← A Treatise on Cosmic Fire All

First aspect

First aspect

Atma or spiritual will.

Second aspect.

Buddhi, the Christ principle.

Third aspect

Manas, or higher mind.

The Son aspect in objectivity.

Phương diện Con trong khách quan tính.

The body egoic or causal body.

Thể chân ngã hay thể nguyên nhân.

The lower quaternary.

Bộ tứ thấp.

1. The mental body.

3. Prana, or vital energy.

2. The astral or emotional body. (108)

4. Etheric body

The microcosm reproduces the solar system in miniature. The above deals with the objective forms, corresponding to the sun and the seven sacred planets. But the exoteric form is paralleled by a psychic development which we call the seven principles. Man develops seven principles, which might be enumerated as follows:

Tiểu thiên địa tái tạo hệ mặt trời trong dạng thu nhỏ. Phần trên đề cập đến các hình tướng khách quan, tương ứng với mặt trời và bảy hành tinh thiêng liêng. Nhưng hình thức ngoại môn được song hành bởi một sự phát triển thông linh mà chúng ta gọi là bảy nguyên khí. Con người phát triển bảy nguyên khí, có thể được liệt kê như sau:

MICROCOSMIC PRINCIPLES (109)

CÁC NGUYÊN KHÍ CỦA TIỂU THIÊN ĐỊA (109)

(109) 1. There are two main cosmic principles in nature:—

(109) 1. Trong thiên nhiên có hai nguyên khí vũ trụ chính:—

a. Active and passive, male and female.—S. D., II, 556. I, 46.

a. Chủ động và thụ động, nam và nữ.—S. D., II, 556. I, 46.

b. Buddhi and mahat. See also S. D., I, 357. II, 649. III, 273.

b. Buddhi và mahat. Xem thêm S. D., I, 357. II, 649. III, 273.

2. These higher principles united produce the three and the seven.—S. D., I, 46.

2. Các nguyên khí cao này hợp nhất tạo ra bộ ba và bộ bảy.—S. D., I, 46.

a. They are called the three Rays of Essence and the four Aspects.—S. D., I, 147.

a. Chúng được gọi là ba Cung của Tinh Túy và bốn Phương diện.—S. D., I, 147.

b. They can be called the three Vehicles with their three Aspects and Atma.—S. D., I, 182.

b. Chúng có thể được gọi là ba Vận cụ với ba Phương diện của chúng và Atma.—S. D., I, 182.

c. They are also called the three-tongued Flame of the Four Wicks.—S. D., I, 257.

c. Chúng cũng được gọi là Ngọn Lửa ba lưỡi của Bốn Tim Đèn.—S. D., I, 257.

This is true cosmically and humanly.

Điều này đúng cả về mặt vũ trụ lẫn nhân loại.

The Principles of the Logos.... the seven Planetary Logoi.—S. D., I, 358, 365.

Các Nguyên khí của Thượng đế.... bảy Hành Tinh Thượng đế.—S. D., I, 358, 365.

The Principles of the planetary Logos.... The vehicle called a chain.—S. D., I, 194, 196. II, 626.

Các Nguyên khí của Hành Tinh Thượng đế.... Vận cụ được gọi là một dãy.—S. D., I, 194, 196. II, 626.

The Principles of man.... The different vehicles. Note also:—S. D., I, 176, 177. II, 630, 631. I, 189.

Các Nguyên khí của con người.... Các vận cụ khác nhau. Cũng lưu ý:—S. D., I, 176, 177. II, 630, 631. I, 189.

Summation:—S. D., III, 475.

Tóm lược:—S. D., III, 475.

3. Cosmic Ideation, focussed in a principle results as the consciousness of the individual.—S. D., I, 351.

3. Ý niệm Vũ trụ, được tập trung trong một nguyên khí, tạo ra tâm thức của cá nhân.—S. D., I, 351.

a. Appropriation by the individual of a vehicle produces a display of energy of any particular plane. This energy will be of a peculiar colour and quality, according to the plane involved.

a. Việc cá nhân chiếm dụng một vận cụ tạo ra sự biểu lộ năng lượng của bất kỳ cõi đặc thù nào. Năng lượng này sẽ có màu sắc và phẩm tính đặc biệt, tùy theo cõi liên quan.

4. The seven principles are the manifestation of the one Flame.—S. D., 45. III, 374.

4. Bảy nguyên khí là biểu hiện của một Ngọn Lửa.—S. D., 45. III, 374.

Note also the function of the Gods in furnishing man with his principles. S. D., I, 308. (back)

Cũng lưu ý chức năng của các Thượng đế trong việc cung cấp cho con người các nguyên khí của y. S. D., I, 308. (trở lại)

Two higher principles:

Hai nguyên khí cao hơn:

1. Active intelligence.

1. Trí tuệ chủ động.

2. Latent love-wisdom.

2. Bác ái-minh triết tiềm ẩn.

[Page 263] (The psychic nature of the Monad is twofold.)

[Page 263] (Bản chất thông linh của Chân thần là nhị phân.)

1. The principle of atma. Spiritual nature. Will.

1. Nguyên khí atma. Bản chất tinh thần. Ý chí.

2. The principle of buddhi. Love nature. Wisdom.

2. Nguyên khí buddhi. Bản chất bác ái. Minh triết.

3. The principle of manas. Intelligence nature, Activity.

3. Nguyên khí manas. Bản chất trí tuệ, Hoạt động.

Note here that the three principles in terms of the Triad with the two synthesising principles on the plane of the Monad, make five principles and give the key to H. P. B.’s numbering in certain places. We might express it thus:

Hãy lưu ý ở đây rằng ba nguyên khí xét theo Tam nguyên tinh thần cùng với hai nguyên khí tổng hợp trên cõi của Chân thần tạo thành năm nguyên khí và cho chìa khóa đối với cách đánh số của H. P. B. ở một số chỗ. Chúng ta có thể diễn đạt như sau:

I.

The Absolute

The Monad.

II.

1. Prakriti

Active intelligence. The Divine Manasaputra.

2. Purusha

Love-Wisdom. The Vishnu aspect.

On the plane of objectivity.

Trên cõi khách quan tính.

III

3. Atma

The Triad.

4. Buddhi

The Triad.

5. Manas

The Triad.

rom the standpoint of evolution we regard the higher two and the highest one as the correspondence to the Absolute as He manifests in duality. This is prior to objectivity, which requires the presence of the three. In manifestation we might regard the principles as follows: [Page 264]

Từ quan điểm tiến hoá, chúng ta xem hai nguyên khí cao hơn và một nguyên khí cao nhất là sự tương ứng với Tuyệt Đối khi Ngài biểu lộ trong nhị nguyên tính. Điều này có trước khách quan tính, vốn đòi hỏi sự hiện diện của bộ ba. Trong biểu hiện, chúng ta có thể xem các nguyên khí như sau: [Page 264]

First Principle

The sphere of manifestation, the monadic egg.

The sphere of manifestation, the monadic egg.

Second Principle

Atma

Will.

Third Principle

Buddhi

Pure reason, wisdom.

Fourth Principle

Manas

Pure mind, higher mind.

Fifth Principle

Manas

Lower mind.

Sixth Principle

Kama-manas

Seventh Principle

Pure emotion, or feeling.

These are the principles for the microcosm viewed as having transcended the physical bodies altogether, and thus the tabulation deals entirely with the subjective life, or the development of the psyche or soul.

Đây là các nguyên khí của tiểu thiên địa khi được nhìn như đã vượt hẳn các thể xác hồng trần, và như vậy bảng liệt kê này hoàn toàn đề cập đến sự sống chủ quan, hay sự phát triển của tâm linh hay linh hồn.

This should be borne carefully in mind else confusion will ensue. In our enumeration we are here dealing with subjectivity and not with form. We have, therefore, considered:

Điều này cần được ghi nhớ cẩn thận, nếu không sự lẫn lộn sẽ xảy ra. Trong sự liệt kê của chúng ta, ở đây chúng ta đang đề cập đến tính chủ quan chứ không phải hình tướng. Vì vậy, chúng ta đã xét đến:

a.

Sevenfold objectivity

the material forms.

b.

Sevenfold subjectivity

the psychic evolution.

c.

Sevenfold spirituality

the life of the Entity.

We will note also that in the tabulation of the spiritual life of the Monad we considered it as fivefold. This was necessarily so in this fivefold evolution, but the remaining two principles might be considered as:

Chúng ta cũng sẽ lưu ý rằng trong bảng liệt kê về sự sống tinh thần của Chân thần, chúng ta đã xem nó là ngũ phân. Điều này tất yếu là như vậy trong sự tiến hoá ngũ phân này, nhưng hai nguyên khí còn lại có thể được xem là:

6. The life of the Heavenly Man in Whose body the human Monad finds a place.

6. Sự sống của Đấng Thiên Nhân mà trong thể của Ngài Chân thần nhân loại tìm được chỗ đứng.

7. The life of the Logos in Whose body the Heavenly Man finds place.

7. Sự sống của Thượng đế mà trong thể của Ngài Đấng Thiên Nhân tìm được chỗ đứng.

It might be useful here to consider another enumeration of the principles of man (110) as he manifests in the [Page 265] three worlds, the planes whereon the subjective and the objective are united. What have we there? Let us begin where man begins, with the lowest:

Ở đây có thể hữu ích nếu xét đến một cách liệt kê khác về các nguyên khí của con người (110) khi y biểu lộ trong [Page 265] ba cõi giới, các cõi nơi chủ quan và khách quan được hợp nhất. Ở đó chúng ta có gì? Hãy bắt đầu từ nơi con người bắt đầu, với cái thấp nhất:

(110) Enumeration of the Principles.—S. D., II, 627, 631.

(110) Sự liệt kê các Nguyên khí.—S. D., II, 627, 631.

1st Principle....... Dense physical body. Sthula Sharira.

Nguyên khí thứ 1....... Thể xác hồng trần đậm đặc. Sthula Sharira.

2nd Principle.......Etheric body. Linga Sharira.

Nguyên khí thứ 2.......Thể dĩ thái. Linga Sharira.

3rd Principle....... Prana. Vital energy.

Nguyên khí thứ 3....... Prana. Năng lượng sinh lực.

4th Principle....... Kama-rupa. The energy of desire. —S. D., I, 136.

Nguyên khí thứ 4....... Kama-rupa. Năng lượng của dục vọng. —S. D., I, 136.

(These are the lower four principles.)

(Đây là bốn nguyên khí thấp.)

5th Principle....... Manas. The energy of thought. The middle principle.—S. D., II, 83, 84. II, 332. S. D., II, 669.

Nguyên khí thứ 5....... Manas. Năng lượng của tư tưởng. Nguyên khí ở giữa.—S. D., II, 83, 84. II, 332. S. D., II, 669.

6th Principle....... Buddhi. The energy of love.—S. D., II, 649, 676. S. D., III, 58.

Nguyên khí thứ 6....... Buddhi. Năng lượng của bác ái.—S. D., II, 649, 676. S. D., III, 58.

7th Principle....... Atma. The synthetic principle.—S. D., I, 357, 201. S. D., III, 142.

Nguyên khí thứ 7....... Atma. Nguyên khí tổng hợp.—G. L. B. N., I, 357, 201. G. L. B. N., III, 142.

See S. D., III, 201, note.

Xem G. L. B. N., III, 201, chú thích.

a. Buddhi is the vehicle for atma.

a. Buddhi là vận cụ của atma.

b. Manas is the vehicle for buddhi.

b. Manas là vận cụ của buddhi.

c. Kamarupa is the vehicle for manas.—S. D., II, 171.

c. Kamarupa là vận cụ của manas.—G. L. B. N., II, 171.

d. The etheric body is the vehicle for prana.

d. Thể dĩ thái là vận cụ của prana.

Remember also:—

Cũng hãy ghi nhớ:—

a. That the physical body is not a principle.—S. D., II, 652. III, 445. III, 652.

a. Thể xác không phải là một nguyên khí.—G. L. B. N., II, 652. III, 445. III, 652.

b. That atma is not a principle. See also S. D., III, 62, 63. III, 293.

b. Atma không phải là một nguyên khí. Cũng xem G. L. B. N., III, 62, 63. III, 293.

(Other enumerations, differing in certain particulars will be found:—S. D., 177, 181, 685. II, 669. III, 476, 560. The latter is more esoteric.) (back)

(Những cách liệt kê khác, khác nhau ở một vài chi tiết, sẽ được tìm thấy:—G. L. B. N., 177, 181, 685. II, 669. III, 476, 560. Cách sau cùng có tính huyền bí hơn.) (back)

7.

The etheric body

1.

The vital body.

6.

Prana

2.

Vital force.

5.

Kama-manas

3.

Desire Mind.

4.

Lower mind

4.

Concrete mind.

3.

Manas

5.

Higher or abstract mind.

2.

Buddhi

6.

Wisdom, Christ force, intuition.

1.

Atma

7.

Spiritual Will.

This is the lowest enumeration for little evolved man at the present time.

Đây là cách liệt kê thấp nhất dành cho con người ít tiến hoá ở thời điểm hiện nay.

From the standpoint of the Ego what can be seen?

Từ quan điểm của chân ngã, có thể thấy điều gì?

I. The Absolute....... Atma. Pure will-to-be.

I. Tuyệt Đối....... Atma. Ý Chí-hướng-tồn tại thuần túy.

II. The Duad.

II. Nhị nguyên.

1. Buddhi......... Pure reason, wisdom.

1. Buddhi......... Lý trí thuần túy, minh triết.

2. Manas..........Pure mind.

2. Manas.......... Trí tuệ thuần túy.

III. The Triad.

III. Tam nguyên.

3. The causal body.

3. Thể nguyên nhân.

4. Lower mind. [Page 266]

4. Hạ trí. [Page 266]

5. Kama-manas.

5. Kama-manas.

6. Prana.

6. Prana.

7. The etheric body.

7. Thể dĩ thái.

In these various enumerations of the principles we are dealing with them (as H. P. B. has pointed out they must be dealt with) (S. D., III, 456.) (111), from differing standpoints, dependent upon the stage reached and the angle of vision. We have considered them thus in answering question six because we have sought to emphasise and to impress clearly upon our minds that the three lines of development must be remembered when considering the evolution of the Manasaputras.

Trong những cách liệt kê khác nhau này về các nguyên khí, chúng ta đang đề cập đến chúng (như H. P. B. đã chỉ ra rằng chúng phải được đề cập đến) (G. L. B. N., III, 456.) (111), từ những quan điểm khác nhau, tùy thuộc vào giai đoạn đã đạt được và góc độ tầm nhìn. Chúng ta đã xem xét chúng theo cách ấy khi trả lời câu hỏi thứ sáu vì chúng ta đã tìm cách nhấn mạnh và ghi khắc rõ ràng vào trí tuệ mình rằng phải ghi nhớ ba đường phát triển khi xem xét sự tiến hoá của các Manasaputra.

(111) H. P. Blavatsky says in the Secret Doctrine in connection with the Principles.

(111) H. P. Blavatsky nói trong Giáo Lý Bí Nhiệm liên quan đến các Nguyên khí.

a. That mistakes in the classification are very possible.—S. D., II, 677.

a. Rằng những sai lầm trong việc phân loại là hoàn toàn có thể xảy ra.—G. L. B. N., II, 677.

b. That we must seek the occult meaning.—S. D., II, 652.

b. Rằng chúng ta phải tìm kiếm ý nghĩa huyền bí.—G. L. B. N., II, 652.

That there are really six not seven principles.

Rằng thực ra có sáu chứ không phải bảy nguyên khí.

c. That there are several classifications.—S. D., III, 374, 446.

c. Rằng có nhiều cách phân loại.—G. L. B. N., III, 374, 446.

d. That the esoteric enumeration cannot be made to correspond with the exoteric—S. D., III, 476.

d. Rằng cách liệt kê nội môn không thể làm cho tương ứng với cách liệt kê ngoại môn—G. L. B. N., III, 476.

e. That the numbering of the principles is a question of spiritual progress.—S. D., III, 456, 460. (back)

e. Rằng việc đánh số các nguyên khí là một vấn đề của sự tiến bộ tinh thần.—G. L. B. N., III, 456, 460. (back)

2. The Objective Development.

2. Sự Phát Triển Khách Quan.

This is sevenfold in evolution and in time, ninefold during obscuration, and tenfold at dissolution.

Điều này có tính thất phân trong tiến hoá và trong thời gian, cửu phân trong thời kỳ che khuất, và thập phân khi tan rã.

Macrocosmic

Đại thiên địa

1. The seven sacred planets of the solar system.

1. Bảy hành tinh thiêng liêng của hệ mặt trời.

2. The two which are hid, which are the synthesising planets.

2. Hai hành tinh được che giấu, là những hành tinh tổng hợp.

3. The one final synthesising planet—the Sun. Seven added to two added to one make ten.

3. Một hành tinh tổng hợp tối hậu—Mặt Trời. Bảy cộng hai cộng một thành mười.

There are ten centres in the Grand Heavenly Man.

Có mười trung tâm trong Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại.

A Heavenly Man

Một Đấng Thiên Nhân

1. The seven chains of a scheme.

1. Bảy dãy của một hệ hành tinh.

2. The two synthesising chains.

2. Hai dãy tổng hợp.

3. One ultimate chain.

3. Một dãy tối hậu.

[Page 267] There are ten centres in a planetary Logos.

[Page 267] Có mười trung tâm trong một Hành Tinh Thượng đế.

Microcosm

Tiểu thiên địa

1. The seven vehicles employed:

1. Bảy vận cụ được sử dụng:

a. The atmic sheath.

a. Vỏ bọc atma.

b. The buddhic vehicle.

b. Vận cụ Bồ đề.

c. The causal or egoic body.

c. Thể nguyên nhân hay thể chân ngã.

d. The mental body.

d. Thể trí.

e. The astral body.

e. Thể cảm dục.

f. The etheric body.

f. Thể dĩ thái.

g. The dense physical.

g. Thể hồng trần đậm đặc.

2. Two synthesising bodies:

2. Hai thể tổng hợp:

a. The causal body.

a. Thể nguyên nhân.

b. The physical body.

b. Thể xác.

3. One synthesising body:

3. Một thể tổng hợp:

a. The monadic sheath.

a. Vỏ bọc chân thần.

There are seven centres in the physical vehicle which correspond to these bodies, with the synthesising centres at the heart and throat; the head is then the ultimate synthesiser. This tabulation deals entirely with the form side, and with the vehicles indwelt by the Logos, the Manasaputras and by Man.

Có bảy trung tâm trong vận cụ hồng trần tương ứng với các thể này, với các trung tâm tổng hợp ở tim và cổ họng; khi đó đầu là trung tâm tổng hợp tối hậu. Bảng này hoàn toàn đề cập đến phương diện hình tướng, và đến các vận cụ được Thượng đế, các Manasaputra và con người cư ngụ.

3. The Subjective Development.

3. Sự Phát Triển Chủ Quan.

This is also sevenfold:

Điều này cũng có tính thất phân:

1. Astral

pure desire, emotion, feeling.

2. Kama-manas

desire-mind.

3. Manas

lower concrete mind.

4. Higher manas

abstract or pure mind.

5. Buddhi

pure reason, intuition.

6. Atma

pure will, realisation.

7. Monadic

Will, love-wisdom, intelligence.

This deals with the sevenfold development of inherent love-wisdom by the aid of mind. This proceeds macrocosmically through the seven Heavenly Men, Who are [Page 268] actively intelligent, inherently love, and are objectively seen through Their forms, the planetary schemes. In Their totality They are the Logos, the Grand Man of the Heavens. In the case of a Heavenly Man the development proceeds through the seven groups of human entities who form Their psychic centres. These groups are on their own plane developing intelligence, are inherently love, and can be objectively contacted on the seven chains of a scheme. In the case of individual man, the development proceeds through his seven centres, which are the key to his psychic evolution. A man is also developing intelligence, is inherently love, and is objectively seen through one or other of his bodies.

Điều này đề cập đến sự phát triển thất phân của Bác Ái – Minh Triết cố hữu nhờ sự trợ giúp của trí tuệ. Điều này diễn ra ở cấp đại thiên địa qua bảy Đấng Thiên Nhân, là những Đấng [Page 268] thông tuệ linh hoạt, vốn là bác ái, và được thấy một cách khách quan qua các hình tướng của Các Ngài, tức các hệ hành tinh. Trong tổng thể của Các Ngài, Các Ngài là Thượng đế, Đại Thiên Nhân của các cõi trời. Trong trường hợp của một Đấng Thiên Nhân, sự phát triển diễn ra qua bảy nhóm thực thể nhân loại tạo thành các trung tâm thông linh của Ngài. Các nhóm này trên cõi riêng của mình đang phát triển trí tuệ, vốn là bác ái, và có thể được tiếp xúc một cách khách quan trên bảy dãy của một hệ hành tinh. Trong trường hợp của từng con người, sự phát triển diễn ra qua bảy trung tâm của y, là chìa khóa cho sự tiến hoá thông linh của y. Con người cũng đang phát triển trí tuệ, vốn là bác ái, và được thấy một cách khách quan qua một hay một thể khác của y.

What I seek to emphasise is the fact of the psychic development, and also that subjective evolution is the main enterprise of the Logos, of a planetary Logos and of a man. Active intelligent love (the bringing forth from latency of the inherent quality of love by the intelligent application of the mind faculty) will be the result of the evolutionary process. Just as objectivity is dual, life-form, so subjectivity is dual, mind-love, and the blending of the two produces consciousness. Spirit alone is unity, and is undivided; the development of Spirit (or its assumption of the fruits of evolution) is only to be realised and brought about when the dual evolution of the form and the psyche is consummated. Then Spirit garners the fruits of evolution and gathers to itself the qualities nurtured during manifestation,—perfect love and perfect intelligence showing forth then as active intelligent love-wisdom.

Điều tôi tìm cách nhấn mạnh là sự kiện của sự phát triển thông linh, và cũng là việc rằng tiến hoá chủ quan là công cuộc chính của Thượng đế, của một Hành Tinh Thượng đế và của con người. Bác ái thông tuệ linh hoạt (sự đưa phẩm tính bác ái cố hữu từ trạng thái tiềm ẩn ra biểu lộ bằng sự vận dụng thông tuệ của năng lực trí tuệ) sẽ là kết quả của tiến trình tiến hoá. Cũng như tính khách quan là nhị nguyên, sự sống-hình tướng, thì tính chủ quan cũng là nhị nguyên, trí tuệ-bác ái, và sự hòa trộn của hai điều ấy tạo ra tâm thức. Chỉ riêng tinh thần là hợp nhất, và không phân chia; sự phát triển của tinh thần (hay việc tinh thần tiếp nhận các thành quả của tiến hoá) chỉ có thể được chứng nghiệm và thực hiện khi sự tiến hoá nhị nguyên của hình tướng và tâm linh được hoàn tất. Khi đó tinh thần gặt hái các thành quả của tiến hoá và thu về cho chính nó những phẩm tính được nuôi dưỡng trong thời kỳ biểu hiện,—bác ái hoàn hảo và trí tuệ hoàn hảo khi ấy biểu lộ như bác ái-minh triết thông tuệ linh hoạt.

We might, therefore, answer the questions: “What is the Mind aspect and why is it so important?” by saying that the mind aspect is in reality the ability or capacity of the logoic Existence to think, to act, to build, and to evolve in order to develop the faculty of active love. When the Logos, Who IS active intelligence, has run His [Page 269] life-cycle, He will be also love fully manifested throughout Nature. This can be likewise predicated of a Heavenly Man in His sphere and of a man in his tiny cycle. Thus the importance of manas can be fully seen. It is the means whereby evolution becomes possible, comprehension is achieved, and activity is generated and utilised.

Vì vậy, chúng ta có thể trả lời các câu hỏi: “Phương diện Trí tuệ là gì và tại sao nó lại quan trọng đến thế?” bằng cách nói rằng phương diện trí tuệ thực ra là khả năng hay năng lực của Sự Tồn Tại logoic để suy tư, hành động, kiến tạo và tiến hoá nhằm phát triển năng lực bác ái linh hoạt. Khi Thượng đế, Đấng LÀ thông tuệ linh hoạt, đã hoàn tất chu kỳ sự sống của Ngài, Ngài cũng sẽ là bác ái được biểu hiện trọn vẹn khắp [Page 269] Thiên nhiên. Điều này cũng có thể được khẳng định tương tự đối với một Đấng Thiên Nhân trong khối cầu của Ngài và đối với con người trong chu kỳ nhỏ bé của y. Như vậy, tầm quan trọng của manas có thể được thấy đầy đủ. Nó là phương tiện nhờ đó tiến hoá trở nên khả hữu, sự thấu hiểu được đạt tới, và hoạt động được tạo ra rồi được sử dụng.

Let us now consider how this question can be expressed in terms of Fire:

Giờ đây chúng ta hãy xem xét câu hỏi này có thể được diễn đạt theo thuật ngữ của Lửa như thế nào:

Objectively

Subjectively

1. The sea of fire

1. Our God is a consuming fire

Energising will

2. The akasha

2. The Light of God

Form aspect.

3. The aether

3. The heat of matter

Activity aspect.

4. The air

4. The illumination of the intuition.

5. Fire

5. The fire of mind.

6. The astral light

6. The heat of the emotions.

7. Physical plane electricity

7. Kundalini and prana.

Spiritually.

Về mặt tinh thần.

This is hid in a threefold mystery:

Điều này được che giấu trong một huyền nhiệm tam phân:

1. The mystery of electricity.

1. Huyền nhiệm của điện.

2. The mystery of the seven constellations.

2. Huyền nhiệm của bảy chòm sao.

3. The mystery of the ONE ABOVE THE LOGOS.

3. Huyền nhiệm của ĐẤNG DUY NHẤT TRÊN CẢ THƯỢNG ĐẾ.

4. The Heavenly Men and Man.

4. Các Đấng Thiên Nhân và Con Người.

The final part of question six is: Who are the Manasaputras?

Phần cuối của câu hỏi thứ sáu là: Các Manasaputra là ai?

This will be dealt with in greater detail in connection with our planet when taking up the subject of the coming of the Lords of Flame. It is desirable now to make certain facts clear which must form the basis of any thought upon this subject.

Điều này sẽ được bàn đến chi tiết hơn liên quan đến hành tinh của chúng ta khi đề cập đến chủ đề sự giáng lâm của các Đấng Chúa Tể của Lửa. Hiện giờ, điều đáng mong muốn là làm sáng tỏ một số sự kiện nhất định, những điều phải tạo thành nền tảng cho mọi tư tưởng về chủ đề này.

[Page 270] The Divine Manasaputras, (113) (114) Who are known in the Secret Doctrine by diverse names, are the Mind-born Sons of Brahma, the third aspect logoic.

[Page 270] Các Manasaputra thiêng liêng, (113) (114) được biết đến trong Giáo Lý Bí Nhiệm dưới nhiều danh xưng khác nhau, là các Con của Brahma được sinh ra từ Trí tuệ, tức phương diện logoic thứ ba.

(113) In the Secret Doctrine the Heavenly Men are spoken of as:

(113) Trong Giáo Lý Bí Nhiệm, các Đấng Thiên Nhân được nói đến như là:

1. Agents of creation. They are the totality of manifestation.—S. D., I, 470.

1. Các tác nhân của sáng tạo. Các Ngài là tổng thể của sự biểu hiện.—G. L. B. N., I, 470.

2. They are pre-cosmic.—S. D., I, 470.

2. Các Ngài là tiền vũ trụ.—G. L. B. N., I, 470.

3. They are the sumtotal of solar and lunar entities.—S. D., I, 152, 470. Compare II, 374.

3. Các Ngài là tổng số của các thực thể thái dương và thái âm.—G. L. B. N., I, 152, 470. So sánh II, 374.

4. They are the seven Biblical Archangels.

4. Các Ngài là bảy Tổng Thiên Thần trong Kinh Thánh.

They are the seven Forces or creative Powers.

Các Ngài là bảy Mãnh lực hay các Quyền năng sáng tạo.

They are the seven Spirits before the Throne.

Các Ngài là Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai.

They are the seven Spirits of the Planets.—S. D., I, 472, 153.

Các Ngài là bảy Thánh Linh của các Hành tinh.—G. L. B. N., I, 472, 153.

5. In Their totality They are the Secret Unpronounceable Name.—S. D., I, 473.

5. Trong tổng thể của Các Ngài, Các Ngài là Danh Xưng Bí Mật Không Thể Phát Âm.—G. L. B. N., I, 473.

6. They are the collective Dhyan Chohans.—S. D., I, 477.

6. Các Ngài là tập thể các Dhyan Chohan.—G. L. B. N., I, 477.

7. They are the seven Kumaras. The seven Rishis.—S. D., I, 493. III, 196, 327.

7. Các Ngài là bảy Kumara. Bảy Rishi.—G. L. B. N., I, 493. III, 196, 327.

8. They are the Sons of Light.—S. D., I, 521, 522.

8. Các Ngài là các Con của Ánh sáng.—G. L. B. N., I, 521, 522.

9. They are the Hierarchy of creative Powers.—S. D., I, 233.

9. Các Ngài là Thánh đoàn của các Quyền năng sáng tạo.—G. L. B. N., I, 233.

10. They are the veiled synthesis.—S. D., I, 362.

10. Các Ngài là sự tổng hợp được che giấu.—G. L. B. N., I, 362.

11. They are our own planetary deities.—S. D., I, 153.

11. Các Ngài là các thần linh hành tinh của chính chúng ta.—G. L. B. N., I, 153.

12. They are all men, the product of other worlds.—S. D., I, 132.

12. Các Ngài là tất cả loài người, sản phẩm của những thế giới khác.—G. L. B. N., I, 132.

13. They are closely connected with the seven stars of the Great Bear.—S. D., I, 488. S. D., II 332. II, 579, 668. S. D., III, 195.

13. Các Ngài có liên hệ mật thiết với bảy ngôi sao của Đại Hùng Tinh.—G. L. B. N., I, 488. G. L. B. N., II 332. II, 579, 668. G. L. B. N., III, 195.

14. They are symbolised by circles.—S. D., II, 582.

14. Các Ngài được biểu tượng hóa bằng các vòng tròn.—G. L. B. N., II, 582.

15. They are collectively the fallen Angels.—S. D., II, 284, 541. (back)

15. Xét tập thể, Các Ngài là các Thiên Thần sa ngã.—G. L. B. N., II, 284, 541. (back)

(114) The Sons of Mind: are known by various terms, such as:— “The Manasaputras, the Prajapatis, the Kumaras, the Primordial Seven, the Rudras, the Heavenly Men, the Rishis, the Spirits before the Throne.” (back)

(114) Các Con của Trí Tuệ: được biết đến bằng nhiều thuật ngữ khác nhau, như:— “Các Manasaputra, các Prajapati, các Kumara, Bảy Đấng Nguyên Sơ, các Rudra, các Đấng Thiên Nhân, các Rishi, các Thánh Linh trước Thánh Ngai.” (back)

They are the seven planetary Logoi, and are the Lords of the Rays, the seven Heavenly Men. They developed the mind aspect in the first solar system, that in which Brahma was paramount, and in Himself embodied objective existence. This He did in the same sense as that in which the second aspect (the Vishnu or Dragon of Wisdom aspect) is the sumtotal of existence in this the second system.

Các Ngài là bảy Hành tinh Thượng đế, và là các Chúa Tể của các Cung, bảy Đấng Thiên Nhân. Các Ngài đã phát triển phương diện trí tuệ trong hệ mặt trời thứ nhất, hệ mà Brahma là tối thượng, và trong chính Ngài đã hiện thân sự tồn tại khách quan. Điều này Ngài đã làm theo cùng ý nghĩa như phương diện thứ hai (phương diện Vishnu hay Rồng Minh Triết) là tổng thể của sự tồn tại trong hệ thứ hai này.

The cells in Their bodies are made up of the units of the human and deva evolutions in the same manner (only on a higher turn of the spiral) as the bodies of human beings are made up of living organisms, the various animated cells, or the lesser lives. This is a basic fact in occultism, and the relationship between the cells in the human vehicles, and the cells in the bodies of a Heavenly [Page 271] Man, will be productive of illumination if carefully studied.

Các tế bào trong các thể của Các Ngài được cấu thành từ các đơn vị của tiến hoá nhân loại và thiên thần theo cùng cách thức (chỉ ở một vòng xoắn cao hơn) như các thể của con người được cấu thành từ các cơ thể sống, các tế bào được tiếp sinh lực khác nhau, hay các sự sống nhỏ hơn. Đây là một sự kiện nền tảng trong huyền bí học, và mối liên hệ giữa các tế bào trong các vận cụ của con người, và các tế bào trong các thể của một Đấng Thiên Nhân, sẽ tạo ra sự soi sáng nếu được nghiên cứu cẩn thận.[Page 271]

Just as a human being has an originating source, the Monad, and a semi-permanent vehicle, the causal body, but manifests through his lower principles (of which the dense physical is not one) so a Heavenly Man has an originating source, His Monad, a semi-permanent body on the monadic levels of the solar system, but manifests through three lower sheaths, our atmic, buddhic, and manasic levels. He is extraneous to the astral and physical planes just as a human being is to the physical. Man vitalises the physical vehicle with his force or heat but he does not occultly count it as a principle. So the Heavenly Man is extraneous to the two lower planes of manifestation though He vitalises them with His force. The human being realises his relationship (as a cell in the body) to a Heavenly Man only when he is developing the consciousness of the Ego on its own plane. If it might be so expressed, the groups of causal bodies are the lowest forms through which a Heavenly Man manifests, just as the physical body is the lowest through which a human being manifests, and this in its etheric connotation.

Cũng như một con người có một nguồn gốc khởi nguyên, chân thần, và một vận cụ bán thường tồn, thể nguyên nhân, nhưng biểu hiện qua các nguyên khí thấp của y (trong đó thể hồng trần đậm đặc không phải là một nguyên khí) thì một Đấng Thiên Nhân cũng có một nguồn gốc khởi nguyên, Chân thần của Ngài, một thể bán thường tồn trên các cấp chân thần của hệ mặt trời, nhưng biểu hiện qua ba vỏ bọc thấp hơn, tức các cấp atma, Bồ đề và manas của chúng ta. Ngài ở ngoài cõi cảm dục và cõi hồng trần cũng như con người ở ngoài cõi hồng trần. Con người tiếp sinh lực cho vận cụ hồng trần bằng mãnh lực hay nhiệt của mình nhưng về mặt huyền bí học y không tính nó là một nguyên khí. Cũng vậy, Đấng Thiên Nhân ở ngoài hai cõi thấp của biểu hiện mặc dù Ngài tiếp sinh lực cho chúng bằng mãnh lực của Ngài. Con người chỉ chứng nghiệm mối liên hệ của mình (như một tế bào trong thể) với một Đấng Thiên Nhân khi y đang phát triển tâm thức của chân ngã trên cõi riêng của nó. Nếu có thể diễn đạt như vậy, thì các nhóm thể nguyên nhân là những hình tướng thấp nhất qua đó một Đấng Thiên Nhân biểu hiện, cũng như thể xác là hình tướng thấp nhất qua đó con người biểu hiện, và điều này theo hàm nghĩa dĩ thái của nó.

It should be borne in mind that the manifesting Existences embody certain planes, and have Their points of deepest involution on diverse levels:

Cần ghi nhớ rằng các Sự Tồn Tại biểu hiện hiện thân một số cõi nhất định, và có những điểm giáng hạ tiến hoá sâu nhất của Các Ngài ở những cấp độ khác nhau:

a. A Man originates on the monadic level, has his main focal point on the fifth level, the mental, but is seeking full conscious development on the three lower planes, the mental, the astral and the physical.

a. Một Con Người khởi nguyên trên cấp chân thần, có tiêu điểm chính trên cấp thứ năm, cõi trí, nhưng đang tìm kiếm sự phát triển hoàn toàn hữu thức trên ba cõi thấp, cõi trí, cõi cảm dục và cõi hồng trần.

b. A Heavenly Man has His source outside the solar system (as man outside the three worlds of his endeavor), has His main focal point on the second plane of the system, the monadic, and is seeking consciousness on the planes of the Triad,—this in relation to all the cells in His body. He developed consciousness on the three [Page 272] lower planes of the three worlds during the first solar system, again in relation to the cells in His body. Man is repeating His endeavor up to the fifth Initiation which will bring him to a stage of consciousness achieved by a Heavenly Man in a much earlier mahamanvantara. In connection with the initiations this should be carefully borne in mind.

b. Một Đấng Thiên Nhân có nguồn gốc của Ngài ở ngoài hệ mặt trời (cũng như con người ở ngoài ba cõi giới của nỗ lực mình), có tiêu điểm chính trên cõi thứ hai của hệ, cõi chân thần, và đang tìm kiếm tâm thức trên các cõi của Tam nguyên tinh thần,—điều này liên quan đến tất cả các tế bào trong thể của Ngài. Ngài đã phát triển tâm thức trên ba cõi thấp [Page 272] của ba cõi giới trong hệ mặt trời thứ nhất, một lần nữa là liên quan đến các tế bào trong thể của Ngài. Con người đang lặp lại nỗ lực của Ngài cho đến lần điểm đạo thứ năm, điều sẽ đưa y đến một giai đoạn tâm thức mà một Đấng Thiên Nhân đã đạt được trong một đại giai kỳ sinh hóa sớm hơn rất nhiều. Liên quan đến các cuộc điểm đạo, điều này cần được ghi nhớ cẩn thận.

c. A solar Logos has His origin on a still higher cosmic level, has His main focal point on the cosmic mental plane but is expressing Himself through the three lower cosmic planes just as man is seeking self-expression in the three worlds. Therefore, the seven major planes of the solar system are in the same relation to Him cosmically as the physical plane is to a human being. They form His etheric and dense bodies. It might be stated that:

c. Một Thái dương Thượng đế có nguồn gốc của Ngài trên một cấp vũ trụ còn cao hơn nữa, có tiêu điểm chính trên cõi trí tuệ vũ trụ nhưng đang biểu hiện chính Ngài qua ba cõi vũ trụ thấp hơn cũng như con người đang tìm cách tự biểu hiện trong ba cõi giới. Vì vậy, bảy cõi chính của hệ mặt trời có cùng mối liên hệ với Ngài về mặt vũ trụ như cõi hồng trần đối với con người. Chúng tạo thành các thể dĩ thái và đậm đặc của Ngài. Có thể nói rằng:

1. He vitalises them by His life and heat.

1. Ngài tiếp sinh lực cho chúng bằng sự sống và nhiệt của Ngài.

2. He animates them.

2. Ngài làm cho chúng sống động.

3. He is fully conscious through them.

3. Ngài hoàn toàn hữu thức qua chúng.

4. The etheric is in time His lowest principle, but the dense physical is not counted. The dense cosmic physical body is composed of matter of the three lower planes of the solar system, the mental, the astral and the physical. The buddhic plane is consequently the fourth cosmic ether.

4. Thể dĩ thái theo thời gian là nguyên khí thấp nhất của Ngài, nhưng thể hồng trần đậm đặc không được tính đến. Thể hồng trần vũ trụ đậm đặc được cấu thành từ vật chất của ba cõi thấp của hệ mặt trời, cõi trí, cõi cảm dục và cõi hồng trần. Do đó cõi Bồ đề là dĩ thái vũ trụ thứ tư.

d. The Heavenly Men form the seven centres in the body of the Logos. Therefore, They are the spheres of fire which animate His body, and each of Them expresses one form of His force manifestation, according to Their place within the body.

d. Các Đấng Thiên Nhân tạo thành bảy trung tâm trong thể của Thượng đế. Vì vậy, Các Ngài là những khối cầu lửa làm sinh động thể của Ngài, và mỗi Đấng trong Các Ngài biểu lộ một hình thức biểu hiện mãnh lực của Ngài, tùy theo vị trí của Các Ngài trong thể ấy.

e. Human beings, when centred within their groups on causal levels, form one or other of the seven centres in the body of a Heavenly Man.

e. Con người, khi được tập trung trong các nhóm của mình trên các cấp nguyên nhân, tạo thành một hay một trung tâm khác trong thể của một Đấng Thiên Nhân.

f. The solar Logos forms one centre in the body of a still greater cosmic ENTITY. Human beings therefore [Page 273] find their place within one of the forty-nine centres (not groups, for a centre may be made up of many groups, corresponding to the different parts) of the seven Heavenly Men.

f. Thái dương Thượng đế tạo thành một trung tâm trong thể của một THỰC THỂ vũ trụ còn vĩ đại hơn. Vì vậy, con người [Page 273] tìm thấy vị trí của mình trong một trong bốn mươi chín trung tâm (không phải nhóm, vì một trung tâm có thể được tạo thành từ nhiều nhóm, tương ứng với các phần khác nhau) của bảy Đấng Thiên Nhân.

A Heavenly Man, with His seven centres, forms one centre in the body of the solar Logos. I would here point out to you the close connection existing between the seven Rishis of the Great Bear and the seven Heavenly Men. The seven Rishis of the Great Bear are to Them what the Monad is to the evolving human unit.

Một Đấng Thiên Nhân, với bảy trung tâm của Ngài, tạo thành một trung tâm trong thể của Thái dương Thượng đế. Ở đây tôi muốn chỉ ra cho bạn mối liên hệ mật thiết hiện hữu giữa bảy Rishi của Đại Hùng Tinh và bảy Đấng Thiên Nhân. Bảy Rishi của Đại Hùng Tinh đối với Các Ngài cũng như chân thần đối với đơn vị nhân loại đang tiến hoá.

VII. WHY IS THE PROGRESS OF EVOLUTION CYCLIC? — VII. TẠI SAO SỰ TIẾN BỘ CỦA TIẾN HOÁ LẠI CÓ TÍNH CHU KỲ?

This question is one which necessarily appals us and makes us wonder.

Đây là một câu hỏi tất yếu khiến chúng ta kinh ngạc và tự hỏi.

Let us, therefore, deal with it as follows: Certain ideas are involved in the thought of cyclic progression, and these ideas it might pay us well to contemplate.

Vì vậy, chúng ta hãy đề cập đến nó như sau: Một số ý tưởng nhất định hàm chứa trong tư tưởng về sự tiến triển theo chu kỳ, và những ý tưởng này có lẽ rất đáng để chúng ta chiêm ngưỡng.

1. The Idea of Repetition.

1. Ý Tưởng về Sự Lặp Lại.

This repetition involves the following factors:

Sự lặp lại này bao hàm các yếu tố sau:

a. Repetition in time: The thought of cyclic activity necessitates periods of time of differing length—greater or lesser cycles—but (according to their length) of uniform degree. A manvantara, or Day of Brahma, is always of a certain length, and so is a mahamanvantara. The cycles wherein an atom of any plane revolves upon its axis are uniform on its own plane.

a. Sự lặp lại trong thời gian: Tư tưởng về hoạt động theo chu kỳ đòi hỏi những khoảng thời gian có độ dài khác nhau—những chu kỳ lớn hơn hay nhỏ hơn—nhưng (tùy theo độ dài của chúng) có mức độ đồng đều. Một giai kỳ sinh hóa, hay Ngày của Brahma, luôn luôn có một độ dài nhất định, và một đại giai kỳ sinh hóa cũng vậy. Những chu kỳ trong đó một nguyên tử của bất kỳ cõi nào quay quanh trục của nó đều đồng đều trên cõi riêng của nó.

b. Repetition in fact: This involves the idea of a key measure, or sound of any particular group of atoms that go to the composition of any particular form. This grouping of atoms will tend to the make-up of a particular series of circumstances and will repeat the measure or sound when an animating factor is brought to bear upon them. When the vitalising force is contacting at stated periods a certain set of atoms, it will call forth from them a specific sound which will demonstrate objectively as environing circumstances. In other words, [Page 274] the interplay of the Self and the not-self is invariably of a cyclic nature. The same quality in tone will be called forth by the Self as it indwells the form, but the key will ascend by gradual degrees. It is similar to the effect produced in striking the same note in different octaves, beginning at the base.

b. Sự lặp lại trong thực tế: Điều này bao hàm ý tưởng về một nhịp điệu chủ âm, hay âm thanh của bất kỳ nhóm nguyên tử đặc thù nào góp phần cấu thành bất kỳ hình tướng đặc thù nào. Sự tập hợp các nguyên tử này sẽ có khuynh hướng tạo nên một chuỗi hoàn cảnh đặc thù và sẽ lặp lại nhịp điệu hay âm thanh ấy khi một yếu tố làm sinh động tác động lên chúng. Khi mãnh lực tiếp sinh lực tiếp xúc vào những thời kỳ nhất định với một tập hợp nguyên tử nào đó, nó sẽ gọi ra từ chúng một âm thanh đặc thù, âm thanh này sẽ biểu lộ một cách khách quan thành những hoàn cảnh bao quanh. Nói cách khác, [Page 274] sự tương tác giữa Bản Ngã và phi-ngã luôn luôn có tính chu kỳ. Cùng một phẩm tính trong âm điệu sẽ được Bản Ngã gọi ra khi nó cư ngụ trong hình tướng, nhưng chủ âm sẽ tăng dần theo từng cấp độ. Điều này tương tự như hiệu quả được tạo ra khi đánh cùng một nốt ở những quãng tám khác nhau, bắt đầu từ âm trầm.

c. Repetition in space: This concept is involved deep in the greater concept of karma, which is really the law that governs the matter of the solar system, and which commenced its work in earlier solar systems. We have, therefore, cycles in order, and repetition in an ever-ascending spiral, under definite law.

c. Sự lặp lại trong không gian: Khái niệm này được hàm chứa sâu xa trong khái niệm lớn hơn về nghiệp quả, vốn thực sự là định luật chi phối vật chất của hệ mặt trời, và đã bắt đầu công việc của nó trong những hệ mặt trời trước đó. Vì vậy, chúng ta có các chu kỳ theo trật tự, và sự lặp lại trong một vòng xoắn luôn đi lên, dưới định luật xác định.

The thoughts thus conveyed might be expressed likewise as follows:

Những tư tưởng được truyền đạt như vậy cũng có thể được diễn đạt như sau:

a. The solar system repeating its activity....Repetition in Space.

a. Hệ mặt trời lặp lại hoạt động của nó....Sự lặp lại trong Không gian.

b. A planetary chain repeating its activity....Repetition in Time.

b. Một dãy hành tinh lặp lại hoạt động của nó....Sự lặp lại trong Thời gian.

c. The constant consecutive reverberation of a plane note, of a subplane note, and of all that is called into objectivity by that note.....Plane Repetition.

c. Sự vang dội liên tiếp không ngừng của một âm điệu cõi, của một âm điệu cõi phụ, và của tất cả những gì được gọi vào tính khách quan bởi âm điệu ấy.....Sự lặp lại của Cõi.

d. The tendency of atoms to perpetuate their activity, and thus produce similarity of circumstance, of environment and of vehicle....Form Repetition.

d. Khuynh hướng của các nguyên tử duy trì hoạt động của chúng, và do đó tạo ra sự tương tự về hoàn cảnh, môi trường và vận cụ....Sự lặp lại của Hình tướng.

When we carry these ideas on to every plane in the solar system, and from thence to the cosmic planes, we have opened up for ourselves infinitude.

Khi chúng ta mang những ý tưởng này đến mọi cõi trong hệ mặt trời, và từ đó đến các cõi vũ trụ, chúng ta đã mở ra cho chính mình tính vô hạn.

2. Repetition of Cyclic Action is Governed by Two Laws:

2. Sự Lặp Lại của Hoạt Động Chu Kỳ Được Chi Phối bởi Hai Định Luật:

Perhaps it is more accurate to say that it is governed by one law, primarily, and a subsidiary law. This leads [Page 275] to two general types of cycles, and is involved in the very nature of the Self and of the not-self. The interplay of the two by the aid of mind produces that which we call environment or circumstance.

Có lẽ nói chính xác hơn là nó được chi phối chủ yếu bởi một định luật, và một định luật phụ. Điều này dẫn [Page 275] đến hai loại chu kỳ tổng quát, và được hàm chứa trong chính bản chất của Bản Ngã và của phi-ngã. Sự tương tác của hai điều ấy nhờ sự trợ giúp của trí tuệ tạo ra điều mà chúng ta gọi là môi trường hay hoàn cảnh.

The general law, which produces cyclic effect, is the Law of Attraction and Repulsion, of which the subsidiary law is the Law of Periodicity, and of Rebirth. Cyclic evolution is entirely the result of the activity of matter, and of the Will or Spirit. It is produced by the interaction of active matter and moulding Spirit. Every form holds hid a Life. Every life constantly reaches out after the similar life latent in other forms. When Spirit and matter sound the same note evolution will cease. When the note sounded by the form is stronger than that of Spirit, we have attraction between forms. When the note sounded by Spirit is stronger than that of matter and form, we have Spirit repelling form. Here we have the basis for the battlefield of life, and its myriads of intermediate stages, which might be expressed as follows:

Định luật tổng quát tạo ra hiệu quả chu kỳ là Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi, mà định luật phụ của nó là Định luật Chu Kỳ Tính, và Tái Sinh. Tiến hoá theo chu kỳ hoàn toàn là kết quả của hoạt động của vật chất, và của Ý Chí hay tinh thần. Nó được tạo ra bởi sự tương tác của vật chất linh hoạt và tinh thần tạo khuôn. Mỗi hình tướng đều ẩn chứa một Sự sống. Mỗi sự sống luôn luôn vươn tới sự sống tương tự tiềm ẩn trong các hình tướng khác. Khi tinh thần và vật chất xướng cùng một âm điệu thì tiến hoá sẽ chấm dứt. Khi âm điệu do hình tướng xướng lên mạnh hơn âm điệu của tinh thần, chúng ta có sự hấp dẫn giữa các hình tướng. Khi âm điệu do tinh thần xướng lên mạnh hơn âm điệu của vật chất và hình tướng, chúng ta có tinh thần đẩy lùi hình tướng. Ở đây chúng ta có cơ sở cho chiến trường của sự sống, và vô số giai đoạn trung gian của nó, có thể được diễn đạt như sau:

a. The period of the domination of the form note is that of involution.

a. Thời kỳ mà âm điệu của hình tướng thống trị là thời kỳ giáng hạ tiến hoá.

b. The period of the repulsion of form by Spirit is that of the battlefield of the three worlds.

b. Thời kỳ tinh thần đẩy lùi hình tướng là thời kỳ chiến trường của ba cõi giới.

c. The period of the attraction of Spirit and Spirit, and the consequent withdrawal from form is that of the Path.

c. Thời kỳ hấp dẫn giữa tinh thần và tinh thần, và do đó rút ra khỏi hình tướng là thời kỳ của Con Đường.

d. The period of domination of the note of Spirit is that of the higher planes of evolution.

d. Thời kỳ âm điệu của tinh thần thống trị là thời kỳ của các cõi cao hơn của tiến hoá.

To the synchronisation of the notes, or to the lack of synchronisation, may be attributed all that occurs in the world cycles. Thus we have the production of harmony; first, the basic note of matter, then the note of Spirit gradually overcoming the lower note and usurping attention [Page 276] till gradually the note of Spirit overpowers all other notes. Yet it must be borne in mind that it is the note of the life that holds the form together. The note of the Sun, for instance, holds in just attraction the circling spheres, the planets. The notes synchronise and harmonise till the stage of adequacy is reached and the period of abstraction. Cyclic evolution proceeds. A human being, similarly, holds (by means of his note) the atoms of the three bodies together, being to them as the central sun to the planets. Primarily, nevertheless, it may be posited that the Law of Attraction is the demonstration of the powers of Spirit, whilst the Law of Repulsion governs the form. Spirit attracts Spirit throughout the greater cycle. In lesser cycles, Spirit temporarily attracts matter. The tendency of Spirit is to merge and blend with Spirit. Form repulses form, and thus brings about separation. But—during the great cycle of evolution—when the third factor of Mind comes in, and when the point of balance is the goal, the cyclic display of the interaction between Spirit and form is seen, and the result is the ordered cycles of the planets, of a human being, and of an atom. Thus, through repetition, is consciousness developed, and responsive faculty induced. When this faculty is of such a nature that it is an inherent part of the Entity’s working capital, it has to be exercised on every plane, and again cyclic action is the law, and hence rebirth again and again is the method of exercise. When the innate conscious faculty of every unit of consciousness has become co-ordinated as part of the equipment of the Logos on every plane of the solar system, then, and only then, will cyclic evolution cease, will rotary movement on every plane of the cosmic physical plane be of such a uniform vibration as to set up action on the next cosmic plane, the astral. [Page 277]

Mọi điều xảy ra trong các chu kỳ thế giới đều có thể được quy cho sự đồng bộ của các âm điệu, hay sự thiếu đồng bộ. Như vậy chúng ta có sự tạo ra hài hòa; trước hết là âm điệu căn bản của vật chất, rồi âm điệu của tinh thần dần dần vượt thắng âm điệu thấp hơn và chiếm lấy sự chú ý [Page 276] cho đến khi dần dần âm điệu của tinh thần áp đảo mọi âm điệu khác. Tuy nhiên, cần ghi nhớ rằng chính âm điệu của sự sống giữ cho hình tướng gắn kết với nhau. Chẳng hạn, âm điệu của Mặt Trời giữ trong sự hấp dẫn chính xác các khối cầu đang quay, tức các hành tinh. Các âm điệu đồng bộ và hài hòa cho đến khi đạt tới giai đoạn đầy đủ và thời kỳ trừu xuất. Tiến hoá theo chu kỳ tiếp diễn. Tương tự như vậy, con người giữ các nguyên tử của ba thể lại với nhau (bằng âm điệu của y), đối với chúng cũng như mặt trời trung tâm đối với các hành tinh. Tuy nhiên, về căn bản, có thể khẳng định rằng Định luật Hấp Dẫn là sự biểu lộ các quyền năng của tinh thần, trong khi Định luật Đẩy Lùi chi phối hình tướng. Tinh thần hấp dẫn tinh thần trong suốt chu kỳ lớn hơn. Trong các chu kỳ nhỏ hơn, tinh thần tạm thời hấp dẫn vật chất. Khuynh hướng của tinh thần là hòa nhập và dung hợp với tinh thần. Hình tướng đẩy lùi hình tướng, và do đó tạo ra sự phân ly. Nhưng—trong đại chu kỳ tiến hoá—khi yếu tố thứ ba là Trí tuệ đi vào, và khi điểm quân bình là mục tiêu, thì sự biểu lộ theo chu kỳ của sự tương tác giữa tinh thần và hình tướng được thấy rõ, và kết quả là các chu kỳ có trật tự của các hành tinh, của con người, và của nguyên tử. Như vậy, thông qua sự lặp lại, tâm thức được phát triển, và năng lực đáp ứng được tạo ra. Khi năng lực này có bản chất đến mức nó là một phần cố hữu trong vốn hoạt động của Thực Thể, thì nó phải được vận dụng trên mọi cõi, và một lần nữa hoạt động chu kỳ là định luật, và do đó tái sinh lặp đi lặp lại là phương pháp vận dụng. Khi năng lực tâm thức bẩm sinh của mọi đơn vị tâm thức đã được phối hợp như một phần của trang bị của Thượng đế trên mọi cõi của hệ mặt trời, thì khi ấy, và chỉ khi ấy, tiến hoá theo chu kỳ mới chấm dứt, chuyển động quay trên mọi cõi của cõi hồng trần vũ trụ mới có một rung động đồng đều đến mức thiết lập hoạt động trên cõi vũ trụ kế tiếp, tức cõi cảm dục. [Page 277]

3. The Third Idea Involved Is That of the Two Types of Cycles

3. Ý Tưởng Thứ Ba Được Hàm Chứa là Ý Tưởng về Hai Loại Chu Kỳ

1. Rotation on the axis: This is to be seen whether we are dealing with a minute atom of substance, with a planet revolving on its axis, with the rotation of the causal body, or with the rotation of a solar system.

1. Sự quay trên trục: Điều này có thể được thấy dù chúng ta đang đề cập đến một nguyên tử cực nhỏ của chất liệu, một hành tinh quay trên trục của nó, sự quay của thể nguyên nhân, hay sự quay của một hệ mặt trời.

a. In relation to the human being, this might be considered as the rotation of the various sheaths around the central consciousness during any one incarnation.

a. Liên quan đến con người, điều này có thể được xem là sự quay của các vỏ bọc khác nhau quanh tâm thức trung tâm trong bất kỳ một lần nhập thể nào.

b. In relation to a Heavenly Man it might be considered as the rotation of a globe within a chain, or the period of one incarnation.

b. Liên quan đến một Đấng Thiên Nhân, điều này có thể được xem là sự quay của một bầu hành tinh trong một dãy, hay thời kỳ của một lần nhập thể.

c. In relation to a solar Logos it might be considered as one complete revolution of the Sun in space, with all that is included within the ring-pass-not.

c. Liên quan đến một Thái dương Thượng đế, điều này có thể được xem là một vòng quay trọn vẹn của Mặt Trời trong không gian, cùng với tất cả những gì được bao gồm trong vòng-giới-hạn.

2. Rotation around an orbit. This is the revolution of a sphere of life, not only on its axis, but along a spheroidal path or orbit around a central point.

2. Sự quay quanh một quỹ đạo. Đây là sự tuần hoàn của một khối cầu sự sống, không chỉ trên trục của nó, mà còn dọc theo một đường đi hay quỹ đạo hình cầu quanh một điểm trung tâm.

a. In connection with man this might be considered as the revolution of the wheel of life, or the passage of an entity through the three lower planes down into incarnation and back again.

a. Liên quan đến con người, điều này có thể được xem là sự quay của bánh xe sự sống, hay sự đi qua của một thực thể qua ba cõi thấp xuống đến nhập thể rồi trở lại.

b. In connection with a Heavenly Man it might be considered as the cycle which we call a round in which the life of the Heavenly Man cycles through all the seven globes.

b. Liên quan đến một Đấng Thiên Nhân, điều này có thể được xem là chu kỳ mà chúng ta gọi là một cuộc tuần hoàn, trong đó sự sống của Đấng Thiên Nhân tuần hoàn qua cả bảy bầu hành tinh.

c. In connection with the solar Logos it is the complete revolution of the solar system around its cosmic centre.

c. Liên quan đến Thái dương Thượng đế, đó là sự tuần hoàn trọn vẹn của hệ mặt trời quanh trung tâm vũ trụ của nó.

It is to be noted at this point that the ideas dealt with in connection with cyclic evolution cannot be posited apart from the concept of consciousness. The ideas of [Page 278] time, of space, and of activity (from the point of view of the occultist), can only be conceived as relative to some conscious entity, to some Thinker.

Cần lưu ý rằng ở điểm này, những ý tưởng được đề cập liên quan đến tiến hoá theo chu kỳ không thể được khẳng định tách rời khỏi khái niệm tâm thức. Những ý tưởng về [Page 278] thời gian, không gian, và hoạt động (theo quan điểm của nhà huyền bí học), chỉ có thể được quan niệm là tương đối đối với một thực thể hữu thức nào đó, đối với một Đấng Tư Tưởng nào đó.

Time to the occultist is that cycle, greater or lesser, in which some life runs some specific course, in which some particular period begins, continues, and ends, in connection with the awareness of some Entity, and is recognised only as time when the participating life has reached a considerable stage of awareness. Time has been defined as a succession of states of consciousness, (115) and it therefore may be studied from the point of view of

Đối với nhà huyền bí học, thời gian là chu kỳ, lớn hay nhỏ, trong đó một sự sống vận hành một tiến trình đặc thù nào đó, trong đó một giai đoạn đặc thù bắt đầu, tiếp diễn, và kết thúc, liên quan đến sự nhận biết của một Thực Thể nào đó, và chỉ được nhận ra là thời gian khi sự sống tham dự đã đạt đến một giai đoạn nhận biết đáng kể. Thời gian đã được định nghĩa là một chuỗi các trạng thái tâm thức, (115) và vì vậy nó có thể được nghiên cứu từ quan điểm của

(115) The Secret Doctrine says:

(115) Giáo Lý Bí Nhiệm nói rằng:

1. The Universe is in reality but a huge aggregation of states of consciousness.—S. D., II, 633. I, 70, 626,

1. Vũ trụ thực ra chỉ là một tập hợp khổng lồ các trạng thái tâm thức.—G. L. B. N., II, 633. I, 70, 626,

2. Spirit and consciousness are synonymous terms.—S. D., I, 43, 125, 349, 350, 592, 593.

2. Tinh thần và tâm thức là những thuật ngữ đồng nghĩa.—G. L. B. N., I, 43, 125, 349, 350, 592, 593.

3. Every atom in the universe is endowed with consciousness.—S. D., I, 105. II, 709, 742.

3. Mọi nguyên tử trong vũ trụ đều được phú cho tâm thức.—G. L. B. N., I, 105. II, 709, 742.

4. Six types of Consciousness as embodied in the Kingdom of Nature on the five planes of Human Evolution.—S. D., I, 123. II, 678.

4. Sáu loại Tâm thức như được hiện thân trong Giới Thiên Nhiên trên năm cõi của Tiến Hoá Nhân Loại.—G. L. B. N., I, 123. II, 678.

a. The Mineral Kingdom 1.

a. Giới Kim Thạch 1.

Intelligent activity. All atoms show ability to select, to discriminate intelligently under the Law of Attraction and Repulsion.—S. D., I, 295.

Hoạt động thông tuệ. Mọi nguyên tử đều cho thấy khả năng chọn lựa, phân biện một cách thông tuệ dưới Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi.—G. L. B. N., I, 295.

b. Vegetable Kingdom 2.

b. Giới Thực Vật 2.

Intelligent activity plus embryo sensation or feeling.

Hoạt động thông tuệ cộng với cảm giác hay cảm thọ phôi thai.

c. Animal Kingdom 3.

c. Giới Động Vật 3.

Intelligent activity, sensation plus instinct, or embryo mentality.—S. D., III, 573, 574.

Hoạt động thông tuệ, cảm giác cộng với bản năng, hay trí tuệ phôi thai.—G. L. B. N., III, 573, 574.

These three embody the sub-human consciousness.

Ba giới này hiện thân tâm thức dưới nhân loại.

d. Human consciousness 4.

d. Tâm thức nhân loại 4.

Intelligent activity, love or perfected feeling or realisation and will, or intelligent purpose. The three aspects. S. D., I, 215, 231.—S. D., II, 552. III, 579.

Hoạt động thông tuệ, tình thương hay cảm nhận hoặc (sự)chứng nghiệm đã hoàn thiện, và ý chí, hay mục đích thông tuệ. Ba phương diện. S. D., I, 215, 231.—S. D., II, 552. III, 579.

This is Self-Consciousness—the middle point.—S. D., I, 297.

Đây là Ngã thức—điểm ở giữa.—S. D., I, 297.

e. Spiritual Consciousness 5.

e. Tâm thức tinh thần 5.

Buddhic realisation. The unit is aware of his group. The separated unit identifies himself with his ray or type.—S. D., III, 572. I, 183, 623.

(Sự)chứng nghiệm Bồ đề. Đơn vị ý thức được nhóm của mình. Đơn vị tách biệt đồng hoá chính mình với cung hay kiểu của mình.—S. D., III, 572. I, 183, 623.

f. Atmic Consciousness 6.

f. Tâm thức atma 6.

The consciousness of the unit of the Septenary solar system.—S. D., II, 673. II, 741.

Tâm thức của đơn vị của hệ mặt trời thất phân.—S. D., II, 673. II, 741.

These two embody super-consciousness.

Hai loại này thể hiện siêu tâm thức.

The seventh type embraces them all and is God Consciousness.—S. D., II, 740 note.

Loại thứ bảy bao trùm tất cả chúng và là Tâm thức Thượng đế.—S. D., II, 740 note.

Study also S. D., I, 300, 301, 183, 221, 623. S. D., II, 32 note, 741, 552 note.—S. D., III, 573, 574, 558, 557, 584. (back)

Cũng hãy nghiên cứu S. D., I, 300, 301, 183, 221, 623. S. D., II, 32 note, 741, 552 note.—S. D., III, 573, 574, 558, 557, 584. (back)

[Page 279] a. Logoic consciousness, or the successive states of divine realisation within the solar sphere.

[Page 279] a. Tâm thức logoi, hay các trạng thái kế tiếp của (sự)chứng nghiệm thiêng liêng bên trong khối cầu thái dương.

b. Planetary consciousness, or the consciousness of a Heavenly Man as He cycles successively through the scheme.

b. Tâm thức hành tinh, hay tâm thức của một Đấng Thiên Nhân khi Ngài tuần tự chu chuyển qua hệ hành tinh.

c. Causal consciousness, or the successive expanding of the intelligent awareness of a human being from life to life.

c. Tâm thức nguyên nhân, hay sự mở rộng kế tiếp của nhận biết thông tuệ của một con người từ kiếp này sang kiếp khác.

d. Human consciousness, or the awareness of a man on the physical plane, and progressively on the emotional and the mental planes.

d. Tâm thức nhân loại, hay sự nhận biết của con người trên cõi hồng trần, và dần dần trên cõi cảm dục và cõi trí.

e. Animal, vegetable and mineral consciousness which differs from the human consciousness in many particulars, and primarily in that it does not co-ordinate, or deduce and recognise separate identity. It resembles human consciousness in that it covers the response to successive contacts of the units involved during their small cycles.

e. Tâm thức động vật, thực vật và khoáng vật khác với tâm thức nhân loại ở nhiều chi tiết, và chủ yếu ở chỗ nó không phối hợp, hay suy diễn và nhận ra bản sắc tách biệt. Nó giống tâm thức nhân loại ở chỗ nó bao gồm sự đáp ứng đối với các tiếp xúc kế tiếp của các đơn vị liên hệ trong các chu kỳ nhỏ của chúng.

f. Atomic consciousness, demonstrating through successive states of repulsion and attraction. In this last definition lies the key to the other states of consciousness.

f. Tâm thức nguyên tử, biểu lộ qua các trạng thái kế tiếp của sự đẩy lùi và hút nhau. Chính trong định nghĩa cuối cùng này có chìa khóa cho các trạng thái tâm thức khác.

An atom revolves upon its axis. In its revolution it comes within the field of activity of other atoms. These it either attracts and swings into its own field of operation, or it repulses and drives them outside its range of activity, causing separation. One thing to be borne in mind in the concept of mutual attraction is the preservation of identity in cohesion.

Một nguyên tử quay trên trục của nó. Trong sự quay đó, nó đi vào trường hoạt động của các nguyên tử khác. Những nguyên tử này hoặc bị nó hút và cuốn vào trường vận hành riêng của nó, hoặc bị nó đẩy ra ngoài phạm vi hoạt động của nó, gây nên sự phân ly. Một điều cần ghi nhớ trong khái niệm về sự hút lẫn nhau là sự bảo tồn bản sắc trong sự kết dính.

A human being in objective manifestation likewise revolves upon his axis, or around his central point, his mainspring of animation; this brings him within the range of activity of other men, other human atoms. This similarly either tends to co-operation or cohesion, or to separation or repulsion. Again it must be borne in mind that even in cohesion identity is preserved.

Một con người trong biểu hiện khách quan cũng quay trên trục của y, hay quanh điểm trung tâm của y, nguồn động lực sinh hoạt của y; điều này đưa y vào trong phạm vi hoạt động của những người khác, những nguyên tử nhân loại khác. Điều này cũng tương tự hoặc dẫn đến hợp tác hay kết dính, hoặc dẫn đến phân ly hay đẩy lùi. Một lần nữa cần ghi nhớ rằng ngay cả trong sự kết dính, bản sắc vẫn được bảo tồn.

[Page 280] A Heavenly Man, through the form of a planetary chain, similarly revolves upon His axis, and a like phenomenon may be observed. A planet repulses a planet similarly charged, for it is a known law that like particles repel each other, but occultly it is a known law that they will eventually attract each other as the vibration becomes sufficiently strong. A negative planet will be attracted by a positive, and so on through all forms. This is the manifestation of SEX in substance of every kind, from the tiny atom in the body to the vast planetary chains, and this is the basis of activity. Radiatory activity is simply the interplay between male and female, and this can be seen in the physical atom of the scientist, among men and women, and in the vaster atom of a solar system as it vibrates with its cosmic opposite.

[Page 280] Một Đấng Thiên Nhân, qua hình tướng của một dãy hành tinh, cũng quay trên trục của Ngài, và có thể quan sát thấy một hiện tượng tương tự. Một hành tinh đẩy lùi một hành tinh mang điện tích tương tự, vì đó là một định luật đã biết rằng các hạt giống nhau đẩy nhau, nhưng về mặt huyền bí thì đó là một định luật đã biết rằng cuối cùng chúng sẽ hút nhau khi rung động trở nên đủ mạnh. Một hành tinh âm sẽ bị hút bởi một hành tinh dương, và cứ thế qua mọi hình tướng. Đây là biểu hiện của GIỚI TÍNH trong chất liệu thuộc mọi loại, từ nguyên tử nhỏ bé trong cơ thể đến các dãy hành tinh bao la, và đây là nền tảng của hoạt động. Hoạt động bức xạ chỉ đơn giản là sự tương tác giữa nam và nữ, và điều này có thể thấy trong nguyên tử hồng trần của nhà khoa học, giữa những người nam và nữ, và trong nguyên tử rộng lớn hơn của một hệ mặt trời khi nó rung động với đối cực vũ trụ của nó.

We might, therefore, consider time as that process of activity, or that progression in development, wherein the indwelling Consciousness is seeking its opposite, and coming under the Law of Attraction, which leads to atomic, human, planetary, spiritual, solar and cosmic marriage. This idea is comparatively simple in relation to a human being, and can be seen in daily demonstration in his contacts with other men; these contacts are governed, for instance, very largely by his likes and dislikes. All these attractions and repulsions are under law, and their cause exists in form itself. The emotion of like or of dislike is nothing else but the realisation by the conscious entity of the swinging into his magnetic radius of an atomic form which he is led, by the very law of his own being, to either attract or repulse. Only when the form is transcended, and Spirit seeks out Spirit, will the phenomena of repulsion cease. This will be the inevitable finale at the cessation of solar evolution, and it will bring about pralaya. The duration of the interplay, the period of the search of Spirit for Spirit, and [Page 281] the vibratory process necessitated by the utilisation of the form, this we call Time, whether in connection with a man, a planetary Logos, or the Deity.

Vì vậy, chúng ta có thể xem xét thời gian như tiến trình hoạt động đó, hay sự tiến triển trong phát triển đó, trong đó Tâm thức nội tại đang tìm kiếm đối cực của mình, và chịu dưới Định luật Hút, định luật dẫn đến hôn phối nguyên tử, nhân loại, hành tinh, tinh thần, thái dương và vũ trụ. Ý tưởng này tương đối đơn giản khi liên hệ đến một con người, và có thể thấy trong biểu hiện hằng ngày nơi các tiếp xúc của y với những người khác; chẳng hạn, các tiếp xúc này phần lớn được chi phối bởi những điều y thích và không thích. Tất cả những sự hút và đẩy này đều ở dưới định luật, và nguyên nhân của chúng tồn tại trong chính hình tướng. Cảm xúc thích hay không thích không là gì khác ngoài sự chứng nghiệm của thực thể có tâm thức về việc một hình tướng nguyên tử đi vào trong bán kính từ tính của y, hình tướng mà do chính định luật của bản thể mình, y bị dẫn dắt để hoặc hút hoặc đẩy lùi. Chỉ khi hình tướng được siêu vượt, và tinh thần tìm đến tinh thần, thì hiện tượng đẩy lùi mới chấm dứt. Đây sẽ là kết cục tất yếu khi sự tiến hoá thái dương chấm dứt, và nó sẽ đưa đến Giai kỳ qui nguyên. Thời lượng của sự tương tác, thời kỳ tinh thần tìm kiếm tinh thần, và [Page 281] tiến trình rung động cần thiết do việc sử dụng hình tướng, đó là điều chúng ta gọi là Thời gian, dù liên hệ với con người, một Hành Tinh Thượng đế, hay Thượng đế.

Space, again, is included in the idea of consciousness, and its utilisation of matter. Space, for the Logos, is literally the form wherein His conscious activities and purposes are worked out—the solar ring-pass-not. The space wherein a planetary Logos works out His plans is similarly as much of solar space as His consciousness is developed enough to use. Man again repeats the process and his ring-pass-not is included in the radius of his consciousness, and may be very circumscribed as in the case of the little evolved, or may be inclusive of a portion of planetary space of great extent, and even in the case of the very highly evolved may begin to touch the periphery of the sphere of influence of the planetary Logos in Whose body he is a cell.

Không gian, một lần nữa, được bao hàm trong ý niệm về tâm thức, và việc nó sử dụng vật chất. Đối với Thượng đế, không gian theo nghĩa đen là hình tướng trong đó các hoạt động và mục đích có tâm thức của Ngài được triển khai—vòng-giới-hạn thái dương. Không gian trong đó một Hành Tinh Thượng đế triển khai các kế hoạch của Ngài cũng tương tự là phần không gian thái dương mà tâm thức của Ngài đã phát triển đủ để sử dụng. Con người lại lặp lại tiến trình ấy và vòng-giới-hạn của y được bao gồm trong bán kính tâm thức của y, và có thể rất hạn hẹp như trong trường hợp kẻ ít tiến hoá, hoặc có thể bao gồm một phần không gian hành tinh rất rộng lớn, và ngay cả trong trường hợp kẻ rất cao tiến hoá cũng có thể bắt đầu chạm đến chu vi của khối cầu ảnh hưởng của Hành Tinh Thượng đế mà trong thể của Ngài y là một tế bào.

Space for the atom (for instance, the atom in the physical body of man) will be the radius of the form in which is found the greater centre of consciousness of which it is a part and it will be both attracted and repulsed—attracted and built into the form of the greater Life, yet repulsed and thereby prevented from moving from a certain point within that form.

Không gian đối với nguyên tử (chẳng hạn nguyên tử trong thể xác của con người) sẽ là bán kính của hình tướng trong đó tìm thấy trung tâm tâm thức lớn hơn mà nó là một phần, và nó sẽ vừa bị hút vừa bị đẩy lùi—bị hút và được xây dựng vào hình tướng của Sự sống lớn hơn, nhưng cũng bị đẩy lùi và nhờ đó bị ngăn không cho di chuyển khỏi một điểm nhất định bên trong hình tướng ấy.

We have here dealt a little with time and space in their relation to a specific centre of consciousness; we have seen that they are simply forms of ideas to express the cyclic activity of an entity. The subject is exceedingly abstruse, due to the low stage of the human intelligence, which is as yet so occupied with the objective or material side of manifestation that the attraction existing between Spirit and Spirit is little more than a concept. When more of the human family have their centre of consciousness in the Ego and hence are busy with the work of repulsing matter, and with the withdrawal of [Page 282] Spirit from form, then only will the transmutative process be comprehended, then only will time (as known in the three worlds) be transcended, and then only will space (as manifested to man through the three lower planes or the eighteen subplanes) be found to be a barrier. This same statement can be predicated of the seven Logoi and of the solar Logos, extending the idea to other planes, solar and cosmic. So also can it be narrowed down to the subhuman, and to the involutionary lives, remembering ever that as the consciousness is more confined and restricted so inertia, lack of response and limitation of radiation will be seen.

Ở đây chúng ta đã bàn đôi chút về thời gian và không gian trong mối liên hệ của chúng với một trung tâm tâm thức đặc thù; chúng ta đã thấy rằng chúng chỉ đơn giản là những hình tướng của các ý tưởng để diễn đạt hoạt động chu kỳ của một thực thể. Chủ đề này cực kỳ trừu tượng, do giai đoạn thấp của trí tuệ nhân loại, vốn cho đến nay còn quá bận tâm với phương diện khách quan hay vật chất của biểu hiện đến nỗi sự hút tồn tại giữa tinh thần và tinh thần hầu như không hơn gì một khái niệm. Khi nhiều thành viên hơn của gia đình nhân loại có trung tâm tâm thức của họ ở chân ngã và do đó bận rộn với công việc đẩy lùi vật chất, và với sự rút lui của [Page 282] tinh thần khỏi hình tướng, thì chỉ khi ấy tiến trình chuyển hoá mới được thấu hiểu, chỉ khi ấy thời gian (như được biết trong ba cõi giới) mới được siêu vượt, và chỉ khi ấy không gian (như biểu lộ cho con người qua ba cõi thấp hay mười tám cõi phụ) mới được thấy là một rào cản. Cùng một phát biểu này có thể được áp dụng cho bảy Các Thượng đế và cho Thái dương Thượng đế, mở rộng ý tưởng sang các cõi khác, thái dương và vũ trụ. Tương tự, nó cũng có thể được thu hẹp xuống giới dưới nhân loại, và xuống các sự sống giáng hạ tiến hoá, luôn ghi nhớ rằng khi tâm thức càng bị giam hãm và hạn chế hơn thì quán tính, sự thiếu đáp ứng và sự giới hạn của bức xạ sẽ càng được thấy rõ.

By a close scrutiny of chart V, it will be apparent wherein lies the problem of the Logos, and wherein lies the accuracy of the correspondence between Him and His reflection Man.

Qua việc khảo sát kỹ biểu đồ V, sẽ rõ chính trong đâu có vấn đề của Thượng đế, và chính trong đâu có sự chính xác của định luật tương ứng giữa Ngài và phản ảnh của Ngài là Con Người.

First. Both are in objective manifestation on the physical plane.

Thứ nhất. Cả hai đều ở trong biểu hiện khách quan trên cõi hồng trần.

Second. Both are at their point of deepest involution.

Thứ hai. Cả hai đều ở tại điểm giáng hạ tiến hoá sâu nhất của mình.

Third. Both are trammelled by matter, and are developing consciousness (egoic consciousness) on the physical plane—man on the solar physical, and the Logos on the cosmic physical plane.

Thứ ba. Cả hai đều bị vật chất trói buộc, và đang phát triển tâm thức (tâm thức chân ngã) trên cõi hồng trần—con người trên cõi hồng trần thái dương, và Thượng đế trên cõi hồng trần vũ trụ.

Fourth. Man has to bring down into conscious full control, the God within. Through that control he must dominate circumstance, make his environment his instrument and manipulate matter. On cosmic levels the Logos does likewise. Both are far from achievement.

Thứ tư. Con người phải đưa Thượng đế bên trong xuống dưới sự kiểm soát đầy đủ có ý thức. Qua sự kiểm soát đó y phải chế ngự hoàn cảnh, biến môi trường của mình thành công cụ của mình và vận dụng vật chất. Trên các cấp độ vũ trụ, Thượng đế cũng làm như vậy. Cả hai còn xa mới đạt được thành tựu.

Fifth. Both work in, with, and by, electrical force.

Thứ năm. Cả hai đều hoạt động trong, với, và bằng mãnh lực điện.

Sixth. Both come under the laws governing forms and hence both are controlled in time and space by KARMA, which is the Law of forms. It has to do with quality, as force has to do with vibration.

Thứ sáu. Cả hai đều chịu dưới các định luật chi phối các hình tướng và do đó cả hai đều bị kiểm soát trong thời gian và không gian bởi NGHIỆP QUẢ, vốn là Định luật của các hình tướng. Nó liên hệ đến phẩm tính, cũng như mãnh lực liên hệ đến rung động.

Seventh. Both work through forms made up of: [Page 283]

Thứ bảy. Cả hai đều hoạt động qua các hình tướng được cấu thành bởi: [Page 283]

a. Three main types of forms: A mental form, one aspect of manifestation; an astral form, a second aspect; and a physical form, the third aspect. The mental vibration sets the key measure and seeks to utilise and co-ordinate the physical body at Will. It deals with or links up the consciousness to the three forms in one direction; it repulses and causes separation in another. The astral vibration deals with the quality, with the attractive measure. It is the psychic element. The physical is the meeting ground of consciousness with the material form. This last is the result produced by the union of the key measure and the quality of tone.

a. Ba loại hình tướng chính: Một hình tướng trí tuệ, một phương diện của biểu hiện; một hình tướng cảm dục, phương diện thứ hai; và một hình tướng hồng trần, phương diện thứ ba. Rung động trí tuệ đặt ra nhịp điệu chủ chốt và tìm cách sử dụng và phối hợp thể xác theo Ý chí. Nó đề cập đến hay nối kết tâm thức với ba hình tướng theo một hướng; nó đẩy lùi và gây ra phân ly theo hướng khác. Rung động cảm dục liên hệ đến phẩm tính, đến nhịp độ hút. Đó là yếu tố thông linh. Hồng trần là nơi gặp gỡ của tâm thức với hình tướng vật chất. Điều cuối cùng này là kết quả được tạo ra bởi sự kết hợp của nhịp điệu chủ chốt và phẩm tính của âm điệu.

b. Seven centres of force which hold the three forms in one coherent whole, and cause their vitalisation and their co-ordination. They put the triple unit into correlation with their main centre of consciousness on the higher planes, whether that centre is the causal body of man, of a planetary Logos, or of a solar Logos.

b. Bảy trung tâm mãnh lực giữ ba hình tướng trong một toàn thể cố kết, và gây nên sự tiếp sinh lực và sự phối hợp của chúng. Chúng đặt đơn vị tam phân vào trong tương quan với trung tâm tâm thức chính của chúng trên các cõi cao hơn, dù trung tâm đó là thể nguyên nhân của con người, của một Hành Tinh Thượng đế, hay của một Thái dương Thượng đế.

c. Millions of infinitesimal cells, each embodying a lesser life, each in a condition of constant activity, and each repulsing other cells so as to preserve individuality or identity, yet each held to each by a central attractive force. Thus we have produced the objective form of a crystal, a vegetable, an animal, a man, a planet, a system.

c. Hàng triệu tế bào cực vi, mỗi tế bào thể hiện một sự sống nhỏ hơn, mỗi tế bào ở trong tình trạng hoạt động không ngừng, và mỗi tế bào đẩy lùi các tế bào khác để bảo tồn cá thể tính hay bản sắc, tuy nhiên mỗi tế bào vẫn được giữ với nhau bởi một mãnh lực hút trung tâm. Như vậy chúng ta tạo ra hình tướng khách quan của một tinh thể, một thực vật, một động vật, một con người, một hành tinh, một hệ thống.

Finally, both work, therefore, in a dual manner and each demonstrates both attraction and repulsion.

Sau cùng, vì vậy, cả hai đều hoạt động theo cách kép và mỗi bên đều biểu lộ cả hút lẫn đẩy.

Attraction of matter to Spirit and the building of a form for the use of Spirit is the result of electrical energy in the universe, which in each case brings the lesser lives or spheres into its range of influence. The magnetic force, the life of the Logos gathers together His body of manifestation. The magnetic force of the Heavenly Man, the planetary Logos, gathers out of the solar ring-pass-not that which He needs for each incarnation.

Sự hút của vật chất đối với tinh thần và việc xây dựng một hình tướng cho tinh thần sử dụng là kết quả của năng lượng điện trong vũ trụ, năng lượng trong mỗi trường hợp đưa các sự sống hay các khối cầu nhỏ hơn vào trong phạm vi ảnh hưởng của nó. Mãnh lực từ tính, sự sống của Thượng đế, tập hợp thể biểu hiện của Ngài. Mãnh lực từ tính của Đấng Thiên Nhân, Hành Tinh Thượng đế, tập hợp từ vòng-giới-hạn thái dương điều mà Ngài cần cho mỗi lần nhập thể.

[Page 284] The magnetic force of the Ego gathers, at each rebirth, matter within the particular sphere or scheme within which the Ego has place. So on down the scale, we find the lesser pursuing its round ever within the greater.

[Page 284] Mãnh lực từ tính của chân ngã tập hợp, trong mỗi lần tái sinh, vật chất bên trong khối cầu hay hệ hành tinh đặc thù mà trong đó chân ngã có vị trí. Cứ thế đi xuống theo thang bậc, chúng ta thấy cái nhỏ hơn luôn theo đuổi cuộc tuần hoàn của nó bên trong cái lớn hơn.

Therefore we have (during a period of Attraction and Repulsion, or a life cycle) that which we call Time and Space, and this holds equally true in the life cycle of a Logos or an ant, or a crystal. There are cycles of activity in matter, due to some energising Will, and then Time and Space are known. There are cycles of non-being when Time and Space are not, and the energising Will is withdrawn. But we must not forget that this is purely relative, and only to be considered from the standpoint of the particular life or entity involved, and the special stage of awareness reached. All must be interpreted in terms of consciousness.

Vì vậy chúng ta có (trong một thời kỳ Hút và Đẩy, hay một chu kỳ sống) điều mà chúng ta gọi là Thời gian và Không gian, và điều này đúng như nhau trong chu kỳ sống của một Thượng đế, một con kiến, hay một tinh thể. Có những chu kỳ hoạt động trong vật chất, do một Ý chí tiếp năng lượng nào đó, và khi ấy Thời gian và Không gian được biết đến. Có những chu kỳ phi hữu thể khi Thời gian và Không gian không hiện hữu, và Ý chí tiếp năng lượng được rút lại. Nhưng chúng ta không được quên rằng điều này hoàn toàn có tính tương đối, và chỉ được xem xét từ quan điểm của sự sống hay thực thể đặc thù liên hệ, và giai đoạn nhận biết đặc biệt đã đạt tới. Mọi sự đều phải được diễn giải theo các thuật ngữ của tâm thức.

The first type of cycle, or the period involved in one entire revolution of a sphere around its own centre of consciousness, is to the particular Entity involved (be he God or man) a lesser cycle. The second type of cycle or the period involved in the complete circling of an orbit, or the revolution of a sphere around the centre of which it is an integral part, we can consider as a greater cycle. The third type of cycle has not so much to do with the transition of the form through a certain location in space but as the cycle which includes both the greater and the lesser cycles. It has to do with the response of the ENTITY, to Whom our solar Logos is but a centre in His Body, to the contacts made on that centre and on its cosmic opposite. These two centres, for instance, our solar system and its cosmic opposite, in their interaction create a cycle period which has a relation to the “ONE WHO IS ABOVE OUR LOGOS.” This is, of course, beyond human conception, but must be included in our enumeration of cycles if exactitude is to be achieved. [Page 285]

Loại chu kỳ thứ nhất, hay thời kỳ bao hàm trong một vòng quay trọn vẹn của một khối cầu quanh trung tâm tâm thức riêng của nó, đối với Thực Thể đặc thù liên hệ (dù là Thượng đế hay con người) là một chu kỳ nhỏ hơn. Loại chu kỳ thứ hai hay thời kỳ bao hàm trong sự chu chuyển trọn vẹn của một quỹ đạo, hay sự quay của một khối cầu quanh trung tâm mà nó là một phần toàn vẹn, chúng ta có thể xem là một chu kỳ lớn hơn. Loại chu kỳ thứ ba không liên hệ nhiều đến sự chuyển tiếp của hình tướng qua một vị trí nào đó trong không gian cho bằng chu kỳ bao gồm cả chu kỳ lớn hơn lẫn chu kỳ nhỏ hơn. Nó liên hệ đến sự đáp ứng của THỰC THỂ mà đối với Ngài Thái dương Thượng đế của chúng ta chỉ là một trung tâm trong Thể của Ngài, đối với các tiếp xúc được tạo ra trên trung tâm đó và trên đối cực vũ trụ của nó. Chẳng hạn, hai trung tâm này, hệ mặt trời của chúng ta và đối cực vũ trụ của nó, trong sự tương tác của chúng tạo ra một thời kỳ chu kỳ có liên hệ với “ĐẤNG Ở TRÊN THƯỢNG ĐẾ CỦA CHÚNG TA.” Dĩ nhiên điều này vượt ngoài quan niệm của con người, nhưng phải được bao gồm trong sự liệt kê các chu kỳ của chúng ta nếu muốn đạt được tính chính xác. [Page 285]

VIII. WHY IS KNOWLEDGE BOTH EXOTERIC AND ESOTERIC? — VIII. TẠI SAO TRI THỨC VỪA NGOẠI MÔN VỪA NỘI MÔN?

(116)

(116)

(116) In the Secret Doctrine we are told that there are seven branches of knowledge mentioned in the Puranas. S. D., I, 192.

(116) Trong Giáo Lý Bí Nhiệm chúng ta được cho biết rằng có bảy ngành tri thức được nhắc đến trong các Purana. S. D., I, 192.

Correspondences can here be worked out in connection with:—

Ở đây có thể triển khai các tương ứng liên hệ với:—

a. The seven Rays, the Lords of Sacrifice, Love and Knowledge.

a. bảy cung, các Đấng Chúa Tể của Hi sinh, Bác ái và Tri thức.

b. The seven states of consciousness.

b. bảy trạng thái tâm thức.

c. The seven states of matter or planes.

c. bảy trạng thái của vật chất hay các cõi.

d. The seven types of forces.

d. bảy loại mãnh lực.

e. The seven Initiations and many other septenates.

e. bảy cuộc điểm đạo và nhiều bộ bảy khác.

The Gnosis, the hidden knowledge, is the seventh Principle, the six schools of Indian philosophy are the six principles.—S. D., I, 299.

Gnosis, tri thức ẩn tàng, là nguyên khí thứ bảy, sáu trường phái triết học Ấn Độ là sáu nguyên khí.—S. D., I, 299.

These six schools are:—

Sáu trường phái này là:—

a. The school of Logic..Proof of right perception.

a. Trường phái Luận lý..Chứng minh về tri giác đúng đắn.

b. The atomic school...System of particulars. Elements. Alchemy and chemistry.

b. Trường phái nguyên tử...Hệ thống các đặc tính riêng biệt. Các nguyên tố. Thuật luyện kim và hoá học.

c. The Sankhya school...System of numbers. The materialistic school. The theory of the seven states of matter or prakriti.

c. Trường phái Sankhya...Hệ thống các con số. Trường phái duy vật. Lý thuyết về bảy trạng thái của vật chất hay prakriti.

d. The school of Yoga...Union. The rule of daily life. Mysticism.

d. Trường phái Yoga...Hợp nhất. Quy luật của đời sống hằng ngày. Thần bí học.

e. The school of Ceremonial religion...Ritual. Worship of the devas or Gods.

e. Trường phái Tôn giáo nghi lễ...Nghi thức. Sự thờ phụng các thiên thần hay các Thượng đế.

f. The Vedanta school...Has to do with non-duality. Deals with the relation of Atma in man to the Logos.

f. Trường phái Vedanta...Liên hệ đến phi nhị nguyên. Đề cập đến mối liên hệ của Atma trong con người với Thượng đế.

The Gnosis or hidden knowledge is the same as Atma vidya, or Theosophy, and includes the other six. (back)

Gnosis hay tri thức ẩn tàng cũng chính là Atma vidya, hay Thông Thiên Học, và bao gồm sáu trường phái kia. (back)

We can now take up the question next in order, which was worded: “Why do we consider certain aspects of knowledge esoteric and other aspects as exoteric?”

Giờ đây chúng ta có thể nêu câu hỏi kế tiếp theo thứ tự, được diễn đạt như sau: “Tại sao chúng ta xem một số phương diện tri thức là nội môn và các phương diện khác là ngoại môn?”

The answer to this practically involves the realisation that some knowledge deals with the subjective side of life, and the other type of knowledge with the objective side; that one type of knowledge is concerned with energy and force (hence the danger of undue hasty revelation) and another with that which is energised. Therefore it will be apparent that until the faculty of ascertaining subjective information is achieved, whole ranges of facts will remain outside the scope of the consciousness of the majority.

Câu trả lời cho điều này trên thực tế bao hàm sự chứng nghiệm rằng một loại tri thức đề cập đến phương diện chủ quan của sự sống, còn loại tri thức kia đề cập đến phương diện khách quan; rằng một loại tri thức liên quan đến năng lượng và mãnh lực (do đó có sự nguy hiểm của việc mặc khải quá vội vàng) và loại kia liên quan đến điều được tiếp năng lượng. Vì vậy sẽ rõ rằng cho đến khi đạt được khả năng xác định thông tin chủ quan, toàn bộ những phạm vi sự kiện sẽ vẫn nằm ngoài tầm của tâm thức của đa số.

As we have been told, the goal of evolution is the attainment of consciousness on all planes; owing to the small evolutionary attainment of the race only the physical plane is as yet in any way brought under conscious control. The knowledge which deals with that plane, [Page 286] the information which is concerned with densest objectivity, the sumtotal of facts connected with the five lower subplanes of the physical plane are (from the occult standpoint) considered exoteric. During the next two races the other two subplanes will be mastered, and the entire mass of knowledge concerned with physical and etheric matter, with energy, form and experience on the physical plane, will be easily available to man, and concern only his five physical senses.

Như chúng ta đã được cho biết, mục tiêu của tiến hoá là đạt được tâm thức trên mọi cõi; do thành tựu tiến hoá còn nhỏ bé của nhân loại, cho đến nay chỉ có cõi hồng trần phần nào được đưa vào dưới sự kiểm soát có ý thức. Tri thức đề cập đến cõi đó, [Page 286] thông tin liên quan đến tính khách quan đậm đặc nhất, tổng số các sự kiện gắn với năm cõi phụ thấp của cõi hồng trần, đều được xem là ngoại môn (theo quan điểm huyền bí học). Trong hai nhân loại kế tiếp, hai cõi phụ còn lại sẽ được làm chủ, và toàn bộ khối tri thức liên quan đến vật chất hồng trần và dĩ thái, đến năng lượng, hình tướng và kinh nghiệm trên cõi hồng trần, sẽ dễ dàng sẵn có cho con người, và chỉ liên quan đến năm giác quan hồng trần của y.

Information and knowledge of the life evolving through the forms will for a considerably longer time be considered esoteric, as also will the apprehension and comprehension of the matter aspect, and the laws governing energy on the astral and the mental planes. This is stated in connection with average man, the rank and file of humanity. Objective or exoteric information is largely that obtained or ascertained by men in the Hall of Learning by means of the five senses, and by experiment. Experiment in due course of time and after many cycles of incarnation is transmuted into experience, and this produces eventually that which we call instinct, or the habitual reaction of some type of consciousness to a given set of circumstances, or of environment. These two factors of the senses and of experimental contact can be seen working out in the animal and human kingdoms; the difference between the two exists in the ability of the man consciously to remember, apprehend, anticipate, and utilise the fruits of past experience, and thus influence the present and prepare for the future. He employs the physical brain for this purpose. An animal likewise has an instinctual memory, apprehension, and an embryo anticipation, but (lacking mind) he is unable to adjust them to circumstances in the sense of prearrangement, and lacks the capacity consciously to utilise, and thus reap, the benefit of past events, and to learn from experience in the manner which a man does. The [Page 287] animal uses the solar plexus in the same way that a man uses the brain; it is the organ of instinct.

Thông tin và tri thức về sự sống đang tiến hoá qua các hình tướng sẽ còn được xem là nội môn trong một thời gian dài hơn đáng kể, cũng như sự lĩnh hội và thấu hiểu phương diện vật chất, và các định luật chi phối năng lượng trên cõi cảm dục và cõi trí. Điều này được nói ra liên hệ đến con người trung bình, hàng ngũ đông đảo của nhân loại. Thông tin khách quan hay ngoại môn phần lớn là điều được con người thu nhận hay xác định trong Phòng Hiểu Biết bằng năm giác quan, và bằng thực nghiệm. Thực nghiệm theo thời gian và sau nhiều chu kỳ nhập thể được chuyển hoá thành kinh nghiệm, và cuối cùng điều này tạo ra cái mà chúng ta gọi là bản năng, hay phản ứng quen thuộc của một loại tâm thức nào đó đối với một tập hợp hoàn cảnh hay môi trường nhất định. Hai yếu tố này của giác quan và của tiếp xúc thực nghiệm có thể được thấy đang vận hành trong giới động vật và giới nhân loại; sự khác biệt giữa hai giới tồn tại ở khả năng của con người trong việc nhớ lại một cách có ý thức, lĩnh hội, dự liệu, và sử dụng thành quả của kinh nghiệm quá khứ, và nhờ đó ảnh hưởng đến hiện tại và chuẩn bị cho tương lai. Y sử dụng bộ não hồng trần cho mục đích này. Động vật cũng có ký ức bản năng, sự lĩnh hội, và một mầm mống dự liệu, nhưng (do thiếu trí tuệ) nó không thể điều chỉnh chúng theo hoàn cảnh theo nghĩa sắp đặt trước, và thiếu khả năng sử dụng một cách có ý thức, và do đó gặt hái, lợi ích của các biến cố quá khứ, cũng như học hỏi từ kinh nghiệm theo cách mà con người làm. Con [Page 287] vật sử dụng tùng thái dương theo cùng cách mà con người sử dụng bộ não; đó là cơ quan của bản năng.

All that can be acquired by instinct and by the use of the concrete mind functioning through the physical brain can be considered as dealing with that which we call exoteric. It is thus evident how the range of fact will differ according to:

Tất cả những gì có thể đạt được bằng bản năng và bằng việc sử dụng trí cụ thể hoạt động qua bộ não hồng trần đều có thể được xem là đề cập đến điều mà chúng ta gọi là ngoại môn. Do đó hiển nhiên là phạm vi sự kiện sẽ khác nhau tuỳ theo:

a. The age of the soul.

a. tuổi của linh hồn.

b. Experience developed and used.

b. kinh nghiệm được phát triển và sử dụng.

c. Condition of the brain and the physical body.

c. tình trạng của bộ não và thể xác.

d. Circumstances and environment.

d. hoàn cảnh và môi trường.

As time progresses and man reaches a fair state of evolution, mind is more rapidly developed, and a new factor comes gradually into play. Little by little the intuition, or the transcendental mind, begins to function, and eventually supersedes the lower or concrete mind. It then utilises the physical brain as a receiving plate, but at the same time develops certain centres in the head, and thus transfers the zone of its activity from the physical brain to the higher head centres, existing in etheric matter. For the mass of humanity, this will be effected during the opening up of the etheric subplanes during the next two races. This is paralleled in the animal kingdom by the gradual transference of the zone of activity from the solar plexus to the rudimentary brain, and its gradual development by the aid of manas.

Khi thời gian tiến triển và con người đạt đến một trạng thái tiến hoá khá tốt, trí tuệ phát triển nhanh hơn, và một yếu tố mới dần dần đi vào hoạt động. Từng chút một, trực giác, hay Trí Tuệ Siêu Việt, bắt đầu hoạt động, và cuối cùng thay thế hạ trí hay trí cụ thể. Khi ấy nó sử dụng bộ não hồng trần như một tấm tiếp nhận, nhưng đồng thời phát triển một số trung tâm trong đầu, và nhờ đó chuyển vùng hoạt động của nó từ bộ não hồng trần sang các trung tâm đầu cao hơn, tồn tại trong vật chất dĩ thái. Đối với đại đa số nhân loại, điều này sẽ được thực hiện trong thời kỳ khai mở các cõi phụ dĩ thái trong hai nhân loại kế tiếp. Điều này được song hành trong giới động vật bởi sự chuyển dịch dần dần vùng hoạt động từ tùng thái dương sang bộ não sơ khai, và sự phát triển dần dần của nó nhờ sự trợ giúp của manas.

As we consider these points, it will become apparent that the esoteric aspects of knowledge are really those zones of consciousness which are not yet conquered, and brought within the radius of control of the indwelling Entity.

Khi chúng ta xem xét các điểm này, sẽ trở nên rõ ràng rằng các phương diện nội môn của tri thức thực ra là những vùng tâm thức chưa được chinh phục, và chưa được đưa vào trong bán kính kiểm soát của Thực Thể nội tại.

The point to be emphasised is that when this is realised the true significance of the esoteric and the occult will be appreciated, and the endeavor of all KNOWERS will be to draw within the zone of their knowledge other [Page 288] units who are ready for a similar expansion of consciousness. In this thought lies the key to the work of the Brotherhood. They attract by Their force into certain fields of realisation and endeavor and by that attraction and the response of those human atoms who are ready, the group soul on the upward arc, or a particular centre of a Heavenly Man, is co-ordinated.

Điểm cần nhấn mạnh là khi điều này được chứng nghiệm, thâm nghĩa đích thực của nội môn và huyền bí học sẽ được đánh giá đúng, và nỗ lực của tất cả CÁC THỨC GIẢ sẽ là đưa vào trong vùng tri thức của mình những [Page 288] đơn vị khác đã sẵn sàng cho một sự mở rộng tâm thức tương tự. Trong tư tưởng này có chìa khóa cho công việc của Huynh đệ Đoàn. Các Ngài hút bằng mãnh lực của Các Ngài vào những lĩnh vực chứng nghiệm và nỗ lực nhất định, và nhờ sự hút đó cùng sự đáp ứng của những nguyên tử nhân loại đã sẵn sàng, hồn nhóm trên cung đi lên, hay một trung tâm đặc thù của một Đấng Thiên Nhân, được phối hợp.

In the same way the animal is brought at a certain stage into the zone of influence of the lesser sons of mind—human beings who are the elder brothers of the animals, as the Masters of the Wisdom are the Elder Brothers where humanity is concerned. So the interlocking proceeds and the division of responsibility.

Cũng theo cách ấy, động vật được đưa vào ở một giai đoạn nhất định trong vùng ảnh hưởng của các con nhỏ hơn của trí tuệ—những con người là các huynh trưởng của loài vật, cũng như các Chân sư Minh Triết là các Huynh Trưởng đối với nhân loại. Cứ thế sự móc nối tiếp diễn và sự phân chia trách nhiệm cũng vậy.

IX. WHAT IS THE RELATION BETWEEN: — IX. MỐI LIÊN HỆ GIỮA:

a. The ten planetary schemes?

a. mười hệ hành tinh là gì?

b. The seven sacred planets?

b. bảy hành tinh thiêng liêng là gì?

c. The seven chains in a scheme?

c. bảy dãy trong một hệ hành tinh là gì?

d. The seven globes in a chain?

d. bảy bầu hành tinh trong một dãy là gì?

e. The seven rounds on a globe?

e. bảy cuộc tuần hoàn trên một bầu hành tinh là gì?

f. The seven root-races and the seven subraces?

f. bảy giống dân gốc và bảy giống dân phụ là gì?

We have in this question a vast quantity of matter to deal with and it will be impossible for us to do more than to get a broad and general idea.

Trong câu hỏi này chúng ta có một khối lượng chất liệu rất lớn để bàn đến và chúng ta sẽ không thể làm gì hơn ngoài việc nắm được một ý niệm rộng và tổng quát.

The subject is so vast and the comprehensiveness of the interrelated points is so great that we shall only attain lucidity if we confine our attention to certain broad general conceptions, leaving the subsidiary points for more detailed elucidation at some later period.

Chủ đề này quá bao la và tính bao quát của các điểm liên hệ lẫn nhau quá lớn đến nỗi chúng ta chỉ có thể đạt được sự sáng tỏ nếu giới hạn sự chú ý của mình vào một số quan niệm tổng quát rộng lớn, để các điểm phụ thuộc lại cho sự làm sáng tỏ chi tiết hơn vào một thời kỳ sau.

1. The Inter-related Parts

1. Các phần liên hệ lẫn nhau

Primarily I would suggest that we consider this subject only as it concerns a Heavenly Man, that we omit from our immediate calculations the consideration of the cellular composition of His body (those separated units of consciousness which we call deva and human [Page 289] beings), and that we view the matter from what is to the human being, the group concept, and not the individual.

Trước hết tôi xin gợi ý rằng chúng ta chỉ xem xét chủ đề này trong chừng mực nó liên hệ đến một Đấng Thiên Nhân, rằng chúng ta tạm thời bỏ ra ngoài các tính toán trực tiếp của mình việc xem xét thành phần tế bào của thể Ngài (những đơn vị tâm thức tách biệt mà chúng ta gọi là thiên thần và con người [Page 289]), và rằng chúng ta nhìn vấn đề từ điều mà đối với con người là quan niệm nhóm, chứ không phải cá nhân.

The entire middle section of this treatise on the Fires has to do with the development of the consciousness of a Heavenly Man, and the application by Him of the knowledge gained (through the aid of manas or mind) in a previous solar system, to the acquisition of wisdom through objectivity, and to the transmutation of the earlier acquired faculty into applied Love. This is His work in the same sense that the work of the cells within His body is to develop the mind principle. When through experience in the three worlds the human units have accomplished this, they can then gain—through the final initiations—something of the group concept, or the conscious realisation of place, and of energised activity within the ring-pass-not of their particular planetary Logos. Therefore, we might consider the following points:

Toàn bộ phần giữa của bộ luận này về các Loại Lửa đề cập đến sự phát triển tâm thức của một Đấng Thiên Nhân, và việc Ngài áp dụng tri thức đã đạt được (nhờ sự trợ giúp của manas hay trí tuệ) trong một hệ mặt trời trước đây, vào việc đạt được minh triết qua tính khách quan, và vào việc chuyển hoá năng lực đã đạt được trước kia thành Bác Ái được áp dụng. Đây là công việc của Ngài theo cùng ý nghĩa như công việc của các tế bào trong thể Ngài là phát triển nguyên khí trí tuệ. Khi qua kinh nghiệm trong ba cõi giới các đơn vị nhân loại đã hoàn thành điều này, khi ấy họ có thể đạt được—qua các cuộc điểm đạo cuối cùng—một phần nào quan niệm nhóm, hay sự chứng nghiệm có ý thức về vị trí, và về hoạt động được tiếp năng lượng bên trong vòng-giới-hạn của Hành Tinh Thượng đế đặc thù của họ. Vì vậy, chúng ta có thể xem xét các điểm sau:

First: The work of the units who go to the make-up of a particular planetary Logos. This is of a threefold nature:

Thứ nhất: Công việc của các đơn vị tạo nên thành phần của một Hành Tinh Thượng đế đặc thù. Điều này có bản chất tam phân:

a. To attain the consciousness of the realised control of their own individual ring-pass-not, or of their own sphere of activity. This covers the period of evolution up to the first Initiation, or their entrance upon the Path, and thus into the spiritual kingdom. It concerns the awakening of consciousness on the three lower planes.

a. Đạt được tâm thức về sự kiểm soát đã chứng nghiệm đối với vòng-giới-hạn cá nhân của chính họ, hay đối với khối cầu hoạt động riêng của họ. Điều này bao trùm thời kỳ tiến hoá cho đến lần điểm đạo thứ nhất, hay việc họ bước vào Con Đường, và do đó vào giới tinh thần. Nó liên hệ đến sự thức tỉnh tâm thức trên ba cõi thấp.

b. To attain the consciousness of the particular centre in the body of one of the planetary Logoi—which centre embodies their group activity. This carries them to the fifth Initiation, and covers the period wherein consciousness is awakened on the five planes of evolution.

b. Đạt được tâm thức về trung tâm đặc thù trong thể của một trong các Hành Tinh Thượng đế—trung tâm thể hiện hoạt động nhóm của họ. Điều này đưa họ đến lần điểm đạo thứ năm, và bao trùm thời kỳ trong đó tâm thức được thức tỉnh trên năm cõi tiến hoá.

c. To attain to the consciousness of the centre in the Body of the Logos of which any particular planetary [Page 290] Logos is the sumtotal. This carries them to the seventh Initiation and covers the period of the awakening of consciousness on the seven planes of the solar system.

c. Đạt đến tâm thức về trung tâm trong Thể của Thượng đế mà bất kỳ Hành Tinh Thượng đế đặc thù nào cũng là tổng thể. Điều này đưa họ đến lần điểm đạo thứ bảy và bao trùm thời kỳ thức tỉnh tâm thức trên bảy cõi của hệ mặt trời.

These expansions are attained by the aid of mind, transmuted in due course of time into love-wisdom, and entail the conscious control of the entire seven planes of the solar system, or of the lowest cosmic plane.

Những sự mở rộng này đạt được nhờ sự trợ giúp của trí tuệ, được chuyển hoá theo thời gian thành Bác Ái – Minh Triết, và bao hàm sự kiểm soát có ý thức đối với toàn bộ bảy cõi của hệ mặt trời, hay cõi vũ trụ thấp nhất.

Second: The work of the Heavenly Men Who in their totality are the seven centres in the body of the Logos. This work is again threefold:

Thứ hai: Công việc của các Đấng Thiên Nhân là những Đấng trong tổng thể của Các Ngài là bảy trung tâm trong thể của Thượng đế. Công việc này lại cũng tam phân:

a. To attain to full self-consciousness, or to individual consciousness on the five planes; to vibrate with conscious activity within Their Own ring-pass-not, a planetary scheme. This covers a period in the scheme of involution, and of that period during the evolutionary stage which is comprised within the first three rounds up to the entrance upon the fourth round.

a. Đạt đến ngã thức trọn vẹn, hay tâm thức cá nhân trên năm cõi; rung động với hoạt động có ý thức bên trong vòng-giới-hạn riêng của Các Ngài, một hệ hành tinh. Điều này bao trùm một thời kỳ trong hệ hành tinh của giáng hạ tiến hoá, và của thời kỳ đó trong giai đoạn tiến hoá được bao gồm trong ba cuộc tuần hoàn đầu cho đến khi bước vào cuộc tuần hoàn thứ tư.

b. To attain to the consciousness of the solar Logos, within Whose body They form the centres. It entails the attainment by a Heavenly Man of a group consciousness of a sevenfold nature, or the achievement of accurate vibratory relationship with the other Heavenly Men Who form the other centres. It carries with it the capacity to have full conscious control on the seven planes of the solar system, and covers that period of development which is undergone in a planetary chain during the fourth, fifth, and sixth rounds. It should be borne in mind that a paralleling recognition should here be given to the fact that the solar Logos holds an analogous position in the body of a cosmic Entity to that held by a Heavenly Man in the body of a solar Logos.

b. Đạt đến tâm thức của Thái dương Thượng đế, trong thể của Ngài Các Ngài tạo thành các trung tâm. Điều đó bao hàm việc một Đấng Thiên Nhân đạt được một tâm thức nhóm có bản chất thất phân, hay thành tựu mối liên hệ rung động chính xác với các Đấng Thiên Nhân khác tạo thành các trung tâm khác. Nó mang theo khả năng có sự kiểm soát hoàn toàn có ý thức trên bảy cõi của hệ mặt trời, và bao trùm thời kỳ phát triển được trải qua trong một dãy hành tinh trong cuộc tuần hoàn thứ tư, thứ năm và thứ sáu. Cần ghi nhớ rằng ở đây cũng nên thừa nhận một sự nhận biết song hành đối với sự kiện rằng Thái dương Thượng đế giữ một vị trí tương tự trong thể của một Thực Thể vũ trụ như vị trí mà một Đấng Thiên Nhân giữ trong thể của một Thái dương Thượng đế.

c. To attain to the consciousness of a greater centre on cosmic levels. This covers the period of the seventh round, and gives to a Heavenly Man (when these rounds are viewed in the light of the Eternal Now, and not from the standpoint of time and of space) the consciousness of [Page 291] the cosmic astral, or the second lowest plane of the cosmic planes. A great deal of the problem to be seen slowly working out at this time to a solution is due to the fact that the control of the Heavenly Man, Whose body our scheme may be, is as yet but partial, and His cosmic experience is as yet but imperfect. This necessarily affects the cells in His body in the same way that lack of astral control in the case of a human being, affects his vehicle. It might here be pointed out that the evolution of the Heavenly Men is unequal, and that our planetary Logos has not the control, for instance, that the Heavenly Man of the Venus chain has achieved. In each round one subplane of the cosmic astral plane is brought under control, and the consciousness of the Heavenly Man expands to include one subplane more. The planetary Lord of Venus has dominated and controlled the five subplanes and is working on the sixth. Our planetary Logos is engaged in a similar work on the fourth and fifth. The work, as in all cycles, overlaps and it might be explained thus:

c. Đạt đến tâm thức của một trung tâm lớn hơn trên các cấp độ vũ trụ. Điều này bao trùm thời kỳ của cuộc tuần hoàn thứ bảy, và mang lại cho một Đấng Thiên Nhân (khi các cuộc tuần hoàn này được nhìn dưới ánh sáng của Hiện Tại Vĩnh Cửu, chứ không từ quan điểm của thời gian và không gian) tâm thức của [Page 291] cõi cảm dục vũ trụ, hay cõi thấp thứ hai trong các cõi vũ trụ. Phần lớn vấn đề hiện đang được thấy chậm rãi tiến tới một giải pháp là do sự kiện rằng sự kiểm soát của Đấng Thiên Nhân mà thể Ngài có thể là hệ hành tinh của chúng ta, cho đến nay vẫn chỉ là từng phần, và kinh nghiệm vũ trụ của Ngài cho đến nay vẫn chưa hoàn hảo. Điều này tất yếu ảnh hưởng đến các tế bào trong thể Ngài theo cùng cách mà sự thiếu kiểm soát cảm dục trong trường hợp một con người ảnh hưởng đến vận cụ của y. Ở đây có thể chỉ ra rằng sự tiến hoá của các Đấng Thiên Nhân là không đồng đều, và Hành Tinh Thượng đế của chúng ta chẳng hạn chưa có được sự kiểm soát mà Đấng Thiên Nhân của dãy Kim Tinh đã đạt được. Trong mỗi cuộc tuần hoàn, một cõi phụ của cõi cảm dục vũ trụ được đưa vào dưới sự kiểm soát, và tâm thức của Đấng Thiên Nhân mở rộng để bao gồm thêm một cõi phụ nữa. Chúa Tể Hành Tinh của Kim Tinh đã chế ngự và kiểm soát năm cõi phụ và đang làm việc trên cõi phụ thứ sáu. Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đang dấn thân vào một công việc tương tự trên cõi phụ thứ tư và thứ năm. Công việc này, như trong mọi chu kỳ, có sự chồng lấn và có thể được giải thích như sau:

He is perfecting the control of the fourth subplane on the cosmic astral plane, and has nearly completed it. He is beginning to work at the control of the fifth subplane—a control which will be perfected in the fifth round.

Ngài đang hoàn thiện sự kiểm soát cõi phụ thứ tư trên cõi cảm dục vũ trụ, và gần như đã hoàn tất. Ngài đang bắt đầu làm việc để kiểm soát cõi phụ thứ năm—một sự kiểm soát sẽ được hoàn thiện trong cuộc tuần hoàn thứ năm.

He is sensing and responding to the vibration of the sixth subplane, but is not as yet fully conscious on that subplane.

Ngài đang cảm nhận và đáp ứng với rung động của cõi phụ thứ sáu, nhưng cho đến nay chưa hoàn toàn có ý thức trên cõi phụ đó.

We have a corresponding reflection to this in the fourth and fifth root-races on this planet, in which the astral consciousness of the Atlantean cycle is being perfected, the fifth principle is being developed, and the sixth is being gradually sensed. This deserves thoughtful consideration.

Chúng ta có một phản ảnh tương ứng của điều này trong giống dân gốc thứ tư và thứ năm trên hành tinh này, trong đó tâm thức cảm dục của chu kỳ Atlantis đang được hoàn thiện, nguyên khí thứ năm đang được phát triển, và nguyên khí thứ sáu đang dần dần được cảm nhận. Điều này đáng được suy ngẫm cẩn trọng.

Third: The work of a solar logos is again of a corresponding nature:

Thứ ba: Công việc của một Thái dương Thượng đế lại cũng có bản chất tương ứng:

[Page 292] a. He has to attain to the full consciousness of His entire ring-pass-not, or of the seven planes of the solar system. This covers a period wherein five of the Heavenly Men, or five of His centres, and therefore, five schemes, reach a stage of accurate response to contact and stimulation.

[Page 292] a. Ngài phải đạt đến tâm thức trọn vẹn về toàn bộ vòng-giới-hạn của Ngài, hay về bảy cõi của hệ mặt trời. Điều này bao trùm một thời kỳ trong đó năm Đấng Thiên Nhân, hay năm trung tâm của Ngài, và do đó năm hệ hành tinh, đạt đến một giai đoạn đáp ứng chính xác đối với tiếp xúc và kích thích.

b. He has to attain to the consciousness of the cosmic Logos within Whose body He is a centre. He must find by experience His place within the cosmic group of which He is a part, in much the same way as a planetary Logos pursues a similar course. This is achieved when all the Heavenly Men or each of the seven centres are awakened and functioning consciously and freely, with their systemic inter-relation adjusted and controlled by the Law of Action and Reaction. It brings within His control not only the seven subplanes of the cosmic physical plane (our seven major planes) but necessarily also the cosmic astral plane.

b. Ngài phải đạt đến tâm thức của Thượng đế vũ trụ mà trong thể của Ngài, Ngài là một trung tâm. Ngài phải tìm ra bằng kinh nghiệm vị trí của mình trong nhóm vũ trụ mà Ngài là một phần, theo cách rất giống như một Hành Tinh Thượng đế theo đuổi một tiến trình tương tự. Điều này đạt được khi tất cả các Đấng Thiên Nhân hay mỗi một trong bảy trung tâm đều được thức tỉnh và hoạt động một cách có ý thức và tự do, với mối liên hệ hệ thống của chúng được điều chỉnh và kiểm soát bởi Định luật Hành Động và Phản Ứng. Điều đó đưa vào dưới sự kiểm soát của Ngài không chỉ bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ (bảy cõi chính của chúng ta) mà tất yếu còn cả cõi cảm dục vũ trụ nữa.

c. To attain to the consciousness of the centre in the body of the ONE ABOUT WHOM NOUGHT MAY BE SAID. This centre is formed by the sphere of influence of a cosmic Logos. In the body of a cosmic Logos, a solar Logos is a centre.

c. Đạt đến tâm thức của trung tâm trong thể của Đấng Bất Khả Tư Nghị. Trung tâm này được tạo thành bởi khối cầu ảnh hưởng của một Thượng đế vũ trụ. Trong thể của một Thượng đế vũ trụ, một Thái dương Thượng đế là một trung tâm.

We must bear in mind that this enumeration is given from the standpoint of the present, and from the angle of vision (relatively limited) of the Heavenly Man of our particular scheme, and that it is therefore circumscribed by His peculiar conditions, which govern the intelligence of the cells in His body; it is given from the point of view of differentiation and not of synthesis. A synthetic absorption proceeds eventually in connection with all these Entities, and each undergoes a process, paralleling on His Own level that undergone by the Microcosm; in the case of the Microcosm the causal body or the body of the Ego acts as the synthesiser of the energy of the Quaternary or lower Self, and the spiritual

Chúng ta phải ghi nhớ rằng sự liệt kê này được đưa ra từ quan điểm của hiện tại, và từ góc nhìn (tương đối hạn chế) của Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh đặc thù của chúng ta, và do đó bị giới hạn bởi các điều kiện đặc thù của Ngài, những điều kiện chi phối trí tuệ của các tế bào trong thể Ngài; nó được đưa ra từ quan điểm của biến phân chứ không phải của tổng hợp. Cuối cùng một sự hấp thu tổng hợp sẽ diễn ra liên hệ với tất cả các Thực Thể này, và mỗi vị đều trải qua một tiến trình, song hành trên cấp độ riêng của Ngài với tiến trình mà Tiểu thiên địa trải qua; trong trường hợp của Tiểu thiên địa, thể nguyên nhân hay thể của chân ngã hoạt động như yếu tố tổng hợp năng lượng của Bộ Tứ hay phàm ngã thấp, và tinh thần

[Page 293] TABULATION II

[Page 293] BẢNG II

EVOLUTION IN THE UNIVERSE

TIẾN HOÁ TRONG VŨ TRỤ

Entity

Vehicle

Centre

Space

Time

The Unknown

7 constellations.

cosmic Logos

5 cosmic planes.

A cosmic Logos

7 solar systems

solar Logos

4 cosmic planes.

A solar Logos

7 planetary

schemes

Heavenly

Man

3 cosmic planes.

Period of three solar systems.

A Heavenly Man

7 planetary

chains

Chohans and

groups

2 cosmic planes.

Period of one solar system.

A Man

7 etheric centrcs

a Principle

1 cosmic plane

Period of one planetary scheme.