One of the primary things the occult student should remember when considering the nature of spiral-cyclic activity, is that it has two effects.
Một trong những điều chủ yếu mà đạo sinh huyền bí nên ghi nhớ khi xem xét bản chất của hoạt động xoắn ốc-chu kỳ là nó có hai hiệu quả.
First, it is an attractive force, gathering the rotating atoms of matter into definite types and forms, and holding them there as long as necessity demands.
Thứ nhất, nó là một mãnh lực hấp dẫn, tập hợp các nguyên tử vật chất đang quay vào những loại và hình tướng xác định, và giữ chúng ở đó chừng nào nhu cầu còn đòi hỏi.
Secondly, it is itself gradually dominated by another and higher vibration, and through its spiralling progress through matter it sweeps those forms systematically nearer and nearer to another and stronger point of energy.
Thứ hai, bản thân nó dần dần bị chi phối bởi một rung động khác cao hơn, và qua sự tiến triển theo xoắn ốc của nó xuyên qua vật chất, nó cuốn các hình tướng ấy một cách có hệ thống ngày càng gần hơn với một điểm năng lượng khác mạnh hơn.
These effects are to be seen clearly demonstrated in man’s evolution in the approach he makes uniformly through the cycles to the centre of the spiral-cyclic energy, [Page 1035] and subsequently to the still more impressive point, that of his “Father in Heaven.” The Angel first attracts animal man; cyclically He actuates the material sheaths, thus giving them coherence, and ever swings them into closer relation to himself. Later, as the momentum is increased, the man is swung more definitely into relation with the monadic aspect, until that higher rhythm is imposed upon him. This is equally true of a planetary Logos, and of a solar Logos.
Các hiệu quả này có thể được thấy biểu lộ rõ ràng trong sự tiến hoá của con người qua sự tiếp cận mà y thực hiện một cách đều đặn xuyên qua các chu kỳ đến trung tâm của năng lượng xoắn ốc-chu kỳ, [Page 1035] và sau đó đến điểm còn gây ấn tượng mạnh hơn nữa, tức điểm của “Cha y trên Trời.” Thiên Thần trước hết hấp dẫn người thú; theo chu kỳ Ngài làm cho các thể vật chất hoạt động, nhờ đó ban cho chúng sự kết hợp chặt chẽ, và luôn luôn đưa chúng vào mối liên hệ gần gũi hơn với chính Ngài. Về sau, khi động lượng gia tăng, con người được đưa vào mối liên hệ rõ rệt hơn với phương diện chân thần, cho đến khi nhịp điệu cao hơn ấy được áp đặt lên y. Điều này cũng đúng như vậy đối với một Hành Tinh Thượng đế, và đối với một Thái dương Thượng đế.
The spiral-cyclic force demonstrates, as might be expected, in seven ways; of these, the three major methods of demonstration are symbolised in the Rod of Initiation of Sanat Kumara. The Rod most frequently recognised by men is that of the Hierophant, the Bodhisattva, which consists of the straight central serpent with the two others entwined around it, thus picturing, among other things:
Mãnh lực xoắn ốc-chu kỳ biểu lộ, như có thể dự đoán, theo bảy cách; trong số đó, ba phương pháp biểu lộ chính được biểu trưng trong Thần Trượng Điểm đạo của Đức Sanat Kumara. Thần Trượng thường được con người nhận biết nhất là của Đấng Điểm đạo, Đức Bồ Tát, gồm con rắn thẳng ở trung tâm với hai con khác quấn quanh nó, nhờ đó mô tả, trong nhiều điều khác, như sau:
a. The three outpourings,
a. Ba lần tuôn đổ,
b. The three worlds,
b. ba cõi giới,
c. The spinal column and its channels,
c. cột sống và các kinh đạo của nó,
or those main factors with which the initiate concerns himself. He has to understand somewhat the nature of matter and what is occultly involved in that expression, his own triple constitution, the three worlds in which he has to play his part, and the instrument which he has to use. This rod of the Bodhisattva is surmounted by a diamond which is not as great a diamond as the “Flaming Diamond” of the first Kumara, but is of rare beauty. At the time of initiation when the electrical forces are tapped, this diamond revolves on its axis, picturing the rotary nature of atomic matter.
hay những yếu tố chính mà điểm đạo đồ quan tâm đến. Y phải hiểu phần nào bản chất của vật chất và điều được bao hàm một cách huyền bí trong cách diễn đạt ấy, cấu tạo tam phân của chính y, ba cõi giới trong đó y phải giữ phần việc của mình, và công cụ mà y phải sử dụng. Thần Trượng này của Đức Bồ Tát được gắn trên đỉnh bởi một viên kim cương không lớn bằng “Kim Cương Rực Lửa” của Kumara thứ nhất, nhưng có vẻ đẹp hiếm có. Vào lúc điểm đạo khi các mãnh lực điện được khai mở, viên kim cương này quay trên trục của nó, mô tả bản chất quay tròn của vật chất nguyên tử.
The Rod of Sanat Kumara is far more intricate, and instead of the central Rod, or Serpent, standing on the tip of its tail, all the three serpents are interwoven in a spiral fashion, and the Flaming Diamond which surmounts [Page 1036] it is of such radiance that the effect is produced of a spheroidal aura, cast around the interlaced serpents, typifying the form-building nature of the Vishnu activity.
Thần Trượng của Đức Sanat Kumara phức tạp hơn nhiều, và thay vì Cây Trượng trung tâm, hay Con Rắn, đứng trên chót đuôi của nó, thì cả ba con rắn đều đan xen nhau theo hình xoắn ốc, và Kim Cương Rực Lửa ở trên đỉnh [Page 1036] của nó có độ rạng ngời đến mức tạo ra hiệu quả của một hào quang hình cầu bao quanh các con rắn đan xen, tượng trưng cho bản chất kiến tạo hình tướng của hoạt động Vishnu.
According to the initiation taken, a reflection will be seen from a part of the interlaced serpents, and the illusion will be created that the diamond is cycling up and down between the summit, and the irradiated portion.
Tùy theo lần điểm đạo đã nhận, một sự phản chiếu sẽ được thấy từ một phần của các con rắn đan xen, và ảo giác sẽ được tạo ra rằng viên kim cương đang tuần hoàn lên xuống giữa đỉnh cao và phần được chiếu rạng.
At the same time, each serpent revolves upon itself, and likewise cycles around its neighbor, producing an effect of extraordinary brilliance and beauty, and typifying rotary-spiral-cyclic force.
Đồng thời, mỗi con rắn quay trên chính nó, và cũng tuần hoàn quanh con bên cạnh, tạo ra một hiệu quả rực rỡ và mỹ lệ phi thường, và tượng trưng cho mãnh lực quay tròn-xoắn ốc-chu kỳ.
The seven types of spiral-cyclic energy are suggestive of the nature of the planetary Logoi which they represent, and produce, therefore, the distinctions which exist between men; they are accountable for the nature of cycles, and this is a point oft overlooked. Students discuss the periods of the emergence of the Rays, setting arbitrary dates, such as 2500 years, for the manifestation of any particular ray. One ray does pass through its cycle in that length of time, but only one, the others being either longer or shorter. The difference has a great effect upon the egoic cycles, and is responsible for the length of time between incarnations. Some Egos cycle through their incarnations and their pralayas very rapidly; others spend untold aeons, and hence it is impossible to say that there are even “averages” connected with the appearance of Egos on the astral plane, for instance. This fact has bearing upon the statement of H. P. B. anent the Lodge effort each one hundred years. Under the particular type of cyclic force emanating from the Lodge, the high water mark of its activity is to be found once in every seven cycles. All that originates on that Ray is controlled by spiral-cyclic efforts based upon the number 10 and its multiples, and finding its highest cyclic vibration, as it happens, during the last [Page 1037] quarter of each century. What our more modern students are apt to forget in this connection is that this activity is but the demonstration of one type of force out of seven possible and that it concerns primarily that group of adepts who are on that particular line of energy, and will necessarily affect greatly all disciples and people on a similar line. At the same time, the work it initiates is endorsed by the Lodge as a whole, for it is part of the force emanation of the planetary Logos. It is naturally of great importance owing to the fact that this ray-energy is that of one of the three major Rays; but it will be, in the equilibrising process, balanced by analogous cyclic emanatory activity from the two other major Rays.
Bảy loại năng lượng xoắn ốc-chu kỳ gợi ý về bản chất của các Hành Tinh Thượng đế mà chúng biểu hiện, và do đó tạo ra những khác biệt tồn tại giữa con người; chúng chịu trách nhiệm về bản chất của các chu kỳ, và đây là một điểm thường bị bỏ qua. Các đạo sinh bàn luận về các thời kỳ xuất hiện của các cung, ấn định những niên đại tùy tiện, chẳng hạn 2500 năm, cho sự biểu hiện của bất kỳ cung nào. Quả thật có một cung đi qua chu kỳ của nó trong khoảng thời gian ấy, nhưng chỉ một cung mà thôi, các cung khác thì dài hơn hoặc ngắn hơn. Sự khác biệt này có ảnh hưởng lớn đến các chu kỳ chân ngã, và chịu trách nhiệm về khoảng thời gian giữa các lần nhập thể. Một số chân ngã đi qua các lần nhập thể và các giai kỳ qui nguyên của chúng rất nhanh; những chân ngã khác trải qua những đại kiếp không thể kể xiết, và do đó không thể nói rằng thậm chí có cả những “mức trung bình” liên quan đến sự xuất hiện của các chân ngã trên cõi cảm dục, chẳng hạn. Sự kiện này có liên quan đến phát biểu của H. P. B. về nỗ lực của Thánh đoàn trong mỗi một trăm năm. Dưới loại mãnh lực chu kỳ đặc biệt phát ra từ Thánh đoàn, mức thủy triều cao của hoạt động ấy được tìm thấy một lần trong mỗi bảy chu kỳ. Mọi điều phát sinh trên cung đó đều được kiểm soát bởi các nỗ lực xoắn ốc-chu kỳ dựa trên số 10 và các bội số của nó, và tình cờ đạt rung động chu kỳ cao nhất của nó trong suốt quý cuối cùng của mỗi thế kỷ. Điều mà các đạo sinh hiện đại của chúng ta dễ quên trong mối liên hệ này là hoạt động này chỉ là sự biểu lộ của một loại mãnh lực trong bảy loại có thể có và chủ yếu liên quan đến nhóm chân sư ở trên đường năng lượng đặc biệt ấy, và tất yếu sẽ ảnh hưởng mạnh đến mọi đệ tử và mọi người ở trên một đường tương tự. Đồng thời, công việc mà nó khởi xướng được toàn thể Thánh đoàn tán đồng, vì nó là một phần của sự phát xạ mãnh lực của Hành Tinh Thượng đế. Tự nhiên nó có tầm quan trọng lớn do sự kiện rằng năng lượng cung này là của một trong ba Cung chính; nhưng trong tiến trình [Page 1037] quân bình hóa nó sẽ được cân bằng bởi hoạt động phát xạ theo chu kỳ tương tự từ hai Cung chính còn lại.
It might be added here that when this is recognised it will become apparent that the revolutionising scientific discoveries which can be traced down the centuries, such as the formulation of the Law of Gravitation, the circulation of the blood, the ascertainment of the nature of steam, the discovery by man of that form of electrical phenomena which he has harnessed, and the more recent discovery of radium, are in their own department (that of the Mahachohan), analogous to the effort made during the last quarter of each century to stimulate the evolution of men through a further revelation of some part of the Secret Doctrine. Newton, Copernicus, Galileo, Harvey, and the Curies are, on their own line of force, lightbringers of equal rank with H. P. B. All revolutionised the thought of their time; all gave a great impulse to the ability of man to interpret the laws of nature, and to understand the cosmic process, and only those of circumscribed vision will fail to recognise the unity of the many force impulses emanating from the one Lodge.
Ở đây có thể nói thêm rằng khi điều này được nhận ra thì sẽ trở nên hiển nhiên rằng những khám phá khoa học mang tính cách mạng hóa có thể được truy nguyên qua các thế kỷ, như sự hình thành Định luật Hấp Dẫn, sự tuần hoàn của máu, sự xác định bản chất của hơi nước, việc con người khám phá ra dạng hiện tượng điện mà y đã chế ngự, và khám phá gần đây hơn về radium, trong lãnh vực riêng của chúng (lãnh vực của Đức Mahachohan), là tương tự với nỗ lực được thực hiện trong quý cuối của mỗi thế kỷ nhằm kích thích sự tiến hoá của con người qua một sự mặc khải thêm nữa về một phần nào đó của Giáo Lý Bí Nhiệm. Newton, Copernicus, Galileo, Harvey, và gia đình Curie, trên đường mãnh lực riêng của họ, là những đấng mang ánh sáng có cấp bậc ngang với H. P. B. Tất cả đều cách mạng hóa tư tưởng của thời đại mình; tất cả đều đã tạo ra một xung lực lớn cho khả năng của con người trong việc giải thích các định luật của thiên nhiên, và thấu hiểu tiến trình vũ trụ, và chỉ những ai có tầm nhìn hạn hẹp mới không nhận ra được tính nhất quán của nhiều xung lực mãnh lực phát ra từ một Thánh đoàn duy nhất.
These cycles will not coincide, for they are not all similar to the one hundred year spiral. Some idea as to the Mahachohan’s cycle of emanatory impulses may be [Page 1038] gathered by considering the dates of the foremost scientific discoveries since Plato’s time; the cycles of the second ray may also be averaged by a summary of the appearances of the great Teachers down the ages.
Các chu kỳ này sẽ không trùng hợp nhau, vì không phải tất cả đều giống với vòng xoắn một trăm năm. Một vài ý niệm về chu kỳ các xung lực phát xạ của Đức Mahachohan có thể được [Page 1038] rút ra bằng cách xem xét các niên đại của những khám phá khoa học hàng đầu kể từ thời Plato; các chu kỳ của cung hai cũng có thể được lấy mức trung bình bằng một bản tổng kết về sự xuất hiện của các Đại Huấn Sư qua các thời đại.
The force emanations from the Manu, or those of the first Ray, are easily traced when the races are considered, and this has been done in the recognition of the races and subraces. What is oft overlooked is that each of these rays of energy demonstrates constructively, through the form-building agencies, and destructively through the ability of the force to destroy prior to building. Thus the cycles can be viewed from two angles.
Các phát xạ mãnh lực từ Đức Manu, hay của Cung một, có thể dễ dàng được truy ra khi các giống dân được xem xét, và điều này đã được thực hiện trong việc nhận diện các giống dân và giống dân phụ. Điều thường bị bỏ qua là mỗi cung năng lượng này biểu lộ một cách xây dựng, thông qua các tác nhân kiến tạo hình tướng, và một cách phá hủy thông qua khả năng của mãnh lực trong việc hủy diệt trước khi xây dựng. Vì vậy các chu kỳ có thể được nhìn từ hai góc độ.
It is at this point that students in one branch of our theosophical movement must recognise the fact that just as H. P. B. came forth on a cyclic tide of energy to destroy the limiting forms to be found in the world of science and religion, so his work must fit in with other force emanations, such as the constructive work of the second ray in conjunction with the energy of the seventh at this time.
Chính ở điểm này mà các đạo sinh trong một nhánh của phong trào Thông Thiên Học của chúng ta phải nhận ra sự kiện rằng cũng như H. P. B. đã xuất hiện trên một làn sóng năng lượng theo chu kỳ để phá hủy những hình tướng giới hạn có thể thấy trong thế giới khoa học và tôn giáo, thì công việc của ông phải phù hợp với các phát xạ mãnh lực khác, chẳng hạn như công việc xây dựng của cung hai phối hợp với năng lượng của cung bảy vào lúc này.
When students learn to blend the one hundred year cycles of the first type of energy with the equally powerful impulses from the second Ray and the third, we shall then have a cessation of many controversies. No great impulse will come from the Lodge along the line of the first Ray of Will or Power till the close of a century. One such impulse along another line of force came when the discovery of the nature of the atom was arrived at through the study of electricity, and of radioactive substances, and an impulse from the second aspect is imminent. It is not safe for students with limited vision to dogmatise anent this question of cycles. Apart from the cyclic impulses continuously going forth, overlapping and superseding, and intermingling with each other, there are many which we might call lesser impulses (and the cycle of one hundred years to which H. P. B. refers [Page 1039] is but one of the lesser impulses. There is a one thousand year cycle of greater moment). There are vaster cycles, of 2500 years, of 7,000 years, of 9,000 years, of 15,000 years, and many others which only advanced initiates know of or can follow; these can break in upon any of the lesser impulses, and can be seen appearing, unexpectedly, as far as average man’s knowledge is concerned, and yet they are but the returning impulses set in cyclic motion perhaps thousands of years ago.
Khi các đạo sinh học cách dung hợp các chu kỳ một trăm năm của loại năng lượng thứ nhất với các xung lực mạnh mẽ tương đương từ cung hai và cung ba, thì khi đó chúng ta sẽ có sự chấm dứt của nhiều cuộc tranh luận. Không có xung lực lớn nào sẽ đến từ Thánh đoàn theo đường lối của Cung một của Ý Chí hay Quyền lực cho đến cuối một thế kỷ. Một xung lực như thế theo một đường mãnh lực khác đã đến khi bản chất của nguyên tử được khám phá ra qua việc nghiên cứu điện học và các chất phóng xạ, và một xung lực từ phương diện thứ hai đang sắp xảy ra. Sẽ không an toàn cho các đạo sinh có tầm nhìn hạn hẹp mà giáo điều hóa về vấn đề các chu kỳ này. Ngoài các xung lực chu kỳ liên tục phát ra, chồng lấp, thay thế và hòa trộn với nhau, còn có nhiều xung lực mà chúng ta có thể gọi là các xung lực nhỏ hơn (và chu kỳ một trăm năm mà H. P. B. đề cập đến [Page 1039] chỉ là một trong những xung lực nhỏ hơn. Có một chu kỳ một nghìn năm quan trọng hơn nhiều). Có những chu kỳ bao la hơn, 2.500 năm, 7.000 năm, 9.000 năm, 15.000 năm, và nhiều chu kỳ khác mà chỉ các điểm đạo đồ cao cấp mới biết đến hoặc có thể theo dõi; những chu kỳ này có thể xen vào bất kỳ xung lực nhỏ hơn nào, và có thể được thấy là xuất hiện một cách bất ngờ, xét theo tri thức của con người trung bình, tuy nhiên chúng chỉ là những xung lực quay trở lại đã được đặt vào chuyển động chu kỳ có lẽ từ hàng nghìn năm trước.
H. P. B. is right in his affirmation as far as the impulse of the first ray is concerned; but his followers are not right, in so far as they overlook and negate the six other types of impulses, of equal or of more importance, which may emanate cyclically from the Lodge, and which will meet with response from those who vibrate to that particular type of energy.
H. P. B. đúng trong lời khẳng định của ông xét theo xung lực của cung một; nhưng các môn đồ của ông không đúng, vì họ bỏ qua và phủ nhận sáu loại xung lực khác, có tầm quan trọng ngang bằng hoặc lớn hơn, có thể phát ra theo chu kỳ từ Thánh đoàn, và sẽ gặp được sự đáp ứng từ những ai rung động theo loại năng lượng đặc thù đó.
III. RESULTS OF ITS ACTIVITY. — III. CÁC KẾT QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG CỦA NÓ.
These results can be studied in four ways, considering each as a subsidiary Law of the basic Law of Attraction and Repulsion. All motion is the result literally of the impact, or intercourse, between atoms, and there is no atom anywhere which escapes this force. In the case of rotary motion, which governs the activity of the atom of substance, the impulse emanates from within the ring-pass-not, and is produced by the impact of the positive charge upon the negative charges. This is true of all atoms, cosmic, solar, individual, chemical, and so forth.
Các kết quả này có thể được nghiên cứu theo bốn cách, xem mỗi cách như một Định luật phụ của Định luật căn bản về Hấp Dẫn và Đẩy Lùi. Mọi chuyển động theo nghĩa đen đều là kết quả của sự va chạm, hay sự giao tiếp, giữa các nguyên tử, và không có nguyên tử nào ở bất cứ đâu thoát khỏi mãnh lực này. Trong trường hợp chuyển động xoay tròn chi phối hoạt động của nguyên tử chất liệu, xung lực phát ra từ bên trong vòng-giới-hạn, và được tạo ra bởi sự va chạm của điện tích dương lên các điện tích âm. Điều này đúng với mọi nguyên tử, vũ trụ, thái dương, cá nhân, hóa học, v.v.
When, however, the effect of the rotation of the atom is so strong that it begins to affect other atoms outside its individual ring-pass-not, another influence begins to make itself felt, which draws together, or dissipates, those contacting coalescing atoms. Thus forms are built under the impulse of aggregated forces of some one kind, and these forms in turn produce effects on other cohering atomic forms, until the rhythm is built up, and a vibration [Page 1040] instigated which is a continuation of the rotary motion of the individual atoms, and the modification produced on them by their group activity. This causes progression and simultaneous rotation. The movement forward is modified considerably by the internal atomic activity, and this it is which causes that motion we call spiral cyclic. It demonstrates in all forms as a tendency to repeat, owing to the backward pull of the rotating atoms, and yet is offset by the strong progressive impulse of the form activity. Students can work this out in connection with:
Tuy nhiên, khi hiệu quả của sự xoay tròn của nguyên tử mạnh đến mức nó bắt đầu ảnh hưởng đến các nguyên tử khác ở ngoài vòng-giới-hạn cá biệt của nó, thì một ảnh hưởng khác bắt đầu được cảm nhận, ảnh hưởng này kéo các nguyên tử đang tiếp xúc và kết tụ ấy lại với nhau, hoặc làm tiêu tan chúng. Như vậy, các hình tướng được xây dựng dưới xung lực của các mãnh lực tập hợp thuộc một loại nào đó, và đến lượt mình các hình tướng này tạo ra các hiệu quả trên những hình tướng nguyên tử kết dính khác, cho đến khi nhịp điệu được xây dựng, và một rung động được [Page 1040] khởi phát, là sự tiếp nối của chuyển động xoay tròn của các nguyên tử cá biệt, cùng với sự biến đổi được tạo ra trên chúng bởi hoạt động nhóm của chúng. Điều này gây ra sự tiến triển và sự xoay tròn đồng thời. Chuyển động tiến về phía trước bị biến đổi đáng kể bởi hoạt động nguyên tử nội tại, và chính điều này gây nên chuyển động mà chúng ta gọi là xoắn ốc chu kỳ. Nó biểu lộ trong mọi hình tướng như một khuynh hướng lặp lại, do lực kéo ngược của các nguyên tử đang xoay tròn, tuy nhiên lại được hóa giải bởi xung lực tiến tới mạnh mẽ của hoạt động hình tướng. Các đạo sinh có thể khảo cứu điều này liên hệ với:
The planetary Logos, as He manifests through the rounds, each one of which, in its earlier stages, recapitulates all that has previously occurred.
Hành Tinh Thượng đế, khi Ngài biểu lộ qua các cuộc tuần hoàn, mà mỗi cuộc, trong các giai đoạn đầu của nó, đều tái diễn tất cả những gì đã xảy ra trước đó.
Man, in the ante-natal period, in which he runs through the various stages of development.
Con người, trong thời kỳ trước khi sinh, khi y trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau.
Spiritual man, as he creates that which will destroy the “Dweller on the Threshold.”
Con người tinh thần, khi y tạo ra điều sẽ hủy diệt “Kẻ Chận Ngõ”.
This spiral-cyclic activity, which is distinctive of all forms, can perhaps be comprehended more practically if we study it as an expression of four laws, taking each one briefly in turn:
Hoạt động xoắn ốc chu kỳ này, vốn là đặc trưng của mọi hình tướng, có lẽ có thể được hiểu một cách thực tiễn hơn nếu chúng ta nghiên cứu nó như một biểu hiện của bốn định luật, lần lượt xét ngắn gọn từng định luật:
1. The Law of Expansion. — 1. Định luật Mở Rộng.
This law of a gradual evolutionary expansion of the consciousness indwelling every form is the cause of the spheroidal form of every life in the entire solar system. It is a fact in nature that all that is in existence dwells within a sphere. (306) The chemical atom is spheroidal; man [Page 1041] dwells within a sphere, as does the planetary Logos and the solar Logos, this sphere being the form matter takes when its own internal activity, and the activity of the form are working in unison. It requires the two types of force—rotary and spiral-cyclic—to produce this. Scientists are beginning to recognise this more or less, and to realise that it is the Law of Relativity, or the relation between all atoms, which produces that which is called Light, and which, in its aggregated phenomena, forms that composite sphere, a solar system. The motion of the constellations external to the solar sphere is responsible for its form in conjunction with its own rotary motion in space. As the wave lengths of the light from the constellations, and their relation to the sun are better understood, and as the effect of those wave lengths or light vibrations (which are either attractive to, or repulsive to, the sun) are understood, much will be revealed. Little has as yet been grasped as to the effect [Page 1042] those constellations in the heavens (which are antagonistic to the solar system), have upon it, and whose wave lengths it will not transmit, whose rays of light do not pierce (if it might be expressed in so unscientific a manner) through the solar periphery.
Định luật về sự mở rộng tiến hóa dần dần của tâm thức ngự trong mọi hình tướng này là nguyên nhân của dạng hình cầu của mọi sự sống trong toàn bộ hệ mặt trời. Trong bản chất, đó là một sự kiện rằng mọi cái đang hiện hữu đều cư ngụ trong một khối cầu. (306) Nguyên tử hóa học có hình cầu; con người [Page 1041] cư ngụ trong một khối cầu, cũng như Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế, khối cầu này là hình thức mà vật chất mang lấy khi hoạt động nội tại riêng của nó và hoạt động của hình tướng đang vận hành đồng điệu. Cần có hai loại mãnh lực—xoay tròn và xoắn ốc chu kỳ—để tạo ra điều này. Các nhà khoa học đang bắt đầu nhận ra điều này ít nhiều, và chứng nghiệm rằng chính Định luật Tương Đối, hay mối liên hệ giữa mọi nguyên tử, tạo ra điều được gọi là Ánh sáng, và trong hiện tượng tập hợp của nó, hình thành nên khối cầu tổng hợp ấy, một hệ mặt trời. Chuyển động của các chòm sao bên ngoài khối cầu thái dương chịu trách nhiệm về hình dạng của nó, kết hợp với chuyển động xoay tròn riêng của nó trong không gian. Khi các bước sóng ánh sáng từ các chòm sao, và mối liên hệ của chúng với mặt trời được hiểu rõ hơn, và khi hiệu quả của các bước sóng hay rung động ánh sáng ấy (vốn hoặc hấp dẫn đối với, hoặc đẩy lùi, mặt trời) được hiểu rõ, thì nhiều điều sẽ được mặc khải. Cho đến nay, người ta vẫn còn hiểu rất ít về hiệu quả mà [Page 1042] những chòm sao trên trời ấy (vốn đối kháng với hệ mặt trời) tác động lên nó, và những chòm sao mà các bước sóng của chúng nó sẽ không truyền dẫn, những tia sáng của chúng không xuyên qua được (nếu có thể diễn đạt theo cách thiếu khoa học như vậy) chu vi thái dương.
(306) The Atom.—S. D., I, 113, 566. It is on the illusive nature of matter and the infinite divisibility of the atom that the whole Science of Occultism is built.
(306) Nguyên Tử.— Giáo Lý Bí Nhiệm, I, 113, 566. Toàn bộ Khoa Học Huyền Bí Học được xây dựng trên bản chất ảo huyễn của vật chất và tính khả phân vô hạn của nguyên tử.
1. Everything is atomic—God, Monads, atoms.
1. Mọi thứ đều có tính nguyên tử—Thượng đế, các chân thần, các nguyên tử.
a. The sphere of solar manifestation............ God
a. Khối cầu của biểu lộ thái dương............ Thượng đế
The mundane egg. The logoic auric egg........ Macrocosm
Noãn thế gian. Noãn hào quang logoic........ Đại thiên địa
b. The sphere of monadic manifestation.........Monads
b. Khối cầu của biểu lộ chân thần.........Các chân thần
The monadic auric egg...................... Microcosm
Noãn hào quang chân thần...................... Tiểu thiên địa
c. The sphere of the ultimate physical atom...... Atoms
c. Khối cầu của nguyên tử hồng trần tối hậu..... Các nguyên tử
2. The solar system is a cosmic atom.
2. Hệ mặt trời là một nguyên tử vũ trụ.
3. Each plane is an atom or complete sphere.
3. Mỗi cõi là một nguyên tử hay một khối cầu hoàn chỉnh.
4. Each planet is an atom.
4. Mỗi hành tinh là một nguyên tử.
5. Each Heavenly man is an atomic unit.
5. Mỗi Đấng Thiên Nhân là một đơn vị nguyên tử.
6. Each human Monad is an atom in the body of one of the Heavenly Men.
6. Mỗi Chân thần nhân loại là một nguyên tử trong thể của một trong các Đấng Thiên Nhân.
7. The causal body is an atom, or sphere.
7. Thể nguyên nhân là một nguyên tử, hay một khối cầu.
8. The physical plane elemental is an atomic unit.
8. Hành khí cõi hồng trần là một đơn vị nguyên tử.
What is an atom?
Nguyên tử là gì?
1. A sheath formed of the matter of the solar system in one or other of its seven grades and indwelt by life of some kind.
1. Một vỏ bọc được tạo thành từ vật chất của hệ mặt trời ở một hay một cấp nào khác trong bảy cấp của nó và được một loại sự sống nào đó ngự vào.
a. Absolute intelligence informs each atom.—S. D., I, 298.
a. Trí tuệ tuyệt đối thấm nhuần mỗi nguyên tử.— Giáo Lý Bí Nhiệm, I, 298.
b. Absolute life informs each atom.—S. D., I, 278, 28l; II, 742, note.
b. Sự sống tuyệt đối thấm nhuần mỗi nguyên tử.— Giáo Lý Bí Nhiệm, I, 278, 281; II, 742, ghi chú.
2. Atoms and souls are synonymous terms.—S. D., I, 620-622.
2. Nguyên tử và linh hồn là những thuật ngữ đồng nghĩa.— Giáo Lý Bí Nhiệm, I, 620-622.
a. In this solar system atoms and souls are synonymous terms. The Primordial Ray plus the Divine Ray of Wisdom.
a. Trong hệ mặt trời này, nguyên tử và linh hồn là những thuật ngữ đồng nghĩa. Cung Nguyên Sơ cộng với Cung thiêng liêng của Minh Triết.
b. In the previous solar system atoms and mind were probably synonymous terms. It resulted in the Primordial Ray of active intelligent matter, the basis of the present evolution.
b. Trong hệ mặt trời trước, nguyên tử và trí tuệ có lẽ là những thuật ngữ đồng nghĩa. Điều đó đã tạo ra Cung Nguyên Sơ của vật chất trí tuệ hoạt động, nền tảng của tiến hóa hiện nay.
c. In the next system atoms and the third factor, pure spirit may be synonymous terms. The Primordial Ray and The Divine Ray plus the third cosmic Ray of Will or Power.
c. Trong hệ thống kế tiếp, nguyên tử và yếu tố thứ ba, tinh thần thuần túy, có thể là những thuật ngữ đồng nghĩa. Cung Nguyên Sơ và Cung thiêng liêng cộng với cung vũ trụ thứ ba của Ý Chí hay Quyền lực.
3. Atoms are inseparable from Spirit.—S. D., I, 367.
3. Các nguyên tử không thể tách rời khỏi Tinh thần.— Giáo Lý Bí Nhiệm, I, 367.
a. They are the sheaths through which the informing God manifests.
a. Chúng là những vỏ bọc mà qua đó Thượng đế thấm nhuần biểu lộ.
b. The form of the sheath is a sphere.
b. Hình thức của vỏ bọc là một khối cầu.
c. The quality of the sheath is latent love.
c. Phẩm tính của vỏ bọc là tình thương tiềm ẩn.
d. The matter of the sheath is active intelligent substance. (back)
d. Vật chất của vỏ bọc là chất liệu trí tuệ hoạt động. (back)
We are told in the Secret Doctrine that “the seven solar Rays dilate to seven suns and set fire to the whole cosmos.” (S. D., II, 72.) This it is which produces that final burning which ushers in the great pralaya, and brings to an end the logoic incarnation. It is produced under this Law of Expansion, and causes that eventual merging and blending of the seven sacred planetary schemes which marks the achievement of the goal, and their eventual perfection.
Chúng ta được nói trong Giáo Lý Bí Nhiệm rằng “bảy tia thái dương nở rộng thành bảy mặt trời và đốt cháy toàn thể vũ trụ.” (Giáo Lý Bí Nhiệm, II, 72.) Chính điều này tạo ra sự bốc cháy cuối cùng mở đầu cho đại giai kỳ qui nguyên, và chấm dứt sự nhập thể logoic. Nó được tạo ra dưới Định luật Mở Rộng này, và gây nên sự hòa nhập và dung hợp sau cùng của bảy hệ hành tinh thiêng liêng, điều đánh dấu sự đạt thành mục tiêu và sự toàn thiện cuối cùng của chúng.
In occult literature this term “Law of Expansion” is limited to the discussion of the seven Rays, and to the subject of the planetary initiations. When dealing with the expansions of consciousness of the human being, and his initiations, we group them under the second “Law of Monadic Return.”
Trong văn liệu huyền bí học, thuật ngữ “Định luật Mở Rộng” này được giới hạn vào việc bàn đến bảy cung, và chủ đề các điểm đạo hành tinh. Khi đề cập đến các sự mở rộng tâm thức của con người, và các điểm đạo của y, chúng ta xếp chúng dưới “Định luật Trở Về của Chân thần” thứ hai.
Students should here remember that we are dealing with the expansions of consciousness of a planetary Logos through the medium of:
Ở đây, các đạo sinh nên nhớ rằng chúng ta đang bàn đến các sự mở rộng tâm thức của một Hành Tinh Thượng đế qua trung gian của:
a. The chains.
a. Các Dãy.
b. The rounds.
b. Các cuộc tuần hoàn.
c. The kingdoms of nature.
c. Các giới trong bản chất.
d. The root races.
d. Các giống dân gốc.
It should be remembered that the consciousness He is in process of developing is that of the absolute will and purpose of the solar Logos, as it is the expression of the desire of the cosmic Logos.(308) Therefore, the expansions might be grouped as follows: [Page 1043]
Cần nhớ rằng tâm thức mà Ngài đang trong tiến trình phát triển là tâm thức của ý chí và mục đích tuyệt đối của Thái dương Thượng đế, vì đó là biểu hiện của dục vọng của Thượng đế Vũ Trụ.(308) Do đó, các sự mở rộng có thể được nhóm lại như sau: [Page 1043]
(308) The four sub-divisions of desire should be studied in the Brahmana of the Sama-veda. (1) The desire to know; whence (2) the desire to possess; thereafter (3) the desire to secure possession, i.e., to take the necessary steps, the action, that will bring possession; and finally (4) the attainment—these respectively are the four sub-divisions, cognitive-desire, desire-proper, active-desire and summation-desire.
(308) Bốn phân bộ của dục vọng nên được nghiên cứu trong Brahmana của Sama-veda. (1) Dục vọng muốn biết; từ đó có (2) dục vọng muốn sở hữu; tiếp theo là (3) dục vọng muốn bảo đảm sự sở hữu, tức là thực hiện các bước cần thiết, hành động sẽ đem lại sự sở hữu; và cuối cùng (4) sự đạt được—tương ứng, đó là bốn phân bộ: dục vọng nhận thức, dục vọng đúng nghĩa, dục vọng hoạt động và dục vọng tổng kết.
“The ruler of desire is Shiva and his instruction to his sub-hierarchs takes this shape: Behold, our work is the work of destruction. The order and the way thereof are these. This should be destroyed first, this afterwards; and such and such work of the nature of negation should be performed. First, make enquiry, entertain the ‘desire to know,’ and thoroughly and fully understand the nature of the I and the This. Then entertain the desire to possess, ‘I shall obtain the This and the I.’ Having obtained them, you will pass on to the Negation, to the declaration, ‘no (I want them no more).’ In the Negation is the summation, sam-a-hara, ‘bringing all together,’ and it is the sam-hara also, the ‘taking all in,’ re-absorption, destruction.”—Pranava-Vada, p. 364. (back)
“Đấng cai quản dục vọng là Shiva và chỉ thị của ngài cho các phân cấp dưới quyền mang hình thức này: Hãy nhìn xem, công việc của chúng ta là công việc hủy diệt. Trật tự và phương cách của nó là như sau. Điều này phải bị hủy trước, điều kia sau; và công việc này công việc nọ thuộc bản chất phủ định phải được thực hiện. Trước hết, hãy tra cứu, nuôi dưỡng ‘dục vọng muốn biết,’ và thấu hiểu một cách trọn vẹn và đầy đủ bản chất của Cái Tôi và Cái Này. Sau đó hãy nuôi dưỡng dục vọng muốn sở hữu, ‘Ta sẽ đạt được Cái Này và Cái Tôi.’ Khi đã đạt được chúng, ngươi sẽ chuyển sang Sự Phủ Định, sang lời tuyên bố, ‘không (ta không còn muốn chúng nữa).’ Trong Sự Phủ Định có sự tổng kết, sam-a-hara, ‘gom tất cả lại với nhau,’ và đó cũng là sam-hara, ‘thu tất cả vào,’ tái hấp thu, hủy diệt.”—Pranava-Vada, tr. 364. (back)
1. The solar Logos expands His consciousness to include the desire of the cosmic Logos.
1. Thái dương Thượng đế mở rộng tâm thức của Ngài để bao gồm dục vọng của Thượng đế Vũ Trụ.
2. The planetary Logos expands His consciousness to measure up to the will and purpose of the Solar Logos.
2. Hành Tinh Thượng đế mở rộng tâm thức của Ngài để tương xứng với ý chí và mục đích của Thái dương Thượng đế.
3. The Lords of the Chains are working at the desire consciousness (the love nature) of the planetary Logos.
3. Các Đấng Chúa Tể của các Dãy đang hoạt động trên tâm thức dục vọng (bản chất bác ái) của Hành Tinh Thượng đế.
4. The informing Lives of the globe in the chain are working at the intelligent consciousness of the planetary Logos.
4. Các Sự Sống thấm nhuần của bầu hành tinh trong dãy đang hoạt động trên tâm thức trí tuệ của Hành Tinh Thượng đế.
This can be worked out in connection with a globe in a chain (such as our earth-chain) in the following manner.
Điều này có thể được triển khai liên hệ với một bầu hành tinh trong một dãy (như dãy địa cầu của chúng ta) theo cách sau.
The Lord of the world, the planetary Logos, in physical incarnation, works at His own peculiar problem, the bringing through (into physical manifestation upon the planet) of the purpose or will of the solar Logos in any particular scheme. This He does through meditation.
Đức Chúa Tể Thế Giới, Hành Tinh Thượng đế, đang lâm phàm hồng trần, hoạt động trên vấn đề đặc thù của riêng Ngài, là đưa mục đích hay ý chí của Thái dương Thượng đế vào biểu lộ hồng trần trên hành tinh trong bất kỳ hệ hành tinh đặc thù nào. Điều này Ngài thực hiện qua tham thiền.
The totality of Dhyan Chohans of the fifth or spiritual kingdom are occupied with the working out into active manifestation of the will and purpose of the planetary Logos.
Tổng thể các Dhyan Chohan của giới thứ năm hay giới tinh thần đang bận rộn với việc triển khai vào biểu lộ hoạt động ý chí và mục đích của Hành Tinh Thượng đế.
The human family, or the fourth kingdom, is seeking to make manifest the desire, or love nature, of the planetary Logos.
Gia đình nhân loại, hay giới thứ tư, đang tìm cách biểu lộ dục vọng, hay bản chất bác ái, của Hành Tinh Thượng đế.
The three subhuman kingdoms have for objective the [Page 1044] manifesting of the intelligent nature of the planetary Logos.
Ba giới dưới nhân loại có mục tiêu là [Page 1044] biểu lộ bản chất trí tuệ của Hành Tinh Thượng đế.
All this done under the Law of Expansion, by the method of spiralling progression, cyclic growth, rotary repetition, and the summation of each greater spiral is the expansion of the consciousness into that of the sphere which enclosed the lesser ovoid, and the escape of the life imprisoned in the sphere. It is merged in its greater whole. As the fires of the sphere concerned blaze up, the “fire by friction” which produces rotary motion, and “solar fire,” which is the basis of the spiral-cyclic activity, blend and merge. The ring-pass-not of the confining spheroidal wall is negated, and a blaze results.
Tất cả điều này được thực hiện dưới Định luật Mở Rộng, bằng phương pháp tiến triển xoắn ốc, tăng trưởng chu kỳ, lặp lại xoay tròn, và sự tổng kết của mỗi vòng xoắn lớn hơn là sự mở rộng của tâm thức vào tâm thức của khối cầu đã bao bọc hình trứng nhỏ hơn và sự thoát ra của sự sống bị giam cầm trong khối cầu. Nó được hòa nhập vào toàn thể lớn hơn của nó. Khi các ngọn lửa của khối cầu liên hệ bùng lên, “Lửa ma sát” tạo ra chuyển động xoay tròn, và “Lửa Thái dương,” là nền tảng của hoạt động xoắn ốc chu kỳ, hòa lẫn và dung hợp. Vòng-giới-hạn của bức tường hình cầu giam hãm bị phủ định, và một ngọn lửa bùng phát xuất hiện.
The old Commentary expressed this as follows in connection with the planets, and it is equally, though relatively, true, of the atom of substance, or the solar atom:
Cổ Luận diễn đạt điều này như sau liên hệ với các hành tinh, và điều đó cũng đúng, dù tương đối, đối với nguyên tử chất liệu, hay nguyên tử thái dương:
1. “The life pulsates, and the pole performs its function. The sphere revolves in many cycles. As it revolves it senses other spheres, and seeks to know their secret.
1. “Sự sống rung nhịp, và cực thực hiện chức năng của nó. Khối cầu quay trong nhiều chu kỳ. Khi quay, nó cảm nhận các khối cầu khác, và tìm cách biết bí mật của chúng.
2. They meet each other. They seek a greater intimacy or reject with hatred any more approach. Some pass away; others return and marry. They know each other. They spiral through their courses hand in hand. Through union the fires blaze up, the two become the one, and live again in their Son, who is the Third.”
2. Chúng gặp nhau. Chúng tìm kiếm một sự thân mật lớn hơn hoặc khước từ với lòng căm ghét bất kỳ sự đến gần nào hơn nữa. Một số qua đi; những số khác quay lại và kết hôn. Chúng biết nhau. Chúng xoắn ốc qua các lộ trình của mình tay trong tay. Qua sự hợp nhất, các ngọn lửa bùng lên, hai trở thành một, và lại sống trong Con của chúng, Đấng là Đệ Tam.”
Through the study of these significant words students may learn somewhat concerning “polar affinity,” the “Marriage in the Heavens,” the transference of the germs of life from the male attractive planet to the negative and receptive one, and finally, at a later period, the absorption of the life of the two planets by a third planet, who is called occultly “the Son.” This refers to the synthesising planet which forms the apex of the solar triangle.
Qua việc nghiên cứu những lời đầy thâm nghĩa này, các đạo sinh có thể học được phần nào về “sự tương hợp cực,” “Hôn phối trên Thiên giới,” sự chuyển giao các mầm sống từ hành tinh nam tính hấp dẫn sang hành tinh âm tính và tiếp nhận, và cuối cùng, vào một thời kỳ muộn hơn, sự hấp thu sự sống của hai hành tinh bởi một hành tinh thứ ba, được gọi một cách huyền bí là “Người Con.” Điều này nói đến hành tinh tổng hợp tạo thành đỉnh của tam giác thái dương.
In summing up the effect of the union of individual atomic rotary motion and the spiral cyclic activity of all [Page 1045] atomic groups, it is necessary to point out, therefore, that the following units are affected.
Khi tổng kết hiệu quả của sự hợp nhất giữa chuyển động xoay tròn nguyên tử cá biệt và hoạt động xoắn ốc chu kỳ của mọi [Page 1045] nhóm nguyên tử, do đó cần chỉ ra rằng các đơn vị sau đây bị ảnh hưởng.
The essential individual atom. Its evolutionary progress towards self-determination is brought about by the effect of its group activity, or the motion of the form modifying its own inherent action.
Nguyên tử cá biệt cốt yếu. Sự tiến bộ tiến hóa của nó hướng tới tự quyết được mang lại bởi hiệu quả của hoạt động nhóm của nó, hay chuyển động của hình tướng làm biến đổi hoạt động cố hữu riêng của nó.
The atomic form, likewise an atomic unit, rotating on its own axis and influenced and driven towards the centre of force of a higher macrocosm by the activity of its embracing kingdom.
Hình tướng nguyên tử, cũng là một đơn vị nguyên tử, quay trên trục riêng của nó và bị ảnh hưởng cũng như bị thúc đẩy về phía trung tâm mãnh lực của một đại thiên địa cao hơn bởi hoạt động của giới bao bọc nó.
The human atom, self-determined and individual, yet driven progressively forward by the influence of its group, or the potent activity of the Heavenly Man in Whose body it is the cell.
Nguyên tử nhân loại, tự quyết và cá biệt, tuy nhiên được thúc đẩy tiến dần về phía trước bởi ảnh hưởng của nhóm của nó, hay hoạt động mạnh mẽ của Đấng Thiên Nhân mà trong thể của Ngài nó là một tế bào.
The planetary atom, equally self-determined, a composite of all planetary groups, rotating on its own axis, yet conforming to the cyclic-spiralling action, induced by the activity of the greater sphere in which it finds its place.
Nguyên tử hành tinh, cũng tự quyết, là một tổng hợp của mọi nhóm hành tinh, quay trên trục riêng của nó, tuy nhiên vẫn tuân theo hoạt động xoắn ốc chu kỳ, được gây ra bởi hoạt động của khối cầu lớn hơn mà trong đó nó tìm thấy vị trí của mình.
The solar Atom, also an individualised Life, the Son in incarnation, through the medium of the Sun, pursuing its own inherent cycle, yet spiralling in cyclic fashion through the heavens, and therefore, progressing through the effect of the extra-cosmic active Lives who either attract or repulse it.
Nguyên tử Thái dương, cũng là một Sự sống đã biệt ngã hóa, Người Con đang nhập thể, qua trung gian Mặt Trời, theo đuổi chu kỳ cố hữu riêng của nó, tuy nhiên xoắn ốc theo cách chu kỳ xuyên qua các cõi trời, và do đó tiến triển nhờ hiệu quả của các Sự sống hoạt động ngoài vũ trụ, những Đấng hoặc hấp dẫn hoặc đẩy lùi nó.
These are the main sets of atomic groups, but there are many intermediate forms upon which it is not possible as yet to touch. All in nature affects that which it contacts, and these effects work either as
Đó là những tập hợp chính của các nhóm nguyên tử, nhưng còn có nhiều hình thức trung gian mà hiện nay chưa thể đề cập đến. Mọi sự trong bản chất đều ảnh hưởng đến điều mà nó tiếp xúc, và những hiệu quả này vận hành hoặc như
a. Attractive or repulsive impulses.
a. Các xung lực hấp dẫn hay đẩy lùi.
b. Retarding or accelerating impulses.
b. Các xung lực làm chậm lại hay gia tốc.
c. Destructive or constructive impulses.
c. Các xung lực hủy diệt hay kiến tạo.
d. Devitalising or stimulating impulses.
d. Các xung lực làm mất sinh lực hay kích thích.
e. Energising or disintegrating impulses.
e. Các xung lực tiếp sinh lực hay làm tan rã.
Yet all can be expressed in terms of negative and positive [Page 1046] force, manifesting as rotary or spiral activity. The lesser cycle can, from certain angles of vision, be regarded as appertaining to the rotary activity of certain atomic forms, and the greater cycles, which are so much more difficult for man to follow, as relating to the spiral action of the enclosing Life of the greater sphere. Every atom is part of a greater whole, even the solar atom is not a separated Life but a fragment of an immensity of Existence beyond the ken of man, and which is but dimly cognised by the most advanced Dhyan Chohan.
Tuy nhiên, tất cả đều có thể được diễn đạt bằng các thuật ngữ mãnh lực âm và dương, biểu lộ như hoạt động xoay tròn hay xoắn ốc. Chu kỳ nhỏ hơn, từ một số góc độ tầm nhìn nào đó, có thể được xem là thuộc về hoạt động xoay tròn của một số hình tướng nguyên tử nhất định, còn các chu kỳ lớn hơn, vốn khó hơn nhiều đối với con người trong việc theo dõi, thì [Page 1046] liên hệ đến hoạt động xoắn ốc của Sự sống bao bọc của khối cầu lớn hơn. Mọi nguyên tử đều là một phần của một toàn thể lớn hơn; ngay cả nguyên tử thái dương cũng không phải là một Sự sống tách biệt mà là một mảnh của một Sự Tồn Tại bao la vượt ngoài tầm hiểu biết của con người, và chỉ được nhận biết một cách mơ hồ bởi Dhyan Chohan cao cấp nhất.
2. The Law of Monadic Return. — 2. Định luật Trở Về của Chân thần.
Here it is possible to study the Monad from the cyclic and energetic standpoint, and divorce our minds temporarily from that aspect of manifestation we call the human, or man.
Ở đây có thể nghiên cứu chân thần từ quan điểm chu kỳ và năng lượng, và tạm thời tách trí tuệ của chúng ta ra khỏi phương diện biểu lộ mà chúng ta gọi là con người, hay con người.
In considering the “Divine Pilgrim” we can study him as demonstrating in the form of:
Khi xem xét “Người Hành Hương Thiêng Liêng”, chúng ta có thể nghiên cứu y như biểu lộ dưới hình thức:
a. Three focal points of energy or force.
a. Ba tiêu điểm năng lượng hay mãnh lực.
b. Three fires, each producing a definite effect, and each in turn producing effects upon each other.
b. Ba ngọn lửa, mỗi ngọn tạo ra một hiệu quả xác định, và mỗi ngọn đến lượt mình lại tạo ra các hiệu quả lên nhau.
In relation to a solar system, these three fires on the cosmic planes are called: (309) [Page 1047]
Liên hệ với một hệ mặt trời, ba ngọn lửa này trên các cõi vũ trụ được gọi là: (309) [Page 1047]
(309) 1. The Names of the Sun mentioned in the Secret Doctrine are:
(309) 1. Các danh xưng của Mặt Trời được nêu trong Giáo Lý Bí Nhiệm là:
a. Maritanda.—S. D., I, 61, 126-129, 483; II, 221.
a. Maritanda.— Giáo Lý Bí Nhiệm, I, 61, 126-129, 483; II, 221.
b. Agni.—S. D., II, 60, 400.
b. Agni.— Giáo Lý Bí Nhiệm, II, 60, 400.
c. Surya.—S. D., I, 127, 643.
c. Surya.— Giáo Lý Bí Nhiệm, I, 127, 643.
d. Helios.—S. D., II, 47.
d. Helios.— Giáo Lý Bí Nhiệm, II, 47.
e. Apollo.—S. D., II, 6, 129.
e. Apollo.— Giáo Lý Bí Nhiệm, II, 6, 129.
2. The Sun in the S. D. is used in the three following connotations:
2. Mặt Trời trong Giáo Lý Bí Nhiệm được dùng theo ba hàm nghĩa sau:
a. The Central Spiritual Sun.—S. D., I, 519, 520, 700, 736; S. D., II,—120, 249, 251.
a. Mặt trời Tinh thần Trung Ương.— Giáo Lý Bí Nhiệm, I, 519, 520, 700, 736; Giáo Lý Bí Nhiệm, II,—120, 249, 251.
b. The visible physical Sun.—S. D., I, 628.
b. Mặt Trời hồng trần hữu hình.— Giáo Lý Bí Nhiệm, I, 628.
c. The three secondary Suns.—As above.
c. Ba Mặt Trời thứ cấp.— Như trên.
Consider the Microcosm, manifesting through the causal body, which contains the three permanent atoms, the centres of force for the three bodies, the mental, astral and physical.
Hãy xét Tiểu thiên địa, biểu lộ qua thể nguyên nhân, vốn chứa ba nguyên tử trường tồn, các trung tâm mãnh lực cho ba thể, thể trí, thể cảm dục và thể xác.
3. Consider the following three statements.—S. D. I., 574.
3. Hãy xét ba phát biểu sau.— Giáo Lý Bí Nhiệm I., 574.
a. In the Kosmos..The Sun is the kama-rupa, or desire body of Akasha (the second aspect of Brahma).
a. Trong Vũ trụ..Mặt Trời là kama-rupa, hay thể dục vọng của Akasha (phương diện thứ hai của Brahma).
Compare ‘Son of necessity.’—S. D., I, 74.
So sánh “Con của sự tất yếu.”— Giáo Lý Bí Nhiệm, I, 74.
b. In the system...The Sun is the sixth principle, buddhi, and its vehicle. (The Dragons of Wisdom taking form on the fourth cosmic ether, our buddhic plane).
b. Trong hệ thống...Mặt Trời là nguyên khí thứ sáu, Bồ đề, và vận cụ của nó. (Các Rồng Minh Triết mang hình tướng trên dĩ thái vũ trụ thứ tư, cõi Bồ đề của chúng ta).
c. As an entity...The Sun is the seventh principle of Brahma or the aspect of active intelligent matter.
c. Với tư cách một thực thể...Mặt Trời là nguyên khí thứ bảy của Brahma hay phương diện của vật chất trí tuệ hoạt động.
Hence ‘rejection’ as it is called ensues because consciousness or the development of the Ego (logoic or human) is the goal of evolution, and not the matter aspect. “The Primordial Ray is only the vehicle of the Divine Ray.”—S. D., I, 108. (back)
Do đó, “sự khước từ” như nó được gọi, xảy ra bởi vì tâm thức hay sự phát triển của chân ngã (logoic hay nhân loại) là mục tiêu của tiến hóa, chứ không phải phương diện vật chất. “Cung Nguyên Sơ chỉ là vận cụ của Cung thiêng liêng.”— Giáo Lý Bí Nhiệm, I, 108. (back)
1. The central spiritual sun (essential).
1. Mặt trời tinh thần trung ương (cốt yếu).
2. The sun (subjective), called ‘the heart of the sun.’
2. Mặt trời (chủ quan), được gọi là ‘trái tim của mặt trời.’
3. The physical sun (objective).
3. Mặt trời hồng trần (khách quan).
and the same thought can be carried through the monadic manifestation. The three monadic centres are distinguished by different types of energy:
và cùng một tư tưởng ấy có thể được áp dụng xuyên suốt biểu lộ chân thần. Ba trung tâm chân thần được phân biệt bởi các loại năng lượng khác nhau:
1. Monadic—dynamic energy
electric impulse
pure fire.
2. Egoic—magnetic energy
radiatory impulse
solar fire.
3. Personal—individual energy
rotary impulse
fire by friction.
The first produces light, the second heat, and the third moisture or concretion.
Loại thứ nhất tạo ra ánh sáng, loại thứ hai nhiệt, và loại thứ ba độ ẩm hay sự đông đặc.
By the interplay of the three types of force which constitute the three monadic aspects, a rhythm is set up which eventuates in the formation of:
Bởi sự tương tác của ba loại mãnh lực cấu thành ba phương diện chân thần, một nhịp điệu được thiết lập, cuối cùng dẫn đến sự hình thành của:
A ring-pass-not, or ovoidal sphere, wherein the pilgrim is confined, and which contains within itself three major centres of force, corresponding to
Một vòng-giới-hạn, hay một khối cầu hình trứng, trong đó người hành hương bị giam giữ, và khối cầu này chứa trong chính nó ba trung tâm mãnh lực chính, tương ứng với
a. The three major logoic centres when the subjective or force side of existence is contemplated.
a. Ba trung tâm logoic chính khi phương diện chủ quan hay phương diện mãnh lực của sự tồn tại được chiêm ngưỡng.
b. The three permanent atoms if the purely objective side is in question.
b. Ba nguyên tử trường tồn nếu vấn đề là phương diện hoàn toàn khách quan.
A cyclic pulsation, which is the cause of every evolutionary impulse.
Một sự rung nhịp chu kỳ, là nguyên nhân của mọi xung lực tiến hóa.
[Page 1048] These evolutionary impulses may be regarded as three in number for a solar system, or for a Monad:
[Page 1048] Những xung lực tiến hóa này có thể được xem là có ba loại đối với một hệ mặt trời, hay đối với một chân thần:
There is the impulse which drives every atom to self-determination, and is the secret of the phenomenon called individualisation. It is largely the force called Brahma.
Có xung lực thúc đẩy mọi nguyên tử đến chỗ tự quyết, và là bí mật của hiện tượng được gọi là biệt ngã hóa. Nó phần lớn là mãnh lực được gọi là Brahma.
There is the impulse which forces the individual atom towards group determination, and is the secret of the phenomenon termed “Initiation,” or the process of passing out of the human or self-determined individualised Life into the higher kingdom. It is the sum total of the force of Vishnu, the second aspect, and produces the higher states of consciousness.
Có xung lực buộc nguyên tử cá biệt hướng tới sự quyết định theo nhóm, và là bí mật của hiện tượng được gọi là “Điểm đạo,” hay tiến trình vượt ra khỏi sự sống cá biệt đã biệt ngã hóa của nhân loại hay tự quyết để đi vào giới cao hơn. Nó là tổng số mãnh lực của Vishnu, phương diện thứ hai, và tạo ra các trạng thái tâm thức cao hơn.
There is finally the impulse which forces the planetary groups, the sum total of all atoms and forms, to a conscious realisation of the nature of the all-enclosing group, the solar atom.
Sau cùng, có xung lực buộc các nhóm hành tinh, tổng thể của mọi nguyên tử và hình tướng, đi đến sự chứng nghiệm có ý thức về bản chất của nhóm bao trùm tất cả, tức nguyên tử thái dương.
The Monad, acted upon by the Heavenly Man, intelligently forms his ring-pass-not. There his work ceases from the purely monadic standpoint; the inherent life of the atomic matter thus constituted produces the later phenomena. The rotary life of the atoms, and their interplay, modified by the Life of the planetary group, or Heavenly Man, pursued through long aeons, causes the phenomena of the various involutionary stages up to the point where certain of the atoms have evolved to the consciousness of animal-man. All through this inconceivable period (that is, in connection with our earth sphere) the milliards of atomic lives have pursued their courses, energised by the Life of the Monad, as it pulsates through the medium of the monadic heart on the spiritual plane; and equally they have responded to the larger rhythm of the Heavenly Man. This it is which has produced graded concretion, and brought animal-man to the stage where the upward pull of the Monad itself began to be felt. At the same time, the Monad on its [Page 1049] own plane began to respond to the self-engendered energy of the lower form, the two rhythms contacted, individualisation occurred and the pilgrim manifested in his true nature.
Chân thần, được Đấng Thiên Nhân tác động, một cách thông minh tạo thành vòng-giới-hạn của y. Tại đó công việc của y chấm dứt theo quan điểm thuần túy chân thần; sự sống cố hữu của vật chất nguyên tử được cấu thành như thế tạo ra các hiện tượng về sau. Sự sống quay tròn của các nguyên tử, và sự tương tác của chúng, được Sự sống của nhóm hành tinh, hay Đấng Thiên Nhân, biến đổi, tiếp diễn qua những đại kiếp lâu dài, gây nên các hiện tượng của những giai đoạn giáng hạ tiến hoá khác nhau cho đến điểm mà một số nguyên tử đã tiến hoá đến tâm thức của người thú. Suốt toàn bộ thời kỳ không thể nghĩ bàn này (nghĩa là, liên hệ với khối cầu địa cầu của chúng ta), hàng tỷ tỷ sự sống nguyên tử đã theo đuổi các tiến trình của chúng, được tiếp năng lượng bởi Sự sống của Chân thần, khi nó rung động qua trung gian của tim chân thần trên cõi tinh thần; và đồng thời chúng cũng đáp ứng với nhịp điệu lớn hơn của Đấng Thiên Nhân. Chính điều này đã tạo ra sự kết tụ theo cấp bậc, và đưa người thú đến giai đoạn mà lực kéo đi lên của chính Chân thần bắt đầu được cảm nhận. Đồng thời, Chân thần trên [Page 1049] cõi riêng của mình bắt đầu đáp ứng với năng lượng do hình tướng thấp tự phát sinh; hai nhịp điệu tiếp xúc nhau, sự biệt ngã hóa xảy ra và người hành hương biểu lộ trong bản chất chân thực của mình.
Then—as far as concerns the Monad—progressive life forward begins. It is truly cyclic, repetitive and spiralling. At first the action, or the interplay between the rotary lower atomic form, and the influence of the Monad, is lethargic, slow and heavy, and the form retards the action of the Monad, and its heavy vibration tends to offset the higher. Gradually, as the sweeping spirals play their part, the higher vibration makes itself felt, and the activity, or motion, is more balanced, but lighter. Thus the cycles run until the higher rhythm or vibration is so dominant that the influence of the form is negated, and leads to its eventual discarding. Simultaneously with this, the highest rhythm of all makes itself felt, leading to increased activity upon the highest planes, and producing in time a negation of the sheath life of the Ego. As the old Commentary again says:
Khi ấy—xét theo phương diện Chân thần—sự sống tiến bộ hướng về phía trước bắt đầu. Quả thật nó có tính chu kỳ, lặp lại và xoắn ốc. Lúc đầu, hoạt động, hay sự tương tác giữa hình tướng nguyên tử thấp quay tròn và ảnh hưởng của Chân thần, thì trì trệ, chậm chạp và nặng nề, và hình tướng làm chậm tác động của Chân thần, còn rung động nặng nề của nó có khuynh hướng hóa giải cái cao hơn. Dần dần, khi các vòng xoắn quét qua thực hiện phần việc của chúng, rung động cao hơn tự làm cho mình được cảm nhận, và hoạt động, hay chuyển động, trở nên quân bình hơn, nhưng nhẹ hơn. Cứ thế các chu kỳ vận hành cho đến khi nhịp điệu hay rung động cao hơn trở nên áp đảo đến mức ảnh hưởng của hình tướng bị phủ nhận, và dẫn đến việc cuối cùng bị loại bỏ. Đồng thời với điều này, nhịp điệu cao nhất trong tất cả cũng tự làm cho mình được cảm nhận, dẫn đến hoạt động gia tăng trên các cõi cao nhất, và theo thời gian tạo ra sự phủ nhận đời sống vỏ bọc của chân ngã. Như Cổ Luận lại nói:
“The drops of moisture grow heavier. They break as rain upon the lowest plane. They sink into the clay and cause it to blossom. Thus do the waters cover the earth and all the cycles.
“Những giọt ẩm khí trở nên nặng hơn. Chúng vỡ ra thành mưa trên cõi thấp nhất. Chúng thấm vào đất sét và khiến nó nở hoa. Như thế nước phủ khắp mặt đất và mọi chu kỳ.
Two are the objectives of the fathering drops, and each attained in vastly separated cycles; one is to sink and lose itself in the dark soil of earth; the other to rise and merge itself in the clear air of heaven.
Hai là những mục tiêu của các giọt do người cha sinh ra, và mỗi mục tiêu đạt được trong những chu kỳ cách biệt vô cùng lớn; một là chìm xuống và đánh mất chính mình trong lớp đất tối của địa cầu; mục tiêu kia là vươn lên và hòa nhập chính mình vào bầu không khí trong sáng của thiên giới.
Between the two vast periods the heat doth play its part.
Giữa hai thời kỳ bao la ấy, nhiệt lực thực hiện phần việc của nó.
But when the heat grows fierce, and the fires within the earth and beneath the waters burn hot and flow, the nature of the many drops is seen to undergo a change. They dissipate in steam. Thus doth the heat perform its part.
Nhưng khi nhiệt lực trở nên dữ dội, và các ngọn lửa bên trong địa cầu và dưới làn nước bốc cháy nóng bỏng và tuôn chảy, bản chất của nhiều giọt được thấy là trải qua một sự chuyển đổi. Chúng tiêu tan thành hơi nước. Như thế nhiệt lực thực hiện phần việc của nó.
Later again the fire electric flashes forth, and turns the steam to that which will permit its passage through the air.”
Về sau nữa, lửa điện lóe ra, và biến hơi nước thành cái sẽ cho phép nó đi xuyên qua không khí.”
We will now sum up briefly the various vibratory impulses which have a definite effect upon the Monad, and which must be borne in mind as we consider the evolution [Page 1050] of the Divine Pilgrim. It is not the purpose of this Treatise to enlarge upon each distinctive impulse. It but seeks to indicate, leaving to later individual students the expansion of the imparted ideas.
Giờ đây chúng ta sẽ tóm lược ngắn gọn các xung lực rung động khác nhau có ảnh hưởng xác định lên Chân thần, và cần phải được ghi nhớ khi chúng ta xem xét sự tiến hoá [Page 1050] của Người Hành Hương Thiêng Liêng. Mục đích của Luận về này không phải là khai triển từng xung lực riêng biệt. Nó chỉ tìm cách chỉ ra, để cho các đạo sinh cá nhân về sau tự mình mở rộng những ý tưởng đã được truyền đạt.
1. Three impulses inherent in the three periodical vehicles, as H. P. B. terms the three main centres of energy through which the Monad manifests:
1. Ba xung lực cố hữu trong ba vận cụ tuần hoàn, như H. P. B. gọi ba trung tâm năng lượng chính mà qua đó Chân thần biểu lộ:
a. The energy of the monadic ring-pass-not, viewing it as a unit.
a. Năng lượng của vòng-giới-hạn chân thần, xét nó như một đơn vị.
b. The energy of the causal body, within the monadic periphery.
b. Năng lượng của thể nguyên nhân, bên trong chu vi chân thần.
c. The energy of the physical body, the synthesis upon the physical plane of the force pouring through into manifestation through the three permanent atoms.
c. Năng lượng của thể xác, sự tổng hợp trên cõi hồng trần của mãnh lực tuôn vào biểu lộ qua ba nguyên tử trường tồn.
2. The activity set up in the seven etheric centres of force, the result of the activity of the seven principles:
2. Hoạt động được thiết lập trong bảy trung tâm mãnh lực dĩ thái, là kết quả của hoạt động của bảy nguyên khí:
a. The head centre—esoteric seven with an exoteric three.
a. Trung tâm đầu—bảy huyền bí với ba ngoại môn.
b. The throat centre.
b. Trung tâm cổ họng.
c. The heart centre—an esoteric three and exoteric seven.
c. Trung tâm tim—ba huyền bí và bảy ngoại môn.
d. The solar plexus—an esoteric three and exoteric four.
d. Tùng thái dương—ba huyền bí và bốn ngoại môn.
e. The organs of generation—an esoteric two.
e. Các cơ quan sinh sản—một hai huyền bí.
f. The base of the spine—an esoteric unity.
f. Đáy cột sống—một hợp nhất huyền bí.
3. The inherent activity of every atom in every sheath, which produces the rhythm of the sheath.
3. Hoạt động cố hữu của mọi nguyên tử trong mọi vỏ bọc, tạo ra nhịp điệu của vỏ bọc.
4. The unified activity of every sheath or form which the divine Pilgrim uses.
4. Hoạt động hợp nhất của mọi vỏ bọc hay hình tướng mà Người Hành Hương thiêng liêng sử dụng.
5. The united active motion produced by the unification of the three vehicles, the seven sheaths, the force centres, and the atomic substance.
5. Chuyển động hoạt động hợp nhất được tạo ra bởi sự hợp nhất của ba vận cụ, bảy vỏ bọc, các trung tâm lực, và chất liệu nguyên tử.
6. The effect produced by the action of the groups karmically allied with the Pilgrim. They are: [Page 1051]
6. Hiệu quả được tạo ra bởi tác động của các nhóm có liên hệ nghiệp quả với Người Hành Hương. Đó là: [Page 1051]
a. His Ray vibration, his monadic group.
a. Rung động cung của y, nhóm chân thần của y.
b. His subray vibration, or the vibration of the egoic group.
b. Rung động cung phụ của y, hay rung động của nhóm chân ngã.
c. His personality affiliations, such as his family, racial, and national energy. All of these play upon the sensitive atoms in the various bodies and produce specific effects.
c. Những liên hệ phàm ngã của y, như năng lượng gia đình, chủng tộc và quốc gia của y. Tất cả những điều này tác động lên các nguyên tử nhạy cảm trong những thể khác nhau và tạo ra các hiệu quả đặc thù.
7. The activity or motion initiated and stimulated by the life of any of the three lower kingdoms in nature,—all of which produce definite results.
7. Hoạt động hay chuyển động được khởi xướng và kích thích bởi sự sống của bất kỳ giới nào trong ba giới thấp của bản chất,—tất cả đều tạo ra những kết quả xác định.
8. The vibration of the particular planet upon which the monad may be seeking expression and experience.
8. Rung động của hành tinh đặc thù mà trên đó chân thần có thể đang tìm cách biểu lộ và kinh nghiệm.
9. The effect produced in the substance of the sheaths by the influences, or vibrations, of the various planets. This, esoterically understood, is the influence of some one or other of the solar centres, as the forces emanating from them play upon the planetary centres and thereby affect the involved monadic units. This is hidden in the karma of the Heavenly Man, and when true esoteric astrology comes into being then more anent this will be given out. Astrology as now studied and taught misleads more than it helps, and astrological students are as yet learning but the a-b-c of this stupendous subject, and are occupied with the exoteric fringes of that great veil which has been wisely thrown over all planetary lore.
9. Hiệu quả được tạo ra trong chất liệu của các vỏ bọc bởi các ảnh hưởng, hay rung động, của các hành tinh khác nhau. Điều này, khi được thấu hiểu một cách huyền bí, là ảnh hưởng của một trung tâm thái dương nào đó, khi các mãnh lực phát ra từ đó tác động lên các trung tâm hành tinh và nhờ vậy ảnh hưởng đến các đơn vị chân thần liên can. Điều này ẩn giấu trong nghiệp quả của Đấng Thiên Nhân, và khi chiêm tinh học nội môn chân chính xuất hiện thì sẽ có thêm nhiều điều về vấn đề này được công bố. Chiêm tinh học như hiện nay được nghiên cứu và giảng dạy gây lạc hướng nhiều hơn là giúp ích, và các đạo sinh chiêm tinh cho đến nay mới chỉ học bảng chữ cái a-b-c của chủ đề vĩ đại này, và đang bận tâm với những rìa ngoại môn của bức màn lớn đã được khôn ngoan phủ lên mọi tri thức hành tinh.
10. Another form of energy which must ever be considered is that of the planetary Logos, as He pours His force through some one chain or some one globe upon the groups of evolving human units. This—from the human standpoint—cannot as yet be calculated, as it is dependent upon the occult “turning of the attention” by the planetary Logos in meditation upon any centre in His body corporate. It is, of course, all under cosmic law, but beyond the realisation of man. It involves cognisance [Page 1052] of the planetary individual purpose, which is not revealed until the later initiations.
10. Một dạng năng lượng khác luôn luôn phải được xét đến là năng lượng của Hành Tinh Thượng đế, khi Ngài tuôn mãnh lực của Ngài qua một dãy nào đó hay một bầu hành tinh nào đó lên các nhóm đơn vị nhân loại đang tiến hoá. Điều này—xét theo quan điểm nhân loại—hiện chưa thể tính toán được, vì nó tùy thuộc vào sự “chuyển hướng chú ý” huyền bí của Hành Tinh Thượng đế trong tham thiền lên bất kỳ trung tâm nào trong thể hợp nhất của Ngài. Dĩ nhiên, tất cả đều ở dưới định luật vũ trụ, nhưng vượt ngoài sự chứng nghiệm của con người. Nó bao hàm sự nhận biết [Page 1052] về mục đích cá nhân của hành tinh, điều không được mặc khải cho đến các lần điểm đạo về sau.
11. The inherent energy of the solar atom itself has likewise a rhythmic effect upon the individual Monad, and though it only reaches the monad via the greater centres of Existence yet it has its effect upon one and all. This is another factor not sufficiently recognised.
11. Năng lượng cố hữu của chính nguyên tử thái dương cũng có một hiệu quả nhịp điệu lên Chân thần cá nhân, và dù nó chỉ đến với chân thần qua các trung tâm lớn hơn của Tồn Tại, nó vẫn có ảnh hưởng lên từng đơn vị và tất cả. Đây là một yếu tố khác chưa được nhìn nhận đầy đủ.
12. Finally, the energy of the greater life (in which our solar system but forms a part) has to be reckoned with, and the impulses emanating from the cosmic Logos, the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID reach the monadic lives and produce stimulation or retardation according to the nature of the cosmic ideation. These are necessarily entirely outside the ken of average man and are only touched upon as no tabulation would be complete without them.
12. Sau cùng, năng lượng của sự sống lớn hơn (trong đó hệ mặt trời của chúng ta chỉ tạo thành một phần) cũng phải được tính đến, và các xung lực phát ra từ Thượng đế Vũ Trụ, Đấng Bất Khả Tư Nghị, đến được các sự sống chân thần và tạo ra sự kích thích hay làm chậm trễ tùy theo bản chất của ý niệm vũ trụ. Những điều này tất yếu hoàn toàn vượt ngoài tầm hiểu biết của con người trung bình và chỉ được đề cập thoáng qua vì không có bảng liệt kê nào là đầy đủ nếu thiếu chúng.
13. There is also to be borne in mind the play of energy which emanates from any one of those “Twelve signs of the Zodiac” with which astrology concerns itself. This type of force is primarily concerned with planetary stimulation, with the planetary Logoi, and is hidden in Their cyclic karma,—a karma which of course will incidentally involve those monads and devas which form Their bodies and centres.
13. Cũng cần ghi nhớ sự vận hành của năng lượng phát ra từ bất kỳ một trong “Mười Hai dấu hiệu hoàng đạo” mà chiêm tinh học quan tâm. Loại mãnh lực này trước hết liên hệ đến sự kích thích hành tinh, đến các Hành Tinh Thượng đế, và ẩn giấu trong nghiệp quả chu kỳ của Các Ngài,—một nghiệp quả dĩ nhiên sẽ ngẫu nhiên bao hàm những chân thần và thiên thần tạo thành các thể và các trung tâm của Các Ngài.
14. We must not ignore the three great waves of energy which sweep cyclically through the entire solar system from:
14. Chúng ta không được bỏ qua ba làn sóng năng lượng lớn quét qua toàn thể hệ mặt trời theo chu kỳ từ:
a. The seven stars of the Great Bear. The strength of these vibrations depends upon the closeness of the connection and the accuracy of the alignment between any particular Heavenly Man and His Prototype. The mystery here is profound; it is connected with the stage in evolution of the “imperfect gods” and the objective of the planetary deities. [Page 1053]
a. Bảy ngôi sao của Đại Hùng Tinh. Sức mạnh của các rung động này tùy thuộc vào mức độ gần gũi của mối liên hệ và độ chính xác của sự chỉnh hợp giữa bất kỳ Đấng Thiên Nhân đặc thù nào với Nguyên Mẫu của Ngài. Huyền nhiệm ở đây thật sâu xa; nó liên hệ đến giai đoạn tiến hoá của các “vị thần bất toàn” và mục tiêu của các thần linh hành tinh. [Page 1053]
b. The Seven Sisters, or the Pleiades, and from that one in particular who is occultly termed “the wife” of the planetary Logos whose scheme will eventually receive the seeds of life from our planet, which is not considered a sacred planet, as has before been stated.
b. Bảy Chị Em, hay Pleiades, và đặc biệt từ một vị trong số đó, được gọi một cách huyền bí là “người vợ” của Hành Tinh Thượng đế mà hệ hành tinh của Ngài rốt cuộc sẽ nhận các hạt giống sự sống từ hành tinh chúng ta, vốn không được xem là một hành tinh thiêng liêng, như đã nói trước đây.
c. The sun Sirius.
c. Mặt trời Sirius.
There are other streams of energetic force which have an effect upon the Pilgrim everywhere, but the above enumeration will serve to show the complexity of the subject and the vastness of the scheme of evolution. All these vibratory emanations pass through the sphere cyclically; they come and go, and according to their presence or their non presence and according to the stage of evolution of the emanating Existence will depend the phenomenal character of all life, will depend the nature of any specific period, and the quality of the manifesting Monads. It is the appearance or the disappearance of these waves of life-force (planetary, inter-planetary, systemic, cosmic and inter-cosmic) which sweeps into incarnation the divine pilgrims, and which brings about the cyclic manifestation of such great Lives as the “Silent Watcher” and the “Great Sacrifice”; it is this which causes also the dissolution of a scheme, and its reappearance, and is responsible for the transportation of the life seeds from one scheme to another, or from one solar system to another.
Còn có những dòng mãnh lực năng lượng khác có ảnh hưởng lên Người Hành Hương ở khắp nơi, nhưng sự liệt kê trên đủ để cho thấy tính phức tạp của chủ đề và sự bao la của hệ thống tiến hoá. Tất cả những phát xạ rung động này đi qua khối cầu theo chu kỳ; chúng đến rồi đi, và tùy theo sự hiện diện hay vắng mặt của chúng, cũng như tùy theo giai đoạn tiến hoá của Tồn Tại phát xạ, mà tính chất hiện tượng của mọi sự sống, bản chất của bất kỳ thời kỳ đặc thù nào, và phẩm tính của các Chân thần đang biểu lộ sẽ được quyết định. Chính sự xuất hiện hay biến mất của những làn sóng sinh lực này (hành tinh, liên hành tinh, hệ thống, vũ trụ và liên vũ trụ) cuốn các người hành hương thiêng liêng vào lâm phàm, và mang lại sự biểu lộ theo chu kỳ của những Sự sống vĩ đại như “Đấng Quan Sát Thầm Lặng” và “Đại Hi Sinh”; chính điều này cũng gây ra sự tan rã của một hệ hành tinh và sự tái xuất hiện của nó, đồng thời chịu trách nhiệm cho việc chuyển vận các hạt giống sự sống từ hệ hành tinh này sang hệ hành tinh khác, hay từ hệ mặt trời này sang hệ mặt trời khác.
In this great tide of forces, the Monads are swept along; their aggregate is termed the “force of evolution,” and the life and persistence of the initiatory Being sets the term for their duration. Man is but the plaything of the forces which gather him up and carry him on, just as the atom, in the human frame is but the obedient servant of the man’s imposing direction; yet within limits man is the controller of his destiny; within [Page 1054] limits he wields forces and energies, he manipulates lesser lives and controls lesser centres of energy, and as time slips away his radius of control becomes ever more extensive.
Trong thủy triều mãnh lực vĩ đại này, các Chân thần bị cuốn đi; tổng thể của chúng được gọi là “mãnh lực tiến hoá,” và sự sống cùng sự bền vững của Hữu thể điểm đạo đặt ra giới hạn cho thời lượng của chúng. Con người chỉ là món đồ chơi của những mãnh lực gom lấy y và mang y đi, cũng như nguyên tử trong cơ thể con người chỉ là kẻ phụng sự vâng lời cho sự chỉ đạo áp đặt của con người; tuy nhiên trong những giới hạn nhất định, con người là kẻ kiểm soát số phận của mình; trong [Page 1054] những giới hạn ấy, y vận dụng các mãnh lực và năng lượng, y thao tác các sự sống nhỏ hơn và kiểm soát các trung tâm năng lượng nhỏ hơn, và theo thời gian bán kính kiểm soát của y ngày càng mở rộng hơn.
The atom controls its own central life; man can control the sets of lives who form his three bodies; the initiate and the adept are controlling energies of many kinds in the three worlds, as the Chohan does on the five planes of evolution. Thus the plan is carried forward until the Army of the Voice become themselves the Sounder of the Words, and the Sounders of the Words become the Word itself.
Nguyên tử kiểm soát sự sống trung tâm của chính nó; con người có thể kiểm soát các tập hợp sự sống tạo thành ba thể của mình; điểm đạo đồ và chân sư đang kiểm soát nhiều loại năng lượng trong ba cõi giới, cũng như Chohan làm như vậy trên năm cõi tiến hoá. Như thế Thiên Cơ được đưa tới phía trước cho đến khi Đạo Quân của Tiếng Nói tự mình trở thành những Đấng Xướng các Linh từ, và những Đấng Xướng các Linh từ trở thành chính Linh từ.
It will, therefore, be apparent, that the “Law of Monadic Return” which we have just been considering, is the sumtotal of those influences which have a direct bearing upon the monadic atoms, which affect its progress cyclically, and which stimulate it, or retard its activity according to the strength of the initiating life. It is only after initiation that the human atom reaches a stage in its development where forces and influences begin to be comprehended. When the methods are understood whereby adjustment is consciously made to extraneous force currents, resistance to retarding forces is initiated consciously and with scientific accuracy, and the man consciously puts himself into line with forces which will swing him along on the path of return. There is in this thought no undue complexity or cause for discouragement, for ever the potent force of electrical energy will offset the more lethargic vibration of solar fire, and solar fire itself in due time will negate the effects of “fire by friction.”
Do đó, sẽ rõ ràng rằng “Định luật Trở Về của Chân thần” mà chúng ta vừa xem xét là tổng thể của những ảnh hưởng có liên hệ trực tiếp đến các nguyên tử chân thần, ảnh hưởng đến sự tiến bộ theo chu kỳ của nó, và kích thích nó hoặc làm chậm hoạt động của nó tùy theo sức mạnh của sự sống khởi xướng. Chỉ sau điểm đạo, nguyên tử nhân loại mới đạt đến một giai đoạn trong sự phát triển của mình mà ở đó các mãnh lực và ảnh hưởng bắt đầu được thấu hiểu. Khi các phương pháp được hiểu rõ nhờ đó sự điều chỉnh được thực hiện một cách có ý thức đối với các dòng mãnh lực bên ngoài, thì sự kháng cự đối với các mãnh lực làm chậm được khởi sự một cách có ý thức và với độ chính xác khoa học, và con người một cách có ý thức đặt mình vào hàng ngũ với các mãnh lực sẽ đưa y tiến bước trên Con Đường Trở Về. Trong tư tưởng này không có sự phức tạp quá mức hay nguyên nhân gây nản lòng nào, vì mãi mãi mãnh lực mạnh mẽ của năng lượng điện sẽ hóa giải rung động trì trệ hơn của Lửa Thái dương, và chính Lửa Thái dương đến đúng lúc sẽ phủ nhận các hiệu quả của “Lửa ma sát.”
3. The Law of Solar Evolution. — 3. Định luật Tiến Hoá Thái Dương.
It is, of course, a truism to state that the Law of Solar Evolution is the sum-total of all the lesser activities. [Page 1055] We might consider this point in connection with the planetary atom, and the solar atom.
Dĩ nhiên, nói rằng Định luật Tiến Hoá Thái Dương là tổng thể của mọi hoạt động nhỏ hơn chỉ là một điều hiển nhiên. [Page 1055] Chúng ta có thể xem xét điểm này trong liên hệ với nguyên tử hành tinh và nguyên tử thái dương.
The planetary atom has, as all else in nature, three main activities:
Nguyên tử hành tinh, như mọi thứ khác trong bản chất, có ba hoạt động chính:
First. It rotates upon its own axis, revolves cyclically within its own ring-pass-not, and thus displays its own inherent energy. What is meant by this phrase? Surely that the milliards of atoms which compose the planetary body (whether dense or subtle) pursue an orbital course around the central energetic positive unit. This dynamic force centre must be considered as subsisting naturally in two locations (if such an unsuitable term is permissible) according to the stage, usage, and particular type of the indwelling planetary entity.
Thứ nhất. Nó quay trên trục của chính nó, vận hành theo chu kỳ bên trong vòng-giới-hạn của chính nó, và như thế biểu lộ năng lượng cố hữu của nó. Cụm từ này có nghĩa gì? Chắc chắn là hàng tỷ tỷ nguyên tử cấu thành thể hành tinh (dù đậm đặc hay vi tế) theo đuổi một quỹ đạo quanh đơn vị dương tính năng lượng trung tâm. Trung tâm mãnh lực năng động này phải được xem là tồn tại một cách tự nhiên ở hai vị trí (nếu có thể cho phép dùng một thuật ngữ không thích hợp như vậy) tùy theo giai đoạn, công dụng và loại hình đặc thù của thực thể hành tinh nội tại.
a. In what corresponds to the head centre in man, if the planetary Logos is of very advanced development.
a. Trong cái tương ứng với trung tâm đầu nơi con người, nếu Hành Tinh Thượng đế đã phát triển rất cao.
b. In the planetary correspondence to the heart centre.
b. Trong sự tương ứng hành tinh với trung tâm tim.
The throat centre is, of course, ever vibrant in all the Logoi, as all are fully intelligent Creators, having perfected this capacity in an earlier solar system.
Dĩ nhiên, trung tâm cổ họng luôn luôn rung động trong mọi Thượng đế, vì tất cả đều là những Đấng Sáng Tạo hoàn toàn thông minh, đã hoàn thiện năng lực này trong một hệ mặt trời trước kia.
Students should here bear in mind that these centres of force are to be found depicted in the central Triangles upon the chart on page 373, though no indication is to be found through a study of such triangles as to the relative attainment of the planetary Logos. Within the chains likewise, will be found corresponding centres of energy, and also within the dense physical body of the Logos of any scheme, the physical planet.
Ở đây, các đạo sinh nên ghi nhớ rằng những trung tâm mãnh lực này được mô tả trong các Tam Giác trung tâm trên biểu đồ ở trang 373, dù không thể tìm thấy dấu hiệu nào qua việc nghiên cứu các tam giác ấy về mức độ thành tựu tương đối của Hành Tinh Thượng đế. Bên trong các dãy cũng sẽ tìm thấy những trung tâm năng lượng tương ứng, và cũng vậy bên trong thể xác đậm đặc của Thượng đế của bất kỳ hệ hành tinh nào, tức hành tinh hồng trần.
One such centre is to be found at the North Pole, and two more are located within the planetary sphere, and frequently the inflow of force or energy to these internal centres (via the polar centre) results in those disasters we call earthquakes, and volcanic eruptions.
Một trung tâm như thế được tìm thấy ở Bắc Cực, và hai trung tâm khác nằm bên trong khối cầu hành tinh, và thường thì sự tuôn vào của mãnh lực hay năng lượng đến các trung tâm nội tại này (qua trung tâm cực) gây ra những tai họa mà chúng ta gọi là động đất và phun trào núi lửa.
There is, as we know, a cyclic shifting of polar inclination, [Page 1056] due to the gradually increasing responsiveness of the planetary Logos to His heavenly Prototype, whereby influences from the Great Bear draw, or occultly “attract,” the attention of the Logos, and bring Him more into line with a greater impulsive Will. This shifting causes disruption in His lower manifestation, which is a condition on the cosmic Path of Initiation analogous to that undergone by a disciple.
Như chúng ta biết, có một sự chuyển dịch theo chu kỳ của độ nghiêng cực, [Page 1056] do sự đáp ứng ngày càng tăng của Hành Tinh Thượng đế đối với Nguyên Mẫu thiên thượng của Ngài, nhờ đó các ảnh hưởng từ Đại Hùng Tinh lôi kéo, hay một cách huyền bí “thu hút,” sự chú ý của Thượng đế, và đưa Ngài chỉnh hợp hơn với một Ý Chí xung động lớn hơn. Sự chuyển dịch này gây ra sự gián đoạn trong biểu lộ thấp của Ngài, là một tình trạng trên Con Đường Điểm Đạo vũ trụ tương tự với điều mà một đệ tử phải trải qua.
The planetary atom revolves upon its axis and comes periodically under influences which produce definite effects. These influences are, among others, those of the moon, and of the two planets which lie nearest to it on either side—nearer and farther away from the Sun. The moon’s influence is exceedingly strong, and has a curious resemblance (as far as the physical planet is concerned) to the “Dweller on the Threshold,” which has such a familiar and potent effect upon the human atom. The resemblance must not be strained, for it should be borne in mind that the moon has no effect upon the Heavenly Man Himself, as His stage of evolution negates such a thing, but that the influence felt is by the planetary Entity the sumtotal of the elemental essences of the planet. Scientific occult students will learn much anent the planetary scheme when they consider the influence of the moon’s karmic pull upon the earth, coupled with the effect of the two neighboring planets, occultly understood.
Nguyên tử hành tinh quay trên trục của nó và định kỳ chịu những ảnh hưởng tạo ra các hiệu quả xác định. Trong số những ảnh hưởng này có ảnh hưởng của mặt trăng, và của hai hành tinh nằm gần nó nhất ở hai phía—gần Mặt Trời hơn và xa Mặt Trời hơn. Ảnh hưởng của mặt trăng cực kỳ mạnh, và có một sự tương tự kỳ lạ (xét theo hành tinh hồng trần) với “Kẻ Chận Ngõ,” vốn có một hiệu quả quen thuộc và mạnh mẽ như vậy lên nguyên tử nhân loại. Sự tương tự này không nên bị đẩy quá xa, vì cần ghi nhớ rằng mặt trăng không có ảnh hưởng nào lên chính Đấng Thiên Nhân, vì giai đoạn tiến hoá của Ngài phủ nhận điều đó, nhưng ảnh hưởng được cảm nhận là bởi Thực Thể Hành Tinh, tức tổng thể của các tinh chất hành khí của hành tinh. Các đạo sinh huyền bí học khoa học sẽ học được nhiều điều về hệ hành tinh khi họ xem xét ảnh hưởng của lực kéo nghiệp quả của mặt trăng lên địa cầu, kết hợp với hiệu quả của hai hành tinh lân cận, được hiểu theo nghĩa huyền bí.
Second, the planetary atom also revolves orbitally around its solar centre. This is its expression of rotary-spiral-cyclic action, and its recognition of the divine central magnet. This brings it under the constant impression of other schemes, each of which produces effects upon the planet. It likewise brings it under the inflowing streams of energy from what are termed the zodiacal constellations which reach the planetary scheme via the great centre, the Sun. It will be apparent to any student [Page 1057] who has even slightly developed the power of visualisation, and has some realisation of the force currents of the solar system, that all can be regarded as the swirling tide of intermingling currents, with numerous focal points of energy demonstrating here and there, yet in no way static as to location.
Thứ hai, nguyên tử hành tinh cũng quay theo quỹ đạo quanh trung tâm thái dương của nó. Đây là biểu hiện của nó về hoạt động quay tròn-xoắn ốc-theo chu kỳ, và là sự nhìn nhận của nó đối với nam châm trung tâm thiêng liêng. Điều này đặt nó dưới ấn tượng thường xuyên của các hệ hành tinh khác, mỗi hệ đều tạo ra những hiệu quả lên hành tinh. Nó cũng đặt nó dưới các dòng năng lượng tuôn vào từ những gì được gọi là các chòm sao hoàng đạo, đến với hệ hành tinh qua trung tâm lớn, tức Mặt Trời. Sẽ rõ ràng đối với bất kỳ đạo sinh nào [Page 1057] dù chỉ phát triển đôi chút năng lực hình dung, và có chút chứng nghiệm về các dòng mãnh lực của hệ mặt trời, rằng tất cả có thể được xem như thủy triều xoáy cuộn của các dòng giao hòa, với vô số tiêu điểm năng lượng biểu lộ đây đó, nhưng tuyệt nhiên không tĩnh tại về vị trí.
The third activity of the planetary atom is that which carries it through space along with the entire solar system, and which embodies its “drift” or inclination towards the systemic orbit in the heavens.
Hoạt động thứ ba của nguyên tử hành tinh là hoạt động mang nó xuyên qua không gian cùng với toàn thể hệ mặt trời, và thể hiện “độ trôi” hay khuynh hướng của nó hướng về quỹ đạo hệ thống trong các tầng trời.
The solar atom must be considered as pursuing analogous lines of activity and as paralleling on a vast scale the evolution of the planetary atom. The entire solar sphere, the logoic ring-pass-not, rotates upon its axis, and thus all that is included within the sphere is carried in a circular manner through the Heavens. The exact figures of the cycle which covers the vast rotation must remain as yet esoteric, but it may be stated that it approximates one hundred thousand years, being, as might be supposed, controlled by the energy of the first aspect, and therefore of the first Ray. This of itself is sufficient to account for varying and diverse influences which may be traced over vast periods by those with the “seeing eye,” for it causes a turning of varying parts of the sphere to the differing zodiacal constellations. This influence (in connection with the planets) is increased or mitigated according to the place of the planets on their various orbital paths. Hence the immense complexity of the matter and the impossibility for the average astronomical and astrological student to make accurate computations or to draw accurate horoscopes. Within the Hall of Wisdom, there exists a department of which the modern varying astrological organisations are but the dim and uncertain reflections. The Adepts connected with it work not with humanity but concern Themselves specifically with “casting the horoscopes” (thus [Page 1058] ascertaining the nature of the work immediately to be done) of the various great lives who inform the globes and kingdoms of nature, with ascertaining the nature of the karmic influences working out in the manifestation of three of the planetary Logoi:
Nguyên tử thái dương phải được xem là theo đuổi những đường hoạt động tương tự và song hành trên một quy mô bao la với sự tiến hoá của nguyên tử hành tinh. Toàn thể khối cầu thái dương, vòng-giới-hạn của Thượng đế, quay trên trục của nó, và như thế mọi thứ được bao gồm trong khối cầu đều được mang đi theo cách tròn xoay qua các tầng trời. Các con số chính xác của chu kỳ bao trùm sự quay bao la này hiện vẫn phải là huyền bí, nhưng có thể nói rằng nó xấp xỉ một trăm ngàn năm, và như có thể giả định, được kiểm soát bởi năng lượng của phương diện thứ nhất, do đó bởi Cung một. Chỉ riêng điều này cũng đủ để giải thích những ảnh hưởng biến thiên và đa dạng mà những ai có “mắt thấy” có thể truy nguyên qua những thời kỳ bao la, vì nó gây ra sự xoay chuyển của những phần khác nhau của khối cầu về phía các chòm sao hoàng đạo khác nhau. Ảnh hưởng này (liên hệ với các hành tinh) được tăng cường hay giảm nhẹ tùy theo vị trí của các hành tinh trên những quỹ đạo khác nhau của chúng. Do đó mới có sự phức tạp vô cùng của vấn đề và sự bất khả đối với đạo sinh thiên văn và chiêm tinh trung bình trong việc thực hiện các tính toán chính xác hay lập các lá số chiêm tinh chính xác. Trong Phòng Minh triết có một bộ phận mà các tổ chức chiêm tinh hiện đại khác nhau chỉ là những phản ánh mờ nhạt và bất định. Các chân sư liên hệ với bộ phận ấy không làm việc với nhân loại mà chuyên biệt quan tâm đến việc “lập lá số chiêm tinh” (nhờ đó [Page 1058] xác định bản chất của công việc phải làm ngay) cho các sự sống vĩ đại khác nhau phú linh các bầu hành tinh và các giới trong bản chất, và xác định bản chất của các ảnh hưởng nghiệp quả đang vận hành trong sự biểu lộ của ba Hành Tinh Thượng đế:
1. Our own planetary Logos.
1. Hành Tinh Thượng đế của chính chúng ta.
2. The planetary Logos of our polar opposite.
2. Hành Tinh Thượng đế của cực đối nghịch của chúng ta.
3. The planetary Logos of the scheme which makes with the two above mentioned a planetary triangle.
3. Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh cùng với hai vị vừa nêu tạo thành một tam giác hành tinh.
Beyond that, They may not go. They progress these various horoscopes for the next stated cycle, and Their records are of profound and significant interest. I would conjure students here to refrain from attempting (in years to come) to form cyclic computations of any kind, for as yet the many constellations which exist only in physical matter of an etheric nature are unknown and unseen. Yet they are potent in influence and until etheric vision is developed, all calculations will be full of error. It suffices for man as yet to master his own dharma, to fulfil group karma, and to dominate what is called “his stars.”
Vượt quá điều đó, Các Ngài không thể đi xa hơn. Các Ngài tiến trình các lá số chiêm tinh khác nhau này cho chu kỳ được ấn định kế tiếp, và hồ sơ của Các Ngài có sự quan tâm sâu xa và đầy thâm nghĩa. Ở đây tôi khẩn thiết yêu cầu các đạo sinh đừng cố gắng (trong những năm sắp tới) hình thành các tính toán chu kỳ dưới bất kỳ hình thức nào, vì cho đến nay nhiều chòm sao chỉ tồn tại trong vật chất hồng trần có bản chất dĩ thái vẫn chưa được biết đến và chưa được nhìn thấy. Tuy nhiên, chúng có ảnh hưởng mạnh mẽ, và cho đến khi linh thị dĩ thái được phát triển, mọi tính toán sẽ đầy sai lầm. Hiện nay, đối với con người, chỉ cần làm chủ dharma của chính mình, hoàn tất nghiệp quả nhóm, và chế ngự điều được gọi là “các ngôi sao của mình.”
Like the planetary atom, the solar atom not only rotates on its axis but likewise spirals in a cyclic fashion through the Heavens. This is a different activity to the drift or progressive dynamic motion through the Heavens. It deals with the revolution of our Sun around a central point and with its relation to the three constellations so oft referred to in this Treatise:
Giống như nguyên tử hành tinh, nguyên tử thái dương không những quay trên trục của nó mà còn xoắn ốc theo cách chu kỳ qua các tầng trời. Đây là một hoạt động khác với độ trôi hay chuyển động năng động tiến tới qua các tầng trời. Nó liên quan đến sự quay của Mặt Trời chúng ta quanh một điểm trung tâm và mối liên hệ của nó với ba chòm sao thường được nhắc đến trong Luận về
The Great Bear.
Đại Hùng Tinh.
The Pleiades.
Pleiades.
The Sun Sirius.
Mặt trời Sirius.
These three groups of solar bodies are of paramount influence where the spiral cyclic activity of our system is concerned. Just as in the human atom the spiral cyclic [Page 1059] activity is egoic and controlled from the egoic body, so in connection with the solar system these three groups are related to the logoic Spiritual Triad, atma-buddhi-manas, and their influence is dominant in connection with solar incarnation, with solar evolution, and with solar progress.
Ba nhóm thiên thể thái dương này có ảnh hưởng tối quan trọng khi xét đến hoạt động xoắn ốc theo chu kỳ của hệ chúng ta. Cũng như trong nguyên tử nhân loại, hoạt động xoắn ốc theo chu kỳ [Page 1059] là chân ngã và được kiểm soát từ thể chân ngã, thì trong liên hệ với hệ mặt trời, ba nhóm này liên hệ với Tam Nguyên Tinh Thần của Thượng đế, atma-buddhi-manas, và ảnh hưởng của chúng là chủ đạo trong liên hệ với sự lâm phàm thái dương, sự tiến hoá thái dương, và sự tiến bộ thái dương.
Further, it must be added that the third type of motion to which our system is subjected, that of progress onward, is the result of the united activity of the seven constellations (our solar system forming one of the seven) which form the seven centres of the cosmic Logos. This united activity produces a uniform and steady push (if it might so be expressed) toward a point in the heavens unknown as yet to even the planetary Logoi.
Hơn nữa, cần nói thêm rằng loại chuyển động thứ ba mà hệ chúng ta chịu tác động, tức sự tiến tới, là kết quả của hoạt động hợp nhất của bảy chòm sao (hệ mặt trời chúng ta tạo thành một trong bảy) tạo thành bảy trung tâm của Thượng đế vũ trụ. Hoạt động hợp nhất này tạo ra một sự thúc đẩy đồng đều và ổn định (nếu có thể diễn tả như vậy) hướng về một điểm trên trời mà ngay cả các Hành Tinh Thượng đế cũng chưa biết.
The confines of the Heavens Themselves are illimitable and utterly unknown. Naught but the wildest speculation is possible to the tiny finite minds of men and it profits us not to consider the question. Go out on some clear starlit night and seek to realise that in the many thousands of suns and constellations visible to the unaided eye of man, and in the tens of millions which the modern telescope reveals there is seen the physical manifestation of as many millions of intelligent existences; this infers that what is visible is simply those existences who are in incarnation. But only one-seventh of the possible appearances are incarnating. Six-sevenths are out of incarnation, waiting their turn to manifest, and holding back from incarnation until, in the turning of the great wheel, suitable and better conditions may eventuate.
Chính các biên giới của các tầng trời là vô hạn và hoàn toàn không được biết đến. Đối với những trí tuệ nhỏ bé hữu hạn của con người, không gì ngoài sự suy đoán táo bạo nhất là có thể, và việc xem xét câu hỏi này không đem lại ích lợi gì cho chúng ta. Hãy ra ngoài vào một đêm quang đãng đầy sao nào đó và cố gắng chứng nghiệm rằng trong hàng ngàn mặt trời và chòm sao mà mắt thường của con người nhìn thấy, và trong hàng chục triệu mà kính thiên văn hiện đại phơi bày, người ta thấy sự biểu lộ hồng trần của cũng từng ấy triệu tồn tại thông minh; điều này hàm ý rằng cái được nhìn thấy chỉ đơn giản là những tồn tại đang lâm phàm. Nhưng chỉ một phần bảy của những sắc tướng khả hữu là đang lâm phàm. Sáu phần bảy ở ngoài lâm phàm, chờ đến lượt biểu lộ, và trì hoãn việc lâm phàm cho đến khi, trong sự quay của bánh xe lớn, những điều kiện thích hợp và tốt đẹp hơn có thể xuất hiện.
Realise further that the bodies of all these sentient intelligent cosmic, solar and planetary Logoi are constituted of living sentient beings, and the brain reels, and the mind draws back in dismay before such a staggering concept. Yet so it is, and so all moves forward to some unfathomable and magnificent consummation which will only in part begin to be visioned by us when our consciousness [Page 1060] has expanded beyond the cosmic physical plane, and beyond the cosmic astral until it can “conceive and think” upon the cosmic mental plane. That supposes a realisation beyond that of the Buddhas who have the consciousness of the cosmic physical plane, and beyond that of the planetary Logoi. It is the consciousness and knowledge of a solar Logos.
Hãy chứng nghiệm thêm rằng các thể của tất cả những Thượng đế vũ trụ, thái dương và hành tinh hữu cảm, thông minh ấy được cấu thành bởi những hữu thể sống hữu cảm, và bộ não quay cuồng, còn trí tuệ lùi lại trong kinh hãi trước một quan niệm choáng ngợp như vậy. Tuy nhiên, đúng là như thế, và như thế mọi sự tiến bước đến một sự viên mãn huy hoàng không thể dò thấu mà chúng ta chỉ bắt đầu có thể linh thị được phần nào khi tâm thức [Page 1060] của chúng ta đã mở rộng vượt khỏi cõi hồng trần vũ trụ, và vượt khỏi cõi cảm dục vũ trụ cho đến khi nó có thể “quan niệm và suy tư” trên cõi trí vũ trụ. Điều đó giả định một sự chứng nghiệm vượt quá của các Đức Phật, những Đấng có tâm thức của cõi hồng trần vũ trụ, và vượt quá của các Hành Tinh Thượng đế. Đó là tâm thức và tri thức của một Thái dương Thượng đế.
To the occult student, who has developed the power of the inner vision, the vault of Heaven can therefore be seen as a blazing fire of light, and the stars as focal points of flame from which radiate streams of dynamic energy. Darkness is light to the illumined Seer, and the secret of the Heavens can be read and expressed in terms of force currents, energy centres, and dynamic fiery systemic peripheries.
Do đó, đối với đạo sinh huyền bí học, người đã phát triển năng lực linh thị bên trong, vòm trời có thể được thấy như một ngọn lửa ánh sáng rực cháy, và các ngôi sao như những tiêu điểm của ngọn lửa từ đó các dòng năng lượng năng động phát xạ. Bóng tối là ánh sáng đối với nhà thông nhãn được soi sáng, và bí mật của các tầng trời có thể được đọc và diễn đạt bằng những thuật ngữ của các dòng mãnh lực, các trung tâm năng lượng, và các chu vi hệ thống rực lửa năng động.
4. The Law of Radiation. — 4. Định luật Phát Xạ.