Trích nội dung chương
Postulate IV. All deva essences and builders on the physical plane are peculiarly dangerous to man, for they work on the etheric levels and are—as I have earlier pointed out—the transmitters of prana, or the vital, animating substance, and hence they set loose upon the ignorant and the unwary, fiery essence which burns and destroys. Định đề IV. Mọi tinh chất thiên thần và các đấng kiến tạo trên cõi hồng trần đều đặc biệt nguy hiểm đối với con người, vì họ hoạt động trên các cấp độ dĩ thái và—như tôi đã chỉ ra trước đây—là những kẻ truyền dẫn prana, hay chất liệu sinh động, tiếp sinh lực, và do đó họ giải phóng lên kẻ vô minh và bất cẩn tinh…
Postulate IV. All deva essences and builders on the physical plane are peculiarly dangerous to man, for they work on the etheric levels and are—as I have earlier pointed out—the transmitters of prana, or the vital, animating substance, and hence they set loose upon the ignorant and the unwary, fiery essence which burns and destroys.
Định đề IV. Mọi tinh chất thiên thần và các đấng kiến tạo trên cõi hồng trần đều đặc biệt nguy hiểm đối với con người, vì họ hoạt động trên các cấp độ dĩ thái và—như tôi đã chỉ ra trước đây—là những kẻ truyền dẫn prana, hay chất liệu sinh động, tiếp sinh lực, và do đó họ giải phóng lên kẻ vô minh và bất cẩn tinh chất rực lửa thiêu đốt và hủy diệt.
Postulate V. The devas do not work as individualised conscious units through self-initiating purposes as does a man, a Heavenly Man or a solar Logos (viewed as Egos) but they work in groups subject to:
Định đề V. Các thiên thần không làm việc như những đơn vị hữu thức đã biệt ngã hóa thông qua các mục đích do tự mình khởi xướng như con người, một Đấng Thiên Nhân hay một Thái dương Thượng đế (được nhìn như các Chân ngã), mà họ làm việc theo nhóm, chịu dưới:
a. Inherent impulse, or latent active intelligence.
a. Xung lực cố hữu, hay trí tuệ hoạt động tiềm ẩn.
b. Orders issued by the greater Builders.
b. Các mệnh lệnh do các đấng đại kiến tạo ban ra.
c. Ritual, or compulsion induced through colour and sound.
c. Nghi lễ, hay sự cưỡng bách được tạo ra qua màu sắc và âm thanh.
[Page 490] When these facts are remembered and considered, some comprehension of the place the devas play in transmutation may be achieved. The position that fire occupies in the process is of peculiar interest here, for it brings out clearly the difference of method between the two schools.
[Page 490] Khi những sự kiện này được ghi nhớ và xem xét, có thể đạt được một phần thấu hiểu về vai trò của các thiên thần trong sự chuyển hoá. Vị trí mà lửa giữ trong tiến trình này đặc biệt đáng quan tâm ở đây, vì nó làm nổi bật rõ ràng sự khác biệt về phương pháp giữa hai trường phái.
In the transmutative process as carried on by the Brotherhood, the inner fire which animates the atom, form or man is stimulated, fanned and strengthened till it (through its own internal potency) burns up its sheaths, and escapes by radiation from within its ring-pass-not. This is seen in an interesting way as occurring during the process of the final initiations when the causal body is destroyed by fire. The fire within burns up all else and the electric fire escapes. The true alchemist therefore in days to come will in every case seek to stimulate the radioactivity of the element or atom with which he is working and will centre his attention upon the positive nucleus. By increasing its vibration, its activity, or its positivity, he will bring about the desired end. The Masters do this in connection with the human spirit and do not concern Themselves at all with his ‘deva’ aspect. The same basic rule will be found to apply in the case of a mineral as well as of a man.
Trong tiến trình chuyển hoá như được Huynh đệ Đoàn tiến hành, ngọn lửa bên trong làm sinh động nguyên tử, hình tướng hay con người được kích thích, quạt lên và tăng cường cho đến khi nó (nhờ chính tiềm lực nội tại của mình) thiêu hủy các vỏ bọc của nó, và thoát ra bằng bức xạ từ bên trong vòng-giới-hạn của nó. Điều này được thấy một cách thú vị là xảy ra trong tiến trình các lần điểm đạo cuối cùng khi thể nguyên nhân bị hủy diệt bởi lửa. Ngọn lửa bên trong thiêu hủy mọi thứ khác và Lửa Điện thoát ra. Vì vậy, nhà luyện kim chân chính trong những ngày sắp tới trong mọi trường hợp sẽ tìm cách kích thích tính phóng xạ của nguyên tố hay nguyên tử mà y đang làm việc và sẽ tập trung sự chú ý vào hạt nhân dương. Bằng cách gia tăng rung động, hoạt động hay tính dương của nó, y sẽ đem lại kết quả mong muốn. Các Chân sư làm điều này liên quan đến tinh thần con người và hoàn toàn không quan tâm đến phương diện ‘thiên thần’ của y. Cùng một quy luật căn bản sẽ được thấy là áp dụng trong trường hợp khoáng vật cũng như con người.
The process as carried on by the Dark Brotherhood is the reverse of this. They centre the attention upon the form, and seek to shatter and break that form, or the combination of atoms, in order to permit the central electric life to escape. They bring about this result through external agencies and by availing themselves of the destructive nature of the substance (deva essence) itself. They burn and destroy the material sheath, seeking to imprison the escaping volatile essence as the form disintegrates. This hinders the evolutionary plan in the case of the life involved, delays the consummation, interferes with the ordered progress of development, and puts all [Page 491] the factors involved in a bad position. The life (or entity) concerned receives a setback, the devas work destructively, and without participation in the purpose of the plan, and the magician is in danger, under the Law of Karma, and through the materialising of his own substance by affinity with the third aspect. Black magic of this nature creeps into all religions along this very line of the destruction of the form through outer agency, and not through the liberation of the life through inner development and preparedness. It produces the evils of Hatha Yoga in India and similar methods as practised in certain religious and occult orders in the Occident also. Both work with matter on some plane in the three worlds, and do evil that good may come; both control the devas, and attempt to produce specific ends by manipulation of the matter of the form. The Hierarchy works with the soul within the form and produces results that are intelligent, self-induced and permanent. Wherever attention is centred on the form and not on the Spirit, the tendency is to deva worship, deva contact and black magic, for the form is made of deva substance on all planes.
Tiến trình như được Hắc đoàn tiến hành thì ngược lại. Họ tập trung sự chú ý vào hình tướng, và tìm cách làm tan vỡ và phá hủy hình tướng đó, hay tổ hợp các nguyên tử, để cho phép sự sống điện trung tâm thoát ra. Họ đem lại kết quả này qua các tác nhân bên ngoài và bằng cách lợi dụng bản chất hủy diệt của chính chất liệu (tinh chất thiên thần). Họ đốt cháy và hủy diệt vỏ bọc vật chất, tìm cách giam giữ tinh chất bay hơi đang thoát ra khi hình tướng tan rã. Điều này cản trở kế hoạch tiến hoá trong trường hợp của sự sống liên quan, trì hoãn sự hoàn tất, can thiệp vào tiến trình phát triển có trật tự, và đặt mọi [Page 491] yếu tố liên quan vào một vị thế xấu. Sự sống (hay thực thể) liên quan bị thụt lùi, các thiên thần làm việc một cách hủy diệt, và không tham dự vào mục đích của Thiên Cơ, còn nhà huyền thuật thì lâm nguy dưới Định luật Nghiệp quả, và qua sự hiện hình của chính chất liệu của mình do sự tương hợp với phương diện thứ ba. Hắc thuật thuộc loại này len lỏi vào mọi tôn giáo đúng theo đường lối hủy diệt hình tướng qua tác nhân bên ngoài, chứ không phải qua sự giải phóng sự sống nhờ sự phát triển và chuẩn bị bên trong. Nó tạo ra những tai hại của Hatha Yoga ở Ấn Độ và những phương pháp tương tự như được thực hành trong một số dòng tu tôn giáo và huyền bí ở phương Tây. Cả hai đều làm việc với vật chất trên một cõi nào đó trong ba cõi giới, và làm điều ác để điều thiện có thể đến; cả hai đều kiểm soát các thiên thần, và cố tạo ra những kết quả đặc thù bằng sự điều khiển vật chất của hình tướng. Thánh đoàn làm việc với linh hồn bên trong hình tướng và tạo ra những kết quả thông minh, do tự thân khởi phát và bền vững. Bất cứ nơi nào sự chú ý tập trung vào hình tướng chứ không vào tinh thần, xu hướng sẽ là thờ phụng thiên thần, tiếp xúc thiên thần và hắc thuật, vì hình tướng được tạo thành từ chất liệu thiên thần trên mọi cõi.
This must be considered well in connection with every form for it holds the key to many mysteries.
Điều này phải được xem xét kỹ liên hệ với mọi hình tướng vì nó nắm giữ chìa khóa cho nhiều huyền nhiệm.
We have seen how in this question of the transference of the life from form to form, the work proceeds under rule and order, and is effected through the co-operation of the devas in the first instance, and the application of external agents to the atom or form involved, and in the second place (involving the most important and lengthy stage of the procedure) through the subsequent reaction within the atom itself, which produces an intensification of the positive burning centre, and the consequent escape (through radioactivity) of the volatile essence.
Chúng ta đã thấy rằng trong vấn đề chuyển sự sống từ hình tướng này sang hình tướng khác, công việc tiến hành dưới quy luật và trật tự, và được thực hiện qua sự hợp tác của các thiên thần trước hết, cùng việc áp dụng các tác nhân bên ngoài lên nguyên tử hay hình tướng liên quan, và thứ hai (bao gồm giai đoạn quan trọng nhất và kéo dài nhất của thủ tục) qua phản ứng tiếp theo bên trong chính nguyên tử, phản ứng này tạo ra sự tăng cường của trung tâm cháy dương, và hậu quả là sự thoát ra (qua tính phóng xạ) của tinh chất bay hơi.
At all the different stages, the fire elementals perform their part, aided by the fire devas who are the controlling [Page 492] agents. This is so on all the planes which primarily concern us in the three worlds—different groups of devas coming into action according to the nature of the form concerned, and the plane on which the transmutation is to take place. Electric fire passes from atom to atom according to law, and “fire by friction” responds, being the latent fire of the atom, or its negative aspect; the process is carried on through the medium of solar fire, and herein lies the secret of transmutation and its most mysterious angle. Fire by friction, the negative electricity of substance, has been for some time the subject of the attention of exoteric science, and investigation of the nature of positive electricity has become possible through the discovery of radium.
Ở mọi giai đoạn khác nhau, các hành khí của lửa đảm nhiệm phần việc của chúng, được trợ giúp bởi các thiên thần của lửa là những tác nhân kiểm soát [Page 492]. Điều này đúng trên mọi cõi chủ yếu liên quan đến chúng ta trong ba cõi giới—những nhóm thiên thần khác nhau đi vào hoạt động tùy theo bản chất của hình tướng được xét đến, và cõi nơi sự chuyển hoá sẽ diễn ra. Lửa Điện truyền từ nguyên tử này sang nguyên tử khác theo định luật, và “Lửa ma sát” đáp ứng, vì đó là lửa tiềm tàng của nguyên tử, hay phương diện âm của nó; tiến trình được thực hiện qua trung gian của Lửa Thái dương, và chính trong đó có bí mật của sự chuyển hoá cùng phương diện huyền nhiệm nhất của nó. Lửa ma sát, tức điện âm của chất liệu, từ lâu đã là đối tượng được khoa học ngoại môn chú ý, và việc khảo cứu bản chất của điện dương đã trở nên khả hữu nhờ sự khám phá ra radium.
Keely, as H. P. B. hinted, (S.D., I, 172, 607-611) had gone far along this path, and knew even more than he gave out, and others have approached, or are approaching, the same objective. The next step ahead for science lies in this direction, and should concern the potential force of the atom itself, and its harnessing for the use of man. This will let loose upon earth a stupendous amount of energy. Nevertheless, it is only when the third factor is comprehended, and science admits the agency of mental fire as embodied in certain groups of devas, that the force of energy that is triple, and yet one in the three worlds, will become available for the helping of man. This lies as yet far ahead, and will only become possible towards the end of this round; and these potent forces will not be fully utilised, nor fully known till the middle of the next round. At that time, much energy will become available through the removal of all that obstructs. This is effected, in relation to man, at the Judgment separation, but it will produce results in the other kingdoms of nature also. A portion of the animal kingdom will enter into a temporary obscuration, thus releasing energy for [Page 493] the use of the remaining percentage, and producing results such as are hinted at by the prophet of Israel (Bible, Isiah 11:6) when he speaks of “the wolf lying down with the lamb”; his comment “a little child shall lead them” is largely the esoteric enunciation of the fact that three fifths of the human family will stand upon the Path, ‘a little child’ being the name applied to probationers and disciples. In the vegetable and mineral kingdoms a corresponding demonstration will ensue, but of such a nature as to be too obscure for our comprehension.
Keely, như H. P. B. đã ám chỉ, (S.D., I, 172, 607-611) đã đi rất xa trên con đường này, và còn biết nhiều hơn điều ông công bố, và những người khác đã tiến gần, hoặc đang tiến gần, đến cùng mục tiêu ấy. Bước kế tiếp của khoa học nằm theo hướng này, và phải liên quan đến mãnh lực tiềm tàng của chính nguyên tử, cùng việc chế ngự nó để phục vụ con người. Điều này sẽ giải phóng trên Trái Đất một lượng năng lượng khổng lồ. Tuy nhiên, chỉ khi yếu tố thứ ba được thấu hiểu, và khoa học thừa nhận tác nhân của lửa trí tuệ như được hiện thân trong một số nhóm thiên thần, thì mãnh lực năng lượng vốn là tam phân mà vẫn là một trong ba cõi giới mới trở nên khả dụng để trợ giúp con người. Điều này hiện vẫn còn ở rất xa phía trước, và chỉ có thể trở thành khả hữu vào cuối cuộc tuần hoàn này; và các mãnh lực hùng mạnh ấy sẽ không được sử dụng trọn vẹn, cũng không được biết đến trọn vẹn cho đến giữa cuộc tuần hoàn kế tiếp. Vào lúc đó, nhiều năng lượng sẽ trở nên khả dụng nhờ việc loại bỏ mọi điều cản trở. Điều này, liên hệ với con người, được thực hiện vào cuộc phân ly Phán Xét, nhưng nó cũng sẽ tạo ra kết quả trong các giới khác của bản chất. Một phần của giới động vật sẽ đi vào một giai đoạn che khuất tạm thời, nhờ đó giải phóng năng lượng để [Page 493] sử dụng cho phần còn lại, và tạo ra những kết quả như đã được nhà tiên tri của Israel ám chỉ (Bible, Isiah 11:6) khi ông nói về “con sói nằm với chiên con”; lời bình của ông rằng “một đứa trẻ nhỏ sẽ dẫn dắt chúng” phần lớn là sự tuyên xưng huyền bí về sự kiện rằng ba phần năm gia đình nhân loại sẽ đứng trên Con Đường, “một đứa trẻ nhỏ” là danh xưng áp dụng cho những người dự bị và các đệ tử. Trong giới thực vật và giới kim thạch, một biểu hiện tương ứng cũng sẽ tiếp theo, nhưng có bản chất quá mơ hồ đối với sự thấu hiểu của chúng ta.
The central factor of solar fire in the work of transmutation will come to be understood through the study of the fire devas and elementals, who are fire, and who are, in themselves (essentially and through active magnetic radiation), the external heat or vibration which produces:
Yếu tố trung tâm của Lửa Thái dương trong công việc chuyển hoá sẽ được hiểu thông qua việc nghiên cứu các thiên thần của lửa và các hành khí, là lửa, và tự thân chúng (về bản chất và qua bức xạ từ tính hoạt động) chính là nhiệt hay rung động bên ngoài tạo ra:
The force which plays upon the spheroidal wall of the atom.
Mãnh lực tác động lên vách hình cầu của nguyên tử.
The response within the atom which produces radiation or the escape of volatile essence.
Sự đáp ứng bên trong nguyên tử tạo ra bức xạ hay sự thoát ra của tinh chất dễ bay hơi.
Speaking cosmically, and regarding the solar system as itself a cosmic atom, we would consider that:
Nói theo nghĩa vũ trụ, và xét hệ mặt trời như chính nó là một nguyên tử vũ trụ, chúng ta sẽ xem rằng:
The abstractions or entities who indwell the form are “electric fire.”
Các trừu tượng thể hay thực thể cư ngụ trong hình tướng là “Lửa Điện.”
The material substance which is enclosed within the ring-pass-not viewing it as a homogeneous whole, is “fire by friction.”
Chất liệu vật chất được bao bọc bên trong vòng-giới-hạn, nếu xem nó như một toàn thể đồng nhất, là “Lửa ma sát.”
The fire devas from the cosmic mental plane (of whom Agni and Indra are the embodiers along with one whose name is not to be given) are the external agencies who carry on cosmic transmutation.
Các thiên thần của lửa từ cõi trí vũ trụ (mà Agni và Indra là những Đấng hiện thân cùng với một Đấng có danh xưng không được tiết lộ) là những tác nhân bên ngoài thực hiện sự chuyển hoá vũ trụ.
This triple statement can be applied to a scheme, a chain, or a globe also, remembering ever that in connection [Page 494] with man the fire which is his third aspect emanates from the systemic mental.
Mệnh đề tam phân này cũng có thể được áp dụng cho một hệ hành tinh, một Dãy, hay một bầu hành tinh, đồng thời luôn ghi nhớ rằng liên hệ [Page 494] với con người, ngọn lửa là phương diện thứ ba của y phát xuất từ cõi trí của hệ thống.
We have dealt in broad and general manner with this question of electricity and have seen that fire essence or substance is resolved through internal activity and external heat in such a manner that the electric fire at the centre of the atom is liberated and seeks a new form. This is the aim of the transmutative process and the fact that hitherto alchemists working in the mineral kingdom have failed to achieve their objective has been due to three things:
Chúng ta đã bàn đến vấn đề điện lực này theo cách rộng và tổng quát, và đã thấy rằng tinh chất hay chất liệu lửa được phân giải qua hoạt động nội tại và nhiệt bên ngoài theo cách mà Lửa Điện ở trung tâm nguyên tử được giải phóng và tìm kiếm một hình tướng mới. Đây là mục tiêu của tiến trình chuyển hoá, và sự kiện rằng cho đến nay các nhà luyện kim làm việc trong giới kim thạch đã không đạt được mục tiêu của họ là do ba điều:
First. Inability to contact the central electric spark. This is due to ignorance of certain of the laws of electricity, and above all, ignorance of the set formula which covers the range of the electrical influence of that spark.
Thứ nhất. Không thể tiếp xúc được tia lửa điện trung tâm. Điều này là do không biết một số định luật điện lực, và trên hết là không biết công thức nhất định bao quát phạm vi ảnh hưởng điện lực của tia lửa ấy.
Second. Inability to create the necessary channel or “path” along which the escaping life may travel into its new form. Many have succeeded in breaking the form so that the life has escaped but they have not known how to harness or guide it and all their labour has consequently been lost.
Thứ hai. Không thể tạo ra kênh hay “con đường” cần thiết dọc theo đó sự sống thoát ra có thể đi vào hình tướng mới của nó. Nhiều người đã thành công trong việc phá vỡ hình tướng để sự sống thoát ra, nhưng họ không biết cách chế ngự hay hướng dẫn nó, và do đó mọi lao động của họ đều mất trắng.
Third. Inability to control the fire elementals who are the external fire which affects that central spark through the medium of its environment. This inability is especially distinctive of the alchemists of the fifth root race who have been practically incapable of this control, having lost the Words, the formulas, and the sounds. This is the consequence of undue success in Atlantean days, when the alchemists of the time, through colour and sound so entirely controlled the elementals that they utilised them for their own selfish ends and along lines of endeavours outside their legitimate province. This knowledge of formulas and sounds can be comparatively [Page 495] easily acquired when man has developed the inner spiritual ear. When this is the case, the transmutative processes of the grosser kind (such as are involved in the manufacture of pure gold) will interest him not at all and only those subtler forms of activity which are connected with the transference of life from graded form to form will occupy his attention.
Thứ ba. Không thể kiểm soát các hành khí của lửa là ngọn lửa bên ngoài tác động đến tia lửa trung tâm ấy qua trung gian môi trường của nó. Sự bất lực này đặc biệt nổi bật nơi các nhà luyện kim của giống dân gốc thứ năm, những người trên thực tế hầu như không thể thực hiện sự kiểm soát này, vì đã đánh mất các Linh từ, các công thức và các âm thanh. Đây là hậu quả của sự thành công quá mức trong thời Atlantis, khi các nhà luyện kim thời đó, thông qua màu sắc và âm thanh, đã kiểm soát các hành khí hoàn toàn đến mức sử dụng chúng cho những mục đích ích kỷ riêng của mình và theo những đường lối nỗ lực nằm ngoài phạm vi chính đáng của họ. Kiến thức về các công thức và âm thanh này có thể được thủ đắc tương đối [Page 495] dễ dàng khi con người đã phát triển nội nhĩ tinh thần. Khi điều này xảy ra, các tiến trình chuyển hoá thuộc loại thô nặng hơn (như những gì liên quan đến việc chế tạo vàng ròng) sẽ hoàn toàn không còn hấp dẫn y, và chỉ những hình thức hoạt động tinh tế hơn có liên hệ với sự chuyển dịch sự sống từ hình tướng theo cấp độ này sang hình tướng theo cấp độ khác mới chiếm lĩnh sự chú ý của y.
S5S4
The following facts might also be pointed out:
Những sự kiện sau đây cũng có thể được nêu ra:
First. That every kingdom of nature has its note or tone, and the mantric sounds, which concern any transmutative process within that kingdom, will have that note as the key or base note.
Thứ nhất. Mỗi giới trong bản chất đều có âm điệu hay thanh âm riêng của nó, và các âm thanh mantram liên quan đến bất kỳ tiến trình chuyển hoá nào trong giới ấy sẽ lấy âm điệu đó làm chủ âm hay âm nền.
Second. That the note of the mineral kingdom is the basic note of substance itself, and it is largely the sounding of the note combinations, based on this key, which produces the great world cataclysms, wrought through volcanic action. Every volcano is sounding forth this note, and, for those who can see, the sound and colour (occultly understood) of a volcano are a truly marvellous thing. Every gradation of that note is to be found in the mineral kingdom which is itself divided into three main kingdoms:
Thứ hai. Âm điệu của giới kim thạch là âm nền của chính chất liệu, và phần lớn chính việc xướng lên các tổ hợp âm điệu dựa trên chủ âm này tạo ra những đại biến động thế giới, được thực hiện qua hoạt động núi lửa. Mỗi núi lửa đều đang phát ra âm điệu này, và đối với những ai có thể thấy, âm thanh và màu sắc (được hiểu theo huyền bí học) của một núi lửa là điều thực sự kỳ diệu. Mọi cấp độ của âm điệu ấy đều có thể được tìm thấy trong giới kim thạch, giới này tự nó được chia thành ba giới chính:
a. The baser metals, such as lead and iron, with all allied minerals.
a. Các kim loại hạ đẳng, như chì và sắt, cùng mọi khoáng chất liên hệ.
b. The standard metals, such as gold and silver, which play such a vital part in the life of the race, and are the mineral manifestation of the second aspect.
b. Các kim loại chuẩn, như vàng và bạc, đóng một vai trò thiết yếu như vậy trong đời sống của nhân loại, và là biểu hiện khoáng vật của phương diện thứ hai.
c. The crystals and precious stones, the first aspect as it works out in the mineral kingdom—the consummation of the work of the mineral devas, and the product of their untiring efforts.
c. Các tinh thể và đá quý, phương diện thứ nhất khi nó biểu lộ trong giới kim thạch—sự hoàn tất công trình của các thiên thần khoáng vật, và là sản phẩm của những nỗ lực không mệt mỏi của họ.
When scientists fully appreciate what it is which causes the difference between the sapphire and the ruby, they will have found out what constitutes one of the stages [Page 496] of the transmutative process, and this they cannot do until the fourth ether is controlled, and its secret discovered. As time progresses, the transmutation, for instance, of coal into diamonds, of lead into silver, or of certain metals into gold, will hold no appeal for man, for it will be recognised that the outcome of such action would cause deterioration of the standard, and result in poverty instead of the acquirement of riches; man will eventually come to the realisation that in atomic energy, harnessed to his need, or in the inducing of increased radioactivity, lies for him the path to prosperity and riches. He will, therefore concentrate his attention on this higher form of life transference and
Khi các nhà khoa học hoàn toàn đánh giá được điều gì gây ra sự khác biệt giữa sapphire và ruby, họ sẽ khám phá ra điều cấu thành một trong những giai đoạn [Page 496] của tiến trình chuyển hoá, và điều này họ không thể làm được cho đến khi dĩ thái thứ tư được kiểm soát và bí mật của nó được khám phá. Khi thời gian tiến triển, chẳng hạn việc chuyển hoá than thành kim cương, chì thành bạc, hay một số kim loại thành vàng, sẽ không còn hấp dẫn con người nữa, vì người ta sẽ nhận ra rằng kết quả của hành động như vậy sẽ gây ra sự suy giảm tiêu chuẩn và dẫn đến nghèo khó thay vì đạt được giàu có; cuối cùng con người sẽ đi đến sự chứng nghiệm rằng trong năng lượng nguyên tử, được chế ngự để đáp ứng nhu cầu của mình, hay trong việc gây ra sự gia tăng tính phóng xạ, chính trong đó có con đường dẫn y đến thịnh vượng và giàu có. Vì vậy, y sẽ tập trung sự chú ý vào hình thức chuyển dịch sự sống cao hơn này và
a. Through knowledge of the devas,
a. Qua tri thức về các thiên thần,
b. Through external pressure and vibration,
b. Qua áp lực và rung động bên ngoài,
c. Through internal stimulation,
c. Qua sự kích thích bên trong,
d. Through colour applied in stimulation and vitalisation,
d. Qua màu sắc được áp dụng trong sự kích thích và tiếp sinh lực,
e. Through mantric sounds
e. Qua các âm thanh mantram
he will find the secret of atomic energy, latent in the mineral kingdom, and will bend that inconceivable power and force to the solution of the problems of existence. Only when atomic energy is better understood and the nature of the fourth ether somewhat comprehended, shall we see that control of the air which lies inevitably ahead.
y sẽ tìm ra bí mật của năng lượng nguyên tử, tiềm tàng trong giới kim thạch, và sẽ uốn nắn quyền năng và mãnh lực không thể nghĩ bàn ấy vào việc giải quyết các vấn đề của sự tồn tại. Chỉ khi năng lượng nguyên tử được hiểu rõ hơn và bản chất của dĩ thái thứ tư được thấu hiểu phần nào, chúng ta mới thấy được sự kiểm soát không khí chắc chắn đang ở phía trước.
Third. By the discovery of the note of the vegetable kingdom, by its conjunction with other of nature’s notes, and by its due sounding forth in different keys and combinations will come the possibility to produce marvellous results within that kingdom, and to stimulate the activities of those devas who work with flowers, fruits, trees and herbs.
Thứ ba. Qua việc khám phá âm điệu của giới thực vật, qua sự kết hợp của nó với các âm điệu khác của bản chất, và qua việc xướng lên đúng đắn trong những chủ âm và tổ hợp khác nhau, sẽ xuất hiện khả năng tạo ra những kết quả kỳ diệu trong giới ấy, và kích thích hoạt động của những thiên thần làm việc với hoa, quả, cây cối và thảo mộc.
Every root race has its own particular style of vegetation, or certain basic forms and designs which can be traced in all countries where the race locates. These [Page 497] results are brought about by the interaction between the basic note of the vegetable kingdom itself, and the note of the race of men who are evolving simultaneously. The union of these two notes is that which produces distinctive vegetation, though it should be remembered that when the human note dominates too strongly it is apt to drive out the life of the forms of this second kingdom. The devas who work in this kingdom are a special group, and have a closer and more peculiar relation to it than have the builders or devas in any other kingdom. The transmutative process is effected more easily in the vegetable kingdom than in any other owing to this very factor, and also to the incentive given to this second kingdom and its evolutionary process by the coming of the Lords of the Flame from the second or Venus globe—pre-eminently the globe with which this kingdom has a mysterious connection. If I might express it in other words: the cosmic Entity, Who is the life of the second globe and its informing principle, has a close connection with the solar Entity Who is the informing life of the entire vegetable kingdom. This analogy can be worked out in connection with the other kingdoms, globes and other forms and accounts somewhat for the fact that this fourth (S. D., I, 107.) (163) globe is above everything else the globe of human evolution in this scheme; it gives also the clue to the mystery of the Presence of the great Kumara Himself upon earth.
Mỗi giống dân gốc đều có kiểu thực vật riêng biệt của nó, hay một số hình thức và mô hình căn bản có thể được truy ra trong mọi quốc gia nơi giống dân ấy định cư. Những [Page 497] kết quả này được mang lại bởi sự tương tác giữa âm điệu căn bản của chính giới thực vật và âm điệu của giống dân nhân loại đang tiến hoá đồng thời. Sự hợp nhất của hai âm điệu này là điều tạo ra thực vật đặc thù, dù cần nhớ rằng khi âm điệu nhân loại chi phối quá mạnh, nó có khuynh hướng xua đuổi sự sống ra khỏi các hình tướng của giới thứ hai này. Các thiên thần làm việc trong giới này là một nhóm đặc biệt, và có mối liên hệ gần gũi và đặc thù với nó hơn các đấng kiến tạo hay thiên thần trong bất kỳ giới nào khác. Tiến trình chuyển hoá được thực hiện dễ dàng hơn trong giới thực vật so với bất kỳ giới nào khác do chính yếu tố này, và cũng do sự thúc đẩy được ban cho giới thứ hai này cùng tiến trình tiến hoá của nó bởi sự giáng lâm của các Đấng Chúa Tể của Ngọn Lửa từ bầu hành tinh thứ hai hay Sao Kim—nổi bật nhất là bầu hành tinh mà giới này có một liên hệ huyền nhiệm. Nếu tôi có thể diễn đạt điều đó bằng cách khác: Thực Thể vũ trụ, Đấng là sự sống của bầu hành tinh thứ hai và là nguyên khí thấm nhuần của nó, có một liên hệ mật thiết với Thực Thể thái dương, Đấng là sự sống thấm nhuần của toàn bộ giới thực vật. Sự tương đồng này có thể được triển khai liên hệ với các giới, các bầu hành tinh và các hình tướng khác, và phần nào giải thích sự kiện rằng bầu hành tinh thứ tư này (S. D., I, 107.) (163) trên hết mọi thứ là bầu hành tinh của sự tiến hoá nhân loại trong hệ hành tinh này; nó cũng cung cấp đầu mối cho huyền nhiệm về Sự Hiện Diện của chính Đức Kumara vĩ đại trên Trái Đất.
(163) The Fourth Round. The present (our) Round being the middle Round (between the 1st, 2nd, and 3rd, and the 5th, 6th and 7th) is one of adjustment and final equipoise between Spirit and matter. It is that point, in short, wherein the reign of true matter, its grossest state (which is as unknown to Science as its opposite pole—homogeneous matter or substance) stops and comes to an end. From that point physical man begins to throw off “coat after coat,” of his material molecules for the benefit and subsequent formation or clothing of the animal kingdom, which in its turn is passing it on to the vegetable, and the latter to the mineral kingdoms. Man having evoluted in the first Round from the animal via the two other kingdoms, it stands to reason that in the present Round he should appear before the animal world of this manvantaric period. But see the Secret Doctrine for particulars.—Lucifer, Vol. III, p. 253. (back)
(163) Cuộc tuần hoàn thứ tư. Cuộc tuần hoàn hiện tại (của chúng ta), là cuộc tuần hoàn ở giữa (giữa các cuộc tuần hoàn thứ 1, 2 và 3, và thứ 5, 6 và 7), là một cuộc tuần hoàn điều chỉnh và quân bình tối hậu giữa tinh thần và vật chất. Nói ngắn gọn, đó là điểm mà sự thống trị của vật chất đích thực, trong trạng thái thô đặc nhất của nó (vốn cũng xa lạ với Khoa học như cực đối nghịch của nó—vật chất hay chất liệu đồng nhất), dừng lại và chấm dứt. Từ điểm đó, con người hồng trần bắt đầu cởi bỏ “lớp áo này đến lớp áo khác” của các phân tử vật chất của mình vì lợi ích và cho sự hình thành hay khoác áo tiếp theo của giới động vật, rồi đến lượt giới này truyền nó cho giới thực vật, và giới thực vật lại truyền cho giới kim thạch. Vì con người đã tiến hoá trong cuộc tuần hoàn thứ nhất từ động vật qua hai giới kia, nên hợp lý là trong cuộc tuần hoàn hiện tại y phải xuất hiện trước thế giới động vật của giai kỳ sinh hóa này. Nhưng hãy xem Giáo Lý Bí Nhiệm để biết chi tiết.—Lucifer, Tập III, tr. 253. (trở lại)
These thoughts merit close attention. [Page 498] The note of the human kingdom, sounded in quadruple intensity on this globe, has produced portentous happenings, and I would suggest to all occult investigators the close study and scrutiny of the following manifestations in time and space:
Những tư tưởng này đáng được chú ý kỹ lưỡng. [Page 498] Âm điệu của giới nhân loại, được xướng lên với cường độ tứ phân trên bầu hành tinh này, đã tạo ra những biến cố trọng đại, và tôi muốn gợi ý với mọi nhà khảo cứu huyền bí học hãy nghiên cứu và khảo sát kỹ lưỡng những biểu hiện sau đây trong thời gian và không gian:
1.
The fourth Creative Hierarchy
The human.
2.
The fourth scheme
Our earth scheme.
3.
The fourth chain
The earth chain.
4.
The fourth globe
Our planet.
5.
The fourth kingdom
The human.
6.
The fourth round
The first strictly human round.
7.
The four Kumaras
Embodiers of humanity.
8.
The fourth plane
The buddhic, the human goal.
9.
The fourth ether
The physical correspondence of the buddhic plane.
One fundamental sound is responded to by all these varied factors; it is the note that is the cause of their existence and the basis of their being. This note, if sought for and found, will bring into close alliance all of these factors till they are blended into a great occult unity; it will bring likewise into co-operation the band of devas who are the essences of the fourth human principle.
Một âm thanh căn bản được tất cả các yếu tố đa dạng này đáp ứng; đó là âm điệu là nguyên nhân sự tồn tại của chúng và là nền tảng của bản thể chúng. Âm điệu này, nếu được tìm kiếm và phát hiện, sẽ đưa tất cả các yếu tố ấy vào sự liên minh mật thiết cho đến khi chúng được hòa trộn thành một hợp nhất huyền bí vĩ đại; nó cũng sẽ đưa vào sự hợp tác nhóm thiên thần là các tinh chất của nguyên khí nhân loại thứ tư.
b. Synthesis. We have seen that during the coming races and subraces certain very definite development may be looked for in connection with manasic unfoldment; and it is worth while to note particularly that as far as the evolution of manas in this round is concerned its highest efflorescence may be looked for during the next five hundred years. The coming in of the two final root races marks the point of synthesis, and the gradual utilisation of that which has been manasically achieved; this will be brought about by a development of abstract thought, and of intuitive recognition. In other words, manas has (during the past three root races) been principally applied to the understanding of objective existence, to the adaptation of the Dweller in the form to his [Page 499] environment on the physical plane. From now on the trend of activity will be towards the understanding of the subjective side of manifestation, and towards the comprehension of the psyche of the individual life, divine, planetary, or human. In the next round, all the previous stages will be recapitulated, and manas will demonstrate in ways inconceivable as yet to the half awakened consciousness of man. In that round three-fifths of the human family will be fully aware, functioning with uninterrupted continuity of recollection on the physical, astral, and lower mental planes. The emphasis of manasic evolution will be laid upon the achievement of causal consciousness, and upon the scientific construction of the bridge which should unite the causal vehicle and the permanent manasic atom on the abstract levels.
b. Tổng hợp. Chúng ta đã thấy rằng trong các nhân loại và giống dân phụ sắp tới, có thể trông đợi một số phát triển rất xác định liên hệ với sự khai mở manas; và điều đáng lưu ý đặc biệt là, xét theo sự tiến hoá của manas trong cuộc tuần hoàn này, sự nở rộ cao nhất của nó có thể được mong đợi trong năm trăm năm tới. Sự xuất hiện của hai giống dân gốc cuối cùng đánh dấu điểm tổng hợp, và sự sử dụng dần dần điều đã được thành tựu về mặt manas; điều này sẽ được mang lại bởi sự phát triển của tư tưởng trừu tượng và của sự nhận biết trực giác. Nói cách khác, manas (trong ba giống dân gốc vừa qua) chủ yếu đã được áp dụng vào việc thấu hiểu sự tồn tại khách quan, vào việc thích nghi Kẻ Chận Ngõ trong hình tướng với [Page 499] môi trường của y trên cõi hồng trần. Từ nay trở đi, xu hướng hoạt động sẽ hướng đến việc thấu hiểu mặt chủ quan của biểu hiện, và hướng đến việc lĩnh hội tâm lý của sự sống cá biệt, thiêng liêng, hành tinh hay nhân loại. Trong cuộc tuần hoàn kế tiếp, mọi giai đoạn trước đó sẽ được lặp lại, và manas sẽ biểu lộ theo những cách hiện còn không thể nghĩ bàn đối với tâm thức nửa thức tỉnh của con người. Trong cuộc tuần hoàn ấy, ba phần năm gia đình nhân loại sẽ hoàn toàn tỉnh thức, hoạt động với sự liên tục không gián đoạn của ký ức trên các cõi hồng trần, cảm dục và hạ trí. Trọng tâm của sự tiến hoá manas sẽ được đặt vào việc đạt được tâm thức nguyên nhân, và vào việc xây dựng một cách khoa học cây cầu phải hợp nhất vận cụ nguyên nhân với nguyên tử trường tồn manas trên các cấp độ trừu tượng.
During the sixth and seventh rounds we shall again have the synthesising process at work in a manner analogous to that which lies ahead in the sixth and seventh root races of this round.
Trong các cuộc tuần hoàn thứ sáu và thứ bảy, chúng ta sẽ lại có tiến trình tổng hợp hoạt động theo cách tương tự với điều đang ở phía trước trong các giống dân gốc thứ sáu và thứ bảy của cuộc tuần hoàn này.
To express the whole matter in larger terms: The Heavenly Man will be achieving the consciousness of his causal body on cosmic levels, with a consequent reaction, repolarisation and alignment of His body of manifestation. Under the law this will work out as demonstrated quality, and ordered intelligent purpose in every kingdom of nature, and will produce unifying results within those kingdoms of a kind inexplicable to man at his present stage of manasic development. We need not, therefore, give further time to the consideration of them, for the mental concept of man could not measure up to the magnitude of the theme.
Để diễn đạt toàn bộ vấn đề theo những thuật ngữ rộng lớn hơn: Đấng Thiên Nhân sẽ đạt được tâm thức của thể nguyên nhân của Ngài trên các cấp độ vũ trụ, với phản ứng hệ quả, sự tái phân cực và sự chỉnh hợp của thể biểu hiện của Ngài. Theo định luật, điều này sẽ được biểu lộ thành phẩm tính được chứng minh và mục đích trí tuệ có trật tự trong mọi giới của bản chất, và sẽ tạo ra những kết quả hợp nhất trong các giới ấy thuộc loại mà con người ở giai đoạn phát triển manas hiện nay không thể giải thích được. Vì vậy, chúng ta không cần dành thêm thời gian để xem xét chúng, vì khái niệm trí tuệ của con người không thể tương xứng với tầm vóc của chủ đề này.
In summing up what I have written anent this matter of the discriminative faculty, the intelligent activity, the adaptability nature, and the transmutative power of manas, I would like to point out that so far-reaching are these developments that every department of nature, macrocosmic [Page 500] and microcosmic, will show forth these aspects, and show them forth in a ninefold manner before the consummation is achieved, and man has found his course.
Tóm lại những gì tôi đã viết liên quan đến năng lực phân biện, hoạt động trí tuệ, bản chất thích nghi, và quyền năng chuyển hoá của manas, tôi muốn chỉ ra rằng những phát triển này sâu rộng đến mức mọi bộ phận của bản chất, đại thiên địa [Page 500] và tiểu thiên địa, sẽ biểu lộ các phương diện này, và biểu lộ chúng theo cách cửu phân trước khi sự hoàn tất được đạt tới và con người tìm ra lộ trình của mình.
Let us, therefore, look for a brief moment at the microcosmic manifestation, leaving the student as far as he is able to work out analogous ideas in relation to the Heavenly Man and the solar Logos:
Vì vậy, chúng ta hãy nhìn trong chốc lát vào biểu hiện tiểu thiên địa, để đạo sinh tự mình triển khai những ý tưởng tương đồng liên hệ với Đấng Thiên Nhân và Thái dương Thượng đế:
Manasic characteristics and the planes
Các đặc tính manas và các cõi
I. On the Physical Plane: Here this quality demonstrates as:
I. Trên Cõi Hồng Trần: Ở đây phẩm tính này biểu lộ như:
a. The selective power of the atoms of the body.
a. Quyền năng chọn lọc của các nguyên tử trong thể.
b. The adaptability of the physical form to its environment and to its circumstances.
b. Khả năng thích nghi của hình tướng hồng trần với môi trường và hoàn cảnh của nó.
c. The ordered purpose of the informing Life, as it affects the physical form and atoms.
c. Mục đích có trật tự của Sự sống thấm nhuần, khi nó tác động đến hình tướng và các nguyên tử hồng trần.
d. The transmutative power, inherent in man though as yet unrecognised by him, which has brought him to his present stage of physical existence from that of animal man. It concerns also the transference of the life on to manasic levels.
d. Quyền năng chuyển hoá vốn có nơi con người nhưng hiện chưa được y nhận biết, là điều đã đưa y từ trạng thái người thú đến giai đoạn tồn tại hồng trần hiện nay. Nó cũng liên quan đến sự chuyển dịch sự sống lên các cấp độ manas.
II. On the Astral Plane:
II. Trên Cõi Cảm Dục:
a. The discriminative power of man to choose between the pairs of opposites.
a. Quyền năng phân biện của con người để chọn lựa giữa các cặp đối nghịch.
b. His adaptability to emotional conditions, and his power to attain eventual equilibrium.
b. Khả năng thích nghi của y với các điều kiện cảm xúc, và quyền năng đạt đến sự quân bình sau cùng.
c. The power of man, through conscious purpose, to clear his astral body of foreign matter, and to ensure its translucence.
c. Quyền năng của con người, qua mục đích hữu thức, để làm trong sạch thể cảm dục của mình khỏi vật chất ngoại lai, và bảo đảm tính trong suốt của nó.
d. The transmutative inherent power which transmutes, or transfers the life into buddhic forms eventually.
d. Quyền năng chuyển hoá vốn có, rốt cuộc chuyển hoá hay chuyển dịch sự sống vào các hình tướng Bồ đề.
III. On the Mental Plane:
III. Trên Cõi Trí:
a. In the selective power of man to choose the form through which to manifest. [Page 501]
a. Trong quyền năng chọn lọc của con người để chọn hình tướng qua đó biểu hiện. [Page 501]
b. His adaptability to mental currents and vibration, and his utilisation of them to control the lower forms.
b. Khả năng thích nghi của y với các dòng và rung động trí tuệ, và việc sử dụng chúng để kiểm soát các hình tướng thấp.
c. The working out of purpose through the medium of the two lower vehicles. Impulse emanates from the mental plane.
c. Sự triển khai mục đích qua trung gian của hai vận cụ thấp. Xung lực phát xuất từ cõi trí.
d. The transmutative power which transforms the entire lower threefold man into a new form, the causal body. This process of transmutation is carried on through the entire series of incarnations.
d. Quyền năng chuyển hoá biến đổi toàn bộ phàm ngã tam phân thấp thành một hình tướng mới, thể nguyên nhân. Tiến trình chuyển hoá này được thực hiện xuyên suốt toàn bộ chuỗi lâm phàm.
IV. On the Abstract Levels of the Mental Plane.
IV. Trên Các Cấp Độ Trừu Tượng của Cõi Trí.
a. The ability of the Ego to discriminate as to time and space in the three worlds.
a. Khả năng của chân ngã phân biện về thời gian và không gian trong ba cõi giới.
b. Egoic adaptation of matter and circumstance of time and environment to the specific need under the Law of Karma.
b. Sự thích nghi chân ngã của vật chất và hoàn cảnh thời gian cùng môi trường với nhu cầu đặc thù theo Định luật Nghiệp quả.
c. The ‘Intelligent Purpose’ which lies back of all physical objectivity, and which is seen working out in every life.
c. “Mục Đích Trí Tuệ” nằm phía sau mọi tính khách quan hồng trần, và được thấy đang triển khai trong mọi sự sống.
d. The transmutation or transference into the Triad of the life of the Ego as it functions in the causal body. This results in dissociation from manifestation in the three worlds. To effect this transmutation (which is a point at times overlooked) the Thinker in the causal vehicle has to do three things:
d. Sự chuyển hoá hay chuyển dịch vào Tam nguyên tinh thần của sự sống của chân ngã khi nó hoạt động trong thể nguyên nhân. Điều này dẫn đến sự tách rời khỏi biểu hiện trong ba cõi giới. Để thực hiện sự chuyển hoá này (một điểm đôi khi bị bỏ qua), Đấng Tư Tưởng trong vận cụ nguyên nhân phải làm ba việc:
1. Build and equip the causal body.
1. Xây dựng và trang bị thể nguyên nhân.
2. Bring about conscious connection or control of the threefold lower nature through the agency of the permanent atoms.
2. Tạo ra sự nối kết hữu thức hay sự kiểm soát bản chất thấp tam phân qua tác nhân của các nguyên tử trường tồn.
3. Bridge the interlude between the causal body on its own level, and the manasic permanent atom. [Page 502]
3. Bắt cầu khoảng gián đoạn giữa thể nguyên nhân trên cấp độ riêng của nó và nguyên tử trường tồn manas. [Page 502]
V. On Buddhic Levels:
V. Trên Các Cấp Độ Bồ đề:
a. Discriminative power here demonstrates as ability to distinguish between the abstract and the concrete, and to arrive at conclusions apart from the ordinary apparatus—the mental body and the physical brain.
a. Quyền năng phân biện ở đây biểu lộ như khả năng phân biệt giữa trừu tượng và cụ thể, và đi đến kết luận tách khỏi bộ máy thông thường—thể trí và bộ não hồng trần.
b. Adaptability to Hierarchical enterprise shown by the Initiate or Master, and His receptivity to life impulses and spiritual currents emanating from the planetary Logos of His Ray—a thing at this stage impossible of conscious realisation.
b. Khả năng thích nghi với công cuộc của Thánh đoàn được biểu lộ bởi điểm đạo đồ hay Chân sư, và tính tiếp nhận của Ngài đối với các xung lực sự sống và các dòng tinh thần phát xuất từ Hành Tinh Thượng Đế của cung của Ngài—một điều ở giai đoạn này không thể được chứng nghiệm một cách hữu thức.
c. In the ordered purpose which guides the choice by a Master of one of the seven Paths of endeavour. Thus choice is based on KNOWLEDGE and not on desire.
c. Trong mục đích có trật tự hướng dẫn sự chọn lựa của một Chân sư đối với một trong bảy Con Đường nỗ lực. Như vậy, sự chọn lựa dựa trên TRI THỨC chứ không dựa trên dục vọng.
d. In the conscious transmutation He undertakes in the work of evolution, and in the gradual transference of His own life, and the life of His group, into the monadic aspect which is reflected in the buddhic.
d. Trong sự chuyển hoá hữu thức mà Ngài đảm nhiệm trong công việc tiến hoá, và trong sự chuyển dịch dần dần sự sống của chính Ngài, cùng sự sống của nhóm Ngài, vào phương diện chân thần được phản chiếu trong Bồ đề.
VI. On Atmic Levels:
VI. Trên Các Cấp Độ Atma:
a. In the selective work of the adept as it relates to planetary manifestation, and the discriminative power which guides all action relating to His own planet, and the two others associated with the Earth, as a systemic triangle.
a. Trong công việc chọn lọc của chân sư khi nó liên hệ với biểu hiện hành tinh, và quyền năng phân biện hướng dẫn mọi hành động liên quan đến hành tinh riêng của Ngài, cùng hai hành tinh khác liên kết với Trái Đất như một tam giác hệ thống.
b. The adaptation of groups (deva and human) to certain types of influence, and vibration, which emanate extra-systemically, and which from high cosmic levels play upon groups, fostering certain attributes for which we have, as yet, no terminology.
b. Sự thích nghi của các nhóm (thiên thần và nhân loại) với một số loại ảnh hưởng và rung động phát xuất ngoài hệ thống, và từ các cấp độ vũ trụ cao tác động lên các nhóm, nuôi dưỡng một số thuộc tính mà hiện nay chúng ta chưa có thuật ngữ để gọi tên.
c. The synthesising work of the Brahma aspect as it works out in the blending of the four minor rays into the third major. [Page 503]
c. Công việc tổng hợp của phương diện Brahma khi nó được triển khai trong sự hòa trộn bốn cung phụ vào cung lớn thứ ba. [Page 503]
d. The transmutation which results in planetary obscuration in connection with five of the Heavenly Men and which—as in the previous work of synthesis—concerns microcosmic evolution and is participated in by man. I would call attention to an interesting point: as more and more of the Monads are resolved back into their source it produces a gradual obscuration of the particular Heavenly Man in Whose body they are the cells. Though this may look to human vision as extending over a profoundly long period, from the point of view of universal or group consciousness it is occurring NOW. For instance, such an event as the obscuration of the manifestation of the Logos of our Earth scheme is already in process and began in Lemurian days.
d. Sự chuyển hoá dẫn đến sự che khuất hành tinh liên hệ với năm Đấng Thiên Nhân và—cũng như trong công việc tổng hợp trước đó—liên quan đến sự tiến hoá tiểu thiên địa và có sự tham dự của con người. Tôi muốn lưu ý đến một điểm thú vị: khi ngày càng nhiều các chân thần được phân giải trở lại nguồn cội của chúng, điều đó tạo ra sự che khuất dần dần của Đấng Thiên Nhân đặc thù mà trong thân thể của Ngài chúng là các tế bào. Dù điều này có thể trông như kéo dài qua một thời kỳ vô cùng lâu dài đối với tầm nhìn của con người, nhưng từ quan điểm của tâm thức vũ trụ hay tâm thức nhóm, nó đang xảy ra NGAY BÂY GIỜ. Chẳng hạn, một biến cố như sự che khuất biểu hiện của Thượng đế của hệ hành tinh Địa Cầu của chúng ta đã đang trong tiến trình và đã bắt đầu từ thời Lemuria.
VII. As regards monadic discrimination, adaptability, purpose and transmutative power it is needless to enlarge.
VII. Về sự phân biện, khả năng thích nghi, mục đích và quyền năng chuyển hoá của chân thần thì không cần phải nói rộng thêm.
All these ideas and concepts are of value only in so far as they produce within the Thinker a more intelligent appreciation of the grandeur of the divine plan, an appropriation of the energy and force which is his by right of participation in the processes of manifestation, and a wise co-operation in the furtherance of the evolutionary plan as it affects him individually and his groups.
Tất cả những ý tưởng và khái niệm này chỉ có giá trị trong chừng mực chúng tạo ra bên trong Đấng Tư Tưởng một sự đánh giá thông tuệ hơn về sự hùng vĩ của Thiên Cơ, một sự chiếm hữu năng lượng và mãnh lực vốn là của y theo quyền do tham dự vào các tiến trình biểu hiện, và một sự hợp tác minh triết trong việc thúc đẩy kế hoạch tiến hoá khi nó tác động đến cá nhân y và các nhóm của y.
S5S6
DIVISION C - THE EGOIC RAY AND SOLAR FIRE
PHÂN ĐOẠN C - CUNG CHÂN NGÃ VÀ LỬA THÁI DƯƠNG
[Page 504] I. THE NATURE OF THE CAUSAL BODY
[Page 504] I. BẢN CHẤT CỦA THỂ NGUYÊN NHÂN
1. It is formed by the contact of the two fires of Spirit and matter.
1. Nó được hình thành bởi sự tiếp xúc của hai ngọn lửa của tinh thần và vật chất.
2. It is produced at individualisation.
2. Nó được tạo ra vào lúc biệt ngã hóa.
II. THE NATURE OF THE PERMANENT ATOMS
II. BẢN CHẤT CỦA CÁC NGUYÊN TỬ TRƯỜNG TỒN
1. Their purpose.
1. Mục đích của chúng.
a. They are force distributors.
a. Chúng là những bộ phân phối mãnh lực.
b. Conservers of faculty.
b. Những bộ bảo tồn năng lực.
c. Assimilators and transmuters.
c. Những bộ đồng hoá và chuyển hoá.
d. Vehicles of memory.
d. Những vận cụ của ký ức.
2. Their place in the Egoic Body.
2. Vị trí của chúng trong Thể Chân Ngã.
a. The astral permanent atom.
a. Nguyên tử trường tồn cảm dục.
b. The atomic triangle.
b. Tam giác nguyên tử.
3. The Spirillae and the Egoic Ray.
3. Các loa tuyến và cung chân ngã.
a. The composition of the permanent atoms.
a. Thành phần cấu tạo của các nguyên tử trường tồn.
b. The planes and fiery energy.
b. Các cõi và năng lượng lửa.
c. The three fires.
c. Ba ngọn lửa.
4. Summary.
4. Tóm lược.
III. THE EGOIC LOTUS
III. HOA SEN CHÂN NGÃ
1. Wheels or centres of energy.
1. Các bánh xe hay trung tâm năng lượng.
a. Centres of force.
a. Các trung tâm mãnh lực.
b. The causal body, the monadic heart centre. [Page 505]
b. Thể nguyên nhân, trung tâm tim của chân thần. [Page 505]
2. The twelve-petalled Lotus.
2. Hoa sen mười hai cánh.
a. The knowledge petals.
a. Các cánh hoa tri thức.
b. The love petals.
b. Các cánh hoa bác ái.
c. The sacrifice petals.
c. Các cánh hoa hi sinh.
3. Summary.
3. Tóm lược.
I. THE NATURE OF THE EGOIC OR CAUSAL BODY
I. BẢN CHẤT CỦA THỂ CHÂN NGÃ HAY THỂ NGUYÊN NHÂN
The subject of the egoic Ray and its relation to the second fire is one of vital import to three types of people: Those who are interested in the true psychology, or in the evolution of the psyche; those who are on or nearing the Path, and hence are coming more and more into touch with their own Ego; those who work with the souls of men, the servers of the race.
Chủ đề về cung chân ngã và mối liên hệ của nó với ngọn lửa thứ hai có tầm quan trọng thiết yếu đối với ba loại người: những ai quan tâm đến tâm lý học chân chính, hay đến sự tiến hoá của tâm lý; những ai đang ở trên hoặc đang tiến gần Con Đường, và do đó ngày càng tiếp xúc nhiều hơn với chân ngã riêng của mình; những ai làm việc với linh hồn của con người, những người phụng sự nhân loại.
The reason for this is because in the due comprehension of this subject, that of the Ego functioning in the causal body, comes the ability to work scientifically with the problem of one’s own evolution, and to do good work in aiding the evolution of one’s brother.
Lý do là vì trong sự thấu hiểu đúng đắn chủ đề này, tức chủ đề về chân ngã hoạt động trong thể nguyên nhân, xuất hiện khả năng làm việc một cách khoa học với vấn đề tiến hoá của chính mình, và thực hiện công việc tốt đẹp trong việc trợ giúp sự tiến hoá của huynh đệ mình.
1. Egoic manifestation is produced through the medium of two fires.
1. Biểu hiện chân ngã được tạo ra qua trung gian của hai ngọn lửa.
Let us therefore consider somewhat the subject of the egoic Ray and the causal body, viewing it from the standpoint of the microcosm, and leaving the student to work out for himself the analogies where the Logos is concerned, conjuring him to bear in mind that the analogy must ever be drawn with due emphasis upon the fact that all that the human unit can comprehend is the manifestation of the solar Logos in a physical body.
Vì vậy, chúng ta hãy xem xét phần nào chủ đề về cung chân ngã và thể nguyên nhân, nhìn nó từ quan điểm của tiểu thiên địa, và để đạo sinh tự mình triển khai các sự tương đồng nơi Thượng đế, đồng thời khẩn thiết yêu cầu y ghi nhớ rằng sự tương đồng luôn phải được rút ra với sự nhấn mạnh thích đáng vào sự kiện rằng tất cả những gì đơn vị nhân loại có thể lĩnh hội chỉ là biểu hiện của Thái dương Thượng đế trong một thể xác.
In all manifestation, as we well know, we have duality producing triplicity. Spirit meets and contacts matter; the result of that contact is the birth of the Son, or the Ego, the consciousness aspect. The egoic manifestation is therefore the middle aspect, the place of at-one-ment, [Page 506] and (after due evolutionary cycles) the place of balance, or of equilibrium. It should be noted that the analogy between the Logos and man is not accurate, for man has to undergo the whole process within the solar periphery, whilst the Logos (within that periphery) goes through the stage analogous to that which the man undergoes when his astral sheath clothes itself with etheric matter and he takes physical incarnation, which was touched upon when considering the subject of “Fire by friction.” It will consequently be apparent that, in considering the manifestation of the Ego, we are dealing with the point of central emphasis in man’s threefold manifestation. We are concerning ourselves with that division of his nature which concerns the process of making him the perfect six-pointed star during the preliminary stage (the threefold personality and the threefold Triad merged and blended and perfectly produced through the intermediate point the causal body) and which, when the physical body is eliminated, makes him the five-pointed star or perfected manasaputra.
Trong mọi biểu hiện, như chúng ta đều biết rõ, chúng ta có nhị nguyên tính tạo ra bộ ba. Tinh thần gặp gỡ và tiếp xúc vật chất; kết quả của sự tiếp xúc đó là sự sinh ra của Con, hay chân ngã, phương diện tâm thức. Vì vậy, biểu hiện chân ngã là phương diện trung gian, nơi hợp nhất, [Page 506] và (sau các chu kỳ tiến hoá thích đáng) là nơi quân bình, hay cân bằng. Cần lưu ý rằng sự tương đồng giữa Thượng đế và con người không chính xác, vì con người phải trải qua toàn bộ tiến trình bên trong chu vi thái dương, trong khi Thượng đế (bên trong chu vi ấy) trải qua giai đoạn tương tự với giai đoạn con người trải qua khi vỏ bọc cảm dục của y khoác lấy vật chất dĩ thái và y lâm phàm hồng trần, điều đã được đề cập khi xem xét chủ đề “Lửa ma sát.” Do đó, sẽ rõ ràng rằng khi xem xét biểu hiện của chân ngã, chúng ta đang bàn đến điểm nhấn mạnh trung tâm trong biểu hiện tam phân của con người. Chúng ta đang quan tâm đến phần bản chất của y liên quan đến tiến trình làm cho y trở thành ngôi sao sáu cánh hoàn hảo trong giai đoạn sơ khởi (phàm ngã tam phân và Tam nguyên tinh thần tam phân được hòa nhập, dung hợp và được tạo ra hoàn hảo qua điểm trung gian là thể nguyên nhân) và phần này, khi thể xác bị loại bỏ, làm cho y trở thành ngôi sao năm cánh hay manasaputra hoàn hảo.
To state the whole in terms of fire: The causal body is produced by means of the positive life, or fire, of the Spirit (electric fire) meeting the negative fire of matter, or “fire by friction”; this causes the blazing forth of solar fire. This central blaze inevitably in due course burns up the third fire, or absorbs its essence, and is itself eventually blended with the fire of Spirit and passes out of objective display.
Để phát biểu toàn bộ bằng thuật ngữ của lửa: thể nguyên nhân được tạo ra nhờ sự gặp gỡ giữa sự sống dương, hay lửa, của tinh thần (Lửa Điện) với ngọn lửa âm của vật chất, hay “Lửa ma sát”; điều này gây nên sự bùng cháy của Lửa Thái dương. Ngọn lửa trung tâm này tất yếu theo thời gian sẽ thiêu hủy ngọn lửa thứ ba, hay hấp thu tinh chất của nó, và chính nó cuối cùng cũng được hòa trộn với lửa của tinh thần và ra khỏi sự biểu lộ khách quan.
I seek here to deal with the subject of the causal body in two different ways—one along the old lines and the other strictly along the lines of occult electrical phenomena.
Ở đây tôi tìm cách bàn đến chủ đề thể nguyên nhân theo hai cách khác nhau—một theo đường lối cũ và một hoàn toàn theo đường lối của các hiện tượng điện lực huyền bí.
2. Egoic manifestation is produced at individualisation.
2. Biểu hiện chân ngã được tạo ra vào lúc biệt ngã hóa.
The causal body is that sheath of mental substance which is formed at the moment of individualisation by [Page 507] the contact of the two fires. The force or energy that pours through from the higher planes (the breath of the Monad, if you care so to term it) produces a vacuum, or something analogous to a bubble in koilon, and the sheath of the causal body—the ring-pass-not of the central Life is formed. Within this sheath are to be found three atoms, which have been termed the mental unit, the astral permanent atom and the physical permanent atom; they correspond individually to the seventh principle of each of the three persons of the microcosmic triad, a reflection (in the three worlds of the microcosm) of the three Persons of the logoic Trinity. H. P. B. hints at this in connection with the Logos when she speaks of the visible sun being the seventh principle of the Brahma aspect, the physical permanent atom of the Logos. (S.D., III, 143 & I, 574)
Thể nguyên nhân là vỏ bọc của chất liệu trí tuệ được hình thành vào lúc biệt ngã hóa bởi [Page 507] sự tiếp xúc của hai ngọn lửa. Mãnh lực hay năng lượng tuôn xuống từ các cõi cao (hơi thở của chân thần, nếu bạn muốn gọi như vậy) tạo ra một khoảng chân không, hay điều gì đó tương tự như một bong bóng trong koilon, và vỏ bọc của thể nguyên nhân—vòng-giới-hạn của Sự sống trung tâm—được hình thành. Bên trong vỏ bọc này có ba nguyên tử, được gọi là đơn vị hạ trí, nguyên tử trường tồn cảm dục và nguyên tử trường tồn hồng trần; chúng tương ứng riêng rẽ với nguyên khí thứ bảy của mỗi một trong ba ngôi vị của tam nguyên tinh thần tiểu thiên địa, một phản ánh (trong ba cõi giới của tiểu thiên địa) của Ba Ngôi của Tam Vị Thượng đế. H. P. B. ám chỉ điều này liên hệ với Thượng đế khi bà nói rằng mặt trời hữu hình là nguyên khí thứ bảy của phương diện Brahma, nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế. (S.D., III, 143 & I, 574)
II. THE NATURE OF THE PERMANENT ATOMS
II. BẢN CHẤT CỦA CÁC NGUYÊN TỬ TRƯỜNG TỒN
1. The purpose of the permanent atoms.
1. Mục đích của các nguyên tử trường tồn.
The three permanent atoms are in themselves centres of force, or those aspects of the personality which hold hid the fires of substance, or of objectivity; it cannot be too strongly pointed out at this juncture that, in considering the threefold man in the three worlds, we are dealing with substance which (in connection with logoic manifestation) is considered the dense physical. Surrounding these three atoms is the causal sheath, answering the following purposes:
Ba nguyên tử trường tồn tự thân là những trung tâm mãnh lực, hay là những phương diện của phàm ngã đang che giấu các lửa của chất liệu, hay của tính khách quan; ở giai đoạn này cần phải nhấn mạnh hết sức rằng, khi xét con người tam phân trong ba cõi thấp, chúng ta đang đề cập đến chất liệu mà (liên hệ với sự biểu hiện của Thượng đế) được xem là hồng trần đậm đặc. Bao quanh ba nguyên tử này là vỏ nguyên nhân, đáp ứng các mục đích sau đây:
It separates one unit of egoic consciousness from another unit of consciousness, yet is itself part of the gaseous body (the fifth cosmic physical subplane) in the physical body of the planetary Logos, Who is the central life of any particular group of Monads. This fact has been little appreciated, and merits careful consideration. [Page 508] It holds hid spiritual potentialities in its inherent ability to respond to the higher vibration; from the moment of individualisation till it is discarded at initiation, the life within steadily develops these potentialities, and produces certain definite results by the utilisation of the three permanent atoms. It gradually vivifies and awakens them until, on the three planes, the central life has an adequate point of contact which can originate the necessitated vibration in the matter of the plane.
Nó tách biệt một đơn vị tâm thức chân ngã khỏi một đơn vị tâm thức khác, tuy nhiên bản thân nó lại là một phần của thể khí trạng (cõi phụ hồng trần vũ trụ thứ năm) trong thể xác của Hành Tinh Thượng Đế, Đấng là Sự sống trung tâm của bất kỳ nhóm chân thần đặc thù nào. Sự kiện này ít được đánh giá đúng mức, và đáng được suy xét cẩn trọng. [Page 508] Nó che giấu các tiềm năng tinh thần trong khả năng cố hữu của nó là đáp ứng với rung động cao hơn; từ khoảnh khắc biệt ngã hóa cho đến khi nó bị loại bỏ lúc điểm đạo, sự sống bên trong đều đặn phát triển các tiềm năng ấy, và tạo ra những kết quả xác định nhờ việc sử dụng ba nguyên tử trường tồn. Nó dần dần tiếp sinh lực và đánh thức chúng cho đến khi, trên ba cõi, sự sống trung tâm có được một điểm tiếp xúc thích đáng có thể khởi phát rung động cần thiết trong vật chất của cõi đó.
The permanent atoms on each plane serve a fourfold purpose as regards the central or egoic life:
Các nguyên tử trường tồn trên mỗi cõi phục vụ một mục đích tứ phân đối với sự sống trung tâm hay chân ngã:
They are the distributors of a certain type of force.
Chúng là những tác nhân phân phối một loại mãnh lực nhất định.
They are the conservers of faculty or ability to respond to a particular vibration.
Chúng là những tác nhân bảo tồn năng lực hay khả năng đáp ứng với một rung động đặc thù.
They are the assimilators of experience and the transmuters of that experience into quality. This is the direct result of the work of the egoic Ray as it plays upon the atom.
Chúng là những tác nhân đồng hóa kinh nghiệm và chuyển hoá kinh nghiệm ấy thành phẩm tính. Đây là kết quả trực tiếp của công việc của cung chân ngã khi nó tác động lên nguyên tử.
They hold hid the memory of the unit of consciousness. When fully vibrant they are the raison d’être for the continuity of the consciousness of the man functioning in the causal body. This distinction must be carefully made.
Chúng che giấu ký ức của đơn vị tâm thức. Khi rung động trọn vẹn, chúng là raison d’être cho tính liên tục của tâm thức của con người hoạt động trong thể nguyên nhân. Cần phải phân biệt cẩn trọng điều này.
We must always remember in studying these difficult matters that we are dealing with the logoic dense physical body and that:
Khi nghiên cứu những vấn đề khó khăn này, chúng ta phải luôn nhớ rằng mình đang đề cập đến thể xác hồng trần đậm đặc của Thượng đế và rằng:
The mental unit is found in logoic gaseous matter.
Đơn vị hạ trí được tìm thấy trong vật chất khí trạng của Thượng đế.
The astral permanent atom in logoic liquid matter.
Nguyên tử trường tồn cảm dục ở trong vật chất lỏng của Thượng đế.
The physical permanent atom in dense physical substance.
Nguyên tử trường tồn hồng trần ở trong chất liệu hồng trần đậm đặc.
And they therefore have their place in matter of the three lowest subplanes of the physical body of the Logos. Consequently when in the process of evolution, and through initiation, man achieves the consciousness of the Spiritual Triad, and transfers his polarisation into the three triadal [Page 509] permanent atoms, he is simply able to function consciously in the etheric body of his particular planetary Logos. Work out the analogy in the microcosmic development and note how in order to function consciously in his individual etheric body a man has to burn through what has been called the etheric web, and study how the fires of initiation produce something analogous in the planetary etheric body, and eventually in the cosmic etheric. As each unit of consciousness, through self-induced effort, achieves the goal and crosses the ‘burning-ground,’ a microscopic portion of the etheric web of the planetary etheric body is consumed by fire; this results in a definite gain for that great Entity, the planetary Logos, through the relatively unimportant liberation of the force of one cell in His body. When all the units or cells in His body have achieved, He too is set free from dense manifestation and physically dies. This stage is succeeded by the comparatively brief one of etheric existence (covering the period of planetary obscuration), and then He is liberated from incarnation altogether.
Và vì thế chúng có vị trí của mình trong vật chất của ba cõi phụ thấp nhất của thể xác của Thượng đế. Do đó, khi trong tiến trình tiến hoá, và thông qua điểm đạo, con người đạt được tâm thức của Tam Nguyên Tinh Thần, và chuyển sự phân cực của mình vào ba nguyên tử trường tồn của tam nguyên tinh thần [Page 509], y chỉ đơn giản là có thể hoạt động một cách hữu thức trong thể dĩ thái của Hành Tinh Thượng Đế đặc thù của mình. Hãy triển khai phép loại suy trong sự phát triển của tiểu thiên địa và lưu ý rằng để hoạt động một cách hữu thức trong thể dĩ thái cá nhân của mình, con người phải đốt xuyên qua cái đã được gọi là màng dĩ thái, và hãy nghiên cứu cách các lửa của điểm đạo tạo ra một điều tương tự trong thể dĩ thái hành tinh, và cuối cùng trong thể dĩ thái vũ trụ. Khi mỗi đơn vị tâm thức, nhờ nỗ lực tự khởi phát, đạt đến mục tiêu và vượt qua “vùng đất cháy”, một phần vi thể của màng dĩ thái của thể dĩ thái hành tinh bị thiêu hủy bởi lửa; điều này đem lại một lợi ích xác định cho Thực Thể vĩ đại ấy, Hành Tinh Thượng Đế, thông qua sự giải phóng tương đối không quan trọng của mãnh lực của một tế bào trong thân thể của Ngài. Khi mọi đơn vị hay tế bào trong thân thể của Ngài đều đã đạt được, chính Ngài cũng được giải thoát khỏi biểu hiện đậm đặc và chết về mặt hồng trần. Giai đoạn này được tiếp nối bởi một giai đoạn tương đối ngắn của sự tồn tại dĩ thái (bao trùm thời kỳ hành tinh bị che khuất), và rồi Ngài được giải thoát hoàn toàn khỏi lâm phàm.
Viewing this process from the standpoint of the Logos, the Brahma aspect passes out, or the life withdraws from the physical permanent atom, leaving later stages on cosmic levels, with which we need not concern ourselves. These cover the withdrawal of the logoic life from out of the other two aspects. In a solar system, which is a physical incarnation of the Logos, the Brahma aspect is apparently the most important, it being the medium of expression, yet it is the subjective aspect, or the life-desire of the Logos which is fundamentally of moment; this concerns His endeavour on high levels, and on cosmic planes beyond the ken of the highest Chohan.
Nhìn tiến trình này từ quan điểm của Thượng đế, phương diện Brahma đi ra ngoài, hay sự sống rút khỏi nguyên tử trường tồn hồng trần, để lại các giai đoạn sau đó trên các cấp độ vũ trụ mà chúng ta không cần quan tâm. Chúng bao gồm sự rút lui của sự sống của Thượng đế ra khỏi hai phương diện kia. Trong một hệ mặt trời, vốn là một lâm phàm hồng trần của Thượng đế, phương diện Brahma dường như là quan trọng nhất, vì nó là môi trường biểu lộ, tuy nhiên chính phương diện chủ quan, hay bản chất sự sống-khát vọng của Thượng đế, mới là điều căn bản quan trọng; điều này liên quan đến nỗ lực của Ngài trên các cấp độ cao, và trên các cõi vũ trụ vượt ngoài tầm hiểu biết của vị Chohan cao nhất.
It might be of value here if I pointed out that the Egoic Ray of the human unit (167) with which we are concerning [Page 510] ourselves, manifests as regards each ray just as does the logoic manifestation.
Ở đây, sẽ có ích nếu tôi chỉ ra rằng cung chân ngã của đơn vị nhân loại (167) mà chúng ta đang quan tâm [Page 510] biểu hiện xét theo mỗi cung đúng như sự biểu hiện của Thượng đế.
(167) The human Ray. “Each human centre is a crystallised ray of the Absolute One that has worked through processes of evolution into what is known as a human being.”—Some Thoughts on the Gita. (back)
(167) Cung nhân loại. “Mỗi trung tâm nhân loại là một cung đã kết tinh của Đấng Tuyệt Đối Duy Nhất, đã vận hành qua các tiến trình tiến hoá để thành cái được biết là một con người.”—Some Thoughts on the Gita. (back)
Each of the seven Rays, viewed in connection with the causal bodies of men, demonstrates as a unity on the first subplane, as a triplicity on the second and as seven on the third, forming there the forty-nine groups which most concern evolving man. According to the angle of vision, this numbering of groups may be increased or lessened, but for purposes of studying the aspects of mind, the above enumeration suffices. In the course of his many septenary lives, and as the cyclic sevens pass over him, man passes under the influence of the seven sub-rays of his own Ray. Then he begins to synthesise and merge the seven into the major three sub-rays, returning thus to unity on his own egoic Ray.
Mỗi một trong bảy cung, khi được xem trong liên hệ với các thể nguyên nhân của con người, biểu lộ như một hợp nhất trên cõi phụ thứ nhất, như một bộ ba trên cõi phụ thứ hai và như bảy trên cõi phụ thứ ba, tại đó hình thành bốn mươi chín nhóm liên quan nhiều nhất đến con người đang tiến hoá. Tùy theo góc độ tầm nhìn, cách đánh số các nhóm này có thể tăng hoặc giảm, nhưng đối với mục đích nghiên cứu các phương diện của trí tuệ, cách liệt kê trên là đủ. Trong suốt nhiều kiếp sống thất phân của mình, và khi các chu kỳ bảy đi qua y, con người đi vào dưới ảnh hưởng của bảy cung phụ của chính cung của mình. Sau đó y bắt đầu tổng hợp và hòa nhập bảy vào ba cung phụ chính, nhờ vậy trở về hợp nhất trên chính cung chân ngã của mình.
First. The septenary status governs the time from individualisation till he enters upon the Path.
Thứ nhất. Tình trạng thất phân chi phối thời kỳ từ lúc biệt ngã hóa cho đến khi y bước vào Con Đường.
Second. The threefold status governs the time up till the third Initiation.
Thứ hai. Tình trạng tam phân chi phối thời kỳ cho đến lần điểm đạo thứ ba.
Third. He achieves the unity of his Ray by the fifth Initiation, and is then consciously a part of the body of the Heavenly Man.
Thứ ba. Y đạt được sự hợp nhất của cung mình vào lần điểm đạo thứ năm, và khi ấy một cách hữu thức là một phần của thân thể của Đấng Thiên Nhân.
The same idea can be worked out in connection with the awakening of the life forces within the permanent atoms, viewing each atom as the seventh principle in each of the three aspects of the personality.
Cùng một ý tưởng ấy có thể được triển khai trong liên hệ với sự thức tỉnh của các mãnh lực sự sống bên trong các nguyên tử trường tồn, khi xem mỗi nguyên tử như nguyên khí thứ bảy trong mỗi một của ba phương diện của phàm ngã.
2. Their Place In the Egoic Body.
2. Vị trí của chúng trong thể chân ngã.
a. The importance of the astral permanent atom. There is one fact to be grasped in connection with the place of the permanent atom within the causal periphery and its evolution, that needs to be emphasised with care, and that is that the astral permanent atom in this solar system is the recipient of a great flow of force or energy, and receives more stimulation and energising than any of the others, and this for the following reasons: [Page 511]
a. Tầm quan trọng của nguyên tử trường tồn cảm dục. Có một sự kiện cần phải nắm bắt liên quan đến vị trí của nguyên tử trường tồn trong chu vi nhân thể và sự tiến hoá của nó, cần được nhấn mạnh cẩn trọng, và đó là nguyên tử trường tồn cảm dục trong hệ mặt trời này là nơi tiếp nhận một dòng mãnh lực hay năng lượng lớn, và nhận được nhiều kích thích và tiếp năng lượng hơn bất kỳ nguyên tử nào khác, vì các lý do sau đây: [Page 511]
First. The centre of polarisation for the fourth, or human kingdom, is in the astral consciousness viewing this kingdom as a unity in expression. From the astral, and through the desire nature, the majority of men inevitably direct and control the physical vehicle. The astral body is in the direct line of force via the buddhic from monadic levels, 2-4-6.
Thứ nhất. Trung tâm phân cực của giới thứ tư, hay giới nhân loại, nằm trong tâm thức cảm dục nếu xem giới này như một hợp nhất trong biểu hiện. Từ cõi cảm dục, và thông qua bản chất dục vọng, đa số con người tất yếu điều khiển và kiểm soát vận cụ hồng trần. Thể cảm dục nằm trên đường trực tiếp của mãnh lực qua Bồ đề từ các cấp độ chân thần, 2-4-6.
Second. The goal set before humanity is that of becoming Masters of the Wisdom, or conscious units in the Body of the Dragon of Wisdom or of Love. This a man achieves when he can function consciously in the buddhic vehicle, or when the astral permanent atom is superseded by the buddhic permanent atom.
Thứ hai. Mục tiêu đặt ra trước nhân loại là trở thành các Chân sư của Minh triết, hay những đơn vị hữu thức trong Thể của Rồng Minh triết hay Bác ái. Con người đạt được điều này khi y có thể hoạt động một cách hữu thức trong vận cụ Bồ đề, hay khi nguyên tử trường tồn cảm dục được thay thế bởi nguyên tử trường tồn Bồ đề.
Third. The next reason is that the second aspect of the Logos (that of love or the manifestation of the love nature of the Logos through the medium of the Son) is the one demonstrated in this system. This system is:
Thứ ba. Lý do kế tiếp là phương diện thứ hai của Thượng đế (đó là bác ái hay sự biểu hiện bản chất bác ái của Thượng đế qua trung gian của Con) là phương diện được biểu lộ trong hệ này. Hệ này là:
a. A Son of Necessity, or of desire
a. Một Con của Tất Yếu, hay của dục vọng
b. Vibrant to the key of the cosmic Ray of Love
b. Rung động theo chủ âm của cung vũ trụ Bác ái
c. The form through which this ray of cosmic Love (shown in the inter-relation between the Self and the Not-Self, or through duality) is expressing itself
c. Hình tướng mà qua đó cung Bác ái vũ trụ này (được biểu lộ trong mối tương quan giữa Bản Ngã và Phi-Ngã, hay qua nhị nguyên tính) đang tự biểu hiện
d. Governed by the cosmic Law of Attraction. The monads of love are the dominating quality. (I choose this word ‘quality’ specifically.)
d. Được cai quản bởi Định luật Hấp Dẫn vũ trụ. Các chân thần bác ái là phẩm tính chi phối. (Tôi chọn từ “phẩm tính” này một cách đặc biệt.)
Fourth. The centre in the cosmic body of the ONE ABOUT WHOM NOUGHT MAY BE SAID of which our solar Logos is the embodied force is the heart centre. Here we have one of the clues to the mystery of electricity. The sacred planets, with certain allied etheric spheres within the ring-pass-not, are parts of that heart centre, and are ‘petals in the Lotus,’ or in the heart centre of that great unknown Existence Who stands to the solar Logos as He in His turn stands to the Heavenly [Page 512] Men Who are His centres, and specially as He stands to the particular Heavenly Man Who is the embodied force of the logoic Heart centre. Therefore, it will be apparent to the careful student that the entire force and energy of the system and its life quality will be that which we call (having perforce to use handicapping, misleading words) LOVE. This will account for the fact that the force that plays through that cosmic heart centre will be the paramount force found in the manifestation of a solar Logos, and of a Heavenly Man; it will likewise produce its microcosmic analogy, and reflective reactions; hence the relative importance of the astral permanent atom within the causal periphery. It is in the direct line of active force emanating from the cosmic existence, and passing to it in ever lessening degree, via the solar Logos in His system of love, and the planetary Logos within a scheme, the Dragon of Wisdom-Love.
Thứ tư. Trung tâm trong thể vũ trụ của Đấng Bất Khả Tư Nghị mà Thái dương Thượng đế của chúng ta là mãnh lực nhập thể chính là trung tâm tim. Ở đây chúng ta có một trong những đầu mối của huyền nhiệm điện lực. Các hành tinh thiêng liêng, cùng với một số khối cầu dĩ thái liên hệ trong vòng-giới-hạn, là những phần của trung tâm tim ấy, và là “các cánh hoa trong Hoa sen”, hay trong trung tâm tim của Sự Tồn Tại vĩ đại vô danh ấy, Đấng đứng đối với Thái dương Thượng đế cũng như Ngài đến lượt mình đứng đối với các Đấng Thiên Nhân [Page 512] là các trung tâm của Ngài, và đặc biệt là như Ngài đứng đối với Đấng Thiên Nhân đặc thù là mãnh lực nhập thể của trung tâm Tim của Thượng đế. Vì vậy, đối với đạo sinh cẩn trọng, sẽ hiển nhiên rằng toàn bộ mãnh lực và năng lượng của hệ cùng phẩm tính sự sống của nó sẽ là cái mà chúng ta gọi là (do buộc phải dùng những từ ngữ hạn hẹp và dễ gây hiểu lầm) BÁC ÁI. Điều này sẽ giải thích sự kiện rằng mãnh lực vận hành qua trung tâm tim vũ trụ ấy sẽ là mãnh lực tối thượng được tìm thấy trong sự biểu hiện của một Thái dương Thượng đế, và của một Đấng Thiên Nhân; nó cũng sẽ tạo ra phép loại suy vi thể của nó, và các phản ứng phản chiếu; do đó có tầm quan trọng tương đối của nguyên tử trường tồn cảm dục trong chu vi nhân thể. Nó nằm trên đường trực tiếp của mãnh lực hoạt động phát ra từ sự tồn tại vũ trụ, và truyền đến nó với mức độ ngày càng giảm, qua Thái dương Thượng đế trong hệ bác ái của Ngài, và Hành Tinh Thượng Đế trong một hệ hành tinh, tức Rồng Minh triết-Bác ái.
This force when rightly directed and properly controlled is the great transmuting agency, which eventually will make of the human unit a Master of the Wisdom, a Lord of Love, a Dragon of Wisdom in lesser degree.
Mãnh lực này, khi được định hướng đúng và kiểm soát thích đáng, là tác nhân chuyển hoá vĩ đại, cuối cùng sẽ làm cho đơn vị nhân loại trở thành một Chân sư của Minh triết, một Chúa Tể của Bác ái, một Rồng Minh triết ở mức độ thấp hơn.
Finally: this solar system, the objective physical manifestation of the Logos, is interpenetrated by His astral body, as is the case with the human manifestation. As the Logos is polarised in His cosmic astral sheath and has not yet attained cosmic mental polarisation His force or desire nature is the main incentive for the subjective Life and lives that underlie the form.
Sau cùng: hệ mặt trời này, sự biểu hiện hồng trần khách quan của Thượng đế, được thể cảm dục của Ngài thâm nhập xuyên suốt, cũng như trường hợp của biểu hiện nhân loại. Vì Thượng đế được phân cực trong vỏ cảm dục vũ trụ của Ngài và chưa đạt đến sự phân cực trí tuệ vũ trụ, nên mãnh lực hay bản chất dục vọng của Ngài là động lực chính cho Sự sống chủ quan và các sự sống làm nền cho hình tướng.
If the student will ponder with care these five facts, he will get a clue to the problems of existence as realised around us, to the causes of the heat of the solar system, to the method of the cosmic Law of Attraction and Repulsion, which governs all atomic forms, and to the question of SEX which is apparent in every kingdom of nature. They give the clue also to the constitution of the Divine Hermaphrodite.
Nếu đạo sinh suy ngẫm cẩn trọng về năm sự kiện này, y sẽ có được một đầu mối cho các vấn đề của sự tồn tại như được nhận ra quanh chúng ta, cho các nguyên nhân của nhiệt trong hệ mặt trời, cho phương pháp của Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi vũ trụ, vốn cai quản mọi hình tướng nguyên tử, và cho vấn đề GIỚI TÍNH vốn hiển hiện trong mọi giới của bản chất. Chúng cũng cho đầu mối về cấu tạo của Đấng Lưỡng Tính Thiêng Liêng.
[Page 513] Therefore, it is necessary to bear in mind the relative importance of the permanent atom of the second aspect of the personality within the causal periphery, and to remember that the force which flows through that atom and which is the animating force of the astral body is following the lines of least resistance and really might be considered as bearing upon his physical manifestation in a manner twice as strong as that reaching him through the other two. The Logos expresses Himself now through the Divine Ray, His second aspect, and this Ray is the sumtotal of the radiation of the Lords of Wisdom, the Heavenly Men, the Dragons Who are Unity and Who are Love. Through Them this force flows, and They in turn clothe Themselves with form, or as H. P. B. expresses it ‘The primordial Ray becomes the vahan for the Divine Ray.’ (168) Their life animates every atom of substance when built into form, and Their life is the sumtotal of Logoic magnetism, or the great desire nature of the Logos going out after the Not-Self, producing the cosmic Marriage; it is the logoic demonstration of the sex appeal, His search for His polar opposite, and their mystic union.
[Page 513] Vì vậy, cần ghi nhớ tầm quan trọng tương đối của nguyên tử trường tồn của phương diện thứ hai của phàm ngã trong chu vi nhân thể, và nhớ rằng mãnh lực chảy qua nguyên tử ấy, vốn là mãnh lực linh hoạt của thể cảm dục, đang đi theo con đường ít trở ngại nhất và thực sự có thể được xem như tác động lên biểu hiện hồng trần của con người theo cách mạnh gấp đôi so với mãnh lực đến với y qua hai nguyên tử kia. Thượng đế hiện đang biểu lộ chính Ngài qua Cung Thiêng Liêng, phương diện thứ hai của Ngài, và Cung này là tổng số bức xạ của các Đấng Chúa Tể của Minh triết, các Đấng Thiên Nhân, các Rồng là Hợp Nhất và là Bác ái. Qua Các Ngài, mãnh lực này tuôn chảy, và đến lượt mình Các Ngài khoác lấy hình tướng, hay như H. P. B. diễn tả: “Cung nguyên thủy trở thành vahan cho Cung Thiêng Liêng.” (168) Sự sống của Các Ngài linh hoạt mọi nguyên tử của chất liệu khi được kiến tạo thành hình tướng, và sự sống của Các Ngài là tổng số từ điện của Thượng đế, hay bản chất dục vọng vĩ đại của Thượng đế hướng ra Phi-Ngã, tạo ra Cuộc Hôn Phối vũ trụ; đó là sự biểu lộ của Thượng đế về sức hấp dẫn giới tính, cuộc tìm kiếm của Ngài đối với cực đối nghịch của Ngài, và sự kết hợp thần bí của cả hai.
(168) The Divine Ray contains within itself seven other rays.
(168) Cung Thiêng Liêng chứa trong chính nó bảy cung khác.
It is the swan with the seven young ones.
Đó là thiên nga với bảy con non.
It is the Logos of love-wisdom with the seven planetary Logoi.
Đó là Thượng đế bác ái-minh triết với bảy Hành Tinh Thượng Đế.
It is the Grand Man of the Heavens, with the seven Heavenly Men.
Đó là Đại Nhân của Thiên Giới, với bảy Đấng Thiên Nhân.
It is the One Boundless Principle, with the seven principles.
Đó là Nguyên Khí Duy Nhất Vô Biên, với bảy nguyên khí.
This is subjectively.
Đó là về mặt chủ quan.
It is the seven planets with their informing entities.
Đó là bảy hành tinh với các thực thể phú linh của chúng.
It is the seven planes with their animating principles.
Đó là bảy cõi với các nguyên khí linh hoạt của chúng.
Love-Wisdom is the manifestation of the astral (or desire) nature of the Solar Logos.—S. D., I, 103. (back)
Bác Ái – Minh Triết là sự biểu hiện của bản chất cảm dục (hay dục vọng) của Thái dương Thượng đế.—S. D., I, 103. (back)
This process is repeated by the microcosm following the line of his being, and this brings him likewise into incarnation, or into mystic union with form.
Tiến trình này được tiểu thiên địa lặp lại theo đường lối bản thể của mình, và điều này cũng đưa y vào lâm phàm, hay vào sự kết hợp thần bí với hình tướng.
b. The atomic triangle. The causal sheath is to the clairvoyant therefore a sphere of vibrant living substance; within it can be seen three fiery points. At the heart of the sphere is a central blaze of light, emitting [Page 514] rays; these rays are given as seven in number, and play upon these points or circles (analogous to the electrons in the atoms of science) and at this stage produce most effect upon the astral permanent atom. The physical permanent atom has a position relatively close to the positive centre, and the force plays through it, and passes on to the astral permanent atom in the form of five rays of parti-coloured light which blend with the intensely vivid hue of the astral permanent atom, and increase its intensity until the blaze is so excessive that it appears to the onlooker as if the two points blended, or the two electrons merged, and (in merging) produce such an intensity of light that they are seen as dissolving. The mental unit, having a position within the causal body analogous to the planet furthermost from the sun, becomes vibrant likewise, and the two other points (considered now as one) begin to interact with the mental unit, and a similar process is set up and is pursued until these two points—circulating around their positive centre—also approach each other, blend, merge, and dissolve. The centre of positive life gathers or synthesises the three points, and thus the three fires of the personality repeat on their tiny scale the microcosmic procedure as seen in the synthesis of electric fire, solar fire, and fire by friction, and only a blazing unit is left. This blazing unit, through the combined heat of its being, burns up the causal body, and escapes back on to the planes of abstraction. Thus man is the Path itself, and also the pilgrim upon the Path; thus does he burn, but is also the burning-ground.
b. Tam giác nguyên tử. Vì vậy, đối với nhà thông nhãn, vỏ nguyên nhân là một khối cầu chất liệu sống rung động; bên trong nó có thể thấy ba điểm lửa. Ở tim của khối cầu là một luồng sáng trung tâm, phát ra [Page 514] các tia; các tia này được cho là có số lượng bảy, và tác động lên các điểm hay vòng tròn này (tương tự như các electron trong các nguyên tử của khoa học) và ở giai đoạn này tạo ra hiệu quả lớn nhất trên nguyên tử trường tồn cảm dục. Nguyên tử trường tồn hồng trần có một vị trí tương đối gần trung tâm dương, và mãnh lực vận hành qua nó, rồi truyền sang nguyên tử trường tồn cảm dục dưới hình thức năm tia sáng nhiều màu hòa trộn với sắc thái cực kỳ rực rỡ của nguyên tử trường tồn cảm dục, và làm tăng cường độ của nó cho đến khi luồng sáng quá mức đến nỗi đối với người quan sát, dường như hai điểm hòa lẫn, hay hai electron hợp nhất, và (trong sự hợp nhất) tạo ra một cường độ ánh sáng đến mức chúng được thấy như đang tan biến. Đơn vị hạ trí, có một vị trí trong thể nguyên nhân tương tự như hành tinh xa mặt trời nhất, cũng trở nên rung động, và hai điểm kia (nay được xem như một) bắt đầu tương tác với đơn vị hạ trí, và một tiến trình tương tự được thiết lập và tiếp diễn cho đến khi hai điểm này—đang tuần hoàn quanh trung tâm dương của chúng—cũng tiến lại gần nhau, hòa lẫn, hợp nhất, và tan biến. Trung tâm của sự sống dương thu gom hay tổng hợp ba điểm, và như vậy ba lửa của phàm ngã lặp lại trên quy mô nhỏ bé của chúng tiến trình vi thể như được thấy trong sự tổng hợp của Lửa Điện, Lửa Thái dương, và Lửa ma sát, và chỉ còn lại một đơn vị rực cháy. Đơn vị rực cháy này, nhờ nhiệt kết hợp của bản thể nó, thiêu hủy thể nguyên nhân, và thoát trở lại các cõi trừu tượng. Như vậy con người chính là Con Đường, đồng thời cũng là kẻ hành hương trên Con Đường; như vậy y đốt cháy, nhưng cũng chính là vùng đất cháy.
The analogy holds true in the case of the microcosm viewed from monadic levels in his manifestation as Monad, Ego and Personality, and thus the process is carried on as it concerns a Heavenly Man, and likewise a solar Logos. Should the brain suffice to hold the concept, thus [Page 515] is the process also on cosmic levels for such high existences as the seven Rishis of the Great Bear, and that still greater Being, the ONE ABOUT WHOM NOUGHT MAY BE SAID.
Phép loại suy này vẫn đúng trong trường hợp tiểu thiên địa khi được nhìn từ các cấp độ chân thần trong biểu hiện của y như Chân thần, Chân ngã và phàm ngã, và như vậy tiến trình được tiếp tục khi liên quan đến một Đấng Thiên Nhân, và cũng thế đối với một Thái dương Thượng đế. Nếu bộ não đủ sức nắm giữ khái niệm này, thì [Page 515] tiến trình ấy cũng diễn ra trên các cấp độ vũ trụ đối với những sự tồn tại cao cả như bảy Rishi của Đại Hùng Tinh, và Đấng còn vĩ đại hơn nữa, Đấng Bất Khả Tư Nghị.
S5S7
3. The Spirillae and the Egoic Ray.
3. Các loa tuyến và cung chân ngã.
We will take up now the subject of the spirillae within the permanent atom, and see in what manner they are affected by the egoic ray, remembering always that we are considering them as:
Bây giờ chúng ta sẽ bàn đến chủ đề các loa tuyến bên trong nguyên tử trường tồn, và xem chúng bị ảnh hưởng bởi cung chân ngã theo cách nào, luôn luôn nhớ rằng chúng ta đang xem xét chúng như:
First. The interior economy of the life germ on the three planes which concern man in the three worlds; second, as the seventh principle in each of the three sheaths; and third, as the positive nucleus of force which holds together the matter of the three sheaths.
Thứ nhất. Cơ cấu nội tại của mầm sống trên ba cõi liên quan đến con người trong ba cõi giới; thứ hai, như nguyên khí thứ bảy trong mỗi một của ba vỏ; và thứ ba, như hạt nhân dương của mãnh lực giữ cho vật chất của ba vỏ kết hợp lại với nhau.
Let us therefore study two things:
Vì vậy, chúng ta hãy nghiên cứu hai điều:
The composition of the permanent atom.
Cấu tạo của nguyên tử trường tồn.
The difference between the mental unit and the astral and physical permanent atoms.
Sự khác biệt giữa đơn vị hạ trí và các nguyên tử trường tồn cảm dục và hồng trần.
To do this with clarity, and so bring some kind of definite concept into being from the dark regions of abstraction, let us tabulate:
Để làm điều này một cách rõ ràng, và nhờ đó đưa một loại khái niệm xác định nào đó vào hiện hữu từ những miền tối của sự trừu tượng, chúng ta hãy lập bảng:
a. The composition of the permanent atom: The permanent atom of the astral and physical planes is a sphere of physical or astral substance, composed of atomic matter, and characterised by the following qualities:
a. Cấu tạo của nguyên tử trường tồn: Nguyên tử trường tồn của cõi cảm dục và cõi hồng trần là một khối cầu chất liệu hồng trần hay cảm dục, được cấu thành từ vật chất nguyên tử, và được đặc trưng bởi các phẩm tính sau đây:
Responsiveness. This is its inherent power to respond to the vibration of some one of the Heavenly Men, as it is transmitted via the deva, or Brahma aspect, of His threefold nature. The permanent atom finds its place within the sphere of influence of one or other of the great devas who are the Raja-Lords of a plane.
Tính đáp ứng. Đây là quyền năng cố hữu của nó để đáp ứng với rung động của một trong các Đấng Thiên Nhân, khi rung động ấy được truyền qua phương diện thiên thần, hay Brahma, của bản chất tam phân của Ngài. Nguyên tử trường tồn tìm thấy vị trí của nó trong phạm vi ảnh hưởng của một hay một vị khác trong các đại thiên thần là các Raja-Chúa Tể của một cõi.
Form Building Power. These devas sound forth two syllables of the threefold microcosmic word and are each (on their own plane) the coherent agency which gathers [Page 516] substance into form, and attracts matter for purposes of objectivity. The astral sound produces the microcosmic ‘Son of Necessity,’ and when it reverberates on the physical plane produces physical incarnation, and the sudden appearance on etheric levels of the seven centres. The building of the dense physical is the result of consequent automatic action in deva essence, for it must ever be borne in mind that man is essentially (as regards the physical plane) an etheric being, and his dense physical body is esoterically regarded as ‘below the threshold’ and is not considered a principle.
Quyền năng kiến tạo hình tướng. Các thiên thần này xướng lên hai âm tiết của linh từ vi thể tam phân và mỗi vị (trên cõi riêng của mình) là tác nhân kết dính [Page 516] chất liệu thành hình tướng, và thu hút vật chất cho các mục đích khách quan. Âm thanh cảm dục tạo ra “Con của Tất Yếu” vi thể, và khi nó vang dội trên cõi hồng trần thì tạo ra sự lâm phàm hồng trần, và sự xuất hiện đột ngột trên các cấp độ dĩ thái của bảy trung tâm. Việc kiến tạo thể xác hồng trần đậm đặc là kết quả của hoạt động tự động tiếp theo trong tinh chất thiên thần, vì phải luôn ghi nhớ rằng con người về bản chất (xét theo cõi hồng trần) là một hữu thể dĩ thái, và thể xác hồng trần đậm đặc của y được xem một cách huyền bí là “dưới ngưỡng cửa” và không được coi là một nguyên khí.
Relative Permanency. In the seventh principle of all manifesting entities is stored up and developed capacity, acquired ability, and the atomic memory, or in other words the heredity of the Thinker, viewing him from the physical standpoint or from the emotional. There is no permanence whatever in the sheaths; they are built into temporary forms, and dissolved when the Thinker has exhausted their possibilities, but the seventh principle of each sheath gathers to itself the achieved qualities and stores them up—under the Law of Karma—to work out again and to demonstrate as the plane impulse at each fresh cycle of manifestation. This permanency is itself likewise only a relative one, and as the inner fire within the atom burns more brightly, as the external fires of the ego or solar fire beat upon it with ever increasing intensity, the atom in due time is consumed, and the inner blaze becomes so great that it destroys its encompassing wall.
Tính trường tồn tương đối. Trong nguyên khí thứ bảy của mọi thực thể đang biểu hiện đều được tích trữ và phát triển năng lực, khả năng đã đạt được, và ký ức nguyên tử, hay nói cách khác là di truyền của Đấng Tư Tưởng, khi nhìn y từ quan điểm hồng trần hay từ quan điểm cảm xúc. Không hề có sự trường tồn nào trong các vỏ; chúng được kiến tạo thành những hình tướng tạm thời, và bị giải thể khi Đấng Tư Tưởng đã khai thác hết các khả năng của chúng, nhưng nguyên khí thứ bảy của mỗi vỏ tự thu gom các phẩm tính đã đạt được và tích trữ chúng—dưới Định luật Nghiệp quả—để lại được triển khai và biểu lộ như xung lực của cõi trong mỗi chu kỳ biểu hiện mới. Tuy nhiên, chính tính trường tồn này cũng chỉ là tương đối, và khi ngọn lửa bên trong nguyên tử cháy sáng hơn, khi các lửa bên ngoài của chân ngã hay lửa thái dương đập vào nó với cường độ ngày càng tăng, thì nguyên tử đến lúc thích hợp sẽ bị thiêu hủy, và ngọn lửa bên trong trở nên lớn đến mức phá hủy bức tường bao quanh nó.
Heat. Herein lies the distinction between the permanent atoms on all planes, and the atomic matter of which they form a part. It is not easy to make this distinction clear, nor is it desirable at this time; the true facts of the case are one of the guarded secrets of initiation, but the distinction between the permanent atom, and atomic matter, may be somewhat comprehended if we state: [Page 517]
Nhiệt. Chính trong đây có sự phân biệt giữa các nguyên tử trường tồn trên mọi cõi và vật chất nguyên tử mà chúng là một phần của nó. Không dễ làm rõ sự phân biệt này, và hiện nay cũng không nên làm như vậy; các sự kiện chân thực của vấn đề là một trong những bí mật được canh giữ của điểm đạo, nhưng sự phân biệt giữa nguyên tử trường tồn và vật chất nguyên tử có thể phần nào được thấu hiểu nếu chúng ta nói rằng: [Page 517]