Trích nội dung chương
3. The work of an Avatar of a lesser order Who will come in the beginning of the next century to reveal to man his relationship to the third kingdom. His way is being prepared by the many who in these days are developing public interest through the [Page 814] various societies for the benefit and protection of animals, and through the many stories to be found in books and current periodicals. 3. Công việc của một Đấng Hoá Thân thuộc trật tự thấp hơn, Đấng sẽ đến vào đầu thế kỷ tới để mặc khải cho con người mối liên hệ của mình với giới thứ ba. Con đường của Ngài đang được chuẩn bị bởi nhiều người hiện nay đang phát triển mối quan tâm của…
3. The work of an Avatar of a lesser order Who will come in the beginning of the next century to reveal to man his relationship to the third kingdom. His way is being prepared by the many who in these days are developing public interest through the [Page 814] various societies for the benefit and protection of animals, and through the many stories to be found in books and current periodicals.
3. Công việc của một Đấng Hoá Thân thuộc trật tự thấp hơn, Đấng sẽ đến vào đầu thế kỷ tới để mặc khải cho con người mối liên hệ của mình với giới thứ ba. Con đường của Ngài đang được chuẩn bị bởi nhiều người hiện nay đang phát triển mối quan tâm của công chúng qua [Page 814] các hội đoàn khác nhau vì lợi ích và sự bảo vệ động vật, và qua nhiều câu chuyện có thể tìm thấy trong sách và các tạp chí đương thời.
We are told by H. P. B. (S. D., III, 580.) that the sense of responsibility is one of the first indications of egoic control, and as more and more of the human family come under egoic influence, conditions will be bettered slowly and steadily in every department of life.
Chúng ta được H. P. B. cho biết (S. D., III, 580.) rằng ý thức về trách nhiệm là một trong những dấu hiệu đầu tiên của sự kiểm soát chân ngã, và khi ngày càng nhiều thành viên của gia đình nhân loại chịu dưới ảnh hưởng chân ngã, các điều kiện sẽ được cải thiện chậm rãi và vững chắc trong mọi lĩnh vực của đời sống.
(3) In the educational world an apprehension of man’s true nature will bring about a fundamental change in the methods of teaching. The emphasis will be laid upon teaching people the fact of the Ego on its own plane, the nature of the lunar bodies, and the methods of aligning the lower bodies so that the Ego can communicate direct with the physical brain, and thus control the lower nature and work out its purposes. Men will be taught how, through concentration and meditation, they can ascertain knowledge for themselves, can develop the intuition, and thus draw upon the resources of the Ego. Then will men be taught to think, to assume control of the mental body, and thus develop their latent powers.
(3) Trong thế giới giáo dục sự nắm bắt bản chất chân thực của con người sẽ đem lại một thay đổi căn bản trong các phương pháp giảng dạy. Sự nhấn mạnh sẽ được đặt vào việc dạy con người về sự kiện của Chân ngã trên cõi riêng của nó, bản chất của các thể thái âm, và các phương pháp chỉnh hợp các thể thấp để Chân ngã có thể giao tiếp trực tiếp với bộ não hồng trần, và như thế kiểm soát bản chất thấp và triển khai các mục đích của nó. Con người sẽ được dạy cách, qua tập trung và tham thiền, họ có thể tự mình xác định tri thức, có thể phát triển trực giác, và như thế rút ra từ các nguồn lực của Chân ngã. Khi ấy con người sẽ được dạy tư duy, nắm quyền kiểm soát thể trí, và như thế phát triển các quyền năng tiềm ẩn của mình.
In the above few remarks are indicated very briefly and inadequately the results which may be looked for from a true understanding of the essential nature of man. It has been written in view of the necessity these days of a statement as to the real or inner man, and as to the laws of the kingdom of God. That inner man has ever been known to be there, and the “kingdom within” has ever been proclaimed until H. P. B. came and gave out the same old truths from a new angle, giving an occult turn to mystic thought. Now comes the opportunity for man to realise the laws of his own being, and in that realisation those who stand on the verge of intuitional apprehension of knowledge and those of scientific bent who are willing to accept these truths as a working [Page 815] hypothesis to be utilised as a basis for experiment until proven false, will have the chance to solve the world problems from within. Thus will the Christ principle be manifested upon earth, and thus will the Christ nature be demonstrated to be a fact in nature itself.
Trong vài nhận xét trên đây, những kết quả có thể được trông đợi từ một sự thấu hiểu chân thực về bản chất cốt yếu của con người đã được chỉ ra rất ngắn gọn và chưa đầy đủ. Điều này đã được viết ra vì nhu cầu hiện nay về một phát biểu liên quan đến con người chân thực hay nội tại, và liên quan đến các định luật của Thiên Giới. Con người nội tại ấy từ lâu vẫn được biết là hiện hữu, và “vương quốc bên trong” từ lâu vẫn được công bố cho đến khi H. P. B. xuất hiện và truyền ra những chân lý xưa cũ ấy từ một góc độ mới, đem đến một khúc ngoặt huyền bí cho tư tưởng thần bí. Giờ đây đến cơ hội để con người chứng nghiệm các định luật của chính hữu thể mình, và trong sự chứng nghiệm ấy, những ai đang đứng trên bờ của sự nắm bắt tri thức bằng trực giác và những ai có khuynh hướng khoa học sẵn lòng chấp nhận các chân lý này như một giả thuyết làm việc [Page 815] để được sử dụng làm cơ sở cho thực nghiệm cho đến khi bị chứng minh là sai, sẽ có cơ hội giải quyết các vấn đề của thế giới từ bên trong. Như thế nguyên lý Christ sẽ được biểu lộ trên trần gian, và như thế bản chất Christ sẽ được chứng minh là một sự kiện trong chính bản chất.
The value to the public thought of a true explanation of the evolution of the Ego, and its gradually developing power on earth is very great. There are two ways in which man may view this matter, both of which provide food for meditation, and well merit serious consideration. Both of them have been somewhat dealt with by thinkers of many schools of thought, and hence do not require any lengthy elucidation. The problem may be regarded as one calling for the elevation of the inner consciousness of the human unit (functioning in the physical body) to the higher levels of the mental plane, and therefore involves a raising or expansion of his waking consciousness till it becomes aware of this higher life. This is the way of mystical approach, and many instances of its successful accomplishment can be studied in the lives of the mystics of all ages. By sheer devotion and strenuous application, and by a severe disciplining of the physical body, the mystic effects his entrance into the heart centre of his little system, and his life becomes irradiated by the beams of his own central sun—the egoic light divine. The problem may again be regarded as one in which the effort of the man is concentrated in an attempt to bring down into the physical brain consciousness, and thus on to the physical plane, the life and power and energy of the inner centre, the Ego. This involves necessarily a scientific apprehension of the laws of being, and a recognition of the dual nature of the Self. It involves a devotion to the work of bringing about a domination of the lunar lords through the radiant control of the solar Lord. This is the occult method. It is the method of studying the constitution of those entities who form the [Page 816] fourfold lower nature, the personality, and a close investigation of those divine Essences Who build the body of the Ego or higher self. To this must be added a severe application of the laws of nature to the individual problem.
Giá trị đối với tư tưởng công chúng của một sự giải thích chân thực về sự tiến hoá của chân ngã, và về quyền năng đang dần phát triển của nó trên Trái Đất, là rất lớn. Có hai cách mà con người có thể nhìn vấn đề này, cả hai đều cung cấp nhiều điều đáng suy ngẫm trong tham thiền, và rất đáng được xem xét nghiêm túc. Cả hai cách ấy phần nào đã được các nhà tư tưởng thuộc nhiều trường phái tư tưởng bàn đến, và vì thế không đòi hỏi sự làm sáng tỏ dài dòng nào. Vấn đề có thể được xem như một vấn đề đòi hỏi sự nâng cao tâm thức bên trong của đơn vị nhân loại (đang hoạt động trong thể xác) lên các cấp độ cao hơn của cõi trí, và do đó bao hàm việc nâng lên hay mở rộng tâm thức thức tỉnh của y cho đến khi nó nhận biết được sự sống cao hơn này. Đây là con đường tiếp cận của nhà thần bí, và nhiều trường hợp thành công của nó có thể được nghiên cứu trong cuộc đời của các nhà thần bí thuộc mọi thời đại. Bằng lòng sùng tín thuần túy và sự chuyên cần mãnh liệt, cùng bằng sự kỷ luật nghiêm khắc đối với thể xác, nhà thần bí đi vào trung tâm tim của hệ thống nhỏ bé của mình, và đời sống của y trở nên được chiếu rạng bởi các tia của mặt trời trung tâm của chính y—ánh sáng thiêng liêng của chân ngã. Vấn đề cũng có thể lại được xem như một vấn đề trong đó nỗ lực của con người được tập trung vào việc cố gắng đem xuống tâm thức bộ não hồng trần, và như thế xuống cõi hồng trần, sự sống, quyền năng và năng lượng của trung tâm bên trong, tức chân ngã. Điều này tất yếu bao hàm một sự lĩnh hội có tính khoa học về các định luật của bản thể, và một sự nhận biết bản chất nhị nguyên của Bản Ngã. Nó bao hàm sự tận tụy với công việc đem lại sự thống trị các nguyệt tinh quân nhờ sự kiểm soát rạng ngời của nhật tinh quân. Đây là phương pháp huyền bí học. Đó là phương pháp nghiên cứu cấu tạo của những thực thể tạo thành [Page 816] bản chất thấp tứ phân, phàm ngã, và khảo sát kỹ lưỡng những Tinh Chất thiêng liêng xây dựng thể của chân ngã hay bản ngã cao siêu. Vào đó còn phải thêm sự áp dụng nghiêm ngặt các định luật của bản chất vào vấn đề cá nhân.
What is proposed in this Treatise is to follow the latter method, as the aim is to make clear the rationale of the process.
Điều được đề nghị trong Luận này là theo phương pháp sau, vì mục tiêu là làm sáng tỏ cơ sở hợp lý của tiến trình.
(b) The evolution of the petals. The building of the causal body is the result of dual energy, that of the lower self with its reflex action upon the higher unit, and that of the natural energy of the self as it makes its direct impress upon the substance of the egoic lotus. It should here be remembered that, subtle though the material may be, the egoic lotus is as truly substance of a particular vibration as is the physical body, only (owing to its rarity) physical plane man regards it practically as nonsubstantial. It is in fact, as earlier pointed out, the result of the dual vibration of the fivefold Dhyanis or Gods in conjunction with the fourfold Quaternary, or the Pitris of the lower vehicles. Through a conscious effort of the planetary Logoi, these Dhyanis and lower Pitris are brought into a close relationship. This produces (upon the third subplane of the mental plane) a ninefold vibration or whorl in the gaseous matter of the plane—for this is the cosmic gaseous subplane—which, after a certain period of persistence, assumes the form of a nine-petalled lotus. This lotus is folded over in bud shape upon the central point, or heart of the lotus—that spark of electric fire which by its action or innate vitality working upon the substance of the lotus, attracts to itself sufficient of that substance to form three inner petals, which closely shield the central spark; these are nevertheless of the same substance or essence as the nine other petals. The student must be careful not to materialise his concept too much and it might therefore be wise for him to view
(b) Sự tiến hoá của các cánh hoa. Việc xây dựng thể nguyên nhân là kết quả của năng lượng nhị nguyên, tức năng lượng của phàm ngã với tác động phản chiếu của nó lên đơn vị cao hơn, và năng lượng tự nhiên của bản ngã khi nó tạo dấu ấn trực tiếp lên chất liệu của hoa sen chân ngã. Ở đây cần nhớ rằng, dù vật chất ấy có vi tế đến đâu, hoa sen chân ngã cũng thật sự là chất liệu của một rung động đặc thù như thể xác vậy, chỉ có điều (do tính tinh tế của nó) con người cõi hồng trần thực tế xem nó như phi vật chất. Thật ra, như đã chỉ ra trước đây, nó là kết quả của rung động nhị nguyên của các Dhyanis hay các Thượng đế ngũ phân kết hợp với Bộ Tứ tứ phân, hay các Pitris của các vận cụ thấp. Nhờ nỗ lực có ý thức của các Hành Tinh Thượng Đế, các Dhyanis này và các Pitris thấp được đưa vào một mối liên hệ mật thiết. Điều này tạo ra (trên cõi phụ thứ ba của cõi trí) một rung động hay xoáy lốc cửu phân trong vật chất thể khí của cõi ấy—vì đây là cõi phụ thể khí vũ trụ—rồi sau một thời kỳ tồn tại nhất định, nó mang hình dạng của một hoa sen chín cánh. Hoa sen này khép lại thành hình nụ quanh điểm trung tâm, hay tim của hoa sen—tia lửa lửa điện ấy, do tác động của nó hay sinh lực bẩm sinh của nó hoạt động trên chất liệu của hoa sen, hút về mình đủ chất liệu ấy để tạo thành ba cánh hoa bên trong, che chở sít sao tia lửa trung tâm; tuy nhiên, những cánh này vẫn cùng một chất liệu hay tinh chất như chín cánh hoa kia. Đạo sinh phải cẩn thận đừng hiện hình khái niệm của mình quá mức, và vì thế có lẽ sẽ là khôn ngoan nếu y nhìn
[Page 818] this manifestation from other angles and employ other terms to express the same idea. For instance, the body of the Ego may be viewed in the following four ways:
[Page 818] biểu hiện này từ những góc độ khác và dùng những thuật ngữ khác để diễn đạt cùng một ý tưởng. Chẳng hạn, thể của chân ngã có thể được nhìn theo bốn cách sau:
As nine vibrations, emanating from a central point, which, in its pulsation or radiations produces three major vibrations of great force pursuing a circular activity around the centre; the nine vibrations pursue a diagonal path until they reach the periphery of the egoic sphere of influence. At this point they swing around, thus forming the well-known spheroidal form of the causal body.
Như chín rung động, phát ra từ một điểm trung tâm, điểm này trong sự đập nhịp hay phát xạ của nó tạo ra ba rung động chính có mãnh lực lớn vận hành theo hoạt động tròn quanh trung tâm; chín rung động đi theo một đường chéo cho đến khi chúng chạm tới chu vi của khối cầu ảnh hưởng chân ngã. Tại điểm này chúng xoay vòng, nhờ đó tạo thành hình cầu quen thuộc của thể nguyên nhân.
As nine petals of a lotus, radiating from a common centre, and hiding within themselves three central petals, which conceal a central point of fire. The radiations from the tip of each petal are those which cause the illusion of a spheroidal shape.
Như chín cánh hoa của một hoa sen, toả ra từ một trung tâm chung, và che giấu trong chính chúng ba cánh hoa trung tâm, những cánh này che kín một điểm lửa trung tâm. Các phát xạ từ đầu mỗi cánh hoa là những gì gây ra ảo tưởng về một hình cầu.
As nine spokes of a wheel, converging towards a central hub, which is in itself threefold, and which hides the central energy or dynamo of force—the generator of all the activity.
Như chín nan hoa của một bánh xe, hội tụ về một trục trung tâm, bản thân trục này là tam phân, và che giấu năng lượng trung tâm hay máy phát lực—nguồn phát sinh mọi hoạt động.
As nine types of energy which produce definite emanations from a threefold unit, again itself an outgoing from a central unit of force.
Như chín loại năng lượng tạo ra những phát xạ xác định từ một đơn vị tam phân, mà bản thân nó lại là một sự tuôn ra từ một đơn vị lực trung tâm.
For all purposes, the second definition will be the one of the most use to us in our attempt to picture the constitution, nature, method of development and true evolution of the Ego, functioning in the causal body.
Vì mọi mục đích, định nghĩa thứ hai sẽ là định nghĩa hữu ích nhất cho chúng ta trong nỗ lực hình dung cấu tạo, bản chất, phương pháp phát triển và sự tiến hoá chân thực của chân ngã đang hoạt động trong thể nguyên nhân.
In terms of fire, the same truths may be expressed as follows, and this should be carefully pondered upon by the student of this Treatise:
Theo thuật ngữ của lửa, các chân lý ấy có thể được diễn đạt như sau, và đạo sinh của Luận này nên suy ngẫm cẩn thận về điều đó:
1. Electric fire
Spirit
Will aspect
Jewel in the lotus.
2. Solar fire
Consciousness
Love aspect
The nine petals.
3. Fire by friction
Substance
Activity aspect
The three permanent atoms.
[Page 819] In electric fire, the Monad is represented in its threefold nature, and stands for that type of manifestation which will be brought to its highest stage of development in the next solar system.
[Page 819] Trong Lửa Điện, chân thần được biểu hiện trong bản chất tam phân của nó, và tượng trưng cho loại biểu hiện sẽ được đưa đến giai đoạn phát triển cao nhất trong hệ mặt trời kế tiếp.
In solar fire, these solar Pitris in their ninefold formation represent and make possible the unfolding of the consciousness of the Monad through the medium of the Ego in the three worlds of human evolution.
Trong Lửa Thái dương, các thái dương tổ phụ này trong cấu trúc cửu phân của các ngài biểu hiện và làm cho có thể sự khai mở tâm thức của chân thần thông qua trung gian của chân ngã trong ba cõi giới của tiến hoá nhân loại.
In fire by friction, the lunar Pitris are represented and constitute the lower self, the personality, or those vehicles by means of which the Ego in turn is to acquire experience on the lower planes.
Trong Lửa ma sát, các thái âm tổ phụ được biểu hiện và cấu thành phàm ngã, phàm nhân, hay những vận cụ nhờ đó chân ngã lần lượt thu nhận kinh nghiệm trên các cõi thấp.
Yet these three are one in manifestation within the egoic auric egg, and the interchange of energy and vitality proceeds steadily. Spirit uses the Soul, or the Ego, as a vehicle of enlightenment, and the Ego uses the lower Quaternary as its medium of expression. The evolution of Spirit can really therefore be divided into three stages:
Tuy nhiên, ba điều này là một trong biểu hiện bên trong noãn hào quang chân ngã, và sự trao đổi năng lượng cùng sinh lực diễn ra đều đặn. Tinh thần dùng linh hồn, hay chân ngã, như một vận cụ của sự giác ngộ, và chân ngã dùng Bộ Tứ thấp như phương tiện biểu lộ của nó. Vì vậy, sự tiến hoá của tinh thần thật ra có thể được chia thành ba giai đoạn:
First. The stage in which the lunar Pitris function primarily, and prepare the lower sheaths for occupancy. The lower vibrations control, and “fire by friction” is that which warms and nourishes to the practical exclusion of all else.
Thứ nhất. Giai đoạn trong đó các thái âm tổ phụ hoạt động chủ yếu, và chuẩn bị các vỏ bọc thấp cho sự cư ngụ. Các rung động thấp kiểm soát, và “Lửa ma sát” là điều sưởi ấm và nuôi dưỡng, thực tế loại trừ mọi thứ khác.
Second. The stage in which the solar Pitris gradually become predominant, in which the egoic consciousness is developed. The sheaths are occupied by the Thinker, are gradually controlled by him, are bent to his will and purpose, and are eventually discarded. The middle vibrations control and solar fire irradiates; it lights up in due course of evolution the lower sheaths; it gradually increases its heat, and eventually aids in the destruction of the forms.
Thứ hai. Giai đoạn trong đó các thái dương tổ phụ dần dần trở nên trội hơn, trong đó tâm thức chân ngã được phát triển. Các vỏ bọc được Thức Giả cư ngụ, dần dần được y kiểm soát, được uốn theo ý chí và mục đích của y, và cuối cùng bị loại bỏ. Các rung động trung gian kiểm soát và Lửa Thái dương chiếu rạng; đến đúng kỳ tiến hoá nó soi sáng các vỏ bọc thấp; dần dần nó tăng nhiệt, và cuối cùng trợ giúp vào sự huỷ diệt các hình tướng.
Third. The stage in which electric fire is revealed, and through the intensity of its blaze puts out the other fires. The lunar Pitris have fulfilled their work, the solar Pitris [Page 820] have developed the self-conscious unit, man, and the monad (having utilised both) discards both, and withdraws into itself, this time plus the gain of material existence, and plus developed love-wisdom.
Thứ ba. Giai đoạn trong đó Lửa Điện được mặc khải, và qua cường độ chói sáng của nó dập tắt các lửa khác. Các thái âm tổ phụ đã hoàn tất công việc của mình, các thái dương tổ phụ [Page 820] đã phát triển đơn vị ngã thức, con người, và chân thần (sau khi đã sử dụng cả hai) loại bỏ cả hai, và rút vào chính nó, lần này cộng thêm thành quả của sự tồn tại vật chất, và cộng thêm Bác Ái – Minh Triết đã phát triển.
In terms of the old Commentary, the truth is thus stated:
Theo Cổ Luận, chân lý được phát biểu như sau:
“The Lord of Life Himself sits at the heart and watches. The Lords of solar fire pursue their task and sacrifice themselves to the lunar Lords of all the lower planes. They die, but resurrect. They pass without, and come again. Yet the Lord of Life sits still.
“Chúa Tể của Sự sống đích thân ngự tại tim và quan sát. Các chúa tể của lửa thái dương theo đuổi nhiệm vụ của các ngài và hi sinh chính mình cho các chúa tể thái âm của mọi cõi thấp. Các ngài chết, nhưng phục sinh. Các ngài đi ra ngoài, rồi trở lại. Tuy nhiên Chúa Tể của Sự sống vẫn ngồi yên.
The lunar Lords begin to die; their power begins to wane with each successive cycle. The solar Lords shine forth in triumph and consign the fourfold ones to fire,—the fire which burns and dissipates the form.
Các chúa tể thái âm bắt đầu chết; quyền năng của họ bắt đầu suy giảm theo mỗi chu kỳ kế tiếp. Các chúa tể thái dương chiếu sáng trong chiến thắng và giao phó những kẻ tứ phân cho lửa,—ngọn lửa thiêu đốt và làm tiêu tan hình tướng.
Many times the work repeats itself; the cycles wax and wane, until the day triumphant when the solar Lord acclaims himself and knows himself the ruler.
Công việc lặp lại nhiều lần; các chu kỳ tăng rồi giảm, cho đến ngày chiến thắng khi chúa tể thái dương tự xưng mình và biết mình là kẻ cai quản.
The Lord of Life then turns Himself, and arises in His might. He consumes the solar Lords, and they perish as did the lunar Lords. He speaks a Word; the fire descends. The blaze bursts forth. Gone is the lower fire through the flame of solar burning, gone is the middle fire through the intensity of fire from Heaven.
Khi ấy Chúa Tể của Sự sống xoay mình, và đứng dậy trong uy lực của Ngài. Ngài thiêu huỷ các chúa tể thái dương, và họ tiêu vong như các chúa tể thái âm đã tiêu vong. Ngài phát ra một Linh từ; lửa giáng xuống. Ánh chói bùng lên. Lửa thấp biến mất bởi ngọn lửa thái dương rực cháy, lửa trung gian biến mất bởi cường độ của lửa từ Thiên giới.
Naught remaineth save a threefold flame of violet, indigo and yellow. THAT disappears. Then darkness reigns. Yet the Lord of Life persists, though invisible.”
Không gì còn lại ngoài một ngọn lửa tam phân màu tím, chàm và vàng. CÁI ĐÓ biến mất. Rồi bóng tối ngự trị. Tuy nhiên Chúa Tể của Sự sống vẫn tồn tại, dù vô hình.”
As we know, the egoic lotus consists of three circles,—each circle being composed of three petals, and all shielding the inner bud where hides the jewel. It is with the evolution of these petals that we are concerned, with their formation, their vitalisation, their nurturing, and eventual unfoldment. It will be useful for the student at this stage to remember that we are primarily dealing with the development of the second aspect in man, the love-wisdom aspect, and are only secondarily considering the third aspect, that of activity which finds its energising centres in the three permanent atoms.
Như chúng ta biết, hoa sen chân ngã gồm ba vòng,—mỗi vòng gồm ba cánh hoa, và tất cả đều che chở nụ bên trong nơi viên ngọc ẩn giấu. Điều chúng ta quan tâm là sự tiến hoá của các cánh hoa này, sự hình thành, sự tiếp sinh lực, sự nuôi dưỡng, và sự khai mở cuối cùng của chúng. Ở giai đoạn này, sẽ hữu ích cho đạo sinh nếu nhớ rằng chúng ta chủ yếu đang bàn đến sự phát triển của phương diện thứ hai trong con người, phương diện bác ái – minh triết, và chỉ thứ yếu mới xét đến phương diện thứ ba, tức phương diện hoạt động, phương diện tìm thấy các trung tâm tiếp năng lượng của nó trong ba nguyên tử trường tồn.
[Page 821] These three circles of petals are called in the esoteric terminology:
[Page 821] Ba vòng cánh hoa này được gọi trong thuật ngữ huyền bí học là:
1. The “outer knowledge” triad, or the lords of active wisdom.
1. Tam nguyên “tri thức” bên ngoài, hay các chúa tể của minh triết hoạt động.
2. The middle “love” triad, or the lords of active love.
2. Tam nguyên “bác ái” ở giữa, hay các chúa tể của bác ái hoạt động.
3. The inner “sacrificial” triad, or the lords of active will.
3. Tam nguyên “hi sinh” bên trong, hay các chúa tể của ý chí hoạt động.
The first is the summation of experience and developed consciousness; the second is the application of that knowledge in love and service, or the expression of the Self and the Not-Self in reciprocal vibration; and the third is the full expression of knowledge and love turned toward the conscious sacrifice of all to the furthering of the plans of the planetary Logos, and to the carrying out of His purposes in group work. Each of these three groups of petals come under the definite guidance of three groups of Agnishvattas, who form them out of their own substance and who in essence are the threefold Ego during its manifestation. Through them flows the force and coherent energy of those mysterious Entities whom (when considering the human family as a whole) we call—
Vòng thứ nhất là tổng hợp của kinh nghiệm và tâm thức đã phát triển; vòng thứ hai là sự áp dụng tri thức ấy trong bác ái và phụng sự, hay sự biểu lộ của Bản Ngã và Phi-Ngã trong rung động tương hỗ; và vòng thứ ba là sự biểu lộ trọn vẹn của tri thức và bác ái hướng về sự hi sinh có ý thức của mọi sự để thúc đẩy các kế hoạch của Hành Tinh Thượng Đế, và để thực hiện các mục đích của Ngài trong công việc nhóm. Mỗi một trong ba nhóm cánh hoa này đều nằm dưới sự hướng dẫn xác định của ba nhóm Agnishvattas, những vị tạo thành chúng từ chính chất liệu của mình và về bản chất là chân ngã tam phân trong thời kỳ biểu hiện của nó. Qua họ tuôn chảy mãnh lực và năng lượng kết hợp của những Thực Thể huyền nhiệm mà (khi xét toàn thể gia đình nhân loại) chúng ta gọi là—
a. The Buddhas or Lords of Activity.
a. Các Đức Phật hay các Chúa Tể của Hoạt Động.
b. The Buddhas or Lords of Compassionate Love.
b. Các Đức Phật hay các Chúa Tể của Bác Ái Từ Bi.
c. Buddhas of Sacrifice, of Whom the Lord of the World is, to man, the best known exponent.
c. Các Đức Phật của Hi Sinh, trong số các Ngài, Đức Chúa Tể Thế Giới là vị biểu hiện được con người biết rõ nhất.
Through these three groups flows that threefold energy which, on the mental plane, finds its medium of expression in connection with the human kingdom, in the three groups of Agnishvattas or solar Pitris above referred to. These groups form the substance of the three circles of petals, and each group has also a special influence upon the particular petal belonging to their especial scale of vibrations. For the sake of clarity, we might tabulate the various petals so that the student may [Page 822] get a clearer comprehension of the conformation of his own causal vehicle, and some idea of the various triangular relationships:
Qua ba nhóm này tuôn chảy năng lượng tam phân ấy, năng lượng trên cõi trí tìm thấy phương tiện biểu lộ của nó liên hệ với giới nhân loại trong ba nhóm Agnishvattas hay thái dương tổ phụ đã nói ở trên. Các nhóm này tạo thành chất liệu của ba vòng cánh hoa, và mỗi nhóm cũng có một ảnh hưởng đặc biệt lên cánh hoa riêng biệt thuộc thang rung động đặc thù của họ. Để cho rõ ràng, chúng ta có thể lập bảng các cánh hoa khác nhau để đạo sinh có thể [Page 822] có được sự hiểu biết rõ ràng hơn về cấu trúc của vận cụ nguyên nhân của chính mình, và một vài ý niệm về các mối liên hệ tam giác khác nhau:
I. The outer “knowledge” triad:
I. Tam nguyên “tri thức” bên ngoài:
a.
Petal 1
Knowledge on the physical plane.
Colours: Orange, green and violet.
b.
Petal 2
Love on the physical plane.
Colours: Orange, rose and blue.
c.
Petal 3
Sacrifice on the physical plane.
Colours: Orange, yellow and indigo.
These three petals are organised and vitalised in the Hall of Ignorance, but remain unopened and only begin to unfold as the second circle is organised.
Ba cánh hoa này được tổ chức và tiếp sinh lực trong Phòng Vô Minh, nhưng vẫn chưa mở và chỉ bắt đầu khai mở khi vòng thứ hai được tổ chức.
II. The middle “love” triad:
II. Tam nguyên “bác ái” ở giữa:
a.
Petal 1
Higher Knowledge applied through love on the physical and astral planes.
Colours: Rose, and the original three.
b.
Petal 2
Higher intelligent love on the physical and astral planes.
Colours: Rose and the corresponding three.
c.
Petal 3
Loving intelligent sacrifice on the physical and astral planes.
Colours: Rose and the same three.
These three petals preserve the fundamental orange but add the colour rose in every petal, so that four colours are now seen. These petals are organised and vitalised in the Hall of Learning, but remain unopened. The outer tier of petals simultaneously unfolds till it is open entirely, revealing the second circle; the third remains shielded. [Page 823]
Ba cánh hoa này giữ màu cam căn bản nhưng thêm màu hồng vào mỗi cánh hoa, vì thế nay thấy được bốn màu. Các cánh hoa này được tổ chức và tiếp sinh lực trong Phòng Hiểu Biết, nhưng vẫn chưa mở. Đồng thời, tầng cánh hoa bên ngoài khai mở cho đến khi hoàn toàn mở ra, để lộ vòng thứ hai; vòng thứ ba vẫn còn được che chở. [Page 823]
[Page 824] III. The inner “sacrificial” triad:
[Page 824] III. Tam nguyên “hi sinh” bên trong:
a.
Petal 1
The Will to sacrifice through knowledge on the mental plane, and thus intelligently to dominate the entire threefold lower man.
Colours: Yellow and the four colours, orange, green, violet and rose.
b.
Petal 2
The will to sacrifice through love on the mental plane, and thus to serve.
Colours: Yellow and the four colours, orange, violet, rose and blue.
c.
Petal 3
The utter sacrifice of all forever.
Colours: Yellow, orange, rose, blue and indigo.
In the mystery of these subsidiary colours and of the gradual shining forth within the lotus of five colours in any one petal at one time, is veiled the mystery of the five Kumaras. (S.D., I, 483.) The student who seeks the significance of the preponderance of orange and of rose is approaching the secret of the two Kumaras Who fell. More it is not possible to say, but the colours hold the esoteric key to this great occurrence. This inner circle of petals is organised and vitalised in the Hall of Wisdom, and simultaneously the middle circle unfolds, so that two rows of petals are duly opened, and only the third remains to be unclosed. This final opening is effected during the period of treading the stages of the Path of Initiation, and in this round it is hastened by the rites of initiation and by the strenuous and abnormal efforts of the man himself, aided by the electrical work of the Initiator, wielding the Rod of Power.
Trong huyền nhiệm của các màu phụ này và của sự dần dần chiếu sáng bên trong hoa sen của năm màu trong bất kỳ một cánh hoa nào tại một thời điểm, có che giấu huyền nhiệm của năm Kumaras. (S.D., I, 483.) Đạo sinh nào tìm kiếm thâm nghĩa của sự trội hơn của màu cam và màu hồng đang tiến gần đến bí mật của hai Kumaras đã sa ngã. Không thể nói thêm được nữa, nhưng các màu sắc nắm giữ chiếc chìa khóa huyền bí cho biến cố lớn lao này. Vòng cánh hoa bên trong này được tổ chức và tiếp sinh lực trong Phòng Minh triết, và đồng thời vòng giữa khai mở, để hai hàng cánh hoa được mở đúng mức, và chỉ còn vòng thứ ba là chưa mở. Sự mở cuối cùng này được thực hiện trong thời kỳ bước đi qua các giai đoạn của Con Đường Điểm Đạo, và trong cuộc tuần hoàn này nó được thúc đẩy nhanh bởi các nghi lễ điểm đạo và bởi những nỗ lực mãnh liệt và bất thường của chính con người, được trợ giúp bởi công việc điện lực của Đấng Điểm đạo, Đấng cầm Thần Trượng Điểm đạo.
Though we have thus divided off the different stages of development, we have but dealt with the general average, gathering our facts from the records to which we have access and which are grouped in relation to this subject into the three groups, related to:
Dù chúng ta đã phân chia các giai đoạn phát triển khác nhau như thế, chúng ta mới chỉ bàn đến mức trung bình tổng quát, thu thập các dữ kiện từ những hồ sơ mà chúng ta có thể tiếp cận và được nhóm lại liên hệ với đề tài này thành ba nhóm, liên hệ đến:
a. The Monads of power.
a. Các chân thần quyền năng.
b. The Monads of love.
b. Các chân thần bác ái.
c. The Monads of activity.
c. Các chân thần hoạt động.
The student must remember that according to these groupings, so will be the tendency of the petals to unfold. For instance, in the case of the majority of men, being [Page 825] Monads of Love, the love petals are more easily awakened, for love is the nature of the present manifestation and the line of love in some direction (low, high, or spiritual) is the line of least resistance for the many. Yet the Monads of activity are numerous and influential and the first petal in each ring is for them the easiest to unfold. For both groups the “knowledge” petal is the first opened, owing to the inherent nature of the Manasadevas themselves, and their basic vibration. For all, sacrifice is the hardest, for it involves ever the two factors of intelligence and love,—intelligent knowledge and a love that goes out to that which must be saved through sacrifice.
Đạo sinh phải nhớ rằng theo các cách phân nhóm này, xu hướng khai mở của các cánh hoa cũng sẽ như vậy. Chẳng hạn, trong trường hợp đa số người, vì là [Page 825] các chân thần Bác Ái, các cánh hoa bác ái dễ được đánh thức hơn, vì bác ái là bản chất của biểu hiện hiện tại và đường lối bác ái theo một hướng nào đó (thấp, cao, hay tinh thần) là con đường ít trở ngại nhất đối với số đông. Tuy nhiên, các chân thần hoạt động cũng rất đông và có ảnh hưởng, và đối với họ cánh hoa thứ nhất trong mỗi vòng là cánh dễ khai mở nhất. Đối với cả hai nhóm, cánh hoa tri thức là cánh đầu tiên được mở, do bản chất cố hữu của chính các Manasadevas, và rung động căn bản của họ. Đối với tất cả, hi sinh là điều khó nhất, vì nó luôn bao hàm hai yếu tố trí tuệ và bác ái,—tri thức thông minh và một tình thương hướng ra ngoài đến điều phải được cứu vớt qua hi sinh.
In these three circles of petals lies concealed another clue to the mystery of the 777 incarnations. The figures do not convey an exact number of years, but are figurative and symbolical; they are intended to convey the thought of three cycles of varying duration, based upon the septenary nature of the manifesting monad.
Trong ba vòng cánh hoa này còn ẩn giấu một đầu mối khác cho huyền nhiệm của 777 lần lâm phàm. Các con số không truyền đạt một số năm chính xác, mà có tính hình tượng và biểu tượng; chúng nhằm truyền đạt ý tưởng về ba chu kỳ có thời lượng khác nhau, dựa trên bản chất thất phân của chân thần đang biểu hiện.
First. The 700 incarnations. These concern the unfoldment of the outer circle. This is the longest period. The initial vibration is slow and heavy, and millenia of lives have to elapse before the interchange of energy between the Ego and its reflection, the personal self (the lower threefold man) is such that the consciousness of the man occultly “awakens” in the Hall of Learning. For advanced man at this time these incarnations took place upon the moon chain and in some cases upon certain planets connected with the inner round. This is the circumstance which necessitated his “coming-in” during the Atlantean root-race. Men of this type refused to incarnate earlier, as the bodies were too coarse; this was the cyclic reflection (on the lowest plane) of the refusal of the Monads to incarnate at the dawn of manvantaric opportunity. No real “sin” was committed; it was their privilege to discriminate, and this refusal has its [Page 826] bearing upon conditions upon Earth, being the basis of the great class distinctions which—in every land—have been so fruitful of trouble and the esoteric foundation of the “caste” system, so abused now in India. The problem of labor and capital has its roots in the subjective distinction between “equipped and unequipped” Egos, between those units of the human family on earth who have passed out of the Hall of Ignorance, and those who are yet groping in its dark and gloomy corridors; between those Egos who are only “bud” Egos, and those who have organised the outer circle of petals, and whose petals are ready to open up.
Thứ nhất. 700 lần lâm phàm. Những lần này liên quan đến sự khai mở của vòng ngoài. Đây là thời kỳ dài nhất. Rung động ban đầu chậm và nặng, và phải trải qua hàng thiên niên kỷ của các kiếp sống trước khi sự trao đổi năng lượng giữa chân ngã và phản chiếu của nó, bản ngã cá nhân (con người tam phân thấp), đạt đến mức mà tâm thức của con người một cách huyền bí “thức tỉnh” trong Phòng Hiểu Biết. Đối với con người tiến bộ vào thời đó, các lần lâm phàm này đã diễn ra trên Dãy Mặt Trăng và trong một số trường hợp trên vài hành tinh liên hệ với cuộc tuần hoàn bên trong. Chính hoàn cảnh này đã khiến y phải “đi vào” trong giống dân gốc Atlantis. Những người thuộc loại này đã từ chối lâm phàm sớm hơn, vì các thể quá thô trược; đây là sự phản chiếu theo chu kỳ (trên cõi thấp nhất) của sự từ chối của các chân thần không chịu lâm phàm vào buổi đầu của cơ hội giai kỳ sinh hóa. Không có “tội lỗi” thực sự nào được phạm; đó là đặc quyền của họ để phân biện, và sự từ chối này có [Page 826] liên hệ đến các điều kiện trên Trái Đất, là cơ sở của những phân biệt giai cấp lớn lao mà—ở mọi xứ sở—đã sinh ra biết bao rắc rối và là nền tảng huyền bí của hệ thống “đẳng cấp”, hiện bị lạm dụng quá mức ở Ấn Độ. Vấn đề lao động và tư bản có gốc rễ trong sự phân biệt chủ quan giữa các chân ngã “được trang bị” và “chưa được trang bị”, giữa những đơn vị của gia đình nhân loại trên Trái Đất đã vượt ra khỏi Phòng Vô Minh, và những đơn vị còn đang mò mẫm trong các hành lang tối tăm ảm đạm của nó; giữa những chân ngã chỉ mới là chân ngã “nụ”, và những chân ngã đã tổ chức vòng cánh hoa bên ngoài, và các cánh hoa của họ đã sẵn sàng mở ra.
The idea of a septenate of centuries must be carefully pondered upon, and as ever in all occult matters, the idea of triplicity must be also borne in mind with a synthesising period, which is a summation of the triple coordination:
Ý tưởng về một bộ bảy thế kỷ phải được suy ngẫm cẩn thận, và như thường lệ trong mọi vấn đề huyền bí học, ý tưởng về bộ ba cũng phải được ghi nhớ cùng với một thời kỳ tổng hợp, là sự tổng kết của sự phối hợp tam phân:
Each cycle (again figurative cycles) leaves one of the petals more vitalised, and has a definite effect on each.
Mỗi chu kỳ (lại là các chu kỳ hình tượng) để lại một trong các cánh hoa được tiếp sinh lực nhiều hơn, và có một tác động xác định lên mỗi cánh.
Second. The 70 incarnations. These concern the unfoldment of the middle circle. Much may be learned from a consideration of the occult significance involved in the sending out of their followers by any initiate (such as the Christ) in groups of seventy, going two and two. These seventy incarnations primarily effect the development of love in the personal life, the evolution of the astral nature, based on the recognition of the pairs of opposites, and their equilibrising in love and service.
Thứ hai. 70 lần lâm phàm. Những lần này liên quan đến sự khai mở của vòng giữa. Có thể học được nhiều điều từ việc xem xét thâm nghĩa huyền bí hàm chứa trong việc bất kỳ điểm đạo đồ nào (như Đức Christ) sai các môn đồ của mình đi theo từng nhóm bảy mươi người, đi từng đôi một. Bảy mươi lần lâm phàm này chủ yếu tạo ra sự phát triển của bác ái trong đời sống cá nhân, sự tiến hoá của bản chất cảm dục, dựa trên sự nhận biết các cặp đối đãi, và sự quân bình chúng trong bác ái và phụng sự.
This cycle covers the period passed by the man in the [Page 827] Hall of Learning and has its correspondence in the Atlantean root-race and its conflict between the Lords of the Dark Face and the Brotherhood of Light. Within the life of each individual, a similar conflict wages during this period, ending with the final kurukshetra or battle-ground which earns for the man the right to tread the Probationary Path, and eventually the privilege to stand before the Portal of Initiation. Again the numerical significance of the numbers must be studied; this time they are hid in the number ten, or three cycles of three lesser periods, each making nine, and one synthesising period, leading up to the consummation of one period within the greater cycle; this is signified by the ten of relative perfection. (S. D., I, 214; II, 393, 445, 446.) (263) The interplay between kamic impulse and manasic energy has produced a realisation within the consciousness of the Ego of that [Page 828] which he has learned within the two Halls; the outer circle of petals is unfolded, and the central ring is ready to open.
Chu kỳ này bao trùm thời kỳ con người trải qua trong [Page 827] Phòng Hiểu Biết và có sự tương ứng của nó trong giống dân gốc Atlantis cùng cuộc xung đột giữa các Chúa Tể của Khuôn Mặt Tối và Huynh đệ Đoàn Ánh Sáng. Trong đời sống của mỗi cá nhân, một cuộc xung đột tương tự cũng diễn ra trong thời kỳ này, kết thúc bằng kurukshetra cuối cùng hay chiến trường cuối cùng, nhờ đó con người giành được quyền bước lên Con Đường Dự Bị, và cuối cùng là đặc ân được đứng trước Cổng Điểm Đạo. Một lần nữa, thâm nghĩa số học của các con số phải được nghiên cứu; lần này chúng được ẩn trong số mười, hay ba chu kỳ gồm ba thời kỳ nhỏ hơn, mỗi chu kỳ thành chín, và một thời kỳ tổng hợp, dẫn đến sự hoàn tất của một thời kỳ trong chu kỳ lớn hơn; điều này được biểu thị bằng số mười của sự toàn hảo tương đối. (S. D., I, 214; II, 393, 445, 446.) (263) Sự tương tác giữa xung lực kama và năng lượng manas đã tạo ra một sự chứng nghiệm trong tâm thức của chân ngã về điều mà y đã học được trong hai Phòng; [Page 828] vòng cánh hoa bên ngoài đã khai mở, và vòng trung tâm sẵn sàng mở ra.
(263) The Number 10.—See S. D., I, 125, 126.
(263) Số 10.—Xem S. D., I, 125, 126.
1. The three, enclosed within the circle are the sacred Four.
1. Bộ ba, được bao trong vòng tròn, là Bộ Bốn thiêng liêng.
a. Adi-Sanat, the Number, Unity. The Logos, or the One in physical incarnation. God and man function as unities on their respective physical planes.
a. Adi-Sanat, Con Số, Hợp Nhất. Thượng đế, hay Đấng Duy Nhất trong lâm phàm hồng trần. Thượng đế và con người hoạt động như những hợp nhất trên các cõi hồng trần tương ứng của các Ngài.
b. The Voice of the Word, the Numbers, for He is one and nine. The second aspect. The embodied Idea. Consciousness.
b. Tiếng Nói của Linh từ, các Con Số, vì Ngài là một và chín. Phương diện thứ hai. Ý Tưởng nhập thể. Tâm thức.
c. The formless Square, the matter aspect, substance and form. Limitation.
c. Hình Vuông vô tướng, phương diện vật chất, chất liệu và hình tướng. Sự giới hạn.
Trace these out in connection with:—
Hãy truy nguyên những điều này liên hệ với:—
a. A solar Logos informing a solar system.
a. Một Thái dương Thượng đế thấm nhuần một hệ mặt trời.
b. A planetary Logos, informing a planetary scheme.
b. Một Hành Tinh Thượng Đế, thấm nhuần một hệ hành tinh.
c. Man, informing his bodies of manifestation.
c. Con người, thấm nhuần các thể biểu hiện của mình.
2. The ten are the arupa universe.
2. Mười là vũ trụ arupa.
The emphasis here is laid upon the subjective Lives, or the Intelligent Consciousness within the forms.
Ở đây sự nhấn mạnh được đặt trên các Sự Sống chủ quan, hay Tâm thức Thông minh bên trong các hình tướng.
These ten might be called:—
Mười điều này có thể được gọi là:—
I. The first Logos.... Shiva.... Father.... Will.
I. Thượng đế thứ nhất.... Shiva.... Cha.... Ý chí.
II. The second Logos.... Vishnu.... Son.... Love-wisdom.
II. Thượng đế thứ hai.... Vishnu.... Con.... Bác Ái – Minh Triết.
III. The third Logos.... Brahma.... Holy Ghost.... Intelligence overshadowing Matter, Mother.
III. Thượng đế thứ ba.... Brahma.... Chúa Thánh Thần.... Trí tuệ phủ bóng lên Vật chất, Mẹ.
1. The Lord of Cosmic Will................ First Ray.
1. Chúa Tể của Ý Chí Vũ Trụ................ Cung một.
2. The Lord of Cosmic Love................Second Ray.
2. Chúa Tể của Bác Ái Vũ Trụ................Cung hai.
3. The Lord of Cosmic Intelligence.......... Third Ray.
3. Chúa Tể của Trí Tuệ Vũ Trụ.......... Cung ba.
4. The Lord of Cosmic Harmony............ Fourth Ray.
4. Chúa Tể của Hài Hoà Vũ Trụ............ Cung bốn.
5. The Lord of Cosmic Knowledge...........Fifth Ray.
5. Chúa Tể của Tri Thức Vũ Trụ...........Cung năm.
6. The Lord of Cosmic Devotion.............Sixth Ray.
6. Chúa Tể của Sùng Tín Vũ Trụ.............Cung sáu.
7. The Lord of Cosmic Ceremonial...........Seventh Ray.
7. Chúa Tể của Nghi Lễ Vũ Trụ...........Cung bảy.
They are the subjective consciousness, the cause of manifestation. (back)
Các Ngài là tâm thức chủ quan, nguyên nhân của biểu hiện. (back)
Third. The 7 incarnations. These are those passed upon the Probationary Path. This is an interesting period in which certain things are effected which might be described in the following terms:
Thứ ba. 7 lần lâm phàm. Đây là những lần trải qua trên Con Đường Dự Bị. Đây là một thời kỳ lý thú trong đó một số điều được thực hiện, có thể được mô tả bằng các thuật ngữ sau:
The two outer rings of petals are stimulated in a new and special sense through the conscious act of the probationary disciple. Much of the work hitherto has been pursued under the ordinary laws of evolution and has been unconscious. Now all that changes as the mental body becomes active, and two of the will petals are co-ordinated, and one “awakes” vitality and unfolds.
Hai vòng cánh hoa bên ngoài được kích thích theo một ý nghĩa mới và đặc biệt nhờ hành động có ý thức của đệ tử dự bị. Phần lớn công việc cho đến nay đã được tiến hành dưới các định luật tiến hoá thông thường và trong vô thức. Giờ đây mọi sự thay đổi khi thể trí trở nên hoạt động, và hai cánh hoa ý chí được phối hợp, còn một cánh thì “thức tỉnh” sinh lực và khai mở.
The fire or energy from these two rings begins to circulate along the atomic triangle and when this is the case it marks a very momentous epoch; a dual work has been consummated in the personal lower life and in the egoic:
Lửa hay năng lượng từ hai vòng này bắt đầu lưu chuyển dọc theo tam giác nguyên tử và khi điều này xảy ra, nó đánh dấu một thời kỳ cực kỳ trọng đại; một công việc nhị nguyên đã được hoàn tất trong đời sống cá nhân thấp và trong đời sống chân ngã:
a. The permanent atoms have the four lower spirillae fully active (two groups of two each) and the fifth is in process of arousement into equal activity. The triangle is in circulatory action but has not yet achieved its full brightness nor its rotary or fourth dimensional revolution.
a. Các nguyên tử trường tồn có bốn loa tuyến thấp hoạt động hoàn toàn (mỗi nhóm hai loa tuyến) và loa tuyến thứ năm đang trong tiến trình được khơi dậy đến mức hoạt động tương đương. Tam giác đang ở trong hoạt động tuần hoàn nhưng chưa đạt đến độ sáng trọn vẹn cũng như sự quay tròn hay cuộc cách mạng chiều thứ tư của nó.
b. The two circles of petals are “awake,” one being wide open and the other on the verge of opening.
b. Hai vòng cánh hoa đều “thức tỉnh”, một vòng mở rộng hoàn toàn và vòng kia ở sát ngưỡng mở ra.
Thus in the life of the probationer two aspects of the divine life are making themselves apparent, and though as yet much remains to be done, nevertheless when the inner circle of petals is awakened—through the instrumentality of the curious and abnormal process of initiation—the remaining aspect will be brought into similar prominence, and produce the perfected man in the three [Page 829] worlds. Thus is the work of the Solar Pitris consummated.
Như thế trong đời sống của người dự bị, hai phương diện của sự sống thiêng liêng đang tự biểu lộ, và dù vẫn còn nhiều việc phải làm, tuy nhiên khi vòng cánh hoa bên trong được đánh thức—nhờ công cụ của tiến trình kỳ lạ và bất thường là điểm đạo—phương diện còn lại sẽ được đưa đến chỗ nổi bật tương tự, và tạo ra con người toàn hảo trong ba [Page 829] cõi thấp. Như vậy công việc của các thái dương tổ phụ được hoàn tất.
The fact of the abnormality of the process of initiation must here be emphasised.
Ở đây cần nhấn mạnh sự kiện về tính bất thường của tiến trình điểm đạo.
Initiation is in the nature of a great experiment which our planetary Logos is making during this round. In earlier and perhaps in later rounds the whole process will follow natural law. In this round and on this chain, our planetary Logos on His high level is what is esoterically called “sitting for yoga,” and is definitely undergoing certain processes of training in order to stimulate His centres. This fact is being taken advantage of by the Hierarchy on Earth to produce certain results in the races under Their guidance. The whole process is optional, and a man may—if he so choose—follow the normal process, and take aeons of time to effect what some are choosing to do in a briefer period, through a self-chosen forcing process.
Điểm đạo có bản chất của một cuộc thí nghiệm lớn mà Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đang thực hiện trong cuộc tuần hoàn này. Trong các cuộc tuần hoàn trước và có lẽ trong các cuộc tuần hoàn sau, toàn bộ tiến trình sẽ tuân theo định luật tự nhiên. Trong cuộc tuần hoàn này và trên dãy này, Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta trên cõi cao của Ngài đang ở trong điều được gọi một cách huyền bí là “ngồi để yoga”, và đang nhất định trải qua một số tiến trình huấn luyện nhằm kích thích các trung tâm của Ngài. Sự kiện này đang được Thánh Đoàn trên Trái Đất tận dụng để tạo ra một số kết quả trong các nhân loại dưới sự hướng dẫn của Các Ngài. Toàn bộ tiến trình là tùy chọn, và con người có thể—nếu y chọn như vậy—đi theo tiến trình bình thường, và mất những đại kiếp thời gian để thực hiện điều mà một số người đang chọn làm trong một thời kỳ ngắn hơn, qua một tiến trình cưỡng bức do chính mình lựa chọn.
At the termination of the 777 incarnations, a man passes through the door of initiation and enters upon a brief synthesising process, or a final period in which he garners the fruits of the experience in the two first halls, and transmutes knowledge into wisdom, transforms the shadow of things seen into the energy of that which is, and achieves the final liberation from all the lower forms which seek to hold him prisoner. This period of initiation itself is divided into seven stages, but only five of these concern the evolution of the Ego, just as the five Kumaras concern primarily the evolution of Humanity in the system and on this planet. Thus again we have the four exoteric Kumaras, of Whom two fell, and the three esoteric, of whom One gathers the life forces of the four exoteric, making with Them the five above mentioned. The student must study this question from the point of view of energy or life force, considering it from the aspect of polarity and of the mystic marriage, from [Page 830] the comprehension of the real meaning of the sex relation, of the meeting and merging of the pairs of opposites, and the work of the one who synthesises where every type of energy is concerned. For instance:
Khi kết thúc 777 lần lâm phàm, con người đi qua cánh cửa điểm đạo và bước vào một tiến trình tổng hợp ngắn ngủi, hay một thời kỳ cuối cùng trong đó y thu hoạch các thành quả của kinh nghiệm trong hai Phòng đầu tiên, và chuyển hoá tri thức thành minh triết, chuyển đổi cái bóng của những điều được thấy thành năng lượng của cái đang hiện hữu, và đạt được sự giải thoát cuối cùng khỏi mọi hình tướng thấp đang tìm cách giam giữ y làm tù nhân. Chính thời kỳ điểm đạo này được chia thành bảy giai đoạn, nhưng chỉ có năm giai đoạn trong số đó liên quan đến sự tiến hoá của chân ngã, cũng như năm Kumaras chủ yếu liên quan đến sự tiến hoá của Nhân Loại trong hệ thống và trên hành tinh này. Như vậy một lần nữa chúng ta có bốn Kumaras ngoại môn, trong số các Ngài có hai vị sa ngã, và ba vị nội môn, trong số các Ngài có Một vị thu gom các lực sự sống của bốn vị ngoại môn, hợp cùng Các Ngài thành năm vị đã nói ở trên. Đạo sinh phải nghiên cứu vấn đề này từ quan điểm năng lượng hay lực sự sống, xét nó từ phương diện cực tính và hôn phối thần bí, từ [Page 830] sự thấu hiểu ý nghĩa thực sự của quan hệ giới tính, của sự gặp gỡ và dung hợp của các cặp đối đãi, và công việc của đấng tổng hợp ở bất cứ nơi nào có liên quan đến mọi loại năng lượng. Chẳng hạn:
a. The Ego synthesises or gathers in the life forces of the fourfold lower man.
a. Chân ngã tổng hợp hay thu gom các lực sự sống của con người thấp tứ phân.
b. The Mahachohan’s Ray on Earth synthesises the life forces of the lower four. This Ray is the third subray of our planetary Ray.
b. Cung của Đức Mahachohan trên Trái Đất tổng hợp các lực sự sống của bốn thấp. Cung này là cung phụ thứ ba của cung hành tinh của chúng ta.
c. The third major Ray of the solar system blends the minor four.
c. Cung chính thứ ba của hệ mặt trời dung hợp bốn cung nhỏ.
d. The fifth Kumara blends and unites in Himself the work of the lower four.
d. Kumara thứ năm dung hợp và hợp nhất trong chính Ngài công việc của bốn vị thấp.
The reflection of all this in the Microcosm can be studied by the man who understands how the physical body is the vehicle of all the principles.
Sự phản chiếu của tất cả điều này trong Tiểu thiên địa có thể được nghiên cứu bởi người hiểu được cách thể xác là vận cụ của mọi nguyên khí.
By the time the third Initiation is taken, the inner circle of petals is opened and the full-blown lotus in all its beauty can be seen. At the fourth Initiation the inner bud bursts open through the effect of the electrical force of the Rod, which brings in the power of the synthetic ray of the solar system itself; the inner jewel is thus revealed. The work has been accomplished; the energy resident in the permanent atoms, has vitalised all the spirillae whilst the perfected force of the lotus, and the dynamic will of the central spark are brought into full and united activity. This brings about a threefold display of vital force which causes the disintegration of the form and the following results:
Vào lúc lần điểm đạo thứ ba được tiếp nhận, vòng cánh hoa bên trong được mở ra và hoa sen nở trọn trong toàn bộ vẻ đẹp của nó có thể được nhìn thấy. Ở lần điểm đạo thứ tư, nụ bên trong bung mở dưới tác động của lực điện của Thần Trượng, lực này mang vào quyền năng của cung tổng hợp của chính hệ mặt trời; vì thế viên ngọc bên trong được lộ ra. Công việc đã được hoàn tất; năng lượng cư ngụ trong các nguyên tử trường tồn đã tiếp sinh lực cho mọi loa tuyến trong khi mãnh lực hoàn hảo của hoa sen, và ý chí năng động của tia lửa trung tâm được đưa vào hoạt động đầy đủ và hợp nhất. Điều này tạo ra một sự biểu lộ tam phân của lực sinh động gây nên sự tan rã của hình tướng và các kết quả sau đây:
a. The permanent atoms become radioactive, and their ring-pass-not is therefore no longer a barrier to the lesser units within; the electronic lives in their various groups escape, and return to the eternal reservoir. They form substance of a very high [Page 831] order, and will produce the forms of those existences who, in another cycle, will seek vehicles.
a. Các nguyên tử trường tồn trở nên phóng xạ, và vì thế vòng-giới-hạn của chúng không còn là một rào cản đối với các đơn vị nhỏ hơn bên trong; các sự sống điện tử trong những nhóm khác nhau của chúng thoát ra, và trở về hồ chứa vĩnh cửu. Chúng tạo thành chất liệu của một trật tự rất cao [Page 831], và sẽ tạo ra các hình tướng của những sự tồn tại mà trong một chu kỳ khác sẽ tìm kiếm các vận cụ.
b. The petals are destroyed by the action of fire, and the multiplicity of deva lives which form them and give to them their coherence and quality are gathered back by the solar Pitris of the highest order into the Heart of the Sun; they will be directed outward again in another solar system.
b. Các cánh hoa bị huỷ diệt bởi tác động của lửa, và vô số sự sống thiên thần tạo thành chúng và ban cho chúng sự kết hợp cùng phẩm tính được các thái dương tổ phụ thuộc cấp cao nhất thu hồi vào Tim Mặt Trời; chúng sẽ lại được hướng ra ngoài trong một hệ mặt trời khác.
The atomic substance will be used for another manvantara, but the solar Pitris will not again be called upon to sacrifice themselves until the next solar system when they will come in as planetary Rays, thus repeating upon monadic levels in the next system what they have done in this. They will then be the planetary Logoi.
Chất liệu nguyên tử sẽ được dùng cho một giai kỳ sinh hóa khác, nhưng các thái dương tổ phụ sẽ không lại được kêu gọi hi sinh chính mình cho đến hệ mặt trời kế tiếp khi các ngài sẽ đi vào như các cung hành tinh, nhờ đó lặp lại trên các cấp chân thần trong hệ thống kế tiếp điều mà các ngài đã làm trong hệ thống này. Khi ấy các ngài sẽ là các Hành Tinh Thượng Đế.
c. The central Life electric returns to its source, escaping out of prison and functioning as a centre of energy on planes of cosmic etheric energy.
c. Sự sống điện trung tâm trở về nguồn của nó, thoát khỏi ngục tù và hoạt động như một trung tâm năng lượng trên các cõi năng lượng dĩ thái vũ trụ.
We have endeavoured above to convey a general idea of the evolutionary process in connection with the Ego, and its progression under karmic and cyclic law. If the student ponders upon these two laws it will become apparent to him that both might be summed up under the generic term of the Law of Rhythm. All manifestation is the result of active energy producing certain results, and expenditure of energy in any one direction will necessitate an equal expenditure in an opposite. This in terms of the Ego and its life experience brings about three stages:
Ở trên, chúng ta đã cố gắng truyền đạt một ý niệm tổng quát về tiến trình tiến hoá liên hệ với chân ngã, và sự tiến triển của nó dưới định luật nghiệp quả và chu kỳ. Nếu đạo sinh suy ngẫm về hai định luật này, y sẽ thấy rõ rằng cả hai có thể được tóm lại dưới thuật ngữ tổng quát là Định luật Nhịp điệu. Mọi biểu hiện đều là kết quả của năng lượng hoạt động tạo ra những kết quả nhất định, và sự tiêu hao năng lượng theo bất kỳ hướng nào cũng sẽ đòi hỏi một sự tiêu hao tương đương theo hướng đối nghịch. Điều này, xét theo chân ngã và kinh nghiệm sống của nó, tạo ra ba giai đoạn:
First. The stage wherein the energy manifested acts outwardly. The Self becomes identified with its sheaths. This is the strictly personal stage.
Thứ nhất. Giai đoạn trong đó năng lượng biểu hiện hoạt động ra bên ngoài. Bản Ngã đồng hoá với các vỏ bọc của nó. Đây là giai đoạn hoàn toàn cá nhân.
Second. The stage wherein adjustment under law is being sought, and the Self is neither entirely identified with its sheaths, nor identified entirely with Itself. It is [Page 832] learning to choose between the pairs of opposites. This is the period of the fiercest strife and turmoil, and the battlefield wherein the adjustment has to be made; it is the laboratory period wherein enough transmutative force is generated by the disciple to carry him to the opposite extreme of the earlier stage,—that stage wherein the energy will manifest within and not without.
Thứ hai. Giai đoạn trong đó sự điều chỉnh theo định luật đang được tìm kiếm, và Bản Ngã không hoàn toàn đồng hoá với các vỏ bọc của nó, cũng không hoàn toàn đồng hoá với chính Nó. Nó đang [Page 832] học cách lựa chọn giữa các cặp đối đãi. Đây là thời kỳ của xung đột và hỗn loạn dữ dội nhất, và là chiến trường nơi sự điều chỉnh phải được thực hiện; đó là thời kỳ phòng thí nghiệm trong đó đủ mãnh lực chuyển hoá được tạo ra bởi đệ tử để đưa y đến cực đối nghịch của giai đoạn trước,—giai đoạn trong đó năng lượng sẽ biểu hiện bên trong chứ không phải bên ngoài.
Third. The stage wherein the energy of the Ego is centred at the heart of the circle, and not in the periphery, being applied from thence through the conscious effort of the Ego in group service. The pull of the lower nature is superseded, and the attraction of that which is higher even than the Ego is felt. The earlier process has then to be repeated on a higher turn of the spiral, and monadic energy begins to work upon the Ego as the egoic worked upon the personality. The Monad, which has been identifying Itself with the Ego (its outer manifestation) begins again to seek its own true centre “within the Heart,” and on the higher levels results affecting distribution and conservation of energy may again be seen.
Thứ ba. Giai đoạn trong đó năng lượng của chân ngã được tập trung tại tâm điểm của vòng tròn, chứ không ở chu vi, và từ đó được vận dụng qua nỗ lực hữu thức của chân ngã trong công việc phụng sự nhóm. Sức hút của bản chất thấp được vượt qua, và sức hấp dẫn của điều còn cao hơn cả chân ngã được cảm nhận. Khi ấy tiến trình trước đó phải được lặp lại trên một vòng xoắn ốc cao hơn, và năng lượng chân thần bắt đầu tác động lên chân ngã như năng lượng chân ngã đã tác động lên phàm ngã. Chân thần, vốn đã đồng hoá Chính Nó với chân ngã (biểu hiện bên ngoài của nó), lại bắt đầu tìm kiếm trung tâm chân thực của chính mình “bên trong Trái Tim”, và trên các cấp độ cao hơn, lại có thể thấy những kết quả ảnh hưởng đến sự phân phối và bảo tồn năng lượng.
It is necessary to emphasise this procedure because it is important that all occultists should learn to interpret and to think in terms of energy and of force, in contradistinction to the sheaths or instruments employed. The mystic has recognised this “force” factor, but has only worked with the positive force aspect. The occultist must recognise and work with three types of force, or energy, and therein lies the distinction between his work and that of the mystic. He recognises:
Cần nhấn mạnh thủ tục này vì điều quan trọng là mọi nhà huyền bí học phải học cách diễn giải và suy nghĩ theo thuật ngữ năng lượng và mãnh lực, khác với các thể hay công cụ được sử dụng. Nhà thần bí đã nhận ra yếu tố “mãnh lực” này, nhưng chỉ làm việc với phương diện mãnh lực dương mà thôi. Nhà huyền bí học phải nhận ra và làm việc với ba loại mãnh lực, hay năng lượng, và chính trong đó có sự khác biệt giữa công việc của y và công việc của nhà thần bí. Y nhận ra:
1.
Positive force
Or that which energises.
2.
Negative force
Or that which is the recipient of energy; that which acts or assumes form under the impact of positive force.
3.
Light, or harmonic force
That which is produced by the union of these two. The result is radiant energy, and is the result of the equilibrising of the two others.
[Page 833] These three aspects of energy have been called, as has been often said:
[Page 833] Ba phương diện năng lượng này đã được gọi, như thường được nói:
a.
Electric fire
positive energy
Father.
b.
Fire by friction
negative energy
Mother.
c.
Solar fire
radiant energy
Sun or Son.
Each of these two last aspects demonstrates within itself in a dual manner, but the effect is a unified whole as regards the great Unity in which they are demonstrating.
Mỗi một trong hai phương diện cuối này tự biểu lộ bên trong chính nó theo cách nhị phân, nhưng hiệu quả lại là một toàn thể hợp nhất xét theo Đại Hợp Nhất trong đó chúng đang biểu lộ.
The problem of the devas may be somewhat better understood if it is remembered that they in themselves embody the two types of energy. For instance, the solar Pitris are the substance of the egoic bodies and groups, and the medium of expression for the Spirit aspect, for Spirit manifests by means of soul. The lunar Pitris, who form the personal lower self, being the aggregate of the lower sheaths, are energised and used by the solar Lords. These solar Angels again are in many groups and express within their own ranks a dual energy, both positive and negative. There is the positive life of the egoic lotus which co-ordinates, preserves, and actuates the petals, and there is also the energy of the petal substance itself, or the negative aspect which is swept by the positive force of the greater solar Lords into living whorls or wheels which we symbolically call “petals.” There is a close analogy in connection with the planetary Logos, and the solar Logos between prana, the life force which animates the etheric body of man, and by means of that [Page 834] force coheres the dense physical body, and that synthesising life force of the Logos which animates every atom on every plane of the system. If this is meditated upon, and the fact of all our planes being the etheric and dense manifestation of the solar Logos is realised, then the place played by the solar Angels may become somewhat elucidated, and their relation to the planetary Logos and to the solar Logos may become also clearer.
Vấn đề của các thiên thần có thể được hiểu phần nào rõ hơn nếu nhớ rằng tự bản thân họ thể hiện hai loại năng lượng ấy. Thí dụ, các thái dương tổ phụ là chất liệu của các thể chân ngã và các nhóm, và là phương tiện biểu lộ cho phương diện tinh thần, vì tinh thần biểu lộ qua linh hồn. Các thái âm tổ phụ, những vị tạo thành phàm ngã thấp, là tổng thể của các thể thấp, được các nhật tinh quân tiếp sinh lực và sử dụng. Đến lượt mình, các Thái dương Thiên Thần này lại ở trong nhiều nhóm và biểu lộ trong hàng ngũ của chính họ một năng lượng nhị phân, vừa dương vừa âm. Có sự sống dương của Hoa Sen Chân Ngã điều phối, bảo tồn và làm cho các cánh hoa hoạt động, và cũng có năng lượng của chính chất liệu cánh hoa, hay phương diện âm, được mãnh lực dương của các nhật tinh quân lớn hơn cuốn vào thành những vòng xoáy hay bánh xe sống động mà chúng ta gọi một cách biểu tượng là “các cánh hoa”. Có một sự tương đồng chặt chẽ liên quan đến Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế giữa prana, mãnh lực sự sống làm sinh động thể dĩ thái của con người, và nhờ mãnh lực [Page 834] đó mà thể xác đậm đặc được kết dính, với mãnh lực sự sống tổng hợp của Thượng đế làm sinh động mọi nguyên tử trên mọi cõi của hệ thống. Nếu điều này được tham thiền, và nếu chứng nghiệm được sự kiện rằng mọi cõi của chúng ta đều là biểu hiện dĩ thái và đậm đặc của Thái dương Thượng đế, thì vai trò do các Thái dương Thiên Thần đảm nhiệm có thể trở nên phần nào sáng tỏ hơn, và mối liên hệ của họ với Hành Tinh Thượng Đế và với Thái dương Thượng đế cũng có thể trở nên rõ ràng hơn.
We must not only study them in connection with ourselves and with our effort to identify ourselves with the solar Lords of the lunar Pitris, but must recognise also:
Chúng ta không những phải nghiên cứu họ trong mối liên hệ với chính mình và với nỗ lực của chúng ta nhằm đồng hoá mình với các nhật tinh quân của các thái âm tổ phụ, mà còn phải nhận ra:
a. The solar Angels of a planetary scheme.
a. Các Thái dương Thiên Thần của một hệ hành tinh.
b. The solar Angels of the solar system.
b. Các Thái dương Thiên Thần của hệ mặt trời.
c. The lunar lords of the scheme and system.
c. Các nguyệt tinh quân của hệ hành tinh và của hệ thống.
The word “lunar” is here an anachronism and is technically inaccurate. The moon or moons in any scheme are systemic effects, and are not causes. In certain planetary relationships, they are considered causes, but in connection with our solar system they are not. Yet also, in connection with a system, there exist cosmically certain bodies in space which have as definite an effect upon the system as the moon has upon the earth. This is something as yet unknown and incomprehensible to metaphysicians, scientists and astronomers. War wages cosmically as yet between the systemic “lunar” lords, and those Entities who are analogous to the solar Lords on cosmic levels. Until our students extend their concept to include in their calculations the logoic astral and mental bodies as the Logos seeks to express emotion and mind on the physical plane (through His physical body, a solar system) they will not progress far towards the heart of the solar mystery. Until the force of the cosmic lunar Lords is sought for, the fact of there being entire constellations beyond our solar system in process of disintegration in time and space in a manner similar to [Page 835] the disintegration of the moon will not be known nor the effects of this traced. Eventually our solar system will pass into a similar state. The true mystery of evil (265) lies here, and the true reality of the “War in Heaven” must here be sought. Similarly it must be remembered that planetary schemes pass into obscuration and “die out,” through the withdrawal in all cases of the positive life and energy and of the electric fire which is the animating principle of every system, scheme, globe, kingdom in nature, and human unit. This produces again in every case the dying out of the “solar radiance,” or of the light produced by the commingling of the negative and positive energy. All that is left in every case again is the habitual energy of the substance upon which, and through which, the positive energy has had such a remarkable [Page 836] effect. This negative type of force gradually dissipates, or disperses itself, and seeks the central reservoir of energy. The spheroidal form is thus disintegrated. This can be seen working out now in the case of the moon, and the same rule holds good for all bodies. We might word it otherwise:—The solar Devas (or radiant energy) return to the central Heart or to the source which breathed them out. This leaves the lesser deva substance dependent upon its own internal heat, as it involves the withdrawal of that which built substance into form. This deva substance is of many kinds and perhaps the consequent procedure can be more clearly understood if we say that as the form breaks up the lesser builders and devas return to their group soul. Certain of them, those who form the bodies of the fourth kingdom in nature, and who are therefore the highest kind of substance through which consciousness can manifest in the three worlds, are on the road towards individualisation,—they are nearer the human stage than the substance of the three other kingdoms. They occupy a place in the deva evolution analogous to that which a man holds in the human kingdom (note that I say kingdom, not evolution) who is nearing the Path. The goal for the devas (below the rank of solar Pitris) is individualisation, and their objective is to become men in some future cycle. The goal for a man is initiation, or to become a conscious Dhyan Chohan, and in some distant cycle to do for the humanity of that age what the solar Pitris have done for him, and make their self-conscious expression a possibility. The goal for a solar Pitri is, as said earlier, to become a logoic Ray. (266)
Từ “thái âm” ở đây là một lối gọi lỗi thời và về mặt kỹ thuật là không chính xác. Mặt trăng hay các mặt trăng trong bất kỳ hệ hành tinh nào đều là những hiệu quả có tính hệ thống, chứ không phải nguyên nhân. Trong một số tương quan hành tinh, chúng được xem là nguyên nhân, nhưng liên hệ với hệ mặt trời của chúng ta thì không phải vậy. Tuy nhiên, liên hệ với một hệ thống, vẫn có những thiên thể nào đó trong không gian, xét theo vũ trụ, có tác động xác định lên hệ thống cũng như mặt trăng tác động lên Trái Đất. Đây là điều hiện vẫn chưa được các nhà siêu hình học, các nhà khoa học và các nhà thiên văn học biết đến và thấu hiểu. Hiện nay, trên bình diện vũ trụ, chiến tranh vẫn diễn ra giữa các nguyệt tinh quân “có tính hệ thống” và những Thực Thể tương tự với các nhật tinh quân trên các cấp độ vũ trụ. Chừng nào các đạo sinh của chúng ta chưa mở rộng khái niệm của mình để bao gồm trong các tính toán của họ các thể cảm dục và thể trí của Thượng đế, khi Thượng đế tìm cách biểu lộ cảm xúc và trí tuệ trên cõi hồng trần (qua thể xác của Ngài là một hệ mặt trời), thì họ sẽ không tiến xa được đến trung tâm của huyền nhiệm thái dương. Chừng nào mãnh lực của các nguyệt tinh quân vũ trụ chưa được truy tìm, thì sự kiện rằng có những chòm sao trọn vẹn bên ngoài hệ mặt trời của chúng ta đang trong tiến trình tan rã trong thời gian và không gian theo cách tương tự như [Page 835] sự tan rã của mặt trăng sẽ không được biết đến, cũng như các hiệu quả của điều này sẽ không được truy nguyên. Cuối cùng, hệ mặt trời của chúng ta cũng sẽ đi vào một trạng thái tương tự. Huyền nhiệm đích thực của điều ác (265) nằm ở đây, và thực tại đích thực của “Chiến Tranh trên Thiên Đàng” cũng phải được tìm ở đây. Tương tự như vậy, cần nhớ rằng các hệ hành tinh đi vào tình trạng lu mờ và “tắt lịm”, trong mọi trường hợp, do sự rút lui của sự sống và năng lượng dương cùng Lửa Điện là nguyên khí sinh động của mọi hệ thống, hệ hành tinh, bầu hành tinh, giới trong thiên nhiên và đơn vị nhân loại. Điều này lại tạo ra trong mọi trường hợp sự tắt dần của “ánh huy hoàng thái dương”, hay của ánh sáng được tạo ra bởi sự hòa trộn giữa năng lượng âm và dương. Trong mọi trường hợp, điều còn lại chỉ là năng lượng theo thói quen của chất liệu mà trên đó, và qua đó, năng lượng dương đã tạo ra một hiệu quả [Page 836] đáng kể như thế. Loại mãnh lực âm này dần dần tiêu tan, hay tự phân tán, và tìm về bể chứa năng lượng trung tâm. Do đó hình thể cầu bị tan rã. Điều này hiện có thể thấy đang diễn ra trong trường hợp của mặt trăng, và cùng một quy luật ấy đúng cho mọi thiên thể. Chúng ta có thể diễn đạt theo cách khác:—Các thiên thần thái dương (hay năng lượng rạng ngời) trở về Trái Tim trung tâm hay trở về nguồn đã thở họ ra. Điều này để lại chất liệu thiên thần thấp lệ thuộc vào nhiệt nội tại của chính nó, vì nó bao hàm sự rút lui của cái đã xây dựng chất liệu thành hình tướng. Chất liệu thiên thần này có nhiều loại, và có lẽ tiến trình tiếp theo có thể được hiểu rõ hơn nếu chúng ta nói rằng khi hình tướng tan vỡ, các vị tiểu kiến tạo và các thiên thần trở về hồn nhóm của họ. Một số trong họ, những vị tạo thành các thể của giới thứ tư trong thiên nhiên, và vì vậy là loại chất liệu cao nhất mà qua đó tâm thức có thể biểu lộ trong ba cõi thấp, đang trên đường tiến tới biệt ngã hóa,—họ gần giai đoạn nhân loại hơn chất liệu của ba giới kia. Họ chiếm một vị trí trong tiến hoá thiên thần tương tự như vị trí mà một người giữ trong giới nhân loại (lưu ý rằng tôi nói là giới, không phải tiến hoá) khi người ấy đang tiến gần Con Đường. Mục tiêu của các thiên thần (dưới cấp bậc các thái dương tổ phụ) là biệt ngã hóa, và cứu cánh của họ là trở thành con người trong một chu kỳ tương lai nào đó. Mục tiêu của con người là điểm đạo, hay trở thành một Dhyan Chohan hữu thức, và trong một chu kỳ xa xôi nào đó làm cho nhân loại của thời đại ấy điều mà các thái dương tổ phụ đã làm cho y, và khiến sự biểu lộ ngã thức của họ trở thành khả hữu. Mục tiêu của một thái dương tổ phụ, như đã nói trước đây, là trở thành một cung của Thượng đế. (266)
(265) Problem of Evil.
(265) Vấn đề Điều Ác.
The following quotation is from a trance writing, given through Dr. Anna Kingsford; it runs thus:
Đoạn trích dẫn sau đây lấy từ một bản viết trong trạng thái xuất thần, được truyền qua Tiến sĩ Anna Kingsford; nội dung như sau:
“You have demanded also the origin of evil. This is a great subject and we should have withheld it from you longer, but that it seems to us now that you are in need of it. Understand then that Evil is the result of Creation. For Creation is the result of the projection of Spirit into matter; and with this projection came the first germ of evil. We would have you know that there is no such thing as a purely spiritual evil, but evil is the result of the materialisation of Spirit. If you examine carefully all we have said to you concerning the various forms of evil, you will see that every one is the result of the limitation of the power to perceive that the whole Universe is but the Larger Self....It is, then, true that God created evil; but yet it is true that God is Spirit, and being Spirit is incapable of evil. Evil is then purely and solely the result of the materialisation of God. This is a great mystery. We can but indicate it tonight....God is perception itself. God is universal percipience. God is that which sees and that which is seen. If we could see all, hear all, touch all, and so forth, there would be no evil, for evil comes of the limitation of perception. Such limitation was necessary if God was to produce aught other than God. Aught other than God must be less than God. Without evil, therefore, God would have remained alone. All things are God according to the measure of the Spirit in them.”
“Bạn cũng đã hỏi về nguồn gốc của điều ác. Đây là một chủ đề lớn và lẽ ra chúng tôi còn phải giữ lại lâu hơn nữa, nếu như hiện nay chúng tôi không thấy rằng bạn cần đến nó. Vậy hãy hiểu rằng Điều Ác là kết quả của Sáng Tạo. Vì Sáng Tạo là kết quả của sự phóng chiếu Tinh thần vào vật chất; và cùng với sự phóng chiếu ấy đã đến mầm mống đầu tiên của điều ác. Chúng tôi muốn bạn biết rằng không có cái gọi là điều ác thuần túy tinh thần, mà điều ác là kết quả của sự hiện hình của Tinh thần. Nếu bạn khảo sát cẩn thận mọi điều chúng tôi đã nói với bạn về các hình thức khác nhau của điều ác, bạn sẽ thấy rằng mỗi một hình thức đều là kết quả của sự giới hạn quyền năng tri giác rằng toàn thể Vũ Trụ chỉ là Bản Ngã Lớn Hơn....Vậy thì đúng là Thượng đế đã tạo ra điều ác; nhưng cũng đúng là Thượng đế là Tinh thần, và vì là Tinh thần nên không thể có điều ác. Vậy điều ác hoàn toàn và duy nhất là kết quả của sự hiện hình của Thượng đế. Đây là một huyền nhiệm lớn. Tối nay chúng tôi chỉ có thể chỉ ra điều đó....Thượng đế chính là tri giác. Thượng đế là năng lực tri giác phổ quát. Thượng đế là cái thấy và cái được thấy. Nếu chúng ta có thể thấy tất cả, nghe tất cả, chạm đến tất cả, v.v., thì sẽ không có điều ác, vì điều ác phát sinh từ sự giới hạn của tri giác. Sự giới hạn ấy là cần thiết nếu Thượng đế muốn tạo ra bất cứ điều gì khác ngoài Thượng đế. Bất cứ điều gì khác ngoài Thượng đế đều phải kém hơn Thượng đế. Vì vậy, nếu không có điều ác, Thượng đế đã vẫn ở một mình. Mọi sự đều là Thượng đế tùy theo mức độ Tinh thần ở trong chúng.”
That is to say, a perfected humanity will be a perfect vehicle of the divine Spirit (see the Mercaba of Ezekiel, 1st Chapter). Great is our indebtedness to the Seers who throw out for us flashes of light on the darkness and mystery of human life, where the struggling Spirit within is so often buried in the depths of this mysterious Chaos, thereby making visible the darkness, so that we are enabled to see a few steps of the Way ahead, thus encouraging us to press forward with renewed assurance that the mists and clouds will be dispelled, and we shall in due time enter the fulness of the divine Presence.—The Theosophist, Vol. XXIX, p. 50. (back)
Điều đó có nghĩa là một nhân loại được hoàn thiện sẽ là một vận cụ hoàn hảo của Tinh thần thiêng liêng (xem Mercaba của Ezekiel, Chương 1). Thật lớn lao là món nợ biết ơn của chúng ta đối với các nhà thông nhãn, những vị đã ném ra cho chúng ta những tia chớp ánh sáng vào bóng tối và huyền nhiệm của đời sống con người, nơi Tinh thần đang vật lộn bên trong thường bị chôn vùi trong chiều sâu của Cõi Hỗn Mang bí ẩn này, nhờ đó làm cho bóng tối trở nên hữu hình, để chúng ta có thể thấy được vài bước của Con Đường phía trước, và như thế khích lệ chúng ta tiến lên với niềm xác tín được đổi mới rằng sương mù và mây sẽ bị xua tan, và đến đúng lúc chúng ta sẽ đi vào sự viên mãn của Hiện Diện thiêng liêng.—The Theosophist, Tập XXIX, tr. 50. (back)
(266) The Goal for the Pitris:
(266) Mục tiêu của các Pitri:
The lunar Pitris are on a level with the lower Principles.—S. D., II, 82.
Các thái âm tổ phụ ở cùng một cấp độ với các nguyên khí thấp.—S. D., II, 82.
a. They create our lower principles... S. D., II, 92.
a. Họ tạo ra các nguyên khí thấp của chúng ta... S. D., II, 92.
b. They possess creative fire but not divine fire... S. D., II, 81, 82.
b. Họ sở hữu lửa sáng tạo nhưng không có lửa thiêng liêng... S. D., II, 81, 82.
c. They evolve the human form... S. D., I, 203.
c. Họ tiến hoá hình thể con người... S. D., I, 203.
d. They will eventually become men... S. D., I, 203.
d. Cuối cùng họ sẽ trở thành con người... S. D., I, 203.
Compare S. D., II, 99.
So sánh S. D., II, 99.
The higher Principles are latent in the animals.—S. D., II, 266, 279
Các nguyên khí cao hơn tiềm tàng trong giới động vật.—S. D., II, 266, 279
a. The solar Pitris embody the fifth principle... S. D., I, 241.
a. Các thái dương tổ phụ thể hiện nguyên khí thứ năm... S. D., I, 241.
b. They give consciousness to man... S. D., I, 204.
b. Họ ban tâm thức cho con người... S. D., I, 204.
c. They furnish the vehicle for the incarnating Monad, forming the egoic body... S. D., I, 237.
c. Họ cung cấp vận cụ cho chân thần đang nhập thể, tạo thành thể chân ngã... S. D., I, 237.
d. They develop the human type... S. D., II, 243.
d. Họ phát triển loại hình con người... S. D., II, 243.
Compare S. D., II, 96 (back)
So sánh S. D., II, 96 (back)
[Page 837] To return to the matter which we were considering:—Just as the moon is a deterrent or malefic force where the Earth is concerned, and productive of evil “influences,” so all such disintegrating bodies are equally destructive. Such bodies exist within the solar ring-pass-not, (267) unrecognised as yet, and disintegrating constellations (of which there are many in the universe, unknown and unrecognised by scientists) have an equally malefic effect upon our system, and upon all that passes into their sphere of influence.
[Page 837] Trở lại vấn đề chúng ta đang xem xét:—Cũng như mặt trăng là một mãnh lực cản trở hay hung hại đối với Trái Đất, và tạo ra những “ảnh hưởng” xấu, thì mọi thiên thể đang tan rã như vậy cũng đều có tính phá hoại tương tự. Những thiên thể như thế tồn tại bên trong vòng-giới-hạn thái dương, (267) hiện vẫn chưa được nhận biết, và các chòm sao đang tan rã (mà có rất nhiều trong vũ trụ, chưa được các nhà khoa học biết đến và nhận ra) cũng có một tác động hung hại tương tự lên hệ thống của chúng ta, và lên mọi thứ đi vào phạm vi ảnh hưởng của chúng.
(267) Unseen Planets: “Not all of the Intra-Mercurial planets, nor yet those in the orbit of Neptune, are yet discovered, although they are strongly suspected. We know that such exist and where they exist; and that there are innumerable planets “burnt out” they say,—in Obscuration we say;—planets in formation and not yet luminous, etc.”...
(267) Các Hành Tinh Vô Hình: “Không phải tất cả các hành tinh nội Sao Thủy, cũng chưa phải tất cả những hành tinh trong quỹ đạo của Sao Hải Vương, đều đã được khám phá, mặc dù chúng bị nghi ngờ mạnh mẽ. Chúng tôi biết rằng những hành tinh như thế tồn tại và chúng tồn tại ở đâu; và rằng có vô số hành tinh ‘đã cháy hết’ như họ nói,—chúng tôi nói là đang trong tình trạng Lu Mờ;—những hành tinh đang hình thành và chưa phát sáng, v.v.”...
“When so attached the ‘tasimeter’ will afford the possibility not only to measure the heat of the remotest of visible stars, but to detect by their invisible radiations stars that are unseen and otherwise undetectable, hence planets also. The discoverer, an F. T. S., a good deal protected by M., thinks that if, at any point in a blank space of heavens—a space that appears blank even through a telescope of the highest power—the tasimeter indicates an accession of temperature and does so invariably; this will be a regular proof that the instrument is in range with the stellar body either non-luminous or so distant as to be beyond the reach of telescopic vision. His tasimeter, he says, ‘is affected by a wider range of etheric undulations than the Eye can take cognisance of.’ Science will Hear sounds from certain planets before she Sees them. This is a Prophecy.”—Mahatma Letters to A. P. Sinnett, p. 169. (back)
“Khi được gắn như vậy, ‘tasimeter’ sẽ cho khả năng không những đo được nhiệt của những ngôi sao nhìn thấy xa nhất, mà còn phát hiện qua các bức xạ vô hình của chúng những ngôi sao không thể thấy và không thể phát hiện bằng cách nào khác, do đó cả các hành tinh nữa. Nhà phát minh, một F. T. S., được Chân sư M. bảo hộ khá nhiều, cho rằng nếu, tại bất kỳ điểm nào trong một khoảng trống của bầu trời—một khoảng trống trông có vẻ rỗng ngay cả qua kính thiên văn mạnh nhất—tasimeter cho thấy sự gia tăng nhiệt độ và luôn luôn như vậy; thì đó sẽ là bằng chứng chắc chắn rằng dụng cụ ấy đang nằm trong tầm của một thiên thể hoặc không phát sáng hoặc ở xa đến mức vượt ngoài tầm nhìn của kính thiên văn. Ông nói tasimeter của ông ‘bị tác động bởi một phạm vi rộng hơn của các dao động dĩ thái so với điều mà Mắt có thể nhận biết.’ Khoa học sẽ Nghe được âm thanh từ một số hành tinh trước khi cô ấy Thấy chúng. Đây là một Lời Tiên Tri.”—Mahatma Letters to A. P. Sinnett, tr. 169. (back)
There is one such constellation, situated between the lesser Dipper and our system, and another, interrelated with the Pleiades and our system which still have a profound effect upon the physical body of the solar Logos.
Có một chòm sao như thế, nằm giữa Tiểu Hùng Tinh và hệ thống của chúng ta, và một chòm sao khác, có liên hệ với Pleiades và hệ thống của chúng ta, vẫn còn có một ảnh hưởng sâu xa lên thể xác của Thái dương Thượng đế.
The above paragraph is specifically worded thus because the effects are felt in the lowest sheath of all, and are responsible for much that is ignorantly termed “black magic.” These two constellations have run their cycles and are “dissolving.” Some of their life force and energy has been transferred to our solar system, [Page 838] just as the lunar life force was transferred to our earth, and this it is that is the cause of much cyclic evil. The process of decay and the evil emanations induced still have power to influence forms which are responsive to what was for them an earlier vibration. The substance of these forms is magnetically linked with the decaying body, much as the etheric double is connected with its dense sheath, and effects are therefore manifested. Purificatory fire is the only cure for this magnetic corruption, and this is being utilised freely by the planetary Logoi in Their schemes, and by the solar Logos in the system.
Đoạn trên được diễn đạt một cách đặc biệt như vậy vì các hiệu quả được cảm nhận trong thể thấp nhất của tất cả, và chịu trách nhiệm cho nhiều điều bị gọi một cách thiếu hiểu biết là “hắc thuật”. Hai chòm sao này đã hoàn tất các chu kỳ của chúng và đang “tan rã”. Một phần mãnh lực sự sống và năng lượng của chúng đã được chuyển dịch sang hệ mặt trời của chúng ta, [Page 838] cũng như mãnh lực sự sống thái âm đã được chuyển sang địa cầu của chúng ta, và chính điều này là nguyên nhân của nhiều điều ác có tính chu kỳ. Tiến trình phân rã và các phát xạ xấu do đó gây ra vẫn còn có quyền năng ảnh hưởng đến những hình tướng đáp ứng với điều vốn là một rung động trước kia đối với chúng. Chất liệu của các hình tướng này được nối kết bằng từ tính với thể đang phân rã, cũng như bản sao dĩ thái được nối với thể đậm đặc của nó, và vì vậy các hiệu quả được biểu lộ. Lửa thanh lọc là phương thuốc duy nhất cho sự ô nhiễm từ tính này, và điều đó đang được các Hành Tinh Thượng Đế sử dụng rộng rãi trong các hệ hành tinh của Các Ngài, và bởi Thái dương Thượng đế trong hệ thống.
PURIFICATORY FIRE
LỬA THANH LỌC
“The fire burned low. A dull red glow slumbered within the Heart of Mother. Its warmth was scarcely felt. The first and second of the inner lines throbbed with the burning, but the rest were cold.
“Ngọn lửa cháy thấp. Một ánh đỏ xỉn ngủ yên trong Trái Tim của Mẹ. Hơi ấm của nó hầu như không cảm thấy được. Tuyến thứ nhất và thứ hai của các tuyến bên trong rung lên vì sức cháy, nhưng phần còn lại thì lạnh.
The Sons of God looked down from the innermost centre. They looked, then turned away Their gaze and thoughts to other spheres. Their hour had not yet come. The elemental fires had not prepared the altar for the Lords. The sacrificial fire waited in its high place and the steady glow beneath increased.
Các Con của Thượng đế nhìn xuống từ trung tâm thâm nội nhất. Họ nhìn, rồi quay ánh mắt và tư tưởng của Họ sang các khối cầu khác. Giờ của Họ vẫn chưa đến. Các lửa hành khí chưa chuẩn bị bàn thờ cho các Chúa Tể. Ngọn lửa hiến tế chờ đợi ở nơi cao của nó và ánh sáng ổn định bên dưới tăng lên.
The fire burned clearer, and the first and second slowly lighted up. Their glow became a line of brilliant fire yet the five remained untouched. The Sons of God again looked down. For one brief second They thought upon the Mother, and as They thought the third caught fire. Swiftly They looked away for the form as yet relayed to Them no call. The heat was latent and no outer warmth ascended to Their place.
Ngọn lửa cháy sáng hơn, và tuyến thứ nhất cùng thứ hai từ từ bừng lên. Ánh sáng của chúng trở thành một đường lửa rực rỡ nhưng năm tuyến kia vẫn chưa bị chạm đến. Các Con của Thượng đế lại nhìn xuống. Trong một giây ngắn ngủi Họ nghĩ đến Mẹ, và khi Họ nghĩ thì tuyến thứ ba bắt lửa. Nhanh chóng Họ ngoảnh đi vì hình tướng vẫn chưa chuyển đến cho Họ một lời kêu gọi nào. Nhiệt vẫn còn tiềm ẩn và không có hơi ấm bên ngoài nào bốc lên đến chỗ của Họ.
The aeons passed. The glow increased. The Spheres took form, but dissipated rapidly, lacking coherent force. They passed. They came again. Action incessant, noise and fire and smouldering heat characterised Their cycles. But the Lhas in Their high heaven spurned this elemental work and gazed within Themselves. They meditated.
Các đại kiếp trôi qua. Ánh sáng tăng lên. Các Khối Cầu thành hình, nhưng tan biến nhanh chóng vì thiếu mãnh lực kết dính. Chúng qua đi. Chúng lại đến. Hoạt động không ngừng, tiếng động và lửa cùng sức nóng âm ỉ đặc trưng cho các chu kỳ của Chúng. Nhưng các Lha ở cõi thượng thiên của Họ khước từ công việc hành khí này và nhìn vào bên trong Chính Họ. Họ tham thiền.
* * * * * * * * * *
* * * * * * * * * *
The glow became a steady burning and tiny flames were seen. The first, the second, and the third became three lines of fire and one triangle was consummated. Yet the four are seen quiescent [Page 839] and respond not to the heat. Thus do the cycles and the elemental lives pass and repass, and their work continues.
Ánh sáng trở thành một ngọn cháy ổn định và những ngọn lửa nhỏ được nhìn thấy. Tuyến thứ nhất, thứ hai và thứ ba trở thành ba đường lửa và một tam giác được hoàn tất. Tuy nhiên bốn tuyến vẫn được thấy là tĩnh lặng [Page 839] và không đáp ứng với sức nóng. Cứ thế các chu kỳ và các sự sống hành khí đi qua rồi trở lại, và công việc của chúng tiếp tục.
The forms are set, yet brief their span. They move not, yet they pass. The hour has come for the great awakening. They pass no longer down but mount.
Các hình tướng được thiết lập, nhưng đời sống của chúng ngắn ngủi. Chúng không chuyển động, nhưng chúng qua đi. Giờ của sự thức tỉnh lớn lao đã đến. Chúng không còn đi xuống nữa mà đi lên.
This is the interlude for which the Lhas in Their high place have waited. They may not enter yet the forms prepared, but feel Their hour approaching. They meditate anew, and for a minute gaze upon the myriad threefold fires until the fourth responds.
Đây là quãng ngưng mà các Lha ở nơi cao của Họ đã chờ đợi. Họ chưa thể đi vào các hình tướng đã được chuẩn bị, nhưng cảm thấy giờ của Họ đang đến gần. Họ lại tham thiền, và trong một phút nhìn vào vô số các lửa tam phân cho đến khi tuyến thứ tư đáp ứng.
The sixty seconds passed in dynamic concentration produce forms of triple kind, three sets of forms, and myriads in the three. The Heart of Mother contracts, and expands with these sixty fiery breaths. The lines become allied, and cubes are formed, shielding the inner fire. The altar is prepared, and four square stands. The altar glows, red at the centre and warm without.
Sáu mươi giây trôi qua trong sự tập trung năng động tạo ra các hình tướng tam phân, ba bộ hình tướng, và vô số trong bộ ba ấy. Trái Tim của Mẹ co lại, rồi giãn ra theo sáu mươi hơi thở rực lửa này. Các tuyến trở nên liên kết, và các khối lập phương được hình thành, che chở ngọn lửa bên trong. Bàn thờ được chuẩn bị, và hình vuông bốn cạnh đứng vững. Bàn thờ rực sáng, đỏ ở trung tâm và ấm ở bên ngoài.
* * * * * * * * * *
* * * * * * * * * *
The altar flames. Its heat mounts up, yet it burns not, nor is consumed. Its heat, which has no flame, reaches a higher sphere; the Sons of God for a brief period warm Themselves, yet approach not nearer to it until the passing of another cycle. They await the hour, the hour of sacrifice.
Bàn thờ bốc lửa. Nhiệt của nó bốc lên, nhưng nó không thiêu đốt, cũng không bị tiêu hao. Nhiệt của nó, không có ngọn lửa, vươn tới một khối cầu cao hơn; các Con của Thượng đế trong một thời gian ngắn sưởi ấm mình, nhưng chưa đến gần nó hơn cho đến khi một chu kỳ khác trôi qua. Họ chờ đợi giờ ấy, giờ của hiến tế.
The solar Lords, taking the Word as sounded by the Sons of God, arise in the fierceness of their solar life and approach the altar. The four lines glow and burn. The sun applies a ray; the solar Lords pass it through Their substance and again approach the altar. The fifth line awakens and becomes a glowing point, and then a dull red line, measuring the distance ‘twixt the altar and the One Who watches.
Các nhật tinh quân, tiếp nhận Linh từ như được xướng bởi các Con của Thượng đế, trỗi dậy trong sức mãnh liệt của sự sống thái dương của họ và tiến đến bàn thờ. Bốn tuyến rực sáng và cháy lên. Mặt trời áp một tia; các nhật tinh quân truyền nó qua chất liệu của Họ rồi lại tiến đến bàn thờ. Tuyến thứ năm thức tỉnh và trở thành một điểm sáng rực, rồi thành một đường đỏ xỉn, đo khoảng cách giữa bàn thờ và Đấng đang quan sát.
The fivefold fire dynamic begins to flicker and to burn. It lights not yet without; it simply glows. The aeons pass away, the cycles come and go.
Ngọn lửa ngũ phân năng động bắt đầu chập chờn và cháy lên. Nó chưa chiếu sáng ra bên ngoài; nó chỉ đơn thuần phát sáng. Các đại kiếp trôi qua, các chu kỳ đến rồi đi.
Steadily the solar Lords sacrifice Themselves; They are the fire upon the altar. The fourth provides the fuel.
Các nhật tinh quân đều đặn hiến tế Chính Họ; Họ là ngọn lửa trên bàn thờ. Tuyến thứ tư cung cấp nhiên liệu.
* * * * * * * * * *
* * * * * * * * * *
The Sons of God still watch. The work nears its final consummation. The Eternal Lhas in Their high place call each to each, and four take up the cry: “The fire is burning. Does the heat suffice?” [Page 840]
Các Con của Thượng đế vẫn quan sát. Công việc gần đến sự hoàn tất cuối cùng. Các Lha Vĩnh Cửu ở nơi cao của Họ gọi nhau, và bốn vị cất tiếng: “Lửa đang cháy. Nhiệt đã đủ chưa?” [Page 840]
Two answer to each other: “‘The fire is burning; the altar is well-nigh destroyed. What happens next?’” “Add to the fire with fuel from Heaven. Breathe on the blazing fire and fan its flame to utter fierceness.”
Hai vị đáp lời nhau: “‘Lửa đang cháy; bàn thờ gần như bị phá hủy. Điều gì xảy ra tiếp theo?’” “Hãy thêm vào lửa nhiên liệu từ Thiên Đàng. Hãy thổi vào ngọn lửa đang bùng cháy và quạt ngọn lửa của nó đến mức mãnh liệt tột cùng.”
Thus the command goes out from One Who watches, silent hitherto, through countless aeons. They send forth breath. Something prevents the passage of the breath. They call for aid. One makes His appearance Who has not yet been seen.
Thế là mệnh lệnh phát ra từ Đấng đang quan sát, Đấng cho đến nay vẫn im lặng qua vô số đại kiếp. Họ phát ra hơi thở. Có điều gì đó ngăn cản sự đi qua của hơi thở. Họ kêu gọi trợ giúp. Một Đấng xuất hiện mà trước đây chưa từng được thấy.