← A Treatise on Cosmic Fire

1. Uranus.

Trích nội dung chương

I would caution you here against attaching any importance to the sequence followed in numbering these seven schemes, either in connection with their order of development or importance, or their position in relation to the central planet, the sun, or to each other. Only two are to be considered numerically accurate at this stage and in this round, i.e., our Earth, the fourth scheme, and Venus, the second. Venus is either the second or the sixth scheme, according to whether the schemes are counted mystically or occultly. Inversely, Jupiter will be either the second or the sixth, and it must be remembered that: [Page 370] Ở đây, tôi muốn cảnh…


1. Uranus.

1. Sao Thiên Vương.

2. Neptune.

2. Sao Hải Vương.

3. Saturn.

3. Sao Thổ.

The One Resolver.

Đấng Hóa Giải Duy Nhất.

The SUN.

MẶT TRỜI.

I would caution you here against attaching any importance to the sequence followed in numbering these seven schemes, either in connection with their order of development or importance, or their position in relation to the central planet, the sun, or to each other. Only two are to be considered numerically accurate at this stage and in this round, i.e., our Earth, the fourth scheme, and Venus, the second. Venus is either the second or the sixth scheme, according to whether the schemes are counted mystically or occultly. Inversely, Jupiter will be either the second or the sixth, and it must be remembered that: [Page 370]

Ở đây, tôi muốn cảnh báo bạn đừng gán bất kỳ tầm quan trọng nào cho trình tự được dùng để đánh số bảy hệ hành tinh này, dù là liên hệ đến thứ tự phát triển hay tầm quan trọng của chúng, hay vị trí của chúng đối với hành tinh trung tâm là mặt trời, hoặc đối với nhau. Chỉ có hai hệ được xem là chính xác về mặt số học ở giai đoạn này và trong cuộc tuần hoàn này, tức Trái Đất của chúng ta, hệ hành tinh thứ tư, và Sao Kim, hệ thứ hai. Sao Kim hoặc là hệ thứ hai hoặc là hệ thứ sáu, tùy theo các hệ hành tinh được đếm theo cách thần bí hay huyền bí. Theo chiều ngược lại, Sao Mộc sẽ hoặc là hệ thứ hai hoặc là hệ thứ sáu, và phải nhớ rằng: [Page 370]

a. The planets Venus and Jupiter are exceedingly closely connected with the Earth, and form eventually an esoteric triangle.

a. Các hành tinh Sao Kim và Sao Mộc có liên hệ cực kỳ mật thiết với Trái Đất, và cuối cùng tạo thành một tam giác huyền bí.

b. Saturn is the synthesising scheme for the four planets which embody manas purely and simply, or is the major resolution of the minor four, and eventually for all the seven.

b. Sao Thổ là hệ hành tinh tổng hợp cho bốn hành tinh hiện thân cho manas một cách thuần túy và đơn giản, hay là sự hóa giải lớn của bốn hành tinh nhỏ, và cuối cùng là của cả bảy.

c. Mercury, the star of the intuition, or of transmuted manas, is, at this stage, considered as the fifth scheme.

c. Sao Thủy, ngôi sao của trực giác, hay của manas đã được chuyển hoá, ở giai đoạn này được xem là hệ hành tinh thứ năm.

Therefore, the Heavenly Men of Venus and Jupiter are magnetically linked with the Heavenly Man of our scheme. The relationship of the Logos of Jupiter and His influence will not be realised nor felt until the sixth [Page 371] round is in full force, though during the sixth root-race His vibration will be acknowledged and sensed; in the middle of the fifth round the Logos of Mercury will, with the Logos of the Venus scheme, and of our Earth, form a temporary triangle of force. We have here information given that has only been hinted at hitherto but for which, in this fifth subrace and in this fourth round, the world is now ready; it holds the solution of the mystery of this round.

Do đó, các Đấng Thiên Nhân của Sao Kim và Sao Mộc được liên kết bằng từ tính với Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh chúng ta. Mối liên hệ của Thượng đế của Sao Mộc và ảnh hưởng của Ngài sẽ không được chứng nghiệm cũng không được cảm nhận cho đến khi cuộc tuần hoàn thứ sáu [Page 371] hoàn toàn sung mãn, mặc dù trong giống dân gốc thứ sáu rung động của Ngài sẽ được thừa nhận và cảm nhận; vào giữa cuộc tuần hoàn thứ năm, Thượng đế của Sao Thủy sẽ cùng với Thượng đế của hệ hành tinh Sao Kim và của Trái Đất chúng ta tạo thành một tam giác lực tạm thời. Ở đây chúng ta có thông tin được ban ra mà cho đến nay mới chỉ được ám chỉ, nhưng đối với điều đó, trong giống dân phụ thứ năm này và trong cuộc tuần hoàn thứ tư này, thế giới nay đã sẵn sàng; nó nắm giữ lời giải cho huyền nhiệm của cuộc tuần hoàn này.

Third, the statement that the great Kumara or the One Initiator came to this planet from Venus is true in so far as it embodies the fact that He came to this dense planet (the fourth) in the fourth chain from that chain in our scheme which is called the “Venus” chain, and which is the second chain. He came via the second globe in our chain; His scarcely felt vibration was sensed (occultly) in the second round, but only in the third root-race of the fourth round did conditions permit of His physical incarnation and of His coming as the Avatar. Very reverently might it be said that the first three rounds and the two succeeding root-races in this chain correspond to the period prior to birth; and that His coming in the fourth round with the subsequent awakening of manas in the human units find their analogy in the awakening of the life principle in the unborn infant at the fourth month.

Thứ ba, lời khẳng định rằng Đại Kumara hay Đấng Điểm đạo Duy Nhất đã đến hành tinh này từ Sao Kim là đúng trong chừng mực nó bao hàm sự kiện rằng Ngài đã đến hành tinh đậm đặc này (hành tinh thứ tư) trong dãy thứ tư từ dãy ấy trong hệ hành tinh chúng ta, dãy được gọi là dãy “Sao Kim”, và là dãy thứ hai. Ngài đến qua bầu hành tinh thứ hai trong dãy của chúng ta; rung động hầu như không thể cảm nhận của Ngài đã được cảm biết (một cách huyền bí) trong cuộc tuần hoàn thứ hai, nhưng chỉ đến giống dân gốc thứ ba của cuộc tuần hoàn thứ tư thì các điều kiện mới cho phép sự lâm phàm hồng trần của Ngài và việc Ngài đến như một Đấng Hoá Thân. Với tất cả lòng tôn kính, có thể nói rằng ba cuộc tuần hoàn đầu tiên và hai giống dân gốc kế tiếp trong dãy này tương ứng với giai đoạn trước khi sinh; và việc Ngài đến trong cuộc tuần hoàn thứ tư cùng với sự thức tỉnh tiếp theo của manas trong các đơn vị nhân loại tìm thấy sự tương đồng của nó trong sự thức tỉnh của nguyên khí sự sống nơi thai nhi chưa sinh vào tháng thứ tư.

The analogy holds good, for a Heavenly Man at the end of the seventh round reaches full maturity, but requires the final process of rounding out and perfecting which He attains during the two final periods

Sự tương đồng này hoàn toàn đúng, vì một Đấng Thiên Nhân vào cuối cuộc tuần hoàn thứ bảy đạt đến sự trưởng thành viên mãn, nhưng cần tiến trình cuối cùng của sự hoàn tất và hoàn thiện mà Ngài đạt được trong hai giai đoạn cuối cùng

a. Of synthesis into the major three schemes.

a. Của sự tổng hợp vào ba hệ hành tinh chính.

b. Of resolution into the final one;

b. Của sự phân giải vào hệ hành tinh tối hậu duy nhất;

making again—with reverence may it be said—the nine cycles which cover the gestation of a Heavenly Man, and which precede His birth into yet higher worlds. In this lies much food for thought, and much of moment [Page 372] for the profound student. We might couple with these suggestions the recollection that we are speaking here only of the Logos of our own scheme, and must carefully differentiate other cycles for the other Logoi—a thing as yet impossible for us. As this is meditated upon and studied, the wonder and beauty of the plan will become apparent.

như thế lại tạo thành—xin được nói với lòng tôn kính—chín chu kỳ bao trùm thời kỳ thai nghén của một Đấng Thiên Nhân, và đi trước sự sinh ra của Ngài vào những thế giới còn cao hơn nữa. Chính trong đó có nhiều điều đáng suy ngẫm, và nhiều điều hệ trọng [Page 372] đối với đạo sinh sâu sắc. Chúng ta có thể gắn với những gợi ý này sự ghi nhớ rằng ở đây chúng ta chỉ đang nói về Thượng đế của chính hệ hành tinh chúng ta, và phải cẩn thận phân biệt các chu kỳ khác của các Thượng đế khác—một điều hiện nay vẫn chưa thể đối với chúng ta. Khi điều này được tham thiền và nghiên cứu, sự kỳ diệu và vẻ đẹp của Thiên Cơ sẽ trở nên hiển nhiên.

A clue to the idea of the final Avatar is likewise to be seen here. Many temporary incarnations precede this consummating one, which will be the incarnation wherein the Heavenly Man, in the full beauty of His completed seven cycles, and prior to His merging into His synthesising goal, will demonstrate as the embodiment of that perfected quality, or logoic aspect, for which He primarily stands. As a centre in the body logoic, He will be fully vitalised, and the logoic kundalini will have stimulated, and aroused to perfection His systemic Lotus. For a brief period He will shine forth radiant as the Sun in His glory; then the kundalinic fire will pass in higher progressive spirals, and He will gradually become centred in the corresponding logoic head centre, the higher triangle or the major three schemes. To illustrate by means of a human being, the microcosm: Man attains a period of high development wherein his heart and throat centre are perfected and vitalised; they become radiant whorls of fire, fourth dimensional in action, and allied with each other and with some other centre; they become likewise the object of the attention of human kundalini. This is a period of great activity and magnetic usefulness. It is succeeded by still another, wherein the three head centres are synthesising their seven minor correspondences, and the force of kundalini passes there. As above, so below. [Page 373]

Một đầu mối cho ý niệm về Đấng Hoá Thân tối hậu cũng có thể được thấy ở đây. Nhiều lần lâm phàm tạm thời đi trước lần lâm phàm viên mãn này, là lần lâm phàm trong đó Đấng Thiên Nhân, trong toàn bộ vẻ đẹp của bảy chu kỳ đã hoàn tất của Ngài, và trước khi hòa nhập vào mục tiêu tổng hợp của Ngài, sẽ biểu lộ như hiện thân của phẩm tính hoàn hảo ấy, hay phương diện logoic ấy, mà trước hết Ngài đại diện. Là một trung tâm trong thể của Thượng đế, Ngài sẽ được tiếp sinh lực trọn vẹn, và kundalini của Thượng đế sẽ kích thích và khơi dậy đến mức hoàn hảo Hoa sen hệ thống của Ngài. Trong một thời gian ngắn, Ngài sẽ chiếu sáng rực rỡ như Mặt Trời trong vinh quang của Ngài; rồi lửa kundalini sẽ đi qua trong những vòng xoắn tiến hoá cao hơn, và Ngài sẽ dần dần trở nên tập trung trong trung tâm đầu tương ứng của Thượng đế, tam giác cao hơn hay ba hệ hành tinh chính. Để minh hoạ bằng con người, tiểu thiên địa: Con người đạt đến một giai đoạn phát triển cao trong đó trung tâm tim và trung tâm cổ họng của y được hoàn thiện và tiếp sinh lực; chúng trở thành những vòng xoáy lửa rực sáng, hoạt động theo chiều thứ tư, và liên kết với nhau cũng như với một trung tâm khác; chúng cũng trở thành đối tượng chú ý của kundalini nơi con người. Đây là một giai đoạn hoạt động lớn lao và hữu dụng từ tính. Tiếp theo đó là một giai đoạn khác nữa, trong đó ba trung tâm đầu đang tổng hợp bảy đối ứng nhỏ của chúng, và lực của kundalini đi qua đó. Trên sao, dưới vậy. [Page 373]

CHART VI

BIỂU ĐỒ VI

The Divine septenary hanging from the Triad thus forming the Decad and its permutations 7,5,4,3. (S.D. Vol. I, pp.259)

Thất nguyên thiêng liêng treo từ Tam nguyên tinh thần, như thế tạo thành Thập nguyên và các hoán vị của nó 7,5,4,3. (G.L.B.N. Tập I, tr.259)

Solar Septenary Chart - from the middle of the Third Root Race, at the Fourth Round to the “Judgement Day” in the middle of the Fifth Round

Biểu đồ Thất nguyên Thái Dương - từ giữa Giống dân gốc thứ ba, tại Cuộc tuần hoàn thứ tư cho đến “Ngày phán xét” vào giữa Cuộc tuần hoàn thứ năm

THE DENSE PHYSICAL PLANET

HÀNH TINH HỒNG TRẦN ĐẬM ĐẶC

Earth

4th Chain

4th Globe

Mars

4th Chain

4th Globe

Jupiter

3rd Chain

4th Globe

Vulcan

3rd Chain

4th Globe

Saturn

3rd Chain

4th globe

Venus

5th Chain

5th Globe

Mercury

4th Chain

5th Globe

I have especially mentioned these two centres in the microcosm as they are closely concerned (on a larger scale) with the particular cycles through which our [Page 374] planetary Logos passes, and because they represent the third and second aspects.

Tôi đặc biệt đề cập đến hai trung tâm này trong tiểu thiên địa vì chúng liên hệ mật thiết (trên quy mô lớn hơn) với các chu kỳ đặc thù mà [Page 374] Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đang trải qua, và vì chúng biểu hiện phương diện thứ ba và thứ hai.

We need to bear in mind that the stimulation of the centres is of three kinds, and the distinction between the three must be kept clear.

Chúng ta cần ghi nhớ rằng sự kích thích các trung tâm có ba loại, và phải giữ rõ sự phân biệt giữa ba loại ấy.

First, the vitalisation of the logoic centres, or the pouring through the seven schemes, during stupendous cycles, of logoic kundalini.

Thứ nhất, sự tiếp sinh lực cho các trung tâm của Thượng đế, hay sự tuôn chảy qua bảy hệ hành tinh, trong những chu kỳ đồ sộ, của kundalini của Thượng đế.

Next, the vitalisation of the planetary centres, or the pouring through the seven chains of a scheme, of planetary kundalini.

Kế đến, sự tiếp sinh lực cho các trung tâm hành tinh, hay sự tuôn chảy qua bảy dãy của một hệ hành tinh, của kundalini hành tinh.

Finally, the vitalisation of the centres of a planetary Logos during some particular major incarnation, or the pouring through the seven globes of a chain, of kundalini.

Sau cùng, sự tiếp sinh lực cho các trung tâm của một Hành Tinh Thượng Đế trong một lần lâm phàm lớn đặc thù nào đó, hay sự tuôn chảy qua bảy bầu hành tinh của một dãy, của kundalini.

It should be stated here that:

Ở đây cần nói rõ rằng:

A major incarnation is one in which a planetary Logos takes some initiation. He may, and does, pass through many incarnations without taking initiation. When He does take initiation, it is interesting to note that He does so during some incarnation in which He takes a vehicle of etheric matter as is the case at this time.

Một lần lâm phàm lớn là lần trong đó một Hành Tinh Thượng Đế nhận một điểm đạo nào đó. Ngài có thể, và thực sự có, trải qua nhiều lần lâm phàm mà không nhận điểm đạo. Khi Ngài nhận điểm đạo, điều đáng chú ý là Ngài làm như vậy trong một lần lâm phàm nào đó mà Ngài mang một vận cụ bằng vật chất dĩ thái như trường hợp hiện nay.

The Logos of our scheme is preparing for initiation and hence the terrific tests and trials, incident to life on our planet during this cycle, are easily accounted for.

Thượng đế của hệ hành tinh chúng ta đang chuẩn bị cho điểm đạo và vì thế những thử thách và khảo nghiệm ghê gớm gắn liền với sự sống trên hành tinh chúng ta trong chu kỳ này có thể dễ dàng được giải thích.

The Logos of our scheme, Sanat Kumara, will take a major initiation in the middle of the fifth round, but is preparing for a minor one at this time.

Thượng đế của hệ hành tinh chúng ta, Đức Sanat Kumara, sẽ nhận một điểm đạo lớn vào giữa cuộc tuần hoàn thứ năm, nhưng hiện nay đang chuẩn bị cho một điểm đạo nhỏ.

The Logos of our scheme has been in physical incarnation (having a body of etheric matter) since the middle of the Lemurian root-race, and will remain with us until what is called “the judgment day” in the next round. At that point in His career He will have achieved the necessary vitalisation of the particular centre which is occupying His attention, will have “seen of the travail of His Soul” in connection with the units of the human [Page 375] Hierarchy who go to the composition of this centre, and will drop His present form, will turn His attention to another and higher centre, and give of His force to the units of a different calibre, from another branch of the human Hierarchy, who respond to the vibration of that centre.

Thượng đế của hệ hành tinh chúng ta đã lâm phàm hồng trần (có một thể bằng vật chất dĩ thái) từ giữa giống dân gốc Lemuria, và sẽ ở với chúng ta cho đến điều được gọi là “ngày phán xét” trong cuộc tuần hoàn kế tiếp. Vào thời điểm đó trong sự nghiệp của Ngài, Ngài sẽ đạt được sự tiếp sinh lực cần thiết cho trung tâm đặc thù đang chiếm giữ sự chú ý của Ngài, sẽ “thấy được công lao khổ nhọc của Linh hồn Ngài” liên hệ với các đơn vị của [Page 375] Thánh Đoàn nhân loại cấu thành trung tâm này, và sẽ từ bỏ hình tướng hiện tại của Ngài, sẽ chuyển sự chú ý của Ngài sang một trung tâm khác cao hơn, và ban mãnh lực của Ngài cho các đơn vị có phẩm cấp khác, từ một nhánh khác của Thánh Đoàn nhân loại, là những đơn vị đáp ứng với rung động của trung tâm ấy.

It would be well to enlarge here a little on the connection between Venus and the Earth, which is hinted at in some of the occult books, and is somewhat touched upon in this. I have stated that the interaction between the two schemes is due largely to their positive and negative polarity, and I pointed out that a similar relation underlies the relation of the Pleiades and the seven schemes of our solar system, and also the relation of Sirius and the system itself. This, therefore, sweeps into close interaction three great systems:

Ở đây sẽ là điều tốt nếu khai triển thêm đôi chút về mối liên hệ giữa Sao Kim và Trái Đất, điều đã được ám chỉ trong một số sách huyền bí học, và cũng được chạm đến phần nào trong tác phẩm này. Tôi đã nói rằng sự tương tác giữa hai hệ hành tinh phần lớn là do sự phân cực dương và âm của chúng, và tôi đã chỉ ra rằng một mối liên hệ tương tự cũng làm nền cho mối liên hệ giữa chòm Thất Tinh và bảy hệ hành tinh của hệ mặt trời chúng ta, cũng như mối liên hệ giữa Sirius và chính hệ thống này. Vì vậy, điều này đưa vào sự tương tác mật thiết ba hệ thống lớn:

1. The system of Sirius,

1. Hệ thống Sirius,

2. The system of the Pleiades,

2. Hệ thống chòm Thất Tinh,

3. The system of which our sun is the focal point,

3. Hệ thống mà mặt trời chúng ta là tiêu điểm,

making, as we will have noted, a cosmic triangle. Within our system there are several such triangles, varying at different stages; according to their relation to each other, the differentiated force of the different schemes can pass from scheme to scheme, and thus the units of life on the different rays or streams of force become temporarily intermingled. In all these triangles (cosmic, systemic, planetary, and human) two points of the triangle represent each a different polarity, and one point represents the point of equilibrium, of synthesis or merging. This should be borne in mind in studying both the macrocosmic and the microcosmic centres, for it accounts for diversity in manifestation, in forms and in quality.

tạo thành, như chúng ta hẳn đã lưu ý, một tam giác vũ trụ. Bên trong hệ thống chúng ta có một số tam giác như thế, thay đổi theo các giai đoạn khác nhau; tùy theo mối liên hệ của chúng với nhau, mãnh lực biệt phân của các hệ hành tinh khác nhau có thể chuyển từ hệ hành tinh này sang hệ hành tinh khác, và như thế các đơn vị sự sống trên các cung hay các dòng lực khác nhau trở nên tạm thời hòa lẫn vào nhau. Trong tất cả các tam giác này (vũ trụ, hệ thống, hành tinh và nhân loại), hai điểm của tam giác mỗi điểm biểu hiện một sự phân cực khác nhau, và một điểm biểu hiện điểm quân bình, tổng hợp hay hòa nhập. Điều này cần được ghi nhớ khi nghiên cứu cả các trung tâm đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa, vì nó giải thích sự đa dạng trong biểu hiện, trong các hình tướng và trong phẩm tính.

A correspondence might here also be pointed out which [Page 376] may serve to convey light to those who have eyes to see:

Ở đây cũng có thể chỉ ra một sự tương ứng mà [Page 376] có thể giúp soi sáng cho những ai có mắt để thấy:

The Venus scheme, being in the fifth round, had the fifth principle of manas co-ordinated and developed, the minor four manasic aspects had been synthesised, and the buddhic aspect was being provided with a means of expression through the medium of the perfected fifth. Our Heavenly Man, in the fifth round, will have attained a paralleling point in evolution, and the fifth principle will, as stated, be no longer the object of His attention as regards the human units.

Hệ hành tinh Sao Kim, vì đang ở trong cuộc tuần hoàn thứ năm, đã có nguyên khí thứ năm là manas được phối hợp và phát triển, bốn phương diện manas nhỏ đã được tổng hợp, và phương diện Bồ đề đang được cung cấp một phương tiện biểu lộ qua trung gian của phương diện thứ năm đã được hoàn thiện. Đấng Thiên Nhân của chúng ta, trong cuộc tuần hoàn thứ năm, sẽ đạt đến một điểm tiến hoá song hành, và nguyên khí thứ năm, như đã nói, sẽ không còn là đối tượng chú ý của Ngài xét về các đơn vị nhân loại nữa.

Five stages of activity mark the development and utilisation of the mind principle; there are three stages of acquisition, and two wherein that which has been acquired is used. This is too intricate a calculation for us to enter into it here, and it cannot be undertaken except by an initiate, for it involves ability to study the cycles of the earlier solar system, but it might be noted that (judging from the microcosm on the earth planet) this is just what might be expected. Man developed manas in this round during the third, fourth and fifth root-races, and utilises it for the development of the intuition and of the higher consciousness during the sixth and seventh. During an incarnation by a planetary Logos in a chain, during one round He demonstrates through His seven centres or globes manas on three globes, and utilises it for specific purposes on the final two. This is a lesser cycle to that in which we view the seven chains as His seven centres. These words are chosen with care; I say not “acquires manas”; He but produces that which is inherent. It must be remembered that just as the planes of a solar system stand for a different purpose, vibrate to a different key, and serve their own specific ends, so do the globes serve an analogous function.

Năm giai đoạn hoạt động đánh dấu sự phát triển và sử dụng nguyên khí trí tuệ; có ba giai đoạn thủ đắc, và hai giai đoạn trong đó điều đã được thủ đắc được sử dụng. Đây là một phép tính quá phức tạp để chúng ta đi vào ở đây, và không thể được thực hiện ngoại trừ bởi một điểm đạo đồ, vì nó bao hàm khả năng nghiên cứu các chu kỳ của hệ mặt trời trước, nhưng có thể lưu ý rằng (xét từ tiểu thiên địa trên hành tinh Trái Đất) đây chính là điều có thể được mong đợi. Con người đã phát triển manas trong cuộc tuần hoàn này trong các giống dân gốc thứ ba, thứ tư và thứ năm, và sử dụng nó cho sự phát triển của trực giác và của tâm thức cao hơn trong giống dân gốc thứ sáu và thứ bảy. Trong một lần lâm phàm của một Hành Tinh Thượng Đế trong một dãy, trong một cuộc tuần hoàn Ngài biểu lộ qua bảy trung tâm hay bảy bầu hành tinh của Ngài manas trên ba bầu hành tinh, và sử dụng nó cho các mục đích đặc thù trên hai bầu cuối cùng. Đây là một chu kỳ nhỏ hơn so với chu kỳ trong đó chúng ta xem bảy dãy như bảy trung tâm của Ngài. Những lời này được chọn lựa cẩn thận; tôi không nói “thủ đắc manas”; Ngài chỉ làm hiển lộ điều vốn nội tại. Phải nhớ rằng cũng như các cõi của một hệ mặt trời đại diện cho một mục đích khác nhau, rung động theo một chủ âm khác nhau, và phục vụ các cứu cánh đặc thù riêng của chúng, thì các bầu hành tinh cũng phục vụ một chức năng tương tự.

a. Globe 1, is that of ultimate abstraction, and of origination. It is the initial globe of manifestation. [Page 377]

a. Bầu hành tinh 1 là bầu của sự trừu xuất tối hậu và của sự khởi nguyên. Nó là bầu hành tinh khởi đầu của biểu hiện. [Page 377]

b. Globe 2, is the first sheath in which a Heavenly Man embodies Himself.

b. Bầu hành tinh 2 là lớp vỏ đầu tiên trong đó một Đấng Thiên Nhân nhập thể chính Ngài.

c. Globes 3, 4, 5, are those through which He demonstrates the possession of the manasic principle.

c. Các bầu hành tinh 3, 4, 5 là những bầu mà qua đó Ngài biểu lộ sự sở hữu nguyên khí manas.

d. Globes 6 and 7, are the ones through which He manifests buddhi, through forms built by means of the manasic principle.

d. Các bầu hành tinh 6 và 7 là những bầu mà qua đó Ngài biểu lộ Bồ đề, qua các hình tướng được kiến tạo bằng nguyên khí manas.

This can be equally predicated on a larger scale of a chain.

Điều này cũng có thể được khẳng định tương tự trên quy mô lớn hơn đối với một dãy.

An interesting correspondence of a very occult nature can be worked out by the advanced student in connection also with the seven schemes. There are two which may be considered primarily archetypal, causal, or involving abstraction; three in which manas is manifested, and two in which already buddhi is manasically demonstrating. Of these two, Venus is one and thus we have the three and the two which make the five schemes of the five Kumaras, Who are Brahma. (136)

Một sự tương ứng thú vị có bản chất rất huyền bí cũng có thể được đạo sinh tiến bộ khai triển liên hệ với bảy hệ hành tinh. Có hai hệ có thể được xem là chủ yếu nguyên mẫu, nguyên nhân, hay bao hàm sự trừu xuất; ba hệ trong đó manas được biểu lộ, và hai hệ trong đó Bồ đề đã đang biểu lộ theo cách manas. Trong hai hệ này, Sao Kim là một, và như thế chúng ta có ba và hai hợp thành năm hệ hành tinh của năm Kumara, Các Ngài là Brahma. (136)

(136) Students must carefully differentiate between the five Mind born Sons of Brahma, the five true Kumaras and their representatives on our earth planet, Those Who stand around Sanat Kumara Who may be stated (esoterically understood) to represent Himself. (back)

(136) Đạo sinh phải cẩn thận phân biệt giữa năm Con của Brahma sinh ra từ Trí Tuệ, năm Kumara chân chính và các đại diện của Các Ngài trên hành tinh Trái Đất chúng ta, Những Đấng đứng quanh Đức Sanat Kumara, những Đấng có thể nói (nếu được hiểu theo huyền bí học) là đại diện cho chính Ngài. (back)

Just as Venus is negatively polarised to our Earth scheme, so the seven stars of the Pleiades are negatively polarised to our seven schemes.

Cũng như hệ hành tinh Sao Kim được phân cực âm đối với hệ hành tinh Trái Đất của chúng ta, thì bảy ngôi sao của chòm Thất Tinh cũng được phân cực âm đối với bảy hệ hành tinh của chúng ta.

A very pertinent question might here be asked. We might justly enquire (in connection with the point that Venus is negatively polarised, and also that the Pleiades are equally so) why they should be termed negative if they are the donors and not the receivers, for to be negative is surely to be receptive. This is indeed so, but the question arises in our minds, owing to lack of information, and consequent misapprehension. Venus may have had much to do with the impartation of the stimulation which resulted in great events on Earth via the Venus chain of our scheme, but our scheme gave, in a mysterious manner, more than was received, though the [Page 378] gift was not of the same nature. The coming in of the Venusian influence to our chain, and to our planet, with the subsequent stimulation of certain groups in the fourth Creative Hierarchy, the human, caused a paralleling event of even greater magnitude in the Venus scheme. This affected the sixth Hierarchy, one of the deva Hierarchies, dwelling in the Venus scheme. This stimulation emanated via our sixth chain (or the second according to the angle of vision) and affected a corresponding chain in the Venus scheme. The magnitude of the difference may be seen in the fact that in our case one globe alone was affected, whereas the influence of our scheme on the Venusian was such that an entire chain was stimulated. This was brought about through the positive polarity of the Heavenly Man of the Earth scheme.

Ở đây có thể nêu ra một câu hỏi rất xác đáng. Chúng ta có thể hoàn toàn chính đáng mà hỏi (liên hệ với điểm rằng Sao Kim được phân cực âm, và chòm Thất Tinh cũng như vậy) tại sao chúng lại được gọi là âm nếu chúng là bên ban cho chứ không phải bên nhận, vì âm hẳn phải là tiếp nhận. Quả thật là như vậy, nhưng câu hỏi nảy sinh trong trí chúng ta do thiếu thông tin, và hậu quả là hiểu sai. Sao Kim có thể đã liên hệ rất nhiều đến việc truyền đạt sự kích thích dẫn đến những biến cố lớn trên Trái Đất qua dãy Sao Kim của hệ hành tinh chúng ta, nhưng hệ hành tinh chúng ta đã ban ra, theo một cách huyền nhiệm, nhiều hơn điều đã nhận, mặc dù [Page 378] món quà không cùng bản chất. Sự đi vào của ảnh hưởng Kim tinh vào dãy của chúng ta, và vào hành tinh chúng ta, cùng với sự kích thích tiếp theo đối với một số nhóm trong Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, tức nhân loại, đã gây ra một biến cố song hành còn lớn lao hơn trong hệ hành tinh Sao Kim. Điều này ảnh hưởng đến Huyền Giai thứ sáu, một trong các Huyền Giai thiên thần, cư ngụ trong hệ hành tinh Sao Kim. Sự kích thích này phát ra qua dãy thứ sáu của chúng ta (hay dãy thứ hai tùy theo góc độ tầm nhìn) và ảnh hưởng đến một dãy tương ứng trong hệ hành tinh Sao Kim. Mức độ khác biệt có thể thấy trong sự kiện rằng trong trường hợp của chúng ta chỉ một bầu hành tinh duy nhất bị ảnh hưởng, trong khi ảnh hưởng của hệ hành tinh chúng ta lên hệ Sao Kim lại đến mức cả một dãy được kích thích. Điều này được tạo ra nhờ sự phân cực dương của Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh Trái Đất.

Therefore, enlarging the concept, we can note the fact that our Heavenly Men are the transmitters, via their seven schemes, to the seven stars of the Pleiades. Our solar system is negatively polarised as regards the sun Sirius, which influences our entire system psychically via the three synthesising schemes—Uranus, Neptune, Saturn—the latter, Saturn, being the focal point for the transmission of cosmic manas to the entire seven schemes.

Do đó, mở rộng khái niệm, chúng ta có thể ghi nhận sự kiện rằng các Đấng Thiên Nhân của chúng ta là những vị truyền dẫn, qua bảy hệ hành tinh của Các Ngài, đến bảy ngôi sao của chòm Thất Tinh. Hệ mặt trời chúng ta được phân cực âm đối với mặt trời Sirius, mặt trời này ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống chúng ta một cách thông linh qua ba hệ hành tinh tổng hợp—Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương, Sao Thổ—trong đó Sao Thổ là tiêu điểm cho sự truyền dẫn manas vũ trụ đến toàn bộ bảy hệ hành tinh.

4. Manas and the Earth Chain

4. Manas và Dãy Địa Cầu

We have brought our consideration of our first point, the origin of cosmic and systemic manas, down to certain facts concerning our chain, and have (with the utmost brevity) passed in review the larger aspect of the question. We touched first of all upon the subject of cosmic manas, as it concerned our Logos and the Heavenly Men. Then we considered it more specifically in its relation to the individual Heavenly Men, and finally brought it down to that which more nearly concerns ourselves— [Page 379] manas and the Heavenly Man of our scheme. Having proceeded thus far, we considered the stimulation of manas in our own chain, and saw that, in connection with our Earth, it came:

Chúng ta đã đưa sự khảo cứu điểm thứ nhất của mình, nguồn gốc của manas vũ trụ và hệ thống, xuống đến một số sự kiện liên quan đến dãy của chúng ta, và đã (với sự ngắn gọn tối đa) điểm lại phương diện lớn hơn của vấn đề. Trước hết chúng ta đã chạm đến chủ đề manas vũ trụ, trong chừng mực nó liên hệ đến Thượng đế của chúng ta và các Đấng Thiên Nhân. Sau đó chúng ta xét nó cụ thể hơn trong mối liên hệ với từng Đấng Thiên Nhân riêng biệt, và cuối cùng đưa nó xuống đến điều gần gũi với chúng ta hơn— [Page 379] manas và Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh chúng ta. Sau khi tiến xa đến mức ấy, chúng ta đã xét sự kích thích manas trong chính dãy của chúng ta, và thấy rằng, liên hệ với Trái Đất chúng ta, nó đến:

Via the Venus chain of our scheme.

Qua dãy Sao Kim của hệ hành tinh chúng ta.

As the result of a stimulation, originating in the Venus scheme.

Là kết quả của một sự kích thích, phát sinh trong hệ hành tinh Sao Kim.

Because logoic kundalini had vitalised one of the systemic triangles of force, of which (temporarily) Venus and the Earth formed two points of the triangle.

Bởi vì kundalini của Thượng đế đã tiếp sinh lực cho một trong các tam giác lực của hệ thống, mà trong đó (tạm thời) Sao Kim và Trái Đất tạo thành hai điểm của tam giác.

This produced the individualisation of those, particularly in the human Hierarchy, who form a particular centre in the body of the planetary Logos.

Điều này tạo ra sự biệt ngã hóa của những đơn vị, đặc biệt trong Huyền Giai nhân loại, là những đơn vị tạo thành một trung tâm đặc thù trong thân thể của Hành Tinh Thượng Đế.

a. The Earth Chain and the Incarnating Monads.

a. Dãy Địa Cầu và các chân thần đang nhập thể.

We have reached, therefore, a point wherein (having cursorily dealt above with the origin of cosmic, systemic, and planetary manas), it is now possible for us to come definitely down to the consideration of our Earth chain within the Earth scheme, and see something of the origin of the manasic principle in the present group of incarnating egos, units of the fourth Creative Hierarchy. It is necessary here for students to remember that only one group in the fourth Hierarchy was affected by the coming in of manas in the third root-race, and that therefore in incarnation on the planet at this time are component parts of the two groups: one group, which received the manasic stimulation during this world period, and another group which received the stimulation during the previous chain. The last named group can be seen incarnating in all those who tread the Probationary Path, who are counted as the advanced units of the race, and considered as the notables among men. Owing to the difference between the two groups may be traced much of the world unrest. This difference lies in the following [Page 380] factors, which, for purposes of clarity, it might be well to enumerate:

Do đó, chúng ta đã đạt đến một điểm mà tại đó (sau khi đã đề cập sơ lược ở trên đến nguồn gốc của manas vũ trụ, hệ thống và hành tinh), nay chúng ta có thể đi hẳn xuống việc xem xét Dãy Địa Cầu của chúng ta bên trong hệ hành tinh Địa Cầu, và thấy phần nào nguồn gốc của nguyên khí manas trong nhóm chân ngã đang nhập thể hiện nay, các đơn vị của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư. Ở đây, đạo sinh cần nhớ rằng chỉ có một nhóm trong Huyền Giai thứ tư bị ảnh hưởng bởi sự đi vào của manas trong giống dân gốc thứ ba, và vì thế hiện đang lâm phàm trên hành tinh này là các thành phần của hai nhóm: một nhóm đã nhận sự kích thích manas trong thời kỳ thế giới này, và một nhóm khác đã nhận sự kích thích trong dãy trước. Nhóm được nêu sau cùng có thể được thấy đang lâm phàm trong tất cả những ai bước trên Con Đường Dự Bị, những người được kể là các đơn vị tiến bộ của nhân loại, và được xem là những người nổi bật giữa loài người. Do sự khác biệt giữa hai nhóm này mà phần lớn tình trạng bất an của thế giới có thể được truy nguyên. Sự khác biệt này nằm trong các [Page 380] yếu tố sau đây, mà để rõ ràng, có lẽ nên liệt kê ra:

The fact that each group forms a different centre in the body of a Heavenly Man.

Sự kiện rằng mỗi nhóm tạo thành một trung tâm khác nhau trong thân thể của một Đấng Thiên Nhân.

The difference in the method of individualisation.

Sự khác biệt trong phương pháp biệt ngã hóa.

The different rate of vibration of the two centres.

Tốc độ rung động khác nhau của hai trung tâm.

The fact, therefore, that in each chain the planetary Logos takes a different initiation, affecting different centres; and so bringing into manifestation different lesser entities.

Do đó, sự kiện rằng trong mỗi dãy, Hành Tinh Thượng Đế nhận một điểm đạo khác nhau, ảnh hưởng đến các trung tâm khác nhau; và như thế đưa vào biểu hiện các thực thể nhỏ hơn khác nhau.

Students, when considering these things, need to view the matter from the following angles—some quite possible lines of approach for us, others which we are only capable as yet of dimly anticipating. The occult fact, as stated by the English poet Pope, “The proper study of mankind, is man,” is embodied in the investigation of all these vast cycles.

Khi xem xét những điều này, đạo sinh cần nhìn vấn đề từ các góc độ sau đây—một số là những đường tiếp cận hoàn toàn khả dĩ đối với chúng ta, một số khác thì hiện nay chúng ta mới chỉ có thể mơ hồ dự cảm. Sự kiện huyền bí học, như thi sĩ Anh Pope đã nói, “Đối tượng nghiên cứu thích đáng của nhân loại là con người,” được hàm chứa trong việc khảo cứu tất cả các chu kỳ bao la này.

The cosmic angle. This involves the study of the place of the solar Logos within His greater sphere, the study of extra-systemic psychology and astronomy, and the consideration of the relation existing between our system and other constellations, and of our path in the vast arc of the heavens. It bears on the relation of the various suns with their circulating attendants, and of the planets with each other; it concerns the study of their individual polarisation, and their interaction with their polar opposites. It will lead the student into regions of logical speculation, into the study of cosmic electricity, and the universal Law of attraction, and is as yet much beyond the comprehension of even the most advanced students at this time, and will only become a science (reduced to form and text-book if I might so express it) during the final part of the next round.

Góc độ vũ trụ. Điều này bao hàm việc nghiên cứu vị trí của Thái dương Thượng đế trong khối cầu lớn hơn của Ngài, nghiên cứu tâm lý học và thiên văn học ngoài hệ thống, và xem xét mối liên hệ hiện hữu giữa hệ thống chúng ta với các chòm sao khác, cũng như con đường của chúng ta trong vòng cung bao la của bầu trời. Nó liên quan đến mối liên hệ của các mặt trời khác nhau với các tùy hành quay quanh chúng, và của các hành tinh với nhau; nó liên hệ đến việc nghiên cứu sự phân cực riêng của chúng, và sự tương tác của chúng với các cực đối nghịch của chúng. Nó sẽ dẫn đạo sinh vào những miền suy đoán hợp lý, vào việc nghiên cứu điện vũ trụ, và Định luật hấp dẫn phổ quát, và hiện nay vẫn vượt xa sự thấu hiểu của ngay cả những đạo sinh tiến bộ nhất, và chỉ sẽ trở thành một khoa học (được quy về hình thức và giáo trình, nếu tôi có thể nói như vậy) trong phần cuối của cuộc tuần hoàn kế tiếp.

The systemic angle. This deals with the place of the Heavenly Men within the body logoic, Their mutual [Page 381] interplay, and Their rational interdependence, and with the cycles wherein each in turn, or in dual formation, is the recipient of logoic force. It necessitates the study of the solar system as a unit, of the astronomical and orbital relation of the Sun to the planets. The systemic triangles will eventually become a subject of popular speculation, then of investigation, of scientific demonstration, and finally be known to be proved and authenticated fact,—but the time is not yet. The different polarities of the schemes will be studied, and information, that is now imparted only to initiates of the third Initiation, will eventually become exoteric. In due course of time systemic information along the lines of:

Góc độ hệ thống. Điều này bàn đến vị trí của các Đấng Thiên Nhân trong thể của Thượng đế, sự tương tác lẫn nhau của Các Ngài, và sự tương thuộc hợp lý của Các Ngài, cũng như các chu kỳ trong đó mỗi vị lần lượt, hay trong sự hình thành nhị phân, là bên tiếp nhận lực của Thượng đế. Nó đòi hỏi việc nghiên cứu hệ mặt trời như một đơn vị, mối liên hệ thiên văn và quỹ đạo của Mặt Trời với các hành tinh. Các tam giác hệ thống cuối cùng sẽ trở thành một đề tài suy đoán phổ biến, rồi thành đối tượng khảo cứu, chứng minh khoa học, và sau cùng được biết đến như sự kiện đã được chứng minh và xác thực,—nhưng thời điểm ấy vẫn chưa đến. Các sự phân cực khác nhau của các hệ hành tinh sẽ được nghiên cứu, và thông tin hiện nay chỉ được truyền đạt cho các điểm đạo đồ của lần điểm đạo thứ ba cuối cùng sẽ trở nên ngoại môn. Đến đúng thời, thông tin hệ thống theo các đường lối như:[Page 381]

a. The vitalisation of the schemes

a. Sự tiếp sinh lực cho các hệ hành tinh

b. Interaction between two schemes

b. Sự tương tác giữa hai hệ hành tinh

c. The periods of incarnation of a planetary Logos on the physical plane

c. Các thời kỳ lâm phàm của một Hành Tinh Thượng Đế trên cõi hồng trần

d. The initiation of the planetary Logos,

d. Điểm đạo của Hành Tinh Thượng Đế,

will be reduced to law and order. As yet but dim speculations and hints that appeal only to the spiritual and the intuitive are in any way possible. The early part of the next round will see more widespread knowledge and interest in this matter.

sẽ được quy về định luật và trật tự. Hiện nay mới chỉ có những suy đoán mơ hồ và những ám chỉ chỉ hấp dẫn đối với người có tinh thần và trực giác là phần nào khả hữu. Phần đầu của cuộc tuần hoàn kế tiếp sẽ chứng kiến tri thức và sự quan tâm rộng rãi hơn về vấn đề này.

The planetary angle. This point of view concerns itself with the history of the individual scheme, and with the consciousness, and evolution of some particular Heavenly Man. The student in studying along these lines must endeavour to get some grasp of the scheme as a unit, as a body corporate with its seven centres and forty-nine globes, and with the triangle formed between them. Separate chains are either

Góc độ hành tinh. Quan điểm này quan tâm đến lịch sử của từng hệ hành tinh riêng biệt, và đến tâm thức cùng sự tiến hoá của một Đấng Thiên Nhân đặc thù nào đó. Đạo sinh khi nghiên cứu theo các đường lối này phải cố gắng nắm được phần nào hệ hành tinh như một đơn vị, như một cơ thể tập thể với bảy trung tâm và bốn mươi chín bầu hành tinh của nó, cùng với tam giác được hình thành giữa chúng. Các dãy riêng biệt hoặc là

The object of planetary stimulation,

Đối tượng của sự kích thích hành tinh,

The sphere of the incarnation of a planetary Logos,

Khối cầu của sự lâm phàm của một Hành Tinh Thượng Đế,

Emerging into objectivity, [Page 382]

Đang xuất hiện vào tính khách quan, [Page 382]

Manifesting,

Đang biểu lộ,

Gradually entering into obscurity.

Dần dần đi vào sự mờ khuất.

This point of view is as yet impossible for the average thinker, for it involves an expansion of consciousness unattainable by man. Nevertheless the endeavour to comprehend serves a useful purpose, for it sets a goal for man and enables him to enlarge his present concept.

Quan điểm này hiện nay vẫn là điều bất khả đối với nhà tư tưởng trung bình, vì nó bao hàm một sự mở rộng tâm thức mà con người chưa thể đạt được. Tuy nhiên, nỗ lực thấu hiểu vẫn phục vụ một mục đích hữu ích, vì nó đặt ra một mục tiêu cho con người và giúp y mở rộng quan niệm hiện tại của mình.

The chain angle. This brings the whole idea more within the range of possibility, and has already been indicated to students in Volume II, of the Secret Doctrine. The student is narrowed down to the contemplation of the seven globes of the chain of which he is a component, though microscopic, part. He has for investigation the globes as seen in time, with their mutual interplay; he has for study the part each one may be playing in the great cycle of a Heavenly Man. For instance, in the present Earth chain which concerns us the most nearly, the fourth globe is of paramount interest, inasmuch as it is the physical plane vehicle for a Heavenly Man in dense objective incarnation. Yet it must not be forgotten that, though manifesting thus objectively, He embodies in totality the chain and the scheme. The idea may be clarified for the student if it is stated that:

Góc độ dãy. Điều này đưa toàn bộ ý tưởng vào gần phạm vi khả hữu hơn, và đã được chỉ ra cho đạo sinh trong Tập II của Giáo Lý Bí Nhiệm. Đạo sinh được thu hẹp vào việc chiêm ngưỡng bảy bầu hành tinh của dãy mà y là một phần cấu thành, dù là phần vi mô. Y có để khảo cứu các bầu hành tinh như được thấy trong thời gian, với sự tương tác lẫn nhau của chúng; y có để nghiên cứu vai trò mà mỗi bầu có thể đang đảm nhiệm trong chu kỳ lớn của một Đấng Thiên Nhân. Chẳng hạn, trong Dãy Địa Cầu hiện nay là dãy liên hệ gần gũi nhất với chúng ta, bầu hành tinh thứ tư có tầm quan trọng tối cao, vì nó là vận cụ cõi hồng trần cho một Đấng Thiên Nhân trong sự lâm phàm khách quan đậm đặc. Tuy nhiên, không được quên rằng, dù biểu lộ một cách khách quan như thế, Ngài hiện thân trong tính toàn thể cả dãy lẫn hệ hành tinh. Ý tưởng này có thể được làm sáng tỏ cho đạo sinh nếu nói rằng:

A scheme, in its totality, corresponds to the Monad, or to the monadic auric egg, in connection with a human being and his forty-nine cycles.

Một hệ hành tinh, trong tính toàn thể của nó, tương ứng với chân thần, hay với noãn hào quang chân thần, liên hệ với một con người và bốn mươi chín chu kỳ của y.

A chain, (137) in its totality corresponds to the body egoic of a human being, to the causal body with its seven great [Page 383] cycles mentioned elsewhere in these pages, and hinted at in certain occult books.

Một dãy, (137) trong tính toàn thể của nó tương ứng với thể chân ngã của một con người, với thể nguyên nhân cùng bảy chu kỳ lớn của nó [Page 383] được nhắc đến ở nơi khác trong những trang này, và được ám chỉ trong một số sách huyền bí học.

(137) Chain—a series of seven globes or worlds which form the field of evolution during the planetary cycle or manvantara. The first three of these globes—generally known as A., B. and C. form a descending arc, the densest physical matter of the descent being reached in the fourth globe, D, of which our earth is an instance. The fifth globe, E, on the ascending arc (correspondence to C on the descending arc) usually belongs to the astral plane, and the sixth and seventh F and G (correspondence to B and A on the descending arc) to the Rupa and Arupa levels of the mental plane; these therefore are invisible to ordinary sight. (back)

(137) Dãy—một chuỗi gồm bảy bầu hành tinh hay thế giới tạo thành trường tiến hoá trong chu kỳ hành tinh hay giai kỳ sinh hóa. Ba bầu hành tinh đầu tiên này—thường được biết là A., B. và C.—tạo thành vòng cung đi xuống, vật chất hồng trần đậm đặc nhất của sự đi xuống đạt đến ở bầu hành tinh thứ tư, D, mà Trái Đất chúng ta là một ví dụ. Bầu hành tinh thứ năm, E, trên vòng cung đi lên (tương ứng với C trên vòng cung đi xuống) thường thuộc cõi cảm dục, và bầu thứ sáu và thứ bảy F và G (tương ứng với B và A trên vòng cung đi xuống) thuộc các cấp độ Rupa và Arupa của cõi trí; vì vậy chúng vô hình đối với thị giác thông thường. (back)

A globe, with its seven races corresponds to a particular series of incarnations in connection with a man, incarnate or discarnate, for all globes are not on physical levels.

Một bầu hành tinh, với bảy nhân loại của nó, tương ứng với một chuỗi lâm phàm đặc thù liên hệ với một con người, đang lâm phàm hay không lâm phàm, vì không phải mọi bầu hành tinh đều ở các cấp độ hồng trần.

A physical globe, in a chain corresponds to a particular physical incarnation of a man. The planetary Logos takes physical form in His planet and is its life and works out His purposes.

Một bầu hành tinh hồng trần, trong một dãy tương ứng với một lần lâm phàm hồng trần đặc thù của một con người. Hành Tinh Thượng Đế mang hình tướng hồng trần trong hành tinh của Ngài và là sự sống của nó, đồng thời thực hiện các mục đích của Ngài.

A root-race, simply is analogous to the “seven parts” (as Shakespeare phrases it) as played by the midget, man. In a root-race a Heavenly Man is simply living out His life, working through some experience in the great work of developing buddhi or corporate action, (for buddhi is the unifying principle of groups) and, in the process of experiencing and developing, He sweeps into His vibratory capacity all the cells in His body. In the case of a human being the cells in his body (the material cells) are involutionary lives, animated by the third Logos, co-operating with the second Logos. In the case of a planetary Logos, the cells in His body are evolutionary lives (deva and human units) animated by the life of the second Logos, co-operating with the first Logos, and utilising the activities of the third Logos for purposes of manifesting.

Một giống dân gốc, đơn giản là tương tự với “bảy phần” (như Shakespeare diễn đạt) do con người tí hon đảm nhiệm. Trong một giống dân gốc, một Đấng Thiên Nhân đơn giản là đang sống trọn đời sống của Ngài, đang trải qua một kinh nghiệm nào đó trong công việc lớn lao là phát triển Bồ đề hay hoạt động tập thể, (vì Bồ đề là nguyên khí hợp nhất của các nhóm) và, trong tiến trình kinh nghiệm và phát triển, Ngài cuốn vào năng lực rung động của Ngài tất cả các tế bào trong thể Ngài. Trong trường hợp con người, các tế bào trong thể y (các tế bào vật chất) là các sự sống giáng hạ tiến hoá, được linh hoạt bởi Thượng đế thứ ba, hợp tác với Thượng đế thứ hai. Trong trường hợp một Hành Tinh Thượng Đế, các tế bào trong thể Ngài là các sự sống thăng thượng tiến hoá (các đơn vị thiên thần và nhân loại) được linh hoạt bởi sự sống của Thượng đế thứ hai, hợp tác với Thượng đế thứ nhất, và sử dụng các hoạt động của Thượng đế thứ ba cho các mục đích biểu hiện.

Having pointed out these things, the place the Earth chain and globe play in the evolution of the planetary Logos of the Earth scheme should be clearer to the student.

Sau khi đã chỉ ra những điều này, vị trí mà Dãy Địa Cầu và bầu hành tinh Địa Cầu đảm nhiệm trong sự tiến hoá của Hành Tinh Thượng Đế của hệ hành tinh Địa Cầu hẳn sẽ rõ ràng hơn đối với đạo sinh.

The wheel turns, and in its turning sweeps into objectivity one of its seven globes, or brings into manifestation on the physical plane that great Entity Whose life animates the whole scheme. It must be borne in mind that just as man is handicapped by his physical body, [Page 384] and finds himself unable to express through it the entire content of his egoicconsciousness, so a Heavenly Man, when taking to Himself a dense physical vehicle in any particular chain, is also handicapped, and is unable to express in perfection on the globe the full beauty of His Life or the splendour of His manifesting Consciousness.

Bánh xe quay, và trong sự quay của nó cuốn một trong bảy bầu hành tinh của nó vào tính khách quan, hay đưa vào biểu hiện trên cõi hồng trần Thực Thể vĩ đại mà sự sống của Ngài linh hoạt toàn bộ hệ hành tinh. Phải ghi nhớ rằng cũng như con người bị hạn chế bởi thể xác của mình, [Page 384] và thấy mình không thể biểu lộ qua nó toàn bộ nội dung của tâm thức chân ngã của mình, thì một Đấng Thiên Nhân, khi mang cho mình một vận cụ hồng trần đậm đặc trong một dãy đặc thù nào đó, cũng bị hạn chế, và không thể biểu lộ một cách hoàn hảo trên bầu hành tinh vẻ đẹp trọn vẹn của Sự sống Ngài hay sự huy hoàng của Tâm thức đang biểu lộ của Ngài.

It might here be stated in connection with the planetary Logos of our scheme that:

Ở đây có thể nói liên hệ với Hành Tinh Thượng Đế của hệ hành tinh chúng ta rằng:

a. He is in physical incarnation.

a. Ngài đang lâm phàm hồng trần.

b. He is midway through His career upon the cosmic Path of Initiation, and consequently is to take the fourth Initiation in this chain. Well may this globe, therefore, be considered the globe of sorrow and of pain, for through it our planetary Logos is undergoing that which the mystic calls “the Crucifixion.”

b. Ngài đang ở giữa chặng đường sự nghiệp của Ngài trên Con Đường Điểm Đạo vũ trụ, và do đó sẽ nhận lần điểm đạo thứ tư trong dãy này. Vì vậy, bầu hành tinh này hoàn toàn có thể được xem là bầu hành tinh của đau buồn và đau đớn, vì qua nó Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đang trải qua điều mà nhà thần bí gọi là “Sự Đóng Đinh.”

c. The cells in His body—those cells through which He feels, and senses, and experiences,—are, in this world period, rent by pain and suffering, for His is the consciousness at the centre of the Body, and theirs is the capacity to suffer, so that by means of them He may learn the meaning of systemic dispassion, be dissociated from all forms and material substance, and upon the cross of matter eventually find liberation and the freedom of the Spirit.

c. Các tế bào trong thân thể Ngài—những tế bào mà qua đó Ngài cảm nhận, tri giác và kinh nghiệm,—trong thời kỳ thế giới này đang bị xé rách bởi đau đớn và khổ đau, vì của Ngài là tâm thức ở trung tâm của Thể, còn của chúng là năng lực chịu đau khổ, để nhờ chúng Ngài có thể học được ý nghĩa của sự vô chấp hệ thống, được tách rời khỏi mọi hình tướng và chất liệu vật chất, và trên thập giá của vật chất cuối cùng tìm thấy sự giải thoát và tự do của tinh thần.

The same equally can be predicated of a solar Logos with the following interesting sequence carefully borne in mind:

Điều tương tự cũng có thể được khẳng định đối với một Thái dương Thượng đế, với chuỗi kế tiếp thú vị sau đây cần được ghi nhớ cẩn thận:

The solar Logos has for objective nine initiations, the third cosmic Initiation being His goal.

Thái dương Thượng đế có chín điểm đạo làm mục tiêu, lần điểm đạo vũ trụ thứ ba là đích đến của Ngài.

Our planetary Logos has for objective seven initiations, the second cosmic Initiation being His goal.

Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta có bảy điểm đạo làm mục tiêu, lần điểm đạo vũ trụ thứ hai là đích đến của Ngài.

Man has for objective five initiations, the first cosmic Initiation being his goal. [Page 385]

Con người có năm điểm đạo làm mục tiêu, lần điểm đạo vũ trụ thứ nhất là đích đến của y. [Page 385]

[Page 386] If we link this up with that earlier imparted concerning initiation and the sun Sirius, we will have a clue to the triple cosmic Path.

[Page 386] Nếu chúng ta liên kết điều này với những gì đã được truyền đạt trước đây liên quan đến điểm đạo và mặt trời Sirius, chúng ta sẽ có một đầu mối cho Con Đường vũ trụ tam phân.

b. The Fourth Kingdom and the Hierarchy of the Planet. Certain facts have already been grasped and realised by the average occult student who has been pondering this teaching with care. He is aware that the juncture of Spirit-matter and mind, or manas, was effected during the third root-race, and that the definitely human family became present upon earth from that date. He knows that this was brought about by the coming, in bodily Presence, of certain great Entities, and he has learned that these Entities came from the Venusian chain, that They achieved the necessary juncture, undertook the government of the planet, founded the occult Hierarchy, and that—though some remain with the chain—the remainder have returned to Their originating source. This in many ways sums up the totality of the present knowledge. Let us briefly enlarge upon it, correct certain erroneous interpretations, and ascertain one or two new facts. We might tabulate these as follows:

b. Giới thứ tư và Thánh Đoàn của hành tinh. Một số sự kiện đã được đạo sinh huyền bí học trung bình, người đã suy ngẫm cẩn thận giáo huấn này, nắm bắt và chứng nghiệm. Y biết rằng sự tiếp giáp của tinh thần-vật chất và trí tuệ, hay manas, đã được thực hiện trong giống dân gốc thứ ba, và rằng gia đình nhân loại theo nghĩa xác định đã hiện diện trên trái đất từ thời điểm đó. Y biết rằng điều này được mang lại bởi sự đến, trong Hiện Diện có hình thể, của một số Thực Thể vĩ đại, và y đã học rằng các Thực Thể này đến từ dãy Kim tinh, rằng Các Ngài đã thực hiện sự tiếp giáp cần thiết, đảm nhận việc cai quản hành tinh, sáng lập Thánh Đoàn huyền bí học, và rằng—dù một số vẫn ở lại với dãy—phần còn lại đã trở về nguồn gốc xuất phát của Các Ngài. Điều này theo nhiều cách tóm lược toàn bộ tri thức hiện nay. Chúng ta hãy ngắn gọn khai triển thêm về nó, chỉnh lại một số cách giải thích sai lầm, và xác định một hoặc hai sự kiện mới. Chúng ta có thể lập bảng những điều này như sau:

First, it should be borne in mind by the occult student that:

Thứ nhất, đạo sinh huyền bí học cần ghi nhớ rằng:

a. This advent signalised the taking of a physical vehicle by the planetary Logos, and was literally the coming of the Avatar.

a. Sự giáng lâm này báo hiệu việc Hành Tinh Thượng Đế mang một vận cụ hồng trần, và theo nghĩa đen là sự đến của Đấng Hoá Thân.

b. That this advent was brought about by a definite systemic alignment which involved:

b. Sự giáng lâm này được mang lại bởi một sự chỉnh hợp hệ thống xác định, bao gồm:

The Venus scheme of the system.

Hệ hành tinh Sao Kim của hệ thống.

The Venus chain of the Earth scheme.

Dãy Sao Kim của hệ hành tinh Địa Cầu.

The Venus globe of the Earth chain.

Bầu hành tinh Sao Kim của Dãy Địa Cầu.

c. That the planetary Logos did not come from the Venus scheme but from the Venus chain of His own scheme, the Earth scheme. Owing to systemic [Page 387] alignment logoic kundalini could flow through a certain triangle of which two points were Venus and the Earth. This caused an acceleration of vibration, and enabled the Heavenly Man of our scheme to take a minor initiation, and to set about His preparations for a major initiation.

c. Hành Tinh Thượng Đế không đến từ hệ hành tinh Sao Kim mà từ dãy Sao Kim của chính hệ hành tinh Ngài, tức hệ hành tinh Địa Cầu. Do sự chỉnh hợp hệ thống [Page 387] nên kundalini của Thượng đế có thể chảy qua một tam giác nào đó mà hai điểm là Sao Kim và Trái Đất. Điều này gây ra sự gia tốc rung động, và giúp Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh chúng ta nhận một điểm đạo nhỏ, và bắt đầu các chuẩn bị của Ngài cho một điểm đạo lớn.

Next, it should also be remembered that in considering this matter we must be careful to view it not only as it affects our own globe and its present humanity, but from the systemic and cosmic point of view, or from the angle of its importance to a planetary Logos and a solar Logos. Hence it is a fact that this event was not only the result of the taking of a minor initiation by our Earth Logos, but in the Venus scheme it was signalised by the taking of a major initiation by the Venusian planetary Logos on His fifth chain. In connection with a solar Logos it followed upon the stimulation of one of His centres and from the geometrical progression of the fire through the earlier mentioned Triangle.

Kế đến, cũng cần nhớ rằng khi xem xét vấn đề này, chúng ta phải cẩn thận nhìn nó không chỉ theo cách nó ảnh hưởng đến chính bầu hành tinh chúng ta và nhân loại hiện tại của nó, mà còn từ quan điểm hệ thống và vũ trụ, hay từ góc độ tầm quan trọng của nó đối với một Hành Tinh Thượng Đế và một Thái dương Thượng đế. Vì thế, sự kiện này không chỉ là kết quả của việc Địa Cầu Thượng đế của chúng ta nhận một điểm đạo nhỏ, mà trong hệ hành tinh Sao Kim nó còn được báo hiệu bằng việc Hành Tinh Thượng Đế Kim tinh nhận một điểm đạo lớn trên dãy thứ năm của Ngài. Liên hệ với một Thái dương Thượng đế, nó tiếp theo sau sự kích thích một trong các trung tâm của Ngài và từ sự tiến triển theo cấp số nhân của lửa qua Tam giác đã được nhắc đến trước đó.

It has been stated that one hundred and four Kumaras came from Venus to the Earth; literally the figure is one hundred and five, when the synthesising Unit, the Lord of the World Himself, is counted as one. There remain still with Him the three Buddhas of Activity. I would call attention to the dual significance of that name, “Buddha of Activity,” bearing out, as it does, the reality of the fact that Entities at Their stage of evolution are active love-wisdom and embody in Themselves the two aspects. The three Buddhas of activity have a correspondence to the three persons of the Trinity.

Đã có lời nói rằng một trăm lẻ bốn Kumara đã đến từ Sao Kim đến Trái Đất; theo nghĩa đen con số là một trăm lẻ năm, khi Đơn Vị tổng hợp, chính Đức Chúa Tể Thế Giới, được tính là một. Vẫn còn ở lại với Ngài là ba Đức Phật Hoạt Động. Tôi muốn lưu ý đến ý nghĩa nhị nguyên của danh xưng ấy, “Đức Phật Hoạt Động,” vì nó xác nhận tính chân thực của sự kiện rằng các Thực Thể ở giai đoạn tiến hoá của Các Ngài là Bác Ái – Minh Triết năng động và hiện thân trong chính Các Ngài hai phương diện ấy. Ba Đức Phật Hoạt Động có một sự tương ứng với ba ngôi của Tam Vị.

These Entities are divided into three groups of thirty-five each, and in Themselves embody the three major centres of the planetary Logos, those three groups which we know as the “three departments,” for it should be emphasised that each department forms a centre: [Page 388]

Các Thực Thể này được chia thành ba nhóm, mỗi nhóm ba mươi lăm vị, và trong chính Các Ngài hiện thân ba trung tâm chính của Hành Tinh Thượng Đế, ba nhóm mà chúng ta biết là “ba ban”, vì cần nhấn mạnh rằng mỗi ban tạo thành một trung tâm: [Page 388]

a.

The Head centre

The Ruling Department

b.

The Heart centre

The Teaching Department

c.

The Throat centre

The Mahachohan’s Department. This centre synthesises the lesser four, just as the third Ray synthesises the minor four.

These Kumaras (or Their present substitutes) can also be divided into the seven groups which correspond to the seven Rays, and are in Themselves the life of the centre for which They stand. Fifteen, therefore, of these Entities (again the ten and the five) form a centre in the body of the planetary Logos, and the three Kumaras about Whom we are told (Who in Themselves are fivefold, making the fifteen) are the entifying Lives of the particular centre which is involved in the coming Initiation of the Heavenly Man, and to which the human units at this time, and during this greater cycle, belong.

Các Kumara này (hay những vị thay thế hiện tại của Các Ngài) cũng có thể được chia thành bảy nhóm tương ứng với bảy cung, và tự thân Các Ngài là sự sống của trung tâm mà Các Ngài đại diện. Vì vậy, mười lăm Thực Thể này (một lần nữa là mười và năm) tạo thành một trung tâm trong thân thể của Hành Tinh Thượng Đế, và ba Kumara mà chúng ta được biết đến (Đấng tự thân là ngũ phân, thành ra mười lăm) là các Sự Sống phú thể của trung tâm đặc thù có liên quan đến cuộc điểm đạo sắp đến của Đấng Thiên Nhân, và là trung tâm mà các đơn vị nhân loại hiện nay, và trong đại chu kỳ này, thuộc về.

Another fact that should be noted about these great Beings is, that when viewed in Their seven groups, They form:

Một sự kiện khác cần lưu ý về các Đấng vĩ đại này là, khi được xem trong bảy nhóm của Các Ngài, Các Ngài tạo thành:

a. Focal points for the force or influence emanating from the other solar centres or schemes.

a. Các tiêu điểm cho mãnh lực hay ảnh hưởng phát ra từ các trung tâm thái dương hay các hệ hành tinh khác.

b. The seven divisions of the occult Hierarchy.

b. Bảy phân bộ của Thánh đoàn huyền bí.

They exist, as does the Heavenly Man Himself, in etheric matter, and are literally great Wheels, or centres of living Fire, manasic and electric fire; They vitalise the body of the Heavenly Man and hold all together as an objective whole. They make a planetary triangle within the chain, and each of Them vitalises one globe.

Các Ngài hiện hữu, cũng như chính Đấng Thiên Nhân, trong vật chất dĩ thái, và theo nghĩa đen là những Bánh Xe vĩ đại, hay những trung tâm của Lửa sống, lửa manas và Lửa Điện; Các Ngài tiếp sinh lực cho thân thể của Đấng Thiên Nhân và giữ mọi sự lại với nhau như một toàn thể khách quan. Các Ngài tạo thành một tam giác hành tinh bên trong dãy, và mỗi vị trong Các Ngài tiếp sinh lực cho một bầu hành tinh.

It is not permitted at this stage to state, for exoteric publication:

Ở giai đoạn này, không được phép công bố ra bên ngoài rằng:

Which Ray, or logoic emanation is embodied by our planetary Logos. [Page 389]

Cung nào, hay phát xạ logoi nào được Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta hiện thân. [Page 389]

Which centre in the solar system is called the Earth scheme.

Trung tâm nào trong hệ mặt trời được gọi là hệ Địa Cầu.

Which scheme is our polar opposite, or which Heavenly Man is most closely allied to ours.

Hệ hành tinh nào là đối cực của chúng ta, hay Đấng Thiên Nhân nào liên kết mật thiết nhất với Đấng của chúng ta.

Which particular centre in the body of the planetary Logos He is at present endeavouring to vitalise.

Trung tâm đặc thù nào trong thân thể của Hành Tinh Thượng Đế mà hiện nay Ngài đang nỗ lực tiếp sinh lực.

These points are, as may be inferred, too dangerous to impart, and those students whose intuition suffices to attain the information will see for themselves the necessity for silence.

Như có thể suy ra, các điểm này quá nguy hiểm để truyền đạt, và những đạo sinh nào có trực giác đủ để đạt được thông tin ấy sẽ tự mình thấy được sự cần thiết của im lặng.

c. A Prophecy. We might now, prior to continuing with our subject, name the different chains of the Earth scheme. We must bear carefully in mind the fact that these are simply names, affixed to the chains and globes for the sake of clarity. As this subject is more widely studied it will inevitably be found advisable to call the chains by their numbers, and to drop the names as at present used:

c. Một lời tiên tri. Giờ đây, trước khi tiếp tục chủ đề của chúng ta, chúng ta có thể nêu tên các dãy khác nhau của hệ Địa Cầu. Chúng ta phải cẩn thận ghi nhớ sự kiện rằng đây chỉ đơn thuần là những tên gọi, được gán cho các dãy và các bầu hành tinh vì mục đích rõ ràng. Khi chủ đề này được nghiên cứu rộng rãi hơn, tất yếu sẽ thấy rằng nên gọi các dãy bằng số của chúng, và bỏ các tên hiện đang dùng:

1. Neptune.

1. Sao Hải Vương.

2. Venus.

2. Sao Kim.

3. Saturn.

3. Sao Thổ.

4. Earth.

4. Trái Đất.

5. Mercury.

5. Sao Thủy.

6. Mars.

6. Sao Hỏa.

7. Jupiter.

7. Sao Mộc.

It is necessary here to take the opportunity to sound a note of warning to students in connection with the charts which have been inserted in the Treatise.

Ở đây cần nhân cơ hội này để lên tiếng cảnh báo các đạo sinh liên quan đến các biểu đồ đã được đưa vào bộ Luận.

They depict only one cycle in logoic evolution, and cover only the present greater period in the working out of which we are engaged. They might be roughly described as embracing that period in the system which began for us in the middle of the third root-race of this round and continues until the period called “the Judgment” [Page 390] in the coming fifth round. When that time comes our planetary Logos will have attained the initiation which is His present goal; the fifth round of the Venusian scheme will be closing, and the Venus scheme will begin to pass into obscuration, preparatory to transferring her life to the synthesising planet with which she is connected; Mercury will be reaching the apotheosis of achievement, and with Mars and the Earth, will form a systemic triangle. We are speaking here of schemes and not of chains.

Chúng chỉ mô tả một chu kỳ trong tiến hoá logoi, và chỉ bao quát đại thời kỳ hiện tại mà chúng ta đang tham dự vào sự triển khai của nó. Có thể mô tả đại khái rằng chúng bao gồm thời kỳ trong hệ bắt đầu đối với chúng ta vào giữa giống dân gốc thứ ba của cuộc tuần hoàn này và tiếp tục cho đến thời kỳ được gọi là “Phán Xét” [Page 390] trong cuộc tuần hoàn thứ năm sắp đến. Khi thời điểm ấy đến, Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta sẽ đạt được điểm đạo vốn là mục tiêu hiện tại của Ngài; cuộc tuần hoàn thứ năm của hệ Sao Kim sẽ khép lại, và hệ Sao Kim sẽ bắt đầu đi vào sự lu mờ, để chuẩn bị chuyển sự sống của nó sang hành tinh tổng hợp mà nó có liên hệ; Sao Thủy sẽ đạt đến đỉnh cao thành tựu, và cùng với Sao Hỏa và Trái Đất, sẽ tạo thành một tam giác hệ thống. Ở đây chúng ta đang nói về các hệ hành tinh chứ không phải các dãy.

We must recognise another triangle within the Earth scheme, of the chains called “the Earth chain,” the Venus chain, and the Mercurian chain, but this triangle entirely concerns the centres of the planetary Logos of our scheme. A systemic formation of great importance in the next round should be pointed out which will bring three schemes:

Chúng ta phải nhận ra một tam giác khác bên trong hệ Địa Cầu, gồm các dãy được gọi là “dãy Địa Cầu”, dãy Sao Kim, và dãy Sao Thủy, nhưng tam giác này hoàn toàn liên quan đến các trung tâm của Hành Tinh Thượng Đế của hệ chúng ta. Cần chỉ ra một cấu trúc hệ thống rất quan trọng trong cuộc tuần hoàn kế tiếp, cấu trúc này sẽ đưa ba hệ hành tinh:

The Earth scheme,

Hệ Địa Cầu,

Mars,

Sao Hỏa,

Mercury,

Sao Thủy,

into such a position in relation to each other that the following results will eventuate:

vào một vị trí tương quan với nhau đến mức các kết quả sau đây sẽ xảy ra:

1. A systemic triangle will be formed.

1. Một tam giác hệ thống sẽ được hình thành.

2. Logoic kundalini will circulate freely between these three points.

2. kundalini logoi sẽ lưu chuyển tự do giữa ba điểm này.

3. A certain great logoic centre will be vitalised and the attention of logoic kundalini will pass from the present triangle in process of forming (the Earth, Venus, and a scheme whose name it is advisable to withhold) to the other.

3. Một trung tâm logoi vĩ đại nào đó sẽ được tiếp sinh lực và sự chú ý của kundalini logoi sẽ chuyển từ tam giác hiện đang trong tiến trình hình thành (Trái Đất, Sao Kim, và một hệ hành tinh mà nên giữ kín tên) sang tam giác kia.

4. An entirely new group of human beings will sweep into incarnation in our Earth scheme. Three fifths of the present humanity, being on the Probationary Path, or the Path of Initiation, at that time, will have their centre of consciousness definitely on the mental plane [Page 391] whilst two fifths will remain focussed on the astral. These two fifths will pass into temporary pralaya, preparatory to their transference to another scheme, as the Earth scheme will no longer provide for them an adequate place of nurture.

4. Một nhóm nhân loại hoàn toàn mới sẽ ào vào lâm phàm trong hệ Địa Cầu của chúng ta. Ba phần năm nhân loại hiện nay, vào thời điểm đó đang ở trên Con Đường Dự Bị, hay Con Đường Điểm Đạo, sẽ có trung tâm tâm thức của họ dứt khoát ở trên cõi trí [Page 391] trong khi hai phần năm sẽ vẫn tập trung trên cõi cảm dục. Hai phần năm này sẽ đi vào giai kỳ qui nguyên tạm thời, để chuẩn bị cho sự chuyển sang một hệ hành tinh khác, vì hệ Địa Cầu sẽ không còn cung cấp cho họ một nơi nuôi dưỡng thích hợp nữa.

5. Entities will come in from Mars to the Earth scheme, and will there find their necessary field of endeavour.

5. Các Thực Thể sẽ từ Sao Hỏa đi vào hệ Địa Cầu, và tại đó sẽ tìm thấy lĩnh vực nỗ lực cần thiết của họ.

6. Mercurian life will begin to synthesise, and to be transferred to its synthesising planet. In the case of Mercury this synthesising planet is not Saturn, but one of the other two higher major centres.

6. Sự sống Sao Thủy sẽ bắt đầu tổng hợp, và được chuyển sang hành tinh tổng hợp của nó. Trong trường hợp của Sao Thủy, hành tinh tổng hợp này không phải là Sao Thổ, mà là một trong hai trung tâm lớn cao hơn kia.

7. The “Judgment Day” in the fifth round, or the point of attainment of our Heavenly Man, will see a period of planetary strife on mental Ievels which will cause the present world unrest to seem as nothing. As pointed out earlier, this present struggle has been to test the ability of the entities within the present human forms to appreciate their mental forces, and through the power of MIND to transcend feeling, or pain. The struggle in the fifth round will be between higher and lower mind, and the battle ground will be the causal body. (138) The [Page 392] struggle now being waged on the planet is between a few Egos (or the leaders of the many races who are necessarily in place and position owing to their egoic polarisation) and many personalities, who are swept into the vortex through group association; it is necessarily terrific, and forces the destruction of the form. The struggle in the fifth round, being on mental levels, will be between Egos and egoic groups, each working consciously, and with intellectual application, to bring about certain group results. It will result in the triumph (the ultimate triumph) of Spirit over matter, in the driving out of certain groups as yet unable to shake themselves free from the trammels of matter, and who prefer captivity to the life of the Spirit; it will mark the beginning of the obscuration of our scheme, and the gradual passing into pralaya, during the remaining two and a half rounds of our entire seven chains. It is an interesting occult fact that our Earth should now be in her fifth round, and paralleling the Venusian scheme, but the moon chain of our scheme saw a period of temporary retardation of the evolutionary process of our Heavenly Man; it resulted in a temporary slowing down of His activities, and caused “lost time,” if such an expression might reverently be permitted. The Lords of the Dark Face, or the inherent forces of matter for a time achieved success, and only the fifth round of our chain will see their ultimate defeat. The Venusian scheme also had its battleground, but the planetary Logos of that scheme overcame the antagonistic forces, triumphed over material forms, and was consequently in a position—when the right time came—to apply the needed stimulation or an [Page 393] increased fiery vibration to our Earth scheme. The fact that outside aid was called in during the third root-race of this chain, and that the evolution of manas brought about the individualisation, in physical form, of the Avatar, needs to be pondered on. The Divine Manasaputra, the Lord of the World, took form Himself through the driving impulse of manas, inherent in His nature, and in some mysterious way this was aided by another Heavenly Man of another scheme. His co-operation was required.

7. “Ngày Phán Xét” trong cuộc tuần hoàn thứ năm, hay điểm thành tựu của Đấng Thiên Nhân của chúng ta, sẽ chứng kiến một thời kỳ xung đột hành tinh trên các cấp độ trí tuệ khiến tình trạng bất an thế giới hiện nay trở nên không đáng kể. Như đã chỉ ra trước đây, cuộc đấu tranh hiện nay nhằm thử nghiệm khả năng của các thực thể bên trong các hình tướng nhân loại hiện tại trong việc đánh giá các mãnh lực trí tuệ của họ, và nhờ quyền năng của TRÍ TUỆ mà vượt lên trên cảm giác, hay đau đớn. Cuộc đấu tranh trong cuộc tuần hoàn thứ năm sẽ là giữa thượng trí và hạ trí, và chiến trường sẽ là thể nguyên nhân. (138) Cuộc[Page 392] đấu tranh hiện đang diễn ra trên hành tinh là giữa một số ít chân ngã (hay các lãnh đạo của nhiều nhân loại, những người tất yếu ở đúng chỗ và đúng vị trí do sự phân cực chân ngã của họ) và nhiều phàm ngã, những kẻ bị cuốn vào vòng xoáy qua sự liên kết nhóm; tất yếu nó rất khốc liệt, và buộc phải hủy diệt hình tướng. Cuộc đấu tranh trong cuộc tuần hoàn thứ năm, vì diễn ra trên các cấp độ trí tuệ, sẽ là giữa các chân ngã và các nhóm chân ngã, mỗi bên làm việc một cách hữu thức, và với sự vận dụng trí năng, để đem lại những kết quả nhóm nhất định. Nó sẽ dẫn đến sự chiến thắng (sự chiến thắng tối hậu) của tinh thần đối với vật chất, trong việc đẩy ra ngoài một số nhóm vẫn chưa thể tự giải thoát khỏi những trói buộc của vật chất, và những kẻ thích sự giam cầm hơn là sự sống của tinh thần; nó sẽ đánh dấu sự khởi đầu của sự lu mờ của hệ chúng ta, và sự dần dần đi vào giai kỳ qui nguyên, trong suốt hai cuộc tuần hoàn rưỡi còn lại của toàn bộ bảy dãy của chúng ta. Một sự kiện huyền bí thú vị là lẽ ra Trái Đất của chúng ta hiện nay phải ở trong cuộc tuần hoàn thứ năm của nó, song song với hệ Sao Kim, nhưng dãy Mặt Trăng của hệ chúng ta đã chứng kiến một thời kỳ trì hoãn tạm thời trong tiến trình tiến hoá của Đấng Thiên Nhân của chúng ta; điều đó dẫn đến sự chậm lại tạm thời trong các hoạt động của Ngài, và gây ra “thời gian bị mất”, nếu có thể kính cẩn cho phép dùng cách nói như vậy. Các Đấng của Khuôn Mặt Tối, hay các mãnh lực cố hữu của vật chất, trong một thời gian đã đạt được thành công, và chỉ đến cuộc tuần hoàn thứ năm của dãy chúng ta mới chứng kiến sự thất bại tối hậu của họ. Hệ Sao Kim cũng đã có chiến trường của nó, nhưng Hành Tinh Thượng Đế của hệ ấy đã vượt qua các mãnh lực đối kháng, chiến thắng các hình tướng vật chất, và do đó ở vào vị thế—khi thời điểm thích hợp đến—để áp dụng sự kích thích cần thiết hay một rung động hỏa tính gia tăng cho hệ Địa Cầu của chúng ta. Sự kiện rằng viện trợ từ bên ngoài đã được kêu gọi trong giống dân gốc thứ ba của dãy này, và rằng sự tiến hoá của manas đã đem lại sự biệt ngã hóa, trong hình tướng hồng trần, của Đấng Hoá Thân, là điều cần được suy ngẫm. Đấng Manasaputra Thiêng Liêng, Đức Chúa Tể Thế Giới, đã tự mình mang lấy hình tướng qua xung lực thúc đẩy của manas vốn cố hữu trong bản chất của Ngài, và theo một cách huyền nhiệm nào đó điều này đã được trợ giúp bởi một Đấng Thiên Nhân khác của một hệ hành tinh khác. Sự hợp tác của Ngài là điều cần thiết.[Page 393]

(138) The Causal Body.

(138) Thể nguyên nhân.

“This influence or force, or result, or whatever it may be called, of the antecedent actions of man, forms as it were a seed, from which germinates the plant, yielding good or bad fruit, to be eaten by him during his subsequent existence. (Vishnu Purana I, XIX, 5). This seed is technically called the Karana Sarira, the causal body (Paingala Upanishad II), as it is the cause of man’s enjoyment or suffering. This Karana Sarira is composed of the fifth Kosa (Anandamaya) of man and adheres to the soul so long as the soul remains enveloped in the gross or subtle body (Sthula or Sukshma Sarira); and vanishes entirely when the soul extricates itself from the trammels of the said two bodies; for then, the soul attains its primeval purity, and burns up as it were every trace of its combination with the body, including this causal body (Karana Sarira). This happens when the soul is prepared for final emancipation, Moksha. Till then, of course, the Karana Sarira, the seed, the result of prior actions, remains effective, and asserts a strong controlling influence over man’s actions.”—The Theosophist, Vol. VII, III, p. 59.

“Ảnh hưởng hay mãnh lực này, hay kết quả này, hay bất cứ điều gì có thể gọi như thế, của các hành động trước đó của con người, tạo thành như một hạt giống, từ đó nảy mầm cây, sinh ra quả lành hay dữ, để y ăn trong đời sống tiếp theo của mình. (Vishnu Purana I, XIX, 5). Hạt giống này về mặt kỹ thuật được gọi là Karana Sarira, thể nguyên nhân (Paingala Upanishad II), vì nó là nguyên nhân của sự hưởng thụ hay đau khổ của con người. Karana Sarira này được cấu thành từ Kosa thứ năm (Anandamaya) của con người và bám theo linh hồn chừng nào linh hồn còn bị bao bọc trong thể thô hay thể vi tế (Sthula hay Sukshma Sarira); và hoàn toàn biến mất khi linh hồn tự giải thoát khỏi những trói buộc của hai thể nói trên; vì khi ấy, linh hồn đạt đến sự thanh khiết nguyên sơ của nó, và như thiêu hủy mọi dấu vết của sự kết hợp của nó với thể, kể cả thể nguyên nhân này (Karana Sarira). Điều này xảy ra khi linh hồn được chuẩn bị cho sự giải thoát cuối cùng, Moksha. Cho đến lúc đó, dĩ nhiên, Karana Sarira, hạt giống, kết quả của các hành động trước đó, vẫn còn hiệu lực, và khẳng định một ảnh hưởng kiểm soát mạnh mẽ lên các hành động của con người.”—The Theosophist, Tập VII, III, tr. 59.

“An ordinary person will by Vasana (Aroma or smell) repeat (In Jagra, the waking state) the old story dreamt in a dream that has passed way. So also will he, who, investigating the true nature of the self has attained to real knowledge, express himself and still will never become Chidabhasa (chidabhasa is the reflection of atma in the Karana Sarira, which is the vehicle of ignorance). He who has become a celestial being will nevertheless be called ‘man’ till the causal body that has already died (by the birth of Pragna, or wisdom) is completely consumed by the predominant fire of wisdom.”—Kaivalyanavanita, Part II, 31.

“Một người bình thường do Vasana (Hương hay mùi) sẽ lặp lại (trong Jagra, trạng thái thức) câu chuyện cũ đã mơ trong một giấc mơ đã qua. Cũng vậy, người nào, bằng cách khảo cứu bản chất chân thực của tự ngã, đã đạt đến tri thức chân chính, sẽ biểu lộ chính mình và vẫn sẽ không bao giờ trở thành Chidabhasa (chidabhasa là sự phản chiếu của atma trong Karana Sarira, vốn là vận cụ của vô minh). Người đã trở thành một thiên nhân tuy vậy vẫn sẽ được gọi là ‘người’ cho đến khi thể nguyên nhân đã chết rồi (do sự sinh ra của Pragna, hay minh triết) bị thiêu hủy hoàn toàn bởi ngọn lửa minh triết trội vượt.”—Kaivalyanavanita, Phần II, 31.

“By the rarest fire of True Wisdom the body of avidya (i.e. the causal body) will be reduced to ashes.”—Kaivalyanavanita, Part I, 98.

“Bởi ngọn lửa cực hiếm của Chân Minh Triết, thể của avidya (tức thể nguyên nhân) sẽ bị thiêu thành tro.”—Kaivalyanavanita, Phần I, 98.

Copied from The Theosophist, Vol. VIII. (back)

Sao chép từ The Theosophist, Tập VIII. (back)

d. Summation. We have been studying the origin of manas, and we saw first, that it is the active will, intelligently applied, of an Entity, and then that this active intelligent will affects all lesser lives in cyclic evolution within the Body of that particular actively willing Existence. This is true of all Beings from the Logos downwards. Perhaps in summing up it might be expressed thus:

d. Tổng kết. Chúng ta đã nghiên cứu nguồn gốc của manas, và trước hết đã thấy rằng nó là ý chí hoạt động, được áp dụng một cách thông minh, của một Thực Thể, rồi sau đó thấy rằng ý chí thông minh hoạt động này tác động đến mọi sự sống nhỏ hơn trong tiến hoá theo chu kỳ bên trong Thể của Sự Tồn Tại có ý chí hoạt động đặc thù ấy. Điều này đúng với mọi Đấng từ Logos trở xuống. Có lẽ khi tổng kết có thể diễn đạt như sau:

The originating source of manasic activity in a solar system is that great cosmic Entity Who embodies our solar Logos as a centre in His Body along with six other solar Logoi Who are, in Their totality, His seven centres.

Nguồn gốc khởi phát của hoạt động manas trong một hệ mặt trời là Thực Thể vũ trụ vĩ đại đang hiện thân cho Thái dương Thượng đế của chúng ta như một trung tâm trong Thể của Ngài cùng với sáu Thái dương Thượng đế khác, những Đấng trong tổng thể của Các Ngài là bảy trung tâm của Ngài.

The originating source of manasic activity in the planetary schemes is that cosmic Entity we call the solar Logos. He is the active, directing Intelligence Who is working with definite purpose through His seven centres.

Nguồn gốc khởi phát của hoạt động manas trong các hệ hành tinh là Thực Thể vũ trụ mà chúng ta gọi là Thái dương Thượng đế. Ngài là Trí Tuệ hoạt động, chỉ đạo, đang làm việc với mục đích xác định qua bảy trung tâm của Ngài.

The originating source of the manasic principle in a planetary scheme is that lesser cosmic Entity Whom we call a planetary Logos. He works through His seven chains as does the Logos through His seven planetary centres. It is interesting here to note that when the solar Logos is being manasically impelled to work out some purpose of His greater Source (THE ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID) He may cause a vivification in one or other of His centres according to the purpose in view. This occurred in the forming of the triangle of which Earth and Venus are two points, and (affecting [Page 394] the Heavenly Men of these two schemes) stimulated Them to take initiation, and led the planetary Logos of our scheme to form a lesser triangle within His sphere of activity, which triangle eventuated in His taking a lesser initiation, and in the manasic impregnation of animal man. Thus were swept into objective activity that group of monads who go to the composition of a particular centre.

Nguồn gốc khởi phát của nguyên khí manas trong một hệ hành tinh là Thực Thể vũ trụ nhỏ hơn mà chúng ta gọi là Hành Tinh Thượng Đế. Ngài làm việc qua bảy dãy của Ngài cũng như Logos làm việc qua bảy trung tâm hành tinh của Ngài. Ở đây thật thú vị khi lưu ý rằng khi Thái dương Thượng đế đang được thúc đẩy một cách manas để thực hiện một mục đích nào đó của Nguồn Gốc lớn lao hơn của Ngài (ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ) thì Ngài có thể gây ra một sự làm sống động trong trung tâm này hay trung tâm khác của Ngài tùy theo mục đích được nhắm đến. Điều này đã xảy ra trong việc hình thành tam giác mà Trái Đất và Sao Kim là hai điểm, và (tác động đến [Page 394] các Đấng Thiên Nhân của hai hệ này) đã kích thích Các Ngài nhận điểm đạo, và dẫn Hành Tinh Thượng Đế của hệ chúng ta đến chỗ hình thành một tam giác nhỏ hơn bên trong khối cầu hoạt động của Ngài, tam giác này đã đưa đến việc Ngài nhận một điểm đạo nhỏ hơn, và đến sự thụ thai manas của người thú. Như thế, nhóm chân thần cấu thành một trung tâm đặc thù đã được cuốn vào hoạt động khách quan.

Similarly, and microcosmically, a human being is the manasic incentive and the origin of active, intelligent will to all the cells within his threefold body,—astral, mental and physical. His is the directing intelligence, and his the source of all action and endeavour within his periphery, and, like his greater corresponding spheres, a solar Logos and a planetary Logos, he works through seven centres.

Tương tự như vậy, và ở cấp vi mô, một con người là động lực manas và là nguồn gốc của ý chí hoạt động, thông minh đối với mọi tế bào bên trong thể tam phân của y,—cảm dục, trí tuệ và hồng trần. Y là trí tuệ chỉ đạo, và của y là nguồn gốc của mọi hành động và nỗ lực bên trong chu vi của y, và, giống như các khối cầu tương ứng lớn hơn của y, một Thái dương Thượng đế và một Hành Tinh Thượng Đế, y làm việc qua bảy trung tâm.

Thus we have traced the origin of manas as far as it is possible to do at this time. The mystery of manas is hidden in existence itself, and holds the secret of life and conceals and veils those Entities Whose outstanding quality and characteristic it is. To the life of that little entity we call an atom in the physical body of a man, the Thinker in the causal body, his greater directing intelligence, is as obscure and unknown as the Logos is to the Thinker, Man, himself. The analogy is nevertheless accurate. (139) Man’s physical body, for instance, considering it [Page 395] as a corporate whole composed of many lesser lives, suffers or prospers as its directing Intelligence acts with wisdom-love or otherwise. The manasic principle actuates all that occurs within the man’s aura, and he suffers, or he makes progress, according to the application of that principle.

Như vậy, chúng ta đã truy nguyên nguồn gốc của manas xa đến mức có thể làm được vào lúc này. Huyền nhiệm của manas được che giấu trong chính sự tồn tại, và nắm giữ bí mật của sự sống, đồng thời che đậy và phủ màn những Thực Thể mà phẩm tính và đặc trưng nổi bật của Các Ngài chính là nó. Đối với sự sống của thực thể nhỏ bé mà chúng ta gọi là một nguyên tử trong thể xác của một con người, Nhà Tư Tưởng trong thể nguyên nhân, trí tuệ chỉ đạo lớn hơn của nó, cũng mờ tối và không được biết đến như Logos đối với chính Nhà Tư Tưởng là Con Người vậy. Tuy nhiên, sự tương đồng vẫn chính xác. (139) Chẳng hạn, thể xác của con người, nếu xét nó như một [Page 395] toàn thể hợp nhất gồm nhiều sự sống nhỏ hơn, sẽ chịu khổ hay hưng thịnh tùy theo Trí Tuệ chỉ đạo của nó hành động với bác ái-minh triết hay không. Nguyên khí manas thúc đẩy mọi điều xảy ra bên trong hào quang của con người, và y chịu khổ, hay tiến bộ, tùy theo sự áp dụng nguyên khí ấy.

(139) Forms.

(139) Các hình tướng.

The Atharva Veda, as the summation, instructs us in the principles which equally underlie the methods of the World-process, and of the atom-process—a world in miniature. Whether ‘World-process’ or ‘atom-process’ depends on the speaker and his point of view. As every mantra of this Veda reflects the operations of the World-process, so does it reveal to us cognition within cognition, memory within memory, power within power, world within world, fact within fact, action within action, duty within duty, sin within sin, individuality within individuality, ascending and descending from every point in space, endlessly, ceaselessly. Atoms make up molecules, molecules compounds, compounds cells, cells tissues, tissues organs, organs bodies, bodies communities; communities classes and races; classes and races kingdoms; kingdoms of many grades and varied linkings make up a planet, planets make up a solar system, solar systems a vaster system, and so on, unending; nowhere is found simplicity indivisible; nowhere complexity final. All is relative.—From Pranava-Vada, pp. 334-335. (back)

Bộ Atharva Veda, như một sự tổng kết, chỉ dạy cho chúng ta các nguyên lý vốn làm nền tảng như nhau cho các phương pháp của tiến trình thế giới và của tiến trình nguyên tử—một thế giới thu nhỏ. Là “tiến trình thế giới” hay “tiến trình nguyên tử” tùy thuộc vào người nói và quan điểm của người ấy. Cũng như mỗi mantra của bộ Veda này phản ánh các hoạt động của tiến trình thế giới, nó cũng mặc khải cho chúng ta nhận thức trong nhận thức, ký ức trong ký ức, quyền năng trong quyền năng, thế giới trong thế giới, sự kiện trong sự kiện, hành động trong hành động, bổn phận trong bổn phận, tội lỗi trong tội lỗi, cá thể tính trong cá thể tính, đi lên và đi xuống từ mọi điểm trong không gian, vô tận, không ngừng. Các nguyên tử tạo thành phân tử, các phân tử tạo thành hợp chất, các hợp chất tạo thành tế bào, các tế bào tạo thành mô, các mô tạo thành cơ quan, các cơ quan tạo thành thể, các thể tạo thành cộng đồng; các cộng đồng tạo thành giai cấp và nhân loại; các giai cấp và nhân loại tạo thành các giới; các giới với nhiều cấp độ và những mối liên kết đa dạng tạo thành một hành tinh, các hành tinh tạo thành một hệ mặt trời, các hệ mặt trời tạo thành một hệ thống rộng lớn hơn nữa, và cứ thế tiếp diễn, không cùng; không nơi nào tìm thấy sự đơn giản bất khả phân; không nơi nào có sự phức tạp tối hậu. Mọi sự đều tương đối.—Trích từ Pranava-Vada, tr. 334-335. (back)

So, reverently may the same be said of the body of the solar Logos, a system, and so may it be said of the planetary Logos and His scheme.

Vì vậy, với lòng kính cẩn, điều tương tự cũng có thể được nói về thân thể của Thái dương Thượng đế, một hệ thống, và cũng có thể nói như vậy về Hành Tinh Thượng Đế và hệ hành tinh của Ngài.

II. THE POSITION OF MANAS

II. VỊ TRÍ CỦA MANAS

Manas and Karma.

Manas và nghiệp quả.

Manas and Karmic purpose

Manas và mục đích nghiệp quả

1. Manas and Karma.

1. Manas và nghiệp quả.

Having seen that manas is the intelligent purpose of some Being, working out in active objectivity, and having touched upon the inter-relation existing between certain of these Entities, it may now be possible to vision—even if somewhat cursorily and dimly—the true position of the manasic principle in all three cases. The whole mystery of this principle is hidden in two fundamentals:

Sau khi thấy rằng manas là mục đích thông minh của một Đấng nào đó, được triển khai trong tính khách quan hoạt động, và sau khi đã chạm đến mối tương liên hiện hữu giữa một số Thực Thể này, giờ đây có lẽ có thể hình dung—dù phần nào sơ lược và mờ nhạt—vị trí thực sự của nguyên khí manas trong cả ba trường hợp. Toàn bộ huyền nhiệm của nguyên khí này được che giấu trong hai điều căn bản:

The mystery of the resolution of the six-pointed star, into the five-pointed star. (140) (141)

Huyền nhiệm của sự phân giải ngôi sao sáu cánh thành ngôi sao năm cánh. (140) (141)

(140) It might be of interest to note the correspondences between these six forces and the “shaktis” of the Hindu philosophy. The Secret Doctrine says that:—

(140) Có lẽ sẽ thú vị nếu lưu ý các tương ứng giữa sáu mãnh lực này và các “shakti” của triết học Ấn Độ. Giáo Lý Bí Nhiệm nói rằng:—

The Six are the six forces of Nature.

Sáu là sáu mãnh lực của Thiên Nhiên.

What are these six forces? See S. D., I, 312.

Sáu mãnh lực này là gì? Xem S. D., I, 312.

a. They are types of energy.

a. Chúng là các loại năng lượng.

b. They are the dynamic quality or characteristic of a planetary Logos.

b. Chúng là phẩm tính hay đặc trưng năng động của một Hành Tinh Thượng Đế.

c. They are the life force of a Heavenly Man directed in a certain direction.

c. Chúng là sinh lực của một Đấng Thiên Nhân được hướng theo một phương hướng nhất định.

These “shaktis” are as follows:—

Các “shakti” này như sau:—

1. Parashakti—Literally, the supreme force, energy and radiation in and from substance.

1. Parashakti—Theo nghĩa đen, mãnh lực tối thượng, năng lượng và phát xạ trong và từ chất liệu.

2. Jnanashakti—The force of intellect or mind.

2. Jnanashakti—Mãnh lực của trí năng hay trí tuệ.

3. Ichchhashakti—The power of will, or force in producing manifestation.

3. Ichchhashakti—Quyền năng của ý chí, hay mãnh lực trong việc tạo ra biểu hiện.

4. Kriyashakti—The force which materialises the ideal.

4. Kriyashakti—Mãnh lực hiện hình lý tưởng.

5. Kundalini shakti—The force which adjusts internal relations to the external.

5. Kundalini shakti—Mãnh lực điều chỉnh các tương quan bên trong với bên ngoài.

6. Mantrikashakti—The force latent in sound, speech and music.

6. Mantrikashakti—Mãnh lực tiềm ẩn trong âm thanh, lời nói và âm nhạc.

These six are synthesised by their Primary, the Seventh. (back)

Sáu điều này được tổng hợp bởi Cội Nguồn của chúng, điều thứ Bảy. (back)

(141) The Secret Doctrine says that:—

(141) Giáo Lý Bí Nhiệm nói rằng:—

It is on the Hierarchies and the correct number of these Entities that the mystery of the universe is built.

Chính trên các Huyền Giai và số lượng đúng đắn của các Thực Thể này mà huyền nhiệm của vũ trụ được xây dựng.

Ten--The line and the circle. The symbol of the Heavenly Men.—S. D., I, 117.

Mười--Đường thẳng và vòng tròn. Biểu tượng của các Đấng Thiên Nhân.—S. D., I, 117.

The ten are the arupa universe.... S. D., I, 125.

Mười là vũ trụ vô sắc.... S. D., I, 125.

The ten are manifested existence.... S. D., I, 467.

Mười là sự tồn tại biểu hiện.... S. D., I, 467.

The ten are sumtotal.... S. D., I. 428.

Mười là tổng thể.... S. D., I. 428.

Six—The six-pointed star. The subjective life and the objective form, overshadowed by Spirit.

Sáu—Ngôi sao sáu cánh. Sự sống chủ quan và hình tướng khách quan, được tinh thần phủ bóng.

The six are the six forces of nature.... S. D., I, 236.

Sáu là sáu mãnh lực của thiên nhiên.... S. D., I, 236.

The six Heavenly Men.... S. D., I, 402.

Sáu Đấng Thiên Nhân.... S. D., I, 402.

The six planes.... S. D., I, 236.

Sáu cõi.... S. D., I, 236.

Force or energy, matter or substance, and Spirit.

Mãnh lực hay năng lượng, vật chất hay chất liệu, và tinh thần.

The six are the double triangle.... S. D., I, 143.

Sáu là tam giác kép.... S. D., I, 143.

The six are the symbol of objectivity.... S. D., II, 625.

Sáu là biểu tượng của tính khách quan.... S. D., II, 625.

They are the deva aspect of manifestation.... S. D., I, 241.

Chúng là phương diện thiên thần của biểu hiện.... S. D., I, 241.

Five—This is the pentagon, the Makara, the five pointed Star. Compare S. D., I, 218, 219.

Năm—Đây là ngũ giác, Makara, Ngôi Sao năm cánh. So sánh S. D., I, 218, 219.

Five is the symbol of a planetary Logos.... S. D., II, 618.

Năm là biểu tượng của một Hành Tinh Thượng Đế.... S. D., II, 618.

Five is the symbol of the microcosm.... S. D., II, 608.

Năm là biểu tượng của tiểu thiên địa.... S. D., II, 608.