← A Treatise on Cosmic Fire

S5S11

Trích nội dung chương

It will, therefore, be apparent that just as in man these centres are related to the threefold spiritual man in his total development, so the three types of centres—microcosmic or macrocosmic—come gradually more and more under the vitalising power of one of the three aspects of the Logos. These centres are recognised also as focal points of active force, manifesting to the vision [Page 538] of the clairvoyant as fiery wheels or the flaming petals of a lotus. Do đó, sẽ hiển nhiên rằng cũng như nơi con người các trung tâm này liên hệ với con người tinh thần tam phân trong toàn bộ sự phát triển của y, thì ba loại trung tâm—vi mô hay vĩ mô—cũng…


It will, therefore, be apparent that just as in man these centres are related to the threefold spiritual man in his total development, so the three types of centres—microcosmic or macrocosmic—come gradually more and more under the vitalising power of one of the three aspects of the Logos. These centres are recognised also as focal points of active force, manifesting to the vision [Page 538] of the clairvoyant as fiery wheels or the flaming petals of a lotus.

Do đó, sẽ hiển nhiên rằng cũng như nơi con người các trung tâm này liên hệ với con người tinh thần tam phân trong toàn bộ sự phát triển của y, thì ba loại trung tâm—vi mô hay vĩ mô—cũng dần dần ngày càng nằm dưới quyền năng tiếp sinh lực của một trong ba phương diện của Logos. Các trung tâm này cũng được nhận biết như những tiêu điểm của mãnh lực hoạt động, biểu hiện ra trước linh thị [Page 538] của nhà thông nhãn như những bánh xe lửa hay những cánh hoa rực cháy của một hoa sen.

b. The causal body... monadic heart centre. In studying the egoic body it should be remembered that the causal body is the correspondence in the monadic manifestation to the heart centre. It is a flaming wheel of fire within the monadic auric egg, which embraces the five planes of monadic manifestation; it is also seen as the twelve-petalled Lotus. Of these twelve petals, the innermost three are unrevealed, or are embryonic, and hence the causal body is frequently considered as a nine-petalled Lotus, or as a wheel of fire with only nine spokes or whorls. This is essentially true as regards the evolutionary process, but when a man has succeeded in awakening or unfolding the nine petals, or in arousing the fire of the nine spokes or whorls (which is practically consummated at the three major Initiations) the inner three are revealed. They respond to the monadic vibration, to the aspect of pure Spirit; it is the stimulation or revelation of these inner petals, by the One Initiator at the third and fourth Initiations which brings about the final conflagration and the blazing up of the causal body with the subsequent liberation of the central positive Life or Fire. 2. The Twelve-Petalled Egoic Lotus

b. Thể nguyên nhân... trung tâm tim chân thần. Khi nghiên cứu thể chân ngã, cần nhớ rằng thể nguyên nhân là đối phần trong biểu hiện chân thần với trung tâm tim. Nó là một bánh xe lửa rực cháy bên trong noãn hào quang chân thần, bao trùm năm cõi của biểu hiện chân thần; nó cũng được thấy như Hoa Sen mười hai cánh. Trong mười hai cánh này, ba cánh trong cùng chưa được mặc khải, hay còn ở trạng thái phôi thai, và do đó thể nguyên nhân thường được xem như một Hoa Sen chín cánh, hay như một bánh xe lửa chỉ có chín nan hay vòng xoáy. Điều này về căn bản là đúng xét theo tiến trình tiến hoá, nhưng khi một người đã thành công trong việc đánh thức hay khai mở chín cánh, hoặc khơi dậy lửa của chín nan hay vòng xoáy (điều này trên thực tế được hoàn tất ở ba lần Điểm đạo lớn) thì ba cánh bên trong được mặc khải. Chúng đáp ứng với rung động chân thần, với phương diện Tinh thần thuần túy; chính sự kích thích hay sự mặc khải của các cánh bên trong này, do Đấng Điểm đạo Duy Nhất thực hiện ở lần điểm đạo thứ ba và lần điểm đạo thứ tư, đem lại sự bùng cháy sau cùng và sự bốc sáng của thể nguyên nhân cùng với sự giải phóng tiếp theo của Sự sống hay Lửa dương trung tâm. 2. Hoa Sen Chân Ngã Mười Hai Cánh

Solar Fire is dual. It is the fire of matter or substance and the fire of mind blended. This makes man the six-pointed Star of Light, for each of these fires is triple. The fire of mind is also in essence dual, bringing in another triplicity, thus making the nine. When a man has awakened the nine fires, and has unfolded the nine petals, and when he has received the stimulus which is imparted at initiation, through being brought into conscious contact with the electric spark of his own particular Heavenly Man, they all blend and merge. The [Page 539] inner three which complete the twelve, and which are concerned with the final, and essentially spiritual stages, of his evolution, are really related more intimately to the evolution of the Heavenly Man, and are connected with the stimulus which He receives Himself in contacting the logoic electric spark, or the pure Spirit aspect of the Logos.

Lửa Thái dương là nhị phân. Nó là lửa của vật chất hay chất liệu và lửa của trí tuệ được hòa trộn. Điều này làm cho con người trở thành Ngôi Sao Ánh Sáng sáu cánh, vì mỗi ngọn lửa này đều là tam phân. Lửa của trí tuệ cũng về bản chất là nhị phân, đưa vào một bộ ba khác, do đó thành chín. Khi một người đã đánh thức chín ngọn lửa, và đã khai mở chín cánh, và khi y đã nhận được sự kích thích được truyền ban lúc điểm đạo, qua việc được đưa vào tiếp xúc hữu thức với tia lửa điện của Đấng Thiên Nhân riêng của mình, thì tất cả chúng hòa trộn và dung hợp. Ba cánh [Page 539] bên trong hoàn tất số mười hai, và liên quan đến các giai đoạn cuối cùng, và về căn bản là tinh thần, của sự tiến hoá của y, thực ra liên hệ mật thiết hơn với sự tiến hoá của Đấng Thiên Nhân, và được nối kết với sự kích thích mà chính Ngài nhận được khi tiếp xúc với tia lửa điện logoic, hay phương diện Tinh thần thuần túy của Logos.

It should here be noted that this ninefold development is hinted at in the Secret Doctrine in the various places where H. P. B. deals with the Kumaras (S. D., II, 257.) or the Heavenly Men, of Whom the microcosm is a reflection. She calls Them the Lords of Knowledge, the Lords of Love and the Lords of Sacrifice. Each of Them is a nine-petalled Lotus in the logoic body. They are the flaming Wheels, and in Their various names, as found in the Secret Doctrine, may be discovered the clue to the mystery. Let us realise this clearly, nevertheless, as regards the microcosm, and later extend the idea to the Heavenly Men. Let us picture the nine-petalled egoic lotus, the heart centre in the monadic consciousness, unfolding each of its petals in groups of three upon the three subplanes of the higher mental. Their unfoldment is worked out through the evolutionary process, undergone on the three planes in the three worlds, or within the three Halls of Ignorance, of Learning, and of Wisdom.

Cần lưu ý ở đây rằng sự phát triển cửu phân này được ám chỉ trong Giáo Lý Bí Nhiệm tại nhiều chỗ nơi H. P. B. bàn đến các Kumaras (S. D., II, 257.) hay các Đấng Thiên Nhân, mà tiểu thiên địa là sự phản chiếu của Các Ngài. Bà gọi Các Ngài là các Chúa Tể của Tri Thức, các Chúa Tể của Bác Ái và các Chúa Tể của Hi Sinh. Mỗi vị trong Các Ngài là một Hoa Sen chín cánh trong thể logoic. Các Ngài là những Bánh Xe rực cháy, và trong các danh xưng khác nhau của Các Ngài, như được tìm thấy trong Giáo Lý Bí Nhiệm, có thể tìm ra đầu mối của bí nhiệm. Tuy nhiên, trước hết hãy nhận thức điều này một cách rõ ràng đối với tiểu thiên địa, rồi sau đó mở rộng ý tưởng ấy đến các Đấng Thiên Nhân. Hãy hình dung hoa sen chân ngã chín cánh, trung tâm tim trong tâm thức chân thần, khai mở từng cánh của nó thành từng nhóm ba trên ba cõi phụ của cõi thượng trí. Sự khai mở của chúng được thực hiện qua tiến trình tiến hoá, trải qua trên ba cõi trong ba cõi giới, hay trong ba Phòng Vô Minh, Hiểu Biết và Minh triết.

a. First Group of Petals—Knowledge Petals:

a. Nhóm Cánh Hoa Thứ Nhất—các cánh hoa tri thức:

1. The Petal of Knowledge for the physical plane. Through the breaking of the Law and the ensuing suffering the price of ignorance is paid and knowledge is achieved. This unfoldment is brought about through physical plane experience.

1. Cánh hoa Tri Thức cho cõi hồng trần. Qua việc vi phạm Định luật và nỗi đau khổ tiếp theo, cái giá của vô minh được trả và tri thức được đạt đến. Sự khai mở này được đem lại qua kinh nghiệm cõi hồng trần.

2. The Petal of Love for the physical plane. Unfolds through physical relationships, and the gradual growth of love from love of self to love of others. [Page 540]

2. Cánh hoa Bác ái cho cõi hồng trần. Khai mở qua các mối quan hệ hồng trần, và sự tăng trưởng dần dần của tình thương từ tình thương bản thân đến tình thương người khác. [Page 540]

3. The Petal of Sacrifice for the physical plane. This unfoldment is brought about through the driving force of circumstances, and not of free will. It is the offering up of the physical body upon the altar of desire—low desire to begin with, but aspiration towards the end, though still desire. As man in the early stages of his evolution is polarised on the physical, much of this is undergone unconsciously and without any realisation of what is being consummated, but the result in the causal body is seen in a twofold increase of heat or of activity:

3. Cánh hoa hi sinh cho cõi hồng trần. Sự khai mở này được đem lại qua động lực thúc đẩy của hoàn cảnh, chứ không phải của ý chí tự do. Đó là sự dâng hiến thể xác lên bàn thờ của dục vọng—lúc đầu là dục vọng thấp, nhưng về sau là khát vọng, tuy vẫn còn là dục vọng. Vì con người trong các giai đoạn đầu của sự tiến hoá được phân cực trên cõi hồng trần, nên phần lớn điều này được trải qua một cách vô thức và không có bất kỳ sự chứng nghiệm nào về điều đang được hoàn tất, nhưng kết quả trong thể nguyên nhân được thấy trong sự gia tăng nhiệt hay hoạt động theo hai mặt:

The physical permanent atom becomes radioactive or a radiant point of fire.

Nguyên tử trường tồn hồng trần trở nên có tính phóng xạ hay thành một điểm lửa rực sáng.

The lower three petals become vibrant and begin to unfold until fully developed.

Ba cánh hoa thấp trở nên rung động và bắt đầu khai mở cho đến khi phát triển đầy đủ.

b. Second Group of Petals—Love Petals:

b. Nhóm Cánh Hoa Thứ Hai—các cánh hoa bác ái:

1. The Petal of Knowledge, for the astral plane; unfoldment is brought about by the conscious balancing of the pairs of opposites, and the gradual utilisation of the Law of Attraction and Repulsion. The man passes out of the Hall of Ignorance where, from the egoic point of view, he works blindly and begins to appreciate the effects of his physical plane life; by a realisation of his essential duality he begins to comprehend causes.

1. Cánh hoa Tri Thức, cho cõi cảm dục; sự khai mở được đem lại bởi sự quân bình hữu thức các cặp đối nghịch, và việc sử dụng dần dần Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi. Con người đi ra khỏi Phòng Vô Minh, nơi mà từ quan điểm chân ngã, y làm việc một cách mù quáng và bắt đầu nhận thức các hiệu quả của đời sống cõi hồng trần của mình; nhờ chứng nghiệm về tính nhị nguyên thiết yếu của mình, y bắt đầu thấu hiểu các nguyên nhân.

2. The Petal of Love for the astral plane; unfoldment is brought about through the process of gradually transmuting the love of the subjective nature or of the Self within. This has a dual effect and works through on to the physical plane in many lives of turmoil, of endeavour and of failure as a man strives to turn his attention to the love of the Real.

2. Cánh hoa Bác ái cho cõi cảm dục; sự khai mở được đem lại qua tiến trình dần dần chuyển hoá tình thương của bản chất chủ quan hay của Bản Ngã bên trong. Điều này có tác động nhị phân và tác động xuyên xuống cõi hồng trần qua nhiều kiếp sống đầy xáo trộn, nỗ lực và thất bại khi một người cố gắng hướng sự chú ý của mình đến tình thương đối với Cái Thực.

3. The Petal of Sacrifice for the astral plane; unfoldment is brought about by the attitude of man as he [Page 541] consciously endeavours to give up his own desires for the sake of his group. His motive is still somewhat a blind one, and still coloured by the desire for a return of that which he gives and for love from those he seeks to serve, but it is of a much higher order than the blind sacrifice to which a man is driven by circumstances as is the case in the earlier unfoldment. As this threefold enlightenment or unfoldment proceeds, again a dual result is seen:

3. Cánh hoa hi sinh cho cõi cảm dục; sự khai mở được đem lại bởi thái độ của con người khi y [Page 541] hữu thức nỗ lực từ bỏ các dục vọng riêng của mình vì lợi ích của nhóm mình. Động cơ của y vẫn còn phần nào mù quáng, và vẫn còn nhuốm màu bởi ham muốn được đền đáp cho điều mình cho đi và được yêu thương từ những người mà y tìm cách phụng sự, nhưng nó thuộc một trật tự cao hơn nhiều so với sự hi sinh mù quáng mà một người bị hoàn cảnh thúc ép phải làm như trong sự khai mở trước đó. Khi sự soi sáng hay khai mở tam phân này tiến triển, lại thấy một kết quả nhị phân:

The astral permanent atom comes into full activity and radiance, as regards five of its spirillae, and the two atoms of the physical and the astral planes are equally vibrant.

Nguyên tử trường tồn cảm dục đi vào hoạt động và sự rực sáng trọn vẹn, xét theo năm loa tuyến của nó, và hai nguyên tử của cõi hồng trần và cõi cảm dục rung động ngang nhau.

The three petals of the central ring of the egoic lotus come also into full unfoldment, and the heart centre of the Monad is seen as a wheel of fire with six of its spokes in full display of energy and rapidly rotating.

Ba cánh hoa của vòng trung tâm của hoa sen chân ngã cũng đi vào sự khai mở trọn vẹn, và trung tâm tim của Chân thần được thấy như một bánh xe lửa với sáu nan của nó biểu lộ năng lượng trọn vẹn và quay rất nhanh.

c. Third Group of Petals—Sacrifice Petals:

c. Nhóm Cánh Hoa Thứ Ba—các cánh hoa hi sinh:

1. The Petal of Knowledge for the mental plane; its unfoldment marks the period wherein the man consciously utilizes all that he has gained or is gaining under the law for the definite benefit of humanity.

1. Cánh hoa Tri Thức cho cõi trí; sự khai mở của nó đánh dấu giai đoạn trong đó con người hữu thức sử dụng tất cả những gì y đã đạt được hoặc đang đạt được dưới định luật vì lợi ích xác định của nhân loại.

Each of the groups of petals is distinguished by a predominant colouring; Knowledge, on the physical plane, with the colouring of the other two subsidiary; Love, on the astral plane, with the light of sacrifice weaker in tone than the other two, which practically show forth in equal brilliancy. On the mental plane, the light of sacrifice comes to its full display, and all that is seen is coloured by that light.

Mỗi nhóm cánh hoa được phân biệt bởi một màu sắc trội; Tri Thức, trên cõi hồng trần, với màu sắc của hai cánh kia là phụ; Bác ái, trên cõi cảm dục, với ánh sáng của hi sinh yếu sắc hơn hai cánh kia, vốn thực tế biểu lộ với độ rực sáng gần như ngang nhau. Trên cõi trí, ánh sáng của hi sinh đi đến chỗ biểu lộ trọn vẹn, và tất cả những gì được thấy đều nhuốm màu bởi ánh sáng ấy.

2. The Petal of Love on the mental plane is unfolded [Page 542] through the conscious steady application of all the powers of the soul to the service of humanity with no thought of return nor any desire for reward for the immense sacrifice involved.

2. Cánh hoa Bác ái trên cõi trí được khai mở [Page 542] qua việc áp dụng hữu thức và bền bỉ mọi quyền năng của linh hồn vào việc phụng sự nhân loại mà không nghĩ đến sự đền đáp hay bất kỳ ham muốn phần thưởng nào cho sự hi sinh to lớn liên hệ đến đó.

3. The Petal of Sacrifice for the mental plane: demonstrates as the predominant bias of the soul as seen in a series of many lives spent by the initiate prior to his final emancipation. He becomes in his sphere the “Great Sacrifice.”

3. Cánh hoa hi sinh cho cõi trí: biểu lộ như khuynh hướng trội của linh hồn như được thấy trong một chuỗi nhiều kiếp sống do điểm đạo đồ trải qua trước khi được giải thoát sau cùng. Y trở thành trong phạm vi của mình “Đại Hi Sinh.”

This stage can be seen objectively to the eye of the clairvoyant as dual in effect:

Giai đoạn này có thể được thấy một cách khách quan đối với mắt của nhà thông nhãn như có tác động nhị phân:

a. The mental unit becomes a radiant point of light; its four spirillae transmit force with intense rapidity.

a. Đơn vị hạ trí trở thành một điểm sáng rực; bốn loa tuyến của nó truyền mãnh lực với tốc độ cực kỳ mãnh liệt.

b. The three higher petals unfold, and the nine-petalled lotus is seen perfected.

b. Ba cánh hoa cao hơn khai mở, và hoa sen chín cánh được thấy là hoàn hảo.

The causal body is then (expressed in terms of fire) a blazing centre of heat, radiating to its group warmth and vitality. Within the periphery of the egoic wheel can be seen the nine spokes rotating with intense rapidity and—after the third Initiation—becoming fourth dimensional, or the wheels “turn upon” themselves. (Bible. Ezekiel, 1:15:21) In the midst forming a certain geometrical triangle (differing according to the ray of the Monad) can be seen three points of fire, or the permanent atoms and the mental unit, in all their glory; at the centre can be seen a central blaze of glory growing in intensity as the three inner petals respond to the stimulation. When the fire of matter, of “fire by friction,” becomes sufficiently intense; when the fire of mind of solar fire (which vitalises the nine petals) becomes equally fierce, and when the electric spark at the innermost centre blazes out and can be seen, the [Page 543] entire causal body becomes radioactive. Then the fires of substance (the vitality of the permanent atoms) escape from the atomic spheres, and add their quota to the great sphere in which they are contained; the fire of mind blends with its emanating source, and the central life escapes. This is the great liberation. The man, in terms of human endeavour, has achieved his goal. He has passed through the three Halls and in each has transferred that which he gained therein to the content of his consciousness; he has in ordered sequence developed and opened the petals of the lotus—first opening the lower three, which involves a process covering a vast period of time. Then the second series of petals are opened, during a period of time covering his participation intelligently in world affairs until he enters the spiritual kingdom at the first Initiation; and a final and briefer period wherein the three higher or inner ring of petals are developed and opened.

Khi đó thể nguyên nhân (được diễn tả bằng các thuật ngữ của lửa) là một trung tâm nhiệt rực cháy, tỏa ra cho nhóm của nó sự ấm áp và sinh lực. Trong chu vi của bánh xe chân ngã có thể thấy chín nan quay với tốc độ cực kỳ nhanh và—sau lần điểm đạo thứ ba—trở thành bốn chiều, hay các bánh xe “quay trên” chính chúng. (Kinh Thánh. Ezekiel, 1:15:21) Ở giữa, tạo thành một tam giác hình học nhất định (khác nhau tùy theo cung của Chân thần), có thể thấy ba điểm lửa, hay các nguyên tử trường tồn và đơn vị hạ trí, trong toàn bộ vinh quang của chúng; tại trung tâm có thể thấy một ngọn lửa vinh quang trung tâm tăng dần cường độ khi ba cánh hoa bên trong đáp ứng với sự kích thích. Khi lửa của vật chất, của “Lửa ma sát,” trở nên đủ mãnh liệt; khi lửa của trí tuệ của Lửa Thái dương (tiếp sinh lực cho chín cánh hoa) trở nên dữ dội tương đương, và khi tia lửa điện ở trung tâm sâu kín nhất bùng cháy và có thể được thấy, thì [Page 543] toàn bộ thể nguyên nhân trở nên có tính phóng xạ. Khi đó các ngọn lửa của chất liệu (sinh lực của các nguyên tử trường tồn) thoát ra khỏi các khối cầu nguyên tử, và góp phần của chúng vào khối cầu lớn trong đó chúng được chứa đựng; lửa của trí tuệ hòa nhập với nguồn phát xạ của nó, và sự sống trung tâm thoát ra. Đây là sự giải thoát lớn lao. Con người, xét theo nỗ lực của nhân loại, đã đạt được mục tiêu của mình. Y đã đi qua ba Phòng và trong mỗi Phòng đã chuyển dịch điều mình đạt được ở đó vào nội dung tâm thức của mình; y đã theo trình tự có trật tự phát triển và khai mở các cánh hoa của hoa sen—trước hết khai mở ba cánh thấp, điều này bao hàm một tiến trình kéo dài qua một thời kỳ vô cùng lâu dài. Sau đó loạt cánh hoa thứ hai được khai mở, trong một thời kỳ bao gồm sự tham dự một cách thông minh của y vào các công việc thế gian cho đến khi y đi vào giới tinh thần ở lần điểm đạo thứ nhất; và một thời kỳ cuối cùng ngắn hơn trong đó ba cánh hoa cao hơn hay vòng trong được phát triển và khai mở.

In closing what may be said on this subject of the egoic Ray and fire of mind, I would request the student to bear the following points in mind:

Để kết thúc những gì có thể nói về chủ đề cung chân ngã và lửa của trí tuệ này, tôi xin yêu cầu đạo sinh ghi nhớ các điểm sau đây:

First. That the order of the development of the petals and the stimulation of the fires depends upon the Ray of the Monad, and the subray upon which the causal body finds itself. This thought would bear expansion, and would prove a fruitful source of study to the occult investigator.

Thứ nhất. Rằng trật tự phát triển của các cánh hoa và sự kích thích các ngọn lửa tùy thuộc vào cung của Chân thần, và cung phụ mà trên đó thể nguyên nhân tự thấy mình ở đó. Tư tưởng này đáng được khai triển, và sẽ chứng tỏ là một nguồn nghiên cứu phong phú cho nhà khảo cứu huyền bí học.

Second. That this unfoldment proceeds slowly in the early stages, and only proceeds with rapidity as the man himself works at it with conscious effort.

Thứ hai. Rằng sự khai mở này tiến hành chậm chạp trong các giai đoạn đầu, và chỉ tiến hành nhanh chóng khi chính con người làm việc với nó bằng nỗ lực hữu thức.

The Ego takes no active interest in the development until the second petal in the second series is beginning to open. Before that time, the work proceeds under the [Page 544] law of its being and through the inherent life of the second Logos which is the life of the petals of the lotus. The life of the first Logos, working through the SELF (who dwells in a form built by the life or energy of the second Logos out of force-substance animated by the life of the third Logos) only responds to opportunity when the above mentioned stage is reached.

Chân ngã không có sự quan tâm tích cực nào đến sự phát triển cho đến khi cánh hoa thứ hai trong loạt thứ hai bắt đầu khai mở. Trước thời điểm đó, công việc tiến hành dưới [Page 544] định luật hiện hữu của nó và qua sự sống cố hữu của Logos thứ hai, vốn là sự sống của các cánh hoa của hoa sen. Sự sống của Logos thứ nhất, hoạt động qua BẢN NGÃ (đấng ngự trong một hình tướng được xây dựng bởi sự sống hay năng lượng của Logos thứ hai từ chất liệu-mãnh lực được tiếp sinh lực bởi sự sống của Logos thứ ba) chỉ đáp ứng với cơ hội khi giai đoạn nói trên đã đạt tới.

Finally: The ceremony of initiation is only undergone when the causal body is in a condition to respond to the Will aspect of the Heavenly Man (the first aspect) and to do this through the glad co-operation of the fully conscious self.

Sau cùng: nghi lễ điểm đạo chỉ được trải qua khi thể nguyên nhân ở trong tình trạng có thể đáp ứng với phương diện Ý Chí của Đấng Thiên Nhân (phương diện thứ nhất) và làm điều này qua sự hợp tác hoan hỉ của bản ngã hoàn toàn hữu thức.

More on this is not now possible, but enough has here been indicated to open up various lines of study. These, if followed, will lead the student to much of practical value and application.

Hiện giờ không thể nói thêm về điều này, nhưng ở đây đã chỉ ra đủ để mở ra nhiều đường hướng nghiên cứu khác nhau. Nếu được theo đuổi, những đường hướng này sẽ dẫn đạo sinh đến nhiều điều có giá trị và ứng dụng thực tiễn.

3. Summary.

3. Tóm lược.

Our next subject concerns itself with the elementals of the mental plane, with the thought forms they animate, and with the consideration of them as force centres, capable of producing results—constructive, if rightly directed; destructive, if left blindly to follow their own course. Before taking up this matter, however, I want to gather together some threads of thought in connection with the matter just dealt with. If we have carefully followed the data given about the egoic manifestation on its own plane, and the fires of the causal body, we shall have noted the close resemblance between that egoic body, viewed as a force centre, and certain aspects of logoic manifestation.

Chủ đề kế tiếp của chúng ta bàn đến các hành khí của cõi trí, các hình tư tưởng mà chúng tiếp sinh lực, và việc xem xét chúng như các trung tâm mãnh lực, có khả năng tạo ra các kết quả—xây dựng, nếu được định hướng đúng; hủy diệt, nếu bị bỏ mặc một cách mù quáng để đi theo lộ trình riêng của chúng. Tuy nhiên, trước khi đề cập đến vấn đề này, tôi muốn gom lại một số sợi chỉ tư tưởng liên hệ với vấn đề vừa được bàn đến. Nếu chúng ta đã cẩn thận theo dõi các dữ kiện được đưa ra về biểu hiện chân ngã trên chính cõi của nó, và các ngọn lửa của thể nguyên nhân, chúng ta sẽ nhận thấy sự tương tự mật thiết giữa thể chân ngã đó, được xem như một trung tâm mãnh lực, và một số phương diện của biểu hiện logoic.

The causal body has been seen as a wheel of fire, containing within its periphery three focal points of energy, the permanent atoms. They are analogous, as earlier pointed out, to the seventh principle of each of the three aspects—will or power, love-wisdom, and active intelligence. [Page 545] Each of these focal points has its own internal economy, as seen in the spirillae, which are essentially streams of force, responding to stimulation and vibration, aroused within and without their limiting ring-pass-not. The internal life of the permanent atom, and that which animates and produces its activity, is the life of the third aspect; the force playing upon it and through it is the life of the second aspect. As evolution proceeds the intensity of the life forces from within and those which affect it from without, grows gradually stronger and stronger, and the light of the permanent atoms increases, the petals of the lotus unfold, and the spokes of the radiatory fire come into action. Bear in mind here, that the permanent atoms are concerned with the substance aspect of Existence or Becoming, while the petals of the lotus, or the fiery spokes of the wheel, deal specifically with the psychical aspect, or the development of consciousness; the central nucleus, or the three inner petals, embodies the aspect of pure Spirit.

Thể nguyên nhân đã được thấy như một bánh xe lửa, chứa trong chu vi của nó ba tiêu điểm năng lượng, tức các nguyên tử trường tồn. Như đã chỉ ra trước đây, chúng tương đồng với nguyên khí thứ bảy của mỗi một trong ba phương diện—ý chí hay quyền năng, bác ái-minh triết, và trí tuệ hoạt động. [Page 545] Mỗi tiêu điểm này có cơ cấu nội tại riêng của nó, như được thấy trong các loa tuyến, vốn về bản chất là các dòng mãnh lực, đáp ứng với sự kích thích và rung động, được khơi dậy bên trong và bên ngoài vòng-giới-hạn giới hạn của chúng. Sự sống nội tại của nguyên tử trường tồn, và cái tiếp sinh lực và tạo ra hoạt động của nó, là sự sống của phương diện thứ ba; mãnh lực tác động lên nó và xuyên qua nó là sự sống của phương diện thứ hai. Khi tiến hoá tiếp diễn, cường độ của các mãnh lực sự sống từ bên trong và những mãnh lực tác động lên nó từ bên ngoài dần dần mạnh hơn và mạnh hơn, và ánh sáng của các nguyên tử trường tồn gia tăng, các cánh hoa của hoa sen khai mở, và các nan của lửa bức xạ đi vào hoạt động. Hãy ghi nhớ ở đây, rằng các nguyên tử trường tồn liên quan đến phương diện chất liệu của Hiện Hữu hay Đang Trở Thành, trong khi các cánh hoa của hoa sen, hay các nan lửa của bánh xe, đặc biệt liên quan đến phương diện thông linh, hay sự phát triển của tâm thức; hạt nhân trung tâm, hay ba cánh hoa bên trong, hiện thân cho phương diện Tinh thần thuần túy.

All three lines of evolution are proceeding simultaneously, and have a reflex action the one upon the other; it is this which produces the consequent perfection of unfoldment. It is neither possible nor desirable to follow each line of this threefold evolution separately, nor to consider them as dissociated from each other. The interplay is too accurate, and the mutual stimulation too important to be neglected by the student of egoic evolution.

Cả ba đường tiến hoá đều đang tiến hành đồng thời, và có tác động phản hồi lẫn nhau; chính điều này tạo ra sự hoàn hảo tiếp theo của sự khai mở. Không thể cũng không nên theo dõi riêng rẽ từng đường của sự tiến hoá tam phân này, cũng không nên xem chúng như tách rời nhau. Sự tương tác quá chính xác, và sự kích thích hỗ tương quá quan trọng để bị đạo sinh của sự tiến hoá chân ngã bỏ qua.

It is, as stated elsewhere, through the permanent atoms that the Ego comes en rapport with his objective world; he works upon and through his environment successfully or blindly just in so far as he can energise his permanent atoms, and bring the spirillae out of latency into potency. This only becomes possible as he unfolds the petals of the lotus. It must be remembered that the three lower petals when fully unfolded affect, through [Page 546] their vitality, the three major spirillae in the physical permanent atom. As the second ring of petals gradually opens, the astral permanent atom undergoes a similar process, leading up to the full arousing of the spirillae within the mental unit.

Như đã nói ở nơi khác, chính qua các nguyên tử trường tồn mà chân ngã tiếp xúc với thế giới khách quan của mình; y tác động lên và xuyên qua môi trường của mình một cách thành công hay mù quáng đúng theo mức độ y có thể truyền năng lượng cho các nguyên tử trường tồn của mình, và đưa các loa tuyến từ trạng thái tiềm ẩn vào trạng thái hữu lực. Điều này chỉ trở nên khả hữu khi y khai mở các cánh hoa của hoa sen. Cần nhớ rằng ba cánh hoa thấp khi được khai mở hoàn toàn sẽ tác động, qua [Page 546] sinh lực của chúng, lên ba loa tuyến chính trong nguyên tử trường tồn hồng trần. Khi vòng cánh hoa thứ hai dần dần mở ra, nguyên tử trường tồn cảm dục trải qua một tiến trình tương tự, dẫn đến sự khơi dậy trọn vẹn các loa tuyến bên trong đơn vị hạ trí.

Here I would point out that there is a slight difference in the case of the mental unit, for the four spirillae of the mental unit are aroused to full activity when the knowledge petal of the final three opens. The opening of the remaining two reveal the glowing threefold flower which lies at the centre of egoic manifestation.

Ở đây tôi muốn chỉ ra rằng có một khác biệt nhỏ trong trường hợp của đơn vị hạ trí, vì bốn loa tuyến của đơn vị hạ trí được khơi dậy đến hoạt động trọn vẹn khi cánh hoa tri thức của ba cánh cuối cùng mở ra. Việc mở hai cánh còn lại mặc khải đóa hoa tam phân rực sáng nằm ở trung tâm của biểu hiện chân ngã.

It would be wise to sound a note of warning here in connection with this question of egoic unfoldment. What has been said here has been but the formulation of the general plan of egoic unfoldment as interpreted in terms of consciousness or of fire. In studying the subject with due personal application, the student should bear in mind the following facts:

Sẽ là khôn ngoan nếu nêu lên một lời cảnh báo ở đây liên quan đến vấn đề khai mở chân ngã này. Những gì đã được nói ở đây chỉ là sự trình bày của kế hoạch tổng quát về sự khai mở chân ngã như được diễn giải bằng các thuật ngữ của tâm thức hay của lửa. Khi nghiên cứu chủ đề này với sự ứng dụng cá nhân thích đáng, đạo sinh nên ghi nhớ các sự kiện sau:

First, that according to the Ray of the Monad, so will the petals unfold. For instance, if the Ray of the Monad is the second Ray, the knowledge petal will be the first to open, but the second petal of love will almost parallel its development, being for that particular type of Ego the line of easiest unfoldment; the knowledge petal will be for it the most difficult to open.

Thứ nhất, rằng tùy theo cung của Chân thần mà các cánh hoa sẽ khai mở. Chẳng hạn, nếu cung của Chân thần là cung hai, cánh hoa tri thức sẽ là cánh đầu tiên mở ra, nhưng cánh hoa bác ái thứ hai sẽ gần như song hành với sự phát triển của nó, vì đối với loại chân ngã đặc biệt đó, đây là đường khai mở dễ dàng nhất; cánh hoa tri thức sẽ là cánh khó mở nhất đối với nó.

Second, that the effects of one circle of petals opening will be felt within the next circle at an early stage and will cause a vibratory response, hence the greater rapidity of the later stages of unfoldment as compared with the first.

Thứ hai, rằng các hiệu quả của việc một vòng cánh hoa mở ra sẽ được cảm nhận trong vòng kế tiếp ở một giai đoạn sớm và sẽ gây ra một đáp ứng rung động, do đó các giai đoạn khai mở về sau diễn ra nhanh hơn nhiều so với giai đoạn đầu.

Third, that there exist many cases of uneven or unequal unfoldment. Quite frequently people are found with perhaps two petals unfolded in the first circle and one still in latency, while a petal within the central or second ring may be in full development. This is the explanation frequently of the power in service along [Page 547] certain lines displayed by some, coupled with a comparatively low stage of development or of consciousness (egoically speaking). This is due to varying causes, such as the karma of the Monad itself on its high plane and the strength of the monadic grip upon the ego; many lives given to a particular line of action, resulting in the setting up of a strong vibration—one so strong that it renders the development of response to subsidiary vibrations difficult of attainment; certain peculiar conditions hidden in the evolution of any particular Lord of a Ray, and the effect of that condition upon a particular group of cells; the group karma of a collection or congery of causal bodies, and their mutual interplay. Every egoic unit or monadic force centre has a definite effect upon the group or community of Egos in which it may have a place, and as the interaction proceeds results are sometimes produced of a temporarily unexpected nature.

Thứ ba, rằng có nhiều trường hợp khai mở không đồng đều hay không cân xứng. Khá thường xuyên người ta thấy những người có thể đã khai mở hai cánh hoa trong vòng thứ nhất và một cánh vẫn còn tiềm ẩn, trong khi một cánh hoa trong vòng trung tâm hay vòng thứ hai có thể đang phát triển đầy đủ. Đây thường là lời giải thích cho quyền năng phụng sự theo [Page 547] một số đường hướng nhất định được một số người biểu lộ, đi kèm với một giai đoạn phát triển hay tâm thức tương đối thấp (xét theo chân ngã). Điều này là do nhiều nguyên nhân khác nhau, như nghiệp quả của chính Chân thần trên cõi cao của nó và sức mạnh của sự nắm giữ chân thần lên chân ngã; nhiều kiếp sống được hiến cho một đường hành động đặc biệt, dẫn đến việc thiết lập một rung động mạnh—mạnh đến mức khiến sự phát triển khả năng đáp ứng với các rung động phụ trở nên khó đạt được; một số điều kiện đặc thù ẩn giấu trong sự tiến hoá của một Chúa Tể Cung nào đó, và tác động của điều kiện ấy lên một nhóm tế bào nhất định; nghiệp quả nhóm của một tập hợp hay cụm các thể nguyên nhân, và sự tương tác hỗ tương của chúng. Mỗi đơn vị chân ngã hay trung tâm mãnh lực chân thần đều có một tác động xác định lên nhóm hay cộng đồng các chân ngã mà nó có thể có một vị trí trong đó, và khi sự tương tác tiếp diễn, đôi khi tạo ra những kết quả có tính chất tạm thời bất ngờ.

These points should be carefully borne in mind by the student of egoic evolution. This whole subject is of interest in that it is the next step ahead for the students of occult psychology. Much will be eventually ascertained which will throw new light upon the possibility of work upon the physical plane for man. The whole secret of success in any endeavour or enterprise is primarily based on two things:

Những điểm này cần được đạo sinh của sự tiến hoá chân ngã ghi nhớ cẩn thận. Toàn bộ chủ đề này đáng quan tâm vì nó là bước kế tiếp phía trước cho các đạo sinh của Tâm Lý Học Nội Môn. Cuối cùng sẽ xác định được nhiều điều, và những điều ấy sẽ soi rọi ánh sáng mới lên khả năng làm việc trên cõi hồng trần của con người. Toàn bộ bí mật của thành công trong bất kỳ nỗ lực hay công việc nào trước hết dựa trên hai điều:

First, the ability of the Ego to work through the personality, using it simply as the medium of expression.

Thứ nhất, khả năng của chân ngã làm việc qua phàm ngã, chỉ dùng nó như phương tiện biểu đạt.

Second, the karma of the egoic group as it becomes more apparent on the physical plane. Hitherto, much has been said and taught about individual karma. Group karma in the future will slowly assume its rightful place in the thought of students, and this will lead to more intelligent co-operation, to a more sympathetic understanding of group responsibilities, and to a more adequate solution of group problems.

Thứ hai, nghiệp quả của nhóm chân ngã khi nó trở nên hiển nhiên hơn trên cõi hồng trần. Cho đến nay, nhiều điều đã được nói và dạy về nghiệp quả cá nhân. Trong tương lai, nghiệp quả nhóm sẽ từ từ giữ vị trí đúng đắn của nó trong tư tưởng của các đạo sinh, và điều này sẽ dẫn đến sự hợp tác thông minh hơn, đến sự thấu hiểu đầy cảm thông hơn về các trách nhiệm nhóm, và đến một giải pháp thích đáng hơn cho các vấn đề nhóm.

[Page 548] The study of occult psychology involves a true conception of the nature of the Ego, or the arousing of the Ego to full activity in manifestation; it will necessitate the sound formulation of the laws of egoic unfoldment, of the methods whereby, petal by petal, the lotus may be brought to perfection, and of the triple nature of its evolution; it will bring about an eventual apprehension of the true meaning of force, and of energy in its dual aspect—internal vibration and external radiation; it will produce the centering of the attention of all advanced students upon the centres—in this case not the physical centres on etheric levels but upon the psychical centres, such as the Ego in the causal body and egoic groups. This will produce later a better comprehension of the effect of one consciousness upon another consciousness on the physical plane, and this knowledge will be scientifically utilised to produce specific results in group evolution, and thus some of the world problems will find solution. Finally, the laws of fire will be studied, the nature of heat, of radiation and of flame will be occultly investigated, and the action of one fire upon another fire, the result of radiation from one conscious sphere to another will be realised; the method of arousing consciousness on the different planes by action upon the fires of the causal body and their stimulation will be gradually revealed.

[Page 548] Việc nghiên cứu Tâm Lý Học Nội Môn bao hàm một quan niệm chân chính về bản chất của chân ngã, hay việc khơi dậy chân ngã đến hoạt động trọn vẹn trong biểu hiện; nó sẽ đòi hỏi sự hình thành vững chắc các định luật của sự khai mở chân ngã, của các phương pháp nhờ đó, từng cánh hoa một, hoa sen có thể được đưa đến chỗ hoàn hảo, và của bản chất tam phân của sự tiến hoá của nó; nó sẽ đem lại sự lĩnh hội cuối cùng về ý nghĩa chân thực của mãnh lực, và của năng lượng trong phương diện nhị phân của nó—rung động bên trong và bức xạ bên ngoài; nó sẽ làm cho sự chú ý của mọi đạo sinh tiến bộ tập trung vào các trung tâm—trong trường hợp này không phải các trung tâm hồng trần trên các cấp dĩ thái mà là các trung tâm thông linh, như chân ngã trong thể nguyên nhân và các nhóm chân ngã. Điều này về sau sẽ tạo ra sự thấu hiểu tốt hơn về tác động của một tâm thức lên một tâm thức khác trên cõi hồng trần, và tri thức này sẽ được sử dụng một cách khoa học để tạo ra các kết quả xác định trong sự tiến hoá nhóm, và như vậy một số vấn đề của thế giới sẽ tìm được giải pháp. Sau cùng, các định luật của lửa sẽ được nghiên cứu, bản chất của nhiệt, của bức xạ và của ngọn lửa sẽ được khảo cứu một cách huyền bí, và tác động của ngọn lửa này lên ngọn lửa khác, kết quả của sự bức xạ từ khối cầu hữu thức này sang khối cầu hữu thức khác sẽ được chứng nghiệm; phương pháp khơi dậy tâm thức trên các cõi khác nhau bằng tác động lên các ngọn lửa của thể nguyên nhân và sự kích thích chúng sẽ dần dần được mặc khải.

The whole question is slowly, very slowly, coming to the fore in human thought (even though this is little realised) through the study of vocational education, business efficiency, and the place of the human unit in any trade or enterprise. Men are being spoken of and considered in terms of potential force factors, and this is a step in the right direction.

Toàn bộ vấn đề này đang từ từ, rất từ từ, nổi lên trong tư tưởng nhân loại (dù điều này ít được nhận ra) qua việc nghiên cứu giáo dục nghề nghiệp, hiệu quả kinh doanh, và vị trí của đơn vị nhân loại trong bất kỳ ngành nghề hay công việc nào. Con người đang được nói đến và được xem xét theo các thuật ngữ của những yếu tố mãnh lực tiềm năng, và đây là một bước đi đúng hướng.

Approaching the same question from the personality standpoint and not the egoic, the time is fast approaching when the emphasis will be laid in education upon [Page 549] how best the young can be taught to contact their own ego or higher energy; how best they can be led to appropriate the knowledge and ability of their higher self for use on the physical plane; how best they can ascertain their group formation, and thus work along with their group, and in unison with the total energy of that group; how best their threefold lower self—physical, astral, and mental—can be brought into direct alignment with their higher centre of force, and thus draw down a continuous supply of energy for the strengthening of their three vehicles, and their wise manipulation; how best the various spirillae can be awakened and the energy within their own cells released for action. All this will be a thing of gradual evolution, but I have here outlined the trend of the future study, as in the formulation of possibility lies its eventual realisation. Such a process must necessarily be slow. The powers of the ego are stupendous and if released now through the agency of an unready personality would lead to dire disaster. But the time will come, and in the meantime a due apprehension of inherent capacity will profit all who have the intuition to recognise the goal.

Tiếp cận cùng một vấn đề này từ quan điểm phàm ngã chứ không phải chân ngã, thời điểm đang nhanh chóng đến khi trọng tâm trong giáo dục sẽ được đặt vào [Page 549] cách tốt nhất để người trẻ được dạy tiếp xúc với chân ngã hay năng lượng cao hơn của chính mình; cách tốt nhất để họ được dẫn dắt chiếm hữu tri thức và khả năng của chân ngã của mình để sử dụng trên cõi hồng trần; cách tốt nhất để họ có thể xác định sự hình thành nhóm của mình, và nhờ đó làm việc cùng với nhóm của mình, và trong sự hợp nhất với tổng năng lượng của nhóm đó; cách tốt nhất để phàm ngã tam phân của họ—hồng trần, cảm dục và trí tuệ—có thể được chỉnh hợp trực tiếp với trung tâm mãnh lực cao hơn của họ, và nhờ đó kéo xuống một nguồn cung năng lượng liên tục để tăng cường ba vận cụ của họ, và điều khiển chúng một cách khôn ngoan; cách tốt nhất để các loa tuyến khác nhau có thể được đánh thức và năng lượng bên trong chính các tế bào của họ được giải phóng cho hoạt động. Tất cả điều này sẽ là một việc của sự tiến hoá dần dần, nhưng ở đây tôi đã phác họa xu hướng của việc nghiên cứu trong tương lai, vì chính trong sự hình thành khả năng mà có sự chứng nghiệm cuối cùng của nó. Một tiến trình như thế tất yếu phải chậm. Các quyền năng của chân ngã là vô cùng to lớn và nếu được giải phóng ngay bây giờ qua tác nhân của một phàm ngã chưa sẵn sàng sẽ dẫn đến tai họa nghiêm trọng. Nhưng thời điểm ấy sẽ đến, và trong khi chờ đợi, sự lĩnh hội thích đáng về năng lực cố hữu sẽ mang lại lợi ích cho tất cả những ai có trực giác để nhận ra mục tiêu.

S5S11

DIVISION D - THOUGHT ELEMENTALS AND FIRE ELEMENTALS

PHÂN KHU D - CÁC HÀNH KHÍ TƯ TƯỞNG VÀ CÁC HÀNH KHÍ CỦA LỬA

I. THOUGHT FORMS

I. CÁC HÌNH TƯ TƯỞNG

[Page 550] 1. Their function.

[Page 550] 1. Chức năng của chúng.

a. To respond to vibration.

a. Đáp ứng với rung động.

b. To provide the vehicle for an idea.

b. Cung cấp vận cụ cho một ý tưởng.

c. To carry out specific purpose.

c. Thực hiện mục đích xác định.

2: The Laws of Thought.

2: Các Định luật của Tư tưởng.

a. Three cosmic laws.

a. Ba định luật vũ trụ.

b. Seven systemic laws.

b. Bảy định luật hệ thống.

II. THOUGHT ELEMENTALS AND DEVAS

II. CÁC HÀNH KHÍ TƯ TƯỞNG VÀ THIÊN THẦN

1. The Ruler of Fire... Agni.

1. Đấng cai quản Lửa... Agni.

a. Agni and the solar Logos.

a. Agni và Thái dương Thượng đế.

b. Agni and the mental plane.

b. Agni và cõi trí.

c. Agni and the three Fires.

c. Agni và ba ngọn Lửa.

2. The Fire Devas... the Greater Builders.

2. Các thiên thần của Lửa... các đấng đại kiến tạo.

a. Introductory statements.

a. Những phát biểu nhập đề.

b. The functions of the devas.

b. Các chức năng của các thiên thần.

c. The devas and the planes.

c. Các thiên thần và các cõi.

3. The Solar Angels... the Agnishvattas.

3. Các Thái dương Thiên Thần... các Agnishvattas.

Introductory remarks.

Những nhận xét mở đầu.

a. On the fifth Principle.

a. Về nguyên khí thứ năm.

b. On Individualisation.

b. Về biệt ngã hóa.

c. On Incarnation.

c. Về sự nhập thể.

d. On the Building of the Causal Body.

d. Về việc xây dựng thể nguyên nhân.

4. The Fire Elementals... the Lesser Builders.

4. Các hành khí của lửa... các vị tiểu kiến tạo.

a. Introductory.

a. Mở đầu.

b. Physical plane elementals.

b. Các hành khí cõi hồng trần.

c. Elementals of the ethers.

c. Các hành khí của các cõi dĩ thái.

d. Elementals and the Microcosm. [Page 551]

d. Hành khí và Tiểu thiên địa. [Page 551]

III. MAN, AS A CREATOR IN MENTAL MATTER

III. CON NGƯỜI, NHƯ MỘT ĐẤNG SÁNG TẠO TRONG CHẤT LIỆU TRÍ TUỆ

1. The creation of thought forms.

1. Sự tạo ra các Hình tư tưởng.

2. The process of thought form building.

2. Tiến trình xây dựng Hình tư tưởng.

IV. MAN AND THE FIRE SPIRITS

IV. CON NGƯỜI VÀ CÁC TINH LINH CỦA LỬA

1. The Will aspect and creation.

1. Phương diện Ý chí và sự sáng tạo.

a. The condition of the magician.

a. Tình trạng của nhà huyền thuật.

b. Construction of thought forms.

b. Sự kiến tạo các Hình tư tưởng.

c. The occult significance of speech.

c. Ý nghĩa huyền bí của lời nói.

2. The nature of Magic.

2. Bản chất của huyền thuật.

a. Black magicians and white.

a. Các nhà hắc thuật và nhà huyền thuật chánh đạo.

b. The source of black magic.

b. Nguồn gốc của Hắc thuật.

c. Conditions for white magic.

c. Các điều kiện cho Chánh Thuật.

3. Fifteen rules for Magic.

3. Mười lăm quy luật cho huyền thuật.

a. Six rules for the mental plane.

a. Sáu quy luật cho cõi trí.

b. Five rules for the astral plane.

b. Năm quy luật cho cõi cảm dục.

c. Four rules for the physical plane.

c. Bốn quy luật cho cõi hồng trần.

Under this division we shall briefly give an outline of the study which we will undertake upon this vast and stupendous subject, for, as it definitely concerns the evolution of man and his power eventually to create, it will be wise for us to take up the matter in some detail.

Dưới phần này, chúng ta sẽ vắn tắt phác ra đề cương của công trình nghiên cứu mà chúng ta sẽ đảm nhận về chủ đề rộng lớn và kỳ vĩ này, vì, do nó liên hệ rõ rệt đến sự tiến hoá của con người và quyền năng sáng tạo sau cùng của y, nên chúng ta nên khảo cứu vấn đề này với một mức độ chi tiết nào đó.

This section is not intended to give interesting bits of information anent the devas; I only seek to deal with the matter in its practical application to man, and to give as much of the necessary knowledge as will enable a man to control and build his own system, to understand the method of creation and to comprehend somewhat the lesser lives and the paralleling deva evolution with which he may be concerned.

Phần này không nhằm cung cấp những mẩu thông tin lý thú về các thiên thần; tôi chỉ tìm cách bàn đến vấn đề này trong sự ứng dụng thực tiễn của nó đối với con người, và đưa ra càng nhiều tri thức cần thiết càng tốt để giúp con người kiểm soát và xây dựng hệ thống riêng của mình, hiểu được phương pháp sáng tạo và phần nào lĩnh hội các sự sống nhỏ hơn cùng sự tiến hoá thiên thần song hành mà y có thể liên hệ.

I. THOUGHT FORMS

I. HÌNH TƯ TƯỞNG

1. Their Function.

1. Chức năng của chúng.

It will be noted that in studying this matter we have not started with that which is most apparent, the exoteric form in mental matter, but with the inner life or Idea within the form and with the Laws that govern the creative [Page 552] aspect. This function of every thought form is threefold:

Cần lưu ý rằng khi nghiên cứu vấn đề này, chúng ta đã không bắt đầu với điều hiển nhiên nhất, tức hình tướng ngoại môn trong chất liệu trí tuệ, mà với sự sống bên trong hay Ý tưởng ở trong hình tướng và với các Định luật chi phối phương diện sáng tạo [Page 552]. Chức năng này của mọi Hình tư tưởng có tính tam phân:

To respond to vibration

Đáp ứng với rung động

To provide a body for an idea

Cung cấp một thể cho một ý tưởng

To carry out specific purpose.

Thực hiện một mục đích đặc thù.

Let us first study the logoic thought form and then turn our attention to the thought forms fabricated by the Thinker from the systemic mental planes and in mental matter. We have to note that, in the case of the Logos, all upon which we have to base our conclusions are His physical manifestation, and His quality, psychic nature, aroma, emanation or magnetism, as we see it working out through the form. Hence we are very much handicapped.

Trước hết, chúng ta hãy nghiên cứu Hình tư tưởng của Thượng đế, rồi sau đó chuyển sự chú ý sang các Hình tư tưởng do Đấng Tư Tưởng tạo tác từ các cõi trí của hệ thống và trong chất liệu trí tuệ. Chúng ta phải lưu ý rằng, trong trường hợp của Thượng đế, tất cả những gì chúng ta có để làm nền tảng cho các kết luận của mình là biểu hiện hồng trần của Ngài, và phẩm tính, bản chất thông linh, hương khí, phát xạ hay từ điện của Ngài, như chúng ta thấy nó vận hành qua hình tướng. Do đó, chúng ta bị hạn chế rất nhiều.

a. Response to Vibration. It is always recognised in occult circles that the whole object of human evolution is to enable the Thinker to respond to every contact fully and consciously, and thus to utilise his material sheath, or sheaths, as adequate transmitter of such contact. The most easily studied human thought-form is the one the Ego creates through which to function. He builds his sheaths by the power of thought, and the dense physical body is the best sheath that—at any particular stage of evolution—he can at the time manufacture. The same can be predicated of the solar Logos. He builds by the power of thought a body which can respond to that group of vibrations which are concerned with the cosmic physical plane (the only one we can study). It is not yet adequate, and does not fully express the logoic Thinker.

a. Đáp ứng với rung động. Trong các giới huyền bí học, người ta luôn thừa nhận rằng toàn bộ mục tiêu của sự tiến hoá nhân loại là giúp Đấng Tư Tưởng đáp ứng đầy đủ và hữu thức với mọi tiếp xúc, và nhờ đó sử dụng vỏ bọc vật chất của y, hay các vỏ bọc của y, như những bộ truyền đạt thích hợp cho sự tiếp xúc ấy. Hình tư tưởng nhân loại dễ nghiên cứu nhất là hình mà chân ngã tạo ra để hoạt động qua đó. Y xây dựng các vỏ bọc của mình bằng quyền năng tư tưởng, và thể xác đậm đặc là vỏ bọc tốt nhất mà—ở bất kỳ giai đoạn tiến hoá riêng biệt nào—vào lúc đó y có thể tạo ra. Điều tương tự cũng có thể được khẳng định về Thái dương Thượng đế. Ngài xây dựng bằng quyền năng tư tưởng một thể có thể đáp ứng với nhóm rung động liên hệ đến cõi hồng trần vũ trụ (cõi duy nhất mà chúng ta có thể nghiên cứu). Nó vẫn chưa thích hợp, và chưa biểu lộ đầy đủ Đấng Tư Tưởng Thượng đế.

The vibrations to which the systemic thought-form must respond are many in number, but for our purposes might be enumerated as mainly seven:

Các rung động mà Hình tư tưởng hệ thống phải đáp ứng thì rất nhiều, nhưng vì mục đích của chúng ta có thể liệt kê chủ yếu thành bảy loại:

1. The vibrations of the cosmic physical plane, viewing it as all the matter of that plane which exists [Page 553] outside the logoic ring-pass-not. It concerns the pranic and akashic fluids and currents.

1. Các rung động của cõi hồng trần vũ trụ, xét nó như toàn bộ vật chất của cõi ấy hiện hữu [Page 553] bên ngoài vòng-giới-hạn của Thượng đế. Nó liên quan đến các lưu chất và dòng prana cùng akasha.

2. The vibrations of the cosmic astral plane as they affect the physical form of divine manifestation. This involves cosmically the action upon our solar Logos of the emotional quality of other cosmic entities, and concerns the magnetic effect upon Him of their psychic emanation. This, in view of the fact that His dense physical body is not a principle, is of a more potent nature than the first set of vibrations, as is the case also in man’s evolution.

2. Các rung động của cõi cảm dục vũ trụ khi chúng tác động đến hình tướng hồng trần của biểu hiện thiêng liêng. Điều này, về mặt vũ trụ, bao hàm tác động lên Thái dương Thượng đế của chúng ta bởi phẩm tính cảm xúc của các thực thể vũ trụ khác, và liên quan đến hiệu quả từ tính nơi Ngài do phát xạ thông linh của họ. Xét theo sự kiện rằng thể xác đậm đặc của Ngài không phải là một nguyên khí, điều này có bản chất mạnh hơn nhóm rung động thứ nhất, cũng như trong sự tiến hoá của con người.

3. Vibrations from that which, within the logoic consciousness, is recognised as the logoic Higher Self, or His emanating source. This brings the solar system within the vibratory radius of certain constellations which have a position of profound importance in the general evolution of the system.

3. Các rung động từ điều mà, trong tâm thức Thượng đế, được nhận biết là Bản Ngã Cao Siêu của Thượng đế, hay nguồn phát xạ của Ngài. Điều này đưa hệ mặt trời vào trong bán kính rung động của một số chòm sao có vị trí vô cùng quan trọng trong sự tiến hoá tổng quát của hệ thống.

4. Vibrations from Sirius via the cosmic mental plane.

4. Các rung động từ Sirius qua cõi trí vũ trụ.

5. Vibrations from the seven Rishis of the Great Bear, and primarily from those two Who are the Prototypes of the Lords of the seventh and fifth Rays. This is a most important point, and finds its microcosmic correspondence in the place which the seventh Ray has in the building of a thoughtform, and the use of the fifth Ray in the work of concretion. All magicians who work with matter and who are occupied with form-building (either consciously or unconsciously) call in these two types of force or energy.

5. Các rung động từ bảy Đấng Rishi của Đại Hùng Tinh, và chủ yếu từ hai Đấng là Nguyên mẫu của các Đấng Chúa Tể của cung bảy và cung năm. Đây là một điểm hết sức quan trọng, và tìm thấy sự tương ứng vi mô của nó trong vị trí mà cung bảy giữ trong việc xây dựng một Hình tư tưởng, và việc sử dụng cung năm trong công việc làm cho cụ thể. Mọi nhà huyền thuật làm việc với vật chất và bận tâm đến việc xây dựng hình tướng (dù hữu thức hay vô thức) đều gọi vào hai loại mãnh lực hay năng lượng này.

6. Certain very remote vibrations, as yet no more appreciable in the logoic Body than is monadic influence in that of average man, from the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID, that cosmic [Page 554] Existence Who is expressing Himself through seven centres of force, of which our solar system is one.

6. Một số rung động rất xa xôi, hiện nay trong Thể của Thượng đế còn khó nhận thấy hơn cả ảnh hưởng chân thần trong thân thể của người trung bình, từ ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ, Đấng Hiện Hữu vũ trụ ấy [Page 554] đang biểu lộ chính Ngài qua bảy trung tâm mãnh lực, trong đó hệ mặt trời của chúng ta là một.

7. A series of vibrations which will become more potent as our Logos nears that period which is occultly called “Divine Maturity,” which emanate from that constellation in the Heavens which embodies His polar opposite. This is a deep mystery and concerns the cosmic marriage of the Logos.

7. Một chuỗi rung động sẽ trở nên mạnh hơn khi Thượng đế của chúng ta tiến gần đến giai đoạn được gọi một cách huyền bí là “Sự Trưởng Thành Thiêng Liêng”, phát ra từ chòm sao trên Trời hiện thân cho cực đối nghịch của Ngài. Đây là một huyền nhiệm sâu xa và liên quan đến cuộc hôn phối vũ trụ của Thượng đế.

It will be apparent, therefore, how little can as yet be predicated anent the future of the solar system until the vibrations of the sixth and seventh order become more powerful, and their effects can consequently be studied more easily. It is not possible here to do more than indicate the seven types of vibrations to which our solar Logos (functioning in a material body) will in due course of time consciously, and fully, respond. He responds to vibrations of the first, second, third and fourth order quite fully at this time, but as yet (though responding) cannot fully, and consciously, utilise these types of energy. The vibration of the fifth order is recognised by Him, particularly in three of His centres, but is not as yet fully under His control. The other two are sensed, and felt, but so remotely as to be almost outside the range of His consciousness.

Do đó, sẽ thấy rõ rằng hiện nay chúng ta còn có thể nói rất ít về tương lai của hệ mặt trời cho đến khi các rung động thuộc loại thứ sáu và thứ bảy trở nên mạnh hơn, và vì thế các hiệu quả của chúng có thể được nghiên cứu dễ dàng hơn. Ở đây không thể làm gì hơn ngoài việc chỉ ra bảy loại rung động mà Thái dương Thượng đế của chúng ta (đang hoạt động trong một thể vật chất) theo thời gian sẽ đáp ứng một cách hữu thức và trọn vẹn. Hiện nay Ngài đáp ứng khá đầy đủ với các rung động thuộc loại thứ nhất, thứ hai, thứ ba và thứ tư, nhưng cho đến nay (dù có đáp ứng) vẫn chưa thể sử dụng đầy đủ và hữu thức các loại năng lượng này. Rung động thuộc loại thứ năm được Ngài nhận biết, đặc biệt trong ba trung tâm của Ngài, nhưng vẫn chưa hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của Ngài. Hai loại còn lại được cảm nhận và cảm thấy, nhưng xa xôi đến mức gần như nằm ngoài phạm vi tâm thức của Ngài.

In carrying out these ideas in connection with man and the thought forms which he fabricates (such as his material sheaths), the correspondence can be worked out within the system, and from the point of view of the planetary schemes in which man has his place. The work of man as he builds in mental thought matter and constructs forms extraneous to himself, we shall deal with later.

Khi triển khai các ý tưởng này liên hệ đến con người và các Hình tư tưởng mà y tạo tác (chẳng hạn như các vỏ bọc vật chất của y), sự tương ứng có thể được khảo sát trong nội bộ hệ thống, và từ quan điểm của các hệ hành tinh nơi con người có vị trí của mình. Công việc của con người khi y xây dựng trong chất liệu tư tưởng trí tuệ và kiến tạo các hình tướng ở ngoài chính mình, chúng ta sẽ bàn đến sau.

The methods whereby vibratory response is brought about might be enumerated as follows: [Page 555]

Các phương pháp nhờ đó sự đáp ứng rung động được tạo ra có thể được liệt kê như sau: [Page 555]

Through the factor of time in evolution.

Qua yếu tố thời gian trong tiến hoá.

Through extra-systemic stimulation and intensive training, whether for a Logos or a man.

Qua sự kích thích ngoài hệ thống và sự huấn luyện chuyên sâu, dù là cho một Thượng đế hay một con người.

Through the process of Initiation, and the application of the Rods of Initiation.

Qua tiến trình Điểm đạo, và việc áp dụng các Thần Trượng Điểm đạo.

The factor of evolution is recognised and studied by many schools of thought, esoteric or exoteric. The extrasystemic stimulation involves a large number of factors, but the main two to be remembered are that this stimulation will be applied:

Yếu tố tiến hoá được nhiều trường phái tư tưởng, huyền bí hay ngoại môn, thừa nhận và nghiên cứu. Sự kích thích ngoài hệ thống bao hàm một số lượng lớn các yếu tố, nhưng hai yếu tố chính cần ghi nhớ là sự kích thích này sẽ được áp dụng:

Through the group to the unit.

Qua nhóm đến đơn vị.

Through a more evolved “Kingdom of Nature” to a less evolved.

Qua một “Giới của Tự Nhiên” tiến hoá hơn đến một giới kém tiến hoá hơn.

As regards the third factor of Initiation, it must be borne in mind that we are here considering only the great initiations, and not the numerous expansions of consciousness which can be traced through all kingdoms and all manifestations.

Về yếu tố thứ ba là Điểm đạo, cần ghi nhớ rằng ở đây chúng ta chỉ xét các cuộc điểm đạo lớn, chứ không phải vô số sự mở rộng tâm thức có thể được truy ra trong mọi giới và mọi biểu hiện.

In connection with what we have considered above, anent the primary function of a thought-form (the power to respond to vibration) I would emphasise the necessity of remembering that that response must be made by the inner embodied Idea, and that it will then through a complex reflex action, bring about response from the material sheath which veils it. Vibration is the result of subjective impulse, and makes its appeal to the subjective consciousness through impact upon whatever may be understood as substance; this impact is transmitted direct to the inner life, and in due turn is retransmitted to substance in the form of recognition or realisation. An analogous process may be studied in the nerve reactions of the physical frame, and their alliance with the brain consciousness.

Liên hệ đến điều chúng ta đã xét ở trên, về chức năng sơ khởi của một Hình tư tưởng (quyền năng đáp ứng với rung động), tôi muốn nhấn mạnh sự cần thiết phải nhớ rằng sự đáp ứng ấy phải được thực hiện bởi Ý tưởng nhập thể bên trong, và rồi qua một tác động phản xạ phức tạp, sẽ tạo ra sự đáp ứng từ vỏ bọc vật chất che phủ nó. Rung động là kết quả của xung lực chủ quan, và hướng lời kêu gọi của nó đến tâm thức chủ quan qua sự va chạm lên bất cứ điều gì có thể được hiểu là chất liệu; sự va chạm này được truyền trực tiếp đến sự sống bên trong, và đến lượt nó lại được truyền trở lại chất liệu dưới hình thức sự nhận biết hay chứng nghiệm. Một tiến trình tương tự có thể được nghiên cứu trong các phản ứng thần kinh của khung thể xác, và sự liên hệ của chúng với tâm thức bộ não.

As will be seen in the three worlds of man’s emprise, man will work as a Creator and will follow a similar procedure. [Page 556] His thought forms will be constructed of mental matter, chosen specifically because it vibrates to the same type of vibration as the Idea seeking embodiment, and these forms will persist—as does the logoic thought form, the solar system—for just as long as the factor of Will, or dynamic vitality, continues to hold it together.

Như sẽ thấy trong ba cõi giới thuộc phạm vi hoạt động của con người, con người sẽ làm việc như một Đấng sáng tạo và sẽ theo một thủ tục tương tự. [Page 556] Các Hình tư tưởng của y sẽ được kiến tạo bằng chất liệu trí tuệ, được chọn riêng vì nó rung động cùng loại rung động với Ý tưởng đang tìm cách nhập thể, và các hình này sẽ tồn tại—cũng như Hình tư tưởng của Thượng đế, tức hệ mặt trời—chừng nào yếu tố Ý chí, hay sinh lực năng động, còn tiếp tục giữ chúng lại với nhau.

This brings us to our next point:

Điều này đưa chúng ta đến điểm kế tiếp:

b. To Provide a Body for an Idea. In this statement we have latent the basic principle of incarnation, and of activity, even of existence itself. It involves the expansion of our idea to include the cosmic mental plane as we consider the Logos, and as the creative faculty of man is studied we are taken to the mental plane of the solar system. One fundamental thought must here be given and. pondered upon: This creative impulse, this tendency towards the concretion of the abstract, this inherent ability to “take form” has its fullest expression as yet in physical matter. The “raison d’être” is that—for man—all substances with which he creates, all forms which he builds, and all processes of concretion which he carries on, are created, built and carried on within the physical body of the Logos. Herein can be found the reason for the emphasis laid in nature on the sex aspect, and on that of physical reproduction; it can be seen in all the kingdoms of nature, with the exception of the first and fifth. This is a most significant point and the exceptions should be studied in their widest connotation, for they contain the basic mystery of sex on the involutionary path, and on the evolutionary. In them we have the two extremes. It will have been noted that as the idea that the solar system is the physical vehicle of the Logos and His body of manifestation is grasped, many problems become elucidated, and two points especially will gradually be apprehended by the student, if he meditates and studies:

b. Cung cấp một thể cho một ý tưởng. Trong phát biểu này tiềm ẩn nguyên lý căn bản của sự nhập thể, của hoạt động, và ngay cả của chính sự hiện hữu. Nó đòi hỏi chúng ta mở rộng ý niệm của mình để bao gồm cõi trí vũ trụ khi xét về Thượng đế, và khi nghiên cứu năng lực sáng tạo của con người, chúng ta được dẫn đến cõi trí của hệ mặt trời. Ở đây phải nêu ra và suy gẫm một tư tưởng căn bản: Xung lực sáng tạo này, khuynh hướng hướng đến việc làm cho cái trừu tượng trở nên cụ thể này, khả năng cố hữu để “mang lấy hình tướng” này, cho đến nay đạt biểu hiện đầy đủ nhất trong vật chất hồng trần. “Lý do tồn tại” là ở chỗ—đối với con người—mọi chất liệu mà y dùng để sáng tạo, mọi hình tướng mà y xây dựng, và mọi tiến trình làm cho cụ thể mà y tiến hành, đều được tạo ra, xây dựng và tiến hành bên trong thể xác của Thượng đế. Chính trong đó có thể tìm thấy lý do cho sự nhấn mạnh mà thiên nhiên đặt lên phương diện tính dục, và lên sự sinh sản hồng trần; điều này có thể thấy trong mọi giới tự nhiên, ngoại trừ giới thứ nhất và giới thứ năm. Đây là một điểm hết sức quan trọng và các ngoại lệ ấy cần được nghiên cứu trong ý nghĩa rộng nhất của chúng, vì chúng chứa đựng huyền nhiệm căn bản của tính dục trên con đường giáng hạ tiến hoá và trên con đường thăng thượng tiến hoá. Trong chúng, chúng ta có hai cực đoan. Cần lưu ý rằng khi ý tưởng cho rằng hệ mặt trời là vận cụ hồng trần của Thượng đế và là thể biểu hiện của Ngài được nắm bắt, nhiều vấn đề trở nên sáng tỏ, và đặc biệt có hai điểm sẽ dần dần được đạo sinh lĩnh hội, nếu y tham thiền và nghiên cứu:

First. That in due course of time, as the Logos [Page 557] achieves liberation from the trammels of physical matter, the whole objective system will come to be regarded as an idea or concept, clothed in a veil or sheath of subtler matter than the physical, and the logoic body will be viewed as the product of will and desire, and physical matter in any of its grades will not enter into its composition; it will simply be a desire body. This will bring about a condition of affairs inconceivable to us, and only to be somewhat apprehended by the man who can function upon the systemic buddhic plane the fourth cosmic ether. Bear in mind here that our astral plane is but the sixth subplane of the cosmic physical plane and that this provides us with no real grounds from which to reason concerning the cosmic astral plane. Only when the astral plane is a calm receiver of buddhic impulse, or a liquid reflector of that plane (which will not be till the close of the mahamanvantara) shall we be able to formulate any ideas anent the cosmic astral plane.

Thứ nhất. Rằng theo thời gian, khi Thượng đế [Page 557] đạt được sự giải thoát khỏi những ràng buộc của vật chất hồng trần, toàn bộ hệ thống khách quan sẽ được xem như một ý tưởng hay khái niệm, khoác trong một màn che hay vỏ bọc bằng chất liệu vi tế hơn hồng trần, và thân thể của Thượng đế sẽ được nhìn như sản phẩm của ý chí và dục vọng, còn vật chất hồng trần ở bất kỳ cấp độ nào cũng sẽ không tham dự vào thành phần cấu tạo của nó; nó đơn giản sẽ là một thể dục vọng. Điều này sẽ tạo ra một tình trạng không thể hình dung đối với chúng ta, và chỉ phần nào được lĩnh hội bởi người có thể hoạt động trên cõi Bồ đề của hệ thống, tức dĩ thái vũ trụ thứ tư. Ở đây hãy ghi nhớ rằng cõi cảm dục của chúng ta chỉ là cõi phụ thứ sáu của cõi hồng trần vũ trụ và điều đó không cho chúng ta nền tảng thực sự nào để suy luận về cõi cảm dục vũ trụ. Chỉ khi nào cõi cảm dục là một bộ tiếp nhận tĩnh lặng của xung lực Bồ đề, hay một tấm phản chiếu lưu động của cõi ấy (điều này sẽ không xảy ra cho đến cuối Đại giai kỳ sinh hóa) thì chúng ta mới có thể hình thành bất kỳ ý tưởng nào về cõi cảm dục vũ trụ.

Second. That the entire sex aspect of manifestation, as we understand it in the different kingdoms of nature, is an expression of the energy of the Logos, as it flows through and stimulates that centre in His body which corresponds to the generative organs. All the creative functions of the vegetable, animal, and human family, viewing them as a whole, are as yet purely physical, and based on lower desire. The desire of the Logos for physical incarnation is as yet the dominant note. Later His desire for that will be less and will become transmuted into desire for creation on mental levels only. This is what brings the Destroyer aspect into activity, leading to eventual obscuration, and the physical “death” of the solar system. Indication that this aspect is coming into power will be seen when two great events transpire: [Page 558]

Thứ hai. Rằng toàn bộ phương diện tính dục của biểu hiện, như chúng ta hiểu nó trong các giới khác nhau của tự nhiên, là một biểu hiện của năng lượng của Thượng đế, khi nó tuôn chảy qua và kích thích trung tâm trong thân thể của Ngài tương ứng với các cơ quan sinh sản. Mọi chức năng sáng tạo của giới thực vật, giới động vật và gia đình nhân loại, xét như một toàn thể, cho đến nay vẫn thuần túy là hồng trần, và dựa trên dục vọng thấp. Dục vọng của Thượng đế đối với sự nhập thể hồng trần cho đến nay vẫn là chủ âm chi phối. Về sau dục vọng ấy của Ngài sẽ giảm đi và sẽ được chuyển hoá thành dục vọng chỉ sáng tạo trên các cấp độ trí tuệ. Chính điều này đưa phương diện Hủy Diệt vào hoạt động, dẫn đến sự lu mờ sau cùng, và “cái chết” hồng trần của hệ mặt trời. Dấu hiệu cho thấy phương diện này đang đi vào quyền lực sẽ được thấy khi hai biến cố lớn xảy ra: [Page 558]

a. The ability of man consciously to create on mental levels, and the consequent transmutation of his lower sex impulses into higher.

a. Khả năng của con người trong việc sáng tạo một cách hữu thức trên các cấp độ trí tuệ, và sự chuyển hoá tương ứng các xung lực tính dục thấp của y thành cao hơn.

b. The mental vitalisation of another large section of the animal kingdom.

b. Sự tiếp sinh lực trí tuệ cho một bộ phận lớn khác của giới động vật.

When these two things can be seen working out in any round, it will be indicative of a decided mental polarisation of the Logos; we can only become cognisant of this by studying His body of manifestation in its component parts.

Khi có thể thấy hai điều này đang diễn ra trong bất kỳ cuộc tuần hoàn nào, đó sẽ là dấu hiệu cho thấy sự phân cực trí tuệ rõ rệt của Thượng đế; chúng ta chỉ có thể nhận biết điều này bằng cách nghiên cứu thể biểu hiện của Ngài trong các thành phần cấu tạo của nó.

What is here predicated anent the logoic thought form can be equally well stated about that of a Heavenly Man, and a planetary scheme. As His cosmic polarisation becomes more mental, and as His cosmic desire nature becomes transmuted, the force that plays through His centres will correspondingly be seen to vary in direction; He will withdraw force from certain of His lower centres and globes; He will cease to be interested in physical incarnation, and He will eventually withdraw within Himself. His thought-form will show a gradual diminution of vitality; the dense physical globe will die and pass out of objectivity, and other globes will temporarily hold His life, though not for long. In due course of time the entire scheme will be obscured, and He will function only in His cosmic astral body.

Điều được khẳng định ở đây về Hình tư tưởng của Thượng đế cũng có thể được phát biểu tương tự về Hình tư tưởng của một Đấng Thiên Nhân, và của một hệ hành tinh. Khi sự phân cực vũ trụ của Ngài trở nên trí tuệ hơn, và khi bản chất dục vọng vũ trụ của Ngài được chuyển hoá, mãnh lực vận hành qua các trung tâm của Ngài cũng sẽ tương ứng mà thay đổi phương hướng; Ngài sẽ rút mãnh lực khỏi một số trung tâm và các bầu hành tinh thấp của Ngài; Ngài sẽ không còn quan tâm đến sự nhập thể hồng trần, và cuối cùng Ngài sẽ rút vào bên trong chính mình. Hình tư tưởng của Ngài sẽ cho thấy sự suy giảm sinh lực dần dần; bầu hành tinh hồng trần đậm đặc sẽ chết và ra khỏi tính khách quan, và các bầu hành tinh khác sẽ tạm thời giữ sự sống của Ngài, dù không lâu. Theo thời gian, toàn bộ hệ hành tinh sẽ bị lu mờ, và Ngài sẽ chỉ hoạt động trong thể cảm dục vũ trụ của Ngài.

Such is the case too with a chain and its informing Life, viewing a chain as simply a centre in the body of the planetary Logos, yet having its own central factor. This can be seen in the Moon in a most interesting way. The desire of its Occupant was no longer for physical manifestation; He therefore withdrew His life. All that is left is the devitalised shell; the two other aspects have gone and only the third aspect, the inherent life of matter itself, remains gradually to dissipate also as the centuries elapse. In connection with man, a similar condition [Page 559] is seen in the gradual disintegration of the physical body after death; the two other aspects are removed, and the form decays.

Trường hợp của một Dãy và Sự sống phú linh cho nó cũng vậy, nếu xem một Dãy chỉ đơn giản là một trung tâm trong thân thể của Hành Tinh Thượng Đế, nhưng vẫn có yếu tố trung tâm riêng của nó. Điều này có thể thấy nơi Mặt Trăng theo một cách rất lý thú. Dục vọng của Đấng Cư Ngụ trong đó không còn hướng đến biểu hiện hồng trần nữa; vì vậy Ngài đã rút sự sống của mình. Tất cả những gì còn lại là cái vỏ bị rút sinh lực; hai phương diện kia đã ra đi và chỉ còn phương diện thứ ba, tức sự sống cố hữu của chính vật chất, cũng đang dần dần tiêu tan theo dòng thế kỷ. Liên hệ đến con người, một tình trạng tương tự [Page 559] được thấy trong sự tan rã dần dần của thể xác sau khi chết; hai phương diện kia bị rút đi, và hình tướng phân huỷ.

As these fundamental facts are grasped, and man begins to appreciate his position as Creator, the entire aspect of the sex question will also change; and emphasis will be laid upon the laws of mental creation, on the formulation of thought-forms in a scientific manner, and the dense physical aspect of creation will be in abeyance. When this is so, then will man be coming into his divine right, and the human kingdom be fulfilling its legitimate function. The sex aspect—as at present expressing itself—and the whole process of reproduction is one which man shares with the animal kingdom, and is based upon his animal instincts, and his dense physical nature, which is not a principle. When he is totally emancipated from the animal kingdom, and the third and fourth kingdoms stand distinct from each other, then the sex nature, and the organs of reproduction will be viewed by the average man in a very different manner than at present. Creation will eventually be the result of thought impulses and not desire impulses; the process will be then (once the initial impulse on the mental plane has been given), as normal, as safe, and as unconscious as the act of breathing is now. When this is so (and the time is a long way ahead), physical reproduction will still continue, but the physical form will be spoken of in terms of concretion and of energy, and the emphasis will be laid upon that which is to be embodied. This stage will be entered upon when the functions of the etheric body are scientifically grasped and understood and the laws of creative thought are a matter of public knowledge and discussion; it will coincide with a period wherein the animal kingdom will again be under manasic impression, and individualisation will again be permitted.

Khi các sự kiện căn bản này được nắm bắt, và con người bắt đầu đánh giá vị trí của mình như một Đấng sáng tạo, toàn bộ phương diện của vấn đề tính dục cũng sẽ thay đổi; và sự nhấn mạnh sẽ được đặt lên các định luật của sự sáng tạo trí tuệ, lên việc hình thành các Hình tư tưởng theo cách khoa học, còn phương diện hồng trần đậm đặc của sự sáng tạo sẽ ở trong trạng thái đình chỉ. Khi điều này xảy ra, con người sẽ đi vào quyền thiêng liêng của mình, và giới nhân loại sẽ hoàn thành chức năng chính đáng của nó. Phương diện tính dục—như hiện nay đang biểu lộ—và toàn bộ tiến trình sinh sản là điều mà con người chia sẻ với giới động vật, và dựa trên các bản năng động vật của y, cùng bản chất hồng trần đậm đặc của y, vốn không phải là một nguyên khí. Khi y hoàn toàn được giải phóng khỏi giới động vật, và giới thứ ba cùng giới thứ tư đứng tách biệt rõ ràng với nhau, thì bản chất tính dục và các cơ quan sinh sản sẽ được con người trung bình nhìn theo một cách rất khác với hiện nay. Sự sáng tạo cuối cùng sẽ là kết quả của các xung lực tư tưởng chứ không phải các xung lực dục vọng; khi đó tiến trình sẽ (một khi xung lực ban đầu trên cõi trí đã được đưa ra) bình thường, an toàn và vô thức như hành động hô hấp hiện nay. Khi điều này xảy ra (và thời điểm ấy còn rất xa), sự sinh sản hồng trần vẫn sẽ tiếp tục, nhưng hình tướng hồng trần sẽ được nói đến theo các thuật ngữ của sự làm cho cụ thể và của năng lượng, và sự nhấn mạnh sẽ được đặt lên điều sẽ được nhập thể. Giai đoạn này sẽ được bước vào khi các chức năng của thể dĩ thái được nắm bắt và thấu hiểu một cách khoa học, và các định luật của tư tưởng sáng tạo trở thành vấn đề tri thức và thảo luận công khai; nó sẽ trùng hợp với một thời kỳ trong đó giới động vật lại chịu ấn tượng manas, và sự biệt ngã hóa lại được cho phép.

[Page 560] It will be generally recognised at that time that Spirit-matter are two aspects of the one Unity, and the present terminology of Spirit, and material substance, will have given place to the broader concept of negative and positive energy as the two aspects of the One Energy. All phenomena will then be expressed in force terms, and the sex question—or the union of the male and female, the negative and the positive, on the physical plane—will be redeemed and purified.

[Page 560] Khi ấy, người ta sẽ nhìn nhận một cách phổ biến rằng tinh thần-vật chất là hai phương diện của một Hợp Nhất duy nhất, và thuật ngữ hiện nay về tinh thần và chất liệu vật chất sẽ nhường chỗ cho khái niệm rộng hơn về năng lượng âm và dương như hai phương diện của Một Năng Lượng. Khi đó mọi hiện tượng sẽ được diễn tả bằng các thuật ngữ của mãnh lực, và vấn đề tính dục—hay sự kết hợp của nam và nữ, âm và dương, trên cõi hồng trần—sẽ được cứu chuộc và thanh lọc.

An embodied idea, therefore, is literally a positive impulse, emanating from mental levels, and clothing itself in a veil of negative substance. These two factors in turn will be regarded as emanations from a still greater force centre, which is expressing purpose through them both.

Do đó, một ý tưởng nhập thể theo nghĩa đen là một xung lực dương, phát ra từ các cấp độ trí tuệ, và tự khoác lấy một màn che bằng chất liệu âm. Đến lượt mình, hai yếu tố này sẽ được xem như các phát xạ từ một trung tâm mãnh lực còn lớn hơn nữa, đang biểu lộ mục đích qua cả hai.

A thought form, as constructed by man, is the union of a positive emanation and a negative. These two are the emanations of a Unity, the coherent Thinker.

Một Hình tư tưởng, như được con người kiến tạo, là sự kết hợp của một phát xạ dương và một phát xạ âm. Hai điều này là các phát xạ của một Hợp Nhất, tức Đấng Tư Tưởng cố kết.

c. To Carry Out Specific Purpose. We touch here upon the most vital element in the building of thoughtforms. In our first point we touched upon the aspect of consciousness, or “response to sensation, or feeling,” and thus brought into our study of the building process the second aspect logoic, that of the Ego, or the realisation of essential duality. In our second point the more objective aspect was somewhat elaborated, and the tangible form dealt with, thus bringing in the third logoic aspect, that of intelligent substance, or that through which consciousness seeks expression. Now the will or purpose aspect is to be considered, bringing therefore the first aspect logoic, or the “will-to-be” to the fore. When this third point is meditated upon with care, it will be noted (as might be expected) that it includes the other two, and synthesises them.

c. Thực hiện một mục đích đặc thù. Ở đây chúng ta chạm đến yếu tố sinh tử nhất trong việc xây dựng các Hình tư tưởng. Ở điểm thứ nhất, chúng ta đã chạm đến phương diện tâm thức, hay “đáp ứng với cảm giác, hay cảm thọ,” và như vậy đã đưa vào công trình nghiên cứu về tiến trình xây dựng phương diện Thượng đế thứ hai, tức chân ngã, hay sự chứng nghiệm về tính nhị nguyên căn yếu. Ở điểm thứ hai, phương diện khách quan hơn đã được khai triển phần nào, và hình tướng hữu hình đã được bàn đến, do đó đưa vào phương diện Thượng đế thứ ba, tức chất liệu thông tuệ, hay điều mà qua đó tâm thức tìm cách biểu lộ. Giờ đây phương diện ý chí hay mục đích cần được xem xét, do đó đưa phương diện Thượng đế thứ nhất, hay “ý chí hiện hữu”, ra tiền cảnh. Khi điểm thứ ba này được tham thiền cẩn trọng, sẽ thấy (như có thể chờ đợi) rằng nó bao gồm hai điểm kia và tổng hợp chúng.

Certain factors must be borne in mind as we consider these words “specific purpose.” By their tabulation [Page 561] we shall endeavour to make as clear as may be, this very complex matter. The ideas involved are:

Một số yếu tố phải được ghi nhớ khi chúng ta xem xét các từ “mục đích đặc thù” này. Bằng cách liệt kê chúng [Page 561] chúng ta sẽ cố gắng làm cho vấn đề rất phức tạp này sáng tỏ hết mức có thể. Các ý tưởng liên hệ là:

The Factor of Identity. Specific purpose is the practical application of the will, or intent, of a conscious intelligent Existence as it shows itself in:

Yếu tố Bản sắc. Mục đích đặc thù là sự ứng dụng thực tiễn của ý chí, hay chủ ý, của một Hiện Hữu hữu thức và thông tuệ như nó biểu lộ trong:

a. Its source

a. Nguồn gốc của nó

b. Its mission

b. Sứ mệnh của nó

c. Its method

c. Phương pháp của nó

d. Its objective.

d. Mục tiêu của nó.

All these will vary according to the nature of the emanating Identity. All thought forms—logoic, planetary, and human—(for no other entities of lesser grade work as mental creators), emanate from a mind, are built for the purpose of carrying out some active work, demonstrate under set rules and laws, and have a definite goal, or expected consummation.

Tất cả những điều này sẽ thay đổi tùy theo bản chất của Bản Sắc phát xạ. Mọi Hình tư tưởng—của Thượng đế, hành tinh và con người—(vì không có thực thể nào khác ở cấp thấp hơn làm việc như những đấng sáng tạo trí tuệ), đều phát ra từ một trí tuệ, được xây dựng nhằm thực hiện một công việc hoạt động nào đó, biểu lộ dưới các quy luật và định luật nhất định, và có một mục tiêu xác định, hay một sự hoàn tất được mong đợi.

The Factor of Time. Specific purpose in the solar system is the gradual evolution of a definite plan originating in the Mind of the Logos, and slowly, and cyclically, achieving consummation. Three vast periods of time are consumed in the process:

Yếu tố Thời gian. Mục đích đặc thù trong hệ mặt trời là sự tiến hoá dần dần của một thiên cơ xác định bắt nguồn trong Trí của Thượng đế, và chậm rãi, theo chu kỳ, đạt đến sự hoàn tất. Ba thời kỳ thời gian rộng lớn được dùng trong tiến trình này:

The period of construction, wherein the form is built.

Thời kỳ kiến tạo, trong đó hình tướng được xây dựng.

The period of utilisation, wherein the form is occupied, vitalised by a central Life, and employed.

Thời kỳ sử dụng, trong đó hình tướng được cư ngụ, được một Sự sống trung tâm tiếp sinh lực, và được sử dụng.

The period of dissolution, wherein the form is devitalised, destroyed and dissipated.

Thời kỳ tan rã, trong đó hình tướng bị rút sinh lực, bị phá huỷ và bị làm tiêu tan.

In the first stage, that which concerns the tangible, that which deals with objectivity, is the more emphasised, and of supreme importance. In the second stage, the life within the form, or the subjective consciousness, comes gradually to the fore, and the quality, or the psyche of the thought-form, becomes apparent. In the final stage, the thought form (having performed its mission), separates into its basic duality, and will or energy (which lies, as a unity, back of duality), ceases in intent. [Page 562] The objective life (spiritual life where cosmic thought-forms are concerned; manasic life when solar thought-forms are constructed; and elemental life where human thought-forms are built) withdraws and the form dissipates.

Trong giai đoạn thứ nhất, điều liên hệ đến cái hữu hình, điều liên hệ đến tính khách quan, được nhấn mạnh hơn và có tầm quan trọng tối thượng. Trong giai đoạn thứ hai, sự sống bên trong hình tướng, hay tâm thức chủ quan, dần dần đi ra tiền cảnh, và phẩm tính, hay linh hồn của Hình tư tưởng, trở nên hiển lộ. Trong giai đoạn cuối cùng, Hình tư tưởng (sau khi đã hoàn thành sứ mệnh của nó), tách ra thành tính nhị nguyên căn bản của nó, và ý chí hay năng lượng (vốn, như một hợp nhất, nằm phía sau nhị nguyên tính), chấm dứt chủ ý. [Page 562] Sự sống khách quan (tinh thần khi liên hệ đến các Hình tư tưởng vũ trụ; manas khi các Hình tư tưởng thái dương được kiến tạo; và hành khí khi các Hình tư tưởng của con người được xây dựng) rút đi và hình tướng tiêu tan.

In all these cases it will be apparent that only in the study of the development of the quality of the thought-form will its inherent purpose be revealed; only as its emanative processes are comprehended will the nature of its mission become recognisable. This is true fundamentally of all forms. Where the relatively unimportant forms—such as those constructed by man at this time—are concerned, this can easily be discovered, and to the trained clairvoyant each form reveals:

Trong mọi trường hợp này, sẽ rõ rằng chỉ trong việc nghiên cứu sự phát triển của phẩm tính của Hình tư tưởng thì mục đích cố hữu của nó mới được mặc khải; chỉ khi các tiến trình phát xạ của nó được thấu hiểu thì bản chất sứ mệnh của nó mới có thể được nhận ra. Điều này về căn bản là đúng với mọi hình tướng. Khi liên hệ đến các hình tướng tương đối không quan trọng—chẳng hạn như những hình do con người hiện nay kiến tạo—điều này có thể được khám phá dễ dàng, và đối với nhà thông nhãn lão luyện, mỗi hình tướng đều bộc lộ:

By its colour,

Qua màu sắc của nó,

By its vibration,

Qua rung động của nó,

By its direction,

Qua phương hướng của nó,

By its keynote,

Qua chủ âm của nó,

the nature of the inner life, the quality of its vibration and the nature of its goal. In the summation of all these points will the purpose reveal itself.

bản chất của sự sống bên trong, phẩm tính của rung động của nó và bản chất của mục tiêu của nó. Trong sự tổng hợp của tất cả các điểm này, mục đích sẽ tự bộc lộ.

The Factor of Karma. Every thought-form comes under the law of Karma through the effect it produces. At this stage in the history of the system—that vast transitional stage between dense physical life and existence in the logoic etheric body—it is not easy for us to differentiate between those thought forms which are effects and those which are causes. It should be remembered here that only cosmic and solar lords formulate thoughts. The lunar Lords and all lesser intelligences do not do so. Therefore, the two above mentioned groups come under karmic law. They only are self-conscious, and therefore responsible. Where self-consciousness is not, there is no responsibility. Hence animals are not held to be responsible, and though they [Page 563] suffer on the physical plane and in their physical vehicles, on the subtler planes they are freed from karma, for they have neither memory nor anticipation; they lack the correlating faculty and as the spark of mind is missing, they are held free from the law of retribution, except where the physical body is concerned. The reason for the suffering in the animal kingdom is hidden in the mystery of the sin of the mindless, (180) and in that terrible period spoken of in the Secret Doctrine, which resulted in abortions and distortions of all kinds. Had this period not occurred, and this particular type of “miscarriage of purpose” not taken place, we should not have had the fearful karmic relationship which now exists between the third and the fourth kingdom.

Yếu tố Nghiệp quả. Mọi Hình tư tưởng đều nằm dưới định luật Nghiệp quả qua hiệu quả mà nó tạo ra. Ở giai đoạn này trong lịch sử của hệ thống—giai đoạn chuyển tiếp rộng lớn giữa sự sống hồng trần đậm đặc và sự hiện hữu trong thể dĩ thái của Thượng đế—chúng ta không dễ phân biệt giữa những Hình tư tưởng là kết quả và những Hình tư tưởng là nguyên nhân. Ở đây cần nhớ rằng chỉ các chúa tể vũ trụ và thái dương mới hình thành tư tưởng. Các nguyệt tinh quân và mọi trí tuệ thấp hơn thì không. Do đó, hai nhóm vừa nêu ở trên nằm dưới định luật nghiệp quả. Chỉ các Ngài là có ngã thức, và vì vậy có trách nhiệm. Nơi nào không có ngã thức, nơi đó không có trách nhiệm. Vì thế động vật không bị xem là có trách nhiệm, và dù chúng [Page 563] chịu đau khổ trên cõi hồng trần và trong các vận cụ hồng trần của chúng, trên các cõi vi tế hơn chúng được giải thoát khỏi nghiệp quả, vì chúng không có ký ức cũng không có sự dự liệu; chúng thiếu năng lực tương liên và vì tia lửa trí tuệ còn thiếu, chúng được xem là không bị định luật báo ứng chi phối, ngoại trừ nơi thể xác. Lý do của đau khổ trong giới động vật được che giấu trong huyền nhiệm về tội lỗi của những kẻ vô trí, (180) và trong thời kỳ khủng khiếp được nói đến trong Giáo Lý Bí Nhiệm, thời kỳ đã dẫn đến các sự sẩy thai và biến dạng đủ loại. Nếu thời kỳ ấy đã không xảy ra, và loại “sẩy thai của mục đích” đặc biệt này đã không diễn ra, thì chúng ta đã không có mối liên hệ nghiệp quả đáng sợ hiện đang tồn tại giữa giới thứ ba và giới thứ tư.

(180) The sin of the Mindless. See S. D., II, 195, 201. This sin has to do with the period of the Separation of the Sexes in the early third rootrace, the Lemurian. The same historical fact is hinted at also in the Bible in Genesis VI, 2:4.

(180) Tội lỗi của những kẻ vô trí. Xem S. D., II, 195, 201. Tội lỗi này liên hệ đến thời kỳ Phân Ly Giới Tính trong giống dân gốc thứ ba thời kỳ đầu, tức Lemuria. Sự kiện lịch sử này cũng được ám chỉ trong Kinh Thánh, Sáng Thế Ký VI, 2:4.

“They (the sexes) had already separated before the ray of divine reason had enlightened the dark region of their hitherto slumbering minds, and had sinned. That is to say, they had committed evil unconsciously by producing an effect which was unnatural.”

“Họ (hai giới tính) đã phân ly trước khi tia lý trí thiêng liêng soi sáng miền tối tăm của các trí tuệ bấy lâu còn ngủ yên của họ, và họ đã phạm tội. Nghĩa là, họ đã vô thức làm điều ác bằng cách tạo ra một hiệu quả trái tự nhiên.”

See also S. D., II, 721, 728. (back)

Xem thêm S. D., II, 721, 728. (back)

The effect of the life and persistence of a thought-form, if maleficent and destructive, works out as “evil karma” if beneficent it works as “good karma” in the group in which the emanator has a place. This is what is meant by there being no karma attached to the working out of a good and altruistic deed.

Hiệu quả của sự sống và sự tồn tại dai dẳng của một Hình tư tưởng, nếu ác hại và phá hoại, sẽ biểu lộ thành “nghiệp xấu”; nếu thiện lành, nó sẽ biểu lộ thành “nghiệp tốt” trong nhóm mà đấng phát xạ có vị trí. Đây là điều được hàm ý khi nói rằng không có nghiệp quả gắn với việc thực hiện một hành động tốt lành và vị tha.

S5S12

The Factor of the Lesser Builders. Here a most interesting factor comes in upon which we shall enlarge later, when considering the elementals. The specific purpose of a thought-form is connected very closely with the type of deva essence of which it is constructed, and (in connection with man on the mental plane), with the type of elemental which he can control, and send forth as the occupier, or vitalising agency of the thoughtform. Roughly speaking, a solar Logos works only through the greater Builders, the Manasaputras in Their [Page 564] various grades on the two higher planes of the solar system. He works through Them, and sends Them forth upon the mission of constructing, and vitalising the systemic thought-form, with a specific purpose in view. The planetary Logoi work primarily through the Builders of the next three planes (atma-buddhi-manas), who construct and control the work of the planetary schemes. Men work through the builders of the lower mental planes, and the astral plane, for the human thought-forms are kama-manasic; the physical plane builders are swept automatically into action by the force of the currents, and energies set up in subtler matter, by the great Builders.

Yếu tố của các vị tiểu kiến tạo. Ở đây xuất hiện một yếu tố rất lý thú mà chúng ta sẽ khai triển thêm về sau khi xét đến các hành khí. Mục đích đặc thù của một Hình tư tưởng liên hệ rất chặt chẽ với loại tinh chất thiên thần mà nó được cấu tạo từ đó, và (liên hệ đến con người trên cõi trí), với loại hành khí mà y có thể kiểm soát, và phóng ra như kẻ cư ngụ, hay tác nhân tiếp sinh lực của Hình tư tưởng. Nói một cách khái quát, một Thái dương Thượng đế chỉ làm việc qua các đấng đại kiến tạo, các Manasaputra ở các cấp bậc khác nhau của Các Ngài trên hai cõi cao hơn của hệ mặt trời. Ngài làm việc qua Các Ngài, và phóng Các Ngài ra với sứ mệnh kiến tạo và tiếp sinh lực cho Hình tư tưởng hệ thống, với một mục đích đặc thù trong tầm nhìn. Các Hành Tinh Thượng Đế làm việc chủ yếu qua các đấng kiến tạo của ba cõi kế tiếp (atma-buddhi-manas), những vị kiến tạo và kiểm soát công việc của các hệ hành tinh. Con người làm việc qua các đấng kiến tạo của các cõi hạ trí và cõi cảm dục, vì các Hình tư tưởng của con người là trí-cảm; các đấng kiến tạo cõi hồng trần tự động bị cuốn vào hoạt động bởi sức mạnh của các dòng và năng lượng được thiết lập trong chất liệu vi tế hơn bởi các đấng đại kiến tạo.

The inserted tabulation [below] may make this clear.

Bảng liệt kê được chèn vào [bên dưới] có thể làm sáng tỏ điều này.

If the table is carefully studied, it will be seen that the fivefold earlier enumeration concerns the most important kingdoms in nature, whilst the final two are peculiarly interesting in that the mineral kingdom can in no sense be considered a principle, but simply the densest point of concretion of the abstract, and that the vegetable kingdom has a peculiar place in the economy of the system as the transmitter of the vital pranic fluid; the vegetable kingdom is definitely a bridge between the conscious and the unconscious. Here I am using these words in their broadest and most general sense. Though it is known that the mineral kingdom has a consciousness of its own, yet sensation is more distinctly recognisable in the second kingdom, and the distinction between the consciousness of the mineral and that of the animal is so vast that their respective consciousnesses are basically unlike. Between these stands the vegetable kingdom, approximating more generally the animal consciousness than the mineral, and having a most esoteric relationship to the deva evolution. [Page 565]

Nếu bảng được nghiên cứu cẩn thận, sẽ thấy rằng sự liệt kê ngũ phân trước đó liên hệ đến các giới quan trọng nhất trong tự nhiên, trong khi hai giới cuối cùng đặc biệt lý thú ở chỗ giới kim thạch không thể theo bất kỳ nghĩa nào được xem là một nguyên khí, mà chỉ đơn giản là điểm làm cho cụ thể đậm đặc nhất của cái trừu tượng, và giới thực vật có một vị trí đặc biệt trong sự tiết kiệm của hệ thống như là bộ truyền dẫn lưu chất prana sinh lực; giới thực vật rõ ràng là một cây cầu giữa cái hữu thức và cái vô thức. Ở đây tôi đang dùng các từ này theo nghĩa rộng nhất và tổng quát nhất của chúng. Dù người ta biết rằng giới kim thạch có một tâm thức riêng của nó, tuy nhiên cảm giác được nhận ra rõ rệt hơn trong giới thứ hai, và sự khác biệt giữa tâm thức của giới kim thạch và của giới động vật lớn đến mức các tâm thức tương ứng của chúng về căn bản là không giống nhau. Giữa hai giới ấy là giới thực vật, nhìn chung gần với tâm thức động vật hơn là tâm thức khoáng vật, và có một mối liên hệ hết sức huyền bí với sự tiến hoá thiên thần. [Page 565]

TABULATION IV

BẢNG IV

THE BUILDING ENTITIES

CÁC THỰC THỂ KIẾN TẠO

Quality

Entity

Centre

Personality

Kingdom

1.

Atma

Logos

Head (Brain)

Grand Heavenly Man

Seventh

Unity

2-3

Buddhi manas

Planetary Logos

Heart and Throat

Heavenly Men

Sixth and Fifth

Duality

4.

Mental

Man

Solar Plexus Base of the Spine

Man

Fourth

Triplicity

5.

Astral

Animal

Generative Organs

Third

Duality

6.

Etheric

Vegetable

Spleen

Second

Transitional

7.

Dense

Mineral

None

First

Unity