Trích nội dung chương
Third. The conscious co-operation of the chela is necessitated in the third method of overshadowing. In this case he will (with full knowledge of the laws of his being and nature) surrender himself and step out of his physical body, handing it over for the use of the Great Lord or one of His Masters. This is only possible in the case of a chela who has brought all the three lower bodies into alignment, and necessitates the unfolding of the sixth petal. By an act of conscious will he renders up his body, and stands aside for a specific length of time. Thứ ba. Sự hợp tác hữu thức của đệ tử là điều cần thiết trong phương pháp phủ bóng thứ ba.…
Third. The conscious co-operation of the chela is necessitated in the third method of overshadowing. In this case he will (with full knowledge of the laws of his being and nature) surrender himself and step out of his physical body, handing it over for the use of the Great Lord or one of His Masters. This is only possible in the case of a chela who has brought all the three lower bodies into alignment, and necessitates the unfolding of the sixth petal. By an act of conscious will he renders up his body, and stands aside for a specific length of time.
Thứ ba. Sự hợp tác hữu thức của đệ tử là điều cần thiết trong phương pháp phủ bóng thứ ba. Trong trường hợp này y sẽ (với sự hiểu biết đầy đủ về các quy luật của hữu thể và bản chất của mình) hiến dâng chính mình và bước ra khỏi thể xác của mình, trao nó cho Đức Chúa Tể Vĩ Đại hay một trong các Chân sư của Ngài sử dụng. Điều này chỉ có thể trong trường hợp một đệ tử đã đưa cả ba thể thấp vào chỉnh hợp, và đòi hỏi sự khai mở của cánh hoa thứ sáu. Bằng một hành động ý chí hữu thức, y trao thể của mình và đứng sang một bên trong một khoảng thời gian xác định.
These methods of overshadowing will be largely the ones used by the Great Lord and His Masters at the end of the century, and for this reason They are sending into incarnation, in every country, disciples who have the opportunity offered them to respond to the need of humanity. Hence the need of training men and women to recognise the higher psychism, and the true inspiration and mediumship, and to do this scientifically. In fifty years time, the need for true psychics and conscious mediums (such as H. P. B., for instance) will be very great [Page 758] if the Master’s plans are to be carried to fruition, and the movement must be set on foot in preparation for the coming of Him for Whom all nations wait. In this work many have their share, provided they demonstrate the necessary endurance.
Các phương pháp phủ bóng này phần lớn sẽ là những phương pháp được Đức Chúa Tể Vĩ Đại và các Chân sư của Ngài sử dụng vào cuối thế kỷ, và vì lý do này Các Ngài đang gửi vào lâm phàm, ở mọi quốc gia, những đệ tử có cơ hội được trao cho để đáp ứng nhu cầu của nhân loại. Do đó mới có nhu cầu huấn luyện những người nam và nữ nhận ra thông linh cao hơn, và cảm hứng cùng đồng tử chân chính, và thực hiện điều này một cách khoa học. Trong năm mươi năm nữa, nhu cầu về những người thông linh chân chính và những đồng tử hữu thức (chẳng hạn như H. P. B.) sẽ rất lớn [Page 758] nếu các kế hoạch của Chân sư phải được đưa đến chỗ thành tựu, và phong trào phải được khởi xướng để chuẩn bị cho sự quang lâm của Đấng mà mọi quốc gia đang chờ đợi. Trong công việc này nhiều người có phần của mình, miễn là họ biểu lộ sức bền cần thiết.
Naturally, the first group will be the largest, for it does not necessitate so much knowledge, but more risk is entailed with them than with the others—the risk of a perversion of the plans, and of disaster to the unit involved. The second group will be less numerous, and the last group will involve only a handful, or two or three in certain countries. In this case, it will be verily true that, through sacrifice, the Son of Man will again tread the highways of men, and His physical incarnation be a fact. Very few will be thus available for His use, as the force He carries requires a peculiarly resilient instrument, but due preparation is being made.
Đương nhiên, nhóm thứ nhất sẽ là nhóm lớn nhất, vì nó không đòi hỏi nhiều tri thức như vậy, nhưng nơi họ có nhiều rủi ro hơn so với các nhóm khác—rủi ro làm sai lệch các kế hoạch, và tai họa cho đơn vị liên hệ. Nhóm thứ hai sẽ ít đông hơn, và nhóm cuối cùng sẽ chỉ gồm một số rất ít, hoặc hai hay ba người ở một số quốc gia. Trong trường hợp này, quả thật sẽ đúng rằng, qua hi sinh, Con của nhân loại sẽ lại bước trên những nẻo đường của loài người, và sự nhập thể hồng trần của Ngài sẽ là một sự kiện. Rất ít người sẽ có thể sẵn sàng như vậy cho việc sử dụng của Ngài, vì mãnh lực Ngài mang theo đòi hỏi một công cụ có sức đàn hồi đặc biệt, nhưng sự chuẩn bị thích đáng đang được tiến hành.
Again the method of direct incarnation will be employed by certain of the Masters and initiates through the process of:
Một lần nữa, phương pháp nhập thể trực tiếp sẽ được một số Chân sư và điểm đạo đồ sử dụng thông qua tiến trình:
a. Physical birth.
a. Sinh ra hồng trần.
b. Appropriation of a suitable vehicle, or body.
b. Tiếp nhận một vận cụ hay thể thích hợp.
c. Direct creation by an act of will. This will be rare.
c. Sáng tạo trực tiếp bằng một hành động ý chí. Điều này sẽ hiếm.
The second, or middle, method will be the one most frequently employed. Six of the Masters, as yet quite unknown to the average occult student by name, have already sought physical incarnation—one in India, another in England, two in northern America, and one in central Europe, whilst another has made a great sacrifice, and taken a Russian body in the desire to act as a peace centre in that distracted land. Certain initiates of the third Initiation have taken feminine bodies,—one in India will in due time do much toward the emancipation of the women of India, whilst another has a peculiar work to do in connection with the animal kingdom which likewise is awaiting the day of His appearing.
Phương pháp thứ hai, hay phương pháp ở giữa, sẽ là phương pháp được dùng thường xuyên nhất. Sáu Chân sư, cho đến nay vẫn hoàn toàn chưa được đạo sinh huyền bí trung bình biết đến tên, đã tìm cách nhập thể hồng trần—một vị ở Ấn Độ, một vị khác ở Anh, hai vị ở Bắc Mỹ, và một vị ở Trung Âu, trong khi một vị khác đã thực hiện một hi sinh lớn lao, và mang một thể Nga với mong muốn hoạt động như một trung tâm hòa bình tại xứ sở đang rối loạn ấy. Một số điểm đạo đồ của lần điểm đạo thứ ba đã mang các thể nữ,—một vị ở Ấn Độ về sau sẽ làm nhiều điều cho sự giải phóng phụ nữ Ấn Độ, trong khi một vị khác có một công việc đặc biệt phải làm liên hệ với giới động vật, giới này cũng đang chờ đợi ngày Ngài xuất hiện.
[Page 759] The Master Jesus will take a physical vehicle, and with certain of His chelas effect a re-spiritualisation of the Catholic churches, breaking down the barrier separating the Episcopal and Greek churches from the Roman. This may be looked for, should plans progress as hoped, about the year 1980. The Master Hilarion will also come forth, and become a focal point of buddhic energy in the vast spiritualistic movement, whilst another Master is working with the Christian Science endeavour in an effort to swing it on to sounder lines. It is interesting to note that those movements which have laid the emphasis so strongly on the heart or love aspect, may respond more rapidly to the inflow of force at the Coming than other movements which consider themselves very advanced. The “mind may slay” the recognition of the Real, and hatred between brothers swing the tide of love-force away. The three Masters so closely allied with the theosophical movement are already making Their preparations, and will also move among men, recognised by Their Own and by those who have eyes to see. To those of Their chelas on earth who undergo the necessary discipline, opportunity will be offered to work on the astral plane and, should they so choose, an immediate incarnation, provided they have achieved continuity of consciousness. He Who is known as D. K. is planning to restore—via His students—some of the old and occult methods of healing and to demonstrate:
[Page 759] Chân sư Jesus sẽ mang một vận cụ hồng trần, và cùng với một số đệ tử của Ngài thực hiện một sự tái-tinh thần-hóa các giáo hội Công giáo, phá bỏ bức tường ngăn cách các giáo hội Episcopal và Hy Lạp với giáo hội La Mã. Điều này có thể được trông đợi, nếu các kế hoạch tiến triển như hy vọng, vào khoảng năm 1980. Chân sư Hilarion cũng sẽ xuất hiện, và trở thành một tiêu điểm của năng lượng Bồ đề trong phong trào thần linh học rộng lớn, trong khi một Chân sư khác đang làm việc với nỗ lực của Christian Science nhằm đưa nó đi theo những đường lối vững chắc hơn. Điều đáng chú ý là những phong trào đã nhấn mạnh rất mạnh vào phương diện tim hay bác ái, có thể đáp ứng nhanh hơn với dòng mãnh lực tuôn vào lúc Quang Lâm so với những phong trào khác vốn tự xem mình là rất tiến bộ. “Trí tuệ có thể giết chết” sự nhận biết cái Thực, và lòng thù hận giữa các huynh đệ có thể làm lệch dòng mãnh lực bác ái đi nơi khác. Ba Chân sư gắn bó mật thiết với phong trào Thông Thiên Học hiện đã chuẩn bị, và cũng sẽ đi lại giữa loài người, được chính những người của Các Ngài nhận ra và bởi những ai có mắt để thấy. Đối với những đệ tử của Các Ngài trên địa cầu, những người trải qua kỷ luật cần thiết, cơ hội sẽ được trao để làm việc trên cõi cảm dục và, nếu họ chọn như vậy, một sự nhập thể tức thời, miễn là họ đã đạt được sự liên tục của tâm thức. Đấng được biết đến như Chân sư DK đang dự định khôi phục—qua các đạo sinh của Ngài—một số phương pháp trị liệu cổ xưa và huyền bí, và chứng minh:
a. The place of the etheric body.
a. Vị trí của thể dĩ thái.
b. The effect of pranic force.
b. Hiệu quả của mãnh lực prana.
c. The opening up of etheric vision.
c. Sự khai mở linh thị dĩ thái.
It is not permissible to say more in connection with the plans of the Great Ones. Their appearing will not be simultaneous in time, for the people could not stand the tremendously increased inflow of force, and recognition of Them and of Their methods will depend upon the intuition, [Page 760] and the training of the inner senses. They come with no herald, and only Their works will proclaim Them.
Không được phép nói thêm liên hệ với các kế hoạch của Các Đấng Cao Cả. Sự xuất hiện của Các Ngài sẽ không đồng thời về mặt thời gian, vì con người không thể chịu nổi dòng mãnh lực tuôn vào tăng lên vô cùng mạnh mẽ ấy, và sự nhận ra Các Ngài cùng các phương pháp của Các Ngài sẽ tùy thuộc vào trực giác, [Page 760] và sự huấn luyện các giác quan bên trong. Các Ngài đến không có người báo trước, và chỉ các công trình của Các Ngài mới công bố Các Ngài.
(e.) Impulse and Incarnation. Perhaps light upon this very difficult question of the incarnating jivas, of adepts and of avatars may come if the student remembers that:
(e.) Xung lực và Nhập thể. Có lẽ ánh sáng về vấn đề rất khó này của các jiva nhập thể, của các chân sư và của các Đấng Hoá Thân có thể đến nếu đạo sinh nhớ rằng:
1. An ordinary man demonstrates the third aspect of intelligent activity in his personality life, and is evolving consciously the second aspect, or the egoic manifestation on the physical plane.
1. Một người bình thường biểu lộ phương diện thứ ba của hoạt động thông tuệ trong đời sống phàm ngã của mình, và đang tiến hoá một cách hữu thức phương diện thứ hai, hay sự biểu lộ chân ngã trên cõi hồng trần.
2. An adept in incarnation is demonstrating fully the second aspect as well as the third, and in his own internal life is in process of evolving the first aspect, or is endeavouring to bring through the monadic life into conscious activity on the buddhic plane.
2. Một chân sư đang lâm phàm đang biểu lộ trọn vẹn phương diện thứ hai cũng như phương diện thứ ba, và trong đời sống nội tại của mình đang trong tiến trình tiến hoá phương diện thứ nhất, hay đang nỗ lực đưa sự sống chân thần vào hoạt động hữu thức trên cõi Bồ đề.
3. An avatar demonstrates one of two things, according to his peculiar karma:
3. Một Đấng Hoá Thân biểu lộ một trong hai điều, tùy theo nghiệp quả đặc thù của mình:
a. The pure light of the Monad, brought through by means of the perfected Ego and personality on to the physical plane. The line of force extends straight through from monadic levels to the physical.
a. Ánh sáng thuần khiết của Chân thần, được đưa xuyên qua chân ngã và phàm ngã đã hoàn thiện xuống cõi hồng trần. Đường mãnh lực kéo dài thẳng từ các cấp chân thần xuống cõi hồng trần.
b. The light of the Logos Himself in one or other aspect, this being transmitted consciously via the Monad straight through to the physical plane from the planetary Logos, or even from the solar Logos Himself.
b. Ánh sáng của chính Thượng đế trong phương diện này hay phương diện khác, ánh sáng này được truyền dẫn một cách hữu thức qua chân thần thẳng xuống cõi hồng trần từ Hành Tinh Thượng Đế, hay thậm chí từ chính Thái dương Thượng đế.
In the first two cases, desire for sentient existence, or desire for service to humanity, are the factors which produce physical manifestation (one through the force of evolution itself, the other through a conscious act of the will). Desire for sentient existence is but the latent second aspect seeking expression by means of the Not-Self, and in the other case the manifested second aspect consciously utilises form as a means to an end. In the case [Page 761] of all avatars it is the will aspect which is brought into play, and which produces appearance—either the will of the perfected adept, such as the Buddha Himself, or (as in the case of the true Avatar, Who is, and Who has not achieved) the will of the planetary Logos or of the solar Logos, taking form for a specific purpose. It involves a higher display of the creative faculty than that displayed by the Adept in the creation of His body of manifestation, the Mayavirupa. (252) The terms “appropriation of a physical body” and “creation of a physical body” must be extended to include all the planes of the solar system, and not just our physical plane, the seventh subplane of the cosmic physical.
Trong hai trường hợp đầu, dục vọng đối với sự tồn tại có tri giác, hay dục vọng phụng sự nhân loại, là những yếu tố tạo ra sự biểu hiện hồng trần (một bên qua chính mãnh lực của tiến hoá, bên kia qua một hành động ý chí hữu thức). Dục vọng đối với sự tồn tại có tri giác chỉ là phương diện thứ hai tiềm tàng đang tìm cách biểu lộ qua Phi-Ngã, và trong trường hợp kia phương diện thứ hai đã biểu lộ một cách hữu thức sử dụng hình tướng như một phương tiện để đạt cứu cánh. Trong trường hợp [Page 761] của mọi Đấng Hoá Thân, chính phương diện ý chí được vận dụng, và tạo ra sự xuất hiện—hoặc là ý chí của chân sư đã hoàn thiện, như chính Đức Phật, hoặc (như trong trường hợp của Đấng Hoá Thân chân chính, Đấng hiện hữu, và Đấng chưa đạt được) ý chí của Hành Tinh Thượng Đế hay của Thái dương Thượng đế, mang hình tướng vì một mục đích đặc biệt. Điều này bao hàm một sự biểu lộ cao hơn của năng lực sáng tạo so với năng lực được chân sư biểu lộ trong việc tạo ra thể biểu hiện của Ngài, Mayavirupa. (252) Các thuật ngữ “tiếp nhận một thể hồng trần” và “sáng tạo một thể hồng trần” phải được mở rộng để bao gồm mọi cõi của hệ mặt trời, chứ không chỉ cõi hồng trần của chúng ta, tức cõi phụ thứ bảy của cõi hồng trần vũ trụ.
(252) The Mayavirupa is literally the illusory form; it is the body of temporary manifestation which the Adept creates on occasion through the power of the will and in which He functions in order to make certain contacts on the physical plane and to engage in certain work for the race. (back)
(252) Mayavirupa theo nghĩa đen là hình tướng ảo huyễn; đó là thể biểu hiện tạm thời mà Chân sư đôi khi tạo ra bằng quyền năng của ý chí và trong đó Ngài hoạt động để thực hiện một số tiếp xúc nhất định trên cõi hồng trần và tham gia vào một số công việc nào đó cho nhân loại. (back)
The causes which combine to produce incarnation, are seen to be three:
Các nguyên nhân kết hợp để tạo ra sự nhập thể được thấy là ba:
1. Egoic impulse.
1. Xung lực chân ngã.
2. The activity of the solar and lunar Angels.
2. Hoạt động của các Thái dương Thiên Thần và các thái âm Thiên Thần.
3. Karma, or the place which antecedent action plays in producing manifestation.
3. Nghiệp quả, hay vai trò mà hành động đi trước giữ trong việc tạo ra sự biểu hiện.
We can hardly dissociate them in the consideration of our subject owing to the innate constitution of the egoic body itself and the factor the indwelling consciousness plays in producing appearance through an act of will. Let us briefly, therefore, reconsider what we have learned anent the egoic body and its constitution, and then take up the steps followed by the Ego in producing results in the three worlds.
Chúng ta khó có thể tách rời chúng ra khi xem xét đề tài của mình do cấu tạo bẩm sinh của chính thể chân ngã và yếu tố mà tâm thức ngự bên trong đóng vai trò trong việc tạo ra sắc tướng qua một hành động ý chí. Vì vậy, chúng ta hãy ngắn gọn xét lại điều mình đã học liên quan đến thể chân ngã và cấu tạo của nó, rồi sau đó bàn đến các bước mà Chân ngã theo đó tạo ra kết quả trong ba cõi thấp.
We have seen that on the third level of the mental plane, the egoic lotus is found and the student should picture it to himself as follows:
Chúng ta đã thấy rằng trên cấp độ thứ ba của cõi trí, Hoa Sen Chân Ngã được tìm thấy và đạo sinh nên hình dung nó như sau:
Concealed at the very centre or heart of the lotus is a brilliant point of electric fire of a blue-white hue (the [Page 762] jewel in the lotus) surrounded, and completely hidden, by three closely folded petals. Around this central nucleus, or inner flame, are arranged the nine petals in circles of three petals each, making three circles in all. These petals are formed out of the substance of the solar angels, as are the central three,—substance which is not only sentient as is the substance of the forms in the three worlds and the lunar bodies, but which has an added quality of “I-ness” or of self-consciousness, enabling the spiritual unity at the centre (by means of it) to acquire knowledge, awareness, and self-realisation. These nine petals are of a predominant orange hue, though the six other colours are found as secondary colours in a varying degree. The inner three petals are of a lovely lemon-yellow hue. At the base of the lotus petals are the three points of light which mark the position of the permanent atoms, and which are the medium of communication between the solar Angels and the lunar Pitris. By means of these permanent atoms the Ego, according to its state of evolution can construct his lunar bodies, acquire knowledge on the lower three planes, and thus buy his experience, and becomes aware. On a higher turn of the spiral, the Monad through the egoic petals, and thus with the aid of the solar Angels, acquires knowledge and equally on more exalted levels becomes aware.
Ẩn kín ngay tại trung tâm hay trái tim của hoa sen là một điểm rực sáng của Lửa Điện mang sắc xanh-trắng (viên [Page 762] ngọc trong hoa sen) được bao quanh, và hoàn toàn che khuất, bởi ba cánh hoa khép chặt. Chung quanh hạt nhân trung tâm này, hay ngọn lửa bên trong này, là chín cánh hoa được sắp xếp thành các vòng, mỗi vòng ba cánh, tổng cộng thành ba vòng. Các cánh hoa này được tạo thành từ chất liệu của các thái dương thiên thần, cũng như ba cánh trung tâm,—một chất liệu không những có tri giác như chất liệu của các hình tướng trong ba cõi thấp và các thể thái âm, mà còn có thêm phẩm tính “tôi tính” hay ngã thức, giúp cho đơn vị tinh thần ở trung tâm (nhờ phương tiện ấy) đạt được tri thức, sự nhận biết, và sự chứng nghiệm bản ngã. Chín cánh hoa này có sắc cam chiếm ưu thế, dù sáu màu khác cũng hiện diện như những màu phụ ở các mức độ khác nhau. Ba cánh hoa bên trong có sắc vàng chanh rất đẹp. Ở đáy các cánh hoa sen là ba điểm sáng đánh dấu vị trí của các nguyên tử trường tồn, và là môi giới truyền thông giữa các Thái dương Thiên Thần và các thái âm tổ phụ. Nhờ các nguyên tử trường tồn này mà Chân ngã, tùy theo trạng thái tiến hoá của nó, có thể kiến tạo các thể thái âm của mình, đạt được tri thức trên ba cõi thấp, và nhờ đó mua lấy kinh nghiệm của mình, và trở nên nhận biết. Ở một vòng xoắn cao hơn của đường xoắn ốc, chân thần qua các cánh hoa chân ngã, và nhờ đó với sự trợ giúp của các Thái dương Thiên Thần, đạt được tri thức và cũng trên các cấp độ cao siêu hơn trở nên nhận biết.
The light within these permanent atoms has a dull red glow and we have, therefore, all the three fires demonstrating in the causal body—electric fire at the centre, solar fire enclosing it as the flame encloses the central nucleus or essence in a candle flame, and fire by friction, this latter fire resembling the glowing red wick which lies at the base of the higher flame.
Ánh sáng bên trong các nguyên tử trường tồn này có một ánh đỏ mờ, và vì vậy chúng ta có cả ba loại lửa đang biểu lộ trong thể nguyên nhân—Lửa Điện ở trung tâm, Lửa Thái dương bao bọc nó như ngọn lửa bao bọc hạt nhân trung tâm hay tinh chất trong ngọn lửa cây nến, và Lửa ma sát, loại lửa sau này giống như tim đèn đỏ rực nằm ở đáy của ngọn lửa cao hơn.
These three types of fire on the mental plane—meeting and unified in the egoic body—produce in time a radiation or warmth which streams out from all sides of the lotus, and forms that spheroidal shape noted by investigators. [Page 763] The more fully developed the Ego may be, and the more the petals are unfolded, the greater the beauty of the surrounding sphere, and the more refined its colouring.
Ba loại lửa này trên cõi trí—gặp nhau và hợp nhất trong thể chân ngã—sẽ theo thời gian tạo ra một sự bức xạ hay hơi ấm tuôn ra từ mọi phía của hoa sen, và hình thành nên hình cầu mà các nhà khảo cứu đã ghi nhận. [Page 763] Chân ngã càng phát triển đầy đủ, và các cánh hoa càng khai mở, thì khối cầu bao quanh càng đẹp, và màu sắc của nó càng tinh tế.
At the early stages after individualisation, the egoic body has the appearance of a bud. The electric fire at the centre is not apparent, and all the nine petals are closed down upon the inner three; the orange colour has a dead aspect and the three points of light at the base are just points and nothing more; the triangle which is later seen connecting the points is not demonstrated. The surrounding sphere is colourless and is only to be appreciated as undulatory vibrations (like waves in the air or ether) reaching barely beyond the petal outline.
Ở các giai đoạn đầu sau biệt ngã hóa, thể chân ngã có dáng vẻ của một nụ hoa. Lửa Điện ở trung tâm không hiển lộ, và cả chín cánh hoa đều khép xuống trên ba cánh bên trong; màu cam có vẻ xỉn, và ba điểm sáng ở đáy chỉ là những điểm sáng mà thôi; tam giác về sau được thấy nối liền các điểm ấy chưa biểu lộ. Khối cầu bao quanh không màu và chỉ có thể được cảm nhận như những rung động gợn sóng (như sóng trong không khí hay dĩ thái) chỉ vừa vượt ra ngoài đường viền cánh hoa.
By the time the third Initiation is reached, a wondrous transformation has transpired. The outer sphere is palpitating with every colour in the rainbow, and is of wide radius; the streams of electrical energy circulating in it are so powerful that they are escaping beyond the periphery of the circle, resembling the rays of the sun. The nine petals are fully unfolded, forming a gracious setting for the central jewel, and their orange hue is now of a gorgeous translucence, shot with many colours, that of the egoic ray predominating. The triangle at the base is now quickened and scintillating, and the three points are small blazing fires, showing to the eye of the clairvoyant as sevenfold whorls of light, circulating their light from point to point of a rapidly moving triangle.
Đến khi đạt lần điểm đạo thứ ba, một sự chuyển đổi kỳ diệu đã xảy ra. Khối cầu bên ngoài rung động với mọi màu sắc của cầu vồng, và có bán kính rộng; các dòng năng lượng điện lưu chuyển trong đó mạnh đến nỗi chúng thoát ra ngoài chu vi của vòng tròn, giống như các tia mặt trời. Chín cánh hoa đã hoàn toàn khai mở, tạo thành một khung cảnh duyên dáng cho viên ngọc trung tâm, và sắc cam của chúng giờ đây có một độ trong suốt huy hoàng, được điểm xuyết bằng nhiều màu, trong đó màu của cung chân ngã chiếm ưu thế. Tam giác ở đáy giờ đây đã được tiếp sinh lực và lấp lánh, và ba điểm là những ngọn lửa nhỏ rực cháy, hiện ra trước mắt nhà thông nhãn như những vòng xoáy ánh sáng thất phân, lưu chuyển ánh sáng của chúng từ điểm này sang điểm khác của một tam giác chuyển động nhanh chóng.
By the time the fourth Initiation is reached, the activity of this triangle is so great that it looks more like a wheel in rapid revolution. It has a fourth dimensional aspect. The three petals at the centre are opening up, revealing the “blazing jewel.” At this initiation, through the action of the Hierophant wielding the electric Rod of Power, the three fires are suddenly stimulated by a downflow of electric, or positive force, from the [Page 764] Monad, and their blazing out in response produces that merging which destroys the entire sphere, dissipates all appearance of form, and produces a moment of equilibrium, or of suspension, in which the “elements are consumed with fervent heat.” The moment of highest radiation is known. Then—through the pronouncement of a certain Word of Power—the great solar Angels gather back into themselves the solar fire, thus producing the final dissipation of the form, and hence the separation of the life from the form; the fire of matter returns to the general reservoir, and the permanent atoms and the causal body are no more. The central electric fire becomes centralised in atma-buddhi. The Thinker or spiritual entity stands free of the three worlds, and functions consciously on the buddhic plane. Between these two stages of quiescent (though self-conscious) inertia and of that radiant activity which produces a balancing of forces, is a long series of lives.
Đến khi đạt lần điểm đạo thứ tư, hoạt động của tam giác này lớn đến mức nó trông giống như một bánh xe quay rất nhanh. Nó có một phương diện bốn chiều. Ba cánh hoa ở trung tâm đang mở ra, để lộ “viên ngọc rực cháy.” Ở lần điểm đạo này, qua tác động của Đấng Điểm đạo Tối Cao đang vận dụng Thần Trượng Điểm đạo bằng điện, ba loại lửa đột ngột được kích thích bởi một dòng mãnh lực điện, hay dương, tuôn xuống từ [Page 764] chân thần, và sự bùng cháy của chúng để đáp ứng tạo ra sự hòa nhập phá hủy toàn bộ khối cầu, làm tiêu tan mọi sắc tướng của hình tướng, và tạo ra một khoảnh khắc quân bình, hay đình chỉ, trong đó “các nguyên tố bị thiêu hủy bởi sức nóng dữ dội.” Khoảnh khắc bức xạ cao nhất được biết đến. Rồi—qua việc xướng một Quyền năng từ nhất định—các Thái dương Thiên Thần vĩ đại thu hồi Lửa Thái dương trở lại vào chính mình, nhờ đó tạo ra sự tiêu tan cuối cùng của hình tướng, và do đó sự tách rời sự sống khỏi hình tướng; lửa của vật chất trở về kho chứa chung, và các nguyên tử trường tồn cùng thể nguyên nhân không còn nữa. Lửa Điện trung tâm được tập trung vào atma-buddhi. Đấng Tư Tưởng hay thực thể tinh thần đứng tự do khỏi ba cõi thấp, và hoạt động một cách hữu thức trên cõi Bồ đề. Giữa hai giai đoạn này của quán tính tĩnh lặng (dù vẫn có ngã thức) và của hoạt động bức xạ tạo ra sự quân bình các mãnh lực, là một chuỗi dài các kiếp sống.
In our consideration of the subject of the reincarnating jivas, we have touched upon three subjects:
Trong việc xem xét đề tài các jiva tái sinh, chúng ta đã chạm đến ba chủ đề:
a. Avatars, with the intent of disposing of the confusion in the minds of students as to certain types of appearances. In our present study we shall deal only with the process followed by ordinary men.
a. Các Đấng Hoá Thân, với mục đích giải tỏa sự lẫn lộn trong tâm trí các đạo sinh về một số loại xuất hiện nhất định. Trong nghiên cứu hiện tại của chúng ta, chúng ta sẽ chỉ bàn đến tiến trình mà những người bình thường đi theo.
b. Pralayas, with the intent of arousing in the mind of the student the idea of interludes of quiescence dependent upon the intervening periods of activity.
b. Các giai kỳ qui nguyên, với mục đích khơi dậy trong tâm trí đạo sinh ý tưởng về những khoảng xen kẽ tĩnh lặng tùy thuộc vào các giai đoạn hoạt động ở giữa.
c. The appearance of the body egoic and its general conformation, with the intent of awakening the realisation of the student to the fact that evolution affects that body also, and not only man’s forms in the three worlds. The effects of the process are interdependent, and as the lower self develops, or the personality becomes more active and intelligent, results are produced in the higher body. As these effects are cumulative, and not ephemeral [Page 765] as are the lower results, the egoic body becomes equally more active and its manifestation of energy is increased. Towards the close of the evolutionary period in the three worlds a constant interchange of energy is seen to be taking place; the lower forms become irradiated with light, and reflect the higher radiance; the egoic body is the Sun of the lower system, and its bodies reflect its rays, as the moon reflects the light of the solar sun. Similarly the egoic Sun,—through the interaction—shines with ever greater intensity and glory. On the higher levels a similar interaction takes place for a brief period between the Monad and its reflection the Ego, but only in the coming solar system will this interaction be carried to its logical conclusion.
c. Sắc tướng của thể chân ngã và cấu hình tổng quát của nó, với mục đích đánh thức sự chứng nghiệm nơi đạo sinh về sự kiện rằng tiến hoá cũng tác động lên thể ấy, chứ không chỉ lên các hình tướng của con người trong ba cõi thấp. Các hiệu quả của tiến trình là tương thuộc lẫn nhau, và khi phàm ngã phát triển, hay phàm ngã trở nên hoạt động và thông tuệ hơn, thì các kết quả được tạo ra trong thể cao hơn. Vì các hiệu quả này có tính tích lũy, chứ không phù du [Page 765] như các kết quả thấp, nên thể chân ngã cũng trở nên hoạt động hơn và sự biểu lộ năng lượng của nó gia tăng. Về cuối thời kỳ tiến hoá trong ba cõi thấp, người ta thấy có một sự trao đổi năng lượng liên tục diễn ra; các hình tướng thấp được chiếu rạng bằng ánh sáng, và phản chiếu bức xạ cao hơn; thể chân ngã là Mặt Trời của hệ thống thấp, và các thể của nó phản chiếu các tia của nó, như mặt trăng phản chiếu ánh sáng của mặt trời thái dương. Tương tự như vậy, Mặt Trời chân ngã,—qua sự tương tác—chiếu sáng với cường độ và vinh quang ngày càng lớn hơn. Trên các cấp độ cao hơn, một sự tương tác tương tự diễn ra trong một thời gian ngắn giữa chân thần và phản ánh của nó là Chân ngã, nhưng chỉ trong hệ mặt trời sắp đến sự tương tác này mới được đưa đến kết luận hợp lý của nó.
Having, therefore, very briefly dealt with these three topics, we can now proceed to consider the process followed by the Ego when seeking manifestation in the three worlds. Let us endeavour in our thoughts to interpret all these processes in terms of energy and of force.
Vì vậy, sau khi đã rất ngắn gọn bàn đến ba chủ đề này, giờ đây chúng ta có thể tiếp tục xem xét tiến trình mà Chân ngã đi theo khi tìm cách biểu hiện trong ba cõi thấp. Chúng ta hãy cố gắng trong tư tưởng của mình diễn giải tất cả các tiến trình này theo các thuật ngữ năng lượng và mãnh lực.
The old Commentary says:
Cổ Luận nói:
“When the Spark is touched to the four wicks, and when spiritual Fire in its threefold essence meets with that which is combustible, the Flame bursts forth. Faint the flicker at the first appearing, and near to death it seems, but the wicks smoulder and glow, and the heat is retained. This is cycle the first, and is called that of the glowing wheel.
“Khi Tia Lửa được chạm vào bốn tim đèn, và khi Lửa tinh thần trong tinh chất tam phân của nó gặp cái có thể cháy được, thì Ngọn Lửa bùng lên. Sự chập chờn lúc mới xuất hiện đầu tiên thật mờ nhạt, và dường như gần tắt, nhưng các tim đèn âm ỉ cháy và rực lên, và nhiệt được giữ lại. Đây là chu kỳ thứ nhất, và được gọi là chu kỳ của bánh xe rực hồng.
The flicker grows into a tiny flame and the four wicks burn, but are not consumed, for the heat does not suffice. The light of these three fires is yet so small that the cave is not illumined. Nevertheless, the flame and the essential heat can be felt by the One Who approaches and watches. This is the second cycle, and is called that of the warming wheel.
Sự chập chờn lớn dần thành một ngọn lửa nhỏ và bốn tim đèn cháy, nhưng không bị thiêu hết, vì nhiệt chưa đủ. Ánh sáng của ba loại lửa này vẫn còn quá nhỏ nên hang động chưa được soi sáng. Tuy nhiên, ngọn lửa và sức nóng cốt yếu có thể được cảm nhận bởi Đấng đang đến gần và quan sát. Đây là chu kỳ thứ hai, và được gọi là chu kỳ của bánh xe làm ấm.
The tiny flame becomes a lighted lamp. The fire flares up, but much smoke is there, for the wicks are burning fast, and the heat suffices for their quick destruction. The lamp, set in the midst of darkness, makes the thick blackness manifest itself; the light and warmth are felt. This, the third cycle, is called that of the lighted wheel.
Ngọn lửa nhỏ trở thành một ngọn đèn được thắp sáng. Lửa bùng lên, nhưng có nhiều khói, vì các tim đèn đang cháy nhanh, và nhiệt đủ để làm chúng mau chóng bị thiêu hủy. Ngọn đèn, đặt giữa bóng tối, làm cho sự đen đặc hiện rõ; ánh sáng và hơi ấm được cảm nhận. Đây, chu kỳ thứ ba, được gọi là chu kỳ của bánh xe được thắp sáng.
[Page 766] The four wicks and the flame appear as one, and nearly all the smoke is gone, for flame is mostly seen. The cave itself is lighted up, though the lamp is yet apparent. Cycle the fourth is called the hour of the flaming wheel.
[Page 766] Bốn tim đèn và ngọn lửa hiện ra như một, và gần như mọi khói đã tan, vì phần lớn chỉ còn thấy lửa. Chính hang động được soi sáng, dù ngọn đèn vẫn còn thấy rõ. Chu kỳ thứ tư được gọi là giờ của bánh xe bốc lửa.
The final cycle comes when even the lamp itself is burned, destroyed through the intensity of heat. The One Who watches, seeing the work accomplished, fans the central point of fire and produces a sudden flaming. The wicks are naught—the flame is all. This, so the Sacred Science says, is called the cycle of the wheel consumed.”
Chu kỳ cuối cùng đến khi ngay cả chính ngọn đèn cũng bị thiêu cháy, bị hủy diệt bởi cường độ của nhiệt. Đấng đang quan sát, thấy công việc đã hoàn tất, quạt điểm lửa trung tâm và tạo ra một sự bùng cháy đột ngột. Các tim đèn không còn gì—ngọn lửa là tất cả. Điều này, theo Khoa Học Thiêng Liêng nói, được gọi là chu kỳ của bánh xe bị thiêu rụi.”
Here in the arcane symbology is hid (in terms of energy and of radiant activity) the whole secret of egoic energy, and of impulse making its presence felt in the substance of the lower planes; the student should interpret the above sentences both macrocosmically and microcosmically. In all manifestation, the originating impulse comes from the first aspect which is hidden at the heart of the egoic lotus, but this hidden Identity works under law, and in the earlier stages (the first three cycles) the process goes on under the Law of Economy, which is the law of substance itself; in the final two cycles this law becomes merged (though not superseded, being still potent) with the Law of Attraction, which is the fundamental law of the divine Self. It is the failure to realise this which has resulted in the confusion existing in the minds of many metaphysicians as to which demonstrated first, desire or will, and as to the distinction between them, between impulse and purpose, and between instinct and intention. In the earlier stages man reincarnates under the Law of Economy, and though the will aspect lies back of the process, yet for a long time it is the pull of sensation and its reflex in consciousness, desire, which produces rebirth. Sensation, being a quality in matter or substance, the Self in the beginning identifies Itself with sensation. Later, when the Self is beginning to identify Itself with Itself, and to recognise the nature of the Not-Self, the Law of Attraction and Repulsion becomes [Page 767] more active, and conscious will and purpose are displayed. Here it should be remembered that a profound difference in time and space exists between the Logos, or Macrocosm, and Man, the Microcosm. Average man comes into incarnation through egoic impulse, based on desire and on the relation of the second aspect to the third aspect or of the Self to the Not-Self. He will eventually bring about (through evolution) the revelation of the first aspect, and then egoic impulse (based on conscious mental apprehension of the purpose in view) will be the dominant factor, and will demonstrate through a definite will to act. In connection with the Logos, the first stage has been left far behind, and logoic manifestation is based on will and purpose and on conscious intelligent activity. The reason for this is that the Logos, and the planetary Logoi likewise, are on the path of cosmic initiation.
Ở đây trong biểu tượng học huyền môn ẩn giấu (theo các thuật ngữ năng lượng và hoạt động bức xạ) toàn bộ bí mật của năng lượng chân ngã, và của xung lực làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận trong chất liệu của các cõi thấp; đạo sinh nên diễn giải các câu trên cả theo đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa. Trong mọi biểu hiện, xung lực khởi nguyên đến từ phương diện thứ nhất vốn ẩn kín tại trái tim của Hoa Sen Chân Ngã, nhưng Bản Sắc ẩn kín này hoạt động theo định luật, và trong các giai đoạn đầu (ba chu kỳ đầu) tiến trình diễn ra dưới Định luật Tiết Kiệm, là định luật của chính chất liệu; trong hai chu kỳ cuối, định luật này hòa nhập (dù không bị thay thế, vì vẫn còn hiệu lực) với Định luật Hấp Dẫn, là định luật căn bản của Thiêng Ngã. Chính sự không nhận ra điều này đã dẫn đến sự lẫn lộn tồn tại trong tâm trí nhiều nhà siêu hình học về việc cái nào biểu lộ trước, dục vọng hay ý chí, và về sự phân biệt giữa chúng, giữa xung lực và mục đích, và giữa bản năng và chủ ý. Trong các giai đoạn đầu, con người tái sinh dưới Định luật Tiết Kiệm, và dù phương diện ý chí nằm phía sau tiến trình, nhưng trong một thời gian dài chính sức kéo của cảm giác và phản xạ của nó trong tâm thức, tức dục vọng, tạo ra tái sinh. Cảm giác, vì là một phẩm tính trong vật chất hay chất liệu, nên Thiêng Ngã lúc đầu đồng hoá chính Nó với cảm giác. Về sau, khi Thiêng Ngã bắt đầu đồng hoá chính Nó với chính Nó, và nhận ra bản chất của Phi-Ngã, thì Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi trở nên [Page 767] hoạt động hơn, và ý chí cùng mục đích hữu thức được biểu lộ. Ở đây cần nhớ rằng có một sự khác biệt sâu xa về thời gian và không gian giữa Thượng đế, hay Đại thiên địa, và Con người, Tiểu thiên địa. Con người trung bình đi vào lâm phàm qua xung lực chân ngã, dựa trên dục vọng và trên mối liên hệ của phương diện thứ hai với phương diện thứ ba hay của Thiêng Ngã với Phi-Ngã. Cuối cùng y sẽ mang lại (qua tiến hoá) sự mặc khải của phương diện thứ nhất, và khi đó xung lực chân ngã (dựa trên sự lĩnh hội trí tuệ hữu thức về mục đích được nhắm đến) sẽ là yếu tố chi phối, và sẽ biểu lộ qua một ý chí hành động rõ rệt. Liên hệ với Thượng đế, giai đoạn thứ nhất đã bị bỏ lại rất xa phía sau, và sự biểu hiện của Thượng đế dựa trên ý chí và mục đích cùng hoạt động hữu thức thông tuệ. Lý do của điều này là Thượng đế, và các Hành Tinh Thượng Đế cũng vậy, đang ở trên con đường điểm đạo vũ trụ.
Therefore, though the originating impulse comes from the central point, it is not at first apparent. At the moment of individualisation, the dim outline of a form such as earlier described has made its appearance on mental levels, and (which is a point not as yet recognised by students) it becomes apparent that a period on mental levels has transpired given over to a preparation for the imminent event. Through the activity of the solar Angels the twelve petals have gradually taken form, as the point of electric fire at the heart has begun to make itself felt even though not as yet localised. Then the first three petals take shape, and close down upon the vibrant point, or “jewel” under the potency of the Law of Attraction. One by one the nine other petals take shape as the vibrations begin to affect solar substance, the three types of petals being each under the influence of one or other of the major Rays; these, in their turn, come under the influence of force from cosmic centres.
Do đó, tuy xung lực khởi nguyên phát xuất từ điểm trung tâm, lúc đầu nó không biểu lộ rõ rệt. Vào lúc biệt ngã hóa, đường nét mờ nhạt của một hình tướng như đã mô tả trước đây xuất hiện trên các cấp độ trí tuệ, và (đây là một điểm mà các đạo sinh chưa nhận ra) hiển nhiên là đã có một thời kỳ trên các cấp độ trí tuệ trôi qua để chuẩn bị cho biến cố sắp xảy đến. Nhờ hoạt động của các Thái dương Thiên Thần, mười hai cánh hoa dần dần thành hình, khi điểm lửa điện ở trung tâm bắt đầu làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận dù chưa định vị. Rồi ba cánh hoa đầu tiên thành hình, và khép lại quanh điểm rung động, hay “viên ngọc”, dưới uy lực của Định luật Hấp Dẫn. Từng cánh một, chín cánh hoa còn lại thành hình khi các rung động bắt đầu tác động đến chất liệu thái dương, mỗi loại trong ba loại cánh hoa đều ở dưới ảnh hưởng của một trong các Cung chính; đến lượt chúng, lại chịu ảnh hưởng của mãnh lực từ các trung tâm vũ trụ.
[Page 768] As earlier said, these petals form a bud, each being closely folded. Only faint vibrations are to be seen pulsating in the bud, just enough to testify to its being a living organism. Shadowy and dim can the ring-pass-not be seen, the encircling limit of the activity of the coming Consciousness. It is an ovoid or sphere, and very small as yet. This process of forming the egoic lotus has gone on silently from the moment that the lower animal man, or the lower four principles, had reached a point where the energy (generated by him) could begin to make itself felt on mental levels. When the fire of the lower prepared sheaths (the threefold fire of substance itself) becomes radioactive, this nebulous appearance on the third subplane of the mental plane begins to be organised, as the result of the downward pull of the higher by the lower, and as the response of the Spirit aspect to the radiations, or attraction, of matter. But individualisation as we understand it is not yet effected. This process of radioactivity on the part of the lower, and of a downflow of energy from the higher, covers a long period wherein the solar Angels are working on Their Own plane and the lower Pitris are also working on theirs; one group is producing the nucleus of the egoic body, and the other the receptacle for the life of God, or the Monad in the three worlds.
[Page 768] Như đã nói trước đây, các cánh hoa này tạo thành một nụ, mỗi cánh đều khép chặt. Chỉ có thể thấy những rung động mờ nhạt đang đập nhịp trong nụ, vừa đủ để chứng tỏ đó là một cơ thể sống. Vòng-giới-hạn có thể được thấy một cách lờ mờ và mờ tối, là giới hạn bao quanh hoạt động của Tâm thức sắp đến. Nó là một hình trứng hay một khối cầu, và hiện còn rất nhỏ. Tiến trình hình thành Hoa Sen Chân Ngã này đã âm thầm diễn ra từ lúc người thú thấp hơn, hay bốn nguyên khí thấp hơn, đã đạt đến một điểm mà năng lượng (do y tạo ra) có thể bắt đầu làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận trên các cấp độ trí tuệ. Khi lửa của các thể thấp đã được chuẩn bị (tam phân lửa của chính chất liệu) trở nên phóng xạ, sắc tướng mơ hồ này trên cõi phụ thứ ba của cõi trí bắt đầu được tổ chức, là kết quả của sức kéo đi xuống của cái cao hơn bởi cái thấp hơn, và là sự đáp ứng của phương diện tinh thần đối với các bức xạ, hay sức hút, của vật chất. Nhưng biệt ngã hóa như chúng ta hiểu thì vẫn chưa được thực hiện. Tiến trình phóng xạ này từ phía cái thấp hơn, và sự tuôn xuống của năng lượng từ cái cao hơn, bao trùm một thời kỳ dài trong đó các Thái dương Thiên Thần đang hoạt động trên cõi riêng của Các Ngài và các thái âm tổ phụ thấp hơn cũng đang hoạt động trên cõi của họ; một nhóm tạo ra hạt nhân của thể chân ngã, còn nhóm kia tạo ra vật chứa cho sự sống của Thượng đế, hay chân thần trong ba cõi thấp.
Then comes a set time in the life of the planetary Logos wherein His centres become active in a particular manner; this is coincident with the incarnation of the Monads, and their descent into the three worlds. A systemic triangle is formed (for ever the three produce the seven), and through this setting loose of threefold energy, the work of the solar and lunar Pitris is co-ordinated, and the three permanent atoms are appropriated by the jiva concerned, and appear at the base of the egoic lotus. Individualisation has taken place and the work of at-one-ment is completed; the fourth kingdom [Page 769] in nature is a “fait accompli;” the Monad has clothed itself in material sheaths, and the self conscious unit appears on the physical plane. If all that H. P. B. has to say anent the first three rounds of our Earth scheme is read as dealing with the period of condensation of the causal body upon the mental level, and as covering the time leading up to the appearance in the fourth round of man as we now have him, some light may be thrown upon this difficult matter.
Rồi đến một thời điểm định sẵn trong sự sống của Hành Tinh Thượng Đế khi các trung tâm của Ngài trở nên hoạt động theo một cách đặc biệt; điều này trùng hợp với sự lâm phàm của các chân thần, và sự giáng xuống của chúng vào ba cõi thấp. Một tam giác hệ thống được hình thành (vì ba luôn tạo ra bảy), và nhờ sự giải phóng năng lượng tam phân này, công việc của các thái dương tổ phụ và thái âm tổ phụ được phối hợp, và ba Nguyên tử trường tồn được jiva liên hệ tiếp nhận, rồi xuất hiện ở đáy của Hoa Sen Chân Ngã. Biệt ngã hóa đã diễn ra và công việc hợp nhất đã hoàn tất; giới thứ tư [Page 769] trong thiên nhiên là một “sự đã rồi”; chân thần đã khoác lên mình các thể vật chất, và đơn vị ngã thức xuất hiện trên cõi hồng trần. Nếu tất cả những gì H. P. B. nói về ba cuộc tuần hoàn đầu tiên của hệ hành tinh Địa Cầu của chúng ta được đọc như nói về thời kỳ ngưng tụ của thể nguyên nhân trên cấp độ trí tuệ, và như bao trùm thời gian dẫn đến sự xuất hiện trong cuộc tuần hoàn thứ tư của con người như hiện nay, thì có thể soi sáng phần nào vấn đề khó khăn này.
The egoic lotuses can be seen grouped together, and each of them forms part of a group. These groups in their turn form part of a vaster lotus which embodies the consciousness of a still greater Entity whose “jewel” may be found on the second subplane. All these in their turn may be divided into seven fundamental groups. These seven groups or aggregates of egoic lotuses form the seven types of consciousness of those Entities Who are the seven centres of force for our own planetary Logos. These seven in their turn will be synthesised on higher levels into the three higher centres, till the entire energy and force which they represent is gathered up, and absorbed by the centre corresponding to the highest head centre of the planetary Logos. Each Logos embodies one type of cosmic energy. Each of His centres embodies this type of energy in one of its seven differentiations. Each of these seven in turn manifests through egoic groups, and these again are composed of those points of energy we call Egos.
Có thể thấy các Hoa Sen Chân Ngã được nhóm lại với nhau, và mỗi hoa tạo thành một phần của một nhóm. Đến lượt mình, các nhóm này lại tạo thành một phần của một Hoa sen rộng lớn hơn, hiện thân cho tâm thức của một Thực Thể còn vĩ đại hơn nữa mà “viên ngọc” của Ngài có thể được tìm thấy trên cõi phụ thứ hai. Tất cả những cái này, đến lượt chúng, có thể được chia thành bảy nhóm căn bản. Bảy nhóm hay tập hợp Hoa Sen Chân Ngã này tạo thành bảy loại tâm thức của những Thực Thể là bảy trung tâm mãnh lực của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta. Đến lượt bảy trung tâm này sẽ được tổng hợp trên các cấp độ cao hơn vào ba trung tâm cao hơn, cho đến khi toàn bộ năng lượng và mãnh lực mà chúng biểu hiện được thu gom lại và được hấp thụ bởi trung tâm tương ứng với trung tâm đầu cao nhất của Hành Tinh Thượng Đế. Mỗi Thượng đế hiện thân cho một loại năng lượng vũ trụ. Mỗi trung tâm của Ngài hiện thân cho loại năng lượng này trong một trong bảy biến phân của nó. Đến lượt mỗi một trong bảy cái này biểu lộ qua các nhóm chân ngã, và các nhóm này lại được cấu thành bởi những điểm năng lượng mà chúng ta gọi là các chân ngã.
These multitudes of egoic groups form a radiant interlocking whole, though all are diverse and differing, both as to their point of development, and their secondary colouring. Just as the petals in the egoic lotus of the incarnating jivas unfold in differing order and at different periods, so the egoic groups also unfold diversely as to time and sequence. This produces a wonderful appearance. Again just as the Master can (by [Page 770] studying the group or larger lotus of which He is a part), ascertain the condition of the human units who go to its constitution, so the planetary Logos can ascertain through conscious identification (note the term) the condition of the various groups through whom His work must be accomplished.
Vô số các nhóm chân ngã này tạo thành một toàn thể rực sáng, đan xen vào nhau, dù tất cả đều đa dạng và khác biệt, cả về điểm phát triển lẫn sắc thái thứ yếu của chúng. Cũng như các cánh hoa trong Hoa Sen Chân Ngã của các jiva đang lâm phàm khai mở theo thứ tự khác nhau và vào những thời kỳ khác nhau, thì các nhóm chân ngã cũng khai mở khác nhau về thời gian và trình tự. Điều này tạo nên một sắc tướng kỳ diệu. Lại nữa, cũng như Chân sư có thể (bằng cách [Page 770] nghiên cứu nhóm hay Hoa sen lớn hơn mà Ngài là một phần của nó) xác định tình trạng của các đơn vị nhân loại cấu thành nó, thì Hành Tinh Thượng Đế cũng có thể xác định qua sự đồng hoá với hữu thức (hãy lưu ý thuật ngữ này) tình trạng của các nhóm khác nhau mà qua đó công việc của Ngài phải được hoàn thành.
It will now be apparent to the student that the appearance of the incarnating jivas on the physical plane will be governed by three things:
Giờ đây, đạo sinh sẽ thấy rõ rằng sự xuất hiện của các jiva đang lâm phàm trên cõi hồng trần sẽ được chi phối bởi ba điều:
First of all, on impulse based on the will-purpose of the Life animating the aggregate of groups on any subray, or one of the seven larger groups.
Trước hết, bởi một xung lực dựa trên ý chí-mục đích của Sự sống đang linh hoạt tập hợp các nhóm trên bất kỳ cung phụ nào, hay một trong bảy nhóm lớn hơn.
Second, on impulse based on the will, tinged by desire, of the Life animating a man’s egoic group.
Thứ hai, bởi một xung lực dựa trên ý chí, nhuốm màu dục vọng, của Sự sống đang linh hoạt nhóm chân ngã của một người.
Third, on impulse, based on the desire of the Ego for physical plane manifestation.
Thứ ba, bởi một xung lực dựa trên dục vọng của chân ngã muốn biểu lộ trên cõi hồng trần.
As identification of a man with his group becomes matured the desire impulse becomes modified until it is eventually superseded by group will. If these facts are pondered upon it will be apparent that Egos come into incarnation therefore not singly but according to group urge, and thus collectively. This is the basis of collective karma, and of family karma. The individual urge, which is, of course, a reaction to group urge, is the result of personal karma. Hence, though we may by these reflections, have thrown some light upon this question of reincarnation, we have nevertheless said much to increase the magnitude of the question, and its complexity. Average man is confined to the use of the physical brain, and is, therefore, unable to think in group terms.
Khi sự đồng hoá của một người với nhóm của y trở nên chín muồi, xung lực dục vọng sẽ được biến đổi cho đến khi cuối cùng bị thay thế bởi ý chí nhóm. Nếu suy ngẫm về các sự kiện này, sẽ thấy rõ rằng các chân ngã đi vào lâm phàm không phải riêng lẻ mà theo thúc đẩy của nhóm, và do đó một cách tập thể. Đây là nền tảng của nghiệp quả tập thể và nghiệp quả gia đình. Thúc đẩy cá nhân, vốn dĩ là phản ứng đối với thúc đẩy của nhóm, là kết quả của nghiệp quả cá nhân. Vì vậy, tuy qua những suy tư này chúng ta có thể đã soi sáng phần nào vấn đề luân hồi, nhưng đồng thời chúng ta cũng đã nói nhiều điều làm tăng thêm tầm vóc của vấn đề và tính phức tạp của nó. Con người trung bình bị giới hạn trong việc sử dụng bộ não hồng trần, và do đó không thể suy nghĩ theo thuật ngữ nhóm.
This egoic impulse in any group or any group unit makes itself felt as a pulsation, or access of energy, emanating from the central point. This central activity is produced by the action of the planetary Logos working through the groups in His centres, and according to the [Page 771] centre under stimulation so will the groups concerned be affected. Beyond mentioning this fact, we cannot enlarge, for the subject is stupendous, and beyond a man’s comprehension; it is only necessary for him to appreciate his dependence in this matter upon the planetary Logos.
Xung lực chân ngã này trong bất kỳ nhóm nào hay đơn vị nhóm nào tự biểu lộ như một nhịp đập, hay một đợt tăng năng lượng, phát ra từ điểm trung tâm. Hoạt động trung tâm này được tạo ra bởi tác động của Hành Tinh Thượng Đế đang hoạt động qua các nhóm trong các trung tâm của Ngài, và tùy theo [Page 771] trung tâm nào được kích thích mà các nhóm liên hệ sẽ bị ảnh hưởng tương ứng. Ngoài việc nêu ra sự kiện này, chúng ta không thể nói rộng hơn, vì đề tài này quá bao la và vượt ngoài sự thấu hiểu của con người; điều cần thiết duy nhất là y phải nhận thức được sự lệ thuộc của mình trong vấn đề này vào Hành Tinh Thượng Đế.
From the group centre, therefore, emanates an urge to renewed activity, and this spreads throughout the group lotus until the units who respond to that particular ray vibration occultly “awaken.” All this time (as far as the jivas are concerned) this aspect of force has been that of the first aspect, and has passed from the central points to other central points. The positive nuclei in each case are affected by this flashing forth of electric fire, or energy. Each point concerned responds by a primary contraction followed by an outgoing or expansive display of energy. Each Identity concerned proceeds to sound a WORD. This sound expands into a mantram and the solar angels vibrate in response. There is a point of interest to be noted here.
Do đó, từ trung tâm nhóm phát ra một thúc đẩy hướng đến hoạt động được đổi mới, và điều này lan khắp Hoa sen nhóm cho đến khi các đơn vị đáp ứng với rung động cung đặc thù ấy một cách huyền bí “thức tỉnh”. Trong suốt thời gian này (xét theo các jiva), phương diện mãnh lực này thuộc về phương diện thứ nhất, và đã truyền từ các điểm trung tâm đến các điểm trung tâm khác. Các hạt nhân dương trong mỗi trường hợp đều bị tác động bởi sự lóe ra này của Lửa Điện, hay năng lượng. Mỗi điểm liên hệ đáp ứng bằng một sự co rút sơ khởi, tiếp theo là một sự phô bày năng lượng hướng ngoại hay mở rộng. Mỗi Bản Sắc Cô Lập liên hệ tiến hành xướng một LINH TỪ. Âm thanh này mở rộng thành một mantram và các Thái dương Thiên Thần rung động để đáp ứng. Có một điểm đáng lưu ý ở đây.
a. The first aspect works through a Word of Power.
a. Phương diện thứ nhất hoạt động qua một Quyền năng từ.
b. The second aspect works through mantric combinations.
b. Phương diện thứ hai hoạt động qua các tổ hợp mantram.
c. The third aspect works through mathematical formulas.
c. Phương diện thứ ba hoạt động qua các công thức toán học.
Having sounded the Word the first aspect, represented by the electric fire at the centre of the lotus, sinks back into quiescence, and becomes an abstraction as far as the self-conscious unit is concerned. The work has been begun, the necessary vibration has been set up, and the whole process then proceeds under law. The solar angels have begun their activity, and until their work has reached a very high stage, the Spirit aspect must become, in the causal body, an analogy to the Silent Watcher. As the solar Angels continue sounding out the mantram which is the basis of their work, the lunar Pitris respond [Page 772] to certain sounds in that mantram (not to all by any means at first) and gather out of those sounds the formula under which their work must proceed. So the Word is the basis of the mantram, and the mantram is the basis of the formula.
Sau khi xướng Linh từ, phương diện thứ nhất, được biểu trưng bởi Lửa Điện ở trung tâm Hoa sen, lùi trở lại trạng thái tĩnh lặng, và trở thành một sự trừu xuất đối với đơn vị ngã thức. Công việc đã được khởi sự, rung động cần thiết đã được thiết lập, và toàn bộ tiến trình sau đó diễn ra theo quy luật. Các Thái dương Thiên Thần đã bắt đầu hoạt động của Các Ngài, và cho đến khi công việc của Các Ngài đạt đến một giai đoạn rất cao, phương diện tinh thần phải trở thành, trong thể nguyên nhân, một sự tương đồng với Đấng Quan Sát Thầm Lặng. Khi các Thái dương Thiên Thần tiếp tục xướng lên mantram là nền tảng công việc của Các Ngài, các thái âm tổ phụ đáp ứng [Page 772] với một số âm thanh nhất định trong mantram ấy (thoạt đầu tuyệt nhiên không phải với tất cả) và rút ra từ những âm thanh đó công thức mà theo đó công việc của họ phải tiến hành. Như vậy Linh từ là nền tảng của mantram, và mantram là nền tảng của công thức.
At each incarnation, finer forms are required, and the formulas therefore grow more complicated, and the sounds on which they are based become more numerous. In time, the formulas are completed, and the lunar Pitris respond no more to the sounds or mantrams chanted on the mental plane. This is indicative of the stage of perfection, and shows that the three worlds have no more a downward pull for the jiva concerned. Desire for lower manifestation and experience has no more sway, and only conscious purpose is left. Then, and only then, can the true Mayavirupa be constructed; the Master then sounds the mantram for Himself, and builds without formulas in the three worlds. At the time too that man begins to tread the Probationary Path, the mantrams of the solar Angels begin to die down, and slowly (as the petals of the inner circle open up) the true Word emerges until the three enshrining petals burst open, and the central spark is revealed. Then the Word is fully known, and mantrams and formulas have no further use. Thus is the beauty of the scheme revealed. When the planetary Logos is concerned, the Word sounded on cosmic levels is being resolved into mantrams on the cosmic etheric planes, for He is in a position to create consciously on those levels; He works nevertheless through formulas on the dense physical planes of His scheme, our three worlds of endeavour.
Trong mỗi lần lâm phàm, các hình tướng tinh tế hơn đều được đòi hỏi, và vì thế các công thức ngày càng phức tạp hơn, còn các âm thanh làm nền tảng cho chúng cũng trở nên nhiều hơn. Theo thời gian, các công thức được hoàn tất, và các thái âm tổ phụ không còn đáp ứng với các âm thanh hay mantram được xướng trên cõi trí nữa. Điều này biểu thị giai đoạn hoàn hảo, và cho thấy ba cõi thấp không còn sức kéo đi xuống đối với jiva liên hệ. Dục vọng đối với biểu lộ và kinh nghiệm thấp hơn không còn chi phối nữa, và chỉ còn lại mục đích hữu thức. Khi ấy, và chỉ khi ấy, chân Mayavirupa mới có thể được kiến tạo; lúc đó Chân sư tự mình xướng mantram, và kiến tạo không cần công thức trong ba cõi thấp. Đồng thời, vào lúc con người bắt đầu bước lên Con Đường Dự Bị, các mantram của các Thái dương Thiên Thần bắt đầu lắng xuống, và chậm rãi (khi các cánh hoa của vòng trong khai mở) Linh từ chân thực xuất hiện cho đến khi ba cánh hoa bao bọc bung mở, và tia lửa trung tâm được hiển lộ. Khi đó Linh từ được biết trọn vẹn, và mantram cùng các công thức không còn công dụng nữa. Như thế vẻ đẹp của hệ thống được mặc khải. Khi liên quan đến Hành Tinh Thượng Đế, Linh từ được xướng trên các cấp độ vũ trụ đang được phân giải thành các mantram trên các cõi dĩ thái vũ trụ, vì Ngài ở trong vị thế có thể sáng tạo một cách hữu thức trên các cấp độ ấy; tuy nhiên Ngài vẫn hoạt động qua các công thức trên các cõi hồng trần đậm đặc của hệ hành tinh của Ngài, tức ba cõi nỗ lực của chúng ta.
To return to the reincarnating jivas: When the initiatory impulse has been given, the vibration thrills through the petals, and activity starts in those of them which respond to the note of that Word. The solar Angels direct the vibration, and the mantram for that particular [Page 773] type of Ego is begun. Finally the vibration reaches the mental unit at the base of the lotus bud, and the lunar Pitris are called into activity. They begin to work out their formulas for the particular type of vehicle which is required.
Trở lại với các jiva tái sinh: Khi xung lực khởi đầu đã được ban ra, rung động run lên xuyên qua các cánh hoa, và hoạt động bắt đầu trong những cánh đáp ứng với âm điệu của Linh từ ấy. Các Thái dương Thiên Thần điều hướng rung động, và mantram dành cho loại [Page 773] chân ngã đặc thù ấy được khởi xướng. Cuối cùng rung động chạm đến đơn vị hạ trí ở đáy nụ Hoa sen, và các thái âm tổ phụ được gọi vào hoạt động. Họ bắt đầu triển khai các công thức của mình cho loại vận cụ đặc thù được cần đến.
(f.) Activity of the Pitris. The joint activity of the solar and the lunar Pitris (253) in the process pursued by the reincarnating Ego is our next subject of consideration. The Ego, driven by desire for physical experience, has made the initial move and a vibration, emanating from the centre of the lotus bud, has reached the lotus petals, and has consequently vibrated in deva substance, or in [Page 774] matter vitalised by the Agnishvattas. As they are galvanised into activity (according to the group affected) the vibration is increased, and a dual sound is emitted. This dual sound is the basis of the mantram upon which the Ego’s cycle of incarnation is founded. The vibration, pulsating through the outer circle of petals (for the two inner circles and the three central petals are not as yet responsive) arrives at the triangle formed by the three permanent atoms, and vivifies the three lower spirillae, causing a slight response in the fourth, and leaving the higher three yet dormant. In each round one of the spirillae has been ‘created,’ and in this fourth round (through the creation of the fourth spirilla) the fourth or human kingdom can come into being. The word ‘creation’ must be occultly understood, and means the appearance in active manifestation of some form of energy. Only in the next round will the fifth spirilla be an active functioning unit in a sense incomprehensible now.
(f.) Hoạt động của các Pitri. Hoạt động phối hợp của các thái dương tổ phụ và thái âm tổ phụ (253) trong tiến trình được chân ngã tái sinh theo đuổi là chủ đề kế tiếp để chúng ta xem xét. Chân ngã, bị thúc đẩy bởi dục vọng muốn có kinh nghiệm hồng trần, đã thực hiện chuyển động khởi đầu và một rung động, phát ra từ trung tâm của nụ Hoa sen, đã chạm đến các cánh hoa sen, và do đó đã làm rung động chất liệu thiên thần, hay [Page 774] vật chất được các Agnishvatta tiếp sinh lực. Khi họ được kích hoạt vào hoạt động (tùy theo nhóm bị ảnh hưởng), rung động được gia tăng, và một âm thanh nhị phân được phát ra. Âm thanh nhị phân này là nền tảng của mantram mà trên đó chu kỳ lâm phàm của chân ngã được xây dựng. Rung động, đập nhịp xuyên qua vòng ngoài của các cánh hoa (vì hai vòng trong và ba cánh hoa trung tâm chưa đáp ứng), đi đến tam giác được tạo bởi ba Nguyên tử trường tồn, và làm sinh động ba loa tuyến thấp hơn, gây nên một đáp ứng nhẹ trong loa tuyến thứ tư, đồng thời để ba loa tuyến cao hơn vẫn còn ngủ yên. Trong mỗi cuộc tuần hoàn, một loa tuyến đã được ‘tạo ra’, và trong cuộc tuần hoàn thứ tư này (qua việc tạo ra loa tuyến thứ tư), giới thứ tư hay giới nhân loại có thể xuất hiện. Từ ‘sáng tạo’ phải được hiểu theo nghĩa huyền bí, và có nghĩa là sự xuất hiện trong biểu lộ hoạt động của một hình thức năng lượng nào đó. Chỉ trong cuộc tuần hoàn kế tiếp, loa tuyến thứ năm mới là một đơn vị hoạt động tích cực theo một nghĩa hiện nay không thể hiểu được.
(253) The joint activity of solar and lunar Pitris.—S. D., II, 258.
(253) Hoạt động phối hợp của các thái dương tổ phụ và thái âm tổ phụ.—S. D., II, 258.
1. “The spark hangs from the flame by the finest thread of Fohat.
1. “Tia lửa treo từ ngọn lửa bằng sợi chỉ Fohat mảnh nhất.
a. The three-tongued flame that never dies.... Triad.
a. Ngọn lửa ba lưỡi không bao giờ tắt.... Tam nguyên tinh thần.
b. The four wicks........................ Quaternary.
b. Bốn tim đèn....................... Bộ bốn.
c. The thread of Fohat.................... Thread of Life.
c. Sợi chỉ Fohat.................... Sinh Mệnh Tuyến.
2. It journeys through the seven worlds of maya.
2. Nó du hành qua bảy thế giới của ảo lực.
Macrocosmically........ the seven planetary schemes.
Về mặt đại thiên địa........ bảy hệ hành tinh.
Planetary............... the seven chains of a scheme.
Về mặt hành tinh.............. bảy Dãy của một hệ hành tinh.
Microcosmically......... the seven globes of a chain.
Về mặt tiểu thiên địa......... bảy bầu hành tinh của một Dãy.
Note and meditate upon:—
Hãy lưu ý và tham thiền về:—
“...the divine Septenary hanging from the triad, thus forming the Decad and its permutations. Seven, five and three.”
“...thất phân thiêng liêng treo từ tam nguyên tinh thần, do đó tạo thành Thập phân và các hoán vị của nó. Bảy, năm và ba.”
3. It stops in the first, and is a metal and a stone; it passes into the second and behold—a plant; the plant whirls through seven forms and becomes a sacred animal.”
3. Nó dừng lại ở giới thứ nhất, và là một kim loại và một hòn đá; nó đi vào giới thứ hai và kìa—một cây cỏ; cây cỏ quay cuồng qua bảy hình tướng và trở thành một con vật thiêng liêng.”
Compare S. D., I, 266.
So sánh S. D., I, 266.
Note the kabalistic aphorism:—”A stone becomes a plant; a plant, a beast; a beast, a man; a man, a spirit; and the spirit, God.—S. D., I, 267.
Hãy lưu ý châm ngôn Kabbalah:—”Một hòn đá trở thành cây cỏ; cây cỏ thành thú vật; thú vật thành người; người thành tinh thần; và tinh thần thành Thượng đế.—S. D., I, 267.
4. From the combined attributes of these, Manu, the Thinker, is formed.—See S. D., II, 179, 187.
4. Từ các thuộc tính kết hợp của những cái này, Đức Manu, Đấng Tư Tưởng, được hình thành.—Xem S. D., II, 179, 187.
5. Who forms him? The seven lives and the One Life.—See S. D., II. 268.
5. Ai tạo thành y? Bảy sự sống và Một Sự sống.—Xem S. D., II. 268.
The seven groups of lives who form the three lower bodies. The lunar Pitris or fathers of the material forms.
Bảy nhóm sự sống tạo thành ba thể thấp. Các thái âm tổ phụ hay các cha của các hình tướng vật chất.
6. Who completes him? The fivefold Lha.
6. Ai hoàn thiện y? Lha ngũ phân.
Who unites the higher Spiritual Triad and the lower self?
Ai hợp nhất Tam Nguyên Tinh Thần cao hơn và phàm ngã?
a. The fivefold Gods of the intelligence.
a. Các Thượng đế ngũ phân của trí tuệ.
b. The fifth principle of mind.
b. Nguyên khí thứ năm của trí tuệ.
7. Who perfects the last body? Fish, sin, and soma.
7. Ai hoàn thiện thể cuối cùng? Cá, tội lỗi, và soma.
a. Fish, sin and soma collectively compose the three symbols of the immortal being.
a. Cá, tội lỗi và soma cùng nhau cấu thành ba biểu tượng của hữu thể bất tử.
b. Fish—symbol of the buddhic principle, the manifested life on earth. Note the avatara of Vishnu. The sign of Pisces, the fish. Jesus the fisher of men.
b. Cá—biểu tượng của nguyên khí Bồ đề, sự sống biểu lộ trên trần gian. Hãy lưu ý Đấng Hoá Thân của Vishnu. Dấu hiệu hoàng đạo Song Ngư, con cá. Đức Jesus, người đánh cá của nhân loại.
c. Sin—The fall of man, involution of Spirit.
c. Tội lỗi—Sự sa ngã của con người, sự giáng hạ tiến hoá của tinh thần.
d. Soma—Moon. The work of lunar Pitris, providing bodies. Read stanza VII, 6, S. D., I, 285. (back)
d. Soma—Mặt Trăng. Công việc của các thái âm tổ phụ, cung cấp các thể. Đọc bài kệ VII, 6, S. D., I, 285. (back)
Students should bear in mind that this applies primarily to the humanity individualised on this globe, and was also equally true in the earlier chain; units, however, which come into this fourth or Earth Chain from the earlier ones are much ahead of earth’s humanity, and their fifth spirilla is awakening into organised activity in this round. All in Nature overlaps.
Các đạo sinh nên ghi nhớ rằng điều này chủ yếu áp dụng cho nhân loại đã được biệt ngã hóa trên bầu hành tinh này, và cũng đúng như vậy trong Dãy trước đó; tuy nhiên, các đơn vị đi vào Dãy thứ tư này hay Dãy Địa Cầu từ các Dãy trước thì vượt xa nhân loại Địa Cầu, và loa tuyến thứ năm của họ đang thức dậy vào hoạt động có tổ chức trong cuộc tuần hoàn này. Mọi sự trong Thiên nhiên đều chồng lấn lên nhau.
When therefore this vibration from the central Will has arrived at the atomic triangle it is an indication that the entire lotus is turning its force downwards, and for the period of manifestation the flow of egoic energy is towards the lower, and consequently away from the higher. There is at this stage very little turning of egoic energy in the direction of the Monad, for it has not yet generated enough force, and is not as yet radioactive towards the Spirit aspect. Its activities are primarily internal and self-centred for the greater part of the time, or are directed towards arousing the permanent atoms, [Page 775] and not towards the unfolding of the petals. This should be carefully borne in mind.
Do đó, khi rung động này từ Ý Chí trung tâm đã đến tam giác nguyên tử, đó là dấu hiệu cho thấy toàn bộ Hoa sen đang hướng mãnh lực của nó xuống dưới, và trong thời kỳ biểu lộ, dòng năng lượng chân ngã hướng về cái thấp hơn, và vì thế rời xa cái cao hơn. Ở giai đoạn này có rất ít sự chuyển hướng của năng lượng chân ngã về phía chân thần, vì nó chưa tạo ra đủ mãnh lực, và chưa phóng xạ về phía phương diện tinh thần. Các hoạt động của nó chủ yếu là nội tại và tập trung vào bản thân trong phần lớn thời gian, hoặc hướng đến việc đánh thức các Nguyên tử trường tồn, [Page 775] chứ không hướng đến sự khai mở của các cánh hoa. Điều này cần được ghi nhớ cẩn thận.
The work of the solar Angels is of a triple nature:
Công việc của các Thái dương Thiên Thần có tính tam phân:
(1.) Directing the vibration towards the atomic triangle. Here a very interesting fact must be borne in mind. The three permanent atoms, or the three points of the triangle, do not always hold the same relative position as regards the centre of the lotus, but according to the stage of development so will be the position of the atoms, and so will be the apprehension of the inflowing force. In the earlier stages, the physical permanent atom is the first to receive the inflow, passing it through its system to the astral permanent atom and the mental unit. This force is circulated four times around the triangle (this being the fourth round) until the mental unit is again contacted and the energy becomes centralised in the fourth spirilla of the mental unit. Then and only then do the lunar Pitris begin their work, and commence the co-ordination of the substance which will form the mental sheath, next working with the astral body and finally with the etheric body.
(1.) Điều hướng rung động về phía tam giác nguyên tử. Ở đây cần ghi nhớ một sự kiện rất thú vị. Ba Nguyên tử trường tồn, hay ba điểm của tam giác, không phải lúc nào cũng giữ cùng một vị trí tương đối đối với trung tâm Hoa sen, mà tùy theo giai đoạn phát triển thì vị trí của các nguyên tử sẽ như thế, và sự lĩnh hội mãnh lực tuôn vào cũng sẽ như thế. Trong các giai đoạn đầu, nguyên tử trường tồn hồng trần là cái đầu tiên tiếp nhận dòng tuôn vào, truyền nó qua hệ thống của nó đến nguyên tử trường tồn cảm dục và đơn vị hạ trí. Mãnh lực này được lưu chuyển bốn lần quanh tam giác (vì đây là cuộc tuần hoàn thứ tư) cho đến khi đơn vị hạ trí lại được chạm đến và năng lượng được tập trung trong loa tuyến thứ tư của đơn vị hạ trí. Khi ấy và chỉ khi ấy các thái âm tổ phụ mới bắt đầu công việc của họ, và khởi sự phối hợp chất liệu sẽ tạo thành thể trí, rồi kế đó làm việc với thể cảm dục và cuối cùng với thể dĩ thái.
At a later stage in the evolution of man (the stage wherein the average man is now) the astral permanent atom is the first contacted, and the energy circulates through it to the other two. At the stage of advanced intellectual man, the mental unit takes the primary place. In this case there is now the possibility of the alignment of the three bodies which will later be an accomplished fact. The fifth spirilla in the lower two atoms increases its vibration. As we know, there are only four spirillae in the mental unit and the moment that that is in full activity, the co-ordination of the antaskarana becomes a possibility. Changes are now taking place in the egoic lotus, and the petals are unfolding, that unfoldment being partially dependent upon the vibration in the spirillae and their awakening.
Ở một giai đoạn muộn hơn trong tiến hoá của con người (giai đoạn mà con người trung bình hiện nay đang ở), nguyên tử trường tồn cảm dục là cái được chạm đến đầu tiên, và năng lượng lưu chuyển qua nó đến hai cái kia. Ở giai đoạn của con người trí thức tiến bộ, đơn vị hạ trí giữ vị trí chủ yếu. Trong trường hợp này hiện có khả năng chỉnh hợp của ba thể, điều mà về sau sẽ là một sự kiện hoàn tất. Loa tuyến thứ năm trong hai nguyên tử thấp hơn gia tăng rung động của nó. Như chúng ta biết, chỉ có bốn loa tuyến trong đơn vị hạ trí và ngay khi nó hoạt động trọn vẹn, sự phối hợp của antahkarana trở thành một khả năng. Những thay đổi hiện đang diễn ra trong Hoa Sen Chân Ngã, và các cánh hoa đang khai mở, sự khai mở ấy phần nào tùy thuộc vào rung động trong các loa tuyến và sự thức tỉnh của chúng.
[Page 776] The student should bear in mind the fact that as soon as the mental unit has become the apex of the atomic triangle a condition is brought about wherein force in the future will enter the three atoms simultaneously through the three unfolded petals of the outer circle, and the man has therefore reached a very definite stage in evolution. The direction of force, and its application to the atoms is the work of the solar Pitris. As evolution proceeds, their work in this connection becomes more complex, for the petals are unfolding, and the triangle is revolving more rapidly.
[Page 776] Đạo sinh nên ghi nhớ sự kiện rằng ngay khi đơn vị hạ trí đã trở thành đỉnh của tam giác nguyên tử, một điều kiện được tạo ra trong đó về sau mãnh lực sẽ đi vào ba nguyên tử đồng thời qua ba cánh hoa đã khai mở của vòng ngoài, và do đó con người đã đạt đến một giai đoạn rất xác định trong tiến hoá. Sự định hướng của mãnh lực, và việc áp dụng nó vào các nguyên tử là công việc của các thái dương tổ phụ. Khi tiến hoá tiếp diễn, công việc của họ trong mối liên hệ này trở nên phức tạp hơn, vì các cánh hoa đang khai mở, và tam giác đang quay nhanh hơn.
(2.) Pronouncing the mantram which will make possible the 777 incarnations.
(2.) Xướng mantram sẽ làm cho 777 lần lâm phàm trở nên khả hữu.
Each of the figures in this triplicity stands for:
Mỗi con số trong bộ ba này tượng trưng cho:
a. A cycle of egoic manifestation.
a. Một chu kỳ biểu lộ chân ngã.
b. A particular sound which will enable the Ego to express some subray of this egoic ray.
b. Một âm thanh đặc thù sẽ giúp chân ngã biểu lộ một cung phụ nào đó của cung chân ngã này.
c. The three circles of petals which will unfold as the result of incarnation.
c. Ba vòng cánh hoa sẽ khai mở như là kết quả của lâm phàm.
d. The particular group of manasadevas who form the causal body of the Ego concerned.
d. Nhóm manasadeva đặc thù tạo thành thể nguyên nhân của chân ngã liên hệ.
The mantric sounds are therefore based on these figures, and through the mantram (which grows in volume, depth and number of sounds involved as time elapses) the force is directed, the petals concerned are stimulated into activity, and the lunar Pitris become aware of the work to be done in preparation for any incarnation.
Do đó, các âm thanh mantram được đặt nền trên các con số này, và qua mantram (vốn tăng trưởng về âm lượng, chiều sâu và số lượng âm thanh liên hệ khi thời gian trôi qua), mãnh lực được điều hướng, các cánh hoa liên hệ được kích thích vào hoạt động, và các thái âm tổ phụ nhận biết công việc phải làm để chuẩn bị cho bất kỳ lần lâm phàm nào.
(3.) Building into the causal body that which is required for its completion.
(3.) Xây dựng vào thể nguyên nhân điều cần thiết cho sự hoàn tất của nó.
In the early stages this work is comparatively small but as the third stage of development is reached, and the man is demonstrating character and ability, their work is rapidly increased, and they are kept fully occupied in the work of perfecting the egoic body, in expanding the egoic consciousness, if metaphysical terms are preferred. All [Page 777] this is accomplished by means of the material furnished by the lower self. When that lower Personality becomes gradually radioactive, these radiations are attracted to the positive ego, and are absorbed into its nature through the activity of the solar Angels.
Trong các giai đoạn đầu, công việc này tương đối nhỏ, nhưng khi giai đoạn phát triển thứ ba đạt đến, và con người biểu lộ Tính cách cùng năng lực, công việc của họ tăng nhanh, và họ hoàn toàn bận rộn trong công việc hoàn thiện thể chân ngã, hay mở rộng tâm thức chân ngã, nếu ưa dùng các thuật ngữ siêu hình học. Tất cả [Page 777] điều này được hoàn thành bằng chất liệu do phàm ngã cung cấp. Khi phàm ngã thấp hơn ấy dần dần trở nên phóng xạ, các bức xạ này bị chân ngã dương thu hút, và được hấp thụ vào bản chất của nó qua hoạt động của các Thái dương Thiên Thần.
These three activities are the main work of the solar Pitris where man is concerned. Where the group, and not the individual, is concerned, their work lies along the line of adjusting the egoic units in their groups, and of making them group conscious, but this is only possible towards the final stages of evolution when the work of the highest group of Agnishvattas is in order. The middle group who form the nine petals are always the most active. They work in connection with the lower group who are the direct transmitters of energy to the atomic triangle, receiving it from the middle group. More of their work it is not possible to detail, for the work of the Agnishvattas is vast and intricate, and differs also in the various schemes in certain particulars. Those who are working in the Uranus, the Neptune, and the Saturn scheme work somewhat differently to those functioning in the Venus, the Vulcan, the Mars, the Mercury, the Jupiter, the Earth and the exoteric Saturn scheme, and so do the Manasadevas of the inner round. We should note here that we again have a triplicity of groups, representing a triplicity of force, and herein lies a hint. In the central list of schemes the middle and lower group of Agnishvattas are active. In the others the higher group and middle group hold sway as these planets are the most occult and sacred in manifestation, and are concerned only with egos who are on the Path, and who are therefore group-active. In connection with Uranus, Neptune and Saturn, this might be expected as they are the synthesising planetary schemes, and provide conditions suitable only for the very advanced stages. They are the “reaping” planets.
Ba hoạt động này là công việc chính của các thái dương tổ phụ khi liên quan đến con người. Khi liên quan đến nhóm, chứ không phải cá nhân, công việc của họ nằm theo đường hướng điều chỉnh các đơn vị chân ngã trong các nhóm của chúng, và làm cho chúng có tâm thức nhóm, nhưng điều này chỉ có thể xảy ra vào các giai đoạn cuối của tiến hoá khi công việc của nhóm Agnishvatta cao nhất được đặt ra. Nhóm trung gian tạo thành chín cánh hoa luôn luôn hoạt động mạnh nhất. Họ làm việc liên hệ với nhóm thấp hơn là những kẻ truyền dẫn trực tiếp năng lượng đến tam giác nguyên tử, tiếp nhận nó từ nhóm trung gian. Không thể trình bày chi tiết hơn về công việc của họ, vì công việc của các Agnishvatta thì bao la và phức tạp, và cũng khác nhau trong các hệ hành tinh khác nhau ở một số chi tiết. Những vị đang hoạt động trong hệ hành tinh Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương, và Sao Thổ làm việc hơi khác với những vị đang hoạt động trong hệ hành tinh Sao Kim, Vulcan, Sao Hỏa, Sao Thủy, Sao Mộc, Trái Đất và hệ hành tinh Sao Thổ ngoại môn, và các Manasadeva của cuộc tuần hoàn bên trong cũng vậy. Chúng ta nên lưu ý ở đây rằng một lần nữa chúng ta lại có một bộ ba nhóm, biểu hiện một bộ ba mãnh lực, và chính trong đó có một gợi ý. Trong danh sách trung tâm của các hệ hành tinh, nhóm Agnishvatta trung gian và thấp hơn hoạt động. Trong các hệ khác, nhóm cao hơn và nhóm trung gian nắm quyền chi phối vì các hành tinh này là những hành tinh huyền bí và thiêng liêng nhất trong biểu lộ, và chỉ liên quan đến các chân ngã đang ở trên Con Đường, và do đó hoạt động theo nhóm. Liên quan đến Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương và Sao Thổ, điều này có thể được chờ đợi vì chúng là các hệ hành tinh tổng hợp, và chỉ cung cấp những điều kiện thích hợp cho các giai đoạn rất tiến bộ. Chúng là các hành tinh “gặt hái”.
[Page 778] Much confusion in connection with Egos exists in the minds of our students on account of their failure to realise that (as H. P. B. has pointed out) (S. D., I, 41, 83.) the Secret Doctrine is primarily concerned with the planetary scheme of our Earth, and has little to impart anent the other schemes, and their methods of evolving self-consciousness. The general procedure on the mental levels is the same, but as each scheme embodies one particular type of force, the peculiarity of that force will colour all its evolution, and the work of the Agnishvattas will correspond. It is not possible to state what is the peculiar colouring of the Ray which is embodied in our scheme, as it is one of the most secret of the mysteries revealed at initiation, but students must bear in mind that in the fundamentals laid down here we are not dealing specifically with our scheme.
[Page 778] Có nhiều sự lẫn lộn liên quan đến các chân ngã tồn tại trong tâm trí các đạo sinh của chúng ta vì họ không nhận ra rằng (như H. P. B. đã chỉ ra) (S. D., I, 41, 83.) Giáo Lý Bí Nhiệm chủ yếu liên quan đến hệ hành tinh của Trái Đất chúng ta, và ít truyền đạt điều gì về các hệ hành tinh khác, cùng các phương pháp tiến hoá ngã thức của chúng. Tiến trình tổng quát trên các cấp độ trí tuệ là như nhau, nhưng vì mỗi hệ hành tinh hiện thân cho một loại mãnh lực đặc thù, nên tính chất riêng của mãnh lực ấy sẽ nhuốm màu toàn bộ sự tiến hoá của nó, và công việc của các Agnishvatta sẽ tương ứng. Không thể nói loại sắc thái đặc thù của Cung được hiện thân trong hệ hành tinh của chúng ta là gì, vì đó là một trong những huyền nhiệm bí mật nhất được tiết lộ lúc điểm đạo, nhưng các đạo sinh phải ghi nhớ rằng trong những nguyên lý căn bản được nêu ra ở đây, chúng ta không bàn riêng về hệ hành tinh của chúng ta.
A great deal has been said in modern occult literature anent the process followed in the perfecting of those Egos who choose to remain with the Hierarchy of our planet, and their methods of development (through chelaship to adeptship). But nothing practically has been imparted anent the many egos who reach a certain high stage of evolution in our scheme and who are then transferred to one of the three synthesising schemes, passing first to the scheme which is the polar opposite to ours, and from thence to the synthesising scheme. They are numerically more than those who remain within the Earth scheme. Whichever may be the synthesising scheme to which they are attracted, it marks and initiates their start upon one of the three cosmic paths. The work of the Manasadevas is carried on throughout the entire system, and a constant circulation transpires, and a constant transmission of energy, and of force units embodying that energy, goes on throughout the entire system. This transmission becomes possible in any scheme when the [Page 779] fourth or human kingdom becomes radioactive; it really marks the setting in of the period of obscuration. Venus is a case in point. Metaphysically stated, it marks the point when the Logoi begin to dissociate Themselves from Their dense physical bodies, or from the three worlds of human endeavour.
Rất nhiều điều đã được nói trong văn học huyền bí học hiện đại về tiến trình được theo đuổi trong việc hoàn thiện những chân ngã chọn ở lại với Thánh đoàn của hành tinh chúng ta, và các phương pháp phát triển của họ (qua địa vị đệ tử đến chân sư). Nhưng hầu như không có gì được truyền đạt về nhiều chân ngã đạt đến một giai đoạn tiến hoá cao nào đó trong hệ hành tinh của chúng ta rồi sau đó được chuyển sang một trong ba hệ hành tinh tổng hợp, trước hết đi đến hệ hành tinh là cực đối nghịch với hệ của chúng ta, rồi từ đó đến hệ hành tinh tổng hợp. Về số lượng, họ nhiều hơn những người ở lại trong hệ hành tinh Địa Cầu. Dù họ bị thu hút đến hệ hành tinh tổng hợp nào đi nữa, điều đó đánh dấu và khởi đầu cho việc họ bước lên một trong ba con đường vũ trụ. Công việc của các Manasadeva được tiến hành khắp toàn bộ hệ thống, và một sự lưu chuyển liên tục diễn ra, cùng một sự truyền dẫn liên tục của năng lượng, và của các đơn vị mãnh lực hiện thân cho năng lượng ấy, diễn ra khắp toàn bộ hệ thống. Sự truyền dẫn này trở nên khả hữu trong bất kỳ hệ hành tinh nào khi [Page 779] giới thứ tư hay giới nhân loại trở nên phóng xạ; điều đó thực sự đánh dấu sự khởi đầu của thời kỳ che mờ. Sao Kim là một trường hợp điển hình. Nói theo siêu hình học, nó đánh dấu điểm mà các Thượng đế bắt đầu tách rời Chính Các Ngài khỏi các thể hồng trần đậm đặc của Các Ngài, hay khỏi ba cõi nỗ lực của nhân loại.
The three groups of Agnishvattas concerned with the evolution of man on the mental level have each a specific function, as we have already seen, and the lowest of the three deal primarily with the transmission of force or energy to the three permanent atoms. In the dual sounding of the egoic mantram by the lowest of the three groups changes are brought about and the lunar Pitris (who concern themselves with the lower three vehicles) enter upon their work, the key being given to them by the solar Angels.
Ba nhóm Agnishvatta liên quan đến sự tiến hoá của con người trên cấp độ trí tuệ, mỗi nhóm đều có một chức năng đặc thù, như chúng ta đã thấy, và nhóm thấp nhất trong ba nhóm chủ yếu đề cập đến việc truyền dẫn mãnh lực hay năng lượng đến ba Nguyên tử trường tồn. Trong sự xướng nhị phân của mantram chân ngã bởi nhóm thấp nhất trong ba nhóm, những thay đổi được tạo ra và các thái âm tổ phụ (những vị liên quan đến ba vận cụ thấp hơn) bắt đầu công việc của họ, chìa khóa được các Thái dương Thiên Thần trao cho họ.
These lunar Pitris embody the substance of man’s lower bodies, just as the solar Pitris sacrifice themselves to give him his egoic body, and his consciousness. (255, 256, 257) They are substance in its dual aspect, and the Lunar Pitris in their higher grades are the positive energy of atomic substance, and in their lower are the negative [Page 780] aspect of the same substance. They might be considered, in connection with man, as triple in their ranks:
Các thái âm tổ phụ này hiện thân cho chất liệu của các thể thấp của con người, cũng như các thái dương tổ phụ tự hi sinh để ban cho y thể chân ngã và tâm thức của y. (255, 256, 257) Họ là chất liệu trong phương diện nhị phân của nó, và các thái âm tổ phụ ở các cấp cao hơn của họ là năng lượng dương của chất liệu nguyên tử, còn ở các cấp thấp hơn là phương diện âm của cùng chất liệu ấy. Họ có thể được xem, [Page 780] liên quan đến con người, như có ba cấp bậc:
(255) The Ego is described thus in the Secret Doctrine: Each is a pillar of Light. Having chosen its vehicle, it expanded, surrounding with an akashic aura the human animal, with the Divine Principle settled within the human form.”—S. D., III, 494.
(255) Chân ngã được mô tả như sau trong Giáo Lý Bí Nhiệm: Mỗi vị là một Trụ Ánh Sáng. Sau khi chọn vận cụ của mình, vị ấy mở rộng ra, bao quanh con người-thú bằng một hào quang akasha, với Nguyên Khí thiêng liêng an định bên trong hình tướng con người.”—S. D., III, 494.
They are the Fire Dhyanis, and emanate from the Heart of the Sun.”—S. D., II, 96.
Họ là các Hỏa Dhyanis, và phát xuất từ Trái Tim của Mặt Trời.”—S. D., II, 96.
Read the words of the Commentary on S. D., II, 96.
Hãy đọc những lời của Cổ Luận về S. D., II, 96.
They are the Sons of Fire and fashion inner man.—S. D., II, 114. (back)
Họ là Các Con của Lửa và tạo tác con người bên trong.—S. D., II, 114. (back)
a. The highest group of all receives the energy from the higher levels, and ensouls the spirillae of the three permanent atoms.
a. Nhóm cao nhất trong tất cả tiếp nhận năng lượng từ các cấp độ cao hơn, và phú linh các loa tuyến của ba Nguyên tử trường tồn.
b. The second group, being the positive energy that attracts, builds and forms the body of man on the three planes.
b. Nhóm thứ hai, là năng lượng dương có sức hút, xây dựng và tạo thành thân thể của con người trên ba cõi.
c. The lowest group are the negative aspect of energised substance and the matter of the three sheaths.
c. Nhóm thấp nhất là phương diện âm của chất liệu được tiếp sinh lực và là vật chất của ba thể.
In connection with the solar system they embody the Brahma aspect, being the product of earlier cycles wherein conscious activity was achieved, but self-consciousness was only arrived at by certain cosmic entities who passed through conscious substance, and gave to it that potentiality which will enable atomic substance—after many kalpas—to develop self-consciousness. In connection with a planet, they are called by a mysterious name which may not be revealed, as it conceals the mystery of the scheme which preceded ours, and of which ours is a reproduction. There are Pitris who work in connection with a planet, and with a solar system as well as those working in connection with the human kingdom. They embody the energy of substance as demonstrated in a system, a scheme and a human cycle.
Liên quan đến hệ mặt trời, họ hiện thân cho phương diện Brahma, là sản phẩm của các chu kỳ trước kia trong đó hoạt động hữu thức đã đạt được, nhưng ngã thức chỉ được đạt đến bởi một số thực thể vũ trụ đã đi qua chất liệu hữu thức, và ban cho nó tiềm năng sẽ giúp chất liệu nguyên tử—sau nhiều kalpa—phát triển ngã thức. Liên quan đến một hành tinh, họ được gọi bằng một danh xưng huyền bí không thể tiết lộ, vì nó che giấu huyền nhiệm của hệ hành tinh đi trước hệ của chúng ta, và hệ của chúng ta là một sự tái tạo của nó. Có những Pitri hoạt động liên hệ với một hành tinh, và với một hệ mặt trời cũng như những vị hoạt động liên hệ với giới nhân loại. Họ hiện thân cho năng lượng của chất liệu như được biểu lộ trong một hệ thống, một hệ hành tinh và một chu kỳ nhân loại.
There are also in connection with our peculiar Earth scheme, those lunar Pitris who reached their present stage of activity in the moon chain. They are deva groups but (unlike the Agnishvattas) they have not passed through the human stage; for them it has yet to be achieved, and their present experience in connection with the human Hierarchy has that end in view. It should be remembered that it is a fundamental law in occult development that any life can only give out that [Page 781] which it has possessed, and possession of the varying attributes of consciousness from that of the atom up to the consciousness of a solar Logos, is the result of long cycles of acquirement. The solar Pitris, therefore, could give to man his consciousness; the lunar Pitris could give to him the instinctual consciousness of his vehicles. In their aggregate in all the kingdoms of nature, on this planet and elsewhere, they give to the planetary Logos and to the solar Logos the sumtotal of the form consciousness of Their respective bodies. This is the case in every scheme in the system, but in the Earth chain a peculiar condition of affairs was brought about through the planetary failure coincident with the moon chain; this is the cause of the present balancing of forces on this chain. The fourth chain in every scheme sees the work of the solar Pitris in connection with man begun. It sees also the Pitris of his sheaths in activity through the impulse given by the solar Angels. The matter of those sheaths has passed through three chains and three rounds and is vibrant to a note which is tuned to the....To word it otherwise, the third can be clearly sounded, and is followed naturally by the fifth, or the dominant. The simultaneous sounding of the third and the fifth, basing it upon the planetary keynote, produces the effect of a threefold chord, or a fourth tone, a complex sound. I am here dealing with the chord of the human hierarchy as a whole. Within the hierarchy there is again diversity, based upon the hierarchical chord, and this produces the many egoic chords and notes; these produce in their turn objective manifestation.
Cũng có, liên quan đến hệ hành tinh Địa Cầu đặc thù của chúng ta, những thái âm tổ phụ đã đạt đến giai đoạn hoạt động hiện tại của họ trong Dãy Mặt Trăng. Họ là các nhóm thiên thần nhưng (không giống các Agnishvatta) họ chưa đi qua giai đoạn nhân loại; đối với họ điều đó vẫn còn phải đạt được, và kinh nghiệm hiện tại của họ liên hệ với Huyền Giai nhân loại nhắm đến mục đích ấy. Cần nhớ rằng đó là một định luật căn bản trong sự phát triển huyền bí học rằng bất kỳ sự sống nào cũng chỉ có thể ban ra điều mà [Page 781] nó đã sở hữu, và việc sở hữu các thuộc tính khác nhau của tâm thức từ tâm thức của nguyên tử cho đến tâm thức của một Thái dương Thượng đế là kết quả của những chu kỳ dài thu đạt. Do đó, các thái dương tổ phụ có thể ban cho con người tâm thức của y; các thái âm tổ phụ có thể ban cho y tâm thức bản năng của các vận cụ của y. Trong tổng thể của họ trong mọi giới của thiên nhiên, trên hành tinh này và ở nơi khác, họ ban cho Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế tổng số tâm thức hình tướng của các thể tương ứng của Các Ngài. Điều này đúng trong mọi hệ hành tinh trong hệ thống, nhưng trong dãy Địa Cầu, một tình trạng đặc thù đã được tạo ra do sự thất bại hành tinh trùng hợp với Dãy Mặt Trăng; đây là nguyên nhân của sự quân bình mãnh lực hiện nay trên Dãy này. Dãy Thứ Tư trong mọi hệ hành tinh chứng kiến công việc của các thái dương tổ phụ liên hệ với con người được bắt đầu. Nó cũng chứng kiến các Pitri của các thể của y hoạt động qua xung lực do các Thái dương Thiên Thần ban ra. Vật chất của các thể ấy đã đi qua ba Dãy và ba cuộc tuần hoàn và đang rung động theo một âm điệu được chỉnh theo....Nói cách khác, âm thứ ba có thể được xướng lên rõ ràng, và tự nhiên được tiếp theo bởi âm thứ năm, hay âm chủ. Sự xướng đồng thời âm thứ ba và âm thứ năm, đặt nền trên chủ âm hành tinh, tạo ra hiệu quả của một hợp âm tam phân, hay một âm thứ tư, một âm thanh phức hợp. Ở đây tôi đang bàn đến hợp âm của toàn thể thánh đoàn nhân loại. Bên trong thánh đoàn lại có sự đa dạng, dựa trên hợp âm thánh đoàn, và điều này tạo ra nhiều hợp âm và âm điệu chân ngã; đến lượt chúng tạo ra biểu lộ khách quan.
We can now trace the progress of egoic energy as it passes down from the abstract levels to the permanent atoms. On each plane the work is threefold, and might be tabulated as follows:
Giờ đây chúng ta có thể truy theo tiến trình của năng lượng chân ngã khi nó đi xuống từ các cấp độ trừu tượng đến các Nguyên tử trường tồn. Trên mỗi cõi, công việc có tính tam phân, và có thể được lập bảng như sau:
1. The response within the permanent atom to the vibration set up by the solar Pitris; to word it otherwise: [Page 782] the response of the highest group of lunar Pitris to the chord of the Ego. This definitely affects the spirillae of the atom, according to the stage of evolution of the Ego concerned.
1. Sự đáp ứng bên trong Nguyên tử trường tồn đối với rung động do các thái dương tổ phụ thiết lập; nói cách khác: [Page 782] sự đáp ứng của nhóm thái âm tổ phụ cao nhất đối với hợp âm của chân ngã. Điều này nhất định tác động đến các loa tuyến của nguyên tử, tùy theo giai đoạn tiến hoá của chân ngã liên hệ.
2. The response of the substance to the atomic vibration upon the particular plane involved. This concerns the second group of Pitris, whose function it is to gather together the substance attuned to any particular key, and to aggregate it around the permanent atom. They work under the Law of Magnetic Attraction, and are the attractive energy of the permanent atom. On a tiny scale each permanent atom has (to the substance of a man’s sheaths) a position relative to that which the physical sun holds to the substance of the system. It is the nucleus of attractive force.
2. Sự đáp ứng của chất liệu đối với rung động nguyên tử trên cõi đặc thù liên hệ. Điều này liên quan đến nhóm Pitri thứ hai, có chức năng tập hợp chất liệu được chỉnh theo bất kỳ âm khóa đặc thù nào, và gom nó quanh Nguyên tử trường tồn. Họ hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn Từ Tính, và là năng lượng hấp dẫn của Nguyên tử trường tồn. Trên một quy mô rất nhỏ, mỗi Nguyên tử trường tồn có (đối với chất liệu của các thể của con người) một vị trí tương đối với vị trí mà mặt trời hồng trần giữ đối với chất liệu của hệ thống. Nó là hạt nhân của mãnh lực hấp dẫn.
3. The response of the negative substance concerned and its moulding into the desired form through the dual energy of the two higher groups of Pitris. Some thought of the unity of this threefold work has been given in the differentiation of the substance of any plane into:
3. Sự đáp ứng của chất liệu âm liên hệ và việc nắn nó thành hình tướng mong muốn qua năng lượng nhị phân của hai nhóm Pitri cao hơn. Một vài ý niệm về tính nhất thể của công việc tam phân này đã được gợi ra trong sự biến phân của chất liệu của bất kỳ cõi nào thành:
a. Atomic substance.
a. Chất liệu nguyên tử.
b. Molecular substance.
b. Chất liệu phân tử.
c. Elemental essence.
c. Tinh chất hành khí.
This differentiation is not entirely accurate, and a truer idea of the underlying concept might be conveyed if the word “energy” took the place of “substance and essence.” This third group of Pitris is really not correctly termed Pitris at all. The true lunar Pitris are those of the first and highest group, for they embody one aspect of the intelligent will of Brahma, or of God-in-substance. The third group are literally the lesser Builders, and are blind incoherent forces, subject to the energy emanating from the two higher groups. Occultly these three groups are divided into the following: [Page 783]
Sự biến phân này không hoàn toàn chính xác, và một ý niệm chân thực hơn về khái niệm nền tảng có thể được truyền đạt nếu từ “năng lượng” thay thế cho “chất liệu và tinh chất.” Nhóm Pitris thứ ba này thực ra hoàn toàn không được gọi đúng là Pitris. Các thái âm tổ phụ chân chính là những vị thuộc nhóm thứ nhất và cao nhất, vì các vị ấy thể hiện một phương diện của ý chí thông tuệ của Brahma, hay của Thượng đế-trong-chất liệu. Nhóm thứ ba theo nghĩa đen là các vị tiểu kiến tạo, và là những mãnh lực mù quáng, rời rạc, phục tùng năng lượng phát ra từ hai nhóm cao hơn. Một cách huyền bí, ba nhóm này được phân chia như sau: [Page 783]
a. The Pitris who see, but touch nor handle not.
a. Các Pitris thấy, nhưng không chạm cũng không cầm nắm.
b. The Pitris who touch but see not.
b. Các Pitris chạm nhưng không thấy.
c. The Pitris who hear but neither see nor touch.
c. Các Pitris nghe nhưng không thấy cũng không chạm.
As they all have the gift of occult hearing, they are characterised as the “Pitris with the open ear”; they work entirely under the influence of the egoic mantram. If these differentiations are studied a great deal may become apparent anent a very important group of deva workers. They are a group who only come into manifestation as a co-ordinated triplicity in the fourth round in order to provide vehicles for man; the reason for this lies hid in the karma of the seven Logoi, as They energise the fourth, fifth and sixth Hierarchies. In the earlier round in each scheme these three groups attain a certain stage of necessitated growth, and embody the highest evolution of the substance aspect. Only the highest and most perfected of the atoms of substance find their way into the vehicles of man,—those which have been the integral parts of the higher evolutionary forms.
Vì tất cả các vị ấy đều có thiên phú về thính giác huyền bí, nên các vị được đặc trưng là “các Pitris với tai mở”; các vị hoạt động hoàn toàn dưới ảnh hưởng của mantram chân ngã. Nếu các sự biến phân này được nghiên cứu, nhiều điều có thể trở nên hiển nhiên liên quan đến một nhóm rất quan trọng các thiên thần hoạt động. Họ là một nhóm chỉ đi vào biểu hiện như một bộ ba phối hợp trong cuộc tuần hoàn thứ tư để cung cấp các vận cụ cho con người; lý do của điều này ẩn kín trong nghiệp quả của bảy Các Thượng đế, khi Các Ngài tiếp sinh lực cho Huyền Giai thứ tư, thứ năm và thứ sáu. Trong cuộc tuần hoàn trước đó của mỗi hệ hành tinh, ba nhóm này đạt đến một giai đoạn tăng trưởng tất yếu nào đó, và thể hiện sự tiến hoá cao nhất của phương diện chất liệu. Chỉ những nguyên tử chất liệu cao nhất và hoàn thiện nhất mới tìm được đường đi vào các vận cụ của con người,—những nguyên tử đã là các phần cấu thành của các hình tướng tiến hoá cao hơn.
(g.) The Work of Form-building. This work of form-building proceeds under definite laws, which are the laws of substance itself; the effect is the same for human, planetary and solar vehicles. The different stages might be enumerated as follows: 1. The Nebulous. The stage wherein the matter of the coming sheath begins to separate itself gradually from the aggregate of plane substance, and to assume a nebulous or milky aspect. This corresponds to the “fire-mist” stage in the formation of a solar system and of a planet. The Pitris of the Mist are then active as one of the many subsidiary groups of the three major groups.
(g.) Công việc xây dựng hình tướng. Công việc xây dựng hình tướng này tiến hành theo những định luật xác định, là các định luật của chính chất liệu; hiệu quả là như nhau đối với các vận cụ nhân loại, hành tinh và thái dương. Các giai đoạn khác nhau có thể được liệt kê như sau: 1. Dạng tinh vân. Giai đoạn trong đó vật chất của thể sắp đến bắt đầu dần dần tách ra khỏi tổng thể chất liệu của cõi, và mang lấy một sắc thái tinh vân hay như sữa. Điều này tương ứng với giai đoạn “sương lửa” trong sự hình thành một hệ mặt trời và một hành tinh. Khi ấy các Pitris của Sương Mù hoạt động như một trong nhiều nhóm phụ thuộc của ba nhóm chính.