Trích nội dung chương
There are three great laws, that we might term the fundamental laws of the cosmos, of that greater system (recognised by all astronomers), of which we form a part, and seven laws inherent in the solar system. These seven we might consider secondary laws, though, from the standpoint of humanity, they appear as major ones. Có ba định luật lớn mà chúng ta có thể gọi là các định luật nền tảng của vũ trụ, của hệ thống lớn hơn ấy (được mọi nhà thiên văn học công nhận) mà chúng ta là một phần trong đó, và có bảy định luật vốn có trong hệ mặt trời. Bảy định luật này chúng ta có thể xem là các định luật thứ yếu, mặc dù, từ quan điểm của nhân loại…
Cosmic Fire S6
S6S1
2. The Laws of Thought.
2. Các Định luật của Tư tưởng.
There are three great laws, that we might term the fundamental laws of the cosmos, of that greater system (recognised by all astronomers), of which we form a part, and seven laws inherent in the solar system. These seven we might consider secondary laws, though, from the standpoint of humanity, they appear as major ones.
Có ba định luật lớn mà chúng ta có thể gọi là các định luật nền tảng của vũ trụ, của hệ thống lớn hơn ấy (được mọi nhà thiên văn học công nhận) mà chúng ta là một phần trong đó, và có bảy định luật vốn có trong hệ mặt trời. Bảy định luật này chúng ta có thể xem là các định luật thứ yếu, mặc dù, từ quan điểm của nhân loại, chúng xuất hiện như những định luật chính yếu.
a. Three Cosmic Laws. The first of the cosmic laws is the Law of Synthesis. It is almost impossible for those of us who have not the buddhic faculty in any way developed, to comprehend the scope of this law. It is the law that demonstrates the fact that all things—abstract and concrete—exist as one; it is the law governing the thought form of that One of the cosmic Logoi [Page 568] in Whose consciousness both our system, and our greater centre, have a part. It is a unit of His thought, a thought form in its entirety, a concrete whole, and not the differentiated process that we feel our evolving system to be. It is the sumtotal, the centre and the periphery, and the circle of manifestation regarded as a unit.
a. Ba Định luật Vũ trụ. Định luật vũ trụ thứ nhất là Định luật Tổng Hợp. Hầu như không thể để những người trong chúng ta, là những người chưa phát triển năng lực Bồ đề theo bất kỳ cách nào, có thể hiểu được phạm vi của định luật này. Đây là định luật biểu thị sự kiện rằng mọi sự—trừu tượng và cụ thể—đều hiện hữu như một; đây là định luật chi phối hình tư tưởng của một trong các Thượng đế vũ trụ ấy [Page 568] trong tâm thức của Ngài, cả hệ thống của chúng ta lẫn trung tâm lớn hơn của chúng ta đều có một phần. Nó là một đơn vị trong tư tưởng của Ngài, một hình tư tưởng trong tính toàn vẹn của nó, một toàn thể cụ thể, chứ không phải tiến trình phân biệt mà chúng ta cảm thấy hệ thống đang tiến hoá của mình là như vậy. Nó là tổng thể, là trung tâm và chu vi, và là vòng tròn biểu hiện được xem như một đơn vị.
The second law is the Law of Attraction and Repulsion. Fundamentally, the law describes the compelling force of attraction that holds our solar system to the Sirian; that holds our planets revolving around our central unit, the sun; that holds the lesser systems of atomic and molecular matter circulating around a centre in the planet; and that holds the matter of all physical plane bodies, and that of the subtle bodies co-ordinated around their microcosmic centre.
Định luật thứ hai là Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi. Về căn bản, định luật này mô tả mãnh lực hấp dẫn cưỡng bách giữ hệ mặt trời của chúng ta với hệ Sirian; giữ các hành tinh của chúng ta quay quanh đơn vị trung tâm của chúng ta là mặt trời; giữ các hệ thống nhỏ hơn của vật chất nguyên tử và phân tử lưu chuyển quanh một trung tâm trong hành tinh; và giữ vật chất của mọi thể cõi hồng trần, cũng như của các thể vi tế, được phối hợp quanh trung tâm tiểu thiên địa của chúng.
The third law is the Law of Economy, and is the law which adjusts all that concerns the material and spiritual evolution of the cosmos to the best possible advantage and with the least expenditure of force. It makes perfect each atom of time, and each eternal period, and carries all onward, and upward, and through, with the least possible effort, with the proper adjustment of equilibrium, and with the necessary rate of rhythm. Unevenness of rhythm is really an illusion of time, and does not exist in the cosmic centre. We need to ponder on this, for it holds the secret of peace, and we need to grasp the significance of that word through, for it describes the next racial expansion of consciousness, and has an occult meaning.
Định luật thứ ba là Định luật Tiết Kiệm, và là định luật điều chỉnh mọi điều liên quan đến sự tiến hoá vật chất và tinh thần của vũ trụ sao cho đạt lợi ích tốt nhất có thể với sự tiêu hao mãnh lực ít nhất. Nó làm cho mỗi nguyên tử thời gian và mỗi chu kỳ vĩnh cửu trở nên hoàn hảo, và mang mọi sự tiến lên, đi lên, và xuyên qua, với nỗ lực ít nhất có thể, với sự điều chỉnh quân bình thích đáng, và với nhịp điệu cần thiết. Sự không đều của nhịp điệu thật ra là một ảo tưởng của thời gian, và không tồn tại trong trung tâm vũ trụ. Chúng ta cần suy ngẫm về điều này, vì nó nắm giữ bí mật của bình an, và chúng ta cần nắm được thâm nghĩa của từ xuyên qua, vì nó mô tả sự mở rộng tâm thức kế tiếp của nhân loại, và có một ý nghĩa huyền bí.
In the nomenclature of these laws much is lost, for it is well nigh impossible to resolve abstractions into the terms of speech, and not lose the inner sense in the process. In these laws we again have the threefold idea demonstrated, and the correspondence, as might be expected, holds good. [Page 569]
Trong danh xưng của các định luật này, nhiều điều bị mất đi, vì gần như không thể chuyển các điều trừu tượng thành ngôn từ mà không làm mất ý nghĩa bên trong trong tiến trình ấy. Trong các định luật này, chúng ta lại thấy ý tưởng tam phân được biểu lộ, và sự tương ứng, như có thể mong đợi, vẫn đúng. [Page 569]
The Law of Synthesis
The Will Aspect
1st Aspect.
The Law of Attraction
The Love Aspect
2nd Aspect.
The Law of Economy
The Activity Aspect
3rd Aspect.
b. Seven Systemic Laws.—Subsidiary to the three major laws, we find the seven laws of our solar system. Again we find the law of analogy elucidating, and the three becoming the seven as elsewhere in the logoic scheme. In each of these seven laws we find an interesting correlation with the seven planes. They are:
b. Bảy Định luật của Hệ thống.—Phụ thuộc vào ba định luật chính yếu, chúng ta thấy có bảy định luật của hệ mặt trời chúng ta. Một lần nữa, chúng ta thấy định luật tương đồng làm sáng tỏ, và ba trở thành bảy như ở nơi khác trong hệ thống của Thượng đế. Trong mỗi định luật trong bảy định luật này, chúng ta thấy một sự tương quan thú vị với bảy cõi. Chúng là:
1. The Law of Vibration, the basis of manifestation, starting on the first plane. This is the atomic law of the system, in the same sense that on each of our planes the first subplane is the atomic plane.
1. Định luật Rung động, nền tảng của biểu hiện, khởi đầu trên cõi thứ nhất. Đây là định luật nguyên tử của hệ thống, theo cùng ý nghĩa như trên mỗi cõi của chúng ta, cõi phụ thứ nhất là cõi nguyên tử.
2. The law of Cohesion. On the second plane cohesion is first apparent. It is the first molecular plane of the system, and is the home of the Monad. Divine coherency is demonstrated.
2. Định luật Kết dính. Trên cõi thứ hai, sự kết dính lần đầu tiên trở nên hiển nhiên. Đây là cõi phân tử thứ nhất của hệ thống, và là nơi cư ngụ của chân thần. Sự kết dính thiêng liêng được biểu lộ.
3. The Law of Disintegration. On the third plane comes the final casting-off, the ultimate shedding of the sheaths, of the fivefold superman. A Chohan of the sixth Initiation discards all the sheaths beneath the monadic vehicle, from the atmic to the physical.
3. Định luật Phân giải. Trên cõi thứ ba diễn ra sự từ bỏ sau cùng, sự cởi bỏ tối hậu các lớp vỏ của siêu nhân ngũ phân. Một Chohan của lần điểm đạo thứ sáu loại bỏ tất cả các lớp vỏ bên dưới vận cụ chân thần, từ atma xuống đến hồng trần.
4. The Law of Magnetic Control holds sway paramountly on the buddhic plane, and in the development of the control of this law lies hid the control of the personality by the Monad via the egoic body.
4. Định luật Kiểm soát Từ tính ngự trị tối cao trên cõi Bồ đề, và trong sự phát triển của việc kiểm soát định luật này ẩn giấu sự kiểm soát phàm ngã của chân thần thông qua thể chân ngã.
5. The Law of Fixation demonstrates principally on the mental plane and has a close connection with manas, the fifth principle. The mind controls and stabilises, and cohereney is the result.
5. Định luật Cố định biểu lộ chủ yếu trên cõi trí và có liên hệ mật thiết với manas, nguyên khí thứ năm. Trí tuệ kiểm soát và ổn định, và kết quả là sự kết dính.
6. The Law of Love is the law of the astral plane. It aims at the transmutation of the desire nature, and links it up with the greater magnetism of the love aspect on the buddhic plane.
6. Định luật Bác ái là định luật của cõi cảm dục. Nó nhắm đến sự chuyển hoá bản chất dục vọng, và nối kết nó với từ điện lớn hơn của phương diện bác ái trên cõi Bồ đề.
7. The Law of Sacrifice and Death is the controlling factor on the physical plane. The destruction of the form, in order that the evolving life may progress, is one of the fundamental methods in evolution.
7. Định luật Hi sinh và Tử vong là yếu tố kiểm soát trên cõi hồng trần. Sự hủy diệt hình tướng, để sự sống đang tiến hoá có thể tiến bộ, là một trong những phương pháp nền tảng trong tiến hoá.
The Intermediate Law of Karma.—There is also an intermediate law, which is the synthetic law of the system [Page 570] of Sirius. This law is called by the generic term, the Law of Karma, and really predicates the effect the Sirian system has on our solar system. Each of the two systems, as regards its internal economy, is independent in time and space, or (in other words), in manifestation. We have practically no effect on our parent system, the reflex action is so slight as to be negligible, but very definite effects are felt in our system through causes arising in Sirius. These causes, when experienced as effects, are called by us the Law of Karma, and at the beginning they started systemic Karma which, once in effect, constitutes that which is called Karma in our occult and oriental literature.
Định luật Trung gian của Nghiệp quả.—Cũng có một định luật trung gian, là định luật tổng hợp của hệ thống [Page 570] của Sirius. Định luật này được gọi bằng thuật ngữ tổng quát là Định luật Nghiệp quả, và thực sự xác định ảnh hưởng mà hệ thống Sirian có trên hệ mặt trời của chúng ta. Mỗi hệ thống trong hai hệ thống này, xét về sự vận hành nội tại của nó, đều độc lập trong thời gian và không gian, hay nói cách khác, trong biểu hiện. Chúng ta hầu như không có ảnh hưởng nào trên hệ thống mẹ của mình; phản tác động quá nhỏ đến mức có thể bỏ qua, nhưng những ảnh hưởng rất xác định được cảm nhận trong hệ thống chúng ta qua các nguyên nhân phát sinh trong Sirius. Các nguyên nhân này, khi được trải nghiệm như các kết quả, được chúng ta gọi là Định luật Nghiệp quả, và lúc khởi đầu chúng đã tạo ra nghiệp quả của hệ thống, một khi đã có hiệu lực thì cấu thành điều được gọi là Nghiệp quả trong văn liệu huyền bí và Đông phương của chúng ta.
The Lipika Lords of our system, the systemic Lords of Karma, are under the rule of a greater corresponding Lord on Sirius.
Các Đấng Lipika của hệ thống chúng ta, các Đấng Chúa Tể Nghiệp quả của hệ thống, ở dưới quyền cai quản của một Đấng Chúa Tể tương ứng lớn hơn trên Sirius.
We have therefore:
Do đó, chúng ta có:
1. The three cosmic laws of Synthesis, Attraction and Economy.
1. Ba định luật vũ trụ là Tổng Hợp, Hấp Dẫn và Tiết Kiệm.
2. The Sirian law of Karma.
2. Định luật Nghiệp quả của Sirius.
3. The seven laws of the solar system.
3. Bảy định luật của hệ mặt trời.
As we have been told, our seven major vibrations are the vibrations of the lowest cosmic plane; there is our habitat. Our Logos Himself, the heart of His system, is on the cosmic astral plane; he is polarised there. Just as the units of the fourth Creative Hierarchy, the human, are evolving through the use of physical bodies, but are polarised at this time in their astral vehicles, so we have seen that the objective solar system forms the physical body of the Logos, though His polarity is in His astral body. It is significant that in this greater manvantara, the Logos is to take the fourth cosmic Initiation. A hint which may enlighten lies in the correspondence which exists between this statement and the [Page 571] fourth root-race development, and this, the fourth or astral round. (181)
Như chúng ta đã được cho biết, bảy rung động chính yếu của chúng ta là các rung động của cõi vũ trụ thấp nhất; đó là nơi cư ngụ của chúng ta. Chính Thượng đế của chúng ta, trái tim của hệ thống của Ngài, ở trên cõi cảm dục vũ trụ; Ngài phân cực ở đó. Cũng như các đơn vị của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, tức nhân loại, đang tiến hoá qua việc sử dụng các thể xác, nhưng hiện nay lại phân cực trong các vận cụ cảm dục của họ, thì chúng ta đã thấy rằng hệ mặt trời khách quan tạo thành thể xác của Thượng đế, mặc dù sự phân cực của Ngài ở trong thể cảm dục của Ngài. Điều đáng lưu ý là trong đại giai kỳ sinh hóa lớn hơn này, Thượng đế sẽ tiếp nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ tư. Một gợi ý có thể soi sáng nằm trong sự tương ứng hiện tồn giữa phát biểu này và sự phát triển của giống dân gốc thứ tư, [Page 571] và cuộc tuần hoàn thứ tư này, tức cuộc tuần hoàn cảm dục. (181)
(181) The present Round, which is the fourth, is the one in which desire, or response to contact and sensation is being brought to its fullest expression. In the next round, the fifth, the fifth principle of mind, or manas, will reach fruition. (back)
(181) Cuộc tuần hoàn hiện nay, là cuộc tuần hoàn thứ tư, là cuộc tuần hoàn trong đó dục vọng, hay sự đáp ứng với tiếp xúc và cảm giác, đang được đưa đến biểu hiện đầy đủ nhất. Trong cuộc tuần hoàn kế tiếp, cuộc tuần hoàn thứ năm, nguyên khí thứ năm là trí tuệ, hay manas, sẽ đạt đến kết quả viên mãn. (trở lại)
The system of the Sirian Logos is on the cosmic mental plane, and in a subtle way, incomprehensible to us, our Logos, with His system, forms a part of a still greater Logos. This does not involve loss of identity, though the matter is too abstruse to express more adequately. It is in this analogy that the basic idea can be found of all teaching given out about the Grand Heavenly Man. The whole conception of these laws is bound up in this idea. We have the three laws of the cosmic higher planes, holding in a synthesis of beauty the greater and the lesser system. Next we have the great law of Sirius, the Law of Karma, on the third subplane of the cosmic mental plane, which law really controls our Logos, and His actions, in the same way as the ego—in due course of evolution—controls the human personality.
Hệ thống của Thượng đế Sirian ở trên cõi trí vũ trụ, và theo một cách vi tế, không thể hiểu được đối với chúng ta, Thượng đế của chúng ta, cùng với hệ thống của Ngài, tạo thành một phần của một Thượng đế còn lớn hơn nữa. Điều này không bao hàm sự mất đi bản sắc, mặc dù vấn đề này quá thâm áo để có thể diễn đạt đầy đủ hơn. Chính trong sự tương đồng này mà có thể tìm thấy ý tưởng nền tảng của mọi giáo huấn được ban ra về Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại. Toàn bộ quan niệm về các định luật này gắn liền với ý tưởng ấy. Chúng ta có ba định luật của các cõi cao vũ trụ, giữ trong một tổng hợp mỹ lệ hệ thống lớn hơn và hệ thống nhỏ hơn. Tiếp theo, chúng ta có định luật lớn của Sirius, Định luật Nghiệp quả, trên cõi phụ thứ ba của cõi trí vũ trụ; định luật này thực sự kiểm soát Thượng đế của chúng ta và các hành động của Ngài, theo cùng cách như chân ngã—đến đúng giai đoạn tiến hoá—kiểm soát phàm ngã của con người.
We need to remember that, under the Law of Correspondences, we shall have a relationship in the Cosmos, similar to that existing in the microcosm between the ego and the personality. The suggestion holds much that we might consider with benefit. We must not, however, carry the analogy too far; as we have not yet evolved to where we have planetary consciousness, still less systemic, how can we really expect even to conceive of the A B C of cosmic truth? Just broad hints, wide conceptions, and generalities, are as yet possible. Of one thing we can be sure, and that is that identity ever remains.
Chúng ta cần nhớ rằng, theo định luật tương ứng, chúng ta sẽ có một mối liên hệ trong Vũ trụ tương tự như mối liên hệ hiện tồn trong tiểu thiên địa giữa chân ngã và phàm ngã. Gợi ý này chứa đựng nhiều điều mà chúng ta có thể suy xét một cách hữu ích. Tuy nhiên, chúng ta không được đẩy sự tương đồng đi quá xa; vì chúng ta chưa tiến hoá đến mức có tâm thức hành tinh, lại càng chưa nói đến tâm thức hệ thống, làm sao chúng ta thực sự có thể mong đợi ngay cả việc quan niệm được ABC của chân lý vũ trụ? Hiện nay chỉ có thể có những gợi ý rộng, những quan niệm bao quát, và những khái quát mà thôi. Nhưng có một điều chúng ta có thể chắc chắn, và đó là rằng bản sắc luôn luôn còn nguyên.
Let me explain by illustration:
Hãy để tôi giải thích bằng một minh họa:
Each one of us, in due process of evolution, forms part of one of the Heavenly Men, Who Themselves form the [Page 572] seven centres in that greater Heavenly Man, the Logos. Yet, though we are merged with the whole, we do not lose our identity, but forever remain separated units of consciousness, though one with all that lives or is. In like manner our Logos loses not His identity, even though He forms part of the Consciousness of the Logos of Sirius. In His turn, the Sirian Logos forms one of the seven Grand Heavenly Men, who are the centres in the body of ONE OF WHOM NOUGHT MAY BE SAID.
Mỗi người trong chúng ta, trong tiến trình tiến hoá thích đáng, tạo thành một phần của một trong các Đấng Thiên Nhân, mà chính Các Ngài lại tạo thành [Page 572] bảy trung tâm trong Đấng Thiên Nhân lớn hơn ấy, tức Thượng đế. Tuy nhiên, dù chúng ta được hòa nhập vào toàn thể, chúng ta không mất đi bản sắc của mình, mà mãi mãi vẫn là những đơn vị tâm thức biệt lập, dù là một với tất cả những gì sống hay hiện hữu. Cũng vậy, Thượng đế của chúng ta không mất đi bản sắc của Ngài, dù Ngài tạo thành một phần của Tâm thức của Thượng đế Sirius. Đến lượt mình, Thượng đế Sirian tạo thành một trong bảy Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại, là các trung tâm trong thể của ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ.
The Laws and the Planes.—We might, while studying the seven laws of the solar system, take them plane by plane, showing certain things—three in all:
Các Định luật và Các Cõi.—Trong khi nghiên cứu bảy định luật của hệ mặt trời, chúng ta có thể xét chúng từng cõi một, chỉ ra một số điều—tổng cộng là ba:
1. We might study their effect as they demonstrate on the path of involution.
1. Chúng ta có thể nghiên cứu tác động của chúng khi chúng biểu lộ trên con đường giáng hạ tiến hoá.
2. As they manifest on the path of evolution, or return.
2. Khi chúng biểu hiện trên con đường tiến hoá, hay trở về.
3. We might also touch on the laws as they affect the human and deva organisms that evolve by means of them.
3. Chúng ta cũng có thể đề cập đến các định luật này khi chúng ảnh hưởng đến các cơ thể người và thiên thần tiến hoá nhờ chúng.
As we do this, we shall gradually get a broad general idea of how this system of ours (the thought-form of the Logos), was gradually built up, how it is controlled and held together, and how numerous and intricate are the interrelations. Certain fundamental hypotheses are assumed, which must form the background for all we would say. We must assume first that a Builder, or some Creative Mind, is working to bring about an ordered production, and is seeking to manifest through a demonstrable objective. The objective universe is but the product of some subjective mind. Next we must posit that the material for the building of this universe lay ready to the hand of the Builder, and that this material itself is the fruit of some previous system, all that is left of some past consummated product. Given, therefore, the Builder and the material, we must next accede [Page 573] to the proposition that this Builder proceeds with His building under some definite laws that guide His choice of material, that control the form that He erects, and that indicate to Him the process to be followed in the consummating of His idea. We must not forget that three great symbols stand, in the mind of the Logos, for each of His three systems, that the whole exists for Him as a concrete thought-form, for He is learning to manipulate the matter of the cosmic mental plane on concrete levels, in the same way that man is working on the laws of thought, and on the building of thought-forms.
Khi làm điều này, chúng ta sẽ dần dần có được một ý niệm khái quát rộng lớn về cách hệ thống của chúng ta (hình tư tưởng của Thượng đế) đã được xây dựng dần dần ra sao, nó được kiểm soát và giữ vững ra sao, và các mối tương liên thì nhiều và phức tạp đến mức nào. Có một số giả thuyết nền tảng được giả định, và chúng phải tạo thành hậu cảnh cho mọi điều chúng ta muốn nói. Trước hết, chúng ta phải giả định rằng một Đấng kiến tạo, hay một Trí Tuệ Sáng Tạo nào đó, đang hoạt động để đem lại một sự sản sinh có trật tự, và đang tìm cách biểu hiện qua một mục tiêu khách quan có thể chứng minh được. Vũ trụ khách quan chỉ là sản phẩm của một trí tuệ chủ quan nào đó. Kế đến, chúng ta phải xác định rằng vật liệu để xây dựng vũ trụ này đã sẵn trong tay của Đấng kiến tạo, và chính vật liệu này là kết quả của một hệ thống trước đó, là tất cả những gì còn lại của một sản phẩm quá khứ đã hoàn tất. Do đó, khi đã có Đấng kiến tạo và vật liệu, tiếp theo chúng ta phải chấp nhận [Page 573] mệnh đề rằng Đấng kiến tạo này tiến hành công việc xây dựng của Ngài dưới những định luật xác định nào đó, là những định luật hướng dẫn sự lựa chọn vật liệu của Ngài, kiểm soát hình tướng mà Ngài dựng nên, và chỉ cho Ngài tiến trình phải theo trong việc hoàn tất ý tưởng của Ngài. Chúng ta không được quên rằng trong trí của Thượng đế có ba biểu tượng lớn tượng trưng cho mỗi một trong ba hệ thống của Ngài, rằng toàn thể hiện hữu đối với Ngài như một hình tư tưởng cụ thể, vì Ngài đang học cách vận dụng vật chất của cõi trí vũ trụ trên các cấp độ cụ thể, cũng như con người đang làm việc với các định luật của tư tưởng và với việc xây dựng các hình tư tưởng.
It is impossible to do more than sense the symbols of the systems past and present. Perhaps if we could visualise a swastika of ten arms revolving at right angles, of a radiant green colour, all the ten arms emanating from a central blazing sun, we might have some idea of the thought-form that formed the basis of System I, the activity system. The basic thought-form for the second system embodies the green swastika of the first manifestation, and adds to it concentric and interlaced circles in blue, in groups of three, linked by one large circle. Both symbols are, of course, in the higher dimensions. The symbol for the next system is unknown. After grasping and conceding these three basic ideas, we can now proceed to the working out of the laws of the system on the seven planes, remembering always that these seven laws hold good on the numerically corresponding subplane on each plane. Let me briefly illustrate:
Không thể làm gì hơn ngoài việc cảm nhận các biểu tượng của các hệ thống quá khứ và hiện tại. Có lẽ nếu chúng ta có thể hình dung một chữ vạn có mười cánh tay quay vuông góc, màu lục rực sáng, cả mười cánh tay phát ra từ một mặt trời trung tâm chói lòa, thì chúng ta có thể có được một ý niệm nào đó về hình tư tưởng làm nền tảng cho Hệ thống I, hệ thống hoạt động. Hình tư tưởng nền tảng cho hệ thống thứ hai bao hàm chữ vạn màu lục của biểu hiện thứ nhất, và thêm vào đó các vòng tròn đồng tâm và đan xen màu lam, theo từng nhóm ba, được nối với nhau bằng một vòng tròn lớn. Dĩ nhiên, cả hai biểu tượng đều ở trong các chiều kích cao hơn. Biểu tượng cho hệ thống kế tiếp thì chưa được biết. Sau khi nắm được và chấp nhận ba ý tưởng nền tảng này, giờ đây chúng ta có thể tiến tới việc triển khai các định luật của hệ thống trên bảy cõi, luôn luôn nhớ rằng bảy định luật này có hiệu lực trên cõi phụ tương ứng về số của mỗi cõi. Hãy để tôi minh họa ngắn gọn:
The fourth law, Magnetic Control, for instance, holds sway on the fourth subplane of each plane, in the fourth round, and in the fourth root-race specially. We shall then have the correspondence as follows: [Page 574]
Chẳng hạn, định luật thứ tư, Kiểm soát Từ tính, ngự trị trên cõi phụ thứ tư của mỗi cõi, trong cuộc tuần hoàn thứ tư, và đặc biệt trong giống dân gốc thứ tư. Khi đó chúng ta sẽ có sự tương ứng như sau: [Page 574]
4th Law
Magnetic Control.
4th Ray
Harmony or beauty.
4th Plane
The buddhic.
4th Subplane
Buddhic Magnetic Control.
4th Round
Dense Physical Magnetism, controlling sex manifestation on the physical plane, and inspired by astral desire, the reflection of the buddhic.
4th Root-Race
The Atlantean, in which the above qualities specially demonstrated.
S6S2
1. The Law of Vibration.—This is the law of the first plane, and it governs all the atomic subplanes of each plane. It marks the beginning of the work of the Logos, the first setting in motion of mulaprakriti. On each plane the vibration of the atomic subplane sets in motion the matter of that plane. It is the key measure. We might sum up the significance of this law in the words, “light” or “fire.” It is the law of fire; it governs the transmutation of differentiated colours back to their synthesis. It controls the breaking up of the One into the seven, and then the reabsorption back into the One. It is really the basic law of evolution, which necessitates involution. It is analogous to the first movement the Logos made to express Himself through this solar system. He uttered the Sound, a threefold Sound, one sound for each of His three systems, and started a ripple on the ocean of space. The Sound grows in volume as time progresses, and when it has reached its full volume, when it is fully completed, it forms one of the notes in the major cosmic chord. Each note has six subtones, which, with the first, make the seven; the Law of Vibration, therefore, comprises eighteen lesser vibrations and three major, making the twenty-one of our three systems. Two multiplied by nine (2x9), makes the necessary eighteen, which is the key number of our love system. Twenty-seven holds hid the mystery of the third system.
1. Định luật Rung động.—Đây là định luật của cõi thứ nhất, và nó chi phối mọi cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi. Nó đánh dấu sự khởi đầu công việc của Thượng đế, sự khởi động đầu tiên của mulaprakriti. Trên mỗi cõi, rung động của cõi phụ nguyên tử làm cho vật chất của cõi ấy chuyển động. Đó là nhịp điệu chủ chốt. Chúng ta có thể tóm lược ý nghĩa của định luật này trong các từ “ánh sáng” hay “lửa”. Đây là định luật của lửa; nó chi phối sự chuyển hoá các màu sắc đã biến phân trở lại tổng hợp của chúng. Nó kiểm soát sự phân tách Đấng Duy Nhất thành bảy, rồi sự tái hấp thu trở lại vào Đấng Duy Nhất. Thật ra, đây là định luật nền tảng của tiến hoá, định luật khiến cho giáng hạ tiến hoá trở nên cần thiết. Nó tương tự với chuyển động đầu tiên mà Thượng đế đã thực hiện để biểu lộ chính Ngài qua hệ mặt trời này. Ngài đã phát ra Âm Thanh, một Âm Thanh tam phân, một âm cho mỗi một trong ba hệ thống của Ngài, và khởi lên một gợn sóng trên đại dương không gian. Âm Thanh tăng dần về cường độ theo thời gian, và khi nó đạt đến âm lượng trọn vẹn, khi hoàn toàn viên mãn, nó tạo thành một trong các âm trong hợp âm vũ trụ lớn. Mỗi âm có sáu âm phụ, cùng với âm đầu tiên tạo thành bảy; do đó, Định luật Rung động bao gồm mười tám rung động nhỏ hơn và ba rung động lớn, tạo thành hai mươi mốt của ba hệ thống chúng ta. Hai nhân chín (2x9) tạo thành mười tám cần thiết, là con số chủ chốt của hệ thống bác ái của chúng ta. Hai mươi bảy che giấu huyền nhiệm của hệ thống thứ ba.
On the path of involution, the seven great Breaths or Sounds drove to the atomic subplane of each plane, and [Page 575] there the basic vibration repeated in its own little world the method of logoic vibration, giving rise itself to six subsidiary breaths. We get the same correspondence here as we did in the matter of the Rays, for we shall find that the lines of vibration are 1-2-4-6. Logically this would be so, for involution is negative, receptive, and corresponds to the feminine pole, just as the abstract rays were 2-4-6. This truth requires meditation, and an attempt to think abstractly; it is linked to the fact that the whole second system is receptive and feminine; it concerns the evolution of consciousness of the psyche.
Trên con đường giáng hạ tiến hoá, bảy Hơi Thở hay Âm Thanh lớn đã thúc đẩy đến cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi, và [Page 575] ở đó rung động nền tảng đã lặp lại trong thế giới nhỏ bé riêng của nó phương pháp rung động của Thượng đế, tự nó phát sinh sáu hơi thở phụ. Ở đây chúng ta có cùng sự tương ứng như đã có trong vấn đề các cung, vì chúng ta sẽ thấy rằng các đường rung động là 1-2-4-6. Về mặt luận lý, điều này phải là như vậy, vì giáng hạ tiến hoá là âm, tiếp nhận, và tương ứng với cực nữ, cũng như các cung trừu tượng là 2-4-6. Chân lý này đòi hỏi tham thiền và một nỗ lực suy nghĩ một cách trừu tượng; nó gắn liền với sự kiện rằng toàn bộ hệ thống thứ hai là tiếp nhận và nữ tính; nó liên quan đến sự tiến hoá của tâm thức của tâm hồn.
On the path of evolution this law controls the positive aspect of the process. All is rhythm and movement, and when all that evolves on each plane attains the vibration of the atomic subplane, then the goal is reached. When, therefore, we have achieved the first main vibrations, and have perfected vehicles for all evolutions (not merely the human), of fivefold atomic subplane matter, then we have completed the round of evolution for this system. In the coming system we shall add the next two vibrations that complete the scale, and our Logos will then have completed His building.
Trên con đường tiến hoá, định luật này kiểm soát phương diện dương của tiến trình. Mọi sự đều là nhịp điệu và chuyển động, và khi mọi thứ tiến hoá trên mỗi cõi đạt đến rung động của cõi phụ nguyên tử, thì mục tiêu được đạt tới. Do đó, khi chúng ta đã đạt được các rung động chính yếu đầu tiên, và đã hoàn thiện các vận cụ cho mọi sự tiến hoá (không chỉ riêng nhân loại) bằng vật chất cõi phụ nguyên tử ngũ phân, thì chúng ta đã hoàn tất vòng tiến hoá cho hệ thống này. Trong hệ thống sắp tới, chúng ta sẽ thêm hai rung động kế tiếp để hoàn tất âm giai, và khi đó Thượng đế của chúng ta sẽ hoàn tất công trình xây dựng của Ngài.
The fourth Creative Hierarchy, that of the human Monads, has to learn to vibrate positively, but the devas proceed along the line of least resistance; they remain negative, taking the line of acquiescence, of falling in with the law. Only the human Monads, and only in the three worlds, follow the positive line, and by resistance, struggle, battle and strife learn the lesson of divine acquiescence. Yet, owing to the increase of friction through that very struggle, they progress with a relatively greater rapidity than the devas. They have need to do this, for they have lost ground to make up.
Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, tức các chân thần nhân loại, phải học cách rung động một cách dương; nhưng các thiên thần tiến hành theo con đường ít trở ngại nhất; họ vẫn âm, đi theo đường thuận phục, đường thuận theo định luật. Chỉ các chân thần nhân loại, và chỉ trong ba cõi thấp, mới đi theo đường dương, và nhờ sự kháng cự, đấu tranh, chiến đấu và xung đột mà học được bài học về sự thuận phục thiêng liêng. Tuy nhiên, do sự gia tăng ma sát qua chính cuộc đấu tranh ấy, họ tiến bộ với một tốc độ tương đối nhanh hơn các thiên thần. Họ cần phải làm như vậy, vì họ có phần bị tụt lại cần phải bù đắp.
The Law of Vibration is the law of progress, of movement and of rotation. On the seventh or lowest plane, the vibration is slow, clogged and lethargic from the [Page 576] standpoint of the first, and it is in learning to vibrate or to rotate more rapidly, that we mount the path of return. It involves, therefore necessarily, the building in of finer matter into the vehicles, both deva and human. In this second system, on the five planes of human evolution, we have the five vehicles—physical, astral, mental, buddhic and atmic—which have all to be purified, rarefied, intensified and refined. In the two lowest, the physical and the astral, only matter of the five higher subplanes, of their respective planes, is to be found, for the two lowest subplanes are too low for deva or human bodies; they were dominated in the first system. The mental body is the first in which we find matter of all the subplanes. The aim of evolution for us is love dominated by intelligence—or intelligence dominated by love, for the interaction will be complete. The human race came into the chain at a point where it naturally took bodies of the fifth astral and physical subplanes, and we can see here an analogy to the coming into the fourth root-race of the more advanced Egos.
Định luật Rung động là định luật của sự tiến bộ, của chuyển động và của sự quay. Trên cõi thứ bảy hay thấp nhất, rung động thì chậm, trì trệ và lờ đờ theo [Page 576] quan điểm của cõi thứ nhất, và chính trong việc học cách rung động hay quay nhanh hơn mà chúng ta leo lên Con Đường Trở Về. Do đó, điều này tất yếu bao hàm việc xây dựng vật chất tinh tế hơn vào trong các vận cụ, cả thiên thần lẫn con người. Trong hệ thống thứ hai này, trên năm cõi của sự tiến hoá nhân loại, chúng ta có năm vận cụ—hồng trần, cảm dục, trí tuệ, Bồ đề và atma—tất cả đều phải được thanh lọc, làm tinh vi, tăng cường và tinh luyện. Trong hai cõi thấp nhất, hồng trần và cảm dục, chỉ có thể tìm thấy vật chất của năm cõi phụ cao hơn thuộc các cõi tương ứng của chúng, vì hai cõi phụ thấp nhất quá thấp đối với các thể thiên thần hay con người; chúng đã bị chi phối trong hệ thống thứ nhất. Thể trí là thể đầu tiên trong đó chúng ta thấy vật chất của mọi cõi phụ. Mục tiêu tiến hoá đối với chúng ta là bác ái được trí tuệ chi phối—hay trí tuệ được bác ái chi phối, vì sự tương tác sẽ hoàn toàn. Nhân loại đã đi vào Dãy ở một điểm mà theo tự nhiên họ nhận các thể của cõi phụ thứ năm của cõi cảm dục và cõi hồng trần, và ở đây chúng ta có thể thấy một sự tương đồng với việc các chân ngã tiến bộ hơn đi vào giống dân gốc thứ tư.
2. The Law of Cohesion.—This is one of the branch laws of the cosmic Law of Attraction. It is interesting to notice how this law demonstrates in this Love-System in a threefold manner:
2. Định luật Kết dính.—Đây là một trong các định luật nhánh của Định luật Hấp Dẫn vũ trụ. Thật thú vị khi lưu ý cách định luật này biểu lộ trong Hệ thống Bác ái này theo một cách tam phân:
On the plane of the Monad, as the law of cohesion, the law of birth, if we might use that term, resulting in the appearance of the Monads in their seven groups. Love the source, and the Monad of love, the result.
Trên cõi của chân thần, như định luật kết dính, định luật sinh ra, nếu chúng ta có thể dùng thuật ngữ đó, đưa đến sự xuất hiện của các chân thần trong bảy nhóm của chúng. Bác ái là nguồn, và chân thần của bác ái là kết quả.
On the plane of buddhi, as the law of magnetic control. It shows itself as the love-wisdom aspect, irradiating the ego, and eventually gathering to itself the essence of all experience, garnered, via the Ego, through the personality lives, and controlled throughout from the plane of buddhi. Magnetism, and the capacity to show love, are occultly synonymous.
Trên cõi Bồ đề, như định luật kiểm soát từ tính. Nó biểu lộ như phương diện bác ái-minh triết, chiếu rọi chân ngã, và cuối cùng thu hút về cho chính nó tinh chất của mọi kinh nghiệm, được tích lũy, thông qua chân ngã, qua các kiếp sống phàm ngã, và được kiểm soát xuyên suốt từ cõi Bồ đề. Từ điện và năng lực biểu lộ bác ái, về mặt huyền bí, là đồng nghĩa.
On the astral plane, as love demonstrating through the [Page 577] personality. All branches of the law of attraction, demonstrating in this system, show themselves as a force that ingathers, that tends to coherence, that results in adhesion, and leads to absorption. All these terms are needed to give a general idea of the basic quality of this law.
Trên cõi cảm dục, như bác ái biểu lộ qua [Page 577] phàm ngã. Mọi nhánh của định luật hấp dẫn biểu lộ trong hệ thống này đều cho thấy chính chúng như một mãnh lực thu hút vào, có khuynh hướng kết dính, đưa đến sự bám dính, và dẫn đến sự hấp thu. Tất cả các thuật ngữ này đều cần thiết để đem lại một ý niệm tổng quát về phẩm tính nền tảng của định luật này.
This law is one of the most important of the systemic laws, if it is permissible to differentiate at all; we might term it the law of coalescence.
Định luật này là một trong những định luật quan trọng nhất của hệ thống, nếu quả thực được phép phân biệt như vậy; chúng ta có thể gọi nó là định luật hợp nhất.
On the path of involution it controls the primal gathering together of molecular matter, beneath the atomic subplane. It is the basis of the attractive quality that sets in motion the molecules and draws them into the needed aggregations. It is the measure of the subplanes. The atomic subplane sets the rate of vibration; the Law of Cohesion might be said to fix the colouring of each plane. It is the same thing in other words. We need always to remember in discussing these abstract fundamentals that words but dim the meaning, and serve but as suggestions and not as elucidations.
Trên con đường giáng hạ tiến hoá, nó kiểm soát sự tụ họp nguyên sơ của vật chất phân tử bên dưới cõi phụ nguyên tử. Nó là nền tảng của phẩm tính hấp dẫn làm cho các phân tử chuyển động và kéo chúng vào các tập hợp cần thiết. Nó là thước đo của các cõi phụ. Cõi phụ nguyên tử đặt ra nhịp độ rung động; có thể nói Định luật Kết dính cố định sắc thái của mỗi cõi. Nói cách khác cũng là cùng một điều. Chúng ta luôn cần nhớ khi bàn về các nền tảng trừu tượng này rằng ngôn từ chỉ làm mờ ý nghĩa, và chỉ đóng vai trò gợi ý chứ không phải giải minh.
In manifestation the cosmic Law of Attraction controls all these subsidiary laws, just as the Law of Synthesis governs pralaya and obscuration, and the law of Economy deals with the general working out, along the line of least resistance, of the logoic scheme. During manifestation we have most to do with the Law of Attraction, and it will be found, on study, that each subsidiary law is but a differentiation of that law.
Trong biểu hiện, Định luật Hấp Dẫn vũ trụ kiểm soát tất cả các định luật phụ này, cũng như Định luật Tổng Hợp chi phối giai kỳ qui nguyên và sự che khuất, còn Định luật Tiết Kiệm xử lý sự triển khai tổng quát, theo con đường ít trở ngại nhất, của hệ thống của Thượng đế. Trong thời kỳ biểu hiện, chúng ta liên hệ nhiều nhất với Định luật Hấp Dẫn, và khi nghiên cứu sẽ thấy rằng mỗi định luật phụ chỉ là một sự biến phân của định luật ấy.
This second law of the system governs specially the second plane, and the second subplane on each plane. It might be interesting to work this out and trace the underlying correspondence, bearing in mind always that all that can be done is to point out certain things, and indicate lines of thought that may lead, if pursued, to illumination.
Định luật thứ hai này của hệ thống đặc biệt chi phối cõi thứ hai, và cõi phụ thứ hai trên mỗi cõi. Sẽ là điều thú vị nếu triển khai điều này và truy tìm sự tương ứng nền tảng, luôn luôn ghi nhớ rằng tất cả những gì có thể làm được chỉ là chỉ ra một số điều và nêu lên những đường hướng tư tưởng mà nếu được theo đuổi có thể dẫn đến sự soi sáng.
Ray Two and Law Two are closely allied, and it is [Page 578] interesting to realise that it is on the second subplane of the monadic plane that the majority of the Monads have their habitat; there are a few Monads of power or will on the atomic subplane, but their numbers are not many, and they simply form a nucleus in evolutionary preparation for System III, the power system. The majority of the Monads are on the second subplane and they are the Monads of love; on the third subplane can be found quite a number of the Monads of activity, but numerically not as many as the Monads of love. They are the failures of System I.
Cung hai và Định luật hai có liên hệ mật thiết, và thật [Page 578] thú vị khi chứng nghiệm rằng chính trên cõi phụ thứ hai của cõi chân thần mà đa số các chân thần cư ngụ; có một ít chân thần quyền lực hay ý chí ở trên cõi phụ nguyên tử, nhưng số lượng của họ không nhiều, và họ chỉ đơn giản tạo thành một hạt nhân trong sự chuẩn bị tiến hoá cho Hệ thống III, hệ thống quyền lực. Đa số các chân thần ở trên cõi phụ thứ hai và họ là các chân thần bác ái; trên cõi phụ thứ ba có thể tìm thấy khá nhiều chân thần hoạt động, nhưng về số lượng không nhiều bằng các chân thần bác ái. Họ là những kẻ thất bại của Hệ thống I.
There is a direct channel, as we know, between the atomic subplane on each plane. This is more or less true of each subplane and its corresponding higher subplane numerically, and there is, therefore, a direct and quite expansive channel between the second subplane on all planes, enabling the Monads of love to link up with peculiar facility with all their vehicles when composed of second subplane matter. After initiation, the causal body is found on the second subplane of the mental plane, and monadic control then commences.
Như chúng ta biết, có một kênh trực tiếp giữa cõi phụ nguyên tử trên mỗi cõi. Điều này ít nhiều cũng đúng đối với mỗi cõi phụ và cõi phụ cao hơn tương ứng về số của nó, và do đó có một kênh trực tiếp và khá rộng mở giữa cõi phụ thứ hai trên mọi cõi, cho phép các chân thần bác ái nối kết với các vận cụ của mình một cách đặc biệt dễ dàng khi các vận cụ ấy được cấu tạo bằng vật chất cõi phụ thứ hai. Sau điểm đạo, thể nguyên nhân được thấy ở trên cõi phụ thứ hai của cõi trí, và khi đó sự kiểm soát của chân thần bắt đầu.
The Monads of love return (after life in the three worlds and the attainment of the goal) to their originating second subplane, that being also the goal for the monads of activity who have to develop the love aspect. In the five worlds of human evolution both groups of Monads have to control atomic and molecular matter as well and this is done by the utilisation to the full (as full as may be possible in this second system), of the will or power aspect.
Các chân thần bác ái trở về (sau đời sống trong ba cõi thấp và sự đạt đến mục tiêu) với cõi phụ thứ hai nguyên thủy của mình; đó cũng là mục tiêu cho các chân thần hoạt động, là những chân thần phải phát triển phương diện bác ái. Trong năm thế giới của sự tiến hoá nhân loại, cả hai nhóm chân thần đều phải kiểm soát cả vật chất nguyên tử lẫn phân tử, và điều này được thực hiện bằng việc sử dụng đến mức tối đa (tối đa như có thể trong hệ thống thứ hai này) phương diện ý chí hay quyền lực.
The “Kingdom of God suffereth violence and the violent take it by force,” or by Will or power. It is not Will, as we shall know it in the final system but it is Will as known in this system, and it has to be utilised to the uttermost by the evolving Monad in his struggle to control each atomic subplane. The Monads of power have [Page 579] a much greater struggle, and hence the fact so often apparent that people on what we term the power Ray, have so often a hard time, and are so frequently unlovable. They have to build in on all the six planes the love aspect, which is not prominent in their development.
“Thiên Giới phải chịu sức mạnh cưỡng chiếm và những kẻ mạnh bạo đoạt lấy nó bằng sức mạnh,” hay bằng ý chí hoặc quyền lực. Đó không phải là Ý Chí như chúng ta sẽ biết nó trong hệ thống cuối cùng, nhưng là Ý Chí như được biết trong hệ thống này, và nó phải được chân thần đang tiến hoá sử dụng đến mức tận cùng trong cuộc đấu tranh của y để kiểm soát mỗi cõi phụ nguyên tử. Các chân thần quyền lực có [Page 579] một cuộc đấu tranh lớn hơn nhiều, và do đó mới có sự kiện thường thấy rằng những người thuộc điều chúng ta gọi là cung quyền lực thường có cuộc đời khó khăn, và thường không đáng mến. Họ phải xây dựng vào trong cả sáu cõi phương diện bác ái, là phương diện không nổi trội trong sự phát triển của họ.
A hint has been given us as to the approximate figures governing the Monads:
Một gợi ý đã được ban cho chúng ta về các con số gần đúng chi phối các chân thần:
35 Thousand million Monads of love
35 ngàn triệu chân thần bác ái
20 Thousand million Monads of activity
20 ngàn triệu chân thần hoạt động
5 Thousand million Monads of power
5 ngàn triệu chân thần quyền lực
making a total of sixty thousand million human Monads. The Monads of power, though in manifestation, are as yet very rare in incarnation. They came in, in large numbers, at the close of the moon chain, and will come in again in full numerical strength in the last two rounds of the present chain.
tạo thành tổng cộng sáu mươi ngàn triệu chân thần nhân loại. Các chân thần quyền lực, dù đang trong biểu hiện, cho đến nay vẫn rất hiếm khi lâm phàm. Họ đã đi vào với số lượng lớn vào lúc kết thúc Dãy Mặt Trăng, và sẽ lại đi vào với đầy đủ sức mạnh số lượng trong hai cuộc tuần hoàn cuối của Dãy hiện nay.
We might now briefly trace the correspondence in the second round and the second root-race, showing how the Law of Cohesion was specially active at these periods. A condition of nebulosity of a pronouncedly volatile condition, marked the first round and race. Movement, and the accompaniment of heat, is their distinguishing quality, much as in System I, but in the second round, and also in the second race, a definite cohesion is noticeable, and form is more clearly recognisable in outline. Cohesion is also plainly to be seen as the distinguishing feature of our present system, the second. It is the aim of all things to unite; approximation, unification, a simultaneous attraction between two or more is ever to be seen as a governing principle, whether we look at the sex problem, or whether it demonstrates in business organisation, in scientific development, in manufacture, or in politics. Well might we say that the At-one-ment of the many separated is the keynote of our system.
Giờ đây, chúng ta có thể ngắn gọn truy tìm sự tương ứng trong cuộc tuần hoàn thứ hai và giống dân gốc thứ hai, cho thấy Định luật Kết dính đã hoạt động đặc biệt ra sao trong các thời kỳ ấy. Một trạng thái tinh vân có tính chất đặc biệt dễ bay hơi đã đánh dấu cuộc tuần hoàn và nhân loại thứ nhất. Chuyển động, cùng với nhiệt đi kèm, là phẩm tính phân biệt của chúng, cũng như trong Hệ thống I; nhưng trong cuộc tuần hoàn thứ hai, và cả trong nhân loại thứ hai, một sự kết dính xác định trở nên đáng chú ý, và hình tướng được nhận ra rõ ràng hơn về đường nét. Sự kết dính cũng được thấy rõ như đặc điểm phân biệt của hệ thống hiện nay của chúng ta, hệ thống thứ hai. Mục tiêu của mọi sự là hợp nhất; sự xích lại gần, sự hợp nhất, một lực hút đồng thời giữa hai hay nhiều hơn luôn luôn được thấy như một nguyên lý chi phối, dù chúng ta nhìn vào vấn đề giới tính, hay dù nó biểu lộ trong tổ chức kinh doanh, trong sự phát triển khoa học, trong sản xuất, hay trong chính trị. Quả thật, chúng ta có thể nói rằng sự Nhất Thể hóa của nhiều cái bị tách rời là chủ âm của hệ thống chúng ta.
One more suggestion may be given: On the path of [Page 580] involution this law governs the gathering together and the segregation of matter; on the evolutionary path it controls the building of forms. It has been stated that the matter of the lowest subplane forms the basis of a new plane; therefore we have on the atomic subplane a point where merging takes place, which makes it a plane of synthesis, just as in the same way the first or logoic plane is the plane of synthesis for this system. There takes place the merging of evolution into an inconceivably higher state.
Có thể nêu thêm một gợi ý nữa: Trên con đường [Page 580] giáng hạ tiến hoá, định luật này chi phối sự tụ họp và sự phân tách của vật chất; trên con đường tiến hoá, nó kiểm soát việc xây dựng các hình tướng. Đã có lời nói rằng vật chất của cõi phụ thấp nhất tạo thành nền tảng của một cõi mới; do đó, trên cõi phụ nguyên tử chúng ta có một điểm nơi sự hòa nhập diễn ra, khiến nó trở thành một cõi tổng hợp, cũng như theo cùng cách đó cõi thứ nhất hay cõi của Thượng đế là cõi tổng hợp cho hệ thống này. Tại đó diễn ra sự hòa nhập của tiến hoá vào một trạng thái cao hơn không thể nghĩ bàn.
3. The Law of Disintegration.—This is the law that governs the destruction of the form in order that the indwelling life may shine forth in fullness. It is another aspect of the Law of Cohesion—the reverse side (if one might so express it), and is just as much a part of the divine plan as that of attraction. It is one of the laws that ends with the solar system, for the great laws of attraction, cohesion and love last on into that which is to come. The Law of Disintegration has its correspondence in cosmic law, but it is almost incomprehensible to us. The Law of Economy holds the key to this law. When the Monad has circled through all disintegrating forms, and has achieved the sixth Initiation, it is resolved into its primal monadic source, and the five lesser sheaths are destroyed. Later on the Monads themselves are synthesised, not disintegrated. This law controls only from the third plane, and ceases action in this particular fashion when the third plane is transcended.
3. Định luật Phân giải.—Đây là định luật chi phối sự hủy diệt hình tướng để sự sống nội tại có thể chiếu tỏa trọn vẹn. Nó là một phương diện khác của Định luật Kết dính—mặt trái của nó (nếu có thể diễn đạt như vậy), và cũng là một phần của Thiên Cơ chẳng kém gì hấp dẫn. Đây là một trong những định luật chấm dứt cùng với hệ mặt trời, vì các định luật lớn của hấp dẫn, kết dính và bác ái còn kéo dài sang điều sẽ đến. Định luật Phân giải có sự tương ứng của nó trong định luật vũ trụ, nhưng điều đó hầu như không thể hiểu được đối với chúng ta. Định luật Tiết Kiệm nắm giữ chìa khóa của định luật này. Khi chân thần đã đi vòng qua mọi hình tướng đang phân giải, và đã đạt lần điểm đạo thứ sáu, nó được phân giải vào nguồn chân thần nguyên thủy của nó, và năm lớp vỏ nhỏ hơn bị hủy diệt. Về sau, chính các chân thần được tổng hợp lại, chứ không bị phân giải. Định luật này chỉ kiểm soát từ cõi thứ ba, và chấm dứt hoạt động theo cách đặc thù này khi cõi thứ ba được vượt qua.
This law is one of the most difficult for the race to understand. Some of its workings (those on the path of evolution), can be seen and somewhat comprehended, but on the path of involution, or of construction, the working out of the law is not so apparent to the superficial observer.
Đây là một trong những định luật khó hiểu nhất đối với nhân loại. Một số hoạt động của nó (những hoạt động trên con đường tiến hoá) có thể được thấy và phần nào được hiểu, nhưng trên con đường giáng hạ tiến hoá, hay con đường kiến tạo, sự triển khai của định luật này không hiển nhiên đối với người quan sát hời hợt.
On the path of involution it controls the process of the [Page 581] breaking up of group souls; it governs the periods when the permanent triads are transferred from one form to another; it works through the great world cataclysms, and we need to remember that it governs, not only the physical plane catastrophes (as we erroneously term them), but the corresponding cataclysms on the astral plane, and the lower levels of the mental plane. It governs physical plane disruptions, especially those affecting the mineral world; it controls the disintegration, on the astral plane, of thought-forms; it dissolves the astral vehicle when left behind, and the mental likewise. The dissipation of the etheric double is the result of its working.
Trên con đường giáng hạ tiến hoá, nó kiểm soát tiến trình của sự [Page 581] phân tách các hồn nhóm; nó chi phối các thời kỳ khi các tam nguyên trường tồn được chuyển dịch từ hình tướng này sang hình tướng khác; nó hoạt động qua các đại biến động thế giới, và chúng ta cần nhớ rằng nó không chỉ chi phối các tai biến cõi hồng trần (như chúng ta gọi một cách sai lầm), mà còn cả các biến động tương ứng trên cõi cảm dục và các cấp thấp của cõi trí. Nó chi phối các sự đổ vỡ trên cõi hồng trần, đặc biệt là những gì ảnh hưởng đến giới kim thạch; nó kiểm soát sự phân giải, trên cõi cảm dục, của các hình tư tưởng; nó làm tan rã vận cụ cảm dục khi bị bỏ lại phía sau, và thể trí cũng vậy. Sự tiêu tan của bản sao dĩ thái là kết quả của hoạt động của nó.
Again we can correlate this law with that of Attraction, for the two interact upon each other. This law breaks up the forms, and the Law of Attraction draws back to primal sources the material of those forms, prior to rebuilding them anew.
Một lần nữa, chúng ta có thể liên hệ định luật này với Định luật Hấp Dẫn, vì cả hai tương tác với nhau. Định luật này phá vỡ các hình tướng, còn Định luật Hấp Dẫn kéo vật liệu của các hình tướng ấy trở về các nguồn nguyên thủy trước khi xây dựng chúng lại mới mẻ.
On the path of evolution the effects of this law are well known, not only in the destruction of the discarded vehicles touched upon above, but in the breaking up of the forms in which great ideals are embodied,—the forms of political control, the forms in which nature itself evolves, apart from those in which individual consciousness manifests, the great religious thought-forms, the philanthropic concepts and all the forms which science, art, and religion take at any one particular time. All eventually break under the working of this law.
Trên con đường tiến hoá, các hiệu quả của định luật này được biết rõ, không chỉ trong sự hủy diệt các vận cụ bị loại bỏ đã được đề cập ở trên, mà còn trong sự phá vỡ các hình tướng mà trong đó các lý tưởng lớn được thể hiện,—các hình tướng của sự kiểm soát chính trị, các hình tướng mà trong đó chính bản chất tiến hoá, tách biệt với những hình tướng mà tâm thức cá nhân biểu hiện, các hình tư tưởng tôn giáo lớn, các quan niệm từ thiện và mọi hình tướng mà khoa học, nghệ thuật và tôn giáo mang lấy vào bất kỳ thời điểm đặc thù nào. Tất cả cuối cùng đều tan vỡ dưới tác động của định luật này.
Its workings are more apparent to the average human mind in its manifestations at this time on the physical plane. We can trace the connection between the atmic and the physical plane (demonstrating on the lower plane as the law of sacrifice and death), but its effect can be seen on all the five planes as well. It is the law that destroys the final sheath that separates the perfected Jiva. It has not yet been fully brought out [Page 582] (for the law of correspondences has been little studied, nor is it readily apparent) that on the third subplane of each plane this law works in a special manner, causing a very definite breaking-up of something that is tending to separation. Like all that works in the system, the process is slow; the work of disintegration begins on the third subplane, and is finished on the second, when the Law of Disintegration comes under the influence of the Law of Cohesion, the disintegration having effected that which makes cohesion possible. We can see an illustration of this on the mental plane. The causal body of the average man is on the third subplane, and as a man becomes fit for the merging into the Triad, that causal body has to be discarded and done away with. Under the Law of Sacrifice and Death, the disintegration is begun on the third level and is consummated on the second, when the man merges with the Triad, preparatory to the final merging with the Monad.
Hoạt động của nó hiển nhiên hơn đối với trí tuệ con người trung bình trong các biểu hiện của nó hiện nay trên cõi hồng trần. Chúng ta có thể truy ra mối liên hệ giữa cõi atma và cõi hồng trần (biểu lộ trên cõi thấp như định luật hi sinh và tử vong), nhưng hiệu quả của nó cũng có thể được thấy trên cả năm cõi. Đây là định luật hủy diệt lớp vỏ cuối cùng ngăn cách Jiva đã hoàn thiện. Điều này vẫn chưa được trình bày đầy đủ [Page 582] (vì định luật tương ứng ít được nghiên cứu, và cũng không dễ thấy) rằng trên cõi phụ thứ ba của mỗi cõi, định luật này hoạt động theo một cách đặc biệt, gây ra một sự tan vỡ rất xác định của một cái gì đó đang có khuynh hướng tách biệt. Giống như mọi điều hoạt động trong hệ thống, tiến trình này chậm; công việc phân giải bắt đầu trên cõi phụ thứ ba, và hoàn tất trên cõi phụ thứ hai, khi Định luật Phân giải đi vào dưới ảnh hưởng của Định luật Kết dính, sự phân giải đã tạo ra điều khiến cho sự kết dính trở nên khả hữu. Chúng ta có thể thấy một minh họa về điều này trên cõi trí. Thể nguyên nhân của người trung bình ở trên cõi phụ thứ ba, và khi một người trở nên thích hợp cho sự hòa nhập vào Tam nguyên tinh thần, thể nguyên nhân ấy phải bị loại bỏ và xóa đi. Dưới Định luật Hi sinh và Tử vong, sự phân giải được bắt đầu trên cấp thứ ba và được hoàn tất trên cấp thứ hai, khi con người hòa nhập với Tam nguyên tinh thần, để chuẩn bị cho sự hòa nhập cuối cùng với chân thần.
Another illustration of the same thing can be found on the physical plane. When a man has reached the point where he can sense and see the fourth ether, he is ready for the burning away of the etheric web, which has its location midway between the third and second subplane matter which composes his physical body. When this disintegration is effected, the man merges with his astral vehicle, establishing a consequent continuity of consciousness. This correspondence, and this disintegration, can be traced on each plane, till finally on the atmic level on its third subplane comes the final disintegration, which results in a merging with the monadic consciousness.
Một minh họa khác của cùng điều ấy có thể được tìm thấy trên cõi hồng trần. Khi một người đã đạt đến điểm mà y có thể cảm nhận và thấy được dĩ thái thứ tư, y đã sẵn sàng cho việc đốt cháy màng lưới dĩ thái, mà vị trí của nó ở khoảng giữa vật chất cõi phụ thứ ba và thứ hai cấu thành thể hồng trần của y. Khi sự phân giải này được thực hiện, con người hòa nhập với vận cụ cảm dục của mình, nhờ đó thiết lập sự liên tục của tâm thức. Sự tương ứng này, và sự phân giải này, có thể được truy ra trên mỗi cõi, cho đến cuối cùng trên cấp atma ở cõi phụ thứ ba của nó diễn ra sự phân giải cuối cùng, đưa đến sự hòa nhập với tâm thức chân thần.
The third Ray, that of adaptability or activity, has a close connection with this law. It is through activity (or the adaptation of matter to need), that the form comes into being; through activity it is employed, and through that very adaptation it becomes a perfect form, [Page 583] and at the moment of perfection loses its usefulness; it crystallises, breaks, and the evolving life escapes to find for itself new forms of greater capacity and adequacy. It is so in the life of the reincarnating Ego; it is so in the rounds and races of humanity; it is so in the solar system; it is so in all cosmic processes.
Cung ba, tức cung của khả năng thích ứng hay hoạt động, có liên hệ mật thiết với định luật này. Chính nhờ hoạt động (hay sự thích ứng của vật chất với nhu cầu) mà hình tướng đi vào hiện hữu; nhờ hoạt động mà nó được sử dụng, và cũng nhờ chính sự thích ứng ấy mà nó trở thành một hình tướng hoàn hảo, nhờ hoạt động mà nó được sử dụng, và cũng nhờ chính sự thích ứng ấy mà nó trở thành một hình tướng hoàn hảo, [Page 583] và vào lúc đạt đến hoàn hảo thì nó mất đi tính hữu dụng; nó kết tinh, vỡ tan, và sự sống đang tiến hoá thoát ra để tự tìm cho mình những hình tướng mới có năng lực và sự thích đáng lớn hơn. Điều này đúng trong đời sống của chân ngã tái sinh; đúng trong các cuộc tuần hoàn và các giống dân của nhân loại; đúng trong hệ mặt trời; đúng trong mọi tiến trình vũ trụ.
In the third chain, the moon chain, we have an interesting related fact. On the moon chain the point of attainment for the individual was the arhat or fourth Initiation,—the initiation which marks the final breaking with the three worlds, and the disintegration of the egoic body.
Trong dãy thứ ba, tức Dãy Mặt Trăng, chúng ta có một sự kiện liên hệ thú vị. Trên Dãy Mặt Trăng, điểm thành tựu của cá nhân là arhat hay lần điểm đạo thứ tư,—cuộc điểm đạo đánh dấu sự đoạn tuyệt cuối cùng với ba cõi giới, và sự tan rã của thể chân ngã.
At the end of the third root-race came the first of the great cataclysms that broke the race form, and inaugurated a new one, for it was the first definitely human race as we now know it. The analogy will be found to hold good no matter from what angle the subject may be studied. In the third subrace a correspondence can be traced, though it is not yet apparent to the circumscribed vision which characterises most of us. Close proximity to an effect often veils a cause.
Vào cuối giống dân gốc thứ ba đã xảy ra trận đại biến động đầu tiên làm tan vỡ hình tướng của giống dân ấy, và khai mở một giống dân mới, vì đó là giống dân đầu tiên rõ rệt mang tính nhân loại như chúng ta hiện biết. Sự tương đồng sẽ được thấy là hoàn toàn đúng bất kể đề tài được nghiên cứu từ góc độ nào. Trong giống dân phụ thứ ba, cũng có thể truy ra một sự tương ứng, dù điều đó chưa hiện rõ đối với tầm nhìn hạn hẹp vốn đặc trưng cho phần lớn chúng ta. Sự gần kề quá mức với một hiệu quả thường che khuất nguyên nhân.
4. The law of Magnetic Control (182)
4. Định luật Kiểm Soát Từ Tính (182)
(182) Note the correspondence that can be traced here. On the second plane we have the Law of Cohesion—love. On the second plane of the manifesting Triad, the Law of Magnetic Control—love. Again lower down on the second plane of the Personality, the Law of Love. The accuracy of the analogy is quite interesting, and provides room for speculation. (back)
(182) Hãy lưu ý sự tương ứng có thể được truy ra ở đây. Trên cõi thứ hai, chúng ta có Định luật Cố kết—bác ái. Trên cõi thứ hai của Tam nguyên tinh thần biểu hiện, có Định luật Kiểm Soát Từ Tính—bác ái. Lại thấp hơn nữa, trên cõi thứ hai của phàm ngã, có Định luật Bác ái. Sự chính xác của phép tương đồng này thật khá thú vị, và mở ra chỗ cho sự suy đoán. (back)
This law is the basic law controlling the Spiritual Triad. Through this law, the force of evolution drives the Ego to progress through the cycle of reincarnation back to union with his kind. Through separation he finds himself, and then—driven by the indwelling buddhic or Christ principle—transcends himself, and finds himself again in all selves. This law holds the evolving lower self in a coherent form. It controls the Ego in the causal body, in the same way that the Logos controls the Monad on the second plane. It is the law of the buddhic plane; the [Page 584] Master is one Who can function on the buddhic levels, and Who has magnetic control in the three worlds. The lower is always controlled from above, and the effect the buddhic levels have on the three lower is paramount, though that is scarcely yet conceded by our thinkers. It is the Law of Love, in the three worlds, that holds all together, and that draws all upward. It is the demonstration, in the Triad, of the Law of Attraction.
Đây là định luật căn bản kiểm soát Tam Nguyên Tinh Thần. Qua định luật này, mãnh lực tiến hoá thúc đẩy chân ngã tiến bộ qua chu kỳ tái sinh để trở về hợp nhất với đồng loại của y. Qua sự phân ly, y tìm thấy chính mình, rồi—được nguyên khí Bồ đề hay Christ nội tại thúc đẩy—y vượt lên chính mình, và lại tìm thấy mình trong mọi bản ngã. Định luật này giữ phàm ngã đang tiến hoá trong một hình tướng kết hợp chặt chẽ. Nó kiểm soát chân ngã trong thể nguyên nhân, cũng như Thượng đế kiểm soát chân thần trên cõi thứ hai. Đây là định luật của cõi Bồ đề; [Page 584] Chân sư là Đấng có thể hoạt động trên các cấp độ Bồ đề, và có sự kiểm soát từ tính trong ba cõi giới. Cái thấp luôn luôn được kiểm soát từ trên cao, và ảnh hưởng mà các cấp độ Bồ đề tác động lên ba cõi thấp là tối quan trọng, dù điều đó hầu như chưa được các nhà tư tưởng của chúng ta thừa nhận. Chính Định luật Bác ái, trong ba cõi giới, giữ cho mọi sự gắn kết với nhau, và kéo mọi sự đi lên. Đó là sự biểu lộ, trong Tam nguyên tinh thần, của Định luật Hấp dẫn.
On the path of involution this law works with the permanent atoms in the causal body. It is the buddhic principle, and its relation with the lower permanent atom of the Triad is the mainspring of the life of the Ego. On the path of descent it has much to do with the placing of the permanent atoms, but this matter is very abstruse, and the time has not yet come for further elucidation. At the third outpouring, (in which the fourth kingdom, the human, was formed), it was this Law of Magnetic Control that effected the juncture of astro-animal man, and the descending Monad, using the spark of mind as the method of at-one-ment. Again we can see how it works. The monadic plane, the buddhic plane, and the astral plane are all three closely allied, and we find there the line of least resistance. Hence the facility with which the mystic contacts the buddhic and even higher planes. The lines of least resistance in the three systems are:
Trên con đường giáng hạ tiến hoá, định luật này tác động với các nguyên tử trường tồn trong thể nguyên nhân. Nó là nguyên khí Bồ đề, và mối liên hệ của nó với nguyên tử trường tồn thấp của Tam nguyên tinh thần là động lực chính của đời sống chân ngã. Trên con đường đi xuống, nó có liên quan rất nhiều đến việc định vị các nguyên tử trường tồn, nhưng vấn đề này rất thâm áo, và thời điểm để làm sáng tỏ thêm vẫn chưa đến. Vào lần tuôn đổ thứ ba, (trong đó giới thứ tư, tức giới nhân loại, được hình thành), chính Định luật Kiểm Soát Từ Tính này đã tạo nên sự kết hợp giữa người thú tinh tú và chân thần giáng hạ, dùng tia lửa trí tuệ như phương pháp hợp nhất. Một lần nữa chúng ta có thể thấy nó vận hành như thế nào. Cõi chân thần, cõi Bồ đề, và cõi cảm dục cả ba đều liên hệ mật thiết với nhau, và ở đó chúng ta thấy con đường ít trở ngại nhất. Do đó mới có sự dễ dàng mà nhà thần bí tiếp xúc được với cõi Bồ đề và thậm chí các cõi cao hơn. Các đường ít trở ngại nhất trong ba hệ là:
System
I.
Physical, mental, and atmic.
The atmic was the highest point of achievement in that system.
II.
Astral, buddhic and monadic.
III.
Mental, atmic and logoic
Note the correspondence therefore to be seen between the fourth kingdom and the working of this, the fourth law. It is of vital moment in this fourth chain.
Vì vậy, hãy lưu ý sự tương ứng có thể thấy giữa giới thứ tư và sự vận hành của định luật thứ tư này. Nó có tầm quan trọng thiết yếu trong dãy thứ tư này.
As regards human evolution, this fourth law is of prime importance at this time. The aim of human endeavour [Page 585] is both to be controlled by this law, and likewise to wield it in service. It is the law whereby sex expression, as we know it, is transmuted and elevated; sex is only the physical plane demonstration of the Law of Attraction; it is the working out of that law in the human kingdom, and in all the lower kingdoms, too. The love of all that breathes, and the attraction that works out in service, is the same thing as demonstrated in the Triad. Sex expression, the coming together of two, becomes transmuted into the coming together of many for acts of service, which will give birth to new ideals, and to a new race—the spiritual.
Xét về tiến hoá nhân loại, định luật thứ tư này hiện nay có tầm quan trọng hàng đầu. Mục tiêu của nỗ lực nhân loại [Page 585] vừa là được định luật này kiểm soát, vừa là vận dụng nó trong phụng sự. Đây là định luật nhờ đó sự biểu lộ tính dục như chúng ta biết được chuyển hoá và nâng cao; tính dục chỉ là sự biểu lộ trên cõi hồng trần của Định luật Hấp dẫn; đó là sự triển khai của định luật ấy trong giới nhân loại, và cả trong mọi giới thấp nữa. Tình thương đối với mọi sự sống đang hô hấp, và sức hút được biểu lộ trong phụng sự, cũng chính là điều ấy như được biểu lộ trong Tam nguyên tinh thần. Sự biểu lộ tính dục, sự đến với nhau của hai, được chuyển hoá thành sự đến với nhau của nhiều người trong các hành vi phụng sự, những hành vi sẽ sinh ra các lý tưởng mới, và một nhân loại mới—nhân loại tinh thần.
Here I might point out a numerical fact that may be of interest in connection with the fourth hierarchy. This human hierarchy is the fourth, as we know, yet if we count the five hierarchies that have passed on, it is in reality the ninth. Nine is the number of initiation, the number of the adept, and of the man who functions in his buddhic vehicle.
Ở đây tôi có thể chỉ ra một sự kiện số học có thể đáng quan tâm liên quan đến Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư. Huyền giai nhân loại này là thứ tư, như chúng ta biết, nhưng nếu tính cả năm huyền giai đã đi qua, thì trên thực tế nó là thứ chín. Chín là con số của điểm đạo, con số của chân sư, và của con người hoạt động trong vận cụ Bồ đề của mình.
The fourth Ray also operates in close connection with the fourth Law. It is the Ray of Harmony or Beauty—Harmony through control, that control entailing the knowledge of wisdom. It is the harmony of similarity; it is the equilibrising of all through the realisation of the laws of magnetism that produce the co-ordination of the many diverse into the one homogeneous; magnetism governs the synthesis of the many aspects into a form of unity. This harmony is reached through the fifth plane, and the fifth Ray of Concrete Knowledge acts as a step to the fourth, for many who work on the fifth Ray pass eventually to the fourth. In this system the fifth Ray is of paramount importance in the development of all egos. Each must pass some time on it before definitely remaining on his monadic Ray. In many incarnations much time is spent on the fifth subplane of each plane, which is governed principally by the fifth Ray. All pass [Page 586] then on the fourth subplane governed by the fourth Ray, and in this particular period of the fourth round in the fourth chain, more time is spent on the fourth subplane by evolving Egos than on any other. Many come into incarnation directly on to this plane, and it is here that they begin to think harmoniously.
Cung bốn cũng vận hành trong liên hệ mật thiết với Định luật thứ tư. Đó là Cung của Hài Hoà hay Mỹ Đẹp—Hài Hoà thông qua kiểm soát, mà sự kiểm soát ấy bao hàm tri thức về minh triết. Đó là sự hài hoà của tính tương đồng; là sự quân bình hoá mọi sự thông qua sự chứng nghiệm các định luật từ điện vốn tạo ra sự phối hợp của nhiều yếu tố dị biệt thành một thể đồng nhất; từ điện chi phối sự tổng hợp của nhiều phương diện thành một hình thức hợp nhất. Sự hài hoà này đạt được qua cõi thứ năm, và cung năm của Tri Thức Cụ Thể hoạt động như một nấc thang dẫn đến cung bốn, vì nhiều người hoạt động trên cung năm cuối cùng chuyển sang cung bốn. Trong hệ này, cung năm có tầm quan trọng tối cao trong sự phát triển của mọi chân ngã. Mỗi chân ngã đều phải trải qua một thời gian trên cung ấy trước khi dứt khoát an trụ trên cung chân thần của mình. Trong nhiều kiếp lâm phàm, nhiều thời gian được trải qua trên cõi phụ thứ năm của mỗi cõi, vốn chủ yếu do cung năm chi phối. Tất cả rồi đều đi qua [Page 586]cõi phụ thứ tư do cung bốn chi phối, và trong giai đoạn đặc biệt này của cuộc tuần hoàn thứ tư trong dãy thứ tư, các chân ngã đang tiến hoá dành nhiều thời gian trên cõi phụ thứ tư hơn bất kỳ cõi nào khác. Nhiều chân ngã đi vào lâm phàm trực tiếp trên cõi này, và chính tại đây họ bắt đầu suy nghĩ một cách hài hoà.
S6S3
The Laws in the Three Worlds.—We will now take up and briefly study the three most important laws affecting the evolving human being, as he lives his life in the three worlds. These laws are:
Các Định luật trong Ba Cõi Giới.—Giờ đây chúng ta sẽ đề cập đến và nghiên cứu ngắn gọn ba định luật quan trọng nhất ảnh hưởng đến con người đang tiến hoá, khi y sống đời mình trong ba cõi giới. Các định luật ấy là:
1. The Law of Fixation.
1. Định luật Cố Định.
2. The Law of Love.
2. Định luật Bác ái.
3. The Law of Sacrifice and Death.
3. Định luật Hi sinh và Tử vong.
These laws are all dominated and controlled eventually by the three higher laws in the system—the Laws of Magnetic Control, of Disintegration, and of Cohesion. There is a direct connection between these seven laws and the seven Rays or Vibrations, and if we study the correspondence we shall recognise the fact that the first law, that of Vibration, is the controlling law of the six, demonstrating through the second law, that of Cohesion, just as the solar Logos is at this time manifesting Himself through His second aspect in this the second solar system.
Rốt cuộc, các định luật này đều bị chi phối và kiểm soát bởi ba định luật cao hơn trong hệ—các Định luật Kiểm Soát Từ Tính, Tan Rã, và Cố Kết. Có một mối liên hệ trực tiếp giữa bảy định luật này và bảy cung hay rung động, và nếu chúng ta nghiên cứu sự tương ứng, chúng ta sẽ nhận ra sự kiện rằng định luật thứ nhất, tức Định luật Rung động, là định luật kiểm soát của sáu định luật kia, biểu lộ qua định luật thứ hai, tức Định luật Cố Kết, cũng như Thái dương Thượng đế hiện nay đang biểu lộ chính Ngài qua phương diện thứ hai của Ngài trong hệ mặt trời thứ hai này.
The first Ray of Will or Power is the first aspect of the All-self, and in the third outpouring, (183) came [Page 587] down to the fifth plane, along with the other monads.
Cung một của Ý Chí hay Quyền năng là phương diện thứ nhất của Đại Ngã, và trong lần tuôn đổ thứ ba, (183) đã đi xuống [Page 587]đến cõi thứ năm, cùng với các chân thần khác.
(183) The Three Outpourings. “In the diagram the symbols of the three Aspects (of the Logos) are placed outside of time and space, and only the streams of influence from them descend into our system of planes....They represent in due order what are commonly called the three Persons of the Trinity....It will be seen that from each of them an outpouring of life or force is projected into the planes below. The first of these in order is the straight line which descends from the third Aspect; the second is that part of the large oval which lies on our left hand—the stream which descends from the second Aspect until it has touched the lowest point in matter, and then rises again up the side on our right hand until it reaches the lower mental level. It will be noted that in both of these outpourings the divine life becomes darker and more veiled as it descends into matter, until at the lowest point we might almost fail to recognise it as divine life at all; but as it rises again when it has passed its nadir it shows itself somewhat more clearly. The third outpouring which descends from the highest aspect of the Logos differs from the others in that it is in no way clouded by the matter through which it passes, but retains its virgin purity and splendour untarnished. It will be noted that this outpouring descends only to the level of the buddhic plane (the fourth plane) and that the link between the two is formed by a triangle in a circle, representing the individual soul of man—the reincarnating ego. Here the triangle is contributed by the third outpouring and the circle by the second....”—The Christian Creed, by C. W. Leadbeater, pp. 39, 40. (back)
(183) Ba Lần Tuôn Đổ. “Trong biểu đồ, các biểu tượng của ba Phương diện (của Thượng đế) được đặt ra ngoài thời gian và không gian, và chỉ các dòng ảnh hưởng từ các Ngài mới đi xuống vào hệ cõi của chúng ta.... Chúng lần lượt biểu thị điều thường được gọi là ba Ngôi của Tam Vị.... Sẽ thấy rằng từ mỗi Ngài, một lần tuôn đổ sự sống hay mãnh lực được phóng chiếu vào các cõi bên dưới. Lần tuôn đổ đầu tiên theo thứ tự là đường thẳng đi xuống từ Phương diện thứ ba; lần thứ hai là phần của hình bầu dục lớn nằm bên tay trái chúng ta—dòng đi xuống từ Phương diện thứ hai cho đến khi chạm tới điểm thấp nhất trong vật chất, rồi lại đi lên phía bên tay phải chúng ta cho đến khi đạt tới cấp độ hạ trí. Cần lưu ý rằng trong cả hai lần tuôn đổ này, sự sống thiêng liêng trở nên tối hơn và bị che phủ nhiều hơn khi đi xuống vào vật chất, cho đến tại điểm thấp nhất chúng ta hầu như không còn nhận ra đó là sự sống thiêng liêng nữa; nhưng khi nó đi lên trở lại sau khi đã qua điểm thấp nhất của mình, nó biểu lộ phần nào rõ ràng hơn. Lần tuôn đổ thứ ba đi xuống từ phương diện cao nhất của Thượng đế khác với hai lần kia ở chỗ nó hoàn toàn không bị chất liệu mà nó đi qua làm mờ đục, mà giữ nguyên sự tinh khiết trinh nguyên và vẻ huy hoàng không tì vết của nó. Cần lưu ý rằng lần tuôn đổ này chỉ đi xuống đến cấp độ của cõi Bồ đề (cõi thứ tư) và mối liên kết giữa hai bên được tạo thành bởi một tam giác trong một vòng tròn, tượng trưng cho linh hồn cá nhân của con người—chân ngã tái sinh. Ở đây tam giác do lần tuôn đổ thứ ba đóng góp và vòng tròn do lần tuôn đổ thứ hai....”—The Christian Creed, của C. W. Leadbeater, tr. 39, 40. (back)
A subtle correspondence exists between the monads of Will on the fifth plane, the fifth law, and the fifth Ray.
Có một sự tương ứng vi tế giữa các chân thần của Ý Chí trên cõi thứ năm, định luật thứ năm, và cung năm.
The second Ray or the Love-Wisdom aspect wields a control on the fourth and sixth planes, and dominates the Laws of Cohesion and Magnetic Control, and the astral Law of Love. There is a direct interlinking between the abstract Rays and the laws of the planes where they specially control.
Cung hai hay phương diện Bác Ái – Minh Triết thực thi sự kiểm soát trên các cõi thứ tư và thứ sáu, và chi phối các Định luật Cố Kết và Kiểm Soát Từ Tính, cùng Định luật Bác ái trên cõi cảm dục. Có một sự liên kết trực tiếp giữa các cung trừu tượng và các định luật của những cõi mà chúng đặc biệt kiểm soát.
The third Ray which is the Activity aspect, controls the Laws of Disintegration and of Death, on the third and seventh planes.
Cung ba, tức phương diện Hoạt động, kiểm soát các Định luật Tan Rã và Tử vong, trên các cõi thứ ba và thứ bảy.
Therefore, it will be apparent to the careful student of the wisdom that:
Do đó, điều sẽ hiển nhiên đối với đạo sinh cẩn trọng của minh triết là:
1. The Power Aspect—Ray 1, Planes 1 and 5, and the Laws of Fixation and Vibration, form one interlocking whole.
1. Phương diện Quyền năng—cung một, các cõi 1 và 5, và các Định luật Cố Định và Rung động, tạo thành một toàn thể móc nối với nhau.
2. The Love Aspect—Ray 2, Planes 2, 4, 6, and the Laws of Cohesion, Magnetic Control, and of Love, form another unit.
2. Phương diện Bác ái—cung hai, các cõi 2, 4, 6, và các Định luật Cố Kết, Kiểm Soát Từ Tính, và Bác ái, tạo thành một đơn vị khác.
3. The Activity Aspect—Ray 3, Planes 3 and 7, and the Laws of Disintegration, Sacrifice and Death, make still another group.
3. Phương diện Hoạt động—cung ba, các cõi 3 và 7, và các Định luật Tan Rã, Hi sinh và Tử vong, tạo thành một nhóm khác nữa.
It is logical for the first Ray only to have control, as yet, on two planes, for the Power Aspect waits for another system in order to demonstrate in full development. Ray two, the synthetic Ray for our system, controls [Page 588] on three planes; it has the preponderance, for paramountly we are the Monads of Love, and Love is our synthesis. Ray three, the dominant Ray of the system which is past, its synthetic Ray, controls on two planes, and on one that is little understood, for, just as the physical body is not considered a principle, so there is a sphere of activity that is not included in our enumeration, it is past and gone. Some explanation of this lies hid in the occult words, “The Eighth Sphere.”
Việc cung một hiện nay chỉ kiểm soát trên hai cõi là điều hợp lý, vì Phương diện Quyền năng chờ một hệ khác để biểu lộ trong sự phát triển trọn vẹn. Cung hai, cung tổng hợp của hệ chúng ta, kiểm soát [Page 588]trên ba cõi; nó chiếm ưu thế, vì về căn bản chúng ta là các chân thần của Bác ái, và Bác ái là sự tổng hợp của chúng ta. Cung ba, cung chi phối của hệ đã qua, tức cung tổng hợp của hệ ấy, kiểm soát trên hai cõi, và trên một cõi ít được thấu hiểu, vì cũng như thể xác không được xem là một nguyên khí, nên có một khối cầu hoạt động không được kể vào sự liệt kê của chúng ta, nó đã qua và đã mất. Một phần giải thích cho điều này ẩn giấu trong những lời huyền bí: “Khối Cầu Thứ Tám.”
In regard to the four minor Rays of Harmony, Concrete Science, Devotion and Ceremonial Order, their control exists in degrees on all the planes, but they have their particular emphasis in the evolution of the reincarnating ego in the three worlds at this time. These four Rays control, in a subtle and peculiar manner, the four kingdoms of nature—mineral, vegetable, animal and human—and at their merging into the three Rays of Aspect (the Activity Ray of the Mahachohan being the synthesiser of the lower four in our planetary scheme) have a correspondence with the merging of man (the product of the three kingdoms and the fourth) into the superman kingdom, the spiritual. The fourth Ray and the fourth Kingdom form a point of harmony for the lower three, and all four then pass into the major or upper three. This is worthy of our serious thought, and the analogy of the fourth plane will also be apparent. For this system, the buddhic plane, the human kingdom, and the fourth Ray of Harmony or Beauty or Synthesis, have a point of correspondence, just as the fourth rootrace is the one in which the synthesis is first observed—the door into the fifth kingdom of Spirit being then opened; the fourth rootrace also developed the astral capacity that made contact with the fourth or buddhic level possible.
Đối với bốn cung phụ là Hài Hoà, Khoa Học Cụ Thể, Sùng tín và Trật Tự Nghi Lễ, sự kiểm soát của chúng tồn tại ở những mức độ khác nhau trên mọi cõi, nhưng chúng có điểm nhấn đặc biệt trong sự tiến hoá của chân ngã tái sinh trong ba cõi giới vào thời điểm này. Bốn cung này kiểm soát, theo một cách vi tế và đặc thù, bốn giới trong thiên nhiên—giới kim thạch, giới thực vật, giới động vật và giới nhân loại—và khi chúng hợp nhất vào ba Các Cung Trạng Thái (cung Hoạt động của Đức Mahachohan là cung tổng hợp của bốn cung thấp trong hệ hành tinh của chúng ta), chúng có một sự tương ứng với sự hợp nhất của con người (sản phẩm của ba giới và giới thứ tư) vào giới siêu nhân, tức giới tinh thần. Cung bốn và giới thứ tư tạo thành một điểm hài hoà cho ba giới thấp, và rồi cả bốn cùng đi vào ba giới lớn hay ba giới cao. Điều này đáng để chúng ta suy nghĩ nghiêm túc, và phép tương đồng của cõi thứ tư cũng sẽ hiển nhiên. Đối với hệ này, cõi Bồ đề, giới nhân loại, và cung bốn của Hài Hoà hay Mỹ Đẹp hay Tổng Hợp, có một điểm tương ứng, cũng như giống dân gốc thứ tư là giống dân trong đó sự tổng hợp lần đầu tiên được quan sát—cánh cửa vào giới thứ năm của tinh thần khi ấy được mở ra; giống dân gốc thứ tư cũng phát triển năng lực cảm dục khiến cho việc tiếp xúc với cấp độ thứ tư hay Bồ đề trở nên khả hữu.
In a subtle way too (I use the word subtle for lack of a better, meaning a statement of actuality that seems an [Page 589] illusion), the three minor Rays, Concrete Science, Devotion and Ceremonial Law, have each a connection with the three kingdoms of nature below the human, and with the three laws of the three lower worlds.
Cũng theo một cách vi tế (tôi dùng từ vi tế vì thiếu một từ tốt hơn, muốn nói đến một phát biểu về thực tại mà dường như là một [Page 589] ảo tưởng), ba cung phụ là Khoa Học Cụ Thể, Sùng tín và Định luật Nghi Lễ, mỗi cung đều có một liên hệ với ba giới thiên nhiên bên dưới giới nhân loại, và với ba định luật của ba cõi thấp.
The Ray of Ceremonial Order has special significance at this time; it controls life in the mineral world, and in the final stages of involutionary life at the point where the upward turn of evolution is made. Through Ceremonial Order comes the control of the lesser builders, the elemental forces, the point of synthesis in the lowest plane of all, the period of transition. In all such periods the seventh Ray comes in (as now) the Ray of Law and Order, of accurate arrangement and formation. It is the reflection on the physical plane of the Power and Activity Aspects working in synthesis. Rays 1, 3, 7, have an interplay, as we know. Ray seven is the appearance in combination of the forces of evolution. It is the manifestation of Power and Activity on the lowest plane of all. It is allied to the laws of the third and seventh planes, Disintegration and Death, for all periods of transition are periods of the destruction and building of forms, and the shattering of the old in order that newer and better chalices of life may be constructed.
Cung của Trật Tự Nghi Lễ hiện nay có ý nghĩa đặc biệt; nó kiểm soát sự sống trong giới kim thạch, và trong các giai đoạn cuối của sự sống giáng hạ tiến hoá tại điểm mà bước ngoặt đi lên của tiến hoá được thực hiện. Qua Trật Tự Nghi Lễ mà có sự kiểm soát các vị tiểu kiến tạo, các mãnh lực hành khí, điểm tổng hợp trên cõi thấp nhất trong tất cả, giai đoạn chuyển tiếp. Trong mọi giai đoạn như thế, cung bảy đều đi vào (như hiện nay), cung của Định luật và Trật tự, của sự sắp xếp và hình thành chính xác. Nó là sự phản chiếu trên cõi hồng trần của các phương diện Quyền năng và Hoạt động đang vận hành trong tổng hợp. Các cung 1, 3, 7 có sự tương tác, như chúng ta biết. Cung bảy là sắc tướng kết hợp của các mãnh lực tiến hoá. Nó là sự biểu lộ của Quyền năng và Hoạt động trên cõi thấp nhất trong tất cả. Nó liên hệ với các định luật của cõi thứ ba và thứ bảy, Tan Rã và Tử vong, vì mọi giai đoạn chuyển tiếp đều là những giai đoạn huỷ diệt và xây dựng hình tướng, và đập tan cái cũ để những chén thánh mới hơn và tốt hơn của sự sống có thể được kiến tạo.
The Ray of Devotion has a definite though little known connection with the vegetable kingdom. We must remember that it is linked to a subsidiary law of the cosmic Law of Attraction. It is in the vegetable kingdom that we find one of the first and temporary approximations between the evolving human Monad, and the evolving deva Monad. The two parallel evolutions touch in that kingdom, and then again follow their own paths, finding their next point of contact on the fourth or buddhic level, and a final merging on the second.
Cung của Sùng tín có một liên hệ xác định tuy ít được biết đến với giới thực vật. Chúng ta phải nhớ rằng nó gắn với một định luật phụ của Định luật Hấp dẫn vũ trụ. Chính trong giới thực vật mà chúng ta tìm thấy một trong những sự tiếp cận đầu tiên và tạm thời giữa chân thần nhân loại đang tiến hoá và chân thần thiên thần đang tiến hoá. Hai đường tiến hoá song song chạm nhau trong giới ấy, rồi lại đi theo con đường riêng của mình, tìm thấy điểm tiếp xúc kế tiếp trên cấp độ thứ tư hay Bồ đề, và sự hợp nhất cuối cùng trên cấp độ thứ hai.
The concrete Rays have an especial effect on the negative evolution of the devas, who form the feminine aspect of the divine hermaphroditic Man, working along [Page 590] the lines of more positive development. The abstract Rays do a similar work on the positive human hierarchy, tending towards a more receptive attitude. This hierarchy forms the masculine aspect of the divine Hermaphrodite. But at three points on the path of evolution the Monads of Love, working on the abstract qualities, touch the devas of activity working on concrete faculty. The perfection of the two evolutions marks the point of attainment of the divine Heavenly Man; it is the perfecting of the two major centres, creative activity and love, of the Logos. In their lower aspect these centres are known as the centres of generation and the solar plexus, but are transmuted, as evolution proceeds, into the throat and heart centres. Then, in a dual synthesis, they will pass on into the third system, that in which the Power aspect is developed, and the head centres will be complete. This achieved, our Logos has triumphed, and measured up to the sixth cosmic Initiation, just as He should measure up in this system to the fourth.
Các cung cụ thể có một ảnh hưởng đặc biệt lên sự tiến hoá âm của các thiên thần, những vị tạo thành phương diện nữ của Con Người lưỡng tính thiêng liêng, đang hoạt động theo [Page 590] các đường phát triển tích cực hơn. Các cung trừu tượng làm một công việc tương tự trên huyền giai nhân loại dương, khiến nó có xu hướng tiến đến một thái độ tiếp nhận hơn. Huyền giai này tạo thành phương diện nam của Đấng Lưỡng Tính thiêng liêng. Nhưng tại ba điểm trên con đường tiến hoá, các chân thần của Bác ái, hoạt động trên các phẩm tính trừu tượng, chạm đến các thiên thần của hoạt động đang làm việc trên năng lực cụ thể. Sự hoàn thiện của hai đường tiến hoá đánh dấu điểm thành tựu của Đấng Thiên Nhân thiêng liêng; đó là sự hoàn thiện của hai trung tâm lớn, hoạt động sáng tạo và bác ái, của Thượng đế. Trong phương diện thấp của chúng, các trung tâm này được biết là các trung tâm sinh sản và tùng thái dương, nhưng được chuyển hoá, khi tiến hoá tiến triển, thành trung tâm cổ họng và trung tâm tim. Rồi, trong một tổng hợp kép, chúng sẽ chuyển sang hệ thứ ba, hệ trong đó phương diện Quyền năng được phát triển, và các trung tâm đầu sẽ hoàn tất. Khi điều này đạt được, Thượng đế của chúng ta đã chiến thắng, và đạt đến lần điểm đạo vũ trụ thứ sáu, cũng như trong hệ này Ngài phải đạt đến lần điểm đạo thứ tư.
The Ray of Concrete Science has a peculiar relationship to the animal kingdom, in that it is the Ray that governs the merging of that kingdom into the human. The planet, Venus, in her fifth round, gave the impetus which produced the spark of mind in animal man—a fact well known. It is also the fifth Ray, and has an interesting connection with the fifth Law of Fixation. We might study, too, with profit, the analogy that can be seen between these factors and the fifth root-race, the race of peculiarly strong development of the concrete mind. The Law of Analogy always holds good.
Cung của Khoa Học Cụ Thể có một mối liên hệ đặc biệt với giới động vật, ở chỗ đó là cung chi phối sự hợp nhất của giới ấy vào giới nhân loại. Hành tinh Sao Kim, trong cuộc tuần hoàn thứ năm của nó, đã tạo ra xung lực sản sinh tia lửa trí tuệ trong người thú—một sự kiện ai cũng biết. Nó cũng là cung năm, và có một liên hệ thú vị với Định luật Cố Định thứ năm. Chúng ta cũng có thể nghiên cứu, một cách hữu ích, phép tương đồng có thể thấy giữa các yếu tố này và giống dân gốc thứ năm, giống dân có sự phát triển đặc biệt mạnh mẽ của trí cụ thể. Định luật Tương đồng luôn luôn đúng.
With this as a basis, the three laws of the personality become replete with life, and can be summed up in the well-known term, “The Law of Rebirth and Death in the three worlds.” The fifth law governs a fixed point in the personality, that of the fifth principle.
Lấy điều này làm nền tảng, ba định luật của phàm ngã trở nên tràn đầy sự sống, và có thể được tóm lược trong thuật ngữ quen thuộc, “Định luật Tái sinh và Tử vong trong ba cõi giới.” Định luật thứ năm chi phối một điểm cố định trong phàm ngã, tức nguyên khí thứ năm.
[Page 591] The Law of Love in the astral body also has its points for consideration. There is a direct link between the astral body (love in the personality), the buddhic vehicle (love in the Triad), and the Monads of Love. Later on, this will be understood more fully, but it is the main channel for the basic law of the system, Love. These three points mark periods of completion, and likewise starting-points for fresh endeavour in the life of the evolving Monad—from the personality to the Triad, from the Triad to the Monad, from the Monad back again to its source.
[Page 591] Định luật Bác ái trong thể cảm dục cũng có những điểm cần được xem xét. Có một mối liên kết trực tiếp giữa thể cảm dục (bác ái trong phàm ngã), vận cụ Bồ đề (bác ái trong Tam nguyên tinh thần), và các chân thần của Bác ái. Về sau, điều này sẽ được thấu hiểu đầy đủ hơn, nhưng đó là kênh chính cho định luật căn bản của hệ, tức Bác ái. Ba điểm này đánh dấu các giai đoạn hoàn tất, và đồng thời cũng là các điểm khởi đầu cho nỗ lực mới trong đời sống của chân thần đang tiến hoá—từ phàm ngã đến Tam nguyên tinh thần, từ Tam nguyên tinh thần đến chân thần, từ chân thần trở lại nguồn cội của nó.
5. The Law of Fixation.—This is the governing law of the mental plane, finding its greater correspondence in the Law of Karma on cosmic mental levels. “As a man thinks, so is he;” according to his thoughts are his desires and acts, and so results the future. He fixes for himself the resultant karma. The word “Fixation” is chosen for two purposes: First, because the word implies the capacity of the thinker to shape his own destiny, and secondly because the word implies a stabilising idea, for as evolution progresses, the Ego evolves the faculty of forming definite concrete thought-forms, and, through these stable products, of subduing the fluctuations of the astral body.
5. Định luật Cố Định.—Đây là định luật chi phối cõi trí, tìm thấy sự tương ứng lớn hơn của nó trong Định luật Nghiệp quả trên các cấp độ trí tuệ vũ trụ. “Con người nghĩ sao, y là vậy;” theo tư tưởng của y mà có các ham muốn và hành động của y, và như thế tương lai được tạo thành. Y tự cố định cho mình nghiệp quả kết thành. Từ “Cố Định” được chọn vì hai mục đích: thứ nhất, vì từ này hàm ý năng lực của thức giả trong việc định hình số phận của chính mình, và thứ hai, vì từ này hàm ý một ý tưởng ổn định, bởi lẽ khi tiến hoá tiến triển, chân ngã phát triển năng lực tạo thành những hình tư tưởng cụ thể xác định, và qua các sản phẩm ổn định ấy, chế ngự những dao động của thể cảm dục.
This law of the fifth, or mental plane is one of the most important laws with which we have to do at any time, and it will find its most complete demonstration in the next, or fifth round. In relation to this fourth round the following facts may be gathered about its working:
Định luật của cõi thứ năm, hay cõi trí, là một trong những định luật quan trọng nhất mà chúng ta phải đề cập đến vào bất kỳ lúc nào, và nó sẽ tìm thấy sự biểu lộ đầy đủ nhất của mình trong cuộc tuần hoàn kế tiếp, hay cuộc tuần hoàn thứ năm. Liên hệ với cuộc tuần hoàn thứ tư này, có thể rút ra các sự kiện sau đây về sự vận hành của nó:
It is the law under which the evolving personality builds up, during the course of many lives, the causal body; it fixes the matter inhering in that body, placed there by the man as the ages slip away, and crystallises it. Before the fourth Initiation the crystallisation is complete, and the inevitable shattering that is the result of crystallisation in all forms, takes place, setting the [Page 592] indwelling life free for further progress. All forms are but hindrances and limitations, and ultimately must go, but they have their needed place in the development of the race. Eventually the causal body of the entire race itself disintegrates.
Đây là định luật mà dưới đó phàm ngã đang tiến hoá xây dựng thể nguyên nhân trong tiến trình của nhiều kiếp sống; nó cố định chất liệu vốn có trong thể ấy, được con người đặt vào đó khi các thời đại trôi qua, và kết tinh nó. Trước lần điểm đạo thứ tư, sự kết tinh hoàn tất, và sự đập vỡ tất yếu vốn là kết quả của sự kết tinh trong mọi hình tướng sẽ xảy ra, giải thoát sự sống [Page 592]nội tại để tiến bộ thêm. Mọi hình tướng chỉ là những chướng ngại và giới hạn, và rốt cuộc đều phải ra đi, nhưng chúng có vị trí cần thiết của mình trong sự phát triển của nhân loại. Cuối cùng, chính thể nguyên nhân của toàn thể nhân loại cũng tan rã.
This law governs the crystallisation of all forms prior to their shattering in the process of evolution.
Định luật này chi phối sự kết tinh của mọi hình tướng trước khi chúng bị đập vỡ trong tiến trình tiến hoá.
It governs the time of rebirth, being one of the subsidiary branches of the Law of Karma. Each of the seven subsidiary laws is linked to one of the cosmic laws, or with the Sirian Law of Karma. We need always to remember that the consciousness of the cosmic mental plane is the logoic goal of attainment, and that the Sirian Logos is to our solar Logos what the human Ego is to the personality. The Law of Karma, or cosmic Fixation, is the law of the cosmic mental plane, and controls the corresponding law in our system.
Nó chi phối thời điểm tái sinh, là một trong những nhánh phụ của Định luật Nghiệp quả. Mỗi một trong bảy định luật phụ đều gắn với một trong các định luật vũ trụ, hoặc với Định luật Nghiệp quả của Sirius. Chúng ta luôn cần nhớ rằng tâm thức của cõi trí tuệ vũ trụ là mục tiêu thành tựu của Thượng đế, và rằng Thượng đế Sirius đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta cũng như chân ngã nhân loại đối với phàm ngã. Định luật Nghiệp quả, hay sự Cố Định vũ trụ, là định luật của cõi trí tuệ vũ trụ, và kiểm soát định luật tương ứng trong hệ của chúng ta.
In the fifth round this law will act as the divider, temporarily crystallising and fixing into two great classes the human Monads, as they evolve. One group then (containing those who will reach the goal), will pass gradually out from under the domination of this law, and will come under the Law of Magnetic Control. The other will remain under the law in a static condition, until in a later period a fresh opportunity will come; old forms will break, and in another mahamanvantara, and in its fifth period, will come the chance for which they will have waited, when they can again swing into the current of evolution and the imprisoned spirits may mount again towards their source.
Trong cuộc tuần hoàn thứ năm, định luật này sẽ hoạt động như yếu tố phân chia, tạm thời kết tinh và cố định các chân thần nhân loại đang tiến hoá thành hai nhóm lớn. Khi ấy, một nhóm (gồm những vị sẽ đạt mục tiêu) sẽ dần dần thoát khỏi sự chi phối của định luật này, và sẽ đi vào dưới Định luật Kiểm Soát Từ Tính. Nhóm kia sẽ vẫn ở dưới định luật ấy trong một trạng thái tĩnh, cho đến khi trong một thời kỳ sau một cơ hội mới xuất hiện; các hình tướng cũ sẽ vỡ tan, và trong một Đại giai kỳ sinh hóa khác, và trong thời kỳ thứ năm của nó, sẽ đến cơ hội mà họ đã chờ đợi, khi họ có thể lại hòa vào dòng tiến hoá và các tinh thần bị giam hãm có thể lại vươn lên về nguồn cội của mình.
In an occult sense this law is for us the one with which we are the most intimately concerned. It plays an important part in the hands of the Lords of Flame, and is one of Their main factors in controlling the three worlds. Note here an interesting fact, that Venus is the sixth planet (esoterically the second), and is in her [Page 593] fifth round, and hence is ahead of us along every line.
Theo nghĩa huyền bí, đối với chúng ta đây là định luật mà chúng ta liên hệ mật thiết nhất. Nó đóng một vai trò quan trọng trong tay các Đấng Chúa Tể của Lửa, và là một trong những yếu tố chính của Các Ngài trong việc kiểm soát ba cõi giới. Hãy lưu ý ở đây một sự kiện thú vị, rằng Sao Kim là hành tinh thứ sáu (một cách huyền bí là thứ hai), và đang ở trong [Page 593] cuộc tuần hoàn thứ năm của nó, và do đó đi trước chúng ta trên mọi phương diện.
This law demonstrates the static quality of love, static temporarily, but necessarily so when viewed from the standpoint of time, the great deluder. On the path of involution this law again works with the permanent atoms in the three worlds, with the building in of material around those atoms, in connection with the building devas and the reincarnating Egos. The devas are the mother aspect, the builders of the body, and the reincarnating Jivas are the son aspect; yet the two are but one, and the result is the divine hermaphroditic man. (See page 512)
Định luật này biểu lộ phẩm tính tĩnh của bác ái, tạm thời là tĩnh, nhưng tất yếu là như vậy khi được nhìn từ quan điểm của thời gian, kẻ đại mê hoặc. Trên con đường giáng hạ tiến hoá, định luật này lại tác động với các nguyên tử trường tồn trong ba cõi giới, với việc xây dựng chất liệu quanh các nguyên tử ấy, liên hệ với các thiên thần kiến tạo và các chân ngã tái sinh. Các thiên thần là phương diện mẹ, những đấng kiến tạo thể, còn các jiva tái sinh là phương diện con; tuy nhiên cả hai chỉ là một, và kết quả là con người lưỡng tính thiêng liêng. (Xem trang 512)
6. The Law of Love.—It is not easy, in this brief digest, to approach the tremendous problem of the place love plays in the evolving scheme of things as understood by three-dimensional man. A treatise could be written on the subject, and yet leave it unexhausted. Much light comes if we can ponder deeply on the three expressions of Love: Love in the Personality, Love in the Ego, and Love in the Monad. Love in the Personality gradually develops through the stages of love of self, pure and simple and entirely selfish, to love of family and friends, to love of men and women, until it arrives at the stage of love of humanity or group love consciousness which is the predominant characteristic of the Ego. A Master of Compassion loves, suffers with, and remains with His kind and with His kin. Love in the Ego gradually develops from love of humanity into love universal—a love that expresses not only love of humanity, but also love of the deva evolutions in their totality, and of all forms of divine manifestation. Love in the Personality is love in the three worlds; love in the Ego is love in the solar system, and all that it contains; whilst love in the Monad demonstrates a measure of cosmic love, and embraces much that is outside the solar system altogether.
6. Định luật Bác ái.—Trong bản tóm lược ngắn này, không dễ để tiếp cận vấn đề to lớn về vị trí mà bác ái giữ trong sơ đồ tiến hoá của vạn vật như được con người ba chiều thấu hiểu. Có thể viết cả một chuyên luận về đề tài này mà vẫn chưa cạn. Nhiều ánh sáng sẽ đến nếu chúng ta có thể suy gẫm sâu xa về ba biểu lộ của Bác ái: Bác ái trong phàm ngã, Bác ái trong chân ngã, và Bác ái trong chân thần. Bác ái trong phàm ngã dần dần phát triển qua các giai đoạn từ tình yêu bản thân, thuần tuý và hoàn toàn ích kỷ, đến tình yêu gia đình và bạn hữu, đến tình yêu đối với những người nam và nữ, cho đến khi đạt tới giai đoạn yêu thương nhân loại hay tâm thức bác ái nhóm vốn là đặc tính nổi trội của chân ngã. Một Chân sư của Lòng Từ Bi yêu thương, cùng chịu khổ với, và ở lại với đồng loại và thân tộc của Ngài. Bác ái trong chân ngã dần dần phát triển từ tình yêu nhân loại thành tình yêu phổ quát—một tình yêu biểu lộ không chỉ tình yêu đối với nhân loại, mà còn cả tình yêu đối với các đường tiến hoá thiên thần trong toàn thể của chúng, và đối với mọi hình thức biểu lộ thiêng liêng. Bác ái trong phàm ngã là bác ái trong ba cõi giới; bác ái trong chân ngã là bác ái trong hệ mặt trời, và mọi điều nó chứa đựng; còn bác ái trong chân thần biểu lộ một mức độ bác ái vũ trụ, và bao trùm nhiều điều hoàn toàn ở ngoài hệ mặt trời.
[Page 594] This term “The Law of Love,” is after all too generic a term to apply to one law governing one plane, but will have to suffice for the present, as it conveys the type of idea that is needed, to our minds. The Law of Love is in reality but the law of the system in demonstration on all the planes. Love was the impelling motive for manifestation, and love it is that keeps all in ordered sequence; love bears all on the path of return to the Father’s bosom, and love eventually perfects all that is. It is love that builds the forms that cradle temporarily the inner hidden life, and love is the cause of the disruption of those forms, and their utter shattering, so that the life may further progress. Love manifests on each plane as the urge that drives the evolving Monad onwards to its goal, and love is the key to the deva kingdom, and the reason of the blending of the two kingdoms eventually into the divine Hermaphrodite. Love works through the concrete rays in the building of the system, and in the rearing of the structure that shelters the Spirit, and love works through the abstract rays for the full and potent development of that inherent divinity. Love demonstrates, through the concrete rays, the aspects of divinity, forming the persona that hides the one Self; love demonstrates through the abstract rays in developing the attributes of divinity, in evolving to fullest measure the kingdom of God within. Love in the concrete rays leads to the path of occultism; love in the abstract rays leads to that of the mystic. Love forms the sheath and inspires the life; love causes the logoic vibration to surge forward, carrying all on its way, and bringing all to perfected manifestation.
[Page 594] Thuật ngữ này, “Định luật Bác ái,” rốt cuộc vẫn là một thuật ngữ quá khái quát để áp dụng cho một định luật chi phối một cõi, nhưng hiện thời sẽ phải tạm dùng như vậy, vì nó chuyển tải loại ý tưởng mà trí tuệ chúng ta cần. Trên thực tế, Định luật Bác ái chỉ là định luật của hệ đang biểu lộ trên mọi cõi. Bác ái là động cơ thúc đẩy sự biểu hiện, và chính bác ái giữ cho mọi sự ở trong trình tự điều hoà; bác ái mang mọi sự trên Con Đường Trở Về về với lòng Cha, và bác ái cuối cùng hoàn thiện mọi cái đang hiện hữu. Chính bác ái xây dựng các hình tướng tạm thời ấp ủ sự sống ẩn kín bên trong, và bác ái là nguyên nhân của sự tan vỡ các hình tướng ấy, và sự đập tan hoàn toàn của chúng, để sự sống có thể tiến bộ thêm. Bác ái biểu lộ trên mỗi cõi như sự thôi thúc đẩy chân thần đang tiến hoá tiến về mục tiêu của nó, và bác ái là chìa khóa của giới thiên thần, và là lý do của sự dung hợp của hai giới cuối cùng thành Đấng Lưỡng Tính thiêng liêng. Bác ái hoạt động qua các cung cụ thể trong việc xây dựng hệ, và trong việc dựng nên cấu trúc che chở Tinh thần, còn bác ái hoạt động qua các cung trừu tượng để phát triển đầy đủ và mạnh mẽ thiên tính nội tại ấy. Bác ái biểu lộ, qua các cung cụ thể, các phương diện của thiên tính, tạo thành persona che giấu cái Ngã duy nhất; bác ái biểu lộ qua các cung trừu tượng trong việc phát triển các thuộc tính của thiên tính, trong việc tiến hoá đến mức trọn vẹn nhất Thiên Giới bên trong. Bác ái trong các cung cụ thể dẫn đến con đường huyền bí học; bác ái trong các cung trừu tượng dẫn đến con đường của nhà thần bí. Bác ái tạo thành vỏ bọc và truyền cảm hứng cho sự sống; bác ái khiến rung động của Thượng đế dâng trào tiến tới, mang mọi sự theo đường đi của nó, và đưa mọi sự đến sự biểu lộ hoàn hảo.
In System I, Activity, Desire for Expression, and the Impulse to Move was the basic note. That activity produced certain results, certain permanent effects, and thus formed the nucleus for the present system. Ordered Activity is the foundation of this system of ordered [Page 595] Love, and leads to system three, wherein ordered Activity, with ordered Love for its impulse, results in ordered loving Power.
Trong Hệ I, Hoạt động, Khát vọng Biểu lộ, và Xung lực Vận động là chủ âm căn bản. Hoạt động ấy tạo ra những kết quả nhất định, những hiệu quả trường tồn nhất định, và như thế hình thành hạt nhân cho hệ hiện tại. Hoạt động Có Trật Tự là nền tảng của hệ Bác ái Có Trật Tự này, và dẫn đến hệ ba, trong đó Hoạt động Có Trật Tự, với Bác ái Có Trật Tự làm xung lực của nó, sẽ tạo ra Quyền năng yêu thương Có Trật Tự.[Page 595]
The sixth Ray of devotion and the sixth law of love have a close alliance, and on the sixth plane comes the powerful working out in the lower Triad, the Personality, of the Law of Love. On the astral plane, the home of the desires, originate those feelings which we call personal love; in the lowest type of human being this shows itself as animal passion; as evolution proceeds it shows itself as a gradual expansion of the love faculty, passing through the stages of love of mate, love of family, love of surrounding associates, to love of one’s entire environment; patriotism gives place later to love of humanity, often humanity as exemplified in one of the Great Ones. The astral plane is, at the present time, the most important for us, for in desire—not corrected or transmuted—lies the difference between the personal consciousness and that of the Ego. (185)
Cung sáu của sùng tín và định luật bác ái thứ sáu có một sự liên minh mật thiết, và trên cõi thứ sáu diễn ra sự triển khai mạnh mẽ trong Tam nguyên tinh thần thấp, tức phàm ngã, của Định luật Bác ái. Trên cõi cảm dục, nơi cư ngụ của các ham muốn, phát sinh những cảm xúc mà chúng ta gọi là tình yêu cá nhân; nơi loại người thấp nhất, điều này biểu lộ thành dục vọng thú tính; khi tiến hoá tiến triển, nó biểu lộ thành sự mở rộng dần dần của năng lực yêu thương, đi qua các giai đoạn yêu bạn đời, yêu gia đình, yêu những người chung quanh, đến yêu toàn bộ môi trường của mình; về sau lòng yêu nước nhường chỗ cho tình yêu nhân loại, thường là nhân loại được tiêu biểu nơi một trong Các Đấng Cao Cả. Cõi cảm dục hiện nay là cõi quan trọng nhất đối với chúng ta, vì trong dục vọng—khi không được điều chỉnh hay chuyển hoá—nằm sự khác biệt giữa tâm thức cá nhân và tâm thức của chân ngã. (185)
(185) Why do we consider this matter of the devas of the middle system (as we might call those connected with this system and with buddhi and kamamanas) in our consideration of thought forms? For two reasons: One is that all that is in the solar system is but substance energised from the cosmic mental and astral planes, and built into form through the power of electrical law; all that can be known is but forms ensouled by ideas. Secondly, that in the knowledge of the creative processes of the system, man learns for himself how in time to become a creator. We might illustrate this by remarking that one of the main functions of the Theosophical movement in all its many branches is to build a form which can be ensouled, in due time, by the idea of Brotherhood. (back)
(185) Tại sao chúng ta lại xem xét vấn đề các thiên thần của hệ trung gian (như chúng ta có thể gọi những vị liên hệ với hệ này và với Bồ đề cùng trí-cảm) trong khi khảo cứu các hình tư tưởng? Vì hai lý do: Một là vì mọi thứ trong hệ mặt trời chỉ là chất liệu được tiếp sinh lực từ các cõi trí tuệ và cảm dục vũ trụ, và được xây dựng thành hình tướng nhờ quyền năng của định luật điện; mọi điều có thể được biết chỉ là những hình tướng được phú linh bởi các ý tưởng. Thứ hai, vì trong tri thức về các tiến trình sáng tạo của hệ, con người tự học cho mình cách để theo thời gian trở thành một đấng sáng tạo. Chúng ta có thể minh hoạ điều này bằng cách nhận xét rằng một trong những chức năng chính của phong trào Thông Thiên Học trong mọi ngành nhánh của nó là xây dựng một hình tướng mà đến đúng lúc có thể được phú linh bởi ý tưởng về Tình Huynh Đệ. (back)