← A Treatise on Cosmic Fire

SECTION ONE. The Internal Fires - Fire by Friction

Trích nội dung chương

Each of the seven Lords, within Their seven schemes, adjusted to the second karmic circle, merge [Page 25] Their migrating spheres and blend Their myriad atoms. Mỗi Chúa Tể trong bảy hệ hành tinh của Các Ngài, được điều chỉnh theo vòng nghiệp quả thứ hai lớn hơn, hợp nhất [Page 25] các khối cầu di chuyển của Các Ngài và hòa trộn vô số nguyên tử của Các Ngài.


Each of the seven Lords, within Their seven schemes, adjusted to the second karmic circle, merge [Page 25] Their migrating spheres and blend Their myriad atoms.

Mỗi Chúa Tể trong bảy hệ hành tinh của Các Ngài, được điều chỉnh theo vòng nghiệp quả thứ hai lớn hơn, hợp nhất [Page 25] các khối cầu di chuyển của Các Ngài và hòa trộn vô số nguyên tử của Các Ngài.

The forms through which They work, the lesser million spheres, the cause of separation and the curse of the Asuras, shatter when sounds the Sacred Word within a point in time.

Các hình tướng mà qua đó Các Ngài hoạt động, hàng triệu khối cầu nhỏ hơn, nguyên nhân của sự phân ly và lời nguyền của các Asura, tan vỡ khi Linh từ Thiêng Liêng vang lên tại một thời điểm trong thời gian.

The life logoic surges out. The streams of colour melt together. The forms are left behind, and Parabrahm stands complete. The Lord of the cosmic Third utters a Word unknown. The sevenfold lesser Word forms part of the vaster chord.

Sự sống Thượng đế tuôn trào ra ngoài. Các dòng màu hòa tan vào nhau. Các hình tướng bị bỏ lại phía sau, và Parabrahm đứng trọn vẹn. Chúa Tể của Đấng Thứ Ba vũ trụ xướng ra một Linh từ chưa được biết đến. Linh từ thất phân nhỏ hơn tạo thành một phần của hợp âm bao la hơn.

The Now becomes the time that was. The aeon mergeth into space. The Word of Motion hath been heard. The Word of Love succeedeth. The Past controlled the form. The Now evolves the life. The Day that is to be sounds forth the Word of Power.

Hiện Tại trở thành thời gian đã qua. aeon hòa nhập vào không gian. Linh từ của Chuyển Động đã được nghe thấy. Linh từ của Tình thương tiếp nối. Quá Khứ kiểm soát hình tướng. Hiện Tại tiến hóa sự sống. Ngày Sắp Đến xướng lên Quyền năng từ.

The form perfected and the life evolved hold the third secret of the greater Wheel. It is the hidden mystery of living motion. The mystery, lost in the Now but known to the Lord of Cosmic Will.

Hình tướng được hoàn thiện và sự sống được tiến hóa nắm giữ bí mật thứ ba của Bánh Xe lớn hơn. Đó là huyền nhiệm ẩn kín của chuyển động sống động. Huyền nhiệm ấy bị mất trong Hiện Tại nhưng được Chúa Tể của Ý Chí Vũ Trụ biết đến.

STANZA IX

BÀI KỆ IX

[Page 26] The thirty thousand million Watchers refused to heed the call. “We enter not the forms,” they said, “until the seventh aeon.” The twice thirty thousand million hearkened to the call and took the forms designed.

[Page 26] Ba mươi ngàn triệu Đấng Quan Sát đã từ chối lưu tâm đến tiếng gọi. “Chúng ta không đi vào các hình tướng,” các Ngài nói, “cho đến aeon thứ bảy.” Sáu mươi ngàn triệu đã lắng nghe tiếng gọi và nhận lấy các hình tướng đã được thiết kế.

The rebellious ones laughed within themselves, and sought pralayic peace until the seventh aeon. But the seven great Lords called to the greater Chohans, and with the eternal Lhas of the third cosmic heaven entered into debate.

Những kẻ phản nghịch tự cười trong lòng, và tìm kiếm sự bình an pralaya cho đến aeon thứ bảy. Nhưng bảy Chúa Tể vĩ đại đã kêu gọi các Chohan cao cả hơn, và cùng với các Lha vĩnh cửu của cõi trời vũ trụ thứ ba bước vào cuộc nghị bàn.

The dictum then went forth. The laggards in the highest sphere heard it echo through the scheme. “Not till the seventh aeon, but at the fourteenth seventh will the chance again come round. The first shall be the last and time be lost for aeons.”

Khi ấy phán quyết được ban ra. Những kẻ chậm trễ trong khối cầu cao nhất nghe nó vang dội khắp hệ hành tinh. “Không phải cho đến aeon thứ bảy, mà đến lần thứ bảy của chu kỳ mười bốn thì cơ hội mới lại quay về. Kẻ đầu sẽ là kẻ cuối và thời gian sẽ mất đi trong nhiều aeon.”

The obedient Sons of Mind connected with the Sons of Heart, and evolution spiralled on its way. The Sons of Power stayed in their appointed place, though cosmic karma forced a handful to join the Sons of Heart.

Các Con của Trí Tuệ vâng phục đã kết nối với các Con của Tâm, và tiến hóa xoắn ốc trên đường đi của nó. Các Con của Quyền năng ở lại nơi đã được chỉ định cho mình, dù nghiệp quả vũ trụ buộc một số ít phải gia nhập các Con của Tâm.

At the fourteenth seventh aeon, the Sons of Mind and Heart, absorbed by endless flame, will join the Sons of Will, in manvantaric manifestation. Three times the wheel will turn.

Vào aeon thứ bảy của chu kỳ mười bốn, các Con của Trí Tuệ và Tâm, được hấp thụ bởi ngọn lửa vô tận, sẽ hợp nhất với các Con của Ý Chí, trong sự biểu hiện manvantara. Bánh xe sẽ quay ba lần.

At the centre stand the buddhas of activity, helped by the lords of love, and following their twofold work will come the radiant lords of power.

Tại trung tâm đứng các vị Phật của hoạt động, được các chúa tể của tình thương trợ giúp, và tiếp theo công việc nhị phân của các Ngài sẽ đến các chúa tể rạng ngời của quyền năng.

The buddhas of creation from out the past have [Page 27] come. The buddhas of love are gathering now. The buddhas of will at the final turn of the third major wheel will flash into being. The end will then be consummated.

Các vị Phật của sáng tạo từ quá khứ đã [Page 27] đến. Các vị Phật của tình thương hiện đang tụ hội. Các vị Phật của ý chí vào vòng quay cuối cùng của bánh xe lớn thứ ba sẽ lóe hiện vào hiện hữu. Khi ấy sự kết thúc sẽ được hoàn tất.

STANZA X

BÀI KỆ X

[Page 28] The Fifth progresseth and from the remnants of the Fourth multiplied and reproduced. The waters arose. All sank and was submerged. The sacred remnant, in the place appointed, emerged at later date from out the zone of safety.

[Page 28] Giống dân gốc thứ Năm tiến lên và từ những tàn dư của Giống dân gốc thứ Tư đã nhân lên và tái sinh sản. Nước dâng lên. Mọi sự chìm xuống và bị nhấn ngập. Phần tàn dư thiêng liêng, ở nơi đã được chỉ định, về sau xuất hiện từ vùng an toàn.

The waters dissipated. The solid ground emerged in certain destined places. The Fifth o’er-ran the Sacred Land, and in their fivefold groups developed the lower Fifth.

Nước tan đi. Đất rắn hiện ra ở một số nơi đã được định sẵn. Giống dân gốc thứ Năm tràn khắp Thánh Địa, và trong các nhóm ngũ phân của mình đã phát triển giống dân phụ thứ năm thấp hơn.

They passed from stage to stage. The watching Lords, recognising the rupas formed, gave a sign to the circulating Fourth and it speeded faster on its way. When the lesser Fifth had midway passed and all the lesser four were peopling the land, the Lords of Dark Intent arose. They said: “Not so shall go the force. The forms and rupas of the third and fourth, within the corresponding Fifth, approach too close the archetype. The work is far too good.”

Họ đi từ giai đoạn này sang giai đoạn khác. Các Chúa Tể quan sát, nhận ra các rupa đã được tạo thành, đã ra dấu cho Giống dân gốc thứ Tư đang tuần hoàn và nó tăng tốc nhanh hơn trên đường đi. Khi giống dân phụ thứ năm thấp hơn đã đi qua điểm ở giữa và tất cả bốn giống dân phụ thấp hơn đang cư trú trên đất, các Chúa Tể của Ý Định Hắc Ám trỗi dậy. Họ nói: “Mãnh lực sẽ không vận hành như thế. Các hình tướng và các rupa của giống dân thứ ba và thứ tư, bên trong giống dân thứ năm tương ứng, tiến quá gần nguyên mẫu. Công việc quá ư tốt đẹp.”

They constructed other forms. They called for cosmic fire. The seven deep pits of hell belched forth the animating shades. The incoming seventh reduced to order all the forms,—the white, the dark, the red, and shaded brown.

Họ kiến tạo những hình tướng khác. Họ kêu gọi lửa vũ trụ. Bảy vực sâu của địa ngục phun ra những bóng mờ được tiếp sinh lực. Đấng thứ bảy đi vào đã đưa tất cả các hình tướng vào trật tự,—trắng, đen, đỏ, và nâu sẫm.

The period of destruction extended far on either hand. The work was sadly marred. The Chohans of the highest plane gazed in silence on the work. The Asuras and the Chaitans, the Sons of Cosmic Evil, and the Rishis of the darkest constellations, [Page 29] gathered their lesser hosts, the darkest spawn of hell. They darkened all the space.

Thời kỳ hủy diệt kéo dài rất xa về cả hai phía. Công việc bị làm hư hại nặng nề. Các Chohan của cõi cao nhất lặng lẽ nhìn công việc. Các Asura và các Chaitan, các Con của Điều Ác Vũ Trụ, và các Rishi của những chòm sao tối tăm nhất, [Page 29] đã tập hợp các đạo quân nhỏ hơn của họ, bầy giống tối tăm nhất của địa ngục. Họ làm tối đen toàn bộ không gian.

* * * * *

* * * * *

From the coming of the heaven-sent One peace passed upon the earth. The planet staggered and belched forth fire. Part rose. Part fell. The form was changed. Millions took other forms or ascended to the appointed place of waiting. They tarried till the hour of progress should again sound forth for them.

Từ khi Đấng do trời sai đến, bình an giáng xuống địa cầu. Hành tinh chao đảo và phun lửa ra. Một phần trồi lên. Một phần sụp xuống. Hình tướng bị thay đổi. Hàng triệu sinh linh nhận lấy những hình tướng khác hoặc thăng lên nơi chờ đợi đã được chỉ định. Họ lưu lại đó cho đến khi giờ tiến bộ lại vang lên đối với họ.

* * * * *

* * * * *

The early Third produced the monsters, great beasts and evil forms. They prowled upon the surface of the sphere.

Giống dân gốc thứ Ba thời kỳ đầu đã tạo ra những quái vật, những thú lớn và những hình tướng xấu ác. Chúng lang thang trên bề mặt khối cầu.

The watery Fourth produced within the watery sphere, reptiles and spawn of evil fame, the product of their karma. The waters came and swept away the progenitors of the fluidic spawn.

Giống dân gốc thứ Tư thuộc nước đã tạo ra trong khối cầu nước những loài bò sát và giống nòi tai tiếng của điều ác, sản phẩm của nghiệp quả của chúng. Nước tràn đến và cuốn đi những tổ tiên của giống nòi lưu chất ấy.

The separating Fifth built in the rupa sphere the concrete forms of thought. They cast them forth. They peopled the lower four, and like a black and evil cloud shut out the light of day. The higher three were hid.

Giống dân gốc thứ Năm phân ly đã xây dựng trong khối cầu rupa những hình tư tưởng cụ thể. Họ phóng chúng ra ngoài. Họ cư trú trong bốn cõi thấp, và như một đám mây đen xấu ác che khuất ánh sáng ban ngày. Ba cõi cao hơn bị che giấu.

* * * * *

* * * * *

The war upon the planet had been waged. Both sides descended into hell. Then came the Conqueror of form. He drew on the Sacred Fire, and purified the rupa levels. The fire destroyed the lands in the days of the lesser Sixth.

Cuộc chiến trên hành tinh đã diễn ra. Cả hai phía đều sa xuống địa ngục. Rồi Đấng Chinh Phục hình tướng xuất hiện. Ngài vận dụng Lửa Thiêng và thanh lọc các cấp độ rupa. Lửa đã hủy diệt các vùng đất trong những ngày của giống dân phụ thứ sáu thấp hơn.

When the Sixth appeared the land was changed. The surface of the globe circled through another cycle. Men of the higher Fifth mastered the lower [Page 30] three. The work was shifted to the plane whereon the Pilgrim stood. The lesser triangle within the lower auric egg became the centre of cosmic dissonance.

Khi giống dân phụ thứ Sáu xuất hiện, đất đai đã thay đổi. Bề mặt của bầu hành tinh quay qua một chu kỳ khác. Những người nam và nữ của giống dân phụ thứ năm cao hơn đã chế ngự ba giống dân thấp hơn [Page 30] . Công việc được chuyển sang cõi nơi Người Hành Hương đứng. Tam giác nhỏ hơn bên trong noãn hào quang thấp hơn trở thành trung tâm của sự bất hòa vũ trụ.

STANZA XI

BÀI KỆ XI

[Page 31] The wheel of life turns within the wheel of outer form.

[Page 31] Bánh xe sự sống quay bên trong bánh xe của hình tướng bên ngoài.

The matter of Fohat circulateth, and its fire hardeneth all the forms. The wheel that is not glimpsed moveth in rapid revolution within the slower outer case, till it weareth out the form.

Chất liệu của Fohat tuần hoàn, và lửa của nó làm cứng mọi hình tướng. Bánh xe không được thoáng thấy chuyển động trong vòng quay nhanh chóng bên trong vỏ bọc bên ngoài chậm hơn, cho đến khi nó làm mòn hình tướng.

The forty-nine fires burn at the inner centre. The thirty-five circulating fiery vortices extend along the circle of the periphery. Between the two passeth in ordered sequence the various coloured flames.

Bốn mươi chín ngọn lửa cháy tại trung tâm bên trong. Ba mươi lăm xoáy lửa tuần hoàn trải dọc theo vòng tròn của chu vi. Giữa hai bên ấy đi qua theo trình tự có trật tự các ngọn lửa nhiều màu khác nhau.

The great Triangles in their just arrangement hold hid the secret of the wheel of life. The cosmic fire radiates as directed from the second sphere, controlled by the Ruler of the merging ray. The cohorts of the third encircling sphere in varied ranks mark out the lesser threes.

Các Tam Giác lớn trong sự sắp xếp đúng đắn của chúng cất giấu bí mật của bánh xe sự sống. Lửa vũ trụ bức xạ theo sự chỉ đạo từ khối cầu thứ hai, được kiểm soát bởi chủ tinh của cung đang hòa nhập. Các đoàn quân của khối cầu bao quanh thứ ba trong những hàng ngũ khác nhau vạch ra các bộ ba nhỏ hơn.

The wheel of life still moves within the form. The devas of the fourth connect the thirty-five, and blend them with the central forty-nine. Above they work, seeking to merge the whole. Upward they strive, who in their myriad forms revolve within the wheels of lesser magnitude. The whole is one, yet on the lower spheres only the forms appear. They seem in their divisions more than can be grasped or met.

Bánh xe sự sống vẫn chuyển động bên trong hình tướng. Các thiên thần của cõi thứ tư kết nối ba mươi lăm, và hòa trộn chúng với bốn mươi chín trung tâm. Phía trên, họ hoạt động, tìm cách hòa nhập toàn thể. Hướng lên trên, họ nỗ lực, những vị đang quay trong vô số hình tướng của mình bên trong các bánh xe có tầm mức nhỏ hơn. Toàn thể là một, tuy nhiên trên các khối cầu thấp hơn chỉ các hình tướng xuất hiện. Trong các phân chia của chúng, chúng dường như nhiều hơn mức có thể nắm bắt hay đối diện.

The many circulate. The forms are built, become too firm, are broken by the life, and circulate again. The few revolve, holding the many in the heat of motion. The one embraces all, and carries all from great activity into the heart of cosmic peace.

Số nhiều tuần hoàn. Các hình tướng được xây dựng, trở nên quá vững chắc, bị sự sống phá vỡ, rồi lại tuần hoàn. Số ít quay vòng, giữ số nhiều trong sức nóng của chuyển động. Đấng duy nhất ôm trọn tất cả, và mang tất cả từ hoạt động lớn lao vào trái tim của bình an vũ trụ.

STANZA XII

BÀI KỆ XII

[Page 32] The Blessed Ones hide Their threefold nature but reveal Their triple essence by means of the three great groups of atoms. Three are the atoms and threefold the radiation.

[Page 32] Các Đấng Chân Phúc che giấu bản chất tam phân của Các Ngài nhưng biểu lộ tinh túy bộ ba của Các Ngài bằng ba nhóm nguyên tử lớn. Ba là các nguyên tử và bức xạ là tam phân.

The inner core of Fire hides itself and is known only through radiation and that which radiates. Only after the blaze dies out and the heat is no longer felt can the fire be known.

Lõi bên trong của Lửa tự ẩn mình và chỉ được biết qua bức xạ và điều đang bức xạ. Chỉ sau khi ngọn lửa tắt đi và sức nóng không còn được cảm nhận nữa thì lửa mới có thể được biết.

STANZA XIII

BÀI KỆ XIII

[Page 33] Through the band of violet that encircleth the Heavens passeth the globe of purple dark. It passeth and returneth not. It becometh enrapt in the blue. Three times the blue enfoldeth, and when the cycle is completed the purple fadeth and is merged into the rose, and the path again is traversed.

[Page 33] Xuyên qua dải tím đang bao quanh các cõi trời, bầu hành tinh tím sẫm đi qua. Nó đi qua và không quay lại. Nó trở nên ngây ngất trong màu lam. Ba lần màu lam bao bọc, và khi chu kỳ hoàn tất, màu tím phai đi và hòa nhập vào màu hồng, rồi con đường lại được đi qua.

Three the great colours in the cycle that counteth as the fourth, violet, blue and rose, with the basic purple in revolution.

Ba là những màu lớn trong chu kỳ được tính là thứ tư, tím, lam và hồng, với màu tím nền tảng trong vòng quay.

Four are the colours secondary in the cycle of discrimination in which the revolution taketh place. It is circled to the midmost point and somewhat passed. Yellow the band that cometh, orange the cloud that hideth, and green for vivification. Yet the time is not yet.

Bốn là những màu thứ yếu trong chu kỳ của sự phân biện, trong đó vòng quay diễn ra. Nó được quay đến điểm giữa nhất và vượt qua đôi chút. Vàng là dải đang đến, cam là đám mây đang che giấu, và xanh lục là để tiếp sinh lực. Tuy nhiên, thời điểm vẫn chưa đến.

Many the circling fires; many the revolving rounds, but only when the complementary colours recognise their source, and the whole adjusteth itself to the seven will be seen completion. Then will be seen each colour in adjustment right, and the cessation of revolution.

Nhiều là các ngọn lửa tuần hoàn; nhiều là các cuộc tuần hoàn quay vòng, nhưng chỉ khi các màu bổ sung nhận ra nguồn gốc của chúng, và toàn thể tự điều chỉnh theo số bảy thì sự hoàn tất mới được thấy. Khi ấy sẽ thấy mỗi màu trong sự điều chỉnh đúng đắn, và sự chấm dứt của vòng quay.

SECTION ONE. The Internal Fires - Fire by Friction

PHẦN MỘT. Các Lửa Nội Tại - Lửa ma sát

INTRODUCTORY REMARKS

NHỮNG NHẬN XÉT MỞ ĐẦU

I. Fire in the Macrocosm.

I. Lửa trong Đại thiên địa.

II. Fire in the Microcosm.

II. Lửa trong Tiểu thiên địa.

III. Fire in manifestation.

III. Lửa trong biểu hiện.

[Page 37] We purpose in these few introductory remarks to lay down the foundation for a ‘Treatise on Cosmic Fire,’ and to consider the subject of fire both macrocosmically and microcosmically, thus dealing with it from the standpoint of the solar system, and of a human being. This will necessitate some preliminary technicalities which may seem at first perusal to be somewhat abstruse and complicated but which, when meditated upon and studied, may eventually prove illuminating and of an elucidating nature, and which also, when the mind has familiarised itself with some of the details, may come to be regarded as providing a logical hypothesis concerning the nature and origin of energy. We have elsewhere, in an earlier book, touched somewhat upon this matter, but we desire to recapitulate and in so doing to enlarge, thus laying down a broad foundation upon which the subject matter can be built up, and providing a general outline which will serve to show the limits of our discussion.

[Page 37] Trong vài nhận xét mở đầu này, chúng tôi dự định đặt nền tảng cho một ‘Luận về Lửa Vũ Trụ’, và xem xét chủ đề lửa cả theo phương diện đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa, như vậy bàn đến nó từ quan điểm của hệ mặt trời và của một con người. Điều này sẽ đòi hỏi một số điểm kỹ thuật sơ bộ, thoạt đọc có vẻ phần nào khó hiểu và phức tạp, nhưng khi được tham thiền và nghiên cứu, cuối cùng có thể chứng tỏ là soi sáng và có tính chất làm sáng tỏ; đồng thời, khi thể trí đã làm quen với một số chi tiết, chúng có thể được xem như cung cấp một giả thuyết hợp lý liên quan đến bản chất và nguồn gốc của năng lượng. Ở nơi khác, trong một quyển sách trước đây, chúng tôi đã phần nào đề cập đến vấn đề này, nhưng chúng tôi muốn tóm lược lại và khi làm như vậy sẽ mở rộng thêm, nhờ đó đặt ra một nền tảng rộng lớn để nội dung chủ đề có thể được xây dựng lên, đồng thời cung cấp một đại cương tổng quát nhằm cho thấy các giới hạn của cuộc bàn luận của chúng tôi.

Let us, therefore, look at the subject macrocosmically and then trace the correspondence in the microcosm, or human being.

Vì vậy, trước hết chúng ta hãy xem xét chủ đề theo phương diện đại thiên địa rồi truy tìm sự tương ứng trong tiểu thiên địa, hay con người.

I. FIRE IN THE MACROCOSM

I. LỬA TRONG ĐẠI THIÊN ĐỊA

In its essential nature Fire is threefold, but when in manifestation it can be seen as a fivefold demonstration, and be defined as follows: [Page 38]

Trong bản chất cốt yếu của nó, Lửa là tam phân, nhưng khi ở trong biểu hiện, nó có thể được thấy như một biểu lộ ngũ phân, và được định nghĩa như sau: [Page 38]

1. Fire by friction, or internal vitalising fire. These fires animate and vitalise the objective solar system. They are the sumtotal of logoic kundalini, when in full systemic activity.

1. Lửa ma sát, hay lửa tiếp sinh lực nội tại. Những ngọn lửa này làm linh hoạt và tiếp sinh lực cho hệ mặt trời khách quan. Chúng là tổng thể kundalini Thượng đế, khi ở trong hoạt động hệ thống trọn vẹn.

2. Solar Fire, or cosmic mental fire. This is that portion of the cosmic mental plane which goes to the animation of the mental body of the Logos. This fire may be regarded as the sumtotal of the sparks of mind, the fires of the mental bodies and the animating principle of the evolving units of the human race in the three worlds.

2. Lửa Thái dương, hay lửa trí tuệ vũ trụ. Đây là phần của cõi trí vũ trụ dùng để làm linh hoạt thể trí của Logos. Lửa này có thể được xem như tổng thể của các tia lửa trí tuệ, các ngọn lửa của các thể trí và nguyên khí làm linh hoạt của các đơn vị đang tiến hóa của nhân loại trong ba cõi thấp.

3. Electric Fire, or the logoic Flame Divine. This flame is the distinguishing mark of our Logos, and it is that which differentiates Him from all other Logoi; it is His dominant characteristic, and the sign of His place in cosmic evolution.

3. Lửa Điện, hay Ngọn Lửa Thiêng Thượng đế. Ngọn lửa này là dấu hiệu phân biệt của Logos của chúng ta, và chính nó phân biệt Ngài với tất cả các Logoi khác; đó là đặc tính trội vượt của Ngài, và là dấu hiệu về vị trí của Ngài trong tiến hóa vũ trụ.

This threefold fire may be expressed in ray terms as follows:

Lửa tam phân này có thể được diễn tả theo các thuật ngữ cung như sau:

First, we have the animating fires of the solar system, which are the fires of the primordial ray of active intelligent matter; these constitute the energy of Brahma, the third aspect of the Logos. Next are to be found the fires of the divine Ray of Love-Wisdom, the ray of intelligent love, which constitutes the energy of the Vishnu aspect, the second aspect logoic. (4) Finally are to be found [Page 39] the fires of the cosmic mental plane, which are the fires of the cosmic ray of will. They might be described as the rays of intelligent will and are the manifestation of the first aspect logoic, the Mahadeva aspect.(5) Therefore we have three cosmic rays manifesting:

Trước hết, chúng ta có các ngọn lửa làm linh hoạt của hệ mặt trời, là những ngọn lửa của cung nguyên sơ của vật chất hoạt động thông tuệ; chúng cấu thành năng lượng của Brahma, phương diện thứ ba của Logos. Kế đến là các ngọn lửa của Cung thiêng liêng Bác Ái – Minh Triết, cung của tình thương thông tuệ, cấu thành năng lượng của phương diện Vishnu, phương diện Thượng đế thứ hai. (4)Sau cùng là [Page 39] các ngọn lửa của cõi trí vũ trụ, là những ngọn lửa của cung vũ trụ của ý chí. Chúng có thể được mô tả như các cung của ý chí thông tuệ và là biểu hiện của phương diện Thượng đế thứ nhất, phương diện Mahadeva.(5) Vì vậy chúng ta có ba cung vũ trụ đang biểu hiện:

(4) “That whereinto all enter, vishanti, is Vishnu; he who covers up, envelopes, surrounds, undertakes all, is Brahma; he who sleeps, shete, in everything, is Shiva. Shiva sleeps, lies hidden, in all and everything as the nexus, the bond, and this is the nature of desire. Vrinite signifies the envelopment, the covering with an envelope, the demarcation of the limiting bounds or the periphery, and so the formation or creation (of all forms); and this is action presided over by Brahma. Vishanti sarvani indicates that all things enter into It and It into all, and such is the Self, connected with cognition and Vishnu. The summation or totality of these is Maha-Vishnu.

(4) “Cái mà mọi sự đi vào, vishanti, là Vishnu; đấng che phủ, bao bọc, vây quanh, đảm nhận mọi sự, là Brahma; đấng ngủ, shete, trong mọi sự, là Shiva. Shiva ngủ, ẩn tàng, trong mọi sự và mọi vật như mối nối, mối ràng buộc, và đó là bản chất của dục vọng. Vrinite có nghĩa là sự bao bọc, sự phủ bằng một lớp vỏ, sự phân định các giới hạn hay chu vi, và như vậy là sự hình thành hay sáng tạo (của mọi hình tướng); và đây là hành động do Brahma chủ trì. Vishanti sarvani chỉ rằng mọi sự đi vào Nó và Nó đi vào mọi sự, và đó là Bản Ngã, liên kết với nhận thức và Vishnu. Sự tổng hợp hay toàn thể của những điều này là Maha-Vishnu.

“Maha-Vishnu, ‘the overlord of all this world-system, is described as the Ishvara, white-coloured, four-armed, adorned with the conch, the discus, the mace, the lotus, the forest-wreath, and the kanstubha-gem, shining, vestured in blue and yellow, endless and imperishable in form, attributeless, yet ensouling and underlying all attributes. Here, the epithet Ishvara indicates the rule; the four arms, the four activities of cognition, etc.; the white resplendence is the illumination of all things; the shankha, conch or shell, indicates all sound, and the chakra, wheel or discus, all time, there being a connexion between the two; gada, the (whirling) mace, is the spiral method of the procession of the world and the lotus-flower is the whole of that procession; the vana-mala, the wreath of forest flowers, indicates the stringing together of all things into unity and necessity; the nila-pit-ambara, blue and yellow vestures, are darkness and light; the kaustubha jewel indicates inseparable connexion with all; Nirguna, attributeless, shows the presence of the nature of Negation; while saguna, attributeful, implies possession of name and form. The World-process (as embodied in our world-system) is the result of the ideation of Maha-Vishnu.”—Pranava-Vada, pp. 72-74, 94-95. (back)

“Maha-Vishnu, ‘vị chúa tể tối cao của toàn bộ hệ thống thế giới này, được mô tả là Ishvara, màu trắng, bốn tay, được trang sức bằng vỏ ốc, đĩa, chùy, hoa sen, vòng hoa rừng, và ngọc màu kanstubha, sáng chói, mặc y phục xanh và vàng, vô tận và bất hoại trong hình tướng, vô thuộc tính, nhưng phú linh và làm nền cho mọi thuộc tính. Ở đây, danh xưng Ishvara chỉ quyền cai quản; bốn cánh tay, bốn hoạt động của nhận thức, v.v.; sự rực sáng trắng là sự soi sáng của mọi sự; shankha, vỏ ốc hay vỏ sò, chỉ mọi âm thanh, và chakra, bánh xe hay đĩa, chỉ mọi thời gian, vì có một mối liên hệ giữa hai điều ấy; gada, cây chùy (xoay tròn), là phương pháp xoắn ốc của tiến trình thế giới và hoa sen là toàn bộ tiến trình ấy; vana-mala, vòng hoa rừng, chỉ sự kết chuỗi mọi sự thành hợp nhất và tất yếu; y phục nila-pit-ambara, xanh và vàng, là bóng tối và ánh sáng; ngọc kaustubha chỉ mối liên hệ bất khả phân với mọi sự; Nirguna, vô thuộc tính, cho thấy sự hiện diện của bản chất Phủ định; trong khi saguna, hữu thuộc tính, hàm ý sự sở hữu danh và sắc. Tiến trình Thế giới (như được thể hiện trong hệ thống thế giới của chúng ta) là kết quả của ý niệm hóa của Maha-Vishnu.”—Pranava-Vada, tr. 72-74, 94-95. (trở lại)

(5) Mahadeva is literally “great Deva.” The term is frequently applied to the first Person of the manifested Trinity, to Shiva, the Destroyer aspect, the Creator. (back)

(5) Mahadeva theo nghĩa đen là “đại Deva.” Thuật ngữ này thường được áp dụng cho Ngôi thứ nhất của Tam Vị biểu hiện, cho Shiva, phương diện Hủy Diệt, Đấng Sáng Tạo. (trở lại)

The Ray of intelligent activity. This is a ray of a very demonstrable glory, and of a higher point of development than the other two, being the product of an earlier mahakalpa, or a previous solar system. (6) It embodies [Page 40] the basic vibration of this solar system, and is its great internal fire, animating and vitalising the whole, and penetrating from the centre to the periphery. It is the cause of rotary motion, and therefore of the spheroidal form of all that exists.

Cung của hoạt động thông tuệ. Đây là một cung có vinh quang rất hiển nhiên, và ở một điểm phát triển cao hơn hai cung kia, vì là sản phẩm của một mahakalpa sớm hơn, hay một hệ mặt trời trước đây. (6) Nó thể hiện [Page 40] rung động căn bản của hệ mặt trời này, và là lửa nội tại lớn lao của nó, làm linh hoạt và tiếp sinh lực cho toàn thể, đồng thời xuyên thấu từ trung tâm đến chu vi. Nó là nguyên nhân của chuyển động xoay tròn, và do đó của hình cầu của mọi cái đang hiện hữu.

(6) “One day out of this long life of Brahma is called Kalpa; and a Kalpa is that portion of time which intervenes between one conjunction of all the planets on the horizon of Lanka, at the first point of Aries, and a subsequent similar conjunction. A Kalpa embraces the reign of fourteen Manus, and their sandhies (intervals); each Manu lying between two sandhies. Every Manu’s rule contains seventy-one Maha Yugas,—each Maha Yuga consists of four Yugas, viz., Krita, Treta, Dwapara, and Kali; and the length of each of these four Yugas is respectively as the numbers, 4, 3, 2 and 1.

(6) “Một ngày trong cuộc đời dài lâu này của Brahma được gọi là Kalpa; và một Kalpa là khoảng thời gian xen giữa một lần đồng vị của tất cả các hành tinh trên chân trời Lanka, tại điểm đầu tiên của Bạch Dương, và một lần đồng vị tương tự về sau. Một Kalpa bao gồm triều đại của mười bốn Manu, và các sandhi của các ngài (các khoảng gián đoạn); mỗi Manu nằm giữa hai sandhi. Sự cai quản của mỗi Manu gồm bảy mươi mốt Maha Yuga,—mỗi Maha Yuga gồm bốn Yuga, tức Krita, Treta, Dwapara, và Kali; và độ dài của mỗi Yuga trong bốn Yuga này lần lượt theo các số 4, 3, 2 và 1.

The number of sidereal years embraced in the foregoing different periods are as follows:

Số năm tinh tú bao gồm trong các thời kỳ khác nhau nói trên như sau:

Mortal years

360 days of mortals make a year

1

Krita Yuga contains

1,728,000

Treta Yuga contains

1,296,000

Dwapara Yuga contains

864,000

Kali Yuga contains

432,000

The total of the said four Yugas constitute a Maha Yuga

4,320,000

Seventy-one of such Maha Yugas form the period

of the reign of one Manu

306,720,000

The reign of 14 Manus embraces the duration of 994

Maha Yugas, which is equal to

4,294,080,000

Add Sandhis, i.e., intervals between the reign of each

Manu, which amount to 6 Maha Yugas, equal to

25,920,000

The total of these reigns and interregnums of 14

Manus, is 1,000 Maha Yugas, which constitute

a Kalpa, i.e., one day of Brahma, equal to

4,320,000,000

As Brahma’s night is of equal duration,

one day and night of Brahma will contain

8,640,000,000

360 of such days and nights make one year

of Brahma, equal to

3,110,400,000.000

100 of such years constitute the whole period

of Brahma’s age, i.e., Maha Kalpa

311,040,000,000,000

That these figures are not fanciful, but are founded upon astronomical facts, has been demonstrated by Mr. Davis, in an essay in the Asiatic Researches; and this receives further corroboration from the geological investigations and calculations made by Dr. Hunt, formerly President of the Anthropological Society, and also in some respects from the researches made by Professor Huxley.

Rằng các con số này không phải là tưởng tượng, mà dựa trên các sự kiện thiên văn, đã được ông Davis chứng minh trong một tiểu luận đăng trong Asiatic Researches; và điều này còn được xác nhận thêm bởi các khảo cứu và tính toán địa chất của Tiến sĩ Hunt, nguyên Chủ tịch Hội Nhân chủng học, và cũng phần nào bởi các nghiên cứu của Giáo sư Huxley.

Great as the period of the Maha Kalpa seems to be, we are assured that thousands and thousands of millions of such Maha Kalpas have passed, and as many more are yet to come. (Vide Brahma-Vaivarta and Bhavishyre Puranas; and Linga Purana, ch. 171, verse 107, &c.) and this in plain language means that the Time past is infinite and the Time to come is equally infinite. The Universe is formed, dissolved, and reproduced, in an indeterminate succession (Bhagavata-gita, VIII, 19).”—The Theosophist, Vol. VII, p. 115.5. (back)

Dù thời kỳ của Maha Kalpa có vẻ lớn lao đến đâu, chúng ta vẫn được bảo đảm rằng hàng ngàn và hàng ngàn triệu Maha Kalpa như thế đã trôi qua, và cũng còn bấy nhiêu nữa sẽ đến. (Xem Brahma-Vaivarta và Bhavishyre Purana; và Linga Purana, ch. 171, câu 107, v.v.) và điều này, nói một cách đơn giản, có nghĩa là Thời gian đã qua là vô hạn và Thời gian sắp đến cũng vô hạn như vậy. Vũ trụ được hình thành, tan rã, và tái tạo, trong một chuỗi tiếp nối bất định (Bhagavata-gita, VIII, 19).”—The Theosophist, Tập VII, tr. 115.5. (trở lại)

The Ray of intelligent love. This is the ray which embodies the highest vibration of which our solar Logos or Deity is capable in this present solar system. It is not yet vibrating adequately nor has it yet attained the peak of its activity. It is the basis of the cyclic spiral movement of the body logoic, and just as the Law of Economy is the law governing the internal fires of the system so the cosmic Law of Attraction and Repulsion is the basic law of this divine Ray.

Cung của tình thương thông tuệ. Đây là cung thể hiện rung động cao nhất mà Thái dương Thượng đế hay Thượng đế của chúng ta có khả năng đạt được trong hệ mặt trời hiện tại này. Nó vẫn chưa rung động đầy đủ, cũng chưa đạt đến đỉnh cao hoạt động của nó. Nó là nền tảng của chuyển động xoắn ốc theo chu kỳ của thể Thượng đế, và cũng như Định luật Tiết Kiệm là định luật chi phối các lửa nội tại của hệ thống, thì Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi vũ trụ là định luật căn bản của Cung thiêng liêng này.

The Ray of intelligent will. Little as yet can be said about this ray. It is the ray of cosmic mind and in its evolution parallels that of cosmic love, but as yet its vibration is slower and its development more retarded. This is definitely and deliberately so, and is due to the underlying purpose and choice of the solar Logos, Who seeks on His high level (just as do His reflections, the sons of men) to achieve a more rounded out development, [Page 41] and He therefore concentrates on the development of cosmic love in this greater cycle.

Cung của ý chí thông tuệ. Hiện nay còn rất ít điều có thể được nói về cung này. Đây là cung của trí tuệ vũ trụ và trong tiến hóa của nó song hành với tiến hóa của tình thương vũ trụ, nhưng hiện nay rung động của nó còn chậm hơn và sự phát triển của nó còn bị trì hoãn hơn. Điều này rõ ràng và có chủ ý là như vậy, và là do mục đích nền tảng cùng sự lựa chọn của Thái dương Thượng đế, Đấng tìm cách trên cấp độ cao của Ngài (cũng như các phản chiếu của Ngài, những người con của nhân loại, đang làm) đạt được một sự phát triển viên mãn hơn, [Page 41] và vì vậy Ngài tập trung vào sự phát triển của tình thương vũ trụ trong chu kỳ lớn hơn này.

This ray is governed by the Law of Synthesis, and is the basis of the systemic movement which may be best described as that of driving forward through space, or forward progression. Little can be predicated anent this ray and its expression. It controls the movements of the entire ring-pass-not in connection with its cosmic centre. (7)

Cung này được chi phối bởi Định luật Tổng Hợp, và là nền tảng của chuyển động hệ thống có thể được mô tả đúng nhất như là sự lao tới xuyên qua không gian, hay sự tiến triển về phía trước. Còn rất ít điều có thể được khẳng định liên quan đến cung này và biểu hiện của nó. Nó kiểm soát các chuyển động của toàn bộ vòng-giới-hạn trong mối liên hệ với trung tâm vũ trụ của nó. (7)

(7) The term “ring-pass-not” is used in occult literature to denote the periphery of the sphere of influence of any central life force, and is applied equally to all atoms, from the atom of matter as dealt with by the physicist or chemist through the human and planetary atoms up to the great atom of a solar system. The ring-pass-not of the average human being is the spheroidal form of his mental body which extends considerably beyond the physical and enables him to function on the lower levels of the mental plane. (back)

(7) Thuật ngữ “vòng-giới-hạn” được dùng trong văn liệu huyền bí học để chỉ chu vi của khối cầu ảnh hưởng của bất kỳ mãnh lực sự sống trung tâm nào, và được áp dụng đồng đều cho mọi nguyên tử, từ nguyên tử vật chất như nhà vật lý hay nhà hoá học đề cập đến, xuyên qua các nguyên tử nhân loại và hành tinh, cho đến đại nguyên tử của một hệ mặt trời. Vòng-giới-hạn của con người trung bình là hình cầu noãn của thể trí của y, mở rộng khá xa vượt ra ngoài thể xác và giúp y hoạt động trên các cấp thấp của cõi trí. (back)

The tabulation on page 42 may make the above ideas somewhat clearer.

Bảng liệt kê ở trang 42 có thể làm cho các ý tưởng trên phần nào rõ ràng hơn.

These three expressions of the divine Life may be regarded as expressing the triple mode of manifestation. First, the objective or tangible universe; second, the subjective worlds or form; and thirdly, the spiritual aspect which is to be found at the heart of all. (8) The internal fires that animate and vitalise shew themselves in a twofold manner: [Page 42]

Ba biểu hiện này của Sự sống thiêng liêng có thể được xem như biểu lộ phương thức biểu hiện tam phân. Thứ nhất, vũ trụ khách quan hay hữu hình; thứ hai, các thế giới chủ quan hay hình tướng; và thứ ba, phương diện tinh thần được tìm thấy nơi trung tâm của tất cả. (8) Các lửa nội tại làm sinh động và tiếp sinh lực biểu lộ theo cách nhị phân: [Page 42]

(8) 1. The Primordial is the Ray and the direct emanation of the Sacred Four. S. D, I, 115, 116.

(8) 1. Cái Nguyên Sơ là cung và là sự phát xạ trực tiếp của Bộ Bốn Thiêng Liêng. S. D, I, 115, 116.

The Sacred Four are:

Bộ Bốn Thiêng Liêng là:

Unity

Hợp nhất

a. Father... Mahadeva...1st Logos... Will... Spirit.

a. Cha... Mahadeva... Logos 1... Ý chí... Tinh thần.

Duality

Nhị nguyên tính

b. Son... Vishnu...2nd Logos... Love-Wisdom.

b. Con... Vishnu... Logos 2... Bác Ái – Minh Triết.

Trinity

Ba Ngôi

c. Mother... Brahma... 3rd Logos... Intelligent activity.

c. Mẹ... Brahma... Logos 3... Hoạt động thông tuệ.

Sacred Four

Bộ Bốn Thiêng Liêng

d. The united manifestation of the three—Macrocosm.

d. Biểu hiện hợp nhất của ba Đấng—Đại thiên địa.

2. The manifested Quaternary and the seven Builders proceed from the Mother.—S. D., I, 402.

2. Bộ Bốn biểu hiện và bảy đấng kiến tạo phát xuất từ Mẹ.—S. D., I, 402.

a. The seven Builders are the Manasaputras, the Mind-born sons of Brahma, the third aspect. S. D., III, 540.

a. Bảy đấng kiến tạo là các Manasaputras, các con sinh ra từ Trí của Brahma, phương diện thứ ba. S. D., III, 540.

b. They come into manifestation to develop the second aspect.

b. Các Ngài đi vào biểu hiện để phát triển phương diện thứ hai.

S. D., I., 108.

S. D., I., 108.

c. Their method is objectivity.

c. Phương pháp của Các Ngài là tính khách quan.

3. The re-awakened Energies sprang into space.

3. Các Năng Lượng được đánh thức trở lại phóng vào không gian.

a. They are the veiled synthesis. S. D., I, 362

a. Chúng là tổng hợp được che giấu. S. D., I, 362

b. They are the totality of manifestation. S. D., I, 470

b. Chúng là toàn thể biểu hiện. S. D., I, 470

c. They are pre-cosmic. S. D., I, 152, 470. (back)

c. Chúng là tiền vũ trụ. S. D., I, 152, 470. (back)

TABULATION I.

BẢNG LIỆT KÊ I.

Fire

Ray

Aspect

Expression

Law

Quality

1.

Internal

Primordial

Intelligent Activity

Rotary motion

Economy

Fire by friction

2.

Of Mind

Love

Intelligent Love

Spiral Cyclic motion

Attraction

Solar Fire.

3.

Divine Flame

Will

Intelligent Will.

Forward Progression

Synthesis

Electric Fire.

[Page 43] First as latent heat. This is the basis of rotary motion and the cause of the spheroidal coherent manifestation of all existence, from the logoic atom, the solar ring-pass-not, down to the minutest atom of the chemist or physicist.

[Page 43] Thứ nhất nhưnhiệt tiềm ẩn. Đây là nền tảng của chuyển động quay và là nguyên nhân của biểu hiện hình cầu kết hợp của mọi hiện hữu, từ nguyên tử logoi, vòng-giới-hạn mặt trời, xuống đến nguyên tử nhỏ nhất của nhà hoá học hay nhà vật lý.

Second, as active heat. This results in the activity and the driving forward of material evolution. On the highest plane the combination of these three factors (active heat, latent heat and the primordial substance which they animate) is known as the ‘sea of fire,’ of which akasha is the first differentiation of pregenetic matter. Akasha, in manifestation, expresses itself as Fohat, or divine Energy, and Fohat on the different planes is known as aether, air, fire, water, electricity, ether, prana and similar terms.(9),(10), (11) It is the sumtotal [Page 44] of that which is active, animated, or vitalized, and of all that concerns itself with the adaptation of the form to the needs of the inner flame of life.

Thứ hai, như nhiệt hoạt động. Điều này dẫn đến hoạt động và sự thúc đẩy tiến lên của tiến hoá vật chất. Trên cõi cao nhất, sự kết hợp của ba yếu tố này (nhiệt hoạt động, nhiệt tiềm ẩn và chất liệu nguyên sơ mà chúng làm sinh động) được gọi là “biển lửa”, trong đó akasha là sự biến phân đầu tiên của vật chất tiền sinh thành. Akasha, trong biểu hiện, tự biểu lộ như Fohat, hay Năng lượng thiêng liêng, và Fohat trên các cõi khác nhau được biết đến như aether, không khí, lửa, nước, điện, dĩ thái, prana và các thuật ngữ tương tự. (9), (10), (11) Nó là tổng thể [Page 44] của tất cả những gì hoạt động, được làm sinh động, hay được tiếp sinh lực, và của mọi điều liên quan đến việc thích ứng hình tướng với các nhu cầu của ngọn lửa sự sống bên trong.

(9) Akasha. Definition S. D., II, 538

(9) Akasha. Định nghĩa S. D., II, 538

It is the synthesis of ether S. D., I, 353, 354

Nó là tổng hợp của ether S. D., I, 353, 354

It is the essence of ether S. D., I, 366

Nó là tinh túy của ether S. D., I, 366

It is primordial ether S. D., I, 585

Nó là ether nguyên sơ S. D., I, 585

(10) H. P. B., defines the Akasha in the following terms: S. D., II, 538. “Akasha the astral Light can be defined in a few words: It is the Universal soul, the Matrix of the Universe, the Mysterium Magicum from which all that exists is born by separation or differentiation. In the various occult books it is called by different terms and it would be of value perhaps if we enumerate some of them here: There is one universal element with its differentiations.

(10) H. P. B. định nghĩa Akasha theo các thuật ngữ sau đây: S. D., II, 538. “Akasha, Ánh sáng cảm dục, có thể được định nghĩa bằng vài lời: Nó là đại hồn Vũ trụ, Mẫu thể của Vũ trụ, Mysterium Magicum mà từ đó mọi cái hiện hữu được sinh ra bằng sự phân ly hay biến phân. Trong các sách huyền bí học khác nhau, nó được gọi bằng những thuật ngữ khác nhau, và có lẽ sẽ hữu ích nếu chúng ta liệt kê một số thuật ngữ ấy ở đây: Có một nguyên tố vũ trụ duy nhất với các biến phân của nó.

Homogeneous

Differentiated.

1.

Undifferentiated cosmic substance

1.

Astral Light.

2.

Primordial ether

2.

Sea of fire.

3.

Primordial electric entity

3.

Electricity.

4.

Akasha

4.

Prakriti.

5.

Super-astral light

5.

Atomic matter.

6.

Fiery serpent

6.

The serpent of evil.

7.

Mulaprakriti

7.

Ether, with its four divisions, air, fire, water, earth. “

8.

Pregenetic matter.

(back)

(back)

(11) Fohat is divine thought or energy (Shakti) as manifested on any plane of the cosmos. It is the interplay between Spirit and matter. The seven differentiations of Fohat are:

(11) Fohat là tư tưởng hay năng lượng thiêng liêng (Shakti) như được biểu lộ trên bất kỳ cõi nào của vũ trụ. Nó là sự tương tác giữa tinh thần và vật chất. Bảy biến phân của Fohat là:

1.

The Plane of divine life

Adi

Sea of fire.

2.

The Plane of monadic life

Anupadaka

Akasha.

3.

The Plane of Spirit

Atma

Aether.

4.

The Plane of the intuition

Buddhi

Air.

5.

The Plane of mind

Mental

Fire.

6.

The Plane of desire

Astral

Astral Light.

7.

The Plane of density

Physical

Ether.

—S. D. I, 105, 134, 135, 136. (back)

—S. D. I, 105, 134, 135, 136. (back)

It might here be useful to point out that magnetism is the effect of the divine ray in manifestation in the same sense that electricity is the manifested effect of the primordial ray of active intelligence. It would be well to ponder on this for it holds hid a mystery.

Ở đây có lẽ hữu ích khi chỉ ra rằng từ điện là hiệu quả của tia thiêng liêng trong biểu hiện cũng theo cùng ý nghĩa như điện là hiệu quả biểu hiện của tia nguyên sơ của thông tuệ hoạt động. Sẽ là điều tốt nếu suy ngẫm về điều này vì trong đó ẩn giấu một huyền nhiệm.

The fires of the mental plane also demonstrate in a twofold manner:

Các lửa của cõi trí cũng biểu lộ theo cách nhị phân:

First, as the Fire of Mind, the basis of all expression and in one peculiar occult sense the sumtotal of existence. It provides the relation between the life and the form, between spirit and matter, and is the basis of consciousness itself.

Thứ nhất, như Lửa của Trí Tuệ, nền tảng của mọi biểu lộ và theo một ý nghĩa huyền bí đặc biệt là tổng thể của hiện hữu. Nó cung cấp mối liên hệ giữa sự sống và hình tướng, giữa tinh thần và vật chất, và là nền tảng của chính tâm thức.

Second, as the Elementals of Fire, or the sumtotal of the active expression of thought, showing itself through the medium of those entities who, in their very essence, are fire itself.

Thứ hai, như các hành khí của lửa, hay tổng thể của biểu lộ hoạt động của tư tưởng, tự cho thấy qua trung gian của những thực thể mà trong chính bản chất của chúng là lửa.

These dualities of expression make the four necessary factors in the logoic quaternary, (12) or the lower nature of the Logos viewing His manifestation from one esoteric angle; exoterically, they are the sumtotal of the logoic quaternary, plus the logoic fifth principle, cosmic mind.

Các nhị nguyên tính biểu lộ này tạo nên bốn yếu tố cần thiết trong bộ bốn logoi, (12) hay bản chất thấp của Logos khi nhìn biểu hiện của Ngài từ một góc độ huyền bí; theo ngoại môn, chúng là tổng thể của bộ bốn logoi, cộng với nguyên khí thứ năm của logoi, trí tuệ vũ trụ.

(12) The quaternary is composed of the four lower principles and the sheaths through which they manifest as a coherent unit, being held together during manifestation by the life force of the indwelling entity. (back)

(12) Bộ bốn được cấu thành bởi bốn nguyên khí thấp và các vỏ bọc qua đó chúng biểu lộ như một đơn vị kết hợp, được giữ lại với nhau trong thời kỳ biểu hiện bởi mãnh lực sự sống của thực thể nội tại. (back)

The divine spark does not as yet manifest (as do the other two fires) as a duality, though what lies hidden in a later cycle, evolution alone will disclose. This third fire, along with the other two, make the necessary five of logoic evolutionary development and by its perfected merging with the other two fires as the evolutionary process proceeds is seen the goal of logoic attainment for this greater cycle or period of this solar system.

Tia lửa thiêng liêng chưa biểu lộ (như hai lửa kia) thành một nhị nguyên tính, dù điều gì ẩn giấu trong một chu kỳ sau này thì chỉ có tiến hoá mới tiết lộ. Lửa thứ ba này, cùng với hai lửa kia, tạo nên bộ năm cần thiết của sự phát triển tiến hoá logoi, và qua sự hoà nhập hoàn hảo của nó với hai lửa kia khi tiến trình tiến hoá tiếp diễn, mục tiêu thành tựu logoi cho đại chu kỳ này hay thời kỳ này của hệ mặt trời được thấy rõ.

[Page 45] When the primordial ray of intelligent activity, the divine ray of intelligent love, and the third cosmic ray of intelligent will meet, blend, merge, and blaze forth, the Logos will take His fifth initiation, thus completing one of His cycles. When the rotary, the forward, and the spiral cyclic movements are working in perfect synthesis then the desired vibration will have been reached. When the three Laws of Economy, of Attraction, and of Synthesis work with perfect adjustment to each other, then nature will perfectly display the needed functioning, and the correct adaptation of the material form to the indwelling spirit, of matter to life, and of consciousness to its vehicle.

[Page 45] Khi tia nguyên sơ của hoạt động thông tuệ, tia thiêng liêng của bác ái thông tuệ, và tia vũ trụ thứ ba của ý chí thông tuệ gặp nhau, hòa trộn, hợp nhất và bùng cháy rực lên, Logos sẽ nhận lần điểm đạo thứ năm của Ngài, nhờ đó hoàn tất một trong các chu kỳ của Ngài. Khi các chuyển động quay, tiến tới và xoắn ốc tuần hoàn hoạt động trong sự tổng hợp hoàn hảo, thì rung động mong muốn sẽ đạt được. Khi ba Định luật Tiết Kiệm, Hấp Dẫn và Tổng Hợp hoạt động trong sự điều chỉnh hoàn hảo với nhau, thì bản chất sẽ biểu lộ một cách hoàn hảo sự vận hành cần thiết, và sự thích ứng đúng đắn của hình tướng vật chất với tinh thần nội tại, của vật chất với sự sống, và của tâm thức với vận cụ của nó.

II. FIRE IN THE MICROCOSM

II. LỬA TRONG TIỂU THIÊN ĐỊA

Let us briefly consider therefore the correspondence between the greater whole and the unit man and then block out our subject in detail and consider the sections into which it will be wise to divide it.

Vì vậy, chúng ta hãy ngắn gọn xem xét sự tương ứng giữa toàn thể lớn lao hơn và đơn vị con người, rồi phác thảo chủ đề của chúng ta một cách chi tiết và xem xét các phần mà sẽ là khôn ngoan nếu chia nó ra.

Fire in the Microcosm is likewise threefold in essence and fivefold in manifestation.

Lửa trong Tiểu thiên địa cũng tam phân trong bản chất và ngũ phân trong biểu hiện.

1. There is Internal Vitalising Fire, which is the correspondence to fire by friction. This is the sumtotal of individual kundalini; it animates the corporeal frame and demonstrates also in the twofold manner:

1. Có Lửa Tiếp Sinh Lực Nội Tại, là sự tương ứng với lửa ma sát. Đây là tổng thể của kundalini cá nhân; nó làm sinh động khung thể xác và cũng biểu lộ theo cách nhị phân:

First, as latent heat which is the basis of life of the spheroidal cell, or atom, and of its rotary adjustment to all other cells.

Thứ nhất, như nhiệt tiềm ẩn là nền tảng của sự sống của tế bào hay nguyên tử hình cầu, và của sự điều chỉnh quay của nó với mọi tế bào khác.

Second, as active heat or prana; this animates all, and is the driving force of the evolving form. It shows itself in the four ethers and in the gaseous state, and a correspondence is here found on the physical plane in connection with man to the Akasha and its fivefold manifestation on the plane of the solar system.

Thứ hai, như nhiệt hoạt động hay prana; điều này làm sinh động tất cả, và là động lực của hình tướng đang tiến hoá. Nó tự biểu lộ trong bốn dĩ thái và trong trạng thái khí, và ở đây tìm thấy một sự tương ứng trên cõi hồng trần liên quan đến con người với Akasha và biểu hiện ngũ phân của nó trên cõi của hệ mặt trời.

This fire is the basic vibration of the little system in which the monad or human spirit is the logos, and it [Page 46] holds the personality or lower material man in objective manifestation thus permitting the spiritual unit to contact the plane of densest matter. It has its correspondence in the ray of intelligent activity and is controlled by the Law of Economy in one of its subdivisions, the Law of Adaptation in Time.

Lửa này là rung động căn bản của tiểu hệ trong đó chân thần hay tinh thần con người là logos, và nó [Page 46] giữ phàm ngã hay phàm nhân vật chất thấp trong biểu hiện khách quan, nhờ đó cho phép đơn vị tinh thần tiếp xúc với cõi vật chất đậm đặc nhất. Nó có sự tương ứng trong tia hoạt động thông tuệ và được kiểm soát bởi Định luật Tiết Kiệm trong một trong các phân bộ của nó, Định luật Thích Ứng trong Thời Gian.

2. There is next the Fire or Spark of Mind which is the correspondence in man to solar fire. This constitutes the thinking self-conscious unit or the soul. This fire of mind is governed by the Law of Attraction as is its greater correspondence. Later we can enlarge on this. It is this spark of mind in man, manifesting as spiral cyclic activity, which leads to expansion and to his eventual return to the centre of his system, the Monad—the origin and goal for the reincarnating Jiva or human being. As in the macrocosm this fire also manifests in a twofold manner.

2. Kế đến là Lửa hay Tia Lửa của Trí Tuệ là sự tương ứng nơi con người với lửa thái dương. Điều này cấu thành đơn vị tư duy có ngã thức hay linh hồn. Lửa của trí tuệ này được chi phối bởi Định luật Hấp Dẫn cũng như sự tương ứng lớn hơn của nó. Sau này chúng ta có thể khai triển thêm về điều này. Chính tia lửa của trí tuệ này nơi con người, biểu lộ như hoạt động xoắn ốc tuần hoàn, dẫn đến sự mở rộng và đến sự trở về sau cùng của y với trung tâm của hệ thống của y, Chân thần—nguồn gốc và mục tiêu của Jiva hay con người tái sinh. Cũng như trong đại thiên địa, lửa này cũng biểu lộ theo cách nhị phân.

It shows as that intelligent will which links the Monad or spirit with its lowest point of contact, the personality, functioning through a physical vehicle.

Nó biểu lộ như ý chí thông tuệ liên kết Chân thần hay tinh thần với điểm tiếp xúc thấp nhất của nó, phàm ngã, đang hoạt động qua một vận cụ hồng trần.

It likewise demonstrates, as yet imperfectly, as the vitalising factor in the thought forms fabricated by the thinker. As yet but few thought forms, comparatively, can be said to be constructed by the center of consciousness, the thinker, the Ego. Few people as yet are in such close touch with their higher self, or Ego, that they can build the matter of the mental plane into a form which can be truly said to be an expression of the thoughts, purpose or desire of their Ego, functioning through the physical brain. Most of the thought forms at present in circulation may be said to be aggregations of matter, built into form with the aid of kama-manas (or of desire faintly tinged with mind producing thus an admixture of astral and mental matter, mostly astral), and largely due to reflex elemental action.

Nó cũng biểu lộ, tuy còn bất toàn, như yếu tố tiếp sinh lực trong các hình tư tưởng do người tư duy tạo ra. Hiện nay, tương đối mà nói, chỉ có ít hình tư tưởng có thể được nói là được kiến tạo bởi trung tâm tâm thức, người tư duy, chân ngã. Hiện nay ít người còn ở trong sự tiếp xúc gần gũi đến thế với chân ngã, hay chân ngã cao hơn, của họ đến mức họ có thể xây dựng chất liệu của cõi trí thành một hình tướng mà thực sự có thể nói là biểu lộ các tư tưởng, mục đích hay ham muốn của chân ngã của họ, đang hoạt động qua bộ não hồng trần. Phần lớn các hình tư tưởng hiện đang lưu hành có thể được nói là những tập hợp chất liệu, được xây dựng thành hình tướng với sự trợ giúp của kama-manas (hay ham muốn được nhuốm nhẹ bởi trí tuệ, do đó tạo ra một hỗn hợp của vật chất cảm dục và trí tuệ, phần lớn là cảm dục), và phần lớn là do hoạt động phản xạ của hành khí.

These dualities of expression are: [Page 47]

Các nhị nguyên tính biểu lộ này là: [Page 47]

1. Active fire or prana.

1. Lửa hoạt động hay prana.

Latent fire or bodily heat.

Lửa tiềm ẩn hay nhiệt của thể xác.

2. Mental energy in the mental body.

2. Năng lượng trí tuệ trong thể trí.

Purely mental thought forms, animated by self-engendered fire, or by the fifth principle, and therefore part of the sphere, or system of control, of the Monad.

Các hình tư tưởng thuần túy trí tuệ, được làm sinh động bởi lửa tự phát sinh, hay bởi nguyên khí thứ năm, và do đó là một phần của khối cầu, hay hệ thống kiểm soát, của Chân thần.

These form an esoteric quaternary which with the fifth factor, the divine spark of intelligent will, make the five of monadic manifestation—manifestation in this case connotating a purely subjective manifestation which is neither altogether spiritual nor altogether material.

Chúng tạo thành một bộ bốn huyền bí mà cùng với yếu tố thứ năm, tia lửa thiêng liêng của ý chí thông tuệ, làm nên bộ năm của biểu hiện chân thần—biểu hiện trong trường hợp này hàm ý một biểu hiện chủ quan không hoàn toàn tinh thần cũng không hoàn toàn vật chất.

3. Finally there is the Monadic Flame Divine. This embodies the highest vibration of which the Monad is capable, is governed by the Law of Synthesis, and is the cause of the forward progressive movement of the evolving Jiva.

3. Sau cùng là Ngọn Lửa Chân Thần Thiêng Liêng. Điều này thể hiện rung động cao nhất mà Chân thần có khả năng đạt tới, được chi phối bởi Định luật Tổng Hợp, và là nguyên nhân của chuyển động tiến tới không ngừng của Jiva đang tiến hoá.

We now come, in due course, to the point of merging or to the end of manifestation, and to the consummation (viewing it monadically) of the great cycle or manvantara. What shall we therefore find? Just as in the macrocosm the blending of the three essential fires of the cosmos marked the point of logoic attainment, so, in the blending of the essential fires of the microcosm, do we arrive at the apotheosis of human attainment for this cycle.

Giờ đây, theo tiến trình tự nhiên, chúng ta đi đến điểm hoà nhập hay đến chỗ kết thúc biểu hiện, và đến sự viên mãn (khi nhìn theo chân thần) của đại chu kỳ hay giai kỳ sinh hóa. Vậy chúng ta sẽ thấy gì? Cũng như trong đại thiên địa, sự hòa trộn của ba lửa cốt yếu của vũ trụ đánh dấu điểm thành tựu logoi, thì trong sự hòa trộn của các lửa cốt yếu của tiểu thiên địa, chúng ta đi đến sự tôn vinh tối hậu của thành tựu nhân loại cho chu kỳ này.

When the latent fire of the personality or lower self blends with the fire of mind, that of the higher self, and finally merges with the Divine Flame, then the man takes the fifth Initiation in this solar system, and has completed one of his greater cycles. (13) When the three blaze forth as one fire, liberation from matter, or from material form is achieved. Matter has been correctly adjusted to spirit, and finally the indwelling life slips forth out of its sheath which forms now only a channel for liberation.

Khi lửa tiềm ẩn của phàm nhân hay phàm ngã hòa trộn với lửa của trí tuệ, tức lửa của Bản Ngã Cao Siêu, và cuối cùng hợp nhất với Ngọn Lửa Thiêng Liêng, thì con người nhận lần điểm đạo thứ năm trong hệ mặt trời này, và đã hoàn tất một trong các đại chu kỳ của y. (13) Khi cả ba bùng cháy như một lửa duy nhất, sự giải thoát khỏi vật chất, hay khỏi hình tướng vật chất, được thành tựu. Vật chất đã được điều chỉnh đúng đắn với tinh thần, và cuối cùng sự sống nội tại trượt ra khỏi vỏ bọc của nó, vỏ bọc giờ đây chỉ còn tạo thành một kênh giải thoát.

(13) These terms, Lower Self, Higher Self, Divine Self, are apt to be confusing until the student apprehends the various synonyms connected with them. The following table may be found helpful:

(13) Các thuật ngữ này, phàm ngã, Bản Ngã Cao Siêu, Bản Ngã Thiêng Liêng, dễ gây lẫn lộn cho đến khi đạo sinh nắm bắt được các từ đồng nghĩa khác nhau liên hệ với chúng. Bảng sau đây có thể hữu ích:

Father

Son

Mother

Spirit

Soul

Body

Life

Consciousness

Form

Monad

Ego

Personality

Divine Self

Higher Self

Lower Self

Spirit

Individuality

Personal Self

The Point

The Triad

The Quaternary

Monad

Solar Angel

Lunar Lords

(back)

(back)

III. FIRE IN MANIFESTATION.

III. LỬA TRONG BIỂU HIỆN.

[Page 48] To continue our consideration of the fires which sustain the economy of the visible solar system, and of the visible objective human being, which produce evolutionary development, and which are the bases of all objective efflorescence, it must be noted that they demonstrate as the sumtotal of the vital life of a solar system, of a planet, of the entire constitution of active functioning man upon the physical plane, and of the atom of substance.

[Page 48] Để tiếp tục việc xem xét các lửa duy trì sự vận hành của hệ mặt trời hữu hình, và của con người hữu hình khách quan, tạo ra sự phát triển tiến hoá, và là nền tảng của mọi sự nở rộ khách quan, cần lưu ý rằng chúng biểu lộ như tổng thể của sự sống sinh động của một hệ mặt trời, của một hành tinh, của toàn bộ cấu tạo của con người hoạt động tích cực trên cõi hồng trần, và của nguyên tử chất liệu.

Speaking broadly we would say that the first fire deals entirely with:

Nói một cách khái quát, chúng tôi sẽ nói rằng lửa thứ nhất hoàn toàn liên quan đến:

a. Activity of matter.

a. Hoạt động của vật chất.

b. The rotary motion of matter.

b. Chuyển động quay của vật chất.

c. The development of matter by the means of friction, under the law of Economy. H. P. B. touches on this in the Secret Doctrine. (14)

c. Sự phát triển của vật chất bằng phương tiện ma sát, dưới Định luật Tiết Kiệm. H. P. B. có đề cập đến điều này trong Giáo Lý Bí Nhiệm. (14)

(14) See S. D., I, 169, 562, 567, 569; II, 258, 390, 547, 551, 552. (back)

(14) Xem S. D., I, 169, 562, 567, 569; II, 258, 390, 547, 551, 552. (back)

The second fire, that from the cosmic mental plane, deals with:

Lửa thứ hai, lửa từ cõi trí tuệ vũ trụ, liên quan đến:

a. The expression of the evolution of mind or manas.

a. Sự biểu lộ của tiến hoá của trí tuệ hay manas.

b. The vitality of the soul.

b. Sinh lực của linh hồn.

c. The evolutionary expression of the soul as it shows forth in the form of that elusive something which brings about the synthesis of matter. As the two merge by means of this active energising factor, that which is termed consciousness appears. (15) As [Page 49] the merging proceeds and the fires become more and more synthesised, that totality of manifestation which we regard as a conscious existence becomes ever more perfected.

c. Sự biểu lộ tiến hoá của linh hồn khi nó tự bày tỏ trong hình thức của một cái gì đó khó nắm bắt, mang lại sự tổng hợp của vật chất. Khi cả hai hòa nhập nhờ yếu tố hoạt động tiếp năng lượng này, cái được gọi là tâm thức xuất hiện. (15) Khi [Page 49] sự hòa nhập tiếp diễn và các lửa ngày càng được tổng hợp hoá nhiều hơn, thì toàn thể biểu hiện mà chúng ta xem là một hiện hữu có tâm thức trở nên ngày càng hoàn hảo hơn.

(15) In the Study of Consciousness Mrs. Besant says (page 37): “Consciousness is the one reality, in the fullest sense of that much-used phrase; it follows from this that any reality found anywhere is drawn from consciousness. Hence, everything which is thought, is. That consciousness in which everything is, everything literally, “possible” as well as “actual”—actual being that which is thought of as existent by a separated consciousness in time and space, and possible all that which is not so being thought of at any period in time and any point in space—we call Absolute Consciousness. It is the All, the Eternal, the Infinite, the Changeless. Consciousness, thinking time and space, and of all forms as existing in them in succession and in places, is the Universal Consciousness, the One, called by the Hindu the Saguna Brahman—the Eternal with attributes—the Pratyag-Atma—the Inner Self; by the Parsi, Hormuzd; by the Mussulman, Allah. Consciousness dealing with a definite time, however long or short, with a definite space, however vast or restricted, is individual, that of a concrete Being, a Lord of many universes, or a universe or of any so-called portion of a universe, his portion and to him therefore a universe—these terms varying as to extent with the power of the consciousness; so much of the universal thought as a separate consciousness can completely think, i.e., on which he can impose his own reality, can think of as existing like himself, is his universe.” (back)

(15) Trong Nghiên Cứu về Tâm Thức bà Besant nói (trang 37): “Tâm thức là thực tại duy nhất, theo ý nghĩa đầy đủ nhất của cụm từ được dùng quá nhiều ấy; từ đó suy ra rằng bất kỳ thực tại nào được tìm thấy ở bất cứ đâu đều được rút ra từ tâm thức. Vì vậy, mọi điều được nghĩ tới, đều là. Tâm thức trong đó mọi sự đều hiện hữu, mọi sự theo nghĩa đen, cả “khả hữu” lẫn “hiện thực”—hiện thực là cái được một tâm thức tách biệt trong thời gian và không gian nghĩ là hiện hữu, còn khả hữu là tất cả những gì không được nghĩ như thế vào bất kỳ thời kỳ nào trong thời gian và bất kỳ điểm nào trong không gian—chúng ta gọi là Tâm thức Tuyệt đối. Nó là Tất Cả, Vĩnh Cửu, Vô Hạn, Bất Biến. Tâm thức, khi nghĩ về thời gian và không gian, và về mọi hình tướng như hiện hữu trong đó theo trình tự và ở các nơi chốn, là Tâm thức Vũ trụ, Đấng Duy Nhất, được người Hindu gọi là Saguna Brahman—Đấng Vĩnh Cửu với các thuộc tính—Pratyag-Atma—Bản Ngã Bên Trong; người Parsi gọi là Hormuzd; người Hồi giáo gọi là Allah. Tâm thức xử lý một thời gian xác định, dù dài hay ngắn, với một không gian xác định, dù rộng lớn hay hạn hẹp, là tâm thức cá nhân, tức tâm thức của một Hữu thể cụ thể, một Chúa Tể của nhiều vũ trụ, hay của một vũ trụ hoặc của bất kỳ phần nào được gọi là một phần của một vũ trụ, phần của ông và vì thế đối với ông là một vũ trụ—các thuật ngữ này thay đổi về phạm vi theo quyền năng của tâm thức; chừng nào tư tưởng vũ trụ mà một tâm thức tách biệt có thể nghĩ trọn vẹn, nghĩa là cái mà ông có thể áp đặt thực tại riêng của mình lên đó, có thể nghĩ là hiện hữu giống như chính ông, thì đó là vũ trụ của ông.” (back)

d. The operation of this fire under the Law of Attraction.

d. Sự vận hành của lửa này dưới Định luật Hấp Dẫn.

e. The subsequent result in the spiral-cyclic movement which we call, within the system, solar evolution, but which (from the standpoint of a cosmos) is the approximation of our system to its central point. This must be considered from the standpoint of time. (16)

e. Kết quả tiếp theo trong chuyển động xoắn ốc tuần hoàn mà chúng ta gọi, trong nội bộ hệ thống, là tiến hoá thái dương, nhưng (từ quan điểm của một vũ trụ) là sự tiến gần của hệ thống chúng ta đến điểm trung tâm của nó. Điều này phải được xem xét từ quan điểm thời gian. (16)

(16) Universal consciousness, manifesting as consciousness in time and space, as Mrs. Besant so ably expresses it, includes all forms of activity and spiral cyclic evolution from the standpoint of cosmic evolution, and in terms of absolute consciousness, may again be rotary. (back)

(16) Tâm thức vũ trụ, biểu lộ như tâm thức trong thời gian và không gian, như bà Besant đã diễn đạt rất tài tình, bao gồm mọi hình thức hoạt động và tiến hoá xoắn ốc tuần hoàn từ quan điểm tiến hoá vũ trụ, và xét theo các thuật ngữ của tâm thức tuyệt đối, lại có thể là chuyển động quay. (back)

The third fire deals with:

Lửa thứ ba liên quan đến:

a. The evolution of spirit.

a. Sự tiến hoá của tinh thần.

Practically nothing can at this stage be communicated anent this evolution. The development of spirit can be only expressed as yet in terms of the evolution of matter, and only through the adequacy of the vehicle, and through the suitability of the sheath, the body or form, can the point of [Page 50] spiritual development reached in any way be appraised. A word of warning should here be interpolated:—

Trên thực tế, ở giai đoạn này hầu như không thể truyền đạt điều gì liên quan đến sự tiến hoá này. Sự phát triển của tinh thần hiện nay chỉ có thể được diễn tả bằng các thuật ngữ của sự tiến hoá của vật chất, và chỉ thông qua sự đầy đủ của vận cụ, và thông qua sự thích hợp của vỏ bọc, thể hay hình tướng, mà điểm [Page 50] phát triển tinh thần đạt được mới có thể được lượng định theo bất kỳ cách nào. Ở đây cần xen vào một lời cảnh báo:—

Just as it is not possible upon the physical plane for the physical vehicle fully to express the total point of development of the Ego or higher self, so it is not possible even for the Ego fully to sense and express the quality of spirit. Hence the utter impossibility for human consciousness justly to appraise the life of the spirit or Monad.

Cũng như trên cõi hồng trần, vận cụ hồng trần không thể biểu lộ trọn vẹn toàn bộ mức phát triển của chân ngã hay Bản Ngã Cao Siêu, thì ngay cả chân ngã cũng không thể cảm nhận và biểu lộ đầy đủ phẩm tính của tinh thần. Vì thế, tâm thức con người hoàn toàn không thể lượng định một cách đúng đắn sự sống của tinh thần hay Chân thần.

b. The working of the flame divine under the Law of Synthesis—a generic term which will be seen eventually to include the other two laws as subdivisions.

b. Sự vận hành của ngọn lửa thiêng liêng dưới Định luật Tổng Hợp—một thuật ngữ tổng quát mà về sau sẽ thấy là bao gồm hai định luật kia như những phân bộ.

c. The subsequent result of forward progressive motion—a motion which is rotary, cyclic and progressive.

c. Kết quả tiếp theo của chuyển động tiến tới—một chuyển động vừa quay, vừa tuần hoàn, vừa tiến triển.

The whole matter dealt with in this Treatise concerns the subjective essence of the solar system, not primarily either the objective or spiritual aspect. It concerns the Entities who indwell the form, who demonstrate as animating factors through the medium of matter, and primarily through etheric matter; who are evolving a second faculty, the fire of mind, and who are essentially themselves points of fire, cast off through cosmic friction, produced by the turning of the cosmic wheel, swept into temporary limited manifestation and due eventually to return to their central cosmic centre. They will return plus the results of evolutionary growth, and through assimilation they will have intensified their fundamental nature, and be spiritual fire plus the fire manasic.

Toàn bộ vấn đề được bàn đến trong bộ Luận này liên quan đến tinh chất chủ quan của hệ mặt trời, chứ không chủ yếu liên quan đến phương diện khách quan hay tinh thần. Nó liên quan đến các Thực Thể cư ngụ trong hình tướng, biểu lộ như các yếu tố làm sinh động qua trung gian của vật chất, và chủ yếu qua vật chất dĩ thái; các Đấng đang tiến hoá một năng lực thứ hai, lửa của trí tuệ, và về bản chất chính Các Ngài là những điểm lửa, bị bắn ra do ma sát vũ trụ, được tạo ra bởi sự quay của bánh xe vũ trụ, bị cuốn vào biểu hiện tạm thời có giới hạn và cuối cùng phải trở về trung tâm vũ trụ trung tâm của mình. Các Ngài sẽ trở về cộng thêm các kết quả của sự tăng trưởng tiến hoá, và qua sự đồng hoá, Các Ngài sẽ tăng cường bản chất căn bản của mình, và sẽ là lửa tinh thần cộng với lửa manas.

The internal fire of matter is called in the Secret Doctrine “Fire by Friction.” It is an effect and not a cause. It is produced by the two fires of spirit and of mind (electric and solar fire) contacting each other through the medium of matter. This energy demonstrates in [Page 51] matter itself as the internal fires of the sun, and of the planets and finds a reflection in the internal fires of man. Man is the Flame Divine and the fire of Mind brought into contact through the medium of substance or form. When evolution ends, the fire of matter is not cognisable. It persists only when the other two fires are associated, and it does not persist apart from substance itself.

Lửa nội tại của vật chất được gọi trong Giáo Lý Bí Nhiệm là “Lửa ma sát.” Nó là một kết quả chứ không phải nguyên nhân. Nó được tạo ra bởi hai lửa của tinh thần và của trí tuệ (lửa điện và lửa thái dương) tiếp xúc với nhau qua trung gian của vật chất. Năng lượng này biểu lộ trong chính [Page 51] vật chất như các lửa nội tại của mặt trời và của các hành tinh, và tìm thấy một sự phản chiếu trong các lửa nội tại của con người. Con người là Ngọn Lửa Thiêng liêng và là lửa của Trí Tuệ được đưa vào tiếp xúc qua trung gian của chất liệu hay hình tướng. Khi tiến hoá chấm dứt, lửa của vật chất không còn có thể nhận biết được. Nó chỉ tồn tại khi hai lửa kia kết hợp với nhau, và nó không tồn tại tách rời khỏi chính chất liệu.

Let us now briefly recognise certain facts regarding fire in matter and let us take them in order, leaving time to elucidate their significance. First we might say that the internal fire being both latent and active, shows itself as the synthesis of the acknowledged fires of the system, and demonstrates, for instance, as solar radiation and inner planetary combustion. This subject has been somewhat covered by science, and is hidden in the mystery of physical plane electricity, which is an expression of the active internal fires of the system and of the planet just as inner combustion is an expression of the latent internal fires. These latter fires are to be found in the interior of each globe, and are the basis of all objective physical life.

Giờ đây, chúng ta hãy ngắn gọn ghi nhận một số sự kiện liên quan đến lửa trong vật chất và hãy xét chúng theo thứ tự, dành thời gian để làm sáng tỏ thâm nghĩa của chúng. Trước hết, chúng ta có thể nói rằng lửa nội tại, vừa tiềm ẩn vừa hoạt động, tự biểu lộ như sự tổng hợp của các lửa đã được thừa nhận của hệ thống, và chẳng hạn biểu lộ như bức xạ mặt trời và sự đốt cháy nội tại của hành tinh. Đề tài này phần nào đã được khoa học đề cập đến, và được che giấu trong huyền nhiệm của điện năng cõi hồng trần, vốn là một biểu hiện của các lửa nội tại hoạt động của hệ thống và của hành tinh, cũng như sự đốt cháy nội tại là biểu hiện của các lửa nội tại tiềm ẩn. Những lửa sau này được tìm thấy trong nội thất của mỗi bầu hành tinh, và là nền tảng của mọi sự sống hồng trần khách quan.

Secondly, we might note that the internal fires are the basis of life in the lower three kingdoms of nature, and in the fourth or human kingdom in connection with the two lower vehicles. The Fire of Mind, when blended with the internal fires, is the basis of life in the fourth kingdom, and united they control (partially now and later entirely) the lower threefold man or the personality; this control lasts up to the time of the first Initiation.

Thứ hai, chúng ta có thể lưu ý rằng các lửa nội tại là nền tảng của sự sống trong ba giới thấp của bản chất, và trong giới thứ tư hay giới nhân loại liên hệ với hai vận cụ thấp. Lửa của Trí Tuệ, khi hòa trộn với các lửa nội tại, là nền tảng của sự sống trong giới thứ tư, và khi hợp nhất lại chúng kiểm soát (một phần hiện nay và về sau là hoàn toàn) con người tam phân thấp hay phàm ngã; sự kiểm soát này kéo dài cho đến thời điểm của lần điểm đạo thứ nhất.

The fire of Spirit finally, when blended with the two other fires (which blending commences in man at the first initiation), forms a basis of spiritual life or existence. As evolution proceeds in the fifth or spiritual kingdom, these three fires blaze forth simultaneously, producing perfected consciousness. This blaze results in the final [Page 52] purification of matter and its consequent adequacy; at the close of manifestation it brings about eventually the destruction of the form and its dissolution, and the termination of existence as understood on the lower planes. In terms of Buddhistic theology it produces annihilation; this involves, not loss of identity, but the cessation of objectivity and the escape of Spirit, plus mind, to its cosmic centre. It has its analogy in the initiation at which the adept stands free from the limitations of matter in the three worlds.

Sau cùng, lửa của Tinh thần, khi hòa trộn với hai lửa kia (sự hòa trộn này bắt đầu nơi con người vào lần điểm đạo thứ nhất), tạo thành nền tảng của sự sống hay sự tồn tại tinh thần. Khi tiến hoá tiếp diễn trong giới thứ năm hay giới tinh thần, ba lửa này cùng lúc bùng cháy, tạo ra tâm thức hoàn hảo. Sự bùng cháy này dẫn đến sự [Page 52] thanh lọc cuối cùng của vật chất và do đó làm cho nó trở nên thích đáng; vào lúc kết thúc biểu hiện, cuối cùng nó mang lại sự hủy diệt của hình tướng và sự tan rã của nó, và sự chấm dứt của tồn tại như được hiểu trên các cõi thấp. Theo thuật ngữ thần học Phật giáo, nó tạo ra sự hủy diệt; điều này không hàm ý mất bản sắc, mà là sự chấm dứt tính khách quan và sự thoát ly của Tinh thần, cộng với trí tuệ, về trung tâm vũ trụ của nó. Nó có sự tương đồng của mình trong cuộc điểm đạo mà tại đó chân sư đứng tự do khỏi các giới hạn của vật chất trong ba cõi giới.

The internal fires of the system, of the planet, and of man are threefold:

Các lửa nội tại của hệ thống, của hành tinh và của con người là tam phân:

1. Interior fire at the centre of the sphere, those inner furnaces which produce warmth. This is latent fire.

1. Lửa bên trong tại trung tâm của khối cầu, những lò lửa nội tại tạo ra hơi ấm. Đây là lửa tiềm ẩn.

2. Radiatory fire. This type of fire might be expressed in terms of physical plane electricity, of light rays, and of etheric energy. This is active fire.

2. Lửa bức xạ. Loại lửa này có thể được diễn tả theo điện năng cõi hồng trần, các tia sáng, và năng lượng dĩ thái. Đây là lửa hoạt động.

3. Essential fire, or the fire elementals who are themselves the essence of fire. They are mainly divided into two groups:

3. Lửa bản chất, hay các hành khí của lửa vốn chính là tinh chất của lửa. Chúng chủ yếu được chia thành hai nhóm:

a. Fire devas or evolutionary entities.

a. Các thiên thần lửa hay các thực thể thăng thượng tiến hoá.

b. Fire elementals or involutionary entities.

b. Các hành khí của lửa hay các thực thể giáng hạ tiến hoá.

Later we will elaborate on this when we consider the Fire of Mind and deal with the nature of the thought elementals. All these elementals and devas are under the control of the fire Lord, Agni. When considering Him and His kingdom the subject can be taken up at greater length.

Về sau chúng ta sẽ khai triển điều này khi xét đến Lửa của Trí Tuệ và bàn đến bản chất của các hành khí tư tưởng. Tất cả các hành khí và thiên thần này đều ở dưới sự kiểm soát của Chúa Tể lửa, Agni. Khi xét đến Ngài và giới của Ngài, đề tài này có thể được trình bày dài hơn.

We might here point out, however, that our first two statements concerning the internal fires, express the effect that the fire entities have upon their environment. Heat and radiation are other terms which might be applied in this sense. Each of these effects produces a [Page 53] different class of phenomena. Latent fire causes the active growth of that in which it is embedded and causes that upward pushing which brings into manifestation all that is found in the kingdoms of nature. Radiatory fire causes the continued growth of that which has progressed, under the influence of latent fire, to a point receptive of the radiatory. Let us tabulate it thus:

Tuy nhiên, ở đây chúng ta có thể chỉ ra rằng hai phát biểu đầu tiên của chúng ta liên quan đến các lửa nội tại diễn tả kết quả mà các thực thể lửa tạo ra trên môi trường của chúng. Nhiệt và bức xạ là những thuật ngữ khác có thể được áp dụng theo nghĩa này. Mỗi một trong các kết quả này tạo ra một [Page 53] loại hiện tượng khác nhau. Lửa tiềm ẩn gây ra sự tăng trưởng hoạt động của cái trong đó nó được cắm vào và gây nên sự thúc đẩy đi lên, mang vào biểu hiện tất cả những gì được tìm thấy trong các giới của bản chất. Lửa bức xạ gây ra sự tăng trưởng liên tục của cái đã tiến triển, dưới ảnh hưởng của lửa tiềm ẩn, đến một điểm có khả năng tiếp nhận lửa bức xạ. Chúng ta hãy lập bảng như sau:

Systemic or Macrocosmic: The solar Logos or The Grand Man of the Heavens.

Hệ thống hay Đại thiên địa: Thái dương Thượng đế hay Đấng Đại Nhân của Thiên Giới.

Latent or interior fire produces the internal heat which makes the solar system productive of all forms of life. It is the inherent warmth that causes all fertilisation, whether human, animal, or vegetable.

Lửa tiềm ẩn hay lửa bên trong tạo ra nhiệt nội tại khiến hệ mặt trời sinh sản mọi hình tướng sự sống. Đó là hơi ấm cố hữu gây ra mọi sự thụ tinh, dù là nơi con người, động vật hay thực vật.

Active or radiatory fire retains in life and causes the evolution of all that has evolved into objectivity by means of latent fire.

Lửa hoạt động hay lửa bức xạ duy trì sự sống và gây ra sự tiến hoá của tất cả những gì đã tiến hoá vào tính khách quan bằng phương tiện của lửa tiềm ẩn.

Planetary, or the Heavenly Men:

Hành tinh, hay các Đấng Thiên Nhân:

What is laid down anent the system, as a whole, can be predicated of all planets which in their nature reflect the Sun, their elder brother.

Điều được xác lập liên quan đến toàn thể hệ thống có thể được khẳng định về mọi hành tinh, vốn trong bản chất của chúng phản chiếu Mặt Trời, người anh cả của chúng.

Human, or the Microcosmic Man:

Con người, hay Con Người Tiểu thiên địa:

Human latent fire, the heat interior of the human frame causes production of other forms of life, such as—

Lửa tiềm ẩn của con người, nhiệt bên trong cơ thể con người, gây ra việc sản sinh các hình tướng sự sống khác, như—

1. The physical body cells.

1. Các tế bào của thể xác.

2. Organisms nourished by the latent heat.

2. Các cơ thể sống được nuôi dưỡng bởi nhiệt tiềm ẩn.

3. The reproduction of itself in other human forms, the basis of the sex function.

3. Sự tái tạo chính nó trong các hình tướng con người khác, nền tảng của chức năng tính dục.

Human radiatory, or active fire, is a factor as yet but little comprehended; it relates to the health aura and to that radiation from the etheric which makes a man a healer, and able to transmit active heat.

Lửa bức xạ hay lửa hoạt động của con người là một yếu tố cho đến nay vẫn còn rất ít được thấu hiểu; nó liên hệ đến hào quang sức khỏe và đến bức xạ từ thể dĩ thái khiến một người trở thành người chữa lành, và có khả năng truyền dẫn nhiệt hoạt động.

It is necessary to differentiate between this radiation from the etheric, which is a radiation of prana, and magnetism, which is an emanation from a subtler body (usually the astral), and has to do with the manifestation of [Page 54] the Divine Flame within the material sheaths. The Divine Flame is formed on the second plane, the monadic, and magnetism (which is a method of demonstrating radiatory fire) is therefore felt paramountly on the fourth and sixth planes, or through the buddhic and astral vehicles. These are, as we know, closely allied to the second plane. This distinction is of importance and should be carefully recognised.

Cần phải phân biệt giữa bức xạ này từ thể dĩ thái, vốn là bức xạ của prana, và từ điện, vốn là một phát xạ từ một thể vi tế hơn (thường là thể cảm dục), và liên quan đến sự biểu lộ của [Page 54] Ngọn Lửa Thiêng liêng bên trong các lớp vỏ vật chất. Ngọn Lửa Thiêng liêng được hình thành trên cõi thứ hai, cõi chân thần, và vì thế từ điện (vốn là một phương pháp biểu lộ lửa bức xạ) được cảm nhận mạnh mẽ nhất trên cõi thứ tư và thứ sáu, hay qua các vận cụ Bồ đề và cảm dục. Như chúng ta biết, các cõi này có liên hệ mật thiết với cõi thứ hai. Sự phân biệt này rất quan trọng và cần được ghi nhận một cách cẩn thận.

Having, therefore, made the above statements, we can proceed to take up somewhat in greater detail the interior fires of the systems, microcosmic and macrocosmic.

Vì vậy, sau khi đã đưa ra các phát biểu trên, chúng ta có thể tiếp tục xét chi tiết hơn đôi chút về các lửa bên trong của các hệ thống, tiểu thiên địa và đại thiên địa.

DIVISION A - THE INTERNAL FIRES OF THE SHEATHS.

PHÂN ĐOẠN A - CÁC LỬA NỘI TẠI CỦA CÁC THỂ.

I. The three channels.

I. Ba kênh.

II. Fire Elementals and devas.

II. Các hành khí của lửa và các thiên thần.

I. THE THREE CHANNELS FOR THE FIRE

BA KÊNH CHO LỬA

[Page 55] From the very use of the term “sheath” it will be noted that we are considering those fires which manifest through the medium of those externalities, of those veils of substance which hide and conceal the inner Reality. We shall not here take up the subject of the sheaths on the higher planes, but simply deal with the fires that animate the three lower vehicles,—the physical body in its two divisions (etheric and dense), the emotional or astral body, and the mental sheath. It is frequently overlooked by the casual student that both the astral and the mental bodies are material, and just as material in their own way, as is the dense physical body, and also that the substance of which they are composed is animated by a triple fire, as is the physical.

[Page 55] Từ chính việc dùng thuật ngữ “thể”, cần lưu ý rằng chúng ta đang xét đến những lửa biểu lộ qua trung gian của những cái bên ngoài ấy, của những màn che bằng chất liệu che giấu và bao phủ Thực Tại bên trong. Ở đây chúng ta sẽ không đề cập đến chủ đề các thể trên các cõi cao, mà chỉ bàn đến các lửa làm sinh động ba vận cụ thấp,—thể xác trong hai phần của nó (dĩ thái và đậm đặc), thể cảm xúc hay thể cảm dục, và thể trí. Đạo sinh thông thường thường bỏ qua rằng cả thể cảm dục lẫn thể trí đều là vật chất, và theo cách riêng của chúng cũng vật chất y như thể xác đậm đặc, và rằng chất liệu cấu thành chúng cũng được làm sinh động bởi một lửa tam phân, giống như thể xác.

In the physical body we have the fires of the lower nature (the animal plane) centralised at the base of the spine. They are situated at a spot which stands in relation to the physical body as the physical sun to the solar system. This central point of heat radiates in all directions, using the spinal column as its main artery, but working in close connection with certain central ganglia, wherever located, and having a special association with the spleen. [Page 56]

Trong thể xác chúng ta có các lửa của bản chất thấp (cõi động vật) được tập trung tại đáy cột sống. Chúng tọa lạc tại một điểm có liên hệ với thể xác giống như mặt trời vật lý đối với hệ mặt trời. Điểm nhiệt trung tâm này bức xạ theo mọi hướng, dùng cột sống làm động mạch chính của nó, nhưng hoạt động trong liên hệ mật thiết với một số hạch trung tâm, ở bất cứ nơi nào chúng tọa lạc, và có một sự liên kết đặc biệt với lá lách. [Page 56]

[picture]

[picture]