← A Treatise on Cosmic Fire All

a.

a.

100 years of Brahma

An occult century. The period of a solar system.

b.

One year of Brahma

The period of seven chains, where the seven planetary schemes are concerned.

c.

One week of Brahma

The period of seven rounds in one scheme. It has a chain significance.

d.

One day of Brahma

The occult period of a round.

e.

One hour of Brahma

Concerns interchain affairs.

f.

One Brahmic minute

Concerns the planetary centres, and therefore egoic groups.

g.

One Brahmic moment

Concerns an egoic group, and its relation to the whole.

These are the greater periods of time, and when their significance is comprehended, much that is now obscure [Page 793] will be revealed. As yet, it is only to initiates that the true figures are given, the figures in the Secret Doctrine, such as the 100 years of Brahma, strike the general average but it must be ever remembered that in considering the figures where a scheme, for instance, is concerned, much latitude has to be allowed for individual planetary karma, and idiosyncrasy.

Đây là những khoảng thời gian lớn hơn, và khi ý nghĩa của chúng được thấu hiểu, nhiều điều hiện còn mờ tối [Page 793] sẽ được mặc khải. Hiện nay, chỉ các điểm đạo đồ mới được trao cho các con số chân thực; các con số trong Giáo Lý Bí Nhiệm, chẳng hạn như 100 năm của Brahma, chỉ nêu ra mức trung bình tổng quát nhưng phải luôn nhớ rằng khi xem xét các con số ở nơi chẳng hạn một hệ hành tinh có liên hệ, phải dành một biên độ rộng cho nghiệp quả hành tinh cá biệt và đặc tính riêng.

The following points are worthy of consideration when upon this subject, and deal with some interesting factors.

Những điểm sau đây đáng được xem xét khi bàn về chủ đề này, và liên quan đến một số yếu tố thú vị.

All the planetary Rishis are not equally “long-lived,” in the occult sense of the term, and the seven planetary Logoi of the seven sacred planets are at different stages of evolution; Their vibratory response, therefore, differs, producing varying effects in time.

Không phải tất cả các Rishis hành tinh đều “trường thọ” như nhau, theo ý nghĩa huyền bí của thuật ngữ này, và bảy Hành Tinh Thượng đế của bảy hành tinh thiêng liêng đang ở những giai đoạn tiến hoá khác nhau; vì vậy đáp ứng rung động của Các Ngài khác nhau, tạo ra những hiệu quả khác nhau trong thời gian.

The three major planetary schemes (Uranus, Neptune, and Saturn) have not, as yet, received their fullest stimulation, and will not do so until the “energy of the sacred seven” has been transferred to Them. Figures, therefore, as regards their duration and persistence are not in order.

Ba hệ hành tinh chính (Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương, và Sao Thổ) cho đến nay vẫn chưa nhận được sự kích thích đầy đủ nhất của mình, và sẽ chưa nhận được cho đến khi “năng lượng của bảy hành tinh thiêng liêng” được chuyển dịch sang Các Ngài. Vì vậy các con số liên quan đến thời lượng và sự kéo dài của các hệ ấy là chưa thích hợp.

The figures for the planets concerned with the “inner round” differ as to length of time but not as to space location from those of other planets.

Các con số dành cho những hành tinh liên hệ đến “cuộc tuần hoàn nội tại” khác nhau về độ dài thời gian nhưng không khác về vị trí không gian so với các hành tinh khác.

The true figures in connection with any planetary scheme and its occult activity are not ascertainable by the man who cannot be trusted with the significance of the other planetary bodies (of great number) within the solar ring-pass-not. The entire solar sphere is full of such bodies, characterised by the same features as are the seven and the ten, and each of them in some degree has an effect upon the whole. Figures, therefore, cannot be considered as final until the effect of the lesser planetary bodies upon their immediate neighbours is known, and the extent of their planetary radiation has been gauged. There are more than 115 of such bodies to be reckoned with, and all are at varying stages of vibratory [Page 794] impulse. They have definite orbits, they turn upon their axis, they draw their “life” and substance from the sun, but owing to their relative insignificance, they have not yet been considered factors of moment. This attitude of mind will change when etheric vision is a fact, and the reality of the existence of an etheric double of all that is in manifestation will be recognised by scientists. This fact will be demonstrated towards the close of the century, and, during the early part of the next century a revolution in astronomical circles will occur which will result in the study of the “etheric planets.” As these bodies are organs of energy, permeating the dense form, the study of the interaction of solar energy, and the occult “give and take” of planetary bodies will assume a new significance. Certain planetary bodies (both greater and lesser) are “absorbers,” others are “radiators,” while some are in the stage of demonstrating a dual activity, and are being “transmuted.” All these circumstances require to be considered by the initiate who is dealing with cycles.

Các con số chân thực liên quan đến bất kỳ hệ hành tinh nào và hoạt động huyền bí của nó không thể được xác định bởi người không thể được tin cậy để nắm giữ ý nghĩa của các thiên thể hành tinh khác (với số lượng lớn) bên trong vòng-giới-hạn thái dương. Toàn bộ khối cầu thái dương đầy những thiên thể như thế, được đặc trưng bởi cùng những nét như bảy và mười thiên thể, và mỗi thiên thể trong một mức độ nào đó đều có ảnh hưởng lên toàn thể. Vì vậy các con số không thể được xem là chung quyết cho đến khi ảnh hưởng của các thiên thể hành tinh nhỏ hơn lên các láng giềng gần nhất của chúng được biết đến, và mức độ bức xạ hành tinh của chúng được đo lường. Có hơn 115 thiên thể như thế phải được tính đến, và tất cả đều ở những giai đoạn khác nhau của xung lực rung động [Page 794]. Chúng có những quỹ đạo xác định, chúng quay trên trục của mình, chúng rút “sự sống” và chất liệu của mình từ mặt trời, nhưng do tính không đáng kể tương đối của chúng, chúng chưa được xem là những yếu tố quan trọng. Thái độ tư duy này sẽ thay đổi khi linh thị dĩ thái trở thành một thực tại, và thực tại về sự tồn tại của một bản sao dĩ thái của mọi thứ đang biểu hiện được các nhà khoa học công nhận. Sự kiện này sẽ được chứng minh vào cuối thế kỷ, và trong phần đầu của thế kỷ tiếp theo sẽ xảy ra một cuộc cách mạng trong giới thiên văn học, dẫn đến việc nghiên cứu các “hành tinh dĩ thái.” Vì các thiên thể này là những cơ quan năng lượng, thấm nhập hình tướng đậm đặc, nên việc nghiên cứu sự tương tác của năng lượng thái dương, và sự “cho và nhận” huyền bí của các thiên thể hành tinh sẽ mang một ý nghĩa mới. Một số thiên thể hành tinh (cả lớn lẫn nhỏ) là những “bộ hấp thụ,” những thiên thể khác là những “bộ bức xạ,” trong khi một số đang ở giai đoạn biểu lộ một hoạt động kép, và đang được “chuyển hoá.” Tất cả những hoàn cảnh này cần phải được điểm đạo đồ cân nhắc khi bàn đến các chu kỳ.

Figures also must be computed when the effect upon the planets of what are called “asteroids” is known. This is much greater than exoteric science has so far admitted, but the significance of this must eventually be interpreted in terms of energy and on etheric levels.

Các con số cũng phải được tính toán khi ảnh hưởng lên các hành tinh của những gì được gọi là “các tiểu hành tinh” được biết đến. Ảnh hưởng này lớn hơn nhiều so với khoa học ngoại môn cho đến nay đã thừa nhận, nhưng ý nghĩa của điều này cuối cùng phải được diễn giải theo các thuật ngữ của năng lượng và trên các cấp độ dĩ thái.

Another factor in computation which must also be considered is the effect of the various moons upon any planetary scheme, and the true meaning of the eighth sphere in connection with dense substance. Every moon is occultly a “point of corruption,” or that which is passing off in noxious gases. The transmutation of the form has been proceeded with in their case to a point where all that represents vital energy has left, all solar life has passed off, no remnants of pranic energy remain, and that which is to be seen is simply the decay of the physical body,—a decay which is proceeding on etheric levels as well as [Page 795] on physical. The decay of a moon has as great an evil effect upon all that contacts it as a decaying body on earth has upon its surroundings. It is occultly “offensive.” This will be more truly apprehended when the etheric double of our moon is studied. As the moon becomes small through the process of disintegration, its effect upon the Earth will be correspondingly lessened, and this stage will be paralleled by a consequent greater freedom from evil impulse of the sons of men. Better conditions among the animals will be another result above all else, and the dying out of that which is noxious in the animal kingdom. By the time the seventh round is reached, the evil effect of the then moon (which will have to all intents and purposes practically disappeared) will be finished. During the fifth round, men will discover how to neutralise any remaining effects through scientific achievement and knowledge of the necessary sounds and mantrams, and thus much evil will be offset. The etheric moon is included in these remarks. The greatest effect of moon conditions is to be seen working out predominantly in the terror, and present distress in the animal kingdom. (Bible. Romans, 8:22.)

Một yếu tố khác trong việc tính toán cũng phải được cân nhắc là ảnh hưởng của các mặt trăng khác nhau lên bất kỳ hệ hành tinh nào, và ý nghĩa chân thực của khối cầu thứ tám liên hệ với chất liệu đậm đặc. Mọi mặt trăng theo huyền bí học đều là một “điểm hư hoại,” hay cái đang thoát ra trong những khí độc. Sự chuyển hoá của hình tướng trong trường hợp của chúng đã tiến đến một điểm mà mọi thứ đại diện cho năng lượng sinh lực đã rời đi, mọi sự sống thái dương đã tiêu tán, không còn tàn dư năng lượng prana nào, và cái có thể được thấy chỉ đơn giản là sự phân rã của thể xác,—một sự phân rã đang diễn ra trên các cấp độ dĩ thái cũng như [Page 795] trên cấp độ hồng trần. Sự phân rã của một mặt trăng có ảnh hưởng xấu lớn lên mọi thứ tiếp xúc với nó cũng như một xác thể đang phân huỷ trên trái đất có ảnh hưởng lên môi trường xung quanh. Theo huyền bí học, nó là “điều gây ô uế.” Điều này sẽ được lĩnh hội chân thực hơn khi bản sao dĩ thái của mặt trăng chúng ta được nghiên cứu. Khi mặt trăng trở nên nhỏ đi qua tiến trình tan rã, ảnh hưởng của nó lên Trái Đất sẽ giảm đi tương ứng, và giai đoạn này sẽ song hành với một sự giải thoát lớn hơn khỏi xung lực xấu xa nơi những người con của nhân loại. Những điều kiện tốt hơn trong giới động vật sẽ là một kết quả khác trên hết mọi điều, và sự tiêu vong của cái độc hại trong giới động vật. Vào lúc cuộc tuần hoàn thứ bảy đạt tới, ảnh hưởng xấu của mặt trăng khi ấy (vốn trên thực tế hầu như đã biến mất) sẽ chấm dứt. Trong cuộc tuần hoàn thứ năm, con người sẽ khám phá cách trung hoà mọi ảnh hưởng còn lại qua thành tựu khoa học và tri thức về các âm thanh cùng mantram cần thiết, và như thế nhiều điều ác sẽ được hóa giải. Mặt trăng dĩ thái cũng được bao gồm trong những nhận xét này. Ảnh hưởng lớn nhất của các điều kiện mặt trăng được thấy đang biểu lộ chủ yếu trong nỗi kinh hoàng và khốn khổ hiện nay trong giới động vật. (Kinh Thánh. Rô-ma, 8:22.)

A further factor in cyclic computation lies in the effect of the following stars and constellations upon our system and upon any particular scheme within the system:

Một yếu tố nữa trong việc tính toán chu kỳ nằm ở ảnh hưởng của các ngôi sao và chòm sao sau đây lên hệ thống chúng ta và lên bất kỳ hệ hành tinh đặc thù nào trong hệ thống:

a. The Great Bear.

a. Đại Hùng Tinh.

b. The Little Bear.

b. Tiểu Hùng Tinh.

c. The Pole Star, especially where our planet is concerned.

c. Sao Bắc Cực, đặc biệt khi liên quan đến hành tinh chúng ta.

d. The Pleiades.

d. Thất Nữ Tinh.

e. The constellation of Capricorn.

e. Chòm sao Ma Kết.

f. Draco.

f. Thiên Long.

g. Sirius.

g. Sirius.

h. The various constellations and stars of the Zodiac.

h. Các chòm sao và các ngôi sao khác nhau của Hoàng đạo.

[Page 796] The mystery is hidden in esoteric astrology, and until the subject of energy working through the etheric body, of radioactivity, and of the transmutation of all bodies from a lower state into a higher is better comprehended, the true mystery of the “influence” of these various bodies upon each other will remain at its present stage—an unrevealed secret. If the radiatory effect of a human being or of a group of human beings upon each other is as yet practically an unknown thing from the standpoint of practical science, so the occult effect of these greater forms upon each other remains unknown. Science recognises certain effects, leading and tending to the general coherence of the universe, just as the general laws of the social order among men are theoretically apprehended, but the true scientific realisation of energy-radiations emanating from the etheric bodies of all these suns and groups of suns, and from all these planets and groups of planets is little understood. Their atomic activity is recognised, but that department of their being, which finds its correspondence in “animal magnetism” in man, is little realised, while the even more potent factor of the magnetic radiation of their astral bodies is totally uncalculated, nor is it admitted. All these factors have to be allowed for in any consideration of the factor of time and cycles, and the true esoteric knowledge is not to be gained by the study of figures by the lower mind. It comes as the result of the intuition and is stimulated at initiation.

[Page 796] Huyền nhiệm được ẩn giấu trong Chiêm Tinh Học Nội Môn, và cho đến khi chủ đề năng lượng hoạt động qua thể dĩ thái, tính phóng xạ, và sự chuyển hoá của mọi thể từ trạng thái thấp lên trạng thái cao được thấu hiểu tốt hơn, thì huyền nhiệm chân thực về “ảnh hưởng” của các thiên thể khác nhau này lên nhau sẽ vẫn ở giai đoạn hiện nay của nó—một bí mật chưa được mặc khải. Nếu hiệu quả bức xạ của một con người hay của một nhóm người lên nhau cho đến nay vẫn thực tế là điều chưa biết từ quan điểm của khoa học thực nghiệm, thì hiệu quả huyền bí của những hình tướng lớn hơn này lên nhau cũng vẫn chưa được biết. Khoa học công nhận một số hiệu quả nhất định, dẫn đến và hướng đến sự cố kết chung của vũ trụ, cũng như các định luật tổng quát của trật tự xã hội giữa con người được lĩnh hội trên lý thuyết, nhưng sự chứng nghiệm khoa học chân thực về các bức xạ năng lượng phát ra từ các thể dĩ thái của tất cả các mặt trời và các nhóm mặt trời này, và từ tất cả các hành tinh cùng các nhóm hành tinh này thì ít được thấu hiểu. Hoạt động nguyên tử của chúng được công nhận, nhưng bộ phận của bản thể chúng, vốn tìm thấy tương ứng của nó trong “từ điện động vật” nơi con người, thì ít được chứng nghiệm, trong khi yếu tố còn mạnh hơn nữa là bức xạ từ tính của các thể cảm dục của chúng thì hoàn toàn không được tính đến, cũng không được thừa nhận. Tất cả những yếu tố này phải được tính đến trong bất kỳ sự xem xét nào về yếu tố thời gian và các chu kỳ, và tri thức huyền bí chân thực không thể đạt được bằng việc nghiên cứu các con số bằng hạ trí. Nó đến như kết quả của trực giác và được kích thích lúc điểm đạo.

All that has here been pointed out, can be applied equally (though in a very finite sense) to the ego and its cycles, and also equally, considerations other than the purely “personal” will enter into its time periods. The influence of other groups and of other units, the effects of radiation from other rays, and of certain types of force as yet unrevealed, and thus outside our consideration, are concerned with its appearing, with the duration of its [Page 797] manifestation, its subsequent obscuration, and final pralayic interval. As the Ego has time periods corresponding to those of Brahma, and its “100 years” and its “777 incarnations” have a solar analogy, so equally groups of Egos differ as to time, just as the planetary schemes are analogous in evolution but differ where their periods are concerned. The Law of Periodicity is one, but as it is based upon initial impulse, and upon the rhythmic beat of the “central heart” or the “central sun” of any organism (solar system, planetary scheme, planetary chain, egoic group or individual egoic life) the true nature or “family” of any such organism must be ascertained before cyclic pronouncements can be made with any hope of approximate accuracy. This was why H. P. B. sought to emphasise the need of studying the “astral family” and occult heredity of any person, for in the astral is to be found the clue to the “egoic family or group.” With this clue the student can then ascertain the characteristics of his group on egoic levels, its place among other egoic groups, and eventually his ray or group centre. As time elapses, the true study of heredity and esoteric transmission will open up, and the whole fabric of thought built up around such modern expressions as:

Tất cả những gì đã được chỉ ra ở đây đều có thể được áp dụng tương tự (dù theo một ý nghĩa rất hữu hạn) cho chân ngã và các chu kỳ của nó, và cũng tương tự, những cân nhắc khác ngoài cái thuần “cá nhân” sẽ đi vào các thời kỳ thời gian của nó. Ảnh hưởng của các nhóm khác và các đơn vị khác, các hiệu quả của bức xạ từ các cung khác, và của một số loại mãnh lực chưa được mặc khải, do đó nằm ngoài sự xem xét của chúng ta, đều liên quan đến sự xuất hiện của nó, đến thời lượng của [Page 797] biểu hiện của nó, sự che mờ tiếp theo, và khoảng giai kỳ qui nguyên cuối cùng. Cũng như Chân ngã có những thời kỳ thời gian tương ứng với những thời kỳ của Brahma, và “100 năm” cùng “777 lần nhập thể” của nó có một sự tương đồng thái dương, thì các nhóm Chân ngã cũng khác nhau về thời gian, cũng như các hệ hành tinh tương đồng trong tiến hoá nhưng khác nhau về các thời kỳ của chúng. Định luật Chu Kỳ là một, nhưng vì nó dựa trên xung lực ban đầu, và trên nhịp đập có tiết tấu của “tim trung tâm” hay “mặt trời trung tâm” của bất kỳ cơ thể nào (hệ mặt trời, hệ hành tinh, dãy hành tinh, nhóm chân ngã hay sự sống chân ngã cá biệt), nên bản chất chân thực hay “gia đình” của bất kỳ cơ thể nào như thế phải được xác định trước khi có thể đưa ra những tuyên bố về chu kỳ với chút hy vọng nào về độ chính xác gần đúng. Đó là lý do H. P. B. đã tìm cách nhấn mạnh nhu cầu nghiên cứu “gia đình cảm dục” và di truyền huyền bí của bất kỳ người nào, vì trong cảm dục có thể tìm thấy đầu mối dẫn đến “gia đình hay nhóm chân ngã.” Với đầu mối này, đạo sinh khi ấy có thể xác định các đặc tính của nhóm mình trên các cấp độ chân ngã, vị trí của nó giữa các nhóm chân ngã khác, và cuối cùng là cung hay trung tâm nhóm của mình. Theo thời gian, việc nghiên cứu chân thực về di truyền và truyền thừa nội môn sẽ được khai mở, và toàn bộ cấu trúc tư tưởng được dựng lên quanh những cách diễn đạt hiện đại như:

a. Consanguinity or blood ties

a. Huyết thống hay ràng buộc máu mủ

b. Physical heredity

b. Di truyền hồng trần

c. Atavism

c. Hiện tượng lại giống tổ tiên

d. Intermarriage

d. Hôn phối cận huyết

e. Family relationships

e. Quan hệ gia đình

f. The family unit

f. Đơn vị gia đình

g. Soul mates

g. Bạn đời linh hồn

h. Divorce and many other terms

h. Ly hôn và nhiều thuật ngữ khác

will be shifted to higher planes, and will be recognised and used in connection with soul relationships. They are, as yet, but a faint realisation on the physical plane of [Page 798] certain inner relations, which are seeking outer response. When all aggregates of ideas are interpreted in terms of force and energy, in terms of attraction and repulsion, or the vibratory response of units to each other, and of aggregates of units to other groups, we shall have the clearing up of many problems and a simplification of life. Men will be true to their group affiliations, and the present misgrouping and mismating will gradually, through knowledge, die out.

sẽ được chuyển lên các cõi cao hơn, và sẽ được công nhận và sử dụng trong liên hệ với các quan hệ linh hồn. Hiện nay, chúng chỉ là một sự chứng nghiệm mờ nhạt trên cõi hồng trần về [Page 798] một số quan hệ bên trong đang tìm kiếm đáp ứng bên ngoài. Khi mọi tập hợp ý tưởng được diễn giải theo các thuật ngữ của mãnh lực và năng lượng, theo các thuật ngữ của hấp dẫn và đẩy lùi, hay của đáp ứng rung động của các đơn vị đối với nhau, và của các tập hợp đơn vị đối với các nhóm khác, chúng ta sẽ có sự làm sáng tỏ nhiều vấn đề và sự đơn giản hoá đời sống. Những người nam và nữ sẽ trung thành với các liên kết nhóm của mình, và sự xếp nhóm sai lầm cùng kết đôi sai lầm hiện nay sẽ dần dần, nhờ tri thức, biến mất.

We can now take up the consideration of karma in its relation to the act of reincarnation. As we are well aware, the law of karma is the most stupendous law of the system and one which it is impossible for the average man in any way to comprehend, for, if traced back along its central root and its many ramifications, one eventually reaches the position where causes antedating the solar system have to be dealt with, and this point of view can only be usefully grasped by a high initiate.

Giờ đây chúng ta có thể bàn đến nghiệp quả trong liên hệ của nó với hành động tái sinh. Như chúng ta đều biết rõ, định luật nghiệp quả là định luật vĩ đại nhất của hệ thống và là một định luật mà con người trung bình không thể nào thấu hiểu được, vì nếu truy nguyên ngược về căn nguyên trung tâm của nó và vô số nhánh phụ của nó, cuối cùng người ta sẽ đi đến vị trí mà ở đó phải bàn đến những nguyên nhân có trước hệ mặt trời, và quan điểm này chỉ có thể được một điểm đạo đồ cao cấp nắm bắt một cách hữu ích.

This great law really concerns, or is based on causes which are inherent in the constitution of matter itself and on the interaction between atomic units whether we use this expression in connection with an atom of substance, a human being, a planetary atom or a solar atom.

Định luật vĩ đại này thực sự liên quan đến, hay dựa trên, những nguyên nhân vốn cố hữu trong chính cấu tạo của vật chất và trên sự tương tác giữa các đơn vị nguyên tử, dù chúng ta dùng cách diễn đạt này liên hệ với một nguyên tử chất liệu, một con người, một nguyên tử hành tinh hay một nguyên tử thái dương.

We might express it also in saying that the will aspect or initiatory impulse is primarily that which produces cause, which is cause itself. It should be remembered ever that cause involves the idea of duality, i.e., that which initiates, and that which is produced simultaneously by the initiation. The two ideas are inseparable, yet nevertheless the second idea in its most abstract connotation must not be considered literally as an effect; true effect involves a third idea. Some appreciation of the problem may be gleaned by a consideration of phenomena which ever involves this dual initiatory cause and its objective effect: [Page 799]

Chúng ta cũng có thể diễn đạt điều đó bằng cách nói rằng phương diện ý chí hay xung lực khởi đầu trước hết là cái tạo ra nguyên nhân, chính là nguyên nhân. Cần luôn nhớ rằng nguyên nhân bao hàm ý niệm về nhị nguyên tính, tức là cái khởi xướng, và cái được tạo ra đồng thời bởi sự khởi xướng. Hai ý niệm này không thể tách rời, tuy nhiên ý niệm thứ hai trong hàm nghĩa trừu tượng nhất của nó không được hiểu theo nghĩa đen như một hiệu quả; hiệu quả chân thực bao hàm một ý niệm thứ ba. Có thể thu lượm được một phần nào sự lĩnh hội về vấn đề này bằng cách xem xét các hiện tượng, điều luôn bao hàm nguyên nhân khởi đầu nhị nguyên này và hiệu quả khách quan của nó: [Page 799]

a. Spirit-matter in dual activity produces the objective universe.

a. Tinh thần-vật chất trong hoạt động nhị nguyên tạo ra vũ trụ khách quan.

b. Electric fire and fire by friction when brought into contact produce solar fire; it flashes forth from darkness, yet a darkness which is potent with energy.

b. Lửa Điện và Lửa ma sát khi được đưa vào tiếp xúc sẽ tạo ra Lửa Thái dương; nó bùng phát từ bóng tối, nhưng là một bóng tối sung mãn năng lượng.

c. Will-desire is the cause of incarnation; the will-to-be reacting on substance (whose main quality is desire or responsiveness to sensation) produces the forms through which the central Life or Existence seeks expression.

c. Ý chí-khao khát là nguyên nhân của sự nhập thể; ý chí-hiện hữu tác động lên chất liệu (mà phẩm tính chính là khao khát hay sự đáp ứng với cảm giác) tạo ra những hình tướng qua đó Sự sống trung tâm hay Hiện Hữu tìm cách biểu lộ.

d. Ideas and thought-matter together produce thoughtforms.

d. Các ý tưởng và vật chất tư tưởng cùng nhau tạo ra các hình tư tưởng.

If the student considers these points, it will become apparent that it is not possible for him to do more than study the effects produced by the juxtaposition of the pairs of opposites; he cannot dissociate them in his mind and deal with Spirit per se, or with matter per se any more than the atom of substance in man’s physical body can dissociate itself from that body, and consider itself independently of form influences. All atoms are always controlled by the following factors, just as a man in the body of a planetary Logos, and a planetary Logos within His greater Whole will be equally controlled by the same basic principles:

Nếu đạo sinh suy xét những điểm này, sẽ trở nên hiển nhiên rằng y không thể làm gì hơn ngoài việc nghiên cứu các kết quả do sự kề cận của các cặp đối cực tạo ra; y không thể tách rời chúng trong trí mình và bàn đến Tinh thần chính nó, hay bàn đến vật chất chính nó cũng như nguyên tử chất liệu trong thể xác của con người không thể tự tách mình ra khỏi thể ấy và tự xét mình một cách độc lập với các ảnh hưởng của hình tướng. Mọi nguyên tử luôn luôn bị chi phối bởi các yếu tố sau đây, cũng như một con người trong thể của một Hành Tinh Thượng đế, và một Hành Tinh Thượng đế bên trong Toàn Thể lớn lao hơn của Ngài, đều sẽ bị chi phối như nhau bởi cùng những nguyên lý căn bản ấy:

The influence and quality of the organ or unit in which it finds a place. In the human atom this means his group force or influence.

Ảnh hưởng và phẩm tính của cơ quan hay đơn vị mà trong đó nó tìm được chỗ đứng. Đối với nguyên tử nhân loại, điều này có nghĩa là mãnh lực hay ảnh hưởng nhóm của y.

The life influence of the entire physical body of which any atom is a corporate part. In the human atom this means the influence of the particular centre in which his egoic group has a place, and the type of energy which it embodies.

Ảnh hưởng sự sống của toàn thể thể xác mà bất kỳ nguyên tử nào cũng là một phần hợp thành. Đối với nguyên tử nhân loại, điều này có nghĩa là ảnh hưởng của trung tâm đặc thù mà nhóm chân ngã của y có một vị trí trong đó, và loại năng lượng mà trung tâm ấy thể hiện.

The life influence of the desire or astral body, the strongest karmic agency which has to be considered. [Page 800] In the human atom, this involves the influence of the three centres in the body of the Heavenly Man which form any specific “force triangle,” and which have much to do with the liberation of groups of Egos from manifestation.

Ảnh hưởng sự sống của thể khao khát hay thể cảm dục, tác nhân nghiệp quả mạnh nhất cần phải được xét đến. [Page 800] Đối với nguyên tử nhân loại, điều này bao hàm ảnh hưởng của ba trung tâm trong thể của Đấng Thiên Nhân tạo thành bất kỳ “tam giác lực” đặc thù nào, và có liên hệ rất nhiều đến sự giải thoát các nhóm Chân ngã khỏi sự biểu hiện.

The life influences of the mental body, or of that principle which imposes upon the atom the quality of activity in form, which governs the reaction of the atom to its group life, and which enables the quality of its life to be demonstrated. In the human atom this concerns those causes which are incident to a man’s Ray, or literally the influence of the life of the planetary Logos as He functions as a self-conscious Life on His Own plane, as He works out His Own plans, and consequently sweeps into activity the cells of His body as mere incidents where He (the basic central life) is concerned.

Các ảnh hưởng sự sống của thể trí, hay của nguyên khí áp đặt lên nguyên tử phẩm tính hoạt động trong hình tướng, chi phối sự đáp ứng của nguyên tử đối với đời sống nhóm của nó, và làm cho phẩm tính của sự sống nó có thể được biểu lộ. Đối với nguyên tử nhân loại, điều này liên quan đến những nguyên nhân gắn liền với cung của một người, hay theo nghĩa đen là ảnh hưởng của sự sống của Hành Tinh Thượng đế khi Ngài hoạt động như một Sự sống tự ý thức trên cõi riêng của Ngài, khi Ngài triển khai các kế hoạch riêng của Ngài, và do đó cuốn các tế bào trong thể Ngài vào hoạt động như những sự việc phụ thuộc đơn thuần xét theo phương diện Ngài (sự sống trung tâm căn bản).

The life impulse of the Thinker functioning in the causal body who—though a great abstraction or the Absolute where the cellular life is concerned—is nevertheless a potent and active factor in the imposition of rhythm upon the atom in every body. In the human atom, this brings in the influence of the life of the solar Logos, for that Life imposes rhythm upon every human atom in the system, and does so through the agency of substance and its inherent quality, sensation.

Xung lực sự sống của Đấng Tư Tưởng hoạt động trong thể nguyên nhân, Đấng—dù là một sự trừu tượng lớn lao hay Tuyệt Đối xét theo sự sống tế bào—dẫu vậy vẫn là một yếu tố mạnh mẽ và năng động trong việc áp đặt nhịp điệu lên nguyên tử trong mọi thể. Đối với nguyên tử nhân loại, điều này đưa vào ảnh hưởng của sự sống của Thái dương Thượng đế, vì Sự sống ấy áp đặt nhịp điệu lên mọi nguyên tử nhân loại trong hệ thống, và làm như vậy thông qua tác nhân là chất liệu và phẩm tính cố hữu của nó là cảm giác.

In these thoughts, we have but approached the study of karma from a fresh angle, and endeavoured to show the sources of the “influences” which play upon all atomic lives.

Trong những tư tưởng này, chúng ta chỉ mới tiếp cận việc nghiên cứu nghiệp quả từ một góc độ mới, và cố gắng chỉ ra các nguồn gốc của những “ảnh hưởng” tác động lên mọi sự sống nguyên tử.

The atom likewise is controlled by its own “esse,” or by its own inherent nature or vibration, which was the quality of matter itself before it was aggregated into a solar system, and which was the vibratory activity produced through the rhythmic life of an earlier solar system. [Page 801] This is equally true of all atoms of all grades, but only in connection with the atom of substance, and to some degree with the human atom, is it in any way possible to ascertain the predisposing causes. Until the mystery of the Great Bear is revealed and is known as it is, and until the influence of the Pleiades is comprehended, and the true significance of the cosmic triangle formed by

Nguyên tử cũng bị chi phối bởi “esse” riêng của nó, hay bởi bản chất hoặc rung động cố hữu của chính nó, vốn là phẩm tính của chính vật chất trước khi nó được kết tập thành một hệ mặt trời, và vốn là hoạt động rung động được tạo ra qua sự sống nhịp điệu của một hệ mặt trời trước đó. [Page 801] Điều này cũng đúng như vậy đối với mọi nguyên tử ở mọi cấp độ, nhưng chỉ liên quan đến nguyên tử chất liệu, và ở một mức độ nào đó với nguyên tử nhân loại, thì mới có thể phần nào xác định được các nguyên nhân khuynh hướng từ trước. Chừng nào huyền nhiệm của Đại Hùng Tinh còn chưa được mặc khải và được biết đúng như nó là, và chừng nào ảnh hưởng của Thất Nữ Tinh còn chưa được thấu hiểu, và thâm nghĩa chân thực của tam giác vũ trụ được tạo thành bởi

a. The seven Rishis of the Great Bear,

a. Bảy Rishi của Đại Hùng Tinh,

b. The seven planetary Logoi of our solar system,

b. Bảy Hành Tinh Thượng đế của hệ mặt trời chúng ta,

c. The seven Pleiades or Sisters,

c. Bảy Thất Nữ Tinh hay Bảy Chị Em,

is revealed, the karma of the seven sacred planets will remain unknown. All that we can see is its working out in the solar system. The intricacy of the whole subject will be apparent when it is borne in mind that not only do these three groups form a cosmic triangle, but that within that triangle many lesser triangles have to be studied. Any one of the seven Rishis with one of our planetary Logoi and one of the seven Sisters may form a subsidiary triangle, and all must thus be studied.

còn chưa được mặc khải, thì nghiệp quả của bảy hành tinh thiêng liêng vẫn sẽ còn chưa được biết đến. Tất cả những gì chúng ta có thể thấy là sự vận hành của nó trong hệ mặt trời. Tính phức tạp của toàn bộ chủ đề sẽ trở nên hiển nhiên khi nhớ rằng không những ba nhóm này tạo thành một tam giác vũ trụ, mà bên trong tam giác ấy còn có nhiều tam giác nhỏ hơn cần phải được nghiên cứu. Bất kỳ một trong bảy Rishi nào cùng với một trong các Hành Tinh Thượng đế của chúng ta và một trong Bảy Chị Em đều có thể tạo thành một tam giác phụ, và tất cả đều phải được nghiên cứu như thế.

In connection with the karma of the solar Logos, the subject is even more abstract and incomprehensible. It lies hidden—not in the seven constellations—but in the three constellations which concern the three bodies of His Personality and which in themselves are but manifestations of a central LIFE past our concept and our recognition. It concerns the manifestation in time and space of the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID, and Whose relationship to the solar Logos finds a faint analogy in that of the planetary Logos to man, the human unit. It profits not to extend the thought any further.

Liên quan đến nghiệp quả của Thái dương Thượng đế, chủ đề này còn trừu tượng và bất khả hiểu hơn nữa. Nó ẩn giấu—không phải trong bảy chòm sao—mà trong ba chòm sao liên quan đến ba thể của Phàm ngã của Ngài và bản thân chúng chỉ là những biểu hiện của một SỰ SỐNG trung tâm vượt ngoài quan niệm và sự nhận biết của chúng ta. Nó liên quan đến sự biểu hiện trong thời gian và không gian của ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ, và mối liên hệ của Ngài với Thái dương Thượng đế có một sự tương đồng mờ nhạt với mối liên hệ của Hành Tinh Thượng đế với con người, đơn vị nhân loại. Không ích gì khi mở rộng tư tưởng này thêm nữa.

We are but seeking to emphasise the fact of the interdependence of all atoms and forms, to lay stress upon the reality of the variety of influences which play upon all [Page 802] that is manifesting, and to call attention to the fact of the karma of the past aeons, kalpas and that unknowable period in which the initiatory impulses were set up which are still persisting, and which God, man and atoms are still working out and off. Influences or vibrations, calling forth response, play upon every form and atom in the solar system and all that can be predicated of them is that they tend to develop consciousness of some kind, impose certain rhythms according to that conscious response, and produce aggregations or group activity.

Chúng ta chỉ đang tìm cách nhấn mạnh sự kiện về tính tương thuộc của mọi nguyên tử và hình tướng, nhấn mạnh thực tại của sự đa dạng các ảnh hưởng tác động lên mọi [Page 802] gì đang biểu hiện, và lưu ý đến sự kiện về nghiệp quả của các đại kiếp, các kalpa trong quá khứ và giai đoạn bất khả tri ấy khi các xung lực điểm đạo được thiết lập mà đến nay vẫn còn tồn tại, và Thượng đế, con người và các nguyên tử vẫn đang triển khai và giải trừ. Những ảnh hưởng hay rung động, gọi ra sự đáp ứng, tác động lên mọi hình tướng và nguyên tử trong hệ mặt trời và tất cả những gì có thể được khẳng định về chúng là chúng có khuynh hướng phát triển một loại tâm thức nào đó, áp đặt những nhịp điệu nhất định tùy theo sự đáp ứng có tâm thức ấy, và tạo ra những sự kết tập hay hoạt động nhóm.

The liberation from karma about which would-be occult students so glibly talk is after all but the freeing of the atom from its own personal problem (the problem of response to unitary sensation), and its conscious acquiescence in group response and work. It marks the dissociation of the human atom from the rhythm imposed upon him by the lower “influences” which find their channel of approach through his vehicles, or lunar bodies, and his consequent willing recognition of the will-impulse of his greater whole, or the life of the egoic group—a centre in the planetary body. It involves atomic control, but involves also conscious subjection to the karma of the Heavenly Man. Man is no longer the slave of the rhythm of matter per se, but controls it in the three worlds of his endeavour; he is still nevertheless controlled by the group karma of the planetary centre, by its influence, life and vibratory impulse. The same can be predicated of a Heavenly Man, and of a solar Logos.

Sự giải thoát khỏi nghiệp quả mà những đạo sinh huyền bí học muốn trở thành thường nói đến một cách quá dễ dãi, rốt cuộc chỉ là sự giải phóng nguyên tử khỏi vấn đề cá nhân riêng của nó (vấn đề đáp ứng với cảm giác đơn nhất), và sự thuận nhận có ý thức của nó đối với sự đáp ứng và công việc nhóm. Điều đó đánh dấu sự tách rời của nguyên tử nhân loại khỏi nhịp điệu áp đặt lên y bởi các “ảnh hưởng” thấp hơn vốn tìm được kênh tiếp cận qua các vận cụ của y, hay các thể thái âm, và do đó là sự thừa nhận tự nguyện của y đối với xung lực ý chí của toàn thể lớn hơn của mình, hay sự sống của nhóm chân ngã—một trung tâm trong thể hành tinh. Điều này bao hàm sự kiểm soát nguyên tử, nhưng cũng bao hàm sự phục tùng có ý thức đối với nghiệp quả của Đấng Thiên Nhân. Con người không còn là nô lệ của nhịp điệu của vật chất chính nó nữa, mà kiểm soát nó trong ba cõi thấp của nỗ lực mình; tuy nhiên y vẫn còn bị chi phối bởi nghiệp quả nhóm của trung tâm hành tinh, bởi ảnh hưởng, sự sống và xung lực rung động của nó. Điều tương tự cũng có thể được khẳng định về một Đấng Thiên Nhân, và về một Thái dương Thượng đế.

We might, in closing, express the same thought in terms of fire, remembering that words only limit and confine the thought, and that the main reason for this mode of approach is to bring pictorially before man some aspects of the central idea.

Để kết thúc, chúng ta có thể diễn đạt cùng một tư tưởng ấy theo thuật ngữ của lửa, nhớ rằng ngôn từ chỉ giới hạn và giam hãm tư tưởng, và lý do chính của lối tiếp cận này là để đưa một vài phương diện của ý tưởng trung tâm ra trước con người bằng hình ảnh.

“Electric fire, or will-impulse” in conjunction with “fire by friction” produces light or “solar fire.” Electric fire is force or energy of some kind, and hence in itself [Page 803] is fundamentally an emanation. “Fire by friction” is substance with the quality of heat as its predominant characteristic; it is latent heat or sensation. Both these ideas, therefore, convey the idea of duality. An emanation must have its originating source, and heat is but the result of friction, and is necessarily dual. Both these concepts involve facts long antedating the solar system, and hidden in the Universal Mind. All that we can scientifically ascertain is the nature of that which is produced by their approximation, and this is solar fire or light. These thoughts may make clear somewhat the significance of the number five, esoterically considered. Electric fire, being an emanation is essentially dual in concept, and so is fire by friction; they together produce solar fire, and thus the esoteric fifth.

“Lửa Điện, hay xung lực ý chí” kết hợp với “Lửa ma sát” tạo ra ánh sáng hay “Lửa Thái dương.” Lửa Điện là mãnh lực hay năng lượng thuộc một loại nào đó, và do đó tự thân [Page 803] về căn bản là một phát xạ. “Lửa ma sát” là chất liệu với phẩm tính nhiệt là đặc tính nổi trội của nó; đó là nhiệt tiềm ẩn hay cảm giác. Vì vậy, cả hai ý tưởng này đều chuyển tải ý niệm về nhị nguyên tính. Một phát xạ phải có nguồn phát sinh của nó, và nhiệt chỉ là kết quả của ma sát, nên tất yếu là nhị nguyên. Cả hai khái niệm này đều bao hàm những sự kiện có trước hệ mặt trời từ rất lâu, và ẩn giấu trong Vũ Trụ Trí. Tất cả những gì chúng ta có thể xác định một cách khoa học là bản chất của điều được tạo ra bởi sự xích lại gần nhau của chúng, và đó là Lửa Thái dương hay ánh sáng. Những tư tưởng này có thể phần nào làm sáng tỏ thâm nghĩa của số năm khi được xét một cách huyền bí. Lửa Điện, vì là một phát xạ, về bản chất là nhị nguyên trong khái niệm, và Lửa ma sát cũng vậy; cả hai cùng nhau tạo ra Lửa Thái dương, và như thế tạo ra số năm huyền bí.

It will be apparent that when a man speaks of karma, he is dealing with something much wider than the interplay of effect and cause within the sphere of his own individual routine. He is, in all things, governed by causes originating in the aggregate of lives which form his egoic group, by the aggregate of groups which form one petal in a centre of a Heavenly Man, by force or purpose circulating through a triangle of centres, and by the life energy or purposeful will of the planetary Logos Himself. Finally he is governed by the will of the solar Logos as it demonstrates itself in initiatory activity. Beyond this we need hardly go, but enough has been said to show that every human atom is under the dominance of forces outside his own consciousness, which sweep him and others into situations from which there is no escape, and which are to him incomprehensible.

Sẽ hiển nhiên rằng khi một người nói về nghiệp quả, y đang đề cập đến một điều gì đó rộng lớn hơn nhiều so với sự tương tác giữa kết quả và nguyên nhân trong phạm vi nếp sinh hoạt cá nhân riêng của mình. Trong mọi sự, y bị chi phối bởi những nguyên nhân phát sinh trong tổng thể các sự sống tạo thành nhóm chân ngã của y, bởi tổng thể các nhóm tạo thành một cánh hoa trong một trung tâm của một Đấng Thiên Nhân, bởi mãnh lực hay mục đích lưu chuyển qua một tam giác các trung tâm, và bởi năng lượng sự sống hay ý chí có mục đích của chính Hành Tinh Thượng đế. Sau cùng y bị chi phối bởi ý chí của Thái dương Thượng đế khi ý chí ấy biểu lộ trong hoạt động điểm đạo. Vượt quá điều này chúng ta hầu như không cần đi xa hơn, nhưng như thế cũng đủ để cho thấy rằng mọi nguyên tử nhân loại đều ở dưới sự chi phối của những mãnh lực nằm ngoài tâm thức riêng của y, những mãnh lực cuốn y và những người khác vào những hoàn cảnh không có lối thoát, và đối với y là bất khả hiểu.

This has been at no time better illustrated than in the event of the late war and in present world conditions; these are effects of causes having their origin in the renewed activity of a certain planetary triangle, and in the vibration set up by our planetary Logos on the moon-chain, [Page 804] and which had a faint beginning in an earlier solar system. This vibration impinged primarily upon certain atoms and groups of atoms in His body, principally those composing the human and animal kingdoms, and produced the apparently dire results which we have been witnessing. So great was the effect of His energy, that the vegetable kingdom was somewhat (though not so much) affected, and the mineral kingdom felt the effect in a startling manner, far more than the vegetable kingdom and almost as much as the animal. Here we have a setting of circumstances outside human and even group control, which illustrates the helplessness of man in certain conditions, and which serves to bring in factors apparently apart from the individual vibration of the fourth kingdom.

Điều này chưa từng được minh họa rõ hơn trong biến cố của cuộc chiến vừa qua và trong các điều kiện thế giới hiện nay; đó là những kết quả của các nguyên nhân bắt nguồn từ hoạt động được đổi mới của một tam giác hành tinh nào đó, và từ rung động được Hành Tinh Thượng đế của chúng ta thiết lập trên dãy mặt trăng, [Page 804] và đã có một khởi đầu mờ nhạt trong một hệ mặt trời trước đó. Rung động này trước hết tác động lên một số nguyên tử và nhóm nguyên tử nào đó trong thể của Ngài, chủ yếu là những nguyên tử cấu thành giới nhân loại và giới động vật, và tạo ra những kết quả có vẻ thảm khốc mà chúng ta đã chứng kiến. Ảnh hưởng năng lượng của Ngài lớn lao đến nỗi giới thực vật cũng bị tác động phần nào (dù không nhiều bằng), và giới kim thạch cảm nhận ảnh hưởng ấy theo một cách đáng kinh ngạc, nhiều hơn giới thực vật rất nhiều và gần như bằng giới động vật. Ở đây chúng ta có một sự an bài hoàn cảnh nằm ngoài sự kiểm soát của con người và ngay cả của nhóm, minh họa sự bất lực của con người trong một số điều kiện nhất định, và đưa vào những yếu tố dường như tách biệt khỏi rung động cá nhân của giới thứ tư.

Nevertheless, within limits, man definitely does “control his destiny,” and can initiate action which produces effects recognisable by him as being dependent upon his activity along a particular line. He does, on a miniature scale, repeat the procedure of the Logos on a vaster scale, and thus is the arbiter of his own destiny, the producer of his own drama, the architect of his own home, and the initiator of his own affairs. Though he may be the meeting place of forces outside his control, yet he can utilize force, circumstance and environment and can turn them, if he so will, to his own ends.

Tuy nhiên, trong những giới hạn nhất định, con người quả thực “kiểm soát số phận của mình,” và có thể khởi xướng hành động tạo ra những kết quả mà y nhận biết là tùy thuộc vào hoạt động của mình theo một đường lối đặc thù. Ở quy mô thu nhỏ, y lặp lại tiến trình của Thượng đế ở một quy mô lớn hơn, và do đó là người phân xử số phận của chính mình, người tạo ra vở kịch của chính mình, kiến trúc sư của chính ngôi nhà mình, và là kẻ khởi xướng những công việc của chính mình. Dù y có thể là nơi gặp gỡ của những mãnh lực ngoài sự kiểm soát của mình, y vẫn có thể sử dụng mãnh lực, hoàn cảnh và môi trường, và có thể xoay chuyển chúng, nếu y muốn, theo những mục đích riêng của mình.

The working out of karmic law in a man’s own life might be broadly divided into three divisions, in each of which a different type of energy is demonstrating, producing effects upon the lower and higher bodies of a definite nature.

Sự vận hành của định luật nghiệp quả trong đời sống riêng của một người có thể được chia đại thể thành ba phần, trong mỗi phần một loại năng lượng khác nhau đang biểu lộ, tạo ra những kết quả có bản chất xác định trên các thể thấp và cao.

In the very early stages, when man is scarcely more than an animal, the vibratory activity of the atoms of his three sheaths (and of the lowest primarily) governs all actions on his part. He is the victim of the vibratory activity of physical substance, and much that occurs is the [Page 805] consequence of the interaction between the Ego and its lowest manifestation, the physical sheath. The centre of attention is the physical body and only faintly are the two subtler bodies responding. The egoic impulse is slow and heavy, and the vibration is directed to producing response between the egoic consciousness and the atoms of the physical body. The physical permanent atom is more active than the other two. It is the aspect of “fire by friction” which is fanned by the egoic breath, with a triple object in view:

Trong những giai đoạn rất sớm, khi con người hầu như chưa hơn con vật là mấy, hoạt động rung động của các nguyên tử trong ba thể bọc của y (và chủ yếu là thể thấp nhất) chi phối mọi hành động của y. Y là nạn nhân của hoạt động rung động của chất liệu hồng trần, và nhiều điều xảy ra là [Page 805] hệ quả của sự tương tác giữa Chân ngã và biểu hiện thấp nhất của nó, thể bọc hồng trần. Trung tâm chú ý là thể xác và chỉ rất mờ nhạt hai thể vi tế hơn mới đáp ứng. Xung lực chân ngã chậm chạp và nặng nề, và rung động được hướng đến việc tạo ra sự đáp ứng giữa tâm thức chân ngã và các nguyên tử của thể xác. Nguyên tử trường tồn hồng trần hoạt động mạnh hơn hai nguyên tử kia. Đó là phương diện của “Lửa ma sát” được hơi thở chân ngã quạt lên, với một mục tiêu tam phân:

a. Co-ordinating the physical body.

a. Phối hợp thể xác.

b. Increasing the resistance of the etheric web, a work which was only carried to the desired point by the middle of the Atlantean root-race.

b. Gia tăng sức đề kháng của màng lưới dĩ thái, một công việc chỉ được đưa đến điểm mong muốn vào khoảng giữa giống dân gốc Atlantis.

c. Bringing certain of the lower centres to the necessary stage of expression.

c. Đưa một số trung tâm thấp đến giai đoạn biểu lộ cần thiết.

The heat of the atoms in the bodies is increased during this stage, and their atomic life co-ordinated, while the triangle between the three permanent atoms becomes a demonstrable fact and not a faint indication.

Nhiệt của các nguyên tử trong các thể được gia tăng trong giai đoạn này, và sự sống nguyên tử của chúng được phối hợp, trong khi tam giác giữa ba nguyên tử trường tồn trở thành một sự kiện có thể chứng minh được chứ không còn là một dấu hiệu mờ nhạt nữa.

During the second stage, the law of karma or karmic influence (through the inevitable reflex action produced by the increased activity of the sheaths) turns its attention to the working out of desire, and its transmutation into the higher aspiration. Through experience, the pairs of opposites are recognised by the Thinker, and he becomes no longer the victim of the vibratory impulses of his physical body; the factor of intelligent choice becomes apparent. The man begins to discriminate between the pairs of opposites, choosing ever in the early stages that which appeals most to his lower nature and that which he believes will bring him pleasure. The centre of the attention of the Ego is the astral body, and it becomes so closely co-ordinated with the physical body that the two form one united expression of desire. The mental body [Page 806] remains comparatively inactive at this stage. The love nature of the Ego is in process of being developed, and this stage is the longest of the three. It deals with the evolution of the petals of the egoic lotus, and with the blending of solar fire and of fire by friction. Reflex action between the lower and the higher during this middle period produces three effects, which will be seen, if carefully studied to convey much information anent the working out of the law of Karma. These three effects are:

Trong giai đoạn thứ hai, định luật nghiệp quả hay ảnh hưởng nghiệp quả (thông qua phản ứng dội lại tất yếu do hoạt động gia tăng của các thể bọc tạo ra) hướng sự chú ý của nó đến việc triển khai khao khát, và sự chuyển hoá nó thành khát vọng cao hơn. Qua kinh nghiệm, các cặp đối cực được Đấng Tư Tưởng nhận biết, và y không còn là nạn nhân của các xung lực rung động của thể xác mình nữa; yếu tố lựa chọn thông minh trở nên hiển nhiên. Con người bắt đầu phân biện giữa các cặp đối cực, trong những giai đoạn đầu luôn chọn điều hấp dẫn nhất đối với bản chất thấp của mình và điều mà y tin sẽ đem lại khoái lạc cho mình. Trung tâm chú ý của Chân ngã là thể cảm dục, và nó trở nên được phối hợp chặt chẽ với thể xác đến nỗi cả hai tạo thành một biểu hiện thống nhất của khao khát. Thể trí [Page 806] vẫn tương đối bất hoạt trong giai đoạn này. Bản chất bác ái của Chân ngã đang trong tiến trình được phát triển, và đây là giai đoạn dài nhất trong ba giai đoạn. Nó liên quan đến sự tiến hoá của các cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã, và đến sự hòa trộn của Lửa Thái dương với Lửa ma sát. Phản ứng dội lại giữa cái thấp và cái cao trong thời kỳ trung gian này tạo ra ba kết quả, mà nếu được nghiên cứu cẩn thận sẽ thấy là chuyển tải nhiều thông tin liên quan đến sự vận hành của định luật Nghiệp quả. Ba kết quả này là:

1. The development of the astral permanent atom with a concurrent stimulation of the physical permanent atom, and thus the growth and evolution of the two sheaths concerned.

1. Sự phát triển của nguyên tử trường tồn cảm dục cùng với sự kích thích đồng thời của nguyên tử trường tồn hồng trần, và như thế là sự tăng trưởng và tiến hoá của hai thể bọc liên hệ.

2. The co-ordination of the threefold man through the innate vitality of the astral body and its effect upon the mental and the physical. This is the kama-manasic period, and as this body is the only complete sphere in the threefold lower man, it is the most powerful body inherently for it embodies (as does the solar system) the heart aspect, or embryonic love nature, which it is the object of macrocosmic and microcosmic evolution to develop.

2. Sự phối hợp của con người tam phân nhờ sinh lực bẩm sinh của thể cảm dục và ảnh hưởng của nó lên thể trí và thể xác. Đây là thời kỳ trí-cảm, và vì thể này là khối cầu hoàn chỉnh duy nhất trong con người thấp tam phân, nên tự thân nó là thể mạnh nhất vì nó thể hiện (cũng như hệ mặt trời) phương diện tim, hay bản chất bác ái phôi thai, mà mục tiêu của tiến hoá đại thiên địa và tiểu thiên địa là phát triển.

3. Finally the unfoldment of the nine egoic petals in three stages.

3. Sau cùng là sự khai mở của chín cánh hoa chân ngã trong ba giai đoạn.

In the working out of the law we must therefore note that man is first of all the victim of the impulses of dense substance or of the brahma aspect, and thus repeats rapidly the evolutionary process of the preceding solar system; in the second stage he is the victim of desire, or of his own love nature.

Vì vậy, trong sự vận hành của định luật, chúng ta phải lưu ý rằng trước hết con người là nạn nhân của các xung lực của chất liệu đậm đặc hay của phương diện Brahma, và do đó lặp lại một cách nhanh chóng tiến trình tiến hoá của hệ mặt trời trước; trong giai đoạn thứ hai y là nạn nhân của khao khát, hay của chính bản chất bác ái của mình.

In the third stage, the law of karma works through a man’s mental nature, and awakens in him recognition of the law, and an intellectual apprehension of cause and of effect. This is the shortest stage but is also the most powerful; it concerns the evolution of the three inner [Page 807] petals shielding the “jewel,” and their ability to disclose at the right moment that which lies hidden. It covers the period of the evolution of advanced man, and of the man upon the Path. In connection with the human family it covers the first half of the next round, prior to the great separation. Electric fire is beginning to make its radiations felt, and the will or purpose of the Ego is now consciously realised upon the physical plane. The three permanent atoms form a triangle of light, and the petals of the lotus are rapidly unfolding. When the will and purpose of the Ego are realised by man in his waking consciousness in the physical brain, then the law of karma in the three worlds is becoming neutralised, and man is on the verge of liberation. He has exhausted the initial vibration, and there is no response within his sheaths to the threefold vibration of the three worlds; he stands freed from the three kingdoms and the fourth.

Trong giai đoạn thứ ba, định luật nghiệp quả vận hành qua bản chất trí tuệ của con người, và đánh thức trong y sự nhận biết về định luật, cùng một sự nắm bắt bằng trí năng về nguyên nhân và kết quả. Đây là giai đoạn ngắn nhất nhưng cũng mạnh mẽ nhất; nó liên quan đến sự tiến hoá của ba cánh hoa bên trong [Page 807] che chở “ngọc châu,” và khả năng của chúng trong việc hé lộ vào đúng lúc điều đang ẩn giấu. Nó bao trùm thời kỳ tiến hoá của con người tiến bộ, và của con người trên Con Đường. Liên quan đến gia đình nhân loại, nó bao trùm nửa đầu của cuộc tuần hoàn kế tiếp, trước cuộc phân ly lớn. Lửa Điện bắt đầu làm cho các bức xạ của nó được cảm nhận, và ý chí hay mục đích của Chân ngã nay được chứng nghiệm một cách có ý thức trên cõi hồng trần. Ba nguyên tử trường tồn tạo thành một tam giác ánh sáng, và các cánh hoa của hoa sen đang nhanh chóng khai mở. Khi ý chí và mục đích của Chân ngã được con người chứng nghiệm trong tâm thức thức tỉnh của mình nơi bộ não hồng trần, thì định luật nghiệp quả trong ba cõi thấp đang được trung hòa, và con người ở trên bờ giải thoát. Y đã làm cạn kiệt rung động khởi đầu, và không còn sự đáp ứng nào trong các thể bọc của y đối với rung động tam phân của ba cõi thấp; y đứng giải thoát khỏi ba giới và giới thứ tư.

d. On the building of the Causal Body.

d. Về việc xây dựng Thể Nguyên Nhân.

We enter now upon one of the most vitally practical parts of our Treatise on Fire, that which deals with the building of the causal body, or body of manifestation of the Ego. It concerns the work of the solar Angels, or the true self-conscious Identity, man. If the student has in any way apprehended the general trend of the earlier pages, he will now be in a condition of mind which will enable him to interpret all that is said in terms of energy, or of that vibratory activity which is produced by the three major phases of electrical phenomena, the union which produces that divine manifestation called Man, or, when the aggregated units are considered, the human kingdom.

Giờ đây chúng ta bước vào một trong những phần thực tiễn thiết yếu nhất của Luận về Lửa, phần bàn về việc xây dựng thể nguyên nhân, hay thể biểu hiện của Chân ngã. Nó liên quan đến công việc của các Thái dương Thiên Thần, hay Bản Sắc tự ý thức chân thực, con người. Nếu đạo sinh bằng cách nào đó đã nắm bắt được xu hướng tổng quát của những trang trước, thì giờ đây y sẽ ở trong một trạng thái trí tuệ cho phép y diễn giải mọi điều được nói đến theo thuật ngữ của năng lượng, hay của hoạt động rung động được tạo ra bởi ba pha chính của hiện tượng điện, sự hợp nhất tạo ra biểu hiện thiêng liêng gọi là Con Người, hay, khi xét các đơn vị kết tập, là giới nhân loại.

(a) Introductory remarks. We have studied somewhat the constitution of the Triangles, or Pitris, Who, through self-sacrifice, endow man with self-consciousness, building his egoic vehicle out of Their own essence. We [Page 808] have touched briefly upon the lunar Pitris, who endow man with his lower sheaths and principles through which the energy of the solar Lords may make itself felt, and we shall now proceed to study three things:

(a) Những nhận xét mở đầu. Chúng ta đã phần nào nghiên cứu cấu tạo của các Tam Giác, hay các Pitri, Đấng mà qua sự hi sinh bản thân, ban cho con người ngã thức, xây dựng vận cụ chân ngã của con người từ chính tinh chất của Các Ngài. Chúng ta [Page 808] đã chạm đến một cách ngắn gọn các thái âm tổ phụ, những Đấng ban cho con người các thể bọc và nguyên khí thấp của y, qua đó năng lượng của các nhật tinh quân có thể được cảm nhận, và giờ đây chúng ta sẽ tiến hành nghiên cứu ba điều:

First, the effect of the higher energy upon the lower bodies, as it gradually makes itself felt during the evolutionary process, and thus simultaneously “redeems” man in an occult sense, and also “elevates” the lunar Pitris.

Thứ nhất, ảnh hưởng của năng lượng cao lên các thể thấp, khi nó dần dần được cảm nhận trong tiến trình tiến hoá, và như thế đồng thời “cứu chuộc” con người theo nghĩa huyền bí, đồng thời cũng “nâng cao” các thái âm tổ phụ.

Second, the effect of this energy on the mental plane in the development and unfoldment of the egoic lotus.

Thứ hai, ảnh hưởng của năng lượng này trên cõi trí trong sự phát triển và khai mở của Hoa Sen Chân Ngã.

Third, the awakening to activity of the central Life within the lotus. This activity demonstrates in a twofold manner:

Thứ ba, sự thức tỉnh vào hoạt động của Sự sống trung tâm bên trong hoa sen. Hoạt động này biểu lộ theo hai cách:

a. As the realisation by the man on the physical plane within the physical brain of his divine nature, resulting in a consequent demonstration of divinity upon earth, prior to liberation.

a. Như sự chứng nghiệm của con người trên cõi hồng trần trong bộ não hồng trần về bản chất thiêng liêng của mình, đưa đến sự biểu lộ thiên tính trên trần gian trước khi được giải thoát.

b. As the conscious activity of the individual Ego on the mental plane in co-operation with its group or groups.

b. Như hoạt động có ý thức của Chân ngã cá nhân trên cõi trí trong sự hợp tác với nhóm hay các nhóm của nó.

In the first case, we have the effect of the egoic life upon its sheaths, and their subsequent control, and in the second case we have the self-awakening of the egoic unit on its own plane; in the third case, we have a group realisation, or the entrance by the unit into the consciousness of the Heavenly Man.

Trong trường hợp thứ nhất, chúng ta có ảnh hưởng của sự sống chân ngã lên các thể bọc của nó, và sự kiểm soát tiếp theo của nó; trong trường hợp thứ hai, chúng ta có sự tự thức tỉnh của đơn vị chân ngã trên cõi riêng của nó; trong trường hợp thứ ba, chúng ta có một sự chứng nghiệm nhóm, hay sự đi vào của đơn vị ấy trong tâm thức của Đấng Thiên Nhân.

It will not be possible to do more than indicate broad general lines of development. The subject of egoic evolution cannot be fully comprehended until after initiation, but it is felt now by the Teachers on the inner side that the main principles had better be given out at once in view of the unexpected development (since the opening of this century) of two great sciences:

Sẽ không thể làm gì hơn ngoài việc chỉ ra những đường nét phát triển tổng quát. Chủ đề về sự tiến hoá chân ngã không thể được thấu hiểu đầy đủ cho đến sau điểm đạo, nhưng hiện nay các Huấn sư ở phía bên trong cảm thấy rằng tốt hơn nên công bố ngay các nguyên lý chính, xét theo sự phát triển bất ngờ (kể từ đầu thế kỷ này) của hai khoa học lớn:

The Science of Electricity. The investigations of scientists [Page 809] have been greatly stimulated by the discovery of radium, which is an electrical phenomenon of a certain kind, and by the knowledge this discovery brought of the radioactive substances; the development of the many methods of utilising electricity has also greatly aided. This science has brought man to the threshold of a discovery which will revolutionise world thought on these matters, and which will eventually solve a great part of the economic problem, thus leaving many more persons free for mental growth and work. This expansion of knowledge can be looked for before one hundred and fifty years have transpired.

Khoa Học về Điện. Những cuộc khảo cứu của các nhà khoa học [Page 809] đã được kích thích mạnh mẽ bởi việc khám phá ra radium, vốn là một hiện tượng điện thuộc một loại nào đó, và bởi tri thức mà khám phá này đem lại về các chất phóng xạ; sự phát triển của nhiều phương pháp sử dụng điện cũng đã hỗ trợ rất nhiều. Khoa học này đã đưa con người đến ngưỡng cửa của một khám phá sẽ cách mạng hóa tư tưởng thế giới về những vấn đề này, và rốt cuộc sẽ giải quyết một phần lớn vấn đề kinh tế, nhờ đó để lại cho nhiều người hơn sự tự do cho sự phát triển và công việc trí tuệ. Có thể trông đợi sự mở rộng tri thức này trước khi một trăm năm mươi năm trôi qua.

The Science of Psychology. The psycho-analytic theories which (though indicative of progress) are yet tending in a wrong direction, may prove disastrous to the higher development of the race unless the true nature of the “psyche” is elucidated. When the public mind has apprehended, even cursorily, the following briefly stated facts, the trend of popular education, the object of political science, and the goal of economic and social endeavour will take a new and better direction. These facts might be summed up in the following postulates:

Khoa Học về Tâm Lý Học. Các lý thuyết phân tâm học, tuy là dấu hiệu của tiến bộ, nhưng vẫn đang có khuynh hướng đi sai hướng, có thể chứng tỏ là tai hại cho sự phát triển cao hơn của nhân loại trừ phi bản chất chân thực của “psyche” được làm sáng tỏ. Khi trí tuệ công chúng nắm bắt được, dù chỉ sơ lược, những sự kiện được phát biểu ngắn gọn sau đây, thì xu hướng của giáo dục đại chúng, mục tiêu của khoa học chính trị, và đích đến của nỗ lực kinh tế và xã hội sẽ đi theo một hướng mới và tốt đẹp hơn. Những sự kiện này có thể được tóm lược trong các định đề sau đây:

I. Man is in essence divine. (259) This has ever been enunciated throughout the ages, but remains as yet a beautiful theory or belief, and not a proven scientific fact, nor is it universally held. [Page 810]

I. Con người về bản chất là thiêng liêng. (259) Điều này đã luôn được tuyên bố qua các thời đại, nhưng cho đến nay vẫn chỉ là một lý thuyết hay niềm tin đẹp đẽ, chứ chưa phải là một sự kiện khoa học đã được chứng minh, và cũng chưa được chấp nhận phổ quát. [Page 810]

(259) Each human being is an incarnation of God.—S. D., III, 449. Compare:—S. D., II, 541; S. D., III, 475, and the Biblical words: “I have said, Ye are Gods.” “Know ye not that ye are the Temple of the Holy Spirit?”

(259) Mỗi con người là một sự nhập thể của Thượng đế.—S. D., III, 449. So sánh:—S. D., II, 541; S. D., III, 475, và những lời trong Kinh Thánh: “Ta đã phán, các ngươi là Thượng đế.” “Các ngươi há chẳng biết rằng các ngươi là Đền Thờ của Chúa Thánh Thần sao?”

No Being can become a God without passing through the human cycles.—S. D., II, 336.

Không Hữu thể nào có thể trở thành một Thượng đế mà không đi qua các chu kỳ nhân loại.—S. D., II, 336.

Man therefore is like God in that he represents the pairs of opposites, good and evil, light and darkness, male and female, etc. He is a duality.

Vì vậy con người giống Thượng đế ở chỗ y biểu hiện các cặp đối cực, thiện và ác, ánh sáng và bóng tối, nam và nữ, v.v. Y là một nhị nguyên tính.

He represents also God in that He is a triplicity, being three in one, and one in three.—See S. D., II, 553.

Y cũng biểu hiện Thượng đế ở chỗ Ngài là một bộ ba, là ba trong một, và một trong ba.—Xem S. D., II, 553.

By man the divine Monad is meant.—S. D., II, 196. (back)

Bởi con người ở đây muốn nói đến Chân thần thiêng liêng.—S. D., II, 196. (back)

II. Man is in fact a fragment of the Universal Mind, or world soul, (S. D., I, Proem., pp. 42-44.) and as a fragment is thus partaker of the instincts and quality of that soul, as it manifests through the human family. Therefore, unity is only possible upon the plane of mind. This, if true, must lead to the tendency to develop within the physical brain a conscious realisation of group affiliations on the mental plane, a conscious recognition of group relationships, ideals and goal, and a conscious manifestation of that continuity of consciousness which is the object of evolution at this time. It will further produce the transference of the race consciousness from the physical plane to the mental, and a consequent solving through “knowledge, love, and sacrifice” of all present problems. This will bring about emancipation from the present physical plane disorder. It must lead to the education of the public as to the nature of man, and the development of the powers latent within him—powers which will set him free from his present limitations, and which will produce in the human family a collective repudiation of the present conditions. When men everywhere recognise themselves and each other, as divine self-conscious units, functioning primarily in the causal body but utilising the three lower vehicles only as a means of contact with the three lower planes, we will have government, politics, economics and the social order readjusted upon sound, sane and divine lines.

II. Con người thực ra là một mảnh của Vũ Trụ Trí, hay hồn thế giới, (S. D., I, Proem., pp. 42-44.) và với tư cách là một mảnh, do đó dự phần vào các bản năng và phẩm tính của hồn ấy, khi nó biểu lộ qua gia đình nhân loại. Vì vậy, sự hợp nhất chỉ có thể có trên cõi trí. Nếu điều này là đúng, thì nó phải dẫn đến khuynh hướng phát triển trong bộ não hồng trần một sự chứng nghiệm có ý thức về các liên hệ nhóm trên cõi trí, một sự nhận biết có ý thức về các mối quan hệ nhóm, các lý tưởng và mục tiêu, và một sự biểu lộ có ý thức của sự liên tục tâm thức vốn là mục tiêu của tiến hoá vào lúc này. Hơn nữa, nó sẽ tạo ra sự chuyển dịch tâm thức nhân loại từ cõi hồng trần lên cõi trí, và do đó giải quyết mọi vấn đề hiện nay bằng “tri thức, bác ái và hi sinh.” Điều này sẽ đem lại sự giải phóng khỏi tình trạng hỗn loạn hiện nay trên cõi hồng trần. Nó phải dẫn đến việc giáo dục công chúng về bản chất của con người, và sự phát triển các quyền năng tiềm ẩn bên trong y—những quyền năng sẽ giải phóng y khỏi các giới hạn hiện nay, và sẽ tạo ra trong gia đình nhân loại một sự phủ nhận tập thể đối với các điều kiện hiện tại. Khi những người nam và nữ ở khắp nơi nhận biết chính mình và nhau như những đơn vị tự ý thức thiêng liêng, hoạt động chủ yếu trong thể nguyên nhân nhưng chỉ sử dụng ba vận cụ thấp như phương tiện tiếp xúc với ba cõi thấp, thì chúng ta sẽ có chính quyền, chính trị, kinh tế và trật tự xã hội được điều chỉnh lại theo những đường lối lành mạnh, sáng suốt và thiêng liêng.

III. Man in his lower nature, and in his three vehicles, is an aggregate of lesser lives, dependent upon him for their group nature, for their type of activity, and collective response, and who— [Page 811] through the energy or activity of the solar Lord—will themselves later be raised, and developed to the human stage.

III. Con người trong bản chất thấp của mình, và trong ba vận cụ của mình, là một tổng thể của những sự sống nhỏ hơn, lệ thuộc vào y về bản chất nhóm của chúng, về loại hoạt động của chúng, và sự đáp ứng tập thể của chúng, và những sự sống ấy— [Page 811] nhờ năng lượng hay hoạt động của nhật tinh quân—về sau chính chúng cũng sẽ được nâng lên và phát triển đến giai đoạn nhân loại.

When these three facts are understood, then and only then will we have a right and just comprehension of the nature of man.

Khi ba sự kiện này được thấu hiểu, thì khi ấy và chỉ khi ấy chúng ta mới có được một sự hiểu biết đúng đắn và công bằng về bản chất của con người.

Again, this realisation will bring about three changes in the thought of the age:

Một lần nữa, sự chứng nghiệm này sẽ đem lại ba thay đổi trong tư tưởng của thời đại:

(1) A readjustment of the medical knowledge of man, resulting in a truer understanding of the physical body, of its treatment, and of its protection, and thus producing a juster apprehension of the laws of health. The aim of the physician will then be to find out what it is in a man’s life which is preventing egoic energy from flooding every part of his being; to find out what lines of thought are being indulged in which are causing that inertia of the will aspect which is so conducive to wrongdoing; to ascertain what it is in the emotional body which is affecting the nervous system, and thus obstructing the flow of energy from the love petals of the egoic lotus (via the astral permanent atom) to the astral body, and from thence to the nervous system; to discover what is the hindrance in the etheric body which is preventing the right flow of prana, or of solar vitality to every part of the body.

(1) Sự điều chỉnh lại tri thức y học về con người, đưa đến một sự thấu hiểu chân thực hơn về thể xác, về việc điều trị và bảo vệ nó, và như thế tạo ra một sự nắm bắt đúng đắn hơn về các định luật sức khỏe. Khi ấy mục tiêu của thầy thuốc sẽ là tìm ra điều gì trong đời sống của một người đang ngăn cản năng lượng chân ngã tràn ngập mọi phần của hữu thể y; tìm ra những đường lối tư tưởng nào đang được nuông chiều gây ra tính trì trệ của phương diện ý chí vốn rất thuận lợi cho việc làm điều sai quấy; xác định điều gì trong thể cảm dục đang ảnh hưởng đến hệ thần kinh, và do đó cản trở dòng năng lượng từ các cánh hoa bác ái của Hoa Sen Chân Ngã (qua nguyên tử trường tồn cảm dục) đến thể cảm dục, và từ đó đến hệ thần kinh; khám phá điều gì là chướng ngại trong thể dĩ thái đang ngăn cản dòng chảy đúng đắn của prana, hay sinh lực thái dương đến mọi phần của thể.

It is essential that in days to come medical men should realise that disease in the physical body is incidental to wrong internal conditions. This is already being somewhat considered but the whole question will remain but a beautiful theory (even though an incontrovertible one in view of the achievements of mental scientists and of the various faith healers) until the true nature of the ego, its constitution, its powers, and its field of influence are duly apprehended.

Điều thiết yếu là trong những ngày sắp tới các y sĩ phải nhận ra rằng bệnh tật trong thể xác là hệ quả của những điều kiện sai lầm bên trong. Điều này đã phần nào đang được xem xét nhưng toàn bộ vấn đề sẽ vẫn chỉ là một lý thuyết đẹp đẽ (dù là một lý thuyết không thể bác bỏ xét theo những thành tựu của các nhà khoa học trí tuệ và của nhiều nhà chữa bệnh bằng đức tin khác nhau) cho đến khi bản chất chân thực của chân ngã, cấu tạo của nó, các quyền năng của nó, và phạm vi ảnh hưởng của nó được nắm bắt đúng mức.

This revelation will come when medical men accept this [Page 812] teaching as a working hypothesis, and then begin to note, for instance, the powers of endurance shown by the great souls of the earth, and their capacity to work at high pressure, and to remain practically immune from disease until (at the close of a long life of usefulness) the Ego deliberately chooses to “die-out” of physical existence. It will come when the medical profession concentrates upon preventative action, substituting sunshine, a vegetarian diet, and the application of the laws of magnetic vibration and vitality for the present regimen of drugs and surgical operations. Then will come the time when finer and better human beings will manifest on earth. When also physicians learn the nature of the etheric body, and the work of the spleen as a focal point for pranic emanations, then sound principles and methods will be introduced which will do away with such diseases as tuberculosis, debility, malnutrition and the diseases of the blood and of the kidneys. When doctors comprehend the effect of the emotions upon the nervous system, they will turn their attention to the amelioration of environal conditions, and will study the effects of the emotional currents upon the fluids of the body, and primarily upon the great nerve centres, and the spinal column. When the connection between the dense physical and the subtler bodies is a fact established in medical circles, then will the right treatment of lunacy, of obsessions, and of wrong mental conditions be better comprehended, and the results more successful; finally, when the nature of egoic force, or of energy is studied, and the function of the physical brain as the transmitter of egoic intent is better comprehended, then the coordination of man’s entire being will be studied, and illness, debility and disease, will be traced to their just cause, and will be treated through the cause and not just through the effect.

Sự mặc khải này sẽ đến khi các y sĩ chấp nhận giáo huấn này [Page 812] như một giả thuyết làm việc, rồi bắt đầu ghi nhận, chẳng hạn, sức chịu đựng được biểu lộ bởi các đại hồn của thế gian, và khả năng làm việc dưới áp lực cao của họ, cùng việc họ hầu như miễn nhiễm với bệnh tật cho đến khi (vào cuối một đời sống hữu ích lâu dài) Chân ngã cố ý chọn “rút tắt” khỏi sự tồn tại hồng trần. Nó sẽ đến khi giới y khoa tập trung vào hành động phòng ngừa, thay thế chế độ hiện nay gồm thuốc men và phẫu thuật bằng ánh nắng mặt trời, chế độ ăn chay, và việc áp dụng các định luật rung động từ tính và sinh lực. Khi ấy sẽ đến thời kỳ những con người tinh tế và tốt đẹp hơn biểu hiện trên trần gian. Khi các y sĩ cũng học được bản chất của thể dĩ thái, và công việc của lá lách như một tiêu điểm cho các phát xạ prana, thì những nguyên lý và phương pháp lành mạnh sẽ được đưa vào, nhờ đó loại bỏ những bệnh như lao phổi, suy nhược, suy dinh dưỡng và các bệnh về máu và thận. Khi các bác sĩ thấu hiểu ảnh hưởng của cảm xúc lên hệ thần kinh, họ sẽ hướng sự chú ý đến việc cải thiện các điều kiện môi trường, và sẽ nghiên cứu các ảnh hưởng của các dòng cảm xúc lên các lưu chất của thể, và chủ yếu lên các trung tâm thần kinh lớn, cùng cột sống. Khi mối liên hệ giữa thể xác đậm đặc và các thể vi tế hơn trở thành một sự kiện được xác lập trong giới y học, thì việc điều trị đúng đắn chứng điên loạn, sự ám nhập, và các trạng thái trí tuệ sai lệch sẽ được thấu hiểu tốt hơn, và kết quả sẽ thành công hơn; sau cùng, khi bản chất của mãnh lực chân ngã, hay năng lượng, được nghiên cứu, và chức năng của bộ não hồng trần như bộ truyền đạt ý định chân ngã được thấu hiểu tốt hơn, thì sự phối hợp toàn bộ hữu thể của con người sẽ được nghiên cứu, và bệnh tật, suy nhược và đau ốm sẽ được truy nguyên về đúng nguyên nhân của chúng, và sẽ được điều trị qua nguyên nhân chứ không chỉ qua kết quả.

(2) The entire social world of thought will apply itself to the understanding of the emotional nature of [Page 813] humanity, to the group relationships involved, and to the interaction between individuals and other individuals, between groups and other groups. These relationships will be interpreted wisely and broadly and a man will be taught his responsibility to the lesser lives which he ensouls. This will produce a just direction of individual force, and its utilisation for the stabilisation, the development, and the refining of the substance of the different vehicles. Men will also be taught their definite responsibility under law to their own individual families. This will bring about the protection of the family unit, and its scientific development; it will cause the elimination of marital troubles, and the abolition of abuses of different kinds, so prevalent now in many family circles.

(2) Toàn bộ thế giới tư tưởng xã hội sẽ chuyên tâm vào việc thấu hiểu bản chất cảm xúc của [Page 813] nhân loại, các mối quan hệ nhóm liên hệ, và sự tương tác giữa cá nhân với cá nhân khác, giữa nhóm với nhóm khác. Những mối quan hệ này sẽ được diễn giải một cách minh triết và bao quát, và con người sẽ được dạy về trách nhiệm của mình đối với những sự sống nhỏ hơn mà y phú linh. Điều này sẽ tạo ra sự định hướng đúng đắn của mãnh lực cá nhân, và việc sử dụng nó cho sự ổn định, phát triển và tinh luyện chất liệu của các vận cụ khác nhau. Con người cũng sẽ được dạy về trách nhiệm xác định của mình theo định luật đối với chính gia đình cá nhân của mình. Điều này sẽ đem lại sự bảo vệ đơn vị gia đình, và sự phát triển khoa học của nó; nó sẽ khiến các rắc rối hôn nhân bị loại bỏ, và các lạm dụng đủ loại, hiện đang rất phổ biến trong nhiều gia đình, bị bãi bỏ.

Responsibility to the community in which a man is placed will likewise be emphasised. Men will be taught the true esoteric meaning of citizenship—a citizenship based upon egoic group relations, the law of rebirth, and the real meaning of the law of karma. They will be taught national responsibility, and the place of the community within the nation, and of the nation within the comity of nations. Men will finally be taught their responsibility to the animal kingdom. This will be brought about in three ways:

Trách nhiệm đối với cộng đồng mà một người được đặt vào cũng sẽ được nhấn mạnh. Con người sẽ được dạy ý nghĩa huyền bí chân thực của quyền công dân—một quyền công dân dựa trên các mối quan hệ nhóm chân ngã, định luật tái sinh, và ý nghĩa thực sự của định luật nghiệp quả. Họ sẽ được dạy trách nhiệm quốc gia, và vị trí của cộng đồng trong quốc gia, và của quốc gia trong cộng đồng các quốc gia. Sau cùng con người sẽ được dạy trách nhiệm của mình đối với giới động vật. Điều này sẽ được thực hiện theo ba cách:

1. Man’s truer understanding of his own animal nature.

1. Sự thấu hiểu chân thực hơn của con người về bản chất động vật của chính mình.

2. A comprehension of the laws of individualisation, and the effect of the influence of the fourth, or human, kingdom upon the third, or animal, kingdom.

2. Sự hiểu biết về các định luật biệt ngã hóa, và ảnh hưởng của giới thứ tư, hay giới nhân loại, lên giới thứ ba, hay giới động vật.

3. The work of an Avatar of a lesser order Who will come in the beginning of the next century to reveal to man his relationship to the third kingdom. His way is being prepared by the many who in these days are developing public interest through the [Page 814] various societies for the benefit and protection of animals, and through the many stories to be found in books and current periodicals.

3. Công việc của một Đấng Hoá Thân thuộc trật tự thấp hơn, Đấng sẽ đến vào đầu thế kỷ tới để mặc khải cho con người mối liên hệ của mình với giới thứ ba. Con đường của Ngài đang được chuẩn bị bởi nhiều người hiện nay đang phát triển mối quan tâm của công chúng qua [Page 814] các hội đoàn khác nhau vì lợi ích và sự bảo vệ động vật, và qua nhiều câu chuyện có thể tìm thấy trong sách và các tạp chí đương thời.

We are told by H. P. B. (S. D., III, 580.) that the sense of responsibility is one of the first indications of egoic control, and as more and more of the human family come under egoic influence, conditions will be bettered slowly and steadily in every department of life.

Chúng ta được H. P. B. cho biết (S. D., III, 580.) rằng ý thức về trách nhiệm là một trong những dấu hiệu đầu tiên của sự kiểm soát chân ngã, và khi ngày càng nhiều thành viên của gia đình nhân loại chịu dưới ảnh hưởng chân ngã, các điều kiện sẽ được cải thiện chậm rãi và vững chắc trong mọi lĩnh vực của đời sống.

(3) In the educational world an apprehension of man’s true nature will bring about a fundamental change in the methods of teaching. The emphasis will be laid upon teaching people the fact of the Ego on its own plane, the nature of the lunar bodies, and the methods of aligning the lower bodies so that the Ego can communicate direct with the physical brain, and thus control the lower nature and work out its purposes. Men will be taught how, through concentration and meditation, they can ascertain knowledge for themselves, can develop the intuition, and thus draw upon the resources of the Ego. Then will men be taught to think, to assume control of the mental body, and thus develop their latent powers.

(3) Trong thế giới giáo dục sự nắm bắt bản chất chân thực của con người sẽ đem lại một thay đổi căn bản trong các phương pháp giảng dạy. Sự nhấn mạnh sẽ được đặt vào việc dạy con người về sự kiện của Chân ngã trên cõi riêng của nó, bản chất của các thể thái âm, và các phương pháp chỉnh hợp các thể thấp để Chân ngã có thể giao tiếp trực tiếp với bộ não hồng trần, và như thế kiểm soát bản chất thấp và triển khai các mục đích của nó. Con người sẽ được dạy cách, qua tập trung và tham thiền, họ có thể tự mình xác định tri thức, có thể phát triển trực giác, và như thế rút ra từ các nguồn lực của Chân ngã. Khi ấy con người sẽ được dạy tư duy, nắm quyền kiểm soát thể trí, và như thế phát triển các quyền năng tiềm ẩn của mình.

In the above few remarks are indicated very briefly and inadequately the results which may be looked for from a true understanding of the essential nature of man. It has been written in view of the necessity these days of a statement as to the real or inner man, and as to the laws of the kingdom of God. That inner man has ever been known to be there, and the “kingdom within” has ever been proclaimed until H. P. B. came and gave out the same old truths from a new angle, giving an occult turn to mystic thought. Now comes the opportunity for man to realise the laws of his own being, and in that realisation those who stand on the verge of intuitional apprehension of knowledge and those of scientific bent who are willing to accept these truths as a working [Page 815] hypothesis to be utilised as a basis for experiment until proven false, will have the chance to solve the world problems from within. Thus will the Christ principle be manifested upon earth, and thus will the Christ nature be demonstrated to be a fact in nature itself.

Trong vài nhận xét trên đây, những kết quả có thể được trông đợi từ một sự thấu hiểu chân thực về bản chất cốt yếu của con người đã được chỉ ra rất ngắn gọn và chưa đầy đủ. Điều này đã được viết ra vì nhu cầu hiện nay về một phát biểu liên quan đến con người chân thực hay nội tại, và liên quan đến các định luật của Thiên Giới. Con người nội tại ấy từ lâu vẫn được biết là hiện hữu, và “vương quốc bên trong” từ lâu vẫn được công bố cho đến khi H. P. B. xuất hiện và truyền ra những chân lý xưa cũ ấy từ một góc độ mới, đem đến một khúc ngoặt huyền bí cho tư tưởng thần bí. Giờ đây đến cơ hội để con người chứng nghiệm các định luật của chính hữu thể mình, và trong sự chứng nghiệm ấy, những ai đang đứng trên bờ của sự nắm bắt tri thức bằng trực giác và những ai có khuynh hướng khoa học sẵn lòng chấp nhận các chân lý này như một giả thuyết làm việc [Page 815] để được sử dụng làm cơ sở cho thực nghiệm cho đến khi bị chứng minh là sai, sẽ có cơ hội giải quyết các vấn đề của thế giới từ bên trong. Như thế nguyên lý Christ sẽ được biểu lộ trên trần gian, và như thế bản chất Christ sẽ được chứng minh là một sự kiện trong chính bản chất.

The value to the public thought of a true explanation of the evolution of the Ego, and its gradually developing power on earth is very great. There are two ways in which man may view this matter, both of which provide food for meditation, and well merit serious consideration. Both of them have been somewhat dealt with by thinkers of many schools of thought, and hence do not require any lengthy elucidation. The problem may be regarded as one calling for the elevation of the inner consciousness of the human unit (functioning in the physical body) to the higher levels of the mental plane, and therefore involves a raising or expansion of his waking consciousness till it becomes aware of this higher life. This is the way of mystical approach, and many instances of its successful accomplishment can be studied in the lives of the mystics of all ages. By sheer devotion and strenuous application, and by a severe disciplining of the physical body, the mystic effects his entrance into the heart centre of his little system, and his life becomes irradiated by the beams of his own central sun—the egoic light divine. The problem may again be regarded as one in which the effort of the man is concentrated in an attempt to bring down into the physical brain consciousness, and thus on to the physical plane, the life and power and energy of the inner centre, the Ego. This involves necessarily a scientific apprehension of the laws of being, and a recognition of the dual nature of the Self. It involves a devotion to the work of bringing about a domination of the lunar lords through the radiant control of the solar Lord. This is the occult method. It is the method of studying the constitution of those entities who form the [Page 816] fourfold lower nature, the personality, and a close investigation of those divine Essences Who build the body of the Ego or higher self. To this must be added a severe application of the laws of nature to the individual problem.

Giá trị đối với tư tưởng công chúng của một sự giải thích chân thực về sự tiến hoá của chân ngã, và về quyền năng đang dần phát triển của nó trên Trái Đất, là rất lớn. Có hai cách mà con người có thể nhìn vấn đề này, cả hai đều cung cấp nhiều điều đáng suy ngẫm trong tham thiền, và rất đáng được xem xét nghiêm túc. Cả hai cách ấy phần nào đã được các nhà tư tưởng thuộc nhiều trường phái tư tưởng bàn đến, và vì thế không đòi hỏi sự làm sáng tỏ dài dòng nào. Vấn đề có thể được xem như một vấn đề đòi hỏi sự nâng cao tâm thức bên trong của đơn vị nhân loại (đang hoạt động trong thể xác) lên các cấp độ cao hơn của cõi trí, và do đó bao hàm việc nâng lên hay mở rộng tâm thức thức tỉnh của y cho đến khi nó nhận biết được sự sống cao hơn này. Đây là con đường tiếp cận của nhà thần bí, và nhiều trường hợp thành công của nó có thể được nghiên cứu trong cuộc đời của các nhà thần bí thuộc mọi thời đại. Bằng lòng sùng tín thuần túy và sự chuyên cần mãnh liệt, cùng bằng sự kỷ luật nghiêm khắc đối với thể xác, nhà thần bí đi vào trung tâm tim của hệ thống nhỏ bé của mình, và đời sống của y trở nên được chiếu rạng bởi các tia của mặt trời trung tâm của chính y—ánh sáng thiêng liêng của chân ngã. Vấn đề cũng có thể lại được xem như một vấn đề trong đó nỗ lực của con người được tập trung vào việc cố gắng đem xuống tâm thức bộ não hồng trần, và như thế xuống cõi hồng trần, sự sống, quyền năng và năng lượng của trung tâm bên trong, tức chân ngã. Điều này tất yếu bao hàm một sự lĩnh hội có tính khoa học về các định luật của bản thể, và một sự nhận biết bản chất nhị nguyên của Bản Ngã. Nó bao hàm sự tận tụy với công việc đem lại sự thống trị các nguyệt tinh quân nhờ sự kiểm soát rạng ngời của nhật tinh quân. Đây là phương pháp huyền bí học. Đó là phương pháp nghiên cứu cấu tạo của những thực thể tạo thành [Page 816] bản chất thấp tứ phân, phàm ngã, và khảo sát kỹ lưỡng những Tinh Chất thiêng liêng xây dựng thể của chân ngã hay bản ngã cao siêu. Vào đó còn phải thêm sự áp dụng nghiêm ngặt các định luật của bản chất vào vấn đề cá nhân.

What is proposed in this Treatise is to follow the latter method, as the aim is to make clear the rationale of the process.

Điều được đề nghị trong Luận này là theo phương pháp sau, vì mục tiêu là làm sáng tỏ cơ sở hợp lý của tiến trình.

(b) The evolution of the petals. The building of the causal body is the result of dual energy, that of the lower self with its reflex action upon the higher unit, and that of the natural energy of the self as it makes its direct impress upon the substance of the egoic lotus. It should here be remembered that, subtle though the material may be, the egoic lotus is as truly substance of a particular vibration as is the physical body, only (owing to its rarity) physical plane man regards it practically as nonsubstantial. It is in fact, as earlier pointed out, the result of the dual vibration of the fivefold Dhyanis or Gods in conjunction with the fourfold Quaternary, or the Pitris of the lower vehicles. Through a conscious effort of the planetary Logoi, these Dhyanis and lower Pitris are brought into a close relationship. This produces (upon the third subplane of the mental plane) a ninefold vibration or whorl in the gaseous matter of the plane—for this is the cosmic gaseous subplane—which, after a certain period of persistence, assumes the form of a nine-petalled lotus. This lotus is folded over in bud shape upon the central point, or heart of the lotus—that spark of electric fire which by its action or innate vitality working upon the substance of the lotus, attracts to itself sufficient of that substance to form three inner petals, which closely shield the central spark; these are nevertheless of the same substance or essence as the nine other petals. The student must be careful not to materialise his concept too much and it might therefore be wise for him to view

(b) Sự tiến hoá của các cánh hoa. Việc xây dựng thể nguyên nhân là kết quả của năng lượng nhị nguyên, tức năng lượng của phàm ngã với tác động phản chiếu của nó lên đơn vị cao hơn, và năng lượng tự nhiên của bản ngã khi nó tạo dấu ấn trực tiếp lên chất liệu của hoa sen chân ngã. Ở đây cần nhớ rằng, dù vật chất ấy có vi tế đến đâu, hoa sen chân ngã cũng thật sự là chất liệu của một rung động đặc thù như thể xác vậy, chỉ có điều (do tính tinh tế của nó) con người cõi hồng trần thực tế xem nó như phi vật chất. Thật ra, như đã chỉ ra trước đây, nó là kết quả của rung động nhị nguyên của các Dhyanis hay các Thượng đế ngũ phân kết hợp với Bộ Tứ tứ phân, hay các Pitris của các vận cụ thấp. Nhờ nỗ lực có ý thức của các Hành Tinh Thượng đế, các Dhyanis này và các Pitris thấp được đưa vào một mối liên hệ mật thiết. Điều này tạo ra (trên cõi phụ thứ ba của cõi trí) một rung động hay xoáy lốc cửu phân trong vật chất thể khí của cõi ấy—vì đây là cõi phụ thể khí vũ trụ—rồi sau một thời kỳ tồn tại nhất định, nó mang hình dạng của một hoa sen chín cánh. Hoa sen này khép lại thành hình nụ quanh điểm trung tâm, hay tim của hoa sen—tia lửa lửa điện ấy, do tác động của nó hay sinh lực bẩm sinh của nó hoạt động trên chất liệu của hoa sen, hút về mình đủ chất liệu ấy để tạo thành ba cánh hoa bên trong, che chở sít sao tia lửa trung tâm; tuy nhiên, những cánh này vẫn cùng một chất liệu hay tinh chất như chín cánh hoa kia. Đạo sinh phải cẩn thận đừng hiện hình khái niệm của mình quá mức, và vì thế có lẽ sẽ là khôn ngoan nếu y nhìn

[Page 818] this manifestation from other angles and employ other terms to express the same idea. For instance, the body of the Ego may be viewed in the following four ways:

[Page 818] biểu hiện này từ những góc độ khác và dùng những thuật ngữ khác để diễn đạt cùng một ý tưởng. Chẳng hạn, thể của chân ngã có thể được nhìn theo bốn cách sau:

As nine vibrations, emanating from a central point, which, in its pulsation or radiations produces three major vibrations of great force pursuing a circular activity around the centre; the nine vibrations pursue a diagonal path until they reach the periphery of the egoic sphere of influence. At this point they swing around, thus forming the well-known spheroidal form of the causal body.

Như chín rung động, phát ra từ một điểm trung tâm, điểm này trong sự đập nhịp hay phát xạ của nó tạo ra ba rung động chính có mãnh lực lớn vận hành theo hoạt động tròn quanh trung tâm; chín rung động đi theo một đường chéo cho đến khi chúng chạm tới chu vi của khối cầu ảnh hưởng chân ngã. Tại điểm này chúng xoay vòng, nhờ đó tạo thành hình cầu quen thuộc của thể nguyên nhân.

As nine petals of a lotus, radiating from a common centre, and hiding within themselves three central petals, which conceal a central point of fire. The radiations from the tip of each petal are those which cause the illusion of a spheroidal shape.

Như chín cánh hoa của một hoa sen, toả ra từ một trung tâm chung, và che giấu trong chính chúng ba cánh hoa trung tâm, những cánh này che kín một điểm lửa trung tâm. Các phát xạ từ đầu mỗi cánh hoa là những gì gây ra ảo tưởng về một hình cầu.

As nine spokes of a wheel, converging towards a central hub, which is in itself threefold, and which hides the central energy or dynamo of force—the generator of all the activity.

Như chín nan hoa của một bánh xe, hội tụ về một trục trung tâm, bản thân trục này là tam phân, và che giấu năng lượng trung tâm hay máy phát lực—nguồn phát sinh mọi hoạt động.

As nine types of energy which produce definite emanations from a threefold unit, again itself an outgoing from a central unit of force.

Như chín loại năng lượng tạo ra những phát xạ xác định từ một đơn vị tam phân, mà bản thân nó lại là một sự tuôn ra từ một đơn vị lực trung tâm.

For all purposes, the second definition will be the one of the most use to us in our attempt to picture the constitution, nature, method of development and true evolution of the Ego, functioning in the causal body.

Vì mọi mục đích, định nghĩa thứ hai sẽ là định nghĩa hữu ích nhất cho chúng ta trong nỗ lực hình dung cấu tạo, bản chất, phương pháp phát triển và sự tiến hoá chân thực của chân ngã đang hoạt động trong thể nguyên nhân.

In terms of fire, the same truths may be expressed as follows, and this should be carefully pondered upon by the student of this Treatise:

Theo thuật ngữ của lửa, các chân lý ấy có thể được diễn đạt như sau, và đạo sinh của Luận này nên suy ngẫm cẩn thận về điều đó:

1. Electric fire

Spirit

Will aspect

Jewel in the lotus.

2. Solar fire

Consciousness

Love aspect

The nine petals.

3. Fire by friction

Substance

Activity aspect

The three permanent atoms.

[Page 819] In electric fire, the Monad is represented in its threefold nature, and stands for that type of manifestation which will be brought to its highest stage of development in the next solar system.

[Page 819] Trong Lửa Điện, chân thần được biểu hiện trong bản chất tam phân của nó, và tượng trưng cho loại biểu hiện sẽ được đưa đến giai đoạn phát triển cao nhất trong hệ mặt trời kế tiếp.

In solar fire, these solar Pitris in their ninefold formation represent and make possible the unfolding of the consciousness of the Monad through the medium of the Ego in the three worlds of human evolution.

Trong Lửa Thái dương, các thái dương tổ phụ này trong cấu trúc cửu phân của các ngài biểu hiện và làm cho có thể sự khai mở tâm thức của chân thần thông qua trung gian của chân ngã trong ba cõi giới của tiến hoá nhân loại.

In fire by friction, the lunar Pitris are represented and constitute the lower self, the personality, or those vehicles by means of which the Ego in turn is to acquire experience on the lower planes.

Trong Lửa ma sát, các thái âm tổ phụ được biểu hiện và cấu thành phàm ngã, phàm nhân, hay những vận cụ nhờ đó chân ngã lần lượt thu nhận kinh nghiệm trên các cõi thấp.

Yet these three are one in manifestation within the egoic auric egg, and the interchange of energy and vitality proceeds steadily. Spirit uses the Soul, or the Ego, as a vehicle of enlightenment, and the Ego uses the lower Quaternary as its medium of expression. The evolution of Spirit can really therefore be divided into three stages:

Tuy nhiên, ba điều này là một trong biểu hiện bên trong noãn hào quang chân ngã, và sự trao đổi năng lượng cùng sinh lực diễn ra đều đặn. Tinh thần dùng linh hồn, hay chân ngã, như một vận cụ của sự giác ngộ, và chân ngã dùng Bộ Tứ thấp như phương tiện biểu lộ của nó. Vì vậy, sự tiến hoá của tinh thần thật ra có thể được chia thành ba giai đoạn:

First. The stage in which the lunar Pitris function primarily, and prepare the lower sheaths for occupancy. The lower vibrations control, and “fire by friction” is that which warms and nourishes to the practical exclusion of all else.

Thứ nhất. Giai đoạn trong đó các thái âm tổ phụ hoạt động chủ yếu, và chuẩn bị các vỏ bọc thấp cho sự cư ngụ. Các rung động thấp kiểm soát, và “Lửa ma sát” là điều sưởi ấm và nuôi dưỡng, thực tế loại trừ mọi thứ khác.

Second. The stage in which the solar Pitris gradually become predominant, in which the egoic consciousness is developed. The sheaths are occupied by the Thinker, are gradually controlled by him, are bent to his will and purpose, and are eventually discarded. The middle vibrations control and solar fire irradiates; it lights up in due course of evolution the lower sheaths; it gradually increases its heat, and eventually aids in the destruction of the forms.

Thứ hai. Giai đoạn trong đó các thái dương tổ phụ dần dần trở nên trội hơn, trong đó tâm thức chân ngã được phát triển. Các vỏ bọc được Thức Giả cư ngụ, dần dần được y kiểm soát, được uốn theo ý chí và mục đích của y, và cuối cùng bị loại bỏ. Các rung động trung gian kiểm soát và Lửa Thái dương chiếu rạng; đến đúng kỳ tiến hoá nó soi sáng các vỏ bọc thấp; dần dần nó tăng nhiệt, và cuối cùng trợ giúp vào sự huỷ diệt các hình tướng.

Third. The stage in which electric fire is revealed, and through the intensity of its blaze puts out the other fires. The lunar Pitris have fulfilled their work, the solar Pitris [Page 820] have developed the self-conscious unit, man, and the monad (having utilised both) discards both, and withdraws into itself, this time plus the gain of material existence, and plus developed love-wisdom.

Thứ ba. Giai đoạn trong đó Lửa Điện được mặc khải, và qua cường độ chói sáng của nó dập tắt các lửa khác. Các thái âm tổ phụ đã hoàn tất công việc của mình, các thái dương tổ phụ [Page 820] đã phát triển đơn vị ngã thức, con người, và chân thần (sau khi đã sử dụng cả hai) loại bỏ cả hai, và rút vào chính nó, lần này cộng thêm thành quả của sự tồn tại vật chất, và cộng thêm Bác Ái – Minh Triết đã phát triển.

In terms of the old Commentary, the truth is thus stated:

Theo Cổ Luận, chân lý được phát biểu như sau:

“The Lord of Life Himself sits at the heart and watches. The Lords of solar fire pursue their task and sacrifice themselves to the lunar Lords of all the lower planes. They die, but resurrect. They pass without, and come again. Yet the Lord of Life sits still.

“Chúa Tể của Sự sống đích thân ngự tại tim và quan sát. Các chúa tể của lửa thái dương theo đuổi nhiệm vụ của các ngài và hi sinh chính mình cho các chúa tể thái âm của mọi cõi thấp. Các ngài chết, nhưng phục sinh. Các ngài đi ra ngoài, rồi trở lại. Tuy nhiên Chúa Tể của Sự sống vẫn ngồi yên.

The lunar Lords begin to die; their power begins to wane with each successive cycle. The solar Lords shine forth in triumph and consign the fourfold ones to fire,—the fire which burns and dissipates the form.

Các chúa tể thái âm bắt đầu chết; quyền năng của họ bắt đầu suy giảm theo mỗi chu kỳ kế tiếp. Các chúa tể thái dương chiếu sáng trong chiến thắng và giao phó những kẻ tứ phân cho lửa,—ngọn lửa thiêu đốt và làm tiêu tan hình tướng.

Many times the work repeats itself; the cycles wax and wane, until the day triumphant when the solar Lord acclaims himself and knows himself the ruler.

Công việc lặp lại nhiều lần; các chu kỳ tăng rồi giảm, cho đến ngày chiến thắng khi chúa tể thái dương tự xưng mình và biết mình là kẻ cai quản.

The Lord of Life then turns Himself, and arises in His might. He consumes the solar Lords, and they perish as did the lunar Lords. He speaks a Word; the fire descends. The blaze bursts forth. Gone is the lower fire through the flame of solar burning, gone is the middle fire through the intensity of fire from Heaven.

Khi ấy Chúa Tể của Sự sống xoay mình, và đứng dậy trong uy lực của Ngài. Ngài thiêu huỷ các chúa tể thái dương, và họ tiêu vong như các chúa tể thái âm đã tiêu vong. Ngài phát ra một Linh từ; lửa giáng xuống. Ánh chói bùng lên. Lửa thấp biến mất bởi ngọn lửa thái dương rực cháy, lửa trung gian biến mất bởi cường độ của lửa từ Thiên giới.

Naught remaineth save a threefold flame of violet, indigo and yellow. THAT disappears. Then darkness reigns. Yet the Lord of Life persists, though invisible.”

Không gì còn lại ngoài một ngọn lửa tam phân màu tím, chàm và vàng. CÁI ĐÓ biến mất. Rồi bóng tối ngự trị. Tuy nhiên Chúa Tể của Sự sống vẫn tồn tại, dù vô hình.”

As we know, the egoic lotus consists of three circles,—each circle being composed of three petals, and all shielding the inner bud where hides the jewel. It is with the evolution of these petals that we are concerned, with their formation, their vitalisation, their nurturing, and eventual unfoldment. It will be useful for the student at this stage to remember that we are primarily dealing with the development of the second aspect in man, the love-wisdom aspect, and are only secondarily considering the third aspect, that of activity which finds its energising centres in the three permanent atoms.

Như chúng ta biết, hoa sen chân ngã gồm ba vòng,—mỗi vòng gồm ba cánh hoa, và tất cả đều che chở nụ bên trong nơi viên ngọc ẩn giấu. Điều chúng ta quan tâm là sự tiến hoá của các cánh hoa này, sự hình thành, sự tiếp sinh lực, sự nuôi dưỡng, và sự khai mở cuối cùng của chúng. Ở giai đoạn này, sẽ hữu ích cho đạo sinh nếu nhớ rằng chúng ta chủ yếu đang bàn đến sự phát triển của phương diện thứ hai trong con người, phương diện bác ái – minh triết, và chỉ thứ yếu mới xét đến phương diện thứ ba, tức phương diện hoạt động, phương diện tìm thấy các trung tâm tiếp năng lượng của nó trong ba nguyên tử trường tồn.

[Page 821] These three circles of petals are called in the esoteric terminology:

[Page 821] Ba vòng cánh hoa này được gọi trong thuật ngữ huyền bí học là:

1. The “outer knowledge” triad, or the lords of active wisdom.

1. Tam nguyên “tri thức” bên ngoài, hay các chúa tể của minh triết hoạt động.

2. The middle “love” triad, or the lords of active love.

2. Tam nguyên “bác ái” ở giữa, hay các chúa tể của bác ái hoạt động.

3. The inner “sacrificial” triad, or the lords of active will.

3. Tam nguyên “hi sinh” bên trong, hay các chúa tể của ý chí hoạt động.

The first is the summation of experience and developed consciousness; the second is the application of that knowledge in love and service, or the expression of the Self and the Not-Self in reciprocal vibration; and the third is the full expression of knowledge and love turned toward the conscious sacrifice of all to the furthering of the plans of the planetary Logos, and to the carrying out of His purposes in group work. Each of these three groups of petals come under the definite guidance of three groups of Agnishvattas, who form them out of their own substance and who in essence are the threefold Ego during its manifestation. Through them flows the force and coherent energy of those mysterious Entities whom (when considering the human family as a whole) we call—

Vòng thứ nhất là tổng hợp của kinh nghiệm và tâm thức đã phát triển; vòng thứ hai là sự áp dụng tri thức ấy trong bác ái và phụng sự, hay sự biểu lộ của Bản Ngã và Phi-Ngã trong rung động tương hỗ; và vòng thứ ba là sự biểu lộ trọn vẹn của tri thức và bác ái hướng về sự hi sinh có ý thức của mọi sự để thúc đẩy các kế hoạch của Hành Tinh Thượng đế, và để thực hiện các mục đích của Ngài trong công việc nhóm. Mỗi một trong ba nhóm cánh hoa này đều nằm dưới sự hướng dẫn xác định của ba nhóm Agnishvattas, những vị tạo thành chúng từ chính chất liệu của mình và về bản chất là chân ngã tam phân trong thời kỳ biểu hiện của nó. Qua họ tuôn chảy mãnh lực và năng lượng kết hợp của những Thực Thể huyền nhiệm mà (khi xét toàn thể gia đình nhân loại) chúng ta gọi là—

a. The Buddhas or Lords of Activity.

a. Các Đức Phật hay các Chúa Tể của Hoạt Động.

b. The Buddhas or Lords of Compassionate Love.

b. Các Đức Phật hay các Chúa Tể của Bác Ái Từ Bi.

c. Buddhas of Sacrifice, of Whom the Lord of the World is, to man, the best known exponent.

c. Các Đức Phật của Hi Sinh, trong số các Ngài, Đức Chúa Tể Thế Giới là vị biểu hiện được con người biết rõ nhất.

Through these three groups flows that threefold energy which, on the mental plane, finds its medium of expression in connection with the human kingdom, in the three groups of Agnishvattas or solar Pitris above referred to. These groups form the substance of the three circles of petals, and each group has also a special influence upon the particular petal belonging to their especial scale of vibrations. For the sake of clarity, we might tabulate the various petals so that the student may [Page 822] get a clearer comprehension of the conformation of his own causal vehicle, and some idea of the various triangular relationships:

Qua ba nhóm này tuôn chảy năng lượng tam phân ấy, năng lượng trên cõi trí tìm thấy phương tiện biểu lộ của nó liên hệ với giới nhân loại trong ba nhóm Agnishvattas hay thái dương tổ phụ đã nói ở trên. Các nhóm này tạo thành chất liệu của ba vòng cánh hoa, và mỗi nhóm cũng có một ảnh hưởng đặc biệt lên cánh hoa riêng biệt thuộc thang rung động đặc thù của họ. Để cho rõ ràng, chúng ta có thể lập bảng các cánh hoa khác nhau để đạo sinh có thể [Page 822] có được sự hiểu biết rõ ràng hơn về cấu trúc của vận cụ nguyên nhân của chính mình, và một vài ý niệm về các mối liên hệ tam giác khác nhau:

I. The outer “knowledge” triad:

I. Tam nguyên “tri thức” bên ngoài:

a.

Petal 1

Knowledge on the physical plane.

Colours: Orange, green and violet.

b.

Petal 2

Love on the physical plane.

Colours: Orange, rose and blue.

c.

Petal 3

Sacrifice on the physical plane.

Colours: Orange, yellow and indigo.

These three petals are organised and vitalised in the Hall of Ignorance, but remain unopened and only begin to unfold as the second circle is organised.

Ba cánh hoa này được tổ chức và tiếp sinh lực trong Phòng Vô Minh, nhưng vẫn chưa mở và chỉ bắt đầu khai mở khi vòng thứ hai được tổ chức.

II. The middle “love” triad:

II. Tam nguyên “bác ái” ở giữa:

a.

Petal 1

Higher Knowledge applied through love on the physical and astral planes.

Colours: Rose, and the original three.

b.

Petal 2

Higher intelligent love on the physical and astral planes.

Colours: Rose and the corresponding three.

c.

Petal 3

Loving intelligent sacrifice on the physical and astral planes.

Colours: Rose and the same three.

These three petals preserve the fundamental orange but add the colour rose in every petal, so that four colours are now seen. These petals are organised and vitalised in the Hall of Learning, but remain unopened. The outer tier of petals simultaneously unfolds till it is open entirely, revealing the second circle; the third remains shielded. [Page 823]

Ba cánh hoa này giữ màu cam căn bản nhưng thêm màu hồng vào mỗi cánh hoa, vì thế nay thấy được bốn màu. Các cánh hoa này được tổ chức và tiếp sinh lực trong Phòng Hiểu Biết, nhưng vẫn chưa mở. Đồng thời, tầng cánh hoa bên ngoài khai mở cho đến khi hoàn toàn mở ra, để lộ vòng thứ hai; vòng thứ ba vẫn còn được che chở. [Page 823]

[Page 824] III. The inner “sacrificial” triad:

[Page 824] III. Tam nguyên “hi sinh” bên trong:

a.

Petal 1

The Will to sacrifice through knowledge on the mental plane, and thus intelligently to dominate the entire threefold lower man.

Colours: Yellow and the four colours, orange, green, violet and rose.

b.

Petal 2

The will to sacrifice through love on the mental plane, and thus to serve.

Colours: Yellow and the four colours, orange, violet, rose and blue.

c.

Petal 3

The utter sacrifice of all forever.

Colours: Yellow, orange, rose, blue and indigo.

In the mystery of these subsidiary colours and of the gradual shining forth within the lotus of five colours in any one petal at one time, is veiled the mystery of the five Kumaras. (S.D., I, 483.) The student who seeks the significance of the preponderance of orange and of rose is approaching the secret of the two Kumaras Who fell. More it is not possible to say, but the colours hold the esoteric key to this great occurrence. This inner circle of petals is organised and vitalised in the Hall of Wisdom, and simultaneously the middle circle unfolds, so that two rows of petals are duly opened, and only the third remains to be unclosed. This final opening is effected during the period of treading the stages of the Path of Initiation, and in this round it is hastened by the rites of initiation and by the strenuous and abnormal efforts of the man himself, aided by the electrical work of the Initiator, wielding the Rod of Power.

Trong huyền nhiệm của các màu phụ này và của sự dần dần chiếu sáng bên trong hoa sen của năm màu trong bất kỳ một cánh hoa nào tại một thời điểm, có che giấu huyền nhiệm của năm Kumaras. (S.D., I, 483.) Đạo sinh nào tìm kiếm thâm nghĩa của sự trội hơn của màu cam và màu hồng đang tiến gần đến bí mật của hai Kumaras đã sa ngã. Không thể nói thêm được nữa, nhưng các màu sắc nắm giữ chiếc chìa khóa huyền bí cho biến cố lớn lao này. Vòng cánh hoa bên trong này được tổ chức và tiếp sinh lực trong Phòng Minh triết, và đồng thời vòng giữa khai mở, để hai hàng cánh hoa được mở đúng mức, và chỉ còn vòng thứ ba là chưa mở. Sự mở cuối cùng này được thực hiện trong thời kỳ bước đi qua các giai đoạn của Con Đường Điểm Đạo, và trong cuộc tuần hoàn này nó được thúc đẩy nhanh bởi các nghi lễ điểm đạo và bởi những nỗ lực mãnh liệt và bất thường của chính con người, được trợ giúp bởi công việc điện lực của Đấng Điểm đạo, Đấng cầm Thần Trượng Điểm đạo.

Though we have thus divided off the different stages of development, we have but dealt with the general average, gathering our facts from the records to which we have access and which are grouped in relation to this subject into the three groups, related to:

Dù chúng ta đã phân chia các giai đoạn phát triển khác nhau như thế, chúng ta mới chỉ bàn đến mức trung bình tổng quát, thu thập các dữ kiện từ những hồ sơ mà chúng ta có thể tiếp cận và được nhóm lại liên hệ với đề tài này thành ba nhóm, liên hệ đến:

a. The Monads of power.

a. Các chân thần quyền năng.

b. The Monads of love.

b. Các chân thần bác ái.

c. The Monads of activity.

c. Các chân thần hoạt động.

The student must remember that according to these groupings, so will be the tendency of the petals to unfold. For instance, in the case of the majority of men, being [Page 825] Monads of Love, the love petals are more easily awakened, for love is the nature of the present manifestation and the line of love in some direction (low, high, or spiritual) is the line of least resistance for the many. Yet the Monads of activity are numerous and influential and the first petal in each ring is for them the easiest to unfold. For both groups the “knowledge” petal is the first opened, owing to the inherent nature of the Manasadevas themselves, and their basic vibration. For all, sacrifice is the hardest, for it involves ever the two factors of intelligence and love,—intelligent knowledge and a love that goes out to that which must be saved through sacrifice.

Đạo sinh phải nhớ rằng theo các cách phân nhóm này, xu hướng khai mở của các cánh hoa cũng sẽ như vậy. Chẳng hạn, trong trường hợp đa số người, vì là [Page 825] các chân thần Bác Ái, các cánh hoa bác ái dễ được đánh thức hơn, vì bác ái là bản chất của biểu hiện hiện tại và đường lối bác ái theo một hướng nào đó (thấp, cao, hay tinh thần) là con đường ít trở ngại nhất đối với số đông. Tuy nhiên, các chân thần hoạt động cũng rất đông và có ảnh hưởng, và đối với họ cánh hoa thứ nhất trong mỗi vòng là cánh dễ khai mở nhất. Đối với cả hai nhóm, cánh hoa tri thức là cánh đầu tiên được mở, do bản chất cố hữu của chính các Manasadevas, và rung động căn bản của họ. Đối với tất cả, hi sinh là điều khó nhất, vì nó luôn bao hàm hai yếu tố trí tuệ và bác ái,—tri thức thông minh và một tình thương hướng ra ngoài đến điều phải được cứu vớt qua hi sinh.

In these three circles of petals lies concealed another clue to the mystery of the 777 incarnations. The figures do not convey an exact number of years, but are figurative and symbolical; they are intended to convey the thought of three cycles of varying duration, based upon the septenary nature of the manifesting monad.

Trong ba vòng cánh hoa này còn ẩn giấu một đầu mối khác cho huyền nhiệm của 777 lần lâm phàm. Các con số không truyền đạt một số năm chính xác, mà có tính hình tượng và biểu tượng; chúng nhằm truyền đạt ý tưởng về ba chu kỳ có thời lượng khác nhau, dựa trên bản chất thất phân của chân thần đang biểu hiện.

First. The 700 incarnations. These concern the unfoldment of the outer circle. This is the longest period. The initial vibration is slow and heavy, and millenia of lives have to elapse before the interchange of energy between the Ego and its reflection, the personal self (the lower threefold man) is such that the consciousness of the man occultly “awakens” in the Hall of Learning. For advanced man at this time these incarnations took place upon the moon chain and in some cases upon certain planets connected with the inner round. This is the circumstance which necessitated his “coming-in” during the Atlantean root-race. Men of this type refused to incarnate earlier, as the bodies were too coarse; this was the cyclic reflection (on the lowest plane) of the refusal of the Monads to incarnate at the dawn of manvantaric opportunity. No real “sin” was committed; it was their privilege to discriminate, and this refusal has its [Page 826] bearing upon conditions upon Earth, being the basis of the great class distinctions which—in every land—have been so fruitful of trouble and the esoteric foundation of the “caste” system, so abused now in India. The problem of labor and capital has its roots in the subjective distinction between “equipped and unequipped” Egos, between those units of the human family on earth who have passed out of the Hall of Ignorance, and those who are yet groping in its dark and gloomy corridors; between those Egos who are only “bud” Egos, and those who have organised the outer circle of petals, and whose petals are ready to open up.

Thứ nhất. 700 lần lâm phàm. Những lần này liên quan đến sự khai mở của vòng ngoài. Đây là thời kỳ dài nhất. Rung động ban đầu chậm và nặng, và phải trải qua hàng thiên niên kỷ của các kiếp sống trước khi sự trao đổi năng lượng giữa chân ngã và phản chiếu của nó, bản ngã cá nhân (con người tam phân thấp), đạt đến mức mà tâm thức của con người một cách huyền bí “thức tỉnh” trong Phòng Hiểu Biết. Đối với con người tiến bộ vào thời đó, các lần lâm phàm này đã diễn ra trên Dãy Mặt Trăng và trong một số trường hợp trên vài hành tinh liên hệ với cuộc tuần hoàn bên trong. Chính hoàn cảnh này đã khiến y phải “đi vào” trong giống dân gốc Atlantis. Những người thuộc loại này đã từ chối lâm phàm sớm hơn, vì các thể quá thô trược; đây là sự phản chiếu theo chu kỳ (trên cõi thấp nhất) của sự từ chối của các chân thần không chịu lâm phàm vào buổi đầu của cơ hội giai kỳ sinh hóa. Không có “tội lỗi” thực sự nào được phạm; đó là đặc quyền của họ để phân biện, và sự từ chối này có [Page 826] liên hệ đến các điều kiện trên Trái Đất, là cơ sở của những phân biệt giai cấp lớn lao mà—ở mọi xứ sở—đã sinh ra biết bao rắc rối và là nền tảng huyền bí của hệ thống “đẳng cấp”, hiện bị lạm dụng quá mức ở Ấn Độ. Vấn đề lao động và tư bản có gốc rễ trong sự phân biệt chủ quan giữa các chân ngã “được trang bị” và “chưa được trang bị”, giữa những đơn vị của gia đình nhân loại trên Trái Đất đã vượt ra khỏi Phòng Vô Minh, và những đơn vị còn đang mò mẫm trong các hành lang tối tăm ảm đạm của nó; giữa những chân ngã chỉ mới là chân ngã “nụ”, và những chân ngã đã tổ chức vòng cánh hoa bên ngoài, và các cánh hoa của họ đã sẵn sàng mở ra.

The idea of a septenate of centuries must be carefully pondered upon, and as ever in all occult matters, the idea of triplicity must be also borne in mind with a synthesising period, which is a summation of the triple coordination:

Ý tưởng về một bộ bảy thế kỷ phải được suy ngẫm cẩn thận, và như thường lệ trong mọi vấn đề huyền bí học, ý tưởng về bộ ba cũng phải được ghi nhớ cùng với một thời kỳ tổng hợp, là sự tổng kết của sự phối hợp tam phân:

Each cycle (again figurative cycles) leaves one of the petals more vitalised, and has a definite effect on each.

Mỗi chu kỳ (lại là các chu kỳ hình tượng) để lại một trong các cánh hoa được tiếp sinh lực nhiều hơn, và có một tác động xác định lên mỗi cánh.

Second. The 70 incarnations. These concern the unfoldment of the middle circle. Much may be learned from a consideration of the occult significance involved in the sending out of their followers by any initiate (such as the Christ) in groups of seventy, going two and two. These seventy incarnations primarily effect the development of love in the personal life, the evolution of the astral nature, based on the recognition of the pairs of opposites, and their equilibrising in love and service.

Thứ hai. 70 lần lâm phàm. Những lần này liên quan đến sự khai mở của vòng giữa. Có thể học được nhiều điều từ việc xem xét thâm nghĩa huyền bí hàm chứa trong việc bất kỳ điểm đạo đồ nào (như Đức Christ) sai các môn đồ của mình đi theo từng nhóm bảy mươi người, đi từng đôi một. Bảy mươi lần lâm phàm này chủ yếu tạo ra sự phát triển của bác ái trong đời sống cá nhân, sự tiến hoá của bản chất cảm dục, dựa trên sự nhận biết các cặp đối đãi, và sự quân bình chúng trong bác ái và phụng sự.

This cycle covers the period passed by the man in the [Page 827] Hall of Learning and has its correspondence in the Atlantean root-race and its conflict between the Lords of the Dark Face and the Brotherhood of Light. Within the life of each individual, a similar conflict wages during this period, ending with the final kurukshetra or battle-ground which earns for the man the right to tread the Probationary Path, and eventually the privilege to stand before the Portal of Initiation. Again the numerical significance of the numbers must be studied; this time they are hid in the number ten, or three cycles of three lesser periods, each making nine, and one synthesising period, leading up to the consummation of one period within the greater cycle; this is signified by the ten of relative perfection. (S. D., I, 214; II, 393, 445, 446.) (263) The interplay between kamic impulse and manasic energy has produced a realisation within the consciousness of the Ego of that [Page 828] which he has learned within the two Halls; the outer circle of petals is unfolded, and the central ring is ready to open.

Chu kỳ này bao trùm thời kỳ con người trải qua trong [Page 827] Phòng Hiểu Biết và có sự tương ứng của nó trong giống dân gốc Atlantis cùng cuộc xung đột giữa các Chúa Tể của Khuôn Mặt Tối và Huynh đệ Đoàn Ánh Sáng. Trong đời sống của mỗi cá nhân, một cuộc xung đột tương tự cũng diễn ra trong thời kỳ này, kết thúc bằng kurukshetra cuối cùng hay chiến trường cuối cùng, nhờ đó con người giành được quyền bước lên Con Đường Dự Bị, và cuối cùng là đặc ân được đứng trước Cổng Điểm Đạo. Một lần nữa, thâm nghĩa số học của các con số phải được nghiên cứu; lần này chúng được ẩn trong số mười, hay ba chu kỳ gồm ba thời kỳ nhỏ hơn, mỗi chu kỳ thành chín, và một thời kỳ tổng hợp, dẫn đến sự hoàn tất của một thời kỳ trong chu kỳ lớn hơn; điều này được biểu thị bằng số mười của sự toàn hảo tương đối. (S. D., I, 214; II, 393, 445, 446.) (263) Sự tương tác giữa xung lực kama và năng lượng manas đã tạo ra một sự chứng nghiệm trong tâm thức của chân ngã về điều mà y đã học được trong hai Phòng; [Page 828] vòng cánh hoa bên ngoài đã khai mở, và vòng trung tâm sẵn sàng mở ra.

(263) The Number 10.—See S. D., I, 125, 126.

(263) Số 10.—Xem S. D., I, 125, 126.

1. The three, enclosed within the circle are the sacred Four.

1. Bộ ba, được bao trong vòng tròn, là Bộ Bốn thiêng liêng.

a. Adi-Sanat, the Number, Unity. The Logos, or the One in physical incarnation. God and man function as unities on their respective physical planes.

a. Adi-Sanat, Con Số, Hợp Nhất. Thượng đế, hay Đấng Duy Nhất trong lâm phàm hồng trần. Thượng đế và con người hoạt động như những hợp nhất trên các cõi hồng trần tương ứng của các Ngài.

b. The Voice of the Word, the Numbers, for He is one and nine. The second aspect. The embodied Idea. Consciousness.

b. Tiếng Nói của Linh từ, các Con Số, vì Ngài là một và chín. Phương diện thứ hai. Ý Tưởng nhập thể. Tâm thức.

c. The formless Square, the matter aspect, substance and form. Limitation.

c. Hình Vuông vô tướng, phương diện vật chất, chất liệu và hình tướng. Sự giới hạn.

Trace these out in connection with:—

Hãy truy nguyên những điều này liên hệ với:—

a. A solar Logos informing a solar system.

a. Một Thái dương Thượng đế thấm nhuần một hệ mặt trời.

b. A planetary Logos, informing a planetary scheme.

b. Một Hành Tinh Thượng đế, thấm nhuần một hệ hành tinh.

c. Man, informing his bodies of manifestation.

c. Con người, thấm nhuần các thể biểu hiện của mình.

2. The ten are the arupa universe.

2. Mười là vũ trụ arupa.

The emphasis here is laid upon the subjective Lives, or the Intelligent Consciousness within the forms.

Ở đây sự nhấn mạnh được đặt trên các Sự Sống chủ quan, hay Tâm thức Thông minh bên trong các hình tướng.

These ten might be called:—

Mười điều này có thể được gọi là:—

I. The first Logos.... Shiva.... Father.... Will.

I. Thượng đế thứ nhất.... Shiva.... Cha.... Ý chí.

II. The second Logos.... Vishnu.... Son.... Love-wisdom.

II. Thượng đế thứ hai.... Vishnu.... Con.... Bác Ái – Minh Triết.

III. The third Logos.... Brahma.... Holy Ghost.... Intelligence overshadowing Matter, Mother.

III. Thượng đế thứ ba.... Brahma.... Chúa Thánh Thần.... Trí tuệ phủ bóng lên Vật chất, Mẹ.

1. The Lord of Cosmic Will................ First Ray.

1. Chúa Tể của Ý Chí Vũ Trụ................ Cung một.

2. The Lord of Cosmic Love................Second Ray.

2. Chúa Tể của Bác Ái Vũ Trụ................Cung hai.

3. The Lord of Cosmic Intelligence.......... Third Ray.

3. Chúa Tể của Trí Tuệ Vũ Trụ.......... Cung ba.

4. The Lord of Cosmic Harmony............ Fourth Ray.

4. Chúa Tể của Hài Hoà Vũ Trụ............ Cung bốn.

5. The Lord of Cosmic Knowledge...........Fifth Ray.

5. Chúa Tể của Tri Thức Vũ Trụ...........Cung năm.

6. The Lord of Cosmic Devotion.............Sixth Ray.

6. Chúa Tể của Sùng Tín Vũ Trụ.............Cung sáu.

7. The Lord of Cosmic Ceremonial...........Seventh Ray.

7. Chúa Tể của Nghi Lễ Vũ Trụ...........Cung bảy.

They are the subjective consciousness, the cause of manifestation. (back)

Các Ngài là tâm thức chủ quan, nguyên nhân của biểu hiện. (back)

Third. The 7 incarnations. These are those passed upon the Probationary Path. This is an interesting period in which certain things are effected which might be described in the following terms:

Thứ ba. 7 lần lâm phàm. Đây là những lần trải qua trên Con Đường Dự Bị. Đây là một thời kỳ lý thú trong đó một số điều được thực hiện, có thể được mô tả bằng các thuật ngữ sau:

The two outer rings of petals are stimulated in a new and special sense through the conscious act of the probationary disciple. Much of the work hitherto has been pursued under the ordinary laws of evolution and has been unconscious. Now all that changes as the mental body becomes active, and two of the will petals are co-ordinated, and one “awakes” vitality and unfolds.

Hai vòng cánh hoa bên ngoài được kích thích theo một ý nghĩa mới và đặc biệt nhờ hành động có ý thức của đệ tử dự bị. Phần lớn công việc cho đến nay đã được tiến hành dưới các định luật tiến hoá thông thường và trong vô thức. Giờ đây mọi sự thay đổi khi thể trí trở nên hoạt động, và hai cánh hoa ý chí được phối hợp, còn một cánh thì “thức tỉnh” sinh lực và khai mở.

The fire or energy from these two rings begins to circulate along the atomic triangle and when this is the case it marks a very momentous epoch; a dual work has been consummated in the personal lower life and in the egoic:

Lửa hay năng lượng từ hai vòng này bắt đầu lưu chuyển dọc theo tam giác nguyên tử và khi điều này xảy ra, nó đánh dấu một thời kỳ cực kỳ trọng đại; một công việc nhị nguyên đã được hoàn tất trong đời sống cá nhân thấp và trong đời sống chân ngã:

a. The permanent atoms have the four lower spirillae fully active (two groups of two each) and the fifth is in process of arousement into equal activity. The triangle is in circulatory action but has not yet achieved its full brightness nor its rotary or fourth dimensional revolution.

a. Các nguyên tử trường tồn có bốn loa tuyến thấp hoạt động hoàn toàn (mỗi nhóm hai loa tuyến) và loa tuyến thứ năm đang trong tiến trình được khơi dậy đến mức hoạt động tương đương. Tam giác đang ở trong hoạt động tuần hoàn nhưng chưa đạt đến độ sáng trọn vẹn cũng như sự quay tròn hay cuộc cách mạng chiều thứ tư của nó.

b. The two circles of petals are “awake,” one being wide open and the other on the verge of opening.

b. Hai vòng cánh hoa đều “thức tỉnh”, một vòng mở rộng hoàn toàn và vòng kia ở sát ngưỡng mở ra.

Thus in the life of the probationer two aspects of the divine life are making themselves apparent, and though as yet much remains to be done, nevertheless when the inner circle of petals is awakened—through the instrumentality of the curious and abnormal process of initiation—the remaining aspect will be brought into similar prominence, and produce the perfected man in the three [Page 829] worlds. Thus is the work of the Solar Pitris consummated.

Như thế trong đời sống của người dự bị, hai phương diện của sự sống thiêng liêng đang tự biểu lộ, và dù vẫn còn nhiều việc phải làm, tuy nhiên khi vòng cánh hoa bên trong được đánh thức—nhờ công cụ của tiến trình kỳ lạ và bất thường là điểm đạo—phương diện còn lại sẽ được đưa đến chỗ nổi bật tương tự, và tạo ra con người toàn hảo trong ba [Page 829] cõi thấp. Như vậy công việc của các thái dương tổ phụ được hoàn tất.

The fact of the abnormality of the process of initiation must here be emphasised.

Ở đây cần nhấn mạnh sự kiện về tính bất thường của tiến trình điểm đạo.

Initiation is in the nature of a great experiment which our planetary Logos is making during this round. In earlier and perhaps in later rounds the whole process will follow natural law. In this round and on this chain, our planetary Logos on His high level is what is esoterically called “sitting for yoga,” and is definitely undergoing certain processes of training in order to stimulate His centres. This fact is being taken advantage of by the Hierarchy on Earth to produce certain results in the races under Their guidance. The whole process is optional, and a man may—if he so choose—follow the normal process, and take aeons of time to effect what some are choosing to do in a briefer period, through a self-chosen forcing process.

Điểm đạo có bản chất của một cuộc thí nghiệm lớn mà Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đang thực hiện trong cuộc tuần hoàn này. Trong các cuộc tuần hoàn trước và có lẽ trong các cuộc tuần hoàn sau, toàn bộ tiến trình sẽ tuân theo định luật tự nhiên. Trong cuộc tuần hoàn này và trên dãy này, Hành Tinh Thượng đế của chúng ta trên cõi cao của Ngài đang ở trong điều được gọi một cách huyền bí là “ngồi để yoga”, và đang nhất định trải qua một số tiến trình huấn luyện nhằm kích thích các trung tâm của Ngài. Sự kiện này đang được Thánh Đoàn trên Trái Đất tận dụng để tạo ra một số kết quả trong các nhân loại dưới sự hướng dẫn của Các Ngài. Toàn bộ tiến trình là tùy chọn, và con người có thể—nếu y chọn như vậy—đi theo tiến trình bình thường, và mất những đại kiếp thời gian để thực hiện điều mà một số người đang chọn làm trong một thời kỳ ngắn hơn, qua một tiến trình cưỡng bức do chính mình lựa chọn.

At the termination of the 777 incarnations, a man passes through the door of initiation and enters upon a brief synthesising process, or a final period in which he garners the fruits of the experience in the two first halls, and transmutes knowledge into wisdom, transforms the shadow of things seen into the energy of that which is, and achieves the final liberation from all the lower forms which seek to hold him prisoner. This period of initiation itself is divided into seven stages, but only five of these concern the evolution of the Ego, just as the five Kumaras concern primarily the evolution of Humanity in the system and on this planet. Thus again we have the four exoteric Kumaras, of Whom two fell, and the three esoteric, of whom One gathers the life forces of the four exoteric, making with Them the five above mentioned. The student must study this question from the point of view of energy or life force, considering it from the aspect of polarity and of the mystic marriage, from [Page 830] the comprehension of the real meaning of the sex relation, of the meeting and merging of the pairs of opposites, and the work of the one who synthesises where every type of energy is concerned. For instance:

Khi kết thúc 777 lần lâm phàm, con người đi qua cánh cửa điểm đạo và bước vào một tiến trình tổng hợp ngắn ngủi, hay một thời kỳ cuối cùng trong đó y thu hoạch các thành quả của kinh nghiệm trong hai Phòng đầu tiên, và chuyển hoá tri thức thành minh triết, chuyển đổi cái bóng của những điều được thấy thành năng lượng của cái đang hiện hữu, và đạt được sự giải thoát cuối cùng khỏi mọi hình tướng thấp đang tìm cách giam giữ y làm tù nhân. Chính thời kỳ điểm đạo này được chia thành bảy giai đoạn, nhưng chỉ có năm giai đoạn trong số đó liên quan đến sự tiến hoá của chân ngã, cũng như năm Kumaras chủ yếu liên quan đến sự tiến hoá của Nhân Loại trong hệ thống và trên hành tinh này. Như vậy một lần nữa chúng ta có bốn Kumaras ngoại môn, trong số các Ngài có hai vị sa ngã, và ba vị nội môn, trong số các Ngài có Một vị thu gom các lực sự sống của bốn vị ngoại môn, hợp cùng Các Ngài thành năm vị đã nói ở trên. Đạo sinh phải nghiên cứu vấn đề này từ quan điểm năng lượng hay lực sự sống, xét nó từ phương diện cực tính và hôn phối thần bí, từ [Page 830] sự thấu hiểu ý nghĩa thực sự của quan hệ giới tính, của sự gặp gỡ và dung hợp của các cặp đối đãi, và công việc của đấng tổng hợp ở bất cứ nơi nào có liên quan đến mọi loại năng lượng. Chẳng hạn:

a. The Ego synthesises or gathers in the life forces of the fourfold lower man.

a. Chân ngã tổng hợp hay thu gom các lực sự sống của con người thấp tứ phân.

b. The Mahachohan’s Ray on Earth synthesises the life forces of the lower four. This Ray is the third subray of our planetary Ray.

b. Cung của Đức Mahachohan trên Trái Đất tổng hợp các lực sự sống của bốn thấp. Cung này là cung phụ thứ ba của cung hành tinh của chúng ta.

c. The third major Ray of the solar system blends the minor four.

c. Cung chính thứ ba của hệ mặt trời dung hợp bốn cung nhỏ.

d. The fifth Kumara blends and unites in Himself the work of the lower four.

d. Kumara thứ năm dung hợp và hợp nhất trong chính Ngài công việc của bốn vị thấp.

The reflection of all this in the Microcosm can be studied by the man who understands how the physical body is the vehicle of all the principles.

Sự phản chiếu của tất cả điều này trong Tiểu thiên địa có thể được nghiên cứu bởi người hiểu được cách thể xác là vận cụ của mọi nguyên khí.

By the time the third Initiation is taken, the inner circle of petals is opened and the full-blown lotus in all its beauty can be seen. At the fourth Initiation the inner bud bursts open through the effect of the electrical force of the Rod, which brings in the power of the synthetic ray of the solar system itself; the inner jewel is thus revealed. The work has been accomplished; the energy resident in the permanent atoms, has vitalised all the spirillae whilst the perfected force of the lotus, and the dynamic will of the central spark are brought into full and united activity. This brings about a threefold display of vital force which causes the disintegration of the form and the following results:

Vào lúc lần điểm đạo thứ ba được tiếp nhận, vòng cánh hoa bên trong được mở ra và hoa sen nở trọn trong toàn bộ vẻ đẹp của nó có thể được nhìn thấy. Ở lần điểm đạo thứ tư, nụ bên trong bung mở dưới tác động của lực điện của Thần Trượng, lực này mang vào quyền năng của cung tổng hợp của chính hệ mặt trời; vì thế viên ngọc bên trong được lộ ra. Công việc đã được hoàn tất; năng lượng cư ngụ trong các nguyên tử trường tồn đã tiếp sinh lực cho mọi loa tuyến trong khi mãnh lực hoàn hảo của hoa sen, và ý chí năng động của tia lửa trung tâm được đưa vào hoạt động đầy đủ và hợp nhất. Điều này tạo ra một sự biểu lộ tam phân của lực sinh động gây nên sự tan rã của hình tướng và các kết quả sau đây:

a. The permanent atoms become radioactive, and their ring-pass-not is therefore no longer a barrier to the lesser units within; the electronic lives in their various groups escape, and return to the eternal reservoir. They form substance of a very high [Page 831] order, and will produce the forms of those existences who, in another cycle, will seek vehicles.

a. Các nguyên tử trường tồn trở nên phóng xạ, và vì thế vòng-giới-hạn của chúng không còn là một rào cản đối với các đơn vị nhỏ hơn bên trong; các sự sống điện tử trong những nhóm khác nhau của chúng thoát ra, và trở về hồ chứa vĩnh cửu. Chúng tạo thành chất liệu của một trật tự rất cao [Page 831], và sẽ tạo ra các hình tướng của những sự tồn tại mà trong một chu kỳ khác sẽ tìm kiếm các vận cụ.

b. The petals are destroyed by the action of fire, and the multiplicity of deva lives which form them and give to them their coherence and quality are gathered back by the solar Pitris of the highest order into the Heart of the Sun; they will be directed outward again in another solar system.

b. Các cánh hoa bị huỷ diệt bởi tác động của lửa, và vô số sự sống thiên thần tạo thành chúng và ban cho chúng sự kết hợp cùng phẩm tính được các thái dương tổ phụ thuộc cấp cao nhất thu hồi vào Tim Mặt Trời; chúng sẽ lại được hướng ra ngoài trong một hệ mặt trời khác.

The atomic substance will be used for another manvantara, but the solar Pitris will not again be called upon to sacrifice themselves until the next solar system when they will come in as planetary Rays, thus repeating upon monadic levels in the next system what they have done in this. They will then be the planetary Logoi.

Chất liệu nguyên tử sẽ được dùng cho một giai kỳ sinh hóa khác, nhưng các thái dương tổ phụ sẽ không lại được kêu gọi hi sinh chính mình cho đến hệ mặt trời kế tiếp khi các ngài sẽ đi vào như các cung hành tinh, nhờ đó lặp lại trên các cấp chân thần trong hệ thống kế tiếp điều mà các ngài đã làm trong hệ thống này. Khi ấy các ngài sẽ là các Hành Tinh Thượng đế.

c. The central Life electric returns to its source, escaping out of prison and functioning as a centre of energy on planes of cosmic etheric energy.

c. Sự sống điện trung tâm trở về nguồn của nó, thoát khỏi ngục tù và hoạt động như một trung tâm năng lượng trên các cõi năng lượng dĩ thái vũ trụ.

We have endeavoured above to convey a general idea of the evolutionary process in connection with the Ego, and its progression under karmic and cyclic law. If the student ponders upon these two laws it will become apparent to him that both might be summed up under the generic term of the Law of Rhythm. All manifestation is the result of active energy producing certain results, and expenditure of energy in any one direction will necessitate an equal expenditure in an opposite. This in terms of the Ego and its life experience brings about three stages:

Ở trên, chúng ta đã cố gắng truyền đạt một ý niệm tổng quát về tiến trình tiến hoá liên hệ với chân ngã, và sự tiến triển của nó dưới định luật nghiệp quả và chu kỳ. Nếu đạo sinh suy ngẫm về hai định luật này, y sẽ thấy rõ rằng cả hai có thể được tóm lại dưới thuật ngữ tổng quát là Định luật Nhịp điệu. Mọi biểu hiện đều là kết quả của năng lượng hoạt động tạo ra những kết quả nhất định, và sự tiêu hao năng lượng theo bất kỳ hướng nào cũng sẽ đòi hỏi một sự tiêu hao tương đương theo hướng đối nghịch. Điều này, xét theo chân ngã và kinh nghiệm sống của nó, tạo ra ba giai đoạn:

First. The stage wherein the energy manifested acts outwardly. The Self becomes identified with its sheaths. This is the strictly personal stage.

Thứ nhất. Giai đoạn trong đó năng lượng biểu hiện hoạt động ra bên ngoài. Bản Ngã đồng hoá với các vỏ bọc của nó. Đây là giai đoạn hoàn toàn cá nhân.

Second. The stage wherein adjustment under law is being sought, and the Self is neither entirely identified with its sheaths, nor identified entirely with Itself. It is [Page 832] learning to choose between the pairs of opposites. This is the period of the fiercest strife and turmoil, and the battlefield wherein the adjustment has to be made; it is the laboratory period wherein enough transmutative force is generated by the disciple to carry him to the opposite extreme of the earlier stage,—that stage wherein the energy will manifest within and not without.

Thứ hai. Giai đoạn trong đó sự điều chỉnh theo định luật đang được tìm kiếm, và Bản Ngã không hoàn toàn đồng hoá với các vỏ bọc của nó, cũng không hoàn toàn đồng hoá với chính Nó. Nó đang [Page 832] học cách lựa chọn giữa các cặp đối đãi. Đây là thời kỳ của xung đột và hỗn loạn dữ dội nhất, và là chiến trường nơi sự điều chỉnh phải được thực hiện; đó là thời kỳ phòng thí nghiệm trong đó đủ mãnh lực chuyển hoá được tạo ra bởi đệ tử để đưa y đến cực đối nghịch của giai đoạn trước,—giai đoạn trong đó năng lượng sẽ biểu hiện bên trong chứ không phải bên ngoài.

Third. The stage wherein the energy of the Ego is centred at the heart of the circle, and not in the periphery, being applied from thence through the conscious effort of the Ego in group service. The pull of the lower nature is superseded, and the attraction of that which is higher even than the Ego is felt. The earlier process has then to be repeated on a higher turn of the spiral, and monadic energy begins to work upon the Ego as the egoic worked upon the personality. The Monad, which has been identifying Itself with the Ego (its outer manifestation) begins again to seek its own true centre “within the Heart,” and on the higher levels results affecting distribution and conservation of energy may again be seen.

Thứ ba. Giai đoạn trong đó năng lượng của chân ngã được tập trung tại tâm điểm của vòng tròn, chứ không ở chu vi, và từ đó được vận dụng qua nỗ lực hữu thức của chân ngã trong công việc phụng sự nhóm. Sức hút của bản chất thấp được vượt qua, và sức hấp dẫn của điều còn cao hơn cả chân ngã được cảm nhận. Khi ấy tiến trình trước đó phải được lặp lại trên một vòng xoắn ốc cao hơn, và năng lượng chân thần bắt đầu tác động lên chân ngã như năng lượng chân ngã đã tác động lên phàm ngã. Chân thần, vốn đã đồng hoá Chính Nó với chân ngã (biểu hiện bên ngoài của nó), lại bắt đầu tìm kiếm trung tâm chân thực của chính mình “bên trong Trái Tim”, và trên các cấp độ cao hơn, lại có thể thấy những kết quả ảnh hưởng đến sự phân phối và bảo tồn năng lượng.

It is necessary to emphasise this procedure because it is important that all occultists should learn to interpret and to think in terms of energy and of force, in contradistinction to the sheaths or instruments employed. The mystic has recognised this “force” factor, but has only worked with the positive force aspect. The occultist must recognise and work with three types of force, or energy, and therein lies the distinction between his work and that of the mystic. He recognises:

Cần nhấn mạnh thủ tục này vì điều quan trọng là mọi nhà huyền bí học phải học cách diễn giải và suy nghĩ theo thuật ngữ năng lượng và mãnh lực, khác với các thể hay công cụ được sử dụng. Nhà thần bí đã nhận ra yếu tố “mãnh lực” này, nhưng chỉ làm việc với phương diện mãnh lực dương mà thôi. Nhà huyền bí học phải nhận ra và làm việc với ba loại mãnh lực, hay năng lượng, và chính trong đó có sự khác biệt giữa công việc của y và công việc của nhà thần bí. Y nhận ra:

1.

Positive force

Or that which energises.

2.

Negative force

Or that which is the recipient of energy; that which acts or assumes form under the impact of positive force.

3.

Light, or harmonic force

That which is produced by the union of these two. The result is radiant energy, and is the result of the equilibrising of the two others.

[Page 833] These three aspects of energy have been called, as has been often said:

[Page 833] Ba phương diện năng lượng này đã được gọi, như thường được nói: