Trích nội dung chương
When the energy currents of the human family are directed from egoic levels only, when desire is transmuted, and the fifth principle awakened and finally illuminated by the sixth, then and only then will the strength of the impulse emanating from lower levels die out and the “Dweller on the Threshold” (who now haunts the human family) likewise die. In other words, when the dense physical body of the planetary Logos (composed of matter of the three worlds of human endeavour) is completely purified and vitalised by the force of the life flowing from etheric levels, and when all His centres (formed of human units) are fully awakened, then will…
When the energy currents of the human family are directed from egoic levels only, when desire is transmuted, and the fifth principle awakened and finally illuminated by the sixth, then and only then will the strength of the impulse emanating from lower levels die out and the “Dweller on the Threshold” (who now haunts the human family) likewise die. In other words, when the dense physical body of the planetary Logos (composed of matter of the three worlds of human endeavour) is completely purified and vitalised by the force of the life flowing from etheric levels, and when all His centres (formed of human units) are fully awakened, then will [Page 953] those centres be channels for pure force, and such an entity as the “Dweller” be an impossibility.
Khi các dòng năng lượng của gia đình nhân loại chỉ được hướng dẫn từ các cấp độ chân ngã, khi ham muốn được chuyển hoá, và nguyên khí thứ năm được đánh thức và cuối cùng được soi sáng bởi nguyên khí thứ sáu, thì khi ấy và chỉ khi ấy sức mạnh của xung lực phát ra từ các cấp độ thấp hơn mới tắt đi và “Kẻ Chận Ngõ” (kẻ hiện đang ám ảnh gia đình nhân loại) cũng sẽ chết. Nói cách khác, khi thể xác hồng trần đậm đặc của Hành Tinh Thượng Đế (được cấu thành bằng vật chất của ba cõi giới của nỗ lực nhân loại) được thanh lọc hoàn toàn và được tiếp sinh lực bởi mãnh lực của sự sống tuôn chảy từ các cấp độ dĩ thái, và khi mọi trung tâm của Ngài (được tạo thành bởi các đơn vị nhân loại) đều được đánh thức đầy đủ, thì [Page 953] các trung tâm ấy sẽ là những kênh dẫn của mãnh lực thuần khiết, và một thực thể như “Kẻ Chận Ngõ” sẽ là điều bất khả.
All that I have here said anent this “Dweller on the Threshold” of the Path between the two great kingdoms, the fourth and the fifth, can be studied by the student with a personal application. Facing each earnest aspirant to the Mysteries is that vitalised form which he has himself constructed and nourished during the course of his previous incarnations, and which represents the sum total of his evil desires, motives and thoughts. For ages it has vampirised him, and for ages it has represented that which he has failed to achieve. It affects not only himself but also all those units whom he contacts and meets. In its destruction he has to pursue methods similar to those followed by the Great Ones, and through the increasing power of his solar Angel, through the force of his Ego, and through a study of law, the knowledge of the power of sound, and the control of speech, he will eventually bring about its disintegration. The old Commentary says:
Tất cả những gì tôi đã nói ở đây liên quan đến “Kẻ Chận Ngõ” này của Con Đường giữa hai giới lớn, giới thứ tư và giới thứ năm, đều có thể được đạo sinh nghiên cứu với sự áp dụng cá nhân. Đối diện với mỗi người chí nguyện tha thiết hướng đến các Huyền Nhiệm là hình tướng được tiếp sinh lực mà chính y đã xây dựng và nuôi dưỡng trong tiến trình các kiếp lâm phàm trước đây của mình, và hình tướng ấy biểu thị tổng số những ham muốn, động cơ và tư tưởng xấu xa của y. Trong nhiều thời đại nó đã hút sinh lực của y, và trong nhiều thời đại nó đã biểu thị điều mà y đã không đạt được. Nó không chỉ ảnh hưởng đến chính y mà còn đến tất cả những đơn vị mà y tiếp xúc và gặp gỡ. Trong việc hủy diệt nó, y phải theo đuổi những phương pháp tương tự như những phương pháp được Các Đấng Cao Cả sử dụng, và nhờ quyền năng ngày càng tăng của Thái dương Thiên Thần của mình, nhờ mãnh lực của chân ngã mình, và nhờ nghiên cứu định luật, hiểu biết quyền năng của âm thanh, và kiểm soát lời nói, y cuối cùng sẽ mang lại sự phân giải của nó. Cổ Luận nói:
“The solar Angel must put out the light of the lunar angels and then for lack of warmth and light, that which has served to hinder no longer is.”
“Thái dương Thiên Thần phải dập tắt ánh sáng của các thiên thần nguyệt tính và rồi vì thiếu hơi ấm và ánh sáng, điều từng dùng để cản trở sẽ không còn nữa.”
c. As yet but few of the human family work deliberately and consciously in mental matter only. The energy exerted by men is mostly kama-manasic or desire coupled with lower mind, with a preponderance, as might be expected, of desire force. This is to be inferred from the second statement. The whole trend of evolution is to bring about ability to build in mental matter, and two things lie ahead of the race:
c. Cho đến nay chỉ có ít người trong gia đình nhân loại làm việc một cách có chủ ý và có ý thức chỉ trong chất liệu trí tuệ mà thôi. Năng lượng do con người vận dụng phần lớn là trí-cảm hay ham muốn kết hợp với hạ trí, với sự trội hơn, như có thể chờ đợi, của mãnh lực ham muốn. Điều này có thể được suy ra từ mệnh đề thứ hai. Toàn bộ xu hướng của tiến hoá là mang lại khả năng kiến tạo trong chất liệu trí tuệ, và có hai điều ở phía trước nhân loại:
First. The gradual dissipation of the indefinite masses of kama-manasic matter which surround practically every unit of the human family, producing a condition of murkiness and fog within, and around, each aura. Gradually [Page 954] this will clear away, and men will be seen surrounded by clear-cut thought forms, characterised by a distinctive vibration and distinguished by a particular quality incident to a man’s ray and therefore to his type of mind.
Thứ nhất. Sự làm tiêu tan dần dần những khối chất liệu trí-cảm mơ hồ bao quanh hầu như mọi đơn vị của gia đình nhân loại, tạo ra một tình trạng mờ đục và sương mù bên trong và chung quanh mỗi hào quang. Dần dần [Page 954] điều này sẽ tan đi, và con người sẽ được thấy được bao quanh bởi những hình tư tưởng rõ nét, được đặc trưng bởi một rung động riêng biệt và được phân biệt bởi một phẩm tính đặc thù tùy theo cung của một người và do đó theo loại trí tuệ của y.
Second. The aggregate of human thought forms which now are of a personal character, vibrating around each human being as the planets vibrate around the sun, will tend to approximate a group centre. Thought energy, which now emanates from each human being as a comparatively weak stream of an indefinite conglomeration of mental matter, of no particular character, forming no particularly distinct forms and persisting in animating those forms for but a brief period, will be directed towards the creation of that desired by the group, and not solely towards that desired by the unit. This is the basis, very largely, for the antagonism that all constructive thinkers and group workers encounter. The stream of energy which they emanate, and which constructs vital thought forms, runs counter to that of the masses of men, awakens opposition, and produces temporary chaos. The prominent workers and thinkers of the human family, under the direction of the Lodge, are engaged in three things:
Thứ hai. Tổng thể các hình tư tưởng của nhân loại hiện nay còn mang tính cá nhân, rung động quanh mỗi con người như các hành tinh rung động quanh mặt trời, sẽ có xu hướng tiến gần đến một trung tâm nhóm. Năng lượng tư tưởng, hiện nay phát ra từ mỗi con người như một dòng tương đối yếu của một hỗn hợp không xác định của chất liệu trí tuệ, không có đặc tính riêng biệt, không tạo thành những hình tướng đặc biệt rõ rệt nào và chỉ tồn tại để làm sinh động những hình tướng ấy trong một thời gian ngắn, sẽ được hướng đến việc sáng tạo điều được mong muốn bởi nhóm, chứ không chỉ hướng đến điều được mong muốn bởi đơn vị. Đây phần lớn là cơ sở cho sự đối kháng mà mọi nhà tư tưởng có tính xây dựng và những người hoạt động nhóm đều gặp phải. Dòng năng lượng mà họ phát ra, và dòng này xây dựng những hình tư tưởng sống động, đi ngược lại dòng của quần chúng, đánh thức sự chống đối, và tạo ra hỗn loạn tạm thời. Những người hoạt động và nhà tư tưởng nổi bật của gia đình nhân loại, dưới sự chỉ đạo của Thánh đoàn, đang dấn thân vào ba việc:
a. The imposition of the newer and higher rhythm upon men.
a. Áp đặt nhịp điệu mới hơn và cao hơn lên con người.
b. The dissipation of the murky clouds of half-vitalised indefinite thought forms which surround our planet, thus permitting the entry of interplanetary force, and of force from the higher mental levels.
b. Làm tiêu tan những đám mây mờ đục của các hình tư tưởng nửa sống động, không xác định bao quanh hành tinh chúng ta, nhờ đó cho phép mãnh lực liên hành tinh và mãnh lực từ các cấp độ thượng trí đi vào.
c. The awakening within men of the power to think clearly, to energise their thought forms accurately, and to hold in vital form those thought constructions whereby they may attain their objective, and [Page 955] bring about desired conditions upon the physical plane.
c. Đánh thức nơi con người quyền năng tư duy rõ ràng, tiếp năng lượng cho các hình tư tưởng của họ một cách chính xác, và giữ cho những cấu trúc tư tưởng ấy ở trong hình thức sống động nhờ đó họ có thể đạt được mục tiêu của mình, và [Page 955] mang lại những điều kiện mong muốn trên cõi hồng trần.
These three objectives necessitate a clear comprehension among such vital thinkers and workers, of the power of thought; of the direction of thought currents, of the science of thought building, of the manipulation under law and order of mental matter, and of the process of thought manifestation through the two factors of sound and vitalisation. It involves likewise the ability to negate or render futile all impulses arising from the lower self which are of a centralised and purely personal aspect, and the faculty of working in group form, each thought being sent upon the definite mission of adding its quota of energy and matter to some one stream which is specific and known. This last is of importance, for no worker for humanity becomes of real assistance until he (consciously and with full knowledge of his work) definitely directs his thought energy towards some particular channel of service to the race.
Ba mục tiêu này đòi hỏi nơi những nhà tư tưởng và người hoạt động sống động như thế một sự thấu hiểu rõ ràng về quyền năng của tư tưởng; về sự hướng dẫn các dòng tư tưởng, về khoa học kiến tạo tư tưởng, về sự điều khiển chất liệu trí tuệ dưới định luật và trật tự, và về tiến trình biểu hiện tư tưởng qua hai yếu tố âm thanh và sự tiếp sinh lực. Điều đó cũng bao hàm khả năng phủ nhận hay làm cho vô hiệu mọi xung lực phát sinh từ phàm ngã vốn mang tính tập trung và thuần túy cá nhân, và năng lực làm việc theo hình thức nhóm, mỗi tư tưởng được gửi đi trong một sứ mệnh xác định là thêm phần năng lượng và chất liệu của nó vào một dòng nào đó vốn đặc thù và đã được biết rõ. Điều cuối cùng này rất quan trọng, vì không người hoạt động nào cho nhân loại trở thành sự trợ giúp thực sự cho đến khi y (một cách có ý thức và với sự hiểu biết đầy đủ về công việc của mình) dứt khoát hướng năng lượng tư tưởng của mình vào một kênh phụng sự đặc biệt nào đó cho nhân loại.
d. In all thought building, therefore, of a high order, men have several things to do, which might be enumerated as follows:
d. Vì vậy, trong mọi sự kiến tạo tư tưởng thuộc trật tự cao, con người có một số việc phải làm, có thể được liệt kê như sau:
First, to purify their lower desires so that they are enabled to see clearly in the occult sense. No man has clear vision who is obsessed with his own needs, actions, and interests, and unconscious of that which is higher and of group activity. This clear vision brings about an ability to read, even if unconsciously at first, the akashic records, and thus ascertain the point of departure for the new and incoming thought impulses, an ability to lose sight of self interest in group interest, and thus co-operate with the plan, and a faculty that enables him to become aware of the keynote of the race, and aware of the “cry of humanity.”
Trước hết, thanh lọc các ham muốn thấp của mình để họ có thể thấy rõ theo nghĩa huyền bí. Không người nào có linh thị rõ ràng nếu bị ám ảnh bởi các nhu cầu, hành động, và quyền lợi riêng của mình, và vô thức đối với điều cao hơn và đối với hoạt động nhóm. Linh thị rõ ràng này mang lại khả năng đọc, dù lúc đầu có thể là vô thức, các hồ sơ akasha, và nhờ đó xác định điểm khởi hành cho các xung lực tư tưởng mới và đang đi vào, khả năng quên đi quyền lợi bản thân trong quyền lợi nhóm, và nhờ đó hợp tác với thiên cơ, và một năng lực cho phép y nhận biết chủ âm của nhân loại, và nhận biết “tiếng kêu của nhân loại.”
Next, to secure control over the mind. This involves [Page 956] certain important things: A realisation of the nature of the mind and brain through concentration, an understanding of the relation which should exist between the physical brain and Man, the real Thinker on the physical plane, an ability, gradually developed once the mind is brought under control through concentration, to meditate in the occult sense, and thus bring through the plan from higher levels, ascertain his individual share in the plan, and then co-operate in the work of some particular group of Nirmanakayas. This is succeeded by a consideration of the laws of energy. A man discovers how to build a thought form of a particular quality and tone, to energise it with his own life, and thus have—on mental levels—a small creation, the child of his will, which he can use as a messenger, or as a means for the manifestation of an idea. Students will do well to consider these points with care, if they seek to become conscious operators.
Kế đến, đạt được sự kiểm soát đối với trí tuệ. Điều này bao hàm [Page 956] một số điều quan trọng: chứng nghiệm bản chất của trí tuệ và bộ não qua sự tập trung, thấu hiểu mối liên hệ cần phải tồn tại giữa bộ não hồng trần và Con Người, Đấng Tư Tưởng thực sự trên cõi hồng trần, một khả năng, được phát triển dần dần một khi trí tuệ được đặt dưới sự kiểm soát qua sự tập trung, để tham thiền theo nghĩa huyền bí, và nhờ đó mang thiên cơ từ các cấp độ cao hơn xuống, xác định phần chia cá nhân của mình trong thiên cơ, và rồi hợp tác trong công việc của một nhóm Nirmanakaya đặc biệt nào đó. Tiếp theo đó là sự xem xét các định luật năng lượng. Một người khám phá ra cách xây dựng một hình tư tưởng có phẩm tính và âm điệu đặc thù, tiếp năng lượng cho nó bằng chính sự sống của mình, và nhờ đó có được—trên các cấp độ trí tuệ—một sáng tạo nhỏ, đứa con của ý chí mình, mà y có thể dùng như một sứ giả, hay như một phương tiện cho sự biểu hiện của một ý tưởng. Các đạo sinh nên suy xét cẩn trọng những điểm này, nếu họ tìm cách trở thành những người vận hành có ý thức.
Finally, having constructed a thought form, the next thing the servant of humanity has to learn is how to send it on its mission, whatever that may be, holding it through his own vital energy in its due form, keeping it vibrating to its own measure, and eventually bringing about its destruction when it has fulfilled its mission. The average man is often the victim of his own thought forms. He constructs them, but is neither strong enough to send them out to do their work, nor wise enough to dissipate them when required. This has brought about the thick swirling fog of half-formed, semi-vitalised forms in which eighty five percent of the human race is surrounded.
Sau cùng, sau khi đã kiến tạo một hình tư tưởng, điều kế tiếp mà người phụng sự nhân loại phải học là làm thế nào để gửi nó đi thi hành sứ mệnh của nó, dù sứ mệnh ấy là gì, giữ nó bằng chính sinh lực của mình trong hình dạng thích đáng, duy trì cho nó rung động theo nhịp độ riêng của nó, và cuối cùng đưa đến sự hủy diệt của nó khi nó đã hoàn tất sứ mệnh. Con người trung bình thường là nạn nhân của chính các hình tư tưởng của mình. Y tạo dựng chúng, nhưng không đủ mạnh để phóng chúng ra làm công việc của chúng, cũng không đủ minh triết để làm tiêu tan chúng khi cần. Điều này đã tạo ra màn sương mù dày đặc xoáy cuộn của những hình thể nửa thành hình, nửa được tiếp sinh lực, trong đó tám mươi lăm phần trăm nhân loại bị bao quanh.
In his work as thought builder, man has to show forth the characteristics of the Logos, the great Architect or Builder of the universe. He has to parallel His work as:
Trong công việc của mình với tư cách là người kiến tạo hình tư tưởng, con người phải biểu lộ các đặc tính của Thượng đế, Đấng Kiến Trúc Sư Vĩ Đại hay Đấng Kiến Tạo của vũ trụ. Y phải song hành với công việc của Ngài như:
The one who conceives the idea.
Đấng quan niệm ra ý tưởng.
The one who clothes the idea in matter. [Page 957]
Đấng khoác chất liệu cho ý tưởng. [Page 957]
The one who energises the idea, and thus enables the form to preserve its outline and perform its mission.
Đấng tiếp năng lượng cho ý tưởng, và nhờ đó làm cho hình thể có thể giữ được đường nét của nó và thực hiện sứ mệnh của nó.
The one who—in time and space—through desire and love, directs that thought form, vitalises it continuously, until the objective is attained.
Đấng mà—trong thời gian và không gian—qua dục vọng và tình thương, điều khiển hình tư tưởng ấy, tiếp sinh lực cho nó liên tục, cho đến khi mục tiêu đạt được.
The one who, when the desired end has been accomplished, destroys or disintegrates the thought form by withdrawing his energy (occultly, the “attention is withdrawn,” or “the eye is no longer upon” it), so that the lesser lives (which had been built into the desired form) fall away and return to the general reservoir of deva substance.
Đấng mà, khi cứu cánh mong muốn đã được hoàn thành, hủy diệt hay phân rã hình tư tưởng bằng cách rút năng lượng của mình lại (theo huyền bí học, “sự chú ý được rút đi,” hay “con mắt không còn đặt trên” nó nữa), để cho các sự sống nhỏ hơn (đã được xây vào hình thể mong muốn) rơi rụng đi và trở về kho chứa chung của chất liệu thiên thần.
Thus, in all creative work in mental matter, man is likewise to be seen as a Trinity at work; he is the creator, preserver, and destroyer.
Như vậy, trong mọi công việc sáng tạo trong chất liệu trí tuệ, con người cũng được thấy như một Tam Vị đang hoạt động; y là kẻ sáng tạo, bảo tồn và hủy diệt.
e. In all occult work in mental matter which has to manifest upon the physical plane, and thus achieve objectivity, man has to work as a unit. This infers the ability, therefore, of the threefold lower man to be subordinated to the Ego, so that the dynamic will of the Ego may be imposed upon the physical brain.
e. Trong mọi công việc huyền bí trong chất liệu trí tuệ mà phải biểu hiện trên cõi hồng trần, và nhờ đó đạt được tính khách quan, con người phải làm việc như một đơn vị. Vì vậy, điều này hàm ý khả năng để phàm ngã tam phân phải được đặt dưới chân ngã, để cho ý chí năng động của chân ngã có thể được áp đặt lên bộ não hồng trần.
The method of the man on the physical plane who is engaged in conscious work in mental matter is to be considered in two divisions: first, the initial process of alignment with the Ego, so that the plan, purpose and method of achievement may be impressed upon the physical brain, and then a secondary process in which the man, using the physical brain consciously, proceeds to carry out the plan, construct through will and purpose the necessitated form, and then, having built and energised the form, to “keep his eye upon it.” This is stating occultly the great truth back of all processes of energising. “The eye of the Lord” is much referred to in the Christian Bible, and occultly understood, the eye is that which brings power to its servant, the thought form. Scientists [Page 958] are becoming interested in the power of the human eye, and that faculty of control and of recognition which is everywhere seen as existing will have its scientific and occult explanation when it is studied as an instrument of initiatory energy.
Phương pháp của con người trên cõi hồng trần đang dấn thân vào công việc hữu thức trong chất liệu trí tuệ cần được xét thành hai phần: trước hết là tiến trình ban đầu chỉnh hợp với chân ngã, để cho kế hoạch, mục đích và phương pháp thành tựu có thể được in sâu vào bộ não hồng trần, rồi đến một tiến trình thứ yếu trong đó con người, sử dụng bộ não hồng trần một cách hữu thức, tiến hành thực hiện kế hoạch, kiến tạo bằng ý chí và mục đích hình thể cần thiết, rồi sau khi đã xây dựng và tiếp năng lượng cho hình thể, thì “giữ mắt mình trên nó.” Đây là cách phát biểu theo huyền bí học về chân lý lớn lao nằm sau mọi tiến trình tiếp năng lượng. “Con mắt của Chúa” được nhắc đến rất nhiều trong Kinh Thánh Cơ Đốc, và được hiểu theo huyền bí học, con mắt là cái mang quyền năng đến cho kẻ phụng sự của nó, tức hình tư tưởng. Các nhà khoa học [Page 958] đang bắt đầu quan tâm đến quyền năng của mắt người, và năng lực kiểm soát cùng nhận biết vốn được thấy là hiện hữu khắp nơi ấy sẽ có được lời giải thích khoa học và huyền bí khi nó được nghiên cứu như là một khí cụ của năng lượng điểm đạo.
Therefore, it will be apparent that a thought form is the result of two types of energy:
Do đó, sẽ rõ ràng rằng một hình tư tưởng là kết quả của hai loại năng lượng:
That emanating in the first instance from the Ego on abstract levels.
Loại phát ra trước tiên từ chân ngã trên các cấp độ trừu tượng.
That originating in a secondary sense from the man on the physical plane through the medium of the brain.
Loại phát sinh theo nghĩa thứ yếu từ con người trên cõi hồng trần qua trung gian của bộ não.
That men do not recognise the first factor as a general rule is that which is responsible for much that is evil. When the “Science of the Self” has assumed due proportions men will be careful to ascertain the egoic impulses in all thought process, and to utilise true egoic energy before they begin manipulating deva substance, and building forms of deva lives.
Việc con người nói chung không nhận ra yếu tố thứ nhất chính là điều chịu trách nhiệm cho nhiều điều xấu ác. Khi “Khoa Học về Bản Ngã” đã đạt đến tầm mức thích đáng, con người sẽ cẩn trọng xác định các xung lực chân ngã trong mọi tiến trình tư tưởng, và sử dụng năng lượng chân ngã chân chính trước khi họ bắt đầu vận dụng chất liệu thiên thần và xây dựng các hình thể của những sự sống thiên thần.
2. Thought Form Building in the Three Worlds.
2. Xây Dựng Hình Tư Tưởng trong Ba Cõi Giới.
I have a few more words to say anent this subject of man as a Creator in mental matter. The words are addressed to all those students who—through their ability to concentrate—have developed a certain measure of thought control, and who desire to understand the process of creation with greater scientific accuracy. We will, therefore, consider two factors in the process of thought-form building:
Tôi còn vài lời nữa muốn nói về chủ đề con người như một Đấng Sáng Tạo trong chất liệu trí tuệ. Những lời này được gửi đến tất cả những đạo sinh mà—nhờ khả năng tập trung—đã phát triển được một mức độ kiểm soát tư tưởng nào đó, và mong muốn hiểu tiến trình sáng tạo với độ chính xác khoa học lớn hơn. Vì vậy, chúng ta sẽ xét hai yếu tố trong tiến trình xây dựng hình tư tưởng:
a. That of aligning with the Ego. (288)
a. Việc chỉnh hợp với chân ngã. (288)
(288) Alignment: See Letters on Occult Meditation, pp. 1-7. (back)
(288) Chỉnh hợp: Xem Letters on Occult Meditation, tr. 1-7. (back)
b. The process of impressing the egoic will, on the physical brain, or (to word it otherwise) the initial utilisation of egoic energy.
b. Tiến trình in sâu ý chí chân ngã lên bộ não hồng trần, hay (nói cách khác) việc sử dụng ban đầu năng lượng chân ngã.
[Page 959] Let us take them one by one:
[Page 959] Chúng ta hãy xét từng điểm một:
a. Alignment with the Ego. This, as we know, is only possible to the man who has reached the Probationary Path, or a certain very definite point in evolution. Through knowledge and practice, the power has been acquired of automatically and scientifically utilising the sutratma (or channel) as a means of contact. When to this ability is added that of utilising with equal ease the antaskarana (or bridge between the Triad and the personality) then we have a powerful agent of the Hierarchy on the earth. We might generalise in the following manner as to the stages of growth and consequent ability to become the agent of ever increasing powers, tapping the resources of dynamic energy in the three worlds.
a. Chỉnh hợp với chân ngã. Điều này, như chúng ta biết, chỉ có thể đối với con người đã đạt đến Con Đường Dự Bị, hay một điểm tiến hoá rất xác định nào đó. Qua tri thức và thực hành, quyền năng sử dụng sutratma (hay kênh dẫn) như một phương tiện tiếp xúc một cách tự động và khoa học đã được thủ đắc. Khi vào khả năng này được thêm vào khả năng sử dụng với sự dễ dàng tương đương antaskarana (hay cây cầu giữa Tam nguyên tinh thần và phàm ngã) thì chúng ta có một tác nhân mạnh mẽ của Thánh đoàn trên Trái Đất. Chúng ta có thể khái quát theo cách sau về các giai đoạn tăng trưởng và năng lực hệ quả để trở thành tác nhân của những quyền năng ngày càng gia tăng, khai thác các nguồn năng lượng năng động trong ba cõi thấp.
Lower types of humanity use the sutratma as it passes through the etheric body.
Các loại thấp của nhân loại sử dụng sutratma khi nó đi qua thể dĩ thái.
Average men utilise almost entirely that part of the sutratma which passes through the astral plane. Their reactions are largely based on desire, and are emotional.
Những người trung bình hầu như hoàn toàn sử dụng phần của sutratma đi qua cõi cảm dục. Các phản ứng của họ phần lớn dựa trên dục vọng, và mang tính cảm xúc.
Intellectual men utilise the sutratma as it passes through the lower levels of the mental plane, down through the astral to the physical in its two sections. Their activities are energised by mind and not by desire, as in the earlier cases.
Những người trí thức sử dụng sutratma khi nó đi qua các cấp thấp của cõi trí, xuống qua cõi cảm dục đến cõi hồng trần trong hai phần của nó. Các hoạt động của họ được tiếp năng lượng bởi trí tuệ chứ không phải bởi dục vọng, như trong các trường hợp trước.
Aspirants on the physical plane use the sutratma as it passes through the two lower subplanes of the abstract levels of the mental plane, and are beginning gradually to build the antaskarana, or the bridge between the Triad and the Personality. The power of the Ego can begin to make itself felt.
Những người chí nguyện trên cõi hồng trần sử dụng sutratma khi nó đi qua hai cõi phụ thấp của các cấp độ trừu tượng của cõi trí, và đang dần dần bắt đầu xây dựng antaskarana, hay cây cầu giữa Tam nguyên tinh thần và Phàm ngã. Quyền năng của chân ngã có thể bắt đầu tự biểu lộ.
Applicants for initiation and initiates up to the third initiation use both the sutratma and the antaskarana, employing them as a unit. The power of the Triad begins to pour through, thus energising all human [Page 960] activities upon the physical plane, and vitalising in ever increasing degree the man’s thought forms. The key to the formation of the Mayavirupa is found in the right comprehension of the process.
Những người xin điểm đạo và các điểm đạo đồ cho đến lần điểm đạo thứ ba sử dụng cả sutratma lẫn antaskarana, dùng chúng như một đơn vị. Quyền năng của Tam nguyên tinh thần bắt đầu tuôn đổ qua, nhờ đó tiếp năng lượng cho mọi hoạt động của con người [Page 960] trên cõi hồng trần, và tiếp sinh lực cho các hình tư tưởng của con người ở mức độ ngày càng tăng. Chìa khóa của sự hình thành Mayavirupa được tìm thấy trong sự thấu hiểu đúng đắn tiến trình này.
If students will study carefully the above differentiations, much light will be thrown upon the quality of the energy employed in thought-form building.
Nếu các đạo sinh nghiên cứu cẩn thận những sự phân biệt trên, nhiều ánh sáng sẽ được rọi vào phẩm tính của năng lượng được dùng trong việc xây dựng hình tư tưởng.
In the early stages of alignment, it has to be concisely and carefully brought about through concentration and meditation. Later, when the right rhythm has been set up in the bodies, and the purification of the sheaths has been rigidly pursued, the dual activity will become practically instantaneous, and the student can then turn his attention to the work of conscious building and vitalisation; his point of concentration will not then be given to the attainment of alignment.
Trong các giai đoạn đầu của sự chỉnh hợp, nó phải được tạo ra một cách ngắn gọn và cẩn trọng qua tập trung và tham thiền. Về sau, khi nhịp điệu đúng đã được thiết lập trong các thể, và sự thanh luyện các vỏ bọc đã được theo đuổi nghiêm ngặt, hoạt động kép sẽ trở nên hầu như tức thời, và khi ấy đạo sinh có thể hướng sự chú ý của mình vào công việc xây dựng và tiếp sinh lực một cách hữu thức; điểm tập trung của y khi ấy sẽ không còn đặt vào việc đạt được sự chỉnh hợp nữa.
Accurate alignment entails,
Sự chỉnh hợp chính xác đòi hỏi,
Mental quiescence, or stable vibration,
Sự tĩnh lặng của trí tuệ, hay rung động ổn định,
Emotional stability, resulting in limpid reflection,
Sự ổn định cảm xúc, đưa đến sự phản chiếu trong sáng,
Etheric poise, producing a condition in the head centre which would permit of the direct application of force to the physical brain via the centre.
Sự quân bình dĩ thái, tạo ra một tình trạng trong trung tâm đầu cho phép áp dụng trực tiếp mãnh lực vào bộ não hồng trần qua trung tâm ấy.
b. Physical brain impression. The accurate realisation by the physical brain of what the Ego is seeking to convey concerning the work to be done only becomes possible when two things are realised:
b. Sự in sâu lên bộ não hồng trần. Việc bộ não hồng trần chứng nghiệm chính xác điều mà chân ngã đang tìm cách truyền đạt liên quan đến công việc phải làm chỉ trở nên khả hữu khi hai điều được nhận ra:
Direct alignment.
Sự chỉnh hợp trực tiếp.
The transmission of the egoic energy or will to one or other of the three physical centres in the head:
Sự truyền năng lượng hay ý chí chân ngã đến một trong ba trung tâm hồng trần ở đầu:
The pineal gland.
Tuyến tùng.
The pituitary body.
Thể tuyến yên.
The alta major centre, or that nerve centre at the top of the spine, where the cranium and the spine make approximate contact. When this congery of nerves is fully developed, it forms a centre of communication between the vital energy of the spinal column (the kundalini fire) and the energy of the two head centres above enumerated. It is the physical correspondence to the antaskarana on higher levels. [Page 961]
Trung tâm alta major, hay trung tâm thần kinh ở đỉnh cột sống, nơi hộp sọ và cột sống tiếp xúc gần nhau. Khi đám dây thần kinh này phát triển đầy đủ, nó tạo thành một trung tâm giao thông giữa sinh lực của cột sống (lửa kundalini) và năng lượng của hai trung tâm đầu kể trên. Nó là đối phần hồng trần của antaskarana trên các cấp độ cao hơn. [Page 961]
CHART X
BIỂU ĐỒ X
THE SCIENCE OF MEDITATION
KHOA HỌC THAM THIỀN
[Page 962] The pituitary body (in all cases of correct normal development) forms the centre which receives the threefold vitalisation pouring through the sutratma from the lower mental, the astral, and the etheric planes. The pineal gland comes into activity when this action is enhanced by the pouring through of energy from the Ego on its own plane. When the antaskarana is in process of utilisation the alta major centre is likewise employed, and the three physical head centres begin to work as a unit, thus forming a kind of triangle. By the time the third Initiation is reached, this triangle is fully awakened and the fire (or energy) is circulated freely.
[Page 962] Thể tuyến yên (trong mọi trường hợp phát triển đúng đắn bình thường) tạo thành trung tâm tiếp nhận sự tiếp sinh lực tam phân tuôn qua sutratma từ các cõi hạ trí, cảm dục và dĩ thái. Tuyến tùng đi vào hoạt động khi tác động này được tăng cường bởi sự tuôn qua của năng lượng từ chân ngã trên cõi riêng của nó. Khi antaskarana đang trong tiến trình được sử dụng thì trung tâm alta major cũng được dùng, và ba trung tâm đầu hồng trần bắt đầu hoạt động như một đơn vị, nhờ đó tạo thành một loại tam giác. Vào lúc đạt đến lần điểm đạo thứ ba, tam giác này hoàn toàn thức tỉnh và lửa (hay năng lượng) được lưu chuyển tự do.
It will be apparent, therefore, that man’s ability to create in mental matter grows as he treads the Path. He needs to remember that (from the angle from which we are studying) we are not considering the power of the Ego to produce forms on the mental plane, but the ability of physical plane man to create upon the mental plane those vehicles for energy which—when set in motion by his conscious will—will produce certain specific effects upon the physical plane. This is brought about by egoic energy passed down the sutratma to the physical brain, and retransmitted back to the mental plane, plus or minus that which has been gained or lost in the process. The true Adept, through knowledge, conserves all energy while in process of transmission, and augments it with the energy contacted. It is, therefore, the energy of will, plus that of desire, fed by the energy of the physical brain. Literally, therefore, it is a small resume of the creative process of the Godhead, being the [Page 963] energy of the three persons unified, and considered from the standpoint of the physical. It is the at-one-ment of the three fires in man, being in fact:
Vì vậy, sẽ rõ ràng rằng khả năng sáng tạo trong chất liệu trí tuệ của con người tăng trưởng khi y bước đi trên Con Đường. Y cần nhớ rằng (xét từ góc độ mà chúng ta đang nghiên cứu) chúng ta không xét quyền năng của chân ngã trong việc tạo ra các hình thể trên cõi trí, mà xét khả năng của con người trên cõi hồng trần trong việc sáng tạo trên cõi trí những vận cụ cho năng lượng mà—khi được đặt vào chuyển động bởi ý chí hữu thức của y—sẽ tạo ra những hiệu quả đặc thù nào đó trên cõi hồng trần. Điều này được thực hiện bởi năng lượng chân ngã truyền xuống qua sutratma đến bộ não hồng trần, rồi được truyền ngược trở lại cõi trí, cộng hoặc trừ phần đã thu được hay mất đi trong tiến trình. Chân sư đích thực, nhờ tri thức, bảo toàn mọi năng lượng trong khi truyền dẫn, và gia tăng nó bằng năng lượng được tiếp xúc. Vì vậy, đó là năng lượng của ý chí, cộng với năng lượng của dục vọng, được nuôi bằng năng lượng của bộ não hồng trần. Theo nghĩa đen, do đó, nó là một bản tóm lược nhỏ của tiến trình sáng tạo của Thượng đế, là [Page 963] năng lượng của ba ngôi vị được hợp nhất, và được xét từ quan điểm hồng trần. Đó là sự hợp nhất của ba ngọn lửa trong con người, thực ra là:
a. That much of the fire of spirit, or electric fire, which any particular Ego is embodying (relatively little prior to the third Initiation) or is able to transmit, coupled with,
a. Phần lửa tinh thần, hay Lửa Điện, mà bất kỳ chân ngã riêng biệt nào đang thể hiện (tương đối ít trước lần điểm đạo thứ ba) hay có thể truyền dẫn, kết hợp với,
b. That much of the fire of the solar Angel (solar fire) or the egoic aspect which the Ego is able to transmit. This is but little in average man, a good deal in the man on the probationary path, and a full downpour by the time the third Initiation is reached.
b. Phần lửa của Thái dương Thiên Thần (Lửa Thái dương) hay phương diện chân ngã mà chân ngã có thể truyền dẫn. Điều này chỉ rất ít nơi con người trung bình, khá nhiều nơi con người trên Con Đường Dự Bị, và là một sự tuôn đổ trọn vẹn vào lúc đạt đến lần điểm đạo thứ ba.
c. That much of the fire of substance in its purified state which can penetrate. This is dependent upon the purity of the three sheaths, and in the case of a highly advanced man is the kundalinic fire as it swells the blaze produced by the other two.
c. Phần lửa của chất liệu trong trạng thái thanh luyện của nó có thể xuyên thấu. Điều này tùy thuộc vào sự thanh khiết của ba vỏ bọc, và trong trường hợp một người rất tiến hóa, đó là lửa kundalini khi nó làm bùng lớn ngọn lửa do hai loại kia tạo ra.
When, therefore, the alignment is corrected, and the physical head centres are awakening, it becomes possible for man to become a conscious creator in mental matter.
Vì vậy, khi sự chỉnh hợp được điều chỉnh đúng và các trung tâm đầu hồng trần đang thức tỉnh, con người có thể trở thành một đấng sáng tạo hữu thức trong chất liệu trí tuệ.
IV. Man and the Fire Spirits or Builders
IV. Con Người và các Hỏa Tinh Linh hay các Đấng Kiến Tạo
This section we will consider in somewhat greater detail than the previous one, as it concerns much of present practical value to man. This will be seen particularly as we study the effects of speech, and the occult significance of the spoken word.
Phần này chúng ta sẽ xét chi tiết hơn đôi chút so với phần trước, vì nó liên quan đến nhiều điều có giá trị thực tiễn hiện nay đối với con người. Điều này sẽ thấy rõ đặc biệt khi chúng ta nghiên cứu các hiệu quả của lời nói, và ý nghĩa huyền bí của lời được thốt ra.
1. The Will Aspect and Creation.
1. Phương diện Ý chí và Sáng tạo.
In a previous division, we dealt somewhat with the transmission of the will of the Ego to the physical brain, and we saw how only in those persons who (through evolutionary development) had the sutratma and the antaskarana connected, and whose three physical head centres were more or less awakened, was the will of the Ego capable of transmission. In the other cases, such as the average man and little developed man, the purpose [Page 964] affecting the physical brain emanated from the astral or lower mental levels, and was, therefore, more likely to be the impulse of some lunar Lord, even if of a high order, than the divine will of the solar Angel, who is the true man.
Trong một phần trước, chúng ta đã bàn đôi chút về sự truyền ý chí của chân ngã đến bộ não hồng trần, và chúng ta đã thấy rằng chỉ nơi những người mà (qua sự phát triển tiến hoá) sutratma và antaskarana đã được nối kết, và ba trung tâm đầu hồng trần của họ đã ít nhiều thức tỉnh, thì ý chí của chân ngã mới có khả năng được truyền dẫn. Trong các trường hợp khác, như con người trung bình và con người ít phát triển, mục đích [Page 964] tác động lên bộ não hồng trần phát ra từ các cấp cảm dục hay hạ trí, và vì vậy có nhiều khả năng là xung lực của một nguyệt tinh quân nào đó, dù thuộc cấp cao, hơn là ý chí thiêng liêng của Thái dương Thiên Thần, Đấng là con người chân thực.
a. The condition of the Magician. It is of value to remember that when the physical head centres are awakened (through alignment of the etheric centres) we have the very lowest aspect of egoic influence. From these three centres, man on the Probationary Path, and up to the third Initiation, directs and controls his sheath, and from them spreads that illumination which will irradiate the physical plane life. By the time the third Initiation is reached, the internal triangle is in full process of circulatory transmission, and the whole life of the Personality is subjected to the will of the Ego. “The Star absorbs the light of the moon, so that the rays of the Sun may be reflected back” is the occult way of expressing the truth anent this point in evolution. It might be of value here also to point out the condition of the etheric centres during this process of direct solar control. Before the three physical head centres awaken, man is largely subjected to force flowing through the four minor etheric centres; later the three major centres—the head, the heart, and the throat—begin to vibrate, gradually assuming a greater sweep of activity, till their energy tends to negate that of the lower centres, to absorb their vitality and deflect the direction of their vitality, until the three higher wheels are in full fourth dimensional activity. As this proceeds, the three physical head centres begin to awake from dormancy into activity, the effect being felt as follows:
a. Tình trạng của nhà huyền thuật. Cần nhớ rằng khi các trung tâm đầu hồng trần được thức tỉnh (qua sự chỉnh hợp của các trung tâm dĩ thái) thì chúng ta có phương diện thấp nhất của ảnh hưởng chân ngã mà thôi. Từ ba trung tâm này, con người trên Con Đường Dự Bị, và cho đến lần điểm đạo thứ ba, điều khiển và kiểm soát vỏ bọc của mình, và từ đó lan tỏa sự soi sáng sẽ chiếu rạng đời sống cõi hồng trần. Vào lúc đạt đến lần điểm đạo thứ ba, tam giác nội tại ở trong tiến trình truyền dẫn tuần hoàn trọn vẹn, và toàn bộ đời sống của Phàm ngã bị đặt dưới ý chí của chân ngã. “Ngôi sao hấp thụ ánh sáng của mặt trăng, để các tia của Mặt Trời có thể được phản chiếu trở lại” là cách diễn đạt theo huyền bí học về chân lý liên quan đến điểm tiến hoá này. Ở đây cũng có thể hữu ích khi chỉ ra tình trạng của các trung tâm dĩ thái trong tiến trình kiểm soát trực tiếp của thái dương này. Trước khi ba trung tâm đầu hồng trần thức tỉnh, con người phần lớn chịu sự chi phối của mãnh lực chảy qua bốn trung tâm dĩ thái phụ; về sau ba trung tâm chính—đầu, tim và cổ họng—bắt đầu rung động, dần dần đảm nhận phạm vi hoạt động lớn hơn, cho đến khi năng lượng của chúng có xu hướng phủ nhận năng lượng của các trung tâm thấp, hấp thụ sinh lực của chúng và chuyển hướng dòng sinh lực ấy, cho đến khi ba bánh xe cao hơn ở trong hoạt động chiều thứ tư trọn vẹn. Khi điều này diễn tiến, ba trung tâm đầu hồng trần bắt đầu thức dậy từ trạng thái ngủ yên để đi vào hoạt động, hiệu quả được cảm nhận như sau:
a. As the major head centre awakens, the pineal gland begins to function.
a. Khi trung tâm đầu chính thức tỉnh, tuyến tùng bắt đầu hoạt động.
b. As the heart centre becomes fully alive, the pituitary body enters into activity. [Page 965]
b. Khi trung tâm tim trở nên hoàn toàn sống động, thể tuyến yên đi vào hoạt động. [Page 965]
c. As the throat centre assumes its right place in the process of evolution, the alta major centre vibrates adequately.
c. Khi trung tâm cổ họng đảm nhận vị trí đúng của nó trong tiến trình tiến hoá, trung tâm alta major rung động đầy đủ.
When the triangle of force that these three physical centres form is in circulatory effect, the greater triangle can be seen in circulation; it then becomes a “wheel turning upon itself.” The major etheric centres are in full action, and the man is nearing the moment of liberation.
Khi tam giác lực mà ba trung tâm hồng trần này tạo thành ở trong hiệu quả tuần hoàn, tam giác lớn hơn có thể được thấy đang lưu chuyển; khi ấy nó trở thành một “bánh xe tự quay trên chính nó.” Các trung tâm dĩ thái chính ở trong hoạt động trọn vẹn, và con người đang tiến gần đến thời điểm giải thoát.
In the work of creation, as occultly carried on, all these three physical centres have to be utilised, and from a consideration of the subject it will become apparent why it has been necessary to deal with them in this order.
Trong công việc sáng tạo, như được tiến hành theo huyền bí học, cả ba trung tâm hồng trần này đều phải được sử dụng, và từ việc xem xét chủ đề này sẽ rõ vì sao cần phải bàn đến chúng theo thứ tự này.
By means of the pineal gland, (289) the organ of spiritual perception, man ascertains the will and purpose of the Ego, and from thence he draws the necessary energy [Page 966] from the higher levels, via the head centre and the sutratma.
Nhờ tuyến tùng, (289) cơ quan của tri giác tinh thần, con người xác định ý chí và mục đích của chân ngã, và từ đó y rút ra năng lượng cần thiết [Page 966] từ các cấp độ cao hơn, qua trung tâm đầu và sutratma.
(289) The Pineal Gland. The Third Eye.—S. D., III, 548.
(289) Tuyến Tùng. Con Mắt Thứ Ba.—S. D., III, 548.
1. Goal of evolution to develop the inner vision.
1. Mục tiêu của tiến hoá là phát triển linh thị bên trong.
2. The occult significance of the eye.—S. D., III, 577.
2. Ý nghĩa huyền bí của con mắt.—S. D., III, 577.
3. The “eye of Taurus the Bull.”—(Compare bull’s-eye.)
3. “Con mắt của Kim Ngưu.”—(So sánh bull’s-eye.)
The constellation of Taurus was called the Mother of Revelation and the interpreter of the divine Voice.—S. D., I, 721.
Chòm sao Kim Ngưu được gọi là Mẹ của Mặc Khải và là người diễn giải Tiếng Nói thiêng liêng.—S. D., I, 721.
4. The organs of inner vision:
4. Các cơ quan của linh thị bên trong:
a. The exoteric organ.... Pineal gland.... physical.
a. Cơ quan ngoại môn.... tuyến tùng.... hồng trần.
b. The esoteric organ.... the third eye.... etheric.
b. Cơ quan nội môn.... con mắt thứ ba.... dĩ thái.
Note: Students must be careful to distinguish between the third eye and the pineal gland.—See S. D., II, 308. “The third eye is dead and acts no longer.” It has left behind a witness to its existence in the Pineal gland.
Lưu ý: Các đạo sinh phải cẩn thận phân biệt giữa con mắt thứ ba và tuyến tùng.—Xem S. D., II, 308. “Con mắt thứ ba đã chết và không còn hoạt động nữa.” Nó đã để lại một chứng tích về sự hiện hữu của nó trong tuyến tùng.
5. The Pineal gland is a small pea-like mass of grey nervous matter attached to the back of the third ventricle of the brain.
5. Tuyến tùng là một khối nhỏ chất thần kinh xám giống hạt đậu gắn vào phía sau não thất thứ ba của bộ não.
6. The Pituitary Body stands to the Pineal gland as manas does to Buddhi, or mind to wisdom.—S. D., III, 504, 505.
6. Thể tuyến yên đối với tuyến tùng cũng như manas đối với Bồ đề, hay trí tuệ đối với minh triết.—S. D., III, 504, 505.
7. The Pineal gland reached its highest development proportionately with the Lowest Physical development.—S. D., II, 308, 313.
7. Tuyến tùng đạt đến sự phát triển cao nhất của nó tương ứng với sự phát triển hồng trần thấp nhất.—S. D., II, 308, 313.
8. The third eye exists in etheric matter.
8. Con mắt thứ ba hiện hữu trong chất liệu dĩ thái.
a. In front of the head.
a. Ở phía trước đầu.
b. On a level with the eyes.
b. Ngang tầm với hai mắt.
9. It is an energy centre formed by a triangle of force:
9. Nó là một trung tâm năng lượng được tạo thành bởi một tam giác lực:
a. The Pituitary Body.
a. Thể tuyến yên.
b. The Pineal Gland.
b. Tuyến tùng.
c. The alta major centre.
c. Trung tâm alta major.
10. The opened or third eye does not convey direct clairvoyance but is the organ through which direct and certain knowledge is obtained.—S. D., I, 77.
10. Con mắt mở hay con mắt thứ ba không truyền đạt thông nhãn trực tiếp mà là cơ quan qua đó tri thức trực tiếp và chắc chắn được đạt tới.—S. D., I, 77.
a. The initiate directs the eye towards the essence of things.
a. Điểm đạo đồ hướng con mắt về tinh chất của sự vật.
b. The third eye must be acquired by the ascetic before he becomes an adept.—S. D., II, 651.
b. Người khổ hạnh phải đạt được con mắt thứ ba trước khi trở thành một chân sư.—S. D., II, 651.
11. Students of occultism ought to know that the third eye is indissolubly connected with karma.—S. D., II, 312, note; S. D., II, 316, 320.
11. Các đạo sinh huyền bí học nên biết rằng con mắt thứ ba gắn liền bất khả phân với nghiệp quả.—S. D., II, 312, note; S. D., II, 316, 320.
a. From its Atlantean past, the fifth root-race is working out fourth root-race causes.
a. Từ quá khứ Atlantis của mình, giống dân gốc thứ năm đang giải quyết các nguyên nhân của giống dân gốc thứ tư.
b. Because it reveals that which is its past.—S. D., II, 297, 320, 813.
b. Bởi vì nó mặc khải điều vốn là quá khứ của nó.—S. D., II, 297, 320, 813.
12. The third eye is the mirror of the soul.—S. D., II, 312.
12. Con mắt thứ ba là tấm gương của linh hồn.—S. D., II, 312.
13. To the inner spiritual eye the Gods are no more abstractions than our soul and body are to us.—S. D., I, 694.
13. Đối với con mắt tinh thần bên trong, các Thượng đế không còn là những điều trừu tượng hơn linh hồn và thể xác của chúng ta đối với chúng ta.—S. D., I, 694.
a. The inner eye can see through the veil of matter.—S. D., I, 694.
a. Con mắt bên trong có thể nhìn xuyên qua bức màn vật chất.—S. D., I, 694.
b. The spiritual eye reveals the super-sensual states.—S. D., II, 561.
b. Con mắt tinh thần mặc khải các trạng thái siêu giác quan.—S. D., II, 561.
14. In the spiritual regenerated man the third eye is active.—S. D., II, 458. (back)
14. Trong con người được tái sinh tinh thần, con mắt thứ ba hoạt động.—S. D., II, 458. (back)
By means of the pituitary body, the second element of desire or of the form-building energy, becomes available, and under the law of attraction he can mould, and build in deva substance.
Nhờ thể tuyến yên, yếu tố thứ hai của dục vọng hay của năng lượng xây dựng hình thể trở nên khả dụng, và dưới định luật hấp dẫn y có thể nắn đúc và xây dựng trong chất liệu thiên thần.
When the alta major centre, the synthesis of what might be called nervous energy, is awake, it becomes possible for him to materialise and activate the desired form which, through attractive energy, he is in process of constructing.
Khi trung tâm alta major, sự tổng hợp của cái có thể gọi là năng lượng thần kinh, được thức tỉnh, thì y có thể hiện hình và hoạt hóa hình thể mong muốn mà, qua năng lượng hấp dẫn, y đang trong tiến trình kiến tạo.
It will be apparent, therefore, why it is that so few people ever construct thought forms which are of constructive lasting benefit to humanity, and also why it is that the Great Ones, (as They work through Their disciples) are forced to work with groups, being seldom able to find a man or woman whose three physical head centres are simultaneously active. They frequently have to work with large groups before the quota of energy supplied to Them for the accomplishment of Their ends measures up to that necessitated.
Vì vậy, sẽ rõ vì sao rất ít người từng kiến tạo các hình tư tưởng có lợi ích xây dựng và bền lâu cho nhân loại, và cũng vì sao Các Đấng Cao Cả, (khi Các Ngài làm việc qua các đệ tử của Các Ngài) buộc phải làm việc với các nhóm, vì hiếm khi có thể tìm được một người nam hay nữ mà ba trung tâm đầu hồng trần cùng hoạt động đồng thời. Các Ngài thường phải làm việc với những nhóm lớn trước khi định mức năng lượng được cung cấp cho Các Ngài để hoàn thành các mục đích của Các Ngài đạt đến mức cần thiết.
It will be obvious, likewise, that the disciple’s power for service for humanity is dependent largely upon three things: [Page 967]
Tương tự, cũng sẽ hiển nhiên rằng quyền năng phụng sự nhân loại của đệ tử phần lớn tùy thuộc vào ba điều: [Page 967]
a. The state of his bodies and their egoic alignment.
a. Tình trạng các thể của y và sự chỉnh hợp chân ngã của chúng.
b. The condition of activity present in the physical head centres.
b. Tình trạng hoạt động hiện diện trong các trung tâm đầu hồng trần.
c. The circulatory action of the triangular transmission of force.
c. Hoạt động tuần hoàn của sự truyền dẫn lực theo hình tam giác.
These factors are again dependent upon others, among which might be enumerated:
Các yếu tố này lại tùy thuộc vào những yếu tố khác, trong đó có thể kể ra:
1. The ability of the disciple to meditate.
1. Khả năng tham thiền của đệ tử.
2. The capacity he displays for bringing through accurately from the subtler levels the plans and purposes of which his Ego is cognisant.
2. Năng lực mà y biểu lộ trong việc mang xuống một cách chính xác từ các cấp độ vi tế hơn những kế hoạch và mục đích mà chân ngã của y nhận biết.
3. The purity of his motives.
3. Sự thanh khiết của các động cơ của y.
4. His power to “hold a state of meditation,” and while in that state begin to build the form for his idea, and thus materialise the plan of his Ego.
4. Quyền năng của y để “giữ một trạng thái tham thiền,” và trong khi ở trong trạng thái ấy bắt đầu xây dựng hình thể cho ý tưởng của mình, và nhờ đó hiện hình kế hoạch của chân ngã mình.
5. The amount of energy he can pour later into his thought form and thus procure for it a period of existence, or its tiny “day of Brahma.”
5. Lượng năng lượng mà về sau y có thể tuôn vào hình tư tưởng của mình và nhờ đó đem lại cho nó một thời kỳ tồn tại, hay “ngày Brahma” bé nhỏ của nó.
These subsidiary factors are again dependent upon:
Những yếu tố phụ này lại tùy thuộc vào:
a. His place on the ladder of evolution.
a. Vị trí của y trên nấc thang tiến hoá.
b. The condition of his bodies.
b. Tình trạng các thể của y.
c. His karmic condition.
c. Tình trạng nghiệp quả của y.
d. The tenuosity of the etheric web.
d. Độ mỏng của màng lưới dĩ thái.
e. The calibre of his physical body, and its relative refinement.
e. Tầm vóc của thể xác y, và mức độ tinh luyện tương đối của nó.
It is necessary here to warn the student against the error of making any hard or fast rule anent the sequential order of the development of the physical head centres, and the vitalisation of the force centres. This process is incident upon many things, such as the ray upon which the monad may be found, and the nature of the development in the past incarnations. Nature, in all departments of her corporate life, parallels her efforts, and overlaps her various processes, and it takes a seer of [Page 968] vast wisdom and experience to state exactly the stage at which any particular unit of the human family may be. He that is wise always refrains from assertion until he knows.
Ở đây cần cảnh báo đạo sinh chống lại sai lầm là đặt ra bất kỳ quy luật cứng nhắc nào liên quan đến thứ tự tuần tự của sự phát triển các trung tâm đầu hồng trần và sự tiếp sinh lực của các trung tâm lực. Tiến trình này tùy thuộc vào nhiều điều, chẳng hạn như cung mà chân thần có thể thuộc về, và bản chất của sự phát triển trong các kiếp trước. Thiên nhiên, trong mọi bộ môn của đời sống hợp nhất của mình, song hành các nỗ lực của mình và chồng lấn các tiến trình khác nhau của mình, và cần một nhà thông nhãn có [Page 968] minh triết và kinh nghiệm bao la mới có thể nói chính xác giai đoạn mà bất kỳ đơn vị nào của gia đình nhân loại đang ở. Người minh triết luôn luôn tránh khẳng định cho đến khi y biết.
Let us now consider:
Bây giờ chúng ta hãy xét:
b. The construction, vitalisation, and actuating of the thought form. The Ego, having brought about a condition of receptivity, or of recognition in the physical brain of the man, and having drawn from him the necessary response, the process of building is thereupon begun.
b. Sự kiến tạo, tiếp sinh lực và hoạt hóa hình tư tưởng. Chân ngã, sau khi đã tạo ra một tình trạng tiếp nhận, hay nhận biết trong bộ não hồng trần của con người, và sau khi đã rút ra từ y sự đáp ứng cần thiết, thì tiến trình xây dựng liền được bắt đầu.
This process of physical plane response is based—as is all else in nature—upon the relation of the polar opposites. The physical centres are receptive to the positive influence of the force centres. The physical brain is responsive to the positive influence of the lower nature in the earlier evolutionary stages, or to the reactions of the substance of the sheaths, the impress of the lunar Lords. It responds in the later stages to the positive influence of the Ego or the impress of the solar Lord.
Tiến trình đáp ứng của cõi hồng trần này dựa trên—như mọi điều khác trong thiên nhiên—mối liên hệ của các cực đối nghịch. Các trung tâm hồng trần tiếp nhận ảnh hưởng dương của các trung tâm lực. Bộ não hồng trần đáp ứng ảnh hưởng dương của bản chất thấp trong các giai đoạn tiến hoá đầu, hay các phản ứng của chất liệu của các vỏ bọc, dấu ấn của các nguyệt tinh quân. Trong các giai đoạn sau, nó đáp ứng ảnh hưởng dương của chân ngã hay dấu ấn của nhật tinh quân.
As is apparent, this building process is divided into three parts, which overlap, and assume an appearance of simultaneity. When (as is the case with the majority of the human family) the process is an unconscious one, produced by reflex action and based largely on the accomplishment of desire, all is carried on with great rapidity, and leads to rapid results—these results being effective of accomplishment according to the ability of the man to vitalise and hold in coherent form his idea. Most of the thought forms created by average man are only relatively effective, and this within great limitations, and having but a restricted radius. When man is learning consciously to create, which he does through the organisation of thought, concentration and meditation, he proceeds more slowly, for he has two primary things to do before the creative process can be carried through: [Page 969]
Như đã rõ, tiến trình xây dựng này được chia thành ba phần, chồng lấn lên nhau, và mang dáng vẻ đồng thời. Khi (như trường hợp của đa số gia đình nhân loại) tiến trình này là vô thức, được tạo ra bởi phản xạ và phần lớn dựa trên sự hoàn thành dục vọng, thì mọi sự được tiến hành rất nhanh chóng, và dẫn đến kết quả mau lẹ—những kết quả này có hiệu quả thành tựu tùy theo khả năng của con người trong việc tiếp sinh lực và giữ cho ý tưởng của mình ở hình thức kết hợp chặt chẽ. Phần lớn các hình tư tưởng do con người trung bình tạo ra chỉ tương đối hữu hiệu, và điều này trong những giới hạn lớn, với một bán kính hạn chế. Khi con người đang học cách sáng tạo một cách hữu thức, điều mà y làm qua sự tổ chức tư tưởng, tập trung và tham thiền, y tiến hành chậm hơn, vì y có hai điều chính phải làm trước khi tiến trình sáng tạo có thể được thực hiện: [Page 969]
a. To contact or communicate with the Ego, or solar Angel.
a. Tiếp xúc hay giao thông với chân ngã, hay Thái dương Thiên Thần.
b. To study the process of creation and to make it conform step by step with natural evolutionary law.
b. Nghiên cứu tiến trình sáng tạo và làm cho nó phù hợp từng bước với định luật tiến hoá tự nhiên.
The above is necessarily but another way of defining meditation and its objective.
Điều trên tất yếu chỉ là một cách khác để định nghĩa tham thiền và mục tiêu của nó.
Later on, when a man is an expert in meditation, the work of thought creation proceeds with ever increasing rapidity, until he surpasses (on a higher turn of the spiral) the activity of the earlier unconscious period.
Về sau, khi một người là chuyên gia trong tham thiền, công việc sáng tạo tư tưởng diễn tiến với tốc độ ngày càng tăng, cho đến khi y vượt qua (trên một vòng xoắn cao hơn của đường xoắn ốc) hoạt động của thời kỳ vô thức trước kia.
Starting, therefore, with the recognition of the egoic intent in the physical brain, the man proceeds to build the form for his idea. He begins first to organise the material required upon the mental plane. It is on that plane that the impulse takes to itself its primary form. On the desire or astral plane, the process of vitalisation is largely pursued, for the length of the life of any thought form (even such an one as our solar system) is dependent upon the persistence of desire, and the strength of the desire.
Vì vậy, bắt đầu với sự nhận biết ý định chân ngã trong bộ não hồng trần, con người tiến hành xây dựng hình thể cho ý tưởng của mình. Trước hết y bắt đầu tổ chức chất liệu cần thiết trên cõi trí. Chính trên cõi đó mà xung lực khoác lấy hình thức sơ khởi của nó. Trên cõi dục vọng hay cõi cảm dục, tiến trình tiếp sinh lực phần lớn được theo đuổi, vì độ dài đời sống của bất kỳ hình tư tưởng nào (ngay cả một hình như hệ mặt trời của chúng ta) tùy thuộc vào sự bền bỉ của dục vọng, và sức mạnh của dục vọng ấy.
On the etheric levels of the physical plane the process of physical concretion takes place; as the physical vehicle assumes the necessary proportions, the thought form becomes divorced from the one who is giving it form. Any idea of enough strength will inevitably materialise in dense physical matter, but the main work of its creator ceases when he has worked with it on mental, astral and etheric levels. The dense physical response is automatic and inevitable. Some ideas of a large and important nature, which have arisen in the consciousness of the Guides of the race, reach full manifestation only through the medium of many agents, and the dynamic impulses of many minds. A few work consciously, when this is the case, at the production of the necessitated [Page 970] form; many more are swept into activity and lend their aid through the very negativity of their natures; they are “forced” to be interested in spite of themselves, and are “swept into the movement,” not through any mental apprehension or “vital desire,” but because it is the thing to do. In this may be seen an instance of the ability of the Great Ones to utilise conditions of apparent inertia and negativity (due to little development), and thus produce good results.
Trên các cấp độ dĩ thái của cõi hồng trần, tiến trình cô đọng hồng trần diễn ra; khi vận cụ hồng trần đảm nhận các tỷ lệ cần thiết, hình tư tưởng trở nên tách rời khỏi kẻ đang tạo hình cho nó. Bất kỳ ý tưởng nào có đủ sức mạnh đều tất yếu sẽ hiện hình trong vật chất hồng trần đậm đặc, nhưng công việc chính của người sáng tạo nó chấm dứt khi y đã làm việc với nó trên các cấp độ trí tuệ, cảm dục và dĩ thái. Sự đáp ứng hồng trần đậm đặc là tự động và không thể tránh khỏi. Một số ý tưởng có bản chất lớn lao và quan trọng, đã phát sinh trong tâm thức của các Đấng Hướng Dẫn nhân loại, chỉ đạt đến biểu hiện trọn vẹn qua trung gian của nhiều tác nhân, và các xung lực năng động của nhiều trí tuệ. Một số ít làm việc hữu thức, khi trường hợp là như vậy, vào việc tạo ra hình thể cần thiết; nhiều người khác nữa bị cuốn vào hoạt động và góp phần trợ giúp qua chính tính tiêu cực trong [Page 970] bản chất của họ; họ bị “buộc” phải quan tâm bất chấp chính mình, và bị “cuốn vào phong trào,” không phải qua bất kỳ sự lĩnh hội trí tuệ hay “dục vọng sống động” nào, mà bởi vì đó là điều phải làm. Trong điều này có thể thấy một ví dụ về khả năng của Các Đấng Cao Cả trong việc sử dụng các điều kiện của quán tính và tính tiêu cực biểu kiến (do ít phát triển), và nhờ đó tạo ra các kết quả tốt đẹp.
We will here only deal with the man who is learning consciously to build, and will not consider the process as pursued by the adept, or the chaotic attempts of the little evolved. Having grasped the idea, and having with care discriminated the motive underlying the idea, thus ascertaining its utilitarian purposes, and its value to the group in the service of humanity, the man has certain things to do which, for the sake of clarity, we might sum up in certain statements:
Ở đây chúng ta sẽ chỉ bàn đến con người đang học cách xây dựng một cách hữu thức, và sẽ không xét tiến trình như được chân sư theo đuổi, hay những cố gắng hỗn loạn của kẻ ít tiến hóa. Sau khi đã nắm được ý tưởng, và đã cẩn thận phân biện động cơ nằm dưới ý tưởng, nhờ đó xác định các mục đích hữu dụng của nó, và giá trị của nó đối với nhóm trong việc phụng sự nhân loại, con người có một số điều phải làm mà, để cho rõ ràng, chúng ta có thể tóm lại trong một số phát biểu:
He has, first of all, to hold the idea sufficiently long for it to be faithfully registered in the physical brain. Frequently the Ego will “get through” to the brain some concept, some portion of the plan, and yet will have to repeat the process continuously over quite a long period before the physical response is such that the solar Angel can rest assured that it is intelligently registered and recorded. It is perhaps unnecessary to say that the entire process is greatly facilitated if the “shadow,” or the man, pursues regular meditation, cultivates the habit of a daily and hourly recollectedness of the higher Self, and before retiring at night endeavours to “hold the thought” of bringing through at the time of awakening as much as possible of any egoic impress. When the reaction between the two factors, the Ego and the receptive physical brain, is established, the interplay is reciprocal, and the two are keyed or tuned to each other, the second stage is entered upon. The idea is conceived.
Trước hết, y phải giữ ý tưởng đủ lâu để nó được ghi nhận trung thực trong bộ não hồng trần. Thường thì chân ngã sẽ “xuyên qua” đến bộ não một khái niệm nào đó, một phần nào đó của kế hoạch, nhưng sẽ phải lặp lại tiến trình ấy liên tục trong một thời gian khá dài trước khi sự đáp ứng hồng trần đạt đến mức để Thái dương Thiên Thần có thể yên tâm rằng nó đã được ghi nhận và lưu giữ một cách thông minh. Có lẽ không cần phải nói rằng toàn bộ tiến trình được hỗ trợ rất nhiều nếu “cái bóng,” hay con người, theo đuổi việc tham thiền đều đặn, vun bồi thói quen hồi tưởng hằng ngày và hằng giờ về Bản Ngã Cao Siêu, và trước khi đi ngủ vào ban đêm cố gắng “giữ tư tưởng” để khi thức dậy có thể mang xuống càng nhiều càng tốt bất kỳ dấu ấn chân ngã nào. Khi phản ứng giữa hai yếu tố, chân ngã và bộ não hồng trần tiếp nhận, được thiết lập, sự tương tác trở thành hỗ tương, và cả hai được điều chỉnh hay hòa điệu với nhau, thì giai đoạn thứ hai được bước vào. Ý tưởng được thụ thai.
[Page 971] A period of gestation is then pursued, itself divided into various stages. The man broods over the idea; he ponders upon it, thereby setting up activity in mental matter, and attracting to his germ thought the material necessary for its clothing. He pictures to himself the contour of the thought form, clothing it with colour, and painting in its details. Hence will be seen the great value of a true imagination, and its ordered scientific use. Imagination is kama-manasic in origin, being neither pure desire nor pure mind, and is a purely human product, being superseded by the intuition in perfected men, and in the higher Intelligences of Nature.
[Page 971] Sau đó một thời kỳ thai nghén được theo đuổi, bản thân nó được chia thành nhiều giai đoạn. Con người ấp ủ ý tưởng; y suy ngẫm về nó, nhờ đó khơi dậy hoạt động trong chất liệu trí tuệ, và thu hút đến tư tưởng mầm của mình chất liệu cần thiết để khoác áo cho nó. Y hình dung cho mình đường nét của hình tư tưởng, khoác cho nó màu sắc, và tô vẽ các chi tiết của nó. Vì thế sẽ thấy giá trị lớn lao của một sự tưởng tượng chân chính, và việc sử dụng nó một cách khoa học có trật tự. Sự tưởng tượng có nguồn gốc trí-cảm, không phải dục vọng thuần túy cũng không phải trí tuệ thuần túy, và là một sản phẩm thuần túy của con người, được trực giác thay thế nơi những con người hoàn thiện và nơi các Trí Tuệ cao hơn của Thiên nhiên.
When his will, or the initial impulse is sufficiently strong, and when the imagination, or power of visualisation, is adequately vivid, the second part of the gestation period is entered upon, and the vitalisation by desire is begun. The interplay of mental impulse and desire produce what might be called a pulsation in the organising form of the idea, and it becomes alive. It is yet but nebulous and its tenuosity is great, but it shows signs of organisation and the outline of its form. Students must remember that this entire process is being carried on now during this stage which we are considering from within the brain. There is thus a definite correspondence to the work of the nine Sephiroth:
Khi ý chí của y, hay xung lực ban đầu, đủ mạnh, và khi sự tưởng tượng, hay năng lực hình dung, đủ sống động, thì phần thứ hai của thời kỳ thai nghén được bắt đầu, và sự tiếp sinh lực bằng dục vọng được khởi sự. Sự tương tác giữa xung lực trí tuệ và dục vọng tạo ra điều có thể gọi là một nhịp đập trong hình tướng đang tổ chức của ý tưởng, và nó trở nên sống động. Nó vẫn còn mơ hồ và độ mỏng nhẹ của nó rất lớn, nhưng nó cho thấy những dấu hiệu của sự tổ chức và đường nét của hình tướng mình. Các đạo sinh phải nhớ rằng toàn bộ tiến trình này hiện đang được tiến hành trong giai đoạn mà chúng ta đang xét từ bên trong bộ não. Do đó có một sự tương ứng rõ rệt với công việc của chín Sephiroth:
The initial three correspond to the egoic impulse with which we have earlier dealt.
Ba Sephiroth đầu tương ứng với xung lực chân ngã mà trước đây chúng ta đã bàn đến.
The secondary group of Sephiroth find their analogy in the work pursued in the stage we are now dealing with, or the impulse of mind-desire, emanating consciously from man’s brain.
Nhóm Sephiroth thứ hai tìm thấy sự tương đồng của chúng trong công việc được theo đuổi ở giai đoạn mà hiện nay chúng ta đang bàn đến, hay xung lực trí tuệ-dục vọng, phát xạ một cách hữu thức từ bộ não con người.
The work of the final three is accomplished when the thought form, being clothed in mental and astral matter, passes into objectivity on the physical plane.
Công việc của ba Sephiroth cuối cùng được hoàn tất khi hình tư tưởng, được khoác bằng vật chất trí tuệ và cảm dục, đi vào tính khách quan trên cõi hồng trần.
[Page 972] A later stage in the gestation period is pursued when the thought form, being clothed in mental matter, and having become vitalised by desire, takes to itself a layer of substance of astral matter, and is consequently enabled to function on the astral plane as well as the mental. Here its growth is rapid. It should be carefully borne in mind that the process of building in mental matter proceeds simultaneously, and that the development is now twofold. Here the conscious builder must be careful to hold the balance, and not to let imagination unduly assume too large proportions. The manasic element and the kamic element must be justly proportioned, or else will be seen that too common manifestation, an idea wrongly conceived and nurtured, and therefore impossible of playing its just part in the evolutionary plan, being but a grotesque distortion.
[Page 972] Một giai đoạn muộn hơn trong thời kỳ thai nghén được tiếp tục khi hình tư tưởng, được khoác bằng vật chất trí tuệ, và đã được tiếp sinh lực bởi dục vọng, tự khoác thêm cho mình một lớp chất liệu của vật chất cảm dục, và do đó có thể hoạt động trên cõi cảm dục cũng như cõi trí. Ở đây sự tăng trưởng của nó rất nhanh. Cần phải ghi nhớ cẩn thận rằng tiến trình kiến tạo trong vật chất trí tuệ vẫn tiến hành đồng thời, và rằng sự phát triển hiện nay là nhị phân. Ở đây đấng kiến tạo hữu thức phải cẩn trọng giữ thế quân bình, và không để sự tưởng tượng chiếm tỷ lệ quá lớn một cách quá mức. Yếu tố manas và yếu tố kama phải được cân xứng đúng đắn, nếu không sẽ thấy biểu hiện quá thông thường ấy, một ý tưởng được quan niệm sai lầm và nuôi dưỡng sai lầm, và vì thế không thể đảm đương phần việc chính đáng của nó trong Thiên Cơ tiến hoá, mà chỉ là một sự méo mó kỳ quái.
The idea now is reaching a critical stage, and should be ready for the assumption of physical matter and to take to itself an etheric form. When on etheric levels, it receives that final impulse which will lead to what may be called its “actuating,” or its reception of that motivating impulse which will lead to its dissociation from its originator, and the sending out to assume
Ý tưởng hiện nay đang đạt đến một giai đoạn khủng hoảng, và phải sẵn sàng để tiếp nhận vật chất hồng trần và tự khoác lấy một hình thể dĩ thái. Khi ở trên các cấp dĩ thái, nó nhận được xung lực cuối cùng sẽ dẫn đến điều có thể gọi là “sự vận động hóa” của nó, hay sự tiếp nhận xung lực thúc đẩy sẽ dẫn đến việc nó tách rời khỏi người tạo ra nó, và được phóng ra để đảm nhận
1. A dense form.
1. Một hình thể đậm đặc.
2. A separate existence.
2. Một sự tồn tại riêng biệt.
It should be remembered that the thought form has now passed from the mental plane, taken to itself an astral sheath, and likewise is gathering to itself a body of etheric matter. When it has reached this stage its vitalisation is proceeding apace, and the hour of its separated existence is drawing near.
Cần nhớ rằng hình tư tưởng hiện nay đã đi ra khỏi cõi trí, đã tự khoác lấy một vỏ bọc cảm dục, và cũng đang thu hút về mình một thể bằng vật chất dĩ thái. Khi đã đạt đến giai đoạn này, sự tiếp sinh lực của nó đang tiến hành rất nhanh, và giờ phút tồn tại tách biệt của nó đang đến gần.
This vitalisation is consciously carried out by the man who—according to the original intent or initial impulse—directs to the thought form energy of some kind. This energy is directed from one or other of the three higher centres, according to the quality of the embodied idea, [Page 973] and will be seen pouring towards the rapidly objectivising idea from the particular centre involved. We must not forget that we are considering the thought form of the conscious builder. The thought forms of the majority of human beings are energised from no such high source, but find their active impulse emanating from either the solar plexus, or the still lower organs of generation.
Sự tiếp sinh lực này được con người thực hiện một cách hữu thức—người mà, tùy theo ý định nguyên thủy hay xung lực ban đầu—hướng vào hình tư tưởng một loại năng lượng nào đó. Năng lượng này được hướng ra từ một trong ba trung tâm cao hơn, tùy theo phẩm tính của ý tưởng được nhập thể, [Page 973] và sẽ được thấy tuôn về phía ý tưởng đang nhanh chóng khách quan hóa từ trung tâm đặc thù có liên hệ. Chúng ta không được quên rằng chúng ta đang xét hình tư tưởng của đấng kiến tạo hữu thức. Hình tư tưởng của đa số nhân loại không được tiếp năng lượng từ một nguồn cao như thế, mà tìm thấy xung lực hoạt động của chúng phát ra từ hoặc tùng thái dương, hoặc từ các cơ quan sinh dục còn thấp hơn nữa.
It is this constant stream of emotional or sexual energy which is responsible for the chaotic conditions of the present; the balance is not preserved, the interaction between the two, and the myriads of thought forms consequently produced of a low order and vibration are producing a condition which is going to require all the efforts of mental workers eventually to negate, offset, and transmute. These forms, which scarce merit the prefix “thought,” being largely kamic with an admixture of the lowest grade of mental matter, are responsible for the heavy, slow vibrating or pulsating fog or cloak which envelops the human family, and which produces much of the present evil, crime and mental lethargy. People are mainly polarised in the astral body, as we know, and the lower centres are the most active; when an atmosphere or environment of thought-forms of a low key and vitalised by all the baser forms of astral energy is coupled to this, it will become apparent how stupendous is the task of lifting humanity to a clearer, purer and better atmosphere, and how easy it is for the lower aspects and appetites to flourish and to grow.
Chính dòng năng lượng cảm xúc hay tính dục liên tục này chịu trách nhiệm về các điều kiện hỗn loạn hiện nay; thế quân bình không được duy trì, sự tương tác giữa hai loại năng lượng ấy, và vô số hình tư tưởng do đó được tạo ra thuộc loại thấp và rung động thấp đang tạo nên một tình trạng mà về sau sẽ đòi hỏi mọi nỗ lực của những người hoạt động trí tuệ để làm tiêu tan, hóa giải và chuyển hoá. Những hình tướng này, hầu như không đáng mang tiền tố “tư tưởng”, vì phần lớn là kama với một sự pha trộn của loại vật chất trí tuệ thấp nhất, chịu trách nhiệm về màn sương hay tấm áo choàng nặng nề, rung động chậm chạp hay nhịp đập chậm chạp bao phủ gia đình nhân loại, và gây ra phần lớn điều ác, tội phạm và sự trì trệ trí tuệ hiện nay. Như chúng ta biết, con người chủ yếu phân cực trong thể cảm dục, và các trung tâm thấp là hoạt động mạnh nhất; khi điều này kết hợp với một bầu khí quyển hay môi trường gồm các hình tư tưởng có chủ âm thấp và được tiếp sinh lực bởi mọi dạng năng lượng cảm dục thấp kém nhất, thì sẽ trở nên hiển nhiên rằng nhiệm vụ nâng nhân loại lên một bầu khí quyển sáng sủa hơn, thanh khiết hơn và tốt đẹp hơn là to lớn biết bao, và các phương diện thấp cùng các dục vọng dễ dàng nảy nở và phát triển đến mức nào.
As the vitalisation is pursued and the energy is poured from one or other of the centres into the thought-form, the conscious builder begins to extend this influence in order to send it forth from him to perform its mission, whatever that may be, to make it occultly “radiant” so that its vibrations will emanate, and make themselves felt, and finally to make it magnetic, so that something [Page 974] in the thought form will call forth response from other thought forms or from the minds it may contact.
Khi sự tiếp sinh lực được tiếp tục và năng lượng được tuôn từ một trong các trung tâm vào hình tư tưởng, đấng kiến tạo hữu thức bắt đầu mở rộng ảnh hưởng này để phóng nó ra khỏi mình hầu thực hiện sứ mệnh của nó, bất kể sứ mệnh ấy là gì, làm cho nó một cách huyền bí trở nên “rạng chiếu” để các rung động của nó phát ra và tự làm cho được cảm nhận, và cuối cùng làm cho nó có từ tính, để một điều gì đó [Page 974] trong hình tư tưởng sẽ khơi dậy sự đáp ứng từ các hình tư tưởng khác hoặc từ các trí tuệ mà nó có thể tiếp xúc.
When these three objectives have been reached, the life of the form itself is now so strong that it can pursue its own little life cycle and fulfil its work, being only linked to its creator by a tiny thread of radiant substance, which is a correspondence to the sutratma. All forms have such a sutratma. It links a man’s bodies to the inner Identity, or to that magnetic current which, emanating from the true Identity, the solar Logos, connects the Creator of the solar system with His great thought form by a stream of energy from the central Spiritual Sun to a point in the centre of the physical Sun.
Khi ba mục tiêu này đã đạt được, sự sống của chính hình tướng lúc này mạnh đến mức nó có thể theo đuổi chu kỳ sống nhỏ bé của riêng mình và hoàn thành công việc của nó, chỉ còn được nối với người sáng tạo bởi một sợi chỉ nhỏ bằng chất liệu rạng chiếu, là một sự tương ứng với sutratma. Mọi hình tướng đều có một sutratma như vậy. Nó nối các thể của con người với Bản Sắc bên trong, hay với dòng từ điện ấy, phát ra từ Bản Sắc chân thực, Thái dương Thượng đế, nối Đấng Sáng Tạo của hệ mặt trời với hình tư tưởng vĩ đại của Ngài bằng một dòng năng lượng từ Mặt trời Tinh thần Trung Ương đến một điểm ở trung tâm của mặt trời vật lý.
As long as the attention of the creator of any thought form, great or small, is turned towards it, that magnetic link persists, the thought form is vitalised, and its work carried on. When the work has been accomplished, and the thought-form has served its purpose, every creator, consciously or unconsciously, turns his attention elsewhere, and his thought form disintegrates.
Chừng nào sự chú ý của người sáng tạo bất kỳ hình tư tưởng nào, lớn hay nhỏ, còn hướng về nó, thì mối liên kết từ tính ấy vẫn tồn tại, hình tư tưởng được tiếp sinh lực, và công việc của nó được tiếp tục. Khi công việc đã hoàn tất, và hình tư tưởng đã phục vụ xong mục đích của nó, mọi người sáng tạo, hữu thức hay vô thức, đều chuyển sự chú ý của mình sang nơi khác, và hình tư tưởng của mình tan rã.
Hence the occult significance of all the processes occultly involved in sight, can be seen. As long as the eye of the Creator is upon that which is created, just so long does it persist; let the Creator withdraw “the light of his countenance” and the death of the thought form ensues, for vitality or energy follows the line of the eye. When, therefore, a man, in meditation, considers his work and builds his thought form for service, he is occultly looking, and consequently energising; he begins to use the third eye in its secondary aspect. The third or spiritual eye has several functions. Amongst others, it is the organ of illumination, the unveiled eye of the soul, through which light and illumination comes into the mind, and thus the entire lower life becomes irradiated. It is also the organ through which pours the directing energy [Page 975] which streams out from the conscious creating adept to the instruments of service, his thought-forms.
Do đó, có thể thấy được ý nghĩa huyền bí của mọi tiến trình liên quan một cách huyền bí đến thị giác. Chừng nào mắt của Đấng Sáng Tạo còn đặt trên điều được sáng tạo, thì chừng đó nó còn tồn tại; hãy để Đấng Sáng Tạo rút lại “ánh sáng từ dung nhan của y” và cái chết của hình tư tưởng sẽ xảy đến, vì sinh lực hay năng lượng đi theo đường của con mắt. Vì vậy, khi một người, trong tham thiền, suy xét công việc của mình và xây dựng hình tư tưởng của mình để phụng sự, thì một cách huyền bí y đang nhìn, và do đó đang tiếp năng lượng; y bắt đầu sử dụng con mắt thứ ba trong phương diện thứ yếu của nó. Con mắt thứ ba hay con mắt tinh thần có nhiều chức năng. Trong số đó, nó là cơ quan của sự soi sáng, con mắt không che phủ của linh hồn, qua đó ánh sáng và sự soi sáng đi vào trí tuệ, và như thế toàn bộ đời sống thấp trở nên được chiếu rạng. Nó cũng là cơ quan qua đó tuôn ra năng lượng chỉ đạo [Page 975] chảy ra từ chân sư sáng tạo hữu thức đến các công cụ phụng sự, tức các hình tư tưởng của Ngài.
The little evolved do not, of course, employ the third eye for the stimulating of their thought forms. The energy used by them in the majority of cases originates in the solar plexus, and works in two directions, either via the organs of generation, or through the physical eyes. In many people these three points—the lower organs, the solar plexus, and the physical eyes—form a triangle of force, around which the stream of energy flows before going out to the objectivised thought form. In the aspirant, and the man who is intellectual, the triangle may be from the solar plexus, to the throat centre and thence to the eyes. Later, as the aspirant grows in knowledge and purity of motive, the triangle of energy will have the heart for its lowest point instead of the solar plexus, and the third eye will begin to do its work, though as yet very imperfectly.
Dĩ nhiên, những người ít tiến hoá không dùng con mắt thứ ba để kích thích các hình tư tưởng của họ. Năng lượng họ dùng trong đa số trường hợp phát sinh từ tùng thái dương, và hoạt động theo hai hướng, hoặc qua các cơ quan sinh dục, hoặc qua đôi mắt vật lý. Ở nhiều người, ba điểm này—các cơ quan thấp, tùng thái dương, và đôi mắt vật lý—tạo thành một tam giác mãnh lực, quanh đó dòng năng lượng chảy trước khi đi ra đến hình tư tưởng đã được khách quan hóa. Ở người chí nguyện, và người có trí tuệ, tam giác ấy có thể là từ tùng thái dương đến trung tâm cổ họng rồi từ đó đến đôi mắt. Về sau, khi người chí nguyện tăng trưởng trong tri thức và sự thanh khiết của động cơ, tam giác năng lượng sẽ có tim làm điểm thấp nhất thay vì tùng thái dương, và con mắt thứ ba sẽ bắt đầu làm việc của nó, dù hiện còn rất bất toàn.
Just as long as the “Eye” is directed to the created form, the current of force will be transmitted to it, and the more one-pointed the man may be the more this energy will be centralised and effective. Much of the ineffectiveness of people is due to the fact that their interests are not centralised but very diffuse, and no one thing engrosses their attention. They scatter their energy and are attempting to satisfy every wandering desire, and to dabble in everything which comes their way. Therefore, no thought they think ever assumes a proper form, or is ever duly energised. They are consequently surrounded by a dense cloud of half-formed disintegrating thought forms and clouds of partially energised matter in process of dissolution. This produces occultly a condition similar to the decay of a physical form, and is equally unpleasant and unwholesome. It accounts for much of the diseased condition of the human family at this time.
Chừng nào “Con Mắt” còn hướng vào hình tướng được tạo ra, thì dòng mãnh lực sẽ được truyền đến nó, và con người càng nhất tâm bao nhiêu thì năng lượng này càng được tập trung và hữu hiệu bấy nhiêu. Phần lớn sự thiếu hiệu quả của con người là do các mối quan tâm của họ không được tập trung mà rất phân tán, và không có một điều gì chiếm trọn sự chú ý của họ. Họ phân tán năng lượng của mình và đang cố thỏa mãn mọi dục vọng lang thang, và nhúng tay vào mọi thứ đến với họ. Vì vậy, không một tư tưởng nào họ nghĩ ra lại có được hình tướng thích đáng, hay từng được tiếp năng lượng đúng mức. Do đó họ bị bao quanh bởi một đám mây dày đặc gồm những hình tư tưởng nửa thành hình đang tan rã và những đám mây vật chất được tiếp năng lượng một phần đang trong tiến trình tan biến. Điều này về mặt huyền bí tạo ra một tình trạng tương tự như sự phân hủy của một hình thể vật lý, và cũng khó chịu và không lành mạnh như vậy. Điều đó giải thích phần lớn tình trạng bệnh hoạn của gia đình nhân loại vào lúc này.
Failure in thought creation is due also to the fact that [Page 976] the laws of thought are not taught, and men do not know how, through meditation, to create those children of their activity to carry on their work. Results on the physical plane are much more quickly achieved through scientific thought creation than through the directly physical plane means. This is becoming more realised, but until the race has reached a point of greater purity and unselfishness, the more detailed explanation of the process must necessarily be withheld.
Sự thất bại trong việc sáng tạo tư tưởng cũng là do sự kiện rằng [Page 976] các định luật của tư tưởng không được giảng dạy, và con người không biết cách, thông qua tham thiền, tạo ra những đứa con của hoạt động mình để tiếp tục công việc của mình. Các kết quả trên cõi hồng trần đạt được nhanh hơn nhiều nhờ sự sáng tạo tư tưởng có tính khoa học so với bằng các phương tiện trực tiếp của cõi hồng trần. Điều này đang ngày càng được chứng nghiệm, nhưng cho đến khi nhân loại đạt đến một điểm có sự thanh khiết và vô ngã lớn hơn, thì sự giải thích chi tiết hơn về tiến trình này nhất thiết phải được giữ lại.
Another reason for creative ineffectiveness is owing to the currents which emanate from the majority of people being of such a low order that the thought forms never reach the point of independent action, except through cumulative group work. Until matter of the three higher subplanes of the astral and physical planes finds its place in the thought form, it has to be energised principally by mob energy. When the higher substance begins to find its way into the form, then it can be seen acting independently, for the individual Ego of the man concerned can begin to work through the matter—a thing before impossible. The Ego cannot work freely in the personality until third subplane matter is found in his bodies; the correspondence consequently holds good.
Một lý do khác của sự thiếu hiệu quả trong sáng tạo là do các dòng năng lượng phát ra từ đa số con người thuộc loại quá thấp nên các hình tư tưởng không bao giờ đạt đến điểm hành động độc lập, ngoại trừ thông qua công việc nhóm tích lũy. Cho đến khi vật chất của ba cõi phụ cao hơn của cõi cảm dục và cõi hồng trần tìm được chỗ của nó trong hình tư tưởng, thì nó phải được tiếp năng lượng chủ yếu bởi năng lượng đám đông. Khi chất liệu cao hơn bắt đầu tìm đường đi vào hình tướng, thì người ta có thể thấy nó hành động độc lập, vì chân ngã cá nhân của người liên hệ có thể bắt đầu hoạt động xuyên qua vật chất—điều trước đó là không thể. Chân ngã không thể hoạt động tự do trong phàm ngã cho đến khi vật chất cõi phụ thứ ba hiện diện trong các thể của y; do đó sự tương ứng vẫn đúng.
Once the thought form has been vitalised and its etheric form is completed or “sealed” as it is called, it can attain the dense physical form if desired. This does not mean that the individual thought forms of every man take dense substance upon the etheric, but they will eventuate in activity upon the physical plane. A man, for instance, is thinking a kindly thought; he has built it up and vitalised it; it is objective to the clairvoyant and exists in etheric matter close to the man. It will, therefore, find physical expression in an act of kindness or a physical caress. When the act is over, the caress consummated, the interest of the man in that particular thought form fades out and it dies. Similarly with a crime—the [Page 977] thought form has been built up and inevitably it will find its physical expression in some deed of one kind or another. All activity of every kind is the result:
Một khi hình tư tưởng đã được tiếp sinh lực và hình thể dĩ thái của nó đã hoàn tất hay được “niêm phong” như cách gọi, thì nó có thể đạt đến hình thể hồng trần đậm đặc nếu muốn. Điều này không có nghĩa là các hình tư tưởng cá nhân của mọi người đều khoác lấy chất liệu đậm đặc trên nền dĩ thái, nhưng chúng sẽ kết thúc trong hoạt động trên cõi hồng trần. Chẳng hạn, một người đang nghĩ một tư tưởng tử tế; y đã xây dựng nó và tiếp sinh lực cho nó; nó khách quan đối với nhà thông nhãn và tồn tại trong vật chất dĩ thái gần người ấy. Vì vậy, nó sẽ tìm thấy sự biểu lộ vật lý trong một hành động tử tế hay một sự vuốt ve bằng thân thể. Khi hành động chấm dứt, sự vuốt ve hoàn tất, sự quan tâm của người ấy đối với hình tư tưởng đặc thù đó phai nhạt đi và nó chết. Tương tự với một tội ác—hình [Page 977] tư tưởng đã được xây dựng và tất yếu nó sẽ tìm thấy sự biểu lộ vật lý của mình trong một hành vi thuộc loại này hay loại khác. Mọi hoạt động thuộc mọi loại đều là kết quả:
a. Of thought forms built consciously or unconsciously.
a. Của các hình tư tưởng được xây dựng một cách hữu thức hay vô thức.
b. Of self-initiated thought forms or of the effect of the thought forms of others.
b. Của các hình tư tưởng do chính mình khởi xướng hoặc của tác động từ các hình tư tưởng của người khác.
c. Of responsiveness to one’s own inner impulses, or of responsiveness to the impulses of others, and therefore to group thought forms.
c. Của sự đáp ứng với các xung lực bên trong của chính mình, hoặc của sự đáp ứng với các xung lực của người khác, và do đó với các hình tư tưởng nhóm.
It will be apparent, therefore, how vital is this matter, and how influenced men and women are by the thought forms they themselves create, or the mental children of other men.
Do đó sẽ hiển nhiên rằng vấn đề này quan trọng đến mức nào, và những người nam và nữ bị ảnh hưởng sâu sắc ra sao bởi các hình tư tưởng do chính họ tạo ra, hay những đứa con trí tuệ của người khác.
c. The occult significance of speech. The old Scripture saith: “In the multitude of words there wanteth not sin,” (Bible. Prov. 10:19.) because in a tide of words at this stage of man’s evolution, many are spoken purposelessly or from motives which (when analysed) will be found to be based purely in the personality. The greater the progress that is made along the path of approach to the Mysteries, the greater the care that must be taken by the aspirant. This is necessary for three reasons:
c. Ý nghĩa huyền bí của lời nói. Kinh sách xưa có nói: “Trong nhiều lời nói, tội lỗi chẳng thiếu,” (Kinh Thánh. Châm Ngôn 10:19.) bởi vì trong dòng thác ngôn từ ở giai đoạn tiến hoá này của con người, nhiều lời được nói ra vô mục đích hoặc từ những động cơ mà (khi phân tích) sẽ thấy là hoàn toàn dựa trên phàm ngã. Sự tiến bộ trên con đường tiếp cận các Mầu Nhiệm càng lớn bao nhiêu, thì người chí nguyện càng phải cẩn trọng bấy nhiêu. Điều này cần thiết vì ba lý do:
First, owing to his stage in evolution, he is able to enforce his words in a manner which would surprise him could he but see on the mental plane. He builds more accurately than the average men, his subsequent thought-form is more strongly vitalised, and it performs the function whereon it is sent by the “Sound” or speech with greater precision.
Thứ nhất, do giai đoạn tiến hoá của mình, y có thể tăng cường lời nói của mình theo một cách mà sẽ làm y ngạc nhiên nếu y có thể thấy trên cõi trí. Y xây dựng chính xác hơn người trung bình, hình tư tưởng tiếp theo của y được tiếp sinh lực mạnh hơn, và nó thực hiện chức năng mà nó được gửi đi nhờ “Âm Thanh” hay lời nói với độ chính xác lớn hơn.
Second, any word spoken and consequent thought-form built (unless along the higher path and not based on personality impulses) is apt to cause a barrier of mental matter between a man and his goal. This matter or separating wall has to be dissipated before further [Page 978] advance can be made, and this process is karmic and unavoidable.
Thứ hai, bất kỳ lời nào được nói ra và hình tư tưởng hệ quả được xây dựng (trừ phi theo con đường cao hơn và không dựa trên các xung lực phàm ngã) đều dễ gây nên một rào cản bằng vật chất trí tuệ giữa con người và mục tiêu của y. Vật chất này hay bức tường ngăn cách ấy phải được làm tiêu tan trước khi có thể có sự tiến bộ thêm nữa, và tiến trình này mang tính nghiệp quả và không thể tránh khỏi.[Page 978] advance can be made, and this process is karmic and unavoidable.
Third, speech is very largely a mode of communication on the physical levels; on the subtler levels whereon the worker stands, and in his communications with his fellow workers and chosen co-operators it will play an ever lessening part. Intuitive perception and telepathic interplay will distinguish the intercourse between aspirants and disciples, and when this is coupled with a full trust, sympathy and united effort for the plan we will have a formation wherewith the Master can work, and through which He can pour His force. The Master works through groups (large or small) and the work is facilitated for Them if the interplay between units of the group is steady and uninterrupted. One of the most frequent causes of difficulty in group work and consequent arrest of the inflow of force from the Master temporarily is based on misuse of speech. It brings about a clogging of the channel for the time being on the mental plane.
Thứ ba, lời nói phần lớn là một phương thức giao tiếp trên các cấp độ hồng trần; trên các cấp độ vi tế hơn nơi người hoạt động đứng, và trong sự giao tiếp của y với các đồng sự và những cộng tác viên được chọn, nó sẽ giữ một vai trò ngày càng nhỏ đi. Linh thị trực giác và sự tương tác viễn cảm sẽ phân biệt sự giao tiếp giữa những người chí nguyện và các đệ tử, và khi điều này được kết hợp với sự tin cậy trọn vẹn, sự cảm thông và nỗ lực hợp nhất vì Thiên Cơ, chúng ta sẽ có một sự hình thành mà Chân sư có thể làm việc với, và qua đó Ngài có thể tuôn mãnh lực của Ngài. Chân sư làm việc thông qua các nhóm (lớn hay nhỏ) và công việc được tạo thuận lợi cho Các Ngài nếu sự tương tác giữa các đơn vị của nhóm là vững vàng và không gián đoạn. Một trong những nguyên nhân thường gặp nhất gây khó khăn trong công việc nhóm và do đó tạm thời ngăn trở dòng mãnh lực từ Chân sư là dựa trên việc lạm dụng lời nói. Nó gây ra sự tắc nghẽn của kênh trong một thời gian trên cõi trí.
I mention these three factors for this question of group work is of vital importance and much is hoped from it in these days. If in any organisation on the physical plane the Masters can get a nucleus of even three people who mutually interact (I choose the word deliberately) and who disinterestedly follow the path of service, They can produce more definite results in a shorter space of time than is possible with a large and active body of people who may be sincere and earnest but do not know the meaning of trust in, and co-operation with each other and who guard not the gate of speech.
Tôi nêu ra ba yếu tố này vì vấn đề công việc nhóm có tầm quan trọng sống còn và nhiều hy vọng đang được đặt vào đó trong những ngày này. Nếu trong bất kỳ tổ chức nào trên cõi hồng trần, các Chân sư có thể có được một hạt nhân chỉ gồm ba người tương tác lẫn nhau (tôi chọn từ này một cách có chủ ý) và vô tư bước theo con đường phụng sự, thì Các Ngài có thể tạo ra những kết quả xác định hơn trong một khoảng thời gian ngắn hơn so với điều có thể làm được với một tập thể đông đảo và hoạt động tích cực gồm những người có thể chân thành và nhiệt tâm nhưng không biết ý nghĩa của sự tin cậy và hợp tác với nhau và không canh giữ cánh cổng của lời nói.
If a man succeeds in understanding the significance of speech, if he learns how to speak, when to speak, what is gained by speech, and what happens when he speaks, he is well on the way to achieving his goal. The person [Page 979] who regulates his speech rightly is the person who is going to make the most progress. This has ever been realised by all leaders of occult movements. That most occult order of Pythagoras at Crotona, and many other of the esoteric schools in Europe and Asia had a rule that all neophytes and probationers were not permitted to speak for two years after entering the school and when they had learned to keep silence for that period, they were given the right to speak, for they had learned a specific reticence.
Nếu một người thành công trong việc thấu hiểu ý nghĩa của lời nói, nếu y học được cách nói, khi nào nên nói, lời nói đem lại điều gì, và điều gì xảy ra khi y nói, thì y đang ở rất gần việc đạt được mục tiêu của mình. Người [Page 979] điều chỉnh lời nói của mình đúng đắn là người sẽ đạt được nhiều tiến bộ nhất. Điều này từ lâu đã được mọi nhà lãnh đạo của các phong trào huyền bí học chứng nghiệm. Dòng tu huyền bí nhất của Pythagoras tại Crotona, và nhiều trường phái bí truyền khác ở châu Âu và châu Á có một quy luật rằng mọi người sơ cơ và người trên Con Đường Dự Bị không được phép nói trong hai năm sau khi vào trường, và khi họ đã học được cách giữ im lặng trong khoảng thời gian ấy, họ được trao quyền nói, vì họ đã học được một sự kín tiếng đặc thù.
It might be of value here if students realised that every good speaker is doing a most occult work. A good lecturer (for instance) is one who is doing work that is analogous on a small scale to that done by the solar Logos. What did He do? He thought, He built, He vitalised. A lecturer, therefore, segregates the material with which he is going to build his lecture and which he is going to vitalise. Out of all the thought matter of the world he gathers together the substance which he individually seeks to use. Next he copies the work of the second Logos in wisely building it into form. He constructs the form, and then when it is constructed, he finishes up by playing the part of the first Person of the Trinity putting his Spirit, vitality and force into it so that it is a vibrant, living manifestation. When a lecturer or speaker of any kind can accomplish that, he can always hold his audience and his audience will always learn from him; they will recognise that which the thought form is intended to convey.
Ở đây sẽ có ích nếu các đạo sinh chứng nghiệm rằng mọi diễn giả giỏi đều đang làm một công việc hết sức huyền bí. Một giảng sư giỏi (chẳng hạn) là người đang làm một công việc tương tự trên quy mô nhỏ với công việc do Thái dương Thượng đế thực hiện. Ngài đã làm gì? Ngài đã suy tưởng, Ngài đã xây dựng, Ngài đã tiếp sinh lực. Vì vậy, một giảng sư phân tách chất liệu mà ông sẽ dùng để xây dựng bài giảng của mình và sẽ tiếp sinh lực cho nó. Từ toàn bộ vật chất tư tưởng của thế giới, ông tập hợp lại chất liệu mà cá nhân ông tìm cách sử dụng. Kế đó ông sao chép công việc của Logos thứ hai trong việc khôn ngoan xây dựng nó thành hình tướng. Ông kiến tạo hình tướng, và rồi khi nó đã được kiến tạo, ông hoàn tất bằng cách đóng vai Ngôi thứ nhất của Ba Ngôi, đặt Tinh thần, sinh lực và mãnh lực của mình vào đó để nó trở thành một biểu hiện sống động, rung động. Khi một giảng sư hay diễn giả thuộc bất kỳ loại nào có thể làm được điều đó, ông luôn luôn có thể giữ được thính giả của mình và thính giả của ông luôn luôn sẽ học được từ ông; họ sẽ nhận ra điều mà hình tư tưởng được dự định chuyển tải.
In everyday life when the student speaks, he is doing just the same thing, only the trouble frequently arises that in his speech he constructs something that is usually not worth while and vitalises it with the wrong kind of energy, so that the form, instead of being a constructive, vital, helpful force, is a destructive one in the world. If we study the various cosmologies of the world, we shall [Page 980] see that the process of creation was carried on by the means of sound or speech or the Word. We have it in the Christian Bible, “In the beginning was the Word, and the Word was God. All things were made by Him and without Him was not anything made that was made.” (Bible. John I.) Thus, according to the Christian teaching, the worlds were made by the Word of God.
Trong đời sống hằng ngày khi đạo sinh nói, y cũng đang làm đúng điều ấy, chỉ có điều rắc rối thường nảy sinh là trong lời nói của mình y kiến tạo một cái gì đó thường không đáng giá và tiếp sinh lực cho nó bằng loại năng lượng sai lầm, đến nỗi hình tướng ấy, thay vì là một mãnh lực có tính xây dựng, sống động, hữu ích, lại trở thành một mãnh lực phá hoại trong thế giới. Nếu chúng ta nghiên cứu các vũ trụ luận khác nhau của thế giới, chúng ta sẽ [Page 980] thấy rằng tiến trình sáng tạo đã được thực hiện bằng âm thanh hay lời nói hay Linh từ. Chúng ta có điều đó trong Kinh Thánh Cơ Đốc giáo, “Ban đầu có Linh từ, Linh từ ở cùng Thượng đế, và Linh từ là Thượng đế. Muôn vật được làm nên bởi Ngài và không có Ngài thì chẳng vật gì được làm nên mà đã được làm nên.” (Kinh Thánh. Giăng I.) Như vậy, theo giáo huấn Cơ Đốc giáo, các thế giới được tạo nên bởi Linh từ của Thượng đế.
In the Hindu Scriptures we will find that the Lord Vishnu, Who stands for the second Person of the Trinity, is called “The Voice.” He is the great Singer Who has built the worlds and the universe by His song. He is the Revealer of the thought of God Who has constructed the universe of solar systems. Just as the Christian speaks about the great Word, the Word of God, the Christ, so the Hindu speaks of Vishnu, the great Singer, creating by means of His song.
Trong Kinh điển Ấn giáo, chúng ta sẽ thấy rằng Chúa Vishnu, Đấng tượng trưng cho Ngôi thứ hai của Ba Ngôi, được gọi là “Tiếng Nói.” Ngài là Đại Ca Sĩ đã xây dựng các thế giới và vũ trụ bằng bài ca của Ngài. Ngài là Đấng Mặc Khải tư tưởng của Thượng đế, Đấng đã kiến tạo vũ trụ các hệ mặt trời. Cũng như tín đồ Cơ Đốc nói về Linh từ vĩ đại, Linh từ của Thượng đế, Đức Christ, thì tín đồ Ấn giáo nói về Vishnu, Đại Ca Sĩ, sáng tạo bằng bài ca của Ngài.
In physical plane manifestation, we are known by our speech; we are known by our reticence, by the things we say, and by the things we leave unsaid and are judged by the quality of our conversation. We think of people in terms of what they say, because their words disclose the type of thought-matter in which they work and the quality of energy or life which they put behind their words. To the various solar Logoi of the vast constellations that are apparent when we scan the starry heavens, the quality of the Logos of our solar system is seen through the medium of that great thought form He has built by the power of His speech, and which is energised by His particular quality of love. When God speaks, the worlds are made and at this present time He is only in process of speaking. He has not yet concluded what He has to say, and hence the present apparent imperfection. When that great divine phrase or sentence which occupies His thought is brought to a close, we [Page 981] will have a perfect solar system inhabited by perfect existences.
Trong biểu hiện cõi hồng trần, chúng ta được biết đến qua lời nói của mình; chúng ta được biết đến qua sự kín tiếng của mình, qua những điều chúng ta nói, và qua những điều chúng ta không nói ra, và được phán xét bởi phẩm tính của cuộc trò chuyện của mình. Chúng ta nghĩ về con người theo những gì họ nói, bởi vì lời nói của họ bộc lộ loại vật chất tư tưởng mà họ hoạt động trong đó và phẩm tính của năng lượng hay sự sống mà họ đặt đằng sau lời nói của mình. Đối với các Thái dương Thượng đế khác nhau của những chòm sao bao la hiện ra khi chúng ta ngắm bầu trời đầy sao, phẩm tính của Logos của hệ mặt trời chúng ta được thấy qua trung gian của hình tư tưởng vĩ đại mà Ngài đã xây dựng bằng quyền năng lời nói của Ngài, và được tiếp năng lượng bởi phẩm tính bác ái đặc thù của Ngài. Khi Thượng đế nói, các thế giới được tạo nên và vào thời điểm hiện tại Ngài vẫn chỉ đang trong tiến trình nói. Ngài vẫn chưa kết thúc điều Ngài phải nói, và do đó mới có sự bất toàn biểu kiến hiện nay. Khi cụm từ hay câu thiêng liêng vĩ đại ấy đang chiếm lĩnh tư tưởng của Ngài được hoàn tất, chúng ta [Page 981] sẽ có một hệ mặt trời hoàn hảo được cư ngụ bởi những sự tồn tại hoàn hảo.
Through speech a thought is evoked and becomes present; it is brought out of abstraction and out of a nebulous condition and materialised upon the physical plane, producing (could we but see it) something very definite on etheric levels. Objective manifestation is produced, for “Things are that which the Word makes them in naming them.” Speech is literally a great magical force, and the adepts or white magicians, through knowledge of the forces and power of silence and of speech, can produce effects upon the physical plane. As we well know, there is a branch of magical work which consists in the utilisation of this knowledge in the form of Words of Power and of those mantrams and formulae which set in motion the hidden energies of nature and call the devas to their work.
Qua lời nói, một tư tưởng được gợi lên và trở nên hiện diện; nó được đưa ra khỏi trạng thái trừu tượng và khỏi tình trạng mơ hồ và được hiện hình trên cõi hồng trần, tạo ra (nếu chúng ta có thể thấy được) một điều gì đó rất xác định trên các cấp dĩ thái. Biểu hiện khách quan được tạo ra, vì “Sự vật là điều mà Linh từ làm cho chúng thành ra khi gọi tên chúng.” Lời nói theo nghĩa đen là một mãnh lực huyền thuật lớn lao, và các chân sư hay các nhà huyền thuật chánh đạo, nhờ hiểu biết về các mãnh lực và quyền năng của im lặng và của lời nói, có thể tạo ra các hiệu quả trên cõi hồng trần. Như chúng ta đều biết rõ, có một ngành công việc huyền thuật bao gồm việc sử dụng tri thức này dưới hình thức các Quyền năng từ và những mantram cùng công thức làm chuyển động các năng lượng ẩn giấu của bản chất và kêu gọi các thiên thần vào công việc của họ.
Speech is one of the keys which opens the doors of communication between men and subtler beings. It gives the clue to the discovery of those entities who are contacted on the other side of the veil. But only he who has learned to keep silent, and has arrived at the knowledge of the times to speak can pass this veil and make certain esoteric contacts. Magic consists, we are told in the Secret Doctrine, in addressing the Gods in Their own language; therefore, the speech of average man cannot reach Them.
Lời nói là một trong những chìa khóa mở ra các cánh cửa giao tiếp giữa con người và các hữu thể vi tế hơn. Nó cung cấp đầu mối cho việc khám phá những thực thể được tiếp xúc ở phía bên kia bức màn. Nhưng chỉ người nào đã học được cách giữ im lặng, và đã đạt đến tri thức về những lúc nên nói, mới có thể vượt qua bức màn này và tạo ra những tiếp xúc nội môn xác thực. Huyền thuật, như chúng ta được bảo trong Giáo Lý Bí Nhiệm, là việc xưng hô với các Thượng đế bằng chính ngôn ngữ của Các Ngài; vì vậy, lời nói của con người trung bình không thể vươn tới Các Ngài.
Therefore, those who seek to learn the occult language, those who yearn to become aware of the words which will penetrate to the ears of those who stand on the other side, and those who seek to utilise the formulae and phrases which will give them power over the Builders, have to unlearn their previous use of words and to refrain from ordinary methods of talking. Then the new language will be theirs and the new expressions, words, mantrams and formulas will be entrusted to their care.
Vì vậy, những ai tìm cách học ngôn ngữ huyền bí, những ai khát khao trở nên nhận biết các lời sẽ thấu đến tai của những vị đứng ở phía bên kia, và những ai tìm cách sử dụng các công thức và cụm từ sẽ cho họ quyền năng đối với các đấng kiến tạo, phải từ bỏ cách dùng lời nói trước đây của mình và kiêng các phương pháp nói chuyện thông thường. Khi đó ngôn ngữ mới sẽ là của họ và các cách diễn đạt mới, các lời, các mantram và các công thức sẽ được giao phó cho họ gìn giữ.
[Page 982] The laws of speech are the laws of matter and students can apply the laws governing physical plane substance to their use of words, for it concerns the manipulation of matter on other levels. Speech is the great medium whereby we make apparent the nature of the little system we are constructing—that system of which each human unit is the central sun, for under the Law of Attraction he draws to himself that which he needs.
[Page 982] Các định luật của lời nói là các định luật của vật chất và các đạo sinh có thể áp dụng các định luật chi phối chất liệu cõi hồng trần vào việc sử dụng lời nói của mình, vì điều đó liên quan đến sự vận dụng vật chất trên các cấp độ khác. Lời nói là môi giới lớn lao nhờ đó chúng ta làm hiển lộ bản chất của hệ thống nhỏ bé mà chúng ta đang kiến tạo—hệ thống mà trong đó mỗi đơn vị nhân loại là mặt trời trung tâm, vì dưới Định luật Hấp Dẫn y thu hút về mình điều y cần.
2. The Nature of Magic. (292)
2. Bản chất của huyền thuật. (292)
(292) Magic.—S. D., I, 284.
(292) Huyền thuật.—S. D., I, 284.
1. Magic is a divine science which leads to a participation in the attributes of divinity itself.—Isis Unveiled, I, 25-27.
1. Huyền thuật là một khoa học thiêng liêng dẫn đến sự tham dự vào chính các thuộc tính của thiên tính.—Isis Unveiled, I, 25-27.
2. All magical operations consist in freeing oneself from the coils of the Ancient Serpent.—Isis Unveiled, I, 138.
2. Mọi hoạt động huyền thuật đều bao gồm việc tự giải thoát khỏi những vòng cuộn của Con Rắn Cổ Xưa.—Isis Unveiled, I, 138.
3. The object of the art of magic is the perfection of man.—Isis Unveiled, I, 309.
3. Mục đích của nghệ thuật huyền thuật là sự hoàn thiện của con người.—Isis Unveiled, I, 309.
4. Magic explores the essence and power of everything.—Isis Unveiled, I, 282; S. D., II, 538.
4. Huyền thuật thăm dò tinh túy và quyền năng của mọi sự vật.—Isis Unveiled, I, 282; S. D., II, 538.
5. Magic and magnetism are synonymous terms.—Isis Unveiled, I, 279.
5. Huyền thuật và từ điện là những thuật ngữ đồng nghĩa.—Isis Unveiled, I, 279.
6. Magic is the sum-total of natural knowledge.—Isis Unveiled, II, 99, 189.
6. Huyền thuật là tổng thể của tri thức tự nhiên.—Isis Unveiled, II, 99, 189.
7. Magic does not imply a transgression of the laws of nature.—Isis Unveiled, I, Preface.
7. Huyền thuật không hàm ý sự vi phạm các định luật của bản chất.—Isis Unveiled, I, Preface.
The Basis of Magic.
Nền tảng của huyền thuật.
1. Magic is based on the inner powers in man’s soul.—Isis Unveiled, I, 459.
1. Huyền thuật dựa trên các quyền năng bên trong trong linh hồn con người.—Isis Unveiled, I, 459.
2. The trinity of nature is the lock of magic, the trinity of man the key that fits it.—Isis Unveiled, II, 635.
2. Bộ ba của bản chất là ổ khóa của huyền thuật, bộ ba của con người là chìa khóa vừa khít với nó.—Isis Unveiled, II, 635.
3. Magic is occult psychology.—Isis Unveiled, I, 612-616.
3. Huyền thuật là tâm lý học huyền bí.—Isis Unveiled, I, 612-616.
4. The astral light is the chief agent of magic.—Isis Unveiled, I, 128, 616; S. D., I, 275; II, 537. (back)
4. Ánh sáng cảm dục là tác nhân chính của huyền thuật.—Isis Unveiled, I, 128, 616; S. D., I, 275; II, 537. (back)