← A Treatise on Cosmic Fire All

From “Lucifer” for May 1890

First the (Point), the Monad, Bythus (the Deep), the unknown and the unknowable Father. Then the (triangle), Bythus and the first emanated pair or Duad, Nous (Mind) and its syzygy Aletheia (Truth), Then the (Square), the dual Duad, Tetractys or Quaternary, two males ||, the Logos (Word) and Anthrôpos (Man), two females, their syzygies, = Zoê (Life) and Ekklesia (the Church or Assembly), Seven in all. The triangle, the Potentiality of Spirit, the Square the Potentiality of Matter; the vertical straight line the Potency of Spirit, and the horizontal the Potency of Matter. Next comes the Pentagram, the Pentad, the mysterious symbol of the Manasaputras or Sons of Wisdom, which together with their syzygies make 10, or the Decad; and last of all, the Hexalpha or interlaced Triangles the Hexad which with their syzygies make 12, or the Dodecad. Such are the contents of the Pleroma or Completion, the Ideas in the Divine mind, 28 in all, for Bythus or the Father is not reckoned, as it is the Root of all. The two small circles within the Pleroma are the syzygy Christos-Pneuma (Christ and the Holy Spirit): these are after-emanations, and, as such, form one aspect, typify the descent of Spirit to inform and evolve Matter, which essentially proceeds from the same source; and another, the desent or incarnation of the Kumâras or the Higher Egos of Humanity.

Trước hết là (Điểm), Chân thần, Bythus (Vực Sâu), Người Cha vô danh và bất khả tri. Kế đến là (tam giác), Bythus và cặp đầu tiên được phát xạ hay Nhị nguyên, Nous (Trí Tuệ) và syzygy của nó là Aletheia (Chân Lý), rồi đến (Hình vuông), Nhị nguyên kép, Tetractys hay Bộ bốn, hai nam ||, Logos (Linh từ) và Anthrôpos (Con Người), hai nữ, các syzygy của các vị ấy, = Zoê (Sự Sống) và Ekklesia (Giáo Hội hay Hội Chúng), tổng cộng là Bảy. Tam giác là Tiềm năng của Tinh thần, Hình vuông là Tiềm năng của Vật chất; đường thẳng đứng là Uy lực của Tinh thần, và đường ngang là Uy lực của Vật chất. Tiếp theo là Ngũ giác tinh, Bộ năm, biểu tượng huyền nhiệm của các Manasaputra hay các Con của Minh Triết, những vị này cùng với các syzygy của mình tạo thành 10, hay Bộ mười; và sau cùng là Hexalpha hay các Tam giác đan xen, Bộ sáu mà cùng với các syzygy của chúng tạo thành 12, hay Bộ mười hai. Đó là nội dung của Pleroma hay Sự Viên Mãn, các Ý tưởng trong Trí của Thượng đế, tổng cộng là 28, vì Bythus hay Người Cha không được tính đến, bởi đó là Cội Rễ của tất cả. Hai vòng tròn nhỏ bên trong Pleroma là syzygy Christos-Pneuma (Christ và Chúa Thánh Thần): đây là những phát xạ về sau, và như thế tạo thành một phương diện, tiêu biểu cho sự giáng hạ của Tinh thần để thấm nhuần và làm cho Vật chất tiến hoá, điều mà về bản chất phát xuất từ cùng một nguồn; và một phương diện khác, là sự giáng hạ hay nhập thể của các Kumara hay các Chân ngã Cao Siêu của nhân loại.

From “Lucifer” for May 1890

Trích từ “Lucifer” tháng Năm 1890

I. WHAT IS THE RELATIONSHIP OF THE SON TO THE SUN? — I. MỐI LIÊN HỆ CỦA CON VỚI MẶT TRỜI LÀ GÌ?

This question brings us primarily to a consideration as to Who is the Son, and what is His function. Two [Page 227] factors are universally recognised in all systems that merit the name of philosophy; they are the two factors of spirit and matter, of purusha and prakriti. There is at times a tendency to confound such terms as “life and form,” “consciousness and the vehicle of consciousness” with the terms “Spirit and matter.” They are related, but clarity of view would be facilitated if it were realised that prior to manifestation, or to the birth of a solar system, it is more correct to utilise the words, Spirit and matter. When these two are inter-related during manifestation, and after the cessation of the pralayic interval or interlude between two systems, then the terms, life and form, consciousness and its vehicles, are more correct, for during the period of abstraction consciousness is not, form is not, and life, demonstrating as an actual principle, is not. There is Spirit-substance but in a state of quiescence, of utter neutrality, of negativity, and of passivity. In manifestation the two are approximated; they interact upon each other; activity supersedes quiescence; positivity replaces negativity; movement is seen in place of passivity, and the two primordial factors are no longer neutral to each other, but attract and repulse, interact and utilise. Then and only then, can we have form animated by life, and consciousness demonstrated through appropriate vehicles.

Câu hỏi này trước hết đưa chúng ta đến việc xem xét Con là Ai, và chức năng của Ngài là gì. Hai [Page 227] yếu tố được nhìn nhận phổ quát trong mọi hệ thống xứng đáng mang tên triết học; đó là hai yếu tố tinh thần và vật chất, purusha và prakriti. Đôi khi có khuynh hướng lẫn lộn những thuật ngữ như “sự sống và hình tướng,” “tâm thức và vận cụ của tâm thức” với các thuật ngữ “Tinh thần và vật chất.” Chúng có liên hệ với nhau, nhưng sự sáng tỏ trong cách nhìn sẽ được hỗ trợ nếu nhận ra rằng trước khi biểu hiện, hay trước khi một hệ mặt trời ra đời, thì dùng các từ Tinh thần và vật chất là chính xác hơn. Khi hai yếu tố này liên hệ với nhau trong khi biểu hiện, và sau khi chấm dứt khoảng hay quãng xen kẽ pralaya giữa hai hệ thống, thì các thuật ngữ sự sống và hình tướng, tâm thức và các vận cụ của nó, là chính xác hơn, vì trong thời kỳ trừu xuất thì không có tâm thức, không có hình tướng, và không có sự sống biểu lộ như một nguyên khí thực sự. Có tinh thần-chất liệu nhưng ở trong trạng thái tĩnh lặng, hoàn toàn trung tính, âm tính, và thụ động. Trong biểu hiện, hai yếu tố ấy được đưa lại gần nhau; chúng tác động lẫn nhau; hoạt động thay thế sự tĩnh lặng; dương tính thay thế âm tính; chuyển động xuất hiện thay cho thụ động, và hai yếu tố nguyên sơ không còn trung tính đối với nhau nữa, mà hút và đẩy, tương tác và sử dụng lẫn nhau. Khi đó và chỉ khi đó, chúng ta mới có thể có hình tướng được sự sống làm sinh động, và tâm thức được biểu lộ qua những vận cụ thích hợp.

How can this be expressed? In terms of fire, when the two electric poles are brought into definite relationship we have demonstrated, along the line of occult sight and of occult feeling, both heat and light. This relationship is brought about and perfected during the evolutionary process. This heat and light are produced by the union of the two poles, or by the occult marriage of male and female, of Spirit (father) and matter (mother). In terms of the physical, this union produces the objective solar system, the Son of the Father and the Mother. In terms of the subjective, it produces the Sun, as the sum total of [Page 228] the qualities of light and heat. In terms of fire, by the union or at-one-ment of electric fire (Spirit) and fire by friction (energised matter) solar fire is produced. This solar fire will be distinguished above all else by its evolutionary development, and by the gradual intensification of the heat to be felt, and of the light to be seen.

Điều này có thể được diễn đạt như thế nào? Theo thuật ngữ của lửa, khi hai cực điện được đưa vào một mối liên hệ xác định, chúng ta có sự biểu lộ, theo đường lối của thị giác huyền bí và cảm nhận huyền bí, cả nhiệt lẫn ánh sáng. Mối liên hệ này được tạo ra và hoàn thiện trong tiến trình tiến hoá. Nhiệt và ánh sáng này được tạo ra bởi sự kết hợp của hai cực, hay bởi cuộc hôn phối huyền bí giữa nam và nữ, giữa Tinh thần (cha) và vật chất (mẹ). Theo phương diện hồng trần, sự kết hợp này tạo ra hệ mặt trời khách quan, Con của Cha và Mẹ. Theo phương diện chủ quan, nó tạo ra Mặt Trời, như tổng thể của [Page 228] các phẩm tính ánh sáng và nhiệt. Theo thuật ngữ của lửa, bởi sự kết hợp hay hiệp nhất của Lửa Điện (Tinh thần) và Lửa ma sát (vật chất được tiếp năng lượng), Lửa Thái dương được tạo ra. Lửa Thái dương này sẽ được phân biệt trên hết bởi sự phát triển tiến hoá của nó, và bởi sự tăng cường dần dần của nhiệt được cảm nhận, và của ánh sáng được nhìn thấy.

For a clearer comprehension of this abstract matter, we might consider the microcosm, or man evolving in the three worlds. Man is the product of the approximation (at present imperfect) of the two poles of Spirit (the Father in Heaven) and of matter (the Mother). The result of this union is an individualised Son of God, or unit of the divine Self, an exact replica in miniature on the lowest plane of the great Son of God, the All-Self, who is in Himself the totality of all the miniature sons, of all the individualised Selves, and of each and every unit. The microcosm, expressed in other terms or from the subjective point of view, is a miniature sun distinguished by the qualities of heat and light. At present that light is “under the bushel,” or deeply hidden by a veil of matter, but in due process of evolution it will shine forth to such an extent that the veils will be lost from sight in a blaze of exceeding glory. At present the microcosmic heat is of small degree, or the magnetic radiation between the microcosmic units is but little felt (in the occult significance of the term), but as time proceeds, the emanations of heat,—due to intensification of the inner flame, coupled with the assimilated radiation of other units—will increase, and become of such proportions that the interaction between the individualised Selves will result in the merging to perfection of the flame within each one, and a blending of the heat; this will proceed until there is “one flame with countless sparks” within it, until the heat is general and balanced. When this is the case and each Son of God is a perfected Sun, characterised by perfectly expressed light and heat, [Page 229] then the entire solar system, the greater Son of God, will be the perfected Sun.

Để hiểu rõ hơn vấn đề trừu tượng này, chúng ta có thể xét đến tiểu thiên địa, hay con người đang tiến hoá trong ba cõi giới. Con người là sản phẩm của sự tiến gần (hiện nay còn bất toàn) giữa hai cực của Tinh thần (Người Cha trên Trời) và vật chất (Người Mẹ). Kết quả của sự kết hợp này là một Con của Thượng đế đã được biệt ngã hóa, hay một đơn vị của Đại Ngã thiêng liêng, một bản sao thu nhỏ chính xác trên cõi thấp nhất của Con vĩ đại của Thượng đế, Đại Ngã Toàn Thể, Đấng trong chính Ngài là tổng thể của mọi người con thu nhỏ, của mọi Đại Ngã đã được biệt ngã hóa, và của từng đơn vị một. Tiểu thiên địa, được diễn đạt theo những thuật ngữ khác hay từ quan điểm chủ quan, là một mặt trời thu nhỏ được phân biệt bởi các phẩm tính nhiệt và ánh sáng. Hiện nay ánh sáng ấy “ở dưới cái đấu,” hay bị che giấu sâu kín bởi một bức màn vật chất, nhưng theo đúng tiến trình tiến hoá, nó sẽ chiếu rạng đến mức các bức màn sẽ biến mất khỏi tầm nhìn trong một luồng vinh quang chói lọi tột bậc. Hiện nay nhiệt của tiểu thiên địa còn ở mức nhỏ, hay bức xạ từ tính giữa các đơn vị tiểu thiên địa chỉ được cảm nhận rất ít (theo ý nghĩa huyền bí của thuật ngữ này), nhưng khi thời gian trôi qua, các phát xạ nhiệt,—do sự tăng cường của ngọn lửa bên trong, kết hợp với bức xạ đã được đồng hoá của các đơn vị khác—sẽ gia tăng, và trở nên có quy mô đến mức sự tương tác giữa các Đại Ngã đã được biệt ngã hóa sẽ dẫn đến sự hòa nhập hoàn hảo của ngọn lửa bên trong mỗi đơn vị, và sự hòa trộn của nhiệt; điều này sẽ tiếp diễn cho đến khi có “một ngọn lửa với vô số tia lửa” bên trong nó, cho đến khi nhiệt trở nên phổ quát và quân bình. Khi điều này xảy ra và mỗi Con của Thượng đế là một Mặt Trời hoàn hảo, được đặc trưng bởi ánh sáng và nhiệt được biểu lộ hoàn toàn, [Page 229] khi đó toàn thể hệ mặt trời, Con lớn hơn của Thượng đế, sẽ là Mặt Trời hoàn hảo.

The system will then be characterised by a “blaze of refulgent glory,” and by a radiation that will link it up with its cosmic centre, and thus effect the liberation of the Son, and His return to the far distant source from whence the primal impulse originated. Therefore, bear in mind:

Khi đó hệ thống sẽ được đặc trưng bởi một “luồng vinh quang rực rỡ chói ngời,” và bởi một bức xạ sẽ nối kết nó với trung tâm vũ trụ của nó, và như thế thực hiện sự giải thoát của Con, cùng sự trở về của Ngài với nguồn cội xa xăm từ đó xung lực nguyên thủy đã phát sinh. Vì vậy, hãy ghi nhớ:

First, that the Son is the radiant result of the union of Spirit and Matter, and may be considered as the totality of the solar system, the Sun and the seven sacred planets.

Thứ nhất, rằng Con là kết quả rạng ngời của sự kết hợp giữa Tinh thần và Vật chất, và có thể được xem như tổng thể của hệ mặt trời, Mặt Trời và bảy hành tinh thiêng liêng.

Second, that the Son manifests through his qualities of light and heat, as does the solar Sun.

Thứ hai, rằng Con biểu lộ qua các phẩm tính ánh sáng và nhiệt của ngài, cũng như Mặt Trời thái dương biểu lộ vậy.

Third, that the Son is the product of the electrical union of “fire by friction” and electric fire, and is Himself “solar fire” or the manifestation of the other two, hence that which is seen and that which is felt.

Thứ ba, rằng Con là sản phẩm của sự kết hợp điện giữa “Lửa ma sát” và Lửa Điện, và chính Ngài là “Lửa Thái dương” hay sự biểu hiện của hai loại kia, do đó là điều được thấy và điều được cảm nhận.

Finally, that the Son, therefore, is the middle manifestation, and is produced by that which is above, and that which is below, in the occult sense. Therefore, the Son on His own plane (the cosmic mental plane), is the egoic body of the Logos in the same sense as the egoic body of the microcosm is the product of the union of the Monad, or Spirit, and matter. Just as the body egoic of man (that which is called the causal body) is only in process of formation, and is not yet perfected, so we may predicate the same of the solar system, as it expresses the Life of God. It is in process of perfecting. The Son, manifesting through the Sun and its sphere of influence, is yet in a state of gradual development, and not until each cell within His body is fully alive and vibrating to a uniform measure, will He be “full grown” and perfected. Not until His radiation and His display of light is perfectly seen and felt, will His place among the heavenly constellations (the Son of God in a cosmic sense) be fully achieved.

Sau cùng, rằng vì vậy Con là biểu hiện trung gian, và được tạo ra bởi điều ở trên và điều ở dưới, theo ý nghĩa huyền bí. Do đó, Con trên cõi riêng của Ngài (cõi trí vũ trụ), là thể chân ngã của Thượng đế theo cùng ý nghĩa như thể chân ngã của tiểu thiên địa là sản phẩm của sự kết hợp giữa chân thần, hay Tinh thần, và vật chất. Cũng như thể chân ngã của con người (điều được gọi là thể nguyên nhân) chỉ mới đang trong tiến trình hình thành, và chưa hoàn thiện, thì chúng ta cũng có thể khẳng định điều tương tự về hệ mặt trời, khi nó biểu lộ Sự sống của Thượng đế. Nó đang trong tiến trình hoàn thiện. Con, biểu lộ qua Mặt Trời và khối cầu ảnh hưởng của Ngài, vẫn còn ở trong trạng thái phát triển dần dần, và chỉ khi mỗi tế bào trong thể của Ngài hoàn toàn sống động và rung động theo một nhịp độ đồng nhất, Ngài mới “trưởng thành đầy đủ” và hoàn hảo. Chỉ khi bức xạ của Ngài và sự biểu lộ ánh sáng của Ngài được thấy và cảm nhận một cách hoàn hảo, vị trí của Ngài giữa các chòm sao thiên giới (Con của Thượng đế theo nghĩa vũ trụ) mới được đạt đến trọn vẹn.

[Page 230] Not until each cell in His body is a sphere of radiant glory—a blaze of fire and light, and a source of magnetic radiation or heat, occultly expressed, will the Son in the Heavens “shine forth.” From the cosmic point of view, as we know, our sun is but of the fourth order, and on the lowest cosmic plane. When the Son has, through the Sun, attained full expression (that is, perfected His display of light and heat) then He will shine forth upon another plane, that of the cosmic mental. We have the analogy in the microcosm or man. When a man’s light fully shines forth, when his magnetic radiation has reached the stage of vivid interaction or group activity, then he has attained full self-expression, and has included within his sphere of influence and control the mental plane. He is then considered a Master. He also is of the fourth order; he is the quaternary. The etheric plane is the centre of his life in the physical sense, just as we are told that the sun and the planets esoterically are considered as existing in etheric matter. As above, so below, is the occult law. Therefore, the relationship of the Son of the Father, and of the Mother, is to the Sun the same as man’s relationship to the vehicle through which he functions. It is His mode of enterprise, His vehicle of expression; it is the form which His life animates for the specific purpose of

[Page 230] Chỉ khi mỗi tế bào trong thể của Ngài là một khối cầu vinh quang rạng ngời—một luồng lửa và ánh sáng chói lọi, và một nguồn bức xạ từ tính hay nhiệt, được diễn đạt theo huyền bí học—thì Con trên Thiên Giới mới “chiếu rạng.” Từ quan điểm vũ trụ, như chúng ta biết, mặt trời của chúng ta chỉ thuộc bậc thứ tư, và ở trên cõi vũ trụ thấp nhất. Khi Con, qua Mặt Trời, đã đạt đến sự biểu lộ trọn vẹn (nghĩa là đã hoàn thiện sự biểu lộ ánh sáng và nhiệt của Ngài) thì Ngài sẽ chiếu rạng trên một cõi khác, cõi trí vũ trụ. Chúng ta có sự tương đồng nơi tiểu thiên địa hay con người. Khi ánh sáng của một người chiếu rạng hoàn toàn, khi bức xạ từ tính của y đã đạt đến giai đoạn tương tác sinh động hay hoạt động nhóm, thì y đã đạt đến sự tự biểu lộ trọn vẹn, và đã bao gồm trong khối cầu ảnh hưởng và kiểm soát của mình cõi trí. Khi đó y được xem là một Chân sư. Y cũng thuộc bậc thứ tư; y là bộ bốn. Cõi dĩ thái là trung tâm sự sống của y theo nghĩa hồng trần, cũng như chúng ta được cho biết rằng về mặt huyền bí, mặt trời và các hành tinh được xem là tồn tại trong vật chất dĩ thái. trên sao, dưới vậy, là định luật huyền bí. Vì vậy, mối liên hệ của Con của Cha và của Mẹ với Mặt Trời cũng giống như mối liên hệ của con người với vận cụ mà qua đó y hoạt động. Đó là phương thức hoạt động của Ngài, là vận cụ biểu lộ của Ngài; đó là hình tướng mà sự sống của Ngài làm sinh động vì mục đích cụ thể là

a. Gaining experience.

a. Thu nhận kinh nghiệm.

b. Making contact.

b. Tạo tiếp xúc.

c. Developing full self-knowledge.

c. Phát triển sự tự tri trọn vẹn.

d. Achieving full mastery or control.

d. Đạt được quyền làm chủ hay kiểm soát trọn vẹn.

e. Attaining “manhood” cosmically. The cosmic Christ must measure up to the stature “of a full grown man,” as it is expressed in the Christian Bible.(Ep., 4:13)

e. Đạt đến “trưởng thành” theo nghĩa vũ trụ. Đức Christ vũ trụ phải đạt đến tầm vóc “của một người trưởng thành đầy đủ,” như được diễn đạt trong Kinh Thánh Cơ Đốc giáo.(Ep., 4:13)

f. Expanding His consciousness.

f. Mở rộng tâm thức của Ngài.

[Page 231] All these stages have to be achieved on cosmic levels, in exactly the same sense as the microcosm, on systemic levels, likewise strives for similar ideals.

[Page 231] Tất cả các giai đoạn này đều phải được đạt đến trên các cấp độ vũ trụ, theo đúng cùng một ý nghĩa như tiểu thiên địa, trên các cấp độ hệ thống, cũng phấn đấu vì những lý tưởng tương tự.

II. WHAT IS EVOLUTION AND HOW DOES IT PROCEED? — II. TIẾN HOÁ LÀ GÌ VÀ NÓ DIỄN RA NHƯ THẾ NÀO?

1. Life Cycles.

1. Các chu kỳ sự sống.

I do not propose to deal here with the evolutionary process in any other way than briefly to indicate that the whole method of evolution is simply that of adjusting the matter aspect to the Spirit aspect, so that the former proves entirely adequate as a body of expression for the latter. The life cycle of the Son is one hundred years of Brahma in the same sense as man has a life cycle consisting of a certain number of years, dependent upon his karma. During the life cycle of a man, he expresses what is in him at his particular stage, and gradually develops from the stage of the ante-natal period wherein the Self overshadows the matter aspect until the period wherein that Higher Self takes full possession of the prepared form. This stage varies with every individual. From that time on fuller self-consciousness is sought, and the man (if proceeding normally) expresses himself through the form ever more adequately. Each life of lesser cycle in the great cycle of the Ego or Self, sees that expression more complete, brings the form more under control and develops a conscious realisation of the Self until there comes a culminating cycle of lives in which the Self within rapidly dominates, and takes full authority. The form becomes wholly adequate; the fusion of the two poles of Spirit and matter is fully brought about; and the light (fire) and heat (radiation) is seen and felt systemically. Then the form is either consciously utilised for specific ends or is vacated, and the man is liberated. Electric fire and fire by friction are fused, and the consequent solar fire blazes forth in radiant glory.

Ở đây tôi không định bàn đến tiến trình tiến hoá theo cách nào khác ngoài việc ngắn gọn chỉ ra rằng toàn bộ phương pháp của tiến hoá đơn giản là điều chỉnh phương diện vật chất cho phù hợp với phương diện Tinh thần, để phương diện trước chứng tỏ hoàn toàn thích hợp như một thể biểu lộ cho phương diện sau. Chu kỳ sự sống của Con là một trăm năm của Brahma theo cùng ý nghĩa như con người có một chu kỳ sự sống gồm một số năm nhất định, tùy thuộc vào nghiệp quả của y. Trong chu kỳ sự sống của một con người, y biểu lộ điều ở trong y tại giai đoạn riêng của mình, và dần dần phát triển từ giai đoạn tiền sinh, trong đó Đại Ngã phủ bóng phương diện vật chất, cho đến giai đoạn trong đó Đại Ngã Cao Siêu ấy hoàn toàn chiếm hữu hình tướng đã được chuẩn bị. Giai đoạn này thay đổi theo từng cá nhân. Từ lúc đó trở đi, ngã thức đầy đủ hơn được tìm kiếm, và con người (nếu tiến triển bình thường) biểu lộ chính mình qua hình tướng ngày càng thích đáng hơn. Mỗi đời sống của chu kỳ nhỏ hơn trong đại chu kỳ của Chân ngã hay Đại Ngã đều làm cho sự biểu lộ ấy hoàn chỉnh hơn, đưa hình tướng ngày càng nằm dưới sự kiểm soát và phát triển một sự chứng nghiệm hữu thức về Đại Ngã cho đến khi xuất hiện một chu kỳ đỉnh điểm của các đời sống, trong đó Đại Ngã bên trong nhanh chóng chi phối và nắm toàn quyền. Hình tướng trở nên hoàn toàn thích hợp; sự dung hợp của hai cực Tinh thần và vật chất được thực hiện trọn vẹn; và ánh sáng (lửa) cùng nhiệt (bức xạ) được thấy và được cảm nhận một cách hệ thống. Khi đó hình tướng hoặc được sử dụng một cách hữu thức cho những mục đích cụ thể hoặc bị bỏ lại, và con người được giải thoát. Lửa Điện và Lửa ma sát được dung hợp, và Lửa Thái dương phát sinh từ đó bừng lên trong vinh quang rạng ngời.

Extend this idea from man, an individualised unit of [Page 232] consciousness, to the great Heavenly Men, in one of Whose bodies a man forms a cell. The body of expression of each Heavenly Man is one of the sacred planets, and They aim at the same goal as man—the attainment, on Their own levels, of full expression, and the development of Their vehicles of consciousness to a point where the Spirit may blaze forth as light divine, and as heat. This heat radiates consciously and with intense magnetic attraction between all the seven systemic groups, or planetary schemes. Their magnetic field of action will include the planetary radius of one and all. Carry this thought still further to include the Son, and the entire solar system which He animates; His attempt is to find full expression therein, so that eventually and consciously His light may be seen and His heat, or magnetic radiation, may be felt beyond His immediate sphere of influence, the logoic ring-pass-not. Both the light of the Son and the heat of the Son must be felt by the opposite cosmic pole, that constellation which is our system’s magnetic opposite.

Hãy mở rộng ý tưởng này từ con người, một đơn vị tâm thức đã được biệt ngã hóa, [Page 232] đến các Đấng Thiên Nhân vĩ đại, trong một thể của Các Ngài mà con người tạo thành một tế bào. Thể biểu lộ của mỗi Đấng Thiên Nhân là một trong các hành tinh thiêng liêng, và Các Ngài nhắm đến cùng mục tiêu như con người—đạt được, trên các cấp độ riêng của Các Ngài, sự biểu lộ trọn vẹn, và phát triển các vận cụ tâm thức của Các Ngài đến một điểm mà tại đó Tinh thần có thể bừng sáng như ánh sáng thiêng liêng, và như nhiệt. Nhiệt này bức xạ một cách hữu thức và với sức hút từ tính mãnh liệt giữa tất cả bảy nhóm hệ thống, hay các hệ hành tinh. Trường hoạt động từ tính của Các Ngài sẽ bao gồm bán kính hành tinh của tất cả. Hãy đưa tư tưởng này đi xa hơn nữa để bao gồm Con, và toàn thể hệ mặt trời mà Ngài làm sinh động; nỗ lực của Ngài là tìm được sự biểu lộ trọn vẹn trong đó, để cuối cùng và một cách hữu thức ánh sáng của Ngài có thể được thấy và nhiệt của Ngài, hay bức xạ từ tính của Ngài, có thể được cảm nhận vượt ra ngoài khối cầu ảnh hưởng trực tiếp của Ngài, vòng-giới-hạn logoic. Cả ánh sáng của Con lẫn nhiệt của Con đều phải được cảm nhận bởi cực vũ trụ đối nghịch, chòm sao là đối cực từ tính của hệ thống chúng ta.

2. The objective of the units of consciousness.

2. Mục tiêu của các đơn vị tâm thức.

Thus, the thought of union and of fusion underlies the entire scheme of evolution; Man, the Heavenly Men, and the cosmic Man (the Son of the Father and the Mother) have to

Như vậy, tư tưởng về sự kết hợp và sự dung hợp nằm bên dưới toàn bộ hệ thống tiến hoá; Con người, các Đấng Thiên Nhân, và Con Người vũ trụ (Con của Cha và Mẹ) đều phải

a. Radiate occult heat beyond their own individualised ring-pass-not.

a. Bức xạ nhiệt huyền bí vượt ra ngoài vòng-giới-hạn đã được biệt ngã hóa của chính mình.

b. Occultly blaze forth and demonstrate light or fiery objectivity.

b. Bừng sáng một cách huyền bí và biểu lộ ánh sáng hay tính khách quan rực lửa.

c. Expand so as to include that which lies beyond their own immediate spheres.

c. Mở rộng để bao gồm điều nằm ngoài các khối cầu trực tiếp của chính mình.

d. Fuse and blend the two fires so as to produce perfectly the central fire, solar fire.

d. Dung hợp và hòa trộn hai ngọn lửa để tạo ra một cách hoàn hảo ngọn lửa trung tâm, Lửa Thái dương.

e. Blend Spirit and matter so that a body is produced that will adequately express Spirit.

e. Hòa trộn Tinh thần và vật chất để tạo ra một thể có thể biểu lộ Tinh thần một cách thích đáng.

f. Merge the essence within the form, which is occultly [Page 233] qualified during evolution, with the essence in all form—humanly, in a planetary sense, and cosmically.

f. Hòa nhập tinh túy bên trong hình tướng, vốn một cách huyền bí được [Page 233]định tính trong tiến hoá, với tinh túy trong mọi hình tướng—theo nghĩa nhân loại, theo nghĩa hành tinh, và theo nghĩa vũ trụ.

g. Attain human, systemic and cosmic manhood.

g. Đạt đến sự trưởng thành của con người, của hệ thống và của vũ trụ.

h. Achieve mastery on three planes of the solar system, humanly speaking.

h. Đạt được quyền làm chủ trên ba cõi của hệ mặt trời, xét theo nghĩa con người.

i. Achieve mastery on five planes of the solar system, when speaking of a Heavenly Man.

i. Đạt được quyền làm chủ trên năm cõi của hệ mặt trời, khi nói về một Đấng Thiên Nhân.

j. Achieve mastery on three cosmic planes when speaking of the cosmic Christ, the Son, or the Logos manifesting objectively.

j. Đạt được quyền làm chủ trên ba cõi vũ trụ khi nói về Đức Christ vũ trụ, Con, hay Thượng đế biểu lộ một cách khách quan.

3. The Manifesting Units of Consciousness. (94)

3. Các Đơn Vị Tâm Thức Biểu Hiện. (94)

(94) “Matter, it must be remembered, is that totality of Existence in the Kosmos which falls within any of the planes of possible perception.”—S. D., I, 560.

(94) “Cần nhớ rằng vật chất là toàn thể Hiện Hữu trong Vũ Trụ nằm trong bất kỳ cõi nào của tri giác khả hữu.”—S. D., I, 560.

These Existences might be enumerated as follows:

Các Hiện Hữu này có thể được liệt kê như sau:

1. The Seven Heavenly Men. In their totality they make up the Body of the Grand Man of the Heavens, the Logos.

1. Bảy Đấng Thiên Nhân. Trong tổng thể, Các Ngài tạo thành Thể của Đại Nhân trên Thiên Giới, Thượng đế.

Other names for these Beings:

Những tên gọi khác của các Hữu thể này:

a. The seven planetary Logoi or Spirits.

a. Bảy Hành Tinh Thượng đế hay các Thánh Linh.

b. The Prajapatis.

b. Các Prajapati.

c. The seven Lords of the Rays.

c. Bảy Chúa Tể của các cung.

d. The Dyhan Chohans.

d. Các Dyhan Chohan.

e. The seven Spirits before the Throne.

e. Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai.

f. The seven Archangels.

f. Bảy Tổng Thiên Thần.

g. The seven Logoi.

g. Bảy Thượng đế.

h. The seven Builders.

h. Bảy Đấng kiến tạo.

—S. D., I, 115, 130, 152, 535.

—S. D., I, 115, 130, 152, 535.

They are the informing Entities of the Divine Ray, the Ray of the Second Logos, in much the same sense as Fohat and his seven Brothers are the totality of the Primordial Ray.—S. D., I, 100, 108, 155.

Các Ngài là những Thực Thể phú linh của Thiêng Liêng Cung, Cung của Thượng đế thứ hai, theo cùng một ý nghĩa như Fohat và bảy Huynh đệ của ngài là tổng thể của Nguyên Sơ Cung.—S. D., I, 100, 108, 155.

a. Matter is fecundated by the Primordial Ray of Intelligence. This is the anima mundi, the soul of the world.

a. Vật chất được thụ tinh bởi Nguyên Sơ Cung của Trí Tuệ. Đây là anima mundi, linh hồn của thế giới.

b. The Primordial Ray is the vehicle for the Divine Ray of Love and Wisdom. The merging of these two is the aim of evolution.

b. Nguyên Sơ Cung là vận cụ cho Thiêng Liêng Cung của Bác Ái và Minh Triết. Sự hòa nhập của hai cung này là mục tiêu của tiến hoá.

c. The Divine Ray is sevenfold. It brings in seven Entities.

c. Thiêng Liêng Cung là thất phân. Nó đem vào bảy Thực Thể.

d. These seven are:

d. Bảy vị này là:

1. The Logos of Will or Power.

1. Thượng đế của Ý Chí hay Quyền Năng.

2. The Logos of Love and Wisdom.

2. Thượng đế của Bác Ái và Minh Triết.

3. The Logos of Activity.

3. Thượng đế của Hoạt Động.

4. The Logos of Harmony.

4. Thượng đế của Hài Hòa.

5. The Logos of Concrete Science

5. Thượng đế của Khoa Học Cụ Thể

6. The Logos of Devotion or Abstract Idealism.

6. Thượng đế của Sùng Tín hay Duy Tâm Trừu Tượng.

7. The Logos of Ceremonial Law or Order.

7. Thượng đế của Định Luật hay Trật Tự Nghi Lễ.

2. Men, The Monad, The Units of Consciousness. They, in their totality, make up the Bodies of the seven Heavenly Men. Each Monad is found upon one of the seven Rays.—S. D., I, 197, 285, 624; S. D., II, 85, 176, 196.

2. Con người, Chân thần, Các Đơn Vị Tâm Thức. Trong tổng thể, họ tạo thành các Thể của bảy Đấng Thiên Nhân. Mỗi Chân thần được tìm thấy trên một trong bảy cung.—S. D., I, 197, 285, 624; S. D., II, 85, 176, 196.

3. Devas.—S. D. I, 308; S. D., II, 107.

3. Các thiên thần.—S. D. I, 308; S. D., II, 107.

Such devas are, for instance:

Chẳng hạn, các thiên thần như sau:

a. The deva Lord of a plane. The sphere of his body is the entire plane.

a. Chúa Tể thiên thần của một cõi. Khối cầu của thể ngài là toàn bộ cõi ấy.

b. Groups of building devas.

b. Các nhóm thiên thần kiến tạo.

4. Entities involved in the mineral, vegetable, and animal kingdoms.—S. D., I, 210, 298.

4. Các thực thể liên can trong các giới kim thạch, thực vật, và động vật.—S. D., I, 210, 298.

a. The life of the third Logos—the atom of matter.

a. Sự sống của Thượng đế thứ ba—nguyên tử của vật chất.

b. The life of the second Logos—groups of atoms built into forms, plant, animal.

b. Sự sống của Thượng đế thứ hai—các nhóm nguyên tử được xây dựng thành hình tướng, thực vật, động vật.

c. The life of the first Logos—the forms indwelt by highest Spirit.

c. Sự sống của Thượng đế thứ nhất—các hình tướng được Tinh thần cao nhất ngự bên trong.

5. The spirit of a planet.—S. D., I, 178; S. D., II, 251, 500.

5. tinh linh linh địa cầu của một hành tinh.—S. D., I, 178; S. D., II, 251, 500.

He is the sum-total of the many involutionary lives upon a planet.

Ngài là tổng thể của nhiều sự sống giáng hạ tiến hoá trên một hành tinh.

6. The atom.—S. D., I, 559, 620-622.

6. Nguyên tử.—S. D., I, 559, 620-622.

Summing Up: For the purpose and the goal see S. D., I, 70, 132 (back)

Tóm lại: Về mục đích và mục tiêu, xem S. D., I, 70, 132 (trở lại)

If these stated aims are carefully considered, it will be seen how each has its place within the plan, and how [Page 234] evolution is but a term used to express the gradual development in time and space of the inherent capacity of a human being, of a Heavenly Man, and of the Grand Man of the Heavens. The place and position of one and all to each other must be borne in mind, for no one can develop without the other. What, therefore, have we?

Nếu các mục tiêu đã nêu này được xem xét cẩn thận, sẽ thấy mỗi mục tiêu đều có vị trí của nó trong Thiên Cơ, và rằng [Page 234] tiến hoá chỉ là một thuật ngữ được dùng để diễn tả sự phát triển dần dần trong thời gian và không gian của năng lực cố hữu của một con người, của một Đấng Thiên Nhân, và của Đại Nhân trên Thiên Giới. Phải ghi nhớ vị trí và tương quan của tất cả đối với nhau, vì không ai có thể phát triển mà không có người kia. Vậy thì, chúng ta có gì?

a. The Son, the Grand Man of the Heavens. He manifests through the Sun and the seven sacred planets, each of whom embodies one of His seven principles, just as He in His totality embodies one of the principles of a greater cosmic Entity.

a. Con, Đại Nhân trên Thiên Giới. Ngài biểu lộ qua Mặt Trời và bảy hành tinh thiêng liêng, mỗi hành tinh thể hiện một trong bảy nguyên khí của Ngài, cũng như chính Ngài trong tổng thể thể hiện một trong các nguyên khí của một Thực Thể vũ trụ lớn hơn.

b. A Heavenly Man. He manifests through a planet, and embodies one of the principles of the Son, the Logos. He Himself is likewise developing through seven principles, which are the source of His essential unity with all other Heavenly Men. Cosmically considered, the Son is developing the principle of a greater cosmic Being, that principle which we call love-wisdom. That is the fundamental characteristic He has to develop during His life cycle. Each Heavenly Man, therefore, embodies predominantly a subsidiary principle of the fundamental one. In like manner He Himself has six subsidiary principles, as has the Son.

b. Một Đấng Thiên Nhân. Ngài biểu lộ qua một hành tinh, và thể hiện một trong các nguyên khí của Con, Thượng đế. Chính Ngài cũng đang phát triển qua bảy nguyên khí, là nguồn gốc của sự hợp nhất cốt yếu của Ngài với mọi Đấng Thiên Nhân khác. Xét theo nghĩa vũ trụ, Con đang phát triển nguyên khí của một Hữu thể vũ trụ lớn hơn, nguyên khí mà chúng ta gọi là bác ái-minh triết. Đó là đặc tính căn bản mà Ngài phải phát triển trong chu kỳ sự sống của mình. Vì vậy, mỗi Đấng Thiên Nhân chủ yếu thể hiện một nguyên khí phụ thuộc của nguyên khí căn bản ấy. Cũng theo cách đó, chính Ngài có sáu nguyên khí phụ thuộc, cũng như Con vậy.

c. A Human Being, Man. He manifests on the physical [Page 235] plane through form, and has also seven principles; in each life cycle he works at their development. He likewise has His primary coloring, dependent upon the fundamental principle embodied by the Heavenly Man, Who is his originating source. Thus we have:

c. Một Con Người, con người. Ngài biểu lộ trên cõi hồng trần [Page 235] qua hình tướng, và cũng có bảy nguyên khí; trong mỗi chu kỳ sự sống, y làm việc để phát triển chúng. Y cũng có sắc thái chính của mình, tùy thuộc vào nguyên khí căn bản được thể hiện bởi Đấng Thiên Nhân là nguồn gốc phát sinh của y. Như vậy chúng ta có:

THE LOGOS

THƯỢNG ĐẾ

Father-Spirit............Mother-Matter.

Cha-Tinh thần............Mẹ-Vật chất.

producing

sinh ra

The Son or the Grand Man of the Heavens,

Con hay Đại Nhân trên Thiên Giới,

the conscious logoic Ego

Chân ngã logoic hữu thức

evolving through

tiến hoá qua

The Sun and the seven sacred planets

Mặt Trời và bảy hành tinh thiêng liêng

each embodying a

mỗi hành tinh thể hiện một

Cosmic principle, in six differentiations

Nguyên khí vũ trụ, trong sáu sự biến phân

by method of

bằng phương pháp

a. Expansion, vibratory stimulation, magnetic interaction, or the law of attraction and repulsion.

a. Mở rộng, kích thích rung động, tương tác từ tính, hay định luật hút và đẩy.

b. Cyclic progress, rotary repetition, coupled to spiralling ascension, and developing

b. Tiến bộ theo chu kỳ, lặp lại theo vòng quay, kết hợp với thăng tiến theo đường xoắn ốc, và phát triển

a. The quality of love-wisdom, through the utilization of form by the means of active intelligence.

a. Phẩm tính bác ái-minh triết, qua việc sử dụng hình tướng bằng phương tiện trí tuệ hoạt động.

b. Full self-consciousness.

b. Ngã thức trọn vẹn.

c. A perfected solar system, or the form, adequate to the needs of the indwelling spirit.

c. Một hệ mặt trời hoàn hảo, hay hình tướng thích hợp với các nhu cầu của tinh thần ngự bên trong.

Here a similar tabulation may be worked out to demonstrate the similarity of the process in the case of a Heavenly Man and a human being. If we ask why ten schemes, and in effect ten planets (seven sacred and three concealed) [Page 236] it is because the seven sacred planets are eventually merged into the three, and finally the three are blended into the one. This can be traced along the line of analogy as we consider the seven Rays. These seven Rays, which in manifestation are diverse, are eventually synthesised. The minor four are blended, we are told, into the third major ray, and the three major rays are finally merged into the one synthetic ray, the Love-Wisdom Ray (the Dragon of Wisdom, the occult serpent swallowing its tail) (S. D., I, 704; II, 531). This has been pointed out by H. P. B. We have, therefore, the three crowning rays, but seven seen during the evolutionary process. In connection with the Heavenly Men, functioning through the planets, there are, therefore, three planets which might be considered as synthesising planets, and four which are blended eventually, until the three have absorbed the essence of the four; finally the one absorbs the essence of the three, and the work is completed. This process lies many millennia ahead, during the inevitable period of the gradual obscuration of our system. Four of the Heavenly Men find Their magnetic opposites, and fuse and blend. First this takes place between Themselves, the negative and the positive rays merging and fusing, forming then the two from the four. Again the two merge, producing a united whole, and the one thus produced blends with the major third ray, the intelligence aspect,—the ray represented in our planetary Hierarchy by the Mahachohan. So the fusion will proceed until ultimately unity is reached in the system, and the Son has accomplished His purpose. He is perfected love-wisdom; his light shines forth cosmically; His magnetic radius touches the periphery of His cosmic opposite, and the marriage of the Son is effected. The two cosmic units merge.

Ở đây có thể lập ra một bảng biểu tương tự để chứng minh tính tương đồng của tiến trình trong trường hợp của một Đấng Thiên Nhân và một con người. Nếu chúng ta hỏi vì sao có mười hệ hành tinh, và thực ra là mười hành tinh (bảy hành tinh thiêng liêng và ba hành tinh ẩn kín) [Page 236] thì đó là vì bảy hành tinh thiêng liêng rốt cuộc được hợp nhất vào ba, và cuối cùng ba được dung hợp vào một. Điều này có thể được truy theo con đường tương đồng khi chúng ta xét đến bảy cung. Bảy cung này, vốn đa dạng trong biểu hiện, rốt cuộc được tổng hợp. Bốn cung nhỏ, như chúng ta được cho biết, được dung hợp vào cung lớn thứ ba, và ba cung lớn cuối cùng được hợp nhất vào một cung tổng hợp, Cung Bác Ái – Minh Triết (Con Rồng Minh Triết, con rắn huyền bí nuốt đuôi mình) (S. D., I, 704; II, 531). Điều này đã được H. P. B. chỉ ra. Vì vậy, chúng ta có ba cung tối cao, nhưng lại thấy bảy cung trong tiến trình tiến hoá. Liên quan đến các Đấng Thiên Nhân, hoạt động qua các hành tinh, vì thế có ba hành tinh có thể được xem là các hành tinh tổng hợp, và bốn hành tinh cuối cùng được dung hợp, cho đến khi ba hành tinh đã hấp thu tinh túy của bốn hành tinh; cuối cùng một hành tinh hấp thu tinh túy của ba hành tinh, và công việc hoàn tất. Tiến trình này còn ở rất nhiều thiên niên kỷ phía trước, trong giai đoạn tất yếu của sự lu mờ dần dần của hệ chúng ta. Bốn Đấng Thiên Nhân tìm thấy các đối cực từ tính của Các Ngài, rồi dung hợp và hòa nhập. Trước hết điều này diễn ra giữa chính Các Ngài, các cung âm và dương hợp nhất và hòa nhập, từ đó hình thành hai từ bốn. Rồi hai lại hợp nhất, tạo ra một toàn thể thống nhất, và cái một được tạo ra như thế hòa nhập với cung lớn thứ ba, phương diện trí tuệ,—cung được biểu hiện trong Thánh đoàn hành tinh của chúng ta bởi Đức Mahachohan. Như vậy sự dung hợp sẽ tiếp diễn cho đến khi cuối cùng sự hợp nhất đạt được trong hệ, và Con đã hoàn thành mục đích của Ngài. Ngài là bác ái-minh triết toàn hảo; ánh sáng của Ngài chiếu tỏa ra một cách vũ trụ; bán kính từ tính của Ngài chạm đến chu vi của đối cực vũ trụ của Ngài, và cuộc hôn phối của Con được thành tựu. Hai đơn vị vũ trụ hợp nhất.

If we here naturally ask which is the cosmic unit that is our solar opposite, we shall be told that that question [Page 237] lies hid for the present, though it is hinted at in the Secret Doctrine, and in other sacred books. A hint lies concealed in the relationship of the Pleiades to our earth, but not until a further precession of the equinoxes will it be more fully seen what is the exact relationship involved. (96)

Nếu ở đây chúng ta tự nhiên hỏi đơn vị vũ trụ nào là đối cực thái dương của chúng ta, thì chúng ta sẽ được bảo rằng câu hỏi ấy [Page 237] hiện còn được che giấu, dù đã được gợi ý trong Giáo Lý Bí Nhiệm, và trong các sách thiêng liêng khác. Một gợi ý được ẩn giấu trong mối liên hệ của chòm Thất Nữ với địa cầu chúng ta, nhưng chỉ sau một chu kỳ tuế sai nữa của các điểm phân thì mới thấy đầy đủ hơn mối liên hệ chính xác ấy là gì. (96)

(96) Students might compare the following references and then form their own conclusions.—S. D., I, 711 note, 545, 439; II, 811, 830, 581, 582, 426, 454, 654, 371. (back)

(96) Các đạo sinh có thể đối chiếu các dẫn chiếu sau đây rồi tự rút ra kết luận của mình.—S. D., I, 711 note, 545, 439; II, 811, 830, 581, 582, 426, 454, 654, 371. (back)

III. WHY IS THIS SOLAR SYSTEM EVOLVING ALONG THE LINES OF DUALITY? — III. VÌ SAO HỆ MẶT TRỜI NÀY ĐANG TIẾN HOÁ THEO NHỮNG ĐƯỜNG CỦA NHỊ NGUYÊN TÍNH?

1. The Problem of Existence.

1. Vấn Đề của Sự Tồn Tại.

The third question involves one of the most difficult problems in metaphysics, and covers in its consideration the whole perplexing mystery of the reason why there is objectivity at all.

Câu hỏi thứ ba bao hàm một trong những vấn đề khó khăn nhất của siêu hình học, và trong sự khảo cứu của nó bao trùm toàn bộ huyền nhiệm gây bối rối về lý do vì sao lại có tính khách quan nói chung.

It is one that has been asked under different forms by men of every school of thought—by religious people who enquire:—”Why did God create at all? Why is existence forced upon one and all?”; by scientists in their search for the ultimate truth and in their endeavor to find out the motivation of all that is seen, and to account for sensuous life; by philosophers in their equally diligent search for that animating subjectivity that is expressing itself through all the moral and ethical sciences in every civilisation and among every people; by the biologist in his persistent application to search for the discovery of the source of life, and in his strenuous endeavour to account for the principle of life that is seen ever to evade his investigations; by the mathematician, who, dealing with the form side of manifestation in all the grades of mathematics, decides that God geometrises, that law and rule pervade universally, that the one exists by means of the many, and who yet is unable to solve the problem as to who that geometrising [Page 238] identity may be. So the problems persist, and all the many lines of approach (in the endeavour to find the solution) end in the cul-de-sac of hypothesis, and in the recognition of an ultimate something of such an elusive nature, that men are forced seemingly to predicate a source of energy, of life, of intelligence, and to call it by diverse names according to the trend (religious, scientific or philosophical) of their minds. God, the Universal Mind, Energy, Force, the Absolute, the Unknown,—these terms and many others are forced from the lips of those who, by means of the form side, seek the Dweller within the form, and cannot find Him as yet. This failure to find Him is due to the limitations of the physical brain, and to the lack of development in the mechanism whereby the spiritual may be known, and whereby He may, and eventually will, be contacted.

Đó là một câu hỏi đã được nêu ra dưới nhiều hình thức khác nhau bởi những người nam và nữ thuộc mọi trường phái tư tưởng—bởi những người có tôn giáo, những người hỏi rằng:—“Vì sao Thượng đế lại sáng tạo nói chung? Vì sao sự tồn tại lại bị áp đặt lên tất cả mọi người?”; bởi các nhà khoa học trong cuộc truy tầm chân lý tối hậu và trong nỗ lực tìm ra động cơ của mọi điều được thấy, cũng như giải thích đời sống cảm giác; bởi các triết gia trong cuộc tìm kiếm cũng chuyên cần không kém đối với tính chủ quan linh hoạt đang biểu lộ qua mọi khoa học đạo đức và luân lý trong mọi nền văn minh và giữa mọi dân tộc; bởi nhà sinh vật học trong sự chuyên chú bền bỉ nhằm khám phá nguồn gốc của sự sống, và trong nỗ lực mãnh liệt của ông để giải thích nguyên khí sự sống vốn luôn luôn lẩn tránh các cuộc khảo sát của ông; bởi nhà toán học, người khi xử lý phương diện hình tướng của biểu hiện trong mọi cấp độ toán học, đi đến kết luận rằng Thượng đế hình học hóa, rằng định luật và quy luật thấm khắp một cách phổ quát, rằng cái một tồn tại nhờ cái nhiều, nhưng vẫn không thể giải quyết vấn đề xem bản sắc đang hình học hóa ấy là ai. Vì vậy các vấn đề vẫn tồn tại, và mọi con đường tiếp cận khác nhau (trong nỗ lực tìm ra lời giải) đều kết thúc trong ngõ cụt của giả thuyết, và trong sự thừa nhận một cái gì đó tối hậu có bản chất quá đỗi khó nắm bắt, đến nỗi con người dường như buộc phải giả định một nguồn năng lượng, của sự sống, của trí tuệ, và gọi nó bằng nhiều tên khác nhau tùy theo xu hướng (tôn giáo, khoa học hay triết học) của trí tuệ họ. Thượng đế, Trí Tuệ Vũ Trụ, Năng lượng, Mãnh lực, Cái Tuyệt Đối, Đấng Vô Danh,—những thuật ngữ này cùng nhiều thuật ngữ khác bị buộc phải thốt ra từ môi miệng của những ai, bằng phương diện hình tướng, tìm kiếm Kẻ Chận Ngõ bên trong hình tướng mà vẫn chưa thể tìm thấy Ngài. Sự thất bại trong việc tìm thấy Ngài là do những giới hạn của bộ não hồng trần, và do sự thiếu phát triển của bộ máy nhờ đó cái tinh thần có thể được biết đến, và nhờ đó Ngài có thể, và cuối cùng sẽ, được tiếp xúc.

The problem of duality is the problem of existence itself, and cannot be solved by the man who refuses to recognise the possibility of two occult facts:

Vấn đề nhị nguyên tính là chính vấn đề của sự tồn tại, và không thể được giải quyết bởi người nào từ chối thừa nhận khả năng của hai sự kiện huyền bí:

1. That the entire solar system embodies the consciousness of an Entity, who originates on planes entirely without the solar ring-pass-not.

1. Rằng toàn bộ hệ mặt trời thể hiện tâm thức của một Thực Thể, Đấng khởi nguyên trên những cõi hoàn toàn ở ngoài vòng-giới-hạn thái dương.

2. That manifestation is periodical and that the Law of Rebirth is the method that evolution takes in dealing with a man, a planetary Logos, and a solar Logos. Hence, the emphasis laid in the Proem of the Secret Doctrine on the three fundamentals, (I, 42-44)

2. Rằng biểu hiện có tính chu kỳ và Định luật Tái Sinh là phương pháp mà tiến hoá sử dụng khi xử lý một con người, một Hành Tinh Thượng đế, và một Thái dương Thượng đế. Do đó, sự nhấn mạnh được đặt trong Lời Mở Đầu của Giáo Lý Bí Nhiệm vào ba chân lý căn bản, (I, 42-44)

a. The Boundless Immutable Principle and

a. Nguyên Khí Vô Biên Bất Biến và

b. The periodicity of the Universe.

b. tính chu kỳ của Vũ Trụ.

c. The identity of all souls with the Oversoul.

c. bản sắc của mọi linh hồn với đại hồn.

When scientists recognise these two facts then their explanations will take a different line and the truth, as it is, will begin to illuminate their reason. Few men are yet ready for illumination, which is simply the light of the [Page 239] intuition breaking through the barriers that the rational faculty has erected. The duality of the solar system will eventually be recognised as dependent upon the following factors:

Khi các nhà khoa học thừa nhận hai sự kiện này thì các giải thích của họ sẽ đi theo một đường hướng khác và chân lý, đúng như nó là, sẽ bắt đầu soi sáng lý trí của họ. Chưa có nhiều người sẵn sàng cho sự soi sáng, vốn chỉ đơn giản là ánh sáng của [Page 239] trực giác xuyên thủng những rào cản mà năng lực lý trí đã dựng lên. Nhị nguyên tính của hệ mặt trời cuối cùng sẽ được thừa nhận là tùy thuộc vào các yếu tố sau:

a. Existence itself.

a. Chính sự tồn tại.

b. Time and space.

b. Thời gian và không gian.

c. The quality of desire or necessity.

c. Phẩm tính của dục vọng hay của sự cần thiết.

d. The acquisitive faculty inherent in life itself. This faculty, by the means of motion, gathers to itself the material whereby it achieves its desire, whereby it fabricates the form through which expression is sought, and whereby it confines itself within the prison of the sheath in order to gain experience.

d. Năng lực thủ đắc vốn cố hữu trong chính sự sống. Năng lực này, bằng phương tiện của chuyển động, thu hút về mình vật chất nhờ đó nó đạt được dục vọng của mình, nhờ đó nó tạo tác hình tướng qua đó sự biểu lộ được tìm kiếm, và nhờ đó nó tự giam mình trong ngục tù của lớp vỏ để thu nhận kinh nghiệm.

The supposition is correct that this theory takes for granted a mighty Intelligence who works thus through an ordered plan, and Who consciously takes shape and incarnates in order to carry out specific purposes of His own. But this hypothesis is but the rock bottom fact underlying the eastern teaching, and is one that is largely accepted, though diversely expressed and viewed by thinkers of all schools of thought throughout the globe. Even this conception is but a partial presentation of the real Idea, but owing to the limitations of man at this stage of evolution, it is sufficient as a working basis on which he may erect his temple of truth.

Giả định cho rằng lý thuyết này mặc nhiên thừa nhận một Trí Tuệ hùng vĩ hoạt động như thế qua một kế hoạch có trật tự, và Đấng một cách hữu thức mang lấy hình tướng và nhập thể để thực hiện những mục đích riêng biệt của Ngài, là đúng. Nhưng giả thuyết này chỉ là sự kiện nền tảng nhất nằm bên dưới giáo huấn phương Đông, và là điều phần lớn được chấp nhận, dù được diễn đạt và nhìn nhận khác nhau, bởi các nhà tư tưởng thuộc mọi trường phái trên khắp địa cầu. Ngay cả quan niệm này cũng chỉ là một sự trình bày từng phần của Ý Tưởng thực sự, nhưng do những giới hạn của con người ở giai đoạn tiến hoá này, nó đủ làm nền tảng công tác để y có thể dựng nên ngôi đền chân lý của mình.

This Entity, Whom we call the solar Logos, is in no sense the same as the personal God of the Christian, who is no more nor less than man himself, expanded into a being of awful power, and subject to the virtues and vices of man himself. The solar Logos is more than man, for He is the sumtotal of all the evolutions within the entire solar system, including the human, which is an evolution standing at a middle point in relation to the other evolutions. On one side of him are ranged hosts of beings who are more than human, and who, in [Page 240] past kalpas, reached and passed the stage where man now is; on the other side are hosts of the subhuman evolutions who in future kalpas will achieve the stage of humanity. Man stands midway between the two, and is at the point of balance; herein lies his problem. He does not partake wholly of the material side of evolution, nor is he wholly the expression of the third Logos, the Brahma aspect of the Deity, Who is an expression of pure energy or intelligence, motivating that tenuous something which we call substance. He is not wholly Spirit, the expression of the first Logos, the Mahadeva aspect, which is an expression of pure will or necessitous desire, impelling to manifestation. It is the fundamental motive itself or the great will to be. Man is a product of the union of the two; he is the meeting place of matter or active intelligent substance, and of Spirit or the basic will. He is the child born of their marriage or at-one-ment. He assumes objectivity in order to express that which is in each of the two opposites, plus the result of their merging in himself.

Thực Thể này, Đấng mà chúng ta gọi là Thái dương Thượng đế, tuyệt nhiên không đồng nhất với vị Thượng đế có tính cách cá nhân của người Cơ Đốc, vốn không hơn không kém chính là con người được phóng đại thành một hữu thể có quyền năng đáng sợ, và chịu những đức hạnh cùng tật xấu của chính con người. Thái dương Thượng đế còn hơn con người, vì Ngài là tổng thể của mọi cuộc tiến hoá trong toàn bộ hệ mặt trời, kể cả cuộc tiến hoá nhân loại, là một cuộc tiến hoá đứng ở điểm giữa trong tương quan với các cuộc tiến hoá khác. Về một phía của y là vô số hữu thể cao hơn con người, những hữu thể mà trong [Page 240] các kalpa trước đây đã đạt đến và vượt qua giai đoạn mà con người hiện đang ở; về phía kia là vô số các cuộc tiến hoá dưới nhân loại, những cuộc tiến hoá mà trong các kalpa tương lai sẽ đạt đến giai đoạn nhân loại. Con người đứng ở giữa hai bên, và ở tại điểm quân bình; chính trong đó có vấn đề của y. Y không hoàn toàn dự phần vào phương diện vật chất của tiến hoá, cũng không hoàn toàn là biểu lộ của Thượng đế thứ ba, phương diện Brahma của Thượng đế, Đấng là biểu lộ của năng lượng thuần túy hay trí tuệ, thúc đẩy cái gì đó vi tế mà chúng ta gọi là chất liệu. Y cũng không hoàn toàn là Tinh thần, biểu lộ của Thượng đế thứ nhất, phương diện Mahadeva, vốn là biểu lộ của ý chí thuần túy hay dục vọng tất yếu, thúc đẩy đến biểu hiện. Đó là chính động cơ căn bản hay đại ý chí muốn hiện hữu. Con người là sản phẩm của sự kết hợp của hai điều ấy; y là nơi gặp gỡ của vật chất hay chất liệu trí tuệ hoạt động, và của Tinh thần hay ý chí căn bản. Y là đứa con sinh ra từ cuộc hôn phối hay sự hợp nhất của chúng. Y mang lấy tính khách quan để biểu lộ điều hiện diện trong mỗi một của hai đối cực, cộng thêm kết quả của sự hòa nhập của chúng trong chính y.

2. Its Nature and Duality.

2. Bản Chất và Nhị Nguyên Tính của Nó.

In terms of quality what have we? Active intelligence at one with will or power produces that “Son of necessity” (S.D., I,74) (as H. P. B. expresses it) Who embodies intelligence, will or desire, and their united latent demonstration, love-wisdom.

Xét theo phẩm tính thì chúng ta có gì? Trí tuệ hoạt động hợp nhất với ý chí hay quyền năng tạo ra “Con của sự cần thiết” ấy (S.D., I,74) (như H. P. B. diễn tả) Đấng thể hiện trí tuệ, ý chí hay dục vọng, và sự biểu lộ tiềm tàng hợp nhất của chúng, bác ái-minh triết.

In terms of Fire how might we express an analogous thought? The fire latent in matter—itself a product of an earlier manifestation of the same cosmic Identity, or the relatively perfected quality worked out by Him in a previous cosmic incarnation—is set in motion again by the desire of that same Identity to circle once more the wheel of rebirth. That “fire by friction” produces heat and radiation and calls forth a reaction from its [Page 241] opposite “electric fire” or spirit. Here we have the thought of the Ray striking through matter, for the action of electric fire is ever forward, as earlier suggested. The one Ray “electric fire” drops into matter. This is the systemic marriage of the Father and the Mother. The result is the blending of these two fires, and their united production of that expression of fire which we call “solar fire.” Thus is produced the Son. Active Intelligence and Will are united and love-wisdom, when perfected through evolution, will be the outcome.

Xét theo Lửa thì chúng ta có thể diễn đạt một tư tưởng tương tự như thế nào? Ngọn lửa tiềm ẩn trong vật chất—bản thân nó là sản phẩm của một biểu hiện trước đó của cùng Bản Sắc vũ trụ ấy, hay phẩm tính tương đối toàn hảo do Ngài khai triển trong một lần nhập thể vũ trụ trước đây—lại được đặt vào chuyển động bởi dục vọng của chính Bản Sắc ấy muốn một lần nữa quay vòng bánh xe tái sinh. “Lửa ma sát” ấy tạo ra nhiệt và bức xạ, và gọi ra một phản ứng từ [Page 241] đối cực của nó là “Lửa Điện” hay tinh thần. Ở đây chúng ta có tư tưởng về cung xuyên qua vật chất, vì tác động của Lửa Điện luôn luôn hướng về phía trước, như đã gợi ý trước đây. Cung duy nhất “Lửa Điện” giáng vào vật chất. Đây là cuộc hôn phối có tính hệ thống của Cha và Mẹ. Kết quả là sự hòa trộn của hai ngọn lửa này, và sự sản sinh hợp nhất của chúng ra biểu lộ của lửa mà chúng ta gọi là “Lửa Thái dương.” Như vậy Con được sinh ra. Trí tuệ Hoạt động và Ý chí được hợp nhất và bác ái-minh triết, khi được hoàn thiện qua tiến hoá, sẽ là kết quả.

Electric fire or Spirit, united to fire by friction (heat) produces solar fire or light.

Lửa Điện hay Tinh thần, hợp nhất với Lửa ma sát (nhiệt) tạo ra Lửa Thái dương hay ánh sáng.

Hence, when the cosmic Entity takes form, there is added to the active intelligence which is the product of His earlier incarnation, a further quality, which is inherent and potential, that of love-wisdom. This is the ability to love that which is objective or the not-self, and ultimately to use with wisdom the form. Pure will is as yet an abstraction, and will only be brought into full development in another incarnation of the Logos. Mind or Intelligence is not an abstraction; it is something that IS. Neither is love-wisdom an abstraction. It is in process of development or bringing into manifestation, and is the aspect of the Son.

Do đó, khi Thực Thể vũ trụ mang lấy hình tướng, thì ngoài trí tuệ hoạt động vốn là sản phẩm của lần nhập thể trước của Ngài, còn được thêm vào một phẩm tính nữa, vốn cố hữu và tiềm tàng, đó là bác ái-minh triết. Đây là khả năng yêu thương cái khách quan hay cái không-phải-ngã, và cuối cùng sử dụng một cách minh triết hình tướng. Ý chí thuần túy hiện vẫn còn là một sự trừu tượng, và chỉ sẽ được đưa đến sự phát triển đầy đủ trong một lần nhập thể khác của Thượng đế. Trí tuệ hay Trí tuệ không phải là một sự trừu tượng; nó là một cái gì đó HIỆN HỮU. Bác ái-minh triết cũng không phải là một sự trừu tượng. Nó đang trong tiến trình phát triển hay được đưa vào biểu hiện, và là phương diện của Con.

What is above stated is in no way new, but these thoughts on essential duality are gathered together, in order to convey to our minds the necessity of viewing these things from the standpoint of their place in the cosmic scheme, and not from the point of view of our own planetary evolution and of man himself. Humanity is that evolution through which the Son aspect is to express itself most perfectly in this cosmic incarnation. Man blends the pairs of opposites, and the three fires meet in him. He is the best expression of the manasic principle and might be considered, from one very interesting [Page 242] standpoint, the chef-d’oeuvre of Brahma. He is the sheath for the life of God; he is the individualised consciousness of the Logos, manifesting through the seven divine Manasaputras, or Heavenly Men, in Whose bodies each unit of the human family finds place. He is the Vishnu aspect in process of development through the intelligence of Brahma, impelled by the will of Mahadeva. Therefore, in a peculiar sense man is very important, as he is the place of at-one-ment for all the three aspects; nevertheless, he is very unimportant for he is not the apex of the triangle, but simply the middle point, if we view the triangle thus:

Điều được trình bày ở trên hoàn toàn không mới, nhưng những tư tưởng này về nhị nguyên tính cốt yếu được tập hợp lại để truyền đạt cho trí tuệ chúng ta sự cần thiết phải nhìn những điều này từ quan điểm vị trí của chúng trong hệ vũ trụ, chứ không phải từ quan điểm của tiến hoá hành tinh riêng của chúng ta và của chính con người. Nhân loại là cuộc tiến hoá mà qua đó phương diện Con sẽ biểu lộ chính nó một cách hoàn hảo nhất trong lần nhập thể vũ trụ này. Con người hòa hợp các cặp đối cực, và ba ngọn lửa gặp nhau trong y. Y là biểu lộ tốt nhất của nguyên khí manas và có thể được xem, từ một quan điểm rất thú vị [Page 242] nào đó, là kiệt tác của Brahma. Y là lớp vỏ cho sự sống của Thượng đế; y là tâm thức biệt ngã hóa của Thượng đế, biểu lộ qua bảy Manasaputra thiêng liêng, hay các Đấng Thiên Nhân, trong các thể của Các Ngài mỗi đơn vị của gia đình nhân loại đều tìm được chỗ đứng. Y là phương diện Vishnu đang trong tiến trình phát triển qua trí tuệ của Brahma, được thúc đẩy bởi ý chí của Mahadeva. Vì vậy, theo một ý nghĩa đặc biệt, con người rất quan trọng, vì y là nơi hợp nhất của cả ba phương diện; tuy nhiên, y lại rất không quan trọng vì y không phải là đỉnh của tam giác, mà chỉ đơn giản là điểm giữa, nếu chúng ta nhìn tam giác như sau:

Spirit-Father.

Tinh thần-Cha.

The Son or man.

Con hay con người.

Matter-Mother.

Vật chất-Mẹ.

The evolution of the Son, or the cosmic incarnation of the Christ, is of immense importance in the plans of the Being greater than the solar Logos, HE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID. The animating principles of allied constellations and systems watch the progress of the evolution of the Son with keenest attention.

Sự tiến hoá của Con, hay lần nhập thể vũ trụ của Đức Christ, có tầm quan trọng vô cùng lớn trong các kế hoạch của Hữu Thể vĩ đại hơn Thái dương Thượng đế, Đấng Bất Khả Tư Nghị. Các nguyên khí linh hoạt của những chòm sao và hệ liên kết theo dõi tiến trình tiến hoá của Con với sự chú tâm sâu sắc nhất.

Just as the planet called the earth is regarded as the turning point or the battle-ground between Spirit and matter, and is therefore, from that very consideration, of great importance, so our solar system holds an analogous place in the cosmic scheme. The cosmic man, the solar Arjuna, is wrestling for His individualised perfected self-consciousness, and for freedom and liberation from the form, and from the not-self. So man on this planet battles for similar ideals on his tiny scale; so battle in heaven Michael and His Angels, or the divine Heavenly Men, Whose problem is the same on the higher scale.

Cũng như hành tinh được gọi là địa cầu được xem là điểm xoay chuyển hay chiến trường giữa Tinh thần và vật chất, và vì thế, từ chính sự xét đoán ấy, có tầm quan trọng lớn lao, thì hệ mặt trời của chúng ta cũng giữ một vị trí tương tự trong hệ vũ trụ. Con người vũ trụ, Arjuna thái dương, đang vật lộn để giành lấy ngã thức biệt ngã hóa toàn hảo của Ngài, và để đạt tự do cùng giải thoát khỏi hình tướng, khỏi cái không-phải-ngã. Vì vậy con người trên hành tinh này chiến đấu cho những lý tưởng tương tự trên quy mô nhỏ bé của mình; vì vậy trên thiên giới Michael và các Thiên Thần của Ngài, hay các Đấng Thiên Nhân thiêng liêng, chiến đấu, mà vấn đề của Các Ngài cũng y hệt như thế trên cấp độ cao hơn.

Duality, and the interplay between the two produces: [Page 243]

Nhị nguyên tính, và sự tương tác giữa hai mặt ấy tạo ra: [Page 243]

a. Objectivity, or the manifested Son or Sun.

a. Tính khách quan, hay Con hay Mặt Trời biểu hiện.

b. Evolution itself.

b. Chính tiến hoá.

c. The development of quality.

c. Sự phát triển của phẩm tính.

d. Time and space.

d. Thời gian và không gian.

The questions we are now engaged in answering embody certain fundamental aspects of manifestation, viewed principally from the subjective or psychic angle.

Những câu hỏi mà hiện nay chúng ta đang bận trả lời bao hàm một số phương diện căn bản của biểu hiện, được nhìn chủ yếu từ góc độ chủ quan hay thông linh.

IV. WHAT IS CONSCIOUSNESS? WHAT IS ITS PLACE IN THE SCHEME OF THINGS? — IV. TÂM THỨC LÀ GÌ? VỊ TRÍ CỦA NÓ TRONG HỆ THỐNG SỰ VẬT LÀ GÌ?

Consciousness might be defined as the faculty of apprehension, and concerns primarily the relation of the Self to the not-self, of the Knower to the Known, and of the Thinker to that which is thought about. All these definitions involve the acceptance of the idea of duality, of that which is objective and of that which lies back of objectivity. (99)

Tâm thức có thể được định nghĩa là năng lực lĩnh hội, và chủ yếu liên quan đến mối liên hệ của Ngã với cái không-phải-ngã, của thức giả với cái được biết, và của nhà tư tưởng với điều được suy tưởng đến. Tất cả những định nghĩa này đều bao hàm sự chấp nhận ý tưởng về nhị nguyên tính, về cái khách quan và về cái nằm phía sau tính khách quan. (99)

(99) “Consciousness is the kosmic seed of superkosmic omniscience. It has the potentiality of budding into divine consciousness.”—S. D., III, 555.

(99) “Tâm thức là hạt giống vũ trụ của toàn tri siêu vũ trụ. Nó có tiềm năng nảy nở thành tâm thức thiêng liêng.”—S. D., III, 555.

The universe is an aggregate of states of consciousness.—S. D., II, 633.

Vũ trụ là một tổng thể của các trạng thái tâm thức.—S. D., II, 633.

Consciousness may be roughly divided into:

Tâm thức có thể được phân chia đại khái thành:

1. Absolute or God Consciousness..... Unmanifested Logos.

1. Tâm thức Tuyệt đối hay Tâm thức Thượng đế..... Thượng đế Không Biểu Hiện.

“I am That I am.”

“Ta là Cái Ta là.”

2. Universal or Group Consciousness... Manifested Logos.

2. Tâm thức Phổ quát hay Tâm thức Nhóm... Thượng đế Biểu Hiện.

“I am That.”.... Consciousness of planetary Logos.

“Ta là Cái Đó.”.... Tâm thức của Hành Tinh Thượng đế.

3. Individual or Self-Consciousness.... Human consciousness.

3. Tâm thức Cá nhân hay Ngã thức.... Tâm thức con người.

“I am.”

“Ta là.”

4. Consciousness or Atomic

4. Tâm thức hay Tâm thức

Consciousness... Sub-human consciousness.

Nguyên tử... Tâm thức dưới nhân loại.

The goal of consciousness for:

Mục tiêu của tâm thức đối với:

1. A planetary Logos....... Absolute consciousness.

1. Một Hành Tinh Thượng đế....... Tâm thức tuyệt đối.

2. Man.................. Group consciousness.

2. Con người................. Tâm thức nhóm.

3. Atom................. Self-consciousness.

3. Nguyên tử................. Ngã thức.

The Logos is the Macrocosm for Man.—S. D., I, 288, 295.

Thượng đế là Đại thiên địa đối với Con người.—S. D., I, 288, 295.

Man is the Macrocosm for the Atom....

Con người là Đại thiên địa đối với Nguyên tử....

Summation: The Life and the Lives.—S. D., I, 281, 282. (back)

Tổng kết: Sự sống và các sự sống.—S. D., I, 281, 282. (back)

Consciousness expresses that which might be regarded as the middle point in manifestation. It does not involve entirely the pole of Spirit. It is produced by the union of the two poles, and the process of interplay and of adaptation that necessarily ensues. It might be tabulated as follows, in an effort to clarify by visualisation: [Page 244]

Tâm thức biểu lộ điều có thể được xem là điểm giữa trong biểu hiện. Nó không hoàn toàn bao hàm cực của Tinh thần. Nó được tạo ra bởi sự kết hợp của hai cực, và bởi tiến trình tương tác cùng thích ứng tất yếu tiếp theo. Có thể lập bảng như sau, nhằm làm sáng tỏ bằng sự hình dung: [Page 244]

First Pole

The Point of Union

Second Pole

First Logos

Second Logos

Third Logos.

Mahadeva

Vishnu

Brahma.

Will

Wisdom-Love

Active Intelligence.

Spirit

Consciousness

Matter.

Father

Son

Mother.

Monad

Ego

Personality.

The Self

The relation between

The Not-Self.

The Knower

Knowledge

The Known.

Life

Realisation

Form.

One could go on piling up terms, but the above suffices to demonstrate the relationship between the threefold Logos, during manifestation. Emphasis must be laid upon the above fact: The solar system embodies the above logoic relationship during evolutionary objectivity, and the whole aim of progressive development is to bring the Son of the Father and the Mother, to a point of full realisation, of complete self-consciousness, and to full and active knowledge. This Son is objectively the solar system, inherently will or power, and subjectively He is love-wisdom. This latter quality is in process of development through the utilisation of active intelligence.

Người ta có thể tiếp tục chồng chất thêm các thuật ngữ, nhưng những điều trên đủ để chứng minh mối liên hệ giữa Thượng đế tam phân, trong thời kỳ biểu hiện. Phải nhấn mạnh vào sự kiện trên: Hệ mặt trời thể hiện mối liên hệ logoic nói trên trong tính khách quan tiến hoá, và toàn bộ mục tiêu của sự phát triển tiến bộ là đưa Con của Cha và Mẹ đến một điểm chứng nghiệm đầy đủ, ngã thức hoàn toàn, và tri thức đầy đủ cùng tích cực. Con này một cách khách quan là hệ mặt trời, một cách cố hữu là ý chí hay quyền năng, và một cách chủ quan Ngài là bác ái-minh triết. Phẩm tính sau này đang trong tiến trình phát triển qua việc sử dụng trí tuệ hoạt động.

The three manifested Persons of the logoic Triad seek full development by means of each other. The will to be, of the Mahadeva aspect, seeks, with the aid of the intelligence of Brahma, to develop love-wisdom, or the Son aspect, the Vishnu aspect. In the microcosmic system, the reflection of the threefold Logos, the man is endeavoring through the three vehicles to attain the same development on his own plane. On higher planes the Heavenly Men (through atma-buddhi-manas) aim at a similar progression. These two, the Heavenly Men plus the units in Their bodies, which are composed of deva and human monads form, in their totality, the Grand Heavenly Man. When man achieves, then the Heavenly Men likewise achieve; when They reach Their full growth and knowledge, [Page 245] and are self-conscious on all planes, then the Son achieves, and the solar system (His body of manifestation and experience) has served its purpose. The Son is liberated. Extend the idea of this threefold development of consciousness to the Logos in a still larger cycle (to that of the three solar systems of which this is the middle one) and we have repeated on cosmic levels in connection with the Logos, the process of the development of man in the three worlds.

Ba Ngôi biểu hiện của Tam nguyên tinh thần logoic tìm kiếm sự phát triển đầy đủ bằng phương tiện của nhau. Ý chí muốn hiện hữu, của phương diện Mahadeva, tìm cách, với sự trợ giúp của trí tuệ của Brahma, phát triển bác ái-minh triết, hay phương diện Con, phương diện Vishnu. Trong hệ vi mô, là phản ánh của Thượng đế tam phân, con người đang nỗ lực qua ba vận cụ để đạt đến cùng một sự phát triển trên cõi riêng của mình. Trên các cõi cao hơn, các Đấng Thiên Nhân (qua atma-buddhi-manas) nhắm đến một sự tiến triển tương tự. Hai điều này, các Đấng Thiên Nhân cộng với các đơn vị trong các thể của Các Ngài, vốn được cấu thành bởi các chân thần thiên thần và con người, tạo thành, trong tổng thể của chúng, Đại Đấng Thiên Nhân. Khi con người đạt được, thì các Đấng Thiên Nhân cũng đạt được; khi Các Ngài đạt đến sự tăng trưởng và tri thức đầy đủ của mình, [Page 245] và có ngã thức trên mọi cõi, thì Con đạt được, và hệ mặt trời (thể biểu hiện và kinh nghiệm của Ngài) đã phục vụ xong mục đích của nó. Con được giải thoát. Mở rộng ý tưởng về sự phát triển tâm thức tam phân này đến Thượng đế trong một chu kỳ còn lớn hơn nữa (đó là chu kỳ của ba hệ mặt trời mà hệ này là hệ ở giữa) thì chúng ta có sự lặp lại trên các cấp độ vũ trụ, liên quan đến Thượng đế, của tiến trình phát triển của con người trong ba cõi thấp.

THE MACROCOSM

ĐẠI THIÊN ĐỊA

The first solar system

embodied

the “I am” principle.

The second solar system

is embodying

the “I am that” principle.

The third solar system

will embody

the “I am that I am” principle.

THE MICROCOSM

TIỂU THIÊN ĐỊA

The first manifestation, the Personality, embodies the “I am” principle.

Biểu hiện thứ nhất, phàm ngã, thể hiện nguyên lý “Ta là”.

The second manifestation, the Ego, is embodying the “I am that” principle.

Biểu hiện thứ hai, chân ngã, đang thể hiện nguyên lý “Ta là Cái Đó”.

The third manifestation, the Monad, will embody the “I am that I am” principle.

Biểu hiện thứ ba, chân thần, sẽ thể hiện nguyên lý “Ta là Cái Ta là”.

Thus the different factors play their part in the general scheme of things, and all are interrelated, and all are interested parts and members one of the other.

Như vậy các yếu tố khác nhau đều đóng vai trò của mình trong hệ thống sự vật tổng quát, và tất cả đều liên hệ với nhau, và tất cả đều là những phần cùng những thành viên hữu quan của nhau.

V. IS THERE A DIRECT ANALOGY BETWEEN THE DEVELOPMENT OF A SYSTEM, A PLANET, A MAN AND AN ATOM? — V. CÓ MỘT SỰ TƯƠNG ĐỒNG TRỰC TIẾP GIỮA SỰ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT HỆ, MỘT HÀNH TINH, MỘT CON NGƯỜI VÀ MỘT NGUYÊN TỬ KHÔNG?

If by this question the desire exists to demonstrate exact similarity, the answer must be: No, the analogy is never exact in detail but only in certain broad basic correspondences. In all the four factors, there will be found unchangeable points of resemblance, but in development the stages of growth may not appear the same in detailed evolution, viewed from the standpoint of a man in the [Page 246] three worlds, handicapped as he is by limited apprehension. The points of resemblance between the four might be summed up as follows, taking the atom on the physical plane as our starting point, and developing the concept from stage to stage:

Nếu bởi câu hỏi này mà có mong muốn chứng minh một sự tương tự chính xác, thì câu trả lời phải là: Không, sự tương đồng không bao giờ chính xác trong chi tiết mà chỉ trong một số tương ứng căn bản rộng lớn. Trong cả bốn yếu tố, sẽ thấy có những điểm giống nhau bất biến, nhưng trong sự phát triển, các giai đoạn tăng trưởng có thể không xuất hiện giống nhau trong tiến hoá chi tiết, khi được nhìn từ quan điểm của một con người trong [Page 246] ba cõi thấp, bị hạn chế như y bởi năng lực lĩnh hội giới hạn. Những điểm tương đồng giữa bốn yếu tố có thể được tóm lược như sau, lấy nguyên tử trên cõi hồng trần làm điểm khởi đầu, và phát triển khái niệm từ giai đoạn này sang giai đoạn khác:

An Atom. (101)

Một Nguyên tử. (101)

(101) In connection with the Atom, the Secret Doctrine says:

(101) Liên quan đến Nguyên tử, Giáo Lý Bí Nhiệm nói rằng:

1. Absolute intelligence thrills through every atom. S. D., I, 298.

1. Trí tuệ tuyệt đối rung động xuyên qua mọi nguyên tử. S. D., I, 298.

2. Wherever there is an atom of matter, there is life. S. D., I, 245, 269, 279.

2. Bất cứ nơi nào có một nguyên tử vật chất, ở đó có sự sống. S. D., I, 245, 269, 279.

3. The atom is a concrete manifestation of the Universal Energy. S. D., I, 281.

3. Nguyên tử là một biểu hiện cụ thể của Năng Lượng Vũ Trụ. S. D., I, 281.

4. The same invisible lives compose the atoms, etc.. S. D., I, 218.

4. Cùng những sự sống vô hình ấy cấu thành các nguyên tử, v.v.. S. D., I, 218.

5. Every atom in the universe has the potentiality of self-consciousness. S. D., I, 132; II, 742.

5. Mọi nguyên tử trong vũ trụ đều có tiềm năng ngã thức. S. D., I, 132; II, 742.

6. Atoms and souls are synonymous in the language of Initiates. S. D., I., 620, 622.

6. Nguyên tử và linh hồn là đồng nghĩa trong ngôn ngữ của các điểm đạo đồ. S. D., I., 620, 622.

7. The atom belongs wholly to the domain of metaphysics. S. D., I, 559.

7. Nguyên tử hoàn toàn thuộc về lĩnh vực siêu hình học. S. D., I, 559.

8. Deity is within every atom. S. D., I, 89, 183.

8. Thượng đế ở trong mọi nguyên tử. S. D., I, 89, 183.

9. Every atom is doomed to incessant differentiation. S. D., I, 167.

9. Mọi nguyên tử đều bị định mệnh phải biến phân không ngừng. S. D., I, 167.

l0. The object of the evolution of the atom is Man. S. D., I, 206.

10. Mục tiêu của sự tiến hoá của nguyên tử là Con người. S. D., I, 206.

11. A germ exists in the centre of every atom. S. D., I, 87; II, 622.

11. Một mầm sống tồn tại ở trung tâm của mọi nguyên tử. S. D., I, 87; II, 622.

12. There is heat in every atom. S. D., I, 112.

12. Có nhiệt trong mọi nguyên tử. S. D., I, 112.

13. Every atom has 7 planes of being. S. D., I, 174.

13. Mọi nguyên tử có 7 cõi hiện hữu. S. D., I, 174.

14. Atoms are vibrations. S. D., I, 694. (back)

14. Các nguyên tử là những rung động. S. D., I, 694. (back)

a. An atom consists of a spheroidal form containing within itself a nucleus of life.

a. Một nguyên tử gồm một hình cầu chứa trong chính nó một hạt nhân sự sống.

b. An atom contains within itself differentiated molecules, which in their totality form the atom itself. For instance, we are told that the physical atom contains within its periphery fourteen thousand millions of the archetypal atoms, yet these myriads demonstrate as one.

b. Một nguyên tử chứa trong chính nó các phân tử đã biến phân, mà trong tổng thể của chúng tạo thành chính nguyên tử ấy. Chẳng hạn, chúng ta được cho biết rằng nguyên tử hồng trần chứa trong chu vi của nó mười bốn ngàn triệu nguyên tử nguyên mẫu, tuy nhiên vô số ấy lại biểu lộ như một.

c. An atom is distinguished by activity, and shows forth the qualities of:

c. Một nguyên tử được phân biệt bởi hoạt động, và biểu lộ các phẩm tính của:

a. Rotary motion.

a. Chuyển động quay.

b. Discriminative power.

b. Năng lực phân biện.

c. Ability to develop.

c. Khả năng phát triển.

d. An atom, we are told, contains within itself three major spirals and seven lesser (102). which ten are in process [Page 247] of vitalisation, but have not yet attained full activity. Only four are functioning at this stage, and the fifth is in process of development.

d. Một nguyên tử, như chúng ta được cho biết, chứa trong chính nó ba loa tuyến lớn và bảy (102). loa tuyến nhỏ, mà mười loa tuyến ấy đang trong tiến trình [Page 247] được tiếp sinh lực, nhưng chưa đạt đến hoạt động đầy đủ. Chỉ bốn loa tuyến đang hoạt động ở giai đoạn này, và loa tuyến thứ năm đang trong tiến trình phát triển.

(102) Inner Life: Vol. II, 177-179. Occult Chemistry, p. 22. Occult Chemistry, Appendix II and III. Babbitt’s “Light and Colour,” pp. 97-101. (back)

(102) Inner Life: Vol. II, 177-179. Occult Chemistry, p. 22. Occult Chemistry, Appendix II and III. Babbitt’s “Light and Colour,” pp. 97-101. (back)

e. An atom is governed by the Law of Economy, is coming slowly under the Law of Attraction, and will eventually come under the Law of Synthesis.

e. Một nguyên tử được chi phối bởi Định luật Tiết Kiệm, đang chậm rãi đi vào dưới Định luật Hấp Dẫn, và cuối cùng sẽ đi vào dưới Định luật Tổng Hợp.

f. An atom finds its place within all forms; it is the aggregation of atoms that produces form.

f. Một nguyên tử tìm thấy vị trí của nó trong mọi hình tướng; chính sự tập hợp các nguyên tử tạo ra hình tướng.

g. Its responsiveness to outer stimulation:

g. Tính đáp ứng của nó đối với kích thích bên ngoài:

Electrical stimulation, affecting its objective form.

Kích thích điện, tác động đến hình tướng khách quan của nó.

Magnetic stimulation, acting upon its subjective life.

Kích thích từ tính, tác động lên sự sống chủ quan của nó.

The united effect of the two stimulations, producing consequent internal growth and development.

Hiệu quả hợp nhất của hai loại kích thích, tạo ra sự tăng trưởng và phát triển nội tại tiếp theo.

An atom therefore is distinguished by:

Vì vậy một nguyên tử được phân biệt bởi:

1. Its spheroidal shape. Its ring-pass-not is definite and seen.

1. Hình cầu của nó. Vòng-giới-hạn của nó xác định và có thể thấy được.

2. Its internal arrangement, which comprises the sphere of influence of any particular atom.

2. Sự sắp xếp nội tại của nó, bao gồm khối cầu ảnh hưởng của bất kỳ nguyên tử đặc thù nào.

3. Its life-activity, or the extent to which the life at the centre animates the atom, a relative thing at this stage.

3. Hoạt động sự sống của nó, hay mức độ mà sự sống ở trung tâm làm sinh động nguyên tử, một điều tương đối ở giai đoạn này.

4. Its sevenfold inner economy in process of evolution.

4. Cơ cấu nội tại thất phân của nó đang trong tiến trình tiến hoá.

5. Its eventual synthesis internally from the seven into the three.

5. Sự tổng hợp nội tại cuối cùng của nó từ bảy vào ba.

6. Its group relation.

6. Mối liên hệ nhóm của nó.

7. Its development of consciousness, or responsiveness.

7. Sự phát triển tâm thức của nó, hay tính đáp ứng.

Having predicated the above facts of the atom, we can extend the idea now to man, following the same general outline:

Sau khi đã khẳng định các sự kiện trên về nguyên tử, giờ đây chúng ta có thể mở rộng ý tưởng ấy đến con người, theo cùng đại cương tổng quát:

A Man.

Một Con Người.

a. A man is spheroidal in form, he can be seen as a circular ring-pass-not, a sphere of matter with a nucleus [Page 248] of life at the centre. In predicating this we are considering the true man in his fundamental position as the Ego, with his sphere of manifestation, the causal body,—that body which forms the middle point between Spirit and matter.

a. Con người có hình cầu, y có thể được thấy như một vòng-giới-hạn hình tròn, một khối cầu vật chất với một hạt nhân [Page 248] sự sống ở trung tâm. Khi khẳng định điều này, chúng ta đang xét con người đích thực trong vị trí căn bản của y là chân ngã, với khối cầu biểu hiện của y, thể nguyên nhân,—thể tạo thành điểm giữa giữa Tinh thần và vật chất.

b. A man contains within himself differentiated atoms, which in their totality make up the objective form of the man on the planes of his manifestation. All are animated by his life, by his persistent will-to-be; all vibrate according to the point reached by the man in evolution. As seen from the higher planes man demonstrates as a sphere (or spheres) of differentiated matter, vibrating to a certain measure, tinctured by a certain color, and rotating to a fixed key—the key of his life cycle.

b. Con người chứa trong chính mình các nguyên tử đã biến phân, mà trong tổng thể của chúng tạo thành hình tướng khách quan của con người trên các cõi biểu hiện của y. Tất cả đều được làm sinh động bởi sự sống của y, bởi ý chí muốn hiện hữu bền bỉ của y; tất cả đều rung động tùy theo điểm mà con người đã đạt đến trong tiến hoá. Khi được nhìn từ các cõi cao hơn, con người biểu lộ như một khối cầu (hay các khối cầu) của vật chất đã biến phân, rung động theo một mức độ nhất định, nhuốm một màu sắc nhất định, và quay theo một chủ âm cố định—chủ âm của chu kỳ sự sống của y.

c. A man is distinguished by activity on one or more planes in the three worlds, and shows forth the qualities of:

c. Con người được phân biệt bởi hoạt động trên một hay nhiều cõi trong ba cõi giới, và biểu lộ các phẩm tính của:

1. Rotary motion, or his particular cycling on the wheel of life, around his egoic pole.

1. Chuyển động quay, hay chu kỳ riêng của y trên bánh xe sự sống, quanh cực chân ngã của y.

2. Discriminative capacity, or the power to choose and gain experience.

2. Năng lực phân biện, hay quyền năng chọn lựa và thu nhận kinh nghiệm.

3. Ability to evolve, to increase vibration and to make contact.

3. Khả năng tiến hoá, gia tăng rung động và tạo tiếp xúc.

d. A man contains within himself three major principles,—will, love-wisdom, active intelligence or adaptability—and their differentiation into the seven principles. These, making the eventual ten of perfected manifestation, are in process of vitalisation, but have not yet attained full expression. Only four principles in man are active, and he is in process of developing the fifth, or manasic principle. Note how perfect is the analogy between man, viewed as the lower quaternary developing the principle of mind, and the atom with its four spirillae active; and the fifth in process of stimulation.

d. Con người chứa trong chính mình ba nguyên khí lớn,—ý chí, bác ái-minh triết, trí tuệ hoạt động hay khả năng thích ứng—và sự biến phân của chúng thành bảy nguyên khí. Những nguyên khí này, tạo nên mười nguyên khí cuối cùng của biểu hiện toàn hảo, đang trong tiến trình được tiếp sinh lực, nhưng chưa đạt đến biểu lộ đầy đủ. Chỉ có bốn nguyên khí trong con người là hoạt động, và y đang trong tiến trình phát triển nguyên khí thứ năm, hay nguyên khí manas. Hãy lưu ý sự tương đồng hoàn hảo giữa con người, được nhìn như bộ tứ thấp đang phát triển nguyên khí trí tuệ, và nguyên tử với bốn loa tuyến của nó đang hoạt động; còn loa tuyến thứ năm thì đang trong tiến trình được kích thích.

e. A man is governed by the Law of Attraction, is [Page 249] evolved through the Law of Economy, and is coming under the Law of Synthesis. Economy governs the material process with which he is not so much consciously concerned; attraction governs his connection with other units or groups, and synthesis is the law of his inner Self, of the life within the form.

e. Con người được chi phối bởi Định luật Hấp Dẫn, được [Page 249] tiến hoá qua Định luật Tiết Kiệm, và đang đi vào dưới Định luật Tổng Hợp. Tiết kiệm chi phối tiến trình vật chất mà y không hữu thức quan tâm nhiều đến thế; hấp dẫn chi phối mối liên hệ của y với các đơn vị hay nhóm khác, và tổng hợp là định luật của Ngã bên trong của y, của sự sống bên trong hình tướng.

f. Man finds his place within the group form. Egoic groups and the Heavenly Men are formed by the aggregate of human and of deva units.

f. Con người tìm thấy vị trí của mình trong hình tướng nhóm. Các nhóm chân ngã và các Đấng Thiên Nhân được hình thành bởi sự tập hợp của các đơn vị con người và thiên thần.

g. His responsiveness to outer stimulation:

g. Tính đáp ứng của y đối với kích thích bên ngoài:

a. Electrical stimulation, affecting the outer form, or pranic response.

a. Kích thích điện, tác động đến hình tướng bên ngoài, hay đáp ứng prana.

b. Magnetic stimulation, acting upon his subjective life. This emanates from his egoic group, and later from the Heavenly Man, in Whose body he is a cell.

b. Kích thích từ tính, tác động lên sự sống chủ quan của y. Điều này phát ra từ nhóm chân ngã của y, và về sau từ Đấng Thiên Nhân, trong thể của Ngài y là một tế bào.

c The united effect of these two stimulations, inducing steady growth and development.

c Hiệu quả hợp nhất của hai loại kích thích này, tạo ra sự tăng trưởng và phát triển đều đặn.

A man is distinguished therefore by:

Vì vậy con người được phân biệt bởi:

1. His spheroidal shape. His ring-pass-not is definite and seen.

1. Hình cầu của y. Vòng-giới-hạn của y xác định và có thể thấy được.

2. His internal arrangement; his entire sphere of influence is in process of development. At present that sphere is limited and his range of activity is small. As the body egoic is developed, the nucleus of life at the centre increases its radius of control until the whole is brought under rule and government.

2. Sự sắp xếp nội tại của y; toàn bộ khối cầu ảnh hưởng của y đang trong tiến trình phát triển. Hiện nay khối cầu ấy còn hạn chế và phạm vi hoạt động của y còn nhỏ. Khi thể chân ngã được phát triển, hạt nhân sự sống ở trung tâm gia tăng bán kính kiểm soát của nó cho đến khi toàn bộ được đưa vào dưới sự cai quản và điều hành.

3. His life activity or the extent to which at any given time he demonstrates self-consciousness, or controls his threefold lower nature.

3. Hoạt động sự sống của y hay mức độ mà vào bất kỳ thời điểm nào y biểu lộ ngã thức, hay kiểm soát bản chất thấp tam phân của mình.

4. His sevenfold inner economy; the development of his seven principles. [Page 250]

4. Cơ cấu nội tại thất phân của y; sự phát triển của bảy nguyên khí của y. [Page 250]

5. His eventual internal synthesis under the working of the three laws from the seven into the three and later into the one.

5. Sự tổng hợp nội tại cuối cùng của y dưới tác động của ba định luật từ bảy vào ba và về sau vào một.

6. His group relation.

6. Mối liên hệ nhóm của y.

7. His development of consciousness, of responsiveness to contact, involving therefore the growth of awareness.

7. Sự phát triển tâm thức của y, của tính đáp ứng đối với tiếp xúc, do đó bao hàm sự tăng trưởng của nhận biết.

A Heavenly Man. (103)

Một Đấng Thiên Nhân. (103)

(103) These Heavenly Men are:

(103) Các Đấng Thiên Nhân này là:

1. The sum-total of consciousness...S. D., I, 626,

1. Tổng thể của tâm thức...S. D., I, 626,

2. The Creators...S. D., I, 477, 481-485.

2. Các Đấng Sáng Tạo...S. D., I, 477, 481-485.

Compare S. D., II, 244.

So sánh S. D., II, 244.

a. They are the seven primary creations, or the taking of the etheric body by a Heavenly Man.

a. Các Ngài là bảy sáng tạo nguyên thủy, hay việc một Đấng Thiên Nhân đảm nhận thể dĩ thái.

b. They are the seven secondary creations, or the taking of the dense physical body.

b. Các Ngài là bảy sáng tạo thứ cấp, hay việc đảm nhận thể xác hồng trần đậm đặc.

Trace this in the Microcosm, and the work of the devas of the ethers in building the body.

Hãy truy nguyên điều này trong Tiểu thiên địa, và công việc của các thiên thần của dĩ thái trong việc xây dựng thể.

c. The aggregate of divine intelligence...S. D., I, 488,

c. Tổng thể của trí tuệ thiêng liêng...S. D., I, 488,

d. The mindborn Sons of Brahma...S. D., I, 493, S. D., II, 610, 618.

d. Các Con của Brahma được sinh ra từ trí tuệ...S. D., I, 493, S. D., II, 610, 618.

They are the logoic Quaternary, the Five, and the Seven.

Các Ngài là Bộ Tứ của Thượng đế, Bộ Năm, và Bộ Bảy.

e. The seven Rays...S. D., I, 561, S. D., II, 201.

e. Bảy cung...S. D., I, 561, S. D., II, 201.

They are the seven paths back to God......Spirit.

Các Ngài là bảy con đường trở về với Thượng đế......Tinh thần.

They are the seven principles metaphysically.

Về mặt siêu hình học, các Ngài là bảy nguyên khí.

They are the seven races physically.

Về mặt hồng trần, các Ngài là bảy nhân loại.

f. The Lords of ceaseless and untiring devotion...S. D., II, 92,

f. Các Đấng Chúa Tể của sự tận tụy không ngừng nghỉ và không mệt mỏi...S. D., II, 92,

g. The failures of the last system...S. D., II, 243,

g. Những thất bại của hệ thống trước...S. D., II, 243,

h. The polar opposites to the Pleiades...S. D., II, 579, 581.

h. Các cực đối nghịch với chòm Pleiades...S. D., II, 579, 581.

Our system is masculine occultly and the Pleiades is feminine.

Hệ mặt trời của chúng ta, về mặt huyền bí, là nam tính còn Pleiades là nữ tính.

A Heavenly Man in His planetary scheme creates in a similar manner. See S. D., II, 626. (back)

Một Đấng Thiên Nhân trong hệ hành tinh của Ngài sáng tạo theo cách tương tự. Xem S. D., II, 626. (trở lại)

a. Each Heavenly Man is likewise to be seen as spheroidal in shape. He has His ring-pass-not as has the atom and the man. This ring-pass-not comprises the entire planetary scheme; the dense physical globe of any one chain being analogous in His case to the physical body of any man, and to the atom on the physical plane. Each scheme of seven chains is the expression of the life of an Entity, Who occupies it, as does a man his body, for purposes of manifestation and in order to gain experience.

a. Mỗi Đấng Thiên Nhân cũng được thấy là có hình cầu. Ngài có vòng-giới-hạn của Ngài cũng như nguyên tử và con người có vòng-giới-hạn của chúng. Vòng-giới-hạn này bao gồm toàn bộ hệ hành tinh; bầu hành tinh hồng trần đậm đặc của bất kỳ dãy nào tương tự, trong trường hợp của Ngài, với thể xác của bất kỳ người nào, và với nguyên tử trên cõi hồng trần. Mỗi hệ gồm bảy dãy là biểu hiện của sự sống của một Thực Thể, Đấng cư ngụ trong đó như con người cư ngụ trong thể của mình, vì các mục đích biểu hiện và để đạt được kinh nghiệm.

[Page 251] b. A Heavenly Man contains within Himself that which corresponds to the cells within the vehicles of expression of a human being. The atoms or cells in His body are made up of the aggregate of the deva and human units who vibrate to His key note, and who respond to the measure of His life. All are held together and animated by His will to be, and all vibrate according to the point achieved by Him in evolution. From the cosmic standpoint a Heavenly Man can be seen as a sphere of wondrous life, which includes within its radius of influence the vibratory capacity of an entire planetary scheme. He vibrates to a certain measure, which can be estimated by the activity of the life pulsating at the centre of the sphere; the entire planetary scheme is tinctured by a certain color, is rotating to a fixed key which is the key of His life cycle within the still greater mahamanvantara or logoic cycle.

[Page 251] b. Một Đấng Thiên Nhân chứa trong chính Ngài điều tương ứng với các tế bào bên trong các vận cụ biểu hiện của một con người. Các nguyên tử hay tế bào trong thể của Ngài được cấu thành từ tổng thể các đơn vị thiên thần và nhân loại rung động theo chủ âm của Ngài, và đáp ứng với mức độ sự sống của Ngài. Tất cả được giữ lại với nhau và được tiếp sinh lực bởi ý chí hiện hữu của Ngài, và tất cả rung động tùy theo điểm mà Ngài đã đạt được trong tiến hoá. Từ quan điểm vũ trụ, một Đấng Thiên Nhân có thể được thấy như một khối cầu của sự sống kỳ diệu, bao gồm trong bán kính ảnh hưởng của Ngài năng lực rung động của toàn bộ một hệ hành tinh. Ngài rung động theo một mức độ nhất định, có thể được ước lượng bằng hoạt động của sự sống đang đập ở trung tâm khối cầu; toàn bộ hệ hành tinh được nhuốm một màu sắc nhất định, đang quay theo một chủ âm cố định là chủ âm của chu kỳ sự sống của Ngài bên trong đại giai kỳ sinh hóa còn lớn hơn nữa hay chu kỳ của Thượng đế.

c. A Heavenly Man is distinguished by His activity on one or other of the planes which we call the Triadal, or Atma-Buddhi-Manas, in the same way as a man is distinguished by his activity on one of the planes in the three worlds, mental-astral-physical. Eventually a man is self-conscious on all three. Eventually a Heavenly Man is fully self-conscious on the higher three. Every forward movement or increased vitality in the aggregate of men in the three worlds, is paralleled by an analogous activity on the three higher planes. The action and the interaction between the life animating the groups or the Heavenly Men, and the life animating the atoms or men who form the units in groups is both mysterious and wonderful. A Heavenly Man on His own planes likewise shows forth the qualities of:

c. Một Đấng Thiên Nhân được phân biệt bởi hoạt động của Ngài trên một hay một cõi khác trong các cõi mà chúng ta gọi là Tam nguyên tinh thần, hay Atma-Buddhi-Manas, cũng như con người được phân biệt bởi hoạt động của y trên một trong các cõi của ba cõi giới, trí tuệ-cảm dục-hồng trần. Cuối cùng con người trở nên ngã thức trên cả ba. Cuối cùng một Đấng Thiên Nhân hoàn toàn ngã thức trên ba cõi cao. Mọi chuyển động tiến tới hay sự gia tăng sinh lực trong tổng thể loài người trong ba cõi giới đều song hành với một hoạt động tương tự trên ba cõi cao. Tác động và tương tác giữa sự sống làm sinh động các nhóm hay các Đấng Thiên Nhân, và sự sống làm sinh động các nguyên tử hay những con người tạo thành các đơn vị trong các nhóm, vừa huyền nhiệm vừa kỳ diệu. Một Đấng Thiên Nhân trên các cõi riêng của Ngài cũng biểu lộ các phẩm tính sau:

Rotary motion, or His particular cycling activity around His life wheel, a planetary scheme, and thus around His egoic pole. [Page 252]

Chuyển động quay, hay hoạt động tuần hoàn đặc thù của Ngài quanh bánh xe sự sống của Ngài, một hệ hành tinh, và như thế quanh cực chân ngã của Ngài. [Page 252]

Discriminating capacity, or the power to choose and thereby gain experience. They are the embodiments of manas or the intelligent faculty (hence Their title of Divine Manasaputras) which comprehends, chooses and discards, thus attaining knowledge and self-consciousness. This manasic faculty They developed in earlier kalpas or solar systems. Their purpose is now to utilise that which is developed to bring about certain specific effects and to attain certain specific goals.

Năng lực phân biện, hay quyền năng chọn lựa và nhờ đó đạt được kinh nghiệm. Các Ngài là hiện thân của manas hay năng lực trí tuệ (do đó có danh xưng là các Divine Manasaputras) vốn thấu hiểu, chọn lựa và loại bỏ, nhờ vậy đạt được tri thức và ngã thức. Năng lực manas này Các Ngài đã phát triển trong các đại kiếp hay các hệ mặt trời trước đây. Mục đích của Các Ngài hiện nay là sử dụng điều đã được phát triển ấy để tạo ra những hiệu quả đặc thù nào đó và đạt tới những mục tiêu đặc thù nào đó.

Ability to evolve, to increase vibration, to gain knowledge, and to make contact. This increased vibration is of a gradual and evolutionary order and proceeds from centre to centre as it does in man, and as it does in the case of the atomic spirillae. Their aim is to achieve uniformity of contact with each other, and to merge eventually Their separated identities in the One Identity, retaining simultaneously full self-consciousness or individualised self-apprehension.

Khả năng tiến hoá, gia tăng rung động, đạt được tri thức, và tạo tiếp xúc. Sự gia tăng rung động này thuộc loại tiệm tiến và thăng thượng tiến hoá, và diễn ra từ trung tâm này sang trung tâm khác như nơi con người, và như trong trường hợp các loa tuyến nguyên tử. Mục tiêu của Các Ngài là đạt được sự đồng nhất trong tiếp xúc với nhau, và cuối cùng hòa nhập các bản sắc tách biệt của Các Ngài vào trong Bản Sắc Duy Nhất, đồng thời vẫn giữ trọn ngã thức hay sự tự nhận biết đã được biệt ngã hóa.

d. A Heavenly Man contains within Himself three major principles—will, love-wisdom, intelligence, and their manifestation through the seven principles so often discussed in our occult literature. These make the ten of His ultimate perfection, for the seven are resolved into the three, and the three into the one.

d. Một Đấng Thiên Nhân chứa trong chính Ngài ba nguyên khí chính—ý chí, bác ái-minh triết, trí tuệ—và sự biểu hiện của chúng qua bảy nguyên khí thường được bàn đến trong văn liệu huyền bí của chúng ta. Chúng tạo nên mười của sự toàn thiện tối hậu của Ngài, vì bảy được quy về ba, và ba quy về một.

Each Heavenly Man has, of course, His primary coloring or principle as has man and the atom. Man has for his primary coloring or principle that of the Heavenly Man in Whose body he is a unit. He has also the other two major principles (as has the Heavenly Man), and their differentiation into the seven as earlier said. The atom has for primary coloring or principle, that of the egoic ray of the human being for instance in whose body it finds place. This, of course, is in connection with the [Page 253] physical atom in a man’s body. This coloring manifests as the vibration setting the measure of the major three spirillae and the minor seven.

Mỗi Đấng Thiên Nhân dĩ nhiên có sắc thái hay nguyên khí chủ yếu của Ngài cũng như con người và nguyên tử có sắc thái hay nguyên khí chủ yếu của chúng. Con người có sắc thái hay nguyên khí chủ yếu của mình là của Đấng Thiên Nhân mà trong thể của Ngài y là một đơn vị. Y cũng có hai nguyên khí chính kia (cũng như Đấng Thiên Nhân), và sự biến phân của chúng thành bảy như đã nói trước đây. Nguyên tử có sắc thái hay nguyên khí chủ yếu là của cung chân ngã của con người chẳng hạn, trong thể của người ấy nó tìm được chỗ đứng. Điều này dĩ nhiên liên quan đến [Page 253] nguyên tử hồng trần trong thể của con người. Sắc thái này biểu lộ như rung động ấn định mức độ của ba loa tuyến chính và bảy loa tuyến phụ.

Only four principles in the Heavenly Men are as yet manifesting to any extent, though One of Them is rather in advance of the others, and has the fifth principle vibrating adequately, while certain others are in process of perfecting the fourth. The Heavenly Man of our chain is vibrating somewhat to the fifth principle, or rather is in process of awakening it to life. His fourth vibration or principle in this fourth round or cycle, and on this fourth globe, is awakened, though not functioning as it will in the fifth round. Much of the trouble present in the planet at this time arises from the coming into activity of the higher or fifth vibration, which will be completed and transcended in the next or fifth cycle. The analogy, as in man and the atom, again holds good but not in exact detail.

Cho đến nay, chỉ có bốn nguyên khí trong các Đấng Thiên Nhân đang biểu lộ ở mức độ nào đó, mặc dù Một trong Các Ngài khá tiến trước những vị khác, và có nguyên khí thứ năm rung động đầy đủ, trong khi một số vị khác đang trong tiến trình hoàn thiện nguyên khí thứ tư. Đấng Thiên Nhân của dãy chúng ta đang rung động phần nào theo nguyên khí thứ năm, hay đúng hơn đang trong tiến trình đánh thức nó vào sự sống. Rung động thứ tư hay nguyên khí thứ tư của Ngài trong cuộc tuần hoàn hay chu kỳ thứ tư này, và trên bầu hành tinh thứ tư này, đã được đánh thức, dù chưa hoạt động như nó sẽ hoạt động trong cuộc tuần hoàn thứ năm. Phần lớn khó khăn hiện có trên hành tinh vào lúc này phát sinh từ việc rung động cao hơn hay rung động thứ năm đi vào hoạt động, điều sẽ được hoàn tất và vượt qua trong chu kỳ kế tiếp hay chu kỳ thứ năm. Sự tương đồng, như nơi con người và nguyên tử, một lần nữa vẫn đúng nhưng không đúng trong chi tiết chính xác.

e. A Heavenly Man is governed by the Law of Attraction, has transcended the Law of Economy, and is rapidly coming under the Law of Synthesis. Note therefore the gradual stepping-up of the control and the fact that:

e. Một Đấng Thiên Nhân được chi phối bởi Định luật Hấp Dẫn, đã vượt qua Định luật Tiết Kiệm, và đang nhanh chóng đi vào dưới Định luật Tổng Hợp. Vì vậy, hãy lưu ý sự nâng dần mức kiểm soát và sự kiện rằng:

First. The Law of Economy is the primary law of the atom. The Law of Attraction is coming into control of the atom. The Law of Synthesis is but slightly felt by the life of the atom. It is the law of life.

Thứ nhất. Định luật Tiết Kiệm là định luật chủ yếu của nguyên tử. Định luật Hấp Dẫn đang đi vào kiểm soát nguyên tử. Định luật Tổng Hợp chỉ được sự sống của nguyên tử cảm nhận rất ít. Đó là định luật của sự sống.

Second. The Law of Attraction is the primary law of man. The Law of Economy is a secondary law for man. It governs the matter of his vehicles. The Law of Synthesis is steadily beginning to be felt.

Thứ hai. Định luật Hấp Dẫn là định luật chủ yếu của con người. Định luật Tiết Kiệm là một định luật thứ yếu đối với con người. Nó chi phối vật chất của các vận cụ của y. Định luật Tổng Hợp đang đều đặn bắt đầu được cảm nhận.

Third. The Law of Synthesis is the primary law of a Heavenly Man. The Law of Attraction has full sway. The Law of Economy is transcended.

Thứ ba. Định luật Tổng Hợp là định luật chủ yếu của một Đấng Thiên Nhân. Định luật Hấp Dẫn có toàn quyền chi phối. Định luật Tiết Kiệm đã được vượt qua.

The dense physical body is not a principle for a Heavenly Man, hence the Law of Economy is transcended. [Page 254] The Law of Attraction governs the material process of form building. The Law of Synthesis is the law of His Being.

Thể xác hồng trần đậm đặc không phải là một nguyên khí đối với một Đấng Thiên Nhân, do đó Định luật Tiết Kiệm đã được vượt qua. [Page 254] Định luật Hấp Dẫn chi phối tiến trình vật chất của việc xây dựng hình tướng. Định luật Tổng Hợp là định luật của Bản Thể Ngài.

f. A Heavenly Man is finding His place within the logoic groups, and is seeking to realise His position among the seven and by realisation to approximate unity.

f. Một Đấng Thiên Nhân đang tìm vị trí của Ngài trong các nhóm của Thượng đế, và đang tìm cách chứng nghiệm vị trí của Ngài giữa bảy vị và nhờ sự chứng nghiệm mà tiến gần đến hợp nhất.

g. His responsiveness to outer stimulation. This viewed from the limited human standpoint touches on realms unattainable by man’s intellect as yet. It deals with:

g. Khả năng đáp ứng của Ngài đối với kích thích bên ngoài. Điều này, khi được nhìn từ quan điểm hạn hẹp của con người, chạm đến những lĩnh vực mà trí tuệ con người hiện chưa thể đạt tới. Nó đề cập đến:

Electrical stimulation, and concerns the response to solar radiation, and to paralleling planetary radiation.

Kích thích điện, và liên quan đến sự đáp ứng đối với bức xạ mặt trời, và đối với bức xạ hành tinh song song.

Magnetic stimulation, acting upon His subjective life. This radiation emanates from sources outside the system altogether. We might note the following facts:

Kích thích từ tính, tác động lên sự sống chủ quan của Ngài. Bức xạ này phát ra từ những nguồn hoàn toàn ở ngoài hệ thống. Chúng ta có thể lưu ý các sự kiện sau:

Magnetic stimulation of the physical atom emanates from man on astral levels, and later from buddhic levels.

Kích thích từ tính của nguyên tử hồng trần phát ra từ con người trên các cấp độ cảm dục, và về sau từ các cấp độ Bồ đề.

Magnetic stimulation of man emanates from the Heavenly Men on buddhic, and later on monadic levels.

Kích thích từ tính của con người phát ra từ các Đấng Thiên Nhân trên các cấp độ Bồ đề, và về sau trên các cấp độ chân thần.

Magnetic stimulation of a Heavenly Man emanates extra-systemically, from the cosmic astral, the united effect of these stimulations inducing steady internal development.

Kích thích từ tính của một Đấng Thiên Nhân phát ra từ ngoài hệ thống, từ cõi cảm dục vũ trụ; hiệu quả hợp nhất của các kích thích này gây ra sự phát triển nội tại đều đặn.

A Heavenly Man is distinguished therefore by:

Vì vậy, một Đấng Thiên Nhân được phân biệt bởi:

1. His spheroidal shape. His ring-pass-not, during objectivity, is definite and seen.

1. Hình cầu của Ngài. Vòng-giới-hạn của Ngài, trong thời kỳ khách quan, là xác định và có thể thấy được.

2. His internal arrangement and His sphere of influence, or that activity animating the planetary chain.

2. Sự sắp xếp nội tại của Ngài và khối cầu ảnh hưởng của Ngài, hay hoạt động làm sinh động dãy hành tinh.

3. His spiritual life control at any given period. It is the power whereby He animates His sevenfold [Page 255] nature. Note the increase of influence as compared to man’s threefold radius.

3. Sự kiểm soát sự sống tinh thần của Ngài trong bất kỳ thời kỳ nào. Đó là quyền năng nhờ đó Ngài làm sinh động bản chất thất phân của Ngài. Hãy lưu ý sự gia tăng ảnh hưởng so với bán kính tam phân của con người. [Page 255]

4. His eventual ultimate synthesis from the seven into the three and from thence into one. This covers the obscuration of the globes, and the blending into unity of the seven principles which each globe is evolving.

4. Sự tổng hợp tối hậu cuối cùng của Ngài từ bảy vào ba và từ đó vào một. Điều này bao gồm sự che khuất của các bầu hành tinh, và sự hòa nhập vào hợp nhất của bảy nguyên khí mà mỗi bầu hành tinh đang tiến hoá.

5. His evolution under Law and consequent development.

5. Sự tiến hoá của Ngài dưới Định luật và sự phát triển hệ quả.

6. His group relation.

6. Quan hệ nhóm của Ngài.

7. His development of consciousness and of awareness.

7. Sự khai mở tâm thức và nhận biết của Ngài.

Finally, we must extend these ideas to a solar Logos, and see how completely the analogy persists. The paragraphs dealing with stimulation, magnetic and electric, inevitably brings us back to the contemplation of fire, the basis and source of all life.

Sau cùng, chúng ta phải mở rộng các ý tưởng này đến một Thái dương Thượng đế, và thấy sự tương đồng được duy trì trọn vẹn đến mức nào. Các đoạn bàn về kích thích, từ tính và điện, tất yếu đưa chúng ta trở lại với việc chiêm ngưỡng lửa, nền tảng và nguồn gốc của mọi sự sống.

A Solar Logos.

Một Thái dương Thượng đế.

a. A solar Logos, the Grand Man of the Heavens, is equally spheroidal in shape. His ring-pass-not comprises the entire circumference of the solar system, and all that is included within the sphere of influence of the Sun. The Sun holds a position analogous to the nucleus of life at the centre of the atom. This sphere comprises within its periphery the seven planetary chains with the synthesising three, making the ten of logoic manifestation. The Sun is the physical body of the solar Logos, His body of manifestation, and His life sweeps cycling through the seven schemes in the same sense as the life of a planetary Logos sweeps seven times around His scheme of seven chains. Each chain holds a position analogous to a globe in a planetary chain. Note the beauty of the correspondence, yet withal the lack of detailed analogy. (S.D., I, 136)

a. Một Thái dương Thượng đế, Đại Thiên Nhân của các cõi trời, cũng có hình cầu. Vòng-giới-hạn của Ngài bao gồm toàn bộ chu vi của hệ mặt trời, và tất cả những gì được bao hàm trong khối cầu ảnh hưởng của Mặt Trời. Mặt Trời giữ một vị trí tương tự như hạt nhân của sự sống ở trung tâm nguyên tử. Khối cầu này bao gồm trong chu vi của nó bảy dãy hành tinh cùng với ba dãy tổng hợp, tạo thành mười của biểu hiện của Thượng đế. Mặt Trời là thể xác hồng trần của Thái dương Thượng đế, thể biểu hiện của Ngài, và sự sống của Ngài quét theo chu kỳ qua bảy hệ hành tinh theo cùng ý nghĩa như sự sống của một Hành Tinh Thượng đế quét bảy lần quanh hệ của Ngài gồm bảy dãy. Mỗi dãy giữ một vị trí tương tự như một bầu hành tinh trong một dãy hành tinh. Hãy lưu ý vẻ đẹp của sự tương ứng, nhưng đồng thời cũng lưu ý sự thiếu vắng tương đồng chi tiết. (S.D., I, 136)

b. A solar Logos contains within Himself, as the atoms in His body of manifestation, all groups of every kind, [Page 256] from the involutionary group-soul to the egoic groups on the mental plane. He has (for the animating centres of His body) the seven major groups or the seven Heavenly Men, who ray forth Their influence to all parts of the logoic sphere, and who embody within Themselves all lesser lives, the lesser groups, human and deva units, cells, atoms and molecules.

b. Một Thái dương Thượng đế chứa trong chính Ngài, như các nguyên tử trong thể biểu hiện của Ngài, mọi nhóm thuộc mọi loại, [Page 256] từ hồn nhóm giáng hạ tiến hoá đến các nhóm chân ngã trên cõi trí. Ngài có (làm các trung tâm sinh động của thể Ngài) bảy nhóm chính hay bảy Đấng Thiên Nhân, các Ngài phát ra ảnh hưởng của mình đến mọi phần của khối cầu của Thượng đế, và hiện thân trong chính Các Ngài mọi sự sống nhỏ hơn, các nhóm nhỏ hơn, các đơn vị nhân loại và thiên thần, các tế bào, nguyên tử và phân tử.

Seen from cosmic levels, the sphere of the Logos can be visualised as a vibrating ball of fire of supernal glory, containing within its circle of influence, the planetary spheres likewise vibrating balls of fire. The Grand Man of the Heavens vibrates to a steadily increasing measure; the entire system is tinctured by a certain color,—the color of the life of the Logos, the One Divine Ray; and the system rotates to a certain measure, which is the key of the great kalpa or solar cycle, and revolves around its central solar pole.

Được nhìn từ các cấp độ vũ trụ, khối cầu của Thượng đế có thể được hình dung như một quả cầu lửa rung động với vinh quang thiên thượng, chứa trong vòng ảnh hưởng của nó các khối cầu hành tinh cũng là những quả cầu lửa rung động. Đại Thiên Nhân của các cõi trời rung động theo một mức độ tăng dần đều đặn; toàn bộ hệ thống được nhuốm một màu sắc nhất định,—màu sắc của sự sống của Thượng đế, Cung Thiêng Liêng Duy Nhất; và hệ thống quay theo một mức độ nhất định, là chủ âm của đại kiếp hay chu kỳ mặt trời, và xoay quanh cực mặt trời trung tâm của nó.

c. The solar Logos is distinguished by His activity on all the planes of the solar system; He is the sumtotal of all manifestation, from the lowest and densest physical atom up to the most radiant and cosmic ethereal Dhyan Chohan. This sevenfold vibratory measure is the key of the lowest cosmic plane, and its rate of rhythm can be felt on the cosmic astral, with a faint response on the cosmic mental. Thus the life of the logoic existence on cosmic levels, may be seen paralleling the life of a man in the three worlds, the lowest of the systemic planes.

c. Thái dương Thượng đế được phân biệt bởi hoạt động của Ngài trên mọi cõi của hệ mặt trời; Ngài là tổng thể của mọi biểu hiện, từ nguyên tử hồng trần thấp nhất và đậm đặc nhất cho đến vị Dhyan Chohan dĩ thái vũ trụ rực rỡ nhất. Mức độ rung động thất phân này là chủ âm của cõi vũ trụ thấp nhất, và nhịp điệu của nó có thể được cảm nhận trên cõi cảm dục vũ trụ, với một đáp ứng mờ nhạt trên cõi trí vũ trụ. Như vậy, sự sống của tồn tại của Thượng đế trên các cấp độ vũ trụ có thể được thấy là song hành với sự sống của con người trong ba cõi giới, tức các cõi thấp nhất của hệ thống.

On His own planes the Logos likewise shows forth:

Trên các cõi riêng của Ngài, Thượng đế cũng biểu lộ:

First. Rotary motion. His life as it cycles through a day of Brahma, can be seen spiralling around His greater wheel, the ten schemes of a solar system.

Thứ nhất. Chuyển động quay. Sự sống của Ngài, khi tuần hoàn qua một ngày của Brahma, có thể được thấy đang xoắn ốc quanh bánh xe lớn hơn của Ngài, mười hệ hành tinh của một hệ mặt trời.

Second. Discriminatory capacity. His first act, as we know, was to discriminate or choose the matter he needed for manifestation. That choice was controlled by: [Page 257]

Thứ hai. Năng lực phân biện. Hành động đầu tiên của Ngài, như chúng ta biết, là phân biện hay chọn lựa vật chất mà Ngài cần cho biểu hiện. Sự chọn lựa đó được kiểm soát bởi: [Page 257]

Cosmic Karma.

Nghiệp quả vũ trụ.

Vibratory capacity.

Năng lực rung động.

Responsive coloring or quality.

Sắc thái hay phẩm tính đáp ứng.

Numerical factors involved in cosmic mathematics.

Các yếu tố số học liên quan trong toán học vũ trụ.

He is the embodiment of cosmic manas, and through the use of this faculty He seeks—by means of animated form—to build into His cosmic causal body, a paralleling quality of love-wisdom.

Ngài là hiện thân của manas vũ trụ, và thông qua việc sử dụng năng lực này, Ngài tìm cách—bằng phương tiện hình tướng được làm sinh động—xây dựng vào thể nguyên nhân vũ trụ của Ngài một phẩm tính tương ứng của bác ái-minh triết.

Third. Ability to progress, to increase vibration, and to gain full self-consciousness on cosmic levels.

Thứ ba. Khả năng tiến bộ, gia tăng rung động, và đạt được ngã thức trọn vẹn trên các cấp độ vũ trụ.

d. The solar Logos contains within Himself the three major principles or aspects, and their differentiation into seven principles. These make the ten of His ultimate perfection and are eventually synthesised into the one perfected principle of love-wisdom. This ultimate principle is His primary coloring. Each principle is embodied in one of the schemes, and is being worked out through one of the Heavenly Men. Only four principles are as yet manifested to any extent, for the evolution of the Logos parallels that of the Heavenly Men.

d. Thái dương Thượng đế chứa trong chính Ngài ba nguyên khí hay phương diện chính, và sự biến phân của chúng thành bảy nguyên khí. Chúng tạo nên mười của sự toàn thiện tối hậu của Ngài và cuối cùng được tổng hợp vào một nguyên khí toàn thiện duy nhất là bác ái-minh triết. Nguyên khí tối hậu này là sắc thái chủ yếu của Ngài. Mỗi nguyên khí được hiện thân trong một hệ hành tinh, và đang được triển khai qua một trong các Đấng Thiên Nhân. Cho đến nay, chỉ có bốn nguyên khí được biểu lộ ở mức độ nào đó, vì sự tiến hoá của Thượng đế song hành với sự tiến hoá của các Đấng Thiên Nhân.

e. The solar Logos is governed by the Law of Synthesis. He holds all in synthetic unity or homogeneity. His subjective life is governed by the Law of Attraction; His material form is governed by the Law of Economy. He is coming under another cosmic law as yet incomprehensible to men, which law is but revealed to the highest initiates.

e. Thái dương Thượng đế được chi phối bởi Định luật Tổng Hợp. Ngài giữ mọi sự trong hợp nhất tổng hợp hay tính đồng nhất. Sự sống chủ quan của Ngài được chi phối bởi Định luật Hấp Dẫn; hình tướng vật chất của Ngài được chi phối bởi Định luật Tiết Kiệm. Ngài đang đi vào dưới một định luật vũ trụ khác mà con người hiện chưa thể hiểu được, định luật này chỉ được mặc khải cho các điểm đạo đồ cao nhất.

f. The solar Logos is in process of ascertaining His place within the greater system in which He holds a place analogous to that of a Heavenly Man in a solar system. He seeks first to find the secret of His own existence, and to achieve full Self-Consciousness; secondly to ascertain the position and place of His polar opposite; thirdly to [Page 258] merge and blend with that polar opposite. This is the cosmic marriage of the Logos.

f. Thái dương Thượng đế đang trong tiến trình xác định vị trí của Ngài trong hệ thống lớn hơn, trong đó Ngài giữ một vị trí tương tự như vị trí của một Đấng Thiên Nhân trong một hệ mặt trời. Ngài tìm cách trước hết khám phá bí mật của chính sự tồn tại của Ngài, và đạt được trọn vẹn Ngã-Thức; thứ hai xác định vị trí và chỗ đứng của cực đối nghịch của Ngài; thứ ba hòa nhập [Page 258] và dung hợp với cực đối nghịch đó. Đây là cuộc hôn phối vũ trụ của Thượng đế.

g. A solar Logos is distinguished by His responsiveness to outer stimulation. This concerns itself with:

g. Một Thái dương Thượng đế được phân biệt bởi khả năng đáp ứng của Ngài đối với kích thích bên ngoài. Điều này liên quan đến:

Electrical stimulation or His response to electrical fohatic force emanating from other stellar centres, and controlling largely the action of our system and its movements in space in relation to other constellations.

Kích thích điện hay sự đáp ứng của Ngài đối với mãnh lực điện fohat phát ra từ các trung tâm tinh tú khác, và phần lớn kiểm soát hoạt động của hệ thống chúng ta cùng các chuyển động của nó trong không gian trong tương quan với các chòm sao khác.

Magnetic stimulation, acting upon His subjective Life, and emanating from certain cosmic centres hinted at in the Secret Doctrine. These find their source on cosmic buddhic levels.

Kích thích từ tính, tác động lên Sự sống chủ quan của Ngài, và phát ra từ một số trung tâm vũ trụ được ám chỉ trong Giáo Lý Bí Nhiệm. Chúng tìm thấy nguồn của mình trên các cấp độ Bồ đề vũ trụ.

It is their united effect which induces steady development.

Chính hiệu quả hợp nhất của chúng gây ra sự phát triển đều đặn.

The solar Logos is distinguished

Thái dương Thượng đế được phân biệt

1. By the spheroidicity of His manifesting existence. His solar ring-pass-not is definite and seen. This can only be demonstrated as yet by the endeavour to ascertain the extent of the subjective control, by the measure of the solar sphere of influence, or the magnetic attraction of the Sun to other lesser bodies which it holds in circular motion around itself.

1. Bởi tính hình cầu của sự tồn tại biểu hiện của Ngài. Vòng-giới-hạn mặt trời của Ngài là xác định và có thể thấy được. Điều này hiện nay chỉ có thể được chứng minh bằng nỗ lực xác định mức độ của sự kiểm soát chủ quan, bằng thước đo khối cầu ảnh hưởng mặt trời, hay lực hút từ tính của Mặt Trời đối với các thiên thể nhỏ hơn khác mà nó giữ trong chuyển động tròn quanh chính nó.

2. By the activity of the life animating the ten schemes.

2. Bởi hoạt động của sự sống làm sinh động mười hệ hành tinh.

3. By the extent of the control exerted by the Logos at any given period.

3. Bởi mức độ kiểm soát được Thượng đế vận dụng trong bất kỳ thời kỳ nào.

4. By the ultimate synthesis of the seven schemes into three and thence into one. This covers the obscuration of the schemes and the unification of the seven principles which they embody.

4. Bởi sự tổng hợp tối hậu của bảy hệ hành tinh vào ba và từ đó vào một. Điều này bao gồm sự che khuất của các hệ hành tinh và sự hợp nhất của bảy nguyên khí mà chúng hiện thân.

5. By His subjection to the Law of His Being.

5. Bởi sự phục tùng của Ngài đối với Định luật của Bản Thể Ngài.

6. By His group relation.

6. Bởi quan hệ nhóm của Ngài.

7. By His unfoldment of Consciousness, the time factor [Page 259] being controlled by the measure of the unfoldment of all the conscious units in His body.

7. Bởi sự khai mở Tâm thức của Ngài, yếu tố thời gian [Page 259] được kiểm soát bởi mức độ khai mở của mọi đơn vị có tâm thức trong thể Ngài.

Here we have traced very briefly some of the analogies between the four factors earlier mentioned, and have in a cursory way answered the question. These points, if dwelt upon, will be found of real assistance in developing the mental appreciation of the student, and in increasing his apprehension of the beauty of the entire solar scheme.

Ở đây chúng ta đã truy theo rất vắn tắt một số tương đồng giữa bốn yếu tố đã được nêu trước đó, và theo cách khái lược đã trả lời câu hỏi. Những điểm này, nếu được suy ngẫm, sẽ được thấy là thật sự hữu ích trong việc phát triển sự lĩnh hội trí tuệ của đạo sinh, và trong việc gia tăng sự nhận thức của y về vẻ đẹp của toàn bộ hệ mặt trời.

VI. WHAT IS THE MIND ASPECT? WHY IS THE MANASIC PRINCIPLE OF SUCH IMPORTANCE? WHO ARE THE MANASAPUTRAS? — VI. PHƯƠNG DIỆN TRÍ TUỆ LÀ GÌ? TẠI SAO NGUYÊN KHÍ MANAS LẠI QUAN TRỌNG ĐẾN THẾ? CÁC MANASAPUTRAS LÀ AI?

We are now to touch upon the profoundest mystery of the whole manifested solar system—the mystery spoken of by H. P. B. as the mystery of electricity. (S.D., I, 439,221,107 It is intimately connected with the life of God as demonstrated through His seven Centres, the seven Heavenly Men, the Divine Manasaputras. This problem is not soluble as yet exoterically and but little can be revealed to the general public. This is for three reasons:

Giờ đây chúng ta sẽ chạm đến huyền nhiệm sâu xa nhất của toàn bộ hệ mặt trời biểu hiện—huyền nhiệm được H. P. B. nói đến như huyền nhiệm của điện. (S.D., I, 439,221,107 Nó liên hệ mật thiết với sự sống của Thượng đế như được biểu lộ qua bảy Trung tâm của Ngài, bảy Đấng Thiên Nhân, các Divine Manasaputras. Vấn đề này hiện chưa thể được giải quyết một cách ngoại môn và chỉ có thể được tiết lộ rất ít cho công chúng nói chung. Điều này là vì ba lý do:

First, the stage reached by man does not permit of his correct apprehension of these abstractions.

Thứ nhất, giai đoạn mà con người đã đạt tới không cho phép y lĩnh hội đúng đắn các trừu tượng này.

Second, the greater part of the possible explanation is only revealed to initiates who have passed the third Initiation, and even to them in a carefully guarded manner.

Thứ hai, phần lớn lời giải thích khả dĩ chỉ được tiết lộ cho các điểm đạo đồ đã vượt qua lần điểm đạo thứ ba, và ngay cả với họ cũng theo một cách được canh giữ cẩn mật.

Third, the revelation of the close connection between mind and fohat or energy, or between thought power and electrical phenomena—the effect of fohatic impulse on matter—is fraught with peril, and the missing link (if so it might be termed) in the chain of reasoning from phenomena to its initiatory impulse, can only be safely imparted when the bridge between higher and lower mind, is adequately constructed. When the lower is under the control of the higher, or when the quaternary is merging into the triad, then man can be trusted with the remaining [Page 260] four fundamentals. Three of these fundamentals are laid down for us in the Proem of the Secret Doctrine, (I, 42-44) and with the evolving concept of psychology, make the revealed three and the dawning fourth. The other three are esoteric and must remain so until each man has for himself worked at his spiritual development, built the bridge between the higher and the lower mind, prepared the shrine in the temple of Solomon for the Light of God, and turned his activities into altruistic helping of the evolutionary plans of the Logos.

Thứ ba, sự mặc khải về mối liên hệ mật thiết giữa trí tuệ và fohat hay năng lượng, hay giữa quyền năng tư tưởng và các hiện tượng điện—hiệu quả của xung động fohat lên vật chất—chứa đầy hiểm nguy, và mắt xích còn thiếu (nếu có thể gọi như vậy) trong chuỗi lý luận từ hiện tượng đến xung lực điểm đạo của nó, chỉ có thể được truyền đạt một cách an toàn khi cây cầu giữa thượng trí và hạ trí được xây dựng đầy đủ. Khi cái thấp hơn ở dưới sự kiểm soát của cái cao hơn, hay khi bộ tứ đang hòa nhập vào tam nguyên tinh thần, khi ấy con người mới có thể được tin cậy để nhận bốn nền tảng còn lại [Page 260]. Ba trong số các nền tảng này đã được đặt ra cho chúng ta trong Lời Mở Đầu của Giáo Lý Bí Nhiệm, (I, 42-44) và cùng với khái niệm đang tiến hoá của tâm lý học, tạo nên ba điều đã được mặc khải và điều thứ tư đang ló rạng. Ba điều kia là nội môn và phải vẫn như vậy cho đến khi mỗi người tự mình nỗ lực cho sự phát triển tinh thần của mình, xây dựng cây cầu giữa thượng trí và hạ trí, chuẩn bị điện thờ trong đền Solomon cho Ánh sáng của Thượng đế, và chuyển các hoạt động của mình thành sự trợ giúp vị tha cho các kế hoạch tiến hoá của Thượng đế.

When these qualities are assuming a foremost place and when man has demonstrated the thoroughness of his will to serve, then the clue will be put into his hands and he will find the method whereby electrical impulse, demonstrating as heat, light and motion, is controlled and utilised; he will discover the source of the initial impulse from extra-systemic centres, and discover the basic rhythm. Then, and only then, will he be a truly intelligent co-operator, and (escaping from the control of the Law in the three worlds) wield the law himself within the lower spheres.

Khi các phẩm tính này đang chiếm vị trí hàng đầu và khi con người đã chứng tỏ tính triệt để của ý chí phụng sự của mình, khi ấy đầu mối sẽ được đặt vào tay y và y sẽ tìm ra phương pháp nhờ đó xung lực điện, biểu lộ thành nhiệt, ánh sáng và chuyển động, được kiểm soát và sử dụng; y sẽ khám phá nguồn của xung lực ban đầu từ các trung tâm ngoài hệ thống, và khám phá nhịp điệu căn bản. Khi ấy, và chỉ khi ấy, y mới là một cộng tác viên thật sự thông tuệ, và (thoát khỏi sự kiểm soát của Định luật trong ba cõi giới) tự mình vận dụng định luật trong các khối cầu thấp hơn.

1. The Nature of Manifestation.

1. Bản chất của Biểu hiện.

Here are three important questions to be dealt with as one, all bearing on the same subject, and all concerned with the fact of intelligent objectivity itself. Perhaps if we paraphrased the threefold query, and brought it down to microcosmic objectivity, the problem might not appear so complex. We might express it thus:

Ở đây có ba câu hỏi quan trọng cần được bàn đến như một, tất cả đều liên quan đến cùng một chủ đề, và tất cả đều gắn với chính sự kiện khách quan tính thông tuệ. Có lẽ nếu chúng ta diễn đạt lại câu hỏi tam phân này, và đưa nó xuống khách quan tính của tiểu thiên địa, thì vấn đề có thể sẽ không có vẻ phức tạp đến thế. Chúng ta có thể diễn đạt như sau:

What is the thought aspect of a human being? Why is his mind and mental process of such importance? Who is the Thinker?

Phương diện tư tưởng của một con người là gì? Tại sao trí tuệ và tiến trình trí tuệ của y lại quan trọng đến thế? Ai là Nhà Tư Tưởng?

Man, in essential essence, is the higher triad demonstrating through a gradually evolving form, the egoic or causal body, and utilising the lower threefold personality [Page 261] as a means to contact the lower three planes. All this has for purpose the development of perfect self-consciousness. Above the triad stands the Monad or the Father in Heaven—a point of abstraction to man as he views the subject from the physical plane. The Monad stands to him in the position of the Absolute, in the same sense as the undifferentiated Logos stands to the threefold Trinity, to the three Persons of logoic manifestation. The parallel is exact.

Con người, trong tinh túy cốt yếu, là tam nguyên tinh thần cao biểu lộ qua một hình tướng tiến hoá dần dần, thể chân ngã hay thể nguyên nhân, và sử dụng phàm ngã tam phân thấp hơn [Page 261] như một phương tiện để tiếp xúc với ba cõi thấp. Tất cả điều này nhằm mục đích phát triển ngã thức hoàn hảo. Bên trên tam nguyên tinh thần là Chân thần hay Đức Cha trên Trời—một điểm trừu tượng đối với con người khi y nhìn chủ đề này từ cõi hồng trần. Chân thần đứng đối với y ở vị trí của Tuyệt Đối, theo cùng ý nghĩa như Thượng đế không phân hóa đứng đối với Ba Ngôi tam phân, đối với ba Ngôi Vị của biểu hiện của Thượng đế. Sự song hành là chính xác.

1. The Monad.

1. Chân thần.

2. The threefold Triad, Atma-Buddhi-Manas, or spiritual will, intuition, and higher mind.

2. Tam nguyên tinh thần tam phân, Atma-Buddhi-Manas, hay ý chí tinh thần, trực giác, và thượng trí.

3. The body egoic or the causal body, the shrine for the buddhic principle. This body is to be built by the power of the mind. It is the manifestation of the three.

3. Thể chân ngã hay thể nguyên nhân, điện thờ cho nguyên khí Bồ đề. Thể này phải được xây dựng bằng quyền năng của trí tuệ. Nó là biểu hiện của bộ ba.

4. The threefold lower nature, the points of densest objectivity.

4. Bản chất thấp tam phân, các điểm của khách quan tính đậm đặc nhất.

5. This threefold lower nature is in essence a quaternary—the etheric vehicle, animating life or prana, kama-manas, and lower mind. Manas or the fifth principle, forms the link between the lower and the higher. (S.D., I, 107)

5. Bản chất thấp tam phân này về bản chất là một bộ tứ—vận cụ dĩ thái, sự sống làm sinh động hay prana, kama-manas, và hạ trí. Manas hay nguyên khí thứ năm tạo thành mắt xích giữa cái thấp hơn và cái cao hơn. (S.D., I, 107)

We have, therefore, our lower four, our higher three, and the relation between them, the principle of mind. Here we have the seven formed by the union of the three and the four, and another factor, making eight. The ultimate seven will be seen when buddhi and manas are merged. Much has been hinted at in certain of our occult books about the eighth sphere. I would suggest that in this linking factor of intelligent mind, we have a clue to the mystery. When mind becomes unduly developed and ceases to unite the higher and the lower, it forms a sphere of its own. This is the greatest disaster that can overtake the human unit.[Page 262]

Vì vậy, chúng ta có bốn thấp của mình, ba cao của mình, và mối liên hệ giữa chúng, nguyên khí trí tuệ. Ở đây chúng ta có bảy được hình thành bởi sự hợp nhất của ba và bốn, và một yếu tố khác, tạo thành tám. Bảy tối hậu sẽ được thấy khi buddhi và manas được hòa nhập. Trong một số sách huyền bí của chúng ta đã có nhiều ám chỉ về khối cầu thứ tám. Tôi muốn gợi ý rằng trong yếu tố liên kết này của trí tuệ thông tuệ, chúng ta có một đầu mối cho huyền nhiệm ấy. Khi trí tuệ trở nên phát triển quá mức và không còn hợp nhất cái cao hơn với cái thấp hơn, nó tạo thành một khối cầu của riêng nó. Đây là tai họa lớn nhất có thể xảy đến cho đơn vị nhân loại.[Page 262]

Therefore we have:

Vì vậy chúng ta có:

Monad, the microcosmic absolute.

Chân thần, tuyệt đối của tiểu thiên địa.

Pure Spirit.

Tinh thần thuần túy.

The one and only.

Đấng duy nhất và độc nhất.

The monadic trinity.

Bộ ba chân thần.