← A Treatise on Cosmic Fire

chapter 007 03

Trích nội dung chương

2. The Inchoate. Condensation has set in but all is as yet inchoate, and the condition is chaotic; there is no definite form. “The Pitris of the Chaos” hold sway, and are characterised by excessive energy, and violent activity, for the greater the condensation prior to co-ordination [Page 784] the more terrific are the effects of activity. This is true of Gods, of men, and of atoms. 2. Dạng sơ khởi. Sự ngưng tụ đã bắt đầu nhưng mọi sự vẫn còn sơ khởi, và trạng thái thì hỗn loạn; chưa có hình tướng xác định. “Các Pitris của Hỗn Mang” nắm quyền chi phối, và được đặc trưng bởi năng lượng quá mức cùng hoạt động mãnh liệt, vì sự ngưng tụ càng…


2. The Inchoate. Condensation has set in but all is as yet inchoate, and the condition is chaotic; there is no definite form. “The Pitris of the Chaos” hold sway, and are characterised by excessive energy, and violent activity, for the greater the condensation prior to co-ordination [Page 784] the more terrific are the effects of activity. This is true of Gods, of men, and of atoms.

2. Dạng sơ khởi. Sự ngưng tụ đã bắt đầu nhưng mọi sự vẫn còn sơ khởi, và trạng thái thì hỗn loạn; chưa có hình tướng xác định. “Các Pitris của Hỗn Mang” nắm quyền chi phối, và được đặc trưng bởi năng lượng quá mức cùng hoạt động mãnh liệt, vì sự ngưng tụ càng lớn trước khi phối hợp [Page 784] thì các hiệu quả của hoạt động càng khủng khiếp. Điều này đúng với các Thượng đế, với con người, và với các nguyên tử.

3. The Fiery. The internal energy of the rapidly congregating atoms and their effect upon each other produces an increase of heat, and a consequent demonstration of the spheroidal form, so that the vehicle of all entities is seen to be fundamentally a sphere, rolling upon itself and attracting and repulsing other spheres. “Pitris of the Fiery Spheres” add their labours to those of the earlier two and a very definite stage is reached. The lunar Pitris on every scheme, and throughout the system, are literally the active agents in the building of the dense physical body of the Logos; they energise the substance of the three planes in the three worlds, the mental, the astral and the dense physical planes of the system. This needs much pondering upon.

3. Dạng lửa. Năng lượng bên trong của các nguyên tử đang nhanh chóng tụ lại và tác động của chúng lên nhau tạo ra sự gia tăng nhiệt, và do đó biểu lộ hình cầu, đến nỗi vận cụ của mọi thực thể được thấy là về căn bản một khối cầu, tự lăn trên chính nó và hút đẩy các khối cầu khác. “Các Pitris của những Khối Cầu Lửa” thêm công lao của mình vào công lao của hai nhóm trước và một giai đoạn rất xác định được đạt tới. Các thái âm tổ phụ trong mọi hệ hành tinh, và khắp hệ thống, theo nghĩa đen là các tác nhân hoạt động trong việc xây dựng thể xác hồng trần đậm đặc của Thượng đế; các vị ấy tiếp sinh lực cho chất liệu của ba cõi trên ba cõi giới, tức cõi trí, cõi cảm dục và cõi hồng trần đậm đặc của hệ thống. Điều này cần được suy ngẫm rất nhiều.

4. The Watery. The ball or sphere of gaseous fiery essence becomes still more condensed and liquefied; it begins to solidify on its outer surface and the ring-pass-not of each sheath is more clearly defined. The heat of the sphere becomes increased and is centralised at the core or heart of the sphere where it produces that pulsation at the centre which characterises the sun, the planet, and the various vehicles of all incarnating entities. It is an analogous stage to that of the awakening of life in the foetus during the prenatal stage, and this analogy can be seen working out in the form-building which proceeds on every plane. This stage marks the co-ordination of the work of the two higher groups of lunar Pitris, and the “Pitris of the Dual Heat” are now intelligently co-operating. The heart and brain of the substance of the slowly evolving form are linked. The student will find it interesting to trace the analogy of this, the watery stage, to the place the astral plane holds in the planetary and systemic body, and the alliance between mind and heart which is hidden in the term “kama-manas.” One [Page 785] of the profoundest occult mysteries will be revealed to the consciousness of man when he has solved the secret of the building of his astral vehicle, and the forming of the link which exists between that sheath and the astral light in its totality on the astral plane.

4. Dạng nước. Khối cầu hay hình cầu của tinh chất khí lửa trở nên ngưng tụ hơn nữa và hoá lỏng; nó bắt đầu đông đặc trên bề mặt ngoài và vòng-giới-hạn của mỗi thể được xác định rõ ràng hơn. Nhiệt của khối cầu gia tăng và được tập trung tại lõi hay tim của khối cầu, nơi nó tạo ra sự rung động ở trung tâm, đặc trưng cho mặt trời, hành tinh, và các vận cụ khác nhau của mọi thực thể đang lâm phàm. Đây là một giai đoạn tương đồng với sự thức tỉnh của sự sống trong bào thai trong thời kỳ trước khi sinh, và sự tương đồng này có thể được thấy đang vận hành trong công việc xây dựng hình tướng diễn ra trên mọi cõi. Giai đoạn này đánh dấu sự phối hợp công việc của hai nhóm thái âm tổ phụ cao hơn, và “các Pitris của Nhiệt Kép” hiện đang hợp tác một cách thông tuệ. Tim và não của chất liệu của hình tướng đang chậm rãi tiến hoá được nối kết. Đạo sinh sẽ thấy thú vị khi truy nguyên sự tương đồng của giai đoạn nước này với vị trí mà cõi cảm dục giữ trong thể hành tinh và thể hệ thống, và với sự liên minh giữa trí tuệ và tim được ẩn giấu trong thuật ngữ “kama-manas.” Một [Page 785] trong những huyền nhiệm huyền bí sâu xa nhất sẽ được mặc khải cho tâm thức con người khi y giải được bí mật của việc xây dựng vận cụ cảm dục của mình, và sự hình thành mối liên kết tồn tại giữa thể ấy với ánh sáng cảm dục trong toàn thể của nó trên cõi cảm dục.

5. The Etheric. The stage is not to be confined to the building of the physical body in its etheric division, for its counterpart is found on all the planes with which man is concerned in the three worlds. The condensation and the solidification of the material has proceeded till now the three groups of Pitris form a unity in work. The rhythm set up has been established and the work synchronised. The lesser builders work systematically and the law of Karma is demonstrating actively, for it should be remembered that it is the inherent karma, colouring, or vibratory response of the substance itself which is the selective reaction to the egoic note. Only that substance which has (through past utilisation) been keyed to a certain note and vibration will respond to the mantram and to the subsequent vibrations issuing from the permanent atom. This stage is one of great importance, for it marks the vital circulation throughout the entire vehicle of a particular type of force. This can be clearly seen in relation to the etheric body which circulates the vital force or prana of the sun. A similar linking up with the force concerned is to be seen on the astral and the mental planes. “The Pitris of the Triple Heat” are now working synthetically, and the brain, the heart and the lower centres are co-ordinated. The lower and the higher are linked, and the channels are unimpeded so that the circulation of the triple energy is possible. This is true of the form building of all entities, macrocosmic and microcosmic. It is marked by the active co-operation of another group of Pitris, termed “The Pitris of Vitality” in connection with the others. Group after group co-operate, [Page 786] for the three main bodies are distributed among many lesser.

5. Dạng dĩ thái. Giai đoạn này không nên bị giới hạn vào việc xây dựng thể xác trong phân bộ dĩ thái của nó, vì đối phần của nó được tìm thấy trên mọi cõi mà con người có liên hệ trong ba cõi giới. Sự ngưng tụ và đông đặc của vật chất đã tiến triển đến mức giờ đây ba nhóm Pitris tạo thành một hợp nhất trong công việc. Nhịp điệu được thiết lập đã được xác lập và công việc được đồng bộ hoá. Các vị tiểu kiến tạo làm việc có hệ thống và định luật Nghiệp quả đang biểu lộ một cách hoạt động, vì cần nhớ rằng chính nghiệp quả cố hữu, sắc thái, hay đáp ứng rung động của bản thân chất liệu là phản ứng chọn lọc đối với âm điệu chân ngã. Chỉ chất liệu nào đã được điều chỉnh theo một âm điệu và rung động nhất định (qua việc sử dụng trong quá khứ) mới đáp ứng với mantram và với các rung động tiếp theo phát ra từ nguyên tử trường tồn. Giai đoạn này có tầm quan trọng lớn, vì nó đánh dấu sự tuần hoàn sinh lực xuyên suốt toàn bộ vận cụ của một loại mãnh lực đặc thù. Điều này có thể được thấy rõ trong liên hệ với thể dĩ thái, vốn tuần hoàn mãnh lực sinh lực hay prana của mặt trời. Một sự nối kết tương tự với mãnh lực liên hệ cũng có thể được thấy trên cõi cảm dục và cõi trí. “Các Pitris của Tam Nhiệt” hiện đang làm việc một cách tổng hợp, và não, tim cùng các trung tâm thấp được phối hợp. Cái thấp và cái cao được nối kết, và các kênh dẫn không bị cản trở để sự tuần hoàn của năng lượng tam phân trở nên khả hữu. Điều này đúng với việc xây dựng hình tướng của mọi thực thể, đại thiên địa cũng như tiểu thiên địa. Nó được đánh dấu bởi sự hợp tác hoạt động của một nhóm Pitris khác, được gọi là “Các Pitris của Sinh lực” trong liên hệ với các nhóm kia. Hết nhóm này đến nhóm khác cùng hợp tác, [Page 786] vì ba thể chính được phân bố trong nhiều thể nhỏ hơn.

6. The Solid. This marks the final stage in actual form building, and signifies the moment wherein the work is done as regards the aggregating and shaping of substance. The greater part of the work of the lunar Pitris stands now accomplished. The word “solid” refers not solely to the lowest objective manifestation, for a solid form may be ethereal, and only the stage of evolution of the entity involved will reveal its relative significance.

6. Dạng rắn. Điều này đánh dấu giai đoạn cuối cùng trong việc xây dựng hình tướng thực sự, và biểu thị thời điểm công việc đã hoàn tất xét về sự tập hợp và định hình chất liệu. Phần lớn công việc của các thái âm tổ phụ giờ đây đã hoàn thành. Từ “rắn” không chỉ nói đến biểu hiện khách quan thấp nhất, vì một hình tướng rắn có thể là dĩ thái, và chỉ giai đoạn tiến hoá của thực thể liên hệ mới bộc lộ ý nghĩa tương đối của nó.

All that has been here laid down as to the progressive stages of form construction on every plane is true of all forms in all systems and schemes, and is true of all thought-form building. Man is constructing thoughtforms all the time, and is following unconsciously the same method as his Ego pursues in building his bodies, as the Logos follows in building His system, and as a planetary Logos uses in constructing His scheme.

Tất cả những gì đã được trình bày ở đây về các giai đoạn tiến triển của việc kiến tạo hình tướng trên mọi cõi đều đúng với mọi hình tướng trong mọi hệ thống và hệ hành tinh, và cũng đúng với mọi sự xây dựng hình tư tưởng. Con người luôn luôn kiến tạo các hình tư tưởng, và đang vô thức đi theo cùng một phương pháp mà Chân ngã của y theo đuổi khi xây dựng các thể của y, cũng như Thượng đế theo đuổi khi xây dựng hệ thống của Ngài, và như một Hành Tinh Thượng Đế sử dụng khi kiến tạo hệ hành tinh của Ngài.

A man speaks, and a very diversified mantram is the result. The energy thus generated swings into activity a multitude of little lives which proceed to build a form for his thought; they pursue analogous stages to those just outlined. At this time, man sets up these mantric vibrations unconsciously, and in ignorance of the laws of sound and of their effect. The occult work that he is carrying on is thus unknown to him. Later he will speak less, know more, and construct more accurate forms, which will produce powerful effects on physical levels. Thus eventually in distant cycles will the world be “saved,” and not just a unit here and there.

Một người nói ra, và kết quả là một mantram rất đa dạng. Năng lượng được tạo ra như thế làm cho vô số sự sống nhỏ bé hoạt động, rồi chúng tiến hành xây dựng một hình tướng cho tư tưởng của y; chúng theo đuổi những giai đoạn tương tự như vừa được phác hoạ. Hiện nay, con người thiết lập các rung động mantram này một cách vô thức, và trong sự không biết các định luật của âm thanh cùng hiệu quả của chúng. Vì vậy công việc huyền bí mà y đang tiến hành là điều y không biết. Về sau y sẽ nói ít hơn, biết nhiều hơn, và kiến tạo những hình tướng chính xác hơn, những hình tướng sẽ tạo ra các hiệu quả mạnh mẽ trên các cấp độ hồng trần. Như thế cuối cùng trong các chu kỳ xa xôi thế giới sẽ được “cứu rỗi,” chứ không chỉ một đơn vị ở đây hay ở kia.

In connection with this building of man’s sheaths certain interesting points of manifestation occur which might be dealt with now, leaving the student to work out the correspondences in relation to the system and the planet, and giving only general indications which may be of use to him in his conclusions.

Liên quan đến việc xây dựng các thể của con người, có một số điểm biểu hiện thú vị xuất hiện mà giờ đây có thể bàn đến, để cho đạo sinh tự tìm ra các tương ứng trong liên hệ với hệ thống và hành tinh, và chỉ đưa ra những chỉ dẫn tổng quát có thể hữu ích cho y trong các kết luận của mình.

[Page 787] In all the work of form-building, certain very vital occasions occur which concern the Ego even more than the sheaths themselves, though the reflex action between the lower personal self and the higher is so close as to be well nigh inseparable.

[Page 787] Trong mọi công việc xây dựng hình tướng, có những thời điểm rất trọng yếu xảy ra, liên quan đến Chân ngã thậm chí còn nhiều hơn đến chính các thể, mặc dù phản ứng ngược giữa bản ngã cá nhân thấp và cái cao thì gần gũi đến mức hầu như không thể tách rời.

The moment wherein the Ego appropriates the sheath. This takes place only after the fourth spirilla is beginning to vibrate, and the period differs according to the power of the ego over the lower self. In connection with the dense physical vehicle, an analogy can be seen when the Ego ceases from his work of overshadowing, and at some period between the fourth and seventh year makes his contact with the physical brain of the child. A similar occurrence takes place in connection with the etheric vehicle, the astral, and the mental.

Thời điểm Chân ngã chiếm hữu thể. Điều này chỉ diễn ra sau khi loa tuyến thứ tư bắt đầu rung động, và thời kỳ này khác nhau tuỳ theo quyền năng của chân ngã đối với phàm ngã. Liên quan đến vận cụ hồng trần đậm đặc, có thể thấy một sự tương đồng khi Chân ngã ngừng công việc phủ bóng của mình, và vào một thời điểm nào đó giữa năm thứ tư và năm thứ bảy tạo tiếp xúc với bộ não hồng trần của đứa trẻ. Một sự kiện tương tự diễn ra liên quan đến vận cụ dĩ thái, cảm dục và trí tuệ.

The moment wherein the energy of the Ego is transmitted from one sheath to a lower one. It is often overlooked that the path of incarnation is not a quick one, but that the Ego descends very slowly and takes possession gradually of his vehicles; the less evolved the man, the slower is the process. We are dealing here with the period of time which transpires after the Ego has made the first move towards descent, and not with the time which elapses between two incarnations. This work of passing on to a plane for purposes of incarnation marks a definite crisis, and is characterised by the exertion of the will in sacrifice, the appropriation of the substance in love, and its energising into activity.

Thời điểm năng lượng của Chân ngã được truyền từ một thể xuống một thể thấp hơn. Người ta thường bỏ qua rằng con đường nhập thể không phải là một con đường nhanh chóng, mà Chân ngã giáng xuống rất chậm và dần dần chiếm hữu các vận cụ của mình; con người càng kém tiến hoá thì tiến trình càng chậm. Ở đây chúng ta đang bàn đến khoảng thời gian trôi qua sau khi Chân ngã đã thực hiện chuyển động đầu tiên hướng xuống, chứ không phải thời gian trôi qua giữa hai lần nhập thể. Công việc đi xuống một cõi vì mục đích nhập thể này đánh dấu một cuộc khủng hoảng xác định, và được đặc trưng bởi sự vận dụng ý chí trong hi sinh, sự chiếm hữu chất liệu trong bác ái, và sự tiếp sinh lực cho nó đi vào hoạt động.

The moment wherein the particular type of force with which any particular sheath is energised is appropriated. This brings the sheath concerned:

Thời điểm loại mãnh lực đặc thù mà bất kỳ thể nào được tiếp sinh lực bởi nó được chiếm hữu. Điều này đưa thể liên hệ:

a. Under the influence of the egoic ray,

a. Dưới ảnh hưởng của cung chân ngã,

b. Under the influence of a particular subray of the egoic ray,

b. Dưới ảnh hưởng của một cung phụ đặc thù của cung chân ngã,

c. And through that influence,— [Page 788]

c. Và qua ảnh hưởng đó,— [Page 788]

Under certain astrological influences,

Dưới những ảnh hưởng chiêm tinh nhất định,

Under certain planetary radiations,

Dưới những bức xạ hành tinh nhất định,

Under the influences of certain force currents, emanating from certain constellations.

Dưới ảnh hưởng của những dòng mãnh lực nhất định, phát ra từ những chòm sao nhất định.

These three events have a very interesting analogy in connection with the work of the Logos in the construction of His physical body, the solar system, and also in certain correspondences which can be seen embodied in facts dealt with at the first three Initiations.

Ba biến cố này có một sự tương đồng rất thú vị liên quan đến công việc của Thượng đế trong việc kiến tạo thể xác của Ngài, tức hệ mặt trời, và cả trong một số tương ứng có thể được thấy thể hiện trong các sự kiện được bàn đến ở ba lần điểm đạo đầu tiên.

From the standpoint of the lower self, the two most vital moments in the work of the reincarnating Ego, are those in which the mental unit is re-energised into cyclic activity, and in which the etheric body is vitalised. It concerns that which links the centre at the base of the spine with a certain point within the physical brain via the spleen. This is dealing purely with the physiological key.

Từ quan điểm của phàm ngã, hai thời điểm trọng yếu nhất trong công việc của Chân ngã tái sinh là những thời điểm trong đó đơn vị hạ trí được tiếp sinh lực trở lại vào hoạt động chu kỳ, và trong đó thể dĩ thái được tiếp sinh lực. Điều này liên quan đến cái nối kết trung tâm ở đáy cột sống với một điểm nào đó trong bộ não hồng trần qua luân xa lá lách. Điều này chỉ bàn đến chìa khoá sinh lý học thuần tuý.

We might now touch upon a very interesting point concerning the dense physical body, dealing therefore with that which is not considered a principle either in the macrocosm or the microcosm. As we know, man is essentially mental man, and astral man; then the two take to themselves an etheric sheath for purposes of objective work. That is the true lower man, these two in the etheric body. But later—in order to know even on the lowest plane of all—man takes to himself a coat of skin, as the Bible expresses it, and puts on (over his etheric body) that outer illusory form we know so well. It is his lowest point of objectivity and his direct “imprisoning.” This appropriation of a dense sheath by the Ego is subject to a very peculiar piece of karma connected with the four Kumaras, or Heavenly Men, Who form the logoic Quaternary. In the schemes which concern the logoic Triad (or those of the three major Rays or Heavenly Men) dense physical incarnation is not the appointed [Page 789] lot, and man functions in his lowest manifestation in etheric matter.

Giờ đây chúng ta có thể đề cập đến một điểm rất thú vị liên quan đến thể xác hồng trần đậm đặc, do đó bàn đến cái không được xem là một nguyên khí trong đại thiên địa hay tiểu thiên địa. Như chúng ta biết, con người về bản chất là con người trí tuệ, và con người cảm dục; rồi cả hai khoác lấy cho mình một thể dĩ thái vì mục đích hoạt động khách quan. Đó là phàm nhân thấp thực sự, hai thể ấy trong thể dĩ thái. Nhưng về sau—để biết ngay cả trên cõi thấp nhất—con người khoác cho mình một áo da, như Kinh Thánh diễn tả, và mặc vào (bên ngoài thể dĩ thái của mình) hình tướng ảo tưởng bên ngoài mà chúng ta quá quen thuộc. Đó là điểm thấp nhất của y về tính khách quan và là sự “giam hãm” trực tiếp của y. Việc Chân ngã chiếm hữu một thể đậm đặc chịu sự chi phối của một phần nghiệp quả rất đặc thù liên hệ với bốn Kumaras, hay các Đấng Thiên Nhân, là những Đấng tạo thành Bộ Tứ của Thượng đế. Trong các hệ hành tinh liên hệ đến Tam nguyên tinh thần của Thượng đế (hay những hệ của ba Cung chính hoặc các Đấng Thiên Nhân), sự nhập thể hồng trần đậm đặc không phải là số phận đã được chỉ định [Page 789], và con người hoạt động trong biểu hiện thấp nhất của mình bằng vật chất dĩ thái.

This appropriation of the lowest body is distinguished in several ways from the approach to the other sheaths. For one thing, there is no permanent atom to be vitalised. The physical plane is a complete reflection of the mental; the lowest three subplanes reflect the abstract subplanes and the four etheric subplanes reflect the four mental concrete planes. The manifestation of the Ego on the mental plane (or the causal body) is not the result of energy emanating from the permanent atoms as a nucleus of force but is the result of different forces, and primarily of group force. It is predominantly marked by an act of an exterior force, and is lost in the mysteries of planetary karma. This is equally true of man’s lowest manifestations. It is the result of reflex action, and is based on the force of the group of etheric centres through which man (as an aggregate of lives) is functioning. The activity of these centres sets up an answering vibration in the three lowest subplanes of the physical plane, and the interaction between the two causes an adherence to, or aggregation around, the etheric body of particles of what we erroneously term “dense substance.” This type of energised substance is swept up in the vortex of force currents issuing from the centres and cannot escape. These units of force, therefore, pile up according to the energy direction around and within the etheric sheath till it is hidden and concealed, yet interpenetrating. An inexorable law, the law of matter itself, brings this about, and only those can escape the effect of the vitality of their own centres who are definitely “Lords of Yoga” and can—through the conscious will of their own being—escape the compelling force of the Law of Attraction working on the lowest cosmic physical subplane.

Việc chiếm hữu thể thấp nhất này được phân biệt theo nhiều cách với sự tiếp cận các thể khác. Trước hết, không có nguyên tử trường tồn nào để được tiếp sinh lực. Cõi hồng trần là một phản ánh hoàn toàn của cõi trí; ba cõi phụ thấp nhất phản ánh các cõi phụ trừu tượng và bốn cõi phụ dĩ thái phản ánh bốn cõi trí cụ thể. Sự biểu hiện của Chân ngã trên cõi trí (hay thể nguyên nhân) không phải là kết quả của năng lượng phát ra từ các nguyên tử trường tồn như một hạt nhân mãnh lực mà là kết quả của những mãnh lực khác, và chủ yếu là mãnh lực nhóm. Nó nổi bật được đánh dấu bởi một hành động của một mãnh lực bên ngoài, và bị mất hút trong các huyền nhiệm của nghiệp quả hành tinh. Điều này cũng đúng như vậy đối với các biểu hiện thấp nhất của con người. Nó là kết quả của phản ứng ngược, và dựa trên mãnh lực của nhóm các trung tâm dĩ thái mà qua đó con người (như một tổng thể các sự sống) đang hoạt động. Hoạt động của các trung tâm này thiết lập một rung động đáp ứng trong ba cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần, và sự tương tác giữa hai bên gây ra sự bám dính vào, hay sự tụ tập quanh, thể dĩ thái của các hạt của cái mà chúng ta gọi sai là “chất liệu đậm đặc.” Loại chất liệu được tiếp sinh lực này bị cuốn vào trong xoáy của các dòng mãnh lực phát ra từ các trung tâm và không thể thoát ra. Vì vậy các đơn vị mãnh lực này chất đống lên theo hướng năng lượng quanh và trong thể dĩ thái cho đến khi nó bị che khuất và ẩn kín, tuy vẫn xuyên thấu. Một định luật không thể cưỡng lại, định luật của chính vật chất, tạo ra điều này, và chỉ những ai rõ ràng là “Chúa Tể của Yoga” mới có thể thoát khỏi hiệu quả của sinh lực từ chính các trung tâm của mình, và có thể—qua ý chí hữu thức của chính bản thể mình—thoát khỏi mãnh lực cưỡng bách của Định luật Hấp Dẫn đang hoạt động trên cõi phụ hồng trần vũ trụ thấp nhất.

An interesting analogy (accurate on general lines [Page 790] though in detail not so apparent) exists between the building of the antaskarana on mental levels between the mental unit and the manasic permanent atom (whereby the Path of Liberation is travelled, and man set free) and the opening up of the channel between the centre at the base of the spine and the brain and thence to the head centre. Through this latter channel man escapes out of the dense physical body, and continuity of consciousness (between the astral and the physical planes) is reached. In the one case, through right direction of force, the etheric web no longer forms a barrier; it is destroyed and the man is fully conscious in the physical brain of what transpires on the astral plane. In the other case, the causal body also is eventually destroyed through the right direction of force. We will not here take up the specific work of building upon the scaffolding of the etheric body the dense physical form. It has been sufficiently dealt with in other books. We will only want to touch upon two more points which are of interest in this consideration of the work of the lunar Pitris in building man’s body.

Có một sự tương đồng thú vị (chính xác trên những nét tổng quát [Page 790] dù trong chi tiết thì không rõ ràng bằng) giữa việc xây dựng antaskarana trên các cấp độ trí tuệ giữa đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas (nhờ đó Con Đường Giải Thoát được đi qua, và con người được giải thoát) và sự khai mở kênh dẫn giữa trung tâm ở đáy cột sống với bộ não rồi từ đó đến trung tâm đầu. Qua kênh sau này con người thoát ra khỏi thể xác hồng trần đậm đặc, và đạt được sự liên tục của tâm thức (giữa cõi cảm dục và cõi hồng trần). Trong trường hợp thứ nhất, nhờ sự định hướng đúng đắn của mãnh lực, màng lưới dĩ thái không còn tạo thành một rào cản; nó bị phá huỷ và con người hoàn toàn hữu thức trong bộ não hồng trần về những gì diễn ra trên cõi cảm dục. Trong trường hợp kia, thể nguyên nhân cuối cùng cũng bị phá huỷ nhờ sự định hướng đúng đắn của mãnh lực. Ở đây chúng ta sẽ không bàn đến công việc đặc thù là xây dựng trên bộ khung của thể dĩ thái hình tướng hồng trần đậm đặc. Điều đó đã được bàn đủ trong các sách khác. Chúng ta chỉ muốn đề cập đến thêm hai điểm nữa có ý nghĩa trong sự xem xét này về công việc của các thái âm tổ phụ trong việc xây dựng thân thể của con người.

In connection with the building of the dense body, it should be stated that it appears as a human form, much in the nature of a cross within the ovoid of the other spheres. It is notably of a fivefold nature:

Liên quan đến việc xây dựng thể đậm đặc, cần nói rằng nó xuất hiện như một hình người, gần như một thập giá bên trong hình trứng của các khối cầu khác. Nó rõ rệt có bản chất ngũ phân:

Head.

Đầu.

Two Arms.

Hai cánh tay.

Two Legs.

Hai chân.

According to the position assumed by the man, he is seen as a symbol of the cross and is then fourfold (the two legs being considered as one lower limb) or, if separated, as fivefold, and has been then considered as the symbol of the five-pointed star. This fivefold nature of the dense physical body is brought about through the fact that only five centres primarily are really active in average man [Page 791] up to the third Initiation; all are there, and all are vitalised, but only five in this fivefold normal evolution are dominant. The force emanating from these five, therefore, sweeps the dense substance into a close aggregation. As two of the centres are not functioning as actively as the other five, an ovoid is not formed as in the case of the etheric, astral and mental sheaths. The fivefold shape of physical man is the result of the fivefold direction of force currents from five centres.

Tuỳ theo tư thế mà con người đảm nhận, y được thấy như một biểu tượng của thập giá và khi ấy là tứ phân (hai chân được xem như một chi dưới) hoặc, nếu tách ra, là ngũ phân, và khi ấy đã được xem là biểu tượng của ngôi sao năm cánh. Bản chất ngũ phân này của thể xác hồng trần đậm đặc được tạo ra do sự kiện rằng thực ra chỉ có năm trung tâm chủ yếu là hoạt động ở con người trung bình [Page 791] cho đến lần điểm đạo thứ ba; tất cả đều hiện diện, và tất cả đều được tiếp sinh lực, nhưng chỉ có năm trung tâm trong sự tiến hoá bình thường ngũ phân này là trội hơn. Vì vậy mãnh lực phát ra từ năm trung tâm này cuốn chất liệu đậm đặc vào một sự kết tụ chặt chẽ. Vì hai trung tâm không hoạt động mạnh bằng năm trung tâm kia, nên không hình thành một hình trứng như trong trường hợp của các thể dĩ thái, cảm dục và trí tuệ. Hình dạng ngũ phân của con người hồng trần là kết quả của sự định hướng ngũ phân của các dòng mãnh lực từ năm trung tâm.

It might be interesting also to point out that the interaction of the energy of the solar Pitris and of the lunar Pitris produces a very definite effect upon the lower group of lunar Pitris, and is one of the means whereby they will eventually reach the stage at which the solar Pitris are. This (if fully realised by man) will bring him to a very careful control of his sheaths, and to a close attention to the direction in which his force or energy is turned. He is responsible for the work of aiding in the evolution of substance, being himself a manasaputra.

Có lẽ cũng thú vị khi chỉ ra rằng sự tương tác giữa năng lượng của các thái dương tổ phụ và các thái âm tổ phụ tạo ra một hiệu quả rất xác định lên nhóm thấp hơn của các thái âm tổ phụ, và là một trong những phương tiện nhờ đó cuối cùng họ sẽ đạt đến giai đoạn mà các thái dương tổ phụ đang ở. Điều này (nếu được con người chứng nghiệm đầy đủ) sẽ đưa y đến sự kiểm soát rất cẩn trọng các thể của mình, và đến sự chú ý chặt chẽ đối với hướng mà mãnh lực hay năng lượng của y được chuyển về. Y chịu trách nhiệm về công việc trợ giúp trong sự tiến hoá của chất liệu, vì chính y là một manasaputra.

(h.) Incarnation and Karma. In resuming our consideration of the process pursued by the reincarnating Ego, it is necessary to point out that the entire subject radically concerns energy, and that according to the place in evolution of the unit of force involved, so will the length of time required for the process be brief, or the reverse. In the early stages, the initiatory impulse is heavy and slow, and the matter required for the sheaths is of a correspondingly “low” grade, that is, it is of low vibratory capacity, and the time elapsing between the first vibration outwards on the mental plane, and the coordination of the dense physical body is a long one. Later on, the vibration becomes more powerful and the effects therefore are more rapidly felt. At the close of evolution, when the human unit is upon the Path and consciously controlling his destiny, and working off [Page 792] karma, the intervals intervening between two incarnations are brief or not as the man may choose in the interests of the work to be done, and according to his intention to achieve liberation from form. It must also be remembered that as the evolutionary process proceeds, the egoic activity calls out response not only from substance in the three worlds, but also from the formless levels of the system. The response will be felt finally on monadic levels. Then, after a moment of equilibrium, the effect of the rhythm is felt entirely on the higher planes, and leaves the lower.

(h.) Nhập thể và Nghiệp quả. Khi tiếp tục lại việc xem xét tiến trình mà Chân ngã tái sinh theo đuổi, cần phải chỉ ra rằng toàn bộ chủ đề này về căn bản liên quan đến năng lượng, và tuỳ theo vị trí trong tiến hoá của đơn vị mãnh lực liên hệ mà khoảng thời gian cần cho tiến trình sẽ ngắn hay ngược lại. Trong các giai đoạn đầu, xung lực khởi đầu nặng nề và chậm chạp, và vật chất cần cho các thể có phẩm cấp “thấp” tương ứng, nghĩa là có khả năng rung động thấp, và thời gian trôi qua giữa rung động đầu tiên hướng ra ngoài trên cõi trí và sự phối hợp của thể xác hồng trần đậm đặc là một khoảng dài. Về sau, rung động trở nên mạnh hơn và do đó các hiệu quả được cảm nhận nhanh hơn. Vào cuối tiến hoá, khi đơn vị nhân loại ở trên Con Đường và hữu thức kiểm soát số phận của mình, đồng thời đang giải trừ [Page 792] nghiệp quả, thì các khoảng cách xen giữa hai lần nhập thể là ngắn hay không là tuỳ con người có thể chọn theo lợi ích của công việc cần làm, và theo ý định của y nhằm đạt được giải thoát khỏi hình tướng. Cũng phải nhớ rằng khi tiến trình tiến hoá tiếp diễn, hoạt động chân ngã khơi dậy đáp ứng không chỉ từ chất liệu trong ba cõi giới, mà còn từ các cấp độ vô tướng của hệ thống. Cuối cùng đáp ứng sẽ được cảm nhận trên các cấp độ chân thần. Rồi, sau một khoảnh khắc quân bình, hiệu quả của nhịp điệu được cảm nhận hoàn toàn trên các cõi cao hơn, và rời bỏ các cõi thấp.

The word “moment” is used here in its occult significance to specify a period of time, and must be considered as a period relative to a day or year of Brahma. One of the secrets of initiation is concerned with the apprehension of cycles, and with their duration, and the following terms have to be appreciated, their duration recognised, and their antithesis (an intervening pralaya) duly considered before a man is considered a true occultist.

Từ “khoảnh khắc” được dùng ở đây theo ý nghĩa huyền bí của nó để chỉ một khoảng thời gian, và phải được xem là một khoảng tương đối so với một ngày hay một năm của Brahma. Một trong những bí mật của điểm đạo liên quan đến sự lĩnh hội các chu kỳ, và thời lượng của chúng, và các thuật ngữ sau đây phải được thấu hiểu, thời lượng của chúng phải được nhận biết, và phản đề của chúng (một giai kỳ qui nguyên xen giữa) phải được cân nhắc đúng mức trước khi một người được xem là một nhà huyền bí học chân chính.

a.

100 years of Brahma

An occult century. The period of a solar system.

b.

One year of Brahma

The period of seven chains, where the seven planetary schemes are concerned.

c.

One week of Brahma

The period of seven rounds in one scheme. It has a chain significance.

d.

One day of Brahma

The occult period of a round.

e.

One hour of Brahma

Concerns interchain affairs.

f.

One Brahmic minute

Concerns the planetary centres, and therefore egoic groups.

g.

One Brahmic moment

Concerns an egoic group, and its relation to the whole.

These are the greater periods of time, and when their significance is comprehended, much that is now obscure [Page 793] will be revealed. As yet, it is only to initiates that the true figures are given, the figures in the Secret Doctrine, such as the 100 years of Brahma, strike the general average but it must be ever remembered that in considering the figures where a scheme, for instance, is concerned, much latitude has to be allowed for individual planetary karma, and idiosyncrasy.

Đây là những khoảng thời gian lớn hơn, và khi ý nghĩa của chúng được thấu hiểu, nhiều điều hiện còn mờ tối [Page 793] sẽ được mặc khải. Hiện nay, chỉ các điểm đạo đồ mới được trao cho các con số chân thực; các con số trong Giáo Lý Bí Nhiệm, chẳng hạn như 100 năm của Brahma, chỉ nêu ra mức trung bình tổng quát nhưng phải luôn nhớ rằng khi xem xét các con số ở nơi chẳng hạn một hệ hành tinh có liên hệ, phải dành một biên độ rộng cho nghiệp quả hành tinh cá biệt và đặc tính riêng.

The following points are worthy of consideration when upon this subject, and deal with some interesting factors.

Những điểm sau đây đáng được xem xét khi bàn về chủ đề này, và liên quan đến một số yếu tố thú vị.

All the planetary Rishis are not equally “long-lived,” in the occult sense of the term, and the seven planetary Logoi of the seven sacred planets are at different stages of evolution; Their vibratory response, therefore, differs, producing varying effects in time.

Không phải tất cả các Rishis hành tinh đều “trường thọ” như nhau, theo ý nghĩa huyền bí của thuật ngữ này, và bảy Hành Tinh Thượng Đế của bảy hành tinh thiêng liêng đang ở những giai đoạn tiến hoá khác nhau; vì vậy đáp ứng rung động của Các Ngài khác nhau, tạo ra những hiệu quả khác nhau trong thời gian.

The three major planetary schemes (Uranus, Neptune, and Saturn) have not, as yet, received their fullest stimulation, and will not do so until the “energy of the sacred seven” has been transferred to Them. Figures, therefore, as regards their duration and persistence are not in order.

Ba hệ hành tinh chính (Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương, và Sao Thổ) cho đến nay vẫn chưa nhận được sự kích thích đầy đủ nhất của mình, và sẽ chưa nhận được cho đến khi “năng lượng của bảy hành tinh thiêng liêng” được chuyển dịch sang Các Ngài. Vì vậy các con số liên quan đến thời lượng và sự kéo dài của các hệ ấy là chưa thích hợp.

The figures for the planets concerned with the “inner round” differ as to length of time but not as to space location from those of other planets.

Các con số dành cho những hành tinh liên hệ đến “cuộc tuần hoàn nội tại” khác nhau về độ dài thời gian nhưng không khác về vị trí không gian so với các hành tinh khác.

The true figures in connection with any planetary scheme and its occult activity are not ascertainable by the man who cannot be trusted with the significance of the other planetary bodies (of great number) within the solar ring-pass-not. The entire solar sphere is full of such bodies, characterised by the same features as are the seven and the ten, and each of them in some degree has an effect upon the whole. Figures, therefore, cannot be considered as final until the effect of the lesser planetary bodies upon their immediate neighbours is known, and the extent of their planetary radiation has been gauged. There are more than 115 of such bodies to be reckoned with, and all are at varying stages of vibratory [Page 794] impulse. They have definite orbits, they turn upon their axis, they draw their “life” and substance from the sun, but owing to their relative insignificance, they have not yet been considered factors of moment. This attitude of mind will change when etheric vision is a fact, and the reality of the existence of an etheric double of all that is in manifestation will be recognised by scientists. This fact will be demonstrated towards the close of the century, and, during the early part of the next century a revolution in astronomical circles will occur which will result in the study of the “etheric planets.” As these bodies are organs of energy, permeating the dense form, the study of the interaction of solar energy, and the occult “give and take” of planetary bodies will assume a new significance. Certain planetary bodies (both greater and lesser) are “absorbers,” others are “radiators,” while some are in the stage of demonstrating a dual activity, and are being “transmuted.” All these circumstances require to be considered by the initiate who is dealing with cycles.

Các con số chân thực liên quan đến bất kỳ hệ hành tinh nào và hoạt động huyền bí của nó không thể được xác định bởi người không thể được tin cậy để nắm giữ ý nghĩa của các thiên thể hành tinh khác (với số lượng lớn) bên trong vòng-giới-hạn thái dương. Toàn bộ khối cầu thái dương đầy những thiên thể như thế, được đặc trưng bởi cùng những nét như bảy và mười thiên thể, và mỗi thiên thể trong một mức độ nào đó đều có ảnh hưởng lên toàn thể. Vì vậy các con số không thể được xem là chung quyết cho đến khi ảnh hưởng của các thiên thể hành tinh nhỏ hơn lên các láng giềng gần nhất của chúng được biết đến, và mức độ bức xạ hành tinh của chúng được đo lường. Có hơn 115 thiên thể như thế phải được tính đến, và tất cả đều ở những giai đoạn khác nhau của xung lực rung động [Page 794]. Chúng có những quỹ đạo xác định, chúng quay trên trục của mình, chúng rút “sự sống” và chất liệu của mình từ mặt trời, nhưng do tính không đáng kể tương đối của chúng, chúng chưa được xem là những yếu tố quan trọng. Thái độ tư duy này sẽ thay đổi khi linh thị dĩ thái trở thành một thực tại, và thực tại về sự tồn tại của một bản sao dĩ thái của mọi thứ đang biểu hiện được các nhà khoa học công nhận. Sự kiện này sẽ được chứng minh vào cuối thế kỷ, và trong phần đầu của thế kỷ tiếp theo sẽ xảy ra một cuộc cách mạng trong giới thiên văn học, dẫn đến việc nghiên cứu các “hành tinh dĩ thái.” Vì các thiên thể này là những cơ quan năng lượng, thấm nhập hình tướng đậm đặc, nên việc nghiên cứu sự tương tác của năng lượng thái dương, và sự “cho và nhận” huyền bí của các thiên thể hành tinh sẽ mang một ý nghĩa mới. Một số thiên thể hành tinh (cả lớn lẫn nhỏ) là những “bộ hấp thụ,” những thiên thể khác là những “bộ bức xạ,” trong khi một số đang ở giai đoạn biểu lộ một hoạt động kép, và đang được “chuyển hoá.” Tất cả những hoàn cảnh này cần phải được điểm đạo đồ cân nhắc khi bàn đến các chu kỳ.

Figures also must be computed when the effect upon the planets of what are called “asteroids” is known. This is much greater than exoteric science has so far admitted, but the significance of this must eventually be interpreted in terms of energy and on etheric levels.

Các con số cũng phải được tính toán khi ảnh hưởng lên các hành tinh của những gì được gọi là “các tiểu hành tinh” được biết đến. Ảnh hưởng này lớn hơn nhiều so với khoa học ngoại môn cho đến nay đã thừa nhận, nhưng ý nghĩa của điều này cuối cùng phải được diễn giải theo các thuật ngữ của năng lượng và trên các cấp độ dĩ thái.

Another factor in computation which must also be considered is the effect of the various moons upon any planetary scheme, and the true meaning of the eighth sphere in connection with dense substance. Every moon is occultly a “point of corruption,” or that which is passing off in noxious gases. The transmutation of the form has been proceeded with in their case to a point where all that represents vital energy has left, all solar life has passed off, no remnants of pranic energy remain, and that which is to be seen is simply the decay of the physical body,—a decay which is proceeding on etheric levels as well as [Page 795] on physical. The decay of a moon has as great an evil effect upon all that contacts it as a decaying body on earth has upon its surroundings. It is occultly “offensive.” This will be more truly apprehended when the etheric double of our moon is studied. As the moon becomes small through the process of disintegration, its effect upon the Earth will be correspondingly lessened, and this stage will be paralleled by a consequent greater freedom from evil impulse of the sons of men. Better conditions among the animals will be another result above all else, and the dying out of that which is noxious in the animal kingdom. By the time the seventh round is reached, the evil effect of the then moon (which will have to all intents and purposes practically disappeared) will be finished. During the fifth round, men will discover how to neutralise any remaining effects through scientific achievement and knowledge of the necessary sounds and mantrams, and thus much evil will be offset. The etheric moon is included in these remarks. The greatest effect of moon conditions is to be seen working out predominantly in the terror, and present distress in the animal kingdom. (Bible. Romans, 8:22.)

Một yếu tố khác trong việc tính toán cũng phải được cân nhắc là ảnh hưởng của các mặt trăng khác nhau lên bất kỳ hệ hành tinh nào, và ý nghĩa chân thực của khối cầu thứ tám liên hệ với chất liệu đậm đặc. Mọi mặt trăng theo huyền bí học đều là một “điểm hư hoại,” hay cái đang thoát ra trong những khí độc. Sự chuyển hoá của hình tướng trong trường hợp của chúng đã tiến đến một điểm mà mọi thứ đại diện cho năng lượng sinh lực đã rời đi, mọi sự sống thái dương đã tiêu tán, không còn tàn dư năng lượng prana nào, và cái có thể được thấy chỉ đơn giản là sự phân rã của thể xác,—một sự phân rã đang diễn ra trên các cấp độ dĩ thái cũng như [Page 795] trên cấp độ hồng trần. Sự phân rã của một mặt trăng có ảnh hưởng xấu lớn lên mọi thứ tiếp xúc với nó cũng như một xác thể đang phân huỷ trên trái đất có ảnh hưởng lên môi trường xung quanh. Theo huyền bí học, nó là “điều gây ô uế.” Điều này sẽ được lĩnh hội chân thực hơn khi bản sao dĩ thái của mặt trăng chúng ta được nghiên cứu. Khi mặt trăng trở nên nhỏ đi qua tiến trình tan rã, ảnh hưởng của nó lên Trái Đất sẽ giảm đi tương ứng, và giai đoạn này sẽ song hành với một sự giải thoát lớn hơn khỏi xung lực xấu xa nơi những người con của nhân loại. Những điều kiện tốt hơn trong giới động vật sẽ là một kết quả khác trên hết mọi điều, và sự tiêu vong của cái độc hại trong giới động vật. Vào lúc cuộc tuần hoàn thứ bảy đạt tới, ảnh hưởng xấu của mặt trăng khi ấy (vốn trên thực tế hầu như đã biến mất) sẽ chấm dứt. Trong cuộc tuần hoàn thứ năm, con người sẽ khám phá cách trung hoà mọi ảnh hưởng còn lại qua thành tựu khoa học và tri thức về các âm thanh cùng mantram cần thiết, và như thế nhiều điều ác sẽ được hóa giải. Mặt trăng dĩ thái cũng được bao gồm trong những nhận xét này. Ảnh hưởng lớn nhất của các điều kiện mặt trăng được thấy đang biểu lộ chủ yếu trong nỗi kinh hoàng và khốn khổ hiện nay trong giới động vật. (Kinh Thánh. Rô-ma, 8:22.)

A further factor in cyclic computation lies in the effect of the following stars and constellations upon our system and upon any particular scheme within the system:

Một yếu tố nữa trong việc tính toán chu kỳ nằm ở ảnh hưởng của các ngôi sao và chòm sao sau đây lên hệ thống chúng ta và lên bất kỳ hệ hành tinh đặc thù nào trong hệ thống:

a. The Great Bear.

a. Đại Hùng Tinh.

b. The Little Bear.

b. Tiểu Hùng Tinh.

c. The Pole Star, especially where our planet is concerned.

c. Sao Bắc Cực, đặc biệt khi liên quan đến hành tinh chúng ta.

d. The Pleiades.

d. Thất Nữ Tinh.

e. The constellation of Capricorn.

e. Chòm sao Ma Kết.

f. Draco.

f. Thiên Long.

g. Sirius.

g. Sirius.

h. The various constellations and stars of the Zodiac.

h. Các chòm sao và các ngôi sao khác nhau của Hoàng đạo.

[Page 796] The mystery is hidden in esoteric astrology, and until the subject of energy working through the etheric body, of radioactivity, and of the transmutation of all bodies from a lower state into a higher is better comprehended, the true mystery of the “influence” of these various bodies upon each other will remain at its present stage—an unrevealed secret. If the radiatory effect of a human being or of a group of human beings upon each other is as yet practically an unknown thing from the standpoint of practical science, so the occult effect of these greater forms upon each other remains unknown. Science recognises certain effects, leading and tending to the general coherence of the universe, just as the general laws of the social order among men are theoretically apprehended, but the true scientific realisation of energy-radiations emanating from the etheric bodies of all these suns and groups of suns, and from all these planets and groups of planets is little understood. Their atomic activity is recognised, but that department of their being, which finds its correspondence in “animal magnetism” in man, is little realised, while the even more potent factor of the magnetic radiation of their astral bodies is totally uncalculated, nor is it admitted. All these factors have to be allowed for in any consideration of the factor of time and cycles, and the true esoteric knowledge is not to be gained by the study of figures by the lower mind. It comes as the result of the intuition and is stimulated at initiation.

[Page 796] Huyền nhiệm được ẩn giấu trong Chiêm Tinh Học Nội Môn, và cho đến khi chủ đề năng lượng hoạt động qua thể dĩ thái, tính phóng xạ, và sự chuyển hoá của mọi thể từ trạng thái thấp lên trạng thái cao được thấu hiểu tốt hơn, thì huyền nhiệm chân thực về “ảnh hưởng” của các thiên thể khác nhau này lên nhau sẽ vẫn ở giai đoạn hiện nay của nó—một bí mật chưa được mặc khải. Nếu hiệu quả bức xạ của một con người hay của một nhóm người lên nhau cho đến nay vẫn thực tế là điều chưa biết từ quan điểm của khoa học thực nghiệm, thì hiệu quả huyền bí của những hình tướng lớn hơn này lên nhau cũng vẫn chưa được biết. Khoa học công nhận một số hiệu quả nhất định, dẫn đến và hướng đến sự cố kết chung của vũ trụ, cũng như các định luật tổng quát của trật tự xã hội giữa con người được lĩnh hội trên lý thuyết, nhưng sự chứng nghiệm khoa học chân thực về các bức xạ năng lượng phát ra từ các thể dĩ thái của tất cả các mặt trời và các nhóm mặt trời này, và từ tất cả các hành tinh cùng các nhóm hành tinh này thì ít được thấu hiểu. Hoạt động nguyên tử của chúng được công nhận, nhưng bộ phận của bản thể chúng, vốn tìm thấy tương ứng của nó trong “từ điện động vật” nơi con người, thì ít được chứng nghiệm, trong khi yếu tố còn mạnh hơn nữa là bức xạ từ tính của các thể cảm dục của chúng thì hoàn toàn không được tính đến, cũng không được thừa nhận. Tất cả những yếu tố này phải được tính đến trong bất kỳ sự xem xét nào về yếu tố thời gian và các chu kỳ, và tri thức huyền bí chân thực không thể đạt được bằng việc nghiên cứu các con số bằng hạ trí. Nó đến như kết quả của trực giác và được kích thích lúc điểm đạo.

All that has here been pointed out, can be applied equally (though in a very finite sense) to the ego and its cycles, and also equally, considerations other than the purely “personal” will enter into its time periods. The influence of other groups and of other units, the effects of radiation from other rays, and of certain types of force as yet unrevealed, and thus outside our consideration, are concerned with its appearing, with the duration of its [Page 797] manifestation, its subsequent obscuration, and final pralayic interval. As the Ego has time periods corresponding to those of Brahma, and its “100 years” and its “777 incarnations” have a solar analogy, so equally groups of Egos differ as to time, just as the planetary schemes are analogous in evolution but differ where their periods are concerned. The Law of Periodicity is one, but as it is based upon initial impulse, and upon the rhythmic beat of the “central heart” or the “central sun” of any organism (solar system, planetary scheme, planetary chain, egoic group or individual egoic life) the true nature or “family” of any such organism must be ascertained before cyclic pronouncements can be made with any hope of approximate accuracy. This was why H. P. B. sought to emphasise the need of studying the “astral family” and occult heredity of any person, for in the astral is to be found the clue to the “egoic family or group.” With this clue the student can then ascertain the characteristics of his group on egoic levels, its place among other egoic groups, and eventually his ray or group centre. As time elapses, the true study of heredity and esoteric transmission will open up, and the whole fabric of thought built up around such modern expressions as:

Tất cả những gì đã được chỉ ra ở đây đều có thể được áp dụng tương tự (dù theo một ý nghĩa rất hữu hạn) cho chân ngã và các chu kỳ của nó, và cũng tương tự, những cân nhắc khác ngoài cái thuần “cá nhân” sẽ đi vào các thời kỳ thời gian của nó. Ảnh hưởng của các nhóm khác và các đơn vị khác, các hiệu quả của bức xạ từ các cung khác, và của một số loại mãnh lực chưa được mặc khải, do đó nằm ngoài sự xem xét của chúng ta, đều liên quan đến sự xuất hiện của nó, đến thời lượng của [Page 797] biểu hiện của nó, sự che mờ tiếp theo, và khoảng giai kỳ qui nguyên cuối cùng. Cũng như Chân ngã có những thời kỳ thời gian tương ứng với những thời kỳ của Brahma, và “100 năm” cùng “777 lần nhập thể” của nó có một sự tương đồng thái dương, thì các nhóm Chân ngã cũng khác nhau về thời gian, cũng như các hệ hành tinh tương đồng trong tiến hoá nhưng khác nhau về các thời kỳ của chúng. Định luật Chu Kỳ là một, nhưng vì nó dựa trên xung lực ban đầu, và trên nhịp đập có tiết tấu của “tim trung tâm” hay “mặt trời trung tâm” của bất kỳ cơ thể nào (hệ mặt trời, hệ hành tinh, dãy hành tinh, nhóm chân ngã hay sự sống chân ngã cá biệt), nên bản chất chân thực hay “gia đình” của bất kỳ cơ thể nào như thế phải được xác định trước khi có thể đưa ra những tuyên bố về chu kỳ với chút hy vọng nào về độ chính xác gần đúng. Đó là lý do H. P. B. đã tìm cách nhấn mạnh nhu cầu nghiên cứu “gia đình cảm dục” và di truyền huyền bí của bất kỳ người nào, vì trong cảm dục có thể tìm thấy đầu mối dẫn đến “gia đình hay nhóm chân ngã.” Với đầu mối này, đạo sinh khi ấy có thể xác định các đặc tính của nhóm mình trên các cấp độ chân ngã, vị trí của nó giữa các nhóm chân ngã khác, và cuối cùng là cung hay trung tâm nhóm của mình. Theo thời gian, việc nghiên cứu chân thực về di truyền và truyền thừa nội môn sẽ được khai mở, và toàn bộ cấu trúc tư tưởng được dựng lên quanh những cách diễn đạt hiện đại như:

a. Consanguinity or blood ties

a. Huyết thống hay ràng buộc máu mủ

b. Physical heredity

b. Di truyền hồng trần

c. Atavism

c. Hiện tượng lại giống tổ tiên

d. Intermarriage

d. Hôn phối cận huyết

e. Family relationships

e. Quan hệ gia đình

f. The family unit

f. Đơn vị gia đình

g. Soul mates

g. Bạn đời linh hồn

h. Divorce and many other terms

h. Ly hôn và nhiều thuật ngữ khác

will be shifted to higher planes, and will be recognised and used in connection with soul relationships. They are, as yet, but a faint realisation on the physical plane of [Page 798] certain inner relations, which are seeking outer response. When all aggregates of ideas are interpreted in terms of force and energy, in terms of attraction and repulsion, or the vibratory response of units to each other, and of aggregates of units to other groups, we shall have the clearing up of many problems and a simplification of life. Men will be true to their group affiliations, and the present misgrouping and mismating will gradually, through knowledge, die out.

sẽ được chuyển lên các cõi cao hơn, và sẽ được công nhận và sử dụng trong liên hệ với các quan hệ linh hồn. Hiện nay, chúng chỉ là một sự chứng nghiệm mờ nhạt trên cõi hồng trần về [Page 798] một số quan hệ bên trong đang tìm kiếm đáp ứng bên ngoài. Khi mọi tập hợp ý tưởng được diễn giải theo các thuật ngữ của mãnh lực và năng lượng, theo các thuật ngữ của hấp dẫn và đẩy lùi, hay của đáp ứng rung động của các đơn vị đối với nhau, và của các tập hợp đơn vị đối với các nhóm khác, chúng ta sẽ có sự làm sáng tỏ nhiều vấn đề và sự đơn giản hoá đời sống. Những người nam và nữ sẽ trung thành với các liên kết nhóm của mình, và sự xếp nhóm sai lầm cùng kết đôi sai lầm hiện nay sẽ dần dần, nhờ tri thức, biến mất.

We can now take up the consideration of karma in its relation to the act of reincarnation. As we are well aware, the law of karma is the most stupendous law of the system and one which it is impossible for the average man in any way to comprehend, for, if traced back along its central root and its many ramifications, one eventually reaches the position where causes antedating the solar system have to be dealt with, and this point of view can only be usefully grasped by a high initiate.

Giờ đây chúng ta có thể bàn đến nghiệp quả trong liên hệ của nó với hành động tái sinh. Như chúng ta đều biết rõ, định luật nghiệp quả là định luật vĩ đại nhất của hệ thống và là một định luật mà con người trung bình không thể nào thấu hiểu được, vì nếu truy nguyên ngược về căn nguyên trung tâm của nó và vô số nhánh phụ của nó, cuối cùng người ta sẽ đi đến vị trí mà ở đó phải bàn đến những nguyên nhân có trước hệ mặt trời, và quan điểm này chỉ có thể được một điểm đạo đồ cao cấp nắm bắt một cách hữu ích.

This great law really concerns, or is based on causes which are inherent in the constitution of matter itself and on the interaction between atomic units whether we use this expression in connection with an atom of substance, a human being, a planetary atom or a solar atom.

Định luật vĩ đại này thực sự liên quan đến, hay dựa trên, những nguyên nhân vốn cố hữu trong chính cấu tạo của vật chất và trên sự tương tác giữa các đơn vị nguyên tử, dù chúng ta dùng cách diễn đạt này liên hệ với một nguyên tử chất liệu, một con người, một nguyên tử hành tinh hay một nguyên tử thái dương.

We might express it also in saying that the will aspect or initiatory impulse is primarily that which produces cause, which is cause itself. It should be remembered ever that cause involves the idea of duality, i.e., that which initiates, and that which is produced simultaneously by the initiation. The two ideas are inseparable, yet nevertheless the second idea in its most abstract connotation must not be considered literally as an effect; true effect involves a third idea. Some appreciation of the problem may be gleaned by a consideration of phenomena which ever involves this dual initiatory cause and its objective effect: [Page 799]

Chúng ta cũng có thể diễn đạt điều đó bằng cách nói rằng phương diện ý chí hay xung lực khởi đầu trước hết là cái tạo ra nguyên nhân, chính là nguyên nhân. Cần luôn nhớ rằng nguyên nhân bao hàm ý niệm về nhị nguyên tính, tức là cái khởi xướng, và cái được tạo ra đồng thời bởi sự khởi xướng. Hai ý niệm này không thể tách rời, tuy nhiên ý niệm thứ hai trong hàm nghĩa trừu tượng nhất của nó không được hiểu theo nghĩa đen như một hiệu quả; hiệu quả chân thực bao hàm một ý niệm thứ ba. Có thể thu lượm được một phần nào sự lĩnh hội về vấn đề này bằng cách xem xét các hiện tượng, điều luôn bao hàm nguyên nhân khởi đầu nhị nguyên này và hiệu quả khách quan của nó: [Page 799]

a. Spirit-matter in dual activity produces the objective universe.

a. Tinh thần-vật chất trong hoạt động nhị nguyên tạo ra vũ trụ khách quan.

b. Electric fire and fire by friction when brought into contact produce solar fire; it flashes forth from darkness, yet a darkness which is potent with energy.

b. Lửa Điện và Lửa ma sát khi được đưa vào tiếp xúc sẽ tạo ra Lửa Thái dương; nó bùng phát từ bóng tối, nhưng là một bóng tối sung mãn năng lượng.

c. Will-desire is the cause of incarnation; the will-to-be reacting on substance (whose main quality is desire or responsiveness to sensation) produces the forms through which the central Life or Existence seeks expression.

c. Ý chí-khao khát là nguyên nhân của sự nhập thể; ý chí-hiện hữu tác động lên chất liệu (mà phẩm tính chính là khao khát hay sự đáp ứng với cảm giác) tạo ra những hình tướng qua đó Sự sống trung tâm hay Hiện Hữu tìm cách biểu lộ.

d. Ideas and thought-matter together produce thoughtforms.

d. Các ý tưởng và vật chất tư tưởng cùng nhau tạo ra các hình tư tưởng.

If the student considers these points, it will become apparent that it is not possible for him to do more than study the effects produced by the juxtaposition of the pairs of opposites; he cannot dissociate them in his mind and deal with Spirit per se, or with matter per se any more than the atom of substance in man’s physical body can dissociate itself from that body, and consider itself independently of form influences. All atoms are always controlled by the following factors, just as a man in the body of a planetary Logos, and a planetary Logos within His greater Whole will be equally controlled by the same basic principles:

Nếu đạo sinh suy xét những điểm này, sẽ trở nên hiển nhiên rằng y không thể làm gì hơn ngoài việc nghiên cứu các kết quả do sự kề cận của các cặp đối cực tạo ra; y không thể tách rời chúng trong trí mình và bàn đến Tinh thần chính nó, hay bàn đến vật chất chính nó cũng như nguyên tử chất liệu trong thể xác của con người không thể tự tách mình ra khỏi thể ấy và tự xét mình một cách độc lập với các ảnh hưởng của hình tướng. Mọi nguyên tử luôn luôn bị chi phối bởi các yếu tố sau đây, cũng như một con người trong thân thể của một Hành Tinh Thượng Đế, và một Hành Tinh Thượng Đế bên trong Toàn Thể lớn lao hơn của Ngài, đều sẽ bị chi phối như nhau bởi cùng những nguyên lý căn bản ấy:

The influence and quality of the organ or unit in which it finds a place. In the human atom this means his group force or influence.

Ảnh hưởng và phẩm tính của cơ quan hay đơn vị mà trong đó nó tìm được chỗ đứng. Đối với nguyên tử nhân loại, điều này có nghĩa là mãnh lực hay ảnh hưởng nhóm của y.

The life influence of the entire physical body of which any atom is a corporate part. In the human atom this means the influence of the particular centre in which his egoic group has a place, and the type of energy which it embodies.

Ảnh hưởng sự sống của toàn thể thể xác mà bất kỳ nguyên tử nào cũng là một phần hợp thành. Đối với nguyên tử nhân loại, điều này có nghĩa là ảnh hưởng của trung tâm đặc thù mà nhóm chân ngã của y có một vị trí trong đó, và loại năng lượng mà trung tâm ấy thể hiện.

The life influence of the desire or astral body, the strongest karmic agency which has to be considered. [Page 800] In the human atom, this involves the influence of the three centres in the body of the Heavenly Man which form any specific “force triangle,” and which have much to do with the liberation of groups of Egos from manifestation.

Ảnh hưởng sự sống của thể khao khát hay thể cảm dục, tác nhân nghiệp quả mạnh nhất cần phải được xét đến. [Page 800] Đối với nguyên tử nhân loại, điều này bao hàm ảnh hưởng của ba trung tâm trong thân thể của Đấng Thiên Nhân tạo thành bất kỳ “tam giác lực” đặc thù nào, và có liên hệ rất nhiều đến sự giải thoát các nhóm Chân ngã khỏi sự biểu hiện.

The life influences of the mental body, or of that principle which imposes upon the atom the quality of activity in form, which governs the reaction of the atom to its group life, and which enables the quality of its life to be demonstrated. In the human atom this concerns those causes which are incident to a man’s Ray, or literally the influence of the life of the planetary Logos as He functions as a self-conscious Life on His Own plane, as He works out His Own plans, and consequently sweeps into activity the cells of His body as mere incidents where He (the basic central life) is concerned.

Các ảnh hưởng sự sống của thể trí, hay của nguyên khí áp đặt lên nguyên tử phẩm tính hoạt động trong hình tướng, chi phối sự đáp ứng của nguyên tử đối với đời sống nhóm của nó, và làm cho phẩm tính của sự sống nó có thể được biểu lộ. Đối với nguyên tử nhân loại, điều này liên quan đến những nguyên nhân gắn liền với cung của một người, hay theo nghĩa đen là ảnh hưởng của sự sống của Hành Tinh Thượng Đế khi Ngài hoạt động như một Sự sống tự ý thức trên cõi riêng của Ngài, khi Ngài triển khai các kế hoạch riêng của Ngài, và do đó cuốn các tế bào trong thể Ngài vào hoạt động như những sự việc phụ thuộc đơn thuần xét theo phương diện Ngài (sự sống trung tâm căn bản).

The life impulse of the Thinker functioning in the causal body who—though a great abstraction or the Absolute where the cellular life is concerned—is nevertheless a potent and active factor in the imposition of rhythm upon the atom in every body. In the human atom, this brings in the influence of the life of the solar Logos, for that Life imposes rhythm upon every human atom in the system, and does so through the agency of substance and its inherent quality, sensation.

Xung lực sự sống của Đấng Tư Tưởng hoạt động trong thể nguyên nhân, Đấng—dù là một sự trừu tượng lớn lao hay Tuyệt Đối xét theo sự sống tế bào—dẫu vậy vẫn là một yếu tố mạnh mẽ và năng động trong việc áp đặt nhịp điệu lên nguyên tử trong mọi thể. Đối với nguyên tử nhân loại, điều này đưa vào ảnh hưởng của sự sống của Thái dương Thượng đế, vì Sự sống ấy áp đặt nhịp điệu lên mọi nguyên tử nhân loại trong hệ thống, và làm như vậy thông qua tác nhân là chất liệu và phẩm tính cố hữu của nó là cảm giác.

In these thoughts, we have but approached the study of karma from a fresh angle, and endeavoured to show the sources of the “influences” which play upon all atomic lives.

Trong những tư tưởng này, chúng ta chỉ mới tiếp cận việc nghiên cứu nghiệp quả từ một góc độ mới, và cố gắng chỉ ra các nguồn gốc của những “ảnh hưởng” tác động lên mọi sự sống nguyên tử.

The atom likewise is controlled by its own “esse,” or by its own inherent nature or vibration, which was the quality of matter itself before it was aggregated into a solar system, and which was the vibratory activity produced through the rhythmic life of an earlier solar system. [Page 801] This is equally true of all atoms of all grades, but only in connection with the atom of substance, and to some degree with the human atom, is it in any way possible to ascertain the predisposing causes. Until the mystery of the Great Bear is revealed and is known as it is, and until the influence of the Pleiades is comprehended, and the true significance of the cosmic triangle formed by

Nguyên tử cũng bị chi phối bởi “esse” riêng của nó, hay bởi bản chất hoặc rung động cố hữu của chính nó, vốn là phẩm tính của chính vật chất trước khi nó được kết tập thành một hệ mặt trời, và vốn là hoạt động rung động được tạo ra qua sự sống nhịp điệu của một hệ mặt trời trước đó. [Page 801] Điều này cũng đúng như vậy đối với mọi nguyên tử ở mọi cấp độ, nhưng chỉ liên quan đến nguyên tử chất liệu, và ở một mức độ nào đó với nguyên tử nhân loại, thì mới có thể phần nào xác định được các nguyên nhân khuynh hướng từ trước. Chừng nào huyền nhiệm của Đại Hùng Tinh còn chưa được mặc khải và được biết đúng như nó là, và chừng nào ảnh hưởng của Thất Nữ Tinh còn chưa được thấu hiểu, và thâm nghĩa chân thực của tam giác vũ trụ được tạo thành bởi

a. The seven Rishis of the Great Bear,

a. Bảy Rishi của Đại Hùng Tinh,

b. The seven planetary Logoi of our solar system,

b. Bảy Hành Tinh Thượng Đế của hệ mặt trời chúng ta,

c. The seven Pleiades or Sisters,

c. Bảy Thất Nữ Tinh hay Bảy Chị Em,

is revealed, the karma of the seven sacred planets will remain unknown. All that we can see is its working out in the solar system. The intricacy of the whole subject will be apparent when it is borne in mind that not only do these three groups form a cosmic triangle, but that within that triangle many lesser triangles have to be studied. Any one of the seven Rishis with one of our planetary Logoi and one of the seven Sisters may form a subsidiary triangle, and all must thus be studied.

còn chưa được mặc khải, thì nghiệp quả của bảy hành tinh thiêng liêng vẫn sẽ còn chưa được biết đến. Tất cả những gì chúng ta có thể thấy là sự vận hành của nó trong hệ mặt trời. Tính phức tạp của toàn bộ chủ đề sẽ trở nên hiển nhiên khi nhớ rằng không những ba nhóm này tạo thành một tam giác vũ trụ, mà bên trong tam giác ấy còn có nhiều tam giác nhỏ hơn cần phải được nghiên cứu. Bất kỳ một trong bảy Rishi nào cùng với một trong các Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta và một trong Bảy Chị Em đều có thể tạo thành một tam giác phụ, và tất cả đều phải được nghiên cứu như thế.

In connection with the karma of the solar Logos, the subject is even more abstract and incomprehensible. It lies hidden—not in the seven constellations—but in the three constellations which concern the three bodies of His Personality and which in themselves are but manifestations of a central LIFE past our concept and our recognition. It concerns the manifestation in time and space of the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID, and Whose relationship to the solar Logos finds a faint analogy in that of the planetary Logos to man, the human unit. It profits not to extend the thought any further.

Liên quan đến nghiệp quả của Thái dương Thượng đế, chủ đề này còn trừu tượng và bất khả hiểu hơn nữa. Nó ẩn giấu—không phải trong bảy chòm sao—mà trong ba chòm sao liên quan đến ba thể của Phàm ngã của Ngài và bản thân chúng chỉ là những biểu hiện của một SỰ SỐNG trung tâm vượt ngoài quan niệm và sự nhận biết của chúng ta. Nó liên quan đến sự biểu hiện trong thời gian và không gian của ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ, và mối liên hệ của Ngài với Thái dương Thượng đế có một sự tương đồng mờ nhạt với mối liên hệ của Hành Tinh Thượng Đế với con người, đơn vị nhân loại. Không ích gì khi mở rộng tư tưởng này thêm nữa.

We are but seeking to emphasise the fact of the interdependence of all atoms and forms, to lay stress upon the reality of the variety of influences which play upon all [Page 802] that is manifesting, and to call attention to the fact of the karma of the past aeons, kalpas and that unknowable period in which the initiatory impulses were set up which are still persisting, and which God, man and atoms are still working out and off. Influences or vibrations, calling forth response, play upon every form and atom in the solar system and all that can be predicated of them is that they tend to develop consciousness of some kind, impose certain rhythms according to that conscious response, and produce aggregations or group activity.

Chúng ta chỉ đang tìm cách nhấn mạnh sự kiện về tính tương thuộc của mọi nguyên tử và hình tướng, nhấn mạnh thực tại của sự đa dạng các ảnh hưởng tác động lên mọi [Page 802] gì đang biểu hiện, và lưu ý đến sự kiện về nghiệp quả của các đại kiếp, các kalpa trong quá khứ và giai đoạn bất khả tri ấy khi các xung lực điểm đạo được thiết lập mà đến nay vẫn còn tồn tại, và Thượng đế, con người và các nguyên tử vẫn đang triển khai và giải trừ. Những ảnh hưởng hay rung động, gọi ra sự đáp ứng, tác động lên mọi hình tướng và nguyên tử trong hệ mặt trời và tất cả những gì có thể được khẳng định về chúng là chúng có khuynh hướng phát triển một loại tâm thức nào đó, áp đặt những nhịp điệu nhất định tùy theo sự đáp ứng có tâm thức ấy, và tạo ra những sự kết tập hay hoạt động nhóm.

The liberation from karma about which would-be occult students so glibly talk is after all but the freeing of the atom from its own personal problem (the problem of response to unitary sensation), and its conscious acquiescence in group response and work. It marks the dissociation of the human atom from the rhythm imposed upon him by the lower “influences” which find their channel of approach through his vehicles, or lunar bodies, and his consequent willing recognition of the will-impulse of his greater whole, or the life of the egoic group—a centre in the planetary body. It involves atomic control, but involves also conscious subjection to the karma of the Heavenly Man. Man is no longer the slave of the rhythm of matter per se, but controls it in the three worlds of his endeavour; he is still nevertheless controlled by the group karma of the planetary centre, by its influence, life and vibratory impulse. The same can be predicated of a Heavenly Man, and of a solar Logos.

Sự giải thoát khỏi nghiệp quả mà những đạo sinh huyền bí học muốn trở thành thường nói đến một cách quá dễ dãi, rốt cuộc chỉ là sự giải phóng nguyên tử khỏi vấn đề cá nhân riêng của nó (vấn đề đáp ứng với cảm giác đơn nhất), và sự thuận nhận có ý thức của nó đối với sự đáp ứng và công việc nhóm. Điều đó đánh dấu sự tách rời của nguyên tử nhân loại khỏi nhịp điệu áp đặt lên y bởi các “ảnh hưởng” thấp hơn vốn tìm được kênh tiếp cận qua các vận cụ của y, hay các thể thái âm, và do đó là sự thừa nhận tự nguyện của y đối với xung lực ý chí của toàn thể lớn hơn của mình, hay sự sống của nhóm chân ngã—một trung tâm trong thể hành tinh. Điều này bao hàm sự kiểm soát nguyên tử, nhưng cũng bao hàm sự phục tùng có ý thức đối với nghiệp quả của Đấng Thiên Nhân. Con người không còn là nô lệ của nhịp điệu của vật chất chính nó nữa, mà kiểm soát nó trong ba cõi thấp của nỗ lực mình; tuy nhiên y vẫn còn bị chi phối bởi nghiệp quả nhóm của trung tâm hành tinh, bởi ảnh hưởng, sự sống và xung lực rung động của nó. Điều tương tự cũng có thể được khẳng định về một Đấng Thiên Nhân, và về một Thái dương Thượng đế.

We might, in closing, express the same thought in terms of fire, remembering that words only limit and confine the thought, and that the main reason for this mode of approach is to bring pictorially before man some aspects of the central idea.

Để kết thúc, chúng ta có thể diễn đạt cùng một tư tưởng ấy theo thuật ngữ của lửa, nhớ rằng ngôn từ chỉ giới hạn và giam hãm tư tưởng, và lý do chính của lối tiếp cận này là để đưa một vài phương diện của ý tưởng trung tâm ra trước con người bằng hình ảnh.

“Electric fire, or will-impulse” in conjunction with “fire by friction” produces light or “solar fire.” Electric fire is force or energy of some kind, and hence in itself [Page 803] is fundamentally an emanation. “Fire by friction” is substance with the quality of heat as its predominant characteristic; it is latent heat or sensation. Both these ideas, therefore, convey the idea of duality. An emanation must have its originating source, and heat is but the result of friction, and is necessarily dual. Both these concepts involve facts long antedating the solar system, and hidden in the Universal Mind. All that we can scientifically ascertain is the nature of that which is produced by their approximation, and this is solar fire or light. These thoughts may make clear somewhat the significance of the number five, esoterically considered. Electric fire, being an emanation is essentially dual in concept, and so is fire by friction; they together produce solar fire, and thus the esoteric fifth.

“Lửa Điện, hay xung lực ý chí” kết hợp với “Lửa ma sát” tạo ra ánh sáng hay “Lửa Thái dương.” Lửa Điện là mãnh lực hay năng lượng thuộc một loại nào đó, và do đó tự thân [Page 803] về căn bản là một phát xạ. “Lửa ma sát” là chất liệu với phẩm tính nhiệt là đặc tính nổi trội của nó; đó là nhiệt tiềm ẩn hay cảm giác. Vì vậy, cả hai ý tưởng này đều chuyển tải ý niệm về nhị nguyên tính. Một phát xạ phải có nguồn phát sinh của nó, và nhiệt chỉ là kết quả của ma sát, nên tất yếu là nhị nguyên. Cả hai khái niệm này đều bao hàm những sự kiện có trước hệ mặt trời từ rất lâu, và ẩn giấu trong Vũ Trụ Trí. Tất cả những gì chúng ta có thể xác định một cách khoa học là bản chất của điều được tạo ra bởi sự xích lại gần nhau của chúng, và đó là Lửa Thái dương hay ánh sáng. Những tư tưởng này có thể phần nào làm sáng tỏ thâm nghĩa của số năm khi được xét một cách huyền bí. Lửa Điện, vì là một phát xạ, về bản chất là nhị nguyên trong khái niệm, và Lửa ma sát cũng vậy; cả hai cùng nhau tạo ra Lửa Thái dương, và như thế tạo ra số năm huyền bí.

It will be apparent that when a man speaks of karma, he is dealing with something much wider than the interplay of effect and cause within the sphere of his own individual routine. He is, in all things, governed by causes originating in the aggregate of lives which form his egoic group, by the aggregate of groups which form one petal in a centre of a Heavenly Man, by force or purpose circulating through a triangle of centres, and by the life energy or purposeful will of the planetary Logos Himself. Finally he is governed by the will of the solar Logos as it demonstrates itself in initiatory activity. Beyond this we need hardly go, but enough has been said to show that every human atom is under the dominance of forces outside his own consciousness, which sweep him and others into situations from which there is no escape, and which are to him incomprehensible.

Sẽ hiển nhiên rằng khi một người nói về nghiệp quả, y đang đề cập đến một điều gì đó rộng lớn hơn nhiều so với sự tương tác giữa kết quả và nguyên nhân trong phạm vi nếp sinh hoạt cá nhân riêng của mình. Trong mọi sự, y bị chi phối bởi những nguyên nhân phát sinh trong tổng thể các sự sống tạo thành nhóm chân ngã của y, bởi tổng thể các nhóm tạo thành một cánh hoa trong một trung tâm của một Đấng Thiên Nhân, bởi mãnh lực hay mục đích lưu chuyển qua một tam giác các trung tâm, và bởi năng lượng sự sống hay ý chí có mục đích của chính Hành Tinh Thượng Đế. Sau cùng y bị chi phối bởi ý chí của Thái dương Thượng đế khi ý chí ấy biểu lộ trong hoạt động điểm đạo. Vượt quá điều này chúng ta hầu như không cần đi xa hơn, nhưng như thế cũng đủ để cho thấy rằng mọi nguyên tử nhân loại đều ở dưới sự chi phối của những mãnh lực nằm ngoài tâm thức riêng của y, những mãnh lực cuốn y và những người khác vào những hoàn cảnh không có lối thoát, và đối với y là bất khả hiểu.

This has been at no time better illustrated than in the event of the late war and in present world conditions; these are effects of causes having their origin in the renewed activity of a certain planetary triangle, and in the vibration set up by our planetary Logos on the moon-chain, [Page 804] and which had a faint beginning in an earlier solar system. This vibration impinged primarily upon certain atoms and groups of atoms in His body, principally those composing the human and animal kingdoms, and produced the apparently dire results which we have been witnessing. So great was the effect of His energy, that the vegetable kingdom was somewhat (though not so much) affected, and the mineral kingdom felt the effect in a startling manner, far more than the vegetable kingdom and almost as much as the animal. Here we have a setting of circumstances outside human and even group control, which illustrates the helplessness of man in certain conditions, and which serves to bring in factors apparently apart from the individual vibration of the fourth kingdom.

Điều này chưa từng được minh họa rõ hơn trong biến cố của cuộc chiến vừa qua và trong các điều kiện thế giới hiện nay; đó là những kết quả của các nguyên nhân bắt nguồn từ hoạt động được đổi mới của một tam giác hành tinh nào đó, và từ rung động được Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta thiết lập trên dãy mặt trăng, [Page 804] và đã có một khởi đầu mờ nhạt trong một hệ mặt trời trước đó. Rung động này trước hết tác động lên một số nguyên tử và nhóm nguyên tử nào đó trong thân thể của Ngài, chủ yếu là những nguyên tử cấu thành giới nhân loại và giới động vật, và tạo ra những kết quả có vẻ thảm khốc mà chúng ta đã chứng kiến. Ảnh hưởng năng lượng của Ngài lớn lao đến nỗi giới thực vật cũng bị tác động phần nào (dù không nhiều bằng), và giới kim thạch cảm nhận ảnh hưởng ấy theo một cách đáng kinh ngạc, nhiều hơn giới thực vật rất nhiều và gần như bằng giới động vật. Ở đây chúng ta có một sự an bài hoàn cảnh nằm ngoài sự kiểm soát của con người và ngay cả của nhóm, minh họa sự bất lực của con người trong một số điều kiện nhất định, và đưa vào những yếu tố dường như tách biệt khỏi rung động cá nhân của giới thứ tư.

Nevertheless, within limits, man definitely does “control his destiny,” and can initiate action which produces effects recognisable by him as being dependent upon his activity along a particular line. He does, on a miniature scale, repeat the procedure of the Logos on a vaster scale, and thus is the arbiter of his own destiny, the producer of his own drama, the architect of his own home, and the initiator of his own affairs. Though he may be the meeting place of forces outside his control, yet he can utilize force, circumstance and environment and can turn them, if he so will, to his own ends.

Tuy nhiên, trong những giới hạn nhất định, con người quả thực “kiểm soát số phận của mình,” và có thể khởi xướng hành động tạo ra những kết quả mà y nhận biết là tùy thuộc vào hoạt động của mình theo một đường lối đặc thù. Ở quy mô thu nhỏ, y lặp lại tiến trình của Thượng đế ở một quy mô lớn hơn, và do đó là người phân xử số phận của chính mình, người tạo ra vở kịch của chính mình, kiến trúc sư của chính ngôi nhà mình, và là kẻ khởi xướng những công việc của chính mình. Dù y có thể là nơi gặp gỡ của những mãnh lực ngoài sự kiểm soát của mình, y vẫn có thể sử dụng mãnh lực, hoàn cảnh và môi trường, và có thể xoay chuyển chúng, nếu y muốn, theo những mục đích riêng của mình.

The working out of karmic law in a man’s own life might be broadly divided into three divisions, in each of which a different type of energy is demonstrating, producing effects upon the lower and higher bodies of a definite nature.

Sự vận hành của định luật nghiệp quả trong đời sống riêng của một người có thể được chia đại thể thành ba phần, trong mỗi phần một loại năng lượng khác nhau đang biểu lộ, tạo ra những kết quả có bản chất xác định trên các thể thấp và cao.

In the very early stages, when man is scarcely more than an animal, the vibratory activity of the atoms of his three sheaths (and of the lowest primarily) governs all actions on his part. He is the victim of the vibratory activity of physical substance, and much that occurs is the [Page 805] consequence of the interaction between the Ego and its lowest manifestation, the physical sheath. The centre of attention is the physical body and only faintly are the two subtler bodies responding. The egoic impulse is slow and heavy, and the vibration is directed to producing response between the egoic consciousness and the atoms of the physical body. The physical permanent atom is more active than the other two. It is the aspect of “fire by friction” which is fanned by the egoic breath, with a triple object in view:

Trong những giai đoạn rất sớm, khi con người hầu như chưa hơn con vật là mấy, hoạt động rung động của các nguyên tử trong ba thể bọc của y (và chủ yếu là thể thấp nhất) chi phối mọi hành động của y. Y là nạn nhân của hoạt động rung động của chất liệu hồng trần, và nhiều điều xảy ra là [Page 805] hệ quả của sự tương tác giữa Chân ngã và biểu hiện thấp nhất của nó, thể bọc hồng trần. Trung tâm chú ý là thể xác và chỉ rất mờ nhạt hai thể vi tế hơn mới đáp ứng. Xung lực chân ngã chậm chạp và nặng nề, và rung động được hướng đến việc tạo ra sự đáp ứng giữa tâm thức chân ngã và các nguyên tử của thể xác. Nguyên tử trường tồn hồng trần hoạt động mạnh hơn hai nguyên tử kia. Đó là phương diện của “Lửa ma sát” được hơi thở chân ngã quạt lên, với một mục tiêu tam phân:

a. Co-ordinating the physical body.

a. Phối hợp thể xác.

b. Increasing the resistance of the etheric web, a work which was only carried to the desired point by the middle of the Atlantean root-race.

b. Gia tăng sức đề kháng của màng lưới dĩ thái, một công việc chỉ được đưa đến điểm mong muốn vào khoảng giữa giống dân gốc Atlantis.

c. Bringing certain of the lower centres to the necessary stage of expression.

c. Đưa một số trung tâm thấp đến giai đoạn biểu lộ cần thiết.

The heat of the atoms in the bodies is increased during this stage, and their atomic life co-ordinated, while the triangle between the three permanent atoms becomes a demonstrable fact and not a faint indication.

Nhiệt của các nguyên tử trong các thể được gia tăng trong giai đoạn này, và sự sống nguyên tử của chúng được phối hợp, trong khi tam giác giữa ba nguyên tử trường tồn trở thành một sự kiện có thể chứng minh được chứ không còn là một dấu hiệu mờ nhạt nữa.

During the second stage, the law of karma or karmic influence (through the inevitable reflex action produced by the increased activity of the sheaths) turns its attention to the working out of desire, and its transmutation into the higher aspiration. Through experience, the pairs of opposites are recognised by the Thinker, and he becomes no longer the victim of the vibratory impulses of his physical body; the factor of intelligent choice becomes apparent. The man begins to discriminate between the pairs of opposites, choosing ever in the early stages that which appeals most to his lower nature and that which he believes will bring him pleasure. The centre of the attention of the Ego is the astral body, and it becomes so closely co-ordinated with the physical body that the two form one united expression of desire. The mental body [Page 806] remains comparatively inactive at this stage. The love nature of the Ego is in process of being developed, and this stage is the longest of the three. It deals with the evolution of the petals of the egoic lotus, and with the blending of solar fire and of fire by friction. Reflex action between the lower and the higher during this middle period produces three effects, which will be seen, if carefully studied to convey much information anent the working out of the law of Karma. These three effects are:

Trong giai đoạn thứ hai, định luật nghiệp quả hay ảnh hưởng nghiệp quả (thông qua phản ứng dội lại tất yếu do hoạt động gia tăng của các thể bọc tạo ra) hướng sự chú ý của nó đến việc triển khai khao khát, và sự chuyển hoá nó thành khát vọng cao hơn. Qua kinh nghiệm, các cặp đối cực được Đấng Tư Tưởng nhận biết, và y không còn là nạn nhân của các xung lực rung động của thể xác mình nữa; yếu tố lựa chọn thông minh trở nên hiển nhiên. Con người bắt đầu phân biện giữa các cặp đối cực, trong những giai đoạn đầu luôn chọn điều hấp dẫn nhất đối với bản chất thấp của mình và điều mà y tin sẽ đem lại khoái lạc cho mình. Trung tâm chú ý của Chân ngã là thể cảm dục, và nó trở nên được phối hợp chặt chẽ với thể xác đến nỗi cả hai tạo thành một biểu hiện thống nhất của khao khát. Thể trí [Page 806] vẫn tương đối bất hoạt trong giai đoạn này. Bản chất bác ái của Chân ngã đang trong tiến trình được phát triển, và đây là giai đoạn dài nhất trong ba giai đoạn. Nó liên quan đến sự tiến hoá của các cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã, và đến sự hòa trộn của Lửa Thái dương với Lửa ma sát. Phản ứng dội lại giữa cái thấp và cái cao trong thời kỳ trung gian này tạo ra ba kết quả, mà nếu được nghiên cứu cẩn thận sẽ thấy là chuyển tải nhiều thông tin liên quan đến sự vận hành của định luật Nghiệp quả. Ba kết quả này là:

1. The development of the astral permanent atom with a concurrent stimulation of the physical permanent atom, and thus the growth and evolution of the two sheaths concerned.

1. Sự phát triển của nguyên tử trường tồn cảm dục cùng với sự kích thích đồng thời của nguyên tử trường tồn hồng trần, và như thế là sự tăng trưởng và tiến hoá của hai thể bọc liên hệ.

2. The co-ordination of the threefold man through the innate vitality of the astral body and its effect upon the mental and the physical. This is the kama-manasic period, and as this body is the only complete sphere in the threefold lower man, it is the most powerful body inherently for it embodies (as does the solar system) the heart aspect, or embryonic love nature, which it is the object of macrocosmic and microcosmic evolution to develop.

2. Sự phối hợp của con người tam phân nhờ sinh lực bẩm sinh của thể cảm dục và ảnh hưởng của nó lên thể trí và thể xác. Đây là thời kỳ trí-cảm, và vì thể này là khối cầu hoàn chỉnh duy nhất trong con người thấp tam phân, nên tự thân nó là thể mạnh nhất vì nó thể hiện (cũng như hệ mặt trời) phương diện tim, hay bản chất bác ái phôi thai, mà mục tiêu của tiến hoá đại thiên địa và tiểu thiên địa là phát triển.

3. Finally the unfoldment of the nine egoic petals in three stages.

3. Sau cùng là sự khai mở của chín cánh hoa chân ngã trong ba giai đoạn.

In the working out of the law we must therefore note that man is first of all the victim of the impulses of dense substance or of the brahma aspect, and thus repeats rapidly the evolutionary process of the preceding solar system; in the second stage he is the victim of desire, or of his own love nature.

Vì vậy, trong sự vận hành của định luật, chúng ta phải lưu ý rằng trước hết con người là nạn nhân của các xung lực của chất liệu đậm đặc hay của phương diện Brahma, và do đó lặp lại một cách nhanh chóng tiến trình tiến hoá của hệ mặt trời trước; trong giai đoạn thứ hai y là nạn nhân của khao khát, hay của chính bản chất bác ái của mình.

In the third stage, the law of karma works through a man’s mental nature, and awakens in him recognition of the law, and an intellectual apprehension of cause and of effect. This is the shortest stage but is also the most powerful; it concerns the evolution of the three inner [Page 807] petals shielding the “jewel,” and their ability to disclose at the right moment that which lies hidden. It covers the period of the evolution of advanced man, and of the man upon the Path. In connection with the human family it covers the first half of the next round, prior to the great separation. Electric fire is beginning to make its radiations felt, and the will or purpose of the Ego is now consciously realised upon the physical plane. The three permanent atoms form a triangle of light, and the petals of the lotus are rapidly unfolding. When the will and purpose of the Ego are realised by man in his waking consciousness in the physical brain, then the law of karma in the three worlds is becoming neutralised, and man is on the verge of liberation. He has exhausted the initial vibration, and there is no response within his sheaths to the threefold vibration of the three worlds; he stands freed from the three kingdoms and the fourth.

Trong giai đoạn thứ ba, định luật nghiệp quả vận hành qua bản chất trí tuệ của con người, và đánh thức trong y sự nhận biết về định luật, cùng một sự nắm bắt bằng trí năng về nguyên nhân và kết quả. Đây là giai đoạn ngắn nhất nhưng cũng mạnh mẽ nhất; nó liên quan đến sự tiến hoá của ba cánh hoa bên trong [Page 807] che chở “ngọc châu,” và khả năng của chúng trong việc hé lộ vào đúng lúc điều đang ẩn giấu. Nó bao trùm thời kỳ tiến hoá của con người tiến bộ, và của con người trên Con Đường. Liên quan đến gia đình nhân loại, nó bao trùm nửa đầu của cuộc tuần hoàn kế tiếp, trước cuộc phân ly lớn. Lửa Điện bắt đầu làm cho các bức xạ của nó được cảm nhận, và ý chí hay mục đích của Chân ngã nay được chứng nghiệm một cách có ý thức trên cõi hồng trần. Ba nguyên tử trường tồn tạo thành một tam giác ánh sáng, và các cánh hoa của hoa sen đang nhanh chóng khai mở. Khi ý chí và mục đích của Chân ngã được con người chứng nghiệm trong tâm thức thức tỉnh của mình nơi bộ não hồng trần, thì định luật nghiệp quả trong ba cõi thấp đang được trung hòa, và con người ở trên bờ giải thoát. Y đã làm cạn kiệt rung động khởi đầu, và không còn sự đáp ứng nào trong các thể bọc của y đối với rung động tam phân của ba cõi thấp; y đứng giải thoát khỏi ba giới và giới thứ tư.

d. On the building of the Causal Body.

d. Về việc xây dựng Thể Nguyên Nhân.

We enter now upon one of the most vitally practical parts of our Treatise on Fire, that which deals with the building of the causal body, or body of manifestation of the Ego. It concerns the work of the solar Angels, or the true self-conscious Identity, man. If the student has in any way apprehended the general trend of the earlier pages, he will now be in a condition of mind which will enable him to interpret all that is said in terms of energy, or of that vibratory activity which is produced by the three major phases of electrical phenomena, the union which produces that divine manifestation called Man, or, when the aggregated units are considered, the human kingdom.

Giờ đây chúng ta bước vào một trong những phần thực tiễn thiết yếu nhất của Luận về Lửa, phần bàn về việc xây dựng thể nguyên nhân, hay thể biểu hiện của Chân ngã. Nó liên quan đến công việc của các Thái dương Thiên Thần, hay Bản Sắc tự ý thức chân thực, con người. Nếu đạo sinh bằng cách nào đó đã nắm bắt được xu hướng tổng quát của những trang trước, thì giờ đây y sẽ ở trong một trạng thái trí tuệ cho phép y diễn giải mọi điều được nói đến theo thuật ngữ của năng lượng, hay của hoạt động rung động được tạo ra bởi ba pha chính của hiện tượng điện, sự hợp nhất tạo ra biểu hiện thiêng liêng gọi là Con Người, hay, khi xét các đơn vị kết tập, là giới nhân loại.

(a) Introductory remarks. We have studied somewhat the constitution of the Triangles, or Pitris, Who, through self-sacrifice, endow man with self-consciousness, building his egoic vehicle out of Their own essence. We [Page 808] have touched briefly upon the lunar Pitris, who endow man with his lower sheaths and principles through which the energy of the solar Lords may make itself felt, and we shall now proceed to study three things:

(a) Những nhận xét mở đầu. Chúng ta đã phần nào nghiên cứu cấu tạo của các Tam Giác, hay các Pitri, Đấng mà qua sự hi sinh bản thân, ban cho con người ngã thức, xây dựng vận cụ chân ngã của con người từ chính tinh chất của Các Ngài. Chúng ta [Page 808] đã chạm đến một cách ngắn gọn các thái âm tổ phụ, những Đấng ban cho con người các thể bọc và nguyên khí thấp của y, qua đó năng lượng của các nhật tinh quân có thể được cảm nhận, và giờ đây chúng ta sẽ tiến hành nghiên cứu ba điều:

First, the effect of the higher energy upon the lower bodies, as it gradually makes itself felt during the evolutionary process, and thus simultaneously “redeems” man in an occult sense, and also “elevates” the lunar Pitris.

Thứ nhất, ảnh hưởng của năng lượng cao lên các thể thấp, khi nó dần dần được cảm nhận trong tiến trình tiến hoá, và như thế đồng thời “cứu chuộc” con người theo nghĩa huyền bí, đồng thời cũng “nâng cao” các thái âm tổ phụ.

Second, the effect of this energy on the mental plane in the development and unfoldment of the egoic lotus.

Thứ hai, ảnh hưởng của năng lượng này trên cõi trí trong sự phát triển và khai mở của Hoa Sen Chân Ngã.

Third, the awakening to activity of the central Life within the lotus. This activity demonstrates in a twofold manner:

Thứ ba, sự thức tỉnh vào hoạt động của Sự sống trung tâm bên trong hoa sen. Hoạt động này biểu lộ theo hai cách:

a. As the realisation by the man on the physical plane within the physical brain of his divine nature, resulting in a consequent demonstration of divinity upon earth, prior to liberation.

a. Như sự chứng nghiệm của con người trên cõi hồng trần trong bộ não hồng trần về bản chất thiêng liêng của mình, đưa đến sự biểu lộ thiên tính trên trần gian trước khi được giải thoát.

b. As the conscious activity of the individual Ego on the mental plane in co-operation with its group or groups.

b. Như hoạt động có ý thức của Chân ngã cá nhân trên cõi trí trong sự hợp tác với nhóm hay các nhóm của nó.

In the first case, we have the effect of the egoic life upon its sheaths, and their subsequent control, and in the second case we have the self-awakening of the egoic unit on its own plane; in the third case, we have a group realisation, or the entrance by the unit into the consciousness of the Heavenly Man.

Trong trường hợp thứ nhất, chúng ta có ảnh hưởng của sự sống chân ngã lên các thể bọc của nó, và sự kiểm soát tiếp theo của nó; trong trường hợp thứ hai, chúng ta có sự tự thức tỉnh của đơn vị chân ngã trên cõi riêng của nó; trong trường hợp thứ ba, chúng ta có một sự chứng nghiệm nhóm, hay sự đi vào của đơn vị ấy trong tâm thức của Đấng Thiên Nhân.

It will not be possible to do more than indicate broad general lines of development. The subject of egoic evolution cannot be fully comprehended until after initiation, but it is felt now by the Teachers on the inner side that the main principles had better be given out at once in view of the unexpected development (since the opening of this century) of two great sciences:

Sẽ không thể làm gì hơn ngoài việc chỉ ra những đường nét phát triển tổng quát. Chủ đề về sự tiến hoá chân ngã không thể được thấu hiểu đầy đủ cho đến sau điểm đạo, nhưng hiện nay các Huấn sư ở phía bên trong cảm thấy rằng tốt hơn nên công bố ngay các nguyên lý chính, xét theo sự phát triển bất ngờ (kể từ đầu thế kỷ này) của hai khoa học lớn:

The Science of Electricity. The investigations of scientists [Page 809] have been greatly stimulated by the discovery of radium, which is an electrical phenomenon of a certain kind, and by the knowledge this discovery brought of the radioactive substances; the development of the many methods of utilising electricity has also greatly aided. This science has brought man to the threshold of a discovery which will revolutionise world thought on these matters, and which will eventually solve a great part of the economic problem, thus leaving many more persons free for mental growth and work. This expansion of knowledge can be looked for before one hundred and fifty years have transpired.

Khoa Học về Điện. Những cuộc khảo cứu của các nhà khoa học [Page 809] đã được kích thích mạnh mẽ bởi việc khám phá ra radium, vốn là một hiện tượng điện thuộc một loại nào đó, và bởi tri thức mà khám phá này đem lại về các chất phóng xạ; sự phát triển của nhiều phương pháp sử dụng điện cũng đã hỗ trợ rất nhiều. Khoa học này đã đưa con người đến ngưỡng cửa của một khám phá sẽ cách mạng hóa tư tưởng thế giới về những vấn đề này, và rốt cuộc sẽ giải quyết một phần lớn vấn đề kinh tế, nhờ đó để lại cho nhiều người hơn sự tự do cho sự phát triển và công việc trí tuệ. Có thể trông đợi sự mở rộng tri thức này trước khi một trăm năm mươi năm trôi qua.

The Science of Psychology. The psycho-analytic theories which (though indicative of progress) are yet tending in a wrong direction, may prove disastrous to the higher development of the race unless the true nature of the “psyche” is elucidated. When the public mind has apprehended, even cursorily, the following briefly stated facts, the trend of popular education, the object of political science, and the goal of economic and social endeavour will take a new and better direction. These facts might be summed up in the following postulates:

Khoa Học về Tâm Lý Học. Các lý thuyết phân tâm học, tuy là dấu hiệu của tiến bộ, nhưng vẫn đang có khuynh hướng đi sai hướng, có thể chứng tỏ là tai hại cho sự phát triển cao hơn của nhân loại trừ phi bản chất chân thực của “psyche” được làm sáng tỏ. Khi trí tuệ công chúng nắm bắt được, dù chỉ sơ lược, những sự kiện được phát biểu ngắn gọn sau đây, thì xu hướng của giáo dục đại chúng, mục tiêu của khoa học chính trị, và đích đến của nỗ lực kinh tế và xã hội sẽ đi theo một hướng mới và tốt đẹp hơn. Những sự kiện này có thể được tóm lược trong các định đề sau đây:

I. Man is in essence divine. (259) This has ever been enunciated throughout the ages, but remains as yet a beautiful theory or belief, and not a proven scientific fact, nor is it universally held. [Page 810]

I. Con người về bản chất là thiêng liêng. (259) Điều này đã luôn được tuyên bố qua các thời đại, nhưng cho đến nay vẫn chỉ là một lý thuyết hay niềm tin đẹp đẽ, chứ chưa phải là một sự kiện khoa học đã được chứng minh, và cũng chưa được chấp nhận phổ quát. [Page 810]

(259) Each human being is an incarnation of God.—S. D., III, 449. Compare:—S. D., II, 541; S. D., III, 475, and the Biblical words: “I have said, Ye are Gods.” “Know ye not that ye are the Temple of the Holy Spirit?”

(259) Mỗi con người là một sự nhập thể của Thượng đế.—S. D., III, 449. So sánh:—S. D., II, 541; S. D., III, 475, và những lời trong Kinh Thánh: “Ta đã phán, các ngươi là Thượng đế.” “Các ngươi há chẳng biết rằng các ngươi là Đền Thờ của Chúa Thánh Thần sao?”

No Being can become a God without passing through the human cycles.—S. D., II, 336.

Không Hữu thể nào có thể trở thành một Thượng đế mà không đi qua các chu kỳ nhân loại.—S. D., II, 336.

Man therefore is like God in that he represents the pairs of opposites, good and evil, light and darkness, male and female, etc. He is a duality.

Vì vậy con người giống Thượng đế ở chỗ y biểu hiện các cặp đối cực, thiện và ác, ánh sáng và bóng tối, nam và nữ, v.v. Y là một nhị nguyên tính.

He represents also God in that He is a triplicity, being three in one, and one in three.—See S. D., II, 553.

Y cũng biểu hiện Thượng đế ở chỗ Ngài là một bộ ba, là ba trong một, và một trong ba.—Xem S. D., II, 553.

By man the divine Monad is meant.—S. D., II, 196. (back)

Bởi con người ở đây muốn nói đến Chân thần thiêng liêng.—S. D., II, 196. (back)

II. Man is in fact a fragment of the Universal Mind, or world soul, (S. D., I, Proem., pp. 42-44.) and as a fragment is thus partaker of the instincts and quality of that soul, as it manifests through the human family. Therefore, unity is only possible upon the plane of mind. This, if true, must lead to the tendency to develop within the physical brain a conscious realisation of group affiliations on the mental plane, a conscious recognition of group relationships, ideals and goal, and a conscious manifestation of that continuity of consciousness which is the object of evolution at this time. It will further produce the transference of the race consciousness from the physical plane to the mental, and a consequent solving through “knowledge, love, and sacrifice” of all present problems. This will bring about emancipation from the present physical plane disorder. It must lead to the education of the public as to the nature of man, and the development of the powers latent within him—powers which will set him free from his present limitations, and which will produce in the human family a collective repudiation of the present conditions. When men everywhere recognise themselves and each other, as divine self-conscious units, functioning primarily in the causal body but utilising the three lower vehicles only as a means of contact with the three lower planes, we will have government, politics, economics and the social order readjusted upon sound, sane and divine lines.

II. Con người thực ra là một mảnh của Vũ Trụ Trí, hay hồn thế giới, (S. D., I, Proem., pp. 42-44.) và với tư cách là một mảnh, do đó dự phần vào các bản năng và phẩm tính của hồn ấy, khi nó biểu lộ qua gia đình nhân loại. Vì vậy, sự hợp nhất chỉ có thể có trên cõi trí. Nếu điều này là đúng, thì nó phải dẫn đến khuynh hướng phát triển trong bộ não hồng trần một sự chứng nghiệm có ý thức về các liên hệ nhóm trên cõi trí, một sự nhận biết có ý thức về các mối quan hệ nhóm, các lý tưởng và mục tiêu, và một sự biểu lộ có ý thức của sự liên tục tâm thức vốn là mục tiêu của tiến hoá vào lúc này. Hơn nữa, nó sẽ tạo ra sự chuyển dịch tâm thức nhân loại từ cõi hồng trần lên cõi trí, và do đó giải quyết mọi vấn đề hiện nay bằng “tri thức, bác ái và hi sinh.” Điều này sẽ đem lại sự giải phóng khỏi tình trạng hỗn loạn hiện nay trên cõi hồng trần. Nó phải dẫn đến việc giáo dục công chúng về bản chất của con người, và sự phát triển các quyền năng tiềm ẩn bên trong y—những quyền năng sẽ giải phóng y khỏi các giới hạn hiện nay, và sẽ tạo ra trong gia đình nhân loại một sự phủ nhận tập thể đối với các điều kiện hiện tại. Khi những người nam và nữ ở khắp nơi nhận biết chính mình và nhau như những đơn vị tự ý thức thiêng liêng, hoạt động chủ yếu trong thể nguyên nhân nhưng chỉ sử dụng ba vận cụ thấp như phương tiện tiếp xúc với ba cõi thấp, thì chúng ta sẽ có chính quyền, chính trị, kinh tế và trật tự xã hội được điều chỉnh lại theo những đường lối lành mạnh, sáng suốt và thiêng liêng.

III. Man in his lower nature, and in his three vehicles, is an aggregate of lesser lives, dependent upon him for their group nature, for their type of activity, and collective response, and who— [Page 811] through the energy or activity of the solar Lord—will themselves later be raised, and developed to the human stage.

III. Con người trong bản chất thấp của mình, và trong ba vận cụ của mình, là một tổng thể của những sự sống nhỏ hơn, lệ thuộc vào y về bản chất nhóm của chúng, về loại hoạt động của chúng, và sự đáp ứng tập thể của chúng, và những sự sống ấy— [Page 811] nhờ năng lượng hay hoạt động của nhật tinh quân—về sau chính chúng cũng sẽ được nâng lên và phát triển đến giai đoạn nhân loại.

When these three facts are understood, then and only then will we have a right and just comprehension of the nature of man.

Khi ba sự kiện này được thấu hiểu, thì khi ấy và chỉ khi ấy chúng ta mới có được một sự hiểu biết đúng đắn và công bằng về bản chất của con người.

Again, this realisation will bring about three changes in the thought of the age:

Một lần nữa, sự chứng nghiệm này sẽ đem lại ba thay đổi trong tư tưởng của thời đại:

(1) A readjustment of the medical knowledge of man, resulting in a truer understanding of the physical body, of its treatment, and of its protection, and thus producing a juster apprehension of the laws of health. The aim of the physician will then be to find out what it is in a man’s life which is preventing egoic energy from flooding every part of his being; to find out what lines of thought are being indulged in which are causing that inertia of the will aspect which is so conducive to wrongdoing; to ascertain what it is in the emotional body which is affecting the nervous system, and thus obstructing the flow of energy from the love petals of the egoic lotus (via the astral permanent atom) to the astral body, and from thence to the nervous system; to discover what is the hindrance in the etheric body which is preventing the right flow of prana, or of solar vitality to every part of the body.

(1) Sự điều chỉnh lại tri thức y học về con người, đưa đến một sự thấu hiểu chân thực hơn về thể xác, về việc điều trị và bảo vệ nó, và như thế tạo ra một sự nắm bắt đúng đắn hơn về các định luật sức khỏe. Khi ấy mục tiêu của thầy thuốc sẽ là tìm ra điều gì trong đời sống của một người đang ngăn cản năng lượng chân ngã tràn ngập mọi phần của hữu thể y; tìm ra những đường lối tư tưởng nào đang được nuông chiều gây ra tính trì trệ của phương diện ý chí vốn rất thuận lợi cho việc làm điều sai quấy; xác định điều gì trong thể cảm dục đang ảnh hưởng đến hệ thần kinh, và do đó cản trở dòng năng lượng từ các cánh hoa bác ái của Hoa Sen Chân Ngã (qua nguyên tử trường tồn cảm dục) đến thể cảm dục, và từ đó đến hệ thần kinh; khám phá điều gì là chướng ngại trong thể dĩ thái đang ngăn cản dòng chảy đúng đắn của prana, hay sinh lực thái dương đến mọi phần của thể.

It is essential that in days to come medical men should realise that disease in the physical body is incidental to wrong internal conditions. This is already being somewhat considered but the whole question will remain but a beautiful theory (even though an incontrovertible one in view of the achievements of mental scientists and of the various faith healers) until the true nature of the ego, its constitution, its powers, and its field of influence are duly apprehended.

Điều thiết yếu là trong những ngày sắp tới các y sĩ phải nhận ra rằng bệnh tật trong thể xác là hệ quả của những điều kiện sai lầm bên trong. Điều này đã phần nào đang được xem xét nhưng toàn bộ vấn đề sẽ vẫn chỉ là một lý thuyết đẹp đẽ (dù là một lý thuyết không thể bác bỏ xét theo những thành tựu của các nhà khoa học trí tuệ và của nhiều nhà chữa bệnh bằng đức tin khác nhau) cho đến khi bản chất chân thực của chân ngã, cấu tạo của nó, các quyền năng của nó, và phạm vi ảnh hưởng của nó được nắm bắt đúng mức.

This revelation will come when medical men accept this [Page 812] teaching as a working hypothesis, and then begin to note, for instance, the powers of endurance shown by the great souls of the earth, and their capacity to work at high pressure, and to remain practically immune from disease until (at the close of a long life of usefulness) the Ego deliberately chooses to “die-out” of physical existence. It will come when the medical profession concentrates upon preventative action, substituting sunshine, a vegetarian diet, and the application of the laws of magnetic vibration and vitality for the present regimen of drugs and surgical operations. Then will come the time when finer and better human beings will manifest on earth. When also physicians learn the nature of the etheric body, and the work of the spleen as a focal point for pranic emanations, then sound principles and methods will be introduced which will do away with such diseases as tuberculosis, debility, malnutrition and the diseases of the blood and of the kidneys. When doctors comprehend the effect of the emotions upon the nervous system, they will turn their attention to the amelioration of environal conditions, and will study the effects of the emotional currents upon the fluids of the body, and primarily upon the great nerve centres, and the spinal column. When the connection between the dense physical and the subtler bodies is a fact established in medical circles, then will the right treatment of lunacy, of obsessions, and of wrong mental conditions be better comprehended, and the results more successful; finally, when the nature of egoic force, or of energy is studied, and the function of the physical brain as the transmitter of egoic intent is better comprehended, then the coordination of man’s entire being will be studied, and illness, debility and disease, will be traced to their just cause, and will be treated through the cause and not just through the effect.

Sự mặc khải này sẽ đến khi các y sĩ chấp nhận giáo huấn này [Page 812] như một giả thuyết làm việc, rồi bắt đầu ghi nhận, chẳng hạn, sức chịu đựng được biểu lộ bởi các đại hồn của thế gian, và khả năng làm việc dưới áp lực cao của họ, cùng việc họ hầu như miễn nhiễm với bệnh tật cho đến khi (vào cuối một đời sống hữu ích lâu dài) Chân ngã cố ý chọn “rút tắt” khỏi sự tồn tại hồng trần. Nó sẽ đến khi giới y khoa tập trung vào hành động phòng ngừa, thay thế chế độ hiện nay gồm thuốc men và phẫu thuật bằng ánh nắng mặt trời, chế độ ăn chay, và việc áp dụng các định luật rung động từ tính và sinh lực. Khi ấy sẽ đến thời kỳ những con người tinh tế và tốt đẹp hơn biểu hiện trên trần gian. Khi các y sĩ cũng học được bản chất của thể dĩ thái, và công việc của lá lách như một tiêu điểm cho các phát xạ prana, thì những nguyên lý và phương pháp lành mạnh sẽ được đưa vào, nhờ đó loại bỏ những bệnh như lao phổi, suy nhược, suy dinh dưỡng và các bệnh về máu và thận. Khi các bác sĩ thấu hiểu ảnh hưởng của cảm xúc lên hệ thần kinh, họ sẽ hướng sự chú ý đến việc cải thiện các điều kiện môi trường, và sẽ nghiên cứu các ảnh hưởng của các dòng cảm xúc lên các lưu chất của thể, và chủ yếu lên các trung tâm thần kinh lớn, cùng cột sống. Khi mối liên hệ giữa thể xác đậm đặc và các thể vi tế hơn trở thành một sự kiện được xác lập trong giới y học, thì việc điều trị đúng đắn chứng điên loạn, sự ám nhập, và các trạng thái trí tuệ sai lệch sẽ được thấu hiểu tốt hơn, và kết quả sẽ thành công hơn; sau cùng, khi bản chất của mãnh lực chân ngã, hay năng lượng, được nghiên cứu, và chức năng của bộ não hồng trần như bộ truyền đạt ý định chân ngã được thấu hiểu tốt hơn, thì sự phối hợp toàn bộ hữu thể của con người sẽ được nghiên cứu, và bệnh tật, suy nhược và đau ốm sẽ được truy nguyên về đúng nguyên nhân của chúng, và sẽ được điều trị qua nguyên nhân chứ không chỉ qua kết quả.

(2) The entire social world of thought will apply itself to the understanding of the emotional nature of [Page 813] humanity, to the group relationships involved, and to the interaction between individuals and other individuals, between groups and other groups. These relationships will be interpreted wisely and broadly and a man will be taught his responsibility to the lesser lives which he ensouls. This will produce a just direction of individual force, and its utilisation for the stabilisation, the development, and the refining of the substance of the different vehicles. Men will also be taught their definite responsibility under law to their own individual families. This will bring about the protection of the family unit, and its scientific development; it will cause the elimination of marital troubles, and the abolition of abuses of different kinds, so prevalent now in many family circles.

(2) Toàn bộ thế giới tư tưởng xã hội sẽ chuyên tâm vào việc thấu hiểu bản chất cảm xúc của [Page 813] nhân loại, các mối quan hệ nhóm liên hệ, và sự tương tác giữa cá nhân với cá nhân khác, giữa nhóm với nhóm khác. Những mối quan hệ này sẽ được diễn giải một cách minh triết và bao quát, và con người sẽ được dạy về trách nhiệm của mình đối với những sự sống nhỏ hơn mà y phú linh. Điều này sẽ tạo ra sự định hướng đúng đắn của mãnh lực cá nhân, và việc sử dụng nó cho sự ổn định, phát triển và tinh luyện chất liệu của các vận cụ khác nhau. Con người cũng sẽ được dạy về trách nhiệm xác định của mình theo định luật đối với chính gia đình cá nhân của mình. Điều này sẽ đem lại sự bảo vệ đơn vị gia đình, và sự phát triển khoa học của nó; nó sẽ khiến các rắc rối hôn nhân bị loại bỏ, và các lạm dụng đủ loại, hiện đang rất phổ biến trong nhiều gia đình, bị bãi bỏ.

Responsibility to the community in which a man is placed will likewise be emphasised. Men will be taught the true esoteric meaning of citizenship—a citizenship based upon egoic group relations, the law of rebirth, and the real meaning of the law of karma. They will be taught national responsibility, and the place of the community within the nation, and of the nation within the comity of nations. Men will finally be taught their responsibility to the animal kingdom. This will be brought about in three ways:

Trách nhiệm đối với cộng đồng mà một người được đặt vào cũng sẽ được nhấn mạnh. Con người sẽ được dạy ý nghĩa huyền bí chân thực của quyền công dân—một quyền công dân dựa trên các mối quan hệ nhóm chân ngã, định luật tái sinh, và ý nghĩa thực sự của định luật nghiệp quả. Họ sẽ được dạy trách nhiệm quốc gia, và vị trí của cộng đồng trong quốc gia, và của quốc gia trong cộng đồng các quốc gia. Sau cùng con người sẽ được dạy trách nhiệm của mình đối với giới động vật. Điều này sẽ được thực hiện theo ba cách:

1. Man’s truer understanding of his own animal nature.

1. Sự thấu hiểu chân thực hơn của con người về bản chất động vật của chính mình.

2. A comprehension of the laws of individualisation, and the effect of the influence of the fourth, or human, kingdom upon the third, or animal, kingdom.

2. Sự hiểu biết về các định luật biệt ngã hóa, và ảnh hưởng của giới thứ tư, hay giới nhân loại, lên giới thứ ba, hay giới động vật.