← A Treatise on Cosmic Fire All

a.

a.

The Law of Solar Heat

Knowledge petals.

b.

The Law of Solar Light

Love petals.

c.

The Law of Solar Fire

Sacrifice petals.

7. The Law of Colour.

7. Định luật Màu Sắc.

To get any comprehension of this law students should remember that colour serves a twofold purpose. It acts as a veil for that which lies behind, and is therefore attracted [Page 1172] to the central spark; it demonstrates the attractive quality of the central life.

Để có được bất kỳ sự thấu hiểu nào về định luật này, các đạo sinh nên nhớ rằng màu sắc phục vụ một mục đích nhị phân. Nó hoạt động như một bức màn che cho điều nằm phía sau, và vì vậy bị hút [Page 1172] về tia lửa trung tâm; nó chứng tỏ phẩm tính hấp dẫn của sự sống trung tâm.

All colours, therefore, are centres of attraction, are complementary, or are antipathetic to each other, and students who study along these lines can find out the law, and comprehend its working through a realisation of the purpose, the activity, and the relation of colours to or for each other.

Vì vậy, mọi màu sắc đều là những trung tâm hấp dẫn, hoặc bổ sung cho nhau, hoặc đối nghịch nhau, và các đạo sinh nghiên cứu theo những đường hướng này có thể tìm ra định luật ấy, và thấu hiểu sự vận hành của nó thông qua sự chứng nghiệm về mục đích, hoạt động, và mối liên hệ của các màu sắc với nhau hay đối với nhau.

8. The Law of Gravitation. This law is for the non-occult student the most puzzling and confusing of all the laws. It shows itself in one aspect as the power, and the stronger urge that a more vital life may have upon the lesser, such as the power of the spirit of the Earth (the planetary Entity, not the planetary Logos) to hold all physical forms to itself and prevent their “scattering.” This is due to the heavier vibration, the greater accumulative force, and the aggregated tamasic lives of the body of the planetary Entity. This force works upon the negative, or lowest, aspect of all physical forms. The Law of Gravitation shows itself also in the response of the soul of all things to the greater Soul in which the lesser finds itself. This law, therefore, affects the two lowest forms of divine life, but not the highest. It emanates in the first instance from the physical sun and the heart of the Sun. The final synthesising forces which might be regarded as forms of spiritual gravitational activity are, nevertheless, not so, but are due to the working of another law, emanating from the central spiritual Sun. The one is purely systemic, the other a cosmic law.

8. Định luật Trọng Lực. Định luật này, đối với đạo sinh không huyền bí học, là điều khó hiểu và gây bối rối nhất trong mọi định luật. Nó biểu lộ trong một phương diện như là quyền năng, và sự thúc đẩy mạnh hơn mà một sự sống sinh động hơn có thể có đối với sự sống nhỏ hơn, chẳng hạn như quyền năng của tinh linh linh địa cầu (Thực Thể Hành Tinh, không phải Hành Tinh Thượng đế) giữ mọi hình tướng hồng trần lại với chính nó và ngăn chúng “phân tán.” Điều này là do rung động nặng hơn, mãnh lực tích lũy lớn hơn, và các sự sống tamas kết tập của thể của Thực Thể Hành Tinh. Mãnh lực này tác động lên phương diện âm, hay thấp nhất, của mọi hình tướng hồng trần. Định luật Trọng Lực cũng biểu lộ trong sự đáp ứng của linh hồn của vạn vật đối với Đại Hồn lớn hơn mà trong đó linh hồn nhỏ hơn tự thấy mình ở trong. Vì vậy, định luật này ảnh hưởng đến hai hình thức thấp nhất của sự sống thiêng liêng, nhưng không ảnh hưởng đến hình thức cao nhất. Trước hết, nó phát xuất từ mặt trời hồng trần và trái tim của Mặt Trời. Tuy nhiên, các mãnh lực tổng hợp hóa chung cuộc có thể được xem như những hình thức hoạt động trọng lực tinh thần thực ra không phải như vậy, mà là do sự vận hành của một định luật khác, phát xuất từ Mặt trời Tinh thần Trung Ương. Một cái hoàn toàn thuộc hệ thống, cái kia là một định luật vũ trụ.

9. The Law of Planetary Affinity. This term is used in the occult teaching specifically in connection with the interaction of the planets with each other and their eventual marriage. As we know, the planetary schemes (the seven sacred planets) will eventually synthesise, or absorb the life of the planets which are not termed sacred and the numerous planetoids, as far as the four kingdoms [Page 1173] of nature are concerned. The absorption of the Spirit aspect proceeds under the Law of Synthesis. The minor four planetary schemes become first the two, and then the one. This one, with the major three, forms a second and higher quaternary which again repeats the process, producing from the four, the two, and from the two, the one. This final one is eventually merged in the Sun, producing in this prolonged process, and over a vast period of time, the appearance of the “seven Suns who run together, and thus blaze forth, producing one flaming ball of fire.”

9. Định luật Ái lực Hành tinh. Thuật ngữ này được dùng trong giáo huấn huyền bí học một cách đặc biệt liên quan đến sự tương tác của các hành tinh với nhau và cuộc hôn phối chung cuộc của chúng. Như chúng ta biết, các hệ hành tinh (bảy hành tinh thiêng liêng) rốt cuộc sẽ tổng hợp, hay hấp thu sự sống của các hành tinh không được gọi là thiêng liêng và vô số tiểu hành tinh, xét theo bốn giới [Page 1173] tự nhiên. Sự hấp thu phương diện tinh thần diễn ra dưới Định luật Tổng Hợp. Bốn hệ hành tinh nhỏ trước hết trở thành hai, rồi sau đó thành một. Cái một này, cùng với ba hệ lớn, tạo thành một bộ bốn thứ hai và cao hơn, rồi lại lặp lại tiến trình, tạo ra từ bốn thành hai, và từ hai thành một. Cái một chung cuộc này cuối cùng hòa nhập vào Mặt Trời, tạo ra trong tiến trình kéo dài này, và qua một thời kỳ vô cùng lâu dài, sự xuất hiện của “bảy Mặt Trời cùng chạy với nhau, và do đó bùng cháy rực rỡ, tạo thành một khối cầu lửa duy nhất.”

On a lesser scale the same law governs the merging of the chains in a scheme.

Ở quy mô nhỏ hơn, cùng định luật ấy chi phối sự hòa nhập của các Dãy trong một hệ hành tinh.

10. The Law of Solar Union. When the interplay of the Suns is being dealt with from the material aspect and from the consciousness aspect, this term is occultly used. It is not possible to enlarge upon it, but only to point out the universality of this Law of Attraction.

10. Định luật Hợp Nhất Thái Dương. Khi sự tương tác của các Mặt Trời được bàn đến từ phương diện vật chất và từ phương diện tâm thức, thuật ngữ này được dùng một cách huyền bí. Không thể nói rộng hơn về nó, mà chỉ có thể chỉ ra tính phổ quát của Định luật Hấp Dẫn này.

S9S11 Text

11. The Law of the Schools. (The Law of Love and Light.) This is a mysterious term used to cover the law as it affects the expansions of consciousness which an initiate undergoes, and his ability to attract to himself through knowledge,

11. Định luật của các Trường Phái. (Định luật của Tình thương và Ánh sáng.) Đây là một thuật ngữ huyền nhiệm dùng để bao quát định luật khi nó ảnh hưởng đến các sự mở rộng tâm thức mà một điểm đạo đồ trải qua, và khả năng của y trong việc hút về mình, thông qua tri thức,

a. His own Higher Self, so as to produce alignment and illumination,

a. Bản Ngã Cao Siêu của chính y, để tạo ra sự chỉnh hợp và sự soi sáng,

b. His Guru,

b. Guru của y,

c. That which he seeks to know,

c. Điều mà y tìm cách biết,

d. That which he can utilise in his work of service,

d. Điều mà y có thể sử dụng trong công việc phụng sự của mình,

e. Other souls with whom he can work.

e. Những linh hồn khác mà y có thể cùng làm việc.

It will be evident, therefore, to the thoughtful student that this Law of the Schools is primarily applicable to all units of divine life who have arrived at, or transcended the stage of self-consciousness. It has consequently a vital connection with the human kingdom, and there is an occult significance in the fact that this is the eleventh [Page 1174] Law. It is the law which enables a man to unite two of his aspects (the personal self and the Higher Self). It is the law which governs the transition of the human atom into another and a higher kingdom. It is the law which (when comprehended and conformed to) enables a man to enter into a new cycle. It is the law of the adept, of the Master, and of the perfected man. For this reason it might be of profit here if we dealt with it a little more fully than with the other laws, for mankind is now at the stage where a number of its units are ready to come under the specific influence of this law, and thus be transferred out of the Hall of Learning, via the Hall of Wisdom, into the fifth or spiritual kingdom.

Vì vậy, đối với đạo sinh biết suy tư, sẽ hiển nhiên rằng Định luật của các Trường Phái này trước hết áp dụng cho mọi đơn vị của sự sống thiêng liêng đã đạt đến, hay đã vượt qua, giai đoạn ngã thức. Do đó, nó có một mối liên hệ thiết yếu với giới nhân loại, và có một thâm nghĩa huyền bí trong sự kiện đây là Định luật thứ mười một [Page 1174]. Đây là định luật giúp một người hợp nhất hai phương diện của mình (phàm ngã và Bản Ngã Cao Siêu). Đây là định luật chi phối sự chuyển tiếp của nguyên tử nhân loại vào một giới khác và cao hơn. Đây là định luật mà (khi được thấu hiểu và tuân theo) giúp một người bước vào một chu kỳ mới. Đây là định luật của chân sư, của Chân sư, và của con người hoàn thiện. Vì lý do này, ở đây sẽ có ích nếu chúng ta bàn đến nó đầy đủ hơn đôi chút so với các định luật khác, vì hiện nay nhân loại đang ở giai đoạn mà một số đơn vị của nó đã sẵn sàng đi vào dưới ảnh hưởng đặc thù của định luật này, và nhờ đó được chuyển ra khỏi Phòng Hiểu Biết, qua Phòng Minh triết, vào giới thứ năm hay giới tinh thần.

This Law of the Schools does not specifically apply to the deva evolution. They come under another law called “The Law of Passive Resistance” which does not concern us here, nor would it profit us to consider it. Three main groups of existences are controlled by it:

Định luật của các Trường Phái này không áp dụng một cách đặc thù cho tiến hoá thiên thần. Họ ở dưới một định luật khác gọi là “Định luật Kháng Cự Thụ Động”, điều này không liên quan đến chúng ta ở đây, và việc xét đến nó cũng không có ích gì. Ba nhóm hiện hữu chính được nó kiểm soát là:

1. Human beings from the moment they tread the Probationary Path.

1. Nhân loại từ lúc họ bước lên Con Đường Dự Bị.

2. All the units of the fifth kingdom, therefore, all the members of the Hierarchy.

2. Mọi đơn vị của giới thứ năm, do đó, mọi thành viên của Thánh Đoàn.

3. The planetary Logoi throughout the system.

3. Các Hành Tinh Thượng đế trong toàn hệ thống.

It will be apparent, therefore, that this law concerns the great experiment which has been inaugurated on earth by our planetary Logos in connection with the process of initiation, and it has only held sway since the Door of Initiation was opened in Atlantean days. It does not, therefore, apply to all the members of the human family; some of whom will achieve slowly and under the sway of the basic Law of Evolution. It does not affect, in any way, for instance, those members of the human family who have individualised on the earth chain through the fanning of the spark of mind—one of the methods employed by the Lords of the Flame, as earlier seen.

Vì vậy, sẽ rõ ràng rằng định luật này liên quan đến cuộc thí nghiệm lớn đã được Hành Tinh Thượng đế của chúng ta khai mở trên địa cầu liên quan đến tiến trình điểm đạo, và nó chỉ mới nắm quyền từ khi Cánh Cửa Điểm Đạo được mở ra trong thời Atlantis. Do đó, nó không áp dụng cho mọi thành viên của gia đình nhân loại; một số trong họ sẽ thành tựu một cách chậm chạp và dưới quyền chi phối của Định luật căn bản của Tiến Hoá. Chẳng hạn, nó không ảnh hưởng theo bất kỳ cách nào đến những thành viên của gia đình nhân loại đã biệt ngã hóa trên dãy địa cầu thông qua việc quạt bùng tia lửa trí tuệ—một trong những phương pháp được các Đấng Chúa Tể của Ngọn Lửa sử dụng, như đã thấy trước đây.

[Page 1175] It can be studied in two main divisions, first, in connection with the human units passing under hierarchical influence in the Hall of Wisdom, and also in connection with the various planetary schemes. Each scheme exists in order to teach a specific aspect of consciousness, and each planetary school or Hierarchy subjects its pupils to this law, only in manners diverse. These planetary schools are necessarily governed by certain factors of which the two most important are the peculiar karma of the planetary Logos concerned, and His particular Ray.

[Page 1175] Nó có thể được nghiên cứu trong hai phân bộ chính, thứ nhất, liên quan đến các đơn vị nhân loại đi vào dưới ảnh hưởng của Thánh đoàn trong Phòng Minh triết, và cũng liên quan đến các hệ hành tinh khác nhau. Mỗi hệ tồn tại để dạy một phương diện đặc thù của tâm thức, và mỗi trường hành tinh hay Thánh Đoàn hành tinh đặt các môn sinh của mình dưới định luật này, chỉ khác nhau về cách thức. Các trường hành tinh này tất yếu được chi phối bởi một số yếu tố, trong đó hai yếu tố quan trọng nhất là nghiệp quả đặc thù của Hành Tinh Thượng đế liên hệ, và cung đặc thù của Ngài.

It is not possible at this stage to convey to students the information as to the nature of each planetary school. They exist in five great groups:

Ở giai đoạn này, không thể truyền đạt cho các đạo sinh thông tin về bản chất của từng trường hành tinh. Chúng tồn tại trong năm nhóm lớn:

1. The exoteric non-sacred planets, called in occult parlance “the outer round” or outer circle of initiates. Of these our earth is one, but being aligned in a peculiar fashion with certain spheres on the inner round, a dual opportunity exists for mankind, which facilitates, whilst it complicates, the evolutionary process.

1. Các hành tinh ngoại môn không thiêng liêng, được gọi trong thuật ngữ huyền bí là “cuộc tuần hoàn bên ngoài” hay vòng tròn bên ngoài của các điểm đạo đồ. Trong số này có địa cầu của chúng ta, nhưng vì nó được chỉnh hợp theo một cách đặc biệt với một số khối cầu trong cuộc tuần hoàn bên trong, nên có một cơ hội kép dành cho nhân loại, điều này vừa làm dễ vừa làm phức tạp tiến trình tiến hoá.

2. The sacred planets, called sometimes (when this Law of the Schools is under consideration) the “seven grades of psychic knowledge” or the “seven divisions of the field of knowledge.”

2. Các hành tinh thiêng liêng, đôi khi được gọi (khi Định luật của các Trường Phái này được xét đến) là “bảy cấp độ tri thức thông linh” hay “bảy phân bộ của lĩnh vực tri thức.”

3. The inner round, which carries with it vast opportunity for those who can surmount its problems and withstand its temptations. This inner round has a peculiar appeal to units on certain Rays, and has its own specific dangers. The inner round is the round that is followed by those who have passed through the human stage and have consciously developed the faculty of etheric living and can follow the etheric cycles, functioning consciously on the three higher etheric planes in all parts of the system. They have—for certain occult and specific purposes—broken the connection between the third etheric and the four lower subplanes of the physical plane. This [Page 1176] round is followed only by a prepared percentage of humanity, and is closely associated with a group who pass with facility and develop with equal facility on the three planets that make a triangle with the earth, namely Mars, Mercury, and Earth. These three planets—in connection with this inner round—are considered only as existing in etheric matter, and (in relation to one of the Heavenly Men) hold a place analogous to the etheric triangle found in the human etheric body. I have here conveyed more than has as yet been exoterically communicated anent this inner round and by the study of the human etheric triangle, its function, and the type of force which circulates around it, much may be deduced about the planetary inner round. We must bear in mind in this connection that just as the human etheric triangle is but the preparatory stage to a vast circulation within the sphere of the entire etheric body, so the etheric planetary triangle—passing from the Earth to Mars and Mercury—is but the preparatory circulatory system to a vaster round included within the sphere of influence of one planetary Lord.

3. Cuộc tuần hoàn bên trong, mang theo những cơ hội to lớn cho những ai có thể vượt qua các vấn đề của nó và đứng vững trước các cám dỗ của nó. Cuộc tuần hoàn bên trong này có một sức hấp dẫn đặc biệt đối với các đơn vị trên một số cung nhất định, và có những nguy hiểm đặc thù riêng. Cuộc tuần hoàn bên trong là cuộc tuần hoàn được theo bởi những ai đã vượt qua giai đoạn nhân loại và đã một cách hữu thức phát triển năng lực sống dĩ thái và có thể theo các chu kỳ dĩ thái, hoạt động một cách hữu thức trên ba cõi dĩ thái cao hơn trong mọi phần của hệ thống. Họ đã—vì những mục đích huyền bí và đặc thù nào đó—cắt đứt mối liên hệ giữa cõi dĩ thái thứ ba và bốn cõi phụ thấp hơn của cõi hồng trần. Cuộc tuần hoàn này [Page 1176] chỉ được một tỷ lệ nhân loại đã chuẩn bị theo đuổi, và có liên hệ mật thiết với một nhóm đi qua một cách dễ dàng và phát triển cũng dễ dàng như vậy trên ba hành tinh tạo thành một tam giác với địa cầu, đó là Sao Hỏa, Sao Thủy, và Trái Đất. Ba hành tinh này—liên quan đến cuộc tuần hoàn bên trong này—chỉ được xem như tồn tại trong vật chất dĩ thái, và (liên hệ với một trong các Đấng Thiên Nhân) giữ một vị trí tương tự như tam giác dĩ thái được tìm thấy trong thể dĩ thái của con người. Ở đây tôi đã truyền đạt nhiều hơn những gì cho đến nay đã được công bố ngoại môn liên quan đến cuộc tuần hoàn bên trong này, và bằng việc nghiên cứu tam giác dĩ thái của con người, chức năng của nó, và loại mãnh lực lưu chuyển quanh nó, nhiều điều có thể được suy ra về cuộc tuần hoàn bên trong hành tinh. Chúng ta phải ghi nhớ trong mối liên hệ này rằng cũng như tam giác dĩ thái của con người chỉ là giai đoạn chuẩn bị cho một sự lưu chuyển rộng lớn bên trong khối cầu của toàn bộ thể dĩ thái, thì tam giác hành tinh dĩ thái—đi từ Trái Đất đến Sao Hỏa và Sao Thủy—cũng chỉ là hệ tuần hoàn chuẩn bị cho một cuộc tuần hoàn lớn hơn được bao gồm trong phạm vi ảnh hưởng của một Chúa Tể Hành Tinh.

4. The circle of the planetoids. Students of the Ageless Wisdom are apt to forget that the Life of the Logos manifests itself through those circling spheres which (though not large enough to be regarded as planets) pursue their orbital paths around the solar centre and have their own evolutionary problems and are functioning as part of the solar Body. They are informed—as are the planets—by a cosmic Entity and are under the influence of the Life impulses of the solar Logos as are the greater bodies. The evolutions upon them are analogous to, though not identical with, those of our planet, and they swing through their cycles in the Heavens under the same laws as do the greater planets.

4. Vòng tròn các tiểu hành tinh. Các đạo sinh của Minh Triết Ngàn Đời thường quên rằng Sự sống của Thượng đế biểu lộ chính nó qua những khối cầu đang quay đó, những khối cầu này (dù không đủ lớn để được xem là hành tinh) vẫn theo các quỹ đạo của chúng quanh trung tâm thái dương và có những vấn đề tiến hoá riêng của chúng và đang hoạt động như một phần của Thể thái dương. Chúng được phú linh—cũng như các hành tinh—bởi một Thực Thể vũ trụ và ở dưới ảnh hưởng của các xung lực sự sống của Thái dương Thượng đế cũng như các thể lớn hơn. Các tiến hoá trên chúng là tương tự, dù không đồng nhất, với các tiến hoá của hành tinh chúng ta, và chúng xoay chuyển qua các chu kỳ của chúng trong các cõi trời dưới cùng những định luật như các hành tinh lớn hơn.

5. The absorbing Triangles. This term is applied to the evolutionary schools found located in the three major [Page 1177] planets of our system—Uranus, Neptune and Saturn—and to those found in the three major chains, and three major globes in a planetary scheme. The Rulers of these planets, chains and globes are called the “Divine Examiners,” and Their work concerns the human kingdom specifically and entirely. They are responsible for the work of

5. Các Tam Giác Hấp Thu. Thuật ngữ này được áp dụng cho các trường tiến hoá tọa lạc trong ba hành tinh lớn [Page 1177] của hệ thống chúng ta—Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương và Sao Thổ—và cho những trường được tìm thấy trong ba Dãy lớn, và ba bầu hành tinh lớn trong một hệ hành tinh. Các Đấng Cai Quản của các hành tinh, các Dãy và các bầu hành tinh này được gọi là “Các Đấng Khảo Thí Thiêng Liêng,” và công việc của Các Ngài liên quan một cách đặc thù và hoàn toàn đến giới nhân loại. Các Ngài chịu trách nhiệm về công việc

a. Transferring men from one school to another, and from one grade to another.

a. Chuyển những người nam và nữ từ trường này sang trường khác, và từ cấp độ này sang cấp độ khác.

b. For the expanding of the human consciousness under the law,

b. Mở rộng tâm thức nhân loại dưới định luật,

c. For the transmutation of the forms of the human unit in the three worlds and the consequent negation of the form,

c. Chuyển hoá các hình tướng của đơn vị nhân loại trong ba cõi giới và hậu quả là phủ nhận hình tướng,

d. For the radioactivity of the fourth kingdom in nature.

d. Tính phóng xạ của giới thứ tư trong tự nhiên.

We might regard the presiding lives in these departmental schools as the custodians of the Path, and responsible, therefore, for the divine Pilgrim during the final stages of the treading of the Path of Evolution. They begin to work with men from the moment they first set foot upon the Probationary Path and They continue Their work until the seventh initiation is taken.

Chúng ta có thể xem các sự sống chủ trì trong các trường bộ môn này như những vị giám hộ của Con Đường, và do đó chịu trách nhiệm về Người Hành Hương thiêng liêng trong các giai đoạn cuối cùng của việc bước đi trên Con Đường Tiến Hoá. Các Ngài bắt đầu làm việc với con người từ lúc họ lần đầu đặt chân lên Con Đường Dự Bị và Các Ngài tiếp tục công việc của mình cho đến khi lần điểm đạo thứ bảy được tiếp nhận.

The Masters, therefore, Who take pupils for training, are numbered amongst them, whilst the Masters Who do not concern Themselves with individuals and their development are not.

Vì vậy, các Chân sư nhận môn sinh để huấn luyện được kể vào số đó, trong khi các Chân sư không quan tâm đến các cá nhân và sự phát triển của họ thì không.

It is not possible to give fully the types of schools and teaching which is given on the different planets. All that can be done is to give an occult phrase which will convey to the intuitive student the necessary hint.

Không thể trình bày đầy đủ các loại trường và giáo huấn được ban ra trên các hành tinh khác nhau. Tất cả những gì có thể làm là đưa ra một cụm từ huyền bí sẽ chuyển đến đạo sinh trực giác gợi ý cần thiết.

Planetary Schools

Các Trường Hành Tinh

URANUS—The School of Magic of the tenth order. It is sometimes called “the planet of the violet [Page 1178] force,” and its graduates wield the power of cosmic etheric prana.

SAO THIÊN VƯƠNG—Trường Huyền Thuật của cấp mười. Nó đôi khi được gọi là “hành tinh của mãnh lực tím” [Page 1178] và các học viên tốt nghiệp của nó vận dụng quyền năng của prana dĩ thái vũ trụ.

EARTH—The School of Magnetic Response. Another name given to its pupils is “The graduates of painful endeavour” or the “adjudicators between the polar opposites.”

TRÁI ĐẤT—Trường Đáp Ứng Từ Tính. Một tên gọi khác dành cho các môn sinh của nó là “Những người tốt nghiệp của nỗ lực đau đớn” hay “những vị phân xử giữa các cực đối nghịch.”

A further hint to be taken in connection with the two names above given, is that its graduates are said to undergo examination upon the third subplane of the astral plane.

Một gợi ý thêm cần được lưu ý liên quan đến hai tên gọi nêu trên là các học viên tốt nghiệp của nó được nói là phải trải qua khảo hạch trên cõi phụ thứ ba của cõi cảm dục.

VULCAN—The School for Fiery Stones. There is a curious connection between the human units who pass through its halls and the mineral kingdom. The human units on the earth scheme are called in mystical parlance “the living stones”; on Vulcan they are called “fiery stones.”

VULCAN—Trường dành cho Những Viên Đá Rực Lửa. Có một mối liên hệ kỳ lạ giữa các đơn vị nhân loại đi qua các đại sảnh của nó và giới kim thạch. Các đơn vị nhân loại trong hệ hành tinh địa cầu được gọi trong thuật ngữ thần bí là “những viên đá sống”; trên Vulcan họ được gọi là “những viên đá rực lửa.”

JUPITER—The School of Beneficent Magicians. This planet is sometimes called in the parlance of the schools, the “College of Quadruple Force units,” for its members wield four kinds of force in constructive magical work. Another name given to its halls is “The Palace of Opulence” for its graduates work with the Law of Supply, and are frequently called “The Sowers.”

SAO MỘC—Trường của Các Nhà Huyền Thuật Từ Tâm. Hành tinh này đôi khi được gọi trong ngôn ngữ của các trường là “Học viện của các đơn vị mãnh lực tứ phân,” vì các thành viên của nó vận dụng bốn loại mãnh lực trong công việc huyền thuật xây dựng. Một tên gọi khác dành cho các đại sảnh của nó là “Cung Điện Phong Phú” vì các học viên tốt nghiệp của nó làm việc với Định luật Cung Ứng, và thường được gọi là “Những Người Gieo Hạt.”

MERCURY—The pupils in this planetary school are called “The Sons of Aspiration” or “The Points of Yellow Life.” They have a close connection with our Earth scheme, and the old Commentary refers to this in the words:

SAO THỦY—Các môn sinh trong trường hành tinh này được gọi là “Các Con của Khát Vọng” hay “Các Điểm của Sự Sống Vàng.” Họ có một mối liên hệ mật thiết với hệ Địa Cầu của chúng ta, và Cổ Luận nói đến điều này bằng những lời sau:

“The points of golden flame merge and blend with the four-leaved plant of tender green, and change its colour to a tinge of autumn yellow. The four-leaved plant through new and fresh [Page 1179] inflow becomes the plant with seven leaves and three white flowers.”

“Các điểm của ngọn lửa vàng hòa nhập và pha trộn với cây bốn lá màu xanh non, và đổi màu của nó thành một sắc vàng thu. Cây bốn lá nhờ một dòng chảy vào mới mẻ và tươi mới [Page 1179] trở thành cây bảy lá và ba hoa trắng.”

VENUS—The School with five strict Grades. This again is a planetary scheme closely related to ours, but its planetary Logos is in a more advanced group of students in the cosmic sense than is our planetary Logos. Most of its hierarchical instructors come from the fifth cosmic plane, and are a peculiar group of Manasadevas of very exalted rank. They are each depicted in the archives of our Hierarchy as holding a trident of fire surmounted by five green emeralds.

SAO KIM—Trường với năm Cấp nghiêm ngặt. Đây lại là một hệ hành tinh có liên hệ mật thiết với hệ của chúng ta, nhưng Hành Tinh Thượng đế của nó thuộc một nhóm đạo sinh tiến bộ hơn theo nghĩa vũ trụ so với Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. Phần lớn các huấn sư của Thánh đoàn của nó đến từ cõi vũ trụ thứ năm, và là một nhóm đặc biệt gồm các Manasadevas có cấp bậc rất cao. Mỗi vị trong số họ được mô tả trong văn khố của Thánh Đoàn chúng ta như đang cầm một cây đinh ba lửa được gắn trên đỉnh bằng năm viên ngọc lục bảo xanh.

MARS—The School for Warriors, or the open grades for soldiers. Four of these planetary schools are responsible for the energy flowing through the foremost exponents of the four castes and this not only in India but in all parts of the world. Its teachers are spoken of as the “Graduates of the ruddy Fire,” and are frequently portrayed as clothed in red robes, and carrying ebony wands. They work under the first Aspect logoic and train those whose work is along the lines of the destroyer.

SAO HỎA—Trường dành cho các chiến binh, hay các cấp mở dành cho binh sĩ. Bốn trường hành tinh này chịu trách nhiệm về năng lượng tuôn chảy qua những đại biểu hàng đầu của bốn giai cấp, và điều này không chỉ ở Ấn Độ mà còn ở mọi nơi trên thế giới. Các huấn sư của trường được nói đến như “Những Vị Tốt Nghiệp của Lửa đỏ rực”, và thường được mô tả là khoác áo choàng đỏ, mang những trượng mun. Họ hoạt động dưới Phương diện thứ nhất của Thượng đế và huấn luyện những ai có công việc đi theo đường lối của đấng hủy diệt.

NEPTUNE—This school concerns itself with the development and fostering of the desire element and its graduates are called “the Sons of Vishnu.” Their symbol is a robe with a full sailed boat portrayed over the heart, the significance of which will be apparent to those who have eyes to see.

SAO HẢI VƯƠNG—Trường này chuyên đề cập đến sự phát triển và nuôi dưỡng yếu tố dục vọng, và những người tốt nghiệp của trường được gọi là “Các Con của Vishnu.” Biểu tượng của họ là một chiếc áo choàng có hình một con thuyền căng buồm trọn vẹn trên tim, ý nghĩa của điều này sẽ hiển nhiên đối với những ai có mắt để thấy.

It is not permissible to touch upon the other planetary schools, nor would it profit. Certain further facts can be ascertained by the student of meditation who is aligned with his Ego, and in touch with his egoic group.

Không được phép đề cập đến các trường hành tinh khác, và điều đó cũng không ích lợi. Một số sự kiện khác nữa có thể được đạo sinh tham thiền xác định, nếu người ấy được chỉnh hợp với chân ngã của mình, và tiếp xúc với nhóm chân ngã của mình.

[Page 1180] The teaching given on our earth scheme in the Hall of Wisdom has been dealt with in many occult books, including Initiation, Human and Solar, and need not be enlarged upon here.

[Page 1180] Giáo huấn được ban ra trong hệ hành tinh Trái Đất của chúng ta tại Phòng Minh triết đã được bàn đến trong nhiều sách huyền bí học, kể cả Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương, và không cần được khai triển thêm ở đây.

Some of the aspects of this law are here indicated. The ground is by no means covered but enough has been shown to indicate its magnitude and extent. In closing, it must be pointed out that the Law of Karma is from some angles of vision the sum total of this Law of Attraction for it governs the relation of all forms to that which uses the form, and of all lives to each other.

Một số phương diện của định luật này được chỉ ra ở đây. Nền tảng hoàn toàn chưa được bao quát, nhưng đã trình bày đủ để chỉ ra tầm vóc và phạm vi của nó. Để kết thúc, cần phải chỉ ra rằng Định luật Nghiệp Quả xét từ một số góc độ tầm nhìn là tổng thể của Định luật Hấp Dẫn này, vì nó chi phối mối liên hệ của mọi hình tướng với cái sử dụng hình tướng, và của mọi sự sống với nhau.

Students of the Law of Attraction must be careful to bear in mind certain things. These should be carefully considered and realised as the subject is studied.

Các đạo sinh nghiên cứu Định luật Hấp Dẫn phải cẩn thận ghi nhớ một số điều. Những điều này cần được cân nhắc cẩn thận và chứng nghiệm khi chủ đề này được nghiên cứu.

They must remember first, that all these subsidiary laws are really only the manifestation of the One Law; that they are but differentiated terms, employed to express one great method of manifestation.

Trước hết, họ phải nhớ rằng tất cả các định luật phụ này thực ra chỉ là sự biểu lộ của Định luật Duy Nhất; chúng chỉ là những thuật ngữ đã được biến phân, được dùng để diễn tả một phương pháp biểu lộ vĩ đại.

Secondly, that all energy, demonstrating in the solar system, is after all the energy of the logoic physical permanent atom, having its nucleus on the atomic subplane of the cosmic physical. This physical permanent atom (as is the case with the corresponding atom of the incarnating jiva), has its place within the causal body of the Logos on His own plane; it is, therefore, impressed by the totality of the force of the egoic cosmic lotus, or the attractive quality of cosmic love. This force is transmitted to the solar system in two ways: Through the medium of the Sun, which is in an occult sense the physical permanent atom; it, therefore, attracts, and holds attracted, all within its sphere of influence, thus producing the logoic physical body: through the medium of the planes which are the correspondences to the seven spirillae of the physical permanent atom of a human being. Thus a dual type of attractive force is found: one, basic and fundamental; the other more differentiated and secondary. [Page 1181]

Thứ hai, rằng mọi năng lượng biểu lộ trong hệ mặt trời, rốt cuộc đều là năng lượng của nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế, có hạt nhân của nó trên cõi phụ nguyên tử của cõi hồng trần vũ trụ. Nguyên tử trường tồn hồng trần này (cũng như trường hợp nguyên tử tương ứng của jiva đang lâm phàm) có vị trí của nó bên trong thể nguyên nhân của Thượng đế trên cõi riêng của Ngài; vì vậy, nó chịu ấn tượng bởi toàn bộ mãnh lực của Hoa Sen chân ngã vũ trụ, hay phẩm tính hấp dẫn của tình thương vũ trụ. Mãnh lực này được truyền vào hệ mặt trời theo hai cách: qua trung gian Mặt Trời, vốn theo một nghĩa huyền bí là nguyên tử trường tồn hồng trần; do đó, nó hấp dẫn và giữ mọi thứ trong phạm vi ảnh hưởng của nó ở trạng thái bị hấp dẫn, nhờ vậy tạo ra thể hồng trần của Thượng đế; qua trung gian các cõi, là những tương ứng với bảy loa tuyến của nguyên tử trường tồn hồng trần của một con người. Vì vậy, tìm thấy một loại mãnh lực hấp dẫn nhị phân: một loại căn bản và nền tảng; loại kia biệt hóa hơn và thứ yếu hơn. [Page 1181]

CHART XI — ETHERIC-ATOMIC PHILOSOPHY OF FORCE

BIỂU ĐỒ XI — TRIẾT HỌC DĨ THÁI-NGUYÊN TỬ VỀ MÃNH LỰC

[picture]

[picture]

Fig 135. The General form of an atom, including the spirals and 1st Spirillae, together with influx and efflux ethers, represented by dots, which pass trhough these spirillae. The2nd and 3rd spirillae and their still finer ethers are not shown.

Hình 135. Hình dạng tổng quát của một nguyên tử, gồm các vòng xoắn và các loa tuyến thứ nhất, cùng với các dĩ thái nhập lưu và xuất lưu, được biểu thị bằng các chấm, đi qua trhough các loa tuyến này. Các loa tuyến thứ hai và thứ ba cùng các dĩ thái còn tinh tế hơn của chúng không được trình bày.

From ‘the Principles of Light and Colour’,

Trích từ ‘Các Nguyên Lý của Ánh Sáng và Màu Sắc’,

Edwin D. Babbitt, New York 1878

Edwin D. Babbitt, New York 1878

[Page 1182] These streams of energy, judged by their effects, are called in human terminology laws, because their results are ever immutable and irresistible, and their effects remain unchangeably the same, varying only according to the form which is the subject of the energic impulse.

[Page 1182] Các dòng năng lượng này, xét theo các hiệu quả của chúng, được gọi trong thuật ngữ nhân loại là các định luật, vì các kết quả của chúng luôn bất biến và không thể cưỡng lại, và các hiệu quả của chúng luôn giữ nguyên không thay đổi, chỉ biến thiên tùy theo hình tướng là đối tượng của xung động năng lượng.

Thirdly, the student must bear in mind that the seven planes, or the seven spirillae of the logoic permanent atom, are not all equally vitalised by the attractive pull emanating from the logoic lotus via the heart of the Sun. Five of them are more “alive” than the other two; these five do not include the highest and the lowest. The words “the heart of the Sun” must be understood to mean more than a locality situated in the interior recesses of the solar body, and have reference to the nature of the solar sphere. This solar sphere is closely similar to the atom pictured in the book by Babbitt and later in Occult Chemistry by Mrs. Besant. The Sun is heart-shaped, and (seen from cosmic angles) has a depression at what we might call its north pole. This is formed by the impact of logoic energy upon solar substance.

Thứ ba, đạo sinh phải ghi nhớ rằng bảy cõi, hay bảy loa tuyến của nguyên tử trường tồn của Thượng đế, không phải tất cả đều được tiếp sinh lực như nhau bởi lực kéo hấp dẫn phát ra từ Hoa Sen của Thượng đế qua tim của Mặt Trời. Năm trong số đó “sống động” hơn hai cái kia; năm cái này không bao gồm cái cao nhất và cái thấp nhất. Những từ “tim của Mặt Trời” phải được hiểu là nhiều hơn một vị trí nằm trong các chỗ sâu bên trong của thể thái dương, và có liên hệ đến bản chất của khối cầu thái dương. Khối cầu thái dương này rất giống với nguyên tử được minh họa trong sách của Babbitt và sau đó trong Hóa Học Huyền Bí của bà Besant. Mặt Trời có hình tim, và (nhìn từ các góc độ vũ trụ) có một chỗ lõm tại nơi mà chúng ta có thể gọi là cực bắc của nó. Điều này được tạo thành bởi sự va chạm của năng lượng Thượng đế lên chất liệu thái dương.

This energy which impinges upon the solar sphere, and is thence distributed to all parts of the entire system, emanates from three cosmic centres and, therefore, is triple during this particular cycle.

Năng lượng này tác động lên khối cầu thái dương, rồi từ đó được phân phối đến mọi phần của toàn bộ hệ thống, phát ra từ ba trung tâm vũ trụ và vì vậy là tam phân trong chu kỳ đặc biệt này.

a. From the sevenfold great Bear.

a. Từ Đại Hùng thất phân.

b. From the Sun Sirius.

b. Từ Mặt Trời Sirius.

c. From the Pleiades.

c. Từ Pleiades.

It must be remembered that the possible cosmic streams of energy available for use in our solar system are seven in number, of which three are major. These three vary during vast and incalculable cycles.

Cần nhớ rằng các dòng năng lượng vũ trụ khả dĩ có sẵn để sử dụng trong hệ mặt trời của chúng ta có số lượng là bảy, trong đó có ba dòng chính. Ba dòng này biến đổi qua những chu kỳ bao la và không thể tính được.

Students may find it of use to remember that,

Các đạo sinh có thể thấy hữu ích khi nhớ rằng,

a. The Law of Economy demonstrates as an urge,

a. Định luật Tiết Kiệm biểu lộ như một xung lực,

b. The Law of Attraction as a pull,

b. Định luật Hấp Dẫn như một lực kéo,

c. The Law of Synthesis as a tendency to concentrate at a centre, or to merge.

c. Định luật Tổng Hợp như một khuynh hướng tập trung vào một trung tâm, hay hòa nhập.

[Page 1183] The streams of energy which pour forth through the medium of the Sun from the egoic lotus and which are in reality “logoic Soul energy” attract to them that which is akin to them in vibration. This may sound rather like the statement of a platitude, but is susceptible of really deep significance to the student, being accountable for all systemic phenomena. These streams pass in different directions, and in the knowledge of occult direction comes knowledge of the various hierarchies of being, and the secret of the esoteric symbols.

[Page 1183] Các dòng năng lượng tuôn đổ qua trung gian Mặt Trời từ Hoa Sen chân ngã và thực ra là “năng lượng Linh hồn của Thượng đế” hấp dẫn về phía chúng những gì đồng loại với chúng về rung động. Điều này có thể nghe khá giống một lời phát biểu sáo mòn, nhưng lại có thể mang thâm nghĩa thật sâu xa đối với đạo sinh, vì nó giải thích cho mọi hiện tượng hệ thống. Các dòng này đi theo những hướng khác nhau, và trong tri thức về phương hướng huyền bí có tri thức về các huyền giai khác nhau của hiện hữu, cùng bí mật của các biểu tượng huyền bí.

The main stream of energy enters at the top depression in the solar sphere and passes through the entire ring-pass-not, bisecting it into two halves.

Dòng năng lượng chính đi vào tại chỗ lõm phía trên của khối cầu thái dương và đi xuyên qua toàn bộ vòng-giới-hạn, chia nó thành hai nửa.

With this stream enters that group of active lives whom we call the “Lords of Karma.” They preside over the attractive forces, and distribute them justly. They enter, pass to the centre of the sphere and there (if I may so express it) locate, and set up the “Holy Temple of Divine Justice,” sending out to the four quarters of the circle the four Maharajahs, their representatives. So is the equal armed Cross formed—and all the wheels of energy set in motion. This is conditioned by the karmic seeds of an earlier system, and only that substance is utilised by the Logos, and only those lives come into manifestation who have set up a mutual attraction.

Cùng với dòng này đi vào là nhóm các sự sống hoạt động mà chúng ta gọi là “các Đấng Giải Thoát.” Các Ngài chủ trì các mãnh lực hấp dẫn và phân phối chúng một cách công bằng. Các Ngài đi vào, tiến đến trung tâm của khối cầu và ở đó (nếu tôi có thể diễn tả như vậy) định vị, và thiết lập “Ngôi Đền Thiêng của Công Lý thiêng liêng,” gửi ra bốn phương của vòng tròn bốn Maharajah, là các đại diện của Các Ngài. Như thế Thập Giá có các cánh bằng nhau được hình thành—và mọi bánh xe năng lượng được đưa vào chuyển động. Điều này được tác động bởi các hạt giống nghiệp quả của một hệ thống trước, và chỉ chất liệu đó mới được sử dụng bởi Thượng đế, và chỉ những sự sống nào đã thiết lập một sự hấp dẫn hỗ tương mới đi vào biểu lộ.

These five streams of living energy (the one and the four) are the basis of the onward march of all things; these are sometimes esoterically called “the forward moving Lives.” They embody the Will of the Logos. It is the note they sound and the attractive pull which they initiate which bring into contact with the solar sphere a group of existences whose mode of activity is spiral and not forward.

Năm dòng năng lượng sống động này (một và bốn) là nền tảng của cuộc tiến bước không ngừng của vạn vật; đôi khi chúng được gọi một cách huyền bí là “các Sự Sống chuyển động tiến lên.” Chúng thể hiện Ý Chí của Thượng đế. Chính âm điệu mà chúng xướng lên và lực kéo hấp dẫn mà chúng khởi xướng đã đưa vào tiếp xúc với khối cầu thái dương một nhóm hiện hữu có phương thức hoạt động là xoắn ốc chứ không phải tiến thẳng.

These groups are seven in number and pass into manifestation [Page 1184] through what is for them a great door of Initiation. In some of the occult books, these seven groups are spoken of as the “seven cosmic Initiates Who have passed within the Heart, and there remain until the test is passed.” These are the seven Hierarchies of Beings, the seven Dhyan Chohans. They spiral into manifestation, cutting across the fourfold cross, and touching the cruciform stream of energy in certain places. The places where the streams of love energy cross the streams of will and karmic energy are mystically called the “Caves of dual light” and when a reincarnating or liberated jiva enters one of these Caves in the course of his pilgrimage, he takes an initiation, and passes on to a higher turn of the spiral.

Các nhóm này có số lượng là bảy và đi vào biểu lộ [Page 1184] qua điều đối với họ là một cánh cửa lớn của Điểm đạo. Trong một số sách huyền bí học, bảy nhóm này được nói đến như “bảy Điểm đạo đồ vũ trụ đã đi vào trong Tim, và ở lại đó cho đến khi cuộc thử thách được vượt qua.” Đây là bảy Huyền Giai của các Đấng, bảy Dhyan Chohan. Họ xoắn ốc đi vào biểu lộ, cắt ngang thập giá tứ phân, và chạm vào dòng năng lượng hình thập tự tại một số điểm nhất định. Những nơi mà các dòng năng lượng bác ái cắt các dòng năng lượng ý chí và nghiệp quả được gọi một cách thần bí là “Các Hang Động của ánh sáng nhị nguyên” và khi một jiva tái sinh hay được giải thoát đi vào một trong các Hang Động này trong tiến trình cuộc hành hương của y, y nhận một điểm đạo, và tiến lên một vòng xoắn cao hơn.

Another stream of energy follows a different route, which is a little difficult to make clear. This particular set of active lives enter the heart shaped depression, pass around the edge of the ring-pass-not to the lowest part of the solar sphere and then mount upwards, coming into opposition therefore with the stream of downpouring energy. This stream of force is called “lunar” force for lack of a better term. They form the body of the raja Lord of each of the planes, and are governed by the Law of Economy.

Một dòng năng lượng khác đi theo một lộ trình khác, hơi khó làm cho rõ. Tập hợp đặc biệt này của các sự sống hoạt động đi vào chỗ lõm hình tim, đi quanh rìa của vòng-giới-hạn đến phần thấp nhất của khối cầu thái dương rồi sau đó đi lên trên, vì vậy đi vào thế đối nghịch với dòng năng lượng tuôn xuống. Dòng mãnh lực này được gọi là mãnh lực “nguyệt” vì không có thuật ngữ nào tốt hơn. Chúng tạo thành thể của vị raja Chúa Tể của mỗi cõi, và được chi phối bởi Định luật Tiết Kiệm.

All these streams of energy form geometrical designs of great beauty to the eye of the initiated seer. We have the transverse and bisecting lines, the seven lines of force which form the planes, and the seven spiralling lines, thus forming lines of systemic latitude and longitude, and their interplay and interaction produce a whole of wondrous beauty and design. When these are visualised in colour, and seen in their true radiance, it will be realised that the point of attainment of our solar Logos is very high, for the beauty of the logoic Soul is expressed by that which is seen. [Page 1185]

Tất cả các dòng năng lượng này tạo thành những mô hình hình học có vẻ đẹp lớn lao đối với mắt của nhà thông nhãn đã được điểm đạo. Chúng ta có các đường ngang và đường phân đôi, bảy đường mãnh lực tạo thành các cõi, và bảy đường xoắn ốc, nhờ đó hình thành các đường vĩ độ và kinh độ của hệ thống, và sự tương tác cùng tác động hỗ tương của chúng tạo ra một toàn thể có vẻ đẹp và mô hình kỳ diệu. Khi những điều này được hình dung trong màu sắc, và được thấy trong sự rạng ngờichân thực của chúng, người ta sẽ chứng nghiệm rằng mức thành tựu của Thái dương Thượng đế của chúng ta là rất cao, vì vẻ đẹp của Linh hồn Thượng đế được biểu lộ qua điều được thấy. [Page 1185]

S9S12 Text

II. THE EFFECTS OF THE LAW OF ATTRACTION — II. CÁC HIỆU QUẢ CỦA ĐỊNH LUẬT HẤP DẪN

The Law of Attraction produces certain effects which it might profit us to touch upon here, provided we remember that only a few effects out of many possible are being considered.

Định luật Hấp Dẫn tạo ra một số hiệu quả mà sẽ có ích nếu chúng ta đề cập đến ở đây, miễn là chúng ta nhớ rằng chỉ một vài hiệu quả trong số rất nhiều hiệu quả khả dĩ đang được xem xét.

1. Association. — 1. Sự liên kết.

The first effect might be called association. Under this law the karmic Lords are enabled to bring together those lives (human, subhuman, and superhuman) which have earlier been associated, and have, therefore, somewhat to work out. The seven Heavenly Men, for instance, are a few out of the great band of associated Lives who have chosen to come into incarnation in this kalpa for purposes of mutual help and mutual correction. They are really destined to work together, but nevertheless on other cosmic planes have points of contact unknown to us.

Hiệu quả thứ nhất có thể được gọi là sự liên kết. Dưới định luật này, các Chúa Tể nghiệp quả có thể đưa lại gần nhau những sự sống (nhân loại, dưới nhân loại, và siêu nhân loại) đã từng liên kết với nhau trước đây, và vì vậy có điều gì đó phải giải quyết. Chẳng hạn, bảy Đấng Thiên Nhân là một số ít trong đại đoàn các Sự Sống liên kết đã chọn đi vào lâm phàm trong kalpa này vì những mục đích trợ giúp lẫn nhau và điều chỉnh lẫn nhau. Các Ngài thực sự được định để cùng làm việc với nhau, nhưng tuy vậy trên các cõi vũ trụ khác vẫn có những điểm tiếp xúc mà chúng ta không biết.

Under this attractive pull the informing existences of the various kingdoms of nature are engaged in mutual interaction, and thus swing into lesser but similar activity all the lives of these various bodies of manifestation. These lines of attraction are veiled in mystery, and all that it is possible to indicate is the karma of the Lord of the second or vegetable kingdom with the Lord of the fifth kingdom, and a close line of linking energy between the Lord of the mineral kingdom and the human. These points are only for reference to our own planetary scheme. The Lord of the Moon chain and the Lord of our present animal kingdom are “blood brothers” and in their relationship and the esoteric interference of the “Man of Men” (the human family personified) is hidden the mystery of present animal karma and the slaughter of animal forms, the terror of wild beasts and the work of vivisectionists.

Dưới lực kéo hấp dẫn này, các hiện hữu phú linh của các giới khác nhau trong tự nhiên tham gia vào sự tương tác hỗ tương, và nhờ vậy đưa mọi sự sống trong các thể biểu lộ khác nhau này vào một hoạt động nhỏ hơn nhưng tương tự. Những đường hấp dẫn này được che phủ trong huyền nhiệm, và tất cả những gì có thể chỉ ra là nghiệp quả của Chúa Tể của giới thứ hai hay giới thực vật với Chúa Tể của giới thứ năm, và một đường năng lượng liên kết chặt chẽ giữa Chúa Tể của giới kim thạch và con người. Những điểm này chỉ để tham chiếu đến hệ hành tinh riêng của chúng ta. Chúa Tể của Dãy Mặt Trăng và Chúa Tể của giới động vật hiện nay của chúng ta là “huynh đệ huyết thống” và trong mối liên hệ của Các Ngài cùng sự can thiệp huyền bí của “Con Người của những con người” (gia đình nhân loại được nhân cách hóa) ẩn giấu huyền nhiệm của nghiệp quả động vật hiện nay và sự tàn sát các hình tướng động vật, nỗi kinh hoàng của thú dữ và công việc của những kẻ mổ xẻ sinh thể.

Under this Law, too, is found “the Path” upon which [Page 1186] men lift themselves out of the human state of consciousness into the divine, but on this there is no need to enlarge.

Dưới Định luật này cũng tìm thấy “Con Đường” mà trên đó [Page 1186] con người nâng mình ra khỏi trạng thái tâm thức nhân loại để đi vào trạng thái thiêng liêng, nhưng về điều này không cần khai triển thêm.

2. Form Building. — 2. Sự tạo dựng hình tướng.

The second effect is form building. Upon this we will not enlarge at any length, as all that it is at present possible to impart anent this subject has already been given in this Treatise, and other works of a similar nature. It is the middle, or second aspect which is ever responsible for the construction of a form around a central nucleus. Students would find it useful to study and meditate upon the appended tabulation of energy streams and their objectivising through mutual interplay.

Hiệu quả thứ hai là sự tạo dựng hình tướng. Về điều này chúng ta sẽ không khai triển dài dòng, vì tất cả những gì hiện nay có thể truyền đạt liên quan đến chủ đề này đã được nêu ra trong Luận này, và trong các tác phẩm khác có tính chất tương tự. Chính phương diện trung gian, hay phương diện thứ hai, luôn chịu trách nhiệm cho việc kiến tạo một hình tướng quanh một hạt nhân trung tâm. Các đạo sinh sẽ thấy hữu ích nếu nghiên cứu và tham thiền về bảng liệt kê kèm theo của các dòng năng lượng và sự khách quan hóa của chúng qua sự tương tác hỗ tương.

As time goes on, science will become aware of the basic nature and fundamental accuracy of the method whereby every form can be divided into its three aspects, and viewed as an Entity energised by three types of force, emanating from various points extraneous to the form under consideration. It can be considered also as expressing in some way or another, in its various parts, force or energy originating in the three forces of manifestation, Brahma, Vishnu and Shiva. Where this is the case and the premise admitted, the entire outlook on life, on nature, medicine and science and on methods of construction or destruction will be changed. Things will be viewed as essential triplicities, men will be regarded as a combination of energy units, and work with things and with men from the form aspect will be revolutionised. In the tabulation much information is given anent the form building aspects of energy and the Law of Attraction as it shows itself in the working of the various groups of the Army of the Voice. It is this Army which is responsible for the attraction which is the medium of bringing together the material required by the free Spirits in order to construct their bodies of manifestation. The [Page 1187]

Theo thời gian, khoa học sẽ nhận biết bản chất căn bản và tính chính xác nền tảng của phương pháp nhờ đó mọi hình tướng có thể được chia thành ba phương diện của nó, và được xem như một Thực Thể được tiếp năng lượng bởi ba loại mãnh lực, phát ra từ nhiều điểm ở ngoài hình tướng đang được xem xét. Nó cũng có thể được xem như đang biểu lộ, bằng cách này hay cách khác, trong các phần khác nhau của nó, mãnh lực hay năng lượng bắt nguồn từ ba mãnh lực của biểu lộ, Brahma, Vishnu và Shiva. Khi điều này là như vậy và tiền đề được chấp nhận, toàn bộ quan điểm về sự sống, về bản chất, y học và khoa học, cũng như về các phương pháp kiến tạo hay hủy diệt sẽ thay đổi. Mọi vật sẽ được nhìn như những bộ ba cốt yếu, con người sẽ được xem như một sự kết hợp của các đơn vị năng lượng, và công việc với sự vật và với con người từ phương diện hình tướng sẽ được cách mạng hóa. Trong bảng liệt kê này có nhiều thông tin được đưa ra liên quan đến các phương diện tạo dựng hình tướng của năng lượng và Định luật Hấp Dẫn như nó tự biểu lộ trong hoạt động của các nhóm khác nhau của Đạo Quân của Tiếng Nói. Chính Đạo Quân này chịu trách nhiệm cho lực hấp dẫn là trung gian đưa lại với nhau vật chất cần thiết cho các Tinh thần tự do để kiến tạo các thể biểu lộ của các Ngài. [Page 1187]

TABULATION VII

BẢNG LIỆT KÊ VII

ENERGIES

CÁC NĂNG LƯỢNG

SOLAR LOGOS:

THÁI DƯƠNG THƯỢNG ĐẾ:

Source

Focal Point

Medium

Type of Energy

Nature of Fire

1.

Causal Body.

Jewel

Central Spiritual Sun.

Cosmic Will

Electric Fire - Positive.

2.

Causal Body.

Lotus (two petalled)

Heart of the Sun.

Cosmic Love - (The Son)

Solar Fire - Harmony - Equilibrium.

3.

Physical Plane Nucleus.

Permanent Atom.

The Physical Sun.

Cosmic Activity (Universal Mind).

Fire by Friction - Negative.

PLANETARY LOGOS:

HÀNH TINH THƯỢNG ĐẾ:

1.

Planetary Causal Body.

Jewel

Heavenly Man (On his own plane.)

Systemic Will

Electric Fire - Positive.

2.

Planetary Causal Body.

Lotus

Egoic Groups

Systemic Love

Solar Fire - Harmony - Balance.

3.

Physical Plane Nucleus.

Permanent Atom.

Physical Planet.

Systemic Activity.

Fire by Friction - Negative.

MAN:

CON NGƯỜI:

1.

Human Causal Body.

Jewel

Monad Spirit

Atma-Buddhi

Electric Fire - Positive Force.

2.

Human Causal Body.

Lotus

Solar Angel

Manasic Ego

Solar Fire - Equilibrising Force.

3.

Plane Nucleus.

Permanent Atom.

Lunar Angels

Lower Three-fold Man.

Fire by Friction - Negative.

PLANES:

CÁC CÕI:

1.

Plane Raja Lord.

A Deva Hierarchy.

Atomic Sub-plane.

Fohatic

Central Fire - Initiatory.

2.

Plane Devas.

Centres

Prana

Solar Energy

Form building Fire.

3.

Elementals.

Elemental Essence.

Molecular Substance.

Lunar Force

The Mother’s Heat.

ATOMS:

CÁC NGUYÊN TỬ:

1.

Atom

Nucleus

Plane Deva

Positive

Electric.

2.

Atomic Unit of Form.

Sphere

Plane Devas

Balancing

Solar Fire.

3.

Electrons

Nuclei

Elementals

Negative

Fire by Friction.

[Page 1188]vibration initiated by the Sound, which is the expression of the Law of Synthesis, is succeeded by the Voice or Word, and that Word as it progresses outward from the centre to the periphery (for, occultly understood, the Word is “spoken from the Heart”) becomes

[Page 1188]rung động được khởi xướng bởi Âm Thanh, vốn là biểu hiện của Định luật Tổng Hợp, được tiếp nối bởi Tiếng Nói hay Linh từ, và Linh từ đó khi tiến ra ngoài từ trung tâm đến chu vi (vì, được hiểu theo huyền bí học, Linh từ được “nói ra từ Tim”) trở thành

a. A phrase.

a. Một cụm từ.

b. Phrases.

b. Các cụm từ.

c. Sentences.

c. Những câu.

d. Speech.

d. Lời nói.

e. The myriad sounds of nature.

e. Vô số âm thanh của tự nhiên.

Each of these terms can be explained in terms of attractive energy, and this attractive energy is likewise the demonstration of the life of an Existence of some grade or other.

Mỗi thuật ngữ này có thể được giải thích theo năng lượng hấp dẫn, và năng lượng hấp dẫn này cũng là sự biểu lộ của sự sống của một Hiện Hữu ở cấp độ nào đó.

“God speaks and the forms are made.” This tabulation should form the basis of a complete phase of study along this line and is one of the most basic given in this Treatise.

“Thượng đế phán và các hình tướng được tạo thành.” Bảng liệt kê này nên tạo thành nền tảng cho một giai đoạn nghiên cứu hoàn chỉnh theo đường hướng này và là một trong những điều căn bản nhất được đưa ra trong Luận này.

3. Adaptation of the form to the life. — 3. Sự thích ứng của hình tướng với sự sống.

This is the process of gradually providing forms which are due expressions of the indwelling consciousness which is the great purpose of what we call “Mother Nature”; this she does, working under the Law of Attraction which we are considering. This law, therefore, governs two aspects of unfoldment, that which concerns the soul or consciousness aspect and that relating to the Spirit on its own plane. It is the cause of that continuous cycle of form taking, of form utilisation and of form rejection which characterises the incarnations of every kind and type of living being. The student should here remember that the Existences who are the attractive force in manifestation, the Dhyan Chohans, are seven in number, and that, therefore, the quality of the vehicles which form Their bodies will have the sevenfold variation according to the specific nature of the Lords of Life.

Đây là tiến trình dần dần cung cấp những hình tướng là những biểu hiện thích đáng của tâm thức nội tại, vốn là mục đích lớn lao của điều chúng ta gọi là “Mẹ Thiên Nhiên”; điều này bà thực hiện khi hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn mà chúng ta đang xem xét. Vì vậy, định luật này chi phối hai phương diện của sự khai mở, phương diện liên quan đến linh hồn hay phương diện tâm thức và phương diện liên hệ đến tinh thần trên cõi riêng của nó. Nó là nguyên nhân của chu kỳ liên tục nhận lấy hình tướng, sử dụng hình tướng và loại bỏ hình tướng, vốn đặc trưng cho các lần lâm phàm của mọi loại và mọi kiểu hữu thể sống. Ở đây đạo sinh nên nhớ rằng các Hiện Hữu là mãnh lực hấp dẫn trong biểu lộ, các Dhyan Chohan, có số lượng là bảy, và vì vậy phẩm tính của các vận cụ tạo thành thể của Các Ngài sẽ có sự biến thiên thất phân tùy theo bản chất đặc thù của các Chúa Tể của Sự sống.

[Page 1189] The only way to arrive at a realisation of the basic qualities of these planetary Logoi is through a consideration of the energy emanating from Them, and it is this which the true esoteric astrology will eventually reveal. The time is not yet; it will come when the scientific consideration of human magnetism, of the distinctions between the seven types of men, and the nature of the Ego is more truly followed. Then will be revealed the nature of planetary magnetism and the quality of any specific planetary soul as it is known through the aggregated nature of the men, responsive to and exponents of any particular planetary Ray. The mystery is increased by the fact that there are not only certain logoic qualities manifesting which are not included by the term “sacred,” but that there are numerous other aspects of what we might term “secondary centres of fire,” generated and making their presence felt. We have a correspondence to this in the fact that there are centres of energy in man which are not purely etheric centres but are the product of the interaction of the etheric centres and certain forms of negative energy of the lowest kind. Such, for instance, is the heart. There is the heart centre, one of the major centers on the etheric planes, but there is also the physical heart which is an energy generator also; there are the lower organs of generation which are equally a reflex product with an energy which is the resultant of the higher vibrations yet which has a quality all its own. This has its correspondence in the solar system. Many are the lesser planets and numerous are the planetoids which have an energy or attractive quality all their own and which, from the systemic standpoint, must be allowed for in the measuring of the attraction producing the forms of or upon any particular planet.

[Page 1189] Cách duy nhất để đi đến một sự chứng nghiệm về các phẩm tính căn bản của các Hành Tinh Thượng đế này là thông qua việc xem xét năng lượng phát ra từ Các Ngài, và chính điều này mà chiêm tinh học nội môn chân chính cuối cùng sẽ mặc khải. Thời điểm ấy chưa đến; nó sẽ đến khi việc khảo cứu khoa học về từ điện của con người, về những khác biệt giữa bảy loại người, và về bản chất của chân ngã được theo đuổi chân thực hơn. Khi đó bản chất của từ điện hành tinh và phẩm tính của bất kỳ linh hồn hành tinh đặc thù nào sẽ được mặc khải như nó được biết đến qua bản chất tổng hợp của những con người đáp ứng với và là những đại biểu của bất kỳ cung hành tinh đặc thù nào. Huyền nhiệm còn tăng thêm bởi sự kiện là không chỉ có một số phẩm tính của Thượng đế đang biểu lộ mà không được bao hàm trong thuật ngữ “thiêng liêng,” mà còn có vô số phương diện khác của điều mà chúng ta có thể gọi là “các trung tâm lửa thứ yếu,” được tạo ra và làm cho sự hiện diện của chúng được cảm nhận. Chúng ta có một tương ứng với điều này trong sự kiện là có những trung tâm năng lượng trong con người không hoàn toàn là các trung tâm dĩ thái mà là sản phẩm của sự tương tác giữa các trung tâm dĩ thái và một số dạng năng lượng âm thấp nhất. Chẳng hạn như tim. Có trung tâm tim, một trong những trung tâm chính trên các cõi dĩ thái, nhưng cũng có trái tim hồng trần, vốn cũng là một bộ phát năng lượng; có các cơ quan sinh sản thấp cũng đồng đều là một sản phẩm phản xạ cùng với một năng lượng là kết quả của các rung động cao hơn nhưng lại có một phẩm tính riêng của nó. Điều này có tương ứng của nó trong hệ mặt trời. Có nhiều hành tinh nhỏ hơn và vô số tiểu hành tinh có một năng lượng hay phẩm tính hấp dẫn riêng của chúng, và từ quan điểm hệ thống, phải được tính đến trong việc đo lường lực hấp dẫn tạo ra các hình tướng của hay trên bất kỳ hành tinh đặc thù nào.

As we know from a study of the Secret Doctrine, certain of the planetary Logoi are pure and passionless whilst others are still under the domination of desire and [Page 1190] of passion. (S. D., I, 214, 449; II, 223.) This quality of Theirs necessarily attracts to Them that which They need for the due expression of Their life in any scheme, and controls the nature of those egoic groups who are (for Them) generating force centres. Hence the nature of men upon earth. All human beings are paramountly governed by certain planetary attractions, impressions or influences which might be enumerated in the order of their importance.

Như chúng ta biết từ việc nghiên cứu Giáo Lý Bí Nhiệm, một số Hành Tinh Thượng đế thì thanh khiết và vô dục, trong khi những vị khác vẫn còn dưới sự thống trị của dục vọng và [Page 1190] đam mê. (S. D., I, 214, 449; II, 223.) Phẩm tính này của Các Ngài tất yếu hấp dẫn đến với Các Ngài điều mà Các Ngài cần cho sự biểu lộ thích đáng của sự sống của Các Ngài trong bất kỳ hệ hành tinh nào, và kiểm soát bản chất của những nhóm chân ngã mà (đối với Các Ngài) đang tạo ra các trung tâm mãnh lực. Do đó mới có bản chất của con người trên Trái Đất. Tất cả nhân loại đều chủ yếu bị chi phối bởi một số hấp lực, ấn tượng hay ảnh hưởng hành tinh nào đó, có thể được liệt kê theo thứ tự quan trọng của chúng.

There is, first of all, the attractive pull of the Life of the planetary Logos of this particular planet. This is necessarily the strongest and is one of the basic factors which have settled the lines the human form has taken upon this planet. There are human beings, or exponents of self-consciousness on other planets, but the forms they utilise are not the same as ours.

Trước hết là lực kéo hấp dẫn của Sự sống của Hành Tinh Thượng đế của hành tinh đặc thù này. Điều này tất yếu là mạnh nhất và là một trong những yếu tố căn bản đã quyết định những đường nét mà hình tướng con người đã mang lấy trên hành tinh này. Có những con người, hay những đại biểu của ngã thức trên các hành tinh khác, nhưng các hình tướng mà họ sử dụng không giống như của chúng ta.

There is next, the attractive pull of the planetary Logos Who is the complementary Life to that of our Logos. This involves a planetary Logos responsive to a vibration which harmonises with that of our Logos but Who, when in union with Him, forms what might be called “the Third” or His dominant, as the case may be. It is not possible to reveal whether the blending of the note will mean that our scheme will absorb that which expresses the note of another scheme, or vice versa. It means that somewhere in the solar system is a planetary scheme of some kind (not necessarily one of the seven or of the ten) which has an interplay with ours and which, therefore, inevitably affects the egoic groups. We must note also the fact that—in connection with the expression of a Heavenly Man—the egoic groups are energy centres and make His dense physical body eventually an accomplished fact.

Tiếp theo là lực kéo hấp dẫn của Hành Tinh Thượng đế là Sự sống bổ sung cho Sự sống của Thượng đế của chúng ta. Điều này bao hàm một Hành Tinh Thượng đế đáp ứng với một rung động hài hòa với rung động của Thượng đế của chúng ta nhưng Đấng ấy, khi hợp nhất với Ngài, tạo thành điều có thể được gọi là “Đấng Thứ Ba” hay âm chủ của Ngài, tùy trường hợp. Không thể tiết lộ liệu sự hòa trộn của âm điệu sẽ có nghĩa là hệ hành tinh của chúng ta sẽ hấp thu điều biểu lộ âm điệu của một hệ hành tinh khác, hay ngược lại. Điều đó có nghĩa là ở đâu đó trong hệ mặt trời có một hệ hành tinh nào đó (không nhất thiết là một trong bảy hay một trong mười) có sự tương tác với hệ của chúng ta và vì vậy tất yếu ảnh hưởng đến các nhóm chân ngã. Chúng ta cũng phải lưu ý sự kiện là—liên quan đến sự biểu lộ của một Đấng Thiên Nhân—các nhóm chân ngã là các trung tâm năng lượng và cuối cùng làm cho thể hồng trần đậm đặc của Ngài trở thành một sự kiện hoàn tất.

Finally, there is the attractive pull of that planetary scheme which is esoterically regarded as our polar opposite. [Page 1191] (What is here said has reference to the other schemes, for the law persists throughout the solar system.)

Cuối cùng là lực kéo hấp dẫn của hệ hành tinh được xem một cách huyền bí là đối cực của Trái Đất chúng ta. [Page 1191] (Điều được nói ở đây có liên hệ đến các hệ hành tinh khác, vì định luật này vẫn tồn tại khắp hệ mặt trời.)

It will be apparent, therefore, that the real and esoteric astrology will deal with four kinds of force, when it seeks to explain the nature of the Energies which influence any human being:

Vì vậy, sẽ hiển nhiên rằng chiêm tinh học chân chính và huyền bí sẽ đề cập đến bốn loại mãnh lực khi nó tìm cách giải thích bản chất của các Năng Lượng ảnh hưởng đến bất kỳ con người nào:

1. The quality of the solar system.

1. Phẩm tính của hệ mặt trời.

2. The quality of the Logos of the planet as it pours through the chains and globes and rounds in a sevenfold differentiation.

2. Phẩm tính của Thượng đế của hành tinh khi nó tuôn chảy qua các dãy, các bầu hành tinh và các cuộc tuần hoàn trong một sự biến phân thất phân.

3. The quality of our earth’s complementary planet.

3. Phẩm tính của hành tinh bổ sung cho Trái Đất chúng ta.

4. The quality of the attraction of our earth’s polar opposites.

4. Phẩm tính của lực hấp dẫn từ các đối cực của Trái Đất chúng ta.

This involves information as yet veiled in deepest mystery, but which will unfold as the true psychology is studied, and which will eventually embody itself in a fourth fundamental of the Secret Doctrine so that later students will have the three as they are now found in the Proem to that book, plus the fourth. (S. D., I, 42-46.) This might be expected in this fourth round. The true astrology will reveal the nature of this fourth proposition at some later date. More attention will eventually be paid to the planetary influences, and not so much to the signs of the zodiac where the nature of an Ego is concerned. The great signs of the zodiac concern the Heavenly Man, and necessarily, therefore, the Monads of every human being. The planetary influences must be studied to find out the quality of a man’s Ray, and this in the above indicated threefold manner. Man is the Monad, therefore, he expresses a small part of his enfolding life. In this solar system he is essentially the Ego.

Điều này bao hàm thông tin hiện vẫn còn bị che phủ trong huyền nhiệm sâu thẳm nhất, nhưng sẽ khai mở khi tâm lý học chân chính được nghiên cứu, và cuối cùng sẽ tự thể hiện thành một nguyên lý căn bản thứ tư của Giáo Lý Bí Nhiệm để các đạo sinh về sau sẽ có ba nguyên lý như hiện nay được tìm thấy trong Lời Mở Đầu của quyển sách ấy, cộng thêm nguyên lý thứ tư. (S. D., I, 42-46.) Điều này có thể được mong đợi trong cuộc tuần hoàn thứ tư này. Chiêm tinh học chân chính sẽ mặc khải bản chất của mệnh đề thứ tư này vào một ngày sau đó. Cuối cùng, người ta sẽ chú ý nhiều hơn đến các ảnh hưởng hành tinh, chứ không quá nhiều đến các dấu hiệu hoàng đạo khi bản chất của một chân ngã được xét đến. Các dấu hiệu lớn của hoàng đạo liên quan đến Đấng Thiên Nhân, và vì vậy tất yếu liên quan đến các chân thần của mọi con người. Các ảnh hưởng hành tinh phải được nghiên cứu để tìm ra phẩm tính của cung của một người, và điều này theo cách tam phân đã được chỉ ra ở trên. Con người là chân thần, vì vậy y biểu lộ một phần nhỏ của sự sống bao bọc y. Trong hệ mặt trời này, về bản chất y là chân ngã.

Astrologers should study the planetary schemes in the light of the Heavenly Man, viewing them as an incarnation [Page 1192] of a planetary Logos, and thus strive to cast the horoscope of the planetary Logos. They cannot succeed in doing so, but in the attempt may learn much and achieve new light upon a most difficult subject.

Các nhà chiêm tinh nên nghiên cứu các hệ hành tinh dưới ánh sáng của Đấng Thiên Nhân, xem chúng như một lần lâm phàm [Page 1192] của một Hành Tinh Thượng đế, và nhờ vậy cố gắng lập lá số chiêm tinh của Hành Tinh Thượng đế. Họ không thể thành công trong việc đó, nhưng trong nỗ lực ấy có thể học được nhiều điều và đạt được ánh sáng mới về một chủ đề hết sức khó khăn.

In considering this question of the adaptation of the form to vibration, or the construction of a vehicle which will be a fitting instrument for spirit, the following factors must be borne in mind:

Khi xem xét vấn đề này về sự thích ứng của hình tướng với rung động, hay việc kiến tạo một vận cụ sẽ là một công cụ thích hợp cho tinh thần, cần phải ghi nhớ các yếu tố sau đây:

1. That it is the quality of the indwelling life which decides the type of form.

1. Rằng chính phẩm tính của sự sống nội tại quyết định loại hình tướng.

2. That these qualities are the sumtotal of the attributes of divinity which the indwelling life has succeeded in unfolding.

2. Rằng các phẩm tính này là tổng số các thuộc tính của thiên tính mà sự sống nội tại đã thành công trong việc khai mở.

3. That these qualities—as may well be surmised—fall into the usual septennate.

3. Rằng các phẩm tính này—như có thể dễ dàng suy ra—cũng rơi vào bộ bảy thông thường.

4. That they fall also into two groups, those which concern the lower principles, and are, therefore, four in number, and those which concern the higher and middle and are, therefore, three.

4. Rằng chúng cũng rơi vào hai nhóm, những phẩm tính liên quan đến các nguyên khí thấp và vì vậy có số lượng là bốn, và những phẩm tính liên quan đến các nguyên khí cao hơn và trung gian, và vì vậy là ba.

This is true of all men, of the Heavenly Men and of the solar Logos likewise, and there is a mysterious analogy concerned in the manifestation of the three higher principles in man (which may be considered as demonstrating through the perfected Adept, the Bodhisattva) and the three higher principles of the solar Logos as they demonstrate through the major three aspects. They form but one principle showing forth in three ways. So it is with the unmanifested Monad (unmanifested from the standpoint of the lower man). That Monad can—at a certain very advanced stage in evolution, and one far beyond that of the Adept—have its triple simultaneous manifestation, and show forth as a Master in the three worlds, as a Bodhisattva on His own plane and as the emancipated Dhyani Buddha; yet these Three will be but One, will be [Page 1193] the result of a great spiritual vibration and will perform the triple work which may (from the standpoint of the three worlds) appear as the work of three separate great Existences. They are forms of three monadic “vestures,” worn by the one Monad as a man wears his three bodies simultaneously, and functions in them separately. (330)

Điều này đúng với mọi người, với các Đấng Thiên Nhân và cũng đúng với Thái dương Thượng đế; và có một sự tương đồng huyền bí liên quan đến sự biểu lộ của ba nguyên khí cao trong con người (có thể được xem là biểu hiện qua vị chân sư toàn thiện, Đức Bồ Tát) và ba nguyên khí cao của Thái dương Thượng đế khi chúng biểu lộ qua ba phương diện chính. Chúng chỉ tạo thành một nguyên khí biểu lộ theo ba cách. Cũng vậy đối với chân thần không biểu hiện (không biểu hiện theo quan điểm của phàm nhân). Chân thần ấy có thể—ở một giai đoạn tiến hoá rất cao nào đó, và vượt xa giai đoạn của chân sư—có sự biểu lộ tam phân đồng thời của mình, và biểu lộ như một Chân sư trong ba cõi giới, như một Đức Bồ Tát trên cõi riêng của Ngài và như một Dhyani Buddha đã được giải thoát; tuy nhiên Ba Đấng này chỉ là Một, sẽ là [Page 1193] kết quả của một rung động tinh thần vĩ đại và sẽ thực hiện công việc tam phân mà (theo quan điểm của ba cõi giới) có thể dường như là công việc của ba Đại Thực Thể riêng biệt. Các Ngài là những hình tướng của ba “pháp y” chân thần, được một chân thần khoác lấy cũng như con người đồng thời mang ba thể của mình và hoạt động riêng biệt trong chúng. (330)

(330) The Three Vestures.—“The stream is crossed. ‘Tis true thou hast a right to Dharmakaya vesture; but Sambhogakaya is greater than a Nirvani, and greater still is a Nirmanakaya—the Buddha of Compassion.”—Voice of the Silence, p. 97.

(330) Ba Pháp Y.—“Dòng sông đã được vượt qua. Đúng vậy, ngươi có quyền đối với pháp y Dharmakaya; nhưng Sambhogakaya còn cao hơn một nirvani, và cao hơn nữa là một Nirmanakaya—Đức Phật của Lòng Từ Bi.”—Tiếng Nói của Im Lặng, tr. 97.

“The three Buddhic bodies or forms are styled: Nirmanakaya, Sambhogakaya, Dharmakaya.

“Ba thể hay ba hình tướng Bồ đề được gọi là: Nirmanakaya, Sambhogakaya, Dharmakaya.

The first is that ethereal form which one would assume when leaving his physical he would appear in his astral body—having in addition all the knowledge of an Adept. The Bodhisattva develops it in himself as he proceeds on the path. Having reached the goal and refused its fruition, he remains on earth, as an Adept; and when he dies, instead of going into Nirvana, he remains in that glorious body he has woven for himself, invisible to uninitiated mankind, to watch over and protect it.

Thứ nhất là hình tướng dĩ thái mà người ta sẽ đảm nhận khi rời bỏ thể xác; y sẽ xuất hiện trong thể cảm dục của mình—đồng thời có thêm toàn bộ tri thức của một chân sư. Đức Bồ Tát phát triển nó trong chính mình khi Ngài tiến bước trên đường đạo. Khi đã đạt đến mục tiêu và từ chối quả vị của nó, Ngài vẫn ở lại trên trần gian như một chân sư; và khi Ngài chết, thay vì đi vào Niết Bàn, Ngài vẫn ở lại trong thể huy hoàng mà Ngài đã tự dệt nên cho mình, vô hình đối với nhân loại chưa được điểm đạo, để canh chừng và bảo vệ họ.

Sambhogakaya is the same, but with the additional lustre of three perfections, one of which is entire obliteration of all earthly concerns.

Sambhogakaya cũng vậy, nhưng có thêm ánh huy hoàng của ba sự toàn thiện, một trong số đó là sự xoá bỏ hoàn toàn mọi mối bận tâm trần thế.

The Dharmakaya body is that of complete Buddha, i.e., no body at all, but an ideal breath; consciousness merged in the universal consciousness, or soul devoid of every attribute. Once a Dharmakaya, an Adept or Buddha leaves behind every possible relation with, or thought for, this earth. Thus to be enabled to help humanity, an Adept who has won the right to Nirvana, ‘renounces the Dharmakaya body’ in mystic parlance; keeps, of the Sambhogakaya, only the great and complete knowledge, and remains in his Nirmanakaya. The esoteric school teaches that Gautama Buddha, with several of his Arhats, is such a Nirmanakaya, higher than whom, on account of his great renunciation and sacrifice for mankind, there is none known.”—Voice of the Silence, p. 98. (back)

Thể Dharmakaya là thể của một vị Phật toàn vẹn, tức là không còn thể nào cả, mà là một hơi thở lý tưởng; tâm thức hòa nhập vào tâm thức vũ trụ, hay linh hồn không còn bất kỳ thuộc tính nào. Một khi đã là Dharmakaya, một chân sư hay một vị Phật bỏ lại phía sau mọi liên hệ khả hữu với, hay mọi ý nghĩ dành cho, trái đất này. Vì vậy, để có thể giúp đỡ nhân loại, một chân sư đã giành được quyền vào Niết Bàn “từ bỏ thể Dharmakaya” theo cách nói thần bí; chỉ giữ lại, từ Sambhogakaya, tri thức vĩ đại và trọn vẹn, và vẫn ở trong Nirmanakaya của mình. Trường phái huyền bí dạy rằng Đức Phật Gautama, cùng với vài vị A La Hán của Ngài, là một Nirmanakaya như thế; cao hơn Ngài, do sự từ bỏ và hi sinh lớn lao của Ngài cho nhân loại, thì không ai được biết đến.”—Tiếng Nói của Im Lặng, tr. 98. (trở lại)

One or other of these three can, if so He will, occupy a body on the physical plane which will not be simply a created mayavirupa. This is done in one of two ways: either through the occupancy of a willingly vacated body, as was the case when the Christ occupied the body of Jesus, or by a divine overshadowing of a disciple, as has been and will be the case. The quality of the form occupied or used, and the nature of its work depends upon which of the three higher aspects of the initiating impulse, is manifesting. Very rarely a more mysterious phenomenon occurs and the overshadowing Buddha, Bodhisattva, or Adept each makes His “appearance” [Page 1194] upon earth thus demonstrating the three aspects of knowledge, love and will and all taking form.

Một trong ba Đấng này, hoặc Đấng kia, nếu Ngài muốn, có thể chiếm ngụ một thể trên cõi hồng trần mà không chỉ đơn thuần là một mayavirupa được tạo ra. Điều này được thực hiện theo một trong hai cách: hoặc bằng cách chiếm ngụ một thể được tự nguyện bỏ trống, như trường hợp Đức Christ chiếm ngụ thể của Đức Jesus, hoặc bằng sự phủ bóng thiêng liêng lên một đệ tử, như đã từng và sẽ còn xảy ra. Phẩm tính của hình tướng được chiếm ngụ hay sử dụng, và bản chất công việc của nó, tùy thuộc vào việc ba phương diện cao nào của xung lực điểm đạo đang biểu lộ. Rất hiếm khi xảy ra một hiện tượng còn huyền bí hơn, và Đức Phật phủ bóng, Đức Bồ Tát, hay chân sư, mỗi Đấng đều tạo nên “sắc tướng” của Ngài [Page 1194] trên trái đất, nhờ đó biểu lộ ba phương diện tri thức, bác ái và ý chí, và tất cả đều mang hình tướng.

This may seem to be a great complexity, but it is not so much stranger after all than the phenomenon of the Monad (in time and space and during evolution) demonstrating forth as the Triad, the Ego and the Personality. This type of triple Avatar only makes its appearance under a peculiar series of cycles concerned with a group of Monads who were the most progressed and advanced at the opening of the mahamanvantara. As yet, there are not many progressed enough to do this triple work; the Buddha and nine others being the only Ones as yet remaining in touch with our particular planet in this particular manner. A few are as Christ is, and have the power to make a dual appearance. This type of monad is only found on Rays two, four, six.

Điều này có vẻ là một sự phức tạp lớn, nhưng rốt cuộc cũng không lạ lùng hơn bao nhiêu so với hiện tượng chân thần (trong thời gian và không gian, và trong tiến hoá) biểu lộ thành Tam nguyên tinh thần, chân ngã và phàm ngã. Loại Đấng Hoá Thân tam phân này chỉ xuất hiện dưới một chuỗi chu kỳ đặc biệt liên quan đến một nhóm chân thần vốn là những Đấng tiến hoá và phát triển nhất vào lúc mở đầu Đại giai kỳ sinh hóa. Hiện nay, chưa có nhiều Đấng đủ tiến bộ để làm công việc tam phân này; Đức Phật và chín Đấng khác là những Đấng duy nhất cho đến nay vẫn còn liên hệ với hành tinh đặc thù của chúng ta theo cách đặc thù này. Một số ít thì như Đức Christ, và có quyền năng tạo nên sự xuất hiện nhị phân. Loại chân thần này chỉ được tìm thấy trên các cung hai, bốn, sáu.

Cosmic Fire S10

If the student bears in mind that the nature of the form is dependent upon the quality of the incarnating Life, he will have also to bear in mind the distinctions between the various groups of Hierarchies, for the Lives in those groups are of a quality diverse to each other and the forms through which they manifest are equally distinct and diverse. Therefore, we must distinguish between:

Nếu đạo sinh ghi nhớ rằng bản chất của hình tướng tùy thuộc vào phẩm tính của Sự sống nhập thể, thì y cũng phải ghi nhớ những khác biệt giữa các nhóm Huyền Giai khác nhau, vì các Sự sống trong những nhóm ấy có phẩm tính khác nhau, và các hình tướng qua đó chúng biểu lộ cũng khác biệt và đa dạng tương ứng. Do đó, chúng ta phải phân biệt giữa:

1. The involutionary groups.

1. Các nhóm giáng hạ tiến hoá.

2. The evolutionary groups.

2. Các nhóm thăng thượng tiến hoá.

3. The seven groups of lives which we call the lunar Fathers:

3. Bảy nhóm sự sống mà chúng ta gọi là các thái âm tổ phụ:

a. Three incorporeal who are the elemental kingdoms.

a. Ba nhóm vô thể là các giới hành khí.

b. Four material who are the forms of the four kingdoms on the upward arc.

b. Bốn nhóm vật chất là các hình tướng của bốn giới trên cung đi lên.

4. The seven hierarchies of Lives.

4. Bảy huyền giai của các Sự sống.

5. The seven groups of solar Angels.

5. Bảy nhóm Thái dương Thiên Thần.

There must not be confusion as to the distinction between the hierarchies of Beings and the seven Rays, for [Page 1195] though there is close connection, there is no resemblance. The “Rays” are but the primordial forms of certain Lives who “carry in their Hearts” all the Seeds of Form. The Hierarchies are the manifold groups of lives, at all stages of unfoldment and growth who will use the forms. (331) The Rays are vehicles and are, therefore, negative receivers. The Hierarchies are the users of the vehicles, and it is the nature of these lives and the quality of their vibration which under this great Law of Attraction brings to them the needed forms. These are the two primal distinctions, Life and Form, and these two are the “Son of God,” the second Person of the Trinity in His form-building aspect. They are the Builders and equally exist in three groups with their lesser differentiations. It is not necessary here to place these groups on certain planes in the solar system.

Không được nhầm lẫn về sự khác biệt giữa các huyền giai của các Đấng và bảy cung, vì [Page 1195] tuy có liên hệ mật thiết, nhưng không có sự giống nhau. Các “cung” chỉ là những hình thức nguyên sơ của một số Sự sống nhất định, những Đấng “mang trong Tim mình” mọi Hạt Giống của Hình Tướng. Các Huyền Giai là những nhóm sự sống đa tạp, ở mọi giai đoạn khai mở và tăng trưởng, sẽ sử dụng các hình tướng. (331) Các cung là các vận cụ và do đó là những bộ tiếp nhận thụ động. Các Huyền Giai là những Đấng sử dụng các vận cụ, và chính bản chất của các sự sống này cùng phẩm tính rung động của chúng, dưới Định luật Hấp Dẫn vĩ đại này, mang đến cho chúng những hình tướng cần thiết. Đây là hai phân biệt nguyên thủy, Sự sống và Hình tướng, và hai điều này là “Con của Thượng đế,” Ngôi thứ hai của Tam Vị trong phương diện kiến tạo hình tướng của Ngài. Các Ngài là những Đấng Kiến Tạo và cũng tồn tại trong ba nhóm với những biến phân nhỏ hơn của mình. Ở đây không cần đặt các nhóm này trên những cõi nhất định trong hệ mặt trời.

(331) The Twelve Creative Hierarchies. Students are often puzzled in trying to account for the “twelves” in the cosmos. A correspondent sends the following suggestion: In a Study in Consciousness, the three, by an arrangement of internal groupings, show seven groups; these may be represented as ABC, ACB, BCA, BAC, CAB, CBA, and a seventh, a synthesis in which the three are equal. A second six would be represented by (AB) C, C (AB), A (BC), (BC) A, (CA) B, B (AC), the two bracketed being equal and the third stronger or weaker. The two groups of six, and the group in which the three are equal, would make thirteen. “This thirteen may be arranged as a circle of twelve, with one in the centre. The central one will be synthetic, and will be that class in which all three are equal. The physical correspondence of this will be the twelve signs of the Zodiac with the Sun at the centre, synthesising all of them. The spiritual correspondence will be the twelve Creative Orders with the Logos at the centre, synthesising all.” The arrangement is quite legitimate.—The Theosophist, Vol. XXIX, p. 100.

(331) Mười Hai Huyền Giai Sáng Tạo. Các đạo sinh thường bối rối khi cố giải thích những “bộ mười hai” trong vũ trụ. Một người trao đổi thư từ gửi đến gợi ý sau đây: Trong một Nghiên cứu về Tâm thức, bộ ba, bằng một sự sắp xếp các nhóm nội tại, cho thấy bảy nhóm; có thể biểu thị chúng là ABC, ACB, BCA, BAC, CAB, CBA, và một nhóm thứ bảy, là một tổng hợp trong đó cả ba đều bằng nhau. Một bộ sáu thứ hai sẽ được biểu thị bằng (AB) C, C (AB), A (BC), (BC) A, (CA) B, B (AC), trong đó hai yếu tố đặt trong ngoặc là bằng nhau và yếu tố thứ ba mạnh hơn hoặc yếu hơn. Hai nhóm sáu, và nhóm trong đó cả ba bằng nhau, sẽ thành mười ba. “Mười ba này có thể được sắp xếp thành một vòng tròn mười hai, với một ở trung tâm. Điểm trung tâm sẽ có tính tổng hợp, và sẽ là loại trong đó cả ba đều bằng nhau. Sự tương ứng hồng trần của điều này sẽ là mười hai dấu hiệu hoàng đạo với Mặt Trời ở trung tâm, tổng hợp tất cả chúng. Sự tương ứng tinh thần sẽ là mười hai Huyền Giai Sáng Tạo với Thượng đế ở trung tâm, tổng hợp tất cả.” Sự sắp xếp này hoàn toàn hợp lý.—The Theosophist, Tập XXIX, tr. 100.

Compare also the Twelve Signs of the Zodiac. (back)

Cũng hãy so sánh với Mười Hai Dấu Hiệu Hoàng Đạo. (trở lại)

These hierarchies of Beings Who come in on the Ray of Light from the centre are the seeds of all that later is and it is only as they pass out into manifestation and the forms which they are to occupy are gradually evolved, that consideration of the planes becomes necessary. The planes are to certain of these hierarchies what the sheaths of the Monad are to it; they are veils for the Life indwelling; they are media of expression, and exponents of force or energy of a specialised kind. The quality of a [Page 1196] Ray is dependent upon the quality of the hierarchy of Beings who use it as a means of expression. These seven hierarchies are veiled by the Rays, but each is found behind the veil of every ray, for in their totality they are the informing lives of every planetary scheme within the system; they are the life of all interplanetary space, and the existences who are expressing themselves through the planetoids, and all forms of lesser independent life than a planet. Let me briefly give certain hints concerning these hierarchies which may serve to elucidate that contained in the Secret Doctrine concerning them.

Các huyền giai của những Đấng này, những Đấng đi vào trên Cung Ánh Sáng từ trung tâm, là những hạt giống của mọi điều về sau sẽ hiện hữu; và chỉ khi các Ngài đi ra biểu hiện, và những hình tướng mà các Ngài sẽ chiếm ngụ dần dần được tiến hoá, thì việc xét đến các cõi mới trở nên cần thiết. Đối với một số huyền giai này, các cõi cũng như các lớp vỏ của chân thần đối với nó; chúng là những bức màn che cho Sự sống nội tại; chúng là những môi giới biểu lộ, và là những tác nhân biểu hiện mãnh lực hay năng lượng thuộc một loại chuyên biệt. Phẩm tính của một [Page 1196] cung tùy thuộc vào phẩm tính của huyền giai các Đấng sử dụng nó như một phương tiện biểu lộ. Bảy huyền giai này được che phủ bởi các cung, nhưng mỗi huyền giai đều được tìm thấy phía sau bức màn của mọi cung, vì trong tổng thể của mình, các Ngài là những sự sống thấm nhuần của mọi hệ hành tinh trong hệ thống; các Ngài là sự sống của toàn bộ không gian liên hành tinh, và là những hiện thể đang biểu lộ qua các tiểu hành tinh, cùng mọi hình thức sự sống độc lập nhỏ hơn một hành tinh. Hãy để tôi ngắn gọn đưa ra vài gợi ý về các huyền giai này, điều có thể giúp làm sáng tỏ những gì được chứa đựng trong Giáo Lý Bí Nhiệm liên quan đến các Ngài.

What is here imparted is not in itself new, but is the synthesising of much already known and its gathering together in the form of brief enunciated facts.

Điều được truyền đạt ở đây tự nó không mới, mà là sự tổng hợp của nhiều điều đã được biết, và là sự tập hợp chúng lại dưới hình thức những mệnh đề sự kiện ngắn gọn.

Each of these seven hierarchies of Beings Who are the Builders or the Attractive Agents are (in their degree) intermediaries; all embody one of the types of force emanating from the seven constellations. Their intermediary work, therefore, is dual:

Mỗi một trong bảy huyền giai của những Đấng này, những Đấng là các Đấng Kiến Tạo hay các Tác Nhân Hấp Dẫn, đều là (trong cấp độ của mình) những trung gian; tất cả đều thể hiện một trong các loại mãnh lực phát ra từ bảy chòm sao. Vì vậy, công việc trung gian của các Ngài là nhị phân:

1. They are the mediators between Spirit and matter.

1. Các Ngài là những đấng trung gian giữa tinh thần và vật chất.

2. They are the transmitters of force from sources extraneous to the solar system to forms within the solar system.

2. Các Ngài là những đấng truyền dẫn mãnh lực từ những nguồn ở ngoài hệ mặt trời đến các hình tướng bên trong hệ mặt trời.

Each of these groups of beings is likewise septenary in nature, and the forty-nine fires of Brahma are the lowest manifestation of their fiery nature. Each group also may be regarded as “fallen” in the cosmic sense, because involved in the building process, or the occupiers of forms of some degree of density or another.

Mỗi nhóm chúng sinh này cũng có bản chất thất phân, và bốn mươi chín ngọn lửa của Brahma là biểu hiện thấp nhất của bản chất lửa của họ. Mỗi nhóm cũng có thể được xem là “sa ngã” theo nghĩa vũ trụ, vì bị cuốn vào tiến trình kiến tạo, hay là những đấng chiếm ngụ các hình tướng ở mức độ đậm đặc nào đó.

Hierarchy I. The first great Hierarchy is emanated from the Heart of the central Spiritual Sun. (S. D., I, 233-250; III, 565-566.) It is the Son of God Himself, the First Born in a cosmic sense, even as the Christ was the “Eldest in a vast family of [Page 1197] brothers,” and the “first flower on the human plant.” The symbol of this Hierarchy is the Golden Lotus with its twelve petals folded.

Huyền Giai I. Huyền Giai lớn thứ nhất được phát xuất từ Trái Tim của Mặt trời Tinh thần Trung Ương. (S. D., I, 233-250; III, 565-566.) Đó là chính Con của Thượng đế, Đấng Đầu Sinh theo nghĩa vũ trụ, cũng như Đức Christ là “Người Anh Cả trong một đại gia đình [Page 1197] huynh đệ,” và là “đóa hoa đầu tiên trên cây nhân loại.” Biểu tượng của Huyền Giai này là Hoa Sen Vàng với mười hai cánh khép lại.

It should be remembered that this Hierarchy is literally the sixth, for five hierarchies have passed on, being the product of the earlier system, that wherein Intelligence or Manas was the goal. The five liberated hierarchies are in their totality the sumtotal of manas. It is the Hierarchy which is the fifth in order, and which we are told is in process of achieving final liberation, or taking its fourth Initiation, which is the cause of certain phenomena upon our planet which has merited our planet being called the “Star of Suffering.” There is a karmic link between the animal kingdom and the fifth Creative Hierarchy of the earlier system which makes itself felt in man in the necessary crucifixion of the animal physical nature, particularly along sex lines. We must remember that the hierarchies work under the Law of Attraction; it is the law of the Builders.

Cần nhớ rằng Huyền Giai này theo nghĩa đen là huyền giai thứ sáu, vì năm huyền giai đã đi qua rồi, là sản phẩm của hệ thống trước, hệ thống trong đó Trí Tuệ hay Manas là mục tiêu. Năm huyền giai được giải thoát, trong tổng thể của chúng, là tổng số của manas. Chính Huyền Giai là thứ năm theo thứ tự, và như chúng ta được bảo là đang trong tiến trình đạt đến giải thoát cuối cùng, hay đang nhận lần điểm đạo thứ tư, là nguyên nhân của một số hiện tượng trên hành tinh chúng ta, khiến hành tinh này được gọi là “Ngôi Sao Đau Khổ.” Có một mối liên kết nghiệp quả giữa giới động vật và Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm của hệ thống trước, điều tự biểu lộ trong con người qua sự đóng đinh cần thiết của bản chất thể xác động vật, đặc biệt theo đường lối tính dục. Chúng ta phải nhớ rằng các huyền giai hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn; đó là định luật của các Đấng Kiến Tạo.

This first (sixth) Hierarchy has for its type of energy the first aspect of the sixth type of cosmic electricity, and wields special power, therefore, in conjunction with the lowest fire, or “fire by friction,” as it makes itself felt on the sixth plane. These lives are called “the burning Sons of Desire” and were the Sons of Necessity. It is said of them in the old Commentary:

Huyền Giai thứ nhất (thứ sáu) này có loại năng lượng là phương diện thứ nhất của loại điện vũ trụ thứ sáu, và do đó nắm giữ quyền năng đặc biệt khi kết hợp với ngọn lửa thấp nhất, hay “Lửa ma sát,” khi nó được cảm nhận trên cõi thứ sáu. Các sự sống này được gọi là “những Con rực cháy của Dục vọng” và là những Con của Tất Yếu. Cổ Luận nói về họ như sau:

“They burned to know. They rushed into the spheres. They are the longing of the Father for the Mother. Hence do they suffer, burn, and long through the sixth sphere of sense.”

“Họ cháy bỏng để biết. Họ lao vào các khối cầu. Họ là nỗi khát khao của Cha đối với Mẹ. Vì thế họ đau khổ, cháy bỏng, và khát khao xuyên qua khối cầu thứ sáu của giác quan.”

Hierarchy II. The second Hierarchy is closely allied with the Great Bear. We are told that They entered through the second ventricle within the Sacred Heart, and are (as we are told in the Secret Doctrine) the prototypes of the Monads. They are the source of monadic Life, but They are not the Monads; They are far higher.

Huyền Giai II. Huyền Giai thứ hai có liên hệ mật thiết với Đại Hùng Tinh. Chúng ta được bảo rằng Các Ngài đi vào qua tâm thất thứ hai bên trong Trái Tim Thiêng Liêng, và (như được nói trong Giáo Lý Bí Nhiệm) là các nguyên mẫu của các chân thần. Các Ngài là nguồn của Sự sống chân thần, nhưng Các Ngài không phải là các chân thần; Các Ngài cao hơn rất nhiều.

[Page 1198] This Hierarchy, which is literally the seventh, is the influx into our system of those Lives who in the first solar system remained on their own plane, being too sinless and holy to find opportunity in that very material and intellectual evolution. Even in this, they will find it impossible to do more than influence the incarnating Jivas, imparting to them ability to realise the nature of group consciousness, the quality of the seven Heavenly Men, but not being able to express themselves fully. Some clue to this mystery will come if the student carefully bears in mind that in our solar system and our seven planes, we have only the physical body of the Logos, and that that physical body is a limitation of the expression of His threefold nature. The first (sixth) Hierarchy might be viewed as endeavouring to express the mental vibration of the solar Logos and the second, His emotional, or cosmic astral, nature.

[Page 1198] Huyền Giai này, theo nghĩa đen là huyền giai thứ bảy, là dòng tuôn đổ vào hệ thống chúng ta của những Sự sống mà trong hệ mặt trời thứ nhất đã ở lại trên cõi riêng của mình, vì quá vô tội và thiêng liêng để tìm thấy cơ hội trong tiến hoá quá vật chất và trí tuệ ấy. Ngay cả trong hệ thống này, các Ngài cũng sẽ thấy không thể làm gì hơn ngoài việc ảnh hưởng đến các Jivas nhập thể, ban cho họ khả năng chứng nghiệm bản chất của tâm thức nhóm, phẩm tính của bảy Đấng Thiên Nhân, nhưng không thể biểu lộ chính mình một cách trọn vẹn. Một vài đầu mối cho huyền nhiệm này sẽ đến nếu đạo sinh cẩn thận ghi nhớ rằng trong hệ mặt trời của chúng ta và bảy cõi của chúng ta, chúng ta chỉ có thể xác của Thượng đế, và thể xác ấy là một sự giới hạn đối với sự biểu lộ bản chất tam phân của Ngài. Huyền Giai thứ nhất (thứ sáu) có thể được xem như đang cố gắng biểu lộ rung động trí tuệ của Thái dương Thượng đế, còn huyền giai thứ hai thì biểu lộ bản chất cảm xúc, hay cảm dục vũ trụ, của Ngài.

This second (seventh) Hierarchy has for its type of force the second aspect of the seventh type of force from out of the many. Some idea of the relative point in evolution of the solar Logos may be gained by study of the varying aspects of force which He is demonstrating in this particular incarnation. It is this energy which drives the Monads through into physical incarnation for it makes itself felt on the seventh plane. The energies which are functioning are those which the Logos has unfolded, and are the gain of previous incarnations. Gaps necessarily occur, and certain types of force are lacking, because He has as yet much cosmically to gain.

Huyền Giai thứ hai (thứ bảy) này có loại mãnh lực là phương diện thứ hai của loại mãnh lực thứ bảy trong số nhiều loại. Có thể có được một ý niệm nào đó về điểm tiến hoá tương đối của Thái dương Thượng đế bằng cách nghiên cứu các phương diện mãnh lực khác nhau mà Ngài đang biểu lộ trong lần lâm phàm đặc thù này. Chính năng lượng này thúc đẩy các chân thần đi vào lâm phàm hồng trần vì nó được cảm nhận trên cõi thứ bảy. Những năng lượng đang hoạt động là những năng lượng mà Thượng đế đã khai mở, và là thành quả của các lần lâm phàm trước. Tất yếu có những khoảng trống, và một số loại mãnh lực còn thiếu, vì về mặt vũ trụ Ngài vẫn còn nhiều điều phải đạt được.

It is the energy of this Hierarchy (whose numbers are two and seven) which results in the manifestation of the Divine Androgyne, and in the seven centres of force which are the seven Spiritual Energies.

Chính năng lượng của Huyền Giai này (có các con số là hai và bảy) dẫn đến sự biểu lộ của Đấng Lưỡng Tính Thiêng Liêng, và của bảy trung tâm mãnh lực là bảy Năng Lượng Tinh Thần.

Hierarchy III. The third Creative Hierarchy (or the eighth) is a peculiarly interesting one. They are called “the Triads” for they hold in themselves the potencies [Page 1199] of triple evolution, mental, psychical, and spiritual. These Triads of Life are inherently the three Persons and the flower of the earlier system from a certain angle. From another angle, when studied as the “flower of the earlier Eight,” They are the eightfold points awaiting opportunity to flame forth. They are the devas who are ready for service, which is to give to another hierarchy certain qualities which are lacking. This Hierarchy is regarded as the great donors of immortality whilst themselves “standing aloof from incarnation.” Lords of Sacrifice and Love are They, but They cannot pass out of the logoic etheric body into the dense physical vehicle.

Huyền Giai III. Huyền Giai Sáng Tạo thứ ba (hay thứ tám) là một huyền giai đặc biệt lý thú. Các Ngài được gọi là “các Tam nguyên tinh thần” vì các Ngài nắm giữ trong mình những tiềm năng [Page 1199] của sự tiến hoá tam phân: trí tuệ, thông linh, và tinh thần. Những Tam nguyên tinh thần của Sự sống này vốn là ba Ngôi Vị và là tinh hoa của hệ thống trước theo một góc độ nào đó. Theo một góc độ khác, khi được nghiên cứu như “đóa hoa của Tám Đấng trước đây,” Các Ngài là những điểm bát phân đang chờ cơ hội để bùng cháy. Các Ngài là những thiên thần đã sẵn sàng phụng sự, mà sự phụng sự ấy là ban cho một huyền giai khác một số phẩm tính còn thiếu. Huyền Giai này được xem là những đấng ban tặng sự bất tử vĩ đại, trong khi chính Các Ngài lại “đứng ngoài sự nhập thể.” Các Ngài là các Đấng Chúa Tể của Hi sinh và Bác ái, nhưng Các Ngài không thể đi ra khỏi thể dĩ thái của Thượng đế để vào vận cụ hồng trần đậm đặc.

This third Hierarchy wields the third aspect of electric force of the first type of cosmic energy. They stand for a recurrent cycle of that first type symbolised by the number 8. The formulae for these electrical energies are too complicated to be given here, but the student should bear in mind that these hierarchies express:

Huyền Giai thứ ba này vận dụng phương diện thứ ba của điện lực thuộc loại năng lượng vũ trụ thứ nhất. Các Ngài tượng trưng cho một chu kỳ tái diễn của loại thứ nhất ấy, được biểu tượng hóa bằng số 8. Các công thức cho những năng lượng điện này quá phức tạp để trình bày ở đây, nhưng đạo sinh nên ghi nhớ rằng các huyền giai này biểu lộ:

1. Septenary cosmic energy.

1. Năng lượng vũ trụ thất phân.

2. Cosmic prana.

2. Prana vũ trụ.

3. Solar energy or electric fire, solar fire and fire by friction.

3. Năng lượng thái dương hay Lửa Điện, Lửa Thái dương và Lửa ma sát.

Each hierarchy manifests a triple energy or an aspect of each of the above, and that necessitates a ninefold differentiation, for the two first are triple as is the third. It is the rejection of the Triadal Lives by units in the fourth Hierarchy, that of the human Monads, which precipitates a man eventually into the eighth sphere. He refuses to become a Christ, a Saviour and remains self-centred.

Mỗi huyền giai biểu lộ một năng lượng tam phân hay một phương diện của mỗi điều kể trên, và điều đó đòi hỏi một sự biến phân cửu phân, vì hai điều đầu là tam phân cũng như điều thứ ba. Chính việc các đơn vị trong Huyền Giai thứ tư, tức các chân thần nhân loại, từ chối các Sự sống Tam nguyên tinh thần, là điều cuối cùng kết tủa con người vào khối cầu thứ tám. Y từ chối trở thành một Đức Christ, một Đấng Cứu Rỗi, và vẫn ở lại là một kẻ tự tập trung vào bản thân, một Đấng Cứu Rỗi, và vẫn tập trung vào bản thân.

We have dealt with the first three hierarchies which are regarded as ever “seeing the Face of the Ruler of the Deep,” or as being so pure and holy that Their forces are in realised contact with Their emanating source.

Chúng ta đã bàn đến ba huyền giai đầu tiên, những huyền giai được xem là luôn luôn “chiêm ngưỡng Thánh Nhan của Đấng Cai Quản Vực Sâu,” hay là thanh khiết và thiêng liêng đến mức các mãnh lực của Các Ngài ở trong sự tiếp xúc được chứng nghiệm với nguồn phát xuất của mình.

We now take up for brief consideration two hierarchies [Page 1200] which closely concern ourselves, the human self-conscious entities. These two groups are literally three, as the fifth Hierarchy is a dual one and it is this which has led to some confusion and is the occult significance behind the ill-omened number thirteen. They are the “Seekers of satisfaction” and the cause of the second fall into generation, the fact behind the taking of a lower nature by the Ego. The fourth and the fifth Hierarchies are the ninth and tenth, or the “Initiates” and the “Perfect Ones.” All human beings, or “Imperishable Jivas,” are those who evolve through a graded series of initiations either self-induced or brought about on our planet with extraneous aid. This they achieve through a “marriage” with the order next to them, the fifth. They are then completed or perfected, and it is owing to this occult fact that the fourth Hierarchy is regarded as masculine and the fifth as feminine.

Giờ đây chúng ta sẽ xét ngắn gọn hai huyền giai [Page 1200] có liên quan mật thiết đến chính chúng ta, những thực thể ngã thức nhân loại. Hai nhóm này theo nghĩa đen là ba, vì Huyền Giai thứ năm là một huyền giai nhị phân, và chính điều này đã dẫn đến một số nhầm lẫn và là ý nghĩa huyền bí đằng sau con số mười ba bị xem là xấu. Họ là những “Kẻ Tìm Kiếm sự thỏa mãn” và là nguyên nhân của lần sa ngã thứ hai vào sự sinh sản, là sự kiện nằm sau việc chân ngã khoác lấy một bản chất thấp hơn. Huyền Giai thứ tư và thứ năm là thứ chín và thứ mười, hay là các “Điểm đạo đồ” và các “Đấng Toàn Thiện.” Tất cả con người, hay các “Jivas Bất Hoại,” là những đấng tiến hoá qua một chuỗi điểm đạo theo cấp bậc, hoặc do tự mình tạo ra hoặc được thực hiện trên hành tinh chúng ta với sự trợ giúp từ bên ngoài. Điều này họ đạt được qua một “cuộc hôn phối” với trật tự kế cận họ, tức huyền giai thứ năm. Khi ấy họ được hoàn tất hay toàn thiện, và chính do sự kiện huyền bí này mà Huyền Giai thứ tư được xem là nam tính và Huyền Giai thứ năm là nữ tính.

Hierarchy IV. The fourth Creative Hierarchy is the group wherein the highest aspect of man, his “Father in Heaven” finds place. These lives are the points of fire who must become the flame; this they do through the agency of the fifth Hierarchy and the four wicks, or the two dual lower hierarchies. Thus it can be seen that where man is concerned, the fourth, fifth, sixth and seventh hierarchies are, during the cycle of incarnation, his very self. They are the “Lords of Sacrifice” and “Lords of Love,” the flower of Atma-buddhi.

Huyền Giai IV. Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư là nhóm trong đó phương diện cao nhất của con người, “Cha trên Trời” của y, tìm được chỗ đứng. Những sự sống này là những điểm lửa phải trở thành ngọn lửa; điều này họ thực hiện qua tác nhân của Huyền Giai thứ năm và bốn tim đèn, hay hai huyền giai thấp nhị phân. Như vậy có thể thấy rằng, xét về con người, các huyền giai thứ tư, thứ năm, thứ sáu và thứ bảy, trong chu kỳ nhập thể, chính là bản thân y. Họ là các “Đấng Chúa Tể của Hi sinh” và “Đấng Chúa Tể của Bác ái,” là tinh hoa của Atma-buddhi.

In studying these hierarchies, one of the most valuable lessons to be learned is the place and importance of man in the scheme. The hierarchy, for instance, which is the essence of the intangible Life of Spirit, and principle of Buddhi, is the esoteric cause of the cosmic marriage of spirit and matter, based on the love and desire of the Logos, but each hierarchy also expresses itself through one particular manifestation which comes to be regarded by the finite mind of man as the hierarchy itself. This [Page 1201] is not so, and care must be taken to distinguish between these hierarchies.

Khi nghiên cứu các huyền giai này, một trong những bài học có giá trị nhất cần học là vị trí và tầm quan trọng của con người trong hệ hành tinh. Chẳng hạn, huyền giai là tinh túy của Sự sống vô hình tướng của tinh thần, và là nguyên khí của Bồ đề, là nguyên nhân huyền bí của cuộc hôn phối vũ trụ giữa tinh thần và vật chất, dựa trên tình thương và dục vọng của Thượng đế; nhưng mỗi huyền giai cũng biểu lộ chính mình qua một biểu hiện đặc thù nào đó, điều được trí tuệ hữu hạn của con người xem như chính huyền giai ấy. Điều [Page 1201] này không phải vậy, và cần thận trọng để phân biệt giữa các huyền giai này.

They are latent germs of force centres and manifest subjectively; they warm and vitalise groups of forms; they flower forth and express themselves through the medium of a form, or another hierarchy. These hierarchies are all interrelated and are negative or positive to each other as the case may be.

Chúng là những mầm tiềm ẩn của các trung tâm mãnh lực và biểu lộ một cách chủ quan; chúng sưởi ấm và tiếp sinh lực cho các nhóm hình tướng; chúng nở hoa và biểu lộ chính mình qua trung gian của một hình tướng, hay một huyền giai khác. Các huyền giai này đều liên hệ với nhau và là âm hay dương đối với nhau tùy trường hợp.

As is stated in the Secret Doctrine, this hierarchy is the nursery for the incarnating Jivas; (S. D., I, 238.) and it carried in it the germs of the Lives which achieved the human stage in another solar system, but were not able to proceed beyond that owing to the coming in of pralaya, which projected them into a state of latency. The condition of the hierarchy is similar, only on a cosmic scale, to the condition of the seeds of human life held in a state of obscuration during an interchain period. The three other hierarchies dealt with (first, second, and third) were those who have (in previous kalpas of logoic manifestation) passed beyond the human stage altogether. They are, therefore, the formless groups, as the remaining are the rupa groups or those having forms.

Như đã được nói trong Giáo Lý Bí Nhiệm, huyền giai này là vườn ươm cho các Jivas nhập thể; (S. D., I, 238.) và nó mang trong mình các mầm sống của những Sự sống đã đạt đến giai đoạn nhân loại trong một hệ mặt trời khác, nhưng không thể tiến xa hơn vì sự xuất hiện của Giai kỳ qui nguyên, điều đã phóng chiếu họ vào một trạng thái tiềm ẩn. Tình trạng của huyền giai này tương tự, nhưng ở quy mô vũ trụ, với tình trạng của các hạt giống sự sống nhân loại được giữ trong trạng thái lu mờ trong một thời kỳ giữa hai dãy. Ba huyền giai khác đã được bàn đến (thứ nhất, thứ hai và thứ ba) là những huyền giai đã (trong các kalpas trước của sự biểu lộ logoic) vượt hẳn giai đoạn nhân loại. Do đó, các huyền giai ấy là những nhóm vô sắc tướng, trong khi các huyền giai còn lại là các nhóm rupa hay những nhóm có hình tướng.

The fourth Creative Hierarchy, or the ninth, must ever be regarded in this solar system as occupying what might be considered as the third place,

Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, hay thứ chín, trong hệ mặt trời này phải luôn được xem là chiếm giữ điều có thể được coi là vị trí thứ ba,

First, the Lives or the three Persons of the Trinity.

Thứ nhất, các Sự sống hay ba Ngôi Vị của Tam Vị.

Second, the Prototypes of man, the seven Spirits.

Thứ hai, các Nguyên Mẫu của con người, bảy Thánh Linh.

Third, man or the lowest manifestation of the self-conscious Spirit aspect.

Thứ ba, con người hay biểu lộ thấp nhất của phương diện tinh thần ngã thức.

This needs to be carefully considered and has no reference to the form aspect but solely to the nature of the lives expressing themselves through other lives who are also self-conscious, or fully intelligent. This, certain of the hierarchies are not.

Điều này cần được cân nhắc cẩn thận và không liên quan gì đến phương diện hình tướng mà chỉ liên quan đến bản chất của các sự sống đang biểu lộ qua những sự sống khác, những sự sống này cũng có ngã thức, hay hoàn toàn thông tuệ. Một số huyền giai thì không như vậy.

[Page 1202] The four lower hierarchies are all concerned with manifestation in the three worlds, or in the dense physical body of the solar Logos. They are those who can discard or pass through the etheric body of the solar Logos and take forms composed of either gaseous, liquid, or dense substance. The others cannot. They cannot fall into physical generation.

[Page 1202] Bốn huyền giai thấp đều liên quan đến sự biểu hiện trong ba cõi giới, hay trong thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế. Họ là những đấng có thể bỏ đi hay xuyên qua thể dĩ thái của Thái dương Thượng đế và mang lấy những hình tướng được cấu thành bằng chất liệu khí, lỏng, hay đậm đặc. Các huyền giai khác thì không thể. Các huyền giai ấy không thể sa vào sự sinh sản hồng trần.

Students must bear in mind that from the standpoint of the Logos, the solar Angels on the mental plane (the fifth subplane of the cosmic physical plane) are in physical incarnation, and what is called the “second fall” applies to this. The first fall has reference to the taking of a form of cosmic etheric matter, such as is the case with the Heavenly Men, the prototypes of the human jivas. In this latter case the bodies used are called “formless” from our standpoint, and are “vital bodies” animated by cosmic prana. In the case of ourselves and the remaining groups, the forms are composed of substance of the three lower planes (that which the Logos does not regard as principle) and, therefore, matter responding still to the vibration of the earlier system. This means that the four lower hierarchies are links between the life of the past and of the future. They are the present. They had not finished their contacts with the active intelligent principle of the preceding kalpa, and so must continue such contacts in this. They will work out of it in this system, the four will become the three and they will then be the three, higher arupa hierarchies of the next system.

Các đạo sinh phải ghi nhớ rằng theo quan điểm của Thượng đế, các Thái dương Thiên Thần trên cõi trí (cõi phụ thứ năm của cõi hồng trần vũ trụ) đang ở trong lâm phàm hồng trần, và điều được gọi là “lần sa ngã thứ hai” áp dụng cho điều này. Lần sa ngã thứ nhất liên quan đến việc mang lấy một hình tướng bằng vật chất dĩ thái vũ trụ, như trường hợp của các Đấng Thiên Nhân, các nguyên mẫu của các jivas nhân loại. Trong trường hợp sau này, các thể được dùng được gọi là “vô sắc tướng” theo quan điểm của chúng ta, và là “thể sinh lực” được tiếp sinh lực bởi prana vũ trụ. Trong trường hợp của chính chúng ta và các nhóm còn lại, các hình tướng được cấu thành bằng chất liệu của ba cõi thấp (điều mà Thượng đế không xem là nguyên khí) và do đó là vật chất vẫn còn đáp ứng với rung động của hệ thống trước. Điều này có nghĩa là bốn huyền giai thấp là những mối nối giữa sự sống của quá khứ và của tương lai. Họ là hiện tại. Họ chưa hoàn tất những tiếp xúc của mình với nguyên khí hoạt động thông tuệ của kalpa trước, và vì vậy phải tiếp tục những tiếp xúc ấy trong kalpa này. Họ sẽ thoát ra khỏi điều đó trong hệ thống này, bốn sẽ trở thành ba, và khi ấy họ sẽ là ba huyền giai arupa cao hơn của hệ thống kế tiếp.

Before continuing our consideration of the particular hierarchies, it is necessary to point out that in these hierarchies, certain of them are termed “dominant hierarchies” and others “subsidiary hierarchies.” By this is meant that certain of them are in this solar system expressing themselves more fully than the others, and this necessarily entails the consequence that their vibration is more to be felt than that of the subsidiary groups. [Page 1203] The dominant groups are the second, fourth and fifth, and this because:

Trước khi tiếp tục xem xét các huyền giai riêng biệt, cần chỉ ra rằng trong các huyền giai này, một số được gọi là “huyền giai trội” và một số khác là “huyền giai phụ thuộc.” Điều này có nghĩa là một số huyền giai trong hệ mặt trời này đang biểu lộ chính mình đầy đủ hơn những huyền giai khác, và điều đó tất yếu kéo theo hệ quả là rung động của chúng được cảm nhận nhiều hơn rung động của các nhóm phụ thuộc. [Page 1203] Các nhóm trội là nhóm thứ hai, thứ tư và thứ năm, và điều này là vì:

a. The second is the great expression of duality, of the Son as He vitalises the Sun.

a. Huyền giai thứ hai là biểu lộ lớn lao của nhị nguyên tính, của Con khi Ngài tiếp sinh lực cho Mặt Trời.

b. The fourth is the hierarchy of human Monads who are the mediators or the synthesisers; they express the gain of System 1 and the goal of System 2.

b. Huyền giai thứ tư là huyền giai của các chân thần nhân loại, những đấng là các trung gian hay các đấng tổng hợp; họ biểu lộ thành quả của Hệ thống 1 và mục tiêu của Hệ thống 2.

c. The fifth or tenth is closely linked with the five liberated hierarchies, and is an expression of their synthesised life. It might, therefore, be said that the fifth Hierarchy serves as the representative of the five liberated groups and the fourth is the representative group in this system, whilst the second represents (for man, or these two groups united) that which is the Spirit aspect, the Father, the Unknown.

c. Huyền giai thứ năm hay thứ mười liên kết mật thiết với năm huyền giai được giải thoát, và là một biểu lộ của sự sống được tổng hợp của các huyền giai ấy. Vì vậy, có thể nói rằng Huyền Giai thứ năm phụng sự như đại diện của năm nhóm được giải thoát, và Huyền Giai thứ tư là nhóm đại diện trong hệ thống này, trong khi Huyền Giai thứ hai biểu lộ (đối với con người, hay đối với hai nhóm này hợp nhất) điều là phương diện tinh thần, là Cha, là Đấng Vô Danh.

Hierarchy V. The fifth Creative Hierarchy is, as we know from study of the Secret Doctrine, a most mysterious one. This mystery is incident upon the relation of the fifth Hierarchy to the five liberated groups. This relation, in connection with our particular planet, which is not a sacred planet, can be somewhat understood if the history of the Buddha and his work is contemplated. This is hinted at in the third volume of the Secret Doctrine. ( S. D., I, 239; III, Sections 43, 44, 45)

Huyền Giai V. Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm, như chúng ta biết qua việc nghiên cứu Giáo Lý Bí Nhiệm, là một Huyền Giai vô cùng huyền bí. Sự huyền bí này phát sinh từ mối liên hệ của Huyền Giai thứ năm với năm nhóm được giải thoát. Mối liên hệ này, khi gắn với hành tinh đặc thù của chúng ta, vốn không phải là một hành tinh thiêng liêng, có thể được hiểu phần nào nếu chiêm ngưỡng lịch sử của Đức Phật và công việc của Ngài. Điều này được ám chỉ trong quyển ba của Giáo Lý Bí Nhiệm. ( S. D., I, 239; III, Sections 43, 44, 45)

The relation of the fifth Hierarchy to a certain constellation has also a bearing upon this mystery. This is hidden in the karma of the solar Logos, and concerns His relationship to another solar Logos, and the interplay of force between them in a greater mahakalpa. This is the true “secret of the Dragon,” and it was the dragon-influence or the “serpent energy” which caused the influx of manasic or mind energy into the solar system. Entangled closely with the karma of these two cosmic [Page 1204] Entities, was that of the lesser cosmic Entity Who is the Life of our planet, the planetary Logos. It was this triple karma which brought in the “serpent religion” and the “Serpents or Dragons of Wisdom” in Lemurian days. It had to do with solar and planetary Kundalini, or serpent fire. A hint lies in the fact that the constellation of the Dragon has the same relation to the ONE greater than our Logos as the centre at the base of the spine has to a human being. It concerns stimulation, and vitalisation with a consequent co-ordination of the manifesting fires.

Mối liên hệ của Huyền Giai thứ năm với một chòm sao nào đó cũng có liên quan đến huyền nhiệm này. Điều này ẩn giấu trong nghiệp quả của Thái dương Thượng đế, và liên quan đến mối tương quan của Ngài với một Thái dương Thượng đế khác, cùng sự tương tác của mãnh lực giữa Các Ngài trong một mahakalpa lớn hơn. Đây là “bí mật của Rồng” chân chính, và chính ảnh hưởng của rồng hay “năng lượng rắn” đã gây ra sự tuôn vào của năng lượng manas hay năng lượng trí tuệ trong hệ mặt trời. Gắn chặt với nghiệp quả của hai [Page 1204] Thực Thể vũ trụ này là nghiệp quả của Thực Thể vũ trụ nhỏ hơn, Đấng là Sự Sống của hành tinh chúng ta, tức Hành Tinh Thượng đế. Chính nghiệp quả tam phân này đã đưa vào “tôn giáo rắn” và “các Rắn hay Rồng Minh Triết” trong thời Lemuria. Điều đó liên quan đến Kundalini thái dương và hành tinh, hay lửa rắn. Một gợi ý nằm trong sự kiện rằng chòm sao Rồng có cùng mối liên hệ với ĐẤNG lớn hơn Thượng đế của chúng ta như trung tâm ở đáy cột sống có với một con người. Điều này liên quan đến sự kích thích, và sự tiếp sinh lực cùng với sự phối hợp tất yếu của các ngọn lửa đang biểu hiện.

A clue to the mystery lies also in the relation of this fifth group to the two contracting poles. They are the fivefold Links, the “Benign Uniters” and “the Producers of the Atonement.” Esoterically, they are the “Saviours of the Race” and from Them emanates that principle which—in conjunction with the highest aspect—lifts the lower aspect up to Heaven.

Một đầu mối cho huyền nhiệm này cũng nằm trong mối liên hệ của nhóm thứ năm này với hai cực đang co kéo. Họ là các Mối Nối ngũ phân, là “Những Đấng Hợp Nhất Từ Hòa” và “Những Đấng Tạo Ra Sự Chuộc Tội.” Theo huyền bí học, Họ là “Đấng Cứu Rỗi của Nhân Loại” và từ Các Ngài phát ra nguyên khí mà—kết hợp với phương diện cao nhất—nâng phương diện thấp hơn lên Thiên giới.

When these mysteries are carefully studied, and due application made to the lives of the greatest exponents of the at-one-ing principle, it will become apparent how great and all-important is their place in the scheme.

Khi các huyền nhiệm này được nghiên cứu cẩn trọng, và được áp dụng thích đáng vào cuộc đời của những vị biểu hiện vĩ đại nhất của nguyên lý hợp nhất, thì sẽ trở nên hiển nhiên rằng vị trí của họ trong hệ thống lớn lao và tối quan trọng đến mức nào.

It is for this reason that the units of the fifth Hierarchy are called “The Hearts of Fiery Love”; they save through love, and in their turn these lives are peculiarly close to the great Heart of Love of the solar Logos. These great redeeming Angels, who are the Sons of Men on their own true plane, the mental, are ever, therefore, pictured as taking the form of twelve-petalled lotuses—this symbology linking them up with “the Son of Divine Love,” the manifested solar system, which is said to be a cosmic twelve-petalled lotus, and with the logoic causal lotus, equally of a twelve-petalled nature.

Chính vì lý do này mà các đơn vị của Huyền Giai thứ năm được gọi là “Những Trái Tim của Tình Yêu Rực Lửa”; họ cứu rỗi bằng tình thương, và đến lượt mình các sự sống này lại đặc biệt gần gũi với Trái Tim Vĩ Đại của Tình Yêu của Thái dương Thượng đế. Vì vậy, các Thiên Thần cứu chuộc vĩ đại này, là những người con của nhân loại trên cõi chân thực của chính họ, tức cõi trí, luôn được mô tả như mang hình thức những hoa sen mười hai cánh—biểu tượng này nối kết họ với “Con của Bác Ái thiêng liêng,” tức hệ mặt trời biểu hiện, vốn được nói là một hoa sen mười hai cánh vũ trụ, và với hoa sen nguyên nhân của Thượng đế, cũng có bản chất mười hai cánh.

We have, therefore, a direct flow of energy flowing through: [Page 1205]

Vì vậy, chúng ta có một dòng năng lượng trực tiếp chảy qua: [Page 1205]

a. The logoic twelve-petalled egoic Lotus. Cosmic mental plane.

a. Hoa Sen chân ngã mười hai cánh của Thượng đế. Cõi trí vũ trụ.

b. The solar twelve-petalled Lotus.

b. Hoa Sen thái dương mười hai cánh.

c. The planetary logoic Heart, also a twelve-petalled Lotus.

c. Trái Tim Thượng đế hành tinh, cũng là một Hoa Sen mười hai cánh.

d. The twelve-petalled human egoic lotus on the mental plane.

d. Hoa sen chân ngã nhân loại mười hai cánh trên cõi trí.

e. The twelve-petalled heart centre in a human being.

e. Trung tâm tim mười hai cánh trong một con người.

Or, to word it otherwise, energy flows directly from:

Hoặc, nói theo cách khác, năng lượng chảy trực tiếp từ:

a. The solar Logos via three great cosmic centres:

a. Thái dương Thượng đế qua ba trung tâm vũ trụ lớn:

1. The central spiritual Sun.

1. Mặt trời Tinh thần Trung Ương.

2. The heart of the Sun.

2. Trái tim của Mặt Trời.

3. The physical Sun.

3. Mặt Trời hồng trần.

b. The heart centre of the planetary Logos, situated on the fourth cosmic etheric plane (our buddhic plane)

b. Trung tâm tim của Hành Tinh Thượng đế, nằm trên cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư (cõi Bồ đề của chúng ta)

c. The egoic lotus of a human being on the mental plane, which is literally a correspondence to the “heart of the sun.” The monadic point is a reflection in the human system of the “central spiritual sun.”

c. Hoa sen chân ngã của một con người trên cõi trí, vốn theo nghĩa đen là một tương ứng với “trái tim của mặt trời.” Điểm chân thần là một phản chiếu trong hệ thống nhân loại của “mặt trời tinh thần trung ương.”

d. The heart centre of a man on the etheric plane of the physical plane, which is in its turn a correspondence to the physical sun.

d. Trung tâm tim của con người trên cõi dĩ thái của cõi hồng trần, đến lượt nó là một tương ứng với mặt trời hồng trần.

Thus the tiny atom man is linked with the great central Life of the solar system.

Như vậy, nguyên tử nhỏ bé là con người được nối kết với Sự sống trung tâm vĩ đại của hệ mặt trời.

This Fifth Hierarchy is equally, under the law, a distributor of energy to the fifth subplane of each plane in the system, only it must be borne in mind that in the three worlds, it is the fifth subplane counting from above downward whilst in the worlds of superhuman evolution, it is the fifth counting from below upwards. This hierarchy wields, as we know, the dual aspects of manas, one in the three worlds and one which makes itself felt in higher spheres.

Huyền Giai thứ năm này cũng vậy, theo định luật, là một đấng phân phối năng lượng đến cõi phụ thứ năm của mỗi cõi trong hệ thống, chỉ cần ghi nhớ rằng trong ba cõi giới, đó là cõi phụ thứ năm tính từ trên xuống, trong khi trong các thế giới của tiến hoá siêu nhân, đó là cõi phụ thứ năm tính từ dưới lên. Như chúng ta biết, Huyền Giai này vận dụng các phương diện kép của manas, một trong ba cõi giới và một phương diện khác biểu lộ ảnh hưởng của nó trong các khối cầu cao hơn.

[Page 1206] It is necessary to bear in mind that all these groups are (even when termed “formless”) the true forms of all that persists, for all are in the etheric body of the solar Logos or planetary Logos. This is a point requiring careful emphasis; students have for too long regarded the form as being the dense physical body, whereas to the occultist the physical body is not the form, but a gross maya, or illusion, and the true form is the body of vitality. Therefore, these hierarchies are the sumtotal of the vital lives and the substratum or the substance of all that is. We might regard the subject as follows:

[Page 1206] Cần ghi nhớ rằng tất cả các nhóm này (ngay cả khi được gọi là “vô tướng”) đều là các hình tướng chân thực của mọi điều tồn tại bền vững, vì tất cả đều ở trong thể dĩ thái của Thái dương Thượng đế hay Hành Tinh Thượng đế. Đây là một điểm cần được nhấn mạnh cẩn trọng; các đạo sinh từ quá lâu đã xem hình tướng là thể xác hồng trần đậm đặc, trong khi đối với nhà huyền bí học, thể xác hồng trần không phải là hình tướng, mà là một ảo lực thô nặng, hay ảo tưởng, còn hình tướng chân thực là thể sinh lực. Vì vậy, các huyền giai này là tổng thể của các sự sống sinh lực và là nền tảng hay chất liệu của mọi cái đang hiện hữu. Chúng ta có thể xem xét chủ đề này như sau:

a. The four superior groups are the hierarchies expressing themselves through the three cosmic ethers, the second, third and fourth.

a. Bốn nhóm cao hơn là các huyền giai biểu hiện qua ba dĩ thái vũ trụ, thứ hai, thứ ba và thứ tư.

b. The two lowest groups are the lives which are found functioning as the involutionary matter (organised and unorganised) of the logoic dense physical body, the liquid and gaseous, with the living substance of the four higher subplanes of the systemic dense physical body.

b. Hai nhóm thấp nhất là các sự sống được tìm thấy đang hoạt động như vật chất giáng hạ tiến hoá (có tổ chức và không có tổ chức) của thể xác hồng trần đậm đặc của Thượng đế, tức phần lỏng và khí, cùng với chất liệu sống của bốn cõi phụ cao hơn của thể xác hồng trần đậm đặc hệ thống.

c. The fifth Hierarchy has an interesting position as the “mediating” body between the higher four and those which are found on the lower three subplanes. There is a vital and significant correspondence to be found between the seven head centres and the seven groups of Egos on the mental plane, and there is an occult analogy between the three head centres (pineal gland, pituitary body, and the alta major centres) and the expression of these seven groups of Egos in the three worlds. This is a most important esoteric fact, and all students of meditation upon the laws of at-one-ment must take this analogy into consideration.

c. Huyền Giai thứ năm có một vị trí thú vị như thể “trung gian” giữa bốn nhóm cao hơn và những nhóm được tìm thấy trên ba cõi phụ thấp hơn. Có một tương ứng sinh động và đầy thâm nghĩa giữa bảy trung tâm đầu và bảy nhóm chân ngã trên cõi trí, và có một tương đồng huyền bí giữa ba trung tâm đầu (tuyến tùng, tuyến yên, và các trung tâm alta major) với sự biểu hiện của bảy nhóm chân ngã này trong ba cõi giới. Đây là một sự kiện nội môn vô cùng quan trọng, và mọi đạo sinh tham thiền về các định luật hợp nhất đều phải lưu ý đến sự tương đồng này.

It is useful to remember the place of these hierarchies in the scheme, and to realise that upon the sumtotal of these vital bodies is gradually gathered the dense manifestation which we regard as the evolutionary matter. The forms are built (from the form of all atoms to the [Page 1207] body of the Ego, from the form of a flower to the vast planetary or solar lotus) because the hierarchies exist as the aggregate of germ lives, giving the impulse, providing the model, and procuring, through their very existence, the entire raison d’être of all that is seen on all planes.

Thật hữu ích khi ghi nhớ vị trí của các huyền giai này trong hệ thống, và chứng nghiệm rằng trên tổng thể của các thể sinh lực này, biểu hiện đậm đặc mà chúng ta xem là vật chất tiến hoá đang dần dần được tập hợp lại. Các hình tướng được xây dựng (từ hình tướng của mọi nguyên tử đến [Page 1207] thể của chân ngã, từ hình tướng của một bông hoa đến hoa sen hành tinh hay thái dương bao la) bởi vì các huyền giai tồn tại như tổng hợp của các sự sống mầm giống, ban xung lực, cung cấp mô hình, và do chính sự hiện hữu của chúng mà tạo nên toàn bộ raison d’être của mọi điều được thấy trên mọi cõi.

Hierarchies VI and VII. These sixth and seventh Hierarchies which provide the substance forms of the three worlds have a vital use and a most interesting place. From the logoic standpoint, they are not regarded as providing principles, but from the standpoint of man they do provide him with his lowest principles. They hold the same relation to the Logos as the dense physical body does to man, and all that concerns the evolution of man must (in this particular place) be studied as going on within the physical, logoic vehicle. They deal with the display of physical energy; with the working out in the physical vehicle, of all divine purposes, and with the physical organisation of a certain great cosmic Life.

Huyền Giai VI và VII. Hai Huyền Giai thứ sáu và thứ bảy này, vốn cung cấp các hình tướng chất liệu của ba cõi giới, có một công dụng sinh động và một vị trí rất thú vị. Từ quan điểm của Thượng đế, chúng không được xem là cung cấp các nguyên khí, nhưng từ quan điểm của con người, chúng quả thật cung cấp cho y các nguyên khí thấp nhất của mình. Chúng giữ cùng mối liên hệ với Thượng đế như thể xác hồng trần đậm đặc đối với con người, và mọi điều liên quan đến sự tiến hoá của con người phải (ở chỗ đặc biệt này) được nghiên cứu như đang diễn ra bên trong vận cụ hồng trần của Thượng đế. Chúng đề cập đến sự biểu lộ của năng lượng hồng trần; đến việc triển khai trong vận cụ hồng trần mọi thiên ý, và đến tổ chức hồng trần của một Sự Sống vũ trụ lớn lao nào đó.

Particularly is this so when we view the two hierarchies under consideration. They are the lowest residue of the previous system, and the energy of that matter (liquid, gaseous and dense) which the vibration of the logoic permanent atom (on the plane adi) attracts to itself in the building of the divine form. For purposes of clarification and of generalisation, it might be noted that the seventh Hierarchy is the life or energy found at the heart of every atom, its positive aspect, and the sixth Hierarchy is the life of the forms of all the etheric bodies of every tangible object. The function of this Hierarchy is well described in the words of the old Commentary:

Điều này đặc biệt đúng khi chúng ta xem xét hai huyền giai đang bàn đến. Chúng là phần cặn thấp nhất của hệ thống trước, và là năng lượng của loại vật chất ấy (lỏng, khí và đậm đặc) mà rung động của nguyên tử trường tồn của Thượng đế (trên cõi adi) hút về cho chính nó trong việc xây dựng hình tướng thiêng liêng. Để làm sáng tỏ và khái quát hoá, cần lưu ý rằng Huyền Giai thứ bảy là sự sống hay năng lượng được tìm thấy ở trung tâm của mọi nguyên tử, phương diện dương của nó, và Huyền Giai thứ sáu là sự sống của các hình tướng của mọi thể dĩ thái của mọi vật hữu hình. Chức năng của Huyền Giai này được mô tả rất rõ trong lời của Cổ Luận:

“The devas hear the word go forth. They sacrifice themselves and out of their own substance they build the form desired. They draw life and the material from themselves, and yield themselves to the divine impulse.”

“Các thiên thần nghe Linh từ phát ra. Họ hi sinh chính mình và từ chất liệu của chính họ, họ xây dựng hình tướng được mong muốn. Họ rút sự sống và vật chất từ chính mình, và hiến mình cho xung lực thiêng liêng.”

[Page 1208] It is not possible to say much more anent these two last Hierarchies. Much that concerns them has been covered in the section of this Treatise which deals with the fire of matter. I would only point out that just as we teach in the occult wisdom that there is a definite progression from one kingdom into the next higher above, so there is a similar activity in the realm of the hierarchies. The lives which compose a Hierarchy pass in ordered cycles into the next above, though the word “above” but serves to mislead. It is consciousness and realisation which must be considered as being transferred and the consciousness of one hierarchy expands into that of the next higher.

[Page 1208] Không thể nói thêm nhiều hơn về hai Huyền Giai cuối cùng này. Nhiều điều liên quan đến chúng đã được trình bày trong phần của bộ Luận này bàn về lửa của vật chất. Tôi chỉ muốn chỉ ra rằng cũng như chúng ta dạy trong Minh Triết huyền bí rằng có một sự tiến triển xác định từ giới này sang giới cao hơn kế tiếp, thì trong lĩnh vực các huyền giai cũng có một hoạt động tương tự. Các sự sống cấu thành một Huyền Giai đi qua những chu kỳ có trật tự vào Huyền Giai kế trên, dù từ “trên” chỉ gây hiểu lầm. Điều phải được xem là được chuyển dịch là tâm thức và sự chứng nghiệm, và tâm thức của một huyền giai mở rộng vào tâm thức của huyền giai cao hơn kế tiếp.

This can also be viewed in terms of energy. The negative lives of a hierarchy follow the following sequence:

Điều này cũng có thể được nhìn dưới góc độ năng lượng. Các sự sống âm của một huyền giai đi theo trình tự sau:

1. Negative energy.

1. Năng lượng âm.

2. Equilibrised energy.

2. Năng lượng được quân bình.

3. Positive energy.

3. Năng lượng dương.

The positive lives of one hierarchy become the negative lives of another when they pass into it, and this it is which leads to the general confusion of ideas under which the average student labours. If he is to comprehend the matter with accuracy, he must study each hierarchy in a threefold manner, and view it also in its transitional state, as the negative blends and merges into the positive, and the positive becomes the negative pole of a higher vibratory stage. There are, therefore, nine states of consciousness through which each hierarchy has to pass, and some idea of the significance of this and their relativity can be gained by a consideration of the nine Initiations of the fourth Creative Hierarchy. Within these nine distinct expansions through which each life in each hierarchy must pass, are to be found lesser expansions and it is here that the main difficulty for the student of divine psychology lies. The whole subject concerns the [Page 1209] psyche, or second aspect, of every life—superhuman, human and subhuman—and only when the true psychology is better understood will the subject take on its true importance. Then the nine unfoldments of each hierarchy will be somewhat comprehended, and their relative importance assigned.

Các sự sống dương của một huyền giai trở thành các sự sống âm của một huyền giai khác khi chúng đi vào đó, và chính điều này dẫn đến sự lẫn lộn chung về ý tưởng mà đạo sinh trung bình phải chịu đựng. Nếu y muốn thấu hiểu vấn đề một cách chính xác, y phải nghiên cứu mỗi huyền giai theo cách tam phân, và cũng phải nhìn nó trong trạng thái chuyển tiếp của nó, khi cái âm hòa lẫn và nhập vào cái dương, và cái dương trở thành cực âm của một giai đoạn rung động cao hơn. Vì vậy, có chín trạng thái tâm thức mà mỗi huyền giai phải đi qua, và có thể có được một ý niệm nào đó về ý nghĩa của điều này cùng tính tương đối của chúng bằng cách xem xét chín cuộc Điểm đạo của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư. Bên trong chín sự mở rộng riêng biệt này mà mỗi sự sống trong mỗi huyền giai phải trải qua, còn có những sự mở rộng nhỏ hơn, và chính ở đây nằm khó khăn chính đối với đạo sinh của tâm lý học thiêng liêng. Toàn bộ chủ đề này liên quan đến [Page 1209] tâm hồn, hay phương diện thứ hai, của mọi sự sống—siêu nhân, nhân loại và hạ nhân loại—và chỉ khi tâm lý học chân chính được hiểu rõ hơn thì chủ đề này mới mang lấy tầm quan trọng đích thực của nó. Khi đó chín sự khai mở của mỗi huyền giai sẽ được hiểu phần nào, và tầm quan trọng tương đối của chúng sẽ được xác định.

Study of the matter in each kingdom will not as yet bring full enlightenment regarding the constitution of the elements of the human kingdom and its principles, which are the manifestations of the different hierarchies. The true revelation will only come as the following points are recognised:

Việc nghiên cứu vật chất trong mỗi giới hiện chưa thể mang lại sự soi sáng trọn vẹn về cấu tạo của các nguyên tố của giới nhân loại và các nguyên khí của nó, vốn là những biểu hiện của các huyền giai khác nhau. Sự mặc khải chân thực sẽ chỉ đến khi các điểm sau được nhận ra:

1. The triple nature of man.

1. Bản chất tam phân của con người.

2. The distinctions between the vehicle and that which utilises the vehicle.

2. Những phân biệt giữa vận cụ và cái sử dụng vận cụ ấy.

3. The distinction between a Ray which is the expression of logoic energy and a positive emanation, and a hierarchy which is a negative emanation of the Logos, upon which His positive energy impresses itself, driving that hierarchy on to self expression and forcing the “marriage of the poles.”

3. Sự phân biệt giữa một cung là biểu hiện của năng lượng Thượng đế và một phát xạ dương, với một huyền giai là một phát xạ âm của Thượng đế, trên đó năng lượng dương của Ngài in dấu chính nó, thúc đẩy huyền giai ấy đi đến tự biểu hiện và cưỡng bách “sự hôn phối của các cực.”

The whole subject is very involved and difficult but light will begin to dawn before long when science recognises the nature, place and responsibility of the etheric body in man, or of his vital body, and its position as the true form, and basic unit of the dense physical body. When this has been admitted, and the illuminating facts recorded and known, when the connection between the two is grasped, and the necessary deductions and correlations are made, the whole subject of logoic manifestation and the work of the Lives on the four higher planes, with their effect upon the Logoic dense physical plane (our three worlds of expression) will take on a new colouring. The thoughts of men will be revolutionised on the subject of creation; [Page 1210] the terms and expressions now used will be corrected, and all will be expressed in terms of form-building energy, and the three modes of electrical phenomena. This realisation is rapidly on its way but only the generation after the one which the children of the present age are expressing, will see it demonstrated to such an extent as to place etheric electrical phenomena beyond all dispute. This will be done by the coming in of egos who are fully conscious on the etheric levels and who can see all that which is now the subject of speculation. They—from their great numbers and high stage of intellectuality—will rescue the whole matter from the realm of controversy and demonstrate the facts.

Toàn bộ chủ đề này rất phức tạp và khó khăn, nhưng ánh sáng sẽ sớm bắt đầu ló rạng khi khoa học nhận ra bản chất, vị trí và trách nhiệm của thể dĩ thái nơi con người, hay thể sinh lực của y, và vị trí của nó như hình tướng chân thực, và đơn vị cơ bản của thể xác hồng trần đậm đặc. Khi điều này được thừa nhận, và các sự kiện soi sáng được ghi nhận và biết đến, khi mối liên hệ giữa hai thể được nắm bắt, và các suy luận cùng tương quan cần thiết được thực hiện, thì toàn bộ chủ đề về biểu hiện của Thượng đế và công việc của các Sự Sống trên bốn cõi cao hơn, cùng với ảnh hưởng của các Ngài lên cõi hồng trần đậm đặc của Thượng đế (ba cõi giới biểu hiện của chúng ta) sẽ mang một sắc thái mới. Tư tưởng của con người sẽ được cách mạng hoá về chủ đề sáng tạo; [Page 1210] các thuật ngữ và cách diễn đạt hiện nay sẽ được điều chỉnh, và mọi sự sẽ được diễn đạt theo năng lượng xây dựng hình tướng, cùng ba phương thức của hiện tượng điện. Sự chứng nghiệm này đang nhanh chóng đến gần, nhưng chỉ thế hệ sau thế hệ mà con cái của thời đại hiện nay đang biểu hiện mới thấy nó được chứng minh đến mức đặt các hiện tượng điện dĩ thái vượt ngoài mọi tranh cãi. Điều này sẽ được thực hiện nhờ sự xuất hiện của các chân ngã hoàn toàn hữu thức trên các cấp dĩ thái và có thể thấy tất cả những gì hiện nay còn là đối tượng của suy đoán. Họ—nhờ số lượng đông đảo và trình độ trí tuệ cao—sẽ cứu toàn bộ vấn đề này ra khỏi lĩnh vực tranh luận và chứng minh các sự kiện.

The work of building forms will never be understood till the true function of the etheric body is realised. It is the attractive agent for those lives which are so low an order as to be occultly inert. These lives, which are not included in the list of hierarchies, are acted upon by the sixth and seventh groups and by the energy emanating from them. They are stirred from the inertia in which they have rested, and are driven to take their place, and to form the concrete vehicles of all that is. They are the lowest manifestation of that which is abstract; they are the densest concretion of Spirit; they are the failures of the system preceding this, and their failure is so complete (from the standpoint of consciousness) that all the response they can make to the positive vibration of the seventh Hierarchy is simply to be attracted. They can be occultly drawn into place but only at the close of this solar system will they be in a condition to pass into and become the seventh Hierarchy of the next solar system.

Công việc xây dựng hình tướng sẽ không bao giờ được hiểu cho đến khi chức năng chân thực của thể dĩ thái được chứng nghiệm. Nó là tác nhân hấp dẫn đối với những sự sống có trật tự thấp đến mức theo huyền bí học là trì trệ. Những sự sống này, không được bao gồm trong danh sách các huyền giai, bị tác động bởi nhóm thứ sáu và thứ bảy cùng năng lượng phát ra từ chúng. Chúng được khuấy động khỏi trạng thái trì trệ mà chúng đã an nghỉ trong đó, và bị thúc đẩy nhận lấy vị trí của mình, và tạo thành các vận cụ cụ thể của mọi cái đang hiện hữu. Chúng là biểu hiện thấp nhất của cái trừu tượng; chúng là sự kết tụ đậm đặc nhất của Tinh thần; chúng là những thất bại của hệ thống trước hệ thống này, và sự thất bại của chúng hoàn toàn đến mức (xét từ quan điểm tâm thức) mọi đáp ứng mà chúng có thể tạo ra đối với rung động dương của Huyền Giai thứ bảy chỉ đơn giản là bị hút vào. Chúng có thể được kéo vào vị trí một cách huyền bí, nhưng chỉ vào lúc kết thúc hệ mặt trời này chúng mới ở trong tình trạng có thể đi vào và trở thành Huyền Giai thứ bảy của hệ mặt trời kế tiếp.

The goal for that which is not a principle is that it shall become a vital principle through the play of energy upon it. We are dealing here with that mysterious something which has been called “the refuse of that which earlier [Page 1211] was seen,” with that latent energy which hid the lowest vibration of the system before ours, and which was so heavy, and so inert, as to be regarded beyond the ken of the Logos. He was unaware of it, and the object before these peculiar lives which live (and yet are occultly dead) is that they must force themselves into the range of His conscious control by response to those lives which are consciously directed by Him, and who are, therefore, the Saviours of the lowest.

Mục tiêu đối với cái không phải là một nguyên khí là nó sẽ trở thành một nguyên khí sinh động nhờ sự tác động của năng lượng lên nó. Ở đây chúng ta đang bàn đến điều huyền bí nào đó đã được gọi là “phế dư của cái mà trước đây [Page 1211] đã được thấy,” với năng lượng tiềm ẩn đã che giấu rung động thấp nhất của hệ thống trước hệ thống chúng ta, và vốn nặng nề, trì trệ đến mức bị xem là vượt ngoài tầm biết của Thượng đế. Ngài không nhận biết nó, và mục tiêu đặt ra trước những sự sống đặc biệt này, vốn sống (nhưng theo huyền bí học lại chết), là chúng phải tự ép mình vào phạm vi kiểm soát hữu thức của Ngài bằng cách đáp ứng với những sự sống được Ngài điều khiển một cách hữu thức, và vì vậy là Đấng Cứu Rỗi của những gì thấp nhất.