← A Treatise on Cosmic Fire

Cosmic Fire S7A

Trích nội dung chương

(a.) Cosmic, Planetary and Human. We leave now the consideration of self-consciousness, as it is produced through the medium of the particular type of deva substance which the Agnishvattas provided for the body of the Ego, and pass on to the study of incarnation, cosmic, planetary and human. A hint as to the constitution of these solar Pitris and Manasadevas may come to the student who ponders upon the place of the egoic unit in the body of the planetary Logos, and in the particular centre of which it forms a component part. These Manasadevas and Dhyan Chohans who produce self-consciousness in man are indeed the energy and substance of the…


Cosmic Fire S7A

(Trang 733-853)

c. On Incarnation.

c. Về sự Nhập thể.

(a.) Cosmic, Planetary and Human. We leave now the consideration of self-consciousness, as it is produced through the medium of the particular type of deva substance which the Agnishvattas provided for the body of the Ego, and pass on to the study of incarnation, cosmic, planetary and human. A hint as to the constitution of these solar Pitris and Manasadevas may come to the student who ponders upon the place of the egoic unit in the body of the planetary Logos, and in the particular centre of which it forms a component part. These Manasadevas and Dhyan Chohans who produce self-consciousness in man are indeed the energy and substance of the cosmic Heavenly Man.

(a.) Vũ trụ, Hành tinh và Nhân loại. Giờ đây chúng ta rời việc xem xét ngã thức, như nó được tạo ra thông qua môi trường của loại chất liệu thiên thần đặc biệt mà các Agnishvatta đã cung cấp cho thể của chân ngã, và chuyển sang nghiên cứu sự nhập thể, vũ trụ, hành tinh và nhân loại. Một gợi ý về cấu tạo của các thái dương tổ phụ và Manasadeva này có thể đến với đạo sinh nào suy ngẫm về vị trí của đơn vị chân ngã trong thân thể của Hành Tinh Thượng Đế, và trong trung tâm đặc biệt mà nó tạo thành một phần cấu thành. Những Manasadeva và Dhyan Chohan tạo ra ngã thức nơi con người này quả thật là năng lượng và chất liệu của Đấng Thiên Nhân vũ trụ.

The word “incarnation” in its root meaning conveys the fundamental truth involved in the taking of a dense physical body, and should technically be applied only to that period of manifestation which concerns the three lower subplanes of the:

Từ “nhập thể” trong ý nghĩa gốc của nó chuyển tải chân lý căn bản liên quan đến việc mang lấy một thể xác hồng trần đậm đặc, và về mặt kỹ thuật chỉ nên được áp dụng cho thời kỳ biểu hiện liên quan đến ba cõi phụ thấp của:

a. Cosmic physical plane, in relation to a solar Logos and to a planetary Logos.

a. Cõi hồng trần vũ trụ, trong liên hệ với một Thái dương Thượng đế và với một Hành Tinh Thượng Đế.

b. Systemic physical plane, in relation to man.

b. Cõi hồng trần hệ thống, trong liên hệ với con người.

This connotation has been preserved where the cosmic entities are concerned, but when man is under consideration the term has been applied to the unification of the etheric double with the dense physical body, or to the appropriation by man of the vehicle composed of the [Page 733] substance of the lowest subplane of the cosmic physical plane in its lowest aspects. This distinction has a certain significance and should be remembered. This appropriation is governed by the same laws which governed the appropriation by the Logos of His physical vehicle. In order to get an idea of what the procedure is, it might be of value if we considered the different kinds of pralaya, and pondered upon those periods which ensue between incarnations. From the point of view of any unit involved, a pralaya is a period of quiescence, of cessation from a particular type of activity, involving objectivity, yet from the point of view of the great whole with which the unit may be involved, a pralaya may be considered merely as a transference of force from one direction into another. Though the unit may be temporarily devitalised as regards its form, yet the greater Entity persists, and is still active.

Ý nghĩa này đã được giữ lại khi liên quan đến các thực thể vũ trụ, nhưng khi xét đến con người thì thuật ngữ này đã được áp dụng cho sự hợp nhất của bản sao dĩ thái với thể xác hồng trần đậm đặc, hay cho việc con người chiếm dụng vận cụ được cấu thành từ [Page 733] chất liệu của cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần vũ trụ trong các phương diện thấp nhất của nó. Sự phân biệt này có một ý nghĩa nhất định và cần được ghi nhớ. Sự chiếm dụng này được chi phối bởi cùng những định luật đã chi phối việc Thượng đế chiếm dụng vận cụ hồng trần của Ngài. Để có được một ý niệm về tiến trình này là gì, sẽ có ích nếu chúng ta xem xét các loại Giai kỳ qui nguyên khác nhau, và suy ngẫm về những thời kỳ tiếp theo giữa các lần nhập thể. Từ quan điểm của bất kỳ đơn vị nào liên quan, một Giai kỳ qui nguyên là một thời kỳ tĩnh lặng, ngưng dứt một loại hoạt động đặc biệt có liên quan đến tính khách quan, tuy nhiên từ quan điểm của toàn thể lớn lao mà đơn vị ấy có thể liên hệ, một Giai kỳ qui nguyên có thể chỉ được xem như một sự chuyển dịch mãnh lực từ hướng này sang hướng khác. Dù đơn vị có thể tạm thời bị mất sinh lực xét theo hình tướng của nó, song Thực Thể lớn hơn vẫn tồn tại, và vẫn còn hoạt động.

Let us take up the matter first from the human standpoint, and study pralaya as it affects the Monad in incarnation. (244) There are five types of pralaya with which we may legitimately concern ourselves. We should notice first the fact that this condition is primarily one that concerns the relationship between Spirit and matter, in which a condition in substance is brought about through the action of the energising factor, the Spirit. It has, therefore, to do with the relation of the greater devas as They carry out Their work of form-building [Page 734] under the Law of Will of God to the lesser devas who represent living substance. It will be apparent to the student that it concerns the relation of the Holy Spirit to the Mother in the production of the Son, and then the relation of the Son to the Mother. If the ideas formulated in this treatise have been carefully followed, it will be obvious that in studying the question of pralaya, we are studying the relation (in time and space) of the positive energy of the solar Logos, the planetary Logos, and of Man to the substance through which alone manifestation is possible. Through this relation, existence on the objective planes can be brought about.

Trước hết, chúng ta hãy xét vấn đề từ quan điểm nhân loại, và nghiên cứu Giai kỳ qui nguyên khi nó tác động đến chân thần đang nhập thể. (244) Có năm loại Giai kỳ qui nguyên mà chúng ta có thể chính đáng quan tâm. Trước tiên, chúng ta nên lưu ý sự kiện rằng trạng thái này chủ yếu liên quan đến mối liên hệ giữa tinh thần và vật chất, trong đó một trạng thái trong chất liệu được tạo ra thông qua tác động của yếu tố tiếp năng lượng là tinh thần. Vì vậy, nó liên quan đến mối liên hệ của các thiên thần lớn hơn khi Các Ngài thực hiện công việc kiến tạo hình tướng [Page 734] dưới Định luật Ý Chí của Thượng Đế với các thiên thần nhỏ hơn là những vị tiêu biểu cho chất liệu sống. Đối với đạo sinh, sẽ hiển nhiên rằng điều này liên quan đến mối liên hệ của Chúa Thánh Thần với Mẹ trong việc tạo ra Người Con, rồi đến mối liên hệ của Người Con với Mẹ. Nếu các ý tưởng được hình thành trong bộ luận này đã được theo dõi cẩn thận, thì sẽ rõ ràng rằng khi nghiên cứu vấn đề Giai kỳ qui nguyên, chúng ta đang nghiên cứu mối liên hệ (trong thời gian và không gian) của năng lượng dương của Thái dương Thượng đế, Hành Tinh Thượng Đế, và của Con người với chất liệu mà chỉ thông qua đó biểu hiện mới có thể xảy ra. Nhờ mối liên hệ này, sự hiện hữu trên các cõi khách quan có thể được tạo ra.

(244) There are fundamentally three kinds of Pralaya. See S. D., I, 397-398.

(244) Về căn bản có ba loại Giai kỳ qui nguyên. Xem G. L. B. N., I, 397-398.

1. Solar pralaya. This comes at the end of one hundred years of Brahma. It marks reabsorption into unity. It marks end of manifestation of solar system. Concerns the solar Logos.

1. Giai kỳ qui nguyên thái dương. Điều này đến vào cuối một trăm năm của Brahma. Nó đánh dấu sự tái hấp thu vào hợp nhất. Nó đánh dấu sự chấm dứt biểu hiện của hệ mặt trời. Liên quan đến Thái dương Thượng đế.

2. Incidental pralaya. This succeeds the days of Brahma. It marks periods between manvantaras. Temporary form ceases but duality remains. Concerns a planetary Logos.

2. Giai kỳ qui nguyên ngẫu phát. Điều này tiếp theo các ngày của Brahma. Nó đánh dấu các thời kỳ giữa các giai kỳ sinh hóa. Hình tướng tạm thời chấm dứt nhưng nhị nguyên tính vẫn còn. Liên quan đến một Hành Tinh Thượng Đế.

3. Individual pralaya. Achieved by a man at the fifth initiation. Marks attainment of perfection. Concerns the monad.

3. Giai kỳ qui nguyên cá nhân. Được một người đạt tới ở lần điểm đạo thứ năm. Đánh dấu sự đạt đến hoàn hảo. Liên quan đến chân thần.

There is also the pralaya in connection with human evolution which we call devachanic. It concerns the personality. (back)

Cũng có Giai kỳ qui nguyên liên quan đến tiến hoá nhân loại mà chúng ta gọi là devachan. Nó liên quan đến phàm ngã. (back)

(b.) The Nature of Pralaya. We can view pralaya as the work of “abstraction,” and as the method which brings the form under the Destroyer aspect of Spirit, working ever under the Law of Attraction, of which the Law of Synthesis is but a branch. The basic law of the system is that which governs the relation of all atoms to the aggregate of atoms, and of the Self to the Not-self. It is (from the occult standpoint) the most powerful force-demonstration in the system, and should the law inconceivably cease to work, instantaneously the system and all forms therein, planetary, human and other would cease to be. By an act of will the planetary schemes persist, by an act of will the system IS; by an act of the egoic will man appears. When the Will of the Logos, of the Heavenly Man, and of the human divine Ego is turned to other ends, the substance of Their vehicles is affected, and disintegration sets in. The five types of pralaya which concern the human unit are as follows:

(b.) Bản chất của Giai kỳ qui nguyên. Chúng ta có thể xem Giai kỳ qui nguyên như công việc của “sự rút tách,” và như phương pháp đưa hình tướng vào dưới phương diện Hủy Diệt của tinh thần, luôn hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn, mà Định luật Tổng Hợp chỉ là một nhánh. Định luật căn bản của hệ là định luật chi phối mối liên hệ của mọi nguyên tử với tổng thể các nguyên tử, và của Bản Ngã với Phi Ngã. Theo quan điểm huyền bí, đó là sự biểu lộ mãnh lực mạnh mẽ nhất trong hệ, và nếu định luật ấy không thể tưởng tượng nổi mà ngừng hoạt động, thì ngay tức khắc hệ và mọi hình tướng trong đó, hành tinh, nhân loại và các loại khác, sẽ chấm dứt hiện hữu. Bằng một hành vi ý chí, các hệ hành tinh tồn tại; bằng một hành vi ý chí, hệ HIỆN HỮU; bằng một hành vi của ý chí chân ngã, con người xuất hiện. Khi Ý Chí của Thượng đế, của Đấng Thiên Nhân, và của chân ngã thiêng liêng nhân loại hướng đến những cứu cánh khác, thì chất liệu của các vận cụ của Các Ngài bị tác động, và sự tan rã bắt đầu. Năm loại Giai kỳ qui nguyên liên quan đến đơn vị nhân loại như sau:

(1) The period of pralaya between two incarnations. This is of a triple nature and affects the substance of the three vehicles, physical, astral and mental, reducing the form to its primitive substance, and dissipating its atomic structure. The energy of the second aspect (that of the form-builder) is withdrawn by the will of the Ego, [Page 735] and the atoms composing the form become dissociated from each other, and are resolved into the reservoir of essence to be re-collected again when the hour strikes. This condition is brought about gradually by stages of which we are aware:

(1) Thời kỳ Giai kỳ qui nguyên giữa hai lần nhập thể. Điều này có bản chất tam phân và tác động đến chất liệu của ba vận cụ, hồng trần, cảm dục và trí tuệ, làm giảm hình tướng về chất liệu nguyên sơ của nó, và làm tiêu tan cấu trúc nguyên tử của nó. Năng lượng của phương diện thứ hai (phương diện của đấng kiến tạo hình tướng) được rút lại bởi ý chí của chân ngã, [Page 735] và các nguyên tử cấu thành hình tướng trở nên tách rời nhau, và được phân giải vào kho chứa tinh chất để rồi được thu thập lại khi giờ điểm đến. Trạng thái này được tạo ra dần dần qua các giai đoạn mà chúng ta nhận biết được:

The first stage is the withdrawal of the life force in the etheric vehicle from the threefold (dense, liquid and gaseous) dense physical body and the consequent “falling into corruption,” and becoming “scattered to the elements.” Objective man fades out, and is no more seen by the physical eye, though still in his etheric body. When etheric vision is developed, the thought of death will assume very different proportions. When a man can be seen functioning in his etheric physical body by the majority of the race, the dropping of the dense body will be considered just a “release.”

Giai đoạn đầu tiên là sự rút mãnh lực sự sống trong vận cụ dĩ thái ra khỏi thể xác hồng trần đậm đặc tam phân (đậm đặc, lỏng và khí) và hậu quả là sự “rơi vào hư hoại,” và trở nên “phân tán vào các nguyên tố.” Con người khách quan mờ dần đi, và không còn được mắt hồng trần nhìn thấy nữa, dù vẫn còn trong thể hồng trần dĩ thái của y. Khi linh thị dĩ thái được phát triển, ý niệm về cái chết sẽ mang những tỷ lệ rất khác. Khi một người có thể được đa số nhân loại nhìn thấy đang hoạt động trong thể hồng trần dĩ thái của mình, thì việc buông bỏ thể đậm đặc sẽ chỉ được xem như một “sự giải thoát.”

The next stage is the withdrawal of the life force from the etheric body or coil, and its devitalisation. The etheric coil is but an extension of one aspect of the sutratma or thread, and this thread is spun by the Ego from within the causal body much as a spider spins a thread. It can be shortened or extended at will, and when the period of pralaya has been decided upon, this thread of light, or of solar fire (note the word “solar”) is withdrawn, and gathered back to the atomic subplane where it will still vitalise the permanent atom and hold it connected within the causal body. The life impulses are then—as far as the physical plane is concerned—centralised within the atomic sphere.

Giai đoạn kế tiếp là sự rút mãnh lực sự sống ra khỏi thể dĩ thái hay cuộn dây, và sự mất sinh lực của nó. Cuộn dây dĩ thái chỉ là sự kéo dài của một phương diện của sutratma hay sợi dây, và sợi dây này được chân ngã quay ra từ bên trong thể nguyên nhân cũng như con nhện quay tơ. Nó có thể được rút ngắn hay kéo dài theo ý muốn, và khi thời kỳ Giai kỳ qui nguyên đã được quyết định, sợi dây ánh sáng này, hay của lửa thái dương (lưu ý từ “thái dương”) được rút lại, và thu về cõi phụ nguyên tử nơi nó vẫn sẽ tiếp sinh lực cho nguyên tử trường tồn và giữ nó được nối kết bên trong thể nguyên nhân. Khi ấy các xung lực sự sống — xét theo cõi hồng trần — được tập trung trong khối cầu nguyên tử.

The third stage is the withdrawal of the life force from the astral form so that it disintegrates in a similar manner and the life is centralised within the astral permanent atom. It has gained an increase of vitality through physical plane existence, and added colour through astral experience.

Giai đoạn thứ ba là sự rút mãnh lực sự sống ra khỏi hình tướng cảm dục để nó tan rã theo cách tương tự và sự sống được tập trung trong nguyên tử trường tồn cảm dục. Nó đã đạt được sự gia tăng sinh lực nhờ sự hiện hữu trên cõi hồng trần, và thêm màu sắc nhờ kinh nghiệm cảm dục.

The final stage for the human atom is its withdrawal [Page 736] from the mental vehicle. The life forces after this fourfold abstraction are centralised entirely within the egoic sphere; contact with the three lower planes is still inherently possible by means of the permanent atoms, the force centres of the three personality aspects.

Giai đoạn cuối cùng đối với nguyên tử nhân loại là sự rút lui của nó [Page 736] ra khỏi vận cụ trí tuệ. Sau sự rút tách tứ phân này, các mãnh lực sự sống được tập trung hoàn toàn trong khối cầu chân ngã; sự tiếp xúc với ba cõi thấp vẫn còn có thể có về bản chất nhờ các nguyên tử trường tồn, là các trung tâm mãnh lực của ba phương diện phàm ngã.

In each incarnation the life forces have gained through the utilisation of the vehicles,

Trong mỗi lần nhập thể, các mãnh lực sự sống đã thu được nhờ việc sử dụng các vận cụ,

a. An increased activity, which is stored in the physical permanent atom.

a. Một hoạt động gia tăng, được lưu trữ trong nguyên tử trường tồn hồng trần.

b. An added colouring, which is stored in the astral permanent atom.

b. Một màu sắc được thêm vào, được lưu trữ trong nguyên tử trường tồn cảm dục.

c. A developed quality of strength, or purpose in action, which is stored in the mental unit.

c. Một phẩm tính sức mạnh được phát triển, hay mục đích trong hành động, được lưu trữ trong đơn vị hạ trí.

These are wrought into faculty in devachan.

Những điều này được chuyển thành năng lực trong devachan.

Devacha (245, 246) is a state of consciousness, reflecting, in [Page 737] the life of the Personality, that higher state which we call nirvanic consciousness, and which is brought about by egoic action. It is but a dim reflection in the separated units (and therefore tinged with selfishness and separative pleasure) of the group condition called nirvanic. In this high state of consciousness each separate identity, though self-realising, shares in the group realisation, and therein lies bliss for the unit. Separation is no longer felt, only unity and essential oneness is known. Therefore, as might be naturally deduced, there is no devachan for the savage or little evolved man, as they merit it not, and have not the mentality to realise it; hence, therefore, the rapidity of their incarnations, and the brevity of the pralayic period. There is little in their case for the Ego, on its own plane, to assimilate in the residue of incarnations, and hence the life principle withdraws rapidly from out of the mental form, with the resulting impulse of the Ego to reincarnate almost immediately.

Devacha (245, 246) là một trạng thái tâm thức, phản ánh, trong [Page 737] đời sống của Phàm ngã, trạng thái cao hơn mà chúng ta gọi là tâm thức Niết Bàn, và được tạo ra bởi hoạt động chân ngã. Nó chỉ là một phản ánh mờ nhạt trong các đơn vị tách biệt (và do đó nhuốm màu ích kỷ và khoái lạc phân ly) của trạng thái nhóm được gọi là Niết Bàn. Trong trạng thái tâm thức cao này, mỗi bản sắc tách biệt, dù tự chứng nghiệm, vẫn chia sẻ trong sự chứng nghiệm của nhóm, và trong đó có chí phúc cho đơn vị. Sự phân ly không còn được cảm thấy nữa, chỉ còn sự hợp nhất và tính nhất thể cốt yếu được biết đến. Vì vậy, như có thể tự nhiên suy ra, không có devachan cho người man dã hay người ít tiến hoá, vì họ không xứng đáng với nó, và không có trí tuệ để chứng nghiệm nó; do đó, các lần nhập thể của họ diễn ra nhanh chóng, và thời kỳ Giai kỳ qui nguyên rất ngắn. Trong trường hợp của họ, chân ngã trên chính cõi của nó có rất ít điều để đồng hoá trong phần cặn dư của các lần nhập thể, và vì thế nguyên khí sự sống rút ra nhanh chóng khỏi hình tướng trí tuệ, với xung lực kết quả từ chân ngã là tái nhập thể gần như ngay lập tức.

(245) Deva-Chan. “(3) ‘Who goes to Deva Chan?’ The personal Ego, of course, but beatified, purified, holy. Every Ego—the combination of the sixth and seventh principles—which, after the period of unconscious gestation is reborn into the Deva-Chan, is of necessity as innocent and pure as a new-born babe. The fact of his being reborn at all shows the preponderance of good over evil in his old personality. And while the Karma (of evil) steps aside for the time being to follow him in his future earth-reincarnation, he brings along with him but the Karma of his good deeds, words, and thoughts into this Deva-Chan. ‘Bad’ is a relative term for us—as you were told more than once before,—and the Law of Retribution is the only law that never errs. Hence all those who have not slipped down into the mire of unredeemable sin and bestiality—go to the Deva-Chan. They will have to pay for their sins, voluntary and involuntary, later on. Meanwhile they are rewarded; receive the effects of the causes produced by them.

(245) Deva-Chan. “(3) ‘Ai đi vào Deva Chan?’ Dĩ nhiên là chân ngã cá nhân, nhưng đã được ban phúc, thanh lọc, thánh thiện. Mọi chân ngã — sự kết hợp của nguyên khí thứ sáu và thứ bảy — sau thời kỳ thai nghén vô thức được tái sinh vào Deva-Chan, tất yếu đều ngây thơ và thanh khiết như một hài nhi mới sinh. Chính sự kiện y được tái sinh cho thấy điều thiện chiếm ưu thế hơn điều ác trong phàm ngã cũ của y. Và trong khi nghiệp quả (của điều ác) tạm thời lùi sang một bên để theo y trong lần tái nhập thể trên trần thế tương lai, y chỉ mang theo nghiệp quả của những việc làm, lời nói và tư tưởng tốt đẹp của mình vào Deva-Chan này. ‘Xấu’ là một thuật ngữ tương đối đối với chúng ta — như bạn đã được nói với nhiều hơn một lần trước đây, — và Định luật Báo Ứng là định luật duy nhất không bao giờ sai lầm. Vì thế tất cả những ai chưa sa xuống vũng bùn của tội lỗi không thể cứu chuộc và tính thú vật — đều đi vào Deva-Chan. Về sau họ sẽ phải trả cho những tội lỗi của mình, tự nguyện và không tự nguyện. Trong khi đó họ được tưởng thưởng; nhận lấy các hiệu quả của những nguyên nhân do họ tạo ra.

“Of course it is a state, one, so to say, of intense selfishness during which an Ego reaps the reward of his unselfishness on earth. He is completely engrossed in the bliss of all his personal earthly affections, preferences, thoughts, and gathers in the fruit of his meritorious actions. No pain, no grief nor even the shadow of a sorrow comes to darken the bright horizon of his unalloyed happiness; for, it is a state of perpetual ‘Maya.’...Since the conscious perception of one’s personality on earth is but an evanescent dream that sense will be equally that of a dream in the Deva-Chan—only a hundredfold intensified.”

“Dĩ nhiên đó là một trạng thái, có thể nói là của sự ích kỷ mãnh liệt trong đó một chân ngã gặt hái phần thưởng cho tính vô kỷ của y trên trần thế. Y hoàn toàn đắm chìm trong chí phúc của mọi tình cảm, sở thích, tư tưởng cá nhân trần thế của mình, và thu hoạch quả của những hành động công đức. Không đau đớn, không buồn phiền, thậm chí không cả bóng dáng của một nỗi sầu nào đến làm u ám chân trời sáng ngời của hạnh phúc thuần khiết của y; vì, đó là một trạng thái của ‘Maya’ vĩnh viễn....Vì sự nhận biết hữu thức về phàm ngã của mình trên trần thế chỉ là một giấc mộng thoáng qua, nên cảm giác ấy trong Deva-Chan cũng sẽ là cảm giác của một giấc mộng — chỉ khác là được tăng cường lên gấp trăm lần.”

.......

.......

“‘Bardo’ is the period between death and rebirth—and may last from a few years to a kalpa. It is divided into three sub-periods (1) when the Ego delivered of its mortal coil enters into Kama-Loka (the abode of Elementaries); (2) when it enters into ‘Gestation State’; (3) when it is reborn in the Rupa-Loka of Deva-Chan. Sub-period (1) may last from a few minutes to a number of years—the phrase ‘a few years’ becoming puzzling and utterly worthless without a more complete explanation; Sub-period 2nd is ‘very long’; as you say, longer sometimes than you may even imagine, yet proportionate to the Ego’s spiritual stamina; Sub-period 3rd lasts in proportion to the good Karma, after which the monad is again reincarnated.”

“‘Bardo’ là thời kỳ giữa cái chết và sự tái sinh — và có thể kéo dài từ vài năm đến một kalpa. Nó được chia thành ba thời kỳ phụ (1) khi chân ngã, được giải thoát khỏi cuộn dây phàm tử của nó, đi vào Kama-Loka (nơi cư ngụ của các Elementaries); (2) khi nó đi vào ‘Trạng thái Thai nghén’; (3) khi nó được tái sinh trong Rupa-Loka của Deva-Chan. Thời kỳ phụ (1) có thể kéo dài từ vài phút đến một số năm — cụm từ ‘vài năm’ trở nên khó hiểu và hoàn toàn vô giá trị nếu không có một giải thích đầy đủ hơn; Thời kỳ phụ thứ 2 thì ‘rất dài’; như bạn nói, đôi khi dài hơn cả điều bạn có thể tưởng tượng, tuy nhiên vẫn tương xứng với sức bền tinh thần của chân ngã; Thời kỳ phụ thứ 3 kéo dài tương ứng với nghiệp quả tốt, sau đó chân thần lại tái nhập thể.”

.......

.......

... “Every effect must be proportionate to the cause. And, as man’s terms of incarnate existence bear but a small proportion to his periods of inter-natal existence in the manvantaric cycle, so the good thoughts, words, and deeds of any one of these ‘lives’ on a globe are causative of effects, the working out of which requires far more time than the evolution of the causes occupied.”—From Mahatma Letters to A. P. Sinnett, pp. 100, 105-106. (back)

... “Mọi hiệu quả đều phải tương xứng với nguyên nhân. Và cũng như các thời kỳ hiện hữu nhập thể của con người chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ so với các thời kỳ tồn tại giữa hai lần sinh của y trong chu kỳ giai kỳ sinh hóa, thì những tư tưởng, lời nói và việc làm tốt đẹp của bất kỳ một trong những ‘đời sống’ nào trên một bầu hành tinh đều là nguyên nhân của những hiệu quả mà sự triển khai của chúng đòi hỏi nhiều thời gian hơn rất nhiều so với thời gian đã dùng để tiến hoá các nguyên nhân ấy.” — Trích từ Mahatma Letters to A. P. Sinnett, tr. 100, 105-106. (back)

When the life of the personality has been full and rich, yet has not reached the stage wherein the personal self can consciously co-operate with the ego, periods of personality nirvana are undergone, their length depending upon the interest of the life, and the ability of the man to meditate upon experience. Later, when the Ego dominates the personality life, the interest of the man is raised to higher levels, and the nirvana of the soul becomes [Page 738] his goal. He has no interest in devachan. Therefore, those upon the Path (either the probationary Path, or the Path of Initiation) do not, as a rule, go to devachan, but immediate incarnation becomes the rule in the turning of the wheel of life; this time it is brought about by the conscious co-operation of the personal Self with the divine Self or Ego.

Khi đời sống của phàm ngã đã đầy đủ và phong phú, nhưng chưa đạt đến giai đoạn mà bản ngã cá nhân có thể một cách hữu thức hợp tác với chân ngã, thì các thời kỳ niết bàn của phàm ngã sẽ được trải qua, độ dài của chúng tùy thuộc vào sự phong phú của đời sống, và khả năng của con người trong việc tham thiền về kinh nghiệm. Về sau, khi chân ngã chi phối đời sống phàm ngã, mối quan tâm của con người được nâng lên các cấp độ cao hơn, và niết bàn của linh hồn trở thành [Page 738] mục tiêu của y. Y không còn quan tâm đến devachan. Vì vậy, những ai ở trên Con Đường (hoặc là Con Đường Dự Bị, hay Con Đường Điểm Đạo) theo quy luật, không đi vào devachan, mà sự nhập thể tức thời trở thành quy luật trong vòng quay của bánh xe sự sống; lần này điều đó được tạo ra bởi sự hợp tác hữu thức của Bản Ngã cá nhân với Bản Ngã thiêng liêng hay chân ngã.

(2) The period between egoic Cycles. Herein is hid the mystery of the 777 incarnations and concerns the relation of the unit to his group on the egoic plane, prior to the unfoldment of the fifth petal. It concerns man in the period between the savage stage and that of the disciple, when he is an average man but still in the two Halls. The mystery of all root races lies here, and the egoic cycles coincide with the building of racial forms, and civilisations. A man will reincarnate again and again in the various subraces of a root race until a certain cycle has been covered; then he may undergo a pralayic condition until in a later (and sometimes much later) root race he will respond to its vibratory call, and the egoic impulse to incarnate will again be felt. In illustration of this, we should bear in mind that the more advanced humanity of today did not incarnate until the fourth root race. These cycles are one of the mysteries of initiation, though one of the earlier mysteries, and are revealed at the second initiation as they enable the initiate to comprehend his position, to see somewhat the nature of the karmic impulse, and to read his own record in the astral light.

(2) Giai đoạn giữa các Chu kỳ chân ngã. Chính ở đây ẩn giấu huyền nhiệm của 777 lần nhập thể và liên quan đến mối tương quan của đơn vị với nhóm của y trên cõi chân ngã, trước khi cánh hoa thứ năm khai mở. Điều này liên quan đến con người trong giai đoạn giữa tình trạng dã man và giai đoạn đệ tử, khi y là một người trung bình nhưng vẫn còn ở trong hai Phòng. Huyền nhiệm của mọi giống dân gốc nằm ở đây, và các chu kỳ chân ngã trùng hợp với việc xây dựng các hình tướng chủng tộc và các nền văn minh. Một người sẽ tái sinh hết lần này đến lần khác trong các giống dân phụ khác nhau của một giống dân gốc cho đến khi một chu kỳ nhất định đã được hoàn tất; khi đó y có thể trải qua một trạng thái pralaya cho đến khi trong một giống dân gốc về sau (và đôi khi là muộn hơn rất nhiều) y đáp ứng với tiếng gọi rung động của nó, và xung lực nhập thể của chân ngã lại được cảm nhận. Để minh họa điều này, chúng ta nên ghi nhớ rằng nhân loại tiến bộ hơn ngày nay đã không nhập thể cho đến giống dân gốc thứ tư. Các chu kỳ này là một trong những huyền nhiệm của điểm đạo, tuy là một trong những huyền nhiệm sớm hơn, và được tiết lộ ở lần điểm đạo thứ hai vì chúng giúp điểm đạo đồ hiểu được vị trí của mình, thấy phần nào bản chất của xung lực nghiệp quả, và đọc được hồ sơ của chính mình trong ánh sáng cảm dục.

These might be considered the two lesser pralayic periods and concern primarily life in the three worlds.

Có thể xem đây là hai giai đoạn pralaya nhỏ hơn và chủ yếu liên quan đến sự sống trong ba cõi giới.

(3) Next comes the period wherein the man has attained freedom. A man has at this stage succeeded, under law, in “abstracting” himself, the freed soul, from out of the matter of the three worlds. He has used and worked with deva substance and has gained all the vibratory [Page 739] contact possible, and has secured all the intended “realisations” and “revelations”; he can no longer be held imprisoned by the devas. He is free until, consciously and willingly, and in another round, he can return as a member of a Hierarchy to continue His work of service for the little evolved humanity of that distant time. As this concerns the seven paths of opportunity for a Master we will not deal with it here. (247) This is the great human pralaya.

(3) Tiếp theo là giai đoạn trong đó con người đã đạt được tự do. Ở giai đoạn này, theo định luật, con người đã thành công trong việc “rút” chính mình, linh hồn được giải thoát, ra khỏi vật chất của ba cõi giới. Y đã sử dụng và làm việc với chất liệu thiên thần và đã đạt được mọi tiếp xúc rung động [Page 739] có thể có, và đã đạt được mọi “chứng nghiệm” và “mặc khải” được dự định; y không còn có thể bị các thiên thần giam giữ nữa. Y được tự do cho đến khi, một cách hữu thức và tự nguyện, và trong một cuộc tuần hoàn khác, y có thể trở lại như một thành viên của một Thánh Đoàn để tiếp tục công việc phụng sự của Ngài cho nhân loại ít tiến hóa của thời kỳ xa xôi ấy. Vì điều này liên quan đến bảy Con đường cơ hội dành cho một Chân sư nên ở đây chúng ta sẽ không bàn đến. (247) Đây là đại pralaya của con người.

(247) The seven Paths upon one of which all must pass:—

(247) Bảy Con đường mà tất cả đều phải đi qua một trong số đó:—

Path 1. The Path of Earth Service.

Con đường 1. Con Đường Phụng Sự Địa Cầu.

Path 2. The Path of Magnetic Work.

Con đường 2. Con Đường Công Tác Từ Tính.

Path 3. The Path of the Planetary Logoi.

Con đường 3. Con Đường của các Hành Tinh Thượng Đế.

Path 4. The Path to Sirius.

Con đường 4. Con Đường đến Sirius.

Path 5. The Ray Path.

Con đường 5. Con Đường Cung.

Path 6. The Path of the Solar Logos.

Con đường 6. Con Đường của Thái dương Thượng đế.

Path 7. The Path of Absolute Sonship.of consciousness. (back)

Con đường 7. Con Đường của Tình Trạng Con Tuyệt Đối.of consciousness. (back)

(4) Planetary Pralaya. Man, after these cyclic happenings, is now a conscious part of his group, and a vibrant point in a centre in the body of a Heavenly Man, consciously alive and consciously aware of his place in the great whole. This involves a realisation as to the centre of which he is a point of energy, a knowledge of the type of force he is to transmit, and to manipulate from cosmic levels, and a conscious relation with the six other centres in the planetary Life with which he is associated.

(4) Pralaya Hành tinh. Sau những biến cố chu kỳ này, con người giờ đây là một phần hữu thức của nhóm mình, và là một điểm rung động trong một trung tâm trong thân thể của một Đấng Thiên Nhân, sống một cách hữu thức và nhận biết một cách hữu thức vị trí của mình trong toàn thể vĩ đại. Điều này bao hàm một sự chứng nghiệm về trung tâm mà y là một điểm năng lượng trong đó, một tri thức về loại mãnh lực mà y phải truyền dẫn và vận dụng từ các cấp độ vũ trụ, và một mối liên hệ hữu thức với sáu trung tâm khác trong Sự sống Hành tinh mà y có liên hệ.

This period of conscious activity in etheric substance (of which the planetary body is formed) persists according to the karma of the planetary Lord, for the unit is now consciously associated with planetary karma, and is a participant in the working out of the will and purpose of the Lord of His Ray. On the higher planes of the system, this stage persists for the length of the life of a scheme; to which a period of pralaya succeeds that has its beginning towards the end of the seventh round in any scheme or of the fifth if the Law of Persistence of a scheme is working out through cycles of five. I am [Page 740] here generalising and speaking in broad terms; the karma of the units differ and a man—according to the path he chooses after the fifth initiation—stays and works within his own scheme, but changes may occur through the following factors:

Giai đoạn hoạt động hữu thức này trong chất liệu dĩ thái (mà thể hành tinh được tạo thành từ đó) kéo dài tùy theo nghiệp quả của Chúa Tể hành tinh, vì đơn vị giờ đây được liên kết một cách hữu thức với nghiệp quả hành tinh, và là một người tham dự vào việc triển khai ý chí và mục đích của Chúa Tể của Cung của Ngài. Trên các cõi cao hơn của hệ thống, giai đoạn này kéo dài suốt thời gian sống của một hệ hành tinh; tiếp theo đó là một giai đoạn pralaya bắt đầu vào gần cuối cuộc tuần hoàn thứ bảy trong bất kỳ hệ hành tinh nào hoặc cuộc tuần hoàn thứ năm nếu Định luật về Sự Bền Vững của một hệ hành tinh đang được triển khai qua các chu kỳ năm. Tôi đang [Page 740] khái quát hóa ở đây và nói theo những nét lớn; nghiệp quả của các đơn vị khác nhau và một người—tùy theo con đường y chọn sau lần điểm đạo thứ năm—ở lại và làm việc trong hệ hành tinh riêng của mình, nhưng những thay đổi có thể xảy ra do các yếu tố sau:

a. Planetary karma.

a. Nghiệp quả hành tinh.

b. The will of the Lord of his Ray.

b. Ý chí của Chúa Tể của cung của y.

c. Orders emanating from the solar Logos which are conveyed to him after liberation via the planetary Logos and through the medium of the chohan of his Ray.

c. Các mệnh lệnh phát ra từ Thái dương Thượng đế được chuyển đến y sau khi giải thoát qua Hành Tinh Thượng Đế và qua trung gian của vị chohan của cung của y.

He is then “abstracted” under a mysterious planetary law which only works on cosmic etheric levels, and is transferred to his destination. If we interpret all the above in terms of energy and of radioactivity and thus avoid the dangers of materialistic interpretation, the meaning will become clearer.

Khi đó y được “rút ra” theo một định luật hành tinh huyền nhiệm chỉ hoạt động trên các cấp dĩ thái vũ trụ, và được chuyển đến đích của mình. Nếu chúng ta diễn giải tất cả những điều trên theo thuật ngữ năng lượng và phóng xạ, nhờ đó tránh được những nguy cơ của lối diễn giải duy vật, thì ý nghĩa sẽ trở nên rõ ràng hơn.

(5) The Great Pralaya. This interval comes at the close of every one hundred years of Brahma, and sweeps into dissolution forms of every kind—subtle and dense—throughout the entire system. It is a period analogous to that dealt with when we considered the abstraction of man from his etheric vehicle, and his ability then to function on the astral plane, dissociated from his dual physical form. Within the system a process similar to that undergone when man withdraws the etheric body out of the dense physical vehicle, will be seen towards the close of the mahamanvantara. It will cover the period wherein the lesser four Rays merge and blend, seeking duality, and their polar opposites. Eventually the four become two, the two become one, and all are then synthesised into the third major Ray. The time is not yet, but lies countless aeons ahead. It is the first appearance of the destroyer aspect in connection with the planetary schemes, and marks the beginning of the [Page 741] time when the “Heavens will melt with fervent heat,” and the Sun becomes seven suns. (See S. D., II, 746, 747.II, 345.)

(5) Đại Pralaya. Khoảng gián đoạn này đến vào lúc kết thúc mỗi một trăm năm của Brahma, và cuốn mọi hình tướng—vi tế và đậm đặc—trong toàn bộ hệ thống vào sự tan rã. Đây là một giai đoạn tương tự với giai đoạn đã được bàn đến khi chúng ta xem xét việc rút con người ra khỏi vận cụ dĩ thái của y, và khả năng khi đó của y hoạt động trên cõi cảm dục, tách rời khỏi hình thể hồng trần nhị phân của mình. Trong hệ thống, một tiến trình tương tự như tiến trình diễn ra khi con người rút thể dĩ thái ra khỏi vận cụ hồng trần đậm đặc sẽ được thấy vào gần cuối Đại giai kỳ sinh hóa. Nó sẽ bao trùm giai đoạn trong đó bốn Cung nhỏ hơn hòa nhập và dung hợp, tìm kiếm nhị nguyên tính, và các cực đối nghịch của chúng. Cuối cùng bốn trở thành hai, hai trở thành một, và tất cả khi đó được tổng hợp vào Cung lớn thứ ba. Thời điểm ấy chưa đến, mà còn ở phía trước vô số đại kiếp. Đây là lần xuất hiện đầu tiên của phương diện hủy diệt liên quan đến các hệ hành tinh, và đánh dấu sự khởi đầu của [Page 741] thời kỳ khi “các tầng trời sẽ tan chảy trong sức nóng dữ dội,” và Mặt Trời trở thành bảy mặt trời. (Xem S. D., II, 746, 747.II, 345.)

The microcosmic correspondence can be seen in the following process. The physical permanent atom absorbs the entire life force of the physical body, and its inherent heat and light is thereby increased until at the fourth initiation the seven spirillae are fully vitalised, and vibrant. The internal heat of the atom, plus the external heat of the egoic body wherein it has its place, produces then that which destroys the permanent atom. Temporarily, and just prior to destruction, it becomes a tiny sevenfold sun owing to the radiation and activity of the spirillae. So with the physical sun of the system; it will in a similar manner become seven suns, when it has absorbed the life essence of the fully evolved planes, and of the planetary schemes thereon. The ensuing conflagration is the final work of the Destroyer aspect. It marks the moment of the highest development of deva substance in the system, the consummation of the work of Agni and his fire angels, and the initiation of Brahma. Atomic substance will then individualise (which, as we know, is the goal for the atom) and after the great pralaya the next solar system will start with the threefold Spirit manifesting through substance which is essentially distinguished by active intelligent love. This is necessarily incomprehensible to our fourth round minds.

Sự tương ứng vi mô có thể được thấy trong tiến trình sau đây. Nguyên tử trường tồn hồng trần hấp thu toàn bộ sinh lực của thể xác, và nhiệt cùng ánh sáng cố hữu của nó nhờ đó gia tăng cho đến khi ở lần điểm đạo thứ tư, bảy loa tuyến được tiếp sinh lực đầy đủ và rung động. Khi đó, nhiệt nội tại của nguyên tử cộng với nhiệt bên ngoài của thể chân ngã nơi nó có vị trí của mình tạo ra điều hủy diệt nguyên tử trường tồn. Tạm thời, và ngay trước khi bị hủy diệt, nó trở thành một mặt trời thất phân tí hon do sự bức xạ và hoạt động của các loa tuyến. Với mặt trời hồng trần của hệ thống cũng vậy; theo cách tương tự, nó sẽ trở thành bảy mặt trời khi nó đã hấp thu tinh túy sự sống của các cõi đã tiến hóa đầy đủ và của các hệ hành tinh trên đó. Sự bùng cháy tiếp theo là công việc cuối cùng của phương diện Hủy Diệt. Nó đánh dấu khoảnh khắc phát triển cao nhất của chất liệu thiên thần trong hệ thống, sự hoàn tất công việc của Agni và các thiên thần lửa của ngài, và sự điểm đạo của Brahma. Khi đó chất liệu nguyên tử sẽ biệt ngã hóa (điều mà, như chúng ta biết, là mục tiêu của nguyên tử) và sau đại pralaya, hệ mặt trời kế tiếp sẽ bắt đầu với Tinh thần tam phân biểu lộ qua chất liệu vốn được phân biệt chủ yếu bởi tình thương trí tuệ năng động. Điều này tất yếu là không thể hiểu nổi đối với trí tuệ cuộc tuần hoàn thứ tư của chúng ta.

We have thus considered the various types of pralaya, in so far as they affect the human unit; each unit finds its ways eventually into one of the cosmic astral centres of the particular cosmic Entity Who is the Lord of his Ray, and therefore at the great pralaya those human units who have achieved, and who have not passed to other distant cosmic centres, will find their place there.

Như vậy, chúng ta đã xem xét các loại pralaya khác nhau trong chừng mực chúng ảnh hưởng đến đơn vị con người; cuối cùng mỗi đơn vị đều tìm được đường đi vào một trong các trung tâm cảm dục vũ trụ của Thực Thể vũ trụ đặc thù là Chúa Tể của cung của y, và vì vậy vào đại pralaya, những đơn vị con người đã thành tựu, và chưa đi đến các trung tâm vũ trụ xa xôi khác, sẽ tìm được vị trí của mình ở đó.

Before we take up planetary and cosmic pralaya, we might here consider the relationship of the Agnishvattas [Page 742] (who caused the individualisation of animal man on this planet), to other and previous cycles of evolution, and why we have only dealt with them from the point of view of a mahamanvantara, and of a kalpa. The reason we have not considered specifically the group of Agnishvattas, Kumaras and Rudras connected with the Earth has been because we have handled the entire subject from the planetary standpoint, and not from that of the human family. The student who seeks detailed information as to the Agnishvattas of the Earth chain has but to study the Secret Doctrine. We have attempted to carry the thought of the student beyond his own tiny sphere to the consideration of the work of the Manasadevas in the solar system. In every scheme They have Their place, but in some—as in the Jupiter scheme—They are just beginning Their work, and in others—as in the Vulcan and Venus schemes—Their work is nearly completed. Venus is in her last round, and has nearly developed her fourth kingdom to perfection, or as much as it is possible in the system. In the Earth scheme, They are in full tide of work, and only in the next round will They demonstrate the height of Their activity. They pass cyclically through the schemes and under Law—the Law of Karma for the planetary Logos, for They are essentially concerned with His Life as it actuates His centres. They come into a scheme on a wave of manasic energy from the head centre of the Logos, and in the process of passing through his Heart centre three things occur:

Trước khi bàn đến pralaya hành tinh và vũ trụ, ở đây chúng ta có thể xem xét mối liên hệ của các Agnishvatta [Page 742] (những Đấng đã gây ra sự biệt ngã hóa của người thú trên hành tinh này), với các chu kỳ tiến hóa khác và trước đó, và lý do tại sao chúng ta chỉ bàn về Các Ngài từ quan điểm của một Đại giai kỳ sinh hóa và của một kalpa. Lý do chúng ta không xem xét riêng nhóm Agnishvatta, các Kumara và các Rudra liên hệ với Trái Đất là vì chúng ta đã xử lý toàn bộ chủ đề từ quan điểm hành tinh, chứ không phải từ quan điểm của gia đình nhân loại. Đạo sinh tìm kiếm thông tin chi tiết về các Agnishvatta của Dãy Địa Cầu chỉ cần nghiên cứu Giáo Lý Bí Nhiệm. Chúng ta đã cố gắng đưa tư tưởng của đạo sinh vượt ra ngoài khối cầu nhỏ bé của chính y để xem xét công việc của các Manasadeva trong hệ mặt trời. Trong mọi hệ hành tinh, Các Ngài đều có vị trí của mình, nhưng trong một số hệ—như hệ Sao Mộc—Các Ngài chỉ mới bắt đầu công việc của mình, còn trong những hệ khác—như các hệ Vulcan và Sao Kim—công việc của Các Ngài gần như đã hoàn tất. Sao Kim đang ở cuộc tuần hoàn cuối cùng của nó, và gần như đã phát triển giới thứ tư của nó đến mức hoàn hảo, hay đến mức có thể trong hệ thống. Trong hệ Địa Cầu, Các Ngài đang ở giữa làn sóng công việc trọn vẹn, và chỉ trong cuộc tuần hoàn kế tiếp Các Ngài mới biểu lộ đỉnh cao hoạt động của mình. Các Ngài đi qua các hệ hành tinh theo chu kỳ và dưới Định luật—Định luật Nghiệp quả đối với Hành Tinh Thượng Đế, vì Các Ngài chủ yếu liên quan đến Sự sống của Ngài khi nó làm sinh động các trung tâm của Ngài. Các Ngài đi vào một hệ hành tinh trên một làn sóng năng lượng manas từ trung tâm đầu của Thượng đế, và trong tiến trình đi qua trung tâm Tim của ngài, ba điều xảy ra:

1. They become differentiated into seven groups.

1. Các Ngài trở nên được biến phân thành bảy nhóm.

2. They direct Themselves as streams of energy to some particular scheme.

2. Các Ngài tự hướng mình như những dòng năng lượng đến một hệ hành tinh đặc thù nào đó.

3. Their contact with a scheme is that which produces the manifestation of the fourth Creative Hierarchy, and leads to the Monads taking form in the three worlds.

3. Sự tiếp xúc của Các Ngài với một hệ hành tinh là điều tạo ra sự biểu lộ của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, và dẫn đến việc các Chân thần mang hình tướng trong ba cõi giới.

[Page 743] These entities who sacrifice Themselves for the human Hierarchy (and we must note here the accuracy of the fact that They emanate from the logoic head centre, or from the will aspect), are the true Saviours who give Their lives for the good of the race. They stand in relation to the totality of the schemes as the Occult Hierarchy of any particular planet stands to men upon that planet. During pralaya They are withdrawn (as all else), from manifestation, and return to a cosmic centre of which the logoic head centre is but a dim reflection; they return the richer for experience.

[Page 743] Những thực thể này, những Đấng hy sinh chính mình cho Huyền Giai nhân loại (và ở đây chúng ta phải lưu ý tính chính xác của sự kiện rằng Các Ngài phát xuất từ trung tâm đầu logoic, hay từ phương diện ý chí), là những Đấng Cứu Rỗi chân chính hiến dâng sự sống của mình vì lợi ích của nhân loại. Các Ngài đứng trong mối liên hệ với toàn thể các hệ hành tinh như Thánh Đoàn Huyền bí của bất kỳ hành tinh đặc thù nào đứng trong mối liên hệ với con người trên hành tinh ấy. Trong pralaya, Các Ngài được rút khỏi biểu lộ (như mọi thứ khác), và trở về một trung tâm vũ trụ mà trung tâm đầu logoic chỉ là một phản ánh mờ nhạt; Các Ngài trở về phong phú hơn nhờ kinh nghiệm.

The old Commentary says:

Cổ Luận nói:

“The deva shineth with added light when the virtue of the will hath entered. He garnereth colour as the reaper garners wheat, and storeth it up for the feeding of the multitude. Over all this deva host the mystic Goat presideth. Makara is, and is not, yet the link persisteth.”

“Thiên thần tỏa sáng với ánh sáng gia tăng khi đức tính của ý chí đã đi vào. Y thu hoạch màu sắc như người gặt thu hoạch lúa mì, và tích trữ nó để nuôi dưỡng số đông. Trên toàn bộ đạo binh thiên thần này, Con Dê thần bí ngự trị. Makara là, và không là, tuy nhiên mối liên kết vẫn tồn tại.”

Rounds come and go but (except from the standpoint of a particular planet), the Manasadevas are forever present, but their influence is not forever felt.

Các cuộc tuần hoàn đến rồi đi nhưng (ngoại trừ theo quan điểm của một hành tinh đặc thù), các Manasadeva luôn luôn hiện diện, nhưng ảnh hưởng của Các Ngài không phải lúc nào cũng được cảm nhận.

In considering planetary pralaya we might briefly enumerate the following periods of quiescence:

Khi xem xét pralaya hành tinh, chúng ta có thể ngắn gọn liệt kê các giai đoạn tĩnh lặng sau đây:

Between Two Globes in a Chain. This covers the period of abstraction of the seeds of all life, and its transference from one sphere to another. The seed manu of a globe gathers all the life forces into Himself, as does the Logos at the close of a system, and as also transpires at the close of a chain, and holds them quiescent in His aura. This covers a period of a manvantara, or of one day of Brahma.

Giữa Hai Bầu hành tinh trong một Dãy. Điều này bao trùm giai đoạn rút các hạt giống của mọi sự sống, và chuyển chúng từ khối cầu này sang khối cầu khác. Đức Manu hạt giống của một bầu hành tinh tập hợp mọi sinh lực vào trong chính Ngài, như Thượng đế làm vào lúc kết thúc một hệ thống, và cũng như điều xảy ra vào lúc kết thúc một dãy, và giữ chúng trong trạng thái tĩnh lặng trong hào quang của Ngài. Điều này bao trùm một giai đoạn của một giai kỳ sinh hóa, hay một ngày của Brahma.

Between Two Chains. This covers the period of a mahamanvantara, or of one year of Brahma.

Giữa Hai Dãy. Điều này bao trùm giai đoạn của một Đại giai kỳ sinh hóa, hay một năm của Brahma.

There are many ways of arriving at the greater cycles, but there is no need to confuse with the intricacies of figures. The ten Prajapatis or Rishis, or [Page 744] the ten planetary Logoi, manifest through Their ten schemes in time and space, the hour of Their appearing differing. Each likewise manifests as does the Logos through a septenate and a triad, making again a ten of perfection.

Có nhiều cách để đạt đến các chu kỳ lớn hơn, nhưng không cần làm rối trí bằng những phức tạp của các con số. Mười Prajapati hay Rishi, hay [Page 744] mười Hành Tinh Thượng Đế, biểu lộ qua mười hệ hành tinh của Các Ngài trong thời gian và không gian, giờ xuất hiện của Các Ngài khác nhau. Mỗi Đấng cũng biểu lộ như Thượng đế qua một bộ bảy và một tam nguyên, lại tạo thành một số mười của sự hoàn hảo.

Between Two Solar Systems. This covers the period of one hundred years of Brahma, and through the study of the planetary cycles comprehension of these greater cycles may come. Complication comes to the student nevertheless in the fact that two of the schemes cover their cyclic periods in five rounds, while others have seven; one scheme has but three rounds, but a mystery is hidden here: on the inner round one planet has nine cycles to run before the purpose of its Lord is completed.

Giữa Hai Hệ Mặt Trời. Điều này bao trùm giai đoạn một trăm năm của Brahma, và qua việc nghiên cứu các chu kỳ hành tinh, sự thấu hiểu về các chu kỳ lớn hơn này có thể đến. Tuy nhiên, sự phức tạp đến với đạo sinh ở chỗ hai trong các hệ hành tinh hoàn tất các giai đoạn chu kỳ của chúng trong năm cuộc tuần hoàn, trong khi những hệ khác có bảy; một hệ hành tinh chỉ có ba cuộc tuần hoàn, nhưng ở đây có một huyền nhiệm ẩn giấu: trên cuộc tuần hoàn bên trong, một hành tinh có chín chu kỳ phải trải qua trước khi mục đích của Chúa Tể của nó được hoàn tất.

Certain lesser periods of pralaya do not concern man at all, but concern the atom of matter as it is released from form of any kind in the subhuman kingdoms. Pralaya is the result of radioactivity carried to a conclusion.

Một số giai đoạn pralaya nhỏ hơn hoàn toàn không liên quan đến con người, mà liên quan đến tnguyên tử vật chất khi nó được giải thoát khỏi hình tướng thuộc bất kỳ loại nào trong các giới dưới nhân loại. Pralaya là kết quả của phóng xạ được đưa đến chỗ hoàn tất.

(c.) Types of Human Rebirth. In our study of the building of thought-forms and the agencies for their construction, we have considered:

(c.) Các Loại Tái Sinh của Con Người. Trong nghiên cứu của chúng ta về việc xây dựng các Hình tư tưởng và các tác nhân cho sự kiến tạo của chúng, chúng ta đã xem xét:

1. The deva substance out of which they are constructed.

1. Chất liệu thiên thần mà từ đó chúng được kiến tạo.

2. The energy which animates them and its source.

2. Năng lượng làm sinh động chúng và nguồn gốc của nó.

3. Their appearance in time and space, or their incarnation.

3. Sắc tướng của chúng trong thời gian và không gian, hay sự nhập thể của chúng.

4. Their disappearance or pralaya.

4. Sự biến mất của chúng hay pralaya.

5. The constructing entities who in a threefold manner produce these forms, utilising the process of:

5. Các thực thể kiến tạo, những Đấng theo cách tam phân tạo ra các hình tướng này, sử dụng tiến trình:

a. Meditation, which is ever the preliminary to construction.

a. Tham thiền, vốn luôn là bước sơ khởi của sự kiến tạo.

b. Dynamic force, or the positive energy which seizes upon its polar opposite (negative substance), and utilises it. [Page 745]

b. Mãnh lực năng động, hay năng lượng dương tính nắm lấy cực đối nghịch của nó (chất liệu âm tính), và sử dụng nó. [Page 745]

c. The impartation of colour or quality, which moulds that which has been prepared.

c. Sự truyền đạt màu sắc hay phẩm tính, điều nắn khuôn cái đã được chuẩn bị.

d. A secondary vitalisation, which sets in separate motion the thought-form thus created.

d. Một sự tiếp sinh lực thứ cấp, điều làm cho Hình tư tưởng được tạo ra như thế bắt đầu vận động riêng biệt.

We will now consider the mystery of rebirth, or the incarnation of those lives which exist in subtler matter, and yet which seek form according to law, and touch upon their specific intent on dense physical levels. We can consider this in connection with the cosmic entities who seek existence on the physical plane of the cosmos, our solar systemic planes, or the reincarnating jivas who are driven by the Law towards earthly manifestation in order to become fully conscious, and acquire (by means of sentient existence), added faculty and power.

Giờ đây chúng ta sẽ xem xét huyền nhiệm của tái sinh, hay sự nhập thể của những sự sống tồn tại trong vật chất vi tế hơn, nhưng vẫn tìm kiếm hình tướng theo định luật, và chạm đến ý định đặc thù của chúng trên các cấp hồng trần đậm đặc. Chúng ta có thể xem xét điều này liên hệ với các thực thể vũ trụ tìm kiếm sự tồn tại trên cõi hồng trần của vũ trụ, các cõi của hệ mặt trời chúng ta, hay các jiva tái sinh bị Định luật thúc đẩy hướng đến biểu lộ trần thế để trở nên hoàn toàn hữu thức, và đạt được (bằng phương tiện tồn tại có tri giác) năng lực và quyền năng gia tăng.

H. P. B. has said that rebirths may be divided into three classes: (S.D., III, 364, 365, 367.45.)

H. P. B. đã nói rằng các lần tái sinh có thể được chia thành ba loại: (S.D., III, 364, 365, 367.45.)

a. Those of Avatars.

a. Những lần tái sinh của các Đấng Hoá Thân.

b. Those of Adepts.

b. Những lần tái sinh của các chân sư.

c. Those of jivas seeking development.

c. Những lần tái sinh của các jiva tìm kiếm sự phát triển.

To those who are endeavouring to grasp somewhat the mystery of rebirth and its laws and purpose, and who are confused when considering the mystery of the Buddha, and the secret purpose of that mysterious Entity, the Silent Watcher; to those who find the problem of understanding the position of the Kumaras and Their relation to the planetary Logos almost an insuperable one, it might be wise to say: Study and meditate upon the difference existing between the lower principles and the higher three; study and meditate upon the place and position of these lower principles in the body of the planetary Logos and ponder upon the correspondence between:

Đối với những ai đang cố gắng nắm bắt phần nào huyền nhiệm của tái sinh cùng các định luật và mục đích của nó, và đang bối rối khi xem xét huyền nhiệm của Đức Phật, và mục đích bí mật của Thực Thể huyền nhiệm ấy, Đấng Quan Sát Thầm Lặng; đối với những ai thấy vấn đề thấu hiểu vị trí của các Kumara và mối liên hệ của Các Ngài với Hành Tinh Thượng Đế gần như không thể vượt qua, có lẽ nên nói rằng: Hãy nghiên cứu và tham thiền về sự khác biệt hiện hữu giữa các nguyên khí thấp và ba nguyên khí cao; hãy nghiên cứu và tham thiền về chỗ đứng và vị trí của các nguyên khí thấp này trong thân thể của Hành Tinh Thượng Đế và suy ngẫm về sự tương ứng giữa:

a. The devachan of the reincarnating jiva.

a. Devachan của jiva tái sinh.

b. The nirvana of the Adept. [Page 746]

b. Niết Bàn của chân sư. [Page 746]

c. The pralaya of a cosmic Entity, such as the Lord of a chain, the Lord of a scheme, and the Lord of a Ray.

c. Pralaya của một Thực Thể vũ trụ, như Chúa Tể của một dãy, Chúa Tể của một hệ hành tinh, và Chúa Tể của một cung.

I say correspondence in its esoteric significance, and do not seek to infer analogy in detail, but only in purpose and in experience. It may be said of all three states that they are periods of development, long cycles of meditation, and interludes between stages of activity. Hence the emphasis laid in the East and in all occult schools of development upon meditation, for it is the means of bringing to the unit under development the capacity which will produce:

Tôi nói sự tương ứng theo thâm nghĩa huyền bí của nó, và không tìm cách suy ra sự tương đồng trong chi tiết, mà chỉ trong mục đích và trong kinh nghiệm. Có thể nói về cả ba trạng thái này rằng chúng là những giai đoạn phát triển, những chu kỳ dài của tham thiền, và những khoảng xen giữa các giai đoạn hoạt động. Vì thế mà ở phương Đông và trong mọi trường phái huyền bí học phát triển, tham thiền được nhấn mạnh, vì đó là phương tiện đem đến cho đơn vị đang phát triển năng lực sẽ tạo ra:

a. Abstraction, or liberation from form.

a. Sự rút ra, hay giải thoát khỏi hình tướng.

b. Creative power.

b. Quyền năng sáng tạo.

c. Direction of energy, through an act of the will.

c. Sự định hướng năng lượng, qua một hành vi của ý chí.

d. Future constructive activity.

d. Hoạt động kiến tạo trong tương lai.

By means of meditation, a man finds freedom from the delusion of the senses, and their vibratory lure; he finds his own positive centre of energy and becomes consciously able to use it; he becomes, therefore, aware of his real Self, functioning freely and consciously beyond the planes of sense; he enters into the plans of the greater Entity within Whose radiatory capacity he has a place; he can then consciously proceed to carry out those plans as he can grasp them at varying stages of realisation; and he becomes aware of essential unity. But when a man has thus freed himself from the objects of sense in the three worlds he again becomes aware of the need of further meditation, and it is this (to man in the three worlds), inconceivable form of meditation that engrosses the attention of the Adept, and which is undertaken by Him in two great stages, each preceding the two final Initiations, the sixth and the seventh. I refer not here only to Adepts who “make the sacrifice,” and choose rebirth for service on the planet, but to all adepts. Freedom to work on any Path must be gained by occult [Page 747] meditation; freedom to escape beyond the ring-pass-not is also thus attained, and likewise the curious state of quiescence which is achieved by Those Who have offered for service as the occult Hierarchy in the next round. In Them have to be stored the psychic seeds of knowledge which will be available in the fifth round; this necessitates for Them an attitude of receptivity to occurrences at the close of each root-race, when there is, on subtler levels, a gathering in of psychic force, and its storing with Those prepared for its reception. Their work is analogous to that of the Seed-Manu, Who Himself works through a septenate as do these storers of the psychic life-forces.

Nhờ tham thiền, con người tìm được tự do khỏi ảo tưởng của các giác quan và sức quyến rũ rung động của chúng; y tìm được trung tâm năng lượng dương tính của riêng mình và trở nên có khả năng hữu thức sử dụng nó; vì vậy y nhận biết được Bản Ngã thực sự của mình, hoạt động tự do và hữu thức vượt ngoài các cõi của giác quan; y đi vào các kế hoạch của Thực Thể lớn hơn mà trong năng lực bức xạ của Đấng ấy y có một vị trí; khi đó y có thể hữu thức tiến hành thực hiện các kế hoạch ấy theo mức độ y có thể nắm bắt ở những giai đoạn chứng nghiệm khác nhau; và y nhận biết được sự hợp nhất cốt yếu. Nhưng khi con người đã tự giải thoát như thế khỏi các đối tượng của giác quan trong ba cõi giới, y lại nhận biết nhu cầu phải tham thiền thêm nữa, và chính hình thức tham thiền không thể nghĩ bàn này (đối với con người trong ba cõi giới) chiếm trọn sự chú ý của Chân sư, và được Ngài thực hiện trong hai giai đoạn lớn, mỗi giai đoạn đi trước hai Cuộc Điểm Đạo cuối cùng, thứ sáu và thứ bảy. Ở đây tôi không chỉ nói đến các chân sư “thực hiện sự hy sinh,” và chọn tái sinh để phụng sự trên hành tinh, mà nói đến mọi chân sư. Tự do để hoạt động trên bất kỳ Con đường nào phải được đạt tới bằng tham thiền huyền bí; [Page 747] tự do để thoát ra ngoài vòng-giới-hạn cũng được đạt tới như vậy, và cũng thế đối với trạng thái tĩnh lặng kỳ lạ mà Những Đấng đã hiến mình phụng sự như Thánh Đoàn huyền bí trong cuộc tuần hoàn kế tiếp đạt được. Trong Các Ngài phải được lưu giữ các hạt giống thông linh của tri thức sẽ sẵn có trong cuộc tuần hoàn thứ năm; điều này đòi hỏi nơi Các Ngài một thái độ tiếp nhận đối với các biến cố vào lúc kết thúc mỗi giống dân gốc, khi ở các cấp vi tế hơn có sự thu gom mãnh lực thông linh, và sự lưu trữ nó nơi Những Đấng đã chuẩn bị để tiếp nhận. Công việc của Các Ngài tương tự với công việc của Đức Manu Hạt Giống, chính Ngài cũng hoạt động qua một bộ bảy như những Đấng lưu giữ các sinh lực thông linh này.

Again for such cosmic Entities as the planetary Logoi periods of meditation transpire, but these concern Them on the cosmic planes, and only the effects are felt on this. They meditate in Their physical brains, and therefore in substance as does man, but the process is carried on in the etheric brain. This should be pondered on, for it holds the mystery hid. Also, the fact that some of these Lords of the Rays are more proficient in meditation than others, and thus achieve differing results which work out in Their schemes, should be carefully borne in mind.

Một lần nữa, đối với những Thực Thể vũ trụ như các Hành Tinh Thượng Đế, các giai đoạn tham thiền cũng diễn ra, nhưng chúng liên quan đến Các Ngài trên các cõi vũ trụ, và chỉ các hiệu quả mới được cảm nhận trên cõi này. Các Ngài tham thiền trong bộ não hồng trần của Các Ngài, và vì vậy trong chất liệu như con người, nhưng tiến trình được thực hiện trong bộ não dĩ thái. Điều này cần được suy ngẫm, vì nó giữ huyền nhiệm ẩn kín. Ngoài ra, sự kiện rằng một số Chúa Tể của các Cung này thành thạo trong tham thiền hơn những vị khác, và do đó đạt được những kết quả khác nhau được triển khai trong các hệ hành tinh của Các Ngài, cần được ghi nhớ cẩn thận.

(d.) The Future Coming of the Avatar.

(d.) Sự Giáng Lâm Trong Tương Lai của Đấng Hoá Thân.

THE COMING AVATAR

ĐẤNG HOÁ THÂN ĐANG ĐẾN

“From the zenith to the nadir, from dawn to fall of night, from the emergence into being of all that is or may be to the passing into peace of all that hath achieved, gleameth the orb of blue and the inner radiant fire.

“Từ thiên đỉnh đến thiên để, từ bình minh đến lúc đêm xuống, từ sự xuất hiện vào hiện hữu của tất cả những gì đang là hay có thể là đến sự đi vào an bình của tất cả những gì đã thành tựu, khối cầu xanh lam và ngọn lửa rực sáng bên trong lóe lên.

From the gates of gold down to the pit of earth, out from the flaming fire down to the circle of gloom, rideth the secret Avatar, bearing the sword that pierceth.

Từ những cổng vàng xuống đến vực đất, từ ngọn lửa bừng cháy xuống đến vòng tròn u tối, Đấng Hoá Thân bí mật cưỡi đến, mang theo thanh gươm xuyên thấu.

Naught can arrest His approach, and none may say Him nay. To the darkness of our sphere He rideth alone, and on His approach is seen the uttermost disaster, and the chaos of that which seeketh to withstand. [Page 748]

Không gì có thể ngăn cản sự tiếp cận của Ngài, và không ai có thể nói không với Ngài. Một mình Ngài cưỡi vào bóng tối của khối cầu chúng ta, và khi Ngài đến gần, người ta thấy tai họa tột cùng, và sự hỗn loạn của cái tìm cách chống lại. [Page 748]

The Asuras veil their faces, and the pit of maya reeleth to the foundation. The stars of the eternal Lhas vibrate to that sound,—the WORD uttered with sevenfold intensity.

Các Asura che mặt lại, và vực ảo lực chao đảo đến tận nền móng. Các vì sao của các Lha vĩnh cửu rung động trước âm thanh ấy,—LINH TỪ được thốt ra với cường độ thất phân.

Greater the chaos becometh; the major centre with all the seven circulating spheres rock with the echoes of disintegration. The fumes of utter blackness mount upwards in dissipation. The noise discordant of the warring elements greets the oncoming One, and deters Him not. The strife and cries of the fourth great Hierarchy, blending with the softer note of the Builders of the fifth and sixth, meet His approach. Yet He passeth on His way, sweeping the circle of the spheres, and sounding forth the WORD.

Sự hỗn loạn càng trở nên lớn hơn; trung tâm lớn cùng với tất cả bảy khối cầu tuần hoàn rung chuyển bởi những tiếng vọng của sự tan rã. Những làn khói của bóng đen tuyệt đối bốc lên trên trong sự tiêu tan. Âm thanh chói tai của các nguyên tố đang giao tranh chào đón Đấng Đang Đến, nhưng không ngăn được Ngài. Cuộc xung đột và tiếng kêu của Huyền Giai lớn thứ tư, hòa lẫn với âm điệu dịu hơn của các Đấng Kiến Tạo của huyền giai thứ năm và thứ sáu, gặp sự tiếp cận của Ngài. Tuy vậy Ngài vẫn tiếp tục trên đường của mình, quét qua vòng tròn các khối cầu, và xướng lên LINH TỪ.

* * * * * * *

* * * * * * *

From the nadir to the zenith, from eve unto the Day be with us, from the circle of manifestation to the centre of pralayic peace, is seen the enveloping blue, lost in the flame of achievement.

Từ thiên để đến thiên đỉnh, từ chiều tối cho đến Ngày ở cùng chúng ta, từ vòng tròn biểu lộ đến trung tâm của an bình pralaya, người ta thấy màu xanh bao bọc, mất hút trong ngọn lửa của thành tựu.

Up from the pit of maya back to the portals of gold, forth from the gloom and darkness back to the splendour of day, rideth the Manifested One, the Avatar, bearing the shattered Cross.

Từ vực ảo lực trở lại các cổng vàng, từ u tối và bóng đêm trở lại vẻ huy hoàng của ban ngày, Đấng Biểu Lộ, Đấng Hoá Thân, cưỡi lên, mang theo Thập Giá đã vỡ tan.

Naught can arrest His return, none can impede His Path, for He passeth along the upper way, bearing His people with Him. Cometh the dissolution of pain, cometh the end of strife, cometh the merging of the spheres and the blending of the hierarchies. All then is re-absorbed within the orb, the circle of manifestation. The forms that exist in maya, and the flame that devoureth all, are garnered by the One Who rideth the Heavens and entereth into the timeless AEon.”

Không gì có thể ngăn cản sự trở lại của Ngài, không ai có thể cản trở Con Đường của Ngài, vì Ngài đi theo thượng đạo, mang dân của Ngài theo cùng. Sự tan biến của đau khổ đến, sự chấm dứt của xung đột đến, sự hòa nhập của các khối cầu và sự dung hợp của các huyền giai đến. Khi đó tất cả đều được tái hấp thu vào trong khối cầu, vòng tròn biểu lộ. Các hình tướng tồn tại trong ảo lực, và ngọn lửa thiêu rụi mọi sự, được thu gom bởi Đấng cưỡi trên các tầng trời và đi vào AEon phi thời gian.”

(FROM THE ARCHIVES OF THE LODGE.)

(TỪ CÁC LƯU TRỮ CỦA THÁNH ĐOÀN.)

We have touched upon the subject of Avatars and the various classes into which they might be divided. We might now enlarge somewhat more upon the methods. The methods whereby certain cosmic Existences and certain highly evolved Entities appear among men to do a specific work might be very inadequately, and cursorily summarised, as follows:

Chúng ta đã chạm đến chủ đề về các Đấng Hoá Thân và các loại khác nhau mà các Ngài có thể được phân chia vào. Giờ đây chúng ta có thể khai triển thêm đôi chút về các phương pháp. Những phương pháp mà nhờ đó một số Hiện Hữu vũ trụ và một số Thực Thể tiến hóa cao xuất hiện giữa loài người để thực hiện một công việc đặc thù có thể được tóm lược rất không đầy đủ và sơ lược như sau:

The method of overshadowing.

Phương pháp phủ bóng.

The method of embodying some principle. [Page 749]

Phương pháp nhập thể một nguyên khí nào đó. [Page 749]

The method seen in the mystery of the Bodhisattva, or the Christ.

Phương pháp được thấy trong huyền nhiệm của Đức Bồ Tát, hay Đức Christ.

The method of direct incarnation.

Phương pháp nhập thể trực tiếp.

The handicap of words is great, and the above phrases but convey a hint as to the true meaning. Therein lies safety for the student, for the real significance would be incomprehensible to him, and would but mislead him and guide him along the path of misunderstanding. Until a man is a pledged initiate, he cannot comprehend the matter. Of these, the most ordinary method is the first. All these methods of manifestation will perhaps be better understood by the student if he interprets them always in terms of force and energy, and if he notes that dim reflections of the same processes, and faint analogies can be traced among the reincarnating jivas. When a man has reached a certain development and can be of service to the world, cases occur when he is overshadowed by a great adept, or—as in the case of H. P. B.—by One greater than an adept. A chela can be a centre through which his master can pour His energy and force for the helping of the world, and in certain important crises men have been overshadowed by more than one of the Great Ones. (250) [Page 750] What occurs on lower planes is but a reflection of higher processes, and in this thought may lie illumination. A man is a force centre, either for his Ego, when sufficiently evolved, or, via his Ego, of his group force; when very highly developed he can consciously be overshadowed by an exponent of a different type of force, which blends with his group, or Ray, force, and produces significant results in his life on earth.

Sự hạn chế của ngôn từ là rất lớn, và các cụm từ trên chỉ chuyển tải một gợi ý về ý nghĩa chân thực. Chính trong đó có sự an toàn cho đạo sinh, vì ý nghĩa thực sự sẽ không thể hiểu nổi đối với y, và chỉ làm cho y lạc hướng và dẫn y đi trên con đường hiểu lầm. Cho đến khi con người là một điểm đạo đồ đã tuyên thệ, y không thể hiểu được vấn đề này. Trong số các phương pháp ấy, phương pháp thông thường nhất là phương pháp thứ nhất. Có lẽ mọi phương pháp biểu lộ này sẽ được đạo sinh hiểu rõ hơn nếu y luôn diễn giải chúng theo thuật ngữ mãnh lực và năng lượng, và nếu y lưu ý rằng những phản ánh mờ nhạt của cùng các tiến trình ấy, và những sự tương đồng yếu ớt, có thể được truy ra nơi các jiva tái sinh. Khi con người đã đạt đến một mức phát triển nhất định và có thể phụng sự thế gian, sẽ có những trường hợp y được một chân sư vĩ đại phủ bóng, hoặc—như trong trường hợp của H. P. B.—được một Đấng còn cao hơn một chân sư phủ bóng. Một đệ tử có thể là một trung tâm mà qua đó chân sư của y có thể tuôn đổ năng lượng và mãnh lực của Ngài để trợ giúp thế gian, và trong một số khủng hoảng quan trọng, con người đã được hơn một trong Các Đấng Cao Cả phủ bóng. (250) [Page 750] Điều xảy ra trên các cõi thấp chỉ là một phản ánh của các tiến trình cao hơn, và trong tư tưởng này có thể có sự soi sáng. Con người là một trung tâm mãnh lực, hoặc cho chân ngã của mình, khi đã tiến hóa đầy đủ, hoặc, qua chân ngã của mình, cho mãnh lực nhóm của y; khi phát triển rất cao, y có thể được phủ bóng một cách hữu thức bởi một hiện thân của một loại mãnh lực khác, mãnh lực này hòa trộn với mãnh lực nhóm hay mãnh lực cung của y, và tạo ra những kết quả quan trọng trong đời sống của y trên trần thế.

(250) Discipleship or Chelaship....The ancient mysteries were but a school of spiritual training and perfection in true wisdom; that the preliminary qualification was the purification of the heart from all sensual passions and false preconceptions; that, while the hand of the Master might lead the neophyte through the dangers of the stage where, like the infant, he could not walk alone he was obliged, in the higher paths, to learn to guide and guard himself, as the adult man has to do in ordinary life; that the ultimate goal was the expansion of the self into infinite existence and potentialities; and, lastly, that, however the initial forms and ceremonies may have differed in appearance, an identical aim was in view.—The Theosophist, Vol. IX, p. 246.

(250) Địa vị đệ tử hay địa vị chela....Các huyền nhiệm cổ xưa chỉ là một trường học huấn luyện tinh thần và hoàn thiện trong minh triết chân chính; rằng điều kiện sơ bộ là sự thanh lọc trái tim khỏi mọi đam mê nhục dục và mọi định kiến sai lầm; rằng, trong khi bàn tay của Chân sư có thể dẫn dắt người sơ cơ vượt qua những hiểm nguy của giai đoạn mà, như trẻ thơ, y chưa thể tự đi một mình, thì trên các con đường cao hơn, y buộc phải học cách tự hướng dẫn và tự bảo vệ mình, như người trưởng thành phải làm trong đời sống bình thường; rằng mục tiêu tối hậu là sự mở rộng bản ngã vào hiện hữu và các tiềm năng vô hạn; và sau cùng, rằng dù các hình thức và nghi lễ ban đầu có thể khác nhau về bề ngoài thế nào đi nữa, thì một mục tiêu đồng nhất vẫn được nhắm đến.—The Theosophist, Tập IX, tr. 246.

The pure heart and clean mind alone permit one to attain salvation. This was his doctrine. So, likewise, is it taught in the Aryan Mahabharata (Sec. CXCIX. Vana Parva) which says: “Those high souled persons that do not commit sins in word, deed, heart and soul, are said to undergo ascetic austerities, and not that they suffer their bodies to be wasted by fasts and penances. He that hath no feeling of kindness for relatives cannot be free from sin, even if his body be pure. That hard-heartedness of his is the enemy of his asceticism. Asceticism, again, is not mere abstinence from the pleasures of the world. He that is always pure and decked with virtues, he that practices kindness all his life, is a Muni, even though he lead a domestic life.”—The Theosophist, Vol. XIII, p. 259. (back)

Chỉ trái tim thanh khiết và trí tuệ trong sạch mới cho phép con người đạt đến cứu rỗi. Đó là giáo lý của ông. Tương tự như vậy, điều ấy cũng được dạy trong Mahabharata Arya (Mục CXCIX. Vana Parva), nơi nói rằng: “Những người có tâm hồn cao cả không phạm tội bằng lời nói, hành động, trái tim và linh hồn, được nói là thực hành khổ hạnh tu trì, chứ không phải những người để thân thể mình hao mòn vì nhịn ăn và sám hối. Người không có lòng tử tế đối với thân quyến thì không thể thoát khỏi tội lỗi, dù thân thể ông có thanh sạch. Sự cứng lòng ấy là kẻ thù của sự khổ hạnh của ông. Hơn nữa, khổ hạnh không chỉ đơn thuần là kiêng các thú vui của thế gian. Người luôn thanh sạch và được trang sức bằng các đức hạnh, người thực hành lòng tử tế suốt đời mình, là một Muni, dù ông sống đời gia thất.”—The Theosophist, Tập XIII, tr. 259. (back)

Again when an Ego is highly evolved he may choose during any particular incarnation to work paramountly through any one principle among the lower four; when this is the case the man’s life on earth is significantly that of an embodied principle. He seems to strike one note and to sound out one tone. His work is clearly to be seen along one line. He is a fanatic of high degree, but accomplishes big things for his subrace, even though the physical brain may not be consciously aware of the egoic impulse. This process has a curious relation to the obscuration, or fading out, of the personality, for the particular principle embodied works through a corresponding permanent atom, and its spirillae become over-rapidly developed, and hence their term of service wears to a close. This is a fact which is nevertheless taken advantage of when a superman, or great adept, becomes the embodiment (during a rootrace) of a principle; the vestures or sheaths of which the permanent atom is the nucleus (through the innate strength of the developed spirillae) are preserved by the aid of mantric formulas. The vibration is perpetuated for a specific length of time, and for as long as the vesture or sheath may be required. A hint is here conveyed which may be of service.

Một lần nữa, khi một chân ngã đã tiến hóa cao, y có thể chọn trong bất kỳ lần nhập thể đặc thù nào làm việc chủ yếu qua bất kỳ một nguyên khí nào trong bốn nguyên khí thấp; khi điều này xảy ra, đời sống của con người trên trần thế mang ý nghĩa rõ rệt là đời sống của một nguyên khí nhập thể. Y dường như đánh lên một nốt và xướng ra một âm điệu. Công việc của y được thấy rõ ràng theo một đường lối. Y là một người cuồng tín ở cấp độ cao, nhưng hoàn thành những việc lớn lao cho giống dân phụ của mình, dù bộ não hồng trần có thể không nhận biết một cách hữu thức xung lực chân ngã. Tiến trình này có một mối liên hệ kỳ lạ với sự che mờ, hay phai tắt, của phàm ngã, vì nguyên khí đặc thù được nhập thể hoạt động qua một nguyên tử trường tồn tương ứng, và các loa tuyến của nó phát triển quá nhanh, do đó thời kỳ phụng sự của chúng đi đến chỗ kết thúc. Tuy nhiên, đây là một sự kiện được tận dụng khi một siêu nhân, hay một chân sư vĩ đại, trở thành hiện thân (trong một giống dân gốc) của một nguyên khí; các y phục hay các thể mà nguyên tử trường tồn là hạt nhân của chúng (nhờ sức mạnh bẩm sinh của các loa tuyến đã phát triển) được bảo tồn bằng sự trợ giúp của các công thức mantram. Sự rung động được duy trì trong một khoảng thời gian đặc thù, và lâu chừng nào y phục hay thể ấy còn cần thiết. Ở đây có một gợi ý có thể hữu ích.

Again, when a man has become a disciple he may, if he so wish, remain upon the astral plane and work there, and—at his pleasure, and under the adjustment of karma by [Page 751] his Guru—he may take immediate physical birth. A hint as to the mystery of the Bodhisattva may be found in these two thoughts, provided the student transfers the whole concept to the etheric levels of the cosmic physical plane, and remembers that on these levels the adept works altogether as a part of a group, and not as a separated Identity, as does the ego in the three worlds. Therefore, the energy pouring through Him may be:

Một lần nữa, khi con người đã trở thành một đệ tử, y có thể, nếu muốn, ở lại trên cõi cảm dục và làm việc tại đó, và—tùy ý mình, và dưới sự điều chỉnh của nghiệp quả bởi [Page 751] Guru của y—y có thể lập tức sinh ra về mặt hồng trần. Một gợi ý về huyền nhiệm của Đức Bồ Tát có thể được tìm thấy trong hai tư tưởng này, miễn là đạo sinh chuyển toàn bộ khái niệm lên các cấp dĩ thái của cõi hồng trần vũ trụ, và nhớ rằng trên các cấp này chân sư hoàn toàn hoạt động như một phần của một nhóm, chứ không phải như một Bản Sắc Cô Lập tách biệt, như chân ngã hoạt động trong ba cõi giới. Vì vậy, năng lượng tuôn qua Ngài có thể là:

a. That of a particular centre in the body of the planetary Logos in its total force.

a. Năng lượng của một trung tâm đặc thù trong thân thể của Hành Tinh Thượng Đế trong toàn bộ mãnh lực của nó.

b. That of a particular set of vibrations within that centre, or a part of its vibratory force.

b. Năng lượng của một tập hợp rung động đặc thù trong trung tâm ấy, hay một phần của mãnh lực rung động của nó.

c. That of the energy of a particular principle, either one of His own higher principles which He is seeking to bring to bear upon the earth, by taking incarnation for that specific purpose, or the energy of one of the planetary logoic principles, as it pours through Him via a particular spirilla or life current in the permanent atom of the planetary Logos.

c. Năng lượng của một nguyên khí đặc thù, hoặc là một trong các nguyên khí cao của chính Ngài mà Ngài đang tìm cách đem tác động lên trái đất bằng cách nhập thể vì mục đích đặc thù ấy, hoặc là năng lượng của một trong các nguyên khí logoic hành tinh, khi nó tuôn qua Ngài qua một loa tuyến đặc thù hay dòng sự sống trong nguyên tử trường tồn của Hành Tinh Thượng Đế.

When these types of force are centralised in any particular adept, and He is expressing simply that extraneous force and nothing else, the effect is shown on the physical plane in the appearance of an avatar. An avatar is, but an adept is made, but frequently the force, energy, purpose or will of a cosmic Entity will utilise the vehicles of an adept in order to contact the physical planes. This method whereby cosmic Existences make Their power felt can be seen working out on all the planes of the cosmic physical plane. A striking instance of this can be seen in the case of the Kumaras, Who, under certain planetary forces, and through the formation of a systemic triangle, gave the impulse to the third kingdom which produced the fourth by bringing it into conjunction with the fifth. These Kumaras, Sanat Kumara and [Page 752] His three pupils, having achieved the highest initiation possible in the last great cycle, but having as yet (from Their standpoint) another step to take, offered Themselves to the planetary Logos of Their Ray as “focal points” for His force, so that thereby He might hasten and perfect His plans on Earth within the cycle of manifestation. They have demonstrated three out of the four methods. They are overshadowed by the planetary Logos, and He works directly as the Initiator (in relation to man) through Sanat Kumara, and with the three kingdoms in nature through the three Buddhas of Activity,—Sanat Kumara, being thus concerned directly with the ego on the mental plane, and His three Pupils being concerned with the other three types of consciousness, of which man is the summation. At the moment of initiation (after the second Initiation) Sanat Kumara becomes the direct mouthpiece and agent of the Planetary Logos. That great Entity speaks through Him and for one brief second (if one can use such a term in connection with a plane whereon time, as we understand it, is not) the planetary Logos of a man’s Ray consciously—via His etheric brain—turns His thought upon the Initiate, and “calls him by His Name.”

Khi các loại mãnh lực này được tập trung trong một chân sư nào đó, và Ngài chỉ đơn thuần biểu lộ mãnh lực ngoại lai ấy mà không biểu lộ gì khác, thì hiệu quả được cho thấy trên cõi hồng trần qua sự xuất hiện của một Đấng Hoá Thân. Một Đấng Hoá Thân là như vậy, còn một chân sư thì được tạo thành, nhưng thường thì mãnh lực, năng lượng, mục đích hay ý chí của một Thực Thể vũ trụ sẽ sử dụng các vận cụ của một chân sư để tiếp xúc với các cõi hồng trần. Phương pháp này, nhờ đó các Đấng Tồn Tại vũ trụ làm cho quyền năng của Các Ngài được cảm nhận, có thể thấy đang vận hành trên mọi cõi của cõi hồng trần vũ trụ. Một thí dụ nổi bật về điều này có thể thấy trong trường hợp các Kumara, các Ngài, dưới những mãnh lực hành tinh nhất định, và thông qua sự hình thành một tam giác hệ thống, đã tạo ra xung lực cho giới thứ ba, giới này đã sản sinh ra giới thứ tư bằng cách đưa nó vào sự tiếp xúc đồng thời với giới thứ năm. Các Kumara này, Đức Sanat Kumara và [Page 752] ba đệ tử của Ngài, sau khi đã đạt được cuộc điểm đạo cao nhất có thể có trong đại chu kỳ trước, nhưng vẫn còn (theo quan điểm của Các Ngài) một bước nữa phải đi, đã tự hiến mình cho Hành Tinh Thượng Đế của cung của Các Ngài như những “tiêu điểm” cho mãnh lực của Ngài, để nhờ đó Ngài có thể xúc tiến và hoàn thiện các kế hoạch của Ngài trên Trái Đất trong chu kỳ biểu hiện. Các Ngài đã minh chứng ba trong bốn phương pháp. Các Ngài được phủ bóng bởi Hành Tinh Thượng Đế, và Ngài trực tiếp hoạt động như Đấng Điểm đạo (liên hệ với con người) thông qua Đức Sanat Kumara, và với ba giới trong thiên nhiên thông qua ba Đức Phật Hoạt Động,—Đức Sanat Kumara, do đó, trực tiếp liên hệ với chân ngã trên cõi trí, còn ba Đệ tử của Ngài thì liên hệ với ba loại tâm thức kia, mà con người là tổng hợp của chúng. Vào lúc điểm đạo (sau lần điểm đạo thứ hai) Đức Sanat Kumara trở thành phát ngôn viên và tác nhân trực tiếp của Đức Hành Tinh Thượng Đế. Thực Thể vĩ đại ấy nói qua Ngài và trong một giây ngắn ngủi (nếu có thể dùng một thuật ngữ như thế liên hệ với một cõi mà thời gian, như chúng ta hiểu, không hiện hữu) Hành Tinh Thượng Đế của cung của một người một cách hữu thức—qua bộ não dĩ thái của Ngài—hướng tư tưởng của Ngài vào điểm đạo đồ, và “gọi y bằng Danh của Ngài.”

Again the Kumaras are embodied principles, but in this connection we must remember that this means that the force and energy of one of the principles of the Logos are pouring through Them via that which—to Them—corresponds to the Monad. Through Them, during Their period of incarnation and voluntary sacrifice, the great Prototype of the planetary Logos begins to make His Presence felt, and force from the constellation of the Great Bear faintly vibrates on earth. At initiation, man becomes aware consciously of the Presence of the planetary Logos through self-induced contact with his own divine Spirit. At the fifth Initiation he becomes aware of the full extent of this planetary group influence, and [Page 753] of his part in the great whole. At the sixth and seventh Initiations the influence of the planetary Prototype is sensed, reaching him via the planetary Logos working through the Initiator.

Một lần nữa, các Kumara là những nguyên khí nhập thể, nhưng trong mối liên hệ này chúng ta phải nhớ rằng điều đó có nghĩa là mãnh lực và năng lượng của một trong các nguyên khí của Thượng đế đang tuôn đổ qua Các Ngài thông qua điều mà—đối với Các Ngài—tương ứng với chân thần. Qua Các Ngài, trong thời kỳ lâm phàm và hi sinh tự nguyện của Các Ngài, Nguyên Mẫu vĩ đại của Hành Tinh Thượng Đế bắt đầu làm cho Hiện Diện của Ngài được cảm nhận, và mãnh lực từ chòm sao Đại Hùng Tinh rung động mờ nhạt trên địa cầu. Khi điểm đạo, con người trở nên hữu thức nhận biết Hiện Diện của Hành Tinh Thượng Đế qua sự tiếp xúc do chính mình tạo ra với Tinh thần thiêng liêng của mình. Ở lần điểm đạo thứ năm y nhận biết được toàn bộ phạm vi của ảnh hưởng nhóm hành tinh này, và [Page 753] phần của y trong toàn thể vĩ đại. Ở lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy, ảnh hưởng của Nguyên Mẫu hành tinh được cảm nhận, đến với y qua Hành Tinh Thượng Đế đang hoạt động thông qua Đấng Điểm đạo.

The method of direct incarnation was earlier seen when the Kumaras were in physical form. This only applied to some of Them; Sanat Kumara and His Pupils are in physical form, but have not taken dense physical bodies. They work on the vital etheric levels, and dwell in etheric bodies. Shamballa, where They dexists in physical matter as do the Kumaras, but it is matter of the higher ethers of the physical plane, and only when man has developed etheric vision will the mystery lying beyond the Himalayas be revealed. Therefore, Sanat Kumara is the planetary logos yet He is not. A reflection of this method of direct incarnation can be seen when a disciple steps out of his body and permits his Guru, or a more advanced chela, to use it.

Phương pháp của sự nhập thể trực tiếp đã được thấy trước đây khi các Kumara ở trong hình tướng hồng trần. Điều này chỉ áp dụng cho một số vị trong Các Ngài; Đức Sanat Kumara và các Đệ tử của Ngài ở trong hình tướng hồng trần, nhưng không mang thể xác đậm đặc. Các Ngài hoạt động trên các cấp dĩ thái sinh lực, và cư ngụ trong các thể dĩ thái. Shamballa, nơi Các Ngài tồn tại trong vật chất hồng trần như các Kumara, nhưng đó là vật chất của các dĩ thái cao của cõi hồng trần, và chỉ khi nào con người đã phát triển linh thị dĩ thái thì huyền nhiệm nằm bên kia dãy Himalaya mới được mặc khải. Vì vậy, Đức Sanat Kumara là Hành Tinh Thượng Đế nhưng Ngài lại không phải là như thế. Một phản ánh của phương pháp nhập thể trực tiếp này có thể thấy khi một đệ tử bước ra khỏi thể của mình và cho phép Guru của y, hay một đệ tử tiến bộ hơn, sử dụng nó.

The mystery of the Bodhisattvas (S. D., I, 82, 83.) has been touched upon by H. P. B. and until students have assimilated and studied what she has said, there is no more to add. Apprehension of truth is ever the factor that calls for fresh revelation.

Huyền nhiệm của các Đức Bồ Tát (S. D., I, 82, 83.) đã được H. P. B. đề cập đến, và cho đến khi các đạo sinh đồng hoá và nghiên cứu điều bà đã nói, thì không còn gì để thêm vào. Sự lĩnh hội chân lý luôn luôn là yếu tố đòi hỏi sự mặc khải mới.

A very interesting period will come about the year 1966 and persist to the end of the century. It is one for which the Great Ones are already making due preparation. It concerns a centennial effort of the Lodge and of the Personages taking part therein. Each century sees a centennial effort of the Lodge along a particular line of force made to forward the ends of evolution, and the effort for the twentieth century will be upon a larger scale than has been the case for a very long time, and will involve a number of Great Ones. In a similar effort during the nineteenth century, H. P. B. was concerned, and a fairly large number of chelas. In the effort immediately ahead, [Page 754] several of the Great Ones are concerned and the Master of the Masters Himself; in Their “forthcoming” for work three out of the various methods of appearing mentioned earlier will be seen in full activity, and it is on these three that we might now touch.

Một giai đoạn rất lý thú sẽ đến vào khoảng năm 1966 và kéo dài đến cuối thế kỷ. Đó là một giai đoạn mà Các Đấng Cao Cả hiện đã chuẩn bị thích đáng. Nó liên quan đến một nỗ lực bách niên của Thánh đoàn và của các Đấng tham dự trong đó. Mỗi thế kỷ đều chứng kiến một nỗ lực bách niên của Thánh đoàn theo một đường mãnh lực đặc biệt nhằm thúc đẩy các mục tiêu của tiến hoá, và nỗ lực của thế kỷ hai mươi sẽ ở trên một quy mô lớn hơn nhiều so với trường hợp đã xảy ra trong một thời gian rất dài, và sẽ liên quan đến một số Đấng Cao Cả. Trong một nỗ lực tương tự trong thế kỷ mười chín, H. P. B. có tham dự, cùng với một số khá đông các đệ tử. Trong nỗ lực sắp tới ngay trước mắt, [Page 754] một số Đấng Cao Cả có tham dự và chính Chân sư của các Chân sư; trong sự “xuất hiện” của Các Ngài để làm việc, ba trong các phương pháp xuất hiện khác nhau đã được nhắc đến trước đây sẽ được thấy hoạt động trọn vẹn, và giờ đây chúng ta có thể đề cập đến ba phương pháp ấy.

In the appearing of the Bodhisattva Himself, the mystery of the Bodhisattva will be seen in its fullest sense, and it is not for us here to enlarge upon it. Suffice it to say that the vestures of the GREAT ONE will be used, but time will show whether the coming Lord will clothe upon those vestures a physical vehicle at this particular juncture, or whether the astral plane may not be the field of His activity. If the student ponders upon the consequences entailed in the appropriation of this vesture, much light upon probable happenings will be thrown. The vestures act in a dual capacity:

Trong sự xuất hiện của chính Đức Bồ Tát, huyền nhiệm của Đức Bồ Tát sẽ được thấy theo ý nghĩa đầy đủ nhất của nó, và ở đây chúng ta không nên khai triển thêm. Chỉ cần nói rằng các y bát của ĐẤNG CAO CẢ sẽ được sử dụng, nhưng thời gian sẽ cho thấy liệu Đức Chúa Tể sắp đến có khoác lên các y bát ấy một vận cụ hồng trần vào đúng thời điểm này hay không, hoặc liệu cõi cảm dục có thể là lĩnh vực hoạt động của Ngài hay không. Nếu đạo sinh suy ngẫm về những hệ quả bao hàm trong việc sử dụng y bát này, thì nhiều ánh sáng sẽ được rọi vào những biến cố có thể xảy ra. Các y bát hoạt động trong một năng lực kép:

a. They are very highly magnetised, and therefore have a profound and far-reaching effect when utilised.

a. Chúng được từ hóa rất cao, và do đó có một hiệu quả sâu xa và rộng lớn khi được sử dụng.

b. They act as a focal point for the force of the Lord Buddha and link up the coming Lord with Him, enabling Him to increase His Own stupendous resources by drawing upon still higher force centres, via the Lord Buddha.

b. Chúng hoạt động như một tiêu điểm cho mãnh lực của Đức Phật và nối kết Đức Chúa Tể sắp đến với Ngài, giúp Ngài gia tăng các nguồn lực phi thường của chính Ngài bằng cách rút lấy từ các trung tâm mãnh lực còn cao hơn nữa, qua Đức Phật.

This force will find its expression upon the astral plane, producing vast results of a quieting nature and bringing, by reflex action, peace on earth. The transmutation of desire into aspiration, and the transformation of low desire into high desire, will be some of the effects, while the result of the force flowing through will produce profound reactions of the deva denizens of that plane. Through the vibration thus set up will come the possibility of many (who would otherwise not do so) taking the first initiation. Later, towards the end of the greater cycle, the coming Avatar will again employ the vestures [Page 755] with all that is entailed thereby, and will take a physical body, thus demonstrating on the physical plane the force of the Logos in the administration of the Law. When He comes at the close of this century and makes His power felt, He will come as the Teacher of Love and Unity, and the keynote He will strike will be regeneration through love poured forth on all. As He will work primarily on the astral plane, this will demonstrate on the physical plane in the formation of active groups in every city of any size, and in every country, which will work aggressively for unity, co-operation and brotherhood in every department of life—economic, religious, social and scientific.

Mãnh lực này sẽ tìm thấy sự biểu lộ của nó trên cõi cảm dục, tạo ra những kết quả to lớn có tính chất làm lắng dịu và mang lại, qua phản ứng dội lại, hòa bình trên địa cầu. Sự chuyển hoá dục vọng thành khát vọng, và sự chuyển đổi dục vọng thấp thành dục vọng cao, sẽ là một số hiệu quả, trong khi kết quả của mãnh lực đang tuôn chảy qua sẽ tạo ra những phản ứng sâu sắc nơi các thiên thần cư dân của cõi ấy. Qua rung động được thiết lập như vậy sẽ xuất hiện khả năng để nhiều người (nếu không thì đã không làm như vậy) tiếp nhận lần điểm đạo thứ nhất. Về sau, vào gần cuối đại chu kỳ, Đấng Hoá Thân sắp đến sẽ lại sử dụng các y bát [Page 755] cùng với tất cả những gì do đó mà có, và sẽ mang một thể xác, nhờ đó biểu lộ trên cõi hồng trần mãnh lực của Thượng đế trong việc quản trị Định luật. Khi Ngài đến vào lúc cuối thế kỷ này và làm cho quyền năng của Ngài được cảm nhận, Ngài sẽ đến như Huấn sư của Tình thương và Hợp nhất, và chủ âm mà Ngài sẽ gióng lên sẽ là sự tái sinh thông qua tình thương tuôn đổ trên tất cả. Vì Ngài sẽ hoạt động chủ yếu trên cõi cảm dục, điều này sẽ được biểu lộ trên cõi hồng trần trong việc hình thành các nhóm hoạt động ở mọi thành phố có quy mô nào đó, và ở mọi quốc gia, những nhóm sẽ hoạt động mạnh mẽ cho sự hợp nhất, hợp tác và huynh đệ trong mọi lĩnh vực của đời sống—kinh tế, tôn giáo, xã hội và khoa học.

These groups will achieve results now impossible, owing to the retention of buddhic force, but later this force will be set loose on earth via the medium of the Great Lord, operating as an aspect of the Logos, and as a focal point for the consciousness and energy of the Buddha.

Các nhóm này sẽ đạt được những kết quả hiện nay là bất khả, do sự giữ lại của mãnh lực Bồ đề, nhưng về sau mãnh lực này sẽ được giải phóng trên địa cầu qua trung gian của Đức Chúa Tể Vĩ Đại, hoạt động như một phương diện của Thượng đế, và như một tiêu điểm cho tâm thức và năng lượng của Đức Phật.

It is this impending probability which is held in mind during the century at the annual recurrence of the Wesak festival. Students would do well to further the ends of the occult Hierarchy by a similar concentration at the time of the festival, thus setting up currents of thought which will have a great appeal in the occult sense of that term.

Chính khả năng sắp xảy ra này được ghi nhớ trong suốt thế kỷ vào dịp tái diễn hằng năm của lễ Wesak. Các đạo sinh nên thúc đẩy các mục tiêu của Thánh đoàn huyền bí bằng một sự tập trung tương tự vào thời điểm lễ hội, nhờ đó thiết lập các dòng tư tưởng sẽ có một sức hấp dẫn lớn theo ý nghĩa huyền bí của thuật ngữ ấy.

Indication of the nearing of this event will be seen in the reaction which will be set up during the next twenty-five years against crime, sovietism, and the extreme radicalism which is now being made use of by certain powers to achieve ends contrary to the plans of the Lord. The era of peace will be ushered in by a gathering together on earth of the forces which stand for construction, and development, and by a conscious deliberate banding together of groups in every land who embody the principle (as far as they can vision it) of Brotherhood. Watch [Page 756] the signs of the times, and be not discouraged over the immediate future. The appearance of the Great Lord on the astral plane (whether followed by His physical incarnation or not) will date from a certain Wesak festival at which a mantram (known only to those attaining the seventh Initiation) will be pronounced by the Buddha, thus setting loose force, and enabling His great Brother to fulfil his mission. Hence the gradual recognition of the Wesak festival, and its true significance in the occident is desirable, and opportunity will be offered to all who are willing to place themselves in the line of this force, and thus become vitalised by it, and consequently available for service. The reaction mentioned above, will also become possible through the pressure brought to bear by the present children, many of whom are chelas and some initiates. They have come in to prepare the way for the coming of His Feet.

Dấu hiệu cho thấy biến cố này đang đến gần sẽ được thấy trong phản ứng sẽ được thiết lập trong hai mươi lăm năm tới chống lại tội phạm, chủ nghĩa Xô viết, và chủ nghĩa cấp tiến cực đoan hiện đang được một số quyền lực sử dụng để đạt những mục tiêu trái với các kế hoạch của Đức Chúa Tể. Kỷ nguyên hòa bình sẽ được mở đầu bằng sự tập hợp trên địa cầu của các lực lượng đứng về phía xây dựng và phát triển, và bằng sự liên kết hữu thức có chủ ý của các nhóm ở mọi xứ sở, những nhóm thể hiện nguyên khí Huynh Đệ (theo mức họ có thể có linh thị về nó). Hãy quan sát [Page 756] các dấu hiệu của thời đại, và đừng nản lòng về tương lai trước mắt. Sự xuất hiện của Đức Chúa Tể Vĩ Đại trên cõi cảm dục (dù có được tiếp theo bởi sự nhập thể hồng trần của Ngài hay không) sẽ được tính từ một lễ Wesak nhất định, tại đó một mantram (chỉ những ai đạt lần điểm đạo thứ bảy mới biết) sẽ được Đức Phật xướng lên, nhờ đó giải phóng mãnh lực, và giúp cho Huynh Trưởng vĩ đại của Ngài hoàn thành sứ mệnh của mình. Do đó, việc dần dần công nhận lễ Wesak, và thâm nghĩa chân thực của nó ở phương Tây là điều đáng mong muốn, và cơ hội sẽ được trao cho tất cả những ai sẵn lòng đặt mình vào đường đi của mãnh lực này, và nhờ đó được tiếp sinh lực bởi nó, và vì thế sẵn sàng cho việc phụng sự. Phản ứng đã nói ở trên cũng sẽ trở nên khả hữu nhờ áp lực do những trẻ em hiện nay tạo ra, nhiều em trong số đó là đệ tử và một số là điểm đạo đồ. Các em đã đến để chuẩn bị con đường cho sự quang lâm của Bàn Chân Ngài.

When the hour strikes (five years prior to the date of His descent) they will be in the full flower of their service and will have recognised their work, even though they may not be conscious of that which the future holds hid.

Khi giờ điểm đến (năm năm trước ngày Ngài giáng lâm) các em sẽ ở vào thời kỳ sung mãn của sự phụng sự của mình và sẽ nhận ra công việc của mình, dù các em có thể không hữu thức về điều mà tương lai đang che giấu.

When the hour has come (and already a few cases are to be found), many cases of overshadowing will be seen and will demonstrate in a threefold manner. In all countries, in the orient and the occident, prepared disciples and highly evolved men and women, will be found who will be doing the work along the lines intended, and who will be occupying places of prominence which will make them available for the reaching of the many; their bodies also will be sufficiently pure to permit of the overshadowing. It will only be possible in the case of those who have been consecrated since childhood, who have been servers of the race all their lives, or who, in previous lives, have acquired the right by karma. This threefold overshadowing will manifest as:

Khi thời điểm đã đến (và hiện nay đã có thể tìm thấy một vài trường hợp), nhiều trường hợp phủ bóng sẽ được thấy và sẽ biểu lộ theo một cách tam phân. Ở mọi quốc gia, ở phương Đông và phương Tây, sẽ tìm thấy những đệ tử đã được chuẩn bị và những người nam và nữ tiến hoá cao, những người sẽ làm việc theo các đường lối đã được dự định, và sẽ chiếm giữ những vị trí nổi bật khiến họ có thể tiếp cận được nhiều người; các thể của họ cũng sẽ đủ thanh khiết để cho phép sự phủ bóng. Điều này chỉ có thể xảy ra trong trường hợp những người đã được thánh hiến từ thời thơ ấu, đã là những người phụng sự nhân loại suốt đời, hoặc trong các kiếp trước đã đạt được quyền ấy nhờ nghiệp quả. Sự phủ bóng tam phân này sẽ biểu lộ như sau:

First. An impression upon the physical brain of the [Page 757] man or woman, of thoughts, plans for work, ideals and intentions which (emanating from the Avatar) will yet be unrecognised by him as being other than his own; he will proceed to put them into action, unconsciously helped by the force flowing in. This is literally a form of higher mental telepathy working out on physical levels.

Thứ nhất. Một sự in dấu lên bộ não hồng trần của [Page 757] người nam hay người nữ, về những tư tưởng, kế hoạch công việc, lý tưởng và ý định mà (phát ra từ Đấng Hoá Thân) tuy vậy vẫn không được người ấy nhận ra là khác với của chính mình; y sẽ tiến hành đưa chúng vào hành động, một cách vô thức được trợ giúp bởi mãnh lực đang tuôn vào. Đây đúng nghĩa là một hình thức viễn cảm thượng trí đang vận hành trên các cấp hồng trần.

Second. The overshadowing of the chela during his work (such as lecturing, writing, or teaching), and his illumination for service. He will be conscious of this, though perhaps unable to explain it, and will seek more and more to be available for use, rendering himself up in utter selflessness to the inspiration of His Lord. This is effected via the chela’s Ego, the force flowing through his astral permanent atom; and it is only possible when the fifth petal is unfolded.

Thứ hai. Sự phủ bóng lên đệ tử trong khi y làm việc (như thuyết giảng, viết lách, hay giảng dạy), và sự soi sáng của y cho việc phụng sự. Y sẽ hữu thức về điều này, dù có lẽ không thể giải thích được, và sẽ ngày càng tìm cách trở nên sẵn sàng để được sử dụng, hiến dâng mình trong sự vô ngã hoàn toàn cho cảm hứng của Đức Chúa Tể của y. Điều này được thực hiện qua chân ngã của đệ tử, mãnh lực tuôn qua nguyên tử trường tồn cảm dục của y; và chỉ có thể khi cánh hoa thứ năm đã khai mở.