← A Treatise on Cosmic Fire

S1S6

Trích nội dung chương

[Page 57] In the etheric body, which is an exact replica of its denser counterpart, we have the organ of active or radiatory fire, and, as is well known, the vehicle of prana. Its function is to store up the rays of radiatory light and heat which are secured from the sun, and to transmit them, via the spleen, to all parts of the physical body. Hence in the future it will come to be recognised that the spine and the spleen are of the utmost importance to the physical well-being of man, and that when the spinal column is duly adjusted and aligned, and when the spleen is freed from congestion and in a healthy condition, there will be little…


[Page 57] In the etheric body, which is an exact replica of its denser counterpart, we have the organ of active or radiatory fire, and, as is well known, the vehicle of prana. Its function is to store up the rays of radiatory light and heat which are secured from the sun, and to transmit them, via the spleen, to all parts of the physical body. Hence in the future it will come to be recognised that the spine and the spleen are of the utmost importance to the physical well-being of man, and that when the spinal column is duly adjusted and aligned, and when the spleen is freed from congestion and in a healthy condition, there will be little trouble in the dense physical body. When the physical furnace burns brightly and when the fuel of the body (pranic rays) is adequately assimilated, the human frame will function as desired.

[Page 57] Trong thể dĩ thái, vốn là một bản sao chính xác của đối phần đậm đặc hơn của nó, chúng ta có cơ quan của lửa hoạt động hay lửa bức xạ, và như ai cũng biết, là vận cụ của prana. Chức năng của nó là tích trữ các tia sáng và nhiệt bức xạ thu nhận từ mặt trời, và truyền chúng, qua lá lách, đến mọi phần của thể xác. Vì thế, trong tương lai người ta sẽ nhận ra rằng cột sống và lá lách có tầm quan trọng tối đa đối với sự an khang hồng trần của con người, và rằng khi cột sống được điều chỉnh và chỉnh hợp đúng đắn, và khi lá lách được giải phóng khỏi sự tắc nghẽn và ở trong tình trạng lành mạnh, thì sẽ có rất ít rắc rối trong thể xác đậm đặc. Khi lò lửa hồng trần cháy sáng và khi nhiên liệu của thể (các tia prana) được đồng hoá đầy đủ, cơ thể con người sẽ hoạt động như mong muốn.

The subject of the blending of these two fires, which is complete in a normal and healthy person, should engross the attention of the modern physician. He will then concern himself with the removal of nerve congestion or material congestion, so as to leave a free channel for the inner warmth. This blending, which is now a natural and usual growth in every human being, was one of the signs of attainment or of initiation in an earlier solar system. Just as initiation and liberation are marked in this solar system by the blending of the fires of the body, of the mind and of the Spirit, so in an earlier cycle attainment was marked by the blending of the latent fires of matter with the radiatory or active fires, and then their union with the fires of mind. In the earlier period the effects in manifestation of the divine Flame were so remote and deeply hidden as to be scarcely recognisable, though dimly there. Its correspondence can be seen in the animal kingdom, in which instinct holds the intuition in latency, [Page 58] and the Spirit dimly overshadows. Yet all is part of a divine whole.

Chủ đề về sự hòa trộn của hai lửa này, vốn hoàn tất nơi một người bình thường và khỏe mạnh, cần thu hút sự chú ý của y học hiện đại. Khi đó, thầy thuốc sẽ quan tâm đến việc loại bỏ sự tắc nghẽn thần kinh hay sự tắc nghẽn vật chất, để chừa ra một kênh thông suốt cho hơi ấm bên trong. Sự hòa trộn này, hiện nay là một sự tăng trưởng tự nhiên và thông thường nơi mỗi con người, đã từng là một trong những dấu hiệu của thành tựu hay của điểm đạo trong một hệ mặt trời trước đây. Cũng như trong hệ mặt trời này, sự dung hợp các lửa của thân thể, của trí tuệ và của tinh thần đánh dấu điểm đạo và giải thoát, thì trong một chu kỳ trước kia, sự dung hợp các lửa tiềm ẩn của vật chất với các lửa bức xạ hay hoạt động, rồi sự hợp nhất của chúng với các lửa của trí tuệ, đánh dấu thành tựu. Trong thời kỳ trước đó, các hiệu quả trong biểu hiện của Ngọn Lửa thiêng liêng xa xôi và ẩn kín sâu đến mức hầu như không thể nhận ra được, dù vẫn mờ nhạt hiện diện. Sự tương ứng của nó có thể được thấy trong giới động vật, nơi bản năng giữ trực giác ở trạng thái tiềm ẩn, [Page 58] và Tinh thần phủ bóng một cách mờ nhạt. Tuy nhiên, tất cả đều là một phần của một toàn thể thiêng liêng.

The subject of the radiatory heat of the macrocosmic and microcosmic systems will be dealt with in detail in a later subdivision. Here we will only deal with the latent interior fire of the

Chủ đề về nhiệt bức xạ của các hệ thống đại thiên địa và tiểu thiên địa sẽ được bàn chi tiết trong một phân mục sau. Ở đây chúng ta sẽ chỉ bàn đến lửa nội tại tiềm ẩn của

a. Sun.

a. Mặt trời.

b. Planet.

b. Hành tinh.

c. Man.

c. Con người.

d. Atom.

d. Nguyên tử.

We must remember that in both the astral and the mental sheaths there exist the counterparts of the centres as found in the physical body. These centres concern matter and its evolution. One fundamental statement can be laid down anent the internal fires of all these four (sun, planet, man, and atom):

Chúng ta phải nhớ rằng trong cả thể cảm dục lẫn thể trí đều tồn tại các đối phần của các trung tâm như được tìm thấy trong thể xác. Các trung tâm này liên quan đến vật chất và sự tiến hoá của nó. Có thể nêu ra một phát biểu căn bản liên quan đến các lửa nội tại của cả bốn loại này (mặt trời, hành tinh, con người và nguyên tử):

There exists in the Sun, in the planet, in man, and in the atom, a central point of heat, or (if I might use so limiting and inappropriate a term) a central cavern of fire, or nucleus of heat, and this central nucleus reaches the bounds of its sphere of influence, its ring-pass-not by means of a threefold channel. (17)

Trong Mặt Trời, trong hành tinh, trong con người và trong nguyên tử, đều tồn tại một điểm nhiệt trung tâm, hay (nếu tôi có thể dùng một thuật ngữ quá giới hạn và không thích hợp như vậy) một hang lửa trung tâm, hay một hạt nhân nhiệt, và hạt nhân trung tâm này vươn đến các biên giới của khối cầu ảnh hưởng của nó, vòng-giới-hạn của nó, bằng phương tiện của một kênh tam phân. (17)

(17) “The divine essence that, pervading the entire universe of millions of solar systems, is caught up by our sun and passed out in a manifested form to the utmost boundaries of our solar system, so that this manifested essence may be the basic soil of the growth, preservation and destruction of our worlds, that divine essence is simple Nadam of our yogic philosophy and that Nadam or OM subsequently manifests itself as seven streams. The unmanifested is manifested by or borne by the subsequent ramifications. These streams are the seven vowels or seven notes. These seven vowels and notes must have special correlations with the seven vedic metres, since in the Vishnu Purana, Parasara describes the vedic metres as the coursers of the solar essence.”—Some Thoughts on the Gita, p. 74. (back)

(17) “Tinh chất thiêng liêng, thấm nhuần toàn thể vũ trụ gồm hàng triệu hệ mặt trời, được mặt trời của chúng ta thu hút và truyền ra dưới một hình thức biểu lộ đến tận những biên giới xa nhất của hệ mặt trời שלנו, ताकि tinh chất biểu lộ này có thể là mảnh đất căn bản cho sự tăng trưởng, bảo tồn và hủy diệt của các thế giới chúng ta, tinh chất thiêng liêng ấy chính là Nadam đơn nhất của triết học yoga của chúng ta, và Nadam hay OM ấy về sau biểu lộ thành bảy dòng. Cái không biểu lộ được biểu lộ ra bởi hay được chuyên chở bởi các phân nhánh tiếp theo. Những dòng này là bảy nguyên âm hay bảy nốt. Bảy nguyên âm và nốt này hẳn phải có những tương quan đặc biệt với bảy vedic nhịp luật, vì trong Vishnu Purana, Parasara mô tả các vedic nhịp luật như những tuấn mã của tinh chất thái dương.”—Một Vài Tư Tưởng về Gita, tr. 74. (trở lại)

a. The Sun. Within the sun, right at its very heart, is a sea of fire or heat, but not a sea of flame. Herein may lie a distinction that perhaps will convey no meaning to some. It is the centre of the sphere, and the point of fiercest internal burning, but has little relation to the flames or burning gases (whatever terms you care [Page 59] to use) that are generally understood to exist whenever the sun is considered. It is the point of fiercest incandescence, and the objective sphere of fire is but the manifestation of that internal combustion. This central heat radiates its warmth to all parts of the system by means of a triple channel, or through its “Rays of Approach” which in their totality express to us the idea of “the heat of the sun.”

a. Mặt trời. Bên trong mặt trời, ngay tại chính tim của nó, là một biển lửa hay nhiệt, nhưng không phải một biển ngọn lửa. Chính trong đây có thể có một sự phân biệt mà có lẽ sẽ không chuyển tải ý nghĩa gì đối với một số người. Đó là trung tâm của khối cầu, và là điểm bốc cháy nội tại mãnh liệt nhất, nhưng ít liên hệ với các ngọn lửa hay các khí đang cháy (dù bạn muốn dùng thuật ngữ nào [Page 59] đi nữa) mà người ta thường hiểu là tồn tại bất cứ khi nào xét đến mặt trời. Đó là điểm phát sáng mãnh liệt nhất, và khối cầu lửa khách quan chỉ là biểu hiện của sự đốt cháy nội tại ấy. Nhiệt trung tâm này bức xạ hơi ấm của nó đến mọi phần của hệ thống bằng phương tiện của một kênh tam phân, hay qua các “Cung Tiếp Cận” của nó, mà trong tổng thể của chúng biểu lộ cho chúng ta ý niệm về “nhiệt của mặt trời.”

1. The akasha, itself vitalised matter, or substance animated by latent heat.

1. Akasha, bản thân nó là vật chất được tiếp sinh lực, hay chất liệu được làm sinh động bởi nhiệt tiềm ẩn.

2. Electricity, substance of one polarity, and energised by one of the three aspects logoic. To express it more occultly, substance showing forth the quality of the cosmic Lord Whose energy it is.

2. Điện, chất liệu của một cực tính, và được tiếp năng lượng bởi một trong ba phương diện Thượng đế. Diễn tả một cách huyền bí hơn, đó là chất liệu biểu lộ phẩm tính của Đấng Chúa Tể vũ trụ mà năng lượng của Ngài là nó.

3. Light Rays of pranic aspect, some of which are being now recognised by the modern scientist. They are but aspects of the latent heat of the sun as it approaches the Earth by a particular line of least resistance.

3. Các tia sáng thuộc phương diện prana, một số trong đó hiện nay đang được nhận ra bởi nhà khoa học hiện đại. Chúng chỉ là các phương diện của nhiệt tiềm ẩn của mặt trời khi nó tiếp cận Trái Đất theo một con đường ít trở ngại nhất đặc biệt.

When the term “channel or ray of approach” is used, it means approach from the centre of solar radiation to the periphery. What is encountered during that approach—such as planetary bodies, for instance—will be affected by the akashic current, the electrical current, or the pranic current in some way, but all of these currents are only the internal fires of the system when viewed from some other point in universal, though not solar, space. It is, therefore, obvious that this matter of fire is as complex as that of the rays. The internal fires of the solar system become external and radiatory when considered from the standpoint of a planet, while the internal fires of the planet will affect a human being as radiation in exactly the same way as the pranic emanations of his etheric body affect another physical body as radiatory. The point to be grasped in all these [Page 60] aspects is that one and all have to do with matter or substance, and not with mind or Spirit.

Khi dùng thuật ngữ “kênh hay cung tiếp cận”, điều đó có nghĩa là sự tiếp cận từ trung tâm bức xạ mặt trời đến chu vi. Bất cứ điều gì gặp phải trong quá trình tiếp cận ấy—chẳng hạn như các thiên thể hành tinh—sẽ bị tác động bởi dòng akasha, dòng điện, hay dòng prana theo một cách nào đó, nhưng tất cả các dòng này chỉ là các lửa nội tại của hệ thống khi được nhìn từ một điểm khác trong không gian vũ trụ, dù không phải không gian thái dương. Vì vậy, hiển nhiên là vấn đề lửa này phức tạp cũng như vấn đề các cung. Các lửa nội tại của hệ mặt trời trở thành bên ngoài và bức xạ khi được xét từ quan điểm của một hành tinh, trong khi các lửa nội tại của hành tinh sẽ tác động lên một con người như bức xạ theo đúng cùng cách mà các phát xạ prana của thể dĩ thái của y tác động lên một thể xác khác như bức xạ. Điểm cần nắm bắt trong tất cả các [Page 60] phương diện này là tất cả đều liên quan đến vật chất hay chất liệu, chứ không liên quan đến trí tuệ hay Tinh thần.

b. The Planet. Deep in the heart of the planet—such a planet as the Earth, for instance—are the internal fires that occupy the central sphere, or the caverns which—filled with incandescent burning—make life upon the globe possible at all. The internal fires of the moon are practically burnt out, and, therefore, she does not shine save through reflection, having no inner fire to blend and merge with light external. These inner fires of the earth can be seen functioning, as in the sun, through three main channels:

b. Hành tinh. Sâu trong tim của hành tinh—chẳng hạn một hành tinh như Trái Đất—là các lửa nội tại chiếm giữ khối cầu trung tâm, hay các hang động mà—đầy sự cháy sáng rực—làm cho sự sống trên bầu hành tinh trở nên khả hữu. Các lửa nội tại của mặt trăng thực tế đã cháy cạn, và vì thế nó không chiếu sáng ngoại trừ bằng phản chiếu, không có lửa bên trong để hòa trộn và hợp nhất với ánh sáng bên ngoài. Các lửa nội tại này của trái đất có thể được thấy đang hoạt động, như trong mặt trời, qua ba kênh chính:

1. Productive substance, or the matter of the planet vitalised by heat. This heat and matter together act as the mother of all that germinates, and as the protector of all that dwells therein and thereon. This corresponds to the akasha, the active vitalised matter of the solar system, that nourishes all as does a mother.

1. Chất liệu sinh sản, hay vật chất của hành tinh được tiếp sinh lực bởi nhiệt. Nhiệt và vật chất này cùng nhau hoạt động như người mẹ của mọi thứ nảy mầm, và như người bảo hộ của mọi thứ cư ngụ trong đó và trên đó. Điều này tương ứng với akasha, vật chất hoạt động được tiếp sinh lực của hệ mặt trời, nuôi dưỡng mọi sự như một người mẹ.

2. Electrical fluid, a fluid which is latent in the planet though as yet but little recognized. It is perhaps better expressed by the term “animal magnetism.” It is the distinctive quality of the atmosphere of a planet, or its electrical ring-pass-not. It is the opposite pole to the solar electrical fluid, and the contact of the two and their correct manipulation is the aim—perhaps unrealised—-of all scientific endeavor at this time.

2. Lưu chất điện, một lưu chất tiềm ẩn trong hành tinh dù cho đến nay còn rất ít được nhận biết. Có lẽ nó được diễn tả tốt hơn bằng thuật ngữ “từ điện động vật.” Đó là phẩm tính đặc thù của khí quyển của một hành tinh, hay vòng-giới-hạn điện của nó. Nó là cực đối nghịch với lưu chất điện thái dương, và sự tiếp xúc của cả hai cùng sự vận dụng đúng đắn chúng là mục tiêu—có lẽ chưa được nhận ra—của mọi nỗ lực khoa học vào lúc này.

3. That emanation of the planet which we might term Planetary Prana. It is that which is referred to when one speaks of the health-giving qualities of Mother Nature, and which is back of the cry of the modern physician, when he wisely says “Back to the Earth.” It is the fluidic emanation of this prana which acts upon the physical body, though in this case not via the etheric body. It is absorbed [Page 61] through the skin purely and the pores are its line of least resistance.

3. Phát xạ của hành tinh mà chúng ta có thể gọi là Prana Hành Tinh. Đó là điều được nhắc đến khi người ta nói về các phẩm tính ban sức khỏe của Mẹ Thiên Nhiên, và là điều đứng sau tiếng kêu của vị thầy thuốc hiện đại, khi ông khôn ngoan nói “Hãy trở về với Trái Đất.” Chính phát xạ linh động của prana này tác động lên thể xác, dù trong trường hợp này không phải qua thể dĩ thái. Nó được hấp thu [Page 61] hoàn toàn qua da và các lỗ chân lông là con đường ít trở ngại nhất của nó.

c. The Man. At the base of the spine lie hid the fires of the human system, or the internal fires of the Microcosm. The centre is located there, and from it the radiations go forth along the three channels, recognisable in the spine.

c. Con người. Ở đáy cột sống ẩn giấu các lửa của hệ thống con người, hay các lửa nội tại của Tiểu thiên địa. Trung tâm tọa lạc ở đó, và từ đó các bức xạ phát ra dọc theo ba kênh, có thể nhận biết được trong cột sống.

1. Bodily warmth, the channel along which the heat radiates and which finds the goal of its attention to be the heating of the corporeal frame. This vitalisation of the dense matter of the body finds its correspondence in the systemic akasha, and in planetary productive substance.

1. Hơi ấm cơ thể, kênh dọc theo đó nhiệt bức xạ và mục tiêu chú ý của nó là làm nóng khung thể xác. Sự tiếp sinh lực này cho vật chất đậm đặc của thân thể tìm thấy sự tương ứng của nó trong akasha hệ thống, và trong chất liệu sinh sản của hành tinh.

2. Nervous response. This is the vitalising tenuous fluid which applies itself to the stimulation of the nervous centres, and which creates electrical response to contact between the nerves and the brain. It should now be more closely studied. It corresponds to systemic electricity, and to planetary electricity.

2. Đáp ứng thần kinh. Đây là lưu chất vi tế tiếp sinh lực, tự áp dụng vào việc kích thích các trung tâm thần kinh, và tạo ra đáp ứng điện đối với sự tiếp xúc giữa các dây thần kinh và bộ não. Hiện nay điều này cần được nghiên cứu chặt chẽ hơn. Nó tương ứng với điện của hệ thống, và với điện của hành tinh.

3. Pranic emanation. The emanation, via the etheric body, which corresponds in man to solar prana and to planetary prana. This demonstrates principally in the health aura and has naught to do with magnetic qualities, as generally interpreted when considering a personality, or man as a unit. I make this repetition as it is very necessary that no mental confusion exists between that magnetism which is a spiritual emanation and that which is purely animal.

3. Phát xạ prana. Phát xạ, qua thể dĩ thái, tương ứng nơi con người với prana thái dương và prana hành tinh. Nó biểu lộ chủ yếu trong hào quang sức khỏe và không liên quan gì đến các phẩm tính từ điện, như thường được diễn giải khi xét đến một phàm ngã, hay con người như một đơn vị. Tôi lặp lại điều này vì rất cần thiết để không có sự lẫn lộn trí tuệ nào giữa từ điện vốn là một phát xạ tinh thần và cái vốn thuần túy động vật.

It might be wise here to point out that this triple manifestation of fire demonstrates in the astral and mental bodies likewise, having to do with the substance of those bodies. We might express this fire in its triple manifestation as the sumtotal of the essential fire, or life activity of the third Logos. It should be carefully borne [Page 62] in mind that the manifestation of the work of the three Logoi is the expression of the mind of some cosmic Entity. In the same way, the seven planetary Entities, the seven Heavenly Men, are seven Logoi (likewise cosmic Beings) Who in Their totality form the Body of the threefold Logos. We have, therefore:

Ở đây có lẽ nên chỉ ra rằng sự biểu lộ tam phân này của lửa cũng biểu lộ trong thể cảm dục và thể trí, liên quan đến chất liệu của các thể ấy. Chúng ta có thể diễn tả lửa này trong biểu lộ tam phân của nó như là tổng số toàn bộ của lửa bản chất, hay hoạt động sự sống của Thượng đế thứ ba. Cần phải luôn ghi nhớ cẩn thận [Page 62] rằng sự biểu lộ công việc của Ba Ngôi Các Thượng đế là biểu hiện của trí tuệ của một Thực Thể vũ trụ nào đó. Cũng theo cách ấy, bảy Thực Thể Hành Tinh, bảy Đấng Thiên Nhân, là bảy Các Thượng đế (cũng là các Hữu thể vũ trụ), Đấng mà trong tổng thể của Các Ngài tạo thành Thể của Thượng đế tam phân. Vì vậy, chúng ta có:

1. The undifferentiated Logos—a cosmic Entity.

1. Thượng đế không phân hoá—một Thực Thể vũ trụ.

2. The Logos, threefold in manifestation:

2. Thượng đế, tam phân trong biểu lộ:

a. The cosmic Lord of Will Power.

a. Đấng Chúa Tể vũ trụ của Quyền năng Ý Chí.

b. The cosmic Lord of Love and Wisdom.

b. Đấng Chúa Tể vũ trụ của Bác Ái và Minh Triết.

c. The cosmic Lord of Active Intelligence.

c. Đấng Chúa Tể vũ trụ của Trí Tuệ Hoạt Động.

3. The triple Logos, sevenfold in manifestation., i.e. The seven planetary Logoi.(18),(19), (20)

3. Thượng đế tam phân, thất phân trong biểu lộ, tức là bảy Hành Tinh Thượng Đế. (18), (19), (20)

(18) T. Subba Rao says on page 20, of Esoteric Writings: “As a general rule, whenever seven entities are mentioned in the ancient occult science of India in any connection whatsoever, you must suppose that those seven entities came into existence from three primary entities and that these three entities again are evolved out of a single entity or monad. To take a familiar example, the seven coloured rays in the solar ray are evolved out of three primary coloured rays; and the three primary colours co-exist with the four secondary colours in the solar ray. Similarly the three primary entities which brought man into existence co-exist in him with the four secondary entities which arose from different combinations of the three primary entities.”

(18) T. Subba Rao nói ở trang 20 của Esoteric Writings: “Theo quy luật tổng quát, bất cứ khi nào bảy thực thể được nhắc đến trong khoa huyền bí học cổ xưa của Ấn Độ trong bất kỳ mối liên hệ nào, các bạn phải giả định rằng bảy thực thể ấy đã đi vào hiện hữu từ ba thực thể sơ cấp và ba thực thể này lại được tiến hoá ra từ một thực thể hay chân thần duy nhất. Lấy một ví dụ quen thuộc, bảy tia màu sắc trong tia thái dương được tiến hoá ra từ ba tia màu sắc sơ cấp; và ba màu sơ cấp cùng đồng hiện hữu với bốn màu thứ cấp trong tia thái dương. Tương tự như vậy, ba thực thể sơ cấp đã đưa con người vào hiện hữu cũng đồng hiện hữu trong y với bốn thực thể thứ cấp đã phát sinh từ những sự kết hợp khác nhau của ba thực thể sơ cấp.”

In Christian terminology these are the three Persons of the Trinity, and the seven Spirits which are before the Throne. Compare “Our God is a consuming fire.” Heb: 12.29. (back)

Theo thuật ngữ Ki-tô giáo, đây là ba Ngôi của Tam Vị, và Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai. Hãy so sánh câu “Thượng đế của chúng ta là ngọn lửa thiêu đốt.” Hê-bơ-rơ 12:29. (back)

(19) “I have already said in speaking of this Logos, that it was quite possible that it was the Logos that appeared in the shape of the first Dhyan Chohan, or planetary Spirit, when the evolution of man was recommenced after the last period of inactivity on this planet, as stated in Mr. Sinnett’s book, Esoteric Buddhism, and after having set the evolutionary current in motion, retired to the spiritual plane congenial to its own nature, and has been watching since over the interests of humanity, and now and then appearing in connection with a human individuality for the good of mankind. Or you may look upon the Logos represented by Krishna as one belonging to the same class as the Logos which so appeared. In speaking of himself Krishna says, (chap. x, verse 6):

(19) “Tôi đã nói rồi khi bàn đến Logos này, rằng hoàn toàn có thể đó chính là Logos đã xuất hiện dưới hình tướng của vị Dhyan Chohan đầu tiên, hay Tinh thần hành tinh, khi sự tiến hoá của con người được tái khởi động sau thời kỳ bất động cuối cùng trên hành tinh này, như đã nêu trong sách của ông Sinnett, Esoteric Buddhism, và sau khi đã làm cho dòng tiến hoá chuyển động, đã lui về cõi tinh thần phù hợp với bản chất riêng của nó, và từ đó đến nay vẫn dõi theo những lợi ích của nhân loại, thỉnh thoảng lại xuất hiện trong mối liên hệ với một cá thể nhân loại vì lợi ích của loài người. Hoặc bạn có thể xem Logos được Krishna biểu hiện là một Đấng thuộc cùng loại với Logos đã xuất hiện như thế. Khi nói về chính mình, Krishna nói (chương x, câu 6):

“The seven great Rishis, the four preceding Manus, partaking of my nature were born from my mind: from them sprang, was (born) the human race and the world.”

“Bảy vị Rishi vĩ đại, bốn vị Manu đi trước, cùng dự phần vào bản chất của ta, đã sinh ra từ trí của ta: từ các vị ấy đã phát sinh, hay đã sinh ra, nhân loại và thế giới.”

He speaks of the sapta Rishis and of the Manus as his manasaputras, or mind-born sons, which they would be if he was the so-called Prajapati, who appeared on this planet and commenced the work of evolution.”—The Theosophist, Vol. VIII, p. 443. (back)

Ngài nói về các sapta Rishi và các Manu như những manasaputras của Ngài, hay những người con sinh từ trí, đúng như họ sẽ là nếu Ngài là vị Prajapati như người ta thường gọi, Đấng đã xuất hiện trên hành tinh này và khởi sự công việc tiến hoá.”—The Theosophist, Tập VIII, tr. 443. (back)

(20) The following tabulation should be borne in mind:

(20) Cần ghi nhớ bảng liệt kê sau đây:

Seven branch races make

one subrace

Seven subraces make

one rootrace

Seven rootraces make

one world period

Seven world periods make

one round

Seven rounds make

one chain period

Seven chain periods make

one planetary scheme

Ten planetary schemes make

one solar system

(back)

(back)

[Page 63] Each of these cosmic Entities is, in His essential essence, Fire; each manifests as fire in a threefold manner. In point of time the cosmic Lord of active Intelligence, considered from the standpoint of cosmic evolution, is more evolved than His two Brothers. He is the life of matter, its latent internal Fire. His is the fire essence that lies at the heart of the Sun, of the planet, and of man’s material forms. He is the sumtotal of the Past.

[Page 63] Mỗi Thực Thể vũ trụ này, trong tinh túy cốt yếu của Ngài, là Lửa; mỗi Ngài biểu lộ như lửa theo cách tam phân. Xét về thời gian, Chúa Tể vũ trụ của Trí Tuệ linh hoạt, được nhìn từ quan điểm của sự tiến hoá vũ trụ, thì tiến hoá hơn hai Huynh Đệ của Ngài. Ngài là sự sống của vật chất, là Lửa nội tại tiềm ẩn của nó. Ngọn lửa tinh túy của Ngài nằm ở trung tâm của Mặt Trời, của hành tinh, và của các hình tướng vật chất của con người. Ngài là tổng thể của Quá Khứ.

The Lord of Cosmic Love now seeks union with His Brother, and, in point of time, embodies all the Present. He is the sumtotal of all that is embodied; He is conscious Existence. He is the Son divine and His life and nature evolve through every existent form. The Lord of Cosmic Will holds hid the future within His plans and consciousness. They are all three the Sons of one Father, all three the aspects of the One God, all three are Spirit, all three are Soul, and all three are Rays emanating from one cosmic centre. All three are substance, but in the past one Lord was the elder Son, in the present another Lord comes to the fore, and in the future still another. But this is so only in Time. From the standpoint of the Eternal Now, none is greater nor less than another, for the last shall be first, and the first last. Out of manifestation time is not, and freed from objectivity states of consciousness are not.

Chúa Tể của Bác Ái Vũ Trụ hiện đang tìm cách hợp nhất với Huynh Đệ của Ngài, và xét về thời gian, Ngài thể hiện toàn bộ Hiện Tại. Ngài là tổng thể của mọi điều được thể hiện; Ngài là Hiện Hữu hữu thức. Ngài là Con thiêng liêng và sự sống cùng bản chất của Ngài tiến hoá qua mọi hình tướng hiện hữu. Chúa Tể của Ý Chí Vũ Trụ giữ kín tương lai trong các kế hoạch và tâm thức của Ngài. Cả ba đều là những Người Con của một Cha, cả ba đều là các phương diện của một Thượng đế Duy Nhất, cả ba đều là tinh thần, cả ba đều là linh hồn, và cả ba đều là những cung phát ra từ một trung tâm vũ trụ. Cả ba đều là chất liệu, nhưng trong quá khứ một Chúa Tể là Người Con trưởng, trong hiện tại một Chúa Tể khác nổi lên hàng đầu, và trong tương lai lại là một Chúa Tể khác nữa. Nhưng điều này chỉ đúng trong Thời gian. Từ quan điểm của Hiện Tại Vĩnh Cửu, không ai lớn hơn hay nhỏ hơn ai, vì kẻ sau sẽ thành trước, và kẻ trước sẽ thành sau. Ngoài biểu hiện thì không có thời gian, và khi được giải thoát khỏi tính khách thể thì cũng không có các trạng thái tâm thức.

The fire of Spirit is the essential fire of the first Lord of Will plus the fire of the second Logos of Love. These two cosmic Entities blend, merge, and demonstrate as Soul, utilising for purposes of manifestation the aid of the third Logos. The three fires blend and merge. In this fourth round and on this fourth globe of our planetary scheme, the fires of the third Logos of intelligent matter are fusing somewhat with the fires of cosmic [Page 64] mind, showing as will or power, and animating the Thinker on all planes. The object of Their co-operation is the perfected manifestation of the cosmic Lord of Love. This should be pondered upon for it reveals a mystery.

Lửa của tinh thần là ngọn lửa cốt yếu của Chúa Tể thứ nhất của Ý Chí cộng với lửa của Logos thứ hai của Bác Ái. Hai Thực Thể vũ trụ này hòa trộn, dung nhập, và biểu lộ như linh hồn, sử dụng sự trợ giúp của Logos thứ ba cho các mục đích biểu hiện. Ba ngọn lửa hòa trộn và dung nhập. Trong cuộc tuần hoàn thứ tư này và trên bầu hành tinh thứ tư này của hệ hành tinh chúng ta, các ngọn lửa của Logos thứ ba của vật chất thông tuệ đang dung hợp phần nào với các ngọn lửa của trí tuệ [Page 64] vũ trụ, biểu lộ như ý chí hay quyền năng, và làm sinh động Nhà Tư Tưởng trên mọi cõi. Mục đích của sự hợp tác của Các Ngài là sự biểu hiện hoàn hảo của Chúa Tể vũ trụ của Bác Ái. Điều này cần được suy gẫm vì nó mặc khải một huyền nhiệm.

The blending of the three fires, the merging of the three Rays, and the co-operation of the three Logoi have in view (at this time and within this solar system) the development of the Essence of the cosmic Lord of Love, the second Person in the logoic trinity. Earlier it was not so, later it will not be, but now it is. When viewed from the cosmic mental plane these Three constitute the PERSONALITY OF THE LOGOS, and are seen functioning as one. Hence the secret (well recognised as fact, though not understood) of the excessive heat, occultly expressed, of the astral or central body of the triple personality. It animates and controls the physical body, and its desires hold sway in the majority of cases; it demonstrates in time and space the correspondence of the temporary union of spirit and matter, the fires of cosmic love and the fires of matter blended. A similar analogy is found in the heat apparent in this second solar system.

Sự hòa trộn của ba ngọn lửa, sự dung nhập của ba cung, và sự hợp tác của ba Logos đều nhắm đến (vào lúc này và trong hệ mặt trời này) sự phát triển Tinh Túy của Chúa Tể vũ trụ của Bác Ái, Ngôi thứ hai trong Tam Vị Thượng đế. Trước đây không phải vậy, về sau cũng sẽ không phải vậy, nhưng hiện nay là như thế. Khi được nhìn từ cõi trí vũ trụ, Ba Đấng này cấu thành PHÀM NGÃ CỦA LOGOS, và được thấy là vận hành như một. Do đó mới có bí mật (một sự kiện đã được thừa nhận rõ, dù chưa được thấu hiểu) về nhiệt quá mức, được diễn đạt theo huyền bí học, của thể cảm dục hay thể trung tâm của phàm ngã tam phân. Nó làm sinh động và kiểm soát thể xác, và các ham muốn của nó chi phối trong đa số trường hợp; nó biểu lộ trong thời gian và không gian sự tương ứng của sự hợp nhất tạm thời giữa tinh thần và vật chất, các ngọn lửa của bác ái vũ trụ và các ngọn lửa của vật chất được hòa trộn. Một sự tương đồng tương tự được tìm thấy trong sức nóng biểu hiện trong hệ mặt trời thứ hai này.

d. The Atom. The inner fires of the atom can likewise be seen functioning along similar lines, their demonstration being already somewhat recognised by science. This being so there exists no necessity for further elaboration. (21)

d. Nguyên tử. Các ngọn lửa bên trong nguyên tử cũng có thể được thấy đang vận hành theo những đường lối tương tự, và sự biểu lộ của chúng đã phần nào được khoa học thừa nhận. Vì đã như vậy, không cần phải khai triển thêm nữa. (21)

(21) “It should be remembered that the mere scale does not matter, for greatness and smallness are essentially relative. The destiny of each atom is to create a brahmanda. Brahmandas like or smaller or larger than ours, held together by a sun, are present in every atom. Vishvas, great world-systems, exist in an atom, and atoms again exist in these vishvas. This is the significance of ‘many from one’; wherever we see the one we should recognise the many also, and conversely. After securing the ability of, and then actually, creating a brahmanda, the next step is the creation of a jagat, then a vishva, then a maha-vishva and so on, till the status of maha-vishnu is reached.”—Bhagavan Das in the Pranava Vada, p. 94. (back)

(21) “Cần nhớ rằng bản thân quy mô không quan trọng, vì lớn và nhỏ về bản chất đều là tương đối. Định mệnh của mỗi nguyên tử là tạo ra một brahmanda. Những brahmanda giống như, nhỏ hơn, hay lớn hơn của chúng ta, được giữ lại với nhau bởi một mặt trời, hiện diện trong mọi nguyên tử. Những vishva, những hệ thống thế giới vĩ đại, tồn tại trong một nguyên tử, và các nguyên tử lại tồn tại trong những vishva này. Đây là ý nghĩa của ‘nhiều từ một’; ở đâu chúng ta thấy cái một thì cũng nên nhận ra cái nhiều, và ngược lại. Sau khi đạt được khả năng, rồi thực sự, tạo ra một brahmanda, bước kế tiếp là tạo ra một jagat, rồi một vishva, rồi một maha-vishva, và cứ thế cho đến khi đạt tới địa vị maha-vishnu.”—Bhagavan Das trong Pranava Vada, tr. 94. (back)

II. FIRE ELEMENTALS AND DEVAS

II. HÀNH KHÍ CỦA LỬA VÀ THIÊN THẦN

[Page 65] We might now briefly consider the subject of the fire elementals and devas, and then deal with the relation of the Personality Ray to this internal fire of the system in its threefold manifestation.

[Page 65] Giờ đây chúng ta có thể xét ngắn gọn về đề tài các hành khí của lửa và thiên thần, rồi sau đó bàn đến mối liên hệ của cung phàm ngã với ngọn lửa nội tại này của hệ thống trong biểu hiện tam phân của nó.

Certain facts are known in connection with the fire spirits (if so they may be termed). The fundamental fact that should here be emphasised is that AGNI, the Lord of Fire, rules over all the fire elementals and devas on the three planes of human evolution, the physical, the astral, and the mental, and rules over them not only on this planet, called the Earth, but on the three planes in all parts of the system. He is one of the seven Brothers (to use an expression familiar to students of the Secret Doctrine) Who each embody one of the seven principles, or Who are in Themselves the seven centres in the body of the cosmic Lord of Fire, called by H. P. B. “Fohat.” He is that active fiery Intelligence, Who is the basis of the internal fires of the solar system. On each plane one of these Brothers holds sway, and the three elder Brothers (for always the three will be seen, and later the seven, who eventually merge into the primary three) rule on the first, third and the fifth planes, or on the plane of adi, of atma (22) and of manas. It is urgent that we here remember that They are fire viewed [Page 66] in its third aspect, the fire of matter. In Their totality these seven Lords form the essence of the cosmic Lord, called in the occult books, Fohat. (23)

Một số sự kiện nhất định đã được biết liên quan đến các tinh linh lửa (nếu có thể gọi như vậy). Sự kiện căn bản cần được nhấn mạnh ở đây là AGNI, Chúa Tể của Lửa, cai quản mọi hành khí của lửa và thiên thần trên ba cõi của sự tiến hoá nhân loại, cõi hồng trần, cõi cảm dục và cõi trí, và cai quản họ không chỉ trên hành tinh này, gọi là Trái Đất, mà còn trên ba cõi ấy trong mọi phần của hệ thống. Ngài là một trong bảy Huynh Đệ (dùng một cách diễn đạt quen thuộc với các đạo sinh của Giáo Lý Bí Nhiệm) mà mỗi Đấng thể hiện một trong bảy nguyên khí, hay tự thân là bảy trung tâm trong thân thể của Chúa Tể vũ trụ của Lửa, được H. P. B. gọi là “Fohat.” Ngài là Trí Tuệ lửa linh hoạt ấy, Đấng là nền tảng của các ngọn lửa nội tại của hệ mặt trời. Trên mỗi cõi, một trong các Huynh Đệ này nắm quyền chi phối, và ba Huynh Đệ trưởng (vì luôn luôn sẽ thấy ba, rồi sau đó là bảy, những Đấng cuối cùng dung nhập vào ba nguyên thủy) cai quản trên các cõi thứ nhất, thứ ba và thứ năm, hay trên cõi adi, của atma (22) và của manas. Điều cấp thiết là ở đây chúng ta phải nhớ rằng Các Ngài là lửa được nhìn [Page 66] trong phương diện thứ ba của nó, lửa của vật chất. Trong tổng thể của Các Ngài, bảy Chúa Tể này tạo thành tinh túy của Chúa Tể vũ trụ, được gọi trong các sách huyền bí là Fohat. (23)

(22) Atma means as you all know the self or the ego or an individualised centre of consciousness around which all worldly experiences in their dual aspect of subjective and objective cluster and arrange themselves. It is as it were one of the foci from which emerge rays of light to illumine the cosmic waters and in which also converge the rays sent back by those waters. In Theosophical writings, it is called the selfconscious individuality or the Higher Manas. From this point of view, you will see that the Higher Manas is the most important principle or the central pivot of the human constitution or the true soul. It is the thread which ought to be caught hold of by one who wants to know the truth and lift himself out of this conditioned existence. To this it may be objected that Atma represents the seventh principle of the theosophical septenary and that the Manas is far lower in the scale. But the plain answer is that the seventh principle is the ultimate state attainable by the self after crossing the ocean of conditioned existence or samsara.”—Some Thoughts on the Gita, p. 26. (back)

(22) Atma có nghĩa, như tất cả các bạn đều biết, là bản ngã hay chân ngã hoặc một trung tâm tâm thức đã được biệt ngã hóa, quanh đó mọi kinh nghiệm thế gian trong phương diện kép chủ quan và khách quan của chúng tụ lại và tự sắp xếp. Nó có thể nói là một trong những tiêu điểm từ đó các tia sáng phát ra để soi sáng các đại dương vũ trụ và trong đó cũng hội tụ các tia được những đại dương ấy phản chiếu trở lại. Trong các trước tác Thông Thiên Học, nó được gọi là cá thể tính ngã thức hay Thượng trí. Từ quan điểm này, các bạn sẽ thấy rằng Thượng trí là nguyên khí quan trọng nhất hay trục trung tâm của cấu tạo con người, hay linh hồn đích thực. Nó là sợi dây mà người nào muốn biết chân lý và nâng mình ra khỏi hiện hữu bị điều kiện hóa này, hay luân hồi, phải nắm lấy. Có thể có người phản đối điều này rằng Atma biểu hiện nguyên khí thứ bảy của bộ bảy nguyên lý theo Thông Thiên Học và rằng Manas ở thấp hơn nhiều trong thang bậc. Nhưng câu trả lời rõ ràng là nguyên khí thứ bảy là trạng thái tối hậu mà bản ngã có thể đạt được sau khi vượt qua đại dương của hiện hữu bị điều kiện hóa hay samsara.”—Some Thoughts on the Gita, tr. 26. (back)

(23) Fohat, or electricity, is an Entity.

(23) Fohat, hay điện, là một Thực Thể.

He is the primordial

electric Entity

S. D., I, 105.

He is

Will

S. D., I, 136.

He is

Love-Wisdom

S. D., I, 100,144,155.

He is

Active Intelligence

S. D., I, 136.

Therefore He is God

S. D., I, 167.

He is the sumtotal of the energy of the seven Spirits, Who are the sumtotal of the Logos.—S. D., I, 169. (back)

Ngài là tổng thể của năng lượng của bảy Thánh Linh, các Đấng là tổng thể của Logos.—S. D., I, 169. (back)

This is so in the same sense as the seven Chohans, (24) with Their affiliated groups of pupils, form the essence or centres in the body of one of the Heavenly Men, one of the planetary Logoi. These seven again in Their turn form the essence of the Logos.

Điều này cũng đúng theo cùng ý nghĩa như bảy Chohan, (24) cùng với các nhóm đệ tử trực thuộc của Các Ngài, tạo thành tinh túy hay các trung tâm trong thân thể của một trong các Đấng Thiên Nhân, một trong các Hành Tinh Thượng Đế. Bảy Đấng này, đến lượt mình, lại tạo thành tinh túy của Logos.

(24) Chohan (Tibetan). A Lord or Master. A high Adept. An initiate who has taken more Initiations than the five major Initiations which make man a “Master of the Wisdom.” (back)

(24) Chohan (Tây Tạng). Một Chúa Tể hay Chân sư. Một chân sư cao cấp. Một điểm đạo đồ đã nhận nhiều lần điểm đạo hơn năm lần điểm đạo lớn khiến con người trở thành một “Chân sư Minh Triết.” (back)

Each of the seven Lords of Fire (25) are differentiated into numerous groups of fire entities, from the Deva-Lords of a plane down to the little salamanders of the internal furnaces. We are not dealing with the fiery essences of the higher planes at this stage in our discussion. We will only enumerate somewhat briefly some of the better known groups, as contacted in the three worlds.

Mỗi một trong bảy Chúa Tể của Lửa (25) đều được biến phân thành vô số nhóm thực thể lửa, từ các Chúa Tể Thiên thần của một cõi cho đến những salamander nhỏ bé của các lò lửa bên trong. Ở giai đoạn này của cuộc bàn luận, chúng ta không đề cập đến các tinh túy lửa của các cõi cao hơn. Chúng ta sẽ chỉ liệt kê thật ngắn gọn một vài nhóm được biết đến nhiều hơn, như được tiếp xúc trong ba cõi thấp.

(25) The seven Brothers. See S. D., I, 105. These seven are the seven differentiations of primordial electric energy.

(25) Bảy Huynh Đệ. Xem S. D., I, 105. Bảy vị này là bảy sự biến phân của năng lượng điện nguyên thủy.

Plane. As used in occultism, the term denotes the range or extent of some state of consciousness or of the perceptive power of a particular set of senses or the action or a particular force, or the state of matter corresponding to any of the above. (back)

Cõi. Như được dùng trong huyền bí học, thuật ngữ này chỉ phạm vi hay tầm mức của một trạng thái tâm thức nào đó, hay của năng lực tri giác của một tập hợp giác quan nhất định, hay hoạt động của một mãnh lực đặc thù, hay trạng thái của vật chất tương ứng với bất kỳ điều nào kể trên. (back)

1. Physical Plane.

1. Cõi Hồng Trần.

Salamanders, those little fire elementals who can be seen dancing in every flame, tending the fires of the hearth and the home, and of the factory. They are of the same group as the fire spirits who can be contacted deep in the fiery bowels of the planet.

Salamander, những hành khí của lửa nhỏ bé có thể được thấy nhảy múa trong mọi ngọn lửa, chăm nom các bếp lửa của lò sưởi và gia đình, cũng như của nhà máy. Chúng thuộc cùng một nhóm với các tinh linh lửa có thể được tiếp xúc sâu trong những lòng lò rực lửa của hành tinh.

Fire spirits, latent in all focal points of heat, who are themselves the essence of warmth, and can be contacted [Page 67] in the heat of the bodily frame, whether human or animal, and who are likewise the warmth terrestrial.

Các tinh linh lửa, tiềm ẩn trong mọi tiêu điểm của nhiệt, bản thân chúng là tinh túy của hơi ấm, và có thể được tiếp xúc [Page 67] trong sức nóng của thân thể, dù là người hay thú, và cũng chính là hơi ấm của địa cầu.

The Agnichaitans, a higher grade of fire spirit, who form a vortex of fire when viewed on a large scale, such as in volcanoes and large destructive burnings. They are closely allied to a still more important group of devas, who form the fiery envelope of the sun.

Các Agnichaitan, một cấp bậc cao hơn của tinh linh lửa, tạo thành một xoáy lửa khi được nhìn trên quy mô lớn, như trong núi lửa và những đám cháy hủy diệt lớn. Chúng có liên hệ mật thiết với một nhóm thiên thần còn quan trọng hơn nữa, những vị tạo thành lớp bao lửa của mặt trời.

The pranic elementals, those minute fiery essences who have the ability to permeate the texture of the human body, of a tree, or of all that may be found in the human, vegetable and animal kingdoms, and who blend with the fires of the microcosmic systems.

Các hành khí prana, những tinh túy lửa cực vi có khả năng thấm vào kết cấu của thân thể con người, của cây cối, hay của mọi thứ có thể tìm thấy trong giới nhân loại, giới thực vật và giới động vật, và hòa trộn với các ngọn lửa của các hệ thống tiểu thiên địa.

Certain of the deva kingdom who may be described as ensouling certain of the great light rays, and Who are in Themselves the essence of those rays. Other forms of such elemental lives and of deva groups might be enumerated, but the above tabulation will suffice for our present purpose.

Một số vị trong giới thiên thần có thể được mô tả là đang phú linh cho một số tia sáng lớn, và tự thân Các Ngài là tinh túy của những tia ấy. Có thể liệt kê thêm những dạng khác của các sự sống hành khí như thế và của các nhóm thiên thần, nhưng bảng trên là đủ cho mục đích hiện tại của chúng ta.

2. The Astral Plane.

2. Cõi Cảm Dục.

The fiery essences of this plane are more difficult for us to comprehend, having not, as yet, the seeing eye upon that plane. They are in themselves the warmth and heat of the emotional body, and of the body of feeling. They are of a low order when upon the path of desire, and of a high order when upon the path of aspiration, for the elemental is then transmuted into the deva.

Các tinh túy lửa của cõi này khó để chúng ta hiểu hơn, vì chúng ta chưa có con mắt thấy trên cõi ấy. Tự thân chúng là hơi ấm và sức nóng của thể cảm dục, và của thể cảm xúc. Chúng thuộc cấp thấp khi ở trên con đường dục vọng, và thuộc cấp cao khi ở trên con đường khát vọng, vì khi đó hành khí được chuyển hoá thành thiên thần.

Their grades and ranks are many, but their names matter not save in one instance. It may be of interest to know the appellation applied to the devas of fire whose part it is to tend the fires that will later destroy the causal body. We need to remember that it is the upspringing of the latent fire of matter and its merging with two other fires that causes destruction. These elementals and devas are called the Agnisuryans, and in [Page 68] their totality are the fiery essences of buddhi, hence their lowest manifestation is on the sixth plane, the astral.

Cấp bậc và thứ hạng của chúng rất nhiều, nhưng tên gọi của chúng không quan trọng ngoại trừ trong một trường hợp. Có lẽ điều đáng quan tâm là biết danh xưng được áp dụng cho các thiên thần lửa có phần việc là chăm nom những ngọn lửa mà về sau sẽ hủy diệt thể nguyên nhân. Chúng ta cần nhớ rằng chính sự bùng lên của lửa tiềm ẩn của vật chất và sự dung nhập của nó với hai ngọn lửa khác gây ra sự hủy diệt. Những hành khí và thiên thần này được gọi là Agnisuryan, và trong [Page 68] tổng thể của chúng, chúng là các tinh túy lửa của Bồ đề, vì vậy biểu hiện thấp nhất của chúng là trên cõi thứ sáu, cõi cảm dục.

Further information concerning these deva lives will be found further on in the Treatise, where they are dealt with at some length.

Thông tin thêm về các sự sống thiên thần này sẽ được tìm thấy ở phần sau của Luận thuyết, nơi chúng được bàn đến khá dài.

S1S6

DIVISION B - THE PERSONALITY RAY AND FIRE BY FRICTION

PHÂN ĐOẠN B - CUNG PHÀM NGÃ VÀ LỬA MA SÁT

I. The work of the three rays

I. Công việc của ba cung

1. The personality ray.

1. Cung phàm ngã.

2. The Egoic ray.

2. Cung chân ngã.

3. The monadic ray.

3. Cung chân thần.

II. The personality ray and the permanent atom.

II. Cung phàm ngã và nguyên tử trường tồn.

III. The personality ray and karma,

III. Cung phàm ngã và nghiệp quả,

I. THE WORK OF THE THREE RAYS

I. CÔNG VIỆC CỦA BA CUNG

[Page 69] We here touch upon a matter of wide general interest yet which is withal very little comprehended. I refer to the subject of the permanent atoms. (26) Each body or form wherein Spirit functions has, for its focal point on each plane, an atom composed of matter of the atomic subplane of each plane. This serves as a nucleus for the distribution of force, for the conservation of faculty, for the assimilation of experience, and for the preservation [Page 70] of memory. These atoms are in direct connection with one or other of the three Great rays in connection with the microcosm:—

[Page 69] Ở đây chúng ta chạm đến một vấn đề được quan tâm rộng rãi nói chung nhưng lại rất ít được thấu hiểu. Tôi muốn nói đến đề tài các nguyên tử trường tồn. (26) Mỗi thể hay hình tướng mà trong đó tinh thần vận hành đều có, làm tiêu điểm của nó trên mỗi cõi, một nguyên tử được cấu tạo bằng vật chất của cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi. Nguyên tử này làm hạt nhân cho sự phân phối mãnh lực, cho sự bảo tồn năng lực, cho sự đồng hoá kinh nghiệm, và cho sự gìn giữ [Page 70] ký ức. Những nguyên tử này có liên hệ trực tiếp với một hay một khác trong ba cung lớn liên quan đến tiểu thiên địa:—

(26) Permanent Atom. An appropriated point of atomic matter. A tiny centre of force which forms the central factor and the attractive agency around which the sheaths of the incarnating Monad are built. These are strung like pearls upon the sutratma, or thread.

(26) Nguyên tử trường tồn. Một điểm vật chất nguyên tử được chiếm dụng. Một trung tâm mãnh lực cực nhỏ tạo thành yếu tố trung tâm và tác nhân hấp dẫn quanh đó các vỏ bọc của Chân thần đang lâm phàm được xây dựng. Chúng được xâu như những hạt ngọc trên sutratma, hay sợi dây.

Ray. A stream of force or an emanation. The solar Logos, or the Macrocosm, manifests through three major rays and four minor rays. The Monad or microcosm likewise manifests through three rays as mentioned in the text above. All rays express a peculiar and specialised type of force.

Cung. Một dòng mãnh lực hay một sự phát xạ. Thái dương Thượng đế, hay Đại thiên địa, biểu lộ qua ba cung chính và bốn cung phụ. Chân thần hay tiểu thiên địa cũng biểu lộ qua ba cung như đã nêu trong đoạn trên. Mọi cung đều biểu lộ một loại mãnh lực đặc thù và chuyên biệt.

Triad. This is literally Atma-buddhi-manas, the expression of the Monad, just as the personality is the expression of the Ego. The Monad expresses itself through the Triad, and in its lowest or third Aspect forms the Egoic or Causal body, the infant or germinal Ego. Similarly, the Ego expresses itself through the threefold lower man, mental, emotional, and etheric (these being the reflection of the higher triad) and these three give rise to the dense physical manifestation. (back)

Tam nguyên tinh thần. Theo nghĩa đen, đây là Atma-buddhi-manas, sự biểu lộ của chân thần, cũng như phàm ngã là sự biểu lộ của chân ngã. Chân thần biểu lộ qua Tam nguyên tinh thần, và trong Phương diện thấp nhất hay thứ ba của nó tạo thành thể Chân ngã hay thể nguyên nhân, chân ngã sơ sinh hay mầm mống. Tương tự như vậy, chân ngã biểu lộ qua phàm nhân tam phân thấp, trí tuệ, cảm xúc và dĩ thái (ba điều này là sự phản chiếu của tam nguyên cao hơn) và ba điều này làm phát sinh biểu hiện hồng trần đậm đặc. (back)

a. The Monadic Ray, the synthetic ray of the microcosm.

a. Cung Chân thần, cung tổng hợp của tiểu thiên địa.

b. The Egoic Ray.

b. Cung Chân ngã.

c. The Personality Ray.

c. Cung Phàm ngã.

of the higher Triad) and these three give rise to the dense physical manifestation.

của Tam nguyên tinh thần cao hơn) và ba điều này làm phát sinh biểu hiện hồng trần đậm đặc.

Each of these rays has a connection with one or other of the permanent atoms in the lower threefold man, and has a direct action upon the spirillae (27) found within the atom. We have noted in “Letters on Occult Meditation” that the atoms of the lower threefold man underwent a twofold process:—

Mỗi cung này có liên hệ với một hay một khác trong các nguyên tử trường tồn trong con người tam phân thấp, và có tác động trực tiếp lên các loa tuyến (27) được tìm thấy bên trong nguyên tử. Chúng ta đã lưu ý trong “Letters on Occult Meditation” rằng các nguyên tử của con người tam phân thấp đã trải qua một tiến trình nhị phân:—

(27) Spirilla: “In order to examine the construction of the atom, a space is artificially made, then, if an opening be made in the wall thus constructed, the surrounding force flows in, and three whorls immediately appear, surrounding the “hole” with their triple spiral of two and a half coils, and returning to their origin by a spiral within the atom; these are at once followed by seven finer whorls, which following the spiral of the first three on the outer surface and returning to their origin by a spiral within that, flowing in the opposite direction form a caduceus with the first three. Each of the three coarser whorls, flattened out, makes a closed circle; each of the seven finer ones, similarly flattened out, makes a closed circle. The forces which flow in them, again, come from “outside,” from a fourth-dimensional space. Each of the finer whorls is formed of seven yet finer ones, set successively at right angles to each other, each finer than its predecessor; these we call spirillae.

(27) Loa tuyến: “Để khảo sát cấu tạo của nguyên tử, người ta tạo ra một khoảng không một cách nhân tạo; rồi nếu tạo một lỗ mở trong bức tường được dựng nên như thế, mãnh lực chung quanh sẽ tràn vào, và ba vòng xoáy lập tức xuất hiện, bao quanh ‘lỗ’ bằng đường xoắn ốc tam phân của chúng gồm hai vòng rưỡi, rồi trở về điểm xuất phát bằng một đường xoắn ốc bên trong nguyên tử; ngay sau đó là bảy vòng xoáy mịn hơn, đi theo đường xoắn ốc của ba vòng đầu trên bề mặt ngoài và trở về điểm xuất phát bằng một đường xoắn ốc bên trong đường kia, chảy theo hướng ngược lại, tạo thành một caduceus với ba vòng đầu. Mỗi một trong ba vòng xoáy thô hơn, khi được trải phẳng ra, tạo thành một vòng tròn khép kín; mỗi một trong bảy vòng xoáy mịn hơn cũng vậy, khi được trải phẳng ra, tạo thành một vòng tròn khép kín. Các mãnh lực chảy trong chúng, một lần nữa, đến từ ‘bên ngoài’, từ một không gian bốn chiều. Mỗi vòng xoáy mịn hơn lại được tạo thành từ bảy vòng còn mịn hơn nữa, được đặt nối tiếp nhau theo góc vuông, mỗi vòng mịn hơn vòng trước; chúng tôi gọi những vòng này là các loa tuyến.

“Each spirilla is animated by the life-force of a plane, and four are at present normally active, one for each round. Their activity in an individual may be prematurely forced by yoga practice.”—Occult Chemistry, p. 28. (back)

“Mỗi loa tuyến được làm sinh động bởi sinh lực của một cõi, và hiện nay bốn loa tuyến hoạt động bình thường, một cho mỗi cuộc tuần hoàn. Hoạt động của chúng trong một cá nhân có thể bị cưỡng bức phát triển sớm bằng việc thực hành yoga.”—Occult Chemistry, tr. 28. (back)

They were first vivified in rotation, and each held the light in ordered sequence until the lower triangle was entirely illumined.

Thoạt tiên, chúng được tiếp sinh lực theo vòng tuần tự, và mỗi cái giữ ánh sáng theo trình tự có trật tự cho đến khi tam giác thấp hoàn toàn được soi sáng.

Eventually transmutation took place, or (to word it otherwise) the polarisation eventually shifted into the three permanent atoms of the Triad, and out of the three permanent atoms of the lower triangle. The physical permanent atom is transcended and the polarisation becomes manasic or mental, the astral permanent atom is transcended and the polarisation becomes buddhic, while the mental unit is superseded by the permanent [Page 71] atom, of the fifth plane, the atmic. This is all brought about by the action of the three rays upon the atoms and upon the life within each atom. The relationship between these three rays and the permanent atoms might be summarised as follows:

Cuối cùng, sự chuyển hoá đã diễn ra, hay (nói cách khác) sự phân cực rốt cuộc đã chuyển vào ba Nguyên tử trường tồn của Tam nguyên tinh thần, và ra khỏi ba Nguyên tử trường tồn của tam giác thấp. Nguyên tử trường tồn hồng trần được vượt qua và sự phân cực trở thành manas hay trí tuệ, nguyên tử trường tồn cảm dục được vượt qua và sự phân cực trở thành Bồ đề, trong khi đơn vị hạ trí được thay thế bởi nguyên tử trường tồn [Page 71] của cõi thứ năm, tức atma. Tất cả điều này được mang lại bởi tác động của ba cung lên các nguyên tử và lên sự sống bên trong mỗi nguyên tử. Mối liên hệ giữa ba cung này và các Nguyên tử trường tồn có thể được tóm lược như sau:

The Personality Ray has direct action upon the physical permanent atom.

Cung phàm ngã tác động trực tiếp lên nguyên tử trường tồn hồng trần.

The Egoic Ray has a similar action upon the astral permanent atom.

Cung chân ngã có tác động tương tự lên nguyên tử trường tồn cảm dục.

The Monadic Ray has a close connection with the mental unit.

Cung chân thần có liên hệ mật thiết với đơn vị hạ trí.

The effect which they have is threefold, but is not simultaneous; they work ever, as do all things in Nature, in ordered cycles. The stimulation, for instance, that is the result of the action of the monadic Ray upon the mental unit is only felt when the aspirant treads the Path, or after he has taken the first Initiation. The action of the egoic Ray upon the astral permanent atom is felt as soon as the Ego can make good connection with the physical brain; when this is so the egoic ray is beginning to affect the atom powerfully and continuously; this occurs when a man is highly evolved and is nearing the Path. This threefold force is felt in the following way:

Hiệu quả mà chúng tạo ra là tam phân, nhưng không đồng thời; chúng luôn hoạt động, như mọi sự trong bản chất, theo các chu kỳ có trật tự. Chẳng hạn, sự kích thích là kết quả của tác động của cung chân thần lên đơn vị hạ trí chỉ được cảm nhận khi người chí nguyện bước trên Con Đường, hoặc sau khi y đã nhận lần điểm đạo thứ nhất. Tác động của cung chân ngã lên nguyên tử trường tồn cảm dục được cảm nhận ngay khi chân ngã có thể tạo được sự liên kết tốt với bộ não hồng trần; khi điều này xảy ra, cung chân ngã bắt đầu ảnh hưởng mạnh mẽ và liên tục lên nguyên tử ấy; điều này xảy ra khi một người đã tiến hoá cao và đang đến gần Con Đường. Mãnh lực tam phân này được cảm nhận theo cách sau:

First. It plays upon the wall of the atom as an external force and affects its rotary and vibratory action.

Thứ nhất. Nó tác động lên vách của nguyên tử như một mãnh lực bên ngoài và ảnh hưởng đến chuyển động quay và rung động của nó.

Second. It stimulates the inner fire of the atom and causes its light to shine with increasing brilliancy.

Thứ hai. Nó kích thích lửa bên trong nguyên tử và khiến ánh sáng của nó chiếu rạng ngày càng chói lọi hơn.

Third. It works upon the spirillae, and brings them all gradually into play.

Thứ ba. Nó tác động lên các loa tuyến, và dần dần đưa tất cả chúng vào hoạt động.

II. THE PERSONALITY RAY AND THE PERMANENT ATOM

II. CUNG PHÀM NGÃ VÀ NGUYÊN TỬ TRƯỜNG TỒN

The Personality Ray deals with the first four spirillae, and is the source of their stimulation. Note here the [Page 72] correspondence to the lower quaternary and its stimulation by the ego. The Egoic Ray concerns itself with the fifth spirilla and with the sixth, and is the cause of their emerging from latency and potentiality into power and activity. The Monadic Ray is the source of the stimulation of the seventh spirilla.

Cung Phàm ngã đề cập đến bốn loa tuyến đầu tiên, và là nguồn kích thích của chúng. Ở đây, hãy lưu ý sự [Page 72] tương ứng với bộ tứ thấp và sự kích thích của nó bởi chân ngã. Cung Chân ngã liên quan đến loa tuyến thứ năm và thứ sáu, và là nguyên nhân khiến chúng thoát khỏi trạng thái tiềm ẩn và tiềm năng để đi vào quyền năng và hoạt động. Cung Chân thần là nguồn kích thích loa tuyến thứ bảy.

There is great interest attached to this subject and wide reaches of thought and vast fields for investigation open up before the earnest student. This threefold action varies in point of time and sequence according to the ray itself upon which the Monad may be found; but the subject is too vast to be handled at this time.

Đề tài này rất đáng quan tâm, và những chân trời tư tưởng rộng lớn cùng những lĩnh vực khảo cứu bao la mở ra trước mắt đạo sinh tha thiết. Tác động tam phân này thay đổi về thời điểm và trình tự tùy theo chính cung mà chân thần được tìm thấy trên đó; nhưng đề tài này quá bao la để có thể bàn đến vào lúc này.

In looking at the matter from the standpoint of fire the idea may be grasped a little through the realisation that the latent fire of matter in the atom is brought into brilliance and usefulness by the action of the personality Ray which merges with this fire and stands in the same position to the permanent atom in the microcosm as FOHAT does on the cosmic plane. The fire is there hidden within the sphere (whether the sphere systemic or the sphere atomic) and the personality Ray in the one case, and Fohat in the other, acts as the force which brings latency into activity and potentiality into demonstrated power. This correspondence should be thought out with care and judgment. Just as Fohat has to do with active manifestation or objectivity, so the personality Ray has to do with the third, or activity aspect in the microcosm. The work of the third aspect logoic was the arranging of the matter of the system so that eventually it could be built into form through the power of the second aspect. Thus the correspondence works out. By life upon the physical plane (that life wherein the physical permanent atom has its full demonstration) the matter is arranged and separated that must eventually be built into the Temple of Solomon, the egoic body, through the agency of the egoic life, the second [Page 73] aspect. In the quarry of the personal life are the stones prepared for the great Temple. In existence upon the physical plane and in the objective personal life is that experience gained which demonstrates as faculty in the Ego. What is here suggested would richly repay our closest attention, and open up before us reaches of ideas, which should eventuate in a wiser comprehension, a sounder judgment, and a greater encouragement to action.

Khi xem xét vấn đề từ quan điểm của lửa, ý tưởng này có thể được nắm bắt phần nào qua sự chứng nghiệm rằng lửa tiềm ẩn của vật chất trong nguyên tử được đưa đến chỗ rực sáng và hữu dụng nhờ tác động của cung phàm ngã, cung này hòa nhập với lửa ấy và đứng trong cùng vị trí đối với nguyên tử trường tồn trong tiểu thiên địa như FOHAT đứng trên cõi vũ trụ. Lửa ấy ẩn kín bên trong khối cầu (dù là khối cầu hệ thống hay khối cầu nguyên tử), và cung phàm ngã trong trường hợp này, còn Fohat trong trường hợp kia, hoạt động như mãnh lực đưa cái tiềm ẩn vào hoạt động và cái tiềm năng vào quyền năng được biểu lộ. Sự tương ứng này cần được suy nghĩ với sự cẩn trọng và phân biện. Cũng như Fohat liên quan đến sự biểu hiện tích cực hay tính khách quan, thì cung phàm ngã liên quan đến phương diện thứ ba, hay phương diện hoạt động, trong tiểu thiên địa. Công việc của phương diện thứ ba Thượng đế là sắp xếp vật chất của hệ thống để cuối cùng nó có thể được xây dựng thành hình tướng nhờ quyền năng của phương diện thứ hai. Như vậy sự tương ứng được triển khai. Bằng sự sống trên cõi hồng trần (sự sống mà trong đó nguyên tử trường tồn hồng trần có sự biểu lộ trọn vẹn của nó), vật chất được sắp xếp và phân tách để cuối cùng phải được xây dựng thành Đền thờ Solomon, thể chân ngã, thông qua tác nhân của sự sống chân ngã, phương diện thứ hai [Page 73] . Trong mỏ đá của đời sống cá nhân, những phiến đá được chuẩn bị cho Đại Đền thờ. Trong sự tồn tại trên cõi hồng trần và trong đời sống cá nhân khách quan, kinh nghiệm được thu nhận, kinh nghiệm ấy biểu lộ thành năng lực trong chân ngã. Điều được gợi ra ở đây rất đáng để chúng ta chú tâm sát sao nhất, và mở ra trước mắt chúng ta những chân trời ý tưởng, những điều này sẽ dẫn đến sự thấu hiểu minh triết hơn, sự phán đoán vững chắc hơn, và sự khích lệ hành động lớn lao hơn.

III. THE PERSONALITY RAY AND KARMA

III. CUNG PHÀM NGÃ VÀ NGHIỆP QUẢ

It might be wise here to recapitulate a little so that in the refreshing of the memory may come the basis of further knowledge. We dealt first with the three fires of the system, macrocosmic and microcosmic, and having laid down certain hypotheses we passed to the consideration of the first of the fires, that which is inherent in matter. Having studied it somewhat in its threefold manifestation in the various parts of the system, including man, we took up the matter of the personality Ray and its relationship to this third fire. We must recall here that all that has been dealt with has been in relation to matter, and for the whole of this first section this thought must be borne carefully in mind.

Ở đây, có lẽ nên tóm lược lại đôi chút để trong sự làm mới ký ức có thể xuất hiện nền tảng cho tri thức sâu hơn. Trước hết, chúng ta đã bàn đến ba ngọn lửa của hệ thống, đại thiên địa và tiểu thiên địa, và sau khi đặt ra một số giả thuyết, chúng ta chuyển sang xem xét ngọn lửa thứ nhất, tức ngọn lửa vốn cố hữu trong vật chất. Sau khi nghiên cứu phần nào sự biểu hiện tam phân của nó trong các phần khác nhau của hệ thống, kể cả con người, chúng ta đã đề cập đến vấn đề cung phàm ngã và mối liên hệ của nó với ngọn lửa thứ ba này. Ở đây, chúng ta phải nhớ rằng tất cả những gì đã được bàn đến đều liên quan đến vật chất, và trong toàn bộ phần thứ nhất này, tư tưởng ấy phải được ghi nhớ cẩn thận.

In our second section we will consider all from the standpoint of mind, and in the final from the standpoint of the Divine Ray. Here we are dealing with what H. P. B. calls the primordial ray and its manifestations in matter. (See S. D., I, 108; II, 596.) All these Rays of Cosmic Mind, Primordial Activity, and Divine Love-Wisdom are but essential quality demonstrating through the agency of some one factor.

Trong phần thứ hai, chúng ta sẽ xem xét mọi sự từ quan điểm của trí tuệ, và trong phần cuối cùng từ quan điểm của cung thiêng liêng. Ở đây, chúng ta đang bàn đến điều mà H. P. B. gọi là cung nguyên sơ và các biểu hiện của nó trong vật chất. (Xem S. D., I, 108; II, 596.) Tất cả các Cung của Trí Tuệ Vũ Trụ, Hoạt Động Nguyên Sơ, và Bác Ái – Minh Triết thiêng liêng này chỉ là phẩm tính cốt yếu được biểu lộ thông qua tác nhân của một yếu tố nào đó.

The Primordial Ray is the quality of motion, demonstrating through matter.

Cung Nguyên sơ là phẩm tính của chuyển động, được biểu lộ qua vật chất.

[Page 74] The Ray of Mind is the quality of intelligent organisation, demonstrating through forms, which are the product of motion and matter.

[Page 74] Cung Trí Tuệ là phẩm tính của sự tổ chức thông minh, được biểu lộ qua các hình tướng, vốn là sản phẩm của chuyển động và vật chất.

The Ray of Love-Wisdom is the quality of basic motive that utilises the intelligent organisation of matter in motion to demonstrate in one synthetic whole the great Love aspect of the Logos. (S. D., I, 99, 108; II, 596.)

Cung Bác Ái – Minh Triết là phẩm tính của động cơ căn bản, động cơ này sử dụng sự tổ chức thông minh của vật chất đang chuyển động để biểu lộ trong một toàn thể tổng hợp duy nhất phương diện Bác Ái vĩ đại của Logos. (S. D., I, 99, 108; II, 596.)

This line of thought can be worked out also correspondingly in the Microcosm, and will show how individual man is engaged in the same type of work on a lesser scale as the solar Logos.

Dòng tư tưởng này cũng có thể được triển khai tương ứng trong Tiểu thiên địa, và sẽ cho thấy con người cá nhân đang tham gia cùng một loại công việc ở quy mô nhỏ hơn như Thái dương Thượng đế.

At this point in the treatise we are confining our attention to the Ray of Active Matter, or to that latent heat in substance which underlies its activity and is the cause of its motion. If we think with sincerity and with clarity we will see how closely therefore the Lipika Lords or the Lords of Karma are associated with this work. Three of Them are closely connected with Karma as it concerns one or other of the three great Rays, or the three FIRES, while the fourth Lipika Lord synthesizes the work of his three Brothers and attends to the uniform blending and merging of the three fires. On our planet, the Earth, They find Their points of contact through the three “Buddhas of Activity,” (30) (the correspondence should be noted here) and the fourth Kumara, the Lord of the World. Therefore, we arrive at the realisation that the personality Ray, in its relation to the fire of matter, is directly influenced and adjusted in its working by one of the Buddhas of Activity.

Tại điểm này trong bộ luận, chúng ta đang giới hạn sự chú ý vào Cung của Vật Chất Hoạt Động, hay vào nhiệt tiềm ẩn trong chất liệu, thứ làm nền cho hoạt động của nó và là nguyên nhân của chuyển động của nó. Nếu chúng ta suy nghĩ với sự chân thành và sáng tỏ, do đó chúng ta sẽ thấy các Đấng Lipika hay các Đấng Nghiệp Quả gắn bó mật thiết với công việc này đến mức nào. Ba Vị trong Các Ngài liên hệ chặt chẽ với nghiệp quả khi nó liên quan đến một hay một khác trong ba Cung lớn, hay ba NGỌN LỬA, trong khi Đấng Lipika thứ tư tổng hợp công việc của ba Huynh đệ của Ngài và chăm lo sự hòa trộn và hòa nhập đồng đều của ba ngọn lửa. Trên hành tinh của chúng ta, Trái Đất, Các Ngài tìm thấy những điểm tiếp xúc của Các Ngài thông qua ba “Đức Phật Hoạt Động,” (30) (sự tương ứng ở đây cần được lưu ý) và Kumara thứ tư, Đức Chúa Tể Thế Giới. Vì vậy, chúng ta đi đến sự chứng nghiệm rằng cung phàm ngã, trong mối liên hệ của nó với lửa của vật chất, được một trong các Đức Phật Hoạt Động trực tiếp ảnh hưởng và điều chỉnh trong hoạt động của nó.

(30) “Buddhas of Activity.” The ‘Pratyeka Buddhas.’ This is a degree which belongs exclusively to the Yogacharya School, yet it is only one of high intellectual development with no true spirituality....It is one of the three paths to Nirvana, and the lowest, in which a yogi—”without teacher and without saving others”—by the mere force of will and technical observances, attains to a kind of nominal Buddahood individually.”—Theosophical Glossary. (back)

(30) “Các Đức Phật Hoạt Động.” Các ‘Pratyeka Buddha.’ Đây là một cấp độ chỉ riêng Trường phái Yogacharya mới có, tuy nhiên đó chỉ là một sự phát triển trí tuệ cao mà không có tinh thần chân chính.... Đó là một trong ba con đường dẫn đến Niết Bàn, và là con đường thấp nhất, trong đó một yogi—“không có huấn sư và không cứu giúp người khác”—chỉ bằng mãnh lực của ý chí và các nghi thức kỹ thuật, đạt đến một loại Phật quả trên danh nghĩa một cách cá nhân.”—Theosophical Glossary. (trở lại)

[Page 75] The karma (31, 32, 33) of matter itself is an abstruse subject and has as yet scarcely been hinted at. It is nevertheless indissolubly mixed up with the karma of the individual. It involves a control of the evolution of the monadic essence, the elemental essence and of the atomic matter of the plane; it is concerned with the development of the four spirillae, with their activity, with their attachment to forms when atomic, and with the development of the inner latent heat and its gradual fiery increase until we have within the atom a repetition of what is seen within the causal body: the destruction of the periphery of the atom by the means of burning. It deals with the subject of the building of matter into form by the interaction of the two rays, the Divine and the Primordial, producing thereby that fire by friction which tends to life and fusing.

[Page 75] Nghiệp quả (31, 32, 33) của chính vật chất là một đề tài thâm áo và cho đến nay hầu như chưa được gợi ý đến. Tuy nhiên, nó gắn bó bất khả phân ly với nghiệp quả của cá nhân. Nó bao hàm sự kiểm soát tiến hoá của tinh chất chân thần, tinh chất hành khí và vật chất nguyên tử của cõi; nó liên quan đến sự phát triển của bốn loa tuyến, hoạt động của chúng, sự gắn kết của chúng với các hình tướng khi ở trạng thái nguyên tử, và sự phát triển của nhiệt tiềm ẩn bên trong cùng sự gia tăng rực lửa dần dần của nó cho đến khi chúng ta có bên trong nguyên tử một sự lặp lại của điều được thấy bên trong thể nguyên nhân: sự phá hủy chu vi của nguyên tử bằng phương tiện đốt cháy. Nó bàn đến chủ đề xây dựng vật chất thành hình tướng bằng sự tương tác của hai cung, cung Thiêng liêng và cung Nguyên sơ, nhờ đó tạo ra lửa ma sát vốn có khuynh hướng hướng đến sự sống và sự dung hợp.

(31) “From the view taken of Karma as I have done it, you will see that no plane of the highest spirituality, be that the plane of the nirvanees, is outside the karmic wheel and when it is said in the Sanskrit writings and even in the Bhagavat Gita that men cross the karmic ocean, it must be understood with some allowance. The entities that have now succeeded in going outside the karmic wheel, have done so, only if that wheel be taken as the one that turns now. The cosmos is not going in one groove all the days of Brahma, but it is going on a higher and higher status as it fulfils its mission. Those who have attained unto a rest in a state of spirituality not reachable now, will therefore in a future day come within the action of the wheel, with perhaps a punishment for the great duties neglected for long ages.”—Some Thoughts on the Gita, p. 40.

(31) “Từ quan điểm về Karma như tôi đã trình bày, các bạn sẽ thấy rằng không một cõi nào của tinh thần cao nhất, dù đó là cõi của các nirvanees, lại ở ngoài bánh xe nghiệp quả, và khi trong các trước tác Sanskrit và ngay cả trong Bhagavat Gita có nói rằng con người vượt qua đại dương nghiệp quả, thì điều đó phải được hiểu với một mức độ dè dặt nào đó. Những thực thể hiện nay đã thành công trong việc đi ra ngoài bánh xe nghiệp quả chỉ làm được như vậy nếu bánh xe ấy được hiểu là bánh xe hiện đang quay. Vũ trụ không đi trong một rãnh duy nhất suốt mọi ngày của Brahma, mà nó tiến lên những trạng thái ngày càng cao hơn khi nó hoàn thành sứ mệnh của mình. Vì vậy, những ai đã đạt đến sự an nghỉ trong một trạng thái tinh thần hiện nay chưa thể đạt tới, thì trong một ngày tương lai sẽ lại đi vào dưới tác động của bánh xe ấy, có lẽ kèm theo một sự trừng phạt vì những bổn phận lớn lao đã bị bỏ bê trong nhiều thời đại.”—Some Thoughts on the Gita, tr. 40.

The karma of form is likewise a vast subject, too [Page 76] involved for average comprehension but a factor of real importance which should not be overlooked in connection with the evolution of a world, a synthesis of worlds, or of a system when viewed from higher levels. Everything is, in its totality, the result of action taken by cosmic Essences and Entities in earlier solar systems, which is working out through the individual atoms, and through those congeries of atoms which we call forms. The effect of the personality Ray upon the internal fires is therefore, in effect, the result of the influence of the planetary Logos of whatever ray is implicated, as He works out that portion of Karma which falls to His share in any one cycle, greater or lesser. He thus brings about and eventually transmutes, the effects of causes which He set in motion earlier in relation to His six Brothers, the other planetary Logoi. We get an illustrative parallel in the effect which one individual will have upon another in worldly contact, in moulding and influencing, in stimulating or retarding. We have to remember that all fundamental influence and effects are felt on the astral plane and work thence through the etheric to the dense physical thereby bringing matter under its sphere of influence, yet not itself originating on the physical plane.

Nghiệp quả của hình tướng cũng là một đề tài bao la, quá [Page 76] phức tạp đối với sự thấu hiểu trung bình, nhưng là một yếu tố thực sự quan trọng không nên bị bỏ qua khi liên hệ với sự tiến hoá của một thế giới, một tổng hợp các thế giới, hay một hệ thống khi được nhìn từ các cấp độ cao hơn. Mọi sự, trong tính toàn thể của nó, đều là kết quả của hành động do các Tinh Chất và các Thực Thể vũ trụ thực hiện trong các hệ mặt trời trước đây, và hiện đang được triển khai qua các nguyên tử cá biệt, cũng như qua những tập hợp nguyên tử mà chúng ta gọi là các hình tướng. Vì vậy, hiệu quả của cung phàm ngã lên các ngọn lửa bên trong, trên thực tế, là kết quả của ảnh hưởng của Hành Tinh Thượng Đế thuộc bất kỳ cung nào có liên can, khi Ngài triển khai phần Nghiệp Quả thuộc về phần của Ngài trong bất kỳ chu kỳ nào, lớn hay nhỏ. Như thế, Ngài mang lại và cuối cùng chuyển hoá các hiệu quả của những nguyên nhân mà trước đây Ngài đã khởi động trong mối liên hệ với sáu Huynh đệ của Ngài, các Hành Tinh Thượng Đế khác. Chúng ta có một sự tương đồng minh họa trong hiệu quả mà một cá nhân sẽ có lên một cá nhân khác trong tiếp xúc thế gian, trong việc uốn nắn và ảnh hưởng, trong việc kích thích hay làm chậm lại. Chúng ta phải nhớ rằng mọi ảnh hưởng và hiệu quả căn bản đều được cảm nhận trên cõi cảm dục và từ đó hoạt động qua dĩ thái đến cõi hồng trần đậm đặc, nhờ đó đưa vật chất vào trong phạm vi ảnh hưởng của nó, tuy bản thân nó không khởi nguồn trên cõi hồng trần.

S1S7

DIVISION C - THE ETHERIC BODY AND PRANA

PHÂN ĐOẠN C - THỂ DĨ THÁI VÀ PRANA

(34)

(34)

(34) “Prana, or the vital principle, is the special relation of the Atma with a certain form of matter which by the relation of Atma organises and builds up as a means of having experience. This special relation constitutes the individual Prana in the individual body. The cosmic all-pervading Prana is not Prana in the gross sense, but is a name for the Brahman as the author of the individual Prana....All beings, whether Devatas, men or animals, exist only so long as the Prana is within the body. It is the life duration of all....Prana, or vitality, is the common function of the mind and all the senses.”—Serpent Power, pp. 94, 95. (back)

(34) “Prana, hay nguyên khí sinh lực, là mối liên hệ đặc biệt của Atma với một dạng vật chất nào đó mà nhờ mối liên hệ của Atma, nó tổ chức và xây dựng lên như một phương tiện để có kinh nghiệm. Mối liên hệ đặc biệt này cấu thành prana cá nhân trong thể cá nhân. Prana vũ trụ bao trùm khắp nơi không phải là prana theo nghĩa thô trược, mà là một danh xưng dành cho Brahman như tác giả của prana cá nhân....Mọi hữu thể, dù là Devata, con người hay động vật, chỉ tồn tại chừng nào prana còn ở trong thể. Nó là thời lượng sự sống của tất cả....Prana, hay sinh lực, là chức năng chung của trí tuệ và mọi giác quan.”—Serpent Power, tr. 94, 95. (trở lại)

I. The nature of the etheric body.

I. Bản chất của thể dĩ thái.

1. Its purpose and description.

1. Mục đích và mô tả của nó.

2. Eight statements.

2. Tám mệnh đề.

II. The nature of prana.

II. Bản chất của prana.

1. Solar prana.

1. Prana thái dương.

2. Planetary prana.

2. Prana hành tinh.

3. The prana of forms.

3. Prana của các hình tướng.

III. The function of the etheric body.

III. Chức năng của thể dĩ thái.

1. It is the receiver of prana.

1. Nó là bộ tiếp nhận prana.

2. It is the assimilator of prana.

2. Nó là bộ đồng hoá prana.

3. It is the transmitter of prana.

3. Nó là bộ truyền dẫn prana.

4. Disorders of the etheric body.

4. Những rối loạn của thể dĩ thái.

IV. Macrocosmic and microcosmic ethers.

IV. Các dĩ thái đại thiên địa và tiểu thiên địa.

1. The planetary Logos and the ethers.

1. Hành Tinh Thượng Đế và các dĩ thái.

2. Cosmic and systemic ethers.

2. Các dĩ thái vũ trụ và hệ thống.

3. Protective purpose of etheric body.

3. Mục đích bảo vệ của thể dĩ thái.

V. Death and the etheric body.

V. Cái chết và thể dĩ thái.

1. Microcosmic death.

1. Cái chết tiểu thiên địa.

2. Macrocosmic pralaya.

2. Giai kỳ qui nguyên đại thiên địa.

I. THE NATURE OF THE ETHERIC BODY

I. BẢN CHẤT CỦA THỂ DĨ THÁI

[Page 77] In our consideration of the internal fires of the system we shall find much of very real interest to the coming [Page 78] generation of thinkers for three main reasons, which might be enumerated as follows:

[Page 77] Trong khi xem xét các ngọn lửa bên trong của hệ thống, chúng ta sẽ thấy nhiều điều thực sự rất đáng quan tâm đối với thế hệ [Page 78] các nhà tư tưởng sắp đến vì ba lý do chính, có thể được liệt kê như sau:

1. Its Purpose and Description

1. Mục đích và Mô tả của nó

First. In the study of the etheric body lies hid (for scientists and those of the medical profession) a fuller comprehension of the laws of matter and the laws of health. The word health has become too localised in the past, and its meaning confined to the sanity of the body corporeal, to the co-operative action of the atoms of the physical body of man, and to the full expression of the powers of the physical elemental. In days to come it will be realised that the health of man is dependent upon the health of all allied evolutions, and upon the co-operative action and full expression of the matter of the planet and of the planetary elemental who is himself a composite manifestation of the physical elementals of all manifested nature.

Thứ nhất. Trong việc nghiên cứu thể dĩ thái, có ẩn giấu (đối với các nhà khoa học và những người trong ngành y) một sự thấu hiểu đầy đủ hơn về các định luật của vật chất và các định luật của sức khỏe. Từ ngữ sức khỏe trong quá khứ đã trở nên quá cục bộ hóa, và ý nghĩa của nó bị giới hạn vào sự lành mạnh của thể xác vật lý, vào hoạt động hợp tác của các nguyên tử trong thể xác hồng trần của con người, và vào sự biểu lộ trọn vẹn các quyền năng của tinh linh thể xác. Trong những ngày sắp đến, người ta sẽ chứng nghiệm rằng sức khỏe của con người tùy thuộc vào sức khỏe của mọi tiến hoá liên hệ, và vào hoạt động hợp tác cùng sự biểu lộ trọn vẹn của vật chất của hành tinh và của tinh linh linh địa cầu, vốn chính là một biểu hiện tổng hợp của các tinh linh thể xác của toàn bộ bản chất biểu hiện.

Second. In the study of the etheric body and prana lies the revelation of the effects of those rays of the sun which (for lack of better expression), we will call “solar pranic emanations.” These solar pranic emanations are the produced effect of the central heat of the sun approaching other bodies within the solar system by one of the three main channels of contact, and producing on the bodies then contacted certain effects differing somewhat from those produced by the other emanations. These effects might be considered as definitely stimulating and constructive, and (through their essential quality) as producing conditions that further the growth of cellular matter, and concern its adjustment to environing conditions; they concern likewise the internal health (demonstrating as the heat of the atom and its consequent activity) and the uniform evolution of the form of which that particular atom of matter forms a constituent part. Emanative prana does little in connection with [Page 79] form building; that is not its province, but it conserves the form through the preservation of the health of its component parts. Other rays of the sun act differently, upon the forms and upon their substance. Some perform the work of the Destroyer of forms, and others carry on the work of cohering and of attracting; the work of the Destroyer and of the Preserver is carried on under the Law of Attraction and Repulsion. Some rays definitely produce accelerated motion, others produce retardation. The ones we are dealing with here—pranic solar emanations—work within the four ethers, that matter which (though physical) is not as yet objectively visible to the eye of man. They are the basis of all physical plane life considered solely in connection with the life of the physical plane atoms of matter, their inherent heat and their rotary motion. These emanations are the basis of that “fire by friction” which demonstrates in the activity of matter.

Thứ hai. Trong việc nghiên cứu thể dĩ thái và prana có sự mặc khải về các hiệu quả của những tia của mặt trời mà (vì thiếu một cách diễn đạt tốt hơn), chúng ta sẽ gọi là “các phát xạ prana thái dương.” Các phát xạ prana thái dương này là hiệu quả được tạo ra bởi nhiệt trung tâm của mặt trời khi tiếp cận các thể khác trong hệ mặt trời qua một trong ba kênh tiếp xúc chính, và tạo ra trên các thể được tiếp xúc những hiệu quả phần nào khác với những hiệu quả do các phát xạ khác tạo ra. Những hiệu quả này có thể được xem là có tính kích thích và kiến tạo rõ rệt, và (qua phẩm tính cốt yếu của chúng) như tạo ra những điều kiện thúc đẩy sự tăng trưởng của vật chất tế bào, và liên quan đến sự điều chỉnh của nó đối với các điều kiện môi trường xung quanh; chúng cũng liên quan đến sức khỏe nội tại (biểu lộ như nhiệt của nguyên tử và hoạt động kéo theo của nó) và sự tiến hoá đồng đều của hình tướng mà nguyên tử vật chất đặc thù ấy tạo thành một phần cấu thành. Prana phát xạ ít làm việc liên quan đến [Page 79] việc xây dựng hình tướng; đó không phải là phạm vi của nó, nhưng nó bảo tồn hình tướng qua việc duy trì sức khỏe của các phần cấu thành của nó. Những tia khác của mặt trời tác động khác đi lên các hình tướng và lên chất liệu của chúng. Một số thực hiện công việc của Đấng Hủy Diệt các hình tướng, và những tia khác tiếp tục công việc kết dính và thu hút; công việc của Đấng Hủy Diệt và của Đấng Bảo Tồn được tiến hành dưới Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi. Một số tia rõ rệt tạo ra chuyển động gia tốc, những tia khác tạo ra sự trì hoãn. Những tia mà ở đây chúng ta đang bàn đến—các phát xạ thái dương prana—hoạt động bên trong bốn dĩ thái, tức loại vật chất mà (dù là hồng trần) vẫn chưa hiện rõ khách quan trước mắt người. Chúng là nền tảng của toàn bộ sự sống cõi hồng trần nếu chỉ xét trong mối liên hệ với sự sống của các nguyên tử vật chất của cõi hồng trần, nhiệt cố hữu của chúng và chuyển động quay của chúng. Các phát xạ này là nền tảng của “lửa ma sát” biểu lộ trong hoạt động của vật chất.

Finally, in the study of the etheric body and prana comes comprehension of the method of logoic manifestation, and therefore much of interest to the metaphysician, and all abstract thinkers. The etheric body of man holds hid the secret of his objectivity. It has its correspondence on the archetypal plane,—the plane we call that of the divine manifestation, the first plane of our solar system, the plane Adi. The matter of that highest plane is called often the “sea of fire” and it is the root of the akasha, the term applied to the substance of the second plane of manifestation. Let us trace the analogy a little more in detail, for in its just apprehension will be found much of illumination and much that will serve to elucidate problems both macrocosmic and microcosmic. We will begin with man and his etheric body.

Sau cùng, trong việc nghiên cứu thể dĩ thái và prana xuất hiện sự thấu hiểu về phương pháp biểu hiện Thượng đế, và do đó có nhiều điều đáng quan tâm đối với nhà siêu hình học và mọi nhà tư tưởng trừu tượng. Thể dĩ thái của con người ẩn giữ bí mật về tính khách quan của y. Nó có sự tương ứng của nó trên cõi nguyên mẫu,—cõi mà chúng ta gọi là cõi của sự biểu hiện thiêng liêng, cõi thứ nhất của hệ mặt trời chúng ta, cõi Adi. Vật chất của cõi cao nhất ấy thường được gọi là “biển lửa” và là cội rễ của akasha, thuật ngữ được áp dụng cho chất liệu của cõi biểu hiện thứ hai. Chúng ta hãy lần theo sự tương đồng này chi tiết hơn một chút, vì trong sự nắm bắt đúng đắn về nó sẽ tìm thấy nhiều sự soi sáng và nhiều điều sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề cả đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa. Chúng ta sẽ bắt đầu với con người và thể dĩ thái của y.

The etheric body has been described as a network, permeated with fire, or as a web, animated with golden light. It is spoken of in the Bible as the “golden bowl.” [Page 80] It is a composition of that matter of the physical plane which we call etheric, and its shape is brought about by the fine interlacing strands of this matter being built by the action of the lesser Builders into the form or mould upon which later the dense physical body can be moulded. Under the Law of Attraction, the denser matter of the physical plane is made to cohere to this vitalised form, and is gradually built up around it, and within it, until the interpenetration is so complete that the two forms make but one unit; the pranic emanations of the etheric body itself play upon the dense physical body in the same manner as the pranic emanations of the sun play upon the etheric body. It is all one vast system of transmission and of interdependence within the system. All receive in order to give, and to pass on to that which is lesser or not so evolved. Upon every plane this process can be seen.

Thể dĩ thái đã được mô tả như một mạng lưới thấm đẫm lửa, hay như một tấm lưới được làm sinh động bởi ánh sáng vàng kim. Trong Kinh Thánh, nó được nói đến như “chiếc bát vàng.” [Page 80] Nó là một cấu hợp của loại vật chất của cõi hồng trần mà chúng ta gọi là dĩ thái, và hình dạng của nó được tạo ra bởi những sợi mảnh đan xen của loại vật chất này được các vị tiểu kiến tạo xây dựng thành hình tướng hay khuôn mẫu mà về sau thể xác hồng trần đậm đặc có thể được nắn theo khuôn. Dưới Định luật Hấp Dẫn, vật chất đậm đặc hơn của cõi hồng trần được làm cho kết dính vào hình tướng đã được tiếp sinh lực này, và dần dần được xây dựng quanh nó và bên trong nó, cho đến khi sự xuyên thấm lẫn nhau hoàn toàn đến mức hai hình tướng chỉ tạo thành một đơn vị; các phát xạ prana của chính thể dĩ thái tác động lên thể xác hồng trần đậm đặc theo cùng cách như các phát xạ prana của mặt trời tác động lên thể dĩ thái. Tất cả chỉ là một hệ thống truyền dẫn và tương thuộc bao la bên trong hệ thống. Mọi sự đều nhận để cho đi, và để chuyển tiếp đến cái thấp hơn hay chưa tiến hoá bằng. Trên mọi cõi, tiến trình này đều có thể được thấy.

Thus the etheric body forms the archetypal plane in relation to the dense physical body. The thinker on his own plane stands, in relation to the physical, as the Logos to His system. In the synthesis of thought it might be expressed thus: The thinker on the astral plane, the plane of desire and of necessity, stands to the physical body as the Logos on the cosmic astral plane stands to His system.

Như vậy, thể dĩ thái tạo thành cõi nguyên mẫu trong mối liên hệ với thể xác hồng trần đậm đặc. Thức giả trên cõi riêng của y đứng, trong mối liên hệ với cõi hồng trần, như Logos đối với hệ thống của Ngài. Trong sự tổng hợp của tư tưởng, điều này có thể được diễn đạt như sau: thức giả trên cõi cảm dục, cõi của dục vọng và nhu cầu, đứng đối với thể xác hồng trần như Logos trên cõi cảm dục vũ trụ đứng đối với hệ thống của Ngài.

As we continue the study we will work out the correspondence in the cosmos, the system, and in the three worlds, for we need to remember that the analogy must be perfect.

Khi tiếp tục nghiên cứu, chúng ta sẽ triển khai sự tương ứng trong vũ trụ, trong hệ thống, và trong ba cõi thấp, vì chúng ta cần nhớ rằng sự tương đồng phải là hoàn hảo.

1. Man, the Microcosm, the manifesting Monad, or One.

1. Con người, Tiểu thiên địa, chân thần đang biểu hiện, hay Đấng Duy Nhất.

2. The Heavenly Man, the planetary Logos, or the manifesting group.

2. Đấng Thiên Nhân, Hành Tinh Thượng Đế, hay nhóm đang biểu hiện.

3. The Grand Man of the Heavens, the Macrocosm, the solar Logos, the manifestation of all groups and of all evolutions within His Body, the solar system.

3. Đại Nhân của Thiên Giới, Đại thiên địa, Thái dương Thượng đế, sự biểu hiện của mọi nhóm và mọi tiến hoá bên trong Thể của Ngài, tức hệ mặt trời.

[Page 81] All these bodies—the body of a man, a planetary Logos, and a solar Logos—are the product of desire originating on the planes of abstract mind, whether cosmic, systemic, or mind in the three worlds, whether cosmic desire-mind or human desire-mind, and all their bodies are “Sons of Necessity,” as H. P. B. so aptly expressed it. (S. D., I, 74), (36)

[Page 81] Tất cả các thể này—thể của một con người, của một Hành Tinh Thượng Đế, và của một Thái dương Thượng đế—đều là sản phẩm của dục vọng khởi nguồn trên các cõi trí trừu tượng, dù là vũ trụ, hệ thống, hay trí tuệ trong ba cõi thấp, dù là trí-cảm vũ trụ hay trí-cảm nhân loại, và tất cả các thể của chúng đều là “Các Con của Nhu Cầu,” như H. P. B. đã diễn đạt rất xác đáng. (S. D., I, 74), (36)

(36) “This whole solar system being conceived of as one vast mechanism, with an exquisite adjustment of its parts in all major details, is only the physical expression of Vishnu, or the ethereal basic substance, as we may understand the word for the present. All the harmonies observable in the manifested cosmos are only the result of the harmoniously working energies that resolve ether into the expression that we recognise. All planets, worlds, human beings, etc., are only parts of the body, each functioning in subordination to the law which governs the whole. The evolution, preservation and destruction of the world is therefore one vast process called Yagna, which takes place in the body of Yagna Purusha, or the psychical body of nature. Humanity taken collectively is the heart and brain of this Purusha and therefore all the Karma generated by humanity, physical, mental, or spiritual, determines mainly the character of this Yagnic process....Sri Krishna therefore calls the process the Yagnic life that he has been giving out to Arjuna as Yoga (1st Sloka 4th Chr). In fact, Yoga and Yagna are very closely allied and even inseparable, though at the present day people seem to disconnect the two. Yoga derived from the root Yuj to join means an act of joining. Now as the heart is the great centre in man, likewise the Yogee of the heart keeps his central position in the universe and hence his individuality. The individuality or the Higher Manas being the pivot of the human constitution or the centre on which two hemispheres of higher and lower existence turn as I have already said, the Yogee of the heart has a heavenly dome above and earthly abyss below and his yoga becomes twofold as a consequence. He joins himself on to the thing above in dhyana and the thing below in action. The word yagna derived from the root Yaj—to serve also means a twofold service, service done to the thing above through service done unto its expression the thing below.”—Some Thoughts on the Gita, pp. 18, 134. (back)

(36) “Toàn thể hệ mặt trời này, được quan niệm như một bộ máy bao la duy nhất, với sự điều chỉnh tinh vi của các bộ phận trong mọi chi tiết chính yếu, chỉ là biểu hiện hồng trần của Vishnu, hay chất liệu căn bản dĩ thái, theo cách chúng ta có thể hiểu từ ngữ ấy vào lúc này. Mọi sự hài hòa có thể quan sát được trong vũ trụ biểu hiện chỉ là kết quả của những năng lượng vận hành hài hòa, những năng lượng phân giải dĩ thái thành biểu hiện mà chúng ta nhận biết. Mọi hành tinh, thế giới, con người, v.v., chỉ là những phần của thể, mỗi phần hoạt động trong sự lệ thuộc vào định luật chi phối toàn thể. Do đó, sự tiến hoá, bảo tồn và hủy diệt của thế giới là một tiến trình bao la duy nhất gọi là Yagna, diễn ra trong thể thông linh của Purusha Yagna, hay thể thông linh của bản chất. Nhân loại, xét như một toàn thể, là tim và não của Purusha này, và vì thế mọi nghiệp quả do nhân loại tạo ra, dù hồng trần, trí tuệ hay tinh thần, chủ yếu quyết định đặc tính của tiến trình Yagna này....Vì vậy, Sri Krishna gọi tiến trình ấy là sự sống Yagna mà Ngài đã truyền đạt cho Arjuna như Yoga (Sloka thứ 1, Chương 4). Thật vậy, Yoga và Yagna liên hệ rất mật thiết với nhau, thậm chí không thể tách rời, mặc dù ngày nay người ta dường như tách rời hai điều ấy. Yoga, bắt nguồn từ gốc Yuj, nghĩa là nối kết, có nghĩa là một hành vi nối kết. Giờ đây, cũng như tim là trung tâm lớn trong con người, thì Yogi của tim cũng giữ vị trí trung tâm của mình trong vũ trụ, và do đó giữ được tính cá thể của mình. Tính cá thể hay Higher Manas, là trục xoay của cơ cấu con người hay trung tâm mà trên đó hai bán cầu của sự tồn tại cao và thấp xoay chuyển, như tôi đã nói, nên Yogi của tim có một vòm trời thiên thượng ở trên và một vực thẳm trần thế ở dưới, và vì vậy yoga của y trở thành nhị phân. Y nối kết chính mình với điều ở trên trong dhyana và với điều ở dưới trong hành động. Từ yagna, bắt nguồn từ gốc Yaj—phụng sự, cũng có nghĩa là một sự phụng sự nhị phân, sự phụng sự dâng lên điều ở trên thông qua sự phụng sự đối với biểu hiện của nó là điều ở dưới.”—Một Vài Tư Tưởng về Gita, tr. 18, 134. (trở lại)

2. Eight Statements.

2. Tám Mệnh Đề.

It is with the etheric bodies of all we are dealing, and with their vivification by prana (whether cosmic, solar, planetary or human), with the organs of reception and with the basis of emanations. Here, therefore, we can arrive at certain dicta anent the etheric body which for purposes of clarity might well be enumerated:

Điều chúng ta đang bàn đến là các thể dĩ thái của mọi hữu thể, và sự tiếp sinh lực cho chúng bằng prana (dù là vũ trụ, thái dương, hành tinh hay nhân loại), các cơ quan tiếp nhận và nền tảng của các phát xạ. Vì vậy, ở đây chúng ta có thể đi đến một số mệnh đề liên quan đến thể dĩ thái mà vì mục đích minh bạch, rất nên được liệt kê ra:

First. The etheric body is the mould of the physical body.

Thứ nhất. Thể dĩ thái là khuôn mẫu của thể xác.

Second. The etheric body is the archetype upon which [Page 82] the dense physical form is built, whether it is the form of a solar system, or of a human body in any one incarnation.

Thứ hai. Thể dĩ thái là nguyên mẫu mà trên đó [Page 82] hình tướng hồng trần đậm đặc được xây dựng, dù đó là hình tướng của một hệ mặt trời hay của một thể người trong bất kỳ một lần lâm phàm nào.

Third. The etheric body is a web or network of fine interlacing channels, formed of matter of the four ethers, and built into a specific form. It forms a focal point for certain radiatory emanations, which vivify, stimulate and produce the rotary action of matter.

Thứ ba. Thể dĩ thái là một mạng lưới hay hệ thống các kênh đan xen tinh vi, được tạo thành từ vật chất của bốn loại dĩ thái và được xây dựng thành một hình thể đặc thù. Nó tạo thành một tiêu điểm cho một số phát xạ bức xạ nhất định, những phát xạ này tiếp sinh lực, kích thích và tạo ra chuyển động quay của vật chất.

Fourth. These pranic emanations when focalised and received, react upon the dense matter which is built upon the etheric scaffolding and framework.

Thứ tư. Những phát xạ prana này, khi được hội tụ và tiếp nhận, sẽ tác động trở lại lên vật chất đậm đặc được xây dựng trên giàn khung và bộ khung dĩ thái.

Fifth. This etheric web, during incarnation, forms a barrier between the physical and astral planes, which can only be transcended when consciousness is sufficiently developed to permit of escape. This can be seen in both the microcosm and the macrocosm. When a man has, through meditation and concentration, expanded his consciousness to a certain point he is enabled to include the subtler planes, and to escape beyond the limits of the dividing web.

Thứ năm. Mạng dĩ thái này, trong thời kỳ lâm phàm, tạo thành một hàng rào giữa cõi hồng trần và cõi cảm dục, chỉ có thể được vượt qua khi tâm thức phát triển đủ để cho phép thoát ra. Điều này có thể thấy được trong cả tiểu thiên địa lẫn đại thiên địa. Khi một người, nhờ tham thiền và tập trung, đã mở rộng tâm thức của mình đến một mức độ nhất định, y có thể bao gồm các cõi vi tế hơn và thoát ra ngoài giới hạn của mạng ngăn cách.