4. Group Unity. — 4. Hợp Nhất Nhóm.
Group unity must be viewed somewhat from the mystical standpoint. It is a truism in occultism to say that nothing stands alone, yet it is a fact that each infinitesimal part of the whole has three relations:
Hợp nhất nhóm phải được nhìn phần nào từ quan điểm thần bí. Trong huyền bí học, nói rằng không gì đứng riêng lẻ là một chân lý hiển nhiên, tuy nhiên cũng là một sự kiện rằng mỗi phần vô cùng nhỏ của toàn thể có ba mối liên hệ:
1. To those units which form its body of manifestation.
1. Với những đơn vị tạo thành thể biểu hiện của nó.
2. To its own unitary life.
2. Với sự sống đơn nhất của chính nó.
3. To that greater unit of which it forms a part.
3. Với đơn vị lớn hơn mà nó tạo thành một phần của đơn vị ấy.
One of the main things which, it has been said, underlies logoic purpose, is the working out of ways which will result in true group unity. All that is to be seen might be regarded as a gigantic endeavour on the part of a great Intelligence to produce a group, and evolution is to be regarded, therefore, as a vast experiment with this objective in view.
Một trong những điều chính, như đã được nói, nằm bên dưới mục đích của Thượng đế, là việc tìm ra những phương cách sẽ dẫn đến hợp nhất nhóm chân thực. Mọi điều có thể được thấy có thể được xem như một nỗ lực khổng lồ của một Trí Tuệ vĩ đại nhằm tạo ra một nhóm, và vì vậy tiến hoá phải được xem như một thí nghiệm bao la với mục tiêu này trong tầm nhìn.
This triple responsibility above referred to exists for the atom or for the solar Logos, and the trend of the evolutionary process is to make each unit, microcosm and macrocosm, an intelligent co-operator, responsive to forces impinging upon it externally, and aware of its own internal economy and of the latent forces and energies which it has to contribute to the good of the whole. Man, standing as he does at the middle point in evolution, and marking the stage in the evolution of consciousness where a triple awareness is possible,—awareness of individuality, awareness of the forces which are subhuman and [Page 1212] which must be controlled, and awareness of a place within the plan and purpose of a greater Man—must, therefore, rightly be regarded as the most important of the evolutions, for through him can be worked out intelligently the laws of group unity for all the three groups, superhuman, human, and subhuman.
Trách nhiệm tam phân vừa được nói đến ở trên tồn tại đối với nguyên tử cũng như đối với Thái dương Thượng đế, và xu hướng của tiến trình tiến hoá là làm cho mỗi đơn vị, tiểu thiên địa và đại thiên địa, trở thành một cộng tác viên thông tuệ, đáp ứng với các mãnh lực tác động lên nó từ bên ngoài, và nhận biết nền kinh tế nội tại của chính nó cũng như các mãnh lực và năng lượng tiềm ẩn mà nó phải đóng góp cho lợi ích của toàn thể. Con người, đứng như y đang đứng ở điểm ở giữa trong tiến hoá, và đánh dấu giai đoạn trong sự tiến hoá của tâm thức nơi một nhận biết tam phân là có thể,—nhận biết về biệt tính, nhận biết về các mãnh lực hạ nhân loại và [Page 1212] phải được kiểm soát, và nhận biết về một vị trí trong thiên cơ và mục đích của một Đấng Thiên Nhân lớn hơn—vì vậy phải được xem một cách đúng đắn là quan trọng nhất trong các cuộc tiến hoá, vì qua y các định luật hợp nhất nhóm cho cả ba nhóm, siêu nhân, nhân loại và hạ nhân loại, có thể được triển khai một cách thông tuệ.
Above him stand those who are too pure or, as it is called, “too cold” to be immersed in the matter of the three worlds, below him are found those lives which are too impure (occultly understood) or “too full of burning matter and veiled in smoke” to be able to mount of themselves into regions where stand the unveiled sons of God. Man, therefore, acts as the mediator, and in him and through him can be worked out group methods and laws which—in a later solar system—can form a basic law for unified work. It is this fact which brings about so much of the peculiar trouble and nature of the human kingdom, and it might here be said that on our planet, which is, it must be remembered, one of the “profane” planets, certain experiments in connection with this problem have been undertaken by our planetary Logos. These (if successful) will result in a great expansion of the knowledge of the planetary Logos regarding the laws governing all bodies, and masses. Our planetary Logos has been given the name of the “experimenting divine Physicist.” It is this condition which makes the humanity of this planet unique in some respects, for they may be regarded as working out two main problems:
Phía trên y là những Đấng quá thanh khiết hay, như cách gọi, “quá lạnh” để đắm mình trong vật chất của ba cõi giới; phía dưới y là những sự sống quá bất tịnh (theo nghĩa huyền bí) hay “quá đầy vật chất đang cháy và bị che phủ trong khói” nên không thể tự mình vươn lên những vùng nơi các con của Thượng đế không che phủ đang đứng. Vì vậy, con người hành động như đấng trung gian, và trong y và qua y các phương pháp và định luật nhóm có thể được triển khai mà—trong một hệ mặt trời về sau—có thể tạo thành một định luật cơ bản cho công việc hợp nhất. Chính sự kiện này gây ra rất nhiều khó khăn đặc thù và bản chất riêng của giới nhân loại, và ở đây có thể nói rằng trên hành tinh của chúng ta, vốn cần nhớ là một trong những hành tinh “phàm tục,” một số thí nghiệm liên quan đến vấn đề này đã được Hành Tinh Thượng đế của chúng ta thực hiện. Những thí nghiệm này (nếu thành công) sẽ dẫn đến một sự mở rộng lớn lao trong tri thức của Hành Tinh Thượng đế về các định luật chi phối mọi thể và mọi khối. Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đã được đặt tên là “nhà Vật lý thiêng liêng thực nghiệm.” Chính điều kiện này làm cho nhân loại của hành tinh này là độc đáo ở một vài phương diện, vì họ có thể được xem là đang giải quyết hai vấn đề chính:
1. The problem of establishing a conscious relation, and response, to the animal kingdom.
1. Vấn đề thiết lập một mối liên hệ và sự đáp ứng hữu thức đối với giới động vật.
2. The problem of simultaneously receiving and holding vibrations from superhuman lives and of transmitting them consciously to the subhuman states.
2. Vấn đề đồng thời tiếp nhận và giữ các rung động từ các sự sống siêu nhân và truyền chúng một cách hữu thức đến các trạng thái hạ nhân loại.
[Page 1213] All this has to be accomplished by the units of the human kingdom in full individual consciousness, and the work of each human being might be regarded therefore as having in view the establishment of a sympathetic relation with other human units and with the pitris of the animal kingdom, and also the development of the power to act as the transmitter of energies from greater lives than his own, and to become a transmuting mediating agency.
[Page 1213] Tất cả điều này phải được hoàn thành bởi các đơn vị của giới nhân loại trong tâm thức cá nhân trọn vẹn, và vì vậy công việc của mỗi con người có thể được xem là nhằm thiết lập một mối liên hệ cảm thông với các đơn vị nhân loại khác và với các pitris của giới động vật, đồng thời cũng phát triển năng lực hành động như kẻ truyền dẫn các năng lượng từ những sự sống lớn hơn sự sống của chính y, và trở thành một tác nhân trung gian chuyển hoá.
It might be of interest here to note that it is the problem of establishing a relation between the animal and himself which was the original basis of what is called Hatha-Yoga and tantric magic. The link was sought in this yoga with that which was known to be similar in the two kingdoms (the physical body with its activities and purposes) and that which should be negative in the human kingdom was stimulated into a positive agency through the power of the will. That followers of Hatha-Yoga are not aware of this purpose may be true, but the originating exponents of the Hatha-Yoga mysteries were well aware of this objective, and in their zeal for unity between the two kingdoms, sought unity in the lower aspects, and neglected the real method.
Ở đây có thể đáng quan tâm khi lưu ý rằng chính vấn đề thiết lập một mối liên hệ giữa động vật và bản thân con người là nền tảng nguyên thủy của cái được gọi là Hatha-Yoga và huyền thuật tantra. Trong yoga này, mối nối đã được tìm kiếm với cái được biết là tương tự trong hai giới (thể xác hồng trần với các hoạt động và mục đích của nó), và cái đáng lẽ phải âm trong giới nhân loại đã được kích thích thành một tác nhân dương nhờ quyền năng của ý chí. Việc những người theo Hatha-Yoga không nhận biết mục đích này có thể là đúng, nhưng những vị khai sáng ban đầu của các huyền nhiệm Hatha-Yoga hoàn toàn nhận biết mục tiêu này, và trong lòng nhiệt thành của họ đối với sự hợp nhất giữa hai giới, họ đã tìm kiếm sự hợp nhất trong các phương diện thấp hơn, và bỏ quên phương pháp chân thực.
III. GROUP RELATIONS — III. CÁC TƯƠNG QUAN NHÓM
In establishing group relation with the superhuman kingdoms, man has not so erred, though relatively little progress has as yet been made, and few are the human units who have merged their consciousness with that of the greater directing Intelligences and yet remained in the human family. This is the true Raja Yoga.
Trong việc thiết lập tương quan nhóm với các giới siêu nhân, con người đã không lầm lạc đến thế, dù cho đến nay tiến bộ đạt được còn tương đối ít, và rất hiếm những đơn vị nhân loại đã hòa nhập tâm thức của mình với tâm thức của các Trí Tuệ chỉ đạo lớn hơn mà vẫn còn ở trong gia đình nhân loại. Đây là Raja Yoga chân chính.
It will be apparent, therefore, that in the fourth or human kingdom, wherein the fourth Hierarchy is seeking experience, there is an effort on foot to effect the merging or centralisation of the forces of three groups,
Vì vậy, sẽ hiển nhiên rằng trong giới thứ tư hay giới nhân loại, nơi Huyền Giai thứ tư đang tìm kiếm kinh nghiệm, đang có một nỗ lực nhằm thực hiện sự hòa nhập hay tập trung hoá các mãnh lực của ba nhóm,
a. Of the energy for which the animal kingdom stands,
a. Của năng lượng mà giới động vật tượng trưng,
b. Of purely human energy, [Page 1214]
b. Của năng lượng thuần túy nhân loại, [Page 1214]
c. Of the spiritual energy of the group which is the exponent of buddhic force, thus bringing in at the third great realisation, the force of atma itself, of which buddhi is but the vehicle.
c. Của năng lượng tinh thần của nhóm là đấng biểu hiện của mãnh lực Bồ đề, nhờ đó đưa vào, ở sự chứng nghiệm lớn lao thứ ba, chính mãnh lực của atma, mà Bồ đề chỉ là vận cụ của nó.
These three streams of force should hold the following place:
Ba dòng mãnh lực này nên giữ vị trí như sau:
Buddhic force
Positive.
Human energy
Equilibrised.
Animal energy
Negative.
Or, to word it otherwise, the positive controlling factor in the human group should be spiritual energy, toward which the animal nature should be entirely receptive, these two holding towards each other the relative position of Father-Mother. The purely human energy serves as the balancing factor and brings about an adjustment between the Spirit aspect and the material. It is this triple group relation which makes the microcosm such a genuine reflection of the greater Man and the Fourth Kingdom a true exponent of cosmic processes.
Hoặc, nói theo cách khác, yếu tố kiểm soát dương trong nhóm nhân loại phải là năng lượng tinh thần, mà bản chất động vật phải hoàn toàn tiếp nhận, hai yếu tố này giữ đối với nhau vị trí tương đối của Cha-Mẹ. Năng lượng thuần túy nhân loại đóng vai trò yếu tố quân bình và tạo ra sự điều chỉnh giữa phương diện Tinh thần và vật chất. Chính tương quan nhóm tam phân này làm cho tiểu thiên địa trở thành một phản chiếu chân thực của Đấng Thiên Nhân lớn hơn và giới thứ tư trở thành một đấng biểu hiện chân thực của các tiến trình vũ trụ.
The same laws govern the relationship of these three factors as govern the group inter-relation of the Brahma-Vishnu-Shiva aspects; time and space or “divine opportunity” play their parts in microcosmic group work as they do in the macrocosmic, and cyclic evolution proceeds in its work of group adjustment for both units, in order to produce eventual group harmony in both cases. It is the harmony of the individual with himself and with his environing units, and his realisation of the essential oneness of all life which brings about the great expansions of consciousness and leads to individual identification with some greater whole.
Các định luật chi phối mối liên hệ của ba yếu tố này cũng chi phối tương quan nhóm giữa các phương diện Brahma-Vishnu-Shiva; thời gian và không gian hay “cơ hội thiêng liêng” đóng vai trò của chúng trong công việc nhóm của tiểu thiên địa cũng như trong đại thiên địa, và tiến hoá theo chu kỳ tiếp tục công việc điều chỉnh nhóm của nó cho cả hai đơn vị, nhằm tạo ra sự hài hòa nhóm chung cuộc trong cả hai trường hợp. Chính sự hài hòa của cá nhân với chính mình và với các đơn vị bao quanh y, cùng sự chứng nghiệm của y về tính nhất thể cốt yếu của mọi sự sống, mang lại những sự mở rộng lớn lao của tâm thức và dẫn đến sự đồng hoá cá nhân với một toàn thể lớn hơn nào đó.
The work of a human atom, therefore, is but a replica of that which proceeds in the planetary, or solar atom, and serves as an incentive to those minute individual lives which find their place in the six subhuman kingdoms (the [Page 1215] three elemental, and the three material). In one case we have a correspondence of so close a nature as to be almost a replica on a tiny scale; in the other we have analogies which produce what may be regarded as a reflection of the whole; in both cases we have basic group relations, fundamental group laws which produce group inter-relations, and bring about an essential union between all the forms of life. It is not my intention to say much anent group forms and work. It is for the student to study himself and that which surrounds him, and thus arrive at his own conclusions. We will, therefore, close this part of our Treatise by a brief enumeration of:
Vì vậy, công việc của một nguyên tử nhân loại chỉ là bản sao của điều đang diễn ra trong nguyên tử hành tinh hay thái dương, và đóng vai trò như một động lực đối với những sự sống cá thể nhỏ bé tìm thấy vị trí của chúng trong sáu giới hạ nhân loại (gồm [Page 1215] ba giới hành khí, và ba giới vật chất). Trong một trường hợp, chúng ta có một tương ứng gần gũi đến mức gần như là một bản sao ở quy mô nhỏ bé; trong trường hợp kia, chúng ta có những tương đồng tạo ra điều có thể được xem như một phản chiếu của toàn thể; trong cả hai trường hợp, chúng ta đều có những tương quan nhóm cơ bản, những định luật nhóm nền tảng tạo ra các tương quan nhóm, và mang lại một sự hợp nhất cốt yếu giữa mọi hình tướng của sự sống. Tôi không có ý định nói nhiều về các hình tướng nhóm và công việc nhóm. Đạo sinh phải tự nghiên cứu chính mình và những gì bao quanh mình, và như vậy đi đến các kết luận của riêng mình. Vì vậy, chúng ta sẽ kết thúc phần này của bộ Luận bằng một sự liệt kê ngắn gọn về:
1. The three atomic relations.
1. Ba tương quan nguyên tử.
2. The seven laws of group work.
2. Bảy định luật của công việc nhóm.
3. The twenty-two methods of interplay.
3. Hai mươi hai phương pháp tương tác.
These thirty-two phases and ideas must be applied in degree to all atoms, the tiny lives which are the sumtotal of all material worlds, the planetary atom, the macrocosm for all on the five planes, and the solar atom, the synthesis of all on the seven planes and of the seven evolutions.
Ba mươi hai giai đoạn và ý tưởng này phải được áp dụng theo mức độ cho mọi nguyên tử, những sự sống nhỏ bé là tổng thể của mọi thế giới vật chất, nguyên tử hành tinh, đại thiên địa đối với mọi sự trên năm cõi, và nguyên tử thái dương, sự tổng hợp của mọi sự trên bảy cõi và của bảy cuộc tiến hoá.
1. Three Atomic Relations. — 1. Ba Tương Quan Nguyên Tử.
Individual. This concerns the central fire of all atoms and affects the relation of that positive centre to all within its sphere of influence.
Cá nhân. Điều này liên quan đến lửa trung tâm của mọi nguyên tử và ảnh hưởng đến mối liên hệ của trung tâm dương đó với mọi sự bên trong khối cầu ảnh hưởng của nó.
Systemic. This concerns the relation of all atoms to other atoms which come within their range of influence, or their scale of contacts.
Hệ thống. Điều này liên quan đến mối liên hệ của mọi nguyên tử với các nguyên tử khác đi vào trong phạm vi ảnh hưởng của chúng, hay trong thang bậc tiếp xúc của chúng.
Universal. This deals with the identification of all atoms with these particular groups, and their consequent submergence in the interests of the greater whole.
Vũ trụ. Điều này bàn đến sự đồng hoá của mọi nguyên tử với các nhóm đặc thù này, và do đó sự chìm ngập của chúng vào các lợi ích của toàn thể lớn lao hơn.
It might be noted here that the immediate objective of the human kingdom is consciously to establish systemic relations, [Page 1216] and be actively, and consciously, part of group work. The individual consciousness of relationship is somewhat established owing to there being self-consciousness. The work for the subhuman kingdoms is the establishment of conscious self-realisation, or the bringing about of a distinct individualism in every form of atomic life, whilst the object for the superhuman lives is the establishment of a universal consciousness which will enable every planet and solar life to be consciously and intelligently part of a cosmic whole.
Cần lưu ý rằng mục tiêu trước mắt của giới nhân loại là một cách hữu thức thiết lập các mối liên hệ hệ thống, [Page 1216] và trở thành một phần tích cực và hữu thức của công việc nhóm. Tâm thức cá nhân về mối liên hệ phần nào đã được thiết lập do có ngã thức. Công việc đối với các giới dưới nhân loại là thiết lập sự chứng nghiệm bản ngã một cách hữu thức, hay tạo ra một tính cá biệt rõ rệt trong mọi hình tướng của sự sống nguyên tử, trong khi mục tiêu đối với các sự sống siêu nhân loại là thiết lập một tâm thức vũ trụ, điều sẽ giúp mọi sự sống hành tinh và thái dương trở thành một phần hữu thức và thông tuệ của một toàn thể vũ trụ.
2. The Seven Laws of Group Work. — 2. Bảy Định luật của Công việc Nhóm.
These can only be expressed largely through the medium of mystical terms, and it is left to the intuition of the student to apply them to the more material forms of life.
Những định luật này chỉ có thể được diễn đạt phần lớn qua trung gian của các thuật ngữ thần bí, và việc áp dụng chúng vào các hình thức sự sống vật chất hơn được để cho trực giác của đạo sinh.
Law 1. The Law of Sacrifice. This involves the immolation and sacrifice of that which has been realised. This is crucifixion, the basic law of all group work, the governing principle which results in each human unit eventually becoming a Saviour.
Định luật 1. Định luật Hi sinh. Điều này bao hàm sự hiến tế và hi sinh điều đã được chứng nghiệm. Đây là sự đóng đinh, định luật căn bản của mọi công việc nhóm, nguyên lý chi phối khiến mỗi đơn vị nhân loại cuối cùng trở thành một Đấng Cứu Thế.
Law 2. The Law of Magnetic Impulse. The law governing the primary realisations by any atom of its environing contacts, and the going out, or feeling after, by that atom so that eventually a relation between that which is realised as part of the group and the unit is established. This is not the same thing as making sense contacts, as the relation established is between the Self in all, and not between aspects of the Not-Self. This law is sometimes called “The first step towards marriage,” for it results in an eventual union between the man or atom and the group which produces harmonious group relations.
Định luật 2. Định luật Xung Động Từ Tính. Định luật chi phối những chứng nghiệm sơ khởi của bất kỳ nguyên tử nào về các tiếp xúc bao quanh nó, và sự vươn ra, hay dò tìm, của nguyên tử đó để cuối cùng một mối liên hệ được thiết lập giữa điều được chứng nghiệm như là một phần của nhóm và đơn vị. Điều này không giống như việc tạo ra các tiếp xúc giác quan, vì mối liên hệ được thiết lập là giữa Bản Ngã trong mọi sự, chứ không phải giữa các phương diện của Phi-Ngã. Định luật này đôi khi được gọi là “bước đầu tiên hướng tới hôn phối,” vì nó dẫn đến một sự hợp nhất sau cùng giữa con người hay nguyên tử với nhóm, tạo ra các mối liên hệ nhóm hài hoà.
Law 3. The Law of Service. This law, for want of a better name, concerns the identification of an atom with the group interest, and the steady negation of the atom’s own material interests; it really deals with the process or [Page 1217] method whereby an atom (positive in its own centralised life) gradually becomes responsive and receptive to the positive life of the group.
Định luật 3. Định luật Phụng sự. Định luật này, vì thiếu một tên gọi tốt hơn, liên quan đến sự đồng hoá của một nguyên tử với lợi ích của nhóm, và sự phủ nhận đều đặn các lợi ích vật chất riêng của nguyên tử; thực ra nó bàn đến tiến trình hay [Page 1217] phương pháp nhờ đó một nguyên tử (dương trong sự sống tập trung của chính nó) dần dần trở nên đáp ứng và tiếp nhận đối với sự sống dương của nhóm.
Law 4. The Law of Repulsion. This law concerns itself with the ability of an atom to throw off, or refuse to contact, any energy deemed inimical to group activity. It is literally a law of service, but only comes consciously into play when the atom has established certain basic discriminations, and guides its activities through a knowledge of the laws of its own being. This law is not the same as the Law of Repulsion which is used in connection with the Law of Attraction between forms which have relation to the material. The laws we are now considering have relation to the psyche, or to the Vishnu aspect. One group of laws concern energies emanating from the physical sun; the ones we are now considering emanate from the heart of the Sun. The “repulsion” here dealt with has the effect (when consciously applied through the developed heart energy of a human atom, for instance) of furthering the interests of the repulsed unit and of driving this unit closer to its own centre. Perhaps some idea of the great beauty of this law as it works out can be gathered from an occult phrase in a certain old book:
Định luật 4. Định luật Đẩy Lùi. Định luật này liên quan đến khả năng của một nguyên tử trong việc loại bỏ, hay từ chối tiếp xúc với, bất kỳ năng lượng nào bị xem là thù nghịch với hoạt động nhóm. Theo nghĩa đen, đây là một định luật phụng sự, nhưng chỉ đi vào hoạt động một cách hữu thức khi nguyên tử đã thiết lập được một số phân biện căn bản, và hướng dẫn các hoạt động của nó qua sự hiểu biết về các định luật của chính bản thể nó. Định luật này không giống với Định luật Đẩy Lùi được dùng liên hệ với Định luật Hấp Dẫn giữa các hình tướng có liên quan đến vật chất. Các định luật mà hiện nay chúng ta đang xét có liên quan đến tâm linh, hay đến phương diện Vishnu. Một nhóm định luật liên quan đến các năng lượng phát ra từ mặt trời vật chất; còn những định luật hiện nay chúng ta đang xét phát ra từ trái tim Mặt Trời. “Sự đẩy lùi” được bàn đến ở đây có tác dụng (khi được áp dụng một cách hữu thức qua năng lượng tim đã phát triển của một nguyên tử nhân loại chẳng hạn) là thúc đẩy lợi ích của đơn vị bị đẩy lùi và đẩy đơn vị này đến gần hơn với trung tâm riêng của nó. Có lẽ có thể nắm được phần nào ý niệm về vẻ đẹp lớn lao của định luật này khi nó vận hành qua một cụm từ huyền bí trong một quyển sách cổ nào đó:
“This repulsive force drives in seven directions, and forces all that it contacts back to the bosom of the seven spiritual fathers.”
“Mãnh lực đẩy lùi này thúc đẩy theo bảy hướng, và buộc mọi thứ nó tiếp xúc quay trở về lòng của bảy vị phụ thân tinh thần.”
Through repulsion, the units are driven home and the straying unconscious ones are forced towards their own centre. The Law of Repulsion, or the stream of energy for which it is but a name, can work from any centre, but as dealt with here, it must emanate from the heart if it is to bring about the necessary group work.
Qua sự đẩy lùi, các đơn vị bị thúc đẩy trở về nhà và những đơn vị vô thức đi lạc bị buộc hướng về trung tâm riêng của chúng. Định luật Đẩy Lùi, hay dòng năng lượng mà nó chỉ là một tên gọi, có thể hoạt động từ bất kỳ trung tâm nào, nhưng như được bàn đến ở đây, nó phải phát ra từ tim nếu muốn tạo ra công việc nhóm cần thiết.
Law 5. The Law of Group Progress. This is sometimes called “the Law of Elevation” for it concerns the mysteries of group realisation, and expansions of consciousness [Page 1218] and the part each unit plays in the general progress of a group. In relation to the human family, for instance, the truth must ever be borne in mind that no human atom arrives at “fullness of life” without adding much to the general nature of his own group. The elevation of a unit results in the raising of the group; the realisation of the unit brings about eventually group recognition; the initiation of the unit leads finally to planetary initiation, and the attainment of the goal by the human atom and his achievement of his objective brings about steadily and ceaselessly group achievement. No man liveth to himself, and the crucifixion of the units throughout the aeons, and their realisation of their essential nature, only in order to offer up the best they have and realise to the interests of the group, are but the methods whereby the work of liberation is carried forward.
Định luật 5. Định luật Tiến Bộ Nhóm. Định luật này đôi khi được gọi là “Định luật Nâng Cao” vì nó liên quan đến các huyền nhiệm của sự chứng nghiệm nhóm, và các sự mở rộng tâm thức [Page 1218] cùng phần mà mỗi đơn vị đảm nhiệm trong sự tiến bộ chung của một nhóm. Chẳng hạn, liên hệ với gia đình nhân loại, chân lý phải luôn được ghi nhớ là không một nguyên tử nhân loại nào đạt đến “sự viên mãn của sự sống” mà không đóng góp nhiều vào bản chất chung của chính nhóm mình. Sự nâng cao của một đơn vị dẫn đến sự nâng cao của nhóm; sự chứng nghiệm của đơn vị cuối cùng mang lại sự nhận biết của nhóm; điểm đạo của đơn vị cuối cùng dẫn đến điểm đạo hành tinh, và việc nguyên tử nhân loại đạt được mục tiêu cùng sự thành tựu mục đích của y mang lại một cách đều đặn và không ngừng sự thành tựu của nhóm. Không ai sống cho riêng mình, và sự đóng đinh của các đơn vị qua các thời đại, cùng sự chứng nghiệm của họ về bản chất cốt yếu của mình, chỉ để dâng lên điều tốt đẹp nhất mà họ có và chứng nghiệm cho các lợi ích của nhóm, chỉ là những phương pháp nhờ đó công việc giải thoát được tiếp tục tiến hành.
Sacrifice, Service, Magnetism (“I, if I be lifted up, will draw”), Group Progress, Divine Repulsion, these are but the inadequate terms whereby we seek to express the divine truth that the whole life and expression of the solar Logos will only be possible, and His purpose only be revealed, when He has brought each atomic unit to the stage of self-realisation. Then He will lead them on to the point of sacrificing that realised self so that divine purpose and will may be consummated, and the divine life and glory shine forth in perfect radiance.
Hi sinh, Phụng sự, Từ điện (“Ta, nếu được nâng lên, sẽ thu hút”), Tiến Bộ Nhóm, Sự Đẩy Lùi thiêng liêng, đó chỉ là những thuật ngữ chưa đầy đủ mà qua đó chúng ta tìm cách diễn đạt chân lý thiêng liêng rằng toàn bộ sự sống và biểu hiện của Thái dương Thượng đế sẽ chỉ có thể có được, và mục đích của Ngài sẽ chỉ được mặc khải, khi Ngài đã đưa mỗi đơn vị nguyên tử đến giai đoạn chứng nghiệm bản ngã. Khi đó Ngài sẽ dẫn dắt chúng đến điểm hi sinh cái ngã đã được chứng nghiệm ấy để mục đích và ý chí thiêng liêng có thể được hoàn tất, và sự sống cùng vinh quang thiêng liêng có thể toả sáng trong ánh huy hoàng hoàn hảo.
This might be expressed in more material terms by saying that through the dominance of these laws of the Soul, the logoic physical body will become an active expression of His self-realised purpose.
Điều này có thể được diễn đạt bằng những thuật ngữ vật chất hơn bằng cách nói rằng qua sự chi phối của các định luật này của linh hồn, thể xác hồng trần của Thượng đế sẽ trở thành một biểu hiện tích cực của mục đích tự-chứng nghiệm của Ngài.
The final two laws concerning group activity can only be very briefly treated as their true significance is only apparent to pledged disciples. They concern primarily the astral and the mental planes, and, therefore the corresponding vehicles of the group units. A group, it [Page 1219] should be remembered, which is functioning on the physical plane is also found in a still larger form on the astral and the mental. Just as the astral body of a man is larger than his physical body, and, therefore, has built into its structure a larger number of atomic units, so a group contains (astrally considered) more units than on the physical plane. The laws we are touching upon concern the relation of the physical plane units to those units who form a part of the group, and yet are functioning without the physical plane sheaths or vehicles. The same idea must be applied to the units devoid of a physical vehicle who form a component part of the mental body of the group.
Hai định luật cuối cùng liên quan đến hoạt động nhóm chỉ có thể được bàn đến rất vắn tắt vì ý nghĩa đích thực của chúng chỉ hiển nhiên đối với các đệ tử đã tuyên thệ. Chúng chủ yếu liên quan đến cõi cảm dục và cõi trí, và do đó đến các vận cụ tương ứng của các đơn vị nhóm. Cần nhớ rằng một nhóm, [Page 1219] đang hoạt động trên cõi hồng trần, cũng được tìm thấy trong một hình thức còn lớn hơn trên cõi cảm dục và cõi trí. Cũng như thể cảm dục của một người lớn hơn thể xác của y, và do đó đã xây dựng vào trong cấu trúc của nó một số lượng đơn vị nguyên tử lớn hơn, thì một nhóm cũng chứa đựng (xét về cảm dục) nhiều đơn vị hơn là trên cõi hồng trần. Những định luật mà chúng ta đang đề cập liên quan đến mối liên hệ của các đơn vị trên cõi hồng trần với những đơn vị tạo thành một phần của nhóm, nhưng lại đang hoạt động mà không có các thể hay vận cụ cõi hồng trần. Ý tưởng tương tự cũng phải được áp dụng cho các đơn vị không có vận cụ hồng trần, là những thành phần cấu tạo nên thể trí của nhóm.
These two laws are termed:
Hai định luật này được gọi là:
6. The Law of Expansive Response.
6. Định luật Đáp Ứng Mở Rộng.
7. The Law of the Lower Four.
7. Định luật của Bốn Thấp.
These laws only become operative in units on the physical plane which are becoming responsive consciously to those group workers who are discarnate.
Những định luật này chỉ trở nên tác động nơi các đơn vị trên cõi hồng trần đang trở nên đáp ứng một cách hữu thức với những người hoạt động nhóm đã lìa xác.
All these laws, from the point of view of a disciple, need only be considered as operative in the three worlds, though it is needless to point out that parallels will be found on all planes. These seven laws are those which are ascertained and consciously studied in all groups working under the Masters.
Tất cả những định luật này, từ quan điểm của một đệ tử, chỉ cần được xem là tác động trong ba cõi giới, mặc dù không cần phải chỉ ra rằng các tương ứng song hành sẽ được tìm thấy trên mọi cõi. Bảy định luật này là những định luật được xác định và được nghiên cứu một cách hữu thức trong mọi nhóm hoạt động dưới sự hướng dẫn của các Chân sư.
For each of these Laws, there is a definite formula and symbol. At this stage of teaching or through this Treatise, it is not possible to reveal or impart the formulas. The symbol may be described, and if the student will carefully ponder upon the nomenclature of the Law, its occult name and its symbol, much may be gathered anent group inter-relations. It is these laws which the coming cycle of regeneration will enunciate, and which the Great Lord will demonstrate upon His appearing, and it is these laws which will gradually be applied to the working methods [Page 1220] of all organisations, brotherhoods, fraternities and masonic circles.
Đối với mỗi Định luật này, có một công thức và một biểu tượng xác định. Ở giai đoạn giảng dạy này hay qua bộ Luận này, không thể tiết lộ hay truyền đạt các công thức. Biểu tượng có thể được mô tả, và nếu đạo sinh cẩn thận suy ngẫm về danh xưng của Định luật, tên gọi huyền bí của nó và biểu tượng của nó, thì có thể thu thập được nhiều điều liên quan đến các tương quan giữa các nhóm. Chính những định luật này mà chu kỳ tái sinh sắp đến sẽ công bố, và mà Đức Chúa Tể Vĩ Đại sẽ chứng minh khi Ngài xuất hiện, và chính những định luật này sẽ dần dần được áp dụng vào các phương pháp hoạt động [Page 1220] của mọi tổ chức, huynh đệ đoàn, hội đoàn và các vòng tròn Tam Điểm.
THE LAWS AND SYMBOLS
CÁC ĐỊNH LUẬT VÀ BIỂU TƯỢNG
No.
Exoteric Name
Esoteric Name
Symbol
Ray Energy
1.
Law of Sacrifice.
The Law of Those Who Choose to Die.
A Rosy Cross with Golden Bird
Out-pouring 4th Ray. At-one-ing factor
2.
Law of Magnetic Impulse
The Law of the Polar Union.
Two fiery balls and triangle.
Radiatory energy 2nd Ray Manifesting factor.
3.
Law of Service.
The Law of Water and of Fishes
A Pitcher on the head of a man.
Out-going energy 6th Ray. Vivifying factor.
4.
Law of Repulse.
The Law of all Destroying Angels
An Angel with a flaming sword.
Rejecting energy 1st Ray. Dispersing factor.
5.
Law of Gronp Progress.
The Law of Elevation.
The Mountain and the Goat.
Progressive energy 7th Ray. Evolving factor
6.
Law of Expansive Response.
(Name not given.)
Flaming Rosy Sun.
Expansive energy 3rd Ray. Adapting factor.
7.
Law of the lower Four.
The Law of Etheric Union.
A Male and Female Form, placed back to back
Fiery energy 5th Ray. Vitalizing factor.
The symbols are as follows:
Các biểu tượng như sau:
Law 1. A rosy cross, with a bird hovering above it.
Định luật 1. Một thập giá hồng, với một con chim lượn phía trên nó.
Law 2. Two balls of fire united by a triangle of fire, thus picturing the triple interplay between all atomic structures.
Định luật 2. Hai quả cầu lửa nối liền bởi một tam giác lửa, qua đó mô tả sự tương tác tam phân giữa mọi cấu trúc nguyên tử.
Law 3. A pitcher of water, balanced on the head of a man, standing in the form of a cross. It is this law which brings in the energy, symbolised by the sign Aquarius, and this law is the governing factor of the Aquarian age. It might here be added that the symbol for Law 2 was the [Page 1221] origin of the balance or scales of the sign Libra, but in the course of the ages its true form was distorted. Not all the astrological signs can be traced to the symbols, for only a few can be traced back as far as the Master’s ashram.
Định luật 3. Một vò nước, cân bằng trên đầu một người đang đứng theo hình thập giá. Chính định luật này đưa vào năng lượng, được biểu trưng bởi dấu hiệu hoàng đạo Bảo Bình, và định luật này là yếu tố chi phối của kỷ nguyên Bảo Bình. Ở đây có thể thêm rằng biểu tượng của Định luật 2 là nguồn gốc của cái cân hay cán cân của dấu hiệu hoàng đạo Thiên Bình, nhưng theo dòng thời đại hình thức chân thực của nó đã bị bóp méo. Không phải mọi dấu hiệu chiêm tinh đều có thể được truy nguyên từ các biểu tượng, vì chỉ một số ít có thể được truy ngược xa đến tận ashram của Chân sư.
Law 4. Here we have the angel with the flaming sword turning in all directions. This symbolism is held true in the Bible where the Angel guards the treasure, and drives man forth in search of another way of entrance, thus forcing him through the cycle of rebirth until he finds the portal of initiation. This portal is occultly regarded as freed from the intervention of the sword as man has developed the ability to soar and mount as an eagle on wings.
Định luật 4. Ở đây chúng ta có thiên thần với thanh gươm rực lửa quay về mọi hướng. Biểu tượng này được giữ đúng trong Kinh Thánh, nơi Thiên Thần canh giữ kho tàng, và đẩy con người ra ngoài để tìm kiếm một lối vào khác, do đó buộc y đi qua chu kỳ tái sinh cho đến khi tìm thấy cổng điểm đạo. Cánh cổng này về mặt huyền bí được xem là thoát khỏi sự can thiệp của thanh gươm khi con người đã phát triển khả năng bay vút lên như đại bàng trên đôi cánh.
Law 5. The symbol for this is the mountain with a goat standing on the summit, and again an astrological sign, that of Capricorn, can be noted. All hard places can be surmounted, and the summit reached by the “Divine Goat,” symbol of the group, viewed as a unit.
Định luật 5. Biểu tượng của định luật này là ngọn núi với một con dê đứng trên đỉnh, và một lần nữa có thể nhận thấy một dấu hiệu chiêm tinh, đó là Ma Kết. Mọi nơi khó khăn đều có thể vượt qua, và đỉnh cao có thể đạt tới bởi “Con Dê Thiêng liêng,” biểu tượng của nhóm, được nhìn như một đơn vị.
Law 6. The symbol contains a flaming rosy sun with a sign in the centre—a sign symbolising the union of fire and water; below this sign is found a hieroglyphic which may not be given as it gives the clue to the Earth sign, and the keynote of the physical body of the planetary Logos.
Định luật 6. Biểu tượng chứa một mặt trời hồng rực cháy với một dấu hiệu ở trung tâm—một dấu hiệu biểu trưng cho sự hợp nhất của lửa và nước; bên dưới dấu hiệu này có một chữ tượng hình không thể được tiết lộ vì nó đưa ra đầu mối về dấu hiệu hành thổ, và chủ âm của thể xác hồng trần của Hành Tinh Thượng đế.
Law 7. This symbol takes the form of a male and female figure standing back to back, the male figure holding above his head what looks like a shield or tray of silver, a great reflector, whilst the female figure holds aloft an urn full of oil. Below this sign is another hieroglyphic which [Page 1222] contains the secret of the astral plane, which has to be dominated by the mental.
Định luật 7. Biểu tượng này mang hình thức một nhân vật nam và một nhân vật nữ đứng quay lưng vào nhau, nhân vật nam giơ cao trên đầu một vật trông như chiếc khiên hay khay bạc, một tấm phản chiếu lớn, trong khi nhân vật nữ nâng cao một bình đầy dầu. Bên dưới dấu hiệu này là một chữ tượng hình khác, [Page 1222] chứa bí mật của cõi cảm dục, cõi phải bị trí tuệ chế ngự.
These seven laws can be worked out along the line of correspondences. It will be found that the energy of any particular centre and that of any one law can be brought into line with each other.
Bảy định luật này có thể được triển khai theo định luật tương ứng. Sẽ thấy rằng năng lượng của bất kỳ trung tâm đặc thù nào và năng lượng của bất kỳ định luật nào cũng có thể được đưa vào tương ứng với nhau.
3. The Twenty-two methods of Group Interplay. — 3. Hai mươi hai phương pháp Tương tác Nhóm.
These methods of group interplay can only be grasped through a consideration of the fact that all groups are to be found on one or other of the seven Rays, and that their interaction will, therefore, be triple. This must again be regarded as having:
Những phương pháp tương tác nhóm này chỉ có thể được nắm bắt qua việc xem xét sự kiện rằng mọi nhóm đều được tìm thấy trên một hay một cung nào đó trong bảy cung, và do đó sự tương tác của chúng sẽ là tam phân. Điều này lại phải được xem là có:
a. A triple internal interplay.
a. Một sự tương tác nội tại tam phân.
b. A triple external interaction.
b. Một sự tương tác bên ngoài tam phân.
We might, therefore, take the seven Rays and give the names for the three ways in which the groups on any particular ray interact with each other, remembering that as we consider them, we are really studying the twenty-one vibrations of the Law of Attraction or motion, with the basic vibration, which is the synthesis of the twenty-one added, thus making the twenty-two:
Do đó, chúng ta có thể lấy bảy cung và nêu tên ba cách mà các nhóm trên bất kỳ cung đặc thù nào tương tác với nhau, đồng thời nhớ rằng khi xem xét chúng, thực ra chúng ta đang nghiên cứu hai mươi mốt rung động của Định luật Hấp Dẫn hay chuyển động, cùng với rung động căn bản là sự tổng hợp của hai mươi mốt rung động ấy, do đó thành hai mươi hai:
RAY METHODS OF ACTIVITY
CÁC PHƯƠNG PHÁP HOẠT ĐỘNG CỦA CUNG
I. Ray of Power.
I. Cung Quyền lực.
1. Destruction of forms through group interplay.
1. Sự phá huỷ các hình tướng qua tương tác nhóm.
2. Stimulation of the Self, or egoic principle.
2. Sự kích thích Bản Ngã, hay nguyên lý chân ngã.
3. Spiritual impulse, or energy.
3. Xung lực tinh thần, hay năng lượng.
II. Ray of Love Wisdom.
II. Cung Bác Ái – Minh Triết.
4. Construction of forms through group intercourse.
4. Sự kiến tạo các hình tướng qua giao tiếp nhóm.
5. Stimulation of desire, the love principle.
5. Sự kích thích dục vọng, nguyên lý bác ái.
6. Soul impulse, or energy.
6. Xung lực linh hồn, hay năng lượng.
III. Ray of Activity or Adaptability.
III. Cung Hoạt động hay Thích ứng.
7. Vitalising of forms through group work.
7. Sự tiếp sinh lực cho các hình tướng qua công việc nhóm.
8. Stimulation of forms, the etheric or pranic principle.
8. Sự kích thích các hình tướng, nguyên lý dĩ thái hay prana.
9. Material impulse, or energy. [Page 1223]
9. Xung lực vật chất, hay năng lượng. [Page 1223]
IV. Ray of Harmony, Union.
IV. Cung Hài hoà, Hợp nhất.
10. Perfecting of forms through group interplay.
10. Sự hoàn thiện các hình tướng qua tương tác nhóm.
11. Stimulation of the solar Angels, or the manasic principle.
11. Sự kích thích các Thái dương Thiên Thần, hay nguyên lý manas.
12. Buddhic energy.
12. Năng lượng Bồ đề.
V. Ray of Concrete Knowledge.
V. Cung Tri thức Cụ thể.
13. Correspondence of forms to type, through group influence.
13. Sự tương ứng của các hình tướng với kiểu mẫu, qua ảnh hưởng nhóm.
14. Stimulation of logoic dense physical body, the three worlds.
14. Sự kích thích thể xác hồng trần đậm đặc của Thượng đế, ba cõi giới.
15. Manasic energy or impulse.
15. Năng lượng hay xung lực manas.
VI. Ray of Abstract Idealism or Devotion.
VI. Cung Duy Tâm Trừu tượng hay Sùng tín.
16. Reflection of reality through group work.
16. Sự phản chiếu thực tại qua công việc nhóm.
17. Stimulation of the Man through desire.
17. Sự kích thích Con Người qua dục vọng.
18. Desire energy, instinct and aspiration.
18. Năng lượng dục vọng, bản năng và khát vọng.
VII. Ray of Ceremonial Order.
VII. Cung Trật tự Nghi lễ.
19. Union of energy and substance through group activity.
19. Sự hợp nhất của năng lượng và chất liệu qua hoạt động nhóm.
20. Stimulation of all etheric forms.
20. Sự kích thích mọi hình tướng dĩ thái.
21. Vital energy.
21. Năng lượng sinh lực.
These twenty-one methods and their synthesis sum up very largely all that can be said anent the actions and motions of all deva substance and all forms. Under the Law of Attraction, the interplay between these ray forces and all atomic forms is brought about, and manifestation becomes a fact in nature, and the great Maya is. It might here be noted in conclusion that the following factors:
Hai mươi mốt phương pháp này và sự tổng hợp của chúng phần lớn tóm lược tất cả những gì có thể nói liên quan đến các hành động và chuyển động của mọi chất liệu thiên thần và mọi hình tướng. Dưới Định luật Hấp Dẫn, sự tương tác giữa các mãnh lực cung này và mọi hình tướng nguyên tử được tạo ra, và sự biểu hiện trở thành một sự kiện trong bản chất, và đại ảo lực hiện hữu. Ở đây có thể lưu ý để kết luận rằng các yếu tố sau đây:
make the thirty-two vibrations necessary to produce, as far as man is concerned, the five planes of evolution. There are, as we know, the thirty-five subplanes, or in reality the thirty-two minor vibrations and the three which dominate. Just as the three planes of the Ego on [Page 1224] the mental plane dominate the remaining planes in the three worlds, so in the five worlds of the Hierarchy the three higher subplanes of the atmic plane hold an analogous place.
tạo nên ba mươi hai rung động cần thiết để tạo ra, xét theo con người, năm cõi tiến hoá. Như chúng ta biết, có ba mươi lăm cõi phụ, hay thực ra là ba mươi hai rung động nhỏ và ba rung động chi phối. Cũng như ba cõi của chân ngã trên [Page 1224] cõi trí chi phối các cõi còn lại trong ba cõi giới, thì trong năm thế giới của Thánh Đoàn, ba cõi phụ cao hơn của cõi atma giữ một vị trí tương tự.
THE SEVEN HIERARCHIES
BẢY HUYỀN GIAI
Hierarchy
Nos.
Symbol
Aspect
Force
Type
1.
The Divine Lives.
1 or 6.
Closed twelve petalled Lotus Golden.
One
of the
6th Cosmic Force or shakti
2.
The Burning Sons of Desire.
2 or 7
Seven coloured Spheres, each with a central fire.
Two
of the
7th Shakti
3.
The Triads or the Triple Flowers.
3 or 8
A triple Flame hovering over a glowing altar.
Three
of the
1st Shakti or type of force
4.
The Lords of Sacrifice or The lnitiates.
4 or 9.
The Son, standing with outstretched arms in space.
Second
of the
4th Cosmic energy.
5.
The Crocodiles or the Perfect Ones.
5 or 10
The five-pointed Star with the symbol of Systern1 in the centre.
Fourth
of the
5th Cosmic force (Mahat).
6.
The Sacrificial Fires. The Aspirants.
6 or 11
A silver Moon surmounted by an equal armed Cross.
Third
of the
6th Cosmic force.
7.
The Baskets of Nourishment or The Blinded Lives.
7 or 12
A Man reversed with his eyes closed.
Fourth
of the
7th Creative force.
In closing, we might give certain of the symbols for the twelve Creative Hierarchies. It is not possible to give the symbols whereby the Adepts know them, for in those symbols would be revealed much that it is deemed wiser to guard in secrecy, but the symbols, as they are [Page 1225] found in records accessible to disciples, may be given, and from the close scrutiny of these some knowledge as to the essential character of the hierarchy may be revealed.
Để kết thúc, chúng ta có thể nêu ra một số biểu tượng của mười hai Huyền Giai Sáng Tạo. Không thể đưa ra các biểu tượng mà các chân sư dùng để biết chúng, vì trong các biểu tượng ấy sẽ tiết lộ nhiều điều được xem là khôn ngoan hơn nếu giữ kín trong bí mật, nhưng các biểu tượng như chúng được [Page 1225] tìm thấy trong các ghi chép mà đệ tử có thể tiếp cận thì có thể được nêu ra, và từ sự khảo sát kỹ lưỡng các biểu tượng này có thể mặc khải một ít hiểu biết về tính chất cốt yếu của huyền giai.
The symbols for the five hierarchies which have passed on may be stated as follows:
Các biểu tượng của năm huyền giai đã đi qua có thể được nêu như sau:
1. A ball of green fire with three rays of rose.
1. Một quả cầu lửa xanh lục với ba tia hồng.
2. A sphere, divided by a Tau, in colours green and silver.
2. Một khối cầu, bị chia bởi một Tau, với các màu xanh lục và bạc.
3. A bird, with plumage dark and with the eye of radiant fire.
3. Một con chim, với bộ lông sẫm màu và con mắt lửa rực sáng.
4. Two stars of vivid rose linked by a band of violet.
4. Hai ngôi sao hồng rực nối với nhau bằng một dải tím.
5. An ovoid of colour indigo with five letters or symbolic words within its borders.
5. Một hình trứng màu chàm với năm chữ cái hay các từ biểu tượng bên trong đường viền của nó.
These hierarchies are also classed together and viewed as one and are called in esoteric parlance:
Các huyền giai này cũng được xếp chung lại và được nhìn như một, và trong thuật ngữ huyền bí chúng được gọi là:
“The Lives of that which appeared, rotated and gathered to themselves the fifth aspect of Mahat.”
“Các Sự Sống của điều đã xuất hiện, quay tròn và thu hút về mình phương diện thứ năm của Mahat.”
This symbol, which signifies the liberation achieved and the gains attained in System One, takes the form of a blazing altar of pure fire out of which is escaping a bird of green and gold plumage with five wings outspread. Above this symbol appear certain hieroglyphics in the earliest Sensa script signifying, “Still I seek.”
Biểu tượng này, biểu thị sự giải thoát đã đạt được và các thành quả đã thu hoạch trong Hệ thống Một, mang hình thức một bàn thờ rực cháy bằng lửa thuần khiết, từ đó một con chim lông xanh lục và vàng đang bay ra với năm cánh dang rộng. Phía trên biểu tượng này xuất hiện một số chữ tượng hình bằng văn tự Sensa cổ xưa nhất, mang nghĩa: “Ta vẫn còn tìm kiếm.”
The symbols of the seven Creative Hierarchies now in manifestation are all enclosed in a circle denoting limitation and the circumscribing of the Life. All these hierarchies are Sons of Desire, and are paramountly an expression of the desire for manifested life of the solar Logos. They receive their primary impulse from the cosmic astral plane. They are also the expression of a vibration emanating from the second row of petals in the logoic Lotus on the cosmic mental plane.
Các biểu tượng của bảy Huyền Giai Sáng Tạo hiện đang biểu hiện đều được bao trong một vòng tròn biểu thị sự giới hạn và sự khoanh định của Sự Sống. Tất cả các huyền giai này đều là Các Con của Dục vọng, và trên hết là một biểu hiện của dục vọng sống biểu hiện của Thái dương Thượng đế. Chúng nhận xung lực sơ khởi của mình từ cõi cảm dục vũ trụ. Chúng cũng là biểu hiện của một rung động phát ra từ hàng cánh hoa thứ hai trong Hoa sen của Thượng đế trên cõi trí vũ trụ.
They are, therefore, one and all an expression of His love nature, and it is for this reason that buddhi is found at the heart of the tiniest atom, or what we call in this [Page 1226] system, electric fire. For the positive central life of every form is but an expression of cosmic buddhi, and the downpouring of a love which has its source in the Heart of the Solar Logos; this is itself an emanating principle from the ONE ABOVE OUR LOGOS, HE OF WHOM NAUGHT MAY BE SAID.
Vì vậy, tất cả chúng đều là một biểu hiện của bản chất bác ái của Ngài, và chính vì lý do này mà Bồ đề được tìm thấy ở trung tâm của nguyên tử nhỏ bé nhất, hay điều mà trong hệ thống này [Page 1226] chúng ta gọi là Lửa Điện. Vì sự sống trung tâm dương của mọi hình tướng chỉ là một biểu hiện của Bồ đề vũ trụ, và của sự tuôn đổ của một tình thương có nguồn cội trong Trái Tim của Thái dương Thượng đế; bản thân điều này là một nguyên khí phát xạ từ ĐẤNG Ở TRÊN THƯỢNG ĐẾ CỦA CHÚNG TA, ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ.
It is love limiting itself by desire, and for that which is desired. It is love pouring itself out into forms which are stimulated and aided thereby; it is the fulfillment of divine obligations incurred in the dim and distant kalpas which antedate the triplicity of solar systems which we can dimly vision, and it is the “Father of Light” (in a cosmic connotation) pouring Himself out for that which binds Him and which it is His dharma to lift up to His Throne. It is not possible to picture the revelation of the Love of the solar Logos as it reveals itself to the eye of the illuminated seer, nor to show the nature of the cosmic Lord of Sacrifice as He limits Himself in order to save. At each step along the Path, the extent of that love and sacrifice is opened up as the disciple knows himself to be in tiny measure also a Lord of Sacrifice and Love. It can only be appreciated as the two inner rows of egoic petals are unfolded; knowledge would not reveal it, and it is only as a man transcends knowledge, and knows himself to be something non-separative, and inclusive that this particular revelation comes to him.
Đó là tình thương tự giới hạn mình bằng dục vọng, và vì điều được dục vọng. Đó là tình thương tuôn đổ chính nó vào các hình tướng, nhờ đó các hình tướng được kích thích và trợ giúp; đó là sự hoàn thành các nghĩa vụ thiêng liêng đã gánh lấy trong những kalpa mờ xa và xa xăm có trước bộ ba các hệ mặt trời mà chúng ta chỉ có thể lờ mờ hình dung, và đó là “Cha của Ánh Sáng” (theo một hàm nghĩa vũ trụ) đang tuôn đổ chính Ngài vì điều trói buộc Ngài và điều mà bổn phận dharma của Ngài là phải nâng lên đến Thánh Ngai của Ngài. Không thể mô tả sự mặc khải của Tình thương của Thái dương Thượng đế như nó tự bộc lộ trước mắt nhà thông nhãn được soi sáng, cũng không thể chỉ ra bản chất của Chúa Tể Hi sinh vũ trụ khi Ngài tự giới hạn mình để cứu độ. Ở mỗi bước trên Con Đường, mức độ của tình thương và hi sinh ấy được khai mở khi đệ tử biết rằng mình, trong mức độ rất nhỏ bé, cũng là một Chúa Tể của Hi sinh và Tình thương. Điều đó chỉ có thể được trân trọng khi hai hàng cánh hoa chân ngã bên trong được khai mở; tri thức sẽ không mặc khải nó, và chỉ khi con người vượt lên trên tri thức, và biết mình là một cái gì đó không phân ly và bao gồm thì sự mặc khải đặc thù này mới đến với y.
This is the secret behind the seven symbols, each one of which hides an aspect of the sevenfold Love of God as it is revealed through the hierarchy of Beings, or as the Son reveals it, Who is the sumtotal of the Love of God.
Đây là bí mật ẩn sau bảy biểu tượng, mỗi biểu tượng che giấu một phương diện của Bác ái thất phân của Thượng đế như nó được mặc khải qua huyền giai các Đấng, hay như Con mặc khải nó, Đấng là tổng thể của Bác ái của Thượng đế.
We might at the same time consider the type of force wielded by a particular hierarchy.
Đồng thời, chúng ta cũng có thể xem xét loại mãnh lực được một huyền giai đặc thù vận dụng.