first part of our treatise, and also to the tiny essences which compose the fires of manifestation. As the nature of physical plane electricity is understood and studied, and its true condition realised, the reality of the existence of these agnichaitans will stand revealed.

Các Agnichaitan; đây là một thuật ngữ được áp dụng cho những sự sống lửa, là tổng số chất liệu cõi, như đã thấy trong phần đầu của luận thuyết chúng ta, và cũng cho những tinh chất nhỏ bé cấu thành các ngọn lửa của biểu hiện. Khi bản chất của điện lực cõi hồng trần được thấu hiểu và nghiên cứu, và tình trạng thực sự của nó được chứng nghiệm, thực tại về sự tồn tại của các agnichaitan này sẽ được mặc khải.

As the race becomes clairvoyant, as it surely will in a great degree before the close of this rootrace, these gaseous devas will stand revealed, and men will realise that they are working with fiery lives, and that they are themselves closely allied to these lives through the fires of their own bodies. The clairvoyance which is in process [Page 905] of developing in this rootrace is entirely physical, and, under the law, its development is to be anticipated, for the Aryan rootrace is that one wherein man—in this fourth round—comes to full self-consciousness. This involves complete physical vision, and the use in perfection of the three physical plane senses of hearing, touch, and sight. In the next rootrace, astral clairvoyance will be prevalent, though not universal, and thus contact with the buddhic plane will be more easily achieved. In the earlier rootraces of the next round, the fifth, there will be a recapitulation of the activities of this round, until, in the fifth rootrace, the sumtotal of that achieved in this round will be seen. Men will then begin to demonstrate mental clairvoyance. Thus the cycles mingle and overlap, in order that no unit of life, however small and unimportant, may fail in opportunity.

Khi nhân loại trở nên thông nhãn, như chắc chắn sẽ xảy ra ở mức độ lớn trước khi kết thúc giống dân gốc này, các thiên thần khí này sẽ được mặc khải, và con người sẽ nhận ra rằng họ đang làm việc với những sự sống lửa, và rằng chính họ cũng liên hệ chặt chẽ với những sự sống này qua các ngọn lửa trong chính các thể của mình. Thông nhãn đang trong tiến trình [Page 905] phát triển trong giống dân gốc này hoàn toàn là hồng trần, và theo định luật, sự phát triển của nó là điều có thể được dự kiến, vì giống dân gốc Arya là giống dân trong đó con người—trong cuộc tuần hoàn thứ tư này—đạt đến ngã thức trọn vẹn. Điều này bao hàm linh thị hồng trần hoàn chỉnh, và việc sử dụng hoàn hảo ba giác quan của cõi hồng trần là thính giác, xúc giác, và thị giác. Trong giống dân gốc kế tiếp, thông nhãn cảm dục sẽ phổ biến, dù không phải là phổ quát, và như vậy sự tiếp xúc với cõi Bồ đề sẽ đạt được dễ dàng hơn. Trong các giống dân gốc đầu tiên của cuộc tuần hoàn kế tiếp, cuộc tuần hoàn thứ năm, sẽ có một sự lặp lại các hoạt động của cuộc tuần hoàn này, cho đến khi, trong giống dân gốc thứ năm, tổng số những gì đạt được trong cuộc tuần hoàn này sẽ được thấy. Khi đó con người sẽ bắt đầu biểu lộ thông nhãn trí tuệ. Như vậy các chu kỳ hòa lẫn và chồng lấp lên nhau, để không một đơn vị sự sống nào, dù nhỏ bé và không quan trọng đến đâu, bị thiếu cơ hội.

These agnichaitans of the third subplane come particularly under the influence of Saturnian energy. They are the great fusers of substance, and it is in connection with them that the transmutation of metals becomes possible. They have a relationship to the mineral kingdom analogous to that which the watery devas have to the vegetable and animal. They are, as will be apparent, connected with the throat centre of a planetary Logos and of a solar Logos, and it is through their activity that the transmission of sound through the air becomes possible. It might surprise students and inventors could they but realise that the present rapid growth of wireless communication everywhere is due to the swinging into contact with the human vibration of a group of fiery deva lives hitherto uncontacted.

Các agnichaitan của cõi phụ thứ ba đặc biệt nằm dưới ảnh hưởng của năng lượng Sao Thổ. Chúng là những đấng dung hợp lớn của chất liệu, và chính liên hệ với chúng mà sự chuyển hoá kim loại trở nên khả hữu. Chúng có một mối liên hệ với giới kim thạch tương tự như mối liên hệ mà các thiên thần nước có với giới thực vật và giới động vật. Như sẽ rõ ràng, chúng liên hệ với trung tâm cổ họng của một Hành Tinh Thượng đế và của một Thái dương Thượng đế, và chính nhờ hoạt động của chúng mà sự truyền âm thanh qua không khí trở nên khả hữu. Các đạo sinh và các nhà phát minh có thể sẽ ngạc nhiên nếu họ có thể nhận ra rằng sự phát triển nhanh chóng hiện nay của truyền thông vô tuyến ở khắp nơi là do một nhóm sự sống thiên thần lửa từ trước đến nay chưa được tiếp xúc đang dao động để tiếp xúc với rung động của con người.

Just as each plane has its seven subplanes, so likewise each subplane can be subdivided, thus making forty-nine fires on every plane, or the three hundred and forty-three fires of the solar system. Herein can be found the clue to the mystery of the “fourth between the three” [Page 906] which has at times bewildered students of the occult records. There are several ways of reading these figures, 3 4 3, but the only occult method which can be hinted at here, lies in the recognition of the three higher planes, the three lower planes, the fourth plane of meeting between them. This fourth plane has occultly been called “the meeting place.” When it is remembered that the goal for these gaseous devas is the fourth cosmic ether, or the buddhic plane and that they (in their major and minor groups) are the internal macrocosmic and microcosmic fires, some idea may be gained as to the true significance of the eventual at-one-ment between the two lines of evolution for the goal for man likewise is the buddhic plane.

Cũng như mỗi cõi có bảy cõi phụ của nó, thì mỗi cõi phụ cũng có thể được phân chia, do đó tạo thành bốn mươi chín ngọn lửa trên mỗi cõi, hay ba trăm bốn mươi ba ngọn lửa của hệ mặt trời. Chính trong đó có thể tìm thấy đầu mối cho huyền nhiệm của “thứ tư ở giữa ba” [Page 906] điều đôi khi đã làm bối rối các đạo sinh của các biên niên huyền bí. Có nhiều cách đọc các con số này, 3 4 3, nhưng phương pháp huyền bí duy nhất có thể được ám chỉ ở đây nằm trong sự nhận biết ba cõi cao, ba cõi thấp, và cõi thứ tư là nơi gặp gỡ giữa chúng. Cõi thứ tư này theo huyền bí học đã được gọi là “nơi gặp gỡ.” Khi nhớ rằng mục tiêu của các thiên thần khí này là dĩ thái vũ trụ thứ tư, hay cõi Bồ đề, và rằng họ (trong các nhóm lớn và nhỏ của mình) là những ngọn lửa bên trong của đại thiên địa và tiểu thiên địa, có thể có được một ý niệm nào đó về thâm nghĩa thực sự của sự hợp nhất tối hậu giữa hai đường tiến hoá vì mục tiêu của con người cũng là cõi Bồ đề.

On the third subplane, therefore, in its fifth division of deva essences, certain groups are now being contacted in this, the fifth rootrace; the result of this contact can be seen in the stimulation of responsive vibration, which is demonstrated already in the discovery of wireless intercourse and of radium.

Do đó, trên cõi phụ thứ ba, trong phân bộ thứ năm của các tinh chất thiên thần, hiện nay một số nhóm đang được tiếp xúc trong giống dân gốc thứ năm này; kết quả của sự tiếp xúc này có thể được thấy trong sự kích thích rung động đáp ứng, vốn đã được biểu lộ trong việc khám phá giao tiếp vô tuyến và radium.

There will also be seen a paralleling increased vibration of the human spirillae which will result, before the end of the round, in the awakening to full activity of the fifth spirilla of the human physical permanent atom.

Cũng sẽ thấy một sự gia tăng rung động song hành của các loa tuyến con người, điều sẽ dẫn đến, trước khi kết thúc cuộc tuần hoàn, sự thức tỉnh vào hoạt động trọn vẹn của loa tuyến thứ năm của nguyên tử trường tồn hồng trần của con người.

Hence the work of the Mahachohan at this time in connection with seventh ray (which is temporarily acting as the synthesis of the five types of energy over which He presides), might be summed up as follows:

Do đó, công việc của Đức Mahachohan vào lúc này liên hệ với cung bảy (tạm thời đang hoạt động như sự tổng hợp của năm loại năng lượng mà Ngài chủ trì) có thể được tóm lược như sau:

First, He is utilising the seventh type of energy in order to further the recognition by the human unit of the subtler substance of the physical plane. This seventh ray is a primary factor in the production of objectivity. The energy of the planetary Logos of the seventh scheme dominates the seventh plane; it is the ray whereon deva substance and Spirit can meet and adapt [Page 907] themselves to each other with greater facility than on any other ray except the third.

Thứ nhất, Ngài đang sử dụng loại năng lượng thứ bảy để thúc đẩy sự nhận biết của đơn vị nhân loại về chất liệu vi tế hơn của cõi hồng trần. Cung bảy này là một yếu tố chủ yếu trong việc tạo ra tính khách quan. Năng lượng của Hành Tinh Thượng đế của hệ thứ bảy chi phối cõi thứ bảy; đó là cung mà trên đó chất liệu thiên thần và tinh thần có thể gặp nhau và thích ứng [Page 907] với nhau dễ dàng hơn trên bất kỳ cung nào khác ngoại trừ cung ba.

Man, at present, is fully conscious, through some one or other of his senses, on the three lower subplanes; it is intended that he shall be equally conscious on the four higher. This has to be brought about by the stimulation of the deva substance which composes his bodies. This will be accomplished through the dynamic will of the transmitting devas as they energise the manipulatory devas, and thus affect the myriads of lesser lives which compose man’s body, and also by an increased responsiveness of the indwelling man or thinker to the contact made upon his body. This increased awareness will be brought about by the arousing of the fifth spirilla, by the unfolding of the fifth petal in the egoic lotus, and by the gradual opening of the third eye through the arousing and uniform activity of five factors: the centre at the base of the spine, the three channels in the spinal column, and the pineal gland.

Hiện nay, con người hoàn toàn hữu thức, qua giác quan này hay giác quan khác của mình, trên ba cõi phụ thấp; dự định là y sẽ hữu thức tương đương trên bốn cõi cao hơn. Điều này phải được thực hiện bằng sự kích thích chất liệu thiên thần cấu thành các thể của y. Điều này sẽ được hoàn thành qua ý chí năng động của các thiên thần truyền dẫn khi họ tiếp năng lượng cho các thiên thần thao tác, và như thế ảnh hưởng đến vô số sự sống nhỏ hơn cấu thành thể của con người, và cũng bằng sự đáp ứng gia tăng của con người nội tại hay thức giả đối với sự tiếp xúc được tạo ra trên thể của y. Sự nhận biết gia tăng này sẽ được mang lại bởi sự khơi dậy loa tuyến thứ năm, bởi sự khai mở cánh hoa thứ năm trong Hoa Sen Chân Ngã, và bởi sự mở dần dần của con mắt thứ ba qua sự khơi dậy và hoạt động đồng đều của năm yếu tố: trung tâm ở đáy cột sống, ba đường dẫn trong cột sống, và tuyến tùng.

All these factors involve the activity of deva essence, plus the resultant awareness of the thinker. This will be followed by the conscious use of the newly-awakened powers. In this manner the close interrelation and interdependence of the two lines of evolution becomes magnificently apparent.

Tất cả những yếu tố này bao hàm hoạt động của tinh chất thiên thần, cộng với sự nhận biết kết quả của thức giả. Tiếp theo đó sẽ là việc sử dụng có ý thức các quyền năng mới được đánh thức. Theo cách này, mối tương liên và tương thuộc chặt chẽ của hai đường tiến hoá trở nên hiển nhiên một cách huy hoàng.

Second, the Mahachohan is working specifically at this time (in co-operation with the Manu), with the devas of the gaseous subplane; this is in connection with the destroying work they are to effect by the end of this rootrace, in order to liberate Spirit from constricting forms. Volcanic action therefore may be looked for, demonstrating in unexpected localities, as well as within the sphere of the present earthquake and volcanic zones. Serious disturbance may be looked for in California before the end of the century, and in Alaska likewise.

Thứ hai, Đức Mahachohan hiện đang làm việc một cách đặc thù (hợp tác với Đức Manu) với các thiên thần của cõi phụ khí; điều này liên hệ đến công việc hủy diệt mà họ sẽ thực hiện vào cuối giống dân gốc này, nhằm giải thoát tinh thần khỏi những hình tướng gò bó. Do đó, có thể chờ đợi hoạt động núi lửa, biểu lộ ở những địa phương bất ngờ, cũng như bên trong phạm vi của các vùng động đất và núi lửa hiện nay. Có thể chờ đợi những xáo trộn nghiêm trọng ở California trước khi thế kỷ kết thúc, và cả ở Alaska nữa.

The work of the Mahachohan can also be seen in the [Page 908] effect that the devas of the kundalini fire are producing upon man. These are a peculiar group of Agnichaitans who have reached a stage of evolution which permits of their being separated off from their group into a group connected with a certain fire in man’s bodies. This fire owing to its present activity, and the direction of that activity, is responsible for the reaction against physical marriage, and for the desire evinced by highly evolved men everywhere to evade the marriage relation, and confine themselves to creation upon the mental or astral planes. This is due to the present inclination of the manipulatory devas of the lower generative organs to seek the throat centre, and to function there, utilising the strength of the kundalini fire to bring this about. All this is under the law of evolution, but in the interim between cause and justified effect much harm, evasion of the law, and consequent suffering can be seen. Owing, therefore, to the violent reaction at this time against the safeguarding laws of civilisation, it has been decided that the nature and functions of the devas must be somewhat revealed to man, and that their place in the scheme of things, and man’s close connection and dependence upon them, must be given out. (283) At the same time, the means whereby they can be contacted, and the words whereby they can be controlled, will be withheld.

Công việc của Đức Mahachohan cũng có thể được thấy trong [Page 908] tác động mà các thiên thần của lửa kundalini đang tạo ra nơi con người. Đây là một nhóm Agnichaitan đặc biệt đã đạt đến một giai đoạn tiến hoá cho phép họ được tách ra khỏi nhóm của mình để thành một nhóm liên kết với một loại lửa nào đó trong các thể của con người. Lửa này, do hoạt động hiện nay của nó và do chiều hướng của hoạt động ấy, chịu trách nhiệm cho phản ứng chống lại hôn nhân thể xác, và cho ước muốn được biểu lộ bởi những người tiến hoá cao ở khắp nơi là né tránh quan hệ hôn nhân, và chỉ giới hạn mình trong sự sáng tạo trên cõi trí hay cõi cảm dục. Điều này là do khuynh hướng hiện nay của các thiên thần thao tác của các cơ quan sinh dục thấp muốn tìm đến trung tâm cổ họng, và hoạt động tại đó, sử dụng sức mạnh của lửa kundalini để thực hiện điều này. Tất cả điều này đều ở dưới định luật tiến hoá, nhưng trong khoảng trung gian giữa nguyên nhân và kết quả chính đáng, có thể thấy nhiều tổn hại, sự né tránh định luật, và nỗi đau khổ kéo theo. Vì vậy, do phản ứng dữ dội vào lúc này chống lại các định luật bảo vệ của nền văn minh, nên đã có quyết định rằng bản chất và chức năng của các thiên thần phải được phần nào tiết lộ cho con người, và vị trí của họ trong mô hình sự vật, cùng mối liên hệ mật thiết và sự lệ thuộc của con người vào họ, phải được công bố. (283) Đồng thời, các phương tiện nhờ đó họ có thể được tiếp xúc, và những lời nhờ đó họ có thể bị kiểm soát, sẽ bị giữ kín.

(283) If man can be brought to a realisation of the nature of his own being and of his constitution, and can be led to comprehend the rationale of that which can be seen occurring, and if the thinkers of the race can be shown the risks incident upon present happenings in the deva evolution, much danger may be averted. Hence the decision to extend the scope of this book to include more detailed information anent the deva evolution. (back)

(283) Nếu con người có thể được đưa đến chỗ chứng nghiệm bản chất của chính hữu thể mình và cấu tạo của mình, và có thể được dẫn dắt để hiểu được cơ sở hợp lý của những gì có thể thấy đang xảy ra, và nếu các nhà tư tưởng của nhân loại có thể được chỉ cho thấy những nguy cơ gắn liền với các diễn biến hiện nay trong tiến hoá thiên thần, thì nhiều hiểm họa có thể được ngăn tránh. Do đó có quyết định mở rộng phạm vi của quyển sách này để bao gồm thông tin chi tiết hơn về tiến hoá thiên thần. (back)

Laxness in the marriage relation, due to this particular cause, is only seen amongst the highly evolved and amongst the independent thinkers of the race. Similar laxness amongst the masses, and the low types of humanity, is based upon a different reason, and their promiscuity is due to certain developments of the animal nature in its lowest manifestation. These two causes [Page 909] will bear consideration by those who have the present needs of civilisation at heart. They can then co-operate with the Mahachohan in the work of effecting the very necessary transfer of force from a lower to a higher centre, and prevent (through knowledge), the incidental license. This will bring about a refusal to besmirch the great love or sex impulse of nature.

Sự lỏng lẻo trong quan hệ hôn nhân, do nguyên nhân đặc biệt này, chỉ thấy nơi những người tiến hoá cao và nơi các nhà tư tưởng độc lập của nhân loại. Sự lỏng lẻo tương tự nơi quần chúng và các hạng người thấp của nhân loại lại dựa trên một nguyên nhân khác, và sự bừa bãi của họ là do những phát triển nào đó của bản chất thú tính trong biểu hiện thấp nhất của nó. Hai nguyên nhân này [Page 909] đáng được những ai quan tâm đến các nhu cầu hiện nay của nền văn minh suy xét. Khi đó họ có thể hợp tác với Đức Mahachohan trong công việc thực hiện sự chuyển dịch mãnh lực rất cần thiết từ một trung tâm thấp lên một trung tâm cao hơn, và ngăn ngừa (nhờ tri thức) sự phóng túng ngẫu phát. Điều này sẽ đưa đến sự từ chối làm hoen ố xung lực vĩ đại của tình yêu hay giới tính trong bản chất.

The ceremonial ray has been often called “the marriage ritual of the Son,” because upon this ray Spirit and matter can meet and have union. This fact also should be borne in mind during the next one hundred years, for they will see great changes in the marriage laws. The present laxity will inevitably bring a reaction, and the laws will become more stringent, in order to safeguard the race during a transition period. These laws will not be along the line of making escape from the marriage relation more difficult, but will take effect at the other end, so to speak; the rising generation will be properly taught and guarded, and indiscriminate, hasty marriage will not be permitted, nor will juveniles be allowed rashly to enter into the marriage obligation. There is no need to enlarge further upon this, for in working out their own problems men learn, and all that those upon the inner side are permitted to do is to give a hint or an indication.

Cung nghi lễ thường được gọi là “nghi thức hôn phối của Thánh Tử”, bởi vì trên cung này tinh thần và vật chất có thể gặp nhau và kết hợp. Sự kiện này cũng cần được ghi nhớ trong một trăm năm tới, vì chúng sẽ chứng kiến những thay đổi lớn trong các luật lệ hôn nhân. Sự lỏng lẻo hiện nay tất yếu sẽ đưa đến một phản ứng, và các luật lệ sẽ trở nên nghiêm ngặt hơn để bảo vệ nhân loại trong một thời kỳ chuyển tiếp. Những luật này sẽ không theo hướng làm cho việc thoát khỏi quan hệ hôn nhân trở nên khó khăn hơn, mà sẽ có hiệu lực ở đầu kia, có thể nói như vậy; thế hệ đang lớn lên sẽ được giáo dục và bảo vệ đúng đắn, và hôn nhân bừa bãi, vội vã sẽ không được cho phép, cũng như người trẻ sẽ không được phép hấp tấp bước vào nghĩa vụ hôn nhân. Không cần phải nói thêm về điều này, vì trong khi tự giải quyết các vấn đề của mình, con người học hỏi, và tất cả những gì những người ở phía bên trong được phép làm chỉ là đưa ra một gợi ý hay một chỉ dấu.

Another angle of the Mahachohan’s work at this time is connected with sound, and therefore with the particular devas whom we are considering. Through the mismanagement of men, and their unbalanced development, the sounds of earth, such as those of the great cities, of the manufactories, and of the implements of war, have brought about a very serious condition among the gaseous devas. This has to be offset in some way and the future efforts of civilisation will be directed towards the spreading of a revolt against the evils of congested living and to the dissemination of an impulse of a widespread [Page 910] nature to seek the country and wide spaces. One of the main interests in the future will be a tendency towards the elimination of noise, owing to the increased sensitiveness of the race. When the energy of water and of the atom is harnessed for the use of man, our present types of factories, our methods of navigation and of transportation, such as steamers and railway apparatus, will be entirely revolutionised. This will have a potent effect not only on man but on the devas.

Một phương diện khác trong công việc của Đức Mahachohan vào lúc này có liên hệ với xướng, và do đó với những thiên thần đặc biệt mà chúng ta đang xét đến. Do sự quản lý sai lầm của con người, và sự phát triển mất quân bình của họ, những âm thanh của trái đất, như âm thanh của các thành phố lớn, của các nhà máy, và của các công cụ chiến tranh, đã gây ra một tình trạng rất nghiêm trọng nơi các thiên thần thể khí. Điều này phải được hóa giải bằng một cách nào đó, và những nỗ lực tương lai của nền văn minh sẽ được hướng đến việc lan rộng một cuộc phản kháng chống lại các tai hại của đời sống chen chúc và đến việc phổ biến một xung lực có tính chất [Page 910] rộng khắp nhằm tìm đến miền quê và những không gian rộng lớn. Một trong những mối quan tâm chính trong tương lai sẽ là xu hướng loại bỏ tiếng ồn, do sự nhạy cảm ngày càng tăng của nhân loại. Khi năng lượng của nước và của nguyên tử được khai thác để con người sử dụng, các loại nhà máy hiện nay của chúng ta, các phương pháp hàng hải và vận chuyển của chúng ta, như tàu hơi nước và thiết bị đường sắt, sẽ được cách mạng hóa hoàn toàn. Điều này sẽ có một tác động mạnh mẽ không chỉ lên con người mà còn lên các thiên thần.

c. The Elementals of the Ethers.

c. Các hành khí của các cõi dĩ thái.

We will consider now the etheric levels of the physical plane or the four highest subplanes of the physical plane. These etheric levels are but gradations of physical plane matter of a rarer and more refined kind, but physical nevertheless. They are termed in most textbooks:

Giờ đây chúng ta sẽ xét các cấp độ dĩ thái của cõi hồng trần hay bốn cõi phụ cao nhất của cõi hồng trần. Các cấp độ dĩ thái này chỉ là những cấp bậc của vật chất cõi hồng trần thuộc loại thưa hơn và tinh luyện hơn, nhưng dù sao vẫn là hồng trần. Trong phần lớn các giáo trình, chúng được gọi là:

1. The first ether, or atomic matter.

1. Dĩ thái thứ nhất, hay vật chất nguyên tử.

2. The second ether, or sub-atomic matter.

2. Dĩ thái thứ hai, hay vật chất hạ nguyên tử.

3. The third ether, or super-etheric matter.

3. Dĩ thái thứ ba, hay vật chất siêu dĩ thái.

4. The fourth ether, or simply etheric matter.

4. Dĩ thái thứ tư, hay đơn giản là vật chất dĩ thái.

The fourth ether is the only one as yet recognised by scientists, and is the subject of their present investigations, little though they may realise it.

Dĩ thái thứ tư là loại duy nhất cho đến nay được các nhà khoa học công nhận, và là đối tượng của các cuộc khảo cứu hiện nay của họ, dù họ ít nhận ra điều đó.

On the atomic subplane are the permanent physical atoms of all humanity and the appropriated atoms of the deva kingdom. The devas do not develop as do the human race. They reincarnate in groups, and not as individuals, though each group is composed of units, and has nothing of the nature of the involutionary group soul. The group soul on the involutionary path and that upon the evolutionary are unlike; one is passing on to differentiation and is composed of entities animated by one general life; the other has differentiated, and each entity is a separate unit of the one life, complete in itself, yet one with the whole.

Trên cõi phụ nguyên tử có các nguyên tử hồng trần trường tồn của toàn thể nhân loại và các nguyên tử được chiếm dụng của giới thiên thần. Các thiên thần không phát triển như nhân loại. Họ tái sinh theo nhóm chứ không như các cá nhân, mặc dù mỗi nhóm được cấu thành bởi các đơn vị, và không có gì thuộc bản chất của hồn nhóm giáng hạ tiến hoá. Hồn nhóm trên con đường giáng hạ tiến hoá và hồn nhóm trên con đường tiến hoá là không giống nhau; một bên đang tiến đến sự biến phân và được cấu thành bởi các thực thể được linh hoạt bởi một sự sống tổng quát duy nhất; bên kia đã biến phân, và mỗi thực thể là một đơn vị riêng biệt của một sự sống duy nhất, hoàn chỉnh trong chính nó, nhưng vẫn là một với toàn thể.

[Page 911] There are many types of life to be contacted on the four etheric levels, but we can only concern ourselves at present with the deva life, remembering that the deva evolution is of equal importance to that of the human. These devas are many in number, are of involutionary and evolutionary nature, and of all grades and types. Ruling over them on the physical plane is the great deva Kshiti. He is a deva of rank and power equal to a Chohan of a Ray; He presides over everything outside the human kingdom upon the physical plane, and He has for His council the four subordinate deva lords of the four etheric levels. He, with these subordinate devas, presides over a subsidiary council of seven devas who handle all that concerns the deva evolution, and the work of the greater and the lesser builders.

[Page 911] Có nhiều loại sự sống để tiếp xúc trên bốn cấp độ dĩ thái, nhưng hiện nay chúng ta chỉ có thể quan tâm đến sự sống thiên thần, đồng thời ghi nhớ rằng tiến hoá thiên thần quan trọng ngang với tiến hoá của con người. Các thiên thần này rất đông đảo, có bản chất giáng hạ tiến hoá và tiến hoá, và thuộc mọi cấp bậc và loại hình. Cai quản họ trên cõi hồng trần là đại thiên thần Kshiti. Ngài là một thiên thần có cấp bậc và quyền năng ngang với một Chohan của một Cung; Ngài chủ trì mọi sự bên ngoài giới nhân loại trên cõi hồng trần, và có bốn chúa tể thiên thần phụ thuộc của bốn cấp độ dĩ thái làm hội đồng của Ngài. Ngài, cùng với các thiên thần phụ thuộc này, chủ trì một hội đồng phụ gồm bảy thiên thần xử lý mọi điều liên quan đến tiến hoá thiên thần, và công việc của các đấng đại kiến tạo và các vị tiểu kiến tạo.

The deva Ruler of the fourth, or lowest ether, has delegated a member of His council to meet with certain of the Masters at this time for two specific purposes, first, to see whether the approximation of the two lines of evolution, human and deva, might be now tentatively permitted, and, secondly, to reveal some of the methods of healing and the causes of physical disability which are inherent in the etheric double.

Vị thiên thần cai quản dĩ thái thứ tư, hay dĩ thái thấp nhất, đã ủy nhiệm một thành viên trong hội đồng của Ngài gặp gỡ một số Chân sư vào lúc này vì hai mục đích cụ thể: thứ nhất, để xem liệu sự xích lại gần nhau của hai đường tiến hoá, con người và thiên thần, giờ đây có thể được tạm thời cho phép hay không; và thứ hai, để tiết lộ một số phương pháp trị liệu và các nguyên nhân của sự bất toàn thể xác vốn cố hữu trong bản sao dĩ thái.

Devas of all kinds and colours are found on the physical etheric levels, but the prevailing hue is violet, hence the term so often employed, the “devas of the shadows.” With the coming in of the ceremonial ray of violet, we have the amplification therefore of the violet vibration, always inherent on these levels, and the great opportunity therefore for contact between the two kingdoms. It is in the development of etheric vision (which is a capacity of the physical human eye) and not in clairvoyance that this mutual apprehension will become possible. With the coming in likewise of this ray will arrive those who belong thereon, with a natural gift of seeing etherically. Children will frequently be born who will [Page 912] see etherically as easily as the average human being sees physically; as conditions of harmony gradually evolve out of the present world chaos, devas and human beings will meet as friends.

Các thiên thần thuộc mọi loại và mọi màu sắc đều được tìm thấy trên các cấp độ dĩ thái hồng trần, nhưng sắc thái chủ đạo là tím, do đó có thuật ngữ thường được dùng là “các thiên thần của bóng tối”. Với sự xuất hiện của cung nghi lễ màu tím, vì vậy chúng ta có sự khuếch đại rung động tím vốn luôn tiềm tàng trên các cấp độ này, và do đó có cơ hội lớn cho sự tiếp xúc giữa hai giới. Chính trong sự phát triển linh thị dĩ thái (vốn là một năng lực của mắt hồng trần con người) chứ không phải trong thông nhãn mà sự nhận biết lẫn nhau này sẽ trở nên khả hữu. Cùng với sự xuất hiện của cung này cũng sẽ đến những người thuộc cung ấy, với thiên phú tự nhiên là nhìn thấy dĩ thái. Trẻ em sẽ thường được sinh ra có thể [Page 912] nhìn thấy dĩ thái dễ dàng như con người trung bình nhìn thấy hồng trần; khi các điều kiện hài hòa dần dần tiến hoá ra khỏi tình trạng hỗn loạn hiện nay của thế giới, các thiên thần và con người sẽ gặp nhau như những người bạn.

As the two planes, astral and physical, merge and blend, and continuity of consciousness is experienced upon the two, it will be difficult for human beings to differentiate at first between devas of the astral plane, and those of the physical. At the beginning of this period of recognition, men will principally contact the violet devas, for those of the higher ranks amongst them are definitely making the attempt to contact the human. These devas of the shadows are of a dark purple on the fourth etheric level, of a lighter purple, much the same colour as violet, on the third etheric level, a light violet on the second, whilst on the atomic subplane they are of a glorious translucent lavender.

Khi hai cõi, cảm dục và hồng trần, hòa nhập và pha trộn, và sự liên tục của tâm thức được trải nghiệm trên cả hai, lúc đầu con người sẽ khó phân biệt giữa các thiên thần của cõi cảm dục và các thiên thần của cõi hồng trần. Vào đầu thời kỳ nhận biết này, con người chủ yếu sẽ tiếp xúc với các thiên thần tím, vì những vị thuộc hàng cao hơn trong số họ đang dứt khoát cố gắng tiếp xúc với con người. Các thiên thần của bóng tối này có màu tím sẫm trên cấp dĩ thái thứ tư, màu tím nhạt hơn, gần giống màu violet, trên cấp dĩ thái thứ ba, màu tím nhạt trên cấp thứ hai, trong khi trên cõi phụ nguyên tử họ có màu oải hương rực rỡ trong suốt.

Some of the groups of devas to be contacted on the physical plane are as follows:

Một số nhóm thiên thần có thể được tiếp xúc trên cõi hồng trần như sau:

Four groups of violet devas, associated with the etheric doubles of all that exists on the physical plane. These four are in two divisions, those associated with the building of the etheric doubles, and those out of whose substance these doubles are built.

Bốn nhóm thiên thần tím, liên kết với các bản sao dĩ thái của mọi thứ hiện hữu trên cõi hồng trần. Bốn nhóm này chia thành hai phân bộ: những nhóm liên kết với việc xây dựng các bản sao dĩ thái, và những nhóm từ chất liệu của họ mà các bản sao ấy được xây dựng nên.

The green devas of the vegetable kingdom. These exist in two divisions also. They are of high development, and will be contacted principally along the lines of magnetisation. The greater devas of this order preside over the magnetic spots of the earth, guard the solitude of the forests, reserve intact spaces on the planet which are required to be kept inviolate; they defend them from molestation, and with the violet devas are at this time working definitely, though temporarily, under the Lord Maitreya. The Raja Lord of the astral plane, Varuna [Page 913] and his brother Kshiti, have been called to the council chamber of the Hierarchy for specific consultation, and just as the Masters are endeavouring to prepare humanity for service when the World Teacher comes, so these Raja Lords are working along similar lines in connection with the devas. They are arduous in Their work, intense in Their zeal, but much obstructed by man.

Các thiên thần xanh của giới thực vật. Họ cũng tồn tại thành hai phân bộ. Họ phát triển cao, và sẽ được tiếp xúc chủ yếu theo các đường từ điện hóa. Các thiên thần lớn hơn của cấp này chủ trì các điểm từ tính của trái đất, canh giữ sự tịch mịch của các khu rừng, bảo tồn nguyên vẹn những không gian trên hành tinh cần được giữ bất khả xâm phạm; họ bảo vệ chúng khỏi sự quấy nhiễu, và cùng với các thiên thần tím hiện đang làm việc một cách dứt khoát, dù tạm thời, dưới quyền Chúa Maitreya. Chúa Tể Raja của cõi cảm dục, Varuna [Page 913] và huynh đệ của Ngài là Kshiti, đã được triệu đến phòng hội đồng của Thánh Đoàn để tham vấn đặc biệt, và cũng như các Chân sư đang nỗ lực chuẩn bị nhân loại cho sự phụng sự khi Đức Chưởng Giáo đến, thì các Chúa Tể Raja này cũng đang làm việc theo những đường tương tự liên quan đến các thiên thần. Các Ngài chuyên cần trong công việc, mãnh liệt trong nhiệt tâm, nhưng bị con người cản trở rất nhiều.

The white devas of the air and water who preside over the atmosphere work with certain aspects of electrical phenomena, and control the seas, rivers, and streams. From among them, at a certain stage in their evolution, are gathered the guardian angels of the race when in physical plane incarnation. Each unit of the human family has his guardian deva.

Các thiên thần trắng của khí và nước chủ trì khí quyển, làm việc với một số phương diện của các hiện tượng điện, và kiểm soát biển cả, sông ngòi và suối lạch. Từ trong số họ, ở một giai đoạn nào đó trong tiến hoá của mình, các thiên thần hộ mệnh của nhân loại khi đang lâm phàm trên cõi hồng trần được tuyển chọn. Mỗi đơn vị trong gia đình nhân loại đều có thiên thần hộ mệnh của mình.

Each group of devas has some specific method of development and some means whereby they evolve and attain a particular goal.

Mỗi nhóm thiên thần đều có một phương pháp phát triển đặc thù nào đó và một phương tiện nhờ đó họ tiến hoá và đạt đến một mục tiêu nhất định.

For the violet devas the path of attainment lies through feeling, and through educating the race in the perfecting of the physical body in its two departments.

Đối với các thiên thần tím, con đường thành tựu nằm qua cảm giác, và qua việc giáo dục nhân loại trong sự hoàn thiện thể xác ở hai phương diện của nó.

For the green devas the path of service is seen in magnetisation, of which the human race knows nothing as yet. Through this power they act as the protectors of the vegetable plant life, and of the sacred spots of the earth; in their work lies the safety of man’s body, for from the vegetable kingdom for the remainder of this round comes the nourishment of that body.

Đối với các thiên thần xanh, con đường phụng sự được thấy trong từ điện hóa, điều mà nhân loại cho đến nay chưa biết gì cả. Qua quyền năng này họ hoạt động như những người bảo hộ sự sống thực vật, và các nơi thiêng liêng của trái đất; trong công việc của họ có sự an toàn của thể xác con người, vì từ giới thực vật, trong phần còn lại của cuộc tuần hoàn này, đến sự nuôi dưỡng của thể ấy.

For the white devas the path of service lies in the guarding of the individuals of the human family, in the care and segregation of types, in the control of the water and air elementals, and much that concerns the fish kingdom.

Đối với các thiên thần trắng, con đường phụng sự nằm trong việc canh giữ các cá nhân của gia đình nhân loại, trong sự chăm sóc và phân loại các loại hình, trong việc kiểm soát các hành khí của khí và nước, và nhiều điều liên quan đến giới cá.

Thus in the service of humanity in some form or another lies attainment for these physical plane devas. They have much to give and do for humanity, and in time [Page 914] it will be apparent to the human unit what he has to give towards the perfecting of the deva kingdom. A great hastening of their evolution goes forward now coincident with that of the human family.

Như vậy, chính trong sự phụng sự nhân loại dưới hình thức này hay hình thức khác mà thành tựu nằm đối với các thiên thần cõi hồng trần này. Họ có nhiều điều để trao ban và thực hiện cho nhân loại, và theo thời gian [Page 914] con người sẽ thấy rõ mình phải trao ban điều gì để góp phần vào sự hoàn thiện của giới thiên thần. Một sự thúc đẩy lớn lao trong tiến hoá của họ hiện đang diễn ra đồng thời với tiến hoá của gia đình nhân loại.

There is another group of devas about which much may not as yet be communicated. They have come in from another planetary scheme, and are specialists in their particular line. They have attained, or passed through, the human kingdom, and are of equal rank with certain members of the Hierarchy, having chosen to stay and work in connection with the physical plane evolution. They are not many in number, being only twelve. Four work in the violet group, five in the green group, and two in the white, with a presiding officer of rank equal to a Chohan. The number of the deva evolution is six, as that of man is now five, and as ten stands for perfected man, so twelve stands for perfection in the deva kingdom. This group presides over the three earlier enumerated. Certain subsidiary groups are found.

Có một nhóm thiên thần khác mà hiện nay chưa thể truyền đạt nhiều về họ. Họ đến từ một hệ hành tinh khác, và là những chuyên gia trong đường lối riêng của mình. Họ đã đạt đến, hay đã đi qua, giới nhân loại, và có cấp bậc ngang với một số thành viên của Thánh Đoàn, đã chọn ở lại và làm việc liên quan đến tiến hoá cõi hồng trần. Họ không đông, chỉ có mười hai vị. Bốn vị làm việc trong nhóm tím, năm vị trong nhóm xanh, và hai vị trong nhóm trắng, với một vị chủ tọa có cấp bậc ngang một Chohan. Con số của tiến hoá thiên thần là sáu, cũng như con số của con người hiện nay là năm, và cũng như mười tượng trưng cho con người hoàn thiện, thì mười hai tượng trưng cho sự hoàn thiện trong giới thiên thần. Nhóm này chủ trì ba nhóm đã được liệt kê trước đó. Có một số nhóm phụ thuộc nhất định.

Under group 1 are found all the elementals working with the etheric doubles of men, all the elementals forming the etheric bodies wherein is life, and all the elementals working with the etheric counterparts of so-called inanimate objects. These are named in the order and the importance of their development. The violet devas are on the evolutionary path; the elementals are on the involutionary path, the goal for them being to pass into the deva kingdom of violet hue.

Dưới nhóm 1 có tất cả các hành khí làm việc với các bản sao dĩ thái của con người, tất cả các hành khí tạo thành các thể dĩ thái nơi đó có sự sống, và tất cả các hành khí làm việc với các đối phần dĩ thái của những vật được gọi là vô tri. Chúng được nêu tên theo thứ tự và tầm quan trọng của sự phát triển của chúng. Các thiên thần tím ở trên con đường tiến hoá; các hành khí ở trên con đường giáng hạ tiến hoá, mục tiêu của chúng là đi vào giới thiên thần mang sắc tím.

Under group 2 work the fairies of plant life, the elves who build and paint the flowers, the radiant little beings who inhabit the woods and the fields, the elementals who work with the fruits, vegetables, and with all that leads to the covering of the earth’s surface with verdure. Associated with them are the [Page 915] lesser devas of magnetisation, those attached to sacred spots, to talismans and to stones, and also a special group to be found around the habitations of the Masters wherever situated.

Dưới nhóm 2 hoạt động các tiên tử của sự sống thực vật, các tinh linh xây dựng và tô điểm hoa lá, những hữu thể nhỏ bé rạng ngời cư ngụ trong rừng và đồng nội, các hành khí làm việc với trái cây, rau cỏ, và với mọi thứ dẫn đến việc phủ xanh bề mặt trái đất. Liên kết với họ là các [Page 915] thiên thần nhỏ của từ điện hóa, những vị gắn với các nơi thiêng liêng, với bùa hộ mệnh và với đá, và cả một nhóm đặc biệt được tìm thấy quanh nơi cư ngụ của các Chân sư ở bất cứ đâu.

Under group 3 work the elementals of the air and the sea, the sylphs, the water fairies, and the devas who guard each human being.

Dưới nhóm 3 hoạt động các hành khí của khí và biển, các sylph, các tiên nước, và các thiên thần canh giữ từng con người.

Here only general hints are given. This list is not complete and does not include the grosser elementals, the brownies, and those that inhabit the dark spaces of the earth, the cities and the subterranean spots of the earth’s crust.

Ở đây chỉ đưa ra những gợi ý tổng quát. Danh sách này chưa đầy đủ và không bao gồm các hành khí thô nặng hơn, các brownie, và những loài cư ngụ trong các khoảng tối của trái đất, các thành phố và các nơi dưới lòng lớp vỏ trái đất.

The devas of the ethers carry on their foreheads a translucent symbol in the form of a crescent moon, and by this they may be distinguished from the astral devas by those able to see clairvoyantly.

Các thiên thần của các cõi dĩ thái mang trên trán một biểu tượng trong suốt có hình trăng lưỡi liềm, và nhờ đó những ai có thể thấy bằng thông nhãn có thể phân biệt họ với các thiên thần cảm dục.

As we consider the devas of the ethers, we find that they fall naturally—as far as manifestation is concerned—into two main groups. Each group is represented on each of the four subplanes, and this grouping must be considered as but one method of differentiation out of the many possible. These groups are, first, those devas who are the transmitters of prana to all forms of life; they are a group of intermediary devas, and may be regarded as the energy providers in their various differentiations; secondly, those devas who form the etheric bodies of every form in manifestation. These constitute the bulk of the lesser devas.

Khi xét các thiên thần của các cõi dĩ thái, chúng ta thấy rằng họ tự nhiên rơi vào—xét theo biểu hiện—hai nhóm chính. Mỗi nhóm đều được biểu hiện trên mỗi một trong bốn cõi phụ, và sự phân nhóm này chỉ phải được xem như một phương pháp biến phân trong số nhiều phương pháp có thể có. Các nhóm này là, thứ nhất, những thiên thần là các vị truyền dẫn prana đến mọi hình tướng sự sống; họ là một nhóm thiên thần trung gian, và có thể được xem như những nhà cung cấp năng lượng trong các biến phân khác nhau của họ; thứ hai, những thiên thần tạo thành các thể dĩ thái của mọi hình tướng trong biểu hiện. Những vị này cấu thành phần lớn các thiên thần nhỏ.

There are naturally many other organised intelligences in the great Army of the Voice in connection with this primary division of the physical plane, but if the student will consider these two groups, and will investigate their relationship to man and to the Heavenly Man within Whose body they are to be found, he will learn much which will enable him to comprehend problems hitherto considered insoluble, and will find many things [Page 916] revealed which will tend to revolutionise the findings of modern science, and bring about changes in the care of the physical body.

Dĩ nhiên còn có nhiều trí tuệ có tổ chức khác trong đại Đạo Binh của Tiếng Nói liên quan đến phân bộ sơ khởi này của cõi hồng trần, nhưng nếu đạo sinh xét hai nhóm này, và khảo cứu mối liên hệ của họ với con người và với Đấng Thiên Nhân mà trong thể của Ngài họ được tìm thấy, y sẽ học được nhiều điều giúp y hiểu những vấn đề từ trước đến nay được xem là không thể giải quyết, và sẽ thấy nhiều điều [Page 916] được tiết lộ có khuynh hướng cách mạng hóa các kết luận của khoa học hiện đại, và đem lại những thay đổi trong việc chăm sóc thể xác.

The Devas and Energy. Before we take up the consideration of these two groups it might be wise here to emphasise the necessity of remembering that when we consider the etheric levels of the physical plane we are dealing with those planes upon which the true form is to be found, and are approaching the solution of the mystery of the Holy Spirit and the Mother. In this realisation, and its extension to include an entire solar system, will come a clarifying of the connection between the four higher planes of the system and the three worlds of human endeavour. We have, in the macrocosm, the four planes of super-conscious life, or those four central vibrations which are the basis of the life and energy of the etheric body of a planetary Logos and of a solar Logos, and the three planes of conscious and of self-conscious life which form the dense physical vehicle of a Heavenly Man, and of the Grand Man of the Heavens.

Các thiên thần và năng lượng. Trước khi bắt đầu xem xét hai nhóm này, có lẽ ở đây nên nhấn mạnh sự cần thiết phải ghi nhớ rằng khi chúng ta xét các cấp độ dĩ thái của cõi hồng trần, chúng ta đang xử lý những cõi mà trên đó hình tướng đích thực được tìm thấy, và đang tiến gần đến lời giải của huyền nhiệm về Chúa Thánh Thần và Mẹ. Trong sự chứng nghiệm này, và sự mở rộng của nó để bao gồm toàn bộ một hệ mặt trời, sẽ đến sự làm sáng tỏ mối liên hệ giữa bốn cõi cao hơn của hệ và ba cõi giới của nỗ lực nhân loại. Trong Đại thiên địa, chúng ta có bốn cõi của sự sống siêu hữu thức, hay bốn rung động trung tâm là nền tảng của sự sống và năng lượng của thể dĩ thái của một Hành Tinh Thượng đế và của một Thái dương Thượng đế, và ba cõi của sự sống hữu thức và ngã thức tạo thành vận cụ hồng trần đậm đặc của một Đấng Thiên Nhân và của Đại Nhân trên Thiên Giới.

By a close scrutiny of these conditions in the macrocosm and in the microcosm will come a comprehension of the reason why the physical vehicle is never considered a principle at all by occultists. The Holy Spirit, the One Who overshadows and Who implants the germ of life in the waiting acquiescent Virgin Mother or matter (causing her to awaken and to commence her great work of producing the divine incarnation) is a primary factor from the standpoint of the second solar system. In a way incomprehensible to modern thinkers, the Mother, or the divine Aspirant to the mysteries of the cosmic marriage, was (in a previous system) the dominant factor. In this system in connection with substance it is the Holy Spirit. The work, therefore, on etheric levels, and the energy and activity originating therefrom, are the factors that primarily are responsible on the physical [Page 917] plane for all that is tangible, objective, and manifested. The accretion of matter around the vital body, and the densification of substance around the vital etheric nucleus are in themselves the result of interaction, and the final interchange of vibration between that which might be called the residue from an earlier manifestation, and the vibration of this present one.

Nhờ khảo sát kỹ lưỡng các điều kiện này trong Đại thiên địa và trong Tiểu thiên địa, sẽ có sự thấu hiểu lý do tại sao vận cụ hồng trần không bao giờ được các nhà huyền bí học xem là một nguyên khí cả. Chúa Thánh Thần, Đấng phủ bóng và cấy mầm sự sống vào Mẹ Đồng Trinh hay vật chất đang chờ đợi và thuận phục (khiến bà thức tỉnh và bắt đầu công việc vĩ đại của mình là sản sinh sự nhập thể thiêng liêng), là một yếu tố sơ khởi theo quan điểm của hệ mặt trời thứ hai. Theo một cách mà các nhà tư tưởng hiện đại không thể hiểu được, Mẹ, hay người chí nguyện thiêng liêng hướng đến các huyền nhiệm của cuộc hôn phối vũ trụ, đã là (trong một hệ trước) yếu tố chi phối. Trong hệ này, liên quan đến chất liệu, chính là Chúa Thánh Thần. Vì vậy, công việc trên các cấp độ dĩ thái, và năng lượng cùng hoạt động phát sinh từ đó, là những yếu tố chủ yếu chịu trách nhiệm trên cõi hồng trần [Page 917] cho mọi điều hữu hình, khách quan và biểu hiện. Sự bồi tụ vật chất quanh thể sinh lực, và sự làm đậm đặc chất liệu quanh hạt nhân dĩ thái sinh lực, tự chúng là kết quả của sự tương tác, và của sự trao đổi rung động cuối cùng giữa cái có thể được gọi là phần dư từ một biểu hiện trước, và rung động của biểu hiện hiện nay này.

It is here—in the relation between positive electrical energy in its fourfold differentiation, and the triple negative receptive lower substance—that scientists will eventually arrive at certain definite deductions and discover:

Chính ở đây—trong mối liên hệ giữa năng lượng điện dương trong sự biến phân tứ phân của nó, và chất liệu thấp tam phân âm tiếp nhận—mà các nhà khoa học cuối cùng sẽ đi đến những kết luận xác định và khám phá ra:

a. The secret of matter itself, that is, matter as we know and see it.

a. Bí mật của chính vật chất, tức là vật chất như chúng ta biết và thấy nó.

b. The key to the process of creation upon the physical plane, and the method whereby density and concretion on the three lower levels are brought about.

b. Chìa khóa của tiến trình sáng tạo trên cõi hồng trần, và phương pháp nhờ đó sự đậm đặc và sự kết tụ trên ba cấp thấp được tạo ra.

c. The formulas for organic transmutation, or the key to the processes whereby the elements as we know them can be disintegrated and recombined.

c. Các công thức cho sự chuyển hoá hữu cơ, hay chìa khóa của các tiến trình nhờ đó các nguyên tố như chúng ta biết có thể bị phân giải và tái kết hợp.

Only when scientists are prepared to admit the fact that there is a body of vitality which acts as a focal point in every organised form, and only when they are willing to consider each element and form of every degree as constituting part of a still greater vital body, will the true methods of the great goddess Nature become their methods. To do this they must be prepared to accept the sevenfold differentiation of the physical plane as stated by Eastern occultism, to recognise the triple nature of the septenary manifestation.

Chỉ khi các nhà khoa học sẵn sàng thừa nhận sự kiện rằng có một thể sinh lực hoạt động như một tiêu điểm trong mọi hình tướng có tổ chức, và chỉ khi họ sẵn sàng xem mỗi nguyên tố và hình tướng ở mọi cấp độ như cấu thành một phần của một thể sinh lực còn lớn hơn nữa, thì các phương pháp đích thực của nữ thần vĩ đại là Thiên Nhiên mới trở thành phương pháp của họ. Để làm được điều này, họ phải sẵn sàng chấp nhận sự biến phân thất phân của cõi hồng trần như huyền bí học phương Đông đã nêu, và nhận ra bản chất tam phân của biểu hiện thất phân.

a. The atomic or Shiva energy, the energy of the first subplane or the first etheric plane.

a. Năng lượng nguyên tử hay Shiva, năng lượng của cõi phụ thứ nhất hay cõi dĩ thái thứ nhất.

b. The vital form building energy of the three ensuing etheric levels.

b. Năng lượng tiếp sinh lực xây dựng hình tướng của ba cấp dĩ thái kế tiếp.

c. The negative receptive energy of the three planes [Page 918] of the dense physical, the gaseous, the liquid and the truly dense.

c. Năng lượng âm tiếp nhận của ba cõi [Page 918] của hồng trần đậm đặc, thể khí, thể lỏng và thể thật sự đậm đặc.

They will also eventually consider the interplay between the lower three and the higher four in that great atom called the physical plane. This can be seen duplicated in the atom of the physicist or chemist. Scientific students who are interested in these matters will find it worth while to consider the correspondence between these three types of energy, and that which is understood by the words, atoms, electrons, and ions.

Cuối cùng họ cũng sẽ xét đến sự tương tác giữa ba cấp thấp và bốn cấp cao trong nguyên tử lớn được gọi là cõi hồng trần. Điều này có thể được thấy lặp lại trong nguyên tử của nhà vật lý hay nhà hóa học. Những đạo sinh khoa học quan tâm đến các vấn đề này sẽ thấy đáng công khi suy xét sự tương ứng giữa ba loại năng lượng này và điều được hiểu qua các từ nguyên tử, điện tử và ion.

All that manifests (from God to man) (284) is the result of these three types of energy or force, of their combination, their interplay, and their psychic action and reaction. During the great cycle of logoic appearance it is the second type of energy which dominates and which is of evolutionary importance, and this is why the etheric body which lies back of all that is visible is the most important. This is equally true of gods, of men and of atoms.

Mọi thứ biểu hiện (từ Thượng đế đến con người) (284) đều là kết quả của ba loại năng lượng hay mãnh lực này, của sự kết hợp của chúng, sự tương tác của chúng, và tác động cùng phản ứng thông linh của chúng. Trong đại chu kỳ của sắc tướng logoi, chính loại năng lượng thứ hai chi phối và có tầm quan trọng tiến hoá, và đây là lý do vì sao thể dĩ thái nằm phía sau mọi cái hữu hình là quan trọng nhất. Điều này đúng như nhau đối với các vị thần, con người và các nguyên tử.

(284) The Secret Doctrine says that: God, Monad, and Atom are the correspondences of Spirit, Mind and Body.—S. D., I, 679.

(284) Giáo Lý Bí Nhiệm nói rằng: Thượng đế, Chân thần, và Nguyên tử là những tương ứng của Tinh thần, Trí Tuệ và Thể.—S. D., I, 679.

The Logos is manifesting in this mahamanvantara as Manas (the Divine Manasaputras in their totality) utilising atomic sheaths for purposes of evolution and with the aim in view of developing the second aspect of buddhi or wisdom. Wisdom must have manas, or intelligent mind for its basis. He is the sumtotal of Intelligence, evolving in order to develop Love. (back)

Thượng đế đang biểu hiện trong đại giai kỳ sinh hóa này như Manas (các Manasaputra Thiêng Liêng trong tổng thể của Các Ngài), sử dụng các vỏ bọc nguyên tử cho các mục đích tiến hoá và với mục tiêu phát triển phương diện thứ hai của Bồ đề hay minh triết. Minh triết phải có manas, hay trí tuệ thông minh, làm nền tảng. Ngài là tổng thể của Trí Tuệ, tiến hoá để phát triển Bác ái. (back)

Much time is spent in speculating upon the sources of life, upon the springs of action, and upon the impulses which underlie the creative processes. Hitherto science has worked somewhat blindly and has spent much time investigating the lower three planes. It has dealt principally with the Mother, with the negative receptive matter, and is only now becoming aware of the Holy Spirit aspect, or of the energy which enables that Mother to fulfill her function, and to carry on her work.

Nhiều thời gian được dành để suy đoán về các nguồn của sự sống, về các suối nguồn của hành động, và về các xung lực nằm dưới các tiến trình sáng tạo. Cho đến nay khoa học đã làm việc phần nào một cách mù quáng và đã dành nhiều thời gian khảo cứu ba cõi thấp. Nó chủ yếu đã bàn đến Mẹ, đến vật chất âm tiếp nhận, và chỉ hiện nay mới bắt đầu nhận biết phương diện Chúa Thánh Thần, hay năng lượng giúp Mẹ ấy hoàn thành chức năng của mình và tiếp tục công việc của mình.

Considering the same problem microcosmically it may be pointed out that men are only now beginning to be [Page 919] aware of the springs of spiritual action, and of the sources of spiritual life. The energy of the higher planes is only revealing itself as men begin to tread the Way, and to come under the influence of buddhi, which flows from the fourth cosmic etheric plane.

Xét cùng một vấn đề theo Tiểu thiên địa, có thể chỉ ra rằng con người chỉ hiện nay mới bắt đầu [Page 919] nhận biết các suối nguồn của hành động tinh thần, và các nguồn của sự sống tinh thần. Năng lượng của các cõi cao hơn chỉ đang tự bộc lộ khi con người bắt đầu bước đi trên Con Đường, và bắt đầu chịu ảnh hưởng của Bồ đề, vốn tuôn chảy từ cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư.

Finally, when scientists are willing to recognise and to co-operate with the intelligent forces that are to be found on etheric levels, and when they become convinced of the hylozoistic nature of all that exists, their findings and their work will be brought into a more accurate correspondence with things as they really are. This, as has been earlier pointed out, will be brought about as the race develops etheric vision, and the truth of the contentions of the occultist is proved past all controversy.

Cuối cùng, khi các nhà khoa học sẵn sàng nhận ra và hợp tác với các mãnh lực thông minh được tìm thấy trên các cấp độ dĩ thái, và khi họ trở nên xác tín về bản chất hylozoistic của mọi cái hiện hữu, thì các phát hiện và công trình của họ sẽ được đưa vào sự tương ứng chính xác hơn với sự vật như chúng thực sự là. Điều này, như đã được chỉ ra trước đây, sẽ được mang lại khi nhân loại phát triển linh thị dĩ thái, và chân lý của những khẳng định của nhà huyền bí học được chứng minh vượt ngoài mọi tranh cãi.

It will have been noted that in the enumeration of these two main groups, we did not touch upon that great group of Builders who are called esoterically “Those who transmit the Word.” I have only dealt with the two groups who constitute the “Army of the Voice.” This is due to the fact that in this section we are only dealing with that army, or with those builders, great and small, who are swept into activity as the Word of the physical plane sounds forth. The “Transmitters of the Word” upon the first subplane or atomic level are those who take up the vibratory sound as it reaches them from the astral plane and—passing it through their bodies—send it forth to the remaining subplanes. These transmitters may be, for purposes of clarity, considered as seven in number. In their totality they form the atomic physical bodies of the Raja Lord of the plane and in a peculiarly occult sense these seven form (in their lower differentiations on etheric levels) the sumtotal of the etheric centres of all human beings, just as on the cosmic etheric levels are found the centres of a Heavenly Man.

Cần lưu ý rằng trong việc liệt kê hai nhóm chính này, chúng ta đã không đề cập đến nhóm lớn các đấng kiến tạo được gọi một cách huyền bí là “Những Đấng truyền Linh từ.” Tôi chỉ bàn đến hai nhóm cấu thành “Đạo Binh của Tiếng Nói”. Điều này là do trong phần này chúng ta chỉ đang bàn đến đạo binh ấy, hay đến những đấng kiến tạo ấy, lớn và nhỏ, được cuốn vào hoạt động khi Linh từ của cõi hồng trần được xướng lên. “Những Đấng truyền Linh từ” trên cõi phụ thứ nhất hay cấp nguyên tử là những vị tiếp nhận âm thanh rung động khi nó đến với họ từ cõi cảm dục và—truyền nó qua các thể của mình—phát nó ra đến các cõi phụ còn lại. Vì mục đích làm sáng tỏ, có thể xem các vị truyền dẫn này là bảy vị. Trong tổng thể, họ tạo thành các thể hồng trần nguyên tử của Chúa Tể Raja của cõi, và theo một ý nghĩa huyền bí đặc biệt, bảy vị này tạo thành (trong các biến phân thấp hơn của mình trên các cấp dĩ thái) tổng thể các trung tâm dĩ thái của toàn thể nhân loại, cũng như trên các cấp dĩ thái vũ trụ có thể tìm thấy các trung tâm của một Đấng Thiên Nhân.

The connection between the centres and etheric substance, systemic and human, opens up a vast range for [Page 920] thought. The “Transmitters of the Word” on the atomic subplane of each plane are devas of vast power and prerogative who may be stated to be connected with the Father aspect, and embodiments of electric fire. They are all fully self-conscious, having passed through the human stage in earlier kalpas. They are also corporate parts of the seven primary head centres in the body of a solar Logos or planetary Logos.

Mối liên hệ giữa các trung tâm và chất liệu dĩ thái, của hệ và của con người, mở ra một phạm vi rộng lớn cho [Page 920] tư tưởng. “Những Đấng truyền Linh từ” trên cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi là những thiên thần có quyền năng và đặc quyền to lớn, có thể nói là liên kết với phương diện Cha, và là hiện thân của Lửa Điện. Tất cả các vị đều hoàn toàn ngã thức, đã đi qua giai đoạn con người trong các kalpa trước. Họ cũng là những phần hợp nhất của bảy trung tâm đầu sơ khởi trong thể của một Thái dương Thượng đế hay Hành Tinh Thượng đế.

Though connected with the Father aspect, they are nevertheless part of the body of the Son, and each of them, according to the plane which he energises, is a component part of one or other of the seven centres, either solar or planetary—planetary when only the particular centre is concerned, systemic when that centre is viewed as an integral part of the whole.

Dù liên kết với phương diện Cha, họ vẫn là một phần của thể của Thánh Tử, và mỗi vị trong số họ, tùy theo cõi mà y tiếp sinh lực, là một thành phần của một trong bảy trung tâm, hoặc thái dương hoặc hành tinh—hành tinh khi chỉ xét trung tâm đặc biệt ấy, hệ thống khi trung tâm ấy được nhìn như một phần toàn vẹn của toàn thể.

Each of these great lives (embodying deva energy of the first degree) is an emanation from the central spiritual sun in the first instance and from one of the three major constellations in the second instance. Systemically they fall into three groups: Group 1 includes those transmitters of the Word who are found on the three lower subplanes of the plane Adi, or the logoic plane. Group 2 comprises those great builders who transmit the Word on the three next systemic planes, the monadic, the atmic and the buddhic. Group 3 is formed of those who carry on a similar function in the three worlds of human endeavour. Fundamentally they are also emanations from one of the seven stars of the Great Bear in the third instance.

Mỗi một trong các đại sự sống này (hiện thân cho năng lượng thiên thần bậc thứ nhất) trước hết là một phát xạ từ Mặt trời Tinh thần Trung Ương và kế đó là từ một trong ba chòm sao lớn. Về mặt hệ thống, họ rơi vào ba nhóm: Nhóm 1 gồm những Đấng truyền Linh từ được tìm thấy trên ba cõi phụ thấp của cõi Adi, hay cõi logoi. Nhóm 2 gồm những đấng đại kiến tạo truyền Linh từ trên ba cõi kế tiếp của hệ, cõi chân thần, cõi atma và cõi Bồ đề. Nhóm 3 được tạo thành bởi những vị thực hiện một chức năng tương tự trong ba cõi giới của nỗ lực nhân loại. Về căn bản, ở cấp thứ ba, họ cũng là những phát xạ từ một trong bảy ngôi sao của Đại Hùng Tinh.

In these triple emanatory forces may be found the origin of all that is visible and objective, and through their agency our solar system takes its place within the greater cosmic scheme, and a certain basic cosmic fire is formed. They are the sumtotal of the head, the heart and the throat centres of the solar Logos, and their correspondences will be found within a Heavenly Man, a human [Page 921] being, and an atom. Hence the scientist, as he discovers the nature of the atom, is putting himself in touch with these three types of solar energy, and is unravelling the central mystery of the system. As the triple nature of the atom stands revealed, so likewise the triple nature of man and of God gradually becomes proven. The energy of these groups passes through the physical sun, and from thence they sound the Word for the particular plane of their specific endeavour.

Trong các mãnh lực phát xạ tam phân này có thể tìm thấy nguồn gốc của mọi điều hữu hình và khách quan, và nhờ tác nhân của họ mà hệ mặt trời của chúng ta chiếm vị trí của nó trong mô hình vũ trụ lớn hơn, và một loại lửa vũ trụ căn bản nào đó được hình thành. Họ là tổng thể của các trung tâm đầu, tim và cổ họng của Thái dương Thượng đế, và các tương ứng của họ sẽ được tìm thấy trong một Đấng Thiên Nhân, một con người [Page 921] và một nguyên tử. Do đó nhà khoa học, khi khám phá bản chất của nguyên tử, đang đặt mình vào sự tiếp xúc với ba loại năng lượng thái dương này, và đang tháo gỡ huyền nhiệm trung tâm của hệ. Khi bản chất tam phân của nguyên tử được tiết lộ, thì bản chất tam phân của con người và của Thượng đế cũng dần dần được chứng minh. Năng lượng của các nhóm này đi qua mặt trời hồng trần, và từ đó họ xướng Linh từ cho cõi đặc biệt thuộc nỗ lực chuyên biệt của mình.

The student must not make the mistake of thinking that these seven great transmitters are the seven Heavenly Men. They form one half of Their real nature. This is all that can be said of this great mystery, though it might be added that from another angle of vision, they form but one third of his threefold divine nature. Man is dual, being Spirit and matter; he is also, during evolution, a triplicity, so it is with a Heavenly Man, and hence the mystery.

Đạo sinh không được lầm tưởng rằng bảy vị truyền dẫn vĩ đại này là bảy Đấng Thiên Nhân. Họ tạo thành một nửa bản chất thực sự của Các Ngài. Đó là tất cả những gì có thể nói về huyền nhiệm lớn lao này, dù có thể thêm rằng từ một góc nhìn khác, họ chỉ tạo thành một phần ba bản chất thiêng liêng tam phân của Ngài. Con người là nhị nguyên, là tinh thần và vật chất; y cũng là một bộ ba trong tiến hoá, và Đấng Thiên Nhân cũng vậy, do đó có huyền nhiệm này.

The great Transmitter of the Word on the physical plane, which is the one under our consideration, is the energising factor of the throat centre of Brahma. An interesting tabulation of the threefold centres and the three divine aspects might here be given which may prove of use to the student, though he should carefully bear in mind that these centres are for the purpose of generating and transmitting energy.

Đấng truyền Linh từ vĩ đại trên cõi hồng trần, là vị mà chúng ta đang xét đến, là yếu tố tiếp sinh lực của trung tâm cổ họng của Brahma. Ở đây có thể đưa ra một bảng thú vị về các trung tâm tam phân và ba phương diện thiêng liêng, có thể hữu ích cho đạo sinh, dù y cần cẩn thận ghi nhớ rằng các trung tâm này nhằm mục đích phát sinh và truyền dẫn năng lượng.

1. The transmitter of energy on the physical plane forms the throat centre in the body of Brahma, the third aspect.

1. Vị truyền dẫn năng lượng trên cõi hồng trần tạo thành trung tâm cổ họng trong thể của Brahma, phương diện thứ ba.

2. The transmitter of energy upon the astral plane forms the heart centre of Brahma.

2. Vị truyền dẫn năng lượng trên cõi cảm dục tạo thành trung tâm tim của Brahma.

3. The transmitter of the Word on the mental plane forms the head centre of this, the third aspect.

3. Vị truyền Linh từ trên cõi trí tạo thành trung tâm đầu của phương diện thứ ba này.

These three Raja Lords, devas, or transmitters, form the three centres of logoic force in the three worlds. They are the lowest energy aspect of Brahma. [Page 922]

Ba Chúa Tể Raja, thiên thần, hay các vị truyền dẫn này tạo thành ba trung tâm của mãnh lực logoi trong ba cõi giới. Họ là phương diện năng lượng thấp nhất của Brahma. [Page 922]

4. The Transmitter of the Word upon the buddhic plane forms the throat centre of Vishnu, the second aspect. From thence the Word goes forth that builds the dense physical form of a Heavenly Man or of a solar Logos.

4. Đấng truyền Linh từ trên cõi Bồ đề tạo thành trung tâm cổ họng của Vishnu, phương diện thứ hai. Từ đó Linh từ phát ra để xây dựng hình tướng hồng trần đậm đặc của một Đấng Thiên Nhân hay của một Thái dương Thượng đế.

5. The Transmitter of energy upon the monadic plane forms the heart centre of Vishnu, the second aspect.

5. Vị truyền dẫn năng lượng trên cõi chân thần tạo thành trung tâm tim của Vishnu, phương diện thứ hai.

6. The Transmitter of force upon the atmic plane forms the head centre of Vishnu.

6. Vị truyền dẫn mãnh lực trên cõi atma tạo thành trung tâm đầu của Vishnu.

This tabulation will be confusing to students unless it is realised that we are here considering these aspects only as dualities, and are dealing with one of the dual parts. It will be apparent that in the Vishnu aspect, for instance, which manifests upon the second plane, the energy of that plane will act as the head centre to the succeeding planes, and this apprehension, rightly grasped, will clarify the others.

Bảng này sẽ gây rối cho đạo sinh trừ phi nhận ra rằng ở đây chúng ta chỉ đang xét các phương diện này như những nhị nguyên tính, và đang bàn đến một trong hai phần nhị nguyên. Sẽ rõ ràng rằng chẳng hạn trong phương diện Vishnu, biểu hiện trên cõi thứ hai, năng lượng của cõi ấy sẽ hoạt động như trung tâm đầu đối với các cõi kế tiếp, và sự nhận thức này, nếu được nắm đúng, sẽ làm sáng tỏ các điều khác.

The Transmitter of the Word on the first plane of Adi is the embodiment of the throat centre of a cosmic entity. From this statement will come a just realisation of our place in the cosmic scheme, and the fundamentally physical nature of the seven planes of the solar system is also here demonstrated, the nature of Brahma, or the Holy Spirit, becoming apparent.

Đấng truyền Linh từ trên cõi thứ nhất của Adi là hiện thân của trung tâm cổ họng của một thực thể vũ trụ. Từ mệnh đề này sẽ đến một sự chứng nghiệm đúng đắn về vị trí của chúng ta trong mô hình vũ trụ, và bản chất căn bản là hồng trần của bảy cõi của hệ mặt trời cũng được chứng minh ở đây, bản chất của Brahma, hay Chúa Thánh Thần, trở nên hiển nhiên.

The old Commentary says:

Cổ Luận nói rằng:

“Brahma is One, yet includes His brother. Vishnu is One, yet existeth not apart from His brother, younger in point of time yet older far. Shiva is One, and antedates Them both, yet He appeareth not nor is He seen, until They both have cycled through Their courses.”

“Brahma là Một, nhưng bao gồm huynh đệ của Ngài. Vishnu là Một, nhưng không tồn tại tách rời huynh đệ của Ngài, trẻ hơn về thời gian nhưng già hơn rất xa. Shiva là Một, và có trước cả Hai Vị, nhưng Ngài không xuất hiện cũng không được thấy, cho đến khi Cả Hai đã tuần hoàn qua các chu trình của Các Ngài.”

The above sevenfold tabulation can be, under the law of correspondences, applied equally to every plane, for the transmitters and workers on each plane form similar groups. Equally well can man consider this tabulation in connection with his seven centres, and from a study [Page 923] of the two together he will gain knowledge as to the type of energy which flows through any particular centre. These transmitters likewise can be heard sounding forth the Word with particular force and power in that planetary scheme which corresponds to their note and is keyed to their vibration. The planetary schemes, therefore, will fall into a similar grouping, and this will open up for students a vast field of conjecture. The seven Prajapatis fall into two groups of three, with one dominating. Students will do well to remember in studying the solar system, the planes, the schemes, man and the atom, that the groupings of the lines or streams of energy during the evolutionary cycles fall naturally into four divisions:

Bảng thất phân trên đây, theo định luật tương ứng, có thể được áp dụng như nhau cho mọi cõi, vì các vị truyền dẫn và người hoạt động trên mỗi cõi tạo thành những nhóm tương tự. Con người cũng có thể xét bảng này liên hệ với bảy trung tâm của mình, và từ việc nghiên cứu [Page 923] cả hai cùng nhau, y sẽ đạt được tri thức về loại năng lượng chảy qua bất kỳ trung tâm đặc biệt nào. Các vị truyền dẫn này cũng có thể được nghe thấy đang xướng Linh từ với mãnh lực và quyền năng đặc biệt trong hệ hành tinh tương ứng với âm điệu của họ và được chỉnh theo rung động của họ. Vì vậy, các hệ hành tinh sẽ rơi vào một sự phân nhóm tương tự, và điều này sẽ mở ra cho đạo sinh một lĩnh vực suy đoán rộng lớn. Bảy Prajapati rơi vào hai nhóm ba, với một vị chi phối. Đạo sinh nên ghi nhớ khi nghiên cứu hệ mặt trời, các cõi, các hệ hành tinh, con người và nguyên tử, rằng các sự phân nhóm của các đường hay dòng năng lượng trong các chu kỳ tiến hoá tự nhiên rơi vào bốn phân bộ:

1. 1―3―3

1. 1―3―3

2. 4―3

2. 4―3

3. 3―4

3. 3―4

4. 3―1―3

4. 3―1―3

Division 1 can be understood under the law of correspondences when the nature of the atomic plane of the solar system, the three cosmic etheric planes, and the three planes of human endeavour are investigated in connection with each other.

Phân bộ 1 có thể được hiểu theo định luật tương ứng khi bản chất của cõi nguyên tử của hệ mặt trời, ba cõi dĩ thái vũ trụ, và ba cõi của nỗ lực nhân loại được khảo cứu trong mối liên hệ với nhau.

Division 2 becomes easier of comprehension when the close relation between the four cosmic etheric planes and the three lower planes is grasped. This can be illuminated by a study of the four physical ethers and the three lower subplanes of our physical plane.

Phân bộ 2 trở nên dễ hiểu hơn khi mối liên hệ mật thiết giữa bốn cõi dĩ thái vũ trụ và ba cõi thấp được nắm bắt. Điều này có thể được soi sáng bằng việc nghiên cứu bốn dĩ thái hồng trần và ba cõi phụ thấp của cõi hồng trần của chúng ta.

Division 3 finds the clue to its mystery in the constitution of the mental plane, with its three formless levels, and its four levels of form.

Phân bộ 3 tìm thấy chìa khóa cho huyền nhiệm của nó trong cấu tạo của cõi trí, với ba cấp vô sắc tướng và bốn cấp có sắc tướng.

Division 4 can be grasped as the student arrives at a comprehension of his own nature as a spiritual triad, an egoic body and a threefold lower man. He can likewise approach the first division in a similar manner, and view himself as a primary force or Monad, a triple secondary [Page 924] force or Ego, and a threefold lower energy, or personality, remembering that we are here dealing only with creative energy and with the Brahma aspect of manifestation as it co-ordinates itself with the Vishnu aspect.

Phân bộ 4 có thể được nắm bắt khi đạo sinh đi đến chỗ thấu hiểu bản chất của chính mình như một Tam Nguyên Tinh Thần, một thể chân ngã và một phàm nhân tam phân. Y cũng có thể tiếp cận phân bộ thứ nhất theo cách tương tự, và nhìn chính mình như một mãnh lực sơ khởi hay chân thần, một mãnh lực thứ cấp tam phân [Page 924] hay chân ngã, và một năng lượng thấp tam phân, hay phàm ngã, đồng thời ghi nhớ rằng ở đây chúng ta chỉ đang bàn đến năng lượng sáng tạo và đến phương diện Brahma của biểu hiện khi nó tự phối hợp với phương diện Vishnu.

The Transmitters of Prana. We have in an earlier section of this treatise considered somewhat the devas who are the transmitters of prana for the etheric body of man and of the planet. They are the reflection upon the lowest plane of the Vishnu aspect of divinity; the seven subplanes of our physical plane reflect in a dim and distorted fashion the three aspects, and are a shadow, dark and unrevealing, of the Godhead. This group of transmitters are responsible for three principal results, and are active along three main lines.

Những Đấng truyền dẫn prana. Trong một phần trước của bộ luận này, chúng ta đã phần nào xét đến các thiên thần là những vị truyền dẫn prana cho thể dĩ thái của con người và của hành tinh. Họ là sự phản chiếu trên cõi thấp nhất của phương diện Vishnu của thiên tính; bảy cõi phụ của cõi hồng trần của chúng ta phản chiếu một cách mờ nhạt và méo mó ba phương diện, và là một cái bóng, tối tăm và không mặc khải, của Thượng đế tính. Nhóm các vị truyền dẫn này chịu trách nhiệm cho ba kết quả chính, và hoạt động theo ba đường lối chủ yếu.

They are the devas who vitalise and produce the energy of all forms of sentient life. Theirs is the life which pulsates through the etheric body of every plant and animal and of all intermediate forms of life, and which constitutes the raging fire which is seen circulating through all etheric vehicles. Among many other functions they produce the warmth of the sun and of all bodies; they are the cause of solar, planetary, and human radiation, and they nourish and preserve all forms. They occultly mediate between the Father and the Mother on each plane, whether cosmic or systemic. They originate in the sun, and are closely related to the logoic and planetary solar plexus, for the evolutionary process, as in all manifestation, is the result of desire, acting upon the creative faculties and producing that which is objective.

Họ là các thiên thần tiếp sinh lực và tạo ra năng lượng cho mọi hình thức sự sống hữu cảm. Sự sống của họ là sự sống đang rung động xuyên qua thể dĩ thái của mọi loài thực vật, động vật và của mọi hình thức sự sống trung gian, và cấu thành ngọn lửa mãnh liệt được thấy đang lưu chuyển qua mọi thể dĩ thái. Trong nhiều chức năng khác, họ tạo ra hơi ấm của mặt trời và của mọi thể; họ là nguyên nhân của bức xạ thái dương, hành tinh và nhân loại, và họ nuôi dưỡng cũng như bảo tồn mọi hình tướng. Một cách huyền bí, họ làm trung gian giữa Cha và Mẹ trên mỗi cõi, dù là vũ trụ hay hệ thống. Họ phát nguyên trong mặt trời, và có liên hệ mật thiết với tùng thái dương của Thượng đế và của hành tinh, vì tiến trình tiến hoá, cũng như trong mọi biểu hiện, là kết quả của dục vọng tác động lên các năng lực sáng tạo và tạo ra điều vốn là khách quan.

They are the devas who energise the myriads of minute lives which build the etheric bodies of all that is seen and tangible, and who are the instigators of the creative processes on the three lowest subplanes of the physical plane. Systemically, the devas engaged in this line of activity can be subdivided into two groups: [Page 925]

Họ là các thiên thần tiếp năng lượng cho vô số sự sống cực vi đang kiến tạo các thể dĩ thái của mọi điều được thấy và sờ chạm được, và là những tác nhân khởi phát các tiến trình sáng tạo trên ba cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần. Về mặt hệ thống, các thiên thần hoạt động trong đường lối này có thể được chia thành hai nhóm: [Page 925]

a. Those who work on the four higher systemic planes and from thence influence in the three worlds, producing through reflex action the desired results.

a. Những vị hoạt động trên bốn cõi hệ thống cao hơn và từ đó ảnh hưởng vào ba cõi giới, tạo ra các kết quả mong muốn qua tác động phản chiếu.

b. Those who work in the three worlds of human endeavour, producing directly dense physical manifestation.

b. Những vị hoạt động trong ba cõi giới của nỗ lực nhân loại, trực tiếp tạo ra biểu hiện hồng trần đậm đặc.

All the etheric devas who transmit energy on the physical plane belong to the second division above enumerated, and according to the subplane on which they work come under the guidance of a greater intelligence on a corresponding plane.

Tất cả các thiên thần dĩ thái truyền dẫn năng lượng trên cõi hồng trần đều thuộc phân bộ thứ hai được liệt kê ở trên, và tùy theo cõi phụ mà họ hoạt động, họ chịu sự hướng dẫn của một trí tuệ lớn hơn trên một cõi tương ứng.

There are also the devas who form the attractive force of all subhuman forms, holding the forms of the three lower kingdoms of nature together in coherency, and thus producing the body of manifestation of the great Entity who is the sumtotal of the life of the kingdom, and of the lesser beings who ensoul different families and groups within any specific kingdom.

Cũng có những thiên thần tạo thành lực hấp dẫn của mọi hình tướng dưới nhân loại, giữ cho các hình tướng của ba giới thấp trong thiên nhiên được kết hợp chặt chẽ, và nhờ đó tạo ra thể biểu hiện của Thực Thể vĩ đại là tổng số sự sống của giới ấy, cũng như của các hữu thể nhỏ hơn phú linh cho những họ và nhóm khác nhau trong bất kỳ giới đặc thù nào.

Cosmic Fire S8

(926-1078)

The Devas of the Etheric Double. The subject that we are to deal with now concerns those devas who are etheric doubles of all that is. It is full of profit therefore to the wise student, for it reveals the method whereby all forms materialise upon the physical plane.

Các Thiên Thần của Bản Sao Dĩ Thái. Chủ đề mà giờ đây chúng ta sẽ bàn đến liên quan đến những thiên thần là bản sao dĩ thái của mọi cái đang hiện hữu. Vì thế, điều này rất hữu ích cho đạo sinh minh triết, vì nó mặc khải phương pháp nhờ đó mọi hình tướng hiện hình trên cõi hồng trần.

It is not the purpose of this treatise to trace the materialisation of a form as it originates upon the archetypal planes, through the agency of divine thought, and from thence (through directed streams of intelligent energy) acquires substance as it is reproduced upon each plane, until eventually (upon the physical plane) the form stands revealed at its densest point of manifestation. No form is as yet perfect, and it is this fact which necessitates cyclic evolution, and the continual production of forms until they approximate reality in fact and in deed. The method of form production may be tabulated as follows: [Page 926]

Mục đích của bộ luận này không phải là truy nguyên sự hiện hình của một hình tướng khi nó phát sinh trên các cõi nguyên mẫu, qua tác động của tư tưởng thiêng liêng, rồi từ đó (qua các dòng năng lượng trí tuệ được định hướng) tiếp nhận chất liệu khi được tái tạo trên mỗi cõi, cho đến cuối cùng (trên cõi hồng trần) hình tướng ấy được bộc lộ tại điểm biểu hiện đậm đặc nhất của nó. Chưa có hình tướng nào hoàn hảo, và chính sự kiện này khiến cho tiến hoá theo chu kỳ trở nên cần thiết, cùng với việc liên tục tạo ra các hình tướng cho đến khi chúng xấp xỉ thực tại trong sự thật và trong hành động. Phương pháp tạo ra hình tướng có thể được lập bảng như sau: [Page 926]

FORM PRODUCTION

SỰ TẠO RA HÌNH TƯỚNG

1.

Divine thought

The cosmic mental plane.

2.

Divine desire

The cosmic astral plane.

3.

Divine activity

The cosmic physical plane (our seven systemic planes).

First plane

.

The logoic Breath... First plane.... The Sound (285) A

Hơi Thở của Thượng đế... Cõi thứ nhất.... Linh Âm (285) A

(285) Mantric Sounds.

(285) Các Linh Âm mantram.

A mantram is a combination of sounds, of words and of phrases that, through virtue of certain rhythmic effects, achieve results that would not be possible apart from them. The most sacred of all the Eastern mantrams given out as yet to the public is the one embodied in the words: “Om mani padme hum.” Every syllable of this phrase has a secret potency, and its totality has seven meanings and can bring about seven different results.

Một mantram là sự kết hợp của các âm thanh, các từ và các cụm từ mà nhờ hiệu lực của những tác động nhịp điệu nhất định, đạt được những kết quả vốn không thể có nếu thiếu chúng. Thiêng liêng nhất trong tất cả các mantram phương Đông đã được công bố cho công chúng cho đến nay là mantram được hàm chứa trong các từ: “Om mani padme hum.” Mỗi âm tiết của cụm từ này đều có một năng lực bí mật, và toàn thể của nó có bảy ý nghĩa và có thể mang lại bảy kết quả khác nhau.

There are various mantric forms, based upon this formula and upon the Sacred Word, which, sounded rhythmically and in different keys, accomplish certain desired ends, such as the invoking of protective angels or devas, and definite work, either constructive or destructive upon the planes.

Có nhiều hình thức mantram khác nhau, dựa trên công thức này và trên Linh từ Thiêng Liêng, khi được xướng theo nhịp điệu và ở những âm điệu khác nhau, sẽ hoàn thành những mục đích mong muốn nhất định, chẳng hạn như việc khẩn cầu các thiên thần hay thiên thần bảo hộ, và công việc xác định, hoặc xây dựng hoặc hủy diệt trên các cõi.

The potency of a mantram depends upon the point in evolution of the man who employs it. Uttered by an ordinary man it serves to stimulate the good within his bodies, to protect him, and it will also prove of beneficent influence upon his environment. Uttered by an adept or initiate its possibilities for good are infinite and far-reaching.

Năng lực của một mantram tùy thuộc vào điểm tiến hoá của người sử dụng nó. Khi được một người bình thường thốt ra, nó giúp kích thích điều thiện trong các thể của y, bảo vệ y, và cũng chứng tỏ có ảnh hưởng từ thiện lên môi trường của y. Khi được một chân sư hay điểm đạo đồ thốt ra, các khả năng thiện lành của nó là vô hạn và lan rộng.

Mantrams are of many kinds, and generally speaking might be enumerated as follows:

Mantram có nhiều loại, và nói chung có thể được liệt kê như sau:

1. Some very esoteric mantrams, existing in the original Sensa, in the custody of the Great White Lodge.

1. Một số mantram rất huyền bí, tồn tại trong Sensa nguyên thủy, được Thánh đoàn gìn giữ.

2. Some Sanskrit mantrams employed by initiates and adepts.

2. Một số mantram Sanskrit được các điểm đạo đồ và chân sư sử dụng.

3. Mantrams connected with the different rays.

3. Các mantram liên hệ với những cung khác nhau.

4. Mantrams used in healing.

4. Các mantram được dùng trong trị liệu.

5. Mantrams used in the departments of either the Manu, the Bodhisattva, or the Mahachohan.

5. Các mantram được dùng trong các ban ngành của Đức Manu, Đức Bồ Tát, hoặc Đức Mahachohan.

6. Mantrams used in connection with the devas and the elemental kingdoms.

6. Các mantram được dùng liên hệ với các thiên thần và các giới hành khí.

7. Special mantrams connected with fire.

7. Các mantram đặc biệt liên hệ với lửa.

All these mantrams depend for their potency upon the sound and rhythm and upon the syllabic emphasis imparted to them when enunciating and intoning. They depend too upon the capacity of the man who uses them to visualise and to will the desired effect. (back)

Tất cả các mantram này tùy thuộc năng lực của chúng vào âm thanh và nhịp điệu, cũng như vào sự nhấn mạnh âm tiết được truyền vào khi phát âm và xướng lên. Chúng cũng tùy thuộc vào khả năng của người sử dụng trong việc hình dung và vận dụng ý chí để tạo ra kết quả mong muốn. (back)

This is the first etheric appearance of a solar system upon the atomic subplane of the cosmic physical plane. The seeds of life are all latent. Faculty inheres from an earlier solar essence.

Đây là sắc tướng dĩ thái đầu tiên của một hệ mặt trời trên cõi phụ nguyên tử của cõi hồng trần vũ trụ. Các hạt giống của sự sống đều còn tiềm ẩn. Năng lực vốn nội tại từ một tinh chất thái dương trước kia.

The logoic Sound....Second plane....The Sound A U

Linh Âm của Thượng đế....Cõi thứ hai....Linh Âm A U

This is the body of the solar system in the second ether. This plane is the archetypal plane. The seeds of [Page 927] life are vibrating or germinating. The seven centres of energy are apparent. The one deva Agni is seen as seven. The form is now potentially perfect.

Đây là thể của hệ mặt trời trong dĩ thái thứ hai. Cõi này là cõi nguyên mẫu. Các hạt giống của [Page 927] sự sống đang rung động hoặc nảy mầm. Bảy trung tâm năng lượng đã hiện rõ. Một thiên thần Agni được thấy như bảy. Hình tướng giờ đây có tiềm năng hoàn hảo.

The logoic triple Word..The third plane..The Sound A U M.

Linh từ tam phân của Thượng đế..Cõi thứ ba..Linh Âm A U M.

The body of the solar system in substance of the third etheric plane is seen, and the three function as one. The triple energy of the Logos is co-ordinated, and nothing now can hinder the work of evolution. The three groups of devas are active, and the archetypal form is in process of materialization.

Thể của hệ mặt trời trong chất liệu của cõi dĩ thái thứ ba được thấy, và ba cái hoạt động như một. Năng lượng tam phân của Thượng đế được phối hợp, và giờ đây không gì có thể cản trở công việc tiến hoá. Ba nhóm thiên thần đang hoạt động, và hình tướng nguyên mẫu đang trong tiến trình hiện hình.

The logoic septenary word - The logoic etheric Centres become active

The fourth plane

The seven syllabled Word.