a.
Electric fire
positive energy
Father.
b.
Fire by friction
negative energy
Mother.
c.
Solar fire
radiant energy
Sun or Son.
Each of these two last aspects demonstrates within itself in a dual manner, but the effect is a unified whole as regards the great Unity in which they are demonstrating.
Mỗi một trong hai phương diện cuối này tự biểu lộ bên trong chính nó theo cách nhị phân, nhưng hiệu quả lại là một toàn thể hợp nhất xét theo Đại Hợp Nhất trong đó chúng đang biểu lộ.
The problem of the devas may be somewhat better understood if it is remembered that they in themselves embody the two types of energy. For instance, the solar Pitris are the substance of the egoic bodies and groups, and the medium of expression for the Spirit aspect, for Spirit manifests by means of soul. The lunar Pitris, who form the personal lower self, being the aggregate of the lower sheaths, are energised and used by the solar Lords. These solar Angels again are in many groups and express within their own ranks a dual energy, both positive and negative. There is the positive life of the egoic lotus which co-ordinates, preserves, and actuates the petals, and there is also the energy of the petal substance itself, or the negative aspect which is swept by the positive force of the greater solar Lords into living whorls or wheels which we symbolically call “petals.” There is a close analogy in connection with the planetary Logos, and the solar Logos between prana, the life force which animates the etheric body of man, and by means of that [Page 834] force coheres the dense physical body, and that synthesising life force of the Logos which animates every atom on every plane of the system. If this is meditated upon, and the fact of all our planes being the etheric and dense manifestation of the solar Logos is realised, then the place played by the solar Angels may become somewhat elucidated, and their relation to the planetary Logos and to the solar Logos may become also clearer.
Vấn đề của các thiên thần có thể được hiểu phần nào rõ hơn nếu nhớ rằng tự bản thân họ thể hiện hai loại năng lượng ấy. Thí dụ, các thái dương tổ phụ là chất liệu của các thể chân ngã và các nhóm, và là phương tiện biểu lộ cho phương diện tinh thần, vì tinh thần biểu lộ qua linh hồn. Các thái âm tổ phụ, những vị tạo thành phàm ngã thấp, là tổng thể của các thể thấp, được các nhật tinh quân tiếp sinh lực và sử dụng. Đến lượt mình, các Thái dương Thiên Thần này lại ở trong nhiều nhóm và biểu lộ trong hàng ngũ của chính họ một năng lượng nhị phân, vừa dương vừa âm. Có sự sống dương của Hoa Sen Chân Ngã điều phối, bảo tồn và làm cho các cánh hoa hoạt động, và cũng có năng lượng của chính chất liệu cánh hoa, hay phương diện âm, được mãnh lực dương của các nhật tinh quân lớn hơn cuốn vào thành những vòng xoáy hay bánh xe sống động mà chúng ta gọi một cách biểu tượng là “các cánh hoa”. Có một sự tương đồng chặt chẽ liên quan đến Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế giữa prana, mãnh lực sự sống làm sinh động thể dĩ thái của con người, và nhờ mãnh lực [Page 834] đó mà thể xác đậm đặc được kết dính, với mãnh lực sự sống tổng hợp của Thượng đế làm sinh động mọi nguyên tử trên mọi cõi của hệ thống. Nếu điều này được tham thiền, và nếu chứng nghiệm được sự kiện rằng mọi cõi của chúng ta đều là biểu hiện dĩ thái và đậm đặc của Thái dương Thượng đế, thì vai trò do các Thái dương Thiên Thần đảm nhiệm có thể trở nên phần nào sáng tỏ hơn, và mối liên hệ của họ với Hành Tinh Thượng đế và với Thái dương Thượng đế cũng có thể trở nên rõ ràng hơn.
We must not only study them in connection with ourselves and with our effort to identify ourselves with the solar Lords of the lunar Pitris, but must recognise also:
Chúng ta không những phải nghiên cứu họ trong mối liên hệ với chính mình và với nỗ lực của chúng ta nhằm đồng hoá mình với các nhật tinh quân của các thái âm tổ phụ, mà còn phải nhận ra:
a. The solar Angels of a planetary scheme.
a. Các Thái dương Thiên Thần của một hệ hành tinh.
b. The solar Angels of the solar system.
b. Các Thái dương Thiên Thần của hệ mặt trời.
c. The lunar lords of the scheme and system.
c. Các nguyệt tinh quân của hệ hành tinh và của hệ thống.
The word “lunar” is here an anachronism and is technically inaccurate. The moon or moons in any scheme are systemic effects, and are not causes. In certain planetary relationships, they are considered causes, but in connection with our solar system they are not. Yet also, in connection with a system, there exist cosmically certain bodies in space which have as definite an effect upon the system as the moon has upon the earth. This is something as yet unknown and incomprehensible to metaphysicians, scientists and astronomers. War wages cosmically as yet between the systemic “lunar” lords, and those Entities who are analogous to the solar Lords on cosmic levels. Until our students extend their concept to include in their calculations the logoic astral and mental bodies as the Logos seeks to express emotion and mind on the physical plane (through His physical body, a solar system) they will not progress far towards the heart of the solar mystery. Until the force of the cosmic lunar Lords is sought for, the fact of there being entire constellations beyond our solar system in process of disintegration in time and space in a manner similar to [Page 835] the disintegration of the moon will not be known nor the effects of this traced. Eventually our solar system will pass into a similar state. The true mystery of evil (265) lies here, and the true reality of the “War in Heaven” must here be sought. Similarly it must be remembered that planetary schemes pass into obscuration and “die out,” through the withdrawal in all cases of the positive life and energy and of the electric fire which is the animating principle of every system, scheme, globe, kingdom in nature, and human unit. This produces again in every case the dying out of the “solar radiance,” or of the light produced by the commingling of the negative and positive energy. All that is left in every case again is the habitual energy of the substance upon which, and through which, the positive energy has had such a remarkable [Page 836] effect. This negative type of force gradually dissipates, or disperses itself, and seeks the central reservoir of energy. The spheroidal form is thus disintegrated. This can be seen working out now in the case of the moon, and the same rule holds good for all bodies. We might word it otherwise:—The solar Devas (or radiant energy) return to the central Heart or to the source which breathed them out. This leaves the lesser deva substance dependent upon its own internal heat, as it involves the withdrawal of that which built substance into form. This deva substance is of many kinds and perhaps the consequent procedure can be more clearly understood if we say that as the form breaks up the lesser builders and devas return to their group soul. Certain of them, those who form the bodies of the fourth kingdom in nature, and who are therefore the highest kind of substance through which consciousness can manifest in the three worlds, are on the road towards individualisation,—they are nearer the human stage than the substance of the three other kingdoms. They occupy a place in the deva evolution analogous to that which a man holds in the human kingdom (note that I say kingdom, not evolution) who is nearing the Path. The goal for the devas (below the rank of solar Pitris) is individualisation, and their objective is to become men in some future cycle. The goal for a man is initiation, or to become a conscious Dhyan Chohan, and in some distant cycle to do for the humanity of that age what the solar Pitris have done for him, and make their self-conscious expression a possibility. The goal for a solar Pitri is, as said earlier, to become a logoic Ray. (266)
Từ “thái âm” ở đây là một lối gọi lỗi thời và về mặt kỹ thuật là không chính xác. Mặt trăng hay các mặt trăng trong bất kỳ hệ hành tinh nào đều là những hiệu quả có tính hệ thống, chứ không phải nguyên nhân. Trong một số tương quan hành tinh, chúng được xem là nguyên nhân, nhưng liên hệ với hệ mặt trời của chúng ta thì không phải vậy. Tuy nhiên, liên hệ với một hệ thống, vẫn có những thiên thể nào đó trong không gian, xét theo vũ trụ, có tác động xác định lên hệ thống cũng như mặt trăng tác động lên Trái Đất. Đây là điều hiện vẫn chưa được các nhà siêu hình học, các nhà khoa học và các nhà thiên văn học biết đến và thấu hiểu. Hiện nay, trên bình diện vũ trụ, chiến tranh vẫn diễn ra giữa các nguyệt tinh quân “có tính hệ thống” và những Thực Thể tương tự với các nhật tinh quân trên các cấp độ vũ trụ. Chừng nào các đạo sinh của chúng ta chưa mở rộng khái niệm của mình để bao gồm trong các tính toán của họ các thể cảm dục và thể trí của Thượng đế, khi Thượng đế tìm cách biểu lộ cảm xúc và trí tuệ trên cõi hồng trần (qua thể xác của Ngài là một hệ mặt trời), thì họ sẽ không tiến xa được đến trung tâm của huyền nhiệm thái dương. Chừng nào mãnh lực của các nguyệt tinh quân vũ trụ chưa được truy tìm, thì sự kiện rằng có những chòm sao trọn vẹn bên ngoài hệ mặt trời của chúng ta đang trong tiến trình tan rã trong thời gian và không gian theo cách tương tự như [Page 835] sự tan rã của mặt trăng sẽ không được biết đến, cũng như các hiệu quả của điều này sẽ không được truy nguyên. Cuối cùng, hệ mặt trời của chúng ta cũng sẽ đi vào một trạng thái tương tự. Huyền nhiệm đích thực của điều ác (265) nằm ở đây, và thực tại đích thực của “Chiến Tranh trên Thiên Đàng” cũng phải được tìm ở đây. Tương tự như vậy, cần nhớ rằng các hệ hành tinh đi vào tình trạng lu mờ và “tắt lịm”, trong mọi trường hợp, do sự rút lui của sự sống và năng lượng dương cùng Lửa Điện là nguyên khí sinh động của mọi hệ thống, hệ hành tinh, bầu hành tinh, giới trong thiên nhiên và đơn vị nhân loại. Điều này lại tạo ra trong mọi trường hợp sự tắt dần của “ánh huy hoàng thái dương”, hay của ánh sáng được tạo ra bởi sự hòa trộn giữa năng lượng âm và dương. Trong mọi trường hợp, điều còn lại chỉ là năng lượng theo thói quen của chất liệu mà trên đó, và qua đó, năng lượng dương đã tạo ra một hiệu quả [Page 836] đáng kể như thế. Loại mãnh lực âm này dần dần tiêu tan, hay tự phân tán, và tìm về bể chứa năng lượng trung tâm. Do đó hình thể cầu bị tan rã. Điều này hiện có thể thấy đang diễn ra trong trường hợp của mặt trăng, và cùng một quy luật ấy đúng cho mọi thiên thể. Chúng ta có thể diễn đạt theo cách khác:—Các thiên thần thái dương (hay năng lượng rạng ngời) trở về Trái Tim trung tâm hay trở về nguồn đã thở họ ra. Điều này để lại chất liệu thiên thần thấp lệ thuộc vào nhiệt nội tại của chính nó, vì nó bao hàm sự rút lui của cái đã xây dựng chất liệu thành hình tướng. Chất liệu thiên thần này có nhiều loại, và có lẽ tiến trình tiếp theo có thể được hiểu rõ hơn nếu chúng ta nói rằng khi hình tướng tan vỡ, các vị tiểu kiến tạo và các thiên thần trở về hồn nhóm của họ. Một số trong họ, những vị tạo thành các thể của giới thứ tư trong thiên nhiên, và vì vậy là loại chất liệu cao nhất mà qua đó tâm thức có thể biểu lộ trong ba cõi thấp, đang trên đường tiến tới biệt ngã hóa,—họ gần giai đoạn nhân loại hơn chất liệu của ba giới kia. Họ chiếm một vị trí trong tiến hoá thiên thần tương tự như vị trí mà một người giữ trong giới nhân loại (lưu ý rằng tôi nói là giới, không phải tiến hoá) khi người ấy đang tiến gần Con Đường. Mục tiêu của các thiên thần (dưới cấp bậc các thái dương tổ phụ) là biệt ngã hóa, và cứu cánh của họ là trở thành con người trong một chu kỳ tương lai nào đó. Mục tiêu của con người là điểm đạo, hay trở thành một Dhyan Chohan hữu thức, và trong một chu kỳ xa xôi nào đó làm cho nhân loại của thời đại ấy điều mà các thái dương tổ phụ đã làm cho y, và khiến sự biểu lộ ngã thức của họ trở thành khả hữu. Mục tiêu của một thái dương tổ phụ, như đã nói trước đây, là trở thành một cung của Thượng đế. (266)
(265) Problem of Evil.
(265) Vấn đề Điều Ác.
The following quotation is from a trance writing, given through Dr. Anna Kingsford; it runs thus:
Đoạn trích dẫn sau đây lấy từ một bản viết trong trạng thái xuất thần, được truyền qua Tiến sĩ Anna Kingsford; nội dung như sau:
“You have demanded also the origin of evil. This is a great subject and we should have withheld it from you longer, but that it seems to us now that you are in need of it. Understand then that Evil is the result of Creation. For Creation is the result of the projection of Spirit into matter; and with this projection came the first germ of evil. We would have you know that there is no such thing as a purely spiritual evil, but evil is the result of the materialisation of Spirit. If you examine carefully all we have said to you concerning the various forms of evil, you will see that every one is the result of the limitation of the power to perceive that the whole Universe is but the Larger Self....It is, then, true that God created evil; but yet it is true that God is Spirit, and being Spirit is incapable of evil. Evil is then purely and solely the result of the materialisation of God. This is a great mystery. We can but indicate it tonight....God is perception itself. God is universal percipience. God is that which sees and that which is seen. If we could see all, hear all, touch all, and so forth, there would be no evil, for evil comes of the limitation of perception. Such limitation was necessary if God was to produce aught other than God. Aught other than God must be less than God. Without evil, therefore, God would have remained alone. All things are God according to the measure of the Spirit in them.”
“Bạn cũng đã hỏi về nguồn gốc của điều ác. Đây là một chủ đề lớn và lẽ ra chúng tôi còn phải giữ lại lâu hơn nữa, nếu như hiện nay chúng tôi không thấy rằng bạn cần đến nó. Vậy hãy hiểu rằng Điều Ác là kết quả của Sáng Tạo. Vì Sáng Tạo là kết quả của sự phóng chiếu Tinh thần vào vật chất; và cùng với sự phóng chiếu ấy đã đến mầm mống đầu tiên của điều ác. Chúng tôi muốn bạn biết rằng không có cái gọi là điều ác thuần túy tinh thần, mà điều ác là kết quả của sự hiện hình của Tinh thần. Nếu bạn khảo sát cẩn thận mọi điều chúng tôi đã nói với bạn về các hình thức khác nhau của điều ác, bạn sẽ thấy rằng mỗi một hình thức đều là kết quả của sự giới hạn quyền năng tri giác rằng toàn thể Vũ Trụ chỉ là Bản Ngã Lớn Hơn....Vậy thì đúng là Thượng đế đã tạo ra điều ác; nhưng cũng đúng là Thượng đế là Tinh thần, và vì là Tinh thần nên không thể có điều ác. Vậy điều ác hoàn toàn và duy nhất là kết quả của sự hiện hình của Thượng đế. Đây là một huyền nhiệm lớn. Tối nay chúng tôi chỉ có thể chỉ ra điều đó....Thượng đế chính là tri giác. Thượng đế là năng lực tri giác phổ quát. Thượng đế là cái thấy và cái được thấy. Nếu chúng ta có thể thấy tất cả, nghe tất cả, chạm đến tất cả, v.v., thì sẽ không có điều ác, vì điều ác phát sinh từ sự giới hạn của tri giác. Sự giới hạn ấy là cần thiết nếu Thượng đế muốn tạo ra bất cứ điều gì khác ngoài Thượng đế. Bất cứ điều gì khác ngoài Thượng đế đều phải kém hơn Thượng đế. Vì vậy, nếu không có điều ác, Thượng đế đã vẫn ở một mình. Mọi sự đều là Thượng đế tùy theo mức độ Tinh thần ở trong chúng.”
That is to say, a perfected humanity will be a perfect vehicle of the divine Spirit (see the Mercaba of Ezekiel, 1st Chapter). Great is our indebtedness to the Seers who throw out for us flashes of light on the darkness and mystery of human life, where the struggling Spirit within is so often buried in the depths of this mysterious Chaos, thereby making visible the darkness, so that we are enabled to see a few steps of the Way ahead, thus encouraging us to press forward with renewed assurance that the mists and clouds will be dispelled, and we shall in due time enter the fulness of the divine Presence.—The Theosophist, Vol. XXIX, p. 50. (back)
Điều đó có nghĩa là một nhân loại được hoàn thiện sẽ là một vận cụ hoàn hảo của Tinh thần thiêng liêng (xem Mercaba của Ezekiel, Chương 1). Thật lớn lao là món nợ biết ơn của chúng ta đối với các nhà thông nhãn, những vị đã ném ra cho chúng ta những tia chớp ánh sáng vào bóng tối và huyền nhiệm của đời sống con người, nơi Tinh thần đang vật lộn bên trong thường bị chôn vùi trong chiều sâu của Cõi Hỗn Mang bí ẩn này, nhờ đó làm cho bóng tối trở nên hữu hình, để chúng ta có thể thấy được vài bước của Con Đường phía trước, và như thế khích lệ chúng ta tiến lên với niềm xác tín được đổi mới rằng sương mù và mây sẽ bị xua tan, và đến đúng lúc chúng ta sẽ đi vào sự viên mãn của Hiện Diện thiêng liêng.—The Theosophist, Tập XXIX, tr. 50. (back)
(266) The Goal for the Pitris:
(266) Mục tiêu của các Pitri:
The lunar Pitris are on a level with the lower Principles.—S. D., II, 82.
Các thái âm tổ phụ ở cùng một cấp độ với các nguyên khí thấp.—S. D., II, 82.
a. They create our lower principles... S. D., II, 92.
a. Họ tạo ra các nguyên khí thấp của chúng ta... S. D., II, 92.
b. They possess creative fire but not divine fire... S. D., II, 81, 82.
b. Họ sở hữu lửa sáng tạo nhưng không có lửa thiêng liêng... S. D., II, 81, 82.
c. They evolve the human form... S. D., I, 203.
c. Họ tiến hoá hình thể con người... S. D., I, 203.
d. They will eventually become men... S. D., I, 203.
d. Cuối cùng họ sẽ trở thành con người... S. D., I, 203.
Compare S. D., II, 99.
So sánh S. D., II, 99.
The higher Principles are latent in the animals.—S. D., II, 266, 279
Các nguyên khí cao hơn tiềm tàng trong giới động vật.—S. D., II, 266, 279
a. The solar Pitris embody the fifth principle... S. D., I, 241.
a. Các thái dương tổ phụ thể hiện nguyên khí thứ năm... S. D., I, 241.
b. They give consciousness to man... S. D., I, 204.
b. Họ ban tâm thức cho con người... S. D., I, 204.
c. They furnish the vehicle for the incarnating Monad, forming the egoic body... S. D., I, 237.
c. Họ cung cấp vận cụ cho chân thần đang nhập thể, tạo thành thể chân ngã... S. D., I, 237.
d. They develop the human type... S. D., II, 243.
d. Họ phát triển loại hình con người... S. D., II, 243.
Compare S. D., II, 96 (back)
So sánh S. D., II, 96 (back)
[Page 837] To return to the matter which we were considering:—Just as the moon is a deterrent or malefic force where the Earth is concerned, and productive of evil “influences,” so all such disintegrating bodies are equally destructive. Such bodies exist within the solar ring-pass-not, (267) unrecognised as yet, and disintegrating constellations (of which there are many in the universe, unknown and unrecognised by scientists) have an equally malefic effect upon our system, and upon all that passes into their sphere of influence.
[Page 837] Trở lại vấn đề chúng ta đang xem xét:—Cũng như mặt trăng là một mãnh lực cản trở hay hung hại đối với Trái Đất, và tạo ra những “ảnh hưởng” xấu, thì mọi thiên thể đang tan rã như vậy cũng đều có tính phá hoại tương tự. Những thiên thể như thế tồn tại bên trong vòng-giới-hạn thái dương, (267) hiện vẫn chưa được nhận biết, và các chòm sao đang tan rã (mà có rất nhiều trong vũ trụ, chưa được các nhà khoa học biết đến và nhận ra) cũng có một tác động hung hại tương tự lên hệ thống của chúng ta, và lên mọi thứ đi vào phạm vi ảnh hưởng của chúng.
(267) Unseen Planets: “Not all of the Intra-Mercurial planets, nor yet those in the orbit of Neptune, are yet discovered, although they are strongly suspected. We know that such exist and where they exist; and that there are innumerable planets “burnt out” they say,—in Obscuration we say;—planets in formation and not yet luminous, etc.”...
(267) Các Hành Tinh Vô Hình: “Không phải tất cả các hành tinh nội Sao Thủy, cũng chưa phải tất cả những hành tinh trong quỹ đạo của Sao Hải Vương, đều đã được khám phá, mặc dù chúng bị nghi ngờ mạnh mẽ. Chúng tôi biết rằng những hành tinh như thế tồn tại và chúng tồn tại ở đâu; và rằng có vô số hành tinh ‘đã cháy hết’ như họ nói,—chúng tôi nói là đang trong tình trạng Lu Mờ;—những hành tinh đang hình thành và chưa phát sáng, v.v.”...
“When so attached the ‘tasimeter’ will afford the possibility not only to measure the heat of the remotest of visible stars, but to detect by their invisible radiations stars that are unseen and otherwise undetectable, hence planets also. The discoverer, an F. T. S., a good deal protected by M., thinks that if, at any point in a blank space of heavens—a space that appears blank even through a telescope of the highest power—the tasimeter indicates an accession of temperature and does so invariably; this will be a regular proof that the instrument is in range with the stellar body either non-luminous or so distant as to be beyond the reach of telescopic vision. His tasimeter, he says, ‘is affected by a wider range of etheric undulations than the Eye can take cognisance of.’ Science will Hear sounds from certain planets before she Sees them. This is a Prophecy.”—Mahatma Letters to A. P. Sinnett, p. 169. (back)
“Khi được gắn như vậy, ‘tasimeter’ sẽ cho khả năng không những đo được nhiệt của những ngôi sao nhìn thấy xa nhất, mà còn phát hiện qua các bức xạ vô hình của chúng những ngôi sao không thể thấy và không thể phát hiện bằng cách nào khác, do đó cả các hành tinh nữa. Nhà phát minh, một F. T. S., được Chân sư M. bảo hộ khá nhiều, cho rằng nếu, tại bất kỳ điểm nào trong một khoảng trống của bầu trời—một khoảng trống trông có vẻ rỗng ngay cả qua kính thiên văn mạnh nhất—tasimeter cho thấy sự gia tăng nhiệt độ và luôn luôn như vậy; thì đó sẽ là bằng chứng chắc chắn rằng dụng cụ ấy đang nằm trong tầm của một thiên thể hoặc không phát sáng hoặc ở xa đến mức vượt ngoài tầm nhìn của kính thiên văn. Ông nói tasimeter của ông ‘bị tác động bởi một phạm vi rộng hơn của các dao động dĩ thái so với điều mà Mắt có thể nhận biết.’ Khoa học sẽ Nghe được âm thanh từ một số hành tinh trước khi cô ấy Thấy chúng. Đây là một Lời Tiên Tri.”—Mahatma Letters to A. P. Sinnett, tr. 169. (back)
There is one such constellation, situated between the lesser Dipper and our system, and another, interrelated with the Pleiades and our system which still have a profound effect upon the physical body of the solar Logos.
Có một chòm sao như thế, nằm giữa Tiểu Hùng Tinh và hệ thống của chúng ta, và một chòm sao khác, có liên hệ với Pleiades và hệ thống của chúng ta, vẫn còn có một ảnh hưởng sâu xa lên thể xác của Thái dương Thượng đế.
The above paragraph is specifically worded thus because the effects are felt in the lowest sheath of all, and are responsible for much that is ignorantly termed “black magic.” These two constellations have run their cycles and are “dissolving.” Some of their life force and energy has been transferred to our solar system, [Page 838] just as the lunar life force was transferred to our earth, and this it is that is the cause of much cyclic evil. The process of decay and the evil emanations induced still have power to influence forms which are responsive to what was for them an earlier vibration. The substance of these forms is magnetically linked with the decaying body, much as the etheric double is connected with its dense sheath, and effects are therefore manifested. Purificatory fire is the only cure for this magnetic corruption, and this is being utilised freely by the planetary Logoi in Their schemes, and by the solar Logos in the system.
Đoạn trên được diễn đạt một cách đặc biệt như vậy vì các hiệu quả được cảm nhận trong thể thấp nhất của tất cả, và chịu trách nhiệm cho nhiều điều bị gọi một cách thiếu hiểu biết là “hắc thuật”. Hai chòm sao này đã hoàn tất các chu kỳ của chúng và đang “tan rã”. Một phần mãnh lực sự sống và năng lượng của chúng đã được chuyển dịch sang hệ mặt trời của chúng ta, [Page 838] cũng như mãnh lực sự sống thái âm đã được chuyển sang địa cầu của chúng ta, và chính điều này là nguyên nhân của nhiều điều ác có tính chu kỳ. Tiến trình phân rã và các phát xạ xấu do đó gây ra vẫn còn có quyền năng ảnh hưởng đến những hình tướng đáp ứng với điều vốn là một rung động trước kia đối với chúng. Chất liệu của các hình tướng này được nối kết bằng từ tính với thể đang phân rã, cũng như bản sao dĩ thái được nối với thể đậm đặc của nó, và vì vậy các hiệu quả được biểu lộ. Lửa thanh lọc là phương thuốc duy nhất cho sự ô nhiễm từ tính này, và điều đó đang được các Hành Tinh Thượng đế sử dụng rộng rãi trong các hệ hành tinh của Các Ngài, và bởi Thái dương Thượng đế trong hệ thống.
PURIFICATORY FIRE
LỬA THANH LỌC
“The fire burned low. A dull red glow slumbered within the Heart of Mother. Its warmth was scarcely felt. The first and second of the inner lines throbbed with the burning, but the rest were cold.
“Ngọn lửa cháy thấp. Một ánh đỏ xỉn ngủ yên trong Trái Tim của Mẹ. Hơi ấm của nó hầu như không cảm thấy được. Tuyến thứ nhất và thứ hai của các tuyến bên trong rung lên vì sức cháy, nhưng phần còn lại thì lạnh.
The Sons of God looked down from the innermost centre. They looked, then turned away Their gaze and thoughts to other spheres. Their hour had not yet come. The elemental fires had not prepared the altar for the Lords. The sacrificial fire waited in its high place and the steady glow beneath increased.
Các Con của Thượng đế nhìn xuống từ trung tâm thâm nội nhất. Họ nhìn, rồi quay ánh mắt và tư tưởng của Họ sang các khối cầu khác. Giờ của Họ vẫn chưa đến. Các lửa hành khí chưa chuẩn bị bàn thờ cho các Chúa Tể. Ngọn lửa hiến tế chờ đợi ở nơi cao của nó và ánh sáng ổn định bên dưới tăng lên.
The fire burned clearer, and the first and second slowly lighted up. Their glow became a line of brilliant fire yet the five remained untouched. The Sons of God again looked down. For one brief second They thought upon the Mother, and as They thought the third caught fire. Swiftly They looked away for the form as yet relayed to Them no call. The heat was latent and no outer warmth ascended to Their place.
Ngọn lửa cháy sáng hơn, và tuyến thứ nhất cùng thứ hai từ từ bừng lên. Ánh sáng của chúng trở thành một đường lửa rực rỡ nhưng năm tuyến kia vẫn chưa bị chạm đến. Các Con của Thượng đế lại nhìn xuống. Trong một giây ngắn ngủi Họ nghĩ đến Mẹ, và khi Họ nghĩ thì tuyến thứ ba bắt lửa. Nhanh chóng Họ ngoảnh đi vì hình tướng vẫn chưa chuyển đến cho Họ một lời kêu gọi nào. Nhiệt vẫn còn tiềm ẩn và không có hơi ấm bên ngoài nào bốc lên đến chỗ của Họ.
The aeons passed. The glow increased. The Spheres took form, but dissipated rapidly, lacking coherent force. They passed. They came again. Action incessant, noise and fire and smouldering heat characterised Their cycles. But the Lhas in Their high heaven spurned this elemental work and gazed within Themselves. They meditated.
Các đại kiếp trôi qua. Ánh sáng tăng lên. Các Khối Cầu thành hình, nhưng tan biến nhanh chóng vì thiếu mãnh lực kết dính. Chúng qua đi. Chúng lại đến. Hoạt động không ngừng, tiếng động và lửa cùng sức nóng âm ỉ đặc trưng cho các chu kỳ của Chúng. Nhưng các Lha ở cõi thượng thiên của Họ khước từ công việc hành khí này và nhìn vào bên trong Chính Họ. Họ tham thiền.
* * * * * * * * * *
* * * * * * * * * *
The glow became a steady burning and tiny flames were seen. The first, the second, and the third became three lines of fire and one triangle was consummated. Yet the four are seen quiescent [Page 839] and respond not to the heat. Thus do the cycles and the elemental lives pass and repass, and their work continues.
Ánh sáng trở thành một ngọn cháy ổn định và những ngọn lửa nhỏ được nhìn thấy. Tuyến thứ nhất, thứ hai và thứ ba trở thành ba đường lửa và một tam giác được hoàn tất. Tuy nhiên bốn tuyến vẫn được thấy là tĩnh lặng [Page 839] và không đáp ứng với sức nóng. Cứ thế các chu kỳ và các sự sống hành khí đi qua rồi trở lại, và công việc của chúng tiếp tục.
The forms are set, yet brief their span. They move not, yet they pass. The hour has come for the great awakening. They pass no longer down but mount.
Các hình tướng được thiết lập, nhưng đời sống của chúng ngắn ngủi. Chúng không chuyển động, nhưng chúng qua đi. Giờ của sự thức tỉnh lớn lao đã đến. Chúng không còn đi xuống nữa mà đi lên.
This is the interlude for which the Lhas in Their high place have waited. They may not enter yet the forms prepared, but feel Their hour approaching. They meditate anew, and for a minute gaze upon the myriad threefold fires until the fourth responds.
Đây là quãng ngưng mà các Lha ở nơi cao của Họ đã chờ đợi. Họ chưa thể đi vào các hình tướng đã được chuẩn bị, nhưng cảm thấy giờ của Họ đang đến gần. Họ lại tham thiền, và trong một phút nhìn vào vô số các lửa tam phân cho đến khi tuyến thứ tư đáp ứng.
The sixty seconds passed in dynamic concentration produce forms of triple kind, three sets of forms, and myriads in the three. The Heart of Mother contracts, and expands with these sixty fiery breaths. The lines become allied, and cubes are formed, shielding the inner fire. The altar is prepared, and four square stands. The altar glows, red at the centre and warm without.
Sáu mươi giây trôi qua trong sự tập trung năng động tạo ra các hình tướng tam phân, ba bộ hình tướng, và vô số trong bộ ba ấy. Trái Tim của Mẹ co lại, rồi giãn ra theo sáu mươi hơi thở rực lửa này. Các tuyến trở nên liên kết, và các khối lập phương được hình thành, che chở ngọn lửa bên trong. Bàn thờ được chuẩn bị, và hình vuông bốn cạnh đứng vững. Bàn thờ rực sáng, đỏ ở trung tâm và ấm ở bên ngoài.
* * * * * * * * * *
* * * * * * * * * *
The altar flames. Its heat mounts up, yet it burns not, nor is consumed. Its heat, which has no flame, reaches a higher sphere; the Sons of God for a brief period warm Themselves, yet approach not nearer to it until the passing of another cycle. They await the hour, the hour of sacrifice.
Bàn thờ bốc lửa. Nhiệt của nó bốc lên, nhưng nó không thiêu đốt, cũng không bị tiêu hao. Nhiệt của nó, không có ngọn lửa, vươn tới một khối cầu cao hơn; các Con của Thượng đế trong một thời gian ngắn sưởi ấm mình, nhưng chưa đến gần nó hơn cho đến khi một chu kỳ khác trôi qua. Họ chờ đợi giờ ấy, giờ của hiến tế.
The solar Lords, taking the Word as sounded by the Sons of God, arise in the fierceness of their solar life and approach the altar. The four lines glow and burn. The sun applies a ray; the solar Lords pass it through Their substance and again approach the altar. The fifth line awakens and becomes a glowing point, and then a dull red line, measuring the distance ‘twixt the altar and the One Who watches.
Các nhật tinh quân, tiếp nhận Linh từ như được xướng bởi các Con của Thượng đế, trỗi dậy trong sức mãnh liệt của sự sống thái dương của họ và tiến đến bàn thờ. Bốn tuyến rực sáng và cháy lên. Mặt trời áp một tia; các nhật tinh quân truyền nó qua chất liệu của Họ rồi lại tiến đến bàn thờ. Tuyến thứ năm thức tỉnh và trở thành một điểm sáng rực, rồi thành một đường đỏ xỉn, đo khoảng cách giữa bàn thờ và Đấng đang quan sát.
The fivefold fire dynamic begins to flicker and to burn. It lights not yet without; it simply glows. The aeons pass away, the cycles come and go.
Ngọn lửa ngũ phân năng động bắt đầu chập chờn và cháy lên. Nó chưa chiếu sáng ra bên ngoài; nó chỉ đơn thuần phát sáng. Các đại kiếp trôi qua, các chu kỳ đến rồi đi.
Steadily the solar Lords sacrifice Themselves; They are the fire upon the altar. The fourth provides the fuel.
Các nhật tinh quân đều đặn hiến tế Chính Họ; Họ là ngọn lửa trên bàn thờ. Tuyến thứ tư cung cấp nhiên liệu.
* * * * * * * * * *
* * * * * * * * * *
The Sons of God still watch. The work nears its final consummation. The Eternal Lhas in Their high place call each to each, and four take up the cry: “The fire is burning. Does the heat suffice?” [Page 840]
Các Con của Thượng đế vẫn quan sát. Công việc gần đến sự hoàn tất cuối cùng. Các Lha Vĩnh Cửu ở nơi cao của Họ gọi nhau, và bốn vị cất tiếng: “Lửa đang cháy. Nhiệt đã đủ chưa?” [Page 840]
Two answer to each other: “‘The fire is burning; the altar is well-nigh destroyed. What happens next?’” “Add to the fire with fuel from Heaven. Breathe on the blazing fire and fan its flame to utter fierceness.”
Hai vị đáp lời nhau: “‘Lửa đang cháy; bàn thờ gần như bị phá hủy. Điều gì xảy ra tiếp theo?’” “Hãy thêm vào lửa nhiên liệu từ Thiên Đàng. Hãy thổi vào ngọn lửa đang bùng cháy và quạt ngọn lửa của nó đến mức mãnh liệt tột cùng.”
Thus the command goes out from One Who watches, silent hitherto, through countless aeons. They send forth breath. Something prevents the passage of the breath. They call for aid. One makes His appearance Who has not yet been seen.
Thế là mệnh lệnh phát ra từ Đấng đang quan sát, Đấng cho đến nay vẫn im lặng qua vô số đại kiếp. Họ phát ra hơi thở. Có điều gì đó ngăn cản sự đi qua của hơi thở. Họ kêu gọi trợ giúp. Một Đấng xuất hiện mà trước đây chưa từng được thấy.
He lifts His hand. The one, the two, the three, the four and five merge into one and mingle with the sixth. The flame mounts up, responding to the breath. The final disappearance of the cube is needed and then the work stands forth.”
Ngài nâng tay lên. Một, hai, ba, bốn và năm hòa nhập thành một và hòa lẫn với sáu. Ngọn lửa bốc cao, đáp ứng với hơi thở. Sự biến mất cuối cùng của khối lập phương là điều cần thiết, rồi công việc sẽ hiển lộ.”
FROM THE ARCHIVES OF THE LODGE.
TỪ CÁC VĂN KHỐ CỦA THÁNH ĐOÀN.
(c) The Names of the Egoic Lotuses. We might consider briefly the work of forming the egoic lotus on its own plane; this is as the result of the work of the Agnishvattas, after its segregation in space, and the formation of its ring-pass-not. We have touched upon the remotest and earliest stages. One point we have not yet emphasised but which is of interest to the thoughtful student. This is the fact of the difference existing between the egoic bodies owing to their varying stages of development. For instance, up till the middle of the Atlantean rootrace (S. D., I, 196.) (when the door of individualisation was closed), Egos were to be seen at many differing stages from the newly organised “buds,” representing freshly individualised men, to the highly developed causal bodies of the different disciples and initiates, who were superintending the evolution of the race. Now the egoic bodies might be grouped from the evolutionary standpoint as follows:
(c) Tên gọi của các Hoa Sen Chân Ngã. Chúng ta có thể xét ngắn gọn công việc hình thành Hoa Sen Chân Ngã trên cõi riêng của nó; đây là kết quả của công việc của các Agnishvatta, sau khi nó được tách biệt trong không gian và hình thành vòng-giới-hạn của nó. Chúng ta đã chạm đến những giai đoạn xa xưa và sớm nhất. Có một điểm chúng ta chưa nhấn mạnh nhưng lại đáng quan tâm đối với đạo sinh biết suy tư. Đó là sự kiện về sự khác biệt tồn tại giữa các thể chân ngã do các giai đoạn phát triển khác nhau của chúng. Thí dụ, cho đến giữa giống dân gốc Atlantis (S. D., I, 196.) (khi cánh cửa biệt ngã hóa được đóng lại), có thể thấy các chân ngã ở nhiều giai đoạn rất khác nhau, từ những “nụ” vừa được tổ chức, tượng trưng cho những người vừa mới biệt ngã hóa, cho đến các thể nguyên nhân phát triển cao của các đệ tử và điểm đạo đồ khác nhau, những người đang giám sát sự tiến hoá của nhân loại. Hiện nay các thể chân ngã có thể được nhóm lại theo quan điểm tiến hoá như sau:
On the third subplane of the mental plane:
Trên cõi phụ thứ ba của cõi trí:
Bud egos. Our planetary scheme, being at the midway point in its evolution, there are therefore no unopened “buds” strictly speaking. All the egoic lotuses have at least one petal open. All the lotuses are organised, but there are vast differences among those of small development, [Page 841] showing forth in the brilliancy of the permanent atoms, and in the stage of petal unfoldment.
Các chân ngã nụ. Hệ hành tinh của chúng ta, vì đang ở điểm ở giữa trong tiến hoá của nó, nên nói cho đúng không có những “nụ” chưa nở. Mọi Hoa Sen Chân Ngã đều có ít nhất một cánh hoa mở. Tất cả các hoa sen đều đã được tổ chức, nhưng có những khác biệt rất lớn giữa những hoa sen ít phát triển, [Page 841] được biểu lộ qua độ rực sáng của các Nguyên tử trường tồn, và qua giai đoạn khai mở của các cánh hoa.
Brahmic lotuses in which the first or knowledge petal is fully unfolded. They are so called as they represent on the physical plane the fully active intelligent unity, the man of small mental development, the lowest type of workers, agriculturists, and peasants on every continent. They are also called “third class creators,” as they express themselves only through the act of physical creation on the physical plane, and their function is largely to provide vehicles for those of their own group.
Các hoa sen Brahma trong đó cánh hoa thứ nhất hay cánh hoa tri thức đã hoàn toàn khai mở. Chúng được gọi như vậy vì chúng tượng trưng trên cõi hồng trần cho đơn vị thông minh hoạt động trọn vẹn, con người có sự phát triển trí tuệ ít ỏi, loại người hoạt động thấp nhất, nông dân và tá điền trên mọi lục địa. Chúng cũng được gọi là “những đấng sáng tạo hạng ba”, vì chúng chỉ biểu lộ qua hành vi sáng tạo hồng trần trên cõi hồng trần, và chức năng của chúng phần lớn là cung cấp các vận cụ cho những người thuộc nhóm riêng của chúng.
The lotuses of Brahman, in which the second petal is showing signs of opening and the second aspect in its lowest manifestation is showing signs of demonstration. They stand as representing certain groups of Egos from certain planetary schemes, notably Jupiter and Venus, who are a grade higher than the class above, but which have as yet a long way to go. They are called “second class creators,” for though they demonstrate on the physical plane in the act of physical creation, yet they are more swayed by love than by animal instinct as in the first case. They are to be found incarnating at this time in the Orient, particularly in India and in the Latin countries, and just lately in America.
Các hoa sen của Brahman, trong đó cánh hoa thứ hai đang cho thấy dấu hiệu mở ra và phương diện thứ hai trong biểu hiện thấp nhất của nó đang cho thấy dấu hiệu biểu lộ. Chúng tượng trưng cho một số nhóm chân ngã từ một số hệ hành tinh nào đó, đặc biệt là Sao Mộc và Sao Kim, cao hơn một bậc so với lớp trên, nhưng vẫn còn một chặng đường dài phải đi. Chúng được gọi là “những đấng sáng tạo hạng hai”, vì tuy chúng biểu lộ trên cõi hồng trần trong hành vi sáng tạo hồng trần, nhưng chúng bị tình thương chi phối nhiều hơn là bản năng thú vật như trong trường hợp thứ nhất. Hiện nay có thể thấy chúng đang nhập thể ở phương Đông, đặc biệt là ở Ấn Độ và các nước Latin, và mới đây ở Mỹ.
Primary lotuses. These are a group of special interest brought in under the influence of the Lord of the fifth Ray, and therefore fundamentally allied to the energy which is the special manifestation in this system and the basis of all achievement, that is, manas. They were quiescent during the Atlantean root-race but have come in during the fourth and fifth subraces of this rootrace. They are a group a good deal more advanced than the earlier classes but need much to develop the second petal. With them the first and the third petals in the first circle are opening, but the middle petal is yet shut. The middle tier also shows no signs of vitality. Owing [Page 842] to conditions in their emanating planet, their development has been one-sided, and hence their entering on a wave of energy into this scheme in order to “round” themselves out, as it is called. They may be seen in the purely intellectual selfish scientific type. They are responsible for much of the advanced application of mechanical science to the needs of men, and for the introduction of certain types of machinery; they work largely in connection with the energy of the mineral kingdom. By this it must be inferred that the solar Lords who embody this type are linked with a group of lunar Lords who respond magnetically to the devas of the mineral kingdom. Their work for the race has at present a deleterious effect, but when the second petal is opened, the wonders then to be achieved by them in loving service along their own particular line will be one of the factors which will regenerate the fourth kingdom. They will achieve emancipation in the fifth round, four fifths of them passing on to the Path and one fifth set back for another cycle.
Các hoa sen sơ cấp. Đây là một nhóm đặc biệt đáng quan tâm, được đưa vào dưới ảnh hưởng của Đấng Chúa Tể Cung năm, và do đó về căn bản liên kết với năng lượng là biểu hiện đặc biệt trong hệ thống này và là nền tảng của mọi thành tựu, tức là manas. Chúng ở trong trạng thái tĩnh trong giống dân gốc Atlantis nhưng đã đi vào trong giống dân phụ thứ tư và thứ năm của giống dân gốc này. Chúng là một nhóm tiến bộ hơn khá nhiều so với các lớp trước nhưng cần phát triển rất nhiều cánh hoa thứ hai. Ở chúng, cánh hoa thứ nhất và thứ ba trong vòng thứ nhất đang mở ra, nhưng cánh hoa giữa vẫn còn khép. Tầng giữa cũng chưa cho thấy dấu hiệu sinh lực. Do [Page 842] các điều kiện trên hành tinh phát xạ của chúng, sự phát triển của chúng đã bị lệch một phía, và vì thế chúng đi vào hệ hành tinh này trên một làn sóng năng lượng để “làm tròn” chính mình, như cách gọi. Có thể thấy chúng nơi loại người khoa học thuần trí tuệ và ích kỷ. Chúng chịu trách nhiệm cho phần lớn việc áp dụng tiên tiến khoa học cơ khí vào các nhu cầu của con người, và cho việc đưa vào một số loại máy móc; chúng làm việc phần lớn liên hệ với năng lượng của giới kim thạch. Từ đó phải suy ra rằng các nhật tinh quân thể hiện loại này được nối kết với một nhóm nguyệt tinh quân đáp ứng bằng từ tính với các thiên thần của giới kim thạch. Công việc của chúng đối với nhân loại hiện nay có một tác động có hại, nhưng khi cánh hoa thứ hai được mở ra, những kỳ công mà khi ấy chúng sẽ đạt được trong sự phụng sự đầy bác ái theo đường lối riêng của chúng sẽ là một trong những yếu tố tái sinh giới thứ tư. Chúng sẽ đạt giải thoát trong cuộc tuần hoàn thứ năm, bốn phần năm trong số chúng bước lên Con Đường và một phần năm bị lùi lại cho một chu kỳ khác.
Lotuses of passion or desire. They are so called because their fundamental nature is embodied love in some one or other form. The bulk of the Monads of Love are among this large group and they are to be seen incarnating in the bulk of the well-to-do, kindly people of the world. They are divided into five groups, of whom three individualised upon this planet, and two were the very latest to individualise upon the moon chain. They have two petals unfolded and the third is for them at this time the object of their attention. Many may succeed in unfolding it before the seventh rootrace of this round but the bulk of them will unfold it in the second rootrace of the next round, and will stand ready before the close of the round to pass on to the probationary path, having unfolded one tier of petals, and organised the second. All these lotuses of the first circle are divided into groups but interplay goes on between them; energy in any centre [Page 843] produces reflex energy in another. It must be remembered that in closing the door in Atlantean times to the animal kingdom, and the consequent temporary cessation of the forming of any more “bud lotuses” the effect was dual, in directions other than the human or the animal. It was the result of the internal decision on the part of the planetary Logos to turn His attention away from the act of creation on the systemic mental plane to the work of progressive evolution. This caused a cessation of certain types of activity, producing a quiescence in certain of His centres, and an increased activity in others. It also had an effect upon the solar Angels, and consequently upon the Heart of the solar system from whence they are drawn. Floods of energy or streams of force from the heart of the sun (the subjective Sun) were arrested and directed elsewhere, while the Pitris already active began to centre their attention upon the work begun, and temporarily new beginnings were out of order. It must not be forgotten here that the work of the solar Pitris from their point of view, is not primarily the evolution of man, but is the process of their own development within the plan of the solar Logos. The evolution of the human race is, for them, but a method.
Các hoa sen của đam mê hay dục vọng. Chúng được gọi như vậy vì bản chất căn bản của chúng là tình thương được thể hiện dưới hình thức này hay hình thức khác. Phần lớn các Chân thần của Tình thương thuộc về nhóm lớn này và có thể thấy chúng đang nhập thể trong phần đông những người khá giả, tử tế trên thế giới. Chúng được chia thành năm nhóm, trong đó ba nhóm đã biệt ngã hóa trên hành tinh này, và hai nhóm là những nhóm biệt ngã hóa muộn nhất trên Dãy Mặt Trăng. Chúng có hai cánh hoa đã khai mở và cánh hoa thứ ba hiện nay là đối tượng chú ý của chúng. Nhiều hoa sen có thể thành công trong việc khai mở cánh hoa ấy trước giống dân gốc thứ bảy của cuộc tuần hoàn này nhưng phần lớn trong số chúng sẽ khai mở nó trong giống dân gốc thứ hai của cuộc tuần hoàn kế tiếp, và sẽ sẵn sàng trước khi cuộc tuần hoàn kết thúc để bước lên Con Đường Dự Bị, sau khi đã khai mở một tầng cánh hoa và tổ chức tầng thứ hai. Tất cả các hoa sen của vòng thứ nhất này đều được chia thành các nhóm nhưng vẫn có sự tương tác giữa chúng; năng lượng trong bất kỳ trung tâm nào [Page 843] cũng tạo ra năng lượng phản xạ trong một trung tâm khác. Cần nhớ rằng khi đóng cánh cửa vào thời Atlantis đối với giới động vật, và do đó tạm thời chấm dứt việc hình thành thêm bất kỳ “hoa sen nụ” nào nữa, hiệu quả là nhị phân, theo những hướng khác ngoài nhân loại hay động vật. Đó là kết quả của quyết định nội tại từ phía Hành Tinh Thượng đế nhằm chuyển sự chú ý của Ngài khỏi hành vi sáng tạo trên cõi trí có tính hệ thống sang công việc tiến hoá tuần tự. Điều này gây ra sự chấm dứt của một số loại hoạt động, tạo nên trạng thái tĩnh trong một số trung tâm của Ngài, và gia tăng hoạt động trong những trung tâm khác. Nó cũng có ảnh hưởng lên các Thái dương Thiên Thần, và do đó lên Trái Tim của hệ mặt trời từ đó họ được rút ra. Những dòng năng lượng hay những luồng mãnh lực từ trái tim mặt trời (Mặt Trời chủ quan) đã bị chặn lại và chuyển hướng sang nơi khác, trong khi các Pitri đã hoạt động thì bắt đầu tập trung sự chú ý của họ vào công việc đã khởi sự, và tạm thời những khởi đầu mới không còn được đặt ra. Ở đây không được quên rằng công việc của các thái dương tổ phụ theo quan điểm của họ, không chủ yếu là sự tiến hoá của con người, mà là tiến trình phát triển riêng của họ trong Thiên Cơ của Thái dương Thượng đế. Đối với họ, sự tiến hoá của nhân loại chỉ là một phương pháp.
Perfected men are in the councils of the planetary Logos of their particular ray; the solar Pitris are in the council of the solar Logos. (269)
Những con người hoàn thiện ở trong các hội đồng của Hành Tinh Thượng đế thuộc cung riêng của họ; các thái dương tổ phụ ở trong hội đồng của Thái dương Thượng đế. (269)
(269) All these will become solar Logoi of varying grades. (back)
(269) Tất cả những vị này sẽ trở thành các Thái dương Thượng đế với những cấp bậc khác nhau. (back)
It might be of value here if we temporarily stopped our consideration of the egoic groups and briefly tabulated the evolutions, remembering that in this tabulation, the planes of differentiation alone are concerned; on the plane of the unmanifest or of the subjective, only unity is known. It must again be remembered that the term “unmanifest” is one of relative importance only, and concerns man’s apprehension of all that is. To the solar Logos the planes of the unmanifest are objective. Man has not as yet achieved etheric vision, and the etheric
Ở đây có lẽ sẽ hữu ích nếu chúng ta tạm dừng việc xem xét các nhóm chân ngã và lập bảng ngắn gọn về các tiến hoá, nhớ rằng trong bảng này chỉ liên quan đến các cõi của sự biến phân; trên cõi không biểu hiện hay cõi chủ quan, chỉ có hợp nhất được biết đến. Cần lại nhớ rằng thuật ngữ “không biểu hiện” chỉ có tầm quan trọng tương đối, và liên quan đến sự lĩnh hội của con người đối với tất cả những gì hiện hữu. Đối với Thái dương Thượng đế, các cõi không biểu hiện là khách quan. Con người hiện vẫn chưa đạt được linh thị dĩ thái, và các cõi phụ dĩ thái
[Page 844] TABULATION VI
[Page 844] BẢNG VI
#
Lives
Goal
Các Sự Sống
Mục Tiêu
1
Planetary Logoi - The major Three.
Cosmic liberation; the final cosmic Initiations.
Các Hành Tinh Thượng đế - Ba Đấng Chính Yếu.
Giải thoát vũ trụ; các cuộc Điểm đạo vũ trụ tối hậu.
2
The minor four planetary Logoi
Cosmic Initiation, or the first four Initiations.
Bốn Hành Tinh Thượng đế thứ yếu
Điểm đạo vũ trụ, hay bốn lần điểm đạo đầu tiên.
3
The informing Lives of a planetary globe
Manus of a cosmic chain. Not a seed manu, but a periodical manu of lesser degree. This involves an unrevealable mystery, connected with certain Hierarchies of color.
Các Sự Sống phú linh của một bầu hành tinh
Các Manu của một dãy vũ trụ. Không phải là một seed manu, mà là một manu chu kỳ ở cấp thấp hơn. Điều này bao hàm một huyền nhiệm không thể tiết lộ, liên quan đến một số Huyền Giai màu sắc nhất định.
4
The informing life of a kingdom in nature
Transference in one of three directions:
a. To the line of the solar Pitris.
b. To Sirius, as a karmic adjuster.
c. To the solar system of the next order to work in connection with the planetary Logos of his own line as ruler of a kingdom or life wave in the system, and not just in a scheme.
Sự sống phú linh của một giới trong thiên nhiên
Chuyển dịch theo một trong ba hướng:
a. Đến dòng các thái dương tổ phụ.
b. Đến Sirius, như một đấng điều chỉnh nghiệp quả.
c. Đến hệ mặt trời thuộc trật tự kế tiếp để hoạt động liên kết với Hành Tinh Thượng đế thuộc dòng của chính y với tư cách là vị cai quản một giới hay một làn sóng sự sống trong hệ thống, chứ không chỉ trong một hệ hành tinh.
5
The solar Pitris.
The highest three groups will become major planetary Logoi; the lower four groups will become minor planetary Logoi.
Các thái dương tổ phụ.
Ba nhóm cao nhất sẽ trở thành các Hành Tinh Thượng đế chính yếu; bốn nhóm thấp hơn sẽ trở thành các Hành Tinh Thượng đế thứ yếu.
6
The human evolution.
To become the solar Pitris of another cycle. To follow any of the paths earlier enumerated. Those who become solar Pitris, being the bulk of humanity, return to Sirius to be breathed out again into activity.
Tiến hoá nhân loại.
Trở thành các thái dương tổ phụ của một chu kỳ khác. Đi theo bất kỳ con đường nào đã được liệt kê trước đó. Những ai trở thành các thái dương tổ phụ, vốn là phần lớn nhân loại, sẽ quay trở về Sirius để lại được thở ra vào hoạt động một lần nữa.
7
The lunar Pitris
To become men. They will in their higher grades pass directly into the animal evolution of the next cycle and so eventually individualise. Their three higher grades will become animal-men, and the lower four will contribute to the quaternic forms of the men of the next creation.
Các thái âm tổ phụ
Trở thành con người. Trong các cấp cao hơn của mình, họ sẽ trực tiếp đi vào tiến hoá động vật của chu kỳ kế tiếp và do đó cuối cùng sẽ biệt ngã hóa. Ba cấp cao hơn của họ sẽ trở thành những người-thú, và bốn cấp thấp hơn sẽ góp phần tạo nên các hình tướng tứ phân của con người trong sáng tạo kế tiếp.
8
The animal evolution
Human kingdom.
Tiến hoá động vật
Giới nhân loại.
9
The vegetable evolution
The animal kingdom.
Tiến hoá thực vật
Giới động vật.
10
The mineral evolution
The vegetable kingdom.
Tiến hoá khoáng vật
Giới thực vật.
11
The four higher grades of lesser Builders on all planes
They will form the manifested double or form of that mysterious third evolution of the next system; that is, the etheric body of the planetary entity. This mysterious life is as yet an unfathomable mystery and one which will not be revealed till the final one of the triplicity of solar systems of our solar Logos.
Bốn cấp cao hơn của các vị tiểu kiến tạo trên mọi cõi
Họ sẽ tạo thành bản sao biểu hiện hay hình tướng của cuộc tiến hoá thứ ba huyền nhiệm của hệ thống kế tiếp; tức là thể dĩ thái của thực thể hành tinh. Sự sống huyền nhiệm này hiện vẫn còn là một huyền nhiệm không thể dò thấu và sẽ không được tiết lộ cho đến hệ cuối cùng trong bộ ba các hệ mặt trời của Thái dương Thượng đế của chúng ta.
12
The three lower grades of the lesser Builders
The physical body in its densest form of the planetary entity.
Ba cấp thấp hơn của các vị tiểu kiến tạo
Thể xác trong hình tướng đậm đặc nhất của thực thể hành tinh.
[Page 845] subplanes are to him as yet unmanifest. The solar Logos has cosmic etheric vision fully developed, and because He is on the cosmic Path all is known and fully revealed to Him within the solar System.
[Page 845] đối với y hiện vẫn là không biểu hiện. Thái dương Thượng đế đã phát triển đầy đủ linh thị dĩ thái vũ trụ, và vì Ngài đang ở trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu nên mọi sự trong hệ mặt trời đều được biết và được mặc khải trọn vẹn cho Ngài.
It might here be noted that the planetary Entity is the sumtotal of all the elemental lives of the lesser Builders functioning as, or forming, the substance of any particular globe in physical objectivity. The mystery of the whole subject lies hidden in three things:
Ở đây có thể lưu ý rằng Thực Thể Hành Tinh là tổng số của mọi sự sống hành khí của các vị tiểu kiến tạo đang hoạt động như, hay tạo thành, chất liệu của bất kỳ bầu hành tinh nào trong tính khách quan hồng trần. Huyền nhiệm của toàn bộ chủ đề này ẩn giấu trong ba điều:
First, the fact that our three planes, physical, astral, and mental, form the dense body of the solar Logos, and are therefore not considered as forming principles.
Thứ nhất, sự kiện rằng ba cõi của chúng ta, hồng trần, cảm dục và trí tuệ, tạo thành thể đậm đặc của Thái dương Thượng đế, và vì vậy không được xem là tạo thành các nguyên khí.
The second fact is that the lesser “lives” or the elemental essence are the “refuse” of an earlier system, and react to inherent impulses so powerfully that it was only possible to control them through the dynamic will of the Logos, consciously applied. The word “refuse” must be interpreted analogically, and as is understood when it is said that man gathers to himself in each fresh incarnation matter to form his dense physical body which is tinged with the earlier vibrations of preceding incarnations. These “lives” have been gradually drawn in during the entire mahamanvantara as it became safe and possible to control and bend them to the will of the greater Builders. Much of the earlier energy-substance in systemic construction has been passed on into that force-matter which we call that of the lunar Pitris, and its place has gradually been taken by this type of energy, gathered in from the greater sphere in which our Logos has place. The twelve evolutions are after all but the twelve types of energy, manifesting ever in three groups of forces, and again as one group when synthesised during the process of manifestation. They are fourfold in interaction, and have a systemic ebb and flow about which little is known.
Sự kiện thứ hai là các “sự sống” thấp hơn hay tinh chất hành khí là “phế liệu” của một hệ thống trước, và đáp ứng với những xung lực cố hữu mạnh đến mức chỉ có thể kiểm soát chúng qua ý chí năng động của Thượng đế, được áp dụng một cách hữu thức. Từ “phế liệu” phải được diễn giải theo định luật tương đồng, và như được hiểu khi nói rằng con người thu hút về mình trong mỗi lần nhập thể mới vật chất để tạo thành thể xác đậm đặc của y, thể này nhuốm các rung động trước kia của những lần nhập thể trước. Các “sự sống” này đã dần dần được thu hút vào trong suốt toàn bộ Đại giai kỳ sinh hóa khi việc kiểm soát và uốn chúng theo ý chí của các đấng đại kiến tạo trở nên an toàn và khả thi. Phần lớn chất liệu-năng lượng trước kia trong công trình kiến tạo có tính hệ thống đã được chuyển vào mãnh lực-vật chất mà chúng ta gọi là của các thái âm tổ phụ, và chỗ của nó dần dần được thay thế bởi loại năng lượng này, được thu hút từ khối cầu lớn hơn trong đó Thượng đế của chúng ta có vị trí. Rốt cuộc mười hai tiến hoá chỉ là mười hai loại năng lượng, luôn luôn biểu lộ trong ba nhóm mãnh lực, và rồi lại như một nhóm khi được tổng hợp trong tiến trình biểu hiện. Chúng là tứ phân trong sự tương tác, và có một thủy triều lên xuống có tính hệ thống mà người ta biết rất ít về nó.
Third, the fact of the coming into incarnation of the [Page 846] informing “life” of this low grade substance, who is an entity from a point in the Heavens which may not be mentioned: He embodies influences of a manasic nature, but manas at its very lowest vibration. Perhaps some idea of this may be gathered if it is stated that there is a resemblance between this vibration, or this energising life, and the basic vibration of the solar system preceding this one. We must remember that our basic vibration was the result of the evolutionary process of the entire earlier system. This entity has the same analogous relation to the deva evolution as the mysterious “bridges” which baffle scientists, and which are found between the vegetable and the animal kingdom, and the mineral and the vegetable; they are neither the one nor the other. On a large scale, this “life” or the informing entity of the lower life of the physical plane of the solar system is neither a full exponent of the subconscious life of the earlier system, nor of the elemental life of this; only in the next system will be seen the manifestation of a form of consciousness of a type at present inconceivable to man. Esoterically he is stated to have “neither sight nor hearing”; he is neither deva nor human in essence. He is occultly “blind,” utterly unaware; he is capable only of movement, and resembles the foetus in the womb; that which is coming to the birth only the next greater cycle will reveal. The mystery of the moon (S. D., I, 172, footnote.) or of the “divine lunatic” is connected somewhat with the revelation (through the premature compassion of our planetary Logos) of the life of this nature, informing the dense globe of the moon chain. On His high level, pity awoke in the heart of the planetary Logos for certain involutionary existences within the moon chain, and (like the Buddha on a lesser scale and at a much later date) compassionate zeal brought the karmic results with which we are still concerned. The “beast” must be driven back [Page 847] for his own good to run his cycle, hidden in his den and confined within safe limits until the dawning of a new system brings him conscious opportunity.
Thứ ba, sự kiện về việc đi vào lâm phàm của [Page 846] “sự sống” phú linh của loại chất liệu cấp thấp này, là một thực thể đến từ một điểm trên Thiên Giới không thể nêu tên: y thể hiện những ảnh hưởng có bản chất manas, nhưng là manas ở rung động thấp nhất của nó. Có lẽ có thể hình dung phần nào về điều này nếu nói rằng có một sự tương tự giữa rung động này, hay sự sống tiếp sinh lực này, với rung động căn bản của hệ mặt trời trước hệ này. Chúng ta phải nhớ rằng rung động căn bản của chúng ta là kết quả của tiến trình tiến hoá của toàn bộ hệ thống trước. Thực thể này có mối liên hệ tương tự với tiến hoá thiên thần như những “cầu nối” bí ẩn làm các nhà khoa học bối rối, và được tìm thấy giữa giới thực vật và giới động vật, và giữa giới kim thạch và giới thực vật; chúng không phải cái này cũng không phải cái kia. Trên quy mô lớn, “sự sống” này hay thực thể phú linh của sự sống thấp của cõi hồng trần của hệ mặt trời không phải là một biểu hiện trọn vẹn của sự sống tiềm thức của hệ thống trước, cũng không phải của sự sống hành khí của hệ này; chỉ trong hệ thống kế tiếp mới thấy được sự biểu lộ của một hình thức tâm thức thuộc loại hiện nay con người không thể hình dung nổi. Theo huyền bí học, y được nói là “không có thị giác cũng không có thính giác”; về bản chất y không phải thiên thần cũng không phải con người. Về mặt huyền bí, y “mù”, hoàn toàn không hay biết; y chỉ có khả năng chuyển động, và giống như bào thai trong tử cung; điều đang đi đến chỗ sinh ra ấy chỉ chu kỳ lớn hơn kế tiếp mới sẽ mặc khải. Huyền nhiệm của mặt trăng (S. D., I, 172, chú thích.) hay của “kẻ điên thiêng liêng” có phần liên hệ với sự mặc khải (qua lòng từ bi quá sớm của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta) về sự sống thuộc bản chất này, đang phú linh bầu hành tinh đậm đặc của Dãy Mặt Trăng. Trên cấp độ cao của Ngài, lòng thương xót đã thức dậy trong trái tim của Hành Tinh Thượng đế đối với một số hiện hữu giáng hạ tiến hoá trong Dãy Mặt Trăng, và (giống như Đức Phật ở quy mô nhỏ hơn và vào một thời điểm muộn hơn nhiều) nhiệt tâm từ bi đã mang đến những kết quả nghiệp quả mà chúng ta hiện vẫn còn liên hệ. “Con thú” phải bị đẩy lùi lại [Page 847] vì lợi ích riêng của nó để chạy hết chu kỳ của nó, ẩn trong hang của nó và bị giam trong những giới hạn an toàn cho đến khi bình minh của một hệ thống mới mang đến cho nó cơ hội hữu thức.
More we may not say. It must be remembered that the mysteries of existence are as yet but little cognised by man. In cases where profound mysteries lie, man is often totally unaware of it; and frequently man remains blind and deaf where no mystery is but only revelation for those who have eyes to see and ears to hear. When man has penetrated to those secrets which lie behind the lower kingdoms in nature, when he has solved the problem of the constitution of the interior of the Earth, and has from there worked his way back to knowledge of the working of the involutionary path and the lives which tread that path, then and then only will he begin to realise the strangeness of that which lies beyond his ken.
Chúng ta không thể nói thêm nữa. Cần nhớ rằng các huyền nhiệm của hiện hữu hiện vẫn còn được con người nhận biết rất ít. Trong những trường hợp có các huyền nhiệm sâu xa ẩn tàng, con người thường hoàn toàn không hay biết điều đó; và thường khi không có huyền nhiệm nào cả mà chỉ có sự mặc khải cho những ai có mắt để thấy và tai để nghe, con người vẫn mù và điếc. Khi con người đã thâm nhập được vào những bí mật nằm sau các giới thấp trong thiên nhiên, khi y đã giải được bài toán về cấu tạo bên trong của Trái Đất, và từ đó lần ngược trở lại để biết được sự vận hành của con đường giáng hạ tiến hoá và những sự sống bước đi trên con đường ấy, thì khi đó và chỉ khi đó y mới bắt đầu chứng nghiệm được tính kỳ lạ của điều nằm ngoài tầm hiểu biết của mình.
One further hint may be given, which will serve to throw a beam of light upon the problem for those who are ready, and will add to the confusion of the non-intuitive:—From the standpoint of the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID, to Whom our solar system is but a centre (which centre being one of the three truths revealed at the seventh Initiation)
Có thể đưa ra thêm một gợi ý nữa, gợi ý này sẽ giúp rọi một tia sáng lên vấn đề cho những ai đã sẵn sàng, và sẽ làm tăng thêm sự rối rắm cho những người không có trực giác:—Từ quan điểm của ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ, Đấng mà đối với Ngài hệ mặt trời của chúng ta chỉ là một trung tâm (mà trung tâm ấy là một trong ba chân lý được mặc khải ở lần điểm đạo thứ bảy)
a.
System I
was characterised by the organisation of a centre, and the mysterious life we have been speaking about was produced by the “lowest vibration of the centre.”
b.
System II
is characterised by the activity in three dimensions of this centre, and the evolution of three types of consciousness, deva, human and subhuman, in all their many grades and hierarchies. It is the period of the balancing of the forces in the centre.
c.
System III
will be characterised by the fourth dimensional activity of the centre, and the twelve types of evolution will become four types of force.
[Page 848] This is next to impossible for man to understand and will seem inexplicable, but this hint is imparted in order that man may realise the interdependence of the various systems, and the place they hold in a greater scheme; the intent is not to give the student uncorrelated facts of no apparent use to him. Without the premise of our position within a vaster scheme, man’s deductions will remain inaccurate.
[Page 848] Điều này hầu như con người không thể thấu hiểu và sẽ có vẻ không thể giải thích được, nhưng gợi ý này được truyền đạt để con người có thể chứng nghiệm sự tương thuộc của các hệ khác nhau, và vị trí mà chúng nắm giữ trong một hệ thống lớn lao hơn; mục đích không phải là cung cấp cho đạo sinh những sự kiện rời rạc dường như không có ích lợi gì cho y. Nếu không có tiền đề về vị trí của chúng ta trong một hệ thống bao la hơn, những suy luận của con người sẽ vẫn không chính xác.
We will now proceed with our enumeration of the groups of Egos according to their characteristics, but it might be wise to deal first with a problem which may be in some minds and see if it is not capable of solution. Two problems come before the mind of the thoughtful student; one concerns the position (in connection with any particular planetary scheme) of those vast groups of Egos, which are embodied by Lives, emanating from any one of the seven Rays, and associated with any of the various schemes. The other deals with the effect produced by the “coming-in” of Egos on the mental plane which are not “bud” Egos, but are possibly very fully developed, such as disciples and initiates.
Giờ đây chúng ta sẽ tiếp tục việc liệt kê các nhóm chân ngã theo các đặc tính của chúng, nhưng có lẽ khôn ngoan hơn nếu trước hết bàn đến một vấn đề có thể đang hiện diện trong tâm trí một số người và xem liệu nó có thể được giải quyết hay không. Có hai vấn đề hiện ra trước trí tuệ của đạo sinh biết suy tư; một vấn đề liên quan đến vị trí (trong liên hệ với bất kỳ hệ hành tinh riêng biệt nào) của những nhóm chân ngã bao la ấy, được nhập thể bởi các Sự Sống, phát xuất từ bất kỳ một trong bảy cung nào, và liên kết với bất kỳ hệ nào trong các hệ khác nhau. Vấn đề kia bàn đến hiệu quả do sự “đi vào” của các chân ngã trên cõi trí tạo ra, những chân ngã không phải là các chân ngã “nụ”, mà có thể đã phát triển rất đầy đủ, như các đệ tử và các điểm đạo đồ.
These thoughts may be clarified if certain statements are made relating to the mental plane, and which will serve as indications as to the direction in which the solution of these problems may be sought.
Những tư tưởng này có thể được làm sáng tỏ nếu đưa ra một số phát biểu liên quan đến cõi trí, và những phát biểu ấy sẽ đóng vai trò như các chỉ dẫn về hướng mà trong đó có thể tìm kiếm lời giải cho các vấn đề này.
The mental plane is, as H. P. B. has pointed out, the vastest of all the planes with which we are concerned. It is the key plane of the solar system. It is the pivotal plane upon which the great Wheel turns. It is the meeting place of the three lines of evolution and has been for this reason esoterically termed “the council chamber of the Three Divinities.” On this plane, the three Persons of the logoic Trinity meet in united work. Below two Persons may be seen associated; above another duality functions, but only on this plane do the Three make an at-one-ment.
Như H. P. B. đã chỉ ra, cõi trí là cõi bao la nhất trong tất cả các cõi mà chúng ta quan tâm đến. Đó là cõi then chốt của hệ mặt trời. Đó là cõi bản lề mà trên đó Bánh Xe lớn xoay chuyển. Đó là nơi gặp gỡ của ba đường tiến hoá và vì lý do này đã được gọi một cách huyền bí là “phòng nghị sự của Ba Đấng Thiêng Liêng.” Trên cõi này, ba Ngôi của Tam Vị logoi gặp nhau trong công việc hợp nhất. Bên dưới có thể thấy hai Ngôi liên kết; bên trên một nhị nguyên tính khác hoạt động, nhưng chỉ trên cõi này Ba Đấng mới tạo nên sự hợp nhất.
[Page 849] All the Logoi of the differing schemes are expressing Themselves upon this plane. There are certain schemes in the system which find their lowest manifestation on this plane, and have no physical body such as the Earth, and the other dense planets. They exist through the medium of gaseous matter, and their spheres of manifestation are simply composed of the four cosmic ethers and the cosmic gaseous. But all the great Lives of the solar system do possess bodies of our systemic mental matter, and therefore on that plane communication between all these Entities becomes a possibility. This fact is the basis of occult realisation, and the true ground for the at-one-ment. Matter of the abstract levels of the mental plane enters into the composition of the vehicles for all these greater Existences and through the medium of this energised substance each can get en rapport with each, no matter what Their individual goal of attainment may be. The units, therefore, in Their bodies can equally get in touch with all other Egos and groups once they have achieved the consciousness of the mental plane (causal consciousness) and know the varying group “keys,” the group tones and colors.
[Page 849] Tất cả các Thượng đế của những hệ khác nhau đều đang biểu lộ chính Các Ngài trên cõi này. Có một số hệ trong hệ mặt trời tìm thấy biểu hiện thấp nhất của chúng trên cõi này, và không có thể xác như Trái Đất và các hành tinh đậm đặc khác. Chúng tồn tại qua trung gian của vật chất thể khí, và các khối cầu biểu hiện của chúng chỉ đơn giản được cấu tạo bằng bốn dĩ thái vũ trụ và thể khí vũ trụ. Nhưng tất cả các Sự Sống lớn của hệ mặt trời đều sở hữu các thể bằng vật chất trí tuệ của hệ chúng ta, và vì vậy trên cõi ấy sự giao tiếp giữa tất cả các Thực Thể này trở thành một khả năng. Sự kiện này là nền tảng của sự chứng nghiệm huyền bí, và là cơ sở chân chính cho sự hợp nhất.Vật chất của các cấp độ trí trừu tượng của cõi trí đi vào thành phần cấu tạo các vận cụ của tất cả những Hiện Hữu lớn lao này và qua trung gian của chất liệu được tiếp sinh lực này, mỗi vị có thể thiết lập sự tương thông với nhau, bất kể mục tiêu thành tựu riêng biệt của Các Ngài là gì. Vì vậy, các đơn vị trong các thể của Các Ngài cũng có thể tiếp xúc với mọi chân ngã và mọi nhóm khác một khi họ đã đạt được tâm thức của cõi trí (tâm thức nguyên nhân) và biết các “chủ âm” nhóm khác nhau, các âm điệu và màu sắc của nhóm.
It will consequently be apparent to the careful student that in this fact lies the true relationship between the various groups of Egos, no matter what degree of evolution, or what ray and in which scheme they may be. The basic truth here involved may be better grasped if the following occult phrases are studied:
Do đó, đối với đạo sinh cẩn trọng, sẽ hiển nhiên rằng chính trong sự kiện này có mối liên hệ chân thực giữa các nhóm chân ngã khác nhau, bất kể mức độ tiến hoá nào, hay thuộc cung nào và ở trong hệ nào. Chân lý căn bản được bao hàm ở đây có thể được nắm bắt tốt hơn nếu các cụm từ huyền bí sau đây được nghiên cứu:
“Within the Hall of Ignorance kama-manas rules. The man, weighed down by much misplaced desire, seeks for the object of his heart’s attention within the murky halls of densest maya. He finds it there but dies ere garnering all the longed-for fruit. The serpent stings him, and the joy desired recedes from out his grasp. All seeking thus the selfish fruits of karma must each despise each other; hence strife and greed, ill-will and hatred, death and retribution, karmic invocation and the thunderbolt of vengeance characterise this Hall. [Page 850]
“Trong Phòng Vô Minh, trí-cảm cai quản. Con người, bị đè nặng bởi quá nhiều ham muốn đặt sai chỗ, tìm kiếm đối tượng mà trái tim y chú ý đến trong những đại sảnh mờ đục của ảo lực đậm đặc nhất. Y tìm thấy nó ở đó nhưng chết trước khi thu hoạch được toàn bộ quả trái hằng mong ước. Con rắn chích y, và niềm vui mong cầu rút khỏi tầm nắm bắt của y. Tất cả những ai tìm kiếm như thế các quả trái ích kỷ của nghiệp quả đều phải khinh miệt lẫn nhau; vì thế xung đột và tham lam, ác ý và thù hận, cái chết và sự báo ứng, sự khẩn cầu nghiệp quả và tia sét báo thù đặc trưng cho Phòng này. [Page 850]
Within the Hall of Learning intellect rules and seeks to guide. Desire of a higher kind, the fruit of manas and its use, supplants the lower kamic urge. Man weighs and balances, and in the twilight Halls of Intellection seeks for the fruit of knowledge. He finds it but to realise that knowledge is not all; he dies upon the open field of knowledge, hearing a cry beat on his dying ears: Know that the knower greater is than knowledge; the One who seeks is greater than the sought.
Trong Phòng Hiểu Biết trí tuệ cai quản và tìm cách hướng dẫn. Ham muốn thuộc loại cao hơn, là quả trái của manas và việc sử dụng nó, thay thế cho sự thôi thúc cảm dục thấp hơn. Con người cân nhắc và quân bình, và trong những đại sảnh chạng vạng của trí năng tìm kiếm quả trái của tri thức. Y tìm thấy nó chỉ để chứng nghiệm rằng tri thức không phải là tất cả; y chết trên cánh đồng rộng mở của tri thức, nghe một tiếng kêu dội vào đôi tai đang hấp hối của mình: Hãy biết rằng thức giả vĩ đại hơn tri thức; Đấng tìm kiếm vĩ đại hơn điều được tìm kiếm.
Within the Hall of Wisdom the Spirit rules; the One within the lesser ones assumes supreme control. Death is not known within these halls, for its two great gates are passed. Discord and strife both disappear and only harmony is seen. The knowers see themselves as One; they recognise the field wherein knowledge grows as Brahmic dissonance and differentiation. Knowledge they know as method, an instrument of purpose utilised by all and just a germ of eventual recognition. Within this hall union of each with each, blending of one and all, and unity of action, goal and skill marks every high endeavor.”
Trong Phòng Minh triết tinh thần cai quản; Đấng ở bên trong những kẻ nhỏ hơn nắm quyền kiểm soát tối thượng. Cái chết không được biết đến trong những đại sảnh này, vì hai cánh cổng lớn của nó đã được vượt qua. Bất hòa và xung đột đều biến mất và chỉ còn sự hài hòa được thấy. Các thức giả thấy chính mình là Một; họ nhận ra cánh đồng nơi tri thức tăng trưởng là sự bất hòa và biến phân Brahmic. Họ biết tri thức như một phương pháp, một công cụ của mục đích được mọi người sử dụng và chỉ là một mầm mống của sự nhận biết tối hậu. Trong đại sảnh này, sự hợp nhất của mỗi người với nhau, sự hòa trộn của một và tất cả, và sự nhất quán trong hành động, mục tiêu và kỹ năng đánh dấu mọi nỗ lực cao cả.”
If these words are pondered on, it will be realised that true union exists in the realisation that the greater life ever includes the lesser, and that each expansion of consciousness brings man closer to this realised Oneness.
Nếu những lời này được suy gẫm, người ta sẽ chứng nghiệm rằng sự hợp nhất chân thực tồn tại trong sự chứng nghiệm rằng sự sống lớn hơn luôn bao gồm sự sống nhỏ hơn, và rằng mỗi lần mở rộng tâm thức đều đưa con người đến gần hơn với Nhất Thể đã được chứng nghiệm này.
Therefore, if one might venture to express an abstraction and a state of consciousness in terms of time and space, and through the limitation of language, it might be stated that on egoic levels, or on the three higher subplanes of the mental plane, there exists a channel of communication, based on similarity of vibration and oneness of endeavour, between every one of the planetary schemes, within the solar ring-pass-not. Here, and here alone (as regards the three worlds and the human kingdom), becomes possible the establishing of egoic relationships and the transmission of thought substance between
Vì vậy, nếu có thể mạo muội diễn đạt một sự trừu tượng và một trạng thái tâm thức theo các thuật ngữ thời gian và không gian, và qua sự giới hạn của ngôn ngữ, thì có thể nói rằng trên các cấp độ chân ngã, hay trên ba cõi phụ cao hơn của cõi trí, tồn tại một kênh giao tiếp, dựa trên sự tương đồng về rung động và sự nhất quán trong nỗ lực, giữa từng hệ hành tinh bên trong vòng-giới-hạn mặt trời. Chính ở đây, và chỉ ở đây thôi (xét về ba cõi thấp và giới nhân loại), việc thiết lập các mối liên hệ chân ngã và sự truyền đạt chất liệu tư tưởng giữa
a. Units and egoic groups.
a. Các đơn vị và các nhóm chân ngã.
b. Groups and other groups. [Page 851]
b. Các nhóm và các nhóm khác. [Page 851]
c. Greater groups with still greater or with lesser ones.
c. Các nhóm lớn hơn với những nhóm còn lớn hơn hoặc nhỏ hơn.
d. Egos in one planetary scheme with those in another.
d. Các chân ngã trong một hệ hành tinh với các chân ngã trong một hệ khác.
The Ah-hi, the greater Builders, (271) Who are the Lords working out the will of the solar Logos, mainly use two planes for communication with each other and with Their cohorts:
Các Ah-hi, các đấng đại kiến tạo, (271) là các Đấng đang thực hiện ý chí của Thái dương Thượng đế, chủ yếu sử dụng hai cõi để giao tiếp với nhau và với các đoàn ngũ của Các Ngài:
(271) From a Sensa word meaning “serpents.” These are the Dragons of Wisdom. See S. D., I, 55, 69, 70. (back)
(271) Từ một từ Sensa có nghĩa là “những con rắn.” Đây là các Rồng Minh Triết. Xem S. D., I, 55, 69, 70. (back)
First, the second plane, where They communicate by means of a spiritual medium incomprehensible to man at present.
Thứ nhất, cõi thứ hai, nơi Các Ngài giao tiếp bằng một môi trường tinh thần mà hiện nay con người không thể hiểu được.
Second, the mental plane, where They communicate with all lesser lives by means of a type of mental telepathy.
Thứ hai, cõi trí, nơi Các Ngài giao tiếp với mọi sự sống thấp hơn bằng một loại viễn cảm trí tuệ.
The “coming-in” of advanced Egos from the inner round, or from other planetary schemes, or from subtler spheres where they have been in pralaya awaiting opportunity is produced in a triple manner and is the result of a triple activity. It is caused by an understanding between the planetary Logos of a scheme, and a brother planetary Logos whereby an exchange is effected. The student must here think in terms of force and energy, of magnetic interaction and the conscious transmission of energy out of the body of the planetary Logos, via centres or a centre, into the body of another planetary Logos. The cause here is the will or purpose, the object is sensation, and the method is force transference. Exactly the same understanding lies back of the coming in of egos from the inner round, only this time the energy is sent forth by certain existences (working in connection with any planetary Logos) who are the “custodians of the inner circle.” This touches upon a mystery and deals with the coming-in of high Egos, of Avatars, of Buddhas, [Page 852] of masters, of initiates, and of disciples, and of all who have to wait for group, and not individual, urge for the fulfillment of cyclic karma on a large scale, and whose “wheels” are controlled by cosmic forces and not by purely systemic forces.
Sự “đi vào” của các chân ngã tiến hóa cao từ cuộc tuần hoàn bên trong, hoặc từ các hệ hành tinh khác, hoặc từ những khối cầu vi tế hơn nơi họ đã ở trong Giai kỳ qui nguyên để chờ cơ hội, được tạo ra theo cách tam phân và là kết quả của một hoạt động tam phân. Nó được gây ra bởi một sự thấu hiểu giữa Hành Tinh Thượng đế của một hệ và một Hành Tinh Thượng đế huynh đệ, nhờ đó một sự trao đổi được thực hiện. Ở đây đạo sinh phải suy nghĩ theo các thuật ngữ mãnh lực và năng lượng, về sự tương tác từ tính và sự hữu thức truyền năng lượng ra khỏi thể của Hành Tinh Thượng đế, qua các trung tâm hoặc một trung tâm, vào thể của một Hành Tinh Thượng đế khác. Nguyên nhân ở đây là ý chí hay mục đích, đối tượng là cảm giác, và phương pháp là sự chuyển dịch mãnh lực. Chính sự thấu hiểu tương tự cũng nằm phía sau sự đi vào của các chân ngã từ cuộc tuần hoàn bên trong, chỉ khác là lần này năng lượng được phóng ra bởi một số hiện hữu nào đó (hoạt động trong liên hệ với bất kỳ Hành Tinh Thượng đế nào) là những vị “giữ gìn vòng tròn bên trong.” Điều này chạm đến một huyền nhiệm và bàn đến sự đi vào của các chân ngã cao, của các Đấng Hoá Thân, của các Đức Phật, [Page 852] của các chân sư, của các điểm đạo đồ, và của các đệ tử, cùng tất cả những ai phải chờ sự thôi thúc của nhóm chứ không phải của cá nhân để hoàn tất nghiệp quả chu kỳ trên quy mô lớn, và những “bánh xe” của họ được kiểm soát bởi các mãnh lực vũ trụ chứ không phải chỉ bởi các mãnh lực hệ thống.
Another factor might be termed the karmic results of seeds sown in days long past, and hidden in the mysteries of the earlier system, scheme, or chain as the case may be. All these three groups of manifestation follow karmic impulse, and this impulse it is which controls the time period, and method of the appearance in any group of planetary egos, of newly born lotus buds, or of lotuses which are termed “mystically transplanted.” These latter are probably of a high degree of unfoldment. This is possible in individual cases and in the case of entire groups.
Một yếu tố khác có thể được gọi là các kết quả nghiệp quả của những hạt giống đã được gieo trong những ngày tháng rất xa xưa, và được che giấu trong các huyền nhiệm của hệ mặt trời trước, hệ hành tinh trước, hay dãy trước tùy trường hợp. Cả ba nhóm biểu hiện này đều đi theo xung lực nghiệp quả, và chính xung lực này kiểm soát thời kỳ và phương pháp xuất hiện trong bất kỳ nhóm chân ngã hành tinh nào, của những nụ hoa sen mới sinh, hay của những hoa sen được gọi là “được cấy ghép một cách thần bí.” Những hoa sen sau này có lẽ ở mức độ khai mở cao. Điều này có thể xảy ra trong các trường hợp cá nhân cũng như trong trường hợp của toàn bộ các nhóm.
A third factor has to do with the transference of Egos or lotuses from one sphere of activity to another and this necessarily produces conditions calling for the appearance of similar centres to take their place. Energy transmitted must be supplied from elsewhere, and this is another predisposing factor for the appearance of egoic lotuses in any scheme. The law of the conservation of force holds good on any plane.
Một yếu tố thứ ba liên quan đến sự chuyển dịch các chân ngã hay các hoa sen từ một khối cầu hoạt động này sang một khối cầu khác và điều này tất yếu tạo ra những điều kiện đòi hỏi sự xuất hiện của các trung tâm tương tự để thay thế chúng. Năng lượng đã được truyền đi phải được cung cấp từ nơi khác, và đây là một yếu tố tiền định khác cho sự xuất hiện của các Hoa Sen Chân Ngã trong bất kỳ hệ nào. Định luật bảo toàn mãnh lực có hiệu lực trên bất kỳ cõi nào.
This whole question of the transference of egoic lotuses from any one scheme to another, or from chain to chain, on the mental plane is one of very real intricacy, and cannot be elucidated to the unpledged disciple. Only these general indications are in any way possible.
Toàn bộ vấn đề chuyển dịch các Hoa Sen Chân Ngã từ hệ này sang hệ khác, hay từ dãy này sang dãy khác, trên cõi trí là một vấn đề thực sự rất phức tạp, và không thể được làm sáng tỏ cho đệ tử chưa tuyên thệ. Chỉ có thể đưa ra những chỉ dẫn tổng quát này mà thôi.
It must also be remembered in connection with our planet that Egos appear in those groups whose lotuses are not produced as the result of the Law of Attraction working between the animal kingdom of the globe and the higher Triads, but which are Egos who have individualised elsewhere, and who therefore come in with their petals already organised, and perhaps with several [Page 853] petals unfolded. This has necessarily a profound effect both upon the groups in which they appear, and upon the type of man who will make his appearance subsequently in physical plane incarnation. This is touched upon in the Secret Doctrine when the question of the early teachers and divine kings who occupied the ill-favoured bodies of the early humanity, is broached. (See early part of S.D. Vol II.) (273)
Cũng phải nhớ rằng, liên quan đến hành tinh của chúng ta, các chân ngã xuất hiện trong những nhóm mà các hoa sen của chúng không được tạo ra như kết quả của Định luật Hấp Dẫn hoạt động giữa giới động vật của bầu hành tinh và các Tam nguyên tinh thần cao hơn, mà là những chân ngã đã biệt ngã hóa ở nơi khác, và vì vậy đi vào với các cánh hoa đã được tổ chức sẵn, và có lẽ với một số [Page 853] cánh hoa đã khai mở. Điều này tất yếu có một ảnh hưởng sâu xa cả lên các nhóm mà họ xuất hiện trong đó, lẫn lên loại người sẽ xuất hiện sau đó trong sự nhập thể trên cõi hồng trần. Điều này được đề cập trong Giáo Lý Bí Nhiệm khi vấn đề các huấn sư thời kỳ đầu và các vị vua thiêng liêng đã chiếm giữ những thể xác kém thuận lợi của nhân loại sơ khai được nêu ra. (Xem phần đầu của S.D. Quyển II.) (273)
(273) C. W. Leadbeater had a dim apprehension of this idea when he referred to those boat loads of Egos from the moon chain. He has of course materialised the idea far too much; if the same fundamental idea is expressed in terms of force and of the appearance of force centres within the earth chain, which force centres are the result of energy emanating from an earlier chain and producing whorls in the ether or substance of the mental plane, then the true significance may be more easily grasped. (back)
(273) C. W. Leadbeater đã có một sự nắm bắt mơ hồ về ý tưởng này khi ông đề cập đến những thuyền chở đầy chân ngã từ Dãy Mặt Trăng. Dĩ nhiên ông đã hiện hình hóa ý tưởng này quá mức; nếu cùng ý tưởng căn bản ấy được diễn đạt theo các thuật ngữ mãnh lực và sự xuất hiện của các trung tâm mãnh lực trong Dãy Địa Cầu, mà các trung tâm mãnh lực này là kết quả của năng lượng phát ra từ một dãy trước đó và tạo ra các xoáy trong dĩ thái hay chất liệu của cõi trí, thì thâm nghĩa chân thực có thể được nắm bắt dễ dàng hơn. (back)
Cosmic Fire S7B
(Trang 854-925)