Trích nội dung chương
The rarity instead of the density of matter. The fourth cosmic ether, the buddhic, is the plane of air, and is also the plane of absorption for the three worlds. This rarefication of dense matter (as we know it) simply means that at the close of the evolutionary process it will have been transmuted and be practically, from our point of view, non-existent; all that will be left will be the positive atoms, or certain vortices of force which—having absorbed the negative will demonstrate as electrical phenomena of a form inconceivable to man at his present stage of knowledge. These vortices will be distinguished by: Sự thưa loãng thay vì sự đậm…
Synthesis.
Tổng hợp.
Homogeneity.
Đồng nhất tính.
The rarity instead of the density of matter. The fourth cosmic ether, the buddhic, is the plane of air, and is also the plane of absorption for the three worlds. This rarefication of dense matter (as we know it) simply means that at the close of the evolutionary process it will have been transmuted and be practically, from our point of view, non-existent; all that will be left will be the positive atoms, or certain vortices of force which—having absorbed the negative will demonstrate as electrical phenomena of a form inconceivable to man at his present stage of knowledge. These vortices will be distinguished by:
Sự thưa loãng thay vì sự đậm đặc của vật chất. Cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư, cõi Bồ đề, là cõi của khí, và cũng là cõi hấp thu đối với ba cõi giới. Sự làm loãng vật chất đậm đặc này (như chúng ta biết) đơn giản có nghĩa là vào lúc kết thúc tiến trình tiến hoá, nó sẽ được chuyển hoá và thực tế, từ quan điểm của chúng ta, sẽ không còn tồn tại; tất cả những gì còn lại sẽ là các nguyên tử dương, hay một số xoáy lực mà—sau khi đã hấp thu cái âm—sẽ biểu lộ như các hiện tượng điện dưới một hình thức mà con người ở giai đoạn tri thức hiện nay không thể hình dung được. Các xoáy này sẽ được phân biệt bởi:
1. Intense vibratory activity.
1. Hoạt động rung động mãnh liệt.
2. The predominance of one certain colour according to the quality of the etheric display, and its source.
2. Sự trội vượt của một màu sắc nhất định tùy theo phẩm tính của sự biểu lộ dĩ thái, và nguồn gốc của nó.
3. Repulsion to all bodies of similar vibratory rate and polarity. Their attractive quality at the end of evolution will cease owing to the fact that naught remains to be attracted.
3. Sự đẩy lùi đối với mọi thể có cùng nhịp độ rung động và cực tính. Phẩm tính hấp dẫn của chúng vào cuối tiến hoá sẽ chấm dứt do sự kiện rằng không còn gì để hấp dẫn nữa.
The vortices in each planetary scheme will be, during evolution, seven. Later, during the period of obscuration, three of the vortices will approximate their masculine pole and eventually but one will be left. In man a similar procedure can be seen in connection with his [Page 323] seven centres during the process of initiation. First there are seven, then three absorb the lower four through electrical interaction. We are here viewing the subject wholly from the point of view of our present discussion. Finally, only the head centre is left, for it is the positive pole to all the others.
Các xoáy trong mỗi hệ hành tinh sẽ là bảy trong tiến hoá. Về sau, trong thời kỳ che khuất, ba trong các xoáy sẽ tiến gần đến cực nam tính của chúng và cuối cùng chỉ còn lại một. Nơi con người, một tiến trình tương tự có thể được thấy liên hệ với bảy trung tâm của y trong tiến trình điểm đạo. Trước hết có bảy, rồi ba hấp thu bốn thấp hơn qua sự tương tác điện. Ở đây chúng ta đang nhìn chủ đề hoàn toàn từ quan điểm của cuộc thảo luận hiện tại. Cuối cùng, chỉ còn trung tâm đầu, vì nó là cực dương đối với tất cả các trung tâm khác.
This question of the electrical polarity of the centres is one of real difficulty, and little can be communicated on the matter. It may be safely pointed out, however, that the generative organs are the negative pole to the throat centre as is the solar plexus to the heart. The order of the development of the centres, the ray-type and colour, coupled to the fact that during certain stages of the evolutionary process different centres (such as the base of the spine) are positive to all the others, not even excluding the head centre, leads to the vast complexity of the subject. Likewise certain of the planetary schemes are positive and others negative; three of the schemes are dual, both negative and positive. The same can be predicated anent a solar system, and, curiously enough, anent the planes themselves. For instance, in connection with the earth scheme we have a positive polarity of a temporary nature based on the type of incarnation our particular Heavenly Man is undergoing on our planet. By this is meant that there are masculine and feminine incarnations undergone by Heavenly Men as by men, considering the entire subject from the angle of electrical polarity and not from sex as understood in connection with the physical body.
Vấn đề cực tính điện của các trung tâm này là một vấn đề thực sự khó khăn, và rất ít điều có thể được truyền đạt về nó. Tuy nhiên, có thể an toàn chỉ ra rằng các cơ quan sinh sản là cực âm đối với trung tâm cổ họng cũng như tùng thái dương là cực âm đối với tim. Trật tự phát triển của các trung tâm, loại cung và màu sắc, cùng với sự kiện rằng trong một số giai đoạn nhất định của tiến trình tiến hoá, các trung tâm khác nhau (chẳng hạn như đáy cột sống) là cực dương đối với tất cả các trung tâm khác, thậm chí không loại trừ trung tâm đầu, dẫn đến sự phức tạp to lớn của chủ đề này. Tương tự, một số hệ hành tinh là dương và những hệ khác là âm; ba hệ là Kép, vừa âm vừa dương. Điều tương tự có thể được khẳng định về một hệ mặt trời, và kỳ lạ thay, về chính các cõi. Chẳng hạn, liên hệ với hệ địa cầu, chúng ta có một cực tính dương có tính tạm thời dựa trên loại nhập thể mà Đấng Thiên Nhân đặc thù của chúng ta đang trải qua trên hành tinh của chúng ta. Điều này có nghĩa là có những nhập thể nam tính và nữ tính mà các Đấng Thiên Nhân trải qua cũng như con người, nếu xét toàn bộ chủ đề từ góc độ cực tính điện chứ không phải từ giới tính như được hiểu liên hệ với thể xác.
Venus is negatively polarised, and hence it became possible for a mysterious absorption by the Earth of Venusian force. Again in this connection the question of sex may serve to elucidate. The karmic tie between the two Heavenly Men—one in a positive incarnation and the other in a negative—caused the working out of an old debt and a planetary alliance. Light flashed forth [Page 324] in Lemurian days in a number of great groups of the human family when these two opposite poles made electrical connection. It needed the joint work of the two Heavenly Men, working on buddhic levels (the fourth cosmic ether) to bring about the blazing forth of the light of manas in the causal groups on the fifth cosmic gaseous plane, the mental plane of the solar system. It will be remembered that it was earlier pointed out that the majority of men function consciously on the fifth subplane of the three planes in the three worlds. In them the fifth principle is beginning to function, but not in sufficient force as yet to do more than keep them in line with the electrical force flowing from the fourth cosmic ether down to the next subplane of the cosmic physical.
Sao Kim bị phân cực âm, và do đó một sự hấp thu huyền nhiệm của Trái Đất đối với mãnh lực Kim Tinh trở nên khả hữu. Một lần nữa, trong liên hệ này, vấn đề giới tính có thể giúp làm sáng tỏ. Mối ràng buộc nghiệp quả giữa hai Đấng Thiên Nhân—một trong nhập thể dương và vị kia trong nhập thể âm—đã gây ra sự giải quyết một món nợ cũ và một liên minh hành tinh. Ánh sáng đã bùng lên [Page 324] trong thời Lemuria trong một số nhóm lớn của gia đình nhân loại khi hai cực đối nghịch này tạo nên sự tiếp xúc điện. Cần đến công việc phối hợp của hai Đấng Thiên Nhân, hoạt động trên các cấp độ Bồ đề (cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư) để mang lại sự bùng cháy của ánh sáng manas trong các nhóm nguyên nhân trên cõi khí thể vũ trụ thứ năm, cõi trí của hệ mặt trời. Sẽ nhớ rằng trước đây đã chỉ ra rằng đa số loài người hoạt động hữu thức trên cõi phụ thứ năm của ba cõi trong ba cõi giới. Trong họ, nguyên khí thứ năm đang bắt đầu hoạt động, nhưng chưa đủ mạnh để làm gì hơn ngoài việc giữ họ phù hợp với mãnh lực điện đang tuôn chảy từ cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư xuống cõi phụ kế tiếp của cõi hồng trần vũ trụ.
It must ever be borne in mind that each plane and each subplane which is numerically allied, is embodying the same type of force, and is consequently of the same polarity.
Phải luôn luôn ghi nhớ rằng mỗi cõi và mỗi cõi phụ có liên hệ tương ứng về số đều thể hiện cùng một loại mãnh lực, và do đó có cùng cực tính.
Again, the astral plane and the buddhic plane are related, as we already know; the astral is negative in relation to the buddhic plane. When the polarity of the different planes is known, when the polarity of the subplanes is comprehended, and when the interaction between them and the corresponding cosmic planes is grasped, then will man be free, but not before. When the polarity of the ethers to each other and their relationship to the whole is comprehended, human evolution will have run its course. A Master has solved the problem of electrical phenomena in the three worlds, hence His freedom. Further, when the relationship of the negative form to the positive Spirit is grasped, and their joint connection with the cosmic Entities Who indwell the whole system is somewhat apprehended, group liberation will be achieved.
Một lần nữa, cõi cảm dục và cõi Bồ đề có liên hệ với nhau, như chúng ta đã biết; cõi cảm dục là âm đối với cõi Bồ đề. Khi cực tính của các cõi khác nhau được biết đến, khi cực tính của các cõi phụ được thấu hiểu, và khi sự tương tác giữa chúng với các cõi vũ trụ tương ứng được nắm bắt, bấy giờ con người sẽ được tự do, nhưng không phải trước đó. Khi cực tính của các dĩ thái đối với nhau và mối liên hệ của chúng với toàn thể được thấu hiểu, tiến trình tiến hoá của nhân loại sẽ hoàn tất. Một Chân sư đã giải quyết được vấn đề các hiện tượng điện trong ba cõi thấp, do đó có được sự tự do của Ngài. Hơn nữa, khi mối liên hệ của hình tướng âm với Tinh thần dương được nắm bắt, và sự liên kết chung của chúng với các Thực Thể vũ trụ ngự bên trong toàn bộ hệ thống được phần nào lĩnh hội, sự giải thoát theo nhóm sẽ đạt được.
Perhaps in considering this abstruse matter it may [Page 325] help to clarify the point of view if it is recollected that man is essentially positive in his own nature but his vehicles are negative; hence he is the central unit of positive electricity that draws and holds to him atoms of an opposite polarity. When he has merged and blended the two poles, and produced light of a definite magnitude during any particular incarnation (which magnitude is settled by the Ego prior to incarnation) then obscuration takes place. The electrical manifestation burns up and destroys the medium, and the light goes out; what we call physical death ensues, for the electrical current burns up that which had caused objectivity, and that which shone. Let us carry this idea further and realise that these units called men (who are positive as regards their own vehicles) are but the negative cells in the body of a Heavenly Man, and are held within His sphere of influence by the force of His electrical life. Bear in mind again that the Heavenly Men are thus positive as regards the lesser lives, but in Their turn are negative as regards the greater Life that contains Them.
Có lẽ khi xem xét vấn đề thâm áo này, điều đó có thể [Page 325] giúp làm sáng tỏ quan điểm nếu nhớ rằng con người về bản chất riêng của mình là dương, nhưng các vận cụ của y là âm; do đó y là đơn vị trung tâm của điện dương, thu hút và giữ lấy cho mình các nguyên tử có cực tính đối nghịch. Khi y đã hợp nhất và dung hợp hai cực, và tạo ra ánh sáng có cường độ xác định trong bất kỳ kiếp lâm phàm đặc thù nào (mức độ này do chân ngã ấn định trước khi nhập thể) thì sự che mờ xảy ra. Biểu hiện điện đốt cháy và hủy diệt môi trường, và ánh sáng tắt đi; điều mà chúng ta gọi là cái chết hồng trần tiếp theo sau, vì dòng điện đốt cháy cái đã gây ra tính khách quan, và cái đã chiếu sáng. Chúng ta hãy tiếp tục ý tưởng này và nhận ra rằng các đơn vị được gọi là con người này (vốn là dương đối với chính các vận cụ của mình) chỉ là những tế bào âm trong thân thể của một Đấng Thiên Nhân, và được giữ trong khối cầu ảnh hưởng của Ngài bởi mãnh lực của sự sống điện của Ngài. Hãy lại ghi nhớ rằng các Đấng Thiên Nhân như thế là dương đối với các sự sống nhỏ hơn, nhưng đến lượt Các Ngài lại là âm đối với Sự sống lớn hơn bao hàm Các Ngài.
Here again is demonstrated the truth of the teaching given by H. P. B.
Ở đây một lần nữa chân lý của giáo huấn do H. P. B. ban ra lại được chứng minh.
Electric Fire
Positive
Spirit.
Fire by Friction
Negative
Matter.
Solar Fire
Light
The two blended and thus producing the objective blaze.
We have thus considered the question of the electrical origin of all manifestation in connection with the four higher subplanes of the solar system—those four planes which are the four cosmic ethers, and therefore form the body of objectivity of a Heavenly Man in exactly the same sense as the four physical ethers of the solar system form the etheric body of a man. I have here repeated the fact, as its importance has not yet been grasped by the average occult student; this fact—when [Page 326] conceded and realised—serves in a wonderful way to clarify the whole subject of planetary evolution. We have now reached the three planes wherein man functions, or the gaseous, liquid, and dense subplanes of the cosmic physical.
Như vậy, chúng ta đã xem xét vấn đề về nguồn gốc điện của mọi biểu hiện liên hệ với bốn cõi phụ cao của hệ mặt trời—bốn cõi ấy là bốn dĩ thái vũ trụ, và do đó tạo thành thể khách quan của một Đấng Thiên Nhân theo đúng cùng ý nghĩa như bốn dĩ thái hồng trần của hệ mặt trời tạo thành thể dĩ thái của con người. Tôi đã lặp lại ở đây sự kiện này, vì tầm quan trọng của nó vẫn chưa được đạo sinh huyền bí học trung bình nắm bắt; sự kiện này—khi [Page 326] được thừa nhận và chứng nghiệm—phục vụ một cách kỳ diệu cho việc làm sáng tỏ toàn bộ chủ đề tiến hoá hành tinh. Giờ đây chúng ta đã đến ba cõi trong đó con người hoạt động, hay các cõi phụ khí, lỏng và đậm đặc của cõi hồng trần vũ trụ.
The whole subject of the akasha will be greatly clarified as exoteric science delves into the question of the ethers. As knowledge of the four types of ethers is available, as the vibratory action of these ethers is realised, and as the details concerning their composition, utilisation, light-bearing capacity, and the various angles from which they may be studied become known then paralleling knowledge anent the corresponding four cosmic ethers will be forthcoming. Much concerning them may be deduced from the already apprehended facts which relate to the four solar physical ethers.
Toàn bộ chủ đề về akasha sẽ được làm sáng tỏ rất nhiều khi khoa học ngoại môn đào sâu vào vấn đề các dĩ thái. Khi tri thức về bốn loại dĩ thái trở nên khả dụng, khi tác động rung động của các dĩ thái này được chứng nghiệm, và khi các chi tiết liên quan đến thành phần, sự sử dụng, khả năng mang ánh sáng, cùng các góc độ khác nhau mà từ đó chúng có thể được nghiên cứu trở nên được biết đến, thì song song với tri thức ấy, tri thức về bốn dĩ thái vũ trụ tương ứng cũng sẽ xuất hiện. Nhiều điều liên quan đến chúng có thể được suy diễn từ những sự kiện đã được lĩnh hội vốn liên hệ đến bốn dĩ thái hồng trần thái dương.
For instance, the fourth ether (which is even now being what we might call “discovered”), is at this stage characterised by certain things. I might enumerate a few of these facts with exceeding brevity, as follows:
Chẳng hạn, dĩ thái thứ tư (ngay lúc này đang được, như chúng ta có thể gọi, “khám phá”) ở giai đoạn này được đặc trưng bởi một số điều. Tôi có thể liệt kê vài sự kiện ấy hết sức vắn tắt như sau:
a. It is the ether which the violet ray uses as a medium.
a. Đó là dĩ thái mà cung tím sử dụng làm môi trường.
b. The fourth ether is that whereof the majority of the etheric bodies of men are made.
b. Dĩ thái thứ tư là chất liệu mà phần lớn các thể dĩ thái của con người được tạo thành từ đó.
c. The fourth ether is largely the principal sphere of influence of the “devas of the shadows,” or those violet devas which are closely concerned with the physical evolution of man.
c. Dĩ thái thứ tư phần lớn là khối cầu ảnh hưởng chính của các “thiên thần của bóng tối”, hay những thiên thần tím có liên hệ mật thiết với sự tiến hoá hồng trần của con người.
d. It is the etheric sphere within which, at a little later date, the human and the deva evolutions will touch.
d. Đó là khối cầu dĩ thái bên trong đó, vào một thời điểm muộn hơn đôi chút, hai tiến hoá nhân loại và thiên thần sẽ tiếp xúc nhau.
e. From this fourth etheric sphere the dense physical bodies are created.
e. Từ khối cầu dĩ thái thứ tư này, các thể hồng trần đậm đặc được tạo ra.
f. It is the sphere of physical individualisation. Only when the animal to be individualised was fully conscious on that subplane of the physical plane was it possible to co-ordinate the corresponding spheres on the astral and mental planes and by means of this triple co-ordination to effect the necessary steps which enabled the quaternary to succeed in its effort to approximate the Triad. [Page 327]
f. Đó là khối cầu của sự biệt ngã hóa hồng trần. Chỉ khi con vật sắp được biệt ngã hóa hoàn toàn hữu thức trên cõi phụ ấy của cõi hồng trần thì mới có thể phối hợp các khối cầu tương ứng trên cõi cảm dục và cõi trí, và bằng phương tiện của sự phối hợp tam phân này mà thực hiện các bước cần thiết giúp bộ tứ thành công trong nỗ lực tiến gần Tam nguyên tinh thần. [Page 327]
g. This fourth ether in this fourth round and on this fourth chain has to be completely mastered and controlled by the Human Hierarchy, the fourth creative. Every unit of the human family has to attain this mastery before the end of this round.
g. Dĩ thái thứ tư này trong cuộc tuần hoàn thứ tư và trên dãy thứ tư này phải được Huyền Giai nhân loại, Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, hoàn toàn làm chủ và kiểm soát. Mọi đơn vị của gia đình nhân loại đều phải đạt được sự làm chủ này trước khi kết thúc cuộc tuần hoàn này.
h. It is the sphere wherein the initiations of the threshold are undergone, and the fivefold initiations of the physical plane are entered upon.
h. Đó là khối cầu trong đó các cuộc điểm đạo của ngưỡng cửa được trải qua, và năm cuộc điểm đạo của cõi hồng trần được bắt đầu.
Much more might be further added to this list, but I have sought only to point out those which can be easily realised as having a correspondence on the buddhic plane, the fourth cosmic ether. It should be borne in mind that our physical plane in its subplanes has its analogy likewise to the entire cosmic physical plane.
Còn có thể bổ sung thêm nhiều điều nữa vào danh sách này, nhưng tôi chỉ tìm cách chỉ ra những điều có thể dễ dàng được chứng nghiệm là có sự tương ứng trên cõi Bồ đề, dĩ thái vũ trụ thứ tư. Cần ghi nhớ rằng cõi hồng trần của chúng ta trong các cõi phụ của nó cũng có sự tương đồng với toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ.
COSMIC PHYSICAL PLANE
CÕI HỒNG TRẦN VŨ TRỤ
1. Adi
First cosmic ether.
1. Atomic subplane
First ether.
2. Monadic
Second cosmic ether.
2. Sub-atomic
Second ether.
3. Atmic
Third cosmic ether.
3. Super-etheric
Third ether.
4. Buddhic
Fourth cosmic ether.
4. Etheric
Fourth ether.
5. Mental
Cosmic liquid.
5. Gaseous.
6. Astral
Cosmic liquid.
6. Liquid.
7. Physical
Cosmic dense.
7. Dense physical.
The solar physical plane might also be expressed accurately as follows, working out the anaIogy to the major planes:
Cõi hồng trần thái dương cũng có thể được diễn đạt chính xác như sau, triển khai sự tương đồng với các cõi chính:
SOLAR PHYSICAL PLANE
CÕI HỒNG TRẦN THÁI DƯƠNG
First subplane
atomic
first ether
physical adi.
Second subplane
sub-atomic
second ether
physical anupadaka.
Third subplane
super-etheric
third ether
physical atmic.
Fourth subplane
etheric
fourth ether
physical buddhic.
Fifth subplane
gaseous
physical mental.
Sixth subplane
liquid
physical astral.
Seventh subplane
dense
physical dense.
[Page 328] In both the cosmic and solar physical planes, the plane of buddhi is ever the plane of at-one-ment, or the meeting ground of diversities, and of their blending—not into a fundamental unity—but into group unity. This is owing to the fact that the buddhic plane is pre-eminently the plane most concerned with the evolution of the Heavenly Men. What I have therefore predicated anent the fourth physical ether can likewise be extended to the fourth cosmic ether, and find its analogy on the buddhic plane. The place, for instance, of violet in the spectrum is of prime importance in connection with the greater cycles, and marks the end of a cycle and the beginning of a new one. The buddhic plane is peculiarly the plane of violet, even though all the colours find their place there; the Lord of the Ray of Ceremonial Magic, Who embodies the violet ray or hierarchy, has a special relationship to the buddhic plane. It must be borne in mind that each planetary Logos works primarily on one of the seven planes; from this we can infer that His influence finds its line of least resistance on some one plane, even though it be exerted on all planes.
[Page 328] Trong cả cõi hồng trần vũ trụ lẫn cõi hồng trần thái dương, cõi Bồ đề luôn luôn là cõi của sự hợp nhất, hay nơi gặp gỡ của các dị biệt, và của sự dung hợp chúng—không phải thành một hợp nhất căn bản—mà thành hợp nhất nhóm. Điều này là do cõi Bồ đề nổi bật hơn hết là cõi liên hệ nhiều nhất đến sự tiến hoá của các Đấng Thiên Nhân. Vì vậy, điều tôi đã khẳng định liên quan đến dĩ thái hồng trần thứ tư cũng có thể được mở rộng đến dĩ thái vũ trụ thứ tư, và tìm thấy sự tương đồng của nó trên cõi Bồ đề. Chẳng hạn, vị trí của màu tím trong quang phổ có tầm quan trọng hàng đầu liên hệ với các chu kỳ lớn hơn, và đánh dấu sự kết thúc của một chu kỳ cùng sự khởi đầu của một chu kỳ mới. Cõi Bồ đề đặc biệt là cõi của màu tím, dù mọi màu sắc đều có chỗ đứng ở đó; Đấng Chúa Tể của Cung Huyền Thuật Nghi Lễ, Đấng hiện thân cung tím hay Huyền Giai, có một mối liên hệ đặc biệt với cõi Bồ đề. Cần ghi nhớ rằng mỗi Hành Tinh Thượng Đế hoạt động chủ yếu trên một trong bảy cõi; từ đó chúng ta có thể suy ra rằng ảnh hưởng của Ngài tìm thấy con đường ít trở ngại nhất trên một cõi nào đó, dù nó được vận dụng trên mọi cõi.
Again, extend the second statement anent the etheric composition of the bodies of men to Those of the Heavenly Men, and it will be found that just as the majority of human etheric bodies are built of matter of the fourth ether, so it may also be said that four of the Heavenly Men have Their etheric vehicles composed of this fourth cosmic ether (buddhic matter).
Một lần nữa, hãy mở rộng phát biểu thứ hai liên quan đến thành phần dĩ thái của các thể người sang các thể của các Đấng Thiên Nhân, và sẽ thấy rằng cũng như phần lớn các thể dĩ thái của con người được kiến tạo bằng vật chất của dĩ thái thứ tư, thì cũng có thể nói rằng bốn Đấng Thiên Nhân có các vận cụ dĩ thái được cấu thành từ dĩ thái vũ trụ thứ tư này (vật chất Bồ đề).
Further, the two great evolutions (human and deva) find their group unity on the buddhic plane, and portions of both hierarchies blend and merge so as to form the body of the divine Hermaphrodite. (124, 125) Earlier, at certain fixed points, they may temporarily approximate each [Page 329] other. On the buddhic plane definite and permanent alliance may be seen. On this plane also the “devas of the shadows” who are concerned in the building of the planetary scheme, pursue their work, and thus parallel the work done in the three worlds by the lesser builders who work with the etheric body of man. So can the analogies be worked out, for ever this Law of Resemblance holds good; yet ever must it be remembered that the analogy is of a psychic nature, and demonstrates in work, activity, and quality, and not in literal identity of form.
Hơn nữa, hai tiến hoá lớn (nhân loại và thiên thần) tìm thấy sự hợp nhất nhóm của mình trên cõi Bồ đề, và các phần của cả hai Huyền Giai dung hợp và hòa nhập để tạo thành thể của Đấng Lưỡng Tính thiêng liêng. (124, 125) Trước đó, tại những điểm cố định nhất định, chúng có thể tạm thời tiến gần nhau [Page 329]. Trên cõi Bồ đề có thể thấy một liên minh xác định và thường tồn. Trên cõi này cũng vậy, các “thiên thần của bóng tối” có liên hệ đến việc xây dựng hệ hành tinh theo đuổi công việc của mình, và như thế song hành với công việc được thực hiện trong ba cõi thấp bởi các vị tiểu kiến tạo làm việc với thể dĩ thái của con người. Như vậy các sự tương đồng có thể được triển khai, vì Định luật Tương Tự này luôn luôn đúng; tuy nhiên luôn luôn phải nhớ rằng sự tương đồng ấy có bản chất thông linh, và được chứng minh trong công việc, hoạt động và phẩm tính, chứ không phải trong sự đồng nhất theo nghĩa đen của hình tướng.
(124) The Pairs of Opposites:—From The Science of Social Organization, by Bhagavan Das. (back)
(124) Các Cặp Đối Lập:—Trích từ Khoa Học về Tổ Chức Xã Hội, của Bhagavan Das. (trở lại)
As time elapses the work of the Heavenly Men in the cosmic etheric spheres will be better comprehended, and assisted intelligently by those lesser intelligences who—by the study of the physical ethers—will eventually hold the key of the greater manifestation. Science is the handmaiden of wisdom, and opens the door to those infinite reaches and to those cosmic expanses, where stand Those vaster Intelligences, Who manipulate the matter of the higher planes, and bend it to the desired form, causing the vibrations thus set up to be felt at the furthest bounds of the solar ring-pass-not. Automatically then all lesser lives and all the denser materials are swept and carried into the needed channels and forms. Vibration, or initial activity, light, or activity taking form and animating form, sound the basis of differentiation and the source of the evolutionary process, and colour the sevenfold differentiation—thus is the work carried on. We have been dealing with these four in connection with a solar Logos, and equally with the work of a Heavenly Man and of Man, of the human monad.
Theo thời gian, công việc của các Đấng Thiên Nhân trong các khối cầu dĩ thái vũ trụ sẽ được thấu hiểu tốt hơn, và được hỗ trợ một cách thông minh bởi những trí tuệ nhỏ hơn, những trí tuệ—nhờ nghiên cứu các dĩ thái hồng trần—cuối cùng sẽ nắm giữ chìa khóa của biểu hiện lớn hơn. Khoa học là nữ tỳ của minh triết, và mở cánh cửa đến những tầm mức vô hạn và những không gian vũ trụ, nơi đứng đó những Trí Tuệ bao la hơn, Các Ngài thao tác vật chất của các cõi cao và uốn nó theo hình tướng mong muốn, khiến các rung động được khởi lên như thế được cảm nhận ở những ranh giới xa nhất của vòng-giới-hạn thái dương. Khi ấy, một cách tự động, mọi sự sống nhỏ hơn và mọi vật liệu đậm đặc hơn đều bị cuốn và mang vào các kênh dẫn và hình tướng cần thiết. Rung động, hay hoạt động khởi đầu, ánh sáng, hay hoạt động mang hình tướng và tiếp sinh lực cho hình tướng, âm thanh, nền tảng của sự biến phân và nguồn gốc của tiến trình tiến hoá, và màu sắc sự biến phân thất phân—công việc được tiến hành như thế. Chúng ta đã bàn đến bốn điều này trong liên hệ với một Thái dương Thượng đế, và cũng tương tự với công việc của một Đấng Thiên Nhân và của Con Người, của chân thần nhân loại.
Students should also bear in mind another point that is often forgotten, which is that every plane can be studied and divided in two ways:
Đạo sinh cũng nên ghi nhớ một điểm khác thường bị quên lãng, đó là mỗi cõi có thể được nghiên cứu và phân chia theo hai cách:
First. The seven subplanes can be divided into the [Page 330] higher three planes or the abstract planes, and the lower four or the concrete planes. This division is the best and most purely metaphysical, for it embodies the entire idea of the Self, the Not-Self, and the Intelligence, with their synthesis, which produces the objective universe, whether solar system, planetary scheme, or human incarnation. In connection with the Logos it is fully discussed and illuminatingly considered in the first volume of the Secret Doctrine, where the work of the Father and the Mother in producing the Son through conscious intelligent co-operation is handled by H. P. B. in a masterly manner.
Thứ nhất. Bảy cõi phụ có thể được chia thành [Page 330] ba cõi cao hay các cõi trừu tượng, và bốn cõi thấp hay các cõi cụ thể. Sự phân chia này là tốt nhất và thuần siêu hình nhất, vì nó bao hàm toàn bộ ý niệm về Bản Ngã, Phi-Ngã, và Trí Tuệ, cùng sự tổng hợp của chúng, vốn tạo ra vũ trụ khách quan, dù là hệ mặt trời, hệ hành tinh, hay sự lâm phàm của con người. Liên hệ với Thượng đế, điều này được bàn luận đầy đủ và xem xét một cách soi sáng trong quyển thứ nhất của Giáo Lý Bí Nhiệm, nơi công việc của Cha và Mẹ trong việc sinh ra Người Con qua sự hợp tác hữu thức thông minh được H. P. B. trình bày một cách bậc thầy.
In connection with man the point can be grasped more easily if the causal body on the abstract levels of the mental plane is considered in connection with the lower four or concrete levels from whence manifestation emanates.
Liên hệ với con người, điểm này có thể được nắm bắt dễ hơn nếu thể nguyên nhân trên các cấp độ trừu tượng của cõi trí được xem xét trong liên hệ với bốn cấp độ thấp hay cụ thể, từ đó biểu hiện phát xuất.
Second. Dividing the seven subplanes into the same higher three but making the fourth plane the plane of meeting or of at-one-ment, and regarding the lower three as the planes of endeavour. This division primarily concerns man.
Thứ hai. Chia bảy cõi phụ thành cùng ba cõi cao ấy nhưng lấy cõi thứ tư làm cõi gặp gỡ hay hợp nhất, và xem ba cõi thấp là các cõi của nỗ lực. Sự phân chia này chủ yếu liên quan đến con người.
Both these divisions will be seen later as existing on every plane in the system and as having their origin in electrical force which shows itself differently on each plane but acts on all under three laws: Attraction or Repulsion, Economy, and Synthesis. The lower three planes or subplanes act under the Law of Economy primarily; the plane of meeting or of union acts under a phase of the Law of Attraction. Paralleling them, of course, during evolution are their opposites, showing as Dispersion, Repulsion, and Differentiation.
Về sau, cả hai cách phân chia này sẽ được thấy là tồn tại trên mọi cõi trong hệ thống và có nguồn gốc trong mãnh lực điện, mãnh lực này biểu lộ khác nhau trên mỗi cõi nhưng tác động trên tất cả dưới ba định luật: Hấp Dẫn hay Đẩy Lùi, Tiết Kiệm, và Tổng Hợp. Ba cõi hay cõi phụ thấp tác động chủ yếu dưới Định luật Tiết Kiệm; cõi gặp gỡ hay hợp nhất tác động dưới một phương diện của Định luật Hấp Dẫn. Song song với chúng, dĩ nhiên, trong tiến hoá là các đối cực của chúng, biểu hiện thành Sự Phân Tán, Đẩy Lùi, và Biến Phân.
The question of the electrical manifestation of the akasha on the seven planes has therefore to be studied in its three main divisions, then plane by plane or the sevenfold consideration, and finally as the forty-nine [Page 331] fires. Throughout it must be recollected that the subject is still further complicated by the factor of time which brings these forty-nine fires at different stages under different spheres of influence and under the three laws of the cosmos. Thus the same fire at different periods will show itself forth as constructive light, or again bring about combustion and eventual obscuration as the result of burning out.
Do đó, vấn đề biểu hiện điện của akasha trên bảy cõi phải được nghiên cứu trong ba phân bộ chính của nó, rồi từng cõi một hay theo sự xem xét thất phân, và cuối cùng như bốn mươi chín [Page 331] ngọn lửa. Suốt toàn bộ, phải nhớ rằng chủ đề này còn phức tạp thêm bởi yếu tố thời gian, yếu tố đưa bốn mươi chín ngọn lửa này ở những giai đoạn khác nhau vào dưới các khối cầu ảnh hưởng khác nhau và dưới ba định luật của vũ trụ. Vì thế, cùng một ngọn lửa ở những thời kỳ khác nhau sẽ biểu lộ như ánh sáng kiến tạo, hoặc lại gây ra sự cháy và cuối cùng là sự che mờ như kết quả của việc cháy cạn.
In connection with the manifestation of electricity on the mental, astral and physical planes. We will not enlarge upon the subject, as it will later be discussed as fully as may be possible. Suffice it to say that the law holds good and that what is laid down as fact anent a Heavenly Man on His Own planes is equally true of man on the four lower planes. Thus:
Liên hệ với biểu hiện của điện trên các cõi trí, cảm dục và hồng trần. Chúng ta sẽ không mở rộng về chủ đề này, vì về sau nó sẽ được bàn đến đầy đủ nhất có thể. Chỉ cần nói rằng định luật này là đúng và điều được nêu ra như sự kiện liên quan đến một Đấng Thiên Nhân trên các cõi riêng của Ngài cũng đúng tương tự đối với con người trên bốn cõi thấp. Như vậy:
A SOLAR LOGOS
MỘT THÁI DƯƠNG THƯỢNG ĐẾ
1. Electrical vibration
the plane logoic or adi.
2. Electrical light
the plane monadic or anupadaka.
3. Electrical sound
the plane of atma.
4. Electrical colour
the plane of buddhi.
A HEAVENLY MAN
MỘT ĐẤNG THIÊN NHÂN
1. Electrical vibration
the plane monadic.
2. Electrical light
the plane of atma.
3. Electrical sound
the plane of buddhi.
4. Electrical colour
the mental plane
MAN
CON NGƯỜI
1. Electrical vibration
buddhic plane.
2. Electrical light
the mental plane.
3. Electrical sound
the astral plane.
4. Electrical colour
the physical plane
We need to remember here that we were earlier dealing with the Logos, and with the Heavenly Men as incorporate parts of His body of manifestation. In the tabulation above given we are dealing with each separately, [Page 332] and it should be observed that the manifestation of the groups of causal bodies on the mental plane is the colour manifestation of a Heavenly Man and His lowest point of objectivity. In man his lowest point of objectivity is the fifth subplane of the physical plane, as the liquid and the dense subplanes are not counted as principles any more than the cosmic liquid and dense (the astral and the systemic physical planes) count with a Heavenly Man.
Ở đây chúng ta cần nhớ rằng trước đó chúng ta đang bàn đến Thượng đế, và đến các Đấng Thiên Nhân như những phần nhập thể trong thể biểu hiện của Ngài. Trong bảng liệt kê trên đây, chúng ta đang xét từng vị một cách riêng biệt, [Page 332] và cần lưu ý rằng biểu hiện của các nhóm thể nguyên nhân trên cõi trí là biểu hiện màu sắc của một Đấng Thiên Nhân và là điểm khách quan thấp nhất của Ngài. Ở con người, điểm khách quan thấp nhất của y là cõi phụ thứ năm của cõi hồng trần, vì các cõi phụ lỏng và đậm đặc không được tính là các nguyên khí, cũng như các cõi lỏng và đậm đặc vũ trụ (cõi cảm dục và cõi hồng trần hệ thống) không được tính đối với một Đấng Thiên Nhân.
We have seen that manas or mind is the fifth principle, or the basic vibration of the cosmic mental plane, the fifth plane; it was therefore impulse originating from the causal levels of the cosmic mental plane, which drove our solar Logos into manifestation, in the same way that the force which brings man into incarnation emanates from his causal body on the mental plane of the solar system. We have seen also that manas is that discriminative faculty which animates all substance, and which is also the electrical fire of the system showing forth as attraction and repulsion, with all that is involved in those two words. In the widest sense of the idea the Laws of Economy and of Synthesis are only divisions of that same cosmic law of which Attraction and Repulsion are also manifestations. This cosmic law, demonstrating thus in a threefold manner, might (for lack of a better term) be called the Law of Being, and is of a nature so incomprehensible to the finite mind of man that he can only sense it partially through the aforesaid three branches.
Chúng ta đã thấy rằng manas hay trí tuệ là nguyên khí thứ năm, hay rung động căn bản của cõi trí vũ trụ, cõi thứ năm; do đó chính xung lực phát sinh từ các cấp độ nguyên nhân của cõi trí vũ trụ đã thúc đẩy Thái dương Thượng đế của chúng ta đi vào biểu hiện, cũng theo cùng cách mà mãnh lực đưa con người vào nhập thể phát xuất từ thể nguyên nhân của y trên cõi trí của hệ mặt trời. Chúng ta cũng đã thấy rằng manas là năng lực phân biện làm sinh động mọi chất liệu, và cũng là lửa điện của hệ thống biểu lộ thành hấp dẫn và đẩy lùi, cùng mọi điều hàm chứa trong hai từ ấy. Theo nghĩa rộng nhất của ý niệm này, các Định luật Tiết Kiệm và Tổng Hợp chỉ là những phân bộ của cùng một định luật vũ trụ mà Hấp Dẫn và Đẩy Lùi cũng là các biểu hiện. Định luật vũ trụ này, biểu lộ như thế theo cách tam phân, có thể (vì thiếu một thuật ngữ tốt hơn) được gọi là Định luật Bản Thể, và có bản chất khó hiểu đến mức trí tuệ hữu hạn của con người chỉ có thể cảm nhận nó phần nào qua ba nhánh nói trên.
3. MANAS IS THAT WHICH PRODUCES COHESION
3. MANAS LÀ CÁI TẠO RA SỰ CỐ KẾT
We come now to our third definition: The manasic principle is above all else that cohesive something which enables an Entity (whether Logos, Heavenly Man, or man) to work:
Giờ đây chúng ta đến định nghĩa thứ ba: nguyên khí manas trên hết mọi sự là cái gì đó có tính cố kết, giúp cho một Thực Thể (dù là Thượng đế, Đấng Thiên Nhân, hay con người) có thể hoạt động:
a. Through form, and thus exist. [Page 333]
a. Qua hình tướng, và như thế tồn tại. [Page 333]
b. By means of progressive development or cyclic evolution.
b. Bằng phương tiện của sự phát triển tiến bộ hay tiến hoá theo chu kỳ.
c. On certain planes, that are, for the entity concerned, the battleground of life, and the field of experience.
c. Trên những cõi nhất định, là chiến trường của sự sống và là lĩnh vực kinh nghiệm đối với thực thể liên hệ.
d. By the method of manifestation, which is a gradual growth from a dim and distant dawn through an ever increasing splendour of light to a blaze of effulgent glory; then through a steadily dimming twilight to final obscuration. Dawn, day, midday, twilight, night—thus is the order for the Logos, for a planetary Logos, and for man.
d. Bằng phương pháp biểu hiện, vốn là một sự tăng trưởng dần dần từ bình minh mờ nhạt và xa xăm qua ánh huy hoàng ngày càng tăng của ánh sáng đến một ngọn lửa vinh quang rực rỡ; rồi qua hoàng hôn mờ dần đều đặn đến sự che mờ cuối cùng. Bình minh, ban ngày, giữa trưa, hoàng hôn, đêm tối—đó là trật tự đối với Thượng đế, đối với một Hành Tinh Thượng Đế, và đối với con người.
If the above four points are carefully studied, it will be found that they are fairly comprehensive, and embody the four points that are as yet the only ones available for man in this fourth round.
Nếu bốn điểm trên được nghiên cứu cẩn thận, sẽ thấy rằng chúng khá bao quát, và bao hàm bốn điểm mà hiện nay là những điểm duy nhất khả dụng cho con người trong cuộc tuần hoàn thứ tư này.
Man regards himself as a synthesised aggregate of physical body, emotional nature, and mentality, yet knows himself as more than these three, and recognises himself as the utiliser of form, of emotion, and of mentality, holding them all together coherently so that he is a unit. A planetary Logos similarly does the same, with the difference that manas is not the medium whereby he is a coherent whole. Owing to his more advanced stage of development, wisdom is for Him the dominant factor. A solar logos achieves through Will what a planetary Logos does through wisdom or buddhi, and man (on his tiny scale) through manas. Yet, as both planetary Logos and man are but parts of their greater whole, the electric fire of will permeates them also, merging with the solar fire of buddhi, and fanning the fires of matter. In all these distinctions and differentiations it must be remembered that they do not exist from the logoic standpoint, but are only to be predicated in relation [Page 334] to the lesser bodies which are included in the solar ring-pass-not.
Con người xem mình là một tổng thể tổng hợp gồm thể xác, bản chất cảm xúc, và trí tuệ, tuy nhiên biết mình còn hơn ba điều ấy, và nhận ra mình là kẻ sử dụng hình tướng, cảm xúc, và trí tuệ, giữ tất cả chúng lại với nhau một cách cố kết để y là một đơn vị. Một Hành Tinh Thượng Đế cũng làm điều tương tự, với khác biệt là manas không phải là môi trường nhờ đó Ngài là một toàn thể cố kết. Do giai đoạn phát triển cao hơn của Ngài, minh triết là yếu tố chi phối đối với Ngài. Một Thái dương Thượng đế thành tựu bằng Ý Chí điều mà một Hành Tinh Thượng Đế thực hiện bằng minh triết hay Bồ đề, và con người (trên quy mô nhỏ bé của mình) bằng manas. Tuy nhiên, vì cả Hành Tinh Thượng Đế lẫn con người chỉ là những phần của toàn thể lớn hơn của mình, lửa điện của ý chí cũng thấm nhuần họ, hòa nhập với lửa thái dương của Bồ đề, và quạt bùng các ngọn lửa của vật chất. Trong mọi sự phân biệt và biến phân này, phải nhớ rằng chúng không tồn tại từ quan điểm logoic, mà chỉ có thể được khẳng định trong liên hệ [Page 334] với các thể nhỏ hơn được bao hàm trong vòng-giới-hạn thái dương.
A man is a coherent unit in objective manifestation for very brief periods on the physical plane simply because as yet he works only through manas and not through wisdom. His cycles are consequently soon run, and gone like a flash in the night. A planetary Logos, Who is perfected manas and works through wisdom, has longer cycles, and from the angle of vision of man endures for aeons; His life is the basis of the comparative permanence of the egoic cycles of man. The cycle of objectivity of a solar Logos persists for the greater mahamanvantara or solar cycle because it is based on will as well as on wisdom and manas. Therefore, it will be apparent that:
Con người là một đơn vị cố kết trong biểu hiện khách quan trong những thời kỳ rất ngắn trên cõi hồng trần chỉ vì hiện nay y chỉ hoạt động qua manas chứ chưa qua minh triết. Do đó các chu kỳ của y nhanh chóng hoàn tất, và qua đi như một tia chớp trong đêm. Một Hành Tinh Thượng Đế, Đấng là manas hoàn hảo và hoạt động qua minh triết, có các chu kỳ dài hơn, và từ góc nhìn của con người thì tồn tại qua các đại kiếp; sự sống của Ngài là nền tảng cho tính thường tồn tương đối của các chu kỳ chân ngã của con người. Chu kỳ khách quan của một Thái dương Thượng đế kéo dài suốt đại giai kỳ sinh hóa lớn hơn hay chu kỳ thái dương vì nó được đặt nền trên ý chí cũng như trên minh triết và manas. Do đó, sẽ hiển nhiên rằng:
a. Manas or intelligence is the basis of the separative manifestation of man.
a. Manas hay trí tuệ là nền tảng của biểu hiện phân ly của con người.
b. Wisdom or buddhi is the basis of the group manifestation of a Heavenly Man.
b. Minh triết hay Bồ đề là nền tảng của biểu hiện nhóm của một Đấng Thiên Nhân.
c. Will is the basis of the One Life which synthesises all groups.
c. Ý chí là nền tảng của Sự Sống Duy Nhất tổng hợp mọi nhóm.
Therefore again, in studying this Fire of Mind, we must remember that it is that which man is developing and with which he is learning to work, but that it is also that which a Heavenly Man has developed in an earlier system; it is to Him as automatic in its action as is the subconscious activity of a man’s physical organs.
Vì vậy, một lần nữa, khi nghiên cứu Lửa của Trí Tuệ này, chúng ta phải nhớ rằng đó là điều con người đang phát triển và đang học cách làm việc với nó, nhưng đó cũng là điều mà một Đấng Thiên Nhân đã phát triển trong một hệ thống trước; đối với Ngài, nó tự động trong hoạt động của mình cũng như hoạt động tiềm thức của các cơ quan hồng trần của con người vậy.
4. MANAS IS THE KEY TO THE FIFTH KINGDOM IN NATURE
4. MANAS LÀ CHÌA KHÓA ĐẾN GIỚI THỨ NĂM TRONG THIÊN NHIÊN
We might also define manas as the key to the door through which entrance is made into th5. MANAS IS THE SYNTHESIS OF FIVE RAYSe fifth kingdom of nature, the spiritual kingdom. Each of the five kingdoms is entered by some one key, and in connection the first two kingdoms—the mineral and vegetable—the key or method whereby the life escapes into the higher kingdom is so inexplicable to man as his present stage [Page 335] of intelligent apprehension that we will not pause to consider it. In relation to the animal kingdom it might be said that the key whereby entrance is effected into the human kingdom is that of instinct. This instinct, towards the final stages of the animal’s evolution, and as it becomes more and more detached from the group soul, (126) becomes transmuted into mentality, or into that embryo mind which is latent in animal-man, and which simply needed the stimulating vibration which emanated from the Earth’s Primary to be fanned into something definitely human. We must always bear in mind that the method of individualisation on this globe was not the one followed on others, and that many of the present advanced units of humanity individualised normally, and through the driving force of evolution itself. They found (to express it as far as possible in terms of fire), their opposite electrical pole through the activity of animal instinct, and by the blending of the two a human being was produced,—the union of the three fires in the causal vehicle.
Chúng ta cũng có thể định nghĩa manas là chìa khóa của cánh cửa qua đó sự đi vào giới thứ năm trong thiên nhiên, giới tinh thần, được thực hiện. Mỗi một trong năm giới được đi vào bằng một chìa khóa nào đó, và liên hệ với hai giới đầu tiên—giới kim thạch và giới thực vật—chìa khóa hay phương pháp nhờ đó sự sống thoát vào giới cao hơn khó giải thích đối với con người ở giai đoạn hiện nay của [Page 335] sự lĩnh hội thông minh của y đến mức chúng ta sẽ không dừng lại để xem xét nó. Liên hệ với giới động vật, có thể nói rằng chìa khóa nhờ đó sự đi vào giới nhân loại được thực hiện là bản năng. Bản năng này, vào các giai đoạn cuối của sự tiến hoá của con vật, và khi nó ngày càng tách rời khỏi Hồn nhóm, (126) được chuyển hoá thành trí tuệ, hay thành cái mầm trí tuệ tiềm ẩn trong người thú, và chỉ cần rung động kích thích phát ra từ Đấng Sơ Khởi của Trái Đất để được quạt bùng thành một cái gì đó rõ rệt là con người. Chúng ta phải luôn ghi nhớ rằng phương pháp biệt ngã hóa trên bầu hành tinh này không phải là phương pháp được theo trên các bầu hành tinh khác, và rằng nhiều đơn vị hiện nay tiến bộ của nhân loại đã biệt ngã hóa một cách bình thường, và qua chính động lực thúc đẩy của tiến hoá. Họ đã tìm thấy (để diễn đạt điều đó càng nhiều càng tốt bằng các thuật ngữ của lửa) cực điện đối nghịch của mình qua hoạt động của bản năng động vật, và bằng sự dung hợp của hai cực ấy mà một con người được tạo ra,—sự hợp nhất của ba ngọn lửa trong vận cụ nguyên nhân.
(126) “A Group-soul is a collection of permanent Triads in a triple envelope of monadic essence. The permanent Triads are a reflection upon the lower planes of the spiritual Triads on the higher. This description is true of all group-souls functioning on the physical plane, but gives no idea of the extreme complexity of the subject.”—From A Study in Consciousness, by Annie Besant. (back)
(126) “Một Hồn nhóm là một tập hợp các Tam nguyên trường tồn trong một bao bọc tam phân bằng tinh chất chân thần. Các Tam nguyên trường tồn là một phản ánh trên các cõi thấp của các Tam nguyên tinh thần trên các cõi cao. Mô tả này đúng với mọi hồn nhóm hoạt động trên cõi hồng trần, nhưng không cho ý niệm nào về tính cực kỳ phức tạp của chủ đề này.”—Trích từ Nghiên Cứu về Tâm Thức, của Annie Besant. (trở lại)
Man passes into the fifth kingdom through the transmutation of the discriminative faculty of mind, which—as in the animal’s individualisation—brings about at a certain stage a spiritual individualisation which is the correspondence on higher levels to what transpired in Lemurian days. Therefore, we have:
Con người đi vào giới thứ năm qua sự chuyển hoá năng lực phân biện của trí tuệ, năng lực này—cũng như trong sự biệt ngã hóa của động vật—ở một giai đoạn nhất định tạo ra một sự biệt ngã hóa tinh thần, là sự tương ứng trên các cấp độ cao với điều đã xảy ra trong những ngày Lemuria. Do đó, chúng ta có:
Instinct
The key from the animal into the human kingdom or from the third into the fourth kingdom.
Manas
The key from the human into the spiritual kingdom, or from the fourth kingdom into the fifth kingdom.
[Page 336] Higher we need not go, for the transmutation of manas proceeds, and much as yet remains to be done.
[Page 336] Chúng ta không cần đi cao hơn nữa, vì sự chuyển hoá của manas vẫn đang tiếp diễn, và còn nhiều điều phải làm.
5. MANAS IS THE SYNTHESIS OF FIVE RAYS
5. MANAS LÀ SỰ TỔNG HỢP CỦA NĂM CUNG
One other definition might be given even though its abstruseness may prove but a bewilderment to the student.
Có thể đưa ra thêm một định nghĩa nữa dù tính thâm áo của nó có thể chỉ gây bối rối cho đạo sinh.
Manas is the united faculty of four of the Heavenly Men, synthesised through a fifth Heavenly Man on the third plane of the system. These five Heavenly Men were the logoic embodiment in an earlier system and achieved the fullness of manasic life. Their synthetic life is that which is primarily understood when we speak of Brahma, that cosmic Entity Who is the sum-total of logoic active intelligence. For lack of better terms we call Them the Lords of the four minor Rays, Who find Their synthesis through the third Ray of Activity. They have been called in an endeavour to express the principles which They embody:
Manas là năng lực hợp nhất của bốn Đấng Thiên Nhân, được tổng hợp qua một Đấng Thiên Nhân thứ năm trên cõi thứ ba của hệ thống. Năm Đấng Thiên Nhân này là hiện thân logoic trong một hệ thống trước và đã đạt đến sự viên mãn của sự sống manas. Sự sống tổng hợp của Các Ngài là điều chủ yếu được hiểu khi chúng ta nói đến Brahma, Thực Thể vũ trụ là tổng thể của trí tuệ hoạt động logoic. Vì thiếu những thuật ngữ tốt hơn, chúng ta gọi Các Ngài là các Đấng Chúa Tể của bốn Cung nhỏ, những Đấng tìm thấy sự tổng hợp của mình qua cung ba Hoạt Động. Các Ngài đã được gọi như thế trong nỗ lực diễn tả các nguyên khí mà Các Ngài hiện thân:
1. The Lord of Ceremonial Magic.
1. Đấng Chúa Tể của Huyền Thuật Nghi Lễ.
2. The Lord of Abstract Idealism, or Devotion.
2. Đấng Chúa Tể của Chủ Nghĩa Duy Tâm Trừu Tượng, hay Sùng Tín.
3. The Lord of Concrete Science.
3. Đấng Chúa Tể của Khoa Học Cụ Thể.
4. The Lord of Harmony and Art.
4. Đấng Chúa Tể của Hài Hòa và Nghệ Thuật.
These four function through the fourth cosmic ether, and have vehicles of buddhic matter. They merge into the greater life of the Lord of the third Ray of Aspect on atmic levels, and these four (with the one synthetic Ray), are the totality of manasic energy. They are the life of the five lower planes. They are the five Kumaras, and two remain, making the seven Kumaras or Builders of the universe; these five have been called the five Mind-born Sons of Brahma. (S. D., I, 119, 493; II, 111, 112.) Manas, therefore, is the psychic effect of Their united group work, and shows forth in different ways according to the units involved, the forms [Page 337] animated, and the planes concerned. They demonstrate predominantly on the five lower subplanes of each plane, and this factor should be remembered in connection with the major initiations of manas. Nevertheless—as They are the sumtotal of the third or Brahma aspect—Their main sphere of influence is on the lowest or third division of the manifested universe or on the mental, astral, and physical planes.
Bốn Đấng này hoạt động qua dĩ thái vũ trụ thứ tư, và có các vận cụ bằng vật chất Bồ đề. Các Ngài hòa nhập vào sự sống lớn hơn của Đấng Chúa Tể của cung ba Trạng Thái trên các cấp độ atma, và bốn Đấng này (cùng với một Cung tổng hợp) là toàn thể năng lượng manas. Các Ngài là sự sống của năm cõi thấp. Các Ngài là năm Kumara, và còn lại hai vị, tạo thành bảy Kumara hay các Đấng Kiến Tạo của vũ trụ; năm vị này đã được gọi là năm Người Con do Tâm sinh của Brahma. (S. D., I, 119, 493; II, 111, 112.) Do đó, manas là hiệu quả thông linh của công việc nhóm hợp nhất của Các Ngài, và biểu lộ theo những cách khác nhau tùy theo các đơn vị liên hệ, các hình tướng được [Page 337] làm sinh động, và các cõi liên hệ. Các Ngài biểu lộ chủ yếu trên năm cõi phụ thấp của mỗi cõi, và yếu tố này cần được ghi nhớ liên hệ với các cuộc điểm đạo lớn của manas. Tuy nhiên—vì Các Ngài là tổng thể của phương diện thứ ba hay phương diện Brahma—khối cầu ảnh hưởng chính của Các Ngài là trên phân bộ thấp nhất hay thứ ba của vũ trụ biểu hiện, tức là trên các cõi trí, cảm dục, và hồng trần.
I would here suggest a third division of the major planes of the system which will hold much of interest for the real student of occultism.
Ở đây tôi muốn gợi ý một sự phân chia thứ ba của các cõi chính trong hệ thống, điều sẽ chứa đựng nhiều điều lý thú cho đạo sinh chân chính của huyền bí học.
First Logos
Mahadeva.
Will Aspect
First plane.
Second Logos
Vishnu
Wisdom Aspect
Second, Third, Fourth.
Third Logos
Brahma
Intelligence
Fifth, Sixth, Seventh.
In these five definitions of manas we have suggested scope for thought and much has been hinted at for those who have ears to hear. Many more explanatory words might be spoken but we aim to start students thinking for themselves, and seek to see them defining these ideas in their own words.
Trong năm định nghĩa này về manas, chúng ta đã gợi ra phạm vi cho tư tưởng và đã ám chỉ nhiều điều cho những ai có tai để nghe. Có thể nói thêm nhiều lời giải thích nữa, nhưng chúng tôi nhắm đến việc khởi động đạo sinh tự suy nghĩ, và mong thấy họ định nghĩa các ý tưởng này bằng chính lời lẽ của mình.
6. MANAS IS THE INTELLIGENT WILL OR PURPOSE OF AN EXISTENCE
6. MANAS LÀ Ý CHÍ THÔNG MINH HAY MỤC ĐÍCH CỦA MỘT HIỆN HỮU
Manas might finally be defined as the intelligent will and ordered purpose of every self-conscious entity. I would urge the student to bear in mind certain basic facts which will serve to keep his mind clear, and which will enable him to comprehend something of the place which this fire of mind holds in the cosmos and the solar system, and (needless to say), in his life also,—the reflection of the other two.
Cuối cùng, manas có thể được định nghĩa là ý chí thông minh và mục đích có trật tự của mọi thực thể ngã thức. Tôi muốn thúc giục đạo sinh ghi nhớ một số sự kiện căn bản sẽ giúp giữ cho thể trí của y được sáng rõ, và sẽ giúp y thấu hiểu phần nào vị trí mà lửa của trí tuệ này giữ trong vũ trụ và trong hệ mặt trời, và dĩ nhiên, cả trong đời sống của chính y nữa,—sự phản ánh của hai lửa kia.
He should ever remember that manas is a principle of the Logos, and necessarily therefore is felt in all those [Page 338] evolutions which are a part of His nature but is allied especially to the throat and head centres; it is the active intelligent factor which enables a solar Logos, a planetary Logos or Heavenly Man, and a human being to:
Y nên luôn luôn nhớ rằng manas là một nguyên khí của Thượng đế, và do đó tất yếu được cảm nhận trong mọi [Page 338] tiến hoá là một phần của bản chất Ngài nhưng đặc biệt liên kết với các trung tâm cổ họng và đầu; đó là yếu tố hoạt động thông minh giúp cho một Thái dương Thượng đế, một Hành Tinh Thượng Đế hay Đấng Thiên Nhân, và một con người có thể:
a. Use intelligently a form or vehicle.
a. Sử dụng một hình tướng hay vận cụ một cách thông minh.
b. Build faculty into the causal body.
b. Xây dựng năng lực vào thể nguyên nhân.
c. Reap the benefit of experience.
c. Gặt hái lợi ích của kinh nghiệm.
d. Expand the consciousness.
d. Mở rộng tâm thức.
e. Make progress towards a specified goal.
e. Tiến bộ hướng đến một mục tiêu xác định.
f. Discriminate between the two poles.
f. Phân biện giữa hai cực.
g. Choose the direction in which his activity shall trend.
g. Chọn hướng mà hoạt động của y sẽ nghiêng theo.
h. Perfect the form as well as use it.
h. Hoàn thiện hình tướng cũng như sử dụng nó.
i. Obtain control of active substance, and turn its forces into desired channels.
i. Đạt được sự kiểm soát chất liệu hoạt động, và chuyển các mãnh lực của nó vào những kênh dẫn mong muốn.
j. Co-ordinate the different grades of matter, and synthesise the utilised forms till each and all show a unanimous line of action and express simultaneously the will of the Indweller.
j. Phối hợp các cấp độ vật chất khác nhau, và tổng hợp các hình tướng được sử dụng cho đến khi mỗi và tất cả đều biểu lộ một đường lối hành động nhất trí và biểu lộ đồng thời ý chí của Đấng Ngự Bên Trong.
All these ends are the result of the manasic development and perhaps the student might apprehend the underlying idea more clearly if it is realised that
Tất cả các mục tiêu này là kết quả của sự phát triển manas, và có lẽ đạo sinh có thể lĩnh hội ý tưởng nền tảng rõ hơn nếu chứng nghiệm rằng
a. The Spirit employs manas in all that concerns matter, the electrical substance, or the active akasha.
a. Tinh thần sử dụng manas trong mọi điều liên quan đến vật chất, chất liệu điện, hay akasha hoạt động.
b. The Spirit employs buddhi in all that relates to the psyche, that relates to the soul of the world, to the soul of an individual, or to the soul of every form.
b. Tinh thần sử dụng buddhi trong mọi điều liên hệ đến psyche, liên hệ đến linh hồn của thế giới, đến linh hồn của một cá nhân, hay đến linh hồn của mọi hình tướng.
c. The Spirit employs will or atma in all that relates to the essence of all, to itself, considering the essence and the Self as pure Spirit as distinguished from spirit-matter.
c. Tinh thần sử dụng phương diện ý chí hay atma trong mọi điều liên hệ đến tinh túy của vạn hữu, đến chính nó, xét tinh túy và Bản Ngã như Tinh thần thuần túy phân biệt với tinh thần-vật chất.
In the first case, the distinctive quality of manas is discrimination which enables the Spirit to differentiate between: [Page 339]
Trong trường hợp thứ nhất, phẩm tính đặc thù của manas là sự phân biện, giúp Tinh thần phân biệt giữa: [Page 339]
1. The Self and the Not-Self.
1. Bản Ngã và Phi-Ngã.
2. Spirit and Matter.
2. Tinh thần và Vật chất.
3. The planes and the subplanes.
3. Các cõi và các cõi phụ.
4. The different grades of atomic matter in the system.
4. Các cấp độ khác nhau của vật chất nguyên tử trong hệ thống.
5. Vibrations, engendered by will, working through love-wisdom, and energising substance.
5. Các rung động, được tạo ra bởi ý chí, hoạt động qua bác ái – minh triết, và tiếp năng lượng cho chất liệu.
6. All that concerns forms of every kind and in every type of essential existence.
6. Mọi điều liên quan đến các hình tướng thuộc mọi loại và trong mọi kiểu hiện hữu bản chất.
In the second case, the buddhic principle has for its distinctive quality love, and demonstrates as wisdom working through love and producing:
Trong trường hợp thứ hai, nguyên khí Bồ đề có phẩm tính đặc thù là bác ái, và biểu lộ như minh triết hoạt động qua bác ái và tạo ra:
1. Unity between all Selves.
1. Sự hợp nhất giữa mọi Bản Ngã.
2. Group coherence.
2. Sự cố kết nhóm.
3. Qualities that are distinctively along the line of what we call love.
3. Các phẩm tính đặc biệt theo đường lối của điều chúng ta gọi là bác ái.
4. Effective work in connection with evolution, or the fundamentals of hierarchical work.
4. Công việc hữu hiệu liên hệ với tiến hoá, hay các nền tảng của công việc phân cấp.
In the third case the Spirit employs the will aspect or atma (in man), which has, for its distinctive feature, that coherent force which keeps the purpose of the entity ever in view, working it out through love in substantial form.
Trong trường hợp thứ ba, Tinh thần sử dụng phương diện ý chí hay atma (trong con người), phương diện này có, như đặc điểm riêng biệt của nó, mãnh lực cố kết giữ cho mục đích của thực thể luôn luôn ở trong tầm nhìn, triển khai nó qua bác ái trong hình tướng chất liệu.
I have pointed out these distinctions as it serves to bring the scope, and equally the limitations, of the active mental principle somewhat more clearly before the student. In the Hall of Ignorance the accumulative side of manas and its ability to store and acquire knowledge and information is being developed. A man, for instance, acquires facts, and application, and sets up vibrations which have to be worked out intelligently. The acquisitive side of this principle is showing forth. In the Hall of Learning the discriminative side is being developed, and the man learns not only to choose but to discard, and he begins to merge the two poles intelligently. In the [Page 340] Hall of Wisdom he discards also, and perfectly blends the two poles, thereby producing that objective something we call light. The illuminating side of manas is shown. He becomes an intelligent creator, and by the time he has taken the four major initiations he has:
Tôi đã chỉ ra những phân biệt này vì điều đó giúp đưa phạm vi, và đồng thời cả những giới hạn, của nguyên khí trí tuệ hoạt động hiện ra phần nào rõ hơn trước đạo sinh. Trong Phòng Vô Minh phương diện tích lũy của manas và khả năng lưu trữ, thu nhận tri thức và thông tin của nó đang được phát triển. Chẳng hạn, một người thu nhận các sự kiện và sự ứng dụng, và thiết lập các rung động phải được triển khai một cách thông minh. Phương diện thu nhận của nguyên khí này đang biểu lộ. Trong Phòng Hiểu Biết phương diện phân biện đang được phát triển, và con người học không chỉ chọn lựa mà còn loại bỏ, và y bắt đầu hòa nhập hai cực một cách thông minh. Trong [Page 340] Phòng Minh triết y cũng loại bỏ, và dung hợp hoàn hảo hai cực, nhờ đó tạo ra cái gì đó khách quan mà chúng ta gọi là ánh sáng. Phương diện soi sáng của manas được biểu lộ. Y trở thành một đấng kiến tạo thông minh, và vào lúc y đã trải qua bốn cuộc điểm đạo lớn, y đã:
1. Developed perfectly the Brahma aspect, which—as pointed out—functions primarily in the three worlds. It is the active intelligent aspect.
1. Phát triển hoàn hảo phương diện Brahma, phương diện—như đã chỉ ra—hoạt động chủ yếu trong ba cõi giới. Đó là phương diện hoạt động thông minh.
2. Achieved the point of development at which a Heavenly Man, the Divine Manasaputra, commenced this circle of manifestation we call a solar system.
2. Đạt đến điểm phát triển mà tại đó một Đấng Thiên Nhân, Đấng Manasaputra thiêng liêng, đã khởi đầu vòng biểu hiện này mà chúng ta gọi là một hệ mặt trời.
3. Transmuted manas into wisdom or love.
3. Chuyển hoá manas thành minh triết hay bác ái.
4. Synthesised the Rays of Activity or Intelligence and is beginning to merge this synthesis into the higher one of love-wisdom.
4. Tổng hợp các Cung Hoạt Động hay Trí Tuệ và đang bắt đầu hòa nhập sự tổng hợp này vào sự tổng hợp cao hơn của bác ái – minh triết.
To sum it all up in words of fire: The fire of matter has blazed out perfectly, and the vibratory activity of the man has been keyed up to synchronise with that of a Heavenly Man, thus enabling a man to function consciously, or be vitally active on the buddhic plane.
Tóm lại tất cả bằng những lời của lửa: Lửa của vật chất đã bùng cháy một cách hoàn hảo, và hoạt động rung động của con người đã được nâng lên để đồng bộ với hoạt động của một Đấng Thiên Nhân, nhờ đó giúp con người hoạt động một cách hữu thức, hay sinh động thiết yếu trên cõi Bồ đề.
The fire of mind has blended with the fire of matter and has stimulated it to such an extent that it has brought about the liberation of the entity, man, from the three worlds, and has occultly “obscured” his manifestation on the three planes in exactly the same way as the manifestation of a Logos “goes out” (occultly) when the fires are sufficiently fierce. As regards the fire of Spirit, or pure electric fire, this is finally synthesised with the other two and brings about the escape of the life on to another plane cosmically considered. [Page 341]
Lửa của trí tuệ đã hòa trộn với lửa của vật chất và đã kích thích nó đến mức giải phóng thực thể là con người ra khỏi ba cõi giới, và một cách huyền bí đã “làm lu mờ” biểu hiện của y trên ba cõi đúng theo cùng cách mà biểu hiện của một Thượng đế “tắt đi” (theo nghĩa huyền bí) khi các ngọn lửa đủ mãnh liệt. Còn về lửa của Tinh thần, hay Lửa Điện thuần túy, thì cuối cùng nó được tổng hợp với hai lửa kia và đưa đến sự thoát ra của sự sống sang một cõi khác nếu xét theo vũ trụ.[Page 341]
A MAN
CON NGƯỜI
a. The blending of the fire of matter and of the fire of mind liberates from the three worlds.
a. Sự hòa trộn của lửa vật chất và lửa trí tuệ giải phóng khỏi ba cõi giới.
b. The blending of electric fire with the two other fires brings about liberation from the five lower planes, and enables a man to function consciously on the cosmic physical plane.
b. Sự hòa trộn của Lửa Điện với hai lửa kia đem lại sự giải phóng khỏi năm cõi thấp, và giúp con người hoạt động một cách hữu thức trên cõi hồng trần vũ trụ.
A HEAVENLY MAN
MỘT ĐẤNG THIÊN NHÂN
a. The blending of the fire of matter and of mind liberates from the three planes of His manifestation.
a. Sự hòa trộn của lửa vật chất và lửa trí tuệ giải phóng Ngài khỏi ba cõi biểu hiện của Ngài.
b. The blending of the electric fire in His case brings about escape from the planetary ring-pass-not and enables Him to function consciously on the cosmic astral plane.
b. Sự hòa trộn của Lửa Điện trong trường hợp của Ngài đem lại sự thoát ra khỏi vòng-giới-hạn hành tinh và giúp Ngài hoạt động một cách hữu thức trên cõi cảm dục vũ trụ.
A SOLAR LOGOS
MỘT THÁI DƯƠNG THƯỢNG ĐẾ
a. The blending of the fire of matter and of mind liberates Him from the solar ring-pass-not, and gives Him the freedom of the cosmic physical, astral and the lower subplanes of the cosmic mental planes.
a. Sự hòa trộn của lửa vật chất và lửa trí tuệ giải phóng Ngài khỏi vòng-giới-hạn thái dương, và ban cho Ngài sự tự do của cõi hồng trần vũ trụ, cõi cảm dục vũ trụ và các cõi phụ thấp của cõi trí vũ trụ.
b. The blending of electric fire with the other two enables Him to function consciously in His causal body thus paralleling the work of Man in the three worlds.
b. Sự hòa trộn của Lửa Điện với hai lửa kia giúp Ngài hoạt động một cách hữu thức trong thể nguyên nhân của Ngài, như thế song hành với công việc của Con Người trong ba cõi giới.