← A Treatise on Cosmic Fire All

a. Egos who were produced through the individualisation process in Lemurian days. They are the true Earth humanity, along with the second group.

To continue with our consideration of egoic groups: It might be briefly stated that the egoic groups in connection with our planet may be roughly grouped according to the stage of lotus organisation, as follows:

Để tiếp tục việc xem xét các nhóm chân ngã: Có thể nói ngắn gọn rằng các nhóm chân ngã liên hệ với hành tinh của chúng ta có thể được phân nhóm một cách đại khái theo giai đoạn tổ chức của hoa sen như sau:

a. Egos who were produced through the individualisation process in Lemurian days. They are the true Earth humanity, along with the second group.

a. Các chân ngã được tạo ra qua tiến trình biệt ngã hóa trong thời Lemuria. Họ là nhân loại Trái Đất đích thực, cùng với nhóm thứ hai.

b. Egos who have individualised during the Atlantean root-race until the door was shut.

b. Các chân ngã đã biệt ngã hóa trong giống dân gốc Atlantis cho đến khi cánh cửa khép lại.

c. Egos who have “come-in” from the moon chain and who are much more evolved than the earth humanity.

c. Các chân ngã đã “đi vào” từ Dãy Mặt Trăng và đã tiến hoá hơn nhiều so với nhân loại Trái Đất.

d. Egos who have been swept in since Atlantean days to take the place of those Egos who have achieved liberation, and whose causal bodies have disappeared, or whose lotuses have “died out” leaving a vacuum in force substance which must be supplied and filled. They usually come in from one of two schemes:

d. Các chân ngã đã được cuốn vào kể từ thời Atlantis để thay thế những chân ngã đã đạt được giải thoát, và các thể nguyên nhân của họ đã biến mất, hoặc các hoa sen của họ đã “tàn lụi” để lại một khoảng trống trong chất liệu mãnh lực cần phải được cung cấp và lấp đầy. Họ thường đi vào từ một trong hai hệ:

1. From the scheme embodied by the polar opposite of our planetary Logos.

1. Từ hệ được nhập thể bởi cực đối nghịch của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta.

2. From that scheme which is allied with these two in forming a systemic triangle. [Page 854]

2. Từ hệ liên kết với hai hệ kia trong việc hình thành một tam giác hệ thống. [Page 854]

These cases are necessarily rare at present but will become more frequent as more and more of the human race take the fourth Initiation.

Những trường hợp này hiện nay tất yếu hiếm, nhưng sẽ trở nên thường xuyên hơn khi ngày càng nhiều người trong nhân loại đạt lần điểm đạo thứ tư.

e. Certain rare Egos or lotuses from schemes not enumerated in the above triplicity. They are usually only brought in so that they may perfect certain developments in their own nature, to carry out experimental work in connection with the deva kingdom, or to produce certain group results desired by the planetary Logos. They frequently do not descend into dense physical incarnation but work primarily on mental and astral levels, returning to their own spheres eventually for the final stages of liberation.

e. Một số chân ngã hay hoa sen hiếm hoi từ các hệ không được liệt kê trong bộ ba nói trên. Họ thường chỉ được đưa vào để hoàn thiện một số phát triển nào đó trong bản chất riêng của mình, để thực hiện công việc thử nghiệm liên quan đến giới thiên thần, hoặc để tạo ra một số kết quả nhóm mà Hành Tinh Thượng đế mong muốn. Họ thường không giáng xuống nhập thể hồng trần đậm đặc mà chủ yếu hoạt động trên các cấp độ trí tuệ và cảm dục, rồi cuối cùng trở về các khối cầu riêng của mình cho những giai đoạn giải thoát cuối cùng.

All these lotuses in their myriad differentiations have specific effects upon each other on mental levels, and these effects are as yet utterly unrealised by man. Nevertheless, they are the basis of the true psychology, and the grounds of all true activity. The student would do well to ponder upon the effect any advanced Ego would be likely to have upon:

Tất cả những hoa sen này trong vô số biến phân của chúng đều có những tác động đặc thù lên nhau trên các cấp độ trí tuệ, và những tác động này hiện con người vẫn hoàn toàn chưa nhận ra. Tuy nhiên, chúng là nền tảng của môn tâm lý học chân chính, và là cơ sở của mọi hoạt động chân chính. Đạo sinh nên suy gẫm về ảnh hưởng mà bất kỳ chân ngã tiến hóa cao nào có thể có lên:

a. Other Egos in his group.

a. Các chân ngã khác trong nhóm của y.

b. The solar Pitris who are the substance of the group.

b. Các thái dương tổ phụ là chất liệu của nhóm.

c. The lunar Pitris, who are linked with the solar Pitris through the permanent atoms.

c. Các thái âm tổ phụ, những vị được liên kết với các thái dương tổ phụ qua các Nguyên tử trường tồn.

We have enumerated above certain classifications of groups of Egos to be found on the causal levels of the mental plane, so as to give students some idea of the vastness of the subject, and the complexity of the problem. It must be remembered that on the third subplane of the mental plane there is no individual separation such as we find when in physical manifestation, but nevertheless group separation is to be seen. These groups are far too many to enumerate in detail. We have outlined and named five of the larger groups as catalogued under [Page 855] one scheme of tabulation in the Hall of Records. Other methods of enumeration exist, and even under the one here used, these five groups are each subdivided into ten groups, and these again are broken up into lesser units, all of them being known and portrayed under certain symbols.

Ở trên chúng ta đã liệt kê một số phân loại các nhóm chân ngã được tìm thấy trên các cấp độ nguyên nhân của cõi trí, nhằm giúp đạo sinh có được một ý niệm nào đó về sự bao la của đề tài và tính phức tạp của vấn đề. Phải nhớ rằng trên cõi phụ thứ ba của cõi trí không có sự tách biệt cá nhân như chúng ta thấy khi ở trong biểu hiện hồng trần, nhưng tuy vậy sự tách biệt nhóm vẫn có thể được thấy. Các nhóm này quá nhiều để có thể liệt kê chi tiết. Chúng ta đã phác họa và nêu tên năm nhóm lớn hơn như được ghi mục dưới [Page 855] một hệ thống phân loại trong Phòng Lưu Trữ. Có những phương pháp liệt kê khác tồn tại, và ngay cả trong phương pháp được dùng ở đây, năm nhóm này mỗi nhóm lại được chia thành mười nhóm, rồi các nhóm ấy lại được phân thành những đơn vị nhỏ hơn, tất cả đều được biết đến và mô tả dưới những biểu tượng nhất định.

When we come to the second subplane of the mental plane (the plane whereon the egoic bodies of advanced humanity, of disciples, and of initiates are found) the method of grouping will be according to:

Khi chúng ta đến cõi phụ thứ hai của cõi trí (cõi nơi các thể chân ngã của nhân loại tiến hóa cao, của các đệ tử và các điểm đạo đồ được tìm thấy) thì phương pháp phân nhóm sẽ theo:

a. Ray.

a. Cung.

b. Subray.

b. Cung phụ.

c. Department (whether under the Manu, the Mahachohan or the Bodhisattva on our earth scheme or their analogies on other schemes).

c. Ban ngành (dù thuộc dưới Đức Manu, Đức Mahachohan hay Đức Bồ Tát trong hệ Địa Cầu của chúng ta hay các tương đồng của Các Ngài trong các hệ khác).

d. The Master’s group.

d. Nhóm của Chân sư.

These egoic lotuses are all organised, and have a number of petals unfolded whilst some are in the final stages of development.

Các Hoa Sen Chân Ngã này đều đã được tổ chức, và có một số cánh hoa đã khai mở trong khi một số khác đang ở những giai đoạn phát triển cuối cùng.

They have also been grouped under the following three heads:

Chúng cũng đã được phân nhóm dưới ba đầu mục sau đây:

Lotuses of revelation. Those in which the “jewel” is just about to be revealed.

Hoa sen mặc khải. Những hoa sen mà “ngọc” sắp được mặc khải.

Lotuses with perfume. Those whose occult “smell” or aroma is permeating their environment. They are those Egos who have not yet completely unfolded the final tier of petals, but whose lives are of magnetic force in the three worlds, and whose careers are distinguished by altruistic service.

Hoa sen có hương thơm. Những hoa sen mà “mùi” hay hương thơm huyền bí của chúng đang thấm khắp môi trường xung quanh. Đó là những chân ngã chưa hoàn toàn khai mở vòng cánh hoa cuối cùng, nhưng đời sống của họ là mãnh lực từ tính trong ba cõi thấp, và sự nghiệp của họ nổi bật bởi sự phụng sự vị tha.

Radiant lotuses, or those whose light is beginning to shine forth as lights in a dark place.

Hoa sen rạng ngời, hay những hoa sen mà ánh sáng của chúng bắt đầu chiếu tỏa như những ngọn đèn trong nơi tối tăm.

They are grouped also according to primary colour, to subsidiary colouring, according to key or tone, and one tabulation is entirely numerical. It might be of interest [Page 856] to the student if we here pointed out that in the Hall of Records in connection with the human Egos certain of the records under symbological terminology keep a minute account of the following facts concerning each unit:

Chúng cũng được phân nhóm theo màu chính, theo sắc thái phụ, theo chủ âm hay âm điệu, và có một bảng phân loại hoàn toàn theo số học. Có lẽ sẽ khiến đạo sinh quan tâm [Page 856] nếu ở đây chúng tôi chỉ ra rằng trong Phòng Lưu Trữ, liên quan đến các chân ngã nhân loại, một số hồ sơ dưới thuật ngữ biểu tượng học ghi chép tỉ mỉ các sự kiện sau đây về từng đơn vị:

The lunar record. This deals with all the lower vehicles and forms, employed by the human Monads and concerns itself with:

Hồ sơ thái âm. Hồ sơ này bàn đến tất cả các vận cụ và hình tướng thấp hơn được các chân thần nhân loại sử dụng và liên quan đến:

a. Their rate of vibration,

a. Tốc độ rung động của chúng,

b. Their type,

b. Loại của chúng,

c. Their key number,

c. Con số chủ âm của chúng,

d. The particular group of lunar Lords who are concerned with those bodies,

d. Nhóm nguyệt tinh quân đặc biệt có liên quan đến các thể ấy,

e. The detailed history of the elemental lives who construct the bodies.

e. Lịch sử chi tiết của các sự sống hành khí kiến tạo nên các thể ấy.

This information is employed by the karmic official responsible for the production of a new set of vehicles at each incarnation, in order to assist the working out of karma. The history of the lunar bodies is stored up in the permanent atoms.

Thông tin này được viên chức nghiệp quả chịu trách nhiệm tạo ra một bộ vận cụ mới trong mỗi lần nhập thể sử dụng, nhằm hỗ trợ việc triển khai nghiệp quả. Lịch sử của các thể thái âm được lưu giữ trong các Nguyên tử trường tồn.

The solar record. This deals with the more permanent egoic vehicle, and concerns itself with:

Hồ sơ thái dương. Hồ sơ này bàn đến vận cụ chân ngã bền vững hơn, và liên quan đến:

a. The rate of vibration.

a. Tốc độ rung động.

b. The history of the petal unfoldment.

b. Lịch sử sự khai mở của các cánh hoa.

c. The history of any particular group of solar Angels concerned with the formation of the lotus.

c. Lịch sử của bất kỳ nhóm Thái dương Thiên Thần đặc biệt nào có liên quan đến sự hình thành hoa sen.

d. The activity of the deva substance out of which the lotus is constructed.

d. Hoạt động của chất liệu thiên thần mà từ đó hoa sen được kiến tạo.

e. Group relationships.

e. Các mối liên hệ nhóm.

This information is used by the Master Who has made Himself responsible for the stimulation and the growth of any particular series of Egos, and also by advanced Egos who are consciously working with their group.

Thông tin này được Chân sư, Đấng đã tự mình nhận trách nhiệm về sự kích thích và tăng trưởng của bất kỳ chuỗi chân ngã đặc biệt nào, sử dụng, và cũng được các chân ngã tiến hóa cao đang hữu thức làm việc với nhóm của mình sử dụng.

The consciousness record. This concerns the response of the indwelling Entity to its surroundings. It deals [Page 857] with the utilisation of knowledge by the knower, and is in many ways the most intricate and the most lengthy of the records.

Hồ sơ tâm thức. Hồ sơ này liên quan đến sự đáp ứng của Thực Thể ngự bên trong đối với môi trường xung quanh. Nó bàn [Page 857] đến việc thức giả sử dụng tri thức, và theo nhiều phương diện là loại hồ sơ phức tạp nhất và dài nhất.

These records are mostly used by the Lord of the World and His pupils to ascertain information in connection with the planetary centres. They are arranged in such a way that the entire record of any group, however vast and extensive, is embodied in seven sheets of symbols, each containing forty-nine symbols. These sheets are changed and corrected once every seven years, and are precipitated on astral matter by an effort of will by the Chohan responsible for the particular group involved.

Những hồ sơ này phần lớn được Đức Chúa Tể Thế Giới và các môn sinh của Ngài sử dụng để xác định thông tin liên quan đến các trung tâm hành tinh. Chúng được sắp xếp theo cách mà toàn bộ hồ sơ của bất kỳ nhóm nào, dù bao la và rộng lớn đến đâu, đều được thể hiện trong bảy tờ biểu tượng, mỗi tờ chứa bốn mươi chín biểu tượng. Những tờ này được thay đổi và hiệu chỉnh mỗi bảy năm một lần, và được ngưng tụ trên vật chất cảm dục bằng một nỗ lực ý chí của vị Chohan chịu trách nhiệm về nhóm đặc biệt liên hệ.

(d.) The Petals and the Etheric Centres. It remains now to point out the close connection between the unfoldment of the petals in the egoic lotuses and the etheric centres in man. It is through the centres that psychic energy flows. Students should carefully bear in mind the two following facts: First, the etheric body is vitalised, as we know, by prana. Pranic energy is the stimulator of animal activity, and of physical plane development. Its effect is primarily upon the atoms of the physical body and it has a triple effect upon the substance of the physical body:

(d.) Các Cánh Hoa và các Trung Tâm Dĩ Thái. Giờ đây còn phải chỉ ra mối liên hệ mật thiết giữa sự khai mở của các cánh hoa trong các Hoa Sen Chân Ngã và các trung tâm dĩ thái trong con người. Chính qua các trung tâm mà năng lượng thông linh tuôn chảy. Đạo sinh nên cẩn thận ghi nhớ hai sự kiện sau đây: Thứ nhất, như chúng ta biết, thể dĩ thái được tiếp sinh lực bởi prana. Năng lượng prana là tác nhân kích thích hoạt động động vật và sự phát triển trên cõi hồng trần. Tác động của nó chủ yếu lên các nguyên tử của thể xác và nó có một tác động tam phân lên chất liệu của thể xác:

a. It preserves the animal health of the body.

a. Nó duy trì sức khỏe động vật của thể.

b. It constructs and builds in the body, through its energy and force currents, what is needed to replace the daily wear and tear.

b. Nó kiến tạo và xây dựng trong thể, qua năng lượng và các dòng mãnh lực của nó, những gì cần thiết để thay thế sự hao mòn hằng ngày.

c. It is the medium whereby man comes into physical touch with his brother man. Physical magnetism is largely, even if not wholly, dependent upon prana.

c. Nó là môi trường nhờ đó con người tiếp xúc hồng trần với đồng loại của mình. Từ điện hồng trần phần lớn, nếu không phải hoàn toàn, phụ thuộc vào prana.

The etheric centres are the force vortices formed in etheric matter by astral impulse, transmitted via the [Page 858] astral centres. These astral centres in their turn are the transmitters of still higher energy, and thus the statement is technically true that the etheric centres are the source of man’s psychic energy, and are therefore affected by the unfoldment of the petals. Every petal is in its turn a type of force centre, and the energy emanating from it affects the etheric centres, and produces every type of psychic energy of the true kind.

Các trung tâm dĩ thái là những xoáy mãnh lực được hình thành trong vật chất dĩ thái bởi xung lực cảm dục, được truyền qua [Page 858] các trung tâm cảm dục. Đến lượt mình, các trung tâm cảm dục này là những bộ truyền dẫn của năng lượng còn cao hơn nữa, và vì thế phát biểu rằng các trung tâm dĩ thái là nguồn của năng lượng thông linh của con người là đúng về mặt kỹ thuật, và do đó chúng bị ảnh hưởng bởi sự khai mở của các cánh hoa. Mỗi cánh hoa đến lượt nó là một loại trung tâm mãnh lực, và năng lượng phát ra từ nó ảnh hưởng đến các trung tâm dĩ thái, và tạo ra mọi loại năng lượng thông linh chân chính.

The energy flowing from the Ego is but little felt in the early stages of development. Man follows his allotted path through animal and racial instinct, and can be safely left to the stimulation emanating from his group centres, and to the ordinary driving force inherent in form, and to the earlier life waves. It is only when he has reached a comparatively advanced stage (in comparison with that of animal man) that egoic or psychic force pours through his centres in such a way as to produce results in consciousness—of these he will eventually become profoundly aware within his physical brain. I do not here refer to the ordinary animal psychism displayed by the higher animals, and found among certain of the post Lemurian races. This is a type of consciousness inherent in the atoms, and is a constituent part of the “soul of the world.” It is unconscious and uncontrolled and has no part in this teaching. I refer to the conscious psychism which is displayed by advanced humanity, by disciples and initiates of all grades. This kind is the result of the pouring in of egoic energy through the etheric centres (mainly through five of them) in such a way that the consciousness of the physical brain becomes aware of it, and also aware of:

Năng lượng tuôn chảy từ chân ngã chỉ được cảm nhận rất ít trong các giai đoạn phát triển đầu tiên. Con người đi theo con đường được phân định của mình nhờ bản năng động vật và bản năng chủng tộc, và có thể an toàn được để cho sự kích thích phát ra từ các trung tâm nhóm của y, cùng với động lực thông thường vốn có trong hình tướng, và các làn sóng sự sống trước đó. Chỉ khi y đã đạt đến một giai đoạn tương đối tiến hóa cao (so với người thú) thì mãnh lực chân ngã hay thông linh mới tuôn qua các trung tâm của y theo cách tạo ra các kết quả trong tâm thức—mà cuối cùng y sẽ trở nên nhận biết sâu sắc trong bộ não hồng trần của mình. Ở đây tôi không nói đến tính thông linh động vật thông thường được biểu lộ bởi các động vật cao cấp hơn, và được tìm thấy trong một số nhân loại hậu Lemuria. Đây là một loại tâm thức vốn có trong các nguyên tử, và là một phần cấu thành của “linh hồn thế giới.” Nó vô thức và không được kiểm soát và không thuộc về giáo huấn này. Tôi nói đến tính thông linh hữu thức được biểu lộ bởi nhân loại tiến hóa cao, bởi các đệ tử và các điểm đạo đồ ở mọi cấp bậc. Loại này là kết quả của sự tuôn vào của năng lượng chân ngã qua các trung tâm dĩ thái (chủ yếu qua năm trung tâm trong số đó) theo cách mà tâm thức của bộ não hồng trần nhận biết được nó, và cũng nhận biết được:

a. Its purpose,

a. Mục đích của nó,

b. Its technique,

b. Kỹ thuật của nó,

c. The effects produced within the lower self of the man himself and also upon others, [Page 859]

c. Các hiệu quả được tạo ra trong phàm ngã của chính con người ấy và cả trên những người khác, [Page 859]

d. His ability to employ it or not as he may desire. It is under his control.

d. Khả năng của y trong việc sử dụng hay không sử dụng nó tùy theo ý muốn. Nó ở dưới sự kiểm soát của y.

The centres with which the student is concerned are, as we know, four in number:

Như chúng ta biết, các trung tâm mà đạo sinh quan tâm đến có số lượng là bốn:

a. The head,

a. Đầu,

b. The heart,

b. Tim,

c. The throat,

c. Cổ họng,

d. The base of the spine.

d. Đáy cột sống.

These are the only ones which should receive consideration. His work is to transfer the force or energy out of the two lower—the spinal and the solar plexus—into the three higher. It is presumed that he has already transferred, or is in process of transferring, the energy of the generative organs into the centre of desire, the solar plexus, with the aim in view of guiding it still higher to the throat centre. The splenic centre, being the vehicle of prana, is specially developed under evolutionary law, and its energy is not transferred to another centre, but is consciously diffused. When its correspondence in the head centre is awakened, this becomes the organ of occult healing; through it the healer (by an act of will), absorbs prana and vitality from the ethers, and then breathes it out again upon the object to be healed by an act of compassionate healing.

Đây là những trung tâm duy nhất cần được xem xét. Công việc của y là chuyển dịch mãnh lực hay năng lượng ra khỏi hai trung tâm thấp hơn—trung tâm cột sống và tùng thái dương—vào ba trung tâm cao hơn. Giả định rằng y đã chuyển dịch, hoặc đang trong tiến trình chuyển dịch, năng lượng của các cơ quan sinh sản vào trung tâm ham muốn, tức tùng thái dương, với mục đích hướng dẫn nó lên cao hơn nữa đến trung tâm cổ họng. Trung tâm lá lách, là vận cụ của prana, được phát triển đặc biệt theo định luật tiến hoá, và năng lượng của nó không được chuyển dịch sang một trung tâm khác, mà được phân tán một cách hữu thức. Khi đối phần của nó trong trung tâm đầu được đánh thức, trung tâm này trở thành cơ quan của trị liệu huyền bí; qua đó người chữa lành (bằng một hành vi ý chí), hấp thu prana và sinh lực từ các dĩ thái, rồi lại thở nó ra trên đối tượng cần được chữa lành bằng một hành vi chữa lành đầy từ bi.

In connection with the etheric centres, we should note the fact that the major head centre is twofold in structure, and consists of a lotus of ninety-six petals between the eyebrows, and of a twelve-petalled lotus at the top of the head, with ninety-six petals in a subsidiary whorl. The significance of these figures is profound. In every case the figure twelve is met with, showing a definite relation to the basic psychic lotuses on egoic levels. Twelve multiplied by eight stands for the twelve petals in each case, while in the figure eight lies hidden the idea of duality: [Page 860]

Liên quan đến các trung tâm dĩ thái, chúng ta nên lưu ý sự kiện rằng trung tâm đầu chính có cấu trúc nhị phân, và gồm một hoa sen chín mươi sáu cánh giữa hai chân mày, và một hoa sen mười hai cánh ở đỉnh đầu, với chín mươi sáu cánh trong một vòng xoáy phụ. Ý nghĩa của các con số này rất sâu xa. Trong mọi trường hợp đều gặp con số mười hai, cho thấy một mối liên hệ xác định với các hoa sen thông linh căn bản trên các cấp độ chân ngã. Mười hai nhân với tám biểu thị mười hai cánh hoa trong mỗi trường hợp, trong khi trong con số tám ẩn giấu ý niệm về nhị nguyên tính: [Page 860]

a. The four of the quaternary,

a. Bốn của bộ tứ,

b. The four of the egoic auric egg (the three aspects, and the ring-pass-not.)

b. Bốn của noãn hào quang chân ngã (ba phương diện, và vòng-giới-hạn.)

We must note also, that the idea of twelve in connection with the centres is found in three of them:

Chúng ta cũng phải lưu ý rằng ý niệm về số mười hai liên quan đến các trung tâm được tìm thấy trong ba trung tâm:

a. The higher head centre,

a. Trung tâm đầu cao hơn,

b. The secondary head centre,

b. Trung tâm đầu thứ yếu,

c. The heart centre.

c. Trung tâm tim.

If the student studies this condition, and links up the idea of the three tiers of petals in the twelve-petalled lotus, he may find illumination. More it is not possible to give at this stage.

Nếu đạo sinh nghiên cứu điều kiện này, và liên kết ý niệm về ba tầng cánh hoa trong hoa sen mười hai cánh, y có thể tìm thấy sự soi sáng. Ở giai đoạn này không thể cho thêm gì hơn nữa.

It is only when the etheric centres—the two head centres and the heart centre—are fully active with their twelve petals completely unfolded that the central circle of petals in the egoic lotus (the fourth or inner circle) unfolds. The significance of the four circles in the egoic lotus, and the eight circles of twelve petals each in the etheric lotuses on the mental plane is of great importance.

Chỉ khi các trung tâm dĩ thái—hai trung tâm đầu và trung tâm tim—hoạt động hoàn toàn với mười hai cánh hoa của chúng được khai mở trọn vẹn thì vòng cánh hoa trung tâm trong Hoa Sen Chân Ngã (vòng thứ tư hay vòng bên trong) mới khai mở. Ý nghĩa của bốn vòng trong Hoa Sen Chân Ngã, và tám vòng mỗi vòng mười hai cánh trong các hoa sen dĩ thái trên cõi trí là vô cùng quan trọng.

The centres with which man has to deal are necessarily five at this stage owing to the following facts, which must be studied if a man desires to awaken his centres according to plan, and if he wishes safely to follow along the line of the true psychic unfoldment:

Ở giai đoạn này, các trung tâm mà con người phải xử lý tất yếu là năm do các sự kiện sau đây, những sự kiện phải được nghiên cứu nếu một người muốn đánh thức các trung tâm của mình theo đúng Thiên Cơ, và nếu y muốn an toàn đi theo con đường của sự khai mở thông linh chân chính:

The fact that the energy starts from the fifth plane, the mental, where man is concerned,

Sự kiện rằng năng lượng khởi đi từ cõi thứ năm, cõi trí, xét về con người,

The fact that it is through the agency of the fifth principle that man can consciously work at his own unfoldment,

Sự kiện rằng chính qua tác nhân của nguyên khí thứ năm mà con người có thể hữu thức làm việc cho sự khai mở của chính mình,

The fact that the path of evolution is for man a fivefold one, covering the five planes of human unfoldment; and is divided into five stages as regards the Ego,

Sự kiện rằng con đường tiến hoá đối với con người là một con đường ngũ phân, bao trùm năm cõi của sự khai mở nhân loại; và được chia thành năm giai đoạn xét về chân ngã,

The fact that although this is the second solar system from the standpoint of the egoic cycles of the Logos, [Page 861] or His second major egoic cycle, yet it is the fifth when viewed from another angle, that of the lesser cycles. It corresponds to the fifth period in human evolution, that in which man treads the Path. The Logos is now treading the cosmic Path.

Sự kiện rằng mặc dù đây là hệ mặt trời thứ hai xét từ quan điểm các chu kỳ chân ngã của Hành Tinh Thượng đế, [Page 861] hay chu kỳ chân ngã lớn thứ hai của Ngài, nhưng lại là chu kỳ thứ năm khi được nhìn từ một góc độ khác, tức góc độ của các chu kỳ nhỏ hơn. Nó tương ứng với thời kỳ thứ năm trong tiến hoá nhân loại, thời kỳ mà con người bước đi trên Con Đường. Hiện nay Hành Tinh Thượng đế đang bước đi trên Con Đường vũ trụ.

The fact that the fifth spirilla is in process of awakening. This has to be effected before the interplay of energy between the egoic lotus and the etheric centres becomes so powerful as to awaken man’s physical brain, and cause him to become aware of the inner currents. This takes place usually when the fifth petal is organised.

Sự kiện rằng loa tuyến thứ năm đang trong tiến trình được đánh thức. Điều này phải được thực hiện trước khi sự tương tác năng lượng giữa Hoa Sen Chân Ngã và các trung tâm dĩ thái trở nên mạnh mẽ đến mức đánh thức bộ não hồng trần của con người, và khiến y nhận biết các dòng chảy bên trong. Điều này thường xảy ra khi cánh hoa thứ năm được tổ chức.

This whole question can also be viewed in a larger manner from the standpoint of the five Kumaras. It must be remembered that the aggregate of the etheric centres of any particular group of men form the force centres or minute “energy units” in the larger petals of their group centre. These again form petals in some particular planetary centre, and the aggregate of these petals form those larger centres of energy which we call “planetary centres.” These in their turn form centres of force for the Logos.

Toàn bộ vấn đề này cũng có thể được nhìn theo cách rộng lớn hơn từ quan điểm của năm Kumaras. Phải nhớ rằng tổng thể các trung tâm dĩ thái của bất kỳ nhóm người riêng biệt nào tạo thành các trung tâm mãnh lực hay những “đơn vị năng lượng” nhỏ bé trong các cánh hoa lớn hơn của trung tâm nhóm của họ. Đến lượt mình, những cánh hoa này lại tạo thành các cánh hoa trong một trung tâm hành tinh đặc biệt nào đó, và tổng thể các cánh hoa này tạo thành những trung tâm năng lượng lớn hơn mà chúng ta gọi là “các trung tâm hành tinh.” Đến lượt chúng, các trung tâm này tạo thành các trung tâm mãnh lực cho Hành Tinh Thượng đế.

Yet the mystery in connection with this is so profound that unless the student carefully guards himself from too mathematical and material a concept, he will go astray. The etheric centres of man are not on the same plane as the etheric centres of a planetary Logos. His centres are on the plane of the fourth cosmic ether, the systemic buddhic plane, and it is only when man has taken the final initiation that his energy becomes incorporated into that of the planetary centre on its own plane. The etheric centres of the planetary Logos are transmitters and transmuters of force, and bear the same relation to Him as do the physical centres to a human being. All the dense physical centres, such as the mouth, for instance, [Page 862] are transmitters of some type of energy arising in the human brain or will.

Tuy nhiên, huyền nhiệm liên quan đến điều này sâu xa đến mức nếu đạo sinh không cẩn thận tự bảo vệ mình khỏi một quan niệm quá toán học và vật chất, y sẽ lạc đường. Các trung tâm dĩ thái của con người không ở trên cùng một cõi với các trung tâm dĩ thái của một Hành Tinh Thượng đế. Các trung tâm của Ngài ở trên cõi của dĩ thái vũ trụ thứ tư, tức cõi Bồ đề của hệ, và chỉ khi con người đã nhận lần điểm đạo cuối cùng thì năng lượng của y mới được sáp nhập vào năng lượng của trung tâm hành tinh trên chính cõi của nó. Các trung tâm dĩ thái của Hành Tinh Thượng đế là những bộ truyền dẫn và chuyển hoá mãnh lực, và có cùng mối liên hệ với Ngài như các trung tâm hồng trần đối với một con người. Tất cả các trung tâm hồng trần đậm đặc, chẳng hạn như miệng, [Page 862] đều là những bộ truyền dẫn một loại năng lượng nào đó phát sinh trong bộ não hay ý chí của con người.

The understanding of force, of force transmission, and of the effects of liberated force upon the higher planes is the secret of occult knowledge. Force or energy flows in from the Ego. It works through the etheric centres and produces results on the three planes, varying according to the age of the soul. As yet, through lack of alignment, this egoic force does not reach the physical brain as fully as it later will, but it does reach the astral centres, and is frequently the cause of much of that lack of emotional control everywhere to be seen. The astral substance is as yet insufficiently organised, and when aroused by egoic energy moves violently. Astral substance is played upon by two counter streams of force: first, the egoic, and secondly, that vibration set up through countless ages on the physical plane, which is latent in substance itself, and is the result of an earlier solar system. This it is which produces the violent action and reaction to be seen in every life.

Sự thấu hiểu về mãnh lực, về sự truyền dẫn mãnh lực, và về các hiệu quả của mãnh lực được giải phóng trên các cõi cao hơn là bí mật của tri thức huyền bí. Mãnh lực hay năng lượng tuôn vào từ chân ngã. Nó hoạt động qua các trung tâm dĩ thái và tạo ra các kết quả trên ba cõi, thay đổi tùy theo tuổi của linh hồn. Hiện nay, do thiếu sự chỉnh hợp, mãnh lực chân ngã này chưa đạt đến bộ não hồng trần đầy đủ như về sau nó sẽ đạt, nhưng nó có đạt đến các trung tâm cảm dục, và thường là nguyên nhân của phần lớn sự thiếu kiểm soát cảm xúc có thể thấy ở khắp nơi. Chất liệu cảm dục hiện vẫn chưa được tổ chức đầy đủ, và khi bị năng lượng chân ngã khơi động thì chuyển động dữ dội. Chất liệu cảm dục chịu tác động của hai dòng mãnh lực đối nghịch: thứ nhất là chân ngã, và thứ hai là rung động được thiết lập qua vô số thời đại trên cõi hồng trần, vốn tiềm ẩn trong chính chất liệu, và là kết quả của một hệ mặt trời trước. Chính điều này tạo ra hành động và phản ứng dữ dội có thể thấy trong mọi đời sống.

It is not possible to give more data concerning the unfoldment of the petals and their connection with the etheric centres. Three hints of practical import anent this stupendous subject may however be given which, if duly pondered upon, may carry illumination to those who are ready.

Không thể cung cấp thêm dữ liệu nào nữa liên quan đến sự khai mở của các cánh hoa và mối liên hệ của chúng với các trung tâm dĩ thái. Tuy nhiên, có thể đưa ra ba gợi ý có tầm quan trọng thực tiễn liên quan đến chủ đề đồ sộ này; nếu được suy gẫm đúng mức, chúng có thể mang lại sự soi sáng cho những ai đã sẵn sàng.

The first is that the etheric centres become active in a fourth dimensional sense (or become wheels turning upon themselves) when the aspirant has complied with certain details.

Điều thứ nhất là các trung tâm dĩ thái trở nên hoạt động theo ý nghĩa chiều thứ tư (hay trở thành những bánh xe tự xoay trên chính mình) khi người chí nguyện đã tuân thủ một số chi tiết nhất định.

He must work upon the unfoldment of the fifth and sixth petals, or the final two in the second circle and must endeavour to bring about two things in connection with his threefold lower nature: [Page 863]

Y phải làm việc trên sự khai mở của cánh hoa thứ năm và thứ sáu, hay hai cánh cuối cùng trong vòng thứ hai, và phải nỗ lực mang lại hai điều liên quan đến bản chất thấp tam phân của mình: [Page 863]

a. He must align his three bodies so that there is a direct channel of contact formed between the Ego and the physical brain.

a. Y phải chỉnh hợp ba thể của mình sao cho một kênh tiếp xúc trực tiếp được hình thành giữa Chân ngã và bộ não hồng trần.

b. He must strive to bring about a stabilisation of both the astral body and the mind, and must aim at that emotional equilibrium which is produced by the conscious “balancing of forces.”

b. Y phải cố gắng mang lại sự ổn định cho cả thể cảm dục lẫn trí tuệ, và phải nhắm đến sự quân bình cảm xúc được tạo ra bởi việc “cân bằng các mãnh lực” một cách hữu thức.

He must study the laws of transmutation and be a student of that divine alchemy which will result in a knowledge of how to transmute the lower force into the higher, of how to transfer his consciousness into the higher vehicles, and of how to manipulate energy currents so that his own nature is transformed. He will then become a channel for the light of the Ego, and for the illumination of buddhi to pour through for the saving of the race, and the lighting of those who stumble in dark places. He must demonstrate the laws of radioactivity in his own life on the physical plane. His life must begin to radiate, and to have a magnetic effect upon others. By this I mean he will begin to influence that which is imprisoned in others, for he will reach—through his own powerful vibrations—the hidden centre in each one. I do not mean by this the physical or magnetic effect that many quite unevolved souls have upon others. I refer to that spiritual radiation that is only responded to and realised by those who themselves are becoming aware of the spiritual centre within the heart. At this stage the man is recognised as one who can speak occultly “heart to heart.” He becomes a stimulator of the heart centre in his brother, and one who arouses men into activity for others.

Y phải nghiên cứu các định luật chuyển hoá và là một môn sinh của thuật luyện kim thiêng liêng ấy, vốn sẽ dẫn đến tri thức về cách chuyển hoá lực thấp thành lực cao, về cách chuyển dịch tâm thức của mình vào các vận cụ cao hơn, và về cách vận dụng các dòng năng lượng sao cho chính bản chất của y được chuyển đổi. Khi đó y sẽ trở thành một kênh cho ánh sáng của Chân ngã, và cho sự soi sáng của Bồ đề tuôn qua để cứu rỗi nhân loại, và soi sáng những ai đang vấp ngã trong nơi tối tăm. Y phải biểu lộ các định luật phóng xạ trong chính đời sống của mình trên cõi hồng trần. Đời sống của y phải bắt đầu toả chiếu, và có một hiệu ứng từ tính đối với người khác. Bởi điều này tôi muốn nói rằng y sẽ bắt đầu ảnh hưởng đến điều đang bị giam hãm trong người khác, vì y sẽ chạm tới—qua các rung động mạnh mẽ của chính mình—trung tâm ẩn kín trong mỗi người. Tôi không muốn nói đến hiệu ứng hồng trần hay từ tính mà nhiều linh hồn còn khá chưa tiến hoá tạo ra nơi người khác. Tôi nói đến sự bức xạ tinh thần chỉ được đáp ứng và chứng nghiệm bởi những ai chính họ cũng đang bắt đầu nhận biết trung tâm tinh thần bên trong tim. Ở giai đoạn này con người được nhìn nhận là người có thể nói một cách huyền bí “tim với tim.” Y trở thành kẻ kích thích trung tâm tim nơi huynh đệ mình, và là người khơi dậy con người hoạt động vì người khác.

The second hint is that as the aspirant becomes progressively radioactive, and as the energy of the inner God demonstrates more and more through the lower personality, the “heat radiations” become so powerful that very definite results are produced of a personal, and also [Page 864] of an environal, nature. A few of these results might be enumerated as follows:

Điều gợi ý thứ hai là khi người chí nguyện dần dần trở nên có tính phóng xạ, và khi năng lượng của Thượng đế nội tại biểu lộ ngày càng nhiều qua phàm ngã thấp, thì các “bức xạ nhiệt” trở nên mạnh mẽ đến mức tạo ra những kết quả rất rõ rệt có tính cách cá nhân, và cũng có tính cách [Page 864] môi trường xung quanh. Có thể liệt kê một vài kết quả ấy như sau:

The etheric web, separating the lower physical consciousness of the brain from the astral plane begins to undergo a lengthy process of destruction, and the first “rents” in the web occur. It is through these that the student becomes aware of the inner planes, becomes conscious in the physical brain of the inner happenings, and can (if a disciple) make his contacts with his Ego and (via that ego) with his Guru. (spiritual teacher) This marks a very important development.

Mạng lưới dĩ thái, vốn ngăn cách tâm thức hồng trần thấp của bộ não với cõi cảm dục, bắt đầu trải qua một tiến trình huỷ diệt kéo dài, và những “vết rách” đầu tiên trong mạng lưới xuất hiện. Chính qua những vết rách này mà đạo sinh trở nên nhận biết các cõi bên trong, trở nên hữu thức trong bộ não hồng trần về những diễn biến nội tại, và có thể (nếu là một đệ tử) tạo các tiếp xúc của mình với Chân ngã và (qua chân ngã ấy) với Guru của mình. (huấn sư tinh thần) Điều này đánh dấu một sự phát triển rất quan trọng.

The higher head centre increases its activity and becomes capable of receiving flashes of illumination from the higher planes. This happens only occasionally at first but with increasing frequency as the years progress, and the “rents” become more numerous.

Trung tâm đầu cao hơn gia tăng hoạt động và trở nên có khả năng tiếp nhận những tia chớp soi sáng từ các cõi cao. Lúc đầu điều này chỉ xảy ra thỉnh thoảng nhưng với tần suất ngày càng tăng theo năm tháng, và các “vết rách” trở nên nhiều hơn.

The various triangles become vivified and proceed to increased activity in due geometrical progression, whilst the centre between the shoulder blades, the converging point for certain fires, becomes active. This marks a definite stage in the process of transferring the fires into the higher centres. Roughly speaking, this period of the transference of the heat or energy of the lower centres into the higher may be divided into two parts: first, that in which the centres in the lower part of the body (those below the diaphragm) are transferred into the centres in the higher part of the torso. These centres in the torso are three in number, the heart, the throat, and the centre between the shoulder blades. We must here note that the throat centre is situated in the lower part of the throat, and properly belongs to the torso and not to the head. It should also be stated here that the centre between the shoulder blades is not a “sacred” centre, but is of a temporary nature, and is created by the aspirant himself during the process of transference.

Các tam giác khác nhau được tiếp sinh lực và tiến tới hoạt động gia tăng theo cấp số hình học thích hợp, trong khi trung tâm giữa hai bả vai, điểm hội tụ của một số loại lửa, trở nên hoạt động. Điều này đánh dấu một giai đoạn xác định trong tiến trình chuyển các loại lửa vào các trung tâm cao hơn. Nói đại khái, thời kỳ chuyển nhiệt hay năng lượng của các trung tâm thấp vào các trung tâm cao có thể được chia thành hai phần: thứ nhất, phần trong đó các trung tâm ở phần dưới của cơ thể (những trung tâm dưới cơ hoành) được chuyển vào các trung tâm ở phần trên của thân mình. Các trung tâm này trong thân mình có ba trung tâm, là tim, cổ họng, và trung tâm giữa hai bả vai. Ở đây chúng ta phải lưu ý rằng trung tâm cổ họng nằm ở phần dưới của cổ họng, và đúng ra thuộc về thân mình chứ không thuộc về đầu. Cũng cần nói thêm ở đây rằng trung tâm giữa hai bả vai không phải là một trung tâm “thiêng liêng”, mà có tính chất tạm thời, và được chính người chí nguyện tạo ra trong tiến trình chuyển dịch.

[Page 865] The second stage is that in which the energy of the lower six centres:

[Page 865] Giai đoạn thứ hai là giai đoạn trong đó năng lượng của sáu trung tâm thấp:

a. The throat,

a. Trung tâm cổ họng,

b. The heart,

b. Trung tâm tim,

c. The solar plexus,

c. Tùng thái dương,

d. The spleen,

d. Luân xa lá lách,

e. The organs of generation,

e. Các cơ quan sinh sản,

f. The base of the spine,

f. Đáy cột sống,

are—in due order according to a man’s ray and subray—transferred into the correspondences within the head centre. These seven head centres are the reflection in the microcosm of those “mansions prepared in the Heavens” which receive the sevenfold energy of the monad. These are the chambers prepared by the lower energy which are to be the recipients of “soul or the higher psychic energy.”

được—theo đúng thứ tự tùy theo cung và cung phụ của một người—chuyển vào các đối phần bên trong trung tâm đầu. Bảy trung tâm đầu này là sự phản chiếu trong tiểu thiên địa của những “nơi cư ngụ đã được chuẩn bị trên Thiên giới” tiếp nhận năng lượng thất phân của chân thần. Đây là những buồng được năng lượng thấp chuẩn bị để trở thành những nơi tiếp nhận “linh hồn hay năng lượng thông linh cao hơn.”

The final hint which can be given, may be summed up in the words that as the aspirant progresses, (275) he not only balances the pairs of opposites, but the secret of his brother’s heart becomes revealed to him. He becomes an acknowledged force in the world, and is recognised as one who can be depended upon to serve. Men turn to him for assistance and help along his recognised line, and he begins to sound forth his note so as to be heard not only in human but in deva ranks as well. This he does, at [Page 866] this stage, through the pen in literature, through the spoken word in lecturing and teaching, through music, painting and art. He reaches the hearts of men in some way or another, and becomes a helper and server of his race.

Điều gợi ý cuối cùng có thể được đưa ra có thể được tóm lại trong lời rằng khi người chí nguyện tiến bộ, (275) y không những quân bình các cặp đối nghịch, mà bí mật của trái tim huynh đệ mình cũng được mặc khải cho y. Y trở thành một mãnh lực được thừa nhận trong thế giới, và được nhìn nhận là người có thể được tin cậy để phụng sự. Con người tìm đến y để xin trợ giúp và hỗ trợ theo đường lối đã được công nhận của y, và y bắt đầu xướng lên âm điệu của mình để được nghe thấy không chỉ trong hàng ngũ nhân loại mà cả trong hàng ngũ thiên thần nữa. Ở giai đoạn này, y làm điều đó qua ngòi bút trong văn chương, qua lời nói trong diễn giảng và giảng dạy, qua âm nhạc, hội hoạ [Page 866] và nghệ thuật. Bằng cách này hay cách khác y chạm tới trái tim con người, và trở thành một người trợ giúp và phụng sự cho nhân loại của mình.

(275) Aspirant.

(275) Người chí nguyện.

“The practices which make for union with the Soul are: fervent aspiration, spiritual reading, and complete obedience to the Master.

“Những thực hành dẫn đến sự hợp nhất với linh hồn là: khát vọng nhiệt thành, đọc sách tinh thần, và hoàn toàn vâng phục Chân sư.

The word which I have rendered “fervent aspiration” means primarily “fire”; and, in the Eastern teaching, it means the fire which gives life and light, and at the same time the fire which purifies. We have, therefore, as our first practice, as the first of the means of spiritual growth, that fiery quality of the will which enkindles and illumines, and, at the same time, the steady practice of purification, the burning away of all known impurities.”

Từ mà tôi đã dịch là “khát vọng nhiệt thành” trước hết có nghĩa là “lửa”; và trong giáo huấn Đông phương, nó có nghĩa là ngọn lửa ban sự sống và ánh sáng, đồng thời cũng là ngọn lửa thanh lọc. Vì vậy, thực hành đầu tiên của chúng ta, phương tiện đầu tiên của sự tăng trưởng tinh thần, là phẩm tính rực lửa của ý chí vừa nhóm lên vừa soi sáng, đồng thời là sự thực hành thanh lọc bền bỉ, thiêu đốt đi mọi ô uế đã biết.”

“Their aim is, to bring soul-vision, and to wear away hindrances.”

“Mục tiêu của chúng là mang lại linh thị của linh hồn, và làm mòn đi các chướng ngại.”

“The Rules are these: purity, serenity, fervent aspiration, spiritual reading, and perfect obedience to the Master.”

“Các quy luật là đây: thanh khiết, tĩnh lặng, khát vọng nhiệt thành, đọc sách tinh thần, và vâng phục hoàn hảo đối với Chân sư.”

“The perfection of the powers of the bodily vesture comes through the wearing away of impurities, and through fervent aspiration.”—Yoga Sutras of Patanjali, Book II, 1, 2, 32, 43 (C. Johnston’s Edition). (back)

“Sự hoàn thiện các quyền năng của chiếc áo thể xác đến qua việc làm mòn đi các ô uế, và qua khát vọng nhiệt thành.”—Yoga Sutras of Patanjali, Quyển II, 1, 2, 32, 43 (Bản của C. Johnston). (back)

Two more characteristics of this stage might here be enumerated.

Có thể kể thêm ở đây hai đặc tính nữa của giai đoạn này.

The aspirant has an appreciation of the occult value of money in service. He seeks nothing for himself, save that which may equip him for the work to be done, and he looks upon money, and that which money can purchase, as something which is to be used for others and a means to bring about the fruition of the Master’s plans as he senses those plans. The occult significance of money is little appreciated, yet one of the greatest tests as to the position of a man upon the probationary path is that which concerns his attitude to and his handling of that which all men seek in order to gratify desire. Only he who desires naught for himself can be a recipient of financial bounty, and a dispenser of the riches of the universe. In other cases where riches increase, they bring with them naught but sorrow and distress, discontent and misuse.

Người chí nguyện có sự đánh giá đúng về giá trị huyền bí của tiền bạc trong phụng sự. Y không tìm kiếm gì cho mình, ngoại trừ điều có thể trang bị cho y đối với công việc cần làm, và y xem tiền bạc, cùng những gì tiền bạc có thể mua được, như một cái gì phải được dùng cho người khác và như một phương tiện để làm cho các kế hoạch của Chân sư được thành tựu theo như y cảm nhận các kế hoạch ấy. Ý nghĩa huyền bí của tiền bạc ít được đánh giá đúng, tuy nhiên một trong những thử thách lớn nhất về vị trí của một người trên Con Đường Dự Bị là điều liên quan đến thái độ của y đối với và cách y xử lý cái mà mọi người đều tìm kiếm để thoả mãn dục vọng. Chỉ người nào không mong cầu gì cho mình mới có thể là người tiếp nhận sự dồi dào tài chính, và là người phân phát các phong phú của vũ trụ. Trong những trường hợp khác, khi của cải gia tăng, chúng không mang theo gì ngoài buồn khổ và đau đớn, bất mãn và lạm dụng.

At this stage also the aspirant’s life becomes an “instrument of destruction” in the occult sense of the term. Wherever he goes the force which flows through him from the higher planes, and from his own inner God, produces at times peculiar results upon his environment. It acts as a stimulator of both the good and the evil. The lunar Pitris who form the bodies of his brothers and his own body are likewise stimulated, their activity is increased, and their power greatly aggravated. This fact is used by Those Who work on the inner side to bring about certain desired ends. This it is also which oft times temporarily causes the downfall of advanced souls. They cannot stand the force pouring into them, or upon them, [Page 867] and through the temporary over-stimulation of their centres and vehicles they go astray. This can be seen working out in groups as well as in individuals. But, inversely, if the lunar Lords of the lower self have been earlier subjugated and brought under control, then the effect of the force and energy contacted is to stimulate the response of the physical brain consciousness and the head centres to egoic contact. Then the otherwise destructive force becomes a factor for good and helpful stimulation, and can be used by Those Who know how, to lead men on to further illumination.

Ở giai đoạn này nữa, đời sống của người chí nguyện trở thành một “khí cụ huỷ diệt” theo ý nghĩa huyền bí của thuật ngữ này. Bất cứ nơi nào y đi, mãnh lực tuôn qua y từ các cõi cao hơn, và từ Thượng đế nội tại của chính y, đôi khi tạo ra những kết quả kỳ lạ nơi môi trường xung quanh. Nó hoạt động như một yếu tố kích thích cả điều thiện lẫn điều ác. Các thái âm tổ phụ tạo nên các thể của các huynh đệ y và thể của chính y cũng được kích thích, hoạt động của họ gia tăng, và quyền năng của họ bị làm cho trầm trọng thêm rất nhiều. Sự kiện này được Những Đấng hoạt động ở mặt bên trong sử dụng để mang lại một số cứu cánh mong muốn. Chính điều này cũng thường tạm thời gây ra sự sa ngã của các linh hồn tiến hoá cao. Họ không thể chịu nổi mãnh lực đang tuôn vào họ, hay đổ xuống trên họ, [Page 867] và qua sự kích thích quá mức tạm thời của các trung tâm và các vận cụ, họ đi lạc đường. Có thể thấy điều này diễn ra trong các nhóm cũng như nơi các cá nhân. Nhưng ngược lại, nếu các nguyệt tinh quân của phàm ngã đã được chế ngự từ trước và được đặt dưới sự kiểm soát, thì hiệu ứng của mãnh lực và năng lượng được tiếp xúc là kích thích sự đáp ứng của tâm thức bộ não hồng trần và các trung tâm đầu đối với tiếp xúc chân ngã. Khi đó mãnh lực vốn nếu không sẽ có tính huỷ diệt lại trở thành một yếu tố thiện lành và kích thích hữu ích, và có thể được Những Đấng biết cách sử dụng để dẫn dắt con người đến sự soi sáng thêm nữa.

All these stages have to work out on all the three lower planes and in the three bodies; this they do according to the particular Ray and subray. In this fashion the work of the disciple is carried forward, and his testing and training carried out until the two circles of petals are unfolded, and the third is organised. Thus he is brought, through right direction of energy and wise manipulation of force currents, to the Portal of Initiation, and graduates out of the Hall of Learning (276) into the great Hall of Wisdom—that Hall wherein he gradually becomes “aware” of forces, and powers, latent in his own Ego and egoic group. It is the Hall wherein he gains the right to use the force of the egoic group, for he can now be trusted to wield it only for the helping of humanity. After the fourth Initiation, he becomes a sharer in, and can be trusted with some part of the energy of the planetary Logos and thus be enabled to carry forward the plans of that Logos for evolution.

Tất cả các giai đoạn này phải được triển khai trên cả ba cõi thấp và trong ba thể; điều này diễn ra tùy theo cung và cung phụ đặc thù. Theo cách này công việc của đệ tử được tiếp tục, và sự thử luyện cùng huấn luyện của y được thực hiện cho đến khi hai vòng cánh hoa được khai mở, và vòng thứ ba được tổ chức. Như vậy y được đưa đến, qua sự định hướng đúng đắn của năng lượng và sự vận dụng khôn ngoan các dòng mãnh lực, Cửa Điểm Đạo, và tốt nghiệp ra khỏi Phòng Học Hỏi (276) để vào Phòng Minh triết vĩ đại—Phòng mà trong đó y dần dần trở nên “nhận biết” các mãnh lực và quyền năng tiềm ẩn trong chính Chân ngã và nhóm chân ngã của mình. Đó là Phòng trong đó y đạt được quyền sử dụng mãnh lực của nhóm chân ngã, vì giờ đây y có thể được tin cậy chỉ vận dụng nó để giúp đỡ nhân loại. Sau lần điểm đạo thứ tư, y trở thành người cùng chia sẻ một phần năng lượng của Hành Tinh Thượng đế và có thể được tin cậy giao phó một phần năng lượng ấy, nhờ đó có khả năng xúc tiến các kế hoạch của Hành Tinh Thượng đế ấy cho tiến hoá.

(276) The three Halls through which the soul of man must progress are spoken of in The Voice of the Silence, pp. 19, 20.

(276) Ba Phòng mà linh hồn con người phải đi qua được nói đến trong Tiếng Nói của Im Lặng, tr. 19, 20.

1st Hall... Hall of Ignorance... infant humanity... Physical plane.

Phòng thứ 1... Phòng Vô Minh... nhân loại ấu trĩ... cõi hồng trần.

2nd Hall... Hall of Learning... average man......astral plane.

Phòng thứ 2... Phòng Học Hỏi... người trung bình......cõi cảm dục.

3rd Hall... Hall of Wisdom.... spiritual man..... mental plane.

Phòng thứ 3... Phòng Minh triết.... con người tinh thần..... cõi trí.

The longest time is spent in the Hall of Ignorance. The later period in the Hall of Learning is called the Probationary Path. In the Hall of Wisdom the Initiate approaches the central mystery of Being. (back)

Thời gian dài nhất được trải qua trong Phòng Vô Minh. Thời kỳ sau trong Phòng Học Hỏi được gọi là Con Đường Dự Bị. Trong Phòng Minh triết, điểm đạo đồ tiến gần đến huyền nhiệm trung tâm của Bản Thể. (back)

[Page 868] (e.) Initiation and the Petals. In considering the connection of the petals and their unfoldment through initiation, there is little which it is permissible to give out at this time for the information of the general public. All that is possible is to give certain statements, containing:

[Page 868] (e.) Điểm đạo và các cánh hoa. Khi xem xét mối liên hệ của các cánh hoa và sự khai mở của chúng qua điểm đạo, có rất ít điều hiện nay được phép công bố để cung cấp cho công chúng nói chung. Tất cả những gì có thể làm là đưa ra một số phát biểu, bao gồm:

a. Hints as to the right direction of the energy,

a. Những gợi ý về sự định hướng đúng đắn của năng lượng,

b. Suggestions as to the basic mysteries which man has to solve,

b. Những chỉ dẫn về các huyền nhiệm căn bản mà con người phải giải quyết,

c. Indications as to certain correspondences,

c. Những chỉ dấu về một số tương ứng,

d. Practical points for constructive thinking.

d. Những điểm thực tiễn cho tư duy kiến tạo.

Students must remember that the aim of all truly occult teachers is not to give information but to train their pupils in the use of thought energy. It will therefore be apparent why this method of instruction is the one invariably used. It is the method which involves the dropping of a hint on the part of the Teacher, and the correlation perhaps of certain correspondences, coupled with a suggestion as to the sources of light. It involves, on the part of the pupil, the following recognitions:

Các đạo sinh phải nhớ rằng mục tiêu của mọi huấn sư huyền bí chân chính không phải là cung cấp thông tin mà là huấn luyện học trò của mình trong việc sử dụng năng lượng tư tưởng. Vì vậy, sẽ rõ tại sao phương pháp giảng dạy này là phương pháp luôn luôn được dùng. Đó là phương pháp bao gồm việc huấn sư đưa ra một gợi ý, và có lẽ liên kết một số tương ứng nào đó, cùng với một chỉ dẫn về các nguồn ánh sáng. Về phần học trò, nó bao gồm những nhận thức sau đây:

a. That the hint may be worth following.

a. Rằng gợi ý ấy có thể đáng để theo đuổi.

b. That meditation is the pathway to the source of light, and that the hint dropped is the “seed” for meditation.

b. Rằng tham thiền là con đường dẫn đến nguồn ánh sáng, và rằng gợi ý được đưa ra là “hạt giống” cho tham thiền.

c. That facts, ill-assorted and uncorrelated, are menaces to knowledge and no help.

c. Rằng các sự kiện, nếu lộn xộn và không tương liên, là mối đe doạ đối với tri thức và không giúp ích gì.

d. That every aspect of truth, progressively grasped, has to be assimilated, and welded into the experience of the student.

d. Rằng mọi phương diện của chân lý, khi được nắm bắt dần dần, đều phải được đồng hoá và hàn gắn vào kinh nghiệm của đạo sinh.

e. That unless the correspondences agree in an atomic, personal, planetary and cosmic fashion, they are not to be trusted.

e. Rằng trừ phi các tương ứng phù hợp theo cách nguyên tử, cá nhân, hành tinh và vũ trụ, chúng không đáng được tin cậy.

f. That much information is withheld until the student is a disciple, and still more until he is a pledged initiate. The reason for this is to be found in the [Page 869] fact that all knowledge concerns energy, its application, and its use or misuse.

f. Rằng nhiều thông tin bị giữ lại cho đến khi đạo sinh là một đệ tử, và còn nhiều hơn nữa cho đến khi y là một điểm đạo đồ đã tuyên thệ. Lý do của điều này nằm trong sự kiện rằng mọi tri thức đều liên quan đến năng lượng, sự áp dụng của nó, và việc sử dụng hay lạm dụng nó.[Page 869]

Let us now continue with our consideration of the petals and Initiation.

Giờ đây chúng ta hãy tiếp tục việc xem xét các cánh hoa và điểm đạo.

Each of the three circles of lotus petals is closely connected with one of the three Halls. This has been earlier referred to. Much of the work connected with the first tier of petals is part of the experience in the Hall of Ignorance. The act of organising and preparing for unfoldment is the most important stage, and that with which man is the most concerned. The act of petal opening is of briefer duration, and is produced by the pouring in of solar heat or fire, and thus bringing about a fresh access of energy. This is produced in our earth scheme through the co-operation of the Mahachohan, of the Chohan of a man’s egoic group, and the particular Ego concerned.

Mỗi một trong ba vòng cánh hoa sen liên hệ mật thiết với một trong ba Phòng. Điều này đã được đề cập trước đây. Phần lớn công việc liên quan đến tầng cánh hoa thứ nhất là một phần của kinh nghiệm trong Phòng Vô Minh. Hành động tổ chức và chuẩn bị cho sự khai mở là giai đoạn quan trọng nhất, và là điều mà con người quan tâm nhiều nhất. Hành động mở cánh hoa có thời gian ngắn hơn, và được tạo ra bởi sự tuôn vào của nhiệt hay lửa thái dương, nhờ đó mang lại một sự gia tăng năng lượng mới. Trong hệ hành tinh địa cầu của chúng ta, điều này được tạo ra qua sự hợp tác của Đức Mahachohan, của Chohan của nhóm chân ngã của một người, và của Chân ngã liên hệ.

The following tabulation may be found helpful:

Bảng tóm lược sau đây có thể hữu ích:

I. Knowledge Petals. First circle.

I. Cánh hoa tri thức. Vòng thứ nhất.

a. Organised in the Hall of Ignorance.

a. Được tổ chức trong Phòng Vô Minh.

b. Guided by the force and energy of the Mahachohan.

b. Được hướng dẫn bởi mãnh lực và năng lượng của Đức Mahachohan.

c. The third group of solar Pitris affected.

c. Nhóm thái dương tổ phụ thứ ba bị tác động.

II. Love Petals. Second circle.

II. Cánh hoa bác ái. Vòng thứ hai.

a. Organised in the Hall of Learning.

a. Được tổ chức trong Phòng Học Hỏi.

b. Guided by the force of the Bodhisattva.

b. Được hướng dẫn bởi mãnh lực của Đức Bồ Tát.

c. The second group of solar Lords affected.

c. Nhóm nhật tinh quân thứ hai bị tác động.

III. Will or Sacrifice Petals. Third circle.

III. Cánh hoa ý chí hay hi sinh. Vòng thứ ba.

a. Organised in the Hall of Wisdom.

a. Được tổ chức trong Phòng Minh triết.

b. Guided by the force and energy of the Manu.

b. Được hướng dẫn bởi mãnh lực và năng lượng của Đức Manu.

c. The first group of solar Angels affected.

c. Nhóm Thái dương Thiên Thần thứ nhất bị tác động.

At the stage which we are considering (that of the organisation and unfoldment of the first tier of petals), the egoic influence felt at the beginning is but small, but when the three petals become sufficiently active and alive through the energy accumulated and stored up in the [Page 870] ego during the activities of the personal life, a form of initiation then takes place which is a reflection (on a lower plane) of the great manasic initiations. The energy in the outer circle of petals causes it to spring apart from the next circle, and to unfold. This threefold energy becomes interactive and a very definite stage is thus reached. This series of initiations is seldom recognised within the physical brain consciousness owing to the relatively inchoate stage of the bodies, and the unresponsiveness of the brain matter. Yet they are nevertheless initiations of a definite though less important character, and they involve primarily the display (within the personal life of the man) of an intelligent recognition of his group relationships on earth. This recognition is frequently selfish in character, as, for instance, that which the union worker displays, but it is indicative of group interplay.

Ở giai đoạn mà chúng ta đang xem xét (giai đoạn tổ chức và khai mở tầng cánh hoa thứ nhất), ảnh hưởng chân ngã được cảm nhận lúc ban đầu chỉ rất nhỏ, nhưng khi ba cánh hoa trở nên đủ hoạt động và sống động nhờ năng lượng được tích luỹ và chứa đựng trong [Page 870]chân ngã trong suốt các hoạt động của đời sống cá nhân, thì một hình thức điểm đạo diễn ra, là sự phản chiếu (trên một cõi thấp hơn) của các cuộc điểm đạo manas vĩ đại. Năng lượng trong vòng cánh hoa ngoài cùng khiến nó bung ra khỏi vòng kế tiếp và khai mở. Năng lượng tam phân này trở nên tương tác, và như vậy một giai đoạn rất xác định được đạt tới. Loạt điểm đạo này hiếm khi được nhận biết trong tâm thức bộ não hồng trần do giai đoạn còn tương đối chưa định hình của các thể, và sự không đáp ứng của chất liệu não. Tuy nhiên, chúng vẫn là những cuộc điểm đạo có tính chất xác định dù kém quan trọng hơn, và trước hết bao hàm sự biểu lộ (trong đời sống cá nhân của con người) một sự nhận biết thông minh về các liên hệ nhóm của y trên địa cầu. Sự nhận biết này thường có tính ích kỷ, chẳng hạn như điều mà người hoạt động công đoàn biểu lộ, nhưng nó cho thấy có sự tương tác nhóm.

A similar process takes place when the second circle of petals is organised and ready for unfoldment. This time the World Teacher, the Master and the Ego concerned are co-operating, for these smaller initiations deal with the love nature, with astral or emotional organisation, and with the recognition (by the man in his personal life) of some form of unselfish love, and of a love for some object, person or ideal which leads to altruistic endeavor, and to the negation of the lower self.

Một tiến trình tương tự diễn ra khi vòng cánh hoa thứ hai được tổ chức và sẵn sàng để khai mở. Lần này Đức Chưởng Giáo, Chân sư và Chân ngã liên hệ cùng hợp tác, vì các cuộc điểm đạo nhỏ hơn này liên quan đến bản chất bác ái, đến sự tổ chức cảm dục hay cảm xúc, và đến sự nhận biết (của con người trong đời sống cá nhân của mình) một hình thức bác ái vô ngã nào đó, và một tình yêu đối với một đối tượng, một người hay một lý tưởng nào đó dẫn đến nỗ lực vị tha, và đến sự phủ nhận phàm ngã.

This brings us to the third group of petals or to the unfolding of the will or sacrifice petals, based on intelligent purpose and pure love. The force in this group calls in a different factor, that of the Manu, as well as the force of the Bodhisattva, and the desired effect is produced through the full co-operation of the fully awakened Ego, aided by his own Master (if he is evolving in a cycle wherein hierarchical effort for humanity takes the form it does in this present one), and the Manu. Eventually (after the second Initiation) the Lord of the World comes [Page 871] in as a factor,—the Lord of world power, fully expressing itself in love.

Điều này đưa chúng ta đến nhóm cánh hoa thứ ba hay sự khai mở của các cánh hoa ý chí hay hi sinh, dựa trên mục đích thông minh và bác ái thuần khiết. Mãnh lực trong nhóm này gọi vào một yếu tố khác, đó là yếu tố của Đức Manu, cũng như mãnh lực của Đức Bồ Tát, và hiệu quả mong muốn được tạo ra qua sự hợp tác trọn vẹn của Chân ngã đã hoàn toàn thức tỉnh, được trợ giúp bởi chính Chân sư của y (nếu y đang tiến hoá trong một chu kỳ mà nỗ lực của Thánh đoàn đối với nhân loại mang hình thức như trong chu kỳ hiện tại này), và bởi Đức Manu. Cuối cùng (sau lần điểm đạo thứ hai) Đức Chúa Tể Thế Giới trở thành [Page 871]một yếu tố tham dự,—Đức Chúa Tể của quyền năng thế giới, đang biểu lộ trọn vẹn trong bác ái.

Speaking generally, therefore, it might be stated that egoic groups in whom the knowledge petals are being organised and unfolded come under the primary influence of the Mahachohan; those in whom the love aspect, or the second circle of petals, is opening come under the primary influence of the Bodhisattva, with the knowledge unfoldment paralleling the work; whilst those in whom the third tier is being opened come under the energy direction of the Manu, with the two other types of force co-ordinated. It will be apparent to the careful reader that in this fact lies hid the secret of why the Mahachohan holds office longer than either of His two Brothers, holding it as He does for an entire world period. The key to these cycles lies hid in the following thoughts: the Bodhisattva and the Manu change more frequently and pass on to other work owing to the fact that They each embody one type of triple force, whereas the Mahachohan is the focal point for five types of energy, each in its turn triple in nature.

Nói chung, vì vậy, có thể phát biểu rằng các nhóm chân ngã trong đó các cánh hoa tri thức đang được tổ chức và khai mở nằm dưới ảnh hưởng chủ yếu của Đức Mahachohan; những nhóm trong đó phương diện bác ái, hay vòng cánh hoa thứ hai, đang mở ra thì nằm dưới ảnh hưởng chủ yếu của Đức Bồ Tát, với sự khai mở tri thức song hành với công việc; còn những nhóm trong đó tầng thứ ba đang được mở ra thì nằm dưới sự định hướng năng lượng của Đức Manu, với hai loại mãnh lực kia được phối hợp. Đối với độc giả cẩn trọng, sẽ rõ rằng chính trong sự kiện này ẩn giấu bí mật vì sao Đức Mahachohan giữ chức vụ lâu hơn hai Huynh Đệ của Ngài, vì Ngài giữ chức ấy suốt trọn một thời kỳ thế giới. Chìa khoá của các chu kỳ này ẩn trong những tư tưởng sau đây: Đức Bồ Tát và Đức Manu thay đổi thường xuyên hơn và chuyển sang công việc khác do sự kiện rằng mỗi Ngài hiện thân cho một loại mãnh lực tam phân, trong khi Đức Mahachohan là tiêu điểm của năm loại năng lượng, mỗi loại đến lượt mình lại có bản chất tam phân.

In each case of petal unfoldment, certain types of force are generated, dealt with, assimilated, and used, at first unconsciously and finally with full intelligence.

Trong mỗi trường hợp khai mở cánh hoa, một số loại mãnh lực nhất định được tạo ra, được xử lý, được đồng hoá, và được sử dụng, lúc đầu một cách vô thức và cuối cùng với đầy đủ trí tuệ.

In the Hall of Ignorance the force of the energy of Brahma (the activity and intelligence of substance) is that mostly dealt with, and the man has to learn the meaning of activity based on:

Trong Phòng Vô Minh, mãnh lực của năng lượng Brahma (hoạt động và trí tuệ của chất liệu) là điều được xử lý nhiều nhất, và con người phải học ý nghĩa của hoạt động dựa trên:

a. Inherent energy,

a. Năng lượng cố hữu,

b. Absorbed energy,

b. Năng lượng được hấp thụ,

c. Group energy,

c. Năng lượng nhóm,

d. Material energy or that which is hidden in physical plane matter.

d. Năng lượng vật chất hay điều được ẩn giấu trong vật chất cõi hồng trần.

In the Hall of Learning the disciple becomes aware of, and uses the energy of, the second aspect in form-building, in social relations, in family and other group affiliations. [Page 872] He comes to the true recognition of sex and its relations but as yet views this force as something to be controlled and not something to be consciously and constructively utilised.

Trong Phòng Học Hỏi, đệ tử trở nên nhận biết và sử dụng năng lượng của phương diện thứ hai trong việc xây dựng hình tướng, trong các quan hệ xã hội, trong gia đình và các liên hệ nhóm khác. [Page 872] Y đi đến sự nhận biết chân chính về giới tính và các quan hệ của nó nhưng cho đến lúc này vẫn xem mãnh lực ấy như một điều phải được kiểm soát chứ không phải một điều phải được sử dụng một cách hữu thức và kiến tạo.

In the Hall of Wisdom the initiate comes to the knowledge of the first great aspect of energy, the dynamic use of will in sacrifice, and to him is then committed the key to the three fold mystery of energy. Of this energy in its threefold aspect he became aware in the other two halls. At the third, fourth and fifth Initiations the three keys to the three mysteries are given to him.

Trong Phòng Minh triết điểm đạo đồ đạt đến tri thức về phương diện lớn thứ nhất của năng lượng, việc sử dụng năng động của ý chí trong hi sinh, và khi ấy chìa khoá của huyền nhiệm tam phân của năng lượng được giao phó cho y. Về năng lượng này trong phương diện tam phân của nó, y đã trở nên nhận biết trong hai Phòng kia. Ở lần điểm đạo thứ ba, thứ tư và thứ năm, ba chìa khoá của ba huyền nhiệm được trao cho y.

The key to the mystery sensed in the first Hall, the mystery of Brahma, is handed to him and he can then unlock the hidden energies of atomic substance. The key to the mystery of sex, or of the pairs of opposites, is thrust into his hand, and he can then unlock the hidden forces within all forms. The key to the mystery of sacrifice and to the secret of the Silent Watchers in the cosmos is revealed to him, and he learns to unlock the hidden energies of the will aspect. The dynamo of the solar system is shown to him, if it might so be expressed, and the intricacies of its mechanism revealed.

Chìa khoá của huyền nhiệm được cảm nhận trong Phòng thứ nhất, huyền nhiệm của Brahma, được trao cho y và khi đó y có thể mở khoá các năng lượng ẩn giấu của chất liệu nguyên tử. Chìa khoá của huyền nhiệm về giới tính, hay về các cặp đối nghịch, được đặt vào tay y, và khi đó y có thể mở khoá các mãnh lực ẩn giấu bên trong mọi hình tướng. Chìa khoá của huyền nhiệm về hi sinh và bí mật của các Đấng Quan Sát Thầm Lặng trong vũ trụ được mặc khải cho y, và y học cách mở khoá các năng lượng ẩn giấu của phương diện ý chí. Cỗ máy phát lực của hệ mặt trời được chỉ cho y thấy, nếu có thể nói như vậy, và những phức tạp trong bộ máy của nó được mặc khải.

The following are the three basic mysteries of the solar system:

Sau đây là ba huyền nhiệm căn bản của hệ mặt trời:

1. The mystery of Electricity. The mystery of Brahma. The secret of the third aspect. It is latent in the physical sun.

1. Huyền nhiệm của Điện. Huyền nhiệm của Brahma. Bí mật của phương diện thứ ba. Nó tiềm ẩn trong mặt trời hồng trần.

2. The mystery of Polarity, or of the universal sex impulse. The secret of the second aspect. It is latent in the Heart of the Sun, i.e., in the subjective Sun.

2. Huyền nhiệm của Cực tính, hay của xung lực giới tính vũ trụ. Bí mật của phương diện thứ hai. Nó tiềm ẩn trong Trái Tim của Mặt Trời, tức là trong Mặt Trời chủ quan.

3. The mystery of Fire itself, or the dynamic central systemic force. The secret of the first aspect. It is latent in the central spiritual sun.

3. Huyền nhiệm của chính Lửa, hay mãnh lực trung tâm năng động của hệ thống. Bí mật của phương diện thứ nhất. Nó tiềm ẩn trong Mặt trời Tinh thần Trung Ương.

These three mysteries which we have touched upon above, come in a peculiar sense under the jurisdiction of [Page 873] certain great Lords or Existences, and They have much to do with the revealing of the mystery to those prepared initiates Who come under Their influence during the final stages of the Path.

Ba huyền nhiệm mà chúng ta đã chạm đến ở trên, theo một ý nghĩa đặc biệt, thuộc thẩm quyền của [Page 873]một số Chúa Tể hay Thực Thể vĩ đại, và Các Ngài có liên hệ rất nhiều đến việc mặc khải huyền nhiệm cho những điểm đạo đồ đã chuẩn bị, những người đi dưới ảnh hưởng của Các Ngài trong các giai đoạn cuối của Con Đường.

The mystery of electricity has three keys, each of which is held in the hands of one of the Buddhas of Activity. Theirs is the prerogative to control the electrical forces of the physical plane, and Theirs the right to direct the three major streams of this type of force in connection with our present globe. These three streams are concerned with atomic substance, out of which all forms are constructed. In connection with our chain there are three mysterious Entities (of whom our three Pratyeka Buddhas are but the Earth reflections) Who perform a similar function in connection with the electrical forces of the chain. In the scheme, the planetary Logos has also three co-operating Existences Who are the summation of His third Aspect, and who perform therefore work similar to that performed by the three aspects of Brahma in the solar system. The mystery of this threefold type of electricity is largely connected with the lesser Builders, with the elemental essence in one particular aspect,—its lowest and most profound for men to apprehend as it concerns the secret of that which “substands” or “stands back” of all that is objective. In a secondary sense it concerns the forces in the ethers which are those which energise and produce the activities of all atoms. Another type deals with the electrical phenomenon which finds its expression in the light which man has somewhat harnessed, in the phenomena such as thunder storms and the manifestation of lightning, with the aurora borealis, and in the production of earthquakes and all volcanic action. All these manifestations are based on electrical activity of some kind, and have to do with the “soul of things,” or with the essence of matter. The old Commentary says: [Page 874]

Huyền nhiệm của điện có ba chìa khoá, mỗi chìa khoá được nắm giữ trong tay một vị Phật Hoạt Động. Đó là đặc quyền của Các Ngài trong việc kiểm soát các mãnh lực điện của cõi hồng trần, và là quyền của Các Ngài trong việc điều khiển ba dòng chính của loại mãnh lực này liên hệ với bầu hành tinh hiện tại của chúng ta. Ba dòng này liên quan đến chất liệu nguyên tử, từ đó mọi hình tướng được kiến tạo. Liên hệ với Dãy của chúng ta, có ba Thực Thể huyền nhiệm (mà ba vị Phật Độc Giác của chúng ta chỉ là những phản chiếu trên Trái Đất) thực hiện một chức năng tương tự liên quan đến các mãnh lực điện của Dãy. Trong hệ hành tinh, Hành Tinh Thượng đế cũng có ba Thực Thể hợp tác là tổng hợp của Phương diện thứ ba của Ngài, và vì thế thực hiện công việc tương tự như công việc do ba phương diện của Brahma trong hệ mặt trời thực hiện. Huyền nhiệm của loại điện tam phân này phần lớn liên hệ với các vị tiểu kiến tạo, với Tinh chất hành khí trong một phương diện đặc biệt,—phương diện thấp nhất và sâu kín nhất để con người có thể lĩnh hội vì nó liên quan đến bí mật của cái “nâng đỡ từ bên dưới” hay “đứng phía sau” mọi điều khách quan. Theo ý nghĩa thứ yếu, nó liên quan đến các mãnh lực trong các dĩ thái, là những mãnh lực tiếp sinh lực và tạo ra các hoạt động của mọi nguyên tử. Một loại khác liên quan đến hiện tượng điện biểu lộ trong ánh sáng mà con người đã phần nào chế ngự, trong các hiện tượng như giông bão và sự biểu lộ của sét, với cực quang phương bắc, và trong việc tạo ra động đất cùng mọi hoạt động núi lửa. Tất cả những biểu lộ này đều dựa trên hoạt động điện thuộc một loại nào đó, và liên quan đến “linh hồn của vạn vật,” hay tinh chất của vật chất. Cổ Luận nói: [Page 874]

“The garment of God is driven aside by the energy of His movements, and the real Man stands revealed, yet remains hidden, for who knows the secret of a man as it exists in his own self-recognition.”

“Y phục của Thượng đế bị vén sang một bên bởi năng lượng của các chuyển động của Ngài, và Con Người thực sự đứng lộ ra, tuy vậy vẫn còn ẩn kín, vì ai biết được bí mật của một con người như nó tồn tại trong chính sự tự nhận biết của y.”

The mystery of electricity deals with the “garment” of God, just as the mystery of polarity deals with His “form.”

Huyền nhiệm của điện liên quan đến “y phục” của Thượng đế, cũng như huyền nhiệm của cực tính liên quan đến “hình tướng” của Ngài.

In the mystery of Polarity, we have three different types of force manifesting and thus it is apparent that the two mysteries deal with the six forces. These three types of force are manipulated by the Buddhas of Love. They, through Their sacrifice, concern Themselves with the problem of sex, or of “magnetic approach” on all the planes. The Buddha of Whom we speak and Who contacts His people at the full moon of Wesak, is one of the three connected with our globe, having taken the place of One Who passed on to higher work in connection with the Chain, for the same hierarchical grading is seen as in connection with the Buddhas of Action. One group might be considered the divine Carpenters of the planetary system, the other the divine Assemblers of its parts and the Ones Who, through the magnetic influence They wield, unite the diversities and build them into form.

Trong huyền nhiệm của Cực tính, chúng ta có ba loại mãnh lực khác nhau đang biểu lộ và do đó rõ ràng là hai huyền nhiệm này liên quan đến sáu mãnh lực. Ba loại mãnh lực này được vận dụng bởi các vị Phật Bác Ái. Qua sự hi sinh của Các Ngài, Các Ngài tự mình quan tâm đến vấn đề giới tính, hay của “sự tiếp cận từ tính” trên mọi cõi. Đức Phật mà chúng ta đang nói đến và Đấng tiếp xúc với dân của Ngài vào lúc trăng tròn Wesak, là một trong ba vị liên hệ với bầu hành tinh của chúng ta, đã thay thế vị trí của Một Đấng đã chuyển sang công việc cao hơn liên hệ với Dãy, vì cùng một sự phân cấp Thánh đoàn được thấy ở đây như trong trường hợp các vị Phật Hoạt Động. Một nhóm có thể được xem là những Thợ Mộc thiêng liêng của hệ hành tinh, nhóm kia là những Đấng Lắp Ráp thiêng liêng các bộ phận của nó và là Những Đấng, qua ảnh hưởng từ tính mà Các Ngài vận dụng, hợp nhất các dị biệt và xây dựng chúng thành hình tướng.

The present ideas anent Sex must be transmuted and raised from the existing lower connotation to its true significance. Sex—in the three worlds—has to do with the work of the lunar Pitris and the solar Lords. It signifies essentially the form-building work in substance, and its energising by the spiritual aspect. It signifies the elevation of the material aspect through the influence of Spirit as the two together perform their legitimate function in co-operation and thus—by their mutual union and blending—produce the Son in all His glory. This method of interpreting it is equally true of all the Existences manifesting on any plane, systemic and cosmic. Certain [Page 875] factors enter into the thought of sex which might be enumerated as follows:

Những quan niệm hiện nay về Giới tính phải được chuyển hoá và nâng lên khỏi hàm nghĩa thấp hiện có để đạt đến ý nghĩa chân thực của nó. Giới tính—trong ba cõi giới—liên quan đến công việc của các thái âm tổ phụ và các nhật tinh quân. Về bản chất, nó biểu thị công việc xây dựng hình tướng trong chất liệu, và việc tiếp sinh lực cho chất liệu ấy bởi phương diện tinh thần. Nó biểu thị sự nâng cao phương diện vật chất qua ảnh hưởng của Tinh thần khi cả hai cùng nhau thực hiện chức năng chính đáng của mình trong hợp tác và như vậy—qua sự kết hợp và hoà trộn hỗ tương của chúng—sản sinh ra Con trong tất cả vinh quang của Ngài. Phương pháp giải thích này cũng đúng như nhau đối với mọi Thực Thể đang biểu lộ trên bất kỳ cõi nào, thuộc hệ thống hay vũ trụ. Một số [Page 875]yếu tố đi vào tư tưởng về giới tính có thể được liệt kê như sau:

a. Mutual attraction,

a. Sự hấp dẫn hỗ tương,

b. Complementary suitability,

b. Sự thích hợp bổ sung,

c. Instinctual appeal,

c. Sự lôi cuốn bản năng,

d. Approach, and recognised co-operation,

d. Sự tiếp cận, và sự hợp tác được nhận biết,

e. Union,

e. Sự hợp nhất,

f. The next stage is the temporary importance of the material aspect, that of the Mother, the feminine aspect,

f. Giai đoạn kế tiếp là tầm quan trọng tạm thời của phương diện vật chất, tức của Mẹ, phương diện nữ tính,

g. The withdrawal into a temporary retirement of the Father,

g. Sự rút lui vào một trạng thái ẩn tàng tạm thời của Cha,

h. The work of creating the Son,

h. Công việc tạo ra Người Con,

i. The evolution and growth of the Son, both materially and in consciousness,

i. Sự tiến hoá và tăng trưởng của Người Con, cả về vật chất lẫn về tâm thức,

j. Emancipation of the Son from his Mother, or the liberation of the soul at maturity from matter,

j. Sự giải phóng Người Con khỏi Mẹ của mình, hay sự giải thoát của linh hồn khi trưởng thành khỏi vật chất,

k. Recognition by the Son of the Father and his return to that Father,

k. Sự nhận biết của Người Con về Cha và sự trở về của Người Con với Cha ấy,

The final result of all these successive stages being that all the three aspects have performed their functions (their dharma) on the physical plane and all three have demonstrated certain types of energy.

Kết quả cuối cùng của tất cả các giai đoạn kế tiếp này là cả ba phương diện đều đã thực hiện các chức năng của mình (dharma của chúng) trên cõi hồng trần và cả ba đều đã biểu lộ một số loại năng lượng nhất định.

The Father aspect manifests in giving the initial impulse or the positive electrical demonstration which is the germ of the created Son, and Whose Life is embodied in the Son. The occult significance of the words of the Christ in answer to the cry “Lord, show us the Father” is little appreciated. “He that has seen Me has seen the Father, for I and my Father are One,” He said. (Bible. John XIV, 8.)

Phương diện Cha biểu lộ trong việc ban ra xung lực ban đầu hay sự biểu lộ điện dương là mầm mống của Người Con được tạo ra, và Sự Sống của Ngài được hiện thân trong Người Con. Ý nghĩa huyền bí của lời Đức Christ đáp lại tiếng kêu “Lạy Chúa, xin chỉ cho chúng con Cha” ít được đánh giá đúng. “Ai đã thấy Ta là đã thấy Cha, vì Ta và Cha Ta là Một,” Ngài nói. (Kinh Thánh. John XIV, 8.)

The Mother, or the negative aspect, builds and nourishes, guards and cherishes the Son through the ante-natal, and the infant stages, and stands around Him during later stages, giving of the energy of her own body and activity in ministry to His need.

Người Mẹ, hay phương diện âm, xây dựng và nuôi dưỡng, bảo vệ và chăm nom Người Con qua các giai đoạn trước khi sinh và ấu thơ, và đứng quanh Ngài trong các giai đoạn sau, ban ra năng lượng từ chính thể của mình và hoạt động trong sự phụng sự đối với nhu cầu của Ngài.

[Page 876] The Son, the combined energy of Father and of Mother, embodies both types and all the dual sets of qualities, but has a character all His Own, an essence which is His peculiar nature, and an energy which leads Him to fulfil His Own ends and projects, and which will eventually cause Him to repeat the process of producing,—

[Page 876] Người Con, năng lượng kết hợp của Cha và Mẹ, hiện thân cả hai loại và mọi cặp phẩm tính nhị nguyên, nhưng có một tính cách hoàn toàn của riêng Ngài, một tinh chất là bản chất đặc thù của Ngài, và một năng lượng dẫn Ngài đến việc hoàn thành các cứu cánh và các phóng chiếu của riêng Ngài, và cuối cùng sẽ khiến Ngài lặp lại tiến trình sản sinh,—

1. Conception,

1. Thụ thai,

2. Creation,

2. Sáng tạo,

3. Conscious growth,

3. Tăng trưởng hữu thức,

as did His Father.

như Cha của Ngài đã làm.

When we reach the mystery of Fire, we are concerned with that mysterious extra-systemic energy which is the basis of both the activity of Mother and the Life of the Son. The Son in very deed “becomes His Mother’s husband,” as say the ancient Scriptures. This is but an enigmatical phrase unless interpreted in terms of the combination of energy. Only when the Son has reached maturity and knows Himself as essentially the same as the Father can He consciously perform His Father’s function, and produce and perpetuate that which is needed for the sustaining of cosmic generation.

Khi chúng ta đạt đến huyền nhiệm của Lửa, chúng ta đang đề cập đến năng lượng ngoại hệ thống huyền nhiệm ấy, là nền tảng của cả hoạt động của Mẹ lẫn Sự Sống của Người Con. Người Con thực sự “trở thành chồng của Mẹ mình,” như các Kinh thư cổ nói. Đây chỉ là một cụm từ thần bí nếu không được giải thích theo các thuật ngữ của sự kết hợp năng lượng. Chỉ khi Người Con đã đạt đến trưởng thành và biết mình về bản chất là một với Cha thì Ngài mới có thể một cách hữu thức thực hiện chức năng của Cha mình, và sản sinh cũng như duy trì điều cần thiết cho sự tiếp diễn của sự sinh thành vũ trụ.

The electricity of substance, the electricity of form, and the electricity of Life itself must blend and meet before the true Man (whether Logos, or human being) realises himself as creator. Man at this stage knows somewhat of the electricity of substance, and is coming to the belief as to the electricity of form (even though as yet he calls it magnetism) but as yet he knows nought of the electrical reality of life itself. Only when the “jewel in the Lotus” is about to be revealed, or the third circle of petals is about to open up, does the initiate begin to have a realisation of the true meaning of the word “life” or spirit. The consciousness has to be fully awakened before he can ever understand that great energising something of which the other types of energy are but expressions.

Điện của chất liệu, điện của hình tướng, và điện của chính Sự sống phải hòa trộn và gặp nhau trước khi con Người đích thực (dù là Logos hay con người) chứng nghiệm chính mình là đấng sáng tạo. Ở giai đoạn này, con người biết phần nào về điện của chất liệu, và đang đi đến niềm tin về điện của hình tướng (dù hiện nay y vẫn gọi nó là từ điện), nhưng y vẫn chưa biết gì về thực tại điện của chính sự sống. Chỉ khi “viên ngọc trong Hoa sen” sắp được hiển lộ, hay vòng cánh hoa thứ ba sắp mở ra, thì điểm đạo đồ mới bắt đầu có sự chứng nghiệm về ý nghĩa chân thực của từ “sự sống” hay tinh thần. Tâm thức phải được thức tỉnh hoàn toàn trước khi y có thể hiểu được cái gì đó đại năng động ấy mà các loại năng lượng khác chỉ là những biểu hiện của nó.

[Page 877] There are only two more points to be considered in connection with the petals and initiation.

[Page 877] Chỉ còn hai điểm nữa cần được xem xét liên quan đến các cánh hoa và điểm đạo.

First, it should be noted that the words “knowledge, love and sacrifice” mean much more occultly than the apparent significance of the terms. Each circle of petals stands for one of these three ideas, and each circle again embodies these three aspects of existence in a greater or lesser degree. These three concepts are the modes of expression of the three great qualities which (from the standpoint of the Past, the Present and the Future) characterise the natures of all the manifesting entities—Gods, men and devas. From the standpoint of the central factor in manifestation, man, it should be realised that knowledge was inherent in the previous solar system, and is the faculty of which he has to avail himself. It is there available for his use. It is the hidden energy of the planetary Logos which he has to learn to focus through his physical brain, and thus apply.

Trước hết, cần lưu ý rằng các từ “tri thức, bác ái và hi sinh” mang ý nghĩa huyền bí sâu xa hơn nhiều so với thâm nghĩa bề ngoài của các thuật ngữ ấy. Mỗi vòng cánh hoa tượng trưng cho một trong ba ý tưởng này, và mỗi vòng lại hiện thân ba phương diện hiện hữu ấy ở mức độ lớn hay nhỏ. Ba khái niệm này là các phương thức biểu lộ của ba phẩm tính vĩ đại mà (xét từ quan điểm của Quá khứ, Hiện tại và Tương lai) đặc trưng cho bản chất của mọi thực thể đang biểu hiện—các Thượng đế, những người nam và nữ, và các thiên thần. Từ quan điểm của yếu tố trung tâm trong biểu hiện là con người, cần phải chứng nghiệm rằng tri thức vốn cố hữu trong hệ mặt trời trước đây, và là năng lực mà y phải tận dụng. Nó hiện hữu đó để y sử dụng. Đó là năng lượng ẩn tàng của Hành Tinh Thượng đế mà y phải học cách tập trung qua bộ não hồng trần của mình, và nhờ đó vận dụng nó.

Love is the faculty inherent in the present. It is the hidden energy of the planetary Logos of which he must avail himself and focus in his heart centre and thus apply.

Bác ái là năng lực cố hữu trong hiện tại. Đó là năng lượng ẩn tàng của Hành Tinh Thượng đế mà y phải tận dụng và tập trung vào trung tâm tim của mình rồi nhờ đó vận dụng nó.

Sacrifice is the faculty which will be his in the future, which he will intelligently focus through the highest head centre and thus apply. It is dependent upon his development of consciousness, and therefore upon his recognition of the esoteric purpose of his group, and of the planetary existences. As it involves what is termed “a solar and lunar act of abnegation” it involves, therefore, a due comprehension of solar and of lunar energy, and a bringing of both these two groups to a stage of co-operative activity. It concerns, therefore, the nature of the Jewel in the lotus, and it is only when the three sacrifice petals in the three tiers are unfolded that this particular type of energy is released. The lunar Lords of the three bodies have been controlled, and their vibration synchronised, so that the great act of sacrifice finds them ready [Page 878] for the final process of renunciation. The solar Lords, in their three major groups, are equally ready for the final sacrifice, which involves the “rupture between the sun and the moon” as it is called. This results in the breaking of the magnetic link between the true man, and the vibratory sensitive substance of which his three world bodies are made. The need for incarnation is no longer felt, the chains of karma are broken, and the man is liberated. The “lunar Lords return to their own place” or—as the Christian expresses it—”Satan is bound for a thousand years,” (Bible. Rev. XX, 2. ) this meaning only that pralayic peace is the lot of these entities until the return of manvantaric opportunity.

Hi sinh là năng lực sẽ là của y trong tương lai, năng lực mà y sẽ tập trung một cách thông minh qua trung tâm đầu cao nhất rồi nhờ đó vận dụng. Nó tùy thuộc vào sự phát triển tâm thức của y, và vì thế tùy thuộc vào việc y nhận ra mục đích huyền bí của nhóm mình, và của các hiện hữu hành tinh. Vì nó bao hàm điều được gọi là “một hành vi từ khước mang tính thái dương và thái âm”, nên do đó nó bao hàm một sự thấu hiểu đúng mức về năng lượng thái dương và thái âm, cùng việc đưa cả hai nhóm này đến một giai đoạn hoạt động hợp tác. Vì vậy, nó liên quan đến bản chất của Viên ngọc trong Hoa sen, và chỉ khi ba cánh hoa hi sinh trong ba tầng được khai mở thì loại năng lượng đặc biệt này mới được giải phóng. Các nguyệt tinh quân của ba thể đã được kiểm soát, và rung động của các vị ấy đã được đồng bộ hóa, để cho đại hành vi hi sinh thấy các vị ấy đã sẵn sàng [Page 878] cho tiến trình từ bỏ cuối cùng. Các nhật tinh quân, trong ba nhóm chính của các vị ấy, cũng sẵn sàng như vậy cho sự hi sinh cuối cùng, điều bao hàm “sự đoạn tuyệt giữa mặt trời và mặt trăng” như cách gọi của nó. Điều này dẫn đến việc cắt đứt liên kết từ tính giữa con người đích thực và chất liệu rung động nhạy cảm mà từ đó các thể của y trong ba cõi giới được tạo thành. Nhu cầu lâm phàm không còn được cảm thấy nữa, các xiềng xích nghiệp quả bị bẻ gãy, và con người được giải thoát. Các “nguyệt tinh quân trở về chỗ riêng của mình” hay—như người Kitô giáo diễn đạt—“Satan bị trói trong một ngàn năm,” (Kinh Thánh. Khải Huyền XX, 2.) điều này chỉ có nghĩa rằng sự bình an của giai kỳ qui nguyên là số phận của các thực thể này cho đến khi cơ hội của giai kỳ sinh hóa quay trở lại.

The final sacrifice involves also the disappearance of the lower triangle, or the severing of the connection between the three permanent atoms in the lower part of the causal body or egoic lotus, and the central unit of energy. The energy of these atoms is set loose through the intense heat produced by the union of the three fires and is reabsorbed into the general reservoir in interplanetary space. The fiery triangle is lost sight of in the general blaze, and the deva essences who temporarily formed it cease their activity.

Sự hi sinh cuối cùng cũng bao hàm sự biến mất của tam giác thấp, hay sự cắt đứt mối liên hệ giữa ba Nguyên tử trường tồn ở phần dưới của thể nguyên nhân hay Hoa Sen Chân Ngã, và đơn vị năng lượng trung tâm. Năng lượng của các nguyên tử này được giải phóng nhờ sức nóng mãnh liệt do sự hợp nhất của ba ngọn lửa tạo ra và được tái hấp thu vào kho chứa chung trong không gian liên hành tinh. Tam giác lửa không còn được nhìn thấy trong ngọn lửa rực chung, và các tinh chất thiên thần tạm thời tạo thành nó chấm dứt hoạt động của mình.

Again, the solar Angels complete their initial sacrifice by a final one, and offer themselves upon the fiery altar. The causal body is completely destroyed. The four lower groups of solar Pitris return to the heart of the subjective sun, or to that inmost centre of the system from whence they came, whilst the three higher groups are carried (by the force and energy generated in the fiery furnace and blaze, and through the stimulation produced by the blazing forth of the central jewel) straight to the central spiritual sun, there to abide until another kalpa calls them forth to sacrifice Themselves, this time as planetary Logoi. The student must bear in mind that [Page 879] in thinking of the Pitris, he must ever think in group terms. The Pitris who formed the egoic body of a human being do not—alone and isolated—form planetary Logoi. The forty-nine groups of solar fires concerned in the great work are those spoken of, and they become the forty-nine planetary Logoi in connexion with seven solar systems. In them is hid the mystery of the three who become the sixteen—united or synthesised by the seventeenth—a correspondence upon cosmic levels of the seven with the eighth sphere. This must remain practically an insoluble mystery to man at present.

Một lần nữa, các Thái dương Thiên Thần hoàn tất sự hi sinh ban đầu của mình bằng một sự hi sinh cuối cùng, và tự hiến mình trên bàn thờ lửa. Thể nguyên nhân bị hủy diệt hoàn toàn. Bốn nhóm thấp của thái dương tổ phụ trở về tim của mặt trời chủ quan, hay về trung tâm thâm nội nhất của hệ thống mà từ đó các vị ấy đã đến, trong khi ba nhóm cao hơn được mang (bởi mãnh lực và năng lượng phát sinh trong lò lửa và ngọn lửa rực, và nhờ sự kích thích do viên ngọc trung tâm bùng sáng) thẳng đến Mặt trời Tinh thần Trung Ương, ở đó an trụ cho đến khi một kalpa khác gọi các vị ấy ra để hi sinh chính mình, lần này như các Hành Tinh Thượng đế. Đạo sinh phải ghi nhớ rằng [Page 879] khi nghĩ về các Pitris, y phải luôn luôn nghĩ theo thuật ngữ nhóm. Các Pitris đã tạo thành thể chân ngã của một con người không—một mình và cô lập—trở thành các Hành Tinh Thượng đế. Bốn mươi chín nhóm lửa thái dương liên quan đến công việc vĩ đại ấy mới là những nhóm được nói đến, và các nhóm ấy trở thành bốn mươi chín Hành Tinh Thượng đế liên hệ với bảy hệ mặt trời. Trong các vị ấy ẩn giấu huyền nhiệm của ba trở thành mười sáu—được hợp nhất hay tổng hợp bởi vị thứ mười bảy—một sự tương ứng trên các cấp độ vũ trụ của bảy với khối cầu thứ tám. Điều này hiện nay đối với con người hầu như vẫn phải là một huyền nhiệm không thể giải được.

The four groups who found their way to the Heart of the system will reappear as the four planetary Logoi who are the twenty-eight and who thus produce the possibility of the ten of perfection in another series of manifesting systems.

Bốn nhóm đã tìm được đường đến Tim của hệ thống sẽ tái xuất hiện như bốn Hành Tinh Thượng đế là hai mươi tám, và nhờ đó tạo ra khả năng của mười hoàn hảo trong một chuỗi hệ thống biểu hiện khác.

The seven types of solar energy find the “path of return” to their central emanating source; by the disruption of the tie between them and the lunar lords (who are esoterically spoken of as “dead or dying on the field of battle”) the great sacrifice is consummated, and they are free to return in triumph.

Bảy loại năng lượng thái dương tìm thấy “Con Đường Trở Về” đến nguồn xuất lộ trung tâm của mình; nhờ sự phá vỡ mối ràng buộc giữa các vị ấy với các nguyệt tinh quân (những vị được nói đến một cách huyền bí là “đã chết hay đang hấp hối trên chiến trường”) mà sự hi sinh vĩ đại được hoàn tất, và các vị ấy được tự do trở về trong khải hoàn.

The occult significance of these words in connection with the energy standing behind and working through all appearance might be expressed as follows:

Ý nghĩa huyền bí của các từ này liên quan đến năng lượng đứng sau và hoạt động xuyên qua mọi sắc tướng có thể được diễn đạt như sau:

Knowledge (279) is the right apprehension of the laws of energy, of the conservation of force, of the sources of [Page 880] energy, of its qualities, its types and its vibrations.

Tri thức (279) là sự lĩnh hội đúng đắn các định luật của năng lượng, của sự bảo toàn mãnh lực, của các nguồn [Page 880] năng lượng, của các phẩm tính, các loại và các rung động của nó.

(279) 1. There are seven branches of knowledge mentioned in the Puranas:—S. D., I, 192.

(279) 1. Có bảy ngành tri thức được nhắc đến trong các Purana:—S. D., I, 192.

2. The Gnosis, the hidden Knowledge, is the seventh Principle, the six schools of Indian philosophy are the six principles.—S. D., I, 299.

2. Gnosis, Tri thức ẩn tàng, là nguyên khí thứ bảy; sáu trường phái triết học Ấn Độ là sáu nguyên khí.—S. D., I, 299.

These six schools are:

Sáu trường phái này là:

a. The school of Logic........ Proof of right perception.

a. Trường phái Luận lý........ Chứng minh tri giác đúng đắn.

b. The atomic school......... System of particulars. Elements. Alchemy and chemistry.

b. Trường phái nguyên tử......... Hệ thống các biệt thể. Các nguyên tố. Thuật luyện kim và hóa học.

c. The Sankhya school........ System of numbers. The materialistic school. The theory of the seven states of matter or prakriti.

c. Trường phái Sankhya........ Hệ thống các con số. Trường phái duy vật. Lý thuyết về bảy trạng thái của vật chất hay prakriti.

d. The school of Yoga........ Union. The rule of daily life. Mysticism.

d. Trường phái Yoga........ Hợp nhất. Quy luật của đời sống hằng ngày. Thần bí học.

e. The school of Ceremonial Religion........ Ritual. Worship of the devas or Gods.

e. Trường phái Tôn giáo Nghi lễ........ Nghi thức. Sự thờ phụng các thiên thần hay các Thượng đế.

f. The Vedanta school........ Has to do with non-duality. Deals with the relation of Atman in man to the Logos.

f. Trường phái Vedanta........ Liên quan đến bất nhị. Bàn đến mối liên hệ của Atman trong con người với Logos.

3. There are four branches of knowledge to which H. P. B. specially refers—S.D., I, 192.

3. Có bốn ngành tri thức mà H. P. B. đặc biệt đề cập đến—S.D., I, 192.

These four are probably those with which man has dealt the most, in this fourth round and fourth chain.

Bốn ngành này có lẽ là những ngành mà con người đã đề cập đến nhiều nhất, trong cuộc tuần hoàn thứ tư và Dãy Thứ Tư này.

Compare S. D., I, 70, 95, 107, 227.

So sánh S. D., I, 70, 95, 107, 227.

The four Noble Truths. The four Vedas. The four Gospels. The four basic admissions. The four ready Elements. The four grades of Initiation.

Bốn Chân Lý Cao Quý. Bốn Veda. Bốn Phúc Âm. Bốn sự thừa nhận căn bản. Bốn Nguyên tố sẵn có. Bốn cấp độ điểm đạo.

a. Yajna Vidya.......... The performance of religious rites in order to produce certain results. Ceremonial magic. It is concerned with Sound, therefore with the Akasha or the ether of space. The “yajna” is the invisible Deity who pervades space.

a. Yajna Vidya.......... Việc thực hiện các nghi lễ tôn giáo để tạo ra những kết quả nhất định. Huyền thuật nghi lễ. Nó liên quan đến Âm thanh, do đó liên quan đến Akasha hay dĩ thái của không gian. “Yajna” là Thượng đế vô hình thấm nhuần không gian.

Perhaps this concerns the physical plane?

Có lẽ điều này liên quan đến cõi hồng trần?

b. Mahavidya.......... The great magic knowledge. It has degenerated into Tantrika worship. Deals with the feminine aspect, or the matter (mother) aspect. The basis of black magic. True mahayoga has to do with the form (second aspect) and its adaptation to Spirit and its needs.

b. Mahavidya.......... Đại tri thức huyền thuật. Nó đã suy đồi thành sự thờ phụng Tantrika. Nó bàn đến phương diện nữ tính, hay phương diện vật chất (mẹ). Nền tảng của Hắc thuật. Mahayoga chân chính liên quan đến hình tướng (phương diện thứ hai) và sự thích ứng của hình tướng với tinh thần và các nhu cầu của tinh thần.

Perhaps this concerns the astral plane?

Có lẽ điều này liên quan đến cõi cảm dục?

c. Guyha vidya.......... The science of mantrams. The secret knowledge of mystic mantrams. The occult potency of sound, of the Word.

c. Guyha vidya.......... Khoa học về các mantram. Tri thức bí mật về các mantram thần bí. Tiềm năng huyền bí của âm thanh, của Linh từ.

Perhaps this concerns the mental plane?

Có lẽ điều này liên quan đến cõi trí?

d. Atma vidya.......... True spiritual wisdom.

d. Atma vidya.......... Minh triết tinh thần chân chính.

4. Knowledge of truth is a common inheritance.—S. D., II, 47, 3.

4. Tri thức về chân lý là một gia tài chung.—S. D., II, 47, 3.

5. Knowledge is a relative subject, and varies according to the grade achieved.

5. Tri thức là một chủ đề tương đối, và thay đổi tùy theo cấp độ đạt được.

a. Ranges of further knowledge open up before a planetary Logos.—S. D., II, 740.

a. Những phạm vi tri thức xa hơn mở ra trước một Hành Tinh Thượng đế.—S. D., II, 740.

b. The four truths can be arrived at by unaided man.—S. D., III, 420.

b. Bốn chân lý có thể được con người đạt đến mà không cần trợ giúp.—S. D., III, 420.

6. Finally, Knowledge is a dangerous weapon:

6. Sau cùng, tri thức là một vũ khí nguy hiểm:

This is due to: Personal Selfishness.

Điều này là do: sự ích kỷ cá nhân.

It is only safe when:

Nó chỉ an toàn khi:

a. One gives oneself up to it, body, soul and spirit.—S. D., III, 62, 63.

a. Người ta hiến dâng chính mình cho nó, cả thể xác, linh hồn và tinh thần.—S. D., III, 62, 63.

b. One has an unshakeable belief in one’s own divinity.—S. D., III, 62, 63.

b. Người ta có một niềm tin bất lay chuyển vào thiên tính của chính mình.—S. D., III, 62, 63.

c. One recognises one’s own immortal Principle.

c. Người ta nhận ra nguyên khí bất tử của chính mình.

d. One knows oneself:—S. D., III, 435, 436.

d. Người ta biết chính mình:—S. D., III, 435, 436.

e. All the virtues are practised.—S. D., III, 262.

e. Mọi đức hạnh đều được thực hành.—S. D., III, 262.

f. One has experience.—S. D., III, 481.

f. Người ta có kinh nghiệm.—S. D., III, 481.

g. One realises knowledge is the fruit of Spirit alone.—S. D., III, 453.

g. Người ta chứng nghiệm rằng tri thức chỉ là hoa trái của Tinh thần.—S. D., III, 453.

h. Knowledge is acquired through the region of the higher mind.—S. D., III, 453. (back)

h. Tri thức được thu nhận qua vùng của thượng trí.—S. D., III, 453. (back)

It involves an apprehension of:

Nó bao hàm sự lĩnh hội về:

a. The different key vibrations.

a. Các rung động chủ âm khác nhau.

b. The centres whereby force enters.

b. Các trung tâm mà qua đó mãnh lực đi vào.

c. The channels along which it circulates. [Page 881]

c. Các kênh mà dọc theo đó nó lưu chuyển. [Page 881]

d. The triangles and other geometrical figures which it produces during evolution.

d. Các tam giác và những hình hình học khác mà nó tạo ra trong tiến hoá.

e. The cycles and the ebb and flow of energy in connection with the different types of planetary manifestation, including all the kingdoms of nature.

e. Các chu kỳ và sự lên xuống của năng lượng liên quan đến các loại biểu hiện hành tinh khác nhau, bao gồm mọi giới trong tự nhiên.

f. The true significance of those force aspects which we call “periods of pralaya” and those we call “periods of manifestation.” It also involves a right realisation of the laws of obscuration.

f. Thâm nghĩa chân thực của những phương diện mãnh lực mà chúng ta gọi là “các thời kỳ pralaya” và những phương diện mà chúng ta gọi là “các thời kỳ biểu hiện.” Nó cũng bao hàm một sự chứng nghiệm đúng đắn về các định luật của sự che khuất.

All this the man has been learning in the various Halls through practical experience, involving pleasure and pain; these, in the final initiations, bring him to a realisation not only of the existence of these forces but of how to wield and manipulate them. This is knowledge: to rightly direct force currents, first in the three worlds of human endeavour, and then in the solar system.

Tất cả điều này con người đã học trong các Phòng khác nhau qua kinh nghiệm thực tiễn, bao hàm lạc thú và đau khổ; đến các lần điểm đạo cuối cùng, những điều này đưa y đến sự chứng nghiệm không chỉ về sự hiện hữu của các mãnh lực ấy mà còn về cách vận dụng và điều khiển chúng. Đây là tri thức: điều hướng đúng đắn các dòng mãnh lực, trước tiên trong ba cõi thấp của nỗ lực nhân loại, rồi sau đó trong hệ mặt trời.

Love is the right apprehension of the uses and purposes of form, and of the energies involved in form-building, the utilisation of form, and the eventual dissipation of the superseded form. It involves a realisation of the Laws of Attraction and Repulsion, of the magnetic interplay between all forms, great and small, of group relationships, of the galvanizing power of the unifying life, and the attractive power of one unit upon another, be it atom, man, or solar system. It involves an understanding of all forms, form purposes, and form relationships; it concerns the building processes in man himself, and in the solar system; and it necessitates the development of those powers within man which will make him a conscious Builder, a solar Pitri of a coming cycle. This [Page 882] is one of the great revelations at initiation: the unveiling to the initiate of the particular cosmic centre whence emanates the type of force or energy which he, the initiate, will be concerned with when he becomes in due course of time a solar Pitri, or divine manasaputra to coming humanity. Hence he must have, not only knowledge, but the energy of love likewise to enable him to perform the function of linking the higher three and the lower four of a future race of men at some distant period, thus permitting of their individualising through the sacrifice of his own fully conscious middle principle.

Bác ái là sự lĩnh hội đúng đắn về các công dụng và mục đích của hình tướng, và về các năng lượng liên quan đến việc xây dựng hình tướng, việc sử dụng hình tướng, và sự làm tiêu tan cuối cùng của hình tướng đã lỗi thời. Nó bao hàm sự chứng nghiệm về các Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi, về sự tương tác từ tính giữa mọi hình tướng, lớn và nhỏ, về các mối liên hệ nhóm, về quyền năng điện hóa của sự sống hợp nhất, và quyền năng hấp dẫn của đơn vị này đối với đơn vị khác, dù đó là nguyên tử, con người hay hệ mặt trời. Nó bao hàm sự thấu hiểu mọi hình tướng, các mục đích của hình tướng, và các mối liên hệ của hình tướng; nó liên quan đến các tiến trình xây dựng trong chính con người, và trong hệ mặt trời; và nó đòi hỏi sự phát triển những quyền năng bên trong con người sẽ khiến y trở thành một đấng kiến tạo hữu thức, một thái dương tổ phụ của một chu kỳ sắp đến. Điều này [Page 882] là một trong những mặc khải vĩ đại tại điểm đạo: sự vén mở cho điểm đạo đồ về trung tâm vũ trụ đặc thù mà từ đó phát ra loại mãnh lực hay năng lượng mà y, điểm đạo đồ, sẽ phải quan tâm đến khi theo thời gian y trở thành một thái dương tổ phụ, hay một manasaputra thiêng liêng đối với nhân loại tương lai. Vì thế y phải có không chỉ tri thức mà cả năng lượng bác ái nữa để giúp y thực hiện chức năng nối kết bộ ba cao và bộ bốn thấp của một nhân loại tương lai vào một thời kỳ xa xôi nào đó, nhờ đó cho phép họ biệt ngã hóa qua sự hi sinh nguyên khí trung gian hoàn toàn hữu thức của chính y.

Sacrifice involves even more than what has been already pointed out. It involves the following factors:

Hi sinh bao hàm còn nhiều hơn những gì đã được chỉ ra. Nó bao hàm các yếu tố sau:

a. Knowledge of the purposes and intentions of the planetary Logos,

a. Tri thức về các mục đích và ý định của Hành Tinh Thượng đế,

b. Realisation of the particular and peculiar type of energy, and of the quality of his own Ray Lord,

b. Sự chứng nghiệm về loại năng lượng đặc thù và riêng biệt, và về phẩm tính của Đấng Chúa Tể Cung của chính y,

c. Comprehension of the different groups of existences who are participating in planetary evolution and in solar manifestation,

c. Sự thấu hiểu các nhóm hiện hữu khác nhau đang tham dự vào tiến hoá hành tinh và biểu hiện thái dương,

d. A revelation as to certain cosmic enterprises in which our planetary Logos is acting as an intelligent co-operator. Thus is brought in the factor of extra-systemic force.

d. Một sự mặc khải về một số công cuộc vũ trụ trong đó Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đang hành động như một cộng tác viên thông tuệ. Như vậy yếu tố mãnh lực ngoài hệ thống được đưa vào.

When all these and other factors are considered, it is evident that the energy set loose in sacrifice to these plans and intentions involves such a vast field of comprehending wisdom that it is not possible for the average man ever to sense it. It deals with the purposes and plans of the Silent Watchers over the three planes—the five, and the seven; it deals with the dynamic force of the great Destroying Angels on all the planes, who will eventually—through the manipulation of the three forms of energy—bring to an end all that is. These angels are a mysterious group of fohatic Lives Who sound forth the [Page 883] trumpets of destruction, and by means of the notes sounded produce that shattering which will set loose the energy of forms.

Khi mọi yếu tố này và những yếu tố khác được xem xét, hiển nhiên là năng lượng được giải phóng trong sự hi sinh cho các kế hoạch và ý định này bao hàm một lĩnh vực minh triết thấu hiểu rộng lớn đến mức con người trung bình không bao giờ có thể cảm nhận được. Nó bàn đến các mục đích và kế hoạch của các Đấng Quan Sát Thầm Lặng trên ba cõi phụ—the five, and the seven; nó bàn đến mãnh lực năng động của các Thiên Thần Hủy Diệt vĩ đại trên mọi cõi, các vị mà rốt cuộc—qua sự điều khiển ba hình thức năng lượng—sẽ chấm dứt mọi cái đang hiện hữu. Các thiên thần này là một nhóm huyền nhiệm gồm các Sự sống fohat phát ra [Page 883] những tiếng kèn hủy diệt, và bằng các âm điệu được xướng lên tạo ra sự tan vỡ sẽ giải phóng năng lượng của các hình tướng.

The second point is very briefly given. It concerns the innermost circle of petals, or that set of three petals, or those three streams of whirling energy, which immediately surround the “jewel in the lotus.” Each of these three petals is related to one of the three circles, and is organised as each of the three circles is unfolded. They form, therefore, a synthesis of knowledge, love or sacrifice, and are closely connected through the type of force flowing through them with one of the three higher centres of the planetary Logos of a man’s particular ray. This central unit of threefold force is dealt with in a specific manner at initiation.

Điểm thứ hai được nêu ra rất vắn tắt. Nó liên quan đến vòng cánh hoa nội tâm nhất, hay bộ ba cánh hoa ấy, hay ba dòng năng lượng xoáy chuyển ấy, trực tiếp bao quanh “viên ngọc trong Hoa sen.” Mỗi cánh trong ba cánh này liên hệ với một trong ba vòng, và được tổ chức khi mỗi một trong ba vòng được khai mở. Vì vậy, chúng tạo thành một tổng hợp của tri thức, bác ái hay hi sinh, và được nối kết chặt chẽ, qua loại mãnh lực chảy qua chúng, với một trong ba trung tâm cao hơn của Hành Tinh Thượng đế thuộc cung riêng của một người. Đơn vị trung tâm của mãnh lực tam phân này được xử lý theo một cách đặc biệt tại điểm đạo.

At the first, the second, and the third Initiations, one of the three petals opens up, permitting an ever freer display of the central electric point. At the fourth Initiation, the jewel (being completely revealed) through its blazing light, its intense radiatory heat, and its terrific outflow of force, produces the disintegration of the surrounding form, the shattering of the causal body, the destruction of the Temple of Solomon, and the dissolution of the lotus flower. The work of the Initiator in this connection is very interesting. Through the medium of the Rod of Initiation and of certain Words of Power, He brings about results of a co-ordinating, transmuting and liberating nature.

Ở lần điểm đạo thứ nhất, thứ hai và thứ ba, một trong ba cánh hoa mở ra, cho phép điểm điện trung tâm biểu lộ ngày càng tự do hơn. Ở lần điểm đạo thứ tư, viên ngọc (được hiển lộ hoàn toàn) nhờ ánh sáng rực cháy, sức nóng bức xạ mãnh liệt, và dòng mãnh lực tuôn ra khủng khiếp của nó, tạo ra sự tan rã của hình tướng bao quanh, sự vỡ nát của thể nguyên nhân, sự phá hủy Đền thờ Solomon, và sự tan biến của đóa hoa sen. Công việc của Đấng Điểm đạo trong mối liên hệ này rất đáng quan tâm. Qua trung gian của Thần Trượng Điểm đạo và một số Quyền năng từ, Ngài tạo ra những kết quả có tính phối hợp, chuyển hoá và giải phóng.

Through the action of the Rod as wielded at the first two Initiations, the two outer circles unfold, the energy of the two is set free and the two sets of force as embodied in the six petals are co-ordinated and become interactive. This stage of petal adjustment succeeds upon that called earlier “unfoldment” and has to do with the simultaneous action of the two tiers of petals. The interplay between the two circles is completed, and the circulation [Page 884] of the force currents perfected. According to a man’s ray and subray, so is the Rod applied to what might be termed the “key” petal. This of course differs according to the unit of force involved. It is of interest to note here that, as the petal substance is deva substance and as the energy of the petals is the energy of certain manasadevas (one of the three higher orders of Agnishvattas) the initiate is overshadowed (the word is not entirely satisfactory in explaining the type of deva service here necessitated, but it must suffice) by a great deva who represents the equilibrium of substantial vibration which is brought about by the efforts of the initiate, aided by the adepts who present him, and who each represent one of the two polarities of force. This is temporarily stabilised by the Initiator. These three factors,

Qua tác động của Thần Trượng khi được sử dụng trong hai lần điểm đạo đầu tiên, hai vòng ngoài được khai mở, năng lượng của hai vòng được giải phóng và hai bộ mãnh lực hiện thân trong sáu cánh hoa được phối hợp và trở nên tương tác. Giai đoạn điều chỉnh cánh hoa này tiếp nối giai đoạn trước đó được gọi là “sự khai mở” và liên quan đến hoạt động đồng thời của hai tầng cánh hoa. Sự tương tác giữa hai vòng được hoàn tất, và sự lưu chuyển [Page 884] của các dòng mãnh lực được hoàn thiện. Tùy theo cung và cung phụ của một người mà Thần Trượng được áp dụng vào cái có thể gọi là cánh hoa “chủ âm”. Dĩ nhiên điều này khác nhau tùy theo đơn vị mãnh lực liên quan. Ở đây điều đáng lưu ý là, vì chất liệu cánh hoa là chất liệu thiên thần và vì năng lượng của các cánh hoa là năng lượng của một số manasadeva nào đó (một trong ba cấp cao của Agnishvatta), nên điểm đạo đồ được phủ bóng (từ này không hoàn toàn thỏa đáng để giải thích loại phụng sự thiên thần cần thiết ở đây, nhưng phải tạm dùng vậy) bởi một thiên thần vĩ đại đại diện cho sự quân bình của rung động chất liệu được tạo ra bởi các nỗ lực của điểm đạo đồ, với sự trợ giúp của các chân sư giới thiệu y, và mỗi vị trong các vị ấy đại diện cho một trong hai cực tính của mãnh lực. Điều này được Đấng Điểm đạo tạm thời ổn định. Ba yếu tố này,

1. The representing deva,

1. thiên thần đại diện,

2. The two adepts,

2. hai chân sư,

3. The initiator,

3. Đấng điểm đạo,

form, for a brief second, a triangle of force with the initiate at the centre. Through them circulates the terrific power, the “fire from Heaven,” which is brought down from the higher triad through the agency of the electrical rod.

tạo thành, trong một giây ngắn ngủi, một tam giác mãnh lực với điểm đạo đồ ở trung tâm. Qua các vị ấy lưu chuyển quyền năng khủng khiếp, “lửa từ Thiên Đàng,” được kéo xuống từ Tam Nguyên Tinh Thần cao hơn qua tác nhân của thần trượng điện.

This application of extra-egoic force is in itself of a threefold nature, as symbolised by the three protective agencies and the threefold nature of the Rod itself. It emanates in a primary sense from the planetary Logos of a man’s ray, and proceeds from that one of the planetary centres which corresponds to either the head, heart, or throat centre in a human unit. This energy is applied to the corresponding tier of petals and to the corresponding petal in a tier according to the initiation taken, and according to the primary and secondary ray. A close connection can be traced here between the petals and the centres of the etheric level of the physical plane, [Page 885] and thus it can be seen how (when the necessary work is done) it is possible to have a direct transmission of force from the higher planes to the lower in the following order:

Việc áp dụng mãnh lực ngoài chân ngã này tự nó có bản chất tam phân, như được tượng trưng bởi ba tác nhân bảo hộ và bản chất tam phân của chính Thần Trượng. Theo nghĩa sơ cấp, nó phát xuất từ Hành Tinh Thượng đế thuộc cung của một người, và tiến ra từ một trong các trung tâm hành tinh tương ứng với trung tâm đầu, tim, hay cổ họng trong một đơn vị nhân loại. Năng lượng này được áp dụng vào tầng cánh hoa tương ứng và vào cánh hoa tương ứng trong một tầng tùy theo lần điểm đạo được nhận, và tùy theo cung chính và cung phụ. Ở đây có thể truy ra một mối liên hệ chặt chẽ giữa các cánh hoa và các trung tâm ở cấp độ dĩ thái của cõi hồng trần, [Page 885] và nhờ đó có thể thấy được làm thế nào (khi công việc cần thiết đã được thực hiện) có thể có một sự truyền dẫn trực tiếp mãnh lực từ các cõi cao xuống các cõi thấp theo trật tự sau:

a. From the logoic centre, or the planetary Logos, to the Monad on its own plane.

a. Từ trung tâm logoic, hay Hành Tinh Thượng đế, đến chân thần trên cõi riêng của nó.

b. From that Monad to one of the three tiers of petals, according to the aspect or ray concerned.

b. Từ chân thần ấy đến một trong ba tầng cánh hoa, tùy theo phương diện hay cung liên quan.

c. From the tier of petals, viewed as a unit, to one of the petals in the circle, according to the quality and type of force, using the petal as a transmitting agency.

c. Từ tầng cánh hoa, được xem như một đơn vị, đến một trong các cánh hoa trong vòng, tùy theo phẩm tính và loại mãnh lực, dùng cánh hoa như một tác nhân truyền dẫn.

d. From the particular petal in which the force is momentarily centred to one of the permanent atoms, again according to ray and type of force.

d. Từ cánh hoa đặc biệt mà trong đó mãnh lực tạm thời được tập trung đến một trong các Nguyên tử trường tồn, lại tùy theo cung và loại mãnh lực.

e. From the permanent atom via the atomic triangle, and the mental, and astral centres, to that one of the three higher centres in the etheric body particularly concerned.

e. Từ Nguyên tử trường tồn qua tam giác nguyên tử, và các trung tâm trí tuệ và cảm dục, đến một trong ba trung tâm cao hơn trong thể dĩ thái đặc biệt liên quan.

f. From the etheric centre to the physical brain.

f. Từ trung tâm dĩ thái đến bộ não hồng trần.

We have here put very briefly the process of force transmission from the Monad to man on the physical plane, and hence it will be apparent why the emphasis is so consistently laid upon the necessity for bodily purity (in all the three bodies), and upon the alignment of those bodies so that the flow of force may be unimpeded. The effects of this downflow of force may be viewed in a twofold manner, that is, in a material and in a psychic sense.

Ở đây chúng ta đã trình bày rất vắn tắt tiến trình truyền dẫn mãnh lực từ chân thần đến con người trên cõi hồng trần, và do đó sẽ thấy rõ vì sao sự nhấn mạnh lại luôn luôn được đặt lên nhu cầu thanh khiết của thể (trong cả ba thể), và lên sự chỉnh hợp của các thể ấy để dòng mãnh lực có thể lưu chuyển không bị cản trở. Các hiệu quả của dòng mãnh lực tuôn xuống này có thể được nhìn theo hai cách, nghĩa là theo nghĩa vật chất và theo nghĩa thông linh.

The material effect, or the result of this stimulation upon the forms and upon the atoms in the forms, is to render them radioactive, or to set loose the energy of substance. This is the liberating of the energy imprisoned within the form, and concerns the Brahma aspect, and [Page 886] the evolution of matter itself. It affects the lunar bodies, and therefore relates to the lunar Lords or Pitris, causing a weakening of their hold upon the lesser builders, bringing them more under the force streams from the solar Angels, and leading to a situation which will eventually result in a return of the lunar Pitris of all degrees to the central point for force substance. In a psychic sense the result of the downflow is a stimulation of consciousness, and the acquisition (through that stimulation) of the psychic powers latent in man. His three higher physical centres, the pineal gland, the pituitary body, and the alta major centre are affected, and man becomes psychically aware in the physical brain of the higher influences, happenings and powers. According to the ray concerned, so is the centre affected. The force of the lunar Lords, which has succeeded in keeping these three organs quiescent, is superseded and the solar Angels pour in their energy.

Hiệu quả vật chất, hay kết quả của sự kích thích này lên các hình tướng và lên các nguyên tử trong các hình tướng, là làm cho chúng trở nên phóng xạ, hay giải phóng năng lượng của chất liệu. Đây là sự giải phóng năng lượng bị giam hãm trong hình tướng, và liên quan đến phương diện Brahma, và [Page 886] sự tiến hoá của chính vật chất. Nó ảnh hưởng đến các thể thái âm, và vì vậy liên hệ đến các nguyệt tinh quân hay Pitris, gây ra sự suy yếu trong sự nắm giữ của các vị ấy đối với các vị tiểu kiến tạo, khiến các vị này chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ các dòng mãnh lực của các Thái dương Thiên Thần, và dẫn đến một tình huống rốt cuộc sẽ đưa đến sự trở về của các thái âm tổ phụ ở mọi cấp độ về điểm trung tâm của chất liệu mãnh lực. Theo nghĩa thông linh thì kết quả của dòng tuôn xuống là sự kích thích tâm thức, và sự đạt được (qua sự kích thích ấy) các năng lực thông linh tiềm ẩn trong con người. Ba trung tâm hồng trần cao hơn của y, tuyến tùng, thể tuyến yên, và trung tâm alta major đều bị ảnh hưởng, và con người trở nên nhận biết một cách thông linh trong bộ não hồng trần về các ảnh hưởng, biến cố và quyền năng cao hơn. Tùy theo cung liên quan mà trung tâm bị ảnh hưởng. Mãnh lực của các nguyệt tinh quân, vốn đã thành công trong việc giữ cho ba cơ quan này ở trạng thái tĩnh, bị thay thế và các Thái dương Thiên Thần tuôn năng lượng của mình vào.

All this again is closely connected with the threefold energy of the physical body, and produces effects within the spinal column which arouses the kundalini fire at the base of the spine, causing it to mount along the triple spinal channel, again according to ray and aspect involved. More anent this may not here be said, as the dangers of a premature knowledge along this line are far greater than the dangers of ignorance. Suffice it to point out that the fires at the lower centres,—those below the diaphragm—have, by the time the second initiation is reached, usually mounted to the centre between the shoulder blades; at the second initiation they rise as far as the head, and all the fires of the torso are then active. All that remains then to do is to centralise them, to produce the necessary geometrical interplay between the seven head centres, and then to focus them all prior to the final liberation in the highest centre of all. [Page 887]

Tất cả điều này lại liên hệ chặt chẽ với năng lượng tam phân của thể xác, và tạo ra các hiệu quả trong cột sống làm thức dậy hỏa kundalini ở đáy cột sống, khiến nó đi lên dọc theo kênh cột sống tam phân, lại tùy theo cung và phương diện liên quan. Không thể nói thêm ở đây về điều này, vì những nguy hiểm của một tri thức quá sớm theo đường lối này còn lớn hơn nhiều so với những nguy hiểm của sự vô minh. Chỉ cần chỉ ra rằng các ngọn lửa ở các trung tâm thấp,—những trung tâm dưới cơ hoành—đến lúc đạt lần điểm đạo thứ hai, thường đã đi lên đến trung tâm giữa hai bả vai; ở lần điểm đạo thứ hai chúng dâng lên tận đầu, và khi đó mọi ngọn lửa của thân mình đều hoạt động. Khi ấy, tất cả những gì còn lại phải làm là tập trung chúng lại, tạo ra sự tương tác hình học cần thiết giữa bảy trung tâm đầu, rồi tập trung tất cả chúng trước khi giải phóng cuối cùng trong trung tâm cao nhất. [Page 887]

4. The Fire Elementals, The Lesser Builders — 4. Các hành khí của lửa, các vị tiểu kiến tạo