← A Treatise on Cosmic Fire

Cosmic Fire S4

Cosmic Fire S4

DIVISION B - MANAS AS A COSMIC, SYSTEMIC AND HUMAN FACTOR

PHÂN ĐOẠN B - MANAS NHƯ MỘT NHÂN TỐ VŨ TRỤ, THÁI DƯƠNG HỆ VÀ NHÂN LOẠI

I. THE ORIGIN OF MANAS, OR MIND

I. NGUỒN GỐC CỦA MANAS, HAY TRÍ TUỆ

1. Cosmic Manas.

1. Manas vũ trụ.

a. The process of individualisation.

a. Tiến trình biệt ngã hóa.

b. The method of initiation.

b. Phương pháp điểm đạo.

2. Planetary Manas.

2. Manas hành tinh.

a. Consciousness and existence.

a. Tâm thức và hiện hữu.

b. Will and ordered purpose.

b. Ý chí và mục đích có trật tự.

3. Human Manas.

3. Manas nhân loại.

a. Man and the planetary Logos.

a. Con người và Hành Tinh Thượng Đế.

b. The Logos of our scheme.

b. Thượng đế của hệ hành tinh chúng ta.

c. Venus and the Earth chain.

c. Sao Kim và Dãy Địa Cầu.

4. Manas and the Earth Chain.

4. Manas và Dãy Địa Cầu.

a. The Earth chain and the incarnating monads.

a. Dãy Địa Cầu và các chân thần đang lâm phàm.

b. The fourth kingdom and the Hierarchy.

b. giới thứ tư và Thánh Đoàn.

c. A Prophecy.

c. Một lời tiên tri.

d. A Summation.

d. Một sự tổng kết.

II. THE POSITION OF MANAS

II. VỊ TRÍ CỦA MANAS

1. Manas and Karma.

1. Manas và nghiệp quả.

2. Manas and karmic purpose.

2. Manas và mục đích nghiệp quả.

III. THE PRESENT STAGE OF MANASIC DEVELOPMENT

III. GIAI ĐOẠN HIỆN NAY CỦA SỰ PHÁT TRIỂN MANAS

1. In the planets.

1. Trong các hành tinh.

2. In the system.

2. Trong hệ thống.

3. On the Earth. [Page 343]

3. Trên Trái Đất. [Page 343]

IV. THE FUTURE OF MANAS

IV. TƯƠNG LAI CỦA MANAS

1. The characteristics of Manas.

1. Các đặc tính của Manas.

a. Discrimination.

a. Phân biện.

b. Ordered activity.

b. Hoạt động có trật tự.

c. Adaptability.

c. Khả năng thích ứng.

2. Developments of the Human Mind.

2. Những phát triển của trí tuệ con người.

a. Ray effects.

a. Các hiệu ứng của cung.

b. Animals, men and the rays.

b. Động vật, những người nam và nữ, và các cung.

c. Types of Karma.

c. Các loại nghiệp quả.

3. Manas in the Final Rounds.

3. Manas trong các cuộc tuần hoàn cuối cùng.

a. The transmutative process.

a. Tiến trình chuyển hoá.

b. Synthesis.

b. Tổng hợp.

I. THE ORIGIN OF MANAS, OR MIND

i. NGUỒN GỐC CỦA MANAS, HAY TRÍ TUỆ

WHAT we are dealing with here (taking these three factors in their order), is the fire of mind in connection with a solar Logos. It has been earlier pointed out that mind has already been developed in a Heavenly Man, and therefore we must equally predicate anent a solar Logos that cosmic mind, or the fifth Principle, is His prime characteristic, and was perfected by Him in an earlier system. We might now consider our first subdivision:

Điều chúng ta đang bàn đến ở đây (xét ba yếu tố này theo thứ tự của chúng) là lửa của trí tuệ trong liên hệ với một Thái dương Thượng đế. Trước đây đã chỉ ra rằng trí tuệ đã được phát triển nơi một Đấng Thiên Nhân, và vì vậy chúng ta cũng phải khẳng định tương tự về một Thái dương Thượng đế rằng trí tuệ vũ trụ, hay nguyên khí thứ năm, là đặc tính chủ yếu của Ngài, và đã được Ngài hoàn thiện trong một hệ thống trước đó. Giờ đây chúng ta có thể xét đến phân mục thứ nhất của mình:

1. Cosmic Manas.

1. Manas vũ trụ.

Whence comes this fire? Where originates this vital heat, or vibratory activity, which is predominantly a feature of all conceivable Beings? How far back is it possible for us to go? Can we conceive of its origin? What is this downpouring fire that animates the darkness of matter?

Lửa này từ đâu đến? Nhiệt thiết yếu này, hay hoạt động rung động này, vốn nổi trội như một đặc trưng của mọi Hữu thể có thể quan niệm được, phát sinh ở đâu? Chúng ta có thể đi ngược về bao xa? Chúng ta có thể quan niệm được nguồn gốc của nó chăng? Lửa tuôn đổ này là gì mà làm sinh động bóng tối của vật chất?

a. The Process of Individualisation. Perhaps it may help somewhat if we here consider the question of INDIVIDUALISATION, or the process of intelligent self-realisation [Page 344]

a. Tiến trình biệt ngã hóa. Có lẽ sẽ phần nào hữu ích nếu ở đây chúng ta xét đến vấn đề BIỆT NGÃ HÓA, hay tiến trình tự chứng nghiệm một cách thông minh [Page 344]

[Page 345] which so strikingly differentiates men from the animals. At individualisation the two poles are approximated, and at their meeting light streams forth, irradiating the cave of matter, and lighting the pathway that must be trodden by the Pilgrim on his way back to his source.

[Page 345] vốn phân biệt con người với loài vật một cách nổi bật như thế. Khi biệt ngã hóa, hai cực được đưa lại gần nhau, và tại điểm gặp gỡ của chúng ánh sáng tuôn ra, chiếu rọi hang động của vật chất, và soi sáng con đường mà Người Lữ Hành phải bước đi trên đường trở về nguồn cội của mình.

This irradiation brings about, in connection with man,

Sự chiếu rọi này, trong liên hệ với con người, đem lại:

Self-realisation.

Tự chứng nghiệm.

Purpose.

Mục đích.

Separation from all other individualised selves, or spheres.

Sự tách biệt khỏi mọi bản ngã biệt ngã hóa khác, hay các khối cầu khác.

Consciousness, above all.

Trên hết là tâm thức.

Ability to evolve.

Khả năng tiến hoá.

Capacity to “shine ever more and more unto the perfect day.”

Năng lực “chiếu sáng ngày càng hơn cho đến ngày toàn hảo.”

This is equally true of a solar Logos, and of a Heavenly Man.

Điều này cũng đúng như vậy đối với một Thái dương Thượng đế và một Đấng Thiên Nhân.

Individualisation is literally the coming together (out of the darkness of abstraction), of the two factors of Spirit and matter by means of a third factor, the intelligent will, purpose and action of an Entity. By the approximation of these two poles light is produced, a flame shines forth, a sphere of radiant glory is seen which gradually increases the intensity of its light, its heat and its radiance until capacity is reached, or that which we call perfection. We should note and distinguish the words light, heat and radiance, which are the distinctive features of all individualised entities from Gods to men.

Biệt ngã hóa theo nghĩa đen là sự đến gần nhau (ra khỏi bóng tối của sự trừu xuất) của hai yếu tố tinh thần và vật chất nhờ một yếu tố thứ ba, là ý chí, mục đích và hành động thông minh của một Thực Thể. Do sự tiếp cận của hai cực này mà ánh sáng được tạo ra, một ngọn lửa bừng sáng, một khối cầu vinh quang rực rỡ xuất hiện và dần dần gia tăng cường độ ánh sáng, nhiệt và sự rạng ngời của nó cho đến khi đạt tới năng lực, hay điều mà chúng ta gọi là sự toàn hảo. Chúng ta nên lưu ý và phân biệt các từ ánh sáng, nhiệt và sự rạng ngời, là những đặc điểm phân biệt của mọi thực thể biệt ngã hóa từ các Thượng đế đến con người.

Man is beginning to arrive partially at the secret of this phenomenon through his ability to produce through scientific knowledge, that which is called electric light and which is used by man for illumination, heat and healing. As more anent this matter is discovered by physical plane students, the whole question of existence and of creative activity will become clearer.

Con người đang bắt đầu phần nào đạt đến bí mật của hiện tượng này nhờ khả năng tạo ra, qua tri thức khoa học, điều được gọi là ánh sáng điện và được con người dùng để soi sáng, sưởi ấm và chữa lành. Khi các đạo sinh cõi hồng trần khám phá thêm về vấn đề này, toàn bộ câu hỏi về hiện hữu và hoạt động sáng tạo sẽ trở nên sáng tỏ hơn.

As regards the origin of the fire of mind something [Page 346] more may be learned through studying the various methods of individualisation. In connection with man these methods are three in number as far as we can tell, though the probability of there being several other methods which are inconceivable to man’s finite comprehension, is quite possible. These methods are:

Về nguồn gốc của lửa trí tuệ, có thể học được thêm đôi điều [Page 346] qua việc nghiên cứu các phương pháp biệt ngã hóa khác nhau. Trong liên hệ với con người, các phương pháp này có ba loại theo như chúng ta có thể biết, dù khả năng có một số phương pháp khác nữa mà trí hiểu hữu hạn của con người không thể quan niệm được là điều hoàn toàn có thể. Các phương pháp ấy là:

First, the method pursued on the moon-chain (the planetary manifestation previous to ours), when, through innate force and energy, the conjunction of the three fires was brought about and the fire of matter contacted the fire of Spirit through the latent presence of the fiery spark of mind. This spark of mind, working through the instinct, drove the material form or substance, into such activity that it was enabled to reach up to heights where its opposite pole could be contacted. Animal-man aspired; Spirit answered; the vibration of the germ of mentality had permeated the substance like yeast. Thus was consciousness awakened. In the previous solar system, in connection with the Heavenly Men, this was the method pursued by Them, and These advanced cosmic Beings entered into consciousness and mastered the three lower planes of the cosmic physical,—the planes which man is endeavouring to master now. They individualised as the result of work accomplished during incomprehensible aeons of endeavour. (128) The earlier solar system was much longer in duration than this one will be, and force in matter was generated by the progression of the ages. It was the period of the vitalisation of the spirillae in the physical permanent atom of the Logos.

Thứ nhất, phương pháp được theo đuổi trên Dãy Mặt Trăng (biểu hiện hành tinh có trước biểu hiện của chúng ta), khi mà nhờ mãnh lực và năng lượng bẩm sinh, sự giao hội của ba ngọn lửa đã được tạo ra và lửa của vật chất tiếp xúc với lửa của Tinh thần qua sự hiện diện tiềm ẩn của tia lửa trí tuệ. Tia lửa trí tuệ này, hoạt động qua bản năng, đã thúc đẩy hình tướng vật chất hay chất liệu vào một hoạt động mạnh đến mức nó có thể vươn lên những đỉnh cao nơi cực đối nghịch của nó có thể được tiếp xúc. Người thú đã khát vọng; Tinh thần đáp ứng; rung động của mầm mống trí tuệ đã thấm nhuần chất liệu như men. Nhờ đó tâm thức được đánh thức. Trong hệ mặt trời trước, trong liên hệ với các Đấng Thiên Nhân, đây là phương pháp được Các Ngài theo đuổi, và các Hữu thể vũ trụ tiến hóa cao này đã đi vào tâm thức và làm chủ ba cõi thấp của cõi hồng trần vũ trụ,—những cõi mà con người hiện đang nỗ lực làm chủ. Các Ngài biệt ngã hóa như kết quả của công việc được hoàn thành trong những đại kiếp nỗ lực không thể hiểu nổi. (128) Hệ mặt trời trước kéo dài lâu hơn nhiều so với hệ này, và mãnh lực trong vật chất đã được tạo ra bởi sự tiến triển của các thời đại. Đó là thời kỳ tiếp sinh lực cho các loa tuyến trong nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế.

(128) The period of the individualisation of a solar Logos goes back further still and need not concern us here, save to remember that the Law of Analogy holds good. (back)

(128) Thời kỳ biệt ngã hóa của một Thái dương Thượng đế còn lùi xa hơn nữa và không cần liên quan đến chúng ta ở đây, ngoại trừ việc ghi nhớ rằng định luật tương đồng vẫn đúng. (back)

In this method of individualisation, the emphasis is laid on the fact that the principle of manas is a part of the logoic character, and is part of His very nature. It, therefore, has its origin in His Being or Self; it is [Page 347] part of the content of the logoic Causal Body, and therefore permeates all manifestation which originates with Him. Hence the accuracy of the statement that cosmic manas originates on the cosmic mental plane, and is a portion of the fire that animates that plane.

Trong phương pháp biệt ngã hóa này, sự nhấn mạnh được đặt trên sự kiện rằng nguyên khí manas là một phần của đặc tính logoic, và là một phần của chính bản chất của Ngài. Vì vậy, nó có nguồn gốc trong Hữu thể hay Bản Ngã của Ngài; nó là [Page 347] một phần của nội dung của thể nguyên nhân logoic, và do đó thấm nhuần mọi biểu hiện phát sinh từ Ngài. Vì thế, phát biểu rằng manas vũ trụ phát sinh trên cõi trí vũ trụ, và là một phần của ngọn lửa làm sinh động cõi ấy, là hoàn toàn chính xác.

Second, in the second solar system, and in connection with the method employed therein, another point merits attention. This fire of mind has its source in a constellation until recently unrecognized by exoteric science as having any relation of an intimate nature to our solar system, owing to its tremendous distance away. The sun “Sirius” is the source of logoic manas in the same sense as the Pleiades are connected with the evolution of manas in the seven Heavenly Men, and Venus was responsible for the coming in of mind in the Earth chain. Each was primary to the other, or was the agent which produced the first flicker of consciousness in the particular groups involved. In every case the method was that of a slow evolutionary growth till the consciousness suddenly blazed forth owing to the interposition of force, apparently from an extraneous source,

Thứ hai, trong hệ mặt trời thứ hai, và trong liên hệ với phương pháp được dùng trong đó, có một điểm khác đáng được chú ý. Lửa trí tuệ này có nguồn của nó trong một chòm sao mà cho đến gần đây khoa học ngoại môn chưa công nhận là có bất kỳ liên hệ mật thiết nào với hệ mặt trời của chúng ta, do khoảng cách vô cùng xa xôi của nó. Mặt trời “Sirius” là nguồn của manas logoic theo cùng ý nghĩa như Thất Tinh có liên hệ với sự tiến hoá của manas trong bảy Đấng Thiên Nhân, và Sao Kim chịu trách nhiệm cho sự giáng lâm của trí tuệ trong Dãy Địa Cầu. Mỗi nguồn đều là nguồn sơ khởi đối với nguồn kia, hay là tác nhân tạo ra tia chớp đầu tiên của tâm thức trong các nhóm liên hệ. Trong mọi trường hợp, phương pháp là sự tăng trưởng tiến hoá chậm rãi cho đến khi tâm thức đột nhiên bùng sáng do sự xen vào của mãnh lực, dường như từ một nguồn bên ngoài,

1. The Logos

Solar System

Sirius

2. Seven Heavenly Men

Planetary scheme

Pleiades

3. Heavenly Man

Earth chain

Venus

This second method therefore is that which is brought about by the hastening of the evolutionary process through influences from outside; these tend to awaken consciousness, and to bring about the merging of the poles. The first method touched upon was that of the earlier solar system. The method we are now considering is the distinctive one of this solar system and will persist till the end of the mahamanvantara.

Vì vậy, phương pháp thứ hai này là phương pháp được tạo ra bởi sự thúc đẩy nhanh tiến trình tiến hoá qua các ảnh hưởng từ bên ngoài; các ảnh hưởng này có khuynh hướng đánh thức tâm thức và đem lại sự hòa nhập của các cực. Phương pháp thứ nhất vừa được đề cập là phương pháp của hệ mặt trời trước. Phương pháp mà chúng ta hiện đang xét là phương pháp đặc trưng của hệ mặt trời này và sẽ tiếp tục cho đến cuối Đại giai kỳ sinh hóa.

That the earlier method was seen in the moon-chain is only evidence of the steadfastness of the Law of Repetition by which every large cycle includes, in its earlier [Page 348] stages, all the lesser, and repeats the earlier procedure. This is a recognised fact, for instance, in the building of man’s physical body, for the foetus reproduces all earlier stages and forms till the human is achieved; again, as we know, the fourth round reproduces briefly the earlier three but has its own distinctive quality.

Việc phương pháp trước đó được thấy trong Dãy Mặt Trăng chỉ là bằng chứng về tính kiên định của Định luật Lặp lại, theo đó mỗi chu kỳ lớn đều bao gồm, trong các giai đoạn đầu tiên của nó, mọi chu kỳ nhỏ hơn, và lặp lại tiến trình trước đó. Đây là một sự kiện được công nhận, chẳng hạn, trong việc xây dựng thể xác của con người, vì bào thai tái hiện mọi giai đoạn và hình thức trước đó cho đến khi đạt được hình thể con người; thêm nữa, như chúng ta biết, cuộc tuần hoàn thứ tư tái hiện vắn tắt ba cuộc trước nhưng có phẩm tính đặc trưng riêng của nó.

b. The Method of Initiation. In this second method the “Rods of Initiation” are used to effect certain results. These rods are of four kinds:

b. Phương pháp điểm đạo. Trong phương pháp thứ hai này, các “Thần Trượng Điểm đạo” được dùng để tạo ra những kết quả nhất định. Các thần trượng này có bốn loại:

1. Cosmic, used by a cosmic Logos in the initiations of a solar Logos, and of the three major planetary Logoi.

1. Vũ trụ, được một Thượng đế vũ trụ sử dụng trong các cuộc điểm đạo của một Thái dương Thượng đế và của ba Hành Tinh Thượng Đế lớn.

2. Systemic, used by a solar Logos in the initiations of a planetary Logos.

2. Thái dương hệ, được một Thái dương Thượng đế sử dụng trong các cuộc điểm đạo của một Hành Tinh Thượng Đế.

3. Planetary, used by a planetary Logos for initiatory purposes, and for the third, the fourth, and fifth major initiations, with the two higher.

3. Hành tinh, được một Hành Tinh Thượng Đế sử dụng cho các mục đích điểm đạo, và cho lần điểm đạo lớn thứ ba, thứ tư và thứ năm, cùng với hai lần cao hơn.

4. Hierarchical, used by an occult Hierarchy for minor Initiations, and for the first two initiations of manas by the Bodhisattva. (129)

4. Thuộc Thánh Đoàn, được một Thánh đoàn huyền bí sử dụng cho các cuộc điểm đạo nhỏ, và cho hai lần điểm đạo đầu tiên của manas bởi Đức Bồ Tát. (129)

(129) The above information about the “Rods” is taken out of Initiation Human and Solar, page 126. (back)

(129) Thông tin trên về các “Thần Trượng” được trích từ Điểm Đạo Nhân Loại và Thái Dương, trang 126. (back)

When man individualised in Lemurian days (about eighteen million years ago), it was the application of the Rod of Initiation to the Logos of our Earth chain which brought about the event and touched into activity certain centres in His body with their corresponding groups. This application, bringing about consciousness on some plane, may be regarded as literally the awakening of the lives concerned to participate in intelligent work on the mental plane. Animal man was conscious on the physical, and on the astral planes. By the stimulation effected by the electric rod this animal man awoke to consciousness on the mental. Thus the three bodies were co-ordinated, and the Thinker enabled to function in them.

Khi con người biệt ngã hóa trong thời Lemuria (khoảng mười tám triệu năm trước), chính việc áp dụng Thần Trượng Điểm đạo lên Thượng đế của Dãy Địa Cầu chúng ta đã tạo ra biến cố ấy và chạm vào hoạt động của một số trung tâm nhất định trong thân thể của Ngài cùng với các nhóm tương ứng của chúng. Sự áp dụng này, tạo ra tâm thức trên một cõi nào đó, có thể được xem theo nghĩa đen là sự đánh thức các sự sống liên hệ để tham dự vào công việc thông minh trên cõi trí. Người thú đã có tâm thức trên cõi hồng trần và trên cõi cảm dục. Nhờ sự kích thích do thần trượng điện tạo ra, người thú này thức tỉnh đến tâm thức trên cõi trí. Nhờ đó ba thể được phối hợp, và Kẻ Tư Tưởng có thể hoạt động trong chúng.

[Page 349] All Rods of Initiation cause certain effects:

[Page 349] Mọi Thần Trượng Điểm đạo đều gây ra những hiệu quả nhất định:

a. Stimulation of the latent fires till they blaze.

a. Kích thích các ngọn lửa tiềm ẩn cho đến khi chúng bùng cháy.

b. Synthesis of the fires through an occult activity that brings them within the radius of each other.

b. Tổng hợp các ngọn lửa qua một hoạt động huyền bí đưa chúng vào trong bán kính của nhau.

c. Increase of the vibratory activity of some centre, whether in man, a Heavenly Man, or a solar Logos.

c. Gia tăng hoạt động rung động của một trung tâm nào đó, dù là trong con người, một Đấng Thiên Nhân, hay một Thái dương Thượng đế.

d. Expansion of all the bodies, but primarily of the causal,—this also in speaking of all the three types of Entities.

d. Sự mở rộng của mọi thể, nhưng chủ yếu là thể nguyên nhân,—điều này cũng đúng khi nói về cả ba loại Thực Thể.

All these results were seen when the Heavenly Man of our scheme took initiation eighteen million years ago. This initiation was brought about—as earlier pointed out—by a peculiar juxtaposition of chains, globes and schemes, and caused such a stimulation of all the latent manasic units within His body that a downflow of pure manas from the planetary manasic permanent atom was possible along the path of the planetary antaskarana—a channel which exists in the case of the planetary Logos, and which has not to be built as in the case of man. Along with this juxtaposition came a similar alignment with one of the Pleiades, permitting of manasic influence from that source.(S.D.,II, 711,725,726) (130)

Tất cả những kết quả này đã được thấy khi Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh chúng ta nhận điểm đạo cách đây mười tám triệu năm. Cuộc điểm đạo này đã được tạo ra—như đã chỉ ra trước đây—bởi một sự đặt kề đặc biệt của các dãy, các bầu hành tinh và các hệ hành tinh, và đã gây nên một sự kích thích mạnh đến mức đối với mọi đơn vị manas tiềm ẩn trong thân thể của Ngài, một sự tuôn xuống của manas thuần túy từ nguyên tử trường tồn manas hành tinh đã trở nên khả hữu dọc theo con đường của antahkarana hành tinh—một kênh tồn tại trong trường hợp của Hành Tinh Thượng Đế, và không phải được xây dựng như trong trường hợp của con người. Cùng với sự đặt kề này là một sự chỉnh hợp tương tự với một trong Thất Tinh, cho phép ảnh hưởng manas từ nguồn đó.(S.D.,II, 711,725,726) (130)

(130) “The Secret of the Pleiades and of their relation to the Seven Rishis of the Great Bear, and therefore to our Seven Heavenly Men, is not yet to be revealed. It is known only in detail to the Chohans of the Seventh Initiation, though the fact that there is such a relation is now exoteric.” H. P. B. speaks of it in the Secret Doctrine. (S. D., II, 711, 725, 726) (back)

(130) “Bí mật của Thất Tinh và mối liên hệ của chúng với Bảy Đấng Rishi của Đại Hùng Tinh, và do đó với bảy Đấng Thiên Nhân của chúng ta, vẫn chưa được tiết lộ. Điều đó chỉ được các Chohan của lần điểm đạo thứ bảy biết rõ chi tiết, mặc dù sự kiện rằng có một mối liên hệ như thế hiện nay đã là ngoại môn.” H. P. B. có nói về điều này trong Giáo Lý Bí Nhiệm. (S. D., II, 711, 725, 726) (back)

Third, the third method of individualisation is the one to be followed in the next solar system, though it will have its faint beginnings in this one. It is not based on latent activity as in the first case, nor in electrical polarity as in the second, but in a peculiar process of “occult abstraction” (using the word “abstraction” in its basic sense as “the drawing out” of essence). This occult abstraction is brought about by an effort of the will at present incomprehensible. The first method of individualisation [Page 350] is that of the third aspect, or latent activity, and follows the line of least resistance under the Law of Economy; the second method is the purely electrical one, and works under the Law of Attraction; whilst the third method lies hidden in dynamic will and is as yet to us impossible and incomprehensible.

Thứ ba, phương pháp biệt ngã hóa thứ ba là phương pháp sẽ được theo trong hệ mặt trời kế tiếp, dù nó sẽ có những khởi đầu mờ nhạt trong hệ này. Nó không dựa trên hoạt động tiềm ẩn như trong trường hợp thứ nhất, cũng không dựa trên cực tính điện như trong trường hợp thứ hai, mà dựa trên một tiến trình đặc biệt của “sự trừu xuất huyền bí” (dùng từ “trừu xuất” theo nghĩa căn bản của nó là “rút tinh chất ra”). Sự trừu xuất huyền bí này được tạo ra bởi một nỗ lực của ý chí hiện nay không thể hiểu được. Phương pháp biệt ngã hóa thứ nhất [Page 350] là phương pháp của phương diện thứ ba, hay hoạt động tiềm ẩn, và đi theo con đường ít trở ngại nhất dưới Định luật Tiết Kiệm; phương pháp thứ hai là phương pháp thuần điện, và hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn; còn phương pháp thứ ba ẩn giấu trong ý chí năng động và hiện vẫn là điều bất khả và không thể hiểu được đối với chúng ta.

2. Planetary Manas.

2. Manas hành tinh.

We sought in the foregoing, to understand somewhat the origin of manas—whether cosmic, or otherwise—through the consideration of human individualisation and the method thereof. We saw that individualisation is the conscious apprehension of the Self of its relation to all that constitutes the Not-Self, and that it is evoked in three ways, of which only two as yet are even dimly comprehensible. In each case this awakening of consciousness is preceded by a period of gradual development, is instantaneous at the moment of Self-Realisation for the first time, and is succeeded by another period of gradual evolution. This period of gradual evolution leads up to another crisis which we call initiation. In one we have initiation into conscious existence, in the other initiation into spiritual existence or group identification.

Trong phần trên, chúng ta đã tìm cách phần nào thấu hiểu nguồn gốc của manas—dù là vũ trụ hay loại khác—qua việc xem xét sự biệt ngã hóa của con người và phương pháp của nó. Chúng ta đã thấy rằng biệt ngã hóa là sự nắm bắt một cách hữu thức của Bản Ngã về mối liên hệ của nó với tất cả những gì cấu thành Phi-Ngã, và rằng nó được gợi lên theo ba cách, trong đó chỉ có hai cách hiện nay còn có thể được hiểu một cách mơ hồ. Trong mỗi trường hợp, sự thức tỉnh tâm thức này được đi trước bởi một thời kỳ phát triển dần dần, là tức thời vào khoảnh khắc Tự Chứng Nghiệm lần đầu tiên, và được tiếp nối bởi một thời kỳ tiến hoá dần dần khác. Thời kỳ tiến hoá dần dần này dẫn đến một cuộc khủng hoảng khác mà chúng ta gọi là điểm đạo. Trong trường hợp thứ nhất, chúng ta có điểm đạo vào hiện hữu hữu thức; trong trường hợp kia, điểm đạo vào hiện hữu tinh thần hay sự đồng hoá nhóm.

For a solar Logos individualisation dates back to stages far anterior to the triplicity of solar systems which constitutes for Him the Eternal Now, but which from man’s point of view embody the past, the present, and the future. A planetary Logos individualised in a previous system; a man individualises in this; the planetary entities, now involutionary, will individualise in the next.

Đối với một Thái dương Thượng đế, sự biệt ngã hóa có từ những giai đoạn rất lâu trước bộ ba các hệ mặt trời vốn cấu thành đối với Ngài Hiện Tại Vĩnh Cửu, nhưng từ quan điểm của con người lại bao hàm quá khứ, hiện tại và tương lai. Một Hành Tinh Thượng Đế đã biệt ngã hóa trong một hệ thống trước; con người biệt ngã hóa trong hệ này; các thực thể hành tinh, hiện đang giáng hạ tiến hoá, sẽ biệt ngã hóa trong hệ kế tiếp.

a. Consciousness and Existence. From the wider point of view the terms initiation and individualisation are synonymous; they both express the idea of an expansion of consciousness, or of entrance into a new kingdom of nature. The faculty of acquiring knowledge [Page 351] must be realised as paralleling the development of the sense of sight, or vision, as earlier pointed out. The fire of mind shone forth and illuminated animal man in Lemurian days, during that vast cycle wherein sight opened up for him the physical plane. The relationship between sight and mind is a very close one, and must not be lost from sight. In the first round, and in the first root-race of this round, hearing was the sense developed. In the second round and the second root-race touch was evolved. In the third round and corresponding root-race sight was added to the other two, and the Self which hears, and the Not-self which is touched, or apprehended as tangible, are related and connected by sight,—the correspondence to the intelligence that links. Thus is brought about the blending of the three fires, and illumination is present. But through all this evolutionary development the ONE Who hears, touches, and sees, persists and interprets according to the stage of the development of the manasic principle within Him. This basic Interpreter is the Entity Who is independent of an existence which ever necessitates a form. His is the life that causes matter to vibrate and He is therefore “fire by friction”; His is the life of pure Spirit which wills to be, and which utilises form, and is therefore electrical impulse on the cosmic physical plane or “electric fire”; His is the life that not only animates the atoms and electrifies them by His Own nature, but likewise knows itself to be one with all yet apart from all,—the thinking, discriminating, Self-realising something that we call MIND or Solar Fire. Universal mind or manas permeates all, and is equally that Self-knowing, individualised Entity Whose body contains our solar Logos as well as certain other solar Logoi; Whose fire, heat and radiation embrace certain other solar systems and unify them with our own system so that one complete vital body forms the manifestation of this mighty cosmic Being. [Page 352] Vortices of force on the cosmic etheric plane form the etheric framework of seven solar systems in the same way that the bodies of the seven Heavenly Men are the etheric centres for a solar Logos, and as the seven centres in man (existing in etheric matter), are the animating electrical impulse of his life.

a. Tâm thức và hiện hữu. Từ quan điểm rộng lớn hơn, các thuật ngữ điểm đạo và biệt ngã hóa là đồng nghĩa; cả hai đều biểu đạt ý niệm về một sự mở rộng tâm thức, hay sự đi vào một giới mới của thiên nhiên. Năng lực tiếp thu tri thức [Page 351] phải được nhận ra là song hành với sự phát triển của giác quan thị giác, hay tầm nhìn, như đã chỉ ra trước đây. Lửa của trí tuệ đã bừng sáng và soi sáng người thú trong thời Lemuria, trong chu kỳ rộng lớn ấy khi thị giác mở ra cho y cõi hồng trần. Mối liên hệ giữa thị giác và trí tuệ là rất mật thiết, và không được bỏ qua. Trong cuộc tuần hoàn thứ nhất, và trong giống dân gốc thứ nhất của cuộc tuần hoàn này, thính giác là giác quan được phát triển. Trong cuộc tuần hoàn thứ hai và giống dân gốc thứ hai, xúc giác được tiến hóa. Trong cuộc tuần hoàn thứ ba và giống dân gốc tương ứng, thị giác được thêm vào hai giác quan kia, và Bản Ngã nghe, cùng Phi-ngã được chạm đến, hay được nắm bắt như hữu hình, được liên hệ và nối kết bởi thị giác,—sự tương ứng với trí tuệ nối kết. Nhờ đó sự hòa trộn của ba ngọn lửa được tạo ra, và sự soi sáng hiện diện. Nhưng xuyên suốt toàn bộ sự phát triển tiến hoá này, Đấng Duy Nhất nghe, chạm và thấy vẫn tồn tại và diễn giải tùy theo giai đoạn phát triển của nguyên khí manas bên trong Ngài. Đấng Diễn Giải căn bản này là Thực Thể độc lập với một hiện hữu luôn luôn đòi hỏi một hình tướng. Sự sống của Ngài là sự sống làm cho vật chất rung động và vì vậy Ngài là “Lửa ma sát”; sự sống của Ngài là sự sống của Tinh thần thuần túy vốn muốn hiện hữu, và sử dụng hình tướng, và vì vậy là xung động điện trên cõi hồng trần vũ trụ hay “Lửa Điện”; sự sống của Ngài là sự sống không những làm sinh động các nguyên tử và điện hóa chúng bằng chính bản chất của Ngài, mà còn tự biết mình là một với tất cả nhưng vẫn tách biệt khỏi tất cả,—một cái gì biết suy tư, biết phân biện, tự chứng nghiệm mà chúng ta gọi là TRÍ TUỆ hay Lửa Thái dương. Trí tuệ vũ trụ hay manas thấm nhuần tất cả, và cũng chính là Thực Thể biệt ngã hóa, tự tri ấy mà thân thể của Ngài bao hàm Thái dương Thượng đế của chúng ta cũng như một số Thái dương Thượng đế khác; lửa, nhiệt và sự bức xạ của Ngài bao trùm một số hệ mặt trời khác và hợp nhất chúng với hệ của chúng ta để một thể sinh lực hoàn chỉnh tạo thành biểu hiện của Hữu thể vũ trụ hùng mạnh này. [Page 352] Các xoáy mãnh lực trên cõi dĩ thái vũ trụ tạo thành bộ khung dĩ thái của bảy hệ mặt trời theo cùng cách mà các thể của bảy Đấng Thiên Nhân là các trung tâm dĩ thái đối với một Thái dương Thượng đế, và như bảy trung tâm trong con người (tồn tại trong vật chất dĩ thái) là xung động điện làm sinh động sự sống của y.

To express the origin of manas apart from manifestation through a congery of systems, a solar system, or a man is for us impossible. Only as one grasps the fact that each planetary scheme, for instance, serves as the body of a Heavenly Man Who is the directing Mind in that scheme, and the animating principle of manas or the active discriminating faculty which every atom in that scheme evinces; only when it is realised that a solar Logos is similarly the manasic principle of those large atoms we call schemes in their totality; only when it is apprehended that a cosmic Logos is again the instigating mind of the still vaster atoms we call systems; only when it is admitted that man is the animating discriminative faculty of the tiny spheres which form his body of manifestation; and finally, only when all this is meditated upon, and its truth accepted, will this question of the origin of manas assume a less abstruse character, and the difficulty of its comprehension be less appalling.

Đối với chúng ta, việc diễn đạt nguồn gốc của manas tách rời khỏi biểu hiện qua một tập hợp các hệ thống, một hệ mặt trời, hay một con người là điều bất khả. Chỉ khi nào người ta nắm được sự kiện rằng chẳng hạn mỗi hệ hành tinh đều phục vụ như thân thể của một Đấng Thiên Nhân là Trí Tuệ chỉ đạo trong hệ ấy, và là nguyên khí làm sinh động của manas hay năng lực phân biện hoạt động mà mọi nguyên tử trong hệ ấy đều biểu lộ; chỉ khi nào nhận ra rằng một Thái dương Thượng đế cũng tương tự là nguyên khí manas của những nguyên tử lớn mà chúng ta gọi là các hệ hành tinh trong tổng thể của chúng; chỉ khi nào nắm bắt được rằng một Thượng đế vũ trụ lại là trí tuệ khởi phát của những nguyên tử còn rộng lớn hơn mà chúng ta gọi là các hệ thống; chỉ khi nào thừa nhận rằng con người là năng lực phân biện làm sinh động của những khối cầu nhỏ bé tạo thành thể biểu hiện của y; và cuối cùng, chỉ khi nào tất cả điều này được tham thiền và chân lý của nó được chấp nhận, thì câu hỏi về nguồn gốc của manas mới mang tính ít trừu tượng khó hiểu hơn, và khó khăn trong việc thấu hiểu nó mới bớt đáng sợ hơn.

Man, the Thinker, the Knower, the manasic principle in the centre of the many spheres which form his bodies, manipulates electrical force in three departments (the physical, astral and mental bodies) through seven centres which are the focal points of force, and of its intelligent dispersal throughout his little system to the myriads of lesser atoms, which are the cells in these spheres.

Con người, Kẻ Tư Tưởng, thức giả, nguyên khí manas ở trung tâm của nhiều khối cầu tạo thành các thể của y, vận dụng mãnh lực điện trong ba lĩnh vực (thể xác, thể cảm dục và thể trí) qua bảy trung tâm là các tiêu điểm của mãnh lực, và của sự phân phối thông minh của nó khắp hệ thống nhỏ bé của y đến vô số nguyên tử nhỏ hơn, là các tế bào trong những khối cầu ấy.

A Heavenly Man equally, and in a wider sense, the Thinker and Knower, the manasic or mind principle plus the buddhic or Christ principle, manipulates electrical force through three principal vehicles or globes in atmic, buddhic, and manasic matter, dispersing it from thence [Page 353] to the myriads of cells which correspond to the deva and human units.

Một Đấng Thiên Nhân cũng vậy, và theo nghĩa rộng hơn, là Kẻ Tư Tưởng và thức giả, nguyên khí manas hay trí tuệ cộng với nguyên khí Bồ đề hay nguyên khí Christ, vận dụng mãnh lực điện qua ba vận cụ hay bầu hành tinh chính trong vật chất atma, Bồ đề và manas, rồi từ đó phân phối nó [Page 353] đến vô số tế bào tương ứng với các đơn vị thiên thần và nhân loại.

A solar Logos in a still wider sense is the permeating universal Mind, the manasic principle, plus the buddhic and the will principle, working in three major schemes, by means of seven centres of force, and through the myriads of groups which are the cells in His body, in the same way as human beings are the cells in the body of a Heavenly Man.

Một Thái dương Thượng đế theo nghĩa còn rộng lớn hơn là Trí Tuệ Vũ Trụ thấm nhuần, nguyên khí manas, cộng với nguyên khí Bồ đề và nguyên khí ý chí, hoạt động trong ba hệ hành tinh lớn, bằng bảy trung tâm mãnh lực, và qua vô số nhóm là các tế bào trong thân thể của Ngài, theo cùng cách mà con người là các tế bào trong thân thể của một Đấng Thiên Nhân.

The cosmic Logos of our system works similarly through three major systems (of which ours is not one), utilising seven solar systems (of which ours is one), for the distribution of His force and having myriads of sevenfold groups as the cells of His body.

Thượng đế vũ trụ của hệ thống chúng ta cũng hoạt động tương tự qua ba hệ thống lớn (trong đó hệ của chúng ta không phải là một), sử dụng bảy hệ mặt trời (trong đó hệ của chúng ta là một), để phân phối mãnh lực của Ngài và có vô số nhóm thất phân làm các tế bào trong thân thể của Ngài.

b. Will and ordered purpose. Thus all that we can really predicate anent the origin of manas is that it is the unified will-activity, or the purposeful expression of the realised Identity of some great Self which colours the life and swings into intelligent co-operation all the lesser units included in its sphere of influence. Each of us, in illustration, is the thinking purposeful Entity who acts as the manasic principle, and the spring of action, to all the units included in our three bodies. Each of us sways them to our will; we act, and by acting, force co-operation as we see fit. The Logos does the same on a larger scale. In this thought lies light on the question of karma, of free-will and of responsibility. Manas is, really WILL working itself out on the physical plane, and the truth of this will be seen when it is realised that all our planes form the cosmic physical plane, whereon an Entity, inconceivably greater than our Logos, is working out a set purpose through the Logos, through us, through all Spirit-substance that is included within His sphere of radiatory activity.

b. Ý chí và mục đích có trật tự. Vì vậy, tất cả những gì chúng ta thực sự có thể khẳng định về nguồn gốc của manas là nó là hoạt động-ý chí hợp nhất, hay biểu hiện có mục đích của Bản Sắc đã chứng nghiệm của một Đại Ngã nào đó, Đấng tô màu sự sống và đưa vào sự hợp tác thông minh tất cả các đơn vị nhỏ hơn nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Ngài. Mỗi chúng ta, để minh họa, là Thực Thể suy tư có mục đích, hoạt động như nguyên khí manas và là nguồn suối hành động đối với mọi đơn vị nằm trong ba thể của mình. Mỗi chúng ta chi phối chúng theo ý chí của mình; chúng ta hành động, và bằng hành động, buộc sự hợp tác theo như chúng ta thấy thích hợp. Thượng đế cũng làm như vậy trên một quy mô lớn hơn. Trong tư tưởng này có ánh sáng cho vấn đề nghiệp quả, tự do ý chí và trách nhiệm. Manas thực sự là Ý CHÍ đang tự triển khai trên cõi hồng trần, và chân lý của điều này sẽ được thấy khi người ta nhận ra rằng tất cả các cõi của chúng ta tạo thành cõi hồng trần vũ trụ, nơi một Thực Thể lớn lao hơn Thượng đế của chúng ta một cách không thể quan niệm đang triển khai một mục đích nhất định qua Thượng đế, qua chúng ta, qua toàn bộ chất liệu-tinh thần nằm trong phạm vi hoạt động bức xạ của Ngài.

Certain problems of real interest are prone to enter our minds, but they serve only to develop abstract thought [Page 354] and to expand the consciousness, for they are as yet insoluble and will remain so. Some of them might be enumerated as follows:

Một số vấn đề thật sự đáng quan tâm thường có khuynh hướng đi vào trí tuệ chúng ta, nhưng chúng chỉ phục vụ cho việc phát triển tư tưởng trừu tượng [Page 354] và mở rộng tâm thức, vì hiện nay chúng chưa thể giải được và sẽ vẫn như vậy. Một vài trong số đó có thể được liệt kê như sau:

1. Who is the cosmic Entity in Whose scheme our Logos plays his little part?

1. Thực thể vũ trụ là ai mà trong hệ hành tinh của Ngài, Thượng đế của chúng ta đóng vai trò nhỏ bé của mình?

2. What is the nature of the great purpose He is working out?

2. Bản chất của mục đích lớn lao mà Ngài đang triển khai là gì?

3. Which centre in His body is represented by our solar system?

3. Hệ mặt trời của chúng ta tượng trưng cho trung tâm nào trong thân thể của Ngài?

4. What is the nature of the incarnation He is now undergoing?

4. Bản chất của cuộc lâm phàm mà Ngài hiện đang trải qua là gì?

5. What are the ten systems—the three and the seven—of which our solar system is one? Must we look for the major three within the seven, or extraneously?

5. Mười hệ thống—ba và bảy—mà trong đó hệ mặt trời của chúng ta là một, là những hệ nào? Chúng ta phải tìm ba hệ lớn trong bảy hệ ấy, hay ở bên ngoài chúng?

6. What is the coloring or basic quality of this cosmic Entity?

6. Sắc thái hay phẩm tính căn bản của Thực thể vũ trụ này là gì?

7. Is the colouring of the fourth cosmic ether (the buddhic plane), blue, or is it violet to correspond with our fourth physical ether? Why is buddhi exoterically regarded as yellow in color?

7. Màu sắc của dĩ thái vũ trụ thứ tư (cõi Bồ đề) là xanh lam, hay là tím để tương ứng với dĩ thái hồng trần thứ tư của chúng ta? Tại sao Bồ đề lại được xem ngoại môn là có màu vàng?

8. Which are the primary three centres in the body of our solar Logos and which the minor four?

8. Ba trung tâm chính trong thân thể của Thái dương Thượng đế chúng ta là những trung tâm nào và bốn trung tâm phụ là những trung tâm nào?

9. What is the karma of the different schemes?

9. Nghiệp quả của các hệ hành tinh khác nhau là gì?

10. What is the over-balancing karma of the Logos Himself as it affects the ten schemes within His system?

10. Nghiệp quả trội hơn của chính Thượng đế ảnh hưởng đến mười hệ hành tinh trong hệ của Ngài là gì?

All these questions, and numbers of others, will arise in the mind of the interested student, but beyond the formulation of them he may not as yet go, though the fifth round will see the realisation, by men, of the nature of the karma of the Logos of our chain. Words, as oft we have been told, blind and stultify.

Tất cả những câu hỏi này, cùng vô số câu hỏi khác, sẽ nảy sinh trong trí tuệ của đạo sinh quan tâm, nhưng ngoài việc hình thành chúng ra thì hiện y chưa thể đi xa hơn, mặc dù cuộc tuần hoàn thứ năm sẽ chứng kiến con người chứng nghiệm được bản chất của nghiệp quả của Thượng đế của dãy chúng ta. Từ ngữ, như chúng ta thường được bảo, làm mù lòa và làm trì độn.

In summing up, this quality of manas may be somewhat apprehended if the student regards it as the intelligent [Page 355] will. the active purpose, and the fixed idea of some Entity which brings about existence, utilises form, and works out effects from causes through discrimination in matter, separation into form, and the driving of all units within His sphere of influence to the fulfilment of that set purpose. Man is the originating source of mind as regards the matter of his vehicles, and their latent manasic impulse. So again with a Heavenly Man and His larger sphere of influence, and so with the solar Logos. Each discriminated, and thus formed His ring-pass-not; each has a purpose in view for every incarnation; each is actively following and intelligently working to effect certain ends, and thus each is the originator of manas to His scheme; each is the animating fire of intelligence to his system; each, through this very manasic principle individualises, expands gradually this self-realisation till it includes the ring-pass-not of the Entity through Whom the fifth principle comes to him; and each attains initiation, and eventually escapes from form.

Để tổng kết, phẩm tính này của manas có thể được phần nào nắm bắt nếu đạo sinh xem nó như ý chí thông minh, [Page 355] mục đích hoạt động, và ý tưởng cố định của một Thực Thể nào đó, Đấng tạo ra hiện hữu, sử dụng hình tướng, và triển khai các kết quả từ các nguyên nhân qua sự phân biện trong vật chất, sự tách biệt thành hình tướng, và sự thúc đẩy mọi đơn vị trong phạm vi ảnh hưởng của Ngài đến chỗ hoàn thành mục đích đã định ấy. Con người là nguồn gốc khởi phát của trí tuệ đối với vật chất của các vận cụ của mình, và xung động manas tiềm ẩn của chúng. Điều này cũng đúng với một Đấng Thiên Nhân và phạm vi ảnh hưởng rộng lớn hơn của Ngài, và cũng đúng với Thái dương Thượng đế. Mỗi Đấng đã phân biện, và nhờ đó hình thành vòng-giới-hạn của Ngài; mỗi Đấng đều có một mục đích nhắm đến cho mỗi lần lâm phàm; mỗi Đấng đang tích cực theo đuổi và làm việc một cách thông minh để đạt đến những cứu cánh nhất định, và do đó mỗi Đấng là nguồn khởi phát của manas đối với hệ hành tinh của Ngài; mỗi Đấng là ngọn lửa làm sinh động của trí tuệ đối với hệ thống của mình; mỗi Đấng, qua chính nguyên khí manas này, biệt ngã hóa, dần dần mở rộng sự tự chứng nghiệm này cho đến khi nó bao gồm vòng-giới-hạn của Thực Thể mà qua Ngài nguyên khí thứ năm đến với mình; và mỗi Đấng đạt đến điểm đạo, và cuối cùng thoát khỏi hình tướng.

3. Human Manas.

3. Manas nhân loại.

We are now to consider primarily man and the manasic principle, its development in the fourth Creative Hierarchy, the human Monads, with special reference to our Earth chain.

Giờ đây chúng ta sẽ chủ yếu xét đến con người và nguyên khí manas, sự phát triển của nó trong Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, các Chân thần nhân loại, với sự quy chiếu đặc biệt đến Dãy Địa Cầu của chúng ta.

We have seen that, to all intents and purposes, manas is the active will of an Entity working itself out through all the lesser lives who go to the content of the ring-pass-not or sphere of influence of the indwelling Existence. Therefore—as concerning man on this chain—he is but expressing the purpose and the will in action of the planetary Logos in Whose body he is a cell or lesser life.

Chúng ta đã thấy rằng, xét về mọi phương diện thực tiễn, manas là ý chí năng động của một Thực Thể đang tự biểu lộ qua mọi sự sống nhỏ hơn, những sự sống cấu thành nội dung của vòng-giới-hạn hay khối cầu ảnh hưởng của Sự Tồn Tại nội tại. Do đó—xét về con người trên dãy này—y chỉ đang biểu lộ mục đích và ý chí trong hành động của Hành Tinh Thượng Đế mà trong thân thể của Ngài, y là một tế bào hay sự sống nhỏ hơn.

Certain mysteries arise consequently for our consideration which are connected with the life cycles of the Heavenly Man of our scheme, and particularly in relation to that special incarnation of His which we call the cycle [Page 356] of manifestation on the dense physical globe, the earth. He wears the planetary body as man wears the robe of the physical body, and by means of this objective form He works His purposes out on the physical plane, through the factor of mind achieving certain goals. Incidentally, the cells in His body conform to that Mind which plays upon them, just as man, the intelligent principle of incarnation on the physical plane, brings into conformity with his purpose the atoms of his body, and stimulates ever more and more the spirillae of those atoms by the force of his mind playing upon them.

Do đó, có những huyền nhiệm nhất định nảy sinh để chúng ta xem xét, liên hệ với các chu kỳ sự sống của Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh chúng ta, và đặc biệt liên hệ với lần lâm phàm đặc biệt ấy của Ngài mà chúng ta gọi là chu kỳ [Page 356] biểu hiện trên bầu hành tinh hồng trần đậm đặc, là Trái Đất. Ngài khoác lấy thể hành tinh như con người khoác chiếc áo của thể xác, và nhờ hình tướng khách quan này, Ngài thực hiện các mục đích của Ngài trên cõi hồng trần, qua yếu tố trí tuệ, đạt được những mục tiêu nhất định. Nhân tiện, các tế bào trong thân thể của Ngài tuân theo Trí Tuệ đang tác động lên chúng, cũng như con người, nguyên khí thông minh của sự lâm phàm trên cõi hồng trần, khiến các nguyên tử trong thể mình phù hợp với mục đích của y, và ngày càng kích thích các loa tuyến của những nguyên tử ấy bằng mãnh lực của trí tuệ y tác động lên chúng.

Here comes the opportunity to make clear something that is oft lost sight of in the general fog surrounding this subject. The human and deva units on the upward arc, who are the cells in His body, go to the formation of the centres, and not to the remainder of the cellular vital substance of His vehicles. Man has a body made up of matter which is applied to different uses, yet which forms a unit. In this unit there are certain areas of more vital importance than other areas from the standpoint of energising force. Such an area as the heart may, in this connection, be considered and compared (as regards force value) with such an area as the calf of the leg. The entity, man, utilises both, but the heart centre is of paramount importance. Thus is it also with a Heavenly Man. The two great Hierarchies—deva and human—are force centres in the body of a planetary Logos; the other evolutions of an involutionary nature extant within the scheme, and the remainder of the active substance of the globes, and all contained therein, go to the content of the remainder of His body.

Ở đây có cơ hội để làm sáng tỏ một điều thường bị bỏ quên trong màn sương mù chung bao quanh đề tài này. Các đơn vị nhân loại và thiên thần trên cung đi lên, là những tế bào trong thân thể của Ngài, cấu thành các trung tâm, chứ không phải phần còn lại của chất liệu sinh lực tế bào trong các vận cụ của Ngài. Con người có một thể được tạo thành từ vật chất được dùng vào những công dụng khác nhau, tuy vậy vẫn tạo thành một đơn vị. Trong đơn vị này có những khu vực quan trọng về sinh lực hơn các khu vực khác xét từ quan điểm của mãnh lực tiếp năng. Chẳng hạn, một khu vực như tim có thể, trong mối liên hệ này, được xem xét và so sánh (về giá trị mãnh lực) với một khu vực như bắp chân. Thực thể là con người sử dụng cả hai, nhưng trung tâm tim có tầm quan trọng tối thượng. Với một Đấng Thiên Nhân cũng vậy. Hai Huyền Giai lớn—thiên thần và nhân loại—là các trung tâm mãnh lực trong thân thể của một Hành Tinh Thượng Đế; các tiến hoá khác có bản chất giáng hạ tiến hoá hiện tồn trong hệ hành tinh, cùng phần còn lại của chất liệu hoạt động của các bầu hành tinh, và mọi thứ chứa trong đó, cấu thành nội dung của phần còn lại trong thân thể của Ngài.

a. Man and the planetary Logos. With the deva evolution at this point we have nought to do. I seek to concentrate attention on man, as he functions on earth. In order to clarify the idea of manas and its relation to a human being it is necessary to point out certain things [Page 357] in connection with a Heavenly Man which must be borne in mind.

a. Con người và Hành Tinh Thượng Đế. Ở điểm này, chúng ta không bàn đến tiến hoá thiên thần. Tôi tìm cách tập trung sự chú ý vào con người, như y hoạt động trên Trái Đất. Để làm sáng tỏ ý niệm về manas và mối liên hệ của nó với một con người, cần phải chỉ ra một số điều [Page 357] liên quan đến một Đấng Thiên Nhân mà phải được ghi nhớ.

First, that each Heavenly Man holds the position of a centre in the body of a solar Logos; therefore, the Logos of a scheme will embody some outstanding characteristic. The ten schemes are the seven, and the synthesising three—not the seven and a lower three. The lower centres were vital in the last solar system (from the esoteric standpoint), and are not counted in this; they were synthesised and absorbed during the obscuration process of System I.

Thứ nhất, mỗi Đấng Thiên Nhân giữ vị trí của một trung tâm trong thể của một Thái dương Thượng đế; do đó, Thượng đế của một hệ hành tinh sẽ hiện thân cho một đặc tính nổi bật nào đó. Mười hệ hành tinh là bảy và ba hệ tổng hợp—không phải bảy và ba hệ thấp. Các trung tâm thấp có sinh lực trong hệ mặt trời trước (xét theo quan điểm huyền bí), và không được tính trong hệ này; chúng đã được tổng hợp và hấp thu trong tiến trình che khuất của Hệ I.

Secondly, each Heavenly Man is consequently the embodiment of a particular kind of electrical force which flows through His scheme as man’s force flows through some one of the etheric centres in his body. Each scheme, as each human centre, will

Thứ hai, do đó, mỗi Đấng Thiên Nhân là hiện thân của một loại mãnh lực điện đặc thù chảy qua hệ hành tinh của Ngài cũng như mãnh lực của con người chảy qua một trong các trung tâm dĩ thái trong thể y. Mỗi hệ hành tinh, cũng như mỗi trung tâm của con người, sẽ

a. Vibrate to some one key.

a. Rung động theo một chủ âm nào đó.

b. Have its own colouring.

b. Có màu sắc riêng của nó.

c. Resemble, when seen from the higher planes, a vast lotus.

c. Giống như một hoa sen khổng lồ khi được nhìn từ các cõi cao hơn.

d. Possess, according to its vibratory capacity, a definite number of petals.

d. Sở hữu, tùy theo khả năng rung động của nó, một số lượng cánh hoa xác định.

e. Be connected in geometrical formation with certain other centres of Heavenly Men, making systemic triangles. (132)

e. Được nối kết trong sự sắp xếp hình học với một số trung tâm khác của các Đấng Thiên Nhân, tạo thành các tam giác hệ thống. (132)

(132) A hint of this triangle of force was conveyed in Letters on Occult Meditation, page 79-84, when speaking of man and his centres. (back)

(132) Một gợi ý về tam giác mãnh lực này đã được truyền đạt trong Thư về Tham Thiền Huyền Bí, trang 79-84, khi nói về con người và các trung tâm của y. (back)

f. Be characterised by different stages of activity according to the initiation towards which the Logos may be working. Thus, at one period one centre or Heavenly Man may be the subject of logoic attention, and of specialised stimulation, and at another period a totally different scheme may be the object of vitalisation. For some time the Logos has turned His attention to the Earth Scheme and to Saturn, whilst Uranus is receiving [Page 358] stimulation. Much is therefore accentuated, and increased evolutionary development is the consequence of this divine attention.

f. Được đặc trưng bởi những giai đoạn hoạt động khác nhau tùy theo cuộc điểm đạo mà Thượng đế có thể đang hướng tới. Vì vậy, vào một thời kỳ, một trung tâm hay một Đấng Thiên Nhân có thể là đối tượng được Thượng đế chú ý và được kích thích chuyên biệt, còn vào một thời kỳ khác, một hệ hành tinh hoàn toàn khác có thể là đối tượng được tiếp sinh lực. Trong một thời gian, Thượng đế đã hướng sự chú ý của Ngài đến Dãy Địa Cầu Hệ hành tinh và đến Sao Thổ, trong khi Sao Thiên Vương đang nhận được [Page 358] sự kích thích. Do đó, nhiều điều được nhấn mạnh, và sự phát triển tiến hoá gia tăng là hệ quả của sự chú ý thiêng liêng này.

When these facts are borne in mind it will be seen that the interaction, and the complexity, is of vast proportions, and man can do no more than accept the fact, and leave the explanation until his consciousness is of greater scope.

Khi ghi nhớ các sự kiện này, người ta sẽ thấy rằng sự tương tác và tính phức tạp có quy mô vô cùng lớn, và con người không thể làm gì hơn ngoài việc chấp nhận sự kiện ấy, và để phần giải thích lại cho đến khi tâm thức của y có phạm vi rộng lớn hơn.

Third, one of the mysteries revealed at initiation is that of the logoic centre which our scheme represents, and the type of electrical fire which is flowing through it. The “Seven Brothers,” or the seven types of fohatic force, express Themselves through the seven centres, and the One Who is animating our scheme stands revealed at the third Initiation. It is by knowledge of the nature and quality of the electrical force of our centre, and by realisation of the place our centre holds in the body logoic, that the Hierarchy achieves the aims of evolution. It will be obvious that the Heavenly Man Who stands for the kundalini centre, for instance, will work differently, and have a different purpose and method, from His Brother Who stands for the heart centre in the body logoic, or to the Heavenly Man Who embodies the logoic solar plexus. From this it is apparent that:

Thứ ba, một trong những huyền nhiệm được mặc khải lúc điểm đạo là huyền nhiệm về trung tâm Thượng đế mà hệ hành tinh chúng ta đại diện, và loại lửa điện đang chảy qua nó. “Bảy Huynh Đệ,” hay bảy loại mãnh lực fohat, tự biểu lộ qua bảy trung tâm, và Đấng đang phú linh cho hệ hành tinh chúng ta được mặc khải ở lần điểm đạo thứ ba. Chính nhờ tri thức về bản chất và phẩm tính của mãnh lực điện nơi trung tâm của chúng ta, và nhờ chứng nghiệm về vị trí mà trung tâm chúng ta giữ trong thể Thượng đế, mà Thánh đoàn đạt được các mục tiêu của tiến hoá. Hiển nhiên là chẳng hạn, Đấng Thiên Nhân đại diện cho trung tâm kundalini sẽ hoạt động khác đi, và có mục đích cùng phương pháp khác với Huynh Đệ của Ngài là Đấng đại diện cho trung tâm tim trong thể Thượng đế, hay với Đấng Thiên Nhân hiện thân cho tùng thái dương Thượng đế. Từ đó hiển nhiên rằng:

a. The type of electrical force

a. Loại mãnh lực điện

b. The vibratory action

b. Tác động rung động

c. The purpose

c. Mục đích

d. The evolutionary development

d. Sự phát triển tiến hoá

e. The dual and triangular interaction

e. Sự tương tác nhị nguyên và tam giác

of all the Heavenly Men will differ, and so will the evolutions that form the cells in Their Bodies differ likewise. Little has as yet been revealed anent the types of evolutions which are to be found in the other schemes of our system. Suffice it to say that in all the schemes, on some [Page 359] globe in the scheme, human beings or self-conscious units, are to be found. Conditions of life, environment and form may differ, but the human Hierarchy works in all schemes.

của tất cả các Đấng Thiên Nhân sẽ khác nhau, và các tiến hoá tạo thành những tế bào trong Các thể của Các Ngài cũng sẽ khác nhau tương ứng. Cho đến nay, rất ít điều được mặc khải về các loại tiến hoá có thể tìm thấy trong các hệ hành tinh khác của hệ thống chúng ta. Chỉ cần nói rằng trong mọi hệ hành tinh, trên một [Page 359] bầu hành tinh nào đó trong hệ hành tinh, đều có thể tìm thấy những con người hay các đơn vị ngã thức. Các điều kiện sống, môi trường và hình tướng có thể khác nhau, nhưng Huyền Giai nhân loại hoạt động trong mọi hệ hành tinh.

It must also be borne in mind that just as all seven Heavenly Men are found in the body logoic, and are Themselves under the influence of seven solar Logoi (using the word “influence” in its astrological sense), so in a planetary scheme with its seven globes each is astrologically under the influence of all the seven Heavenly Men. A scheme is but a replica of a system. Each of the Heavenly Men pours forth His radiation or influence, and stimulates in some way some other centre or globe. To word it otherwise, His magnetism is felt by His Brothers in a greater or less degree according to the work being undertaken at any one time. At present the Heavenly Men, representing centres at different stages of stimulation, being not all equally developed and being not as yet psychically unified, this magnetic interplay is little realised, and the psychic flow from one scheme to another is little utilised or comprehended. As time elapses this interplay of force will become more evident and the force will be consciously employed. When men, for instance, know

Cũng phải ghi nhớ rằng cũng như cả bảy Đấng Thiên Nhân đều hiện diện trong thể Thượng đế, và chính Các Ngài chịu ảnh hưởng của bảy Thái dương Thượng đế (dùng từ “ảnh hưởng” theo nghĩa chiêm tinh học của nó), thì trong một hệ hành tinh với bảy bầu hành tinh của nó, mỗi bầu cũng chịu ảnh hưởng chiêm tinh học của cả bảy Đấng Thiên Nhân. Một hệ hành tinh chỉ là bản sao của một hệ thống. Mỗi Đấng Thiên Nhân tuôn đổ bức xạ hay ảnh hưởng của Ngài, và kích thích theo một cách nào đó một trung tâm hay bầu hành tinh khác. Nói cách khác, từ điện của Ngài được các Huynh Đệ của Ngài cảm nhận ở mức độ nhiều hay ít tùy theo công việc đang được đảm trách vào bất kỳ lúc nào. Hiện nay, vì các Đấng Thiên Nhân đại diện cho những trung tâm ở các giai đoạn kích thích khác nhau, không phải tất cả đều phát triển ngang nhau và cũng chưa được hợp nhất về mặt thông linh, nên sự tương tác từ tính này ít được nhận biết, và dòng chảy thông linh từ hệ hành tinh này sang hệ hành tinh khác ít được sử dụng hay thấu hiểu. Khi thời gian trôi qua, sự tương tác mãnh lực này sẽ trở nên hiển nhiên hơn và mãnh lực ấy sẽ được sử dụng một cách hữu thức. Chẳng hạn, khi con người biết

The quality of the force flowing through their particular scheme;

Phẩm tính của mãnh lực chảy qua hệ hành tinh riêng của họ;

The purpose and name of the centre they stand within;

Mục đích và tên của trung tâm mà họ đứng trong đó;

The centre or Heavenly Man with Whom the Logos of their scheme is allied;

Trung tâm hay Đấng Thiên Nhân mà Thượng đế của hệ hành tinh họ liên kết với;

Which two schemes form, with their own, a triangle for logoic force at a certain stage of evolutionary development;

Hai hệ hành tinh nào cùng với hệ của họ tạo thành một tam giác cho mãnh lực Thượng đế ở một giai đoạn phát triển tiến hoá nhất định;

The secret of the cycles, or the periods of stimulation or obscuration;

Bí mật của các chu kỳ, hay các thời kỳ kích thích hoặc che khuất;

then will the body logoic begin to achieve its purpose; [Page 360] then will the Logos of our system begin to blend and merge and co-ordinate all His vehicles; then will the force flow through all the centres unimpeded; and then will the glory shine out, and each cell in every body—logoic, planetary, deva and human, blaze forth with perfected glory, vibrate with adjusted accuracy, and a major cosmic initiation be taken.

thì thể Thượng đế sẽ bắt đầu đạt được mục đích của nó; [Page 360] khi ấy Thượng đế của hệ thống chúng ta sẽ bắt đầu dung hợp, hòa nhập và phối hợp tất cả các vận cụ của Ngài; khi ấy mãnh lực sẽ chảy qua mọi trung tâm không bị ngăn trở; và khi ấy vinh quang sẽ tỏa sáng, và mỗi tế bào trong mọi thể—Thượng đế, hành tinh, thiên thần và nhân loại—sẽ bừng cháy với vinh quang hoàn hảo, rung động với sự chính xác đã được điều chỉnh, và một cuộc điểm đạo vũ trụ lớn sẽ được tiếp nhận.

b. The Logos of our Scheme. The Heavenly Man or planetary Logos of the Earth scheme can be considered in various ways, and as is our custom we will simply tabulate the statements anent Him which, when considered at length by the individual student, should serve to make the FACT of the essential Personality of this great Entity, the work that He is endeavouring to accomplish, and the relationship of the human Hierarchy to Him, a greater reality. We must bear in mind in studying this matter that it will not be possible to reveal for general publication details as to His specific Identity, His number and His scope of conscious development. Such mysteries, as earlier pointed out, are reserved for those who are pledged to keep silent. But some general idea may be conveyed before we take up specifically this chain and round.

b. Thượng đế của Hệ hành tinh chúng ta. Đấng Thiên Nhân hay Hành Tinh Thượng Đế của hệ hành tinh Trái Đất có thể được xem xét theo nhiều cách, và như thường lệ, chúng ta sẽ chỉ đơn giản liệt kê thành bảng những phát biểu liên quan đến Ngài; khi được từng đạo sinh suy ngẫm kỹ lưỡng, chúng sẽ giúp làm cho SỰ KIỆN về Phàm ngã cốt yếu của Thực Thể vĩ đại này, công việc mà Ngài đang cố gắng hoàn thành, và mối liên hệ của Huyền Giai nhân loại với Ngài, trở thành một thực tại lớn hơn. Khi nghiên cứu vấn đề này, chúng ta phải ghi nhớ rằng sẽ không thể tiết lộ để công bố rộng rãi những chi tiết về Bản Sắc đặc thù của Ngài, con số của Ngài và phạm vi phát triển hữu thức của Ngài. Những huyền nhiệm như thế, như đã chỉ ra trước đây, được dành cho những ai đã thệ nguyện giữ im lặng. Nhưng một vài ý niệm tổng quát có thể được truyền đạt trước khi chúng ta chuyên biệt bàn đến dãy này và cuộc tuần hoàn này.

It might be asked wherein all this information is of use, and what purpose it serves in this hour of the world’s need. Apart from the fact that the cyclic giving out of the truth works under the law, and may not be gain-said, it is suggested for consideration that much advantage will be felt when men in large numbers conceive of the purpose of specific manifestations, when they realise that all forms are but the modes of expression of certain Entities or Beings, Who occupy them for cycles of definite duration in order to attain a purpose, and that each life—great or small—serves its own ends, yet subserves the greater ends of the Being in Whose body it is a corporate part. The details of the plan may not be given. [Page 361] The general outline—solar, planetary, and hierarchical—may be suggested, and by the very suggestion, bring order into the thoughts of men as they view the apparent chaos of the moment. Let us not forget, that when order is brought about, and united thought produced on the mental plane, then order transpires eventually on the physical plane.

Người ta có thể hỏi thông tin này hữu ích ở điểm nào, và nó phục vụ mục đích gì trong giờ phút thế giới đang cần đến như hiện nay. Ngoài sự kiện rằng việc tuần hoàn tiết lộ chân lý vận hành theo định luật và không thể bị phủ nhận, xin gợi ý để suy xét rằng sẽ có nhiều lợi ích khi số đông con người hình dung được mục đích của những biểu hiện đặc thù, khi họ nhận ra rằng mọi hình tướng chỉ là những phương thức biểu lộ của những Thực Thể hay Đấng nhất định, các Đấng chiếm ngụ chúng trong những chu kỳ có thời lượng xác định để đạt tới một mục đích, và rằng mỗi sự sống—lớn hay nhỏ—đều phục vụ các cứu cánh riêng của nó, nhưng đồng thời phụng sự các cứu cánh lớn hơn của Đấng mà trong thân thể của Ngài nó là một phần hợp thành. Những chi tiết của Thiên Cơ không thể được tiết lộ. [Page 361] Có thể gợi ra đại cương tổng quát—về mặt thái dương, hành tinh và huyền giai—và chính nhờ sự gợi ra ấy mà đem lại trật tự vào tư tưởng của con người khi họ nhìn vào sự hỗn loạn bề ngoài của hiện thời. Chúng ta đừng quên rằng khi trật tự được thiết lập, và tư tưởng hợp nhất được tạo ra trên cõi trí, thì cuối cùng trật tự cũng sẽ xuất hiện trên cõi hồng trần.

The planetary Logos of this scheme is one of the four minor Logoi, or Lords of the Rays, and is specially concerned therefore with the development of one attribute of manas. Each of the four minor Rays is, as we know, eventually synthesised, or absorbed into that Ray which is represented on our earth by the Mahachohan. He is the Lord of the third major Ray or Aspect, and synthesises the four. These four Rays with their synthesising Ray make the five rays of Manas or Mind. We can consider them as:

Hành Tinh Thượng Đế của hệ hành tinh này là một trong bốn Thượng đế nhỏ, hay các Chúa Tể của các Cung, và do đó đặc biệt quan tâm đến sự phát triển của một thuộc tính của manas. Mỗi một trong bốn Cung nhỏ, như chúng ta biết, rốt cuộc đều được tổng hợp, hay hấp thu vào Cung được đại diện trên Trái Đất chúng ta bởi Đức Mahachohan. Ngài là Chúa Tể của Cung lớn thứ ba hay Phương diện thứ ba, và tổng hợp cả bốn. Bốn Cung này cùng với Cung tổng hợp của chúng tạo thành năm cung của Manas hay Trí Tuệ. Chúng ta có thể xem chúng như:

a. The fivefold Brahma Aspect.

a. Phương diện Brahma ngũ phân.

b. They were the five Rays of prime importance in the first solar system, and were the five individualised Heavenly Men, called the Mind-born Sons of Brahma. Through the individualisation of the four in that system the individualisation of the great cosmic Entity we call Brahma was brought about. He individualised and the four go to the content of His body.

b. Chúng là năm Cung có tầm quan trọng hàng đầu trong hệ mặt trời thứ nhất, và là năm Đấng Thiên Nhân biệt ngã hóa được gọi là các Con do Trí Tuệ sinh ra của Brahma. Qua sự biệt ngã hóa của bốn vị trong hệ thống ấy, sự biệt ngã hóa của Thực Thể vũ trụ vĩ đại mà chúng ta gọi là Brahma đã được thực hiện. Ngài đã biệt ngã hóa và bốn vị ấy cấu thành nội dung của thể Ngài.

c. They are represented on our earth by the five Kumaras Who obeyed the Law, and took human form, as H. P. B. (S.D., I, 493) hints in several passages in the Secret Doctrine.

c. Chúng được đại diện trên Trái Đất chúng ta bởi năm Kumara đã tuân theo Định luật và mang lấy hình tướng con người, như H. P. B. (S.D., I, 493) gợi ý trong vài đoạn của Giáo Lý Bí Nhiệm.

This scheme is considered as the fourth and the one of the most importance in the system during this particular cycle for the following reasons:

Hệ hành tinh này được xem là hệ thứ tư và là hệ quan trọng nhất trong hệ thống trong chu kỳ đặc biệt này vì những lý do sau:

Our solar system, being considered as of the fourth [Page 362] order, and our scheme being the fourth in order, there is consequently a moment of special opportunity afforded our planetary Logos through the alignment brought about. It eventuates in the turning of the attention of the logoic kundalini fire towards this centre, our scheme, and the subsequent results are in process of working out.

Hệ mặt trời của chúng ta, được xem là thuộc bậc thứ tư [Page 362] và hệ hành tinh của chúng ta là hệ thứ tư theo thứ tự, nên do đó có một thời điểm cơ hội đặc biệt được dành cho Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta nhờ sự chỉnh hợp được tạo ra. Điều này dẫn đến việc lửa kundalini Thượng đế hướng sự chú ý của nó về trung tâm này, tức hệ hành tinh của chúng ta, và các kết quả tiếp theo hiện đang trong tiến trình biểu lộ.

Within the scheme the chain that concerns us the most, and which is temporarily of the most vital importance to the planetary Logos, is the Earth chain, the fourth in order again, thus bringing about another alignment of very grave moment. This carries with it special opportunity, and permits of the entry of force from the cosmos itself, or of extra-systemic electrical vitality. This super-stimulation results in what looks to us like cataclysms, and a stupendous shattering of forms, but it is simply the necessary sequence to the vitalisation of the life within the form, and the breaking of the limiting form unable to bear the cosmic action.

Trong hệ hành tinh, dãy liên quan đến chúng ta nhiều nhất, và tạm thời có tầm quan trọng sinh tử nhất đối với Hành Tinh Thượng Đế, là Dãy Địa Cầu, lại là dãy thứ tư theo thứ tự, do đó tạo ra một sự chỉnh hợp khác có ý nghĩa vô cùng trọng đại. Điều này mang theo cơ hội đặc biệt, và cho phép mãnh lực từ chính vũ trụ đi vào, hay sinh lực điện ngoài hệ thống. Sự siêu kích thích này dẫn đến điều đối với chúng ta trông như những đại biến động, và một sự phá vỡ hình tướng khủng khiếp, nhưng đó chỉ là hệ quả tất yếu của việc tiếp sinh lực cho sự sống bên trong hình tướng, và sự phá vỡ hình tướng giới hạn không thể chịu nổi tác động vũ trụ.

Again within the chain, the globe at present receiving planetary polarisation, or at present embodying in a special sense the life of the planetary Logos is the Earth, the fourth in order. This brings about a still further alignment.

Lại nữa, trong dãy, bầu hành tinh hiện đang nhận sự phân cực hành tinh, hay hiện đang hiện thân theo một ý nghĩa đặc biệt cho sự sống của Hành Tinh Thượng Đế, là Trái Đất, bầu thứ tư theo thứ tự. Điều này tạo ra một sự chỉnh hợp sâu hơn nữa.

Add to the above facts the accepted knowledge that this is the fourth round and we have a fivefold alignment which is of paramount significance to us all, though it had even greater significance and force in the fourth root-race, and brought about that stupendous psychic event—the opening of the door of Initiation to the human Hierarchy.

Thêm vào các sự kiện trên tri thức đã được chấp nhận rằng đây là cuộc tuần hoàn thứ tư và chúng ta có một sự chỉnh hợp ngũ phân có ý nghĩa tối thượng đối với tất cả chúng ta, mặc dù nó còn có ý nghĩa và mãnh lực lớn hơn nữa trong giống dân gốc thứ tư, và đã đưa đến biến cố thông linh phi thường ấy—sự mở cánh cửa Điểm đạo cho Huyền Giai nhân loại.

These very important facts merit close attention, and the consideration of all occult students. They hold the key whereby some comprehension of manas and of planetary evolution may come about. What have we, therefore, in this special cyclic alignment? [Page 363]

Những sự kiện rất quan trọng này đáng được chú ý kỹ lưỡng và được mọi đạo sinh huyền bí học suy xét. Chúng nắm giữ chiếc chìa khóa nhờ đó có thể đạt được một phần thấu hiểu về manas và về tiến hoá hành tinh. Vậy thì, trong sự chỉnh hợp chu kỳ đặc biệt này, chúng ta có gì? [Page 363]

1. A solar system of the fourth order.

1. Một hệ mặt trời thuộc bậc thứ tư.

2. The fourth scheme in the system.

2. Hệ hành tinh thứ tư trong hệ thống.

3. The fourth chain in the scheme.

3. Dãy thứ tư trong hệ hành tinh.

4. The fourth globe in the chain.

4. Bầu hành tinh thứ tư trong dãy.

5. The fourth round. (134)

5. Cuộc tuần hoàn thứ tư. (134)

(134) Compare also the following correspondences:

(134) Cũng hãy đối chiếu các tương ứng sau đây:

The sacred Tetraktys.............. The manifested Logos.

Tetraktys thiêng liêng.............. Thượng đế biểu hiện.

The Fourth Creative Hierarchy...... The Human.

Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư......... Con người.

The Fourth Principle.............. Lower Mind.

Nguyên khí thứ tư................ Hạ trí.

The Fourth Race................. Kamamanas.

Nhân loại thứ tư................. Kamamanas.

The Fourth Element...............Water, S. D., I, 95. I, 640.

Nguyên tố thứ tư................Nước, S. D., I, 95. I, 640.

The Four Truths..................S. D., I, 70.

Bốn Chân Lý...................S. D., I, 70.

The Four Propositions.............S. D., I, 107.

Bốn Mệnh đề..................S. D., I, 107.

The Four Initiations...............S. D., I, 227.

Bốn lần điểm đạo...............S. D., I, 227.

The Fourth Plane.................Buddhi, fourth cosmic ether.

Cõi thứ tư....................Bồ đề, dĩ thái vũ trụ thứ tư.

The Fourth physical sub-plane...... The Fourth Ether.

Cõi phụ hồng trần thứ tư......... Dĩ thái thứ tư.

The Fourth Round................The Present. (back)

Cuộc tuần hoàn thứ tư.............Hiện tại. (back)

All these are found active within the same cycle, and all therefore bring about a simultaneous alignment which results in the clearing of a channel direct from the heart of our scheme through every ring-pass-not to the cosmic correspondence, found outside the solar sphere.

Tất cả những điều này đều được thấy là hoạt động trong cùng một chu kỳ, và do đó tất cả cùng tạo ra một sự chỉnh hợp đồng thời, kết quả là khai thông một kênh trực tiếp từ trái tim của hệ hành tinh chúng ta xuyên qua mọi vòng-giới-hạn đến tương ứng vũ trụ, được tìm thấy bên ngoài khối cầu thái dương.

To the above realisation, we must add yet the further fact that the fourth Creative Hierarchy is the one whose evolution we are considering, and it will be apparent to the most superficial student that in these thoughts lies hidden the clue, not only to man but to the entire cyclic evolution in which he is taking part.

Vào sự chứng nghiệm trên, chúng ta còn phải thêm một sự kiện nữa là Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư là Huyền Giai mà chúng ta đang xem xét sự tiến hoá của nó, và ngay cả đạo sinh hời hợt nhất cũng sẽ thấy rõ rằng trong những tư tưởng này ẩn giấu đầu mối không chỉ về con người mà còn về toàn bộ tiến hoá chu kỳ mà y đang tham dự.

The fourth Creative Hierarchy is essentially the Hierarchy of manas. This is no play on words, but a statement of deep occult significance. The statement has been made with entire accuracy that five Hierarchies out of the twelve have passed out and that seven remain. Of these seven, our human Hierarchy is the fourth, making it literally the ninth when counting the entire twelve. In this connection it would be well to link up the statements that have been made to the effect that the five Kumaras or Heavenly Men Who definitely embody the manasic principle (or the five Rays over which the systemic correspondence to the Mahachohan presides) developed [Page 364] manas in an earlier system; They passed out of the wave of manasic influence as far as their own Nature is concerned.

Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư về bản chất là Huyền Giai của manas. Đây không phải là một lối chơi chữ, mà là một phát biểu có ý nghĩa huyền bí sâu xa. Phát biểu rằng năm Huyền Giai trong số mười hai đã đi qua và bảy Huyền Giai còn lại đã được nêu ra với sự chính xác hoàn toàn. Trong bảy Huyền Giai ấy, Huyền Giai nhân loại của chúng ta là Huyền Giai thứ tư, khiến nó theo nghĩa đen là thứ chín khi tính toàn bộ mười hai. Trong mối liên hệ này, nên liên kết các phát biểu đã được nêu rằng năm Kumara hay Đấng Thiên Nhân, những Đấng hiện thân một cách xác định cho nguyên khí manas (hay năm Cung mà tương ứng hệ thống với Đức Mahachohan chủ trì) đã phát triển [Page 364] manas trong một hệ thống trước đó; Các Ngài đã vượt ra khỏi làn sóng ảnh hưởng manas xét theo bản chất riêng của Các Ngài.

We must remember also that nine is the number of Initiation, or of the major Initiations of Manas, wherein man becomes a perfect Nine, or literally is the number of his Hierarchy. This is from the standpoint of the three systems, though his present systemic number may be four.

Chúng ta cũng phải nhớ rằng chín là con số của Điểm đạo, hay của các cuộc điểm đạo lớn của Manas, trong đó con người trở thành một Chín hoàn hảo, hay theo nghĩa đen là con số của Huyền Giai của y. Điều này xét từ quan điểm của ba hệ thống, mặc dù con số hệ thống hiện tại của y có thể là bốn.

In occupying ourselves with these various statements anent our scheme and its Ruler we have seen that this particular cycle, or incarnation of His, is one of great importance, not only to Himself but to the entire system. The planetary Logos of this scheme is primarily occupied with a particular group of units, or with those Monads who vibrate to His key, are colored by the same colour as Himself, answer to the same number, and are esoterically known by the same Name. One point here needs emphasis: all Monads pass at different times under the influence of the different planetary Logoi, and all are found at some time in each scheme. This does not mean that every human unit passes a period of incarnation in each scheme. It means that on some one globe in every scheme, human units will be found either prior to physical incarnation, between different egoic cycles (a totally different thing to periods between physical lives), between different rounds or manvantaras, or between the various root-races and subraces. As stated in various occult books, many of the present advanced humanity individualised on the moon chain, and only took physical bodies in the earth chain during the fourth root-race, thus escaping incarnation during the first three rounds, and the first two races of the fourth round. In the interim, they came under the planetary influence of another Logos of a scheme, and were occupied during that immense period of time in fanning the manasic flame, and developing [Page 365] the attributes of manas, so that the Atlantean root-race found them adequately equipped to cope with life conditions.

Khi khảo sát những phát biểu khác nhau này liên quan đến hệ hành tinh của chúng ta và Đấng Cai Quản của nó, chúng ta đã thấy rằng chu kỳ đặc biệt này, hay lần lâm phàm này của Ngài, là một chu kỳ có tầm quan trọng lớn lao, không chỉ đối với chính Ngài mà còn đối với toàn bộ hệ thống. Hành Tinh Thượng Đế của hệ hành tinh này trước hết bận tâm đến một nhóm đơn vị đặc thù, hay với những chân thần rung động theo chủ âm của Ngài, được nhuốm cùng màu với chính Ngài, đáp ứng cùng một con số, và một cách huyền bí được biết đến bằng cùng một Danh. Có một điểm ở đây cần được nhấn mạnh: mọi chân thần đều đi qua dưới ảnh hưởng của các Hành Tinh Thượng Đế khác nhau vào những thời điểm khác nhau, và tất cả đều được tìm thấy vào một lúc nào đó trong mỗi hệ hành tinh. Điều này không có nghĩa là mọi đơn vị nhân loại đều trải qua một thời kỳ lâm phàm trong mỗi hệ hành tinh. Nó có nghĩa là trên một bầu hành tinh nào đó trong mọi hệ hành tinh, các đơn vị nhân loại sẽ được tìm thấy hoặc trước khi lâm phàm hồng trần, hoặc giữa các chu kỳ chân ngã khác nhau (một điều hoàn toàn khác với các giai đoạn giữa những kiếp sống hồng trần), hoặc giữa các cuộc tuần hoàn hay các giai kỳ sinh hóa khác nhau, hoặc giữa các giống dân gốc và giống dân phụ khác nhau. Như đã nêu trong nhiều sách huyền bí học, nhiều người trong nhân loại tiến bộ hiện nay đã biệt ngã hóa trên Dãy Mặt Trăng, và chỉ mang thể xác trong Dãy Địa Cầu vào giống dân gốc thứ tư, nhờ đó tránh được sự lâm phàm trong ba cuộc tuần hoàn đầu và hai nhân loại đầu của cuộc tuần hoàn thứ tư. Trong khoảng trung gian ấy, họ chịu ảnh hưởng hành tinh của một Thượng đế khác của một hệ hành tinh, và đã dành trọn thời kỳ mênh mông đó để quạt bùng ngọn lửa manas, và phát triển [Page 365] các thuộc tính của manas, để rồi giống dân gốc Atlantis thấy họ được trang bị đầy đủ để đối phó với các điều kiện sống.

This participation in the life and influence of the different schemes is effected in four different ways:

Sự tham dự này vào sự sống và ảnh hưởng của các hệ hành tinh khác nhau được thực hiện theo bốn cách khác nhau:

First, through passing the interim between egoic cycles of physical incarnation on the particular globe of their scheme, which numerically coincides with the particular other scheme whose influence is desired, either from deliberate choice or karmically necessitated. Each globe in a chain is occultly linked with the chain of its own number, and with the scheme of a similar number. For instance: Globe 2, Chain 2, and scheme 2 during round 2 are specially linked and vitalised, and are the focal point of peculiar attention on the part of the Logos of that scheme. Similarly (again in illustration) globe 2, chain 2 during round 2 in any scheme such as the fifth, for instance, are aligned or connected esoterically with the second scheme. This gives opportunity for the units in the body of any Logos to come under the influence of another Logos, and within his vibratory radiation.

Thứ nhất, bằng cách trải qua khoảng trung gian giữa các chu kỳ chân ngã của sự lâm phàm hồng trần trên bầu hành tinh đặc thù của hệ hành tinh họ, bầu này trùng hợp về số học với hệ hành tinh đặc thù khác mà ảnh hưởng của nó được mong muốn, hoặc do lựa chọn có chủ ý hoặc do nghiệp quả bắt buộc. Mỗi bầu hành tinh trong một dãy được nối kết huyền bí với dãy cùng số của nó, và với hệ hành tinh có cùng số. Chẳng hạn: Bầu 2, Dãy 2, và hệ hành tinh 2 trong cuộc tuần hoàn 2 được nối kết và tiếp sinh lực một cách đặc biệt, và là tiêu điểm của sự chú ý đặc thù từ phía Thượng đế của hệ hành tinh ấy. Tương tự như vậy (lại lấy ví dụ), bầu 2, dãy 2 trong cuộc tuần hoàn 2 ở bất kỳ hệ hành tinh nào chẳng hạn như hệ thứ năm, đều được chỉnh hợp hay nối kết một cách huyền bí với hệ hành tinh thứ hai. Điều này tạo cơ hội cho các đơn vị trong thể của bất kỳ Thượng đế nào đi vào dưới ảnh hưởng của một Thượng đế khác, và trong bức xạ rung động của ông.

Second, through a direct transference of the units in incarnation in any scheme (during an interlude) to some globe in another scheme where they are subjected to the stimulation and vibration peculiar to that scheme. These two methods are the most usual. This transference will seem mysteriously impossible unless the student is careful to realise that it is the transference of the individualised lives and not the transference of the forms which they occupy. The whole matter is psychic, and based on the unity of the anima mundi. It is only possible at those periods when two Heavenly Men are mutually finding each other—under the Law of Attraction—and thus swinging into the magnetic radius of each other.

Thứ hai, bằng một sự chuyển dịch trực tiếp các đơn vị đang lâm phàm trong bất kỳ hệ hành tinh nào (trong một quãng xen kẽ) sang một bầu hành tinh nào đó trong một hệ hành tinh khác, nơi họ chịu sự kích thích và rung động đặc thù của hệ hành tinh ấy. Hai phương pháp này là thông thường nhất. Sự chuyển dịch này sẽ có vẻ bí ẩn đến mức bất khả trừ phi đạo sinh cẩn thận nhận ra rằng đó là sự chuyển dịch của các sự sống đã biệt ngã hóa chứ không phải sự chuyển dịch của các hình tướng mà chúng chiếm ngụ. Toàn bộ vấn đề này là thông linh, và dựa trên sự hợp nhất của anima mundi. Nó chỉ có thể xảy ra vào những thời kỳ khi hai Đấng Thiên Nhân đang cùng tìm thấy nhau—dưới Định luật Hấp Dẫn—và do đó cùng đi vào bán kính từ tính của nhau.

Third, through a conscious passage of the initiate, [Page 366] through initiation, from one scheme to another. This is frequently done, and hints of it have been given by different writers and thinkers, though several have confused the globes of their own chain with the scheme of the same number, or have mistaken another chain within the scheme for another scheme.

Thứ ba, bằng sự chuyển qua có ý thức của điểm đạo đồ, [Page 366] qua điểm đạo, từ hệ hành tinh này sang hệ hành tinh khác. Điều này thường xuyên được thực hiện, và những gợi ý về nó đã được nhiều tác giả và tư tưởng gia đưa ra, dù một số người đã nhầm lẫn các bầu hành tinh của dãy riêng họ với hệ hành tinh cùng số, hoặc đã lầm một dãy khác trong hệ hành tinh là một hệ hành tinh khác.

Fourth, the fourth method of transference of consciousness, and the bringing of the life units under the focal power of a Lord of a Ray, can be brought about through knowledge of certain mantrams and formulae. On this we may not enlarge as these mantrams are esoteric and the use of them is fraught with much danger to the uninitiated.

Thứ tư, phương pháp thứ tư của sự chuyển dịch tâm thức, và việc đưa các đơn vị sự sống vào dưới quyền năng tiêu điểm của một Chúa Tể Cung, có thể được thực hiện nhờ tri thức về một số mantram và công thức nhất định. Về điều này, chúng ta không thể nói rộng hơn vì các mantram ấy là huyền bí và việc sử dụng chúng đầy dẫy hiểm nguy cho người chưa được điểm đạo.

The planetary Logos of this scheme is called “the First Kumara,” the One Initiator, and the statement is made that He came to this planet from Venus, Venus being “the Earth’s primary.” This needs elucidation somewhat, though it may not be permitted to do more than convey a few hints as to the truth. The fact is one of the most mysterious in the development of our scheme, and in it lies hidden the secret of this world cycle. It is not easy to convey the truth and words but seem to veil and cloak.

Hành Tinh Thượng Đế của hệ hành tinh này được gọi là “Kumara Thứ Nhất,” Đấng Điểm đạo Duy Nhất, và có lời phát biểu rằng Ngài đã đến hành tinh này từ Sao Kim, Sao Kim là “nguyên mẫu sơ khởi của Trái Đất.” Điều này cần được làm sáng tỏ phần nào, dù có lẽ không được phép làm hơn ngoài việc truyền đạt vài gợi ý về chân lý. Sự kiện này là một trong những điều huyền bí nhất trong sự phát triển của hệ hành tinh chúng ta, và trong đó ẩn giấu bí mật của chu kỳ thế giới này. Không dễ truyền đạt chân lý, và lời nói dường như chỉ che phủ và bao bọc nó.

Perhaps a hint may be given in pointing out that there is an analogy between the coming in of the Ego in full sway and its taking hold at certain periods in the life of a human being. At seven years we are told the Ego “takes hold,” and again at adolescence; at twenty-one that hold may be made still firmer. Again, as lives are passed, the Ego (in connection with a human being) grips its vehicles and so sways them to his purpose with more effect and fullness. The same procedure can be seen in relation to a Heavenly Man and His body of manifestation, a scheme. It must be remembered that every scheme has seven chains; that each chain has seven globes, making a totality of forty-nine globes; [Page 367] that each globe is again in turn occupied by the life of the Logos during what we call seven rounds, making literally three hundred and forty-three incarnations, or fresh impulses to manifest. We must add to these major manifestations such lesser ones as those named by us root-races, and subraces, also branch races, and thus we are faced with a complexity that is enough to stagger the average student. The planetary wheel of life turns on its lesser scale the wheel of life of the little pilgrim we call man; as it turns, it sweeps the life of the evolving planetary Logos into ever new forms and experiences until the fire of Spirit burns up all lesser fires.

Có lẽ có thể đưa ra một gợi ý bằng cách chỉ ra rằng có một sự tương đồng giữa việc chân ngã đi vào trong quyền năng trọn vẹn và việc nó nắm quyền vào những thời kỳ nhất định trong đời sống của một con người. Người ta nói rằng vào bảy tuổi chân ngã “nắm quyền,” và lại một lần nữa vào tuổi dậy thì; đến hai mươi mốt tuổi, sự nắm quyền ấy có thể còn được làm cho vững chắc hơn. Lại nữa, khi các kiếp sống trôi qua, chân ngã (liên hệ với một con người) nắm lấy các vận cụ của nó và do đó chi phối chúng theo mục đích của y một cách hữu hiệu và đầy đủ hơn. Cùng một tiến trình như vậy có thể được thấy trong mối liên hệ với một Đấng Thiên Nhân và thể biểu hiện của Ngài, tức một hệ hành tinh. Phải nhớ rằng mỗi hệ hành tinh có bảy dãy; mỗi dãy có bảy bầu hành tinh, tạo thành tổng số bốn mươi chín bầu hành tinh; [Page 367] rằng mỗi bầu hành tinh lại lần lượt được sự sống của Thượng đế chiếm ngụ trong điều mà chúng ta gọi là bảy cuộc tuần hoàn, theo nghĩa đen tạo thành ba trăm bốn mươi ba lần lâm phàm, hay những xung lực mới để biểu hiện. Chúng ta còn phải thêm vào những biểu hiện lớn này những biểu hiện nhỏ hơn như những gì chúng ta gọi là giống dân gốc, giống dân phụ, và cả các chủng tộc nhánh, và như vậy chúng ta đối diện với một sự phức tạp đủ làm cho đạo sinh trung bình choáng váng. Bánh xe sự sống hành tinh quay, ở quy mô nhỏ hơn của nó, bánh xe sự sống của người hành hương nhỏ bé mà chúng ta gọi là con người; khi nó quay, nó cuốn sự sống của Hành Tinh Thượng Đế đang tiến hoá vào những hình tướng và kinh nghiệm luôn mới cho đến khi lửa của tinh thần thiêu rụi mọi lửa nhỏ hơn.

As earlier pointed out, each Heavenly Man is linked with one of His Brothers under the Law of Mutual Attraction, which manifests so degradingly as yet upon the physical plane, through the life of the human unit, imprisoned in physical form. Psychically the link is of a different nature, and such a link is found between the planetary Logos of the scheme we call Venus, and the Logos of our scheme. This psychic interaction has its cyclic ebb and flow, as ebbs and flows all life force. In Lemurian days came a period of close interaction which brought about an incarnation on the physical planet of the Logos of our scheme, the Head of the Hierarchy, and the One Initiator. This could not have been effected had not the planetary Logos of the Venus scheme been in a position to link up closely with ours.

Như đã chỉ ra trước đây, mỗi Đấng Thiên Nhân được nối kết với một Huynh Đệ của Ngài dưới Định luật Hấp Dẫn Tương Hỗ, định luật hiện đang biểu lộ một cách hạ thấp trên cõi hồng trần qua đời sống của đơn vị nhân loại bị giam hãm trong hình tướng hồng trần. Về mặt thông linh, sự nối kết ấy có bản chất khác, và một sự nối kết như vậy được tìm thấy giữa Hành Tinh Thượng Đế của hệ hành tinh mà chúng ta gọi là Sao Kim, và Thượng đế của hệ hành tinh chúng ta. Sự tương tác thông linh này có thủy triều lên xuống theo chu kỳ, cũng như mọi mãnh lực sự sống đều lên xuống như vậy. Vào thời Lemuria đã đến một thời kỳ tương tác mật thiết, đưa đến một lần lâm phàm trên hành tinh hồng trần của Thượng đế của hệ hành tinh chúng ta, Đầu của Thánh đoàn, và Đấng Điểm đạo Duy Nhất. Điều này không thể được thực hiện nếu Hành Tinh Thượng Đế của hệ hành tinh Sao Kim không ở trong vị thế có thể nối kết chặt chẽ với hệ của chúng ta.

c. Venus and the Earth Chain. This question of the coming of the Lords of Flame to the planet Earth is deeply involved (as stated above) in the relationship existing between the Heavenly Man of the Earth scheme and the Lord of the Venus scheme. Until more detailed information is permitted publication anent these two great Entities, little more can be done beyond indicating some probabilities, and pointing out certain factors which students should carefully bear in mind. The statement [Page 368] has been made that (owing to the Venusian scheme being in its fifth round) its humanity is consequently further advanced than ours, and can help us, and that this help came in Lemurian days. This is an instance of a partial truth and its misinterpretation. The Venusian scheme is—as stated in the Secret Doctrine (I, 187. II, 33-36,626)—in its fifth and last round; its humanity is very far ahead of ours in certain particulars, but the momentous occurrence in the third root-race was due to the following causes, and not to the factor of the greater advancement of a certain group of human beings:

c. Sao Kim và Dãy Địa Cầu. Vấn đề về sự giáng lâm của các Chúa Tể của Lửa đến hành tinh Trái Đất có liên hệ sâu xa (như đã nêu ở trên) với mối quan hệ hiện tồn giữa Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh Trái Đất và Chúa Tể của hệ hành tinh Sao Kim. Cho đến khi được phép công bố thông tin chi tiết hơn liên quan đến hai Thực Thể vĩ đại này, chúng ta không thể làm gì hơn ngoài việc chỉ ra một vài khả năng, và nêu lên một số yếu tố mà đạo sinh nên cẩn thận ghi nhớ. Phát biểu [Page 368] đã được nêu rằng (do hệ hành tinh Sao Kim đang ở cuộc tuần hoàn thứ năm) nhân loại của nó vì thế tiến bộ hơn chúng ta, và có thể giúp chúng ta, và rằng sự trợ giúp này đã đến vào thời Lemuria. Đây là một ví dụ về chân lý bộ phận và sự diễn giải sai của nó. Hệ hành tinh Sao Kim—như đã nêu trong Giáo Lý Bí Nhiệm (I, 187. II, 33-36,626)—đang ở cuộc tuần hoàn thứ năm và cuối cùng; nhân loại của nó vượt xa chúng ta trong một số phương diện nhất định, nhưng biến cố trọng đại trong giống dân gốc thứ ba là do các nguyên nhân sau đây, chứ không phải do yếu tố tiến bộ hơn của một nhóm người nào đó:

First, the Venus Scheme, viewed as a logoic centre, is more active than ours, and therefore its radiatory magnetism is far more widely spread. Its radiation is such that on the buddhic plane it swept within its magnetic radius that chain in our scheme which is composed predominantly of buddhic matter. Then, via that chain, it magnetised the corresponding globe in our chain, and this resulted in a specific vitalisation in the dense planet itself.

Thứ nhất, hệ hành tinh Sao Kim, khi được nhìn như một trung tâm Thượng đế, hoạt động mạnh hơn hệ của chúng ta, và do đó từ điện bức xạ của nó lan tỏa rộng hơn nhiều. Bức xạ của nó có tính chất đến mức trên cõi Bồ đề, nó đã quét vào trong bán kính từ tính của nó dãy trong hệ hành tinh chúng ta vốn được cấu thành chủ yếu bằng vật chất Bồ đề. Rồi, thông qua dãy ấy, nó từ hóa bầu hành tinh tương ứng trong dãy của chúng ta, và điều này dẫn đến một sự tiếp sinh lực đặc thù trong chính hành tinh đậm đặc ấy.

Second, just as in the case of man, certain triangles of force are found at different stages of evolution, or (to word it otherwise) different centres become geometrically linked, such as the

Thứ hai, cũng như trong trường hợp của con người, những tam giác mãnh lực nhất định được tìm thấy ở các giai đoạn tiến hoá khác nhau, hay (nói cách khác) những trung tâm khác nhau trở nên nối kết về mặt hình học, chẳng hạn như

a. Base of the spine,

a. Đáy cột sống,

b. Solar plexus,

b. Tùng thái dương,

c. Heart;

c. Tim;

or again,

hoặc lại nữa,

a. Solar Plexus,

a. Tùng thái dương,

b. Heart

b. Tim

c. Throat

c. Cổ họng

so, in the case of a Heavenly Man, or of a solar Logos, a similar event occurs. Such an event transpires in this round in relation to the centre which our planetary Logos [Page 369] embodies. It became geometrically linked with two other centres, of which Venus was one, and logoic Kundalini—circulating with tremendous force through this adjusted Triangle—brought about that intensification of vibration in the human family which resulted in individualisation. We might here enumerate the schemes as a basis for our further work:

thì trong trường hợp của một Đấng Thiên Nhân, hay của một Thái dương Thượng đế, một biến cố tương tự cũng xảy ra. Một biến cố như vậy đang diễn ra trong cuộc tuần hoàn này liên hệ với trung tâm mà Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta [Page 369] hiện thân. Nó đã trở nên nối kết về mặt hình học với hai trung tâm khác, trong đó Sao Kim là một, và kundalini Thượng đế—lưu chuyển với mãnh lực ghê gớm qua Tam giác đã được điều chỉnh này—đã đưa đến sự tăng cường rung động trong gia đình nhân loại, kết quả là sự biệt ngã hóa. Ở đây, chúng ta có thể liệt kê các hệ hành tinh như một cơ sở cho công việc tiếp theo của mình:

The seven planets, centres, or schemes:

Bảy hành tinh, các trung tâm, hay các hệ hành tinh:

1. Vulcan (the sun, exoterically considered).

1. Vulcan (mặt trời, xét theo ngoại môn).

2. Venus.

2. Sao Kim.

3. Mars.

3. Sao Hỏa.

4. Earth.

4. Trái Đất.

5. Mercury.

5. Sao Thủy.

6. Jupiter.

6. Sao Mộc.

7. Saturn.

7. Sao Thổ.

The three synthesising planets:

Ba hành tinh tổng hợp: