In the first section of this treatise we dealt somewhat with various phases of activity when considering “fire by friction,” and the fiery motion of substance itself. We will only touch on some further aspects of the matter, for it is necessary that the student should bear in mind certain [Page 1098] things. He should endeavour to ascertain the relationship between the universal mind (or the systemic mind) and cosmic mind, and seek to comprehend the purpose of the mental sheath, which is one of the most interesting of the various bodies on account of its fiery gaseous constitution. He should also seek to bring about through meditation that mental control and alignment which will result in stabilisation, and a responsiveness to causal impression. This will lead to the transmission of egoic instruction to the man on the physical plane.
Trong phần thứ nhất của bộ luận này, chúng ta đã phần nào bàn đến các giai đoạn khác nhau của hoạt động khi xem xét “Lửa ma sát,” và chuyển động rực lửa của chính chất liệu. Chúng ta sẽ chỉ đề cập đến một vài phương diện khác nữa của vấn đề, vì điều cần thiết là đạo sinh phải ghi nhớ một số [Page 1098] điều. Y nên cố gắng xác định mối liên hệ giữa trí tuệ vũ trụ (hay trí tuệ hệ thống) và trí tuệ vũ trụ lớn, đồng thời tìm cách thấu hiểu mục đích của thể trí, vốn là một trong những thể lý thú nhất trong các thể khác nhau do cấu tạo khí lửa của nó. Y cũng nên tìm cách, qua tham thiền, mang lại sự kiểm soát trí tuệ và sự chỉnh hợp sẽ dẫn đến sự ổn định, và khả năng đáp ứng với ấn tượng nguyên nhân. Điều này sẽ dẫn đến việc truyền đạt huấn thị chân ngã đến con người trên cõi hồng trần.
Certain points in connection with the mental sheath require emphasising, though it is not our purpose to do more than call attention to their nature. Under the law of correspondence, the student should be able to arrive at certain conclusions and judge wisely the assignment of purpose and place to the particular set of lunar pitris who form the vehicle.
Một số điểm liên quan đến thể trí cần được nhấn mạnh, dù mục đích của chúng ta không phải là làm gì hơn ngoài việc lưu ý đến bản chất của chúng. Theo định luật tương ứng, đạo sinh nên có khả năng đi đến một số kết luận và phán đoán một cách minh triết về sự phân công mục đích và vị trí cho nhóm thái âm tổ phụ đặc thù tạo thành vận cụ này.
The mental body is composed of only four types of essence, whereas the astral body and the physical are formed of seven types. The devas who compose this body are grouped together as “the cohorts of the fourth order” and have a close connection with that group of cosmic Lives who (through the impress of their influence upon solar matter) are responsible for the fact that our solar system is a system of the fourth order. This group of Lives is manipulated and controlled, in the macrocosmic sense, from cosmic mental levels via the central spiritual sun, and through what is called in esoteric parlance “the fourth solar cavity.” If students will meditate upon the nature of the human heart and its various divisions, and particularly upon one of the valves, light upon this complex problem may be forthcoming. There is a constant inflow of energy from these great Entities on cosmic mental levels; this inflow is the very life itself of the solar units who are the sumtotal of the four lower subplanes of the mental plane, and consequently the life [Page 1099] of the individual units who form the mental bodies of all human beings.
Thể trí chỉ được cấu thành từ bốn loại tinh chất, trong khi thể cảm dục và thể hồng trần được tạo thành từ bảy loại. Các thiên thần cấu thành thể này được nhóm lại với nhau thành “các đoàn quân của cấp thứ tư” và có liên hệ mật thiết với nhóm Các Sự Sống vũ trụ ấy, những Đấng (qua dấu ấn ảnh hưởng của Các Ngài lên vật chất thái dương) chịu trách nhiệm cho sự kiện rằng hệ mặt trời của chúng ta là một hệ thống thuộc cấp thứ tư. Nhóm Các Sự Sống này được vận dụng và kiểm soát, theo ý nghĩa đại thiên địa, từ các cấp độ trí tuệ vũ trụ qua Mặt trời Tinh thần Trung Ương, và qua điều được gọi trong huyền bí học là “khoang thái dương thứ tư.” Nếu các đạo sinh tham thiền về bản chất của trái tim con người và các phần phân chia khác nhau của nó, đặc biệt là về một trong các van tim, thì ánh sáng soi rọi vấn đề phức tạp này có thể xuất hiện. Có một dòng năng lượng tuôn vào liên tục từ các Thực Thể vĩ đại này trên các cấp độ trí tuệ vũ trụ; dòng tuôn vào này chính là sự sống của các đơn vị thái dương, là tổng số của bốn cõi phụ thấp của cõi trí, và do đó là sự sống [Page 1099] của các đơn vị cá biệt tạo thành các thể trí của toàn thể nhân loại.
It will be apparent to all careful students that on all the planes, the fourth subplane has a peculiar and close relation to the fourth Creative Hierarchy, that of the human monads, and this is peculiarly the case in connection with the mental body. Through the medium of the plane number (five), and the subplane number (four), the possibility of initiation for the human being becomes a fact and that particular form of activity which distinguishes his progress is brought about. There are, therefore, two main streams of energy responsible for the form of the mental sheaths,
Mọi đạo sinh cẩn trọng đều sẽ thấy rõ rằng trên mọi cõi, cõi phụ thứ tư có một liên hệ đặc biệt và mật thiết với Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, tức huyền giai của các chân thần nhân loại, và điều này đặc biệt đúng trong liên hệ với thể trí. Qua trung gian của số cõi (năm), và số cõi phụ (bốn), khả năng điểm đạo đối với con người trở thành một sự kiện, và hình thức hoạt động đặc thù phân biệt sự tiến bộ của y được mang lại. Vì vậy, có hai dòng năng lượng chính chịu trách nhiệm cho hình thức của các thể trí,
a. That emanating from the fourth subplane of the cosmic mental plane, including consequently the remaining three subplanes.
a. Dòng phát ra từ cõi phụ thứ tư của cõi trí vũ trụ, do đó bao gồm cả ba cõi phụ còn lại.
b. That emanating from the aggregate of those lives who form the fourth Creative Hierarchy. As we know, the esoteric number of this Hierarchy is nine, the exoteric number being four.
b. Dòng phát ra từ tổng thể những sự sống tạo thành Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư. Như chúng ta biết, con số huyền bí của Huyền Giai này là chín, còn con số ngoại môn là bốn.
It is the blending of these two streams of force which (within the confines of the three worlds) results in the progressive activity of man. When this is coupled with the self-engendered action of the individual atoms of any sheath, we have spiral-progressive motion. This is true macrocosmically and microcosmically, for the activity of the cosmic physical plane (our seven systemic planes), is largely dependent upon the co-ordinated activity of certain force manifestations, which might be enumerated as follows:
Chính sự hòa trộn của hai dòng mãnh lực này (trong phạm vi ba cõi thấp) tạo ra hoạt động tiến triển của con người. Khi điều này kết hợp với hành động tự phát sinh của các nguyên tử cá biệt trong bất kỳ thể nào, chúng ta có chuyển động xoắn ốc-tiến triển. Điều này đúng cả ở đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa, vì hoạt động của cõi hồng trần vũ trụ (bảy cõi hệ thống của chúng ta) phần lớn tùy thuộc vào hoạt động phối hợp của một số biểu hiện mãnh lực, có thể được liệt kê như sau:
a. That of the fourth Creative Hierarchy, who, in their aggregate, form the force centres.
a. Hoạt động của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, những Đấng mà trong tổng thể tạo thành các trung tâm lực.
b. The emanating influences of the fourth cosmic ether, the buddhic plane, upon which is dependent, [Page 1100] throughout the system, the manifestation of that which is tangible and objective.
b. Ảnh hưởng phát ra của dĩ thái vũ trụ thứ tư, tức cõi Bồ đề, mà trên đó tùy thuộc, [Page 1100] trong toàn hệ thống, sự biểu lộ của điều hữu hình và khách quan.
c. The opening up, both macrocosmically and microcosmically, of the fourth aspect of the solar and human egoic lotus; this is the revelation of the “Jewel in the Lotus,” and macrocosmically is the perfect co-ordination of the three aspects through the medium of substance; this is the completion of logoic purpose, which is that of the fourth group. It might be expressed otherwise:
c. Sự khai mở, cả ở đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa, của phương diện thứ tư của Hoa Sen Chân Ngã thái dương và nhân loại; đây là sự mặc khải của “Ngọc trong Hoa Sen,” và ở đại thiên địa là sự phối hợp hoàn hảo của ba phương diện qua trung gian của chất liệu; đây là sự hoàn tất mục đích của Thượng đế, vốn là mục đích của nhóm thứ tư. Có thể diễn đạt điều này theo cách khác:
“When all is known of the significance of fourth dimensional existence, then the fourth order with the fifth will complete the sacred nine.”
“Khi mọi điều về thâm nghĩa của sự tồn tại bốn chiều được biết đến, thì cấp thứ tư cùng với cấp thứ năm sẽ hoàn tất con số chín thiêng liêng.”
d. The specific alignment, interplay or free circulation of force simultaneously through the following manifestations of the one life:
d. Sự chỉnh hợp đặc thù, sự tương tác hay sự lưu thông tự do của mãnh lực đồng thời qua các biểu hiện sau đây của sự sống duy nhất:
1. The logoic Quaternary and equally the human.
1. Bộ Tứ của Thượng đế và tương ứng là của con người.
2. The fourth systemic ether.
2. Dĩ thái hệ thống thứ tư.
3. The fourth cosmic ether, the buddhic.
3. Dĩ thái vũ trụ thứ tư, tức cõi Bồ đề.
4. The fourth Creative Hierarchy.
4. Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư.
When this has been completed, the goal universal will have been reached, and the Logos will have assumed the desired control of His physical body; the human units will be then functioning upon the buddhic plane, and the groups of lives who form the mental bodies of the human beings (who are numerically allied with the above progression) will have equally achieved.
Khi điều này đã được hoàn tất, mục tiêu phổ quát sẽ đạt được, và Thượng đế sẽ đảm nhận sự kiểm soát mong muốn đối với thể xác của Ngài; khi ấy các đơn vị nhân loại sẽ hoạt động trên cõi Bồ đề, và các nhóm sự sống tạo thành các thể trí của nhân loại (vốn có liên hệ số học với tiến trình trên) cũng sẽ đạt thành tựu tương tự.
Certain influences and forces play upon the mental sheath of any human being, and produce in it that activity which is termed “spiral progressive.” These forces might be briefly considered as comprising the following:
Một số ảnh hưởng và mãnh lực tác động lên thể trí của bất kỳ con người nào, và tạo ra trong nó hoạt động được gọi là “xoắn ốc tiến triển.” Có thể ngắn gọn xem các mãnh lực này gồm những điều sau:
1. The energies of the atoms of substance which compose the mental body.
1. Các năng lượng của những nguyên tử chất liệu cấu thành thể trí.
2. The energies of the lunar father who is the coherent [Page 1101] life of the mental group body. These two groups concern the Not-Self, the third aspect of monadic manifestation.
2. Các năng lượng của người cha nguyệt tinh, là sự sống kết hợp của thể nhóm trí tuệ. Hai nhóm này liên quan đến Phi-Ngã, phương diện thứ ba của biểu lộ chân thần. [Page 1101]
3. The energies of the solar Angel, or Father, which is the co-ordinating principle behind manifestation in the three worlds.
3. Các năng lượng của Thái dương Thiên Thần, hay Người Cha, là nguyên khí phối hợp đứng sau biểu lộ trong ba cõi thấp.
4. The energies of the intelligent lives who form the body egoic. These lives find their emanating source on other levels than the systemic. These two groups concern the egoic principle, the middle principle which links the above and the below, and is the second aspect of monadic manifestation.
4. Các năng lượng của những sự sống thông tuệ tạo thành thể chân ngã. Những sự sống này tìm thấy nguồn phát xạ của chúng trên những cấp độ khác ngoài hệ thống. Hai nhóm này liên quan đến nguyên khí chân ngã, nguyên khí trung gian nối kết cái trên và cái dưới, và là phương diện thứ hai của biểu lộ chân thần.
5. The energy emanating from the “Jewel in the Lotus” itself, the focal point of energy in the Upper Triad. This concerns the Self, the highest aspect of monadic manifestation.
5. Năng lượng phát ra từ chính “Ngọc trong Hoa Sen,” tiêu điểm năng lượng trong Tam nguyên tinh thần thượng. Điều này liên quan đến Ngã, phương diện cao nhất của biểu lộ chân thần.
The effects produced by the play of these five types of energy upon each other produce (through the medium of the mental unit) that which we term the mental sheath. This sheath is after all only the aggregate of those atoms within a specific area with which the Thinker has to do, which he holds magnetically within his ring-pass-not, and which serve as the medium for his mental expression, according to his point of evolution. This same definition will be recognised as true of all atomic sheaths, and one of the things which students of the occult sciences will eventually do is to investigate the nature of the informing lives of the sheaths, the qualities of the energies influencing such lives, and the character and force of the basic underlying principles. They will thus arrive at facts concerning energies in the human kingdom which will prove of inestimable value.
Những hiệu quả do sự tác động qua lại của năm loại năng lượng này lên nhau tạo ra (qua trung gian của đơn vị hạ trí) điều mà chúng ta gọi là thể trí. Xét cho cùng, thể này chỉ là tổng thể những nguyên tử trong một khu vực xác định mà Đấng Tư Tưởng phải xử lý, mà y giữ bằng từ lực trong vòng-giới-hạn của mình, và phục vụ như phương tiện cho sự biểu lộ trí tuệ của y, tùy theo điểm tiến hoá của y. Cùng định nghĩa này sẽ được nhìn nhận là đúng đối với mọi thể nguyên tử, và một trong những điều mà các đạo sinh của các khoa học huyền bí cuối cùng sẽ làm là khảo cứu bản chất của các sự sống thấm nhuần các thể, các phẩm tính của những năng lượng ảnh hưởng đến các sự sống ấy, và tính cách cùng mãnh lực của các nguyên khí căn bản nền tảng. Nhờ đó họ sẽ đi đến những sự kiện liên quan đến các năng lượng trong giới nhân loại, những điều sẽ chứng tỏ có giá trị vô cùng lớn.
In order to keep the basic idea of this Treatise corresponding in its various divisions, I might call your attention to the four points we considered relative to motion [Page 1102] in the physical and astral sheaths. We found that the effects of such motion might be regarded as four altogether:
Để giữ cho ý tưởng căn bản của bộ Luận này tương ứng trong các phân bộ khác nhau của nó, tôi có thể lưu ý các bạn đến bốn điểm mà chúng ta đã xem xét liên quan đến chuyển động [Page 1102] trong thể hồng trần và thể cảm dục. Chúng ta đã thấy rằng các hiệu quả của chuyển động ấy có thể được xem là gồm bốn điều tất cả:
Separation.
Sự phân ly.
Momentum.
Động lượng.
Frictional Activity.
Hoạt động ma sát.
Absorption.
Sự hấp thụ.
Separation. This separation is brought about through the initial activity of the Ego who produces the first of those forms which he intends to use during the cycle of incarnation, through the bringing together of these energies through self-engendered impulse. He, for purposes of development, identifies himself with that form, and thus temporarily separates himself off from his own real Self. Through the veil of mental matter he first knows separation, and undergoes his first experiences of the three worlds. This deals with separation from the highest aspect. Viewing it from the personality standpoint, separation is again to be seen, for the activity of the monadic sheath, its own internal volition produces the formation of a sphere of activity, distinct in its nature and governed by laws of its own, which—until a certain amount of alignment has been achieved during evolution—lives its own separate existence apart from the two lower sheaths, astral and physical. Thus it can be truly said that the “mind slays the Real” (316) and serves as the “great Deluder” of the Self in the one case, and as the “great Separator” in another; it comes between the centralised egoic life and the personality existences.
Sự phân ly. Sự phân ly này được mang lại qua hoạt động ban đầu của Chân ngã, Đấng tạo ra hình thức đầu tiên trong những hình thức mà y dự định sử dụng trong chu kỳ nhập thể, bằng cách tập hợp các năng lượng này qua xung lực tự phát sinh. Vì mục đích phát triển, y đồng hoá với hình thức ấy, và do đó tạm thời tách mình ra khỏi Chân ngã thực sự của chính mình. Qua bức màn của vật chất trí tuệ, trước hết y biết đến sự phân ly, và trải qua những kinh nghiệm đầu tiên của mình trong ba cõi thấp. Điều này liên quan đến sự phân ly khỏi phương diện cao nhất. Xét từ quan điểm phàm ngã, sự phân ly lại được thấy, vì hoạt động của thể chân thần, ý chí nội tại riêng của nó tạo ra sự hình thành một khối cầu hoạt động, khác biệt về bản chất và được chi phối bởi các định luật riêng của nó, mà—cho đến khi một mức độ chỉnh hợp nào đó đã đạt được trong tiến hoá—sống sự tồn tại riêng biệt của nó tách khỏi hai thể thấp hơn, cảm dục và hồng trần. Vì vậy có thể nói thật rằng “trí tuệ giết chết Thực Tại” (316) và trong một trường hợp phục vụ như “Kẻ Đại Mê Hoặc” của Ngã, còn trong trường hợp khác như “Kẻ Đại Phân Ly”; nó đứng giữa sự sống chân ngã tập trung và các tồn tại phàm ngã.
(316) “Mind the Slayer of the Real.”—Voice of the Silence, pp. 14-15. (back)
(316) “Trí tuệ, Kẻ Giết Chết Thực Tại.”—Tiếng Nói của Im Lặng, tr. 14-15. (trở lại)
This life of separation becomes steadily stronger as the rotary-spiral action of the mental body becomes intensified during the cycles of manifestation, and the “individualised” [Page 1103] Idea becomes daily more dominant. The “Ahamkara” principle, (317) as it is called in the Secret Doctrine, does its work, and man becomes strongly self-centred, and self-conscious in the lower connotation of the term. Later, as higher energies come into play and the effort is made to balance the three types of force manifestations in the three worlds through the three vehicles, the Ego becomes aware of delusion and eventually frees himself. When this is in process of consummation during the final stages of evolution, the mental body becomes a transmitter for force currents from the egoic mind, the antaskarana between the higher mind and the mental sheath is built, and the “transmitting mind body” blends itself with the “reflecting astral body.” Thus separation is negated.
Sự sống phân ly này ngày càng mạnh hơn khi hoạt động xoay tròn-xoắn ốc của thể trí trở nên mãnh liệt hơn trong các chu kỳ biểu lộ, và Ý Tưởng đã được “biệt ngã hóa” trở nên ngày càng chi phối hơn. Nguyên khí “Ahamkara,” ([Page 1103] 317) như được gọi trong Giáo Lý Bí Nhiệm, thực hiện công việc của nó, và con người trở nên mạnh mẽ tập trung vào bản thân, và có ngã thức theo hàm nghĩa thấp của thuật ngữ này. Về sau, khi các năng lượng cao hơn bắt đầu tác động và nỗ lực được thực hiện để quân bình ba loại biểu hiện mãnh lực trong ba cõi thấp qua ba vận cụ, Chân ngã nhận biết sự mê lầm và cuối cùng tự giải thoát. Khi điều này đang trong tiến trình hoàn tất ở các giai đoạn cuối của tiến hoá, thể trí trở thành một bộ truyền dẫn cho các dòng mãnh lực từ trí tuệ chân ngã, antaskarana giữa thượng trí và thể trí được xây dựng, và “thể trí truyền dẫn” hòa nhập với “thể cảm dục phản chiếu.” Như vậy sự phân ly bị phủ định.
(317) Ahamkara. The “I” making principle necessary in order that self-consciousness may be evolved, but transcended when its work is over. (back)
(317) Ahamkara. Nguyên khí tạo ra “Tôi,” cần thiết để ngã thức có thể được tiến hoá, nhưng phải được vượt qua khi công việc của nó đã hoàn tất. (trở lại)
Students will note, therefore, that the goal for the mental body is simply that it should become a transmitter of the thoughts and wishes of the solar Angel, and should act as the agent for the Triad. The goal for the astral body is that it should be the reflector in a similar way of the buddhic impulses, which reach the emotional body via certain petals in the egoic lotus, and the astral permanent atom. The process of equilibrising the forces in the personality (thus producing stability, and alignment) is brought about through the scientific manifestation of the electrical reactions of the three sheaths.
Vì vậy, các đạo sinh sẽ lưu ý rằng mục tiêu của thể trí đơn giản là nó phải trở thành một bộ truyền dẫn các tư tưởng và ước muốn của Thái dương Thiên Thần, và phải hoạt động như tác nhân cho Tam nguyên tinh thần. Mục tiêu của thể cảm dục là nó phải trở thành bộ phản chiếu theo cách tương tự của các xung lực Bồ đề, những xung lực đi đến thể cảm xúc qua một số cánh hoa trong Hoa Sen Chân Ngã, và nguyên tử trường tồn cảm dục. Tiến trình quân bình các mãnh lực trong phàm ngã (nhờ đó tạo ra sự ổn định, và sự chỉnh hợp) được mang lại qua sự biểu lộ khoa học của các phản ứng điện của ba thể.
The mental sheath is regarded in its totality of force as positive. The physical bodies are regarded as negative to the mental. The astral vehicle is the point of the at-one-ment of the energies; it is the battleground whereon the dualities are adjusted to each other, and equilibrium is attained. This is the underlying thought when the words “kama-manasic” body are used, because for two-thirds of the pilgrim’s journey this body serves a dual purpose. It is only during the later stage that a [Page 1104] man differentiates between will and desire, and between his mental body and his desire body.
Thể trí được xem, trong toàn bộ mãnh lực của nó, là dương. Các thể hồng trần được xem là âm đối với thể trí. Vận cụ cảm dục là điểm hợp nhất của các năng lượng; nó là chiến trường nơi các nhị nguyên tính được điều chỉnh với nhau, và sự quân bình được đạt tới. Đây là tư tưởng nền tảng khi các từ “thể trí-cảm” được dùng, bởi vì trong hai phần ba cuộc hành trình của người lữ khách, thể này phục vụ một mục đích kép. Chỉ trong giai đoạn sau này mà một [Page 1104] người mới phân biệt giữa ý chí và dục vọng, và giữa thể trí của mình với thể dục vọng của mình.
Momentum: The activity of the mental sheath and its gradually increasing rate of vibration is brought about by the inflow of energies of different kinds. These various factors, as they are brought to bear upon the mental sheath produce an increased activity and speed in the rotary motion of the individual atoms, and also greater speed in the progress of the entire sheath. This means a more rapid transference of the atoms of low vibration out of the sheath and the substitution of atoms of high quality.
Động lượng: Hoạt động của thể trí và nhịp độ rung động tăng dần của nó được mang lại bởi dòng tuôn vào của các năng lượng thuộc nhiều loại khác nhau. Các yếu tố khác nhau này, khi tác động lên thể trí, tạo ra hoạt động gia tăng và tốc độ lớn hơn trong chuyển động quay của các nguyên tử cá biệt, và cũng tạo ra tốc độ lớn hơn trong sự tiến triển của toàn thể. Điều này có nghĩa là sự chuyển dịch nhanh hơn của các nguyên tử có rung động thấp ra khỏi thể và sự thay thế bằng các nguyên tử có phẩm chất cao.
It involves also more rapid transition of the various energies, or increased spiral action. This is one of the factors resulting in more rapid incarnation, and more rapid assimilation of the experiences learnt. Curiously enough, from the standpoint of the average thinker, this factor causes longer devachanic periods, for these cycles of interior mental consideration are of ever increasing activity. They are cycles of intense mental adjustment, and of the generation of force until (towards the close of the cycle of incarnation) the activity which has been generated is so strong that continuity of consciousness becomes an accomplished fact. The man frequently then foregoes devachan as he needs it no more. Other results are the fourth dimensional activity of the various “wheels,” which begin not only to rotate but to “turn upon themselves,” and the vivification of the four spirillae of the mental unit. Some of the energies which produce increased momentum in the mental sheath might be enumerated, and as the students consider them it will again become apparent what a complicated thing human unfoldment really is. These energies are:
Điều đó cũng bao hàm sự chuyển tiếp nhanh hơn của các năng lượng khác nhau, hay hoạt động xoắn ốc gia tăng. Đây là một trong những yếu tố dẫn đến sự nhập thể nhanh hơn, và sự đồng hoá nhanh hơn các kinh nghiệm đã học được. Thật kỳ lạ, từ quan điểm của nhà tư tưởng trung bình, yếu tố này lại gây ra các thời kỳ devachan dài hơn, vì các chu kỳ suy xét trí tuệ nội tại này có hoạt động ngày càng gia tăng. Chúng là những chu kỳ điều chỉnh trí tuệ mãnh liệt, và phát sinh mãnh lực cho đến khi (về cuối chu kỳ nhập thể) hoạt động đã được phát sinh trở nên mạnh đến mức tính liên tục của tâm thức trở thành một sự kiện đã hoàn tất. Khi đó con người thường từ bỏ devachan vì y không còn cần đến nó nữa. Những kết quả khác là hoạt động bốn chiều của các “bánh xe” khác nhau, những bánh xe bắt đầu không chỉ quay mà còn “tự quay trên chính mình,” và sự làm sống động bốn loa tuyến của đơn vị hạ trí. Có thể liệt kê một số năng lượng tạo ra động lượng gia tăng trong thể trí, và khi các đạo sinh xem xét chúng, sẽ lại thấy rõ sự khai mở của con người thực sự là một điều phức tạp biết bao. Những năng lượng này là:
1. The direct increasing influence of the solar Angel.
1. Ảnh hưởng trực tiếp ngày càng tăng của Thái dương Thiên Thần.
This influence is felt in four stages:
Ảnh hưởng này được cảm nhận trong bốn giai đoạn:
As the three rows of petals unfold. [Page 1105]
Khi ba hàng cánh hoa khai mở. [Page 1105]
As the “interior jewel” rays forth more powerfully.
Khi “viên ngọc nội tại” phát ra mạnh mẽ hơn.
2. The reflex action from the physical personality, or the thought currents sent through in course of time from the physical brain.
2. Tác động phản hồi từ phàm ngã hồng trần, hay các dòng tư tưởng được gửi qua theo thời gian từ bộ não hồng trần.
3. The activities of the astral body.
3. Các hoạt động của thể cảm dục.
4. The thought currents or energy units initiated by identification with groups, national, family, racial and egoic.
4. Các dòng tư tưởng hay các đơn vị năng lượng được khởi phát bởi sự đồng hoá với các nhóm, quốc gia, gia đình, chủng tộc và chân ngã.
5. The currents which impinge upon the mental bodies of all human beings as different Rays pass in and out of incarnation.
5. Các dòng tác động lên các thể trí của toàn thể nhân loại khi các cung khác nhau đi vào và đi ra khỏi nhập thể.
6. The forces and energies which become active or latent during different cycles.
6. Các mãnh lực và năng lượng trở nên hoạt động hay tiềm ẩn trong các chu kỳ khác nhau.
7. The interplay between planets, or between systems and constellations, of which an illustration can be seen in the effect of Venusian energy upon our Earth
7. Sự tương tác giữa các hành tinh, hay giữa các hệ thống và các chòm sao, mà một minh họa có thể thấy trong hiệu quả của năng lượng Kim Tinh lên Trái Đất của chúng ta
and many more factors too numerous to mention. All these energies have their effects, and serve either to speed, or in some cases, to retard the evolutionary process.
và còn nhiều yếu tố khác quá nhiều không thể kể ra. Tất cả các năng lượng này đều có các hiệu quả của chúng, và hoặc phục vụ để thúc đẩy, hoặc trong một số trường hợp, làm chậm lại tiến trình tiến hoá.
It should be borne in mind by students that all egoic groups come under the Law of Karma, but only as it affects the Heavenly Man, and not the law as it demonstrates in the three worlds. This karmic law, which is the governing impulse of His centres, will show itself in peculiar ways, and as the human monads compose those centres, each group will have its own “activity” problems, will spiral through the round of Being in its own peculiar manner, and will demonstrate qualities and motions different from its brothers. For instance, through withdrawal of energy and not through basic inertia those monads who are the sum total of the centre of creative force of the Heavenly Man show qualities of violent [Page 1106] reaction on the physical plane against certain “laws of nature” and in the period of their transition from the lowest centre to the throat centre of the Heavenly Man, betray qualities of revolt which make them a puzzle to their brothers.
Các đạo sinh nên ghi nhớ rằng mọi nhóm chân ngã đều nằm dưới Định luật Nghiệp quả, nhưng chỉ trong chừng mực nó ảnh hưởng đến Đấng Thiên Nhân, chứ không phải định luật như nó biểu lộ trong ba cõi thấp. Định luật nghiệp quả này, vốn là xung lực chi phối các trung tâm của Ngài, sẽ tự biểu lộ theo những cách đặc thù, và vì các chân thần nhân loại cấu thành các trung tâm ấy, mỗi nhóm sẽ có những vấn đề “hoạt động” riêng của mình, sẽ xoắn ốc qua vòng tuần hoàn của Bản Thể theo cách riêng đặc thù của mình, và sẽ biểu lộ các phẩm tính và chuyển động khác với các huynh đệ của mình. Chẳng hạn, do sự rút năng lượng chứ không phải do quán tính căn bản, những chân thần là tổng số của trung tâm mãnh lực sáng tạo của Đấng Thiên Nhân biểu lộ các phẩm tính phản ứng mãnh liệt [Page 1106] trên cõi hồng trần chống lại một số “định luật của bản chất” và trong thời kỳ chuyển tiếp của họ từ trung tâm thấp nhất lên trung tâm cổ họng của Đấng Thiên Nhân, bộc lộ những phẩm tính phản kháng khiến họ trở thành một điều khó hiểu đối với các huynh đệ của mình.
We have now to consider the “frictional activity” of the mental sheath, and the activity of the sheath as it manifests as absorption. These two concern, let us remember, the motion of the mental sheath as a whole. The result of this activity is rotary-spiral progressive action.
Giờ đây chúng ta phải xem xét “hoạt động ma sát” của thể trí, và hoạt động của thể khi nó biểu lộ như sự hấp thụ. Xin nhớ rằng hai điều này liên quan đến chuyển động của thể trí như một toàn thể. Kết quả của hoạt động này là hành động quay-xoắn ốc-tiến triển.
Frictional activity. This, as is apparent from the words, deals with the “Fire by friction” aspect of substance, and therefore with the lowest aspect of the energy of the mental sheath. The force of the Life within the sheath manifests in the attractive and repulsive action of the individual atoms, and this constant and ceaseless interplay results in the “occult heat” of the body, and its increased radiation. It is one of the factors also which produces the gradual building in of new atoms of substance (ever of a better and more adequate quality) and the expulsion of that which fails to suffice as a medium for intelligent expression.
Hoạt động ma sát. Điều này, như hiển nhiên từ chính các từ ngữ, liên quan đến phương diện “Lửa ma sát” của chất liệu, và do đó liên quan đến phương diện thấp nhất của năng lượng của thể trí. Mãnh lực của Sự sống bên trong thể biểu lộ trong hành động hút và đẩy của các nguyên tử cá biệt, và sự tương tác liên tục không ngừng này tạo ra “nhiệt huyền bí” của thể, cùng sự bức xạ gia tăng của nó. Đây cũng là một trong những yếu tố tạo ra sự xây dựng dần dần các nguyên tử mới của chất liệu (luôn luôn có phẩm chất tốt hơn và thích hợp hơn) và sự tống xuất những gì không còn đủ để làm môi trường cho sự biểu lộ thông tuệ.
The mental unit is the synthesis of the four types of force with which we are dealing, and of the four expressions of it which we are in process of considering.
Đơn vị hạ trí là sự tổng hợp của bốn loại mãnh lực mà chúng ta đang bàn đến, và của bốn biểu hiện của nó mà chúng ta đang trong tiến trình xem xét.
Each of the groups of lives which are the living essence of four subplanes and which focalise through one of the spirillae of the unit and thus influence
Mỗi nhóm sự sống là tinh chất sống của bốn cõi phụ và tập trung qua một trong các loa tuyến của đơn vị và do đó ảnh hưởng đến
a. The sheath itself
a. Chính thể ấy
b. The man on the physical plane
b. Con người trên cõi hồng trần
c. Part of the head centre
c. Một phần của trung tâm đầu
express in greater or less degree these four qualities.
biểu lộ ở mức độ lớn hay nhỏ bốn phẩm tính này.
It might be noted here that the groups are called certain names by some occult teachers, which names convey [Page 1107] the idea of the active enterprise which is their predominant function.
Ở đây có thể lưu ý rằng các nhóm này được một số huấn sư huyền bí gọi bằng những tên nhất định, những tên chuyển tải [Page 1107] ý niệm về hoạt động năng động vốn là chức năng nổi trội của chúng.
The “Lives” on the fourth subplane (that on which mental unit has its place) are called “The absorbers of the above and the below” or the “Transmitting faces of the fourth order.” They receive energy and absorb from the Ego on the one hand in the first stage of the incarnation process, and on the other absorb the energies of the personality at the close of the period of manifestation. They have, therefore, an activity which might be regarded as corresponding to the first aspect. When it is remembered that the cosmic process repeats itself on every plane, and that the Ego in the three worlds stands for the unmanifested, it will be seen that they are the primal separators, and the final “destroyers.”
Các “Sự Sống” trên cõi phụ thứ tư (nơi đơn vị hạ trí có vị trí của nó) được gọi là “Những kẻ hấp thụ cái trên và cái dưới” hay “Các diện mạo truyền dẫn của cấp thứ tư.” Chúng tiếp nhận năng lượng và hấp thụ từ Chân ngã ở một phía trong giai đoạn đầu của tiến trình nhập thể, và ở phía kia hấp thụ các năng lượng của phàm ngã vào lúc kết thúc thời kỳ biểu lộ. Vì vậy, chúng có một hoạt động có thể được xem là tương ứng với phương diện thứ nhất. Khi nhớ rằng tiến trình vũ trụ lặp lại trên mọi cõi, và rằng Chân ngã trong ba cõi thấp tượng trưng cho cái không biểu hiện, thì sẽ thấy rằng chúng là những kẻ phân ly nguyên thủy, và là những “kẻ hủy diệt” cuối cùng.
The lives of the next plane (which utilise the second spirilla of the mental unit) are called “The interacting points of cyclic momentum.” These points which gather momentum through the process of attraction and repulsion represent, in the mental body, dual force, for it is only through the coming together and the separation of atoms, great and small, macrocosmic and microcosmic, that manifestation of any kind becomes possible.
Các sự sống của cõi kế tiếp (những sự sống sử dụng loa tuyến thứ hai của đơn vị hạ trí) được gọi là “Các điểm tương tác của động lượng chu kỳ.” Những điểm này, tích lũy động lượng qua tiến trình hút và đẩy, biểu hiện trong thể trí mãnh lực kép, vì chỉ qua sự tụ hội và phân ly của các nguyên tử, lớn và nhỏ, đại thiên địa và tiểu thiên địa, mà bất kỳ loại biểu lộ nào mới trở nên khả hữu.
On the subplane which is formed of lives functioning through the third spirilla, are found “the points of frictional activity” or the “heat producers” and these three—the absorbers, the points of momentum, and the heat producers, pour their united forces through the “separated lives” which form the real barrier between the next body and the mental sheath. This is only possible when their work is unified and synthesised. The student must here remember that the lives are the expression of one Life but that one or other of the spirillae will be the agency for lives which express specific qualities. We are dealing specifically with the fourth effect of motion in [Page 1108] the mental sheath as it manifests throughout the entire vehicle.
Trên cõi phụ được tạo thành từ các sự sống hoạt động qua loa tuyến thứ ba, có “các điểm hoạt động ma sát” hay “những kẻ tạo nhiệt,” và ba nhóm này—những kẻ hấp thụ, các điểm động lượng, và những kẻ tạo nhiệt—tuôn các mãnh lực hợp nhất của chúng qua “các sự sống phân ly” tạo thành rào chắn thực sự giữa thể kế tiếp và thể trí. Điều này chỉ có thể khi công việc của chúng được hợp nhất và tổng hợp. Ở đây đạo sinh phải nhớ rằng các sự sống là biểu lộ của một Sự sống duy nhất nhưng một hay một loa tuyến khác sẽ là tác nhân cho các sự sống biểu lộ các phẩm tính đặc thù. Chúng ta đang đặc biệt bàn đến hiệu quả thứ tư của chuyển động trong [Page 1108] thể trí như nó biểu lộ khắp toàn bộ vận cụ.
Absorption: This is the faculty which produces the forms of the mental ring-pass-not, and which (at the close of the cycle) is the active principle behind devachanic manifestation. The student, through a consideration of the macrocosmic process, can arrive at a knowledge of the separation of the mental body and its individual functioning. It is anent the process of “heavenly withdrawal” that we are speaking; under the law of analogy it is not easily possible to follow the various steps and stages and this for the following reasons:
Sự hấp thụ: Đây là năng lực tạo ra các hình thức của vòng-giới-hạn trí tuệ, và là nguyên khí hoạt động đứng sau biểu lộ devachan vào lúc kết thúc chu kỳ. Qua việc xem xét tiến trình đại thiên địa, đạo sinh có thể đi đến tri thức về sự phân ly của thể trí và hoạt động cá biệt của nó. Chúng ta đang nói đến tiến trình “rút lui thiên giới”; theo định luật tương đồng, không dễ gì có thể theo dõi các bước và giai đoạn khác nhau, và điều này là vì các lý do sau đây:
All our planes, being the cosmic physical subplanes, form the logoic physical body. At His final withdrawal from manifestation, He functions in His cosmic astral body, and the cosmic devachan is as yet far from Him, and impossible to conceive of. Certain points, therefore, anent man’s “rest in Heaven” are all that is possible for us to deal with.
Tất cả các cõi của chúng ta, vì là các cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ, tạo thành thể xác của Thượng đế. Khi Ngài rút khỏi biểu lộ lần cuối, Ngài hoạt động trong thể cảm dục vũ trụ của Ngài, và devachan vũ trụ vẫn còn rất xa đối với Ngài, và không thể quan niệm được. Vì vậy, chỉ có một số điểm liên quan đến “sự nghỉ ngơi trên Thiên giới” của con người là điều chúng ta có thể bàn đến.
Absorption into devachan is absorption into a definite stage of consciousness within the logoic physical body; devachan, therefore, is occultly a state of consciousness, but of consciousness thinking in terms of time and space in the three worlds. It has therefore no location for the unit of consciousness, but has location from the standpoint of the Heavenly Man. Prakriti (matter) and consciousness are—in manifestation—inseparable.
Sự hấp thụ vào devachan là sự hấp thụ vào một giai đoạn tâm thức xác định bên trong thể xác của Thượng đế; do đó, về mặt huyền bí, devachan là một trạng thái tâm thức, nhưng là tâm thức suy nghĩ theo các phạm trù thời gian và không gian trong ba cõi thấp. Vì vậy, nó không có vị trí đối với đơn vị tâm thức, nhưng lại có vị trí từ quan điểm của Đấng Thiên Nhân. Prakriti (vật chất) và tâm thức—trong biểu lộ—là bất khả phân ly.
The “devachan” of the occult books is connected with the consciousness of the logoic planetary body, and with the gaseous subplane of the cosmic physical plane. It is, consequently, transcended the moment a man begins to function in the cosmic ethers, such as the fourth cosmic ether, the buddhic plane. It is closely allied with certain karmic forces for, whilst in devachan, the man is occupied with the aggregate of the thought forms he has built, [Page 1109] which are essentially of an occult, a mental, and a persistent nature.
“Devachan” của các sách huyền bí có liên hệ với tâm thức của thể hành tinh của Thượng đế, và với cõi phụ khí của cõi hồng trần vũ trụ. Do đó, nó được vượt qua ngay khi con người bắt đầu hoạt động trong các dĩ thái vũ trụ, chẳng hạn như dĩ thái vũ trụ thứ tư, cõi Bồ đề. Nó có liên hệ mật thiết với một số mãnh lực nghiệp quả vì, trong khi ở devachan, con người bận rộn với tổng thể các hình tư tưởng mà y đã tạo dựng, [Page 1109] vốn về bản chất là huyền bí, trí tuệ, và bền vững.
It is in devachan that the man shapes and polishes the stones which are built into the Temple of Solomon. It is the workshop to which the individual stones (good deeds and thoughts) are taken for fashioning, after being extracted from the quarry of the personal life.
Chính trong devachan mà con người tạo hình và mài giũa những viên đá được xây vào Đền thờ Solomon. Đó là xưởng làm việc mà các viên đá riêng lẻ (những hành động tốt và tư tưởng tốt) được mang đến để gia công, sau khi được khai thác từ mỏ đá của đời sống cá nhân.
Being of mental matter, devachan might be regarded as a centre, or heart of peace, within the periphery of the sphere of influence of the mental unit. The four spirillae form four protecting streams of force. A correspondence to this stream of force can be seen in the four rivers which emanated from the Garden of Eden. Out of this garden man is driven into the world of physical incarnation and the Angel with the flaming sword protects the entrance, driving him back from entry until the time comes when evolution has progressed so far that he can come to the portal laden with stones which can withstand the action of fire. When he submits these stones to the fire and they stand the test, he can enter “Heaven” again, his time though being limited by the nature and the quality of what he brought.
Vì được làm bằng vật chất trí tuệ, devachan có thể được xem như một trung tâm, hay trái tim bình an, bên trong chu vi của khối cầu ảnh hưởng của đơn vị hạ trí. Bốn loa tuyến tạo thành bốn dòng mãnh lực bảo vệ. Một tương ứng với dòng mãnh lực này có thể thấy trong bốn con sông phát xuất từ Vườn Địa Đàng. Từ khu vườn này con người bị đuổi vào thế giới nhập thể hồng trần và Thiên Thần với thanh gươm rực lửa bảo vệ lối vào, ngăn y trở lại cho đến khi thời điểm đến mà tiến hoá đã tiến xa đến mức y có thể đến trước cổng mang theo những viên đá có thể chịu được tác động của lửa. Khi y đặt những viên đá này vào lửa và chúng đứng vững trước thử thách, y có thể lại bước vào “Thiên giới,” dù thời gian của y vẫn bị giới hạn bởi bản chất và phẩm chất của những gì y đã mang đến.
When the consciousness within devachan has absorbed all the essences of life experience even that locality, or that aspect of matter, cannot enfold him, and he escapes from limitation into the causal vehicle.
Khi tâm thức trong devachan đã hấp thụ mọi tinh túy của kinh nghiệm sống thì ngay cả địa phương ấy, hay phương diện vật chất ấy, cũng không thể còn bao bọc y nữa, và y thoát khỏi giới hạn để đi vào vận cụ nguyên nhân.
S9S4 Text
2. Motion in the Causal Body. — 2. Chuyển động trong thể nguyên nhân.
We have studied somewhat this activity as it manifests in fourfold fashion in the mental sheath, and the reason that there has not been much to say anent this matter has been that the mental sheath comes under the laws of the matter aspect, and is subject to the same rules as are the material vehicles of all existences. It is only matter of a finer grade. The student, therefore, can apply what has been earlier said anent the astral and physical bodies [Page 1110] to the mental body, and thus negate the necessity of our entering upon the subject in greater detail. The causal body differs from the Brahma aspect in that it is a fuller embodiment of the life of the second aspect, its predominant characteristics are those of the second aspect. To study the nature of motion in the causal vehicle involves much clarity of thought, and due appreciation of the nature of that body.
Chúng ta đã phần nào nghiên cứu hoạt động này khi nó biểu lộ theo lối tứ phân trong thể trí, và lý do khiến không có nhiều điều để nói về vấn đề này là vì thể trí nằm dưới các định luật của phương diện vật chất, và chịu cùng những quy luật như các vận cụ vật chất của mọi hiện hữu. Nó chỉ là vật chất ở một cấp độ tinh tế hơn. Vì vậy, đạo sinh có thể áp dụng vào thể trí những gì đã được nói trước đây về thể cảm dục và thể xác [Page 1110] và như thế loại bỏ sự cần thiết để chúng ta đi vào đề tài này một cách chi tiết hơn. Thể nguyên nhân khác với phương diện Brahma ở chỗ nó là hiện thân đầy đủ hơn của sự sống của phương diện thứ hai; các đặc tính nổi trội của nó là những đặc tính của phương diện thứ hai. Nghiên cứu bản chất của chuyển động trong vận cụ nguyên nhân đòi hỏi sự minh xác lớn trong tư tưởng, và sự đánh giá đúng đắn về bản chất của thể đó.
It should here be remembered that in considering the causal body, we are dealing specifically with the vehicle of manifestation of a solar Angel who is its informing life and who is in process of constructing it, of perfecting it, and of enlarging it, and thus reflecting on a tiny scale the work of the Logos on His own plane.
Ở đây cần ghi nhớ rằng khi xem xét thể nguyên nhân, chúng ta đang đề cập một cách chuyên biệt đến vận cụ biểu lộ của một Thái dương Thiên Thần, Đấng là sự sống thấm nhuần của nó và đang trong tiến trình kiến tạo nó, hoàn thiện nó, và mở rộng nó, nhờ đó phản ánh ở một quy mô cực nhỏ công việc của Thượng đế trên cõi riêng của Ngài.
Each part of the causal body is actuated by a type of force emanating from some one or other great centre, and it might be of interest, therefore, if we considered the component parts of this “Temple of the Soul,” if we studied the type of animating activity and arrived at a knowledge of the forces playing upon it and through it. We will take them one by one, beginning with the outer row of petals.
Mỗi phần của thể nguyên nhân được thúc đẩy bởi một loại mãnh lực phát ra từ một đại trung tâm nào đó, và vì vậy sẽ là điều đáng quan tâm nếu chúng ta xem xét các thành phần của “Đền Thờ của Linh Hồn” này, nếu chúng ta nghiên cứu loại hoạt động linh hoạt hóa và đạt đến sự hiểu biết về các mãnh lực tác động lên nó và xuyên qua nó. Chúng ta sẽ lần lượt xét từng phần, bắt đầu với hàng cánh hoa bên ngoài.
The Knowledge Petals. These are the petals which represent the lowest aspect of the Triad and are responsive to the lowest forms of egoic force. These petals are three in number and come under the influence of certain streams of activity.
Các cánh hoa tri thức. Đây là những cánh hoa biểu hiện phương diện thấp nhất của Tam nguyên tinh thần và đáp ứng với những hình thức thấp nhất của mãnh lực chân ngã. Những cánh hoa này có số lượng là ba và chịu ảnh hưởng của một số dòng hoạt động nhất định.
a. One stream of energy emanates from the lower triad of permanent atoms, particularly the physical permanent atom, via that one of the three petals called the knowledge petal. The stream of force engendered in the lower self circulates in a triple stream (the reflection in the lower self of the threefold Path to God) around the atomic triangle at the base of the egoic lotus. When of sufficient strength and [Page 1111] purity, it affects the outer row of petals. This begins to be felt during the third period of man’s evolution when he is an average intelligent unit or atom. This energy, when it blends with the inherent life of the atomic lives which form the petals, produces eventually that intimate fusing of soul and body which makes man a living soul.
a. Một dòng năng lượng phát ra từ bộ ba thấp của các Nguyên tử trường tồn, đặc biệt là nguyên tử trường tồn hồng trần, qua một trong ba cánh hoa được gọi là cánh hoa tri thức. Dòng mãnh lực được tạo ra trong phàm ngã lưu chuyển thành một dòng tam phân (sự phản chiếu trong phàm ngã của Con Đường tam phân đến Thượng đế) quanh tam giác nguyên tử ở đáy của Hoa Sen Chân Ngã. Khi đủ mạnh và [Page 1111] thuần khiết, nó ảnh hưởng đến hàng cánh hoa bên ngoài. Điều này bắt đầu được cảm nhận trong thời kỳ thứ ba của tiến hoá con người khi y là một đơn vị hay nguyên tử trí tuệ trung bình. Năng lượng này, khi hòa trộn với sự sống cố hữu của các sự sống nguyên tử tạo thành các cánh hoa, cuối cùng tạo ra sự dung hợp mật thiết giữa linh hồn và thể xác khiến con người trở thành một linh hồn sống động.
b. Another stream of energy emanates in time from the second tier of petals when in activity; this second tier is peculiarly instinctive with the life and quality of the Manasaputra in manifestation. The second tier of petals in any egoic lotus is the one that gives us the key to the nature of the solar Angel, just as the outer tier is—to the inner vision of the Adept—a clue to the point in evolution of the personality. By looking at the egoic lotus, the seer can tell the nature of the:
b. Một dòng năng lượng khác theo thời gian phát ra từ tầng cánh hoa thứ hai khi tầng này hoạt động; tầng thứ hai này đặc biệt thấm đẫm sự sống và phẩm tính của Manasaputra đang biểu lộ. Tầng cánh hoa thứ hai trong bất kỳ Hoa Sen Chân Ngã nào là tầng cho chúng ta chìa khóa về bản chất của Thái dương Thiên Thần, cũng như tầng ngoài cùng — đối với linh thị bên trong của chân sư — là đầu mối về điểm tiến hoá của phàm ngã. Bằng cách nhìn vào Hoa Sen Chân Ngã, nhà thông nhãn có thể biết được bản chất của:
Personal self through the condition of the atomic triangle, and the outer tier of petals.
Phàm ngã qua tình trạng của tam giác nguyên tử, và tầng cánh hoa bên ngoài.
Higher Self, through the colour and arrangement of the central tier of petals. This tier gives the “family” of the solar Angel through the arrangement of atomic lives which form the petals, and the circulation of the streams of forces in those petals.
Bản Ngã Cao Siêu, qua màu sắc và sự sắp xếp của tầng cánh hoa trung tâm. Tầng này cho biết “gia đình” của Thái dương Thiên Thần qua sự sắp xếp của các sự sống nguyên tử tạo thành các cánh hoa, và sự lưu chuyển của các dòng mãnh lực trong những cánh hoa ấy.
Monad, through the inner circle of petals; its stage of lower awareness is revealed in a similar way.
Chân thần, qua vòng cánh hoa bên trong; giai đoạn nhận biết thấp của nó cũng được tiết lộ theo cách tương tự.
The number of the Ray concerned is known through the quality of the “light” of the concealed jewel.
Con số của cung liên hệ được biết qua phẩm tính của “ánh sáng” của viên ngọc ẩn kín.
In all these petals, groups of lives, solar and otherwise, are concerned, and streams of energy from them focus through the petals. This is apparent to the man who has the key. It is a curious fact that the streams of force which form the petals and [Page 1112] which are in constant flux produce apparently “key symbols” within the periphery of the egoic wheel, and thus reveal themselves through their activity.
Trong tất cả các cánh hoa này, các nhóm sự sống, thái dương và những loại khác, đều có liên quan, và các dòng năng lượng từ chúng hội tụ qua các cánh hoa. Điều này hiển nhiên đối với người có chìa khóa. Một sự kiện kỳ lạ là các dòng mãnh lực tạo thành các cánh hoa và [Page 1112] luôn luôn biến động dường như tạo ra các “biểu tượng chìa khóa” trong chu vi của bánh xe chân ngã, và do đó tự bộc lộ qua hoạt động của chúng.
c. A third type of energy is that which—at the close of evolution—makes itself felt through the inner circle of petals, and which is the result of an inflow of monadic force, or atma.
c. Loại năng lượng thứ ba là năng lượng — vào lúc kết thúc tiến hoá — tự làm cho mình được cảm nhận qua vòng cánh hoa bên trong, và là kết quả của sự tuôn vào của mãnh lực chân thần, hay atma.
d. Finally, therefore, when the petals are unfolded they are therefore transmitters of life or energy from three sources:
d. Sau cùng, khi các cánh hoa được khai mở, chúng trở thành những bộ truyền dẫn sự sống hay năng lượng từ ba nguồn:
1.
The lower self
Lunar Pitri
Knowledge petals.
2.
Ego
Solar Angel
Love petals.
3.
Monad
Father in Heaven
Sacrifice petals.
It then becomes possible for a still higher form of energy to be felt, that which is the energy of the centre of the body of the Heavenly Man or planetary Logos, and which uses the “Jewel in the Lotus” as its focal point.
Khi đó, một hình thức năng lượng còn cao hơn nữa mới có thể được cảm nhận, đó là năng lượng của trung tâm trong thể của Đấng Thiên Nhân hay Hành Tinh Thượng đế, và sử dụng “Viên Ngọc trong Hoa Sen” làm tiêu điểm của nó.
In this summation, we have dealt with the main types of energy manifesting in the egoic or causal body. Certain other influences must likewise be considered in connection with the outer tier of petals.
Trong phần tổng kết này, chúng ta đã bàn đến các loại năng lượng chính biểu lộ trong thể chân ngã hay thể nguyên nhân. Một số ảnh hưởng khác cũng phải được xem xét liên hệ với tầng cánh hoa bên ngoài.
e. There is the energy reaching directly to the knowledge petals from the manasic permanent atom. The permanent atoms of the Spiritual Triad, as well as the bodies which are built around them, bring in certain groups of deva lives which have not as yet been much considered. They are not the lunar pitris, as that term is commonly understood, but have a direct connection with what is called “the cosmic moon” or to that dying solar system which has the same relation to our system as the moon has to the earth chain. This “cosmic [Page 1113] moon” transmits its energy to the manasic atomic subplane, via the planet Saturn. It is a triple energy and there is an esoteric connection between this triple energy, and Saturn’s rings.
e. Có năng lượng đi trực tiếp đến các cánh hoa tri thức từ nguyên tử trường tồn manas. Các nguyên tử trường tồn của Tam Nguyên Tinh Thần, cũng như các thể được xây dựng quanh chúng, đưa vào một số nhóm sự sống thiên thần mà cho đến nay chưa được xem xét nhiều. Chúng không phải là thái âm tổ phụ, theo cách thuật ngữ đó thường được hiểu, mà có liên hệ trực tiếp với cái được gọi là “mặt trăng vũ trụ” hay với hệ mặt trời đang tàn lụi kia, vốn có cùng mối liên hệ với hệ của chúng ta như mặt trăng có với dãy địa cầu. “Mặt trăng vũ trụ” này truyền năng lượng của nó đến cõi phụ nguyên tử manas, qua hành tinh Sao Thổ. Nó là một năng lượng tam phân và có một mối liên hệ huyền bí giữa năng lượng tam phân này với các vành đai của Sao Thổ.[Page 1113]
The old Commentary expresses this truth about an interesting group of sons of manas as follows:
Cổ Luận diễn tả chân lý này về một nhóm thú vị các con của manas như sau:
“These Sons of mind clung to the old and dying form, and refused to leave their Mother. They chose to pass into dissolution with her, but a younger son (Saturn) sought to rescue his brothers, and to this end he built a triple bridge between the old and new. This bridge persists, and forms a path whereon escape is possible.
“Những Con của trí tuệ này bám lấy hình tướng cũ đang tàn lụi, và từ chối rời Mẹ của mình. Họ chọn đi vào sự tan rã cùng với Mẹ, nhưng một người con trẻ hơn (Sao Thổ) đã tìm cách cứu các huynh đệ của mình, và vì mục đích đó y đã xây một cây cầu tam phân giữa cái cũ và cái mới. Cây cầu này vẫn tồn tại, và tạo thành một con đường trên đó sự thoát ra là điều có thể.
Some escaped and came to the help of the incarnating Sons of Mind who had left the Mother for the Father. The greater gulf was bridged. The lesser gulf persisted, and must be bridged by the living Sons of Mind themselves.” (This latter clause, refers to the building of the antaskarana.)
Một số đã thoát ra và đến trợ giúp các Con của Trí Tuệ đang nhập thể, những Đấng đã rời Mẹ để đến với Cha. Hố ngăn cách lớn hơn đã được bắt cầu. Hố ngăn cách nhỏ hơn vẫn còn, và phải được chính các Con của Trí Tuệ đang sống bắt cầu.” (Mệnh đề sau này ám chỉ việc xây dựng antahkarana.)
The energy transmitted from the manasic permanent atom of each incarnating jiva, its union with its reflection, the energy of the mental unit, and the triple stream of force thus created on the mental plane, has its planetary reflection in the relation of Saturn to another planetary scheme, and the three rings which are energy rings, and symbols of an inner verity.
Năng lượng được truyền từ nguyên tử trường tồn manas của mỗi jiva nhập thể, sự hợp nhất của nó với phản chiếu của nó, năng lượng của đơn vị hạ trí, và dòng mãnh lực tam phân do đó được tạo ra trên cõi trí, có sự phản chiếu hành tinh của nó trong mối liên hệ của Sao Thổ với một hệ hành tinh khác, và ba vành đai là những vành đai năng lượng, đồng thời là biểu tượng của một chân lý nội tại.
f. Energy also pours in upon the knowledge petals from the egoic group, or from the aggregated knowledge petals of all the other lotuses in the group affiliated with any particular solar Angel. These groups have been earlier dealt with.
f. Năng lượng cũng tuôn vào các cánh hoa tri thức từ nhóm chân ngã, hay từ tổng hợp các cánh hoa tri thức của tất cả các hoa sen khác trong nhóm liên kết với một Thái dương Thiên Thần đặc biệt nào đó. Các nhóm này đã được bàn đến trước đây.
g. Energy is transmitted also to the petals via the groups and emanations from those planetary schemes and streams of force which form the outer petals of that great centre which is our solar system, and which we are told is seen from the higher planes as a twelve-petalled lotus. These streams [Page 1114] do not emanate from the seven sacred planets but from other planetary bodies within the solar Ring-Pass-Not. Streams of force from the Sacred Planets play upon the central tier of petals. Herein lies a hint to the wise student, and a clue to the nature of the lower aspect of the solar Angel.
g. Năng lượng cũng được truyền đến các cánh hoa qua các nhóm và các phát xạ từ những hệ hành tinh và những dòng mãnh lực tạo thành các cánh hoa bên ngoài của đại trung tâm là hệ mặt trời của chúng ta, và như chúng ta được cho biết, từ các cõi cao hơn nó được thấy như một hoa sen mười hai cánh. Những dòng này [Page 1114] không phát ra từ bảy hành tinh thiêng liêng mà từ các thiên thể khác bên trong vòng-giới-hạn của hệ mặt trời. Các dòng mãnh lực từ các Hành Tinh Thiêng Liêng tác động lên tầng cánh hoa trung tâm. Chính trong đây có một gợi ý cho đạo sinh minh triết, và một đầu mối về bản chất của phương diện thấp của Thái dương Thiên Thần.
The Love Wisdom Petals. The streams of energy playing upon and through this second tier of petals closely resemble those already dealt with, but originate in differing groups of lives (lunar and solar).
Các cánh hoa Bác Ái – Minh Triết. Các dòng năng lượng tác động lên và xuyên qua tầng cánh hoa thứ hai này rất giống với những dòng đã được bàn đến, nhưng phát sinh từ các nhóm sự sống khác nhau (thái âm và thái dương).
a. The lowest form of energy, reaching this circle, emanates from the lower self, via the astral permanent atom, and the second petal of the outer tier. It is transmuted astral energy; it is more powerful than its correspondence in the first tier, owing to the inherent nature of the astral body, and the fact that it is augmented by the energy of the outer tier itself. This is one of the factors which brings about the more rapid progress made towards the close of the evolutionary period. There are certain streams of force in the evolution of the Monad which might be regarded as embodying for it the line of least resistance and they are specifically beginning at the lowest:
a. Hình thức năng lượng thấp nhất đi đến vòng này phát ra từ phàm ngã, qua nguyên tử trường tồn cảm dục, và cánh hoa thứ hai của tầng ngoài cùng. Đó là năng lượng cảm dục đã được chuyển hoá; nó mạnh hơn sự tương ứng của nó trong tầng thứ nhất, do bản chất cố hữu của thể cảm dục, và do sự kiện nó được tăng cường bởi năng lượng của chính tầng ngoài cùng. Đây là một trong những yếu tố tạo nên sự tiến bộ nhanh hơn vào lúc gần cuối thời kỳ tiến hoá. Có những dòng mãnh lực nhất định trong sự tiến hoá của chân thần có thể được xem như hiện thân cho nó của con đường ít trở ngại nhất và chúng bắt đầu một cách chuyên biệt từ mức thấp nhất:
a. Emanations from the vegetable kingdom.
a. Các phát xạ từ giới thực vật.
b. Astral energy.
b. Năng lượng cảm dục.
c. The energy of the second circle of petals.
c. Năng lượng của vòng cánh hoa thứ hai.
d. Buddhic force.
d. Mãnh lực Bồ đề.
e. The activity of the second Logos, planetary or solar.
e. Hoạt động của Thượng đế thứ hai, hành tinh hay thái dương.
This is, of course, only true of this solar system, being the system of regenerative love.
Dĩ nhiên, điều này chỉ đúng đối với hệ mặt trời này, vì đây là hệ của tình thương tái sinh.
b. Another form of influencing energy originates in the inner circle of petals, which is the focal point [Page 1115] of force for the Monad, considered as atma. It must be pointed out that the streams of force which form the “petals of will” have a dynamic activity and (when in action) produce very rapid unfoldment. It is the inner of the two types of force; their mutual interplay provides the necessary stimulus, and results in the opening of the bud and the revelation of the Jewel.
b. Một hình thức năng lượng gây ảnh hưởng khác phát sinh từ vòng cánh hoa bên trong, là tiêu điểm [Page 1115] của mãnh lực cho chân thần, được xét như atma. Cần phải chỉ ra rằng các dòng mãnh lực tạo thành “các cánh hoa ý chí” có một hoạt động năng động và (khi hoạt động) tạo ra sự khai mở rất nhanh. Đây là loại bên trong của hai loại mãnh lực; sự tương tác hỗ tương của chúng cung cấp kích thích cần thiết, và dẫn đến việc nụ hoa mở ra cùng sự mặc khải của Viên Ngọc.
The other types of energy find their correspondence with those already enumerated but I seek only to mention one of them,—that one which reaches the second tier of love petals, via the buddhic permanent atom. The energy thus originating is of a peculiarly interesting kind being the basic energy of all manifestation, and the sum total of the forces which form the sevenfold heart of the physical sun, and which are located within its sheltering luminosity. They in their turn are transmitters of the life-impulses from the heart of the central Spiritual Sun, so that we have a direct graded chain of transmitting energies.
Các loại năng lượng khác tìm thấy sự tương ứng của chúng với những loại đã được liệt kê, nhưng tôi chỉ muốn nhắc đến một loại trong số đó, — loại đi đến tầng thứ hai của các cánh hoa bác ái, qua nguyên tử trường tồn Bồ đề. Năng lượng phát sinh như thế là một loại đặc biệt thú vị vì nó là năng lượng căn bản của mọi biểu lộ, và là tổng số các mãnh lực tạo thành trái tim thất phân của mặt trời hồng trần, và được định vị bên trong ánh sáng che chở của nó. Đến lượt mình, chúng là những bộ truyền dẫn các xung lực sự sống từ trái tim của Mặt trời Tinh thần Trung Ương, để rồi chúng ta có một chuỗi truyền dẫn năng lượng trực tiếp theo từng cấp.
a. The Heart of the central Spiritual Sun.
a. Trái tim của Mặt trời Tinh thần Trung Ương.
b. The sevenfold heart of the physical Sun.
b. Trái tim thất phân của mặt trời hồng trần.
c. The buddhic devas
c. Các thiên thần Bồ đề
to
đến
d. The central circle of petals.
d. Vòng cánh hoa trung tâm.
e. The astral permanent atom.
e. Nguyên tử trường tồn cảm dục.
f. The heart centre within the Head.
f. Trung tâm tim trong Đầu.
g. The heart centre.
g. Trung tâm tim.
This buddhic energy is the sumtotal of the life force of Vishnu or the Son, Who is the transmitter and representative of a still greater cosmic Deity.
Năng lượng Bồ đề này là tổng số của lực sự sống của Vishnu hay Con, Đấng là bộ truyền dẫn và đại diện của một Thượng đế vũ trụ còn vĩ đại hơn nữa.
All the above serves to demonstrate the oneness of the tiniest unit with the one great informing Life, and shows the integral beauty of the scheme. The life of the greatest cosmic Lord of Love pulsates in infinitesimal degree [Page 1116] in the heart of His tiniest reflection, and for this reason the atom man can likewise say “I too am God; His Life is mine.”
Tất cả những điều trên chứng minh tính nhất thể của đơn vị nhỏ bé nhất với một Sự sống thấm nhuần vĩ đại duy nhất, và cho thấy vẻ đẹp toàn vẹn của hệ thống. Sự sống của vị Chúa Tể Tình Thương vũ trụ vĩ đại nhất rung động ở mức vô cùng nhỏ [Page 1116] trong trái tim của phản chiếu nhỏ bé nhất của Ngài, và vì lý do này nguyên tử con người cũng có thể nói “Tôi cũng là Thượng đế; Sự sống của Ngài là của tôi.”
The Sacrifice Petals. The energies or forces flowing through, and thus producing activity in the inner tier of petals, the Sacrifice Petals, are again similar in nature to those already enumerated, plus a definite stimulation of power in two directions.
Các cánh hoa hi sinh. Các năng lượng hay mãnh lực chảy qua, và do đó tạo ra hoạt động trong tầng cánh hoa bên trong, các cánh hoa hi sinh, lại tương tự về bản chất với những loại đã được liệt kê, cộng thêm một sự kích thích quyền năng xác định theo hai hướng.
One stimulating influence comes from the Will Aspect of the Monad, and thus (through transmission) from the first Aspect of the planetary Logos, and the other emanates from the “Sacred Bud which veils the Jewel.” This is a particularly strong vibration because, when the inner circle is unfolded, the jewel is revealed, and the three “veils” or “sacred petals” open successively when the three tiers unfold.
Một ảnh hưởng kích thích đến từ Phương diện Ý Chí của chân thần, và do đó (qua sự truyền dẫn) từ Phương diện thứ nhất của Hành Tinh Thượng đế, còn ảnh hưởng kia phát ra từ “Nụ Thiêng che phủ Viên Ngọc.” Đây là một rung động đặc biệt mạnh bởi vì, khi vòng bên trong được khai mở, viên ngọc được tiết lộ, và ba “tấm màn” hay “các cánh hoa thiêng” mở ra tuần tự khi ba tầng được khai mở.
It is thus apparent what numerous energising agencies are responsible for the “motion,” occultly understood, of the egoic lotus. There is the inherent life of the atomic units forming each petal, and the circulatory life of the petal itself, regarding it as an individual unit. There is likewise the life of the circle of three petals and to this we must add the unified activity of the outer three circles, or the blending of knowledge forces absorbed from the personal self, of love forces which are the natural energies of the solar Angel, and of sacrifice forces pouring in from the Monad. Thus we have a marvellous aggregate of streams of energies, all representing interior and still greater (because cosmic) energies.
Do đó, hiển nhiên là có vô số tác nhân tiếp năng lượng chịu trách nhiệm cho “chuyển động”, theo nghĩa huyền bí, của Hoa Sen Chân Ngã. Có sự sống cố hữu của các đơn vị nguyên tử tạo thành mỗi cánh hoa, và sự sống tuần hoàn của chính cánh hoa, khi xem nó như một đơn vị cá biệt. Cũng có sự sống của vòng ba cánh hoa và vào đó chúng ta phải thêm hoạt động hợp nhất của ba vòng bên ngoài, hay sự hòa trộn của các mãnh lực tri thức được hấp thụ từ phàm ngã, của các mãnh lực bác ái là những năng lượng tự nhiên của Thái dương Thiên Thần, và của các mãnh lực hi sinh tuôn vào từ chân thần. Như thế, chúng ta có một tổng hợp kỳ diệu của các dòng năng lượng, tất cả đều biểu hiện những năng lượng nội tại và còn lớn hơn nữa (vì là vũ trụ).
Finally, we have the dynamic force of the “Jewel” at the Heart, which is itself the focal point for the life of the planetary Logos, and through the planetary Logos of all the other Logoi.
Sau cùng, chúng ta có mãnh lực năng động của “Viên Ngọc” ở Trung Tâm, bản thân nó là tiêu điểm cho sự sống của Hành Tinh Thượng đế, và qua Hành Tinh Thượng đế là của tất cả các Thượng đế khác.
Thus the potentialities latent in the incarnating jiva are stupendous, and he can become as God, provided he submits to the evolutionary process, and does not “refrain [Page 1117] from being stretched upon the wheel.” Thus the expansions of consciousness, which will admit an individual point of spiritual life into the councils, and the Wisdom of the Deity, are no idle promise but are guaranteed by the very constitution of the vehicle employed, and the place in the scheme of the “developing Point,” as the Ego is sometimes called. Naught in time and space can hinder, for every form being simply an expression of energised life, tends to serve every other form. Stimulation of some kind, the tendency to increase the vibration of contacting streams of energy, the accentuation of the activity of each centralised point as it contacts other points in the general heightening of the vibration through the interplay of those forces, all this sweeps the entire system on to its consummation, and to the revelation of the “glory which shall some day be revealed. (Bible. I. Peter, 5:1.) All these forces form the aggregate of what is called “fohatic life.” As the system, or the body of the Logos, is carried forward through the energy in all its parts, so is each infinitesimal part speeded on to its similar individual glorification. The many which form the All, and the units which constitute the One, cannot be differentiated as the consummation is achieved. They are merged, and lost in the general “beatific light,” as it is sometimes called. We can then extend the concept somewhat further, and realise the cosmic interplay which is likewise being carried forward. We can picture the cosmic stimulation and intensification which proceeds as constellations form the units in the Whole instead of planets or human atoms. Whole suns with their allied systems in their immensity play the part of atoms. Thus some idea may be gained of the unified purpose underlying the turning of the great Wheel of the cosmic Heaven, and the working through of the life purposes of those stupendous Existences Who [Page 1118] hold a position in the cosmic Hierarchy similar to that of the “ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID.”
Như vậy, các tiềm năng tiềm ẩn trong jiva nhập thể là vô cùng to lớn, và y có thể trở nên như Thượng đế, miễn là y thuận phục tiến trình tiến hoá, và không “từ chối [Page 1117] bị căng trên bánh xe.” Như vậy, những sự mở rộng tâm thức, vốn sẽ cho phép một điểm cá biệt của sự sống tinh thần đi vào các hội đồng và Minh triết của Thượng đế, không phải là lời hứa suông mà được bảo đảm bởi chính cấu tạo của vận cụ được sử dụng, và bởi vị trí trong hệ thống của “Điểm đang phát triển,” như Chân ngã đôi khi được gọi. Không gì trong thời gian và không gian có thể cản trở, vì mọi hình tướng, chỉ đơn giản là một biểu hiện của sự sống được tiếp năng lượng, đều có khuynh hướng phụng sự mọi hình tướng khác. Sự kích thích thuộc một loại nào đó, khuynh hướng làm tăng rung động của các dòng năng lượng tiếp xúc, sự nhấn mạnh hoạt động của mỗi điểm được tập trung khi nó tiếp xúc với các điểm khác trong sự nâng cao tổng quát của rung động qua sự tương tác của các mãnh lực ấy, tất cả điều này cuốn toàn bộ hệ thống tiến đến sự viên mãn của nó, và đến sự mặc khải của “vinh quang sẽ có ngày được bày tỏ. (Kinh Thánh. I. Peter, 5:1.) Tất cả các mãnh lực này tạo thành tổng thể của cái được gọi là “sự sống fohat.” Cũng như hệ thống, hay thể của Thượng đế, được đưa tiến lên nhờ năng lượng trong mọi phần của nó, thì mỗi phần vô cùng nhỏ bé cũng được thúc đẩy đến sự vinh hiển cá biệt tương tự của nó. Nhiều cái tạo thành Toàn Thể, và các đơn vị cấu thành Đấng Duy Nhất, không thể bị phân biệt khi sự viên mãn được đạt đến. Chúng được hòa nhập, và mất đi trong “ánh sáng chí phúc” tổng quát, như đôi khi được gọi như vậy. Khi đó chúng ta có thể mở rộng khái niệm thêm đôi chút, và chứng nghiệm sự tương tác vũ trụ cũng đang được xúc tiến. Chúng ta có thể hình dung sự kích thích và tăng cường vũ trụ diễn ra khi các chòm sao tạo thành các đơn vị trong Toàn Thể thay vì các hành tinh hay các nguyên tử người. Những mặt trời toàn vẹn cùng các hệ liên kết của chúng trong sự bao la của chúng đóng vai trò của các nguyên tử. Như vậy có thể đạt được một vài ý niệm về mục đích hợp nhất nằm bên dưới sự quay của Đại Luân Xa của Thiên Đàng vũ trụ, và sự vận hành các mục đích sự sống của những Hiện Hữu vĩ đại ấy, Đấng [Page 1118] giữ một vị trí trong Huyền Giai vũ trụ tương tự như vị trí của “ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ.”
It is not possible to give students an adequate idea of the beauty of the egoic lotus when it has reached the stage of complete unfoldment. The radiancy of its colour is not here referred to, but the brilliancy of the fires, and the rapid scintillation of the ceaselessly moving streams and points of energy. Each petal pulsates with quivering fire “points,” and each tier of petals vibrates with life, whilst at the centre glows the Jewel, raying forth streams of energy from the centre to the periphery of the outermost circle.
Không thể đem lại cho đạo sinh một ý niệm đầy đủ về vẻ đẹp của Hoa Sen Chân Ngã khi nó đã đạt đến giai đoạn khai mở hoàn toàn. Ở đây không nói đến sự rực rỡ của màu sắc của nó, mà là sự chói sáng của các ngọn lửa, và sự lấp lánh nhanh chóng của các dòng và các điểm năng lượng chuyển động không ngừng. Mỗi cánh hoa rung động với những “điểm” lửa run rẩy, và mỗi tầng cánh hoa rung động với sự sống, trong khi ở trung tâm Viên Ngọc rực sáng, phóng ra các dòng năng lượng từ trung tâm đến chu vi của vòng ngoài cùng.
The fires of living energy circulate around each individual petal and the method of interweaving and the circulation of the fires is (as may be well realised) sevenfold in nature according to the sevenfold nature of the Logos involved. Each circle of petals becomes, as evolution proceeds, likewise active, and revolves around the central Jewel, so that we have, not only the activity of the petals, not only the activity of the living points or the deva lives within the petal circumference, but likewise the unified activity of each tier of the threefold lotus. At a specific stage in evolution, prior to the opening of the central veiling bud, the three tiers of petals, considered as a unit, begin to revolve, so that the entire lotus appears to be in motion. At the final stages the central circle of petals opens, revealing that which is hid, and revolves around the Jewel, only in a contrary direction to the rapidly circulating outer lotus. The reason may not here be revealed for it is hid in the nature of the electric Fire of Spirit itself.
Các ngọn lửa của năng lượng sống động lưu chuyển quanh mỗi cánh hoa riêng biệt và phương pháp đan kết cùng sự lưu chuyển của các ngọn lửa ấy là (như có thể dễ dàng chứng nghiệm) có bản chất thất phân tùy theo bản chất thất phân của Thượng đế liên hệ. Mỗi vòng cánh hoa cũng trở nên hoạt động khi tiến hoá diễn ra, và quay quanh Viên Ngọc trung tâm, để rồi chúng ta không chỉ có hoạt động của các cánh hoa, không chỉ có hoạt động của các điểm sống động hay các sự sống thiên thần bên trong chu vi cánh hoa, mà còn có hoạt động hợp nhất của mỗi tầng của hoa sen tam phân. Ở một giai đoạn chuyên biệt trong tiến hoá, trước khi nụ che phủ trung tâm mở ra, ba tầng cánh hoa, được xem như một đơn vị, bắt đầu quay, đến nỗi toàn bộ hoa sen dường như đang chuyển động. Ở các giai đoạn cuối cùng, vòng cánh hoa trung tâm mở ra, tiết lộ điều bị che giấu, và quay quanh Viên Ngọc, nhưng theo chiều ngược lại với hoa sen bên ngoài đang lưu chuyển nhanh chóng. Lý do không thể được tiết lộ ở đây vì nó ẩn giấu trong chính bản chất của Lửa Điện của Tinh thần.
The Jewel itself remains occultly static, and does not circulate. It is a point of peace; it pulsates rhythmically as does the heart of man, and from it ray forth eight streams of living fire which extend to the tips of the four love petals and the four sacrifice petals. This eight-fold [Page 1119] energy is atma-buddhi. It is this final raying forth which produces the eventual disintegration of the body of the Ego. The knowledge petals, not being the subject of the attention of this central fire in due time cease to be active; knowledge is superseded by divine wisdom and the love petals have their forces equally absorbed. Naught is eventually left but the desire to “sacrifice,” and as the vibratory impulse is akin to the nature of the living Jewel, it is synthesised in the central living unit and only the Jewel of fire remains. When all the petals have merged their forces elsewhere, the process of revelation is completed. The lower fires die out; the central fire is absorbed, and only the radiant point of electric fire persists. Then a curious phenomenon is to be seen at the final Initiation. The Jewel of fire blazes forth as seven jewels within the one, or as the sevenfold electric spark, and in the intensity of the blaze thus created is reabsorbed into the Monad or the One. This process is paralleled at the final consummation of solar evolution when the seven Suns blaze forth before the great Pralaya.
Bản thân Viên Ngọc vẫn đứng yên một cách huyền bí, và không lưu chuyển. Nó là một điểm bình an; nó rung động theo nhịp điệu như trái tim con người, và từ nó phóng ra tám dòng lửa sống động kéo dài đến chóp của bốn cánh hoa bác ái và bốn cánh hoa hi sinh. Năng lượng bát phân [Page 1119] này là atma-buddhi. Chính sự phóng chiếu cuối cùng này tạo ra sự tan rã sau cùng của thể Chân ngã. Các cánh hoa tri thức, vì không là đối tượng của sự chú ý của ngọn lửa trung tâm này, đến lúc thích hợp sẽ ngừng hoạt động; tri thức được thay thế bởi minh triết thiêng liêng và các cánh hoa bác ái cũng có các mãnh lực của chúng được hấp thụ tương tự. Cuối cùng không còn lại gì ngoài khát vọng “hi sinh,” và vì xung lực rung động này tương đồng với bản chất của Viên Ngọc sống động, nên nó được tổng hợp trong đơn vị sống động trung tâm và chỉ còn lại Viên Ngọc lửa. Khi tất cả các cánh hoa đã hợp nhất các mãnh lực của chúng ở nơi khác, tiến trình mặc khải được hoàn tất. Các ngọn lửa thấp tắt đi; ngọn lửa trung tâm được hấp thụ, và chỉ còn điểm rực sáng của Lửa Điện tồn tại. Khi đó một hiện tượng kỳ lạ được thấy vào lần điểm đạo cuối cùng. Viên Ngọc lửa bùng cháy như bảy viên ngọc trong một, hay như tia lửa điện thất phân, và trong cường độ của ngọn lửa được tạo ra như thế, nó được tái hấp thụ vào chân thần hay Đấng Duy Nhất. Tiến trình này song hành với sự viên mãn cuối cùng của tiến hoá thái dương khi bảy Mặt Trời bùng cháy trước Đại giai kỳ qui nguyên.
All these modes of expression are but pictures which serve to convey some small idea of the beauty, and the intricacy of the divine process as it is carried on in the microcosm, and in the macrocosm. They all serve to limit and circumscribe the reality, but to the man who has the divine eye in process of opening, and to him who has the faculty of the higher intuition awakened, such pictures serve as a clue or key to the higher interpretation. They reveal to the student certain ideas as to the nature of fire.
Tất cả những phương thức diễn đạt này chỉ là những bức tranh nhằm truyền đạt một vài ý niệm nhỏ về vẻ đẹp và sự phức tạp của tiến trình thiêng liêng khi nó được thực hiện trong tiểu thiên địa và trong đại thiên địa. Tất cả chúng đều có tác dụng giới hạn và khoanh vùng thực tại, nhưng đối với người mà nhãn pháp thiêng liêng đang trong tiến trình mở ra, và đối với người mà năng lực trực giác cao hơn đã được đánh thức, những bức tranh như thế đóng vai trò như một đầu mối hay chìa khóa cho sự diễn giải cao hơn. Chúng tiết lộ cho đạo sinh một số ý tưởng nhất định về bản chất của lửa.
S9S5 Text
In concluding what is to be said anent motion in the causal body, I would like to point out that it too—on its own plane—has the three characteristics of inertia, mobility and rhythm.
Để kết thúc những gì cần nói về chuyển động trong thể nguyên nhân, tôi muốn chỉ ra rằng nó cũng — trên cõi riêng của nó — có ba đặc tính là Quán tính, tính động và nhịp điệu.
Inertia characterises the stage prior to the revolution of the different tiers of petals, and this revolution only begins [Page 1120] to be felt when the petals are becoming active. It might be stated that the passing of the Pilgrim through the Hall of Ignorance corresponds to the period of “egoic inertia.” During this period, the permanent atoms are the most noticeable points of light in the lotus; they constitute the “energy feeders” of the petal. Later, as the Pilgrim on the physical plane becomes more active and the egoic lotus is consequently unfolding with greater rapidity, the stage of mobility supervenes, and the circles commence their revolution. Finally, when the man treads the Path and his purpose is intensified, the central bud unfolds, the revolution is unified, and through the raying forth of the fires of the Jewel, a specific rhythm is imposed upon the lotus, and its energies are stabilised. This rhythm is diverse according to the type of Monad concerned, or the nature of the planetary Logos of a man’s ray, his divine Prototype.
Quán tính đặc trưng cho giai đoạn trước khi các tầng cánh hoa khác nhau quay, và sự quay này chỉ bắt đầu [Page 1120] được cảm nhận khi các cánh hoa đang trở nên hoạt động. Có thể nói rằng việc Người Hành Hương đi qua Phòng Vô Minh tương ứng với thời kỳ “quán tính chân ngã.” Trong thời kỳ này, các Nguyên tử trường tồn là những điểm sáng đáng chú ý nhất trong hoa sen; chúng cấu thành các “bộ tiếp năng lượng” của cánh hoa. Về sau, khi Người Hành Hương trên cõi hồng trần trở nên hoạt động hơn và do đó Hoa Sen Chân Ngã khai mở nhanh hơn, giai đoạn tính động xuất hiện, và các vòng bắt đầu quay. Sau cùng, khi con người bước trên Con Đường và mục đích của y được tăng cường, nụ trung tâm khai mở, sự quay được hợp nhất, và qua sự phóng chiếu của các ngọn lửa của Viên Ngọc, một nhịp điệu chuyên biệt được áp đặt lên hoa sen, và các năng lượng của nó được ổn định. Nhịp điệu này khác nhau tùy theo loại chân thần liên hệ, hay bản chất của Hành Tinh Thượng đế thuộc cung của một người, Nguyên Mẫu thiêng liêng của y.
By the use of certain terms, information is conveyed to the Workers of the planet, the Brotherhood of Light, as to the nature of Ego concerned, the quality of his Ray, the number of his vibration, and the point of evolution attained. It will be apparent therefore, why it is not permitted here to make public the names of the seven rhythmic groups.
Bằng việc sử dụng một số thuật ngữ nhất định, thông tin được truyền đạt cho những Người Hoạt Động của hành tinh, Huynh đệ Đoàn Chánh đạo, về bản chất của Chân ngã liên hệ, phẩm tính của cung của y, con số rung động của y, và điểm tiến hoá đã đạt được. Vì vậy, sẽ hiển nhiên tại sao ở đây không được phép công khai các tên của bảy nhóm nhịp điệu.
One of the effects produced in the lower man via the centres, through the unified activity of the causal body, is the co-ordination of the lower energies of the human being. These lower energies, as we know, demonstrate through the medium of:
Một trong những hiệu quả được tạo ra trong phàm nhân qua các trung tâm, nhờ hoạt động hợp nhất của thể nguyên nhân, là sự phối hợp các năng lượng thấp của con người. Những năng lượng thấp này, như chúng ta biết, biểu lộ qua trung gian của:
a. The three groups of centres in the three bodies.
a. Ba nhóm trung tâm trong ba thể.
b. The etheric body itself.
b. Chính thể dĩ thái.
c. Certain centres in the physical body such as the pineal gland, the pituitary body and the spleen.
c. Một số trung tâm trong thể xác như tuyến tùng, tuyến yên và lá lách.
We are not here referring to the work of those centres as it is self-initiated because inherent in their very nature, [Page 1121] but to the effects to be seen in them as the three tiers of petals function with increasing coherence, and the force latent in the Jewel makes its presence felt. It might specifically be said that these effects show themselves in a threefold manner:
Ở đây chúng ta không đề cập đến công việc của các trung tâm ấy khi nó được tự khởi xướng vì vốn có trong chính bản chất của chúng, [Page 1121] mà là đến những hiệu quả được thấy trong chúng khi ba tầng cánh hoa vận hành với sự cố kết ngày càng tăng, và mãnh lực tiềm ẩn trong Viên Ngọc làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận. Có thể nói một cách chuyên biệt rằng những hiệu quả này biểu lộ theo lối tam phân:
First, they cause the group of “wheels” or centres on each plane (or in each of the subtler vehicles) to become fourth dimensional, and to function as “wheels which turn upon themselves.”
Thứ nhất, chúng khiến nhóm các “bánh xe” hay trung tâm trên mỗi cõi (hay trong mỗi vận cụ tinh tế hơn) trở thành bốn chiều, và vận hành như “những bánh xe tự quay trên chính mình.”
Secondly, they produce the orderly distribution of force by the forming of various triangles of energy within the bodies. This has been earlier dealt with, and it is only necessary here to point out that it is the energy, accumulating in the causal body and from thence making its presence felt, which produces among the centres the esoteric circulation of force which eventually links each centre up in a peculiar geometrical fashion, thus bringing every part of the nature of the lower man into subjection.
Thứ hai, chúng tạo ra sự phân phối mãnh lực có trật tự bằng việc hình thành các tam giác năng lượng khác nhau bên trong các thể. Điều này đã được bàn đến trước đây, và ở đây chỉ cần chỉ ra rằng chính năng lượng tích lũy trong thể nguyên nhân và từ đó làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận, tạo ra giữa các trung tâm sự lưu chuyển huyền bí của mãnh lực, cuối cùng nối kết mỗi trung tâm lại theo một cách hình học đặc biệt, nhờ đó đưa mọi phần của bản chất phàm nhân vào sự phục tùng.
Thirdly, they bring about the stimulation of certain of the glands of the body which are deemed at present purely physical, and thus enable the solar Angel to grip and hold to His purpose the dense physical body.
Thứ ba, chúng đem lại sự kích thích cho một số tuyến của thể mà hiện nay được xem là thuần túy hồng trần, và do đó giúp Thái dương Thiên Thần nắm giữ và duy trì mục đích của Ngài đối với thể xác đậm đặc.
It may be helpful if the student bears in mind the fact that every centre may be considered as an evidence of solar energy or fire, manifesting as a medium of lower energy or fire by friction. Where these centres exist the solar Angel is enabled gradually to impose his rhythm and vibration upon that which vibrates to what is regarded as a lower rhythm. Thus He gradually swings the entire lower form-substance into His control.
Sẽ hữu ích nếu đạo sinh ghi nhớ sự kiện rằng mỗi trung tâm có thể được xem như một bằng chứng của năng lượng thái dương hay lửa, biểu lộ như một môi trường của năng lượng thấp hơn hay lửa ma sát. Ở nơi nào các trung tâm này hiện hữu, Thái dương Thiên Thần được giúp để dần dần áp đặt nhịp điệu và rung động của ngài lên cái đang rung động theo điều được xem là một nhịp điệu thấp hơn. Như vậy Ngài dần dần đưa toàn bộ chất liệu hình tướng thấp vào sự kiểm soát của Ngài.
Before the final liberation but after the major part of the purificatory and aligning processes are complete, the vehicles of the initiate present a wonderful appearance, due to the streams of energy from the egoic body which [Page 1122] can reach him. The egoic lotus is unfolded, and the central “fire” displayed. Each petal and each circle of petals is pulsating with life and colour, and is in active movement, revolving with great rapidity and with the stream of living energy circulating in every part of the lotus. The three permanent atoms glow and blaze and form, through their rapid revolution and interplay, what appears to be a blazing point of fire, so that it has been called at times “the reflection of the Jewel in the Mother’s forehead.” The eighteen centres on the three planes (four on the mental and seven on each of the two lower planes) are radiant wheels of fire, each group distinguished by a specific colour, and revolving with such rapidity that the eye can scarce follow them. The bodies are formed of the highest grades of substance, each individual atom, therefore, being capable of intensified vibration, and glowing with the light of its own central fire. The etheric body especially is to be noticed as it is a transmitter at this stage of the purest type of prana, and deserves the name sometimes given to it of “the body of the Sun.” It is the envelope which holds the fires of the microcosmic system; in it are centred not only the pranic fires, but those seven centres which are the transmitters of all the higher energies from the Ego, and from the two higher material bodies. All is centralised, and the etheric vehicle waits for use on the physical plane in co-operation with the dense medium until the man can succeed in linking the consciousness of the two aspects of the dense body so that the continuity is preserved. This work accomplished, the three centres which are of a strictly physical nature—the pineal gland, the pituitary body and the spleen-themselves become luminous and radiant, and all the fires of the body are so stimulated that the atoms which form the physical sheath appear to radiate. This is the occult truth behind the belief that every messenger from the Lodge and every Saviour [Page 1123] of man is naturally a healer. The forces which flow through a man whose atoms, centres, sheaths, and causal body form a coherent unit in full and radiant activity are of such strength and purity as to have a definite effect upon the nature of those they contact. They heal, stimulate and increase the vibration of their fellow men.
Trước khi được giải thoát tối hậu nhưng sau khi phần lớn các tiến trình thanh luyện và chỉnh hợp đã hoàn tất, các vận cụ của điểm đạo đồ biểu lộ một sắc tướng kỳ diệu, do các dòng năng lượng từ thể chân ngã mà [Page 1122] có thể đến được với y. Hoa Sen Chân Ngã được khai mở, và “lửa” trung tâm được hiển lộ. Mỗi cánh hoa và mỗi vòng cánh hoa đều rung động với sự sống và màu sắc, và ở trong chuyển động tích cực, quay với tốc độ lớn cùng với dòng năng lượng sống lưu chuyển trong mọi phần của hoa sen. Ba nguyên tử trường tồn rực sáng và bừng cháy, và qua sự quay nhanh cùng sự tương tác của chúng, tạo thành điều trông như một điểm lửa chói sáng, đến nỗi đôi khi nó được gọi là “sự phản chiếu của Viên Ngọc trên trán của Mẹ.” Mười tám trung tâm trên ba cõi (bốn trên cõi trí và bảy trên mỗi cõi trong hai cõi thấp hơn) là những bánh xe lửa rực rỡ, mỗi nhóm được phân biệt bằng một màu sắc đặc thù, và quay nhanh đến mức mắt hầu như không thể theo kịp. Các thể được cấu thành từ những cấp độ chất liệu cao nhất, vì thế mỗi nguyên tử riêng biệt đều có khả năng rung động mãnh liệt hơn, và rực sáng bằng ánh lửa trung tâm của chính nó. Đặc biệt cần lưu ý đến thể dĩ thái vì ở giai đoạn này nó là một bộ truyền dẫn loại prana tinh khiết nhất, và xứng đáng với tên đôi khi được gọi cho nó là “thể của Mặt Trời.” Nó là lớp bao giữ các ngọn lửa của hệ thống tiểu thiên địa; trong nó tập trung không chỉ các lửa prana, mà còn bảy trung tâm là những bộ truyền dẫn mọi năng lượng cao hơn từ Chân ngã, và từ hai thể chất liệu cao hơn. Mọi sự đều được tập trung hoá, và vận cụ dĩ thái chờ được sử dụng trên cõi hồng trần trong sự hợp tác với môi trường đậm đặc cho đến khi con người có thể thành công trong việc nối kết tâm thức của hai phương diện của thể đậm đặc để sự liên tục được duy trì. Khi công việc này hoàn tất, ba trung tâm có bản chất thuần hồng trần—tuyến tùng quả, thể tuyến yên và lá lách—tự chúng trở nên sáng chói và rực rỡ, và mọi ngọn lửa của thể đều được kích thích đến mức các nguyên tử cấu thành vỏ bọc hồng trần dường như phát quang. Đây là chân lý huyền bí nằm sau niềm tin rằng mọi sứ giả từ Thánh đoàn và mọi Đấng Cứu Thế [Page 1123] của nhân loại theo bản nhiên đều là một người chữa lành. Các mãnh lực tuôn qua một con người mà các nguyên tử, trung tâm, vỏ bọc và thể nguyên nhân của y tạo thành một đơn vị nhất quán trong hoạt động viên mãn và rực sáng thì có sức mạnh và sự tinh khiết đến mức tạo ra một ảnh hưởng xác định lên bản chất của những người mà chúng tiếp xúc. Chúng chữa lành, kích thích và gia tăng rung động của những người đồng loại của y.
All this must be somewhat realised and visioned before a man on the physical plane will be willing to undergo the purifying discipline, and tread the Path whereby he finds his centre and works from that standpoint of power. He has to align these various factors, or energy centres, and thus bring on to the physical plane power to be used in the healing of the nations. When the glory of a man’s inner God is seen, when his radiance shines forth then will it be said of him as of those who have preceded him along the Path: “Then shall the Sun of Righteousness arise with healing in his wings.” (Bible. Malachi, 4:2.)
Tất cả điều này phải được phần nào chứng nghiệm và hình dung trước khi một người trên cõi hồng trần sẵn lòng trải qua kỷ luật thanh luyện, và bước đi trên Con Đường nhờ đó y tìm thấy trung tâm của mình và hoạt động từ điểm tựa quyền năng ấy. Y phải chỉnh hợp các yếu tố khác nhau này, hay các trung tâm năng lượng, và như thế mang xuống cõi hồng trần quyền năng để dùng vào việc chữa lành các quốc gia. Khi vinh quang của Thượng đế nội tại của một người được nhìn thấy, khi sự rạng ngời của y chiếu tỏa ra, khi ấy người ta sẽ nói về y như đã nói về những vị đi trước y trên Con Đường: “Bấy giờ Mặt Trời của Chính Nghĩa sẽ mọc lên với sự chữa lành trong đôi cánh của mình.” (Kinh Thánh. Malachi, 4:2.)
There are, in connection with human evolution, certain factors which produce definite and important results, when connected with each other through linking streams of energy and therefore consciously functioning. These factors might be considered as follows, dividing them into two groups, each of them emphasising the duality of the microcosmic manifestation:
Liên quan đến tiến hoá nhân loại, có một số yếu tố tạo ra những kết quả xác định và quan trọng khi được nối kết với nhau qua các dòng năng lượng liên kết và do đó hoạt động một cách hữu thức. Những yếu tố này có thể được xét như sau, chia thành hai nhóm, mỗi nhóm nhấn mạnh tính nhị nguyên của biểu hiện tiểu thiên địa:
Group I.
Nhóm I.
1. The Knowledge Petals.
1. Các cánh hoa tri thức.
2. The knowledge petal in each of the two inner circles.
2. Cánh hoa tri thức trong mỗi một của hai vòng bên trong.
3. The centres on the mental plane.
3. Các trung tâm trên cõi trí.
4. The throat centre in etheric matter.
4. Trung tâm cổ họng trong chất liệu dĩ thái.
5. The alta major centre.
5. Trung tâm alta major.
6. The physical brain.
6. Bộ não hồng trần.
Group II.
Nhóm II.
1. The Love Petals.
1. Các cánh hoa bác ái.
2. The love petal in each circle. [Page 1124]
2. Cánh hoa bác ái trong mỗi vòng. [Page 1124]
3. The centres on the astral plane.
3. Các trung tâm trên cõi cảm dục.
4. The heart centre in etheric matter.
4. Trung tâm tim trong chất liệu dĩ thái.
5. The pituitary body.
5. Thể tuyến yên.
6. The sympathetic nervous system.
6. Hệ thần kinh giao cảm.
These various alignments (when functioning with due adjustment) result in the transmission of energy in the first case from the manasic permanent atom, and in the second case from the buddhic permanent atom. It will be apparent, therefore, how important it is that the student duly considers the process of bringing about a uniform alignment, and a conscious appreciation of the vibratory processes of these two groups. As he brings this adjustment about, the effect upon the physical plane will be the manifestation of the powers of the Soul, and of the healing capacity; the man will become a focal point for egoic energy and a server of his race. The black magician brings about similar results by means of the first group, only with the exception that he cannot align the knowledge petals in the two inner groups, as the love-wisdom aspect is atrophied in his case. He does, however, bring through the energy of the manasic permanent atom, for the force of Mahat (of which Manas is an expression) is closely connected with what is erroneously called “evil.” Mahat and cosmic Evil have a close connection.
Các chỉnh hợp khác nhau này (khi hoạt động với sự điều chỉnh thích đáng) đưa đến sự truyền dẫn năng lượng trong trường hợp thứ nhất từ nguyên tử trường tồn manas, và trong trường hợp thứ hai từ nguyên tử trường tồn Bồ đề. Vì vậy, sẽ thấy rõ tầm quan trọng của việc đạo sinh cân nhắc đúng mức tiến trình tạo ra một sự chỉnh hợp đồng đều, và một sự đánh giá hữu thức về các tiến trình rung động của hai nhóm này. Khi y tạo ra được sự điều chỉnh này, hiệu quả trên cõi hồng trần sẽ là sự biểu lộ các quyền năng của linh hồn, và năng lực chữa lành; con người sẽ trở thành một tiêu điểm cho năng lượng chân ngã và là một người phụng sự cho nhân loại của mình. Nhà hắc thuật cũng tạo ra những kết quả tương tự bằng phương tiện của nhóm thứ nhất, chỉ trừ một điều là y không thể chỉnh hợp các cánh hoa tri thức trong hai nhóm bên trong, vì phương diện bác ái-minh triết đã bị teo lại trong trường hợp của y. Tuy nhiên, y vẫn dẫn truyền năng lượng của nguyên tử trường tồn manas, vì mãnh lực của Mahat (mà Manas là một biểu hiện) có liên hệ mật thiết với điều bị gọi sai lầm là “ác.” Mahat và Ác vũ trụ có một liên hệ gần gũi.
The great Existences Who are the principle of Mahat in its cosmic sense are connected with the lesser existences who express systemic evil. They are the sum total of the separative instrument, and where separation in any form exists, there is to be found ignorance, and therefore evil. Separation negates comprehension, or knowledge of that which is to be found outside the separated consciousness, for separative knowledge entails identification with that which is expressing itself through the medium of a form. Therefore, the Brothers of the Shadow can, and do, reach high levels along one aspect of consciousness, and touch certain specific heights of [Page 1125] spiritual evil, going a great way along the line of Mahat, or knowledge, the principle of Universal Mind. They can reach, in their later stages, expansions of consciousness and of power that will take them far beyond the confines of our solar system, and give them attributes and capacities which prove a menace to the unfolding of the second Aspect.
Các Đấng Hiện Hữu vĩ đại là nguyên khí của Mahat theo nghĩa vũ trụ có liên hệ với các hiện hữu nhỏ hơn biểu lộ cái ác của hệ thống. Các Ngài là tổng thể của công cụ phân ly, và ở đâu sự phân ly dưới bất kỳ hình tướng nào tồn tại, ở đó có thể tìm thấy vô minh, và do đó là điều ác. Sự phân ly phủ nhận sự thấu hiểu, hay tri thức về điều được tìm thấy bên ngoài tâm thức bị tách biệt, vì tri thức phân ly kéo theo sự đồng hoá với điều đang biểu lộ qua trung gian của một hình tướng. Vì vậy, các Huynh Đệ của Bóng Tối có thể, và thực sự, đạt đến các cấp độ cao theo một phương diện của tâm thức, và chạm tới những đỉnh cao đặc thù nào đó của [Page 1125] điều ác tinh thần, đi rất xa trên đường của Mahat, hay tri thức, nguyên khí của Vũ Trụ Trí. Trong các giai đoạn sau này, họ có thể đạt đến những mở rộng của tâm thức và quyền năng đưa họ vượt xa các giới hạn của hệ mặt trời chúng ta, và ban cho họ những thuộc tính và năng lực chứng tỏ là một mối đe doạ đối với sự khai mở của Phương diện thứ hai.
The first group of alignments, when not balanced by the second group, is the line of the black magician; it will lead him eventually out of the stream of fivefold energy we call manasic on to the cosmic path of fohatic energy, the strictly mahatic. When on that Path two directions are possible to him; one will keep him in touch with the natural substance aspect concerned with the cosmic incarnations of our solar Logos; the other will sweep him on to that centre in the universe which is the emanating source of the mahatic principle; it is the focal point where is generated that type of energy which makes possible the dense physical manifestation of Gods and men.
Nhóm chỉnh hợp thứ nhất, khi không được cân bằng bởi nhóm thứ hai, là con đường của nhà hắc thuật; cuối cùng nó sẽ dẫn y ra khỏi dòng năng lượng ngũ phân mà chúng ta gọi là manas đến con đường vũ trụ của năng lượng fohat, tức cái thuần túy mahatic. Khi ở trên Con Đường đó, có hai hướng mở ra cho y; một hướng sẽ giữ y tiếp xúc với phương diện chất liệu tự nhiên liên quan đến các lần lâm phàm vũ trụ của Thái dương Thượng đế chúng ta; hướng kia sẽ cuốn y đến trung tâm trong vũ trụ là nguồn phát xạ của nguyên khí mahatic; đó là tiêu điểm nơi loại năng lượng làm cho sự biểu hiện hồng trần đậm đặc của các Thượng đế và con người trở nên khả hữu được phát sinh.
In making this statement, it is necessary to bear in mind that the dense physical sheath is never considered a principle. It is ever deemed occultly evil. The matter might be more simply expressed by stating that the black adept is frankly concerned with what is termed “the residue of that which earlier was.” He responds to the vibration of the solar system of an earlier greater cycle in which the knowledge, or the manasic principle, was the goal of achievement. He does not respond to the impulse of this solar system, but this lack of response is hid in the karma of the earlier manifestation. As we know, the Sons of Mind or the incarnating jivas are the returning nirvanis of a previous logoic incarnation. They have achieved mind, and need love. Some few, through a mysterious cycle of events inexplainable to man in this solar system, repudiated opportunity and linked themselves with that great deva existence which is the impulse [Page 1126] of the dense physical, and they cannot loose themselves. Their destination, as well as his, is hidden in the plans of the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID, and in this solar system there is no hope for them. Fortunately, they are little likely to make themselves known to average man; it is the Adepts of the Good Law Who meet them the most often.
Khi đưa ra phát biểu này, cần ghi nhớ rằng vỏ bọc hồng trần đậm đặc không bao giờ được xem là một nguyên khí. Theo huyền bí học, nó luôn được coi là ác. Vấn đề có thể được diễn đạt đơn giản hơn bằng cách nói rằng chân sư hắc đạo công khai quan tâm đến điều được gọi là “cặn dư của cái đã từng có trước đây.” Y đáp ứng với rung động của hệ mặt trời của một chu kỳ lớn trước kia, trong đó tri thức, hay nguyên khí manas, là mục tiêu thành tựu. Y không đáp ứng với xung lực của hệ mặt trời này, nhưng sự thiếu đáp ứng ấy được che giấu trong nghiệp quả của biểu hiện trước đó. Như chúng ta biết, các Con của Trí Tuệ hay các jiva nhập thể là những nirvani quay trở lại của một lần lâm phàm logoic trước đây. Họ đã đạt được trí tuệ, và cần bác ái. Một số ít, qua một chu kỳ huyền nhiệm của các biến cố không thể giải thích đối với con người trong hệ mặt trời này, đã khước từ cơ hội và tự nối kết với hiện hữu thiên thần vĩ đại là xung lực [Page 1126] của cõi hồng trần đậm đặc, và họ không thể tự giải thoát. Đích đến của họ, cũng như của y, được che giấu trong các kế hoạch của Đấng Bất Khả Tư Nghị, và trong hệ mặt trời này không có hy vọng nào cho họ. May thay, họ rất ít có khả năng tự làm cho mình được biết đến với con người trung bình; chính các chân sư của Chánh đạo là những vị gặp họ thường xuyên nhất.
The subject is most intricate, but some light may come, if we remember that manas on the mental plane is found in two expressions:—the mental unit on the form levels and the manasic permanent atom on the formless planes. These two types of manas may be regarded as embodying the qualities of the two kinds, white and black. The mental unit or the mind aspect of a man, for instance, is after all but the sixth sense, and has to be transcended by the higher mind and the intuition. The black brother carries the evolution of the senses on to a stage inconceivable to man now and this sixth mahatic sense is of vaster extent and service to them than it ever is to the white Adept. Therefore, it will be apparent that for a long cycle of time, the black magician can persist and develop his powers because one-third of the force of the egoic lotus is his and he knows well how to utilise it to the best advantage. He builds also an antaskarana, but of quality and objective different to that of the student of the white magic. It is called “the path of manasic evil,” and bridges a gap between the mental unit of the magician concerned, and certain correspondences on mental levels in the vehicles of the devas of that plane. Through this medium, and through identification with the devas, he can escape from the three worlds to spheres of evil incomprehensible to us. The point to be remembered here is that the black magician remains ever a prisoner; he cannot escape from substance and from form.
Chủ đề này cực kỳ phức tạp, nhưng một ít ánh sáng có thể đến nếu chúng ta nhớ rằng manas trên cõi trí được tìm thấy trong hai biểu hiện:—đơn vị hạ trí trên các cấp độ hình tướng và nguyên tử trường tồn manas trên các cõi vô tướng. Hai loại manas này có thể được xem như hiện thân cho các phẩm tính của hai loại, trắng và đen. Chẳng hạn, đơn vị hạ trí hay phương diện trí tuệ của một người, rốt cuộc chỉ là giác quan thứ sáu, và phải được vượt qua bởi thượng trí và trực giác. Huynh đệ bóng tối đưa sự tiến hoá của các giác quan đến một giai đoạn hiện nay con người không thể hình dung nổi và giác quan thứ sáu mahatic này có phạm vi và công dụng đối với họ lớn lao hơn nhiều so với đối với chân sư chánh đạo. Vì vậy, sẽ thấy rõ rằng trong một chu kỳ thời gian dài, nhà hắc thuật có thể tiếp tục tồn tại và phát triển các quyền năng của mình bởi vì một phần ba mãnh lực của Hoa Sen Chân Ngã là của y và y biết rõ cách sử dụng nó một cách lợi hại nhất. Y cũng xây dựng một antaskarana, nhưng có phẩm tính và mục tiêu khác với của đạo sinh Chánh Thuật. Nó được gọi là “con đường của điều ác manas,” và bắt cầu một khoảng cách giữa đơn vị hạ trí của nhà huyền thuật liên hệ, và những tương ứng nào đó trên các cấp độ trí trong các vận cụ của các thiên thần của cõi ấy. Qua trung gian này, và qua sự đồng hoá với các thiên thần, y có thể thoát khỏi ba cõi giới để đến những khối cầu của điều ác mà chúng ta không thể hiểu nổi. Điểm cần ghi nhớ ở đây là nhà hắc thuật mãi mãi vẫn là một tù nhân; y không thể thoát khỏi chất liệu và hình tướng.
There is no need to enlarge further on this subject. I would like to enumerate the lines of alignment of the [Page 1127] third group which eventually transcends the other two, and effects the final illumination and liberation of the man.
Không cần phải khai triển thêm về chủ đề này. Tôi muốn liệt kê các đường chỉnh hợp của [Page 1127] nhóm thứ ba, nhóm cuối cùng vượt lên trên hai nhóm kia, và tạo ra sự soi sáng và giải thoát tối hậu cho con người.
Group III.
Nhóm III.
1. The Sacrifice Petals.
1. Các cánh hoa hi sinh.
2. The sacrifice petals in the two outer groups.
2. Các cánh hoa hi sinh trong hai nhóm bên ngoài.
3. The three major centres in each of the three planes of the three worlds, producing thus absorption of the lower four centres on each plane.
3. Ba trung tâm chính trên mỗi một trong ba cõi của ba cõi thấp, nhờ đó tạo ra sự hấp thu bốn trung tâm thấp hơn trên mỗi cõi.
4. The head centre, or the thousand-petalled lotus.
4. Trung tâm đầu, hay hoa sen ngàn cánh.
5. The pineal gland, producing the vivification and irradiation of the entire lower nature.
5. Tuyến tùng quả, tạo ra sự tiếp sinh lực và chiếu xạ cho toàn bộ bản chất thấp.
These three groups of forces in man, when synthesised, produce eventually that perfect co-ordination and adaptation to all conditions, forms and circumstances which eventuate in the escape of the liberated vital spark. This is technically accomplished when the “bud” opens, and it becomes possible for the Hierophant at initiation to liberate the energy of the Monad, and to direct that energy (through the agency of the Rod) so that eventually it circulates free and untrammelled through every part of the lower threefold manifestation. As it circulates, it destroys by burning, for it arouses the kundalini aspect perfectly by the time the fifth Initiation is taken. The destroyer aspect becomes dominated, and the form is “burnt upon the altar.”
Ba nhóm mãnh lực này trong con người, khi được tổng hợp, cuối cùng tạo ra sự phối hợp hoàn hảo và sự thích ứng với mọi điều kiện, hình tướng và hoàn cảnh, đưa đến sự giải thoát của tia lửa sinh lực được giải phóng. Về mặt kỹ thuật, điều này được hoàn thành khi “nụ” mở ra, và trở nên có thể cho Đấng Điểm đạo trong lễ điểm đạo giải phóng năng lượng của chân thần, và điều hướng năng lượng ấy (qua tác nhân của Thần Trượng Điểm đạo) để cuối cùng nó lưu chuyển tự do và không bị trói buộc qua mọi phần của biểu hiện tam phân thấp. Khi nó lưu chuyển, nó hủy diệt bằng cách thiêu đốt, vì đến lúc lần điểm đạo thứ năm được tiếp nhận, nó đánh thức hoàn toàn phương diện kundalini. Phương diện hủy diệt trở nên bị chế ngự, và hình tướng được “thiêu trên bàn thờ.”
These ideas can also be studied in their larger aspect; a clue to the mystery of cosmic evil may be found in the difference existing between the sacred and non-sacred planets, and in the purpose and place, hitherto unrecognised, of the lives of the informing existences of the many planets and planetoids in the solar system. Some are purely mahatic or of the third Aspect, dominated by the devas. Others (of which the sacred planets are examples) are controlled by the second Aspect, and that second aspect will work through unconquerably into manifestation. [Page 1128] A few, like our Earth planet, are battlegrounds, and the two Aspects are in collision, with the indication of the eventual triumph of the “white” magic.
Những ý tưởng này cũng có thể được nghiên cứu trong phương diện rộng lớn hơn của chúng; một đầu mối cho huyền nhiệm của điều ác vũ trụ có thể được tìm thấy trong sự khác biệt hiện hữu giữa các hành tinh thiêng liêng và không thiêng liêng, và trong mục đích cùng vị trí, cho đến nay vẫn chưa được nhận ra, của các sự sống của những hiện hữu phú linh cho nhiều hành tinh và tiểu hành tinh trong hệ mặt trời. Một số thuần túy là mahatic hay thuộc Phương diện thứ ba, bị các thiên thần[Page 1128] chi phối. Những hành tinh khác (mà các hành tinh thiêng liêng là ví dụ) được kiểm soát bởi Phương diện thứ hai, và phương diện thứ hai ấy sẽ vận hành một cách bất khả chinh phục để đi vào biểu hiện. Một số ít, như hành tinh Trái Đất của chúng ta, là những chiến trường, và hai Phương diện đang va chạm, với dấu hiệu cho thấy sự chiến thắng cuối cùng của huyền thuật “trắng.”
S9S6 Text
VI. EFFECTS OF SYNTHETIC MOTION — VI. CÁC HIỆU QUẢ CỦA CHUYỂN ĐỘNG TỔNG HỢP
1. Introductory remarks on alignment. — 1. Những nhận xét mở đầu về sự chỉnh hợp.
The effects of the synthetic activity of the centres, sheaths and causal body produce:
Các hiệu quả của hoạt động tổng hợp của các trung tâm, các vỏ bọc và thể nguyên nhân tạo ra:
Periodicity of manifestation.
Tính chu kỳ của biểu hiện.
The linking of the Triangles.
Sự nối kết của các Tam giác.
The relation between:
Mối liên hệ giữa:
a. The alta major centre.
a. Trung tâm alta major.
b. The throat centre.
b. Trung tâm cổ họng.
c. The centres on the mental plane.
c. Các trung tâm trên cõi trí.
If we summarize the thoughts conveyed here, we will find that it deals with some aspects of that very necessary alignment which must take place prior to full ability to serve in final liberation. We have studied from many angles the component parts of man, the microcosm, and the mode whereby he manifests on earth in order to express that which lies hidden, and to make his energy felt in the group and place where he finds himself. The constitution of the causal body has been seen to consist of a triple form of energy, with a fourth and more dynamic type of force latent at the heart, ready to demonstrate when the other three forms are active, thus utilising them as a vehicle. We have noted also that there are also three forms of energy which we call the sheaths of the personal self, and which have also to be actively functioning before the triple egoic force can make itself felt through their medium. Added to these factors, must be mentioned the seven centres in etheric matter which find their place in the etheric body, and which awaken and become active as the sheaths swing into rhythmic activity. Of these centres the three major are of the main importance where [Page 1129] egoic alignment is concerned, and their vital force only begins to make itself felt after the lower four are fully active.
Nếu chúng ta tóm lược những tư tưởng được truyền đạt ở đây, chúng ta sẽ thấy rằng nó bàn đến một số phương diện của sự chỉnh hợp rất cần thiết phải diễn ra trước khi có đầy đủ khả năng phụng sự trong sự giải thoát tối hậu. Chúng ta đã nghiên cứu từ nhiều góc độ các bộ phận cấu thành của con người, tiểu thiên địa, và phương thức nhờ đó y biểu lộ trên trần gian để diễn đạt điều ẩn giấu bên trong, và làm cho năng lượng của mình được cảm nhận trong nhóm và nơi chốn mà y thấy mình ở đó. Cấu tạo của thể nguyên nhân đã được thấy là gồm một hình thức năng lượng tam phân, với một loại mãnh lực thứ tư năng động hơn tiềm ẩn ở trung tâm, sẵn sàng biểu lộ khi ba hình thức kia hoạt động, nhờ đó sử dụng chúng như một vận cụ. Chúng ta cũng đã lưu ý rằng còn có ba hình thức năng lượng mà chúng ta gọi là các vỏ bọc của bản ngã cá nhân, và chúng cũng phải hoạt động tích cực trước khi mãnh lực chân ngã tam phân có thể tự biểu lộ qua trung gian của chúng. Ngoài các yếu tố này, phải kể đến bảy trung tâm trong chất liệu dĩ thái tìm thấy vị trí của chúng trong thể dĩ thái, và thức tỉnh rồi trở nên hoạt động khi các vỏ bọc chuyển vào hoạt động có nhịp điệu. Trong các trung tâm này, ba trung tâm chính là quan trọng nhất ở nơi mà [Page 1129] sự chỉnh hợp chân ngã có liên quan, và sinh lực của chúng chỉ bắt đầu tự biểu lộ sau khi bốn trung tâm thấp hơn hoàn toàn hoạt động.
A second factor which works into the general scheme here is the latent triple kundalini fire which is aroused and mounts through the triple spinal channel just as soon as the three major centres (the head, the heart and the throat) form an esoteric triangle, and can thus pass the fiery energy hidden in each centre in circulatory fashion. To summarise therefore: we have perfected alignment just as soon as the following factors have been put in touch with each other, or as soon as their motion or activity is synthesised; this is a most important subject for students of meditation, and for those who tread the Path of attainment to consider and practically realise.
Một yếu tố thứ hai đi vào sơ đồ tổng quát ở đây là lửa kundalini tam phân tiềm ẩn được đánh thức và đi lên qua ống sống tam phân ngay khi ba trung tâm chính (đầu, tim và cổ họng) tạo thành một tam giác huyền bí, và do đó có thể truyền năng lượng lửa ẩn trong mỗi trung tâm theo cách tuần hoàn. Vì vậy, để tóm lược: chúng ta có sự chỉnh hợp hoàn hảo ngay khi các yếu tố sau đây đã được đặt vào tiếp xúc với nhau, hay ngay khi chuyển động hoặc hoạt động của chúng được tổng hợp; đây là một chủ đề hết sức quan trọng để các đạo sinh tham thiền, và những ai bước trên Con Đường thành tựu, cân nhắc và thực sự chứng nghiệm.
1. The three tiers of petals.
1. Ba tầng cánh hoa.
2. The three sheaths.
2. Ba vỏ bọc.
3. The three major centres.
3. Ba trung tâm chính.
4. The threefold Kundalini fire.
4. Lửa Kundalini tam phân.
5. The threefold spinal channel.
5. Ống sống tam phân.
6. The three head centres, the pineal gland, the pituitary body, the alta major centre. (320)
6. Ba trung tâm đầu, tuyến tùng quả, thể tuyến yên, trung tâm alta major. (320)
(320) The alta major centre, which is formed at the point where the spinal channel contacts the skull and is therefore situated in the lowest part of the back of the head is formed of the lowest grade of etheric matter: matter of the fourth ether, whereas the etheric centres of the disciples are composed of matter of the higher ethers. (back)
(320) Trung tâm alta major, được hình thành tại điểm mà ống sống tiếp xúc với hộp sọ và vì thế nằm ở phần thấp nhất phía sau đầu, được cấu thành từ cấp thấp nhất của chất liệu dĩ thái: chất liệu của dĩ thái thứ tư, trong khi các trung tâm dĩ thái của các đệ tử được cấu thành từ chất liệu của các dĩ thái cao hơn. (sau)
Another factor which must be allowed for in advanced stages of development, is the third eye which is to the occultist and true white magician what the fourth energy centre (the jewel in the lotus) is to the lotus, or to the three tiers of petals. The correspondence is interesting:
Một yếu tố khác phải được tính đến trong các giai đoạn phát triển cao là con mắt thứ ba, đối với nhà huyền bí học và nhà huyền thuật chánh đạo chân chính, cũng như trung tâm năng lượng thứ tư (viên ngọc trong hoa sen) đối với hoa sen, hay đối với ba tầng cánh hoa. Sự tương ứng này thật thú vị:
The jewel in the lotus is the director of energy from the monad, whilst the third eye directs the energy of the Ego on the physical plane.
Viên ngọc trong hoa sen là bộ điều hướng năng lượng từ chân thần, trong khi con mắt thứ ba điều hướng năng lượng của Chân ngã trên cõi hồng trần.
The jewel in the Lotus is the centre of force which links [Page 1130] the buddhic and mental planes. When it is to be seen and felt, the man can function consciously on the buddhic plane. The third eye links the awakened physical plane man with the astral or subjective world, and enables him to function consciously there.
Viên ngọc trong Hoa Sen là trung tâm mãnh lực nối kết [Page 1130] cõi Bồ đề và cõi trí. Khi nó được nhìn thấy và cảm nhận, con người có thể hoạt động một cách hữu thức trên cõi Bồ đề. Con mắt thứ ba nối kết con người đã thức tỉnh trên cõi hồng trần với thế giới cảm dục hay chủ quan, và giúp y có thể hoạt động một cách hữu thức ở đó.
The jewel, or diamond concealed by the egoic lotus, is the window of the Monad or Spirit whereby he looks outward into the three worlds. The third eye is the window of the Ego or soul functioning on the physical plane whereby he looks inward into the three worlds.
Viên ngọc, hay kim cương được che giấu bởi Hoa Sen Chân Ngã, là cửa sổ của chân thần hay tinh thần nhờ đó y nhìn ra ngoài vào ba cõi giới. Con mắt thứ ba là cửa sổ của Chân ngã hay linh hồn đang hoạt động trên cõi hồng trần nhờ đó y nhìn vào bên trong ba cõi giới.
The jewel in the lotus is situated between manas and buddhi whilst the third eye is found between the right and left eyes.
Viên ngọc trong hoa sen nằm giữa manas và Bồ đề trong khi con mắt thứ ba được tìm thấy giữa mắt phải và mắt trái.
One of the main functions of the Master in this cycle (though not in all cycles) is to teach His pupil how to reconcile all these factors, how to synthesise their various modes of motion or expression, and how to co-ordinate them all so that the vibration is uniform. When energy from the Ego controls, or imposes its rhythm upon the various sheaths via their respective major centres, when the triple fire is mounting in orderly fashion via the triple channel, and when the three head centres are united in triangular fashion, then we have illumination or the irradiance of the entire personality life, darkness gives place to light, and the Sun of Knowledge arises and dispels the darkness of ignorance. The minor centres are concerned with the internal co-ordination of the sheath, the major with the group co-ordination or the interrelation of one sheath to another. The man becomes a burning and a shining light, radiating forth a light which burns from within.
Một trong những chức năng chính của Chân sư trong chu kỳ này (dù không phải trong mọi chu kỳ) là dạy đệ tử của Ngài cách điều hòa tất cả các yếu tố này, cách tổng hợp các phương thức chuyển động hay biểu hiện khác nhau của chúng, và cách phối hợp tất cả chúng để rung động được đồng đều. Khi năng lượng từ Chân ngã kiểm soát, hay áp đặt nhịp điệu của nó lên các vỏ bọc khác nhau qua các trung tâm chính tương ứng của chúng, khi lửa tam phân đang đi lên một cách có trật tự qua ống tam phân, và khi ba trung tâm đầu được hợp nhất theo hình tam giác, khi ấy chúng ta có sự soi sáng hay sự chiếu xạ của toàn bộ đời sống phàm ngã, bóng tối nhường chỗ cho ánh sáng, và Mặt Trời của Tri Thức mọc lên xua tan bóng tối của vô minh. Các trung tâm phụ liên quan đến sự phối hợp nội tại của vỏ bọc, các trung tâm chính liên quan đến sự phối hợp nhóm hay mối tương quan giữa vỏ bọc này với vỏ bọc khác. Con người trở thành một ánh sáng đang cháy và đang chiếu, phát tỏa một ánh sáng bừng cháy từ bên trong.
When the next step is accomplished, and the energy of the Monad, focussed through the jewel, makes itself felt also on the physical plane, passing through the triple egoic lotus via the channels already utilised by the Ego, [Page 1131] we have a man who is “inspired,” who is a spiritual creator, and who is himself “a Sun of Healing Radiance.”
Khi bước kế tiếp được hoàn thành, và năng lượng của chân thần, được tập trung qua viên ngọc, cũng tự biểu lộ trên cõi hồng trần, đi qua Hoa Sen Chân Ngã tam phân theo các kênh đã được sử dụng bởi Chân ngã, [Page 1131] chúng ta có một con người “được cảm hứng,” là một đấng sáng tạo tinh thần, và chính y là “một Mặt Trời của Bức Xạ Chữa Lành.”
These are the objectives before all those who tread the path and the goal ahead for those who follow the necessary discipline of life, and the stages of unfoldment through meditation. There are, needless to say, certain modes of work and mantric formulas known to the Masters which enable Them to hasten the process (when necessary) for Their disciples, but these are secrets scrupulously guarded and not frequently used. The usual method, a lengthy and laborious one, is to let the pupil find out each step of the way for himself, to teach him the constitution of his own body, the nature of the sheaths, and the function and apparatus of energy and so let him gradually become aware of the forces latent in himself. What is meant by the “three periodical vehicles” and the seven principles or qualities of force, is slowly revealed to him, and through experience, experiment, frequent failures, occasional success, mature reflection and introspection, and frequent incarnation, he is brought to the point where he has produced a certain measure of alignment through self-induced and continuous effort. He is then taught how to utilise that alignment, and how to manipulate energy consciously so that he can bring about on the physical plane results in service that for many lives have been probably a dream or an impossible vision. When he is proficient in these two things—stabilisation and manipulation—then, and only then, are committed to him the words and secrets which produce the demonstration on the physical plane of spiritual, or monadic, energy by means of the soul or egoic energy, utilising in its turn the energy of the material forms in the worlds, or what we might call bodily energy. This has been expressed in the following mystical and occult phrase:
Đó là những mục tiêu đặt ra trước tất cả những ai bước trên con đường và là đích đến phía trước cho những ai tuân theo kỷ luật sống cần thiết, cùng các giai đoạn khai mở qua tham thiền. Dĩ nhiên, có những phương thức làm việc và những công thức mantram nào đó mà các Chân sư biết, giúp Các Ngài đẩy nhanh tiến trình (khi cần thiết) cho các đệ tử của mình, nhưng đó là những bí mật được gìn giữ hết sức cẩn mật và không thường được sử dụng. Phương pháp thông thường, dài lâu và nhọc nhằn, là để đệ tử tự mình khám phá từng bước trên đường, dạy y về cấu tạo của chính thể mình, bản chất của các vỏ bọc, và chức năng cùng bộ máy của năng lượng, và như thế để y dần dần nhận biết các mãnh lực tiềm ẩn trong chính mình. Điều được hàm ý bởi “ba vận cụ chu kỳ” và bảy nguyên khí hay phẩm tính của mãnh lực được từ từ mặc khải cho y, và qua kinh nghiệm, thử nghiệm, nhiều lần thất bại, đôi khi thành công, suy tư chín chắn và nội quan, cùng nhiều lần lâm phàm, y được đưa đến điểm mà y đã tạo ra được một mức độ chỉnh hợp nào đó bằng nỗ lực liên tục do chính mình khởi phát. Khi ấy y được dạy cách sử dụng sự chỉnh hợp ấy, và cách vận dụng năng lượng một cách hữu thức để có thể tạo ra trên cõi hồng trần những kết quả trong phụng sự mà có lẽ trong nhiều kiếp sống chỉ là một giấc mơ hay một linh ảnh bất khả. Khi y thành thạo trong hai điều này—sự ổn định hoá và sự vận dụng—thì, và chỉ khi ấy, những lời và bí mật tạo ra sự biểu lộ trên cõi hồng trần của năng lượng tinh thần, hay chân thần, bằng phương tiện của năng lượng linh hồn hay chân ngã, sử dụng đến lượt nó năng lượng của các hình tướng vật chất trong các cõi, hay điều chúng ta có thể gọi là năng lượng thể xác, mới được giao phó cho y. Điều này đã được diễn đạt trong cụm từ thần bí và huyền bí sau đây:
“When the jewel sparkles as does the diamond under the influence of the rays of the blazing sun, then the setting likewise [Page 1132] gleams and rays forth light. As the diamond shines with increasing brilliance, the fire is generated which sets on fire that which held and enclosed.”
“Khi viên ngọc lấp lánh như kim cương dưới ảnh hưởng của các tia của mặt trời rực cháy, thì giá đỡ cũng [Page 1132] lóe sáng và phát ra ánh sáng. Khi kim cương chiếu sáng với độ rực rỡ ngày càng tăng, ngọn lửa được phát sinh, thiêu cháy điều đã giữ và bao bọc nó.”
2. Motion produces periodic manifestation. — 2. Chuyển động tạo ra biểu hiện có chu kỳ.
We must here bear in mind, that we are considering synthetic alignment in connection with the second aspect, and are therefore dealing with the activity of those forms of divine manifestation which are nearing their objective. This objective might be defined as ability to vibrate synchronously with the greater unit of which it is a part. This must, therefore, be considered by the student in seven ways.
Ở đây chúng ta phải ghi nhớ rằng chúng ta đang xét sự chỉnh hợp tổng hợp liên quan đến phương diện thứ hai, và vì vậy đang bàn đến hoạt động của những hình thức biểu hiện thiêng liêng đang tiến gần mục tiêu của chúng. Mục tiêu này có thể được định nghĩa là khả năng rung động đồng bộ với đơn vị lớn hơn mà nó là một phần. Vì vậy, đạo sinh phải xem xét điều này theo bảy cách.
The first three ways concern the relation of the perfected or nearly perfected units in the three kingdoms of nature with their immediate group soul, and their continued manifestation in any particular kingdom.
Ba cách đầu tiên liên quan đến mối quan hệ của các đơn vị đã hoàn thiện hoặc gần hoàn thiện trong ba giới của tự nhiên với hồn nhóm trực tiếp của chúng, và sự biểu hiện liên tục của chúng trong bất kỳ giới đặc thù nào.
Fourth, the relation of the disciple, or man on the path, to his immediate group, and the laws which govern his reappearance in physical incarnation.
Thứ tư, mối quan hệ của đệ tử, hay con người trên đường đạo, với nhóm trực tiếp của mình, và các định luật chi phối sự tái xuất hiện của y trong lâm phàm hồng trần.
Fifth, the relation of a planetary Spirit to His group of planets, and the processes of man’s obscuration, or withdrawal, from physical plane manifestation.
Thứ năm, mối quan hệ của một Tinh thần hành tinh với nhóm hành tinh của Ngài, và các tiến trình làm mờ đi, hay rút lui, của con người khỏi biểu hiện trên cõi hồng trần.
Sixth, the relation of the major three planetary Spirits, or the three major aspects of the Logos and their manifestation.
Thứ sáu, mối quan hệ của ba Tinh thần hành tinh chính, hay ba phương diện chính của Thượng đế và sự biểu hiện của các Ngài.
Seventh, the relation of the informing Life of a solar system to the group of constellations of which He forms part, and His periodic manifestation.
Thứ bảy, mối quan hệ của Sự Sống phú linh của một hệ mặt trời với nhóm chòm sao mà Ngài là một phần, và sự biểu hiện có chu kỳ của Ngài.
These subjects have been touched upon when we studied incarnation and, earlier still, when considering pralaya or obscuration, but we dealt then with them in general terms. We might now deal more specifically with the final activities, or modes of motion, in these various congeries of lives, and see what occurs during the final stages of conscious existence, and of limited manifestation. The subject [Page 1133] is peculiarly abstruse, particularly where the elemental groups are concerned, but certain interesting points might here be brought out which will bear the closest study. Let us consider the three lower kingdoms first and pass later to the methods and activities of a human being, of a planetary Logos, and of a solar Logos.
Những chủ đề này đã được đề cập khi chúng ta nghiên cứu sự lâm phàm và, sớm hơn nữa, khi xem xét pralaya hay sự làm mờ đi, nhưng khi ấy chúng ta đã bàn đến chúng theo những nét tổng quát. Giờ đây chúng ta có thể bàn cụ thể hơn về các hoạt động cuối cùng, hay các phương thức chuyển động, trong những tập hợp sự sống khác nhau này, và xem điều gì xảy ra trong các giai đoạn cuối của sự tồn tại hữu thức, và của biểu hiện hữu hạn. Chủ đề này [Page 1133] đặc biệt khó hiểu, nhất là khi liên quan đến các nhóm hành khí, nhưng ở đây có thể nêu ra một số điểm thú vị đáng được nghiên cứu hết sức kỹ lưỡng. Trước tiên, chúng ta hãy xét ba giới thấp rồi sau đó chuyển sang các phương pháp và hoạt động của một con người, của một Hành Tinh Thượng đế, và của một Thái dương Thượng đế.
The appearance, and the final disappearance, of any manifested Life is intimately concerned with the possession, the evolutionary development, and the final disintegration, of the permanent atom. Permanent atoms, as the term is usually understood, are the property of those lives only who have achieved self-consciousness, or individuality, and therefore relative permanence in time and space. The permanent atom may be viewed as the focal point of manifestation on any particular plane. It serves, if I may use so peculiar a term, as the anchor for any particular individual in any particular sphere, and this is true of the three great groups of self-conscious Lives:
Sự xuất hiện, và sự biến mất cuối cùng, của bất kỳ Sự sống biểu hiện nào đều liên hệ mật thiết với việc sở hữu, sự phát triển tiến hoá, và sự tan rã cuối cùng, của nguyên tử trường tồn. Các nguyên tử trường tồn, theo cách thuật ngữ này thường được hiểu, chỉ là tài sản của những sự sống đã đạt được ngã thức, hay biệt ngã tính, và do đó có tính trường tồn tương đối trong thời gian và không gian. Nguyên tử trường tồn có thể được xem như tiêu điểm của biểu hiện trên bất kỳ cõi đặc thù nào. Nếu tôi có thể dùng một thuật ngữ kỳ lạ như vậy, nó phục vụ như chiếc neo cho bất kỳ cá thể đặc thù nào trong bất kỳ khối cầu đặc thù nào, và điều này đúng với ba nhóm lớn của các Sự Sống tự ý thức:
a. The incarnating Jivas, or human beings,
a. Các Jiva nhập thể, hay con người,
b. The planetary Logoi,
b. Các Hành Tinh Thượng đế,
c. The solar Logos.
c. Thái dương Thượng đế.
We must remember here that all the atomic subplanes of the seven planes form the seven spirillae of the logoic permanent atom, for this has a close bearing upon the subject under consideration.
Ở đây, chúng ta phải nhớ rằng mọi cõi phụ nguyên tử của bảy cõi hợp thành bảy loa tuyến của Nguyên tử trường tồn logoic, vì điều này có liên hệ mật thiết đến chủ đề đang được bàn đến.
The units, therefore, in the three lower kingdoms possess no permanent atoms but contribute to the formation of those atoms in the higher kingdoms. Certain wide generalisations might here be made, though too literal or too identified an interpretation should not be put upon them.
Vì vậy, các đơn vị trong ba giới thấp không sở hữu các Nguyên tử trường tồn nhưng góp phần vào sự hình thành các nguyên tử ấy trong các giới cao hơn. Ở đây có thể đưa ra một vài khái quát hóa rộng lớn, dù không nên diễn giải chúng quá sát nghĩa hay quá đồng hoá.
First, it might be said that the lowest or mineral kingdom provides that vital something which is the essence of the physical permanent atom of the human being. It provides that energy which is the negative basis for the [Page 1134] positive inflow which can be seen pouring in through the upper depression of the physical permanent atom.
Trước hết, có thể nói rằng giới thấp nhất hay giới kim thạch cung cấp cái gì đó thiết yếu, là tinh túy của nguyên tử trường tồn hồng trần của con người. Nó cung cấp năng lượng là nền tảng âm cho dòng tuôn đổ dương tính được thấy đang đổ vào qua chỗ lõm phía trên của nguyên tử trường tồn hồng trần.[Page 1134]
Secondly, the vegetable kingdom similarly provides the negative energy for the astral permanent atom of a man, and thirdly, the animal kingdom provides the negative force which when energised by the positive is seen as the mental unit. This energy which is contributed by the three lower kingdoms is formed of the very highest vibration of which that kingdom is capable, and serves as a link between man and his various sheaths, all of which are allied to one or other of the lower kingdoms.
Thứ hai, giới thực vật cũng tương tự như vậy, cung cấp năng lượng âm cho nguyên tử trường tồn cảm dục của con người, và thứ ba, giới động vật cung cấp mãnh lực âm mà khi được tiếp năng lượng bởi dương tính thì được thấy như là đơn vị hạ trí. Năng lượng này do ba giới thấp đóng góp được cấu thành từ rung động cao nhất mà mỗi giới ấy có thể đạt được, và phục vụ như một mối liên kết giữa con người với các thể khác nhau của y, tất cả đều có liên hệ với giới thấp này hay giới thấp khác.
a.
The mental body
mental unit
animal kingdom.
b.
The astral body
astral permanent atom
vegetable kingdom.
c.
The physical body
physical permanent atom
mineral kingdom.
In man these three types of energy are brought together, and synthesised, and when perfection of the personality is reached, and the vehicles aligned, we have:
Trong con người, ba loại năng lượng này được tập hợp lại và tổng hợp, và khi sự hoàn thiện của phàm ngã đạt tới, và các vận cụ được chỉnh hợp, thì chúng ta có:
a.
The energy of the mental unit
positive.
b.
The energy of the astral permanent atom
equilibrised.
c.
The energy of the physical permanent atom
negative.
Man is then closely linked with the three lower kingdoms by the best that they can provide, and they have literally given him his permanent atoms, and enabled him to manifest through their activity. The above three groups might be studied also from the standpoint of the three Gunas: (321) [Page 1135]
Khi ấy, con người được liên kết chặt chẽ với ba giới thấp bằng điều tốt nhất mà chúng có thể cung cấp, và theo nghĩa đen, chúng đã trao cho y các nguyên tử trường tồn của y, và giúp y biểu lộ qua hoạt động của chúng. Ba nhóm trên cũng có thể được nghiên cứu từ quan điểm của ba Guna: (321) [Page 1135]
(321) “Hence every manifested God is spoken of as a Trinity. The joining of these three Aspects, or phases of manifestation, at their outer points of contact with the circle, gives the basic Triangle of contact with Matter, which, with the three Triangles made with the lines traced by the Point, thus yields the divine Tetractys, sometimes called the Kosmic Quaternary, the three divine Aspects in contact with Matter, ready to create. These, in their totality, are the Oversoul of the kosmos that is to be.
(321) “Do đó, mọi Thượng đế biểu hiện đều được nói đến như một Tam Vị. Sự kết hợp của ba Phương diện này, hay ba giai đoạn biểu hiện, tại các điểm tiếp xúc bên ngoài của chúng với vòng tròn, tạo nên Tam giác căn bản tiếp xúc với Vật chất; cùng với ba Tam giác được tạo thành bởi các đường do Điểm vạch ra, như vậy tạo nên Tetractys thiêng liêng, đôi khi được gọi là Bộ Bốn Vũ trụ, tức ba Phương diện thiêng liêng tiếp xúc với Vật chất, sẵn sàng sáng tạo. Trong tính toàn thể của chúng, đây là đại hồn của vũ trụ đang thành hình.
“Under Form we may first glance at the effects of these Aspects as responded to from the side of Matter. These are not, of course, due to the Logos of a system, but are the correspondences in universal Matter with the Aspects of the universal Self. The Aspect of Bliss, or Will, imposes on Matter the quality of Inertia-Tamas, the power of resistance, stability, quietude. The Aspect of Activity gives to Matter its responsiveness to action—Rajas, mobility. The Aspect of Wisdom gives it Rhythm—Sattva, vibration, harmony. It is by the aid of Matter thus prepared that the Aspects of Logoic Consciousness can manifest themselves as Beings.”—A Study in Consciousness, by Annie Besant, p. 9. (back)
“Dưới khía cạnh Hình tướng, trước hết chúng ta có thể lướt nhìn các hiệu quả của những Phương diện này khi được đáp ứng từ phía Vật chất. Dĩ nhiên, các hiệu quả này không phải do Logos của một hệ thống tạo ra, mà là các tương ứng trong Vật chất vũ trụ với các Phương diện của Bản Ngã vũ trụ. Phương diện Chí phúc, hay Ý chí, áp đặt lên Vật chất phẩm tính Quán tính-Tamas, quyền năng kháng cự, sự ổn định, sự tĩnh tại. Phương diện Hoạt động ban cho Vật chất khả năng đáp ứng với hành động—Rajas, tính động. Phương diện Minh triết ban cho nó Nhịp điệu—Sattva, rung động, hòa điệu. Chính nhờ sự trợ giúp của Vật chất đã được chuẩn bị như thế mà các Phương diện của Tâm thức Logoic có thể biểu lộ như những Hữu thể.”—Nghiên Cứu về Tâm Thức, của Annie Besant, tr. 9. (trở lại)
1.
Tamas
inertia
mineral kingdom
physical permanent atom.
2.
Rajas
activity
vegetable kingdom
astral permanent atom.
3.
Sattva
rhythm
animal kingdom
mental unit.