← A Treatise on Cosmic Fire

chapter 009 03

Trích nội dung chương

We have considered somewhat at length the building of thought forms, and have seen that the process pursued by man is analogous to that pursued by the threefold Logos in the creation of the solar system. We are to deal now with that great department in occultism which is usually termed magic. The man who masters the esoteric significance of what is here said will take his place in the ranks of those entitled to call themselves the “Brothers of White Magic.” The subject is too immense to be more than briefly touched upon, for it covers [Page 983] the entire range of endeavour in the field of material construction. Chúng ta đã xem xét khá dài…


We have considered somewhat at length the building of thought forms, and have seen that the process pursued by man is analogous to that pursued by the threefold Logos in the creation of the solar system. We are to deal now with that great department in occultism which is usually termed magic. The man who masters the esoteric significance of what is here said will take his place in the ranks of those entitled to call themselves the “Brothers of White Magic.” The subject is too immense to be more than briefly touched upon, for it covers [Page 983] the entire range of endeavour in the field of material construction.

Chúng ta đã xem xét khá dài về việc xây dựng các hình tư tưởng, và đã thấy rằng tiến trình con người theo đuổi là tương tự với tiến trình được Logos tam phân theo đuổi trong việc sáng tạo hệ mặt trời. Giờ đây chúng ta sẽ bàn đến bộ môn lớn lao trong huyền bí học thường được gọi là huyền thuật. Người nào làm chủ được ý nghĩa bí truyền của điều được nói ở đây sẽ chiếm chỗ của mình trong hàng ngũ những người có quyền gọi mình là “Huynh Đệ của Chánh Thuật.” Chủ đề này quá bao la nên không thể làm gì hơn ngoài việc chỉ chạm đến một cách ngắn gọn, vì nó bao trùm [Page 983] toàn bộ phạm vi nỗ lực trong lĩnh vực kiến tạo vật chất.

We must deal first with the mental attitude of man as he faces the work of creation, and his ability to bring through, via the mental body, the purpose of the Ego, thereby impressing the building agents on the mental plane with a certain rate of rhythm, and a certain vibratory activity. This is the prime factor which results (on the physical plane) in direct egoic activity. We must also bear in mind, that in the consideration of this matter we are not dealing with the every day work of average man, but are speaking of the organised creative work, under law and rule, of the advanced man. We thereby set a standard and emphasise the ideal towards which occult students should strive.

Trước hết chúng ta phải bàn đến thái độ trí tuệ của con người khi y đối diện với công việc sáng tạo, và khả năng của y trong việc mang xuyên qua, qua thể trí, mục đích của chân ngã, nhờ đó ghi dấu lên các tác nhân kiến tạo trên cõi trí một nhịp điệu nhất định, và một hoạt động rung động nhất định. Đây là yếu tố chủ yếu dẫn đến (trên cõi hồng trần) hoạt động chân ngã trực tiếp. Chúng ta cũng phải ghi nhớ rằng, trong việc xem xét vấn đề này, chúng ta không bàn đến công việc hằng ngày của con người trung bình, mà đang nói đến công việc sáng tạo có tổ chức, dưới định luật và quy luật, của con người tiến bộ. Nhờ đó chúng ta đặt ra một tiêu chuẩn và nhấn mạnh lý tưởng mà các đạo sinh huyền bí học nên phấn đấu hướng tới.

We must also consider the work of the wise magical student upon the astral plane, whereon, through purified desire and sanctified emotion, he provides those equilibrised conditions and those stable vibrations, which will permit of the transmission without hindrance to the physical plane via the physical brain of the man, of the vibratory activity emanating from the Ego, and of the circulatory action of the higher force. Hence (if a remark of a practical nature may be interpolated for the average student) the cultivation of emotional tranquillity is one of the first steps towards the achievement of the needed equipment of the white magician. This tranquillity is not to be achieved by an effort of the will which succeeds in strangling all astral vibratory activity, but by the cultivation of response to the Ego, and a negation of all response to the inherent vibration of the astral sheath itself.

Chúng ta cũng phải xem xét công việc của đạo sinh huyền thuật minh triết trên cõi cảm dục, nơi mà, thông qua dục vọng được thanh lọc và cảm xúc được thánh hiến, y cung cấp những điều kiện quân bình và những rung động ổn định cho phép hoạt động rung động phát ra từ chân ngã, và hoạt động tuần hoàn của mãnh lực cao hơn, được truyền xuống cõi hồng trần không bị cản trở qua bộ não vật lý của con người. Do đó (nếu có thể xen vào một nhận xét có tính thực tiễn cho đạo sinh trung bình) việc trau dồi sự tĩnh lặng cảm xúc là một trong những bước đầu tiên hướng tới việc đạt được trang bị cần thiết của nhà huyền thuật chánh đạo. Sự tĩnh lặng này không đạt được bằng một nỗ lực của ý chí thành công trong việc bóp nghẹt mọi hoạt động rung động cảm dục, mà bằng việc trau dồi sự đáp ứng với chân ngã, và phủ nhận mọi đáp ứng đối với rung động cố hữu của chính vỏ bọc cảm dục.

We will take up the work of force transmission on the physical plane via the etheric centres and the physical brain, studying somewhat the effect of sound as it is emitted unconsciously in everyday speech, and consciously [Page 984] in the ordered regulated words of the true worker in magic. (293)

Chúng ta sẽ xét đến công việc truyền dẫn mãnh lực trên cõi hồng trần qua các trung tâm dĩ thái và bộ não vật lý, nghiên cứu phần nào tác động của âm thanh khi nó được phát ra một cách vô thức trong lời nói hằng ngày, và một cách hữu thức [Page 984] trong những lời nói có trật tự và được điều chỉnh của người hoạt động chân chính trong huyền thuật. (293)

(293) Magic.—The very word Magic bears within itself proof of its high origin. The Latin Magus, the Greek Magos, a magician, gives us all those other words that are so indicative of authority, wisdom, superiority. Then we have magnitude, magnificent, magniloquent, to express greatness in position, in action and in speech. With the termination slightly changed the same words become majesty, implying dominion, and again, we have magistrate, anything that is magisterial which again has been simplified into Master, and finally by the process of word evolution has become plain Mister. But the Latin is only a transmitter of words. We can equally follow up the historical development of this root until we reach the Zend where we find it doing duty as the name for the whole priestly caste. The magi were renowned all over the world for their wisdom and skill in occultism and no doubt our word magic is mostly indebted to that source for its present existence and meaning. That we need not pause even here for back of the Zend “mag,” “looms up the Sanskrit, maha, signifying great.” It is thought by good scholars that maha was originally spelled magha. To be sure, there is in the Sanskrit the word Maga meaning a priest of the Sun, but this was evidently a later borrowing from the Zend which had originally derived its root from its neighbor the Sanskrit.—Lucifer, Vol. X, p. 157. (back)

(293) Huyền thuật.—Chính từ Magic đã mang trong nó bằng chứng về nguồn gốc cao quý của nó. Từ Latin Magus, từ Hy Lạp Magos, một nhà huyền thuật, cho chúng ta tất cả những từ khác rất biểu thị quyền uy, minh triết, sự vượt trội. Rồi chúng ta có magnitude, magnificent, magniloquent, để diễn tả sự vĩ đại trong địa vị, trong hành động và trong lời nói. Khi phần kết thúc thay đổi đôi chút, những từ ấy trở thành majesty, hàm ý quyền thống trị, và rồi chúng ta có magistrate, bất cứ điều gì mang tính magisterial, mà lại được đơn giản hóa thành Master, và cuối cùng qua tiến trình tiến hoá của ngôn từ đã trở thành từ plain Mister. Nhưng tiếng Latin chỉ là một kẻ truyền tải từ ngữ. Chúng ta cũng có thể lần theo sự phát triển lịch sử của gốc từ này cho đến khi chạm đến tiếng Zend, nơi chúng ta thấy nó được dùng như tên gọi cho toàn bộ giai cấp tư tế. Các magi nổi tiếng khắp thế giới vì minh triết và kỹ năng của họ trong huyền bí học và chắc chắn từ magic của chúng ta phần lớn mắc nợ nguồn đó về sự tồn tại và ý nghĩa hiện nay của nó. Chúng ta không cần dừng lại ngay cả ở đây vì đằng sau từ “mag” của tiếng Zend, “hiện lên từ tiếng Phạn maha, có nghĩa là vĩ đại.” Các học giả giỏi cho rằng maha nguyên thủy được viết là magha. Quả thật, trong tiếng Phạn có từ Maga nghĩa là một tư tế của Mặt Trời, nhưng rõ ràng đây là một sự vay mượn muộn hơn từ tiếng Zend, mà bản thân nó nguyên thủy đã rút gốc từ người láng giềng là tiếng Phạn.—Lucifer, Vol. X, p. 157. (back)

In this connection, therefore, owing to the vital practical value of this section, and to the dangers attendant upon a comprehension of these matters by those who are as yet unready for the work of conscious manipulation of force, it is proposed to impart the necessary teaching under the formula of “Rules of Magic,” with certain elucidating comments. In this way, the magical work is fully safeguarded, and at the same time sufficient is imparted to those who have the inner ear attentive, and the eye of wisdom in process of opening.

Vì vậy, trong mối liên hệ này, do giá trị thực tiễn sống còn của phần này, và do những nguy hiểm đi kèm với sự thấu hiểu các vấn đề này bởi những người còn chưa sẵn sàng cho công việc vận dụng mãnh lực một cách hữu thức, nên dự định sẽ truyền đạt giáo huấn cần thiết dưới công thức “Các Quy Luật của Huyền Thuật,” kèm theo một số nhận xét làm sáng tỏ. Bằng cách này, công việc huyền thuật được bảo vệ đầy đủ, đồng thời vẫn truyền đạt đủ cho những ai có nội nhĩ chăm chú và con mắt minh triết đang trong tiến trình mở ra.

a. Black Magicians and White. Much is said among occult students these days anent white and black magic, (294) and much that is said is without force, or truth. It has [Page 985] been truly said that between the two types of workers, the line of demarcation is so slight as to be difficult of recognition by those who, as yet, merit not the term “knower.”

a. Các nhà hắc thuật và nhà huyền thuật chánh đạo. Ngày nay, giữa các đạo sinh huyền bí học, người ta nói nhiều về chánh thuật và hắc thuật, (294) và nhiều điều được nói ra là không có mãnh lực, hoặc không có chân lý. Đã [Page 985] từng được nói rất đúng rằng giữa hai loại người hoạt động này, ranh giới phân định mong manh đến mức khó được nhận ra bởi những ai, hiện còn chưa xứng đáng với danh xưng “thức giả.”

(294) Magic.—The art of divine Magic consists in the ability to perceive the essence of things in the light of nature (astral light), and—by using the soul-powers of the Spirit—to produce material things from the unseen universe, and in such operations the Above and the Below must be brought together and made to act harmoniously.—S. D., II, 538.

(294) Huyền thuật.—Nghệ thuật của Huyền thuật thiêng liêng bao gồm khả năng nhận biết tinh túy của sự vật trong ánh sáng của bản chất (ánh sáng cảm dục), và—bằng cách sử dụng các quyền năng linh hồn của Tinh thần—tạo ra các sự vật vật chất từ vũ trụ vô hình, và trong những hoạt động như thế, Cái Trên và Cái Dưới phải được đưa lại gần nhau và làm cho hoạt động hài hòa.—S. D., II, 538.

Magic is the second of the four Vidyas, and is the great maha-Vidya in the Tantric writings. It needs the light of the fourth vidya (atmavidya) thrown on it in order to be White magic.—S. D., I, 192.

Huyền thuật là vidya thứ hai trong bốn Vidya, và là đại maha-Vidya trong các trước tác Tantra. Nó cần ánh sáng của vidya thứ tư (atmavidya) chiếu lên nó để trở thành chánh thuật.—S. D., I, 192.

Black Magic is defined by H. P. B. as follows:

Hắc thuật được H. P. B. định nghĩa như sau:

a. Black magic employs the astral light for purposes of deception and seduction, whereas the white magician employs it for purposes of information, and the aiding of evolution.—S. D., I, 274.

a. Hắc thuật sử dụng ánh sáng cảm dục cho các mục đích lừa dối và quyến dụ, trong khi nhà huyền thuật chánh đạo sử dụng nó cho các mục đích thông tin, và trợ giúp tiến hoá.—S. D., I, 274.

b. Black magic works with opposing poles. The white magician seeks the point of equilibrium or balance, and of synthesis.—S. D., I, 448.

b. Hắc thuật hoạt động với các cực đối nghịch. Nhà huyền thuật chánh đạo tìm kiếm điểm quân bình hay cân bằng, và sự tổng hợp.—S. D., I, 448.

c. Black magic has for its symbol the inverted 5-pointed star. White magic uses the same symbol with the point uppermost.

c. Hắc thuật có biểu tượng là ngôi sao năm cánh đảo ngược. Chánh thuật dùng cùng biểu tượng ấy với một đỉnh hướng lên trên.

d. Black magic is maha-vidya without the light of atma-vidya. White magic is maha-vidya illumined by atma-vidya.—S. D., I, 592.

d. Hắc thuật là maha-vidya không có ánh sáng của atma-vidya. Chánh thuật là maha-vidya được soi sáng bởi atma-vidya.—S. D., I, 592.

e. Black magic is ruled over by the moon. White magic is ruled over by the sun.

e. Hắc thuật được mặt trăng cai quản. Chánh thuật được mặt trời cai quản.

f. Black and white magic arose during the great schism which started during the fourth root-race.—S. D., II, 221, 445, 520.

f. Hắc thuật và chánh thuật phát sinh trong cuộc phân ly lớn bắt đầu vào giống dân gốc thứ tư.—S. D., II, 221, 445, 520.

g. Black magic is based on the degradation of sex and of the creative function.

g. Hắc thuật dựa trên sự đồi bại của tính dục và của chức năng sáng tạo.

White magic is based on the transmutation of the creative faculty into the higher creative thought, the generative organs being neglected by the inner fire, which passes to the throat, the centre of creative sound.

Chánh thuật dựa trên sự chuyển hoá năng lực sáng tạo thành tư tưởng sáng tạo cao hơn, các cơ quan sinh dục bị lửa bên trong bỏ qua, lửa này chuyển lên cổ họng, trung tâm của âm thanh sáng tạo.

h. Black magic deals with the forces of involution.

h. Hắc thuật bàn đến các mãnh lực của giáng hạ tiến hoá.

White magic works with the powers of evolution.

Chánh thuật hoạt động với các quyền năng của tiến hoá.

i. Black magic is concerned with the form, with matter.

i. Hắc thuật liên quan đến hình tướng, đến vật chất.

White magic is concerned with the life within the form, with Spirit. (back)

Chánh thuật liên quan đến sự sống bên trong hình tướng, đến Tinh thần. (back)

The distinction between the two exists in both motive and method, and might be summed up as follows:

Sự phân biệt giữa hai loại này tồn tại cả trong động cơ lẫn phương pháp, và có thể được tóm lược như sau:

The white magician has for motive that which will be of benefit to the group for whom he is expending his energy and time. The magician of the left hand path ever works alone, or if he at any time co-operates with others, it is with a hidden selfish purpose. The exponent of white magic interests himself in the work of constructive endeavour in order to co-operate in hierarchical plans, and to further the desires of the planetary Logos. The Brother of Darkness occupies himself with that which lies outside the plans of the Hierarchy and with that which is not included in the purpose of the Lord of the planetary Ray.

Nhà huyền thuật chánh đạo có động cơ là điều sẽ mang lại lợi ích cho nhóm mà y đang dành năng lượng và thời gian của mình cho họ. Nhà huyền thuật của tả đạo luôn luôn hoạt động một mình, hoặc nếu có lúc nào đó hợp tác với người khác, thì cũng là với một mục đích ích kỷ ẩn giấu. Người thực hành chánh thuật quan tâm đến công việc nỗ lực có tính xây dựng để hợp tác trong các kế hoạch của Thánh đoàn, và thúc đẩy các mục đích của Hành Tinh Thượng Đế. Huynh đệ bóng tối bận tâm với điều nằm bên ngoài các kế hoạch của Thánh đoàn và với điều không được bao gồm trong mục đích của Chúa Tể của cung hành tinh.

The white magician, as has been earlier said, works entirely through the greater Deva Builders, and through sound and numbers he blends their work, and thus influences the lesser Builders who form the substance of their bodies, and therefore of all that is. He works [Page 986] through group centres and vital points of energy, and from thence produces, in substance, the desired results. The dark brother works directly with substance itself, and with the lesser builders; He does not co-operate with the forces which emanate from egoic levels. The lesser cohorts of the “Army of the Voice” are his servants, and not the directing Intelligences in the three worlds, and he therefore works primarily on the astral and physical planes, only in rare cases working with the mental forces, and only in a few special cases, hidden in cosmic karma, is a black magician found working on the higher mental levels. Yet the cases which are there to be discovered are the main contributing causes of all manifesting black magic.

Nhà huyền thuật chánh đạo, như đã nói trước đây, hoàn toàn hoạt động thông qua các Đại Thiên Thần Kiến Tạo, và qua âm thanh cùng các con số, y hòa trộn công việc của các vị ấy, và như thế ảnh hưởng đến các vị tiểu kiến tạo tạo thành chất liệu của các thể của các vị ấy, và do đó của mọi cái đang hiện hữu. Y hoạt động [Page 986] thông qua các trung tâm nhóm và các điểm năng lượng sinh động, và từ đó tạo ra, trong chất liệu, các kết quả mong muốn. Huynh đệ bóng tối hoạt động trực tiếp với chính chất liệu, và với các vị tiểu kiến tạo; hắn không hợp tác với các mãnh lực phát ra từ các cấp chân ngã. Các đạo quân nhỏ hơn của “Đạo Quân của Tiếng Nói” là những kẻ phục vụ của hắn, chứ không phải các Trí Tuệ chỉ đạo trong ba cõi thấp, và vì vậy hắn hoạt động chủ yếu trên cõi cảm dục và cõi hồng trần, chỉ trong những trường hợp hiếm hoi mới hoạt động với các mãnh lực trí tuệ, và chỉ trong một vài trường hợp đặc biệt, ẩn giấu trong nghiệp quả vũ trụ, người ta mới thấy một nhà hắc thuật hoạt động trên các cấp thượng trí. Tuy nhiên, những trường hợp có thể được phát hiện ở đó lại là các nguyên nhân đóng góp chủ yếu cho mọi hắc thuật đang biểu hiện.

The Brother of Light works ever through the inherent force of the second aspect as long as he is functioning in connection with the three lower planes. After the third Initiation, he works increasingly with spiritual energy, or with the force of the first aspect. He impresses the lower substances, and manipulates the lesser building lives with the vibration of love, and the attractive coherency of the Son, and through wisdom the forms are built. He learns to work from the heart, and therefore to manipulate that energy which streams from the “Heart of the Sun” until (when he becomes a Buddha) he can dispense somewhat the force emanating from the “Spiritual Sun.” Therefore, the heart centre in the Brother of the right hand path is the transmitting agency for the building force, and the triangle he uses in this work is

Huynh Đệ của Ánh Sáng luôn luôn hoạt động qua mãnh lực cố hữu của phương diện thứ hai chừng nào y còn đang hoạt động liên hệ với ba cõi thấp. Sau lần điểm đạo thứ ba, y ngày càng hoạt động nhiều hơn với năng lượng tinh thần, hay với mãnh lực của phương diện thứ nhất. Y gây ấn tượng lên các chất liệu thấp hơn, và điều khiển các sự sống kiến tạo nhỏ hơn bằng rung động của bác ái, và sự cố kết hấp dẫn của Con, và nhờ minh triết mà các hình tướng được xây dựng. Y học cách hoạt động từ tim, và do đó điều khiển năng lượng tuôn chảy từ “Trái Tim của Mặt Trời” cho đến khi (khi y trở thành một vị Phật) y có thể phần nào phân phát mãnh lực phát ra từ “Mặt Trời Tinh thần.” Vì vậy, trung tâm tim nơi huynh đệ của chánh đạo là tác nhân truyền dẫn mãnh lực kiến tạo, và tam giác mà y sử dụng trong công việc này là

a. The centre in the head which corresponds to the heart.

a. Trung tâm trong đầu tương ứng với tim.

b. The heart centre itself.

b. Chính trung tâm tim.

c. The throat centre.

c. Trung tâm cổ họng.

The Brothers of the left hand path work with the forces of the third aspect entirely, and this it is which [Page 987] gives them so much apparent power, for the second aspect is only in process of reaching its vibratory consummation, whereas the third aspect is at the height of its vibratory activity, being the product of the evolutionary processes of the preceding major solar system. He works from the throat centre almost entirely, and manipulates primarily the forces of the physical sun. This is the reason why he achieves many of his ends through the method of pranic stimulation or of pranic devitalisation, and why, also, most of his effects are carried out on the physical plane. He works, therefore, through

Các huynh đệ của tả đạo hoàn toàn hoạt động với các mãnh lực của phương diện thứ ba, và chính điều này [Page 987] đem lại cho họ rất nhiều quyền năng bề ngoài, vì phương diện thứ hai chỉ mới đang trong tiến trình đạt đến sự viên mãn rung động của nó, trong khi phương diện thứ ba đang ở đỉnh cao hoạt động rung động của nó, là sản phẩm của các tiến trình tiến hoá của hệ mặt trời lớn trước đây. Y hầu như hoạt động hoàn toàn từ trung tâm cổ họng, và chủ yếu điều khiển các mãnh lực của mặt trời hồng trần. Đây là lý do tại sao y đạt được nhiều mục đích của mình qua phương pháp kích thích prana hoặc làm mất sinh lực prana, và cũng là lý do tại sao phần lớn các hiệu quả của y được thực hiện trên cõi hồng trần. Vì vậy, y hoạt động qua

a. The centre in the head corresponding to the throat centre.

a. Trung tâm trong đầu tương ứng với trung tâm cổ họng.

b. The throat centre.

b. Trung tâm cổ họng.

c. The centre at the base of the spine.

c. Trung tâm ở đáy cột sống.

The white magician works always in co-operation with others, and is himself under the direction of certain group Heads. For instance, the Brothers of the White Lodge work under the three great Lords and conform to the plans laid down, subordinating Their individual purposes and ideas to the great general scheme. The black magician usually works in an intensely individualistic way, and can be seen carrying out his schemes alone, or with the aid of subordinates. He brooks usually no known superior, but is nevertheless frequently the victim of agents on higher levels of cosmic evil, who use him as he uses his inferior co-operators, that is, he works (as far as the bigger purpose is involved) blindly and unconsciously.

Nhà huyền thuật chánh đạo luôn luôn hoạt động trong sự hợp tác với những người khác, và chính y cũng ở dưới sự chỉ đạo của một số Vị Đầu nhóm. Chẳng hạn, các Huynh Đệ của Thánh đoàn hoạt động dưới ba Đấng Chúa Tể vĩ đại và tuân theo các kế hoạch đã được vạch ra, đặt các mục đích và ý tưởng cá nhân của Các Ngài dưới đại thể tổng quát. Nhà hắc thuật thường hoạt động theo cách hết sức cá nhân chủ nghĩa, và có thể được thấy đang thực hiện các mưu đồ của y một mình, hoặc với sự trợ giúp của các thuộc hạ. Y thường không dung nạp một cấp trên nào được biết đến, nhưng tuy vậy lại thường là nạn nhân của các tác nhân ở những cấp độ cao hơn của điều ác vũ trụ, những kẻ sử dụng y như y sử dụng các cộng sự viên thấp hơn của mình, nghĩa là y hoạt động (xét theo mục đích lớn hơn có liên quan) một cách mù quáng và vô thức.

The white magician, as is well known, works on the side of evolution or in connection with the Path of Return. The black brother occupies himself with the forces of involution, or with the Path of Outgoing. They form the great balancing force in evolution, and though they [Page 988] are occupied with the material side of manifestation and the Brother of Light is concerned with the aspect of soul or consciousness, they and their work, under the great law of evolution, contribute to the general purpose of the solar Logos, though (and this is of tremendous occult significance to the illuminated student) not to the individual purpose of the planetary Logos.

Như ai cũng biết, nhà huyền thuật chánh đạo hoạt động về phía tiến hoá hay liên hệ với Con Đường Trở Về. Huynh đệ bóng tối bận tâm với các mãnh lực của giáng hạ tiến hoá, hay với Con Đường Đi Ra. Họ tạo thành mãnh lực quân bình lớn trong tiến hoá, và mặc dù họ [Page 988] bận rộn với phương diện vật chất của biểu hiện và Huynh Đệ của Ánh Sáng quan tâm đến phương diện linh hồn hay tâm thức, họ và công việc của họ, dưới định luật tiến hoá vĩ đại, vẫn góp phần vào mục đích tổng quát của Thái dương Thượng đế, dù rằng (và điều này có ý nghĩa huyền bí vô cùng to lớn đối với đạo sinh được soi sáng) không góp phần vào mục đích cá biệt của Hành Tinh Thượng Đế.

Finally, it might be briefly said in connection with the distinctions between magicians that the magician of the Good Law works with the soul of things. His brothers of darkness work with the material aspect.

Sau cùng, có thể nói vắn tắt liên quan đến những khác biệt giữa các nhà huyền thuật rằng nhà huyền thuật của Định luật Thiện làm việc với linh hồn của vạn vật. Các huynh đệ bóng tối của y làm việc với phương diện vật chất.

The white magician works through the force centres, on the first and fourth subplanes of each plane. The black magician works through the permanent atoms, and with the substance and forms concerned. The white magician utilises in this connection the higher three centres. The black magician uses the energy of the lower three centres (the organs of generation, the spleen, and the solar plexus) synthesising their energy by an act of the will and directing it to the centre at the base of the spine, so that the fourfold energy is thence transmitted to the throat centre.

Nhà huyền thuật chánh đạo hoạt động qua các trung tâm lực, trên cõi phụ thứ nhất và thứ tư của mỗi cõi. Nhà hắc thuật hoạt động qua các Nguyên tử trường tồn, và với chất liệu cùng các hình tướng liên quan. Nhà huyền thuật chánh đạo sử dụng trong mối liên hệ này ba trung tâm cao hơn. Nhà hắc thuật dùng năng lượng của ba trung tâm thấp hơn (các cơ quan sinh dục, luân xa lá lách, và tùng thái dương), tổng hợp năng lượng của chúng bằng một hành vi của ý chí và hướng nó đến trung tâm ở đáy cột sống, để từ đó năng lượng tứ phân được truyền đến trung tâm cổ họng.

The white magician uses the kundalini force as it is transmitted via the central spinal channel. The black magician uses the inferior channels, dividing the fourfold energy in two units, which mount via the two channels, leaving the central one dormant. Hence it will be apparent that one works with duality and the other with unity. On the planes of duality, therefore, it is apparent why the black magician has so much power. The plane of unity for humanity is the mental plane. The planes of diversity are the astral and the physical. Hence the black magician is of more apparent power than the white brother on the two lower planes in the three worlds.

Huynh đệ chánh đạo sử dụng mãnh lực kundalini khi nó được truyền qua ống tủy sống trung ương. Nhà hắc thuật sử dụng các đường dẫn thấp kém hơn, chia năng lượng tứ phân thành hai đơn vị, đi lên qua hai đường dẫn, để đường trung ương ở trạng thái ngủ yên. Do đó sẽ thấy rõ rằng một bên làm việc với nhị nguyên tính và bên kia với hợp nhất. Vì vậy, trên các cõi của nhị nguyên tính, hiển nhiên là tại sao nhà hắc thuật lại có nhiều quyền năng đến thế. Cõi của hợp nhất đối với nhân loại là cõi trí. Các cõi của tính đa tạp là cõi cảm dục và cõi hồng trần. Do đó nhà hắc thuật có quyền năng bề ngoài lớn hơn huynh đệ chánh đạo trên hai cõi thấp trong ba cõi giới.

The white brother works under the Hierarchy, or under the great King, carrying out His planetary purposes. [Page 989] The dark brother works under certain separated Entities, unknown to him, who are connected with the forces of matter itself. Much more could be given in this connection, but what is here imparted suffices for our purpose.

Huynh đệ chánh đạo hoạt động dưới Thánh đoàn, hay dưới Đức Vua vĩ đại, thi hành các mục đích hành tinh của Ngài. [Page 989] Huynh đệ bóng tối hoạt động dưới một số Thực Thể biệt lập nào đó, y không biết đến, những Thực Thể này liên hệ với chính các mãnh lực của vật chất. Có thể trình bày nhiều hơn nữa về điểm này, nhưng điều được truyền đạt ở đây là đủ cho mục đích của chúng ta.

b. The Source of Black Magic. In touching upon this point, we are trespassing into the realms of the mystery and the domain of the inexplicable. Certain statements can, however, be made here which, if pondered upon, may throw a little light upon this dark subject.

b. Nguồn gốc của Hắc thuật. Khi chạm đến điểm này, chúng ta đang bước vào các lĩnh vực của huyền nhiệm và miền của điều không thể giải thích. Tuy nhiên, ở đây có thể nêu ra một số phát biểu mà nếu được suy gẫm, có thể soi rọi đôi chút lên chủ đề tối tăm này.

First. It should be remembered that the whole subject of planetary evil (and students must distinguish carefully between planetary and cosmic evil) lies hid in the individual life cycles and in the history of the Great Being who is the planetary Logos of the Earth. Therefore, until a man has taken certain initiations and thus achieved a measure of planetary consciousness, it is useless for him to speculate upon that record. H. P. B. has touched, in the Secret Doctrine, (III, 62; Section 6, page 67.) upon the subject of “the imperfect Gods,” and in these words lies the key to planetary evil.

Thứ nhất. Cần ghi nhớ rằng toàn bộ chủ đề về điều ác hành tinh (và các đạo sinh phải phân biệt cẩn thận giữa điều ác hành tinh và điều ác vũ trụ) được ẩn giấu trong các chu kỳ sống cá biệt và trong lịch sử của Đấng Vĩ Đại là Hành Tinh Thượng Đế của Trái Đất. Vì vậy, cho đến khi một người đã trải qua một số điểm đạo nhất định và nhờ đó đạt được một mức độ tâm thức hành tinh, thì việc suy đoán về biên niên đó là vô ích. H.P.B. đã đề cập, trong Giáo Lý Bí Nhiệm, (III, 62; Phần 6, trang 67.) đến chủ đề “các Thượng đế bất toàn,” và trong những lời này có chìa khóa của điều ác hành tinh.

Second. It might briefly be said that, as far as our humanity is concerned, the terms planetary evil and cosmic evil might be interpreted thus:

Thứ hai. Có thể nói vắn tắt rằng, xét theo nhân loại chúng ta, các thuật ngữ điều ác hành tinh và điều ác vũ trụ có thể được diễn giải như sau:

Planetary evil arises from certain relations existing between our planetary Logos and another planetary Logos. When this condition of polar opposition is adjusted, then planetary evil will cease. The adjustment will be brought about through the mediation (occultly understood) of a third planetary Logos. These three will eventually form an equilateral triangle, and then planetary evil will cease. Free circulation will ensue; planetary obscuration will become possible, and the “imperfect Gods” will have achieved a relative perfection. Thus will the karma of the manvantara, or secondary [Page 990] cycle, be adjusted, and so much planetary karmic evil be “worked off.” All the above must be interpreted in its esoteric sense and not its exoteric.

Điều ác hành tinh phát sinh từ một số tương quan hiện hữu giữa Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta và một Hành Tinh Thượng Đế khác. Khi tình trạng đối cực phân cực này được điều chỉnh, thì điều ác hành tinh sẽ chấm dứt. Sự điều chỉnh sẽ được thực hiện qua sự trung gian (được hiểu theo huyền bí học) của một Hành Tinh Thượng Đế thứ ba. Sau cùng, ba Đấng này sẽ tạo thành một tam giác đều, và khi đó điều ác hành tinh sẽ chấm dứt. Sự lưu thông tự do sẽ tiếp diễn; sự che khuất hành tinh sẽ trở nên khả hữu, và “các Thượng đế bất toàn” sẽ đạt được một sự hoàn thiện tương đối. Như vậy nghiệp quả của giai kỳ sinh hóa, hay chu kỳ thứ cấp [Page 990], sẽ được điều chỉnh, và rất nhiều điều ác nghiệp quả hành tinh sẽ được “giải trừ.” Tất cả những điều trên phải được diễn giải theo nghĩa nội môn chứ không phải ngoại môn.

Cosmic evil from the standpoint of our planet consists in the relation between that spiritual intelligent Unit or “Rishi of the Superior Constellation” as He is called (who is the informing Life of one of the seven stars of the Great Bear, and our planetary prototype) and one of the forces of the Pleiades. (S. D., II, 579-581.) Students need here to remember that the “seven sisters” are occultly called the “seven wives” of the Rishis, and that the dual forces (resultant from that relationship) converge and play through that one of the planetary Logoi who is the Logos of any particular planet, and is the “reflection” of any specific Rishi. In this relation, at present lacking perfect adjustment, lies hid the mystery of cosmic evil as it makes itself felt in any particular planetary scheme. Again, when the heavenly triangle is duly equilibrated, and the force circulates freely through

Điều ác vũ trụ, từ quan điểm của hành tinh chúng ta, gồm trong mối tương quan giữa Đơn Vị tinh thần thông tuệ ấy hay “Rishi của Chòm Sao Thượng Đẳng” như Ngài được gọi (Đấng là Sự Sống phú linh của một trong bảy ngôi sao của Đại Hùng Tinh, và là nguyên mẫu hành tinh của chúng ta) với một trong các mãnh lực của Thất Nữ Tinh. (S. D., II, 579-581.) Ở đây các đạo sinh cần nhớ rằng “bảy chị em” được gọi một cách huyền bí là “bảy người vợ” của các Rishi, và rằng các mãnh lực nhị nguyên (phát sinh từ mối tương quan đó) hội tụ và vận hành qua một trong các Hành Tinh Thượng Đế là Thượng đế của bất kỳ hành tinh đặc thù nào, và là “sự phản chiếu” của một Rishi đặc thù nào đó. Trong mối tương quan này, hiện nay còn thiếu sự điều chỉnh hoàn hảo, ẩn giấu huyền nhiệm của điều ác vũ trụ khi nó tự biểu lộ trong bất kỳ hệ hành tinh đặc thù nào. Một lần nữa, khi tam giác thiên giới được quân bình đúng mức, và mãnh lực lưu thông tự do qua

a. One of the stars of the Great Bear,

a. Một trong các ngôi sao của Đại Hùng Tinh,

b. The Pleiad involved,

b. Thất Nữ Tinh có liên quan,

c. The planetary scheme concerned,

c. Hệ hành tinh được xét đến,

then again cosmic evil will be negated, and a relative perfection achieved. This will mark the attainment of primary perfection, and the consummation of the greater cycle.

thì một lần nữa điều ác vũ trụ sẽ bị phủ nhận, và một sự hoàn thiện tương đối sẽ đạt được. Điều này sẽ đánh dấu việc đạt đến sự hoàn thiện sơ cấp, và sự viên mãn của chu kỳ lớn hơn.

Cyclic evil, or tertiary evil, lies hid in the relation between the globes in any particular scheme, two of them ever being in opposition until equilibrised by force emanating from a third. Students will only apprehend the significance of this teaching as they study the pairs of opposites in their own cycles, and the equilibrising work of the Ego.

Điều ác chu kỳ, hay điều ác tam cấp, được ẩn giấu trong mối tương quan giữa các bầu hành tinh trong bất kỳ hệ đặc thù nào, trong đó luôn luôn có hai bầu ở thế đối lập cho đến khi được quân bình hóa bởi mãnh lực phát ra từ một bầu thứ ba. Các đạo sinh chỉ có thể nắm bắt ý nghĩa của giáo huấn này khi họ nghiên cứu các cặp đối cực trong chính các chu kỳ của mình, và công việc quân bình của chân ngã.

A fourth type of evil growing out of the above finds [Page 991] its main expression in the sorrows and troubles of the fourth or human kingdom, and will find its solution in two ways: by the balancing of the forces of the three kingdoms (the spiritual or fifth kingdom, the human, and the animal), and secondly, by the negation of the attractive power of the three lower kingdoms (the mineral, the vegetable, and the animal, who thus form one unit), by the spiritual kingdom, utilising the fourth or human kingdom. In all these cases, triangles of force are formed which, when balanced, procure the desired end.

Một loại điều ác thứ tư phát sinh từ những điều trên tìm thấy [Page 991] biểu hiện chính của nó trong những đau khổ và rắc rối của giới thứ tư hay giới nhân loại, và sẽ tìm được giải pháp theo hai cách: bằng sự quân bình các mãnh lực của ba giới (giới tinh thần hay giới thứ năm, giới nhân loại, và giới động vật), và thứ hai, bằng sự phủ nhận quyền năng hấp dẫn của ba giới thấp (giới kim thạch, giới thực vật, và giới động vật, do đó tạo thành một đơn vị), bởi giới tinh thần, sử dụng giới thứ tư hay giới nhân loại. Trong tất cả các trường hợp này, các tam giác lực được hình thành, và khi được quân bình, chúng đem lại kết quả mong muốn.

Black magic is spoken of as making its appearance upon our planet during the fourth root race. (S. D., I, 451, 452; II, 221, 234, 519.) It should be borne in mind here that this means strictly in connection with the fourth kingdom and its conscious use by wrongly developed men. The forces of evil of the planetary and cosmic kind have been present since manifestation set in, being latent in the karma of the planetary Logos, but human beings began consciously to work with these forces and to use them for specified selfish ends in this round during the fourth root race.

Hắc thuật được nói đến như đã xuất hiện trên hành tinh chúng ta trong giống dân gốc thứ tư. (S. D., I, 451, 452; II, 221, 234, 519.) Ở đây cần ghi nhớ rằng điều này có nghĩa một cách nghiêm ngặt là liên hệ với giới thứ tư và việc sử dụng có ý thức của nó bởi những người phát triển sai lệch. Các mãnh lực của điều ác thuộc loại hành tinh và vũ trụ đã hiện diện từ khi biểu hiện bắt đầu, tiềm ẩn trong nghiệp quả của Hành Tinh Thượng Đế, nhưng con người bắt đầu làm việc một cách có ý thức với các mãnh lực này và sử dụng chúng cho những mục đích ích kỷ xác định trong cuộc tuần hoàn này vào thời giống dân gốc thứ tư.

Black magicians work under certain great Entities, six in number, who are spoken of, for instance, in the Christian Bible as having the number 666. (Bible. Rev. 13:18.) They came in (being cosmic, not systemic) on that stream of force emanating from cosmic mental levels which produced the three worlds of human endeavour. Students should remember here the fact that the three lower planes of our solar system are not considered as embodying a cosmic principle, for they form the dense physical body of the Logos, and the dense physical body is not considered a principle. There is an occult significance in the expression “unprincipled.” These entities are the sumtotal of the substance of the three lower subplanes of the cosmic physical plane (our three lower systemic [Page 992] planes), and it is under them that the black magicians are swept into activity, often unconsciously, but rising to power as they work consciously. (299)

Các nhà hắc thuật hoạt động dưới một số Thực Thể vĩ đại nào đó, số lượng là sáu, chẳng hạn được nói đến trong Kinh Thánh Cơ Đốc là mang con số 666. (Kinh Thánh. Khải Huyền 13:18.) Các Thực Thể này đi vào (vì là vũ trụ, không phải hệ thống) trên dòng mãnh lực phát ra từ các cấp độ trí tuệ vũ trụ đã tạo ra ba cõi giới của nỗ lực nhân loại. Ở đây các đạo sinh nên nhớ sự kiện rằng ba cõi thấp của hệ mặt trời chúng ta không được xem là hiện thân của một nguyên khí vũ trụ, vì chúng tạo thành thể xác đậm đặc của Thượng đế, và thể xác đậm đặc không được xem là một nguyên khí. Có một ý nghĩa huyền bí trong từ ngữ “vô nguyên khí.” Các thực thể này là tổng số chất liệu của ba cõi phụ thấp của cõi hồng trần vũ trụ (ba cõi thấp của hệ thống chúng ta [Page 992]), và chính dưới các Thực Thể ấy mà các nhà hắc thuật bị cuốn vào hoạt động, thường là vô thức, nhưng vươn lên quyền năng khi họ hoạt động một cách có ý thức. (299)

(299) It might here be asked what, if any, relation there may be in this connection with the inner round? The inner round has many meanings some impossible to give, but two things may here be said: That it concerns itself with the effect of the triangular balancing of forces towards the close of the cycle, when the force or energy involved is circulating unimpeded, even if slowly, through:

(299) Ở đây có thể đặt câu hỏi rằng trong mối liên hệ này có tương quan nào, nếu có, với cuộc tuần hoàn nội tại hay không? Cuộc tuần hoàn nội tại có nhiều ý nghĩa, một số không thể nêu ra, nhưng ở đây có thể nói hai điều: rằng nó liên quan đến hiệu quả của sự quân bình tam giác các mãnh lực vào lúc gần cuối chu kỳ, khi mãnh lực hay năng lượng liên hệ đang lưu thông không bị cản trở, dù chậm, qua:

1. Two constellations of the solar system,

1. Hai chòm sao của hệ mặt trời,

2. The planetary schemes

2. Các hệ hành tinh

3. Three globes in the scheme.

3. Ba bầu hành tinh trong hệ.

It should be remembered that all these three are interdependent. The force begins thus to flow when any cycle is two thirds run. It deals with the greater Initiations, and is the correspondence on the higher planes to the occult short cut to wisdom and knowledge which we call the Path of Initiation. (back)

Cần nhớ rằng cả ba điều này đều phụ thuộc lẫn nhau. Mãnh lực bắt đầu tuôn chảy như vậy khi bất kỳ chu kỳ nào đã đi được hai phần ba. Nó liên quan đến các điểm đạo lớn hơn, và là sự tương ứng trên các cõi cao hơn với lối tắt huyền bí dẫn đến minh triết và tri thức mà chúng ta gọi là Con Đường Điểm Đạo. (back)

In the early stages of human unfoldment all men are unconscious black magicians, but are not occultly “damned” thereby. As evolution proceeds they come under the force of the second aspect, and the majority respond to it, escaping from the meshes of the black magicians, and coming under the force of a different number. The few who do not do so in this manvantara are the “failures” who have to continue the struggle at a later date. A tiny percentage wilfully refuse to “pass on,” and they become the true “black magicians.” For them the end is ever the same, first, severance of the Ego from the Monad, entailing a wait for many aeons until another solar system has its being. In the case of the “failures” the Ego severed itself from the personality or lower self, entailing a setback for a lesser period, but still having opportunity within the system. Second, a cycle of existence, spent in unlimited evil, and dependent upon the vitality of the severed egoic body and its innate persistence. These are the ordinary “lost souls” spoken of in the Secret Doctrine. (301) If students will study these conditions, and will extend the same concept to an earlier and more matured solar system, they will get [Page 993] some light upon the problem of the origin of evil in this solar system.

Trong các giai đoạn đầu của sự khai mở nhân loại, mọi người đều là những nhà hắc thuật vô thức, nhưng vì thế mà không bị “đọa phạt” theo nghĩa huyền bí. Khi tiến hoá tiếp diễn, họ chịu dưới mãnh lực của phương diện thứ hai, và đa số đáp ứng với nó, thoát khỏi các lưới của các nhà hắc thuật, và đi vào dưới mãnh lực của một con số khác. Số ít không làm như vậy trong giai kỳ sinh hóa này là những “kẻ thất bại” phải tiếp tục cuộc đấu tranh vào một thời điểm muộn hơn. Một tỷ lệ cực nhỏ cố ý từ chối “tiến lên,” và họ trở thành những “nhà hắc thuật” thực sự. Đối với họ, kết cuộc luôn luôn như nhau, thứ nhất, sự cắt đứt chân ngã khỏi chân thần, kéo theo một thời gian chờ đợi qua nhiều đại kiếp cho đến khi một hệ mặt trời khác xuất hiện. Trong trường hợp các “kẻ thất bại,” chân ngã tự tách khỏi phàm ngã hay phàm ngã thấp, kéo theo một sự thụt lùi trong một thời gian ngắn hơn, nhưng vẫn còn cơ hội trong hệ thống. Thứ hai, một chu kỳ tồn tại, trải qua trong điều ác vô hạn, và tùy thuộc vào sinh lực của thể chân ngã đã bị cắt lìa cùng tính bền bỉ bẩm sinh của nó. Đây là những “linh hồn lạc mất” thông thường được nói đến trong Giáo Lý Bí Nhiệm. (301) Nếu các đạo sinh nghiên cứu các tình trạng này, và mở rộng cùng một khái niệm ấy đến một hệ mặt trời sớm hơn và trưởng thành hơn, họ sẽ nhận được [Page 993] đôi chút ánh sáng về vấn đề nguồn gốc của điều ác trong hệ mặt trời này.

(301) No soul can be lost where—

(301) Không linh hồn nào có thể bị mất khi—

a. One good aspiration is present.

a. Có hiện diện một khát vọng thiện lành.

b. One unselfish deed is done.

b. Có thực hiện một hành động vô ngã.

c. The life is strong in virtue.

c. Sự sống mạnh mẽ trong đức hạnh.

d. The life is righteous.

d. Sự sống là chính trực.

e. The life is a naturally pure life.—Isis Unveiled, II, 368.

e. Sự sống là một đời sống tự nhiên thanh khiết.—Isis Unveiled, II, 368.

Read S. D., III, 528, 529. (back)

Đọc S. D., III, 528, 529. (back)

c. Conditions for White Magic. In considering the factors requiring adjustment prior to undertaking the work of magic, we are dealing with that which is of eminently practical value. Unless students of magic enter upon this pursuit fortified by pure motive, clean bodies, and high aspiration, they are foredoomed to disappointment and even to disaster. All those who seek to work consciously with the forces of manifestation, and who endeavour to control the Energies of all that is seen, need the strong protection of purity. This is a point which cannot be too strongly emphasised and urged, and hence the constant injunctions to self control, comprehension of the nature of man, and devotion to the cause of humanity. The pursuit of magical investigation is dangerous in three ways.

c. Các điều kiện cho Chánh Thuật. Khi xem xét các yếu tố cần được điều chỉnh trước khi đảm nhận công việc huyền thuật, chúng ta đang bàn đến điều có giá trị thực tiễn nổi bật. Trừ phi các đạo sinh huyền thuật bước vào sự theo đuổi này với động cơ thanh khiết, thể xác trong sạch, và khát vọng cao cả, họ đã được định trước là sẽ thất vọng và thậm chí tai họa. Tất cả những ai tìm cách hoạt động một cách có ý thức với các mãnh lực của biểu hiện, và cố gắng kiểm soát các Năng Lượng của mọi điều được thấy, đều cần sự bảo vệ mạnh mẽ của tính thanh khiết. Đây là một điểm không thể nhấn mạnh và thúc giục quá mức, và do đó mới có những lời huấn thị liên tục về tự chủ, thấu hiểu bản chất con người, và tận tụy với chính nghĩa của nhân loại. Việc theo đuổi sự khảo cứu huyền thuật là nguy hiểm theo ba cách.

If a man’s bodies are not sufficiently purified and their atomic vibration is not sufficiently high, he is in danger of over-stimulation when brought in contact with the forces of nature, and this inevitably entails the destruction and disintegration of one or other of his bodies. At times it may entail the destruction of two or more, and when this is the case, it involves a definite setback to egoic unfoldment, for it requires, in such cases, a much longer interval between incarnations, owing to the difficulty of assembling the needed materials in the sheaths.

Nếu các thể của một người không được thanh lọc đầy đủ và rung động nguyên tử của chúng không đủ cao, y sẽ có nguy cơ bị kích thích quá mức khi tiếp xúc với các mãnh lực của bản chất, và điều này tất yếu kéo theo sự hủy hoại và tan rã của một hay thể nào đó của y. Đôi khi điều đó có thể kéo theo sự hủy hoại của hai hay nhiều thể, và khi trường hợp này xảy ra, nó bao hàm một sự thụt lùi rõ rệt đối với sự khai mở chân ngã, vì trong những trường hợp như vậy cần một khoảng cách lâu hơn nhiều giữa các lần nhập thể, do khó khăn trong việc tập hợp các vật liệu cần thiết trong các vỏ bọc.

Further, unless a man is strengthened in his endeavour by right motive, he is liable to be led astray by the acquisition of power. Knowledge of the laws of magic puts into the hands of the student powers which enable him to create, to acquire, and to control. Such powers [Page 994] are fraught with menace to the unprepared and unready, for the student can, in this case, turn them to selfish ends, use them for his own temporal material advancement, and acquire in this way that which will feed the desires of the lower nature. He takes, therefore, the first step towards the left hand path, and each life may see him progressing towards it with greater readiness, until (almost unconsciously) he will find himself in the ranks of the black masters. Such a state of affairs can only be offset through the cultivation of altruism, sincere love of man, and a steady negation of all lower desire.

Hơn nữa, trừ phi một người được củng cố trong nỗ lực của mình bằng động cơ đúng đắn, y dễ bị dẫn lạc bởi việc đạt được quyền năng. Tri thức về các định luật huyền thuật đặt vào tay đạo sinh những quyền năng giúp y sáng tạo, đạt được, và kiểm soát. Những quyền năng như thế [Page 994] chứa đầy hiểm họa đối với người chưa chuẩn bị và chưa sẵn sàng, vì trong trường hợp này đạo sinh có thể hướng chúng đến những mục đích ích kỷ, dùng chúng cho sự thăng tiến vật chất tạm thời của riêng mình, và bằng cách đó đạt được điều sẽ nuôi dưỡng các ham muốn của bản chất thấp. Vì vậy y bước bước đầu tiên về phía tả đạo, và mỗi kiếp sống có thể thấy y tiến về phía đó ngày càng dễ dàng hơn, cho đến khi (gần như vô thức) y sẽ thấy mình ở trong hàng ngũ các chân sư hắc đạo. Một tình trạng như thế chỉ có thể được hóa giải bằng việc nuôi dưỡng lòng vị tha, tình thương chân thành đối với con người, và sự phủ nhận bền bỉ mọi ham muốn thấp hèn.

The third danger which menaces the unwary student of magic lies in the fact that when he tampers with these forces and energies he is dealing with that which is akin to his own lower nature. He, therefore, follows the line of least resistance; he augments these energies, thereby increasing their response to the lower and to the material aspects of his nature. This he does at the expense of his higher nature, retarding its unfoldment and delaying his progress. Incidentally also, he attracts the attention of those masters of the left hand path who are ever on the lookout for those who can be bent to their purposes, and he becomes (unwittingly at first), an agent on the side of evil.

Mối nguy thứ ba đe dọa đạo sinh huyền thuật thiếu thận trọng nằm ở sự kiện rằng khi y can thiệp vào các mãnh lực và năng lượng này, y đang xử lý điều gì đó tương cận với chính bản chất thấp của mình. Vì vậy, y đi theo con đường ít trở ngại nhất; y gia tăng các năng lượng này, do đó làm tăng đáp ứng của chúng đối với các phương diện thấp và vật chất của bản chất y. Điều này y làm với cái giá là bản chất cao hơn của mình, làm chậm sự khai mở của nó và trì hoãn sự tiến bộ của y. Đồng thời, y cũng thu hút sự chú ý của những chân sư của tả đạo, những vị luôn luôn canh chừng những ai có thể bị bẻ cong theo các mục đích của họ, và y trở thành (lúc đầu là vô tình) một tác nhân về phía điều ác.

It will be apparent, therefore, that the student has need of the following qualities before he undertakes the arduous task of becoming a conscious Master of Magic:

Vì vậy, hiển nhiên là đạo sinh cần có những phẩm tính sau đây trước khi đảm nhận nhiệm vụ gian khổ là trở thành một Chân sư Huyền thuật có ý thức:

Physical Purity. This is a thing not easily to be acquired, but entailing many lives of strenuous effort. Through abstinence, right continence, clean living, vegetarian diet, and rigid self-control, the man gradually raises the vibration of his physical atoms, builds a body of ever greater resistance and strength, and succeeds in “manifesting” forth in a sheath of greater refinement.

Sự thanh khiết hồng trần. Đây không phải là điều dễ đạt được, mà đòi hỏi nhiều kiếp sống nỗ lực mãnh liệt. Qua sự kiêng cữ, tiết dục đúng đắn, đời sống thanh sạch, chế độ ăn chay, và tự chủ nghiêm ngặt, con người dần dần nâng cao rung động của các nguyên tử hồng trần của mình, xây dựng một thể ngày càng có sức đề kháng và sức mạnh lớn hơn, và thành công trong việc “biểu hiện” ra ngoài trong một vỏ bọc tinh luyện hơn.

Etheric Freedom. This term does not convey all that [Page 995] I seek to impart, but it suffices for need of a better. The student of magic who can safely undertake the enterprise, will have constructed an etheric body of such a nature that vitality, or pranic force and energy, can circulate unimpeded; he will have formed an etheric web of such tenuosity that it forms no barrier to consciousness. This is all that can be said on this subject, owing to the danger involved, but it suffices for the conveyance of information to those who are beginning to know.

Sự tự do dĩ thái. Thuật ngữ này không chuyển tải trọn vẹn điều [Page 995] tôi tìm cách truyền đạt, nhưng nó đủ dùng khi chưa có từ tốt hơn. Đạo sinh huyền thuật nào có thể an toàn đảm nhận công việc này sẽ đã kiến tạo một thể dĩ thái có bản chất sao cho sinh lực, hay mãnh lực và năng lượng prana, có thể lưu thông không bị cản trở; y sẽ đã hình thành một màng lưới dĩ thái mỏng nhẹ đến mức nó không tạo thành rào cản nào cho tâm thức. Đây là tất cả những gì có thể nói về chủ đề này, do mối nguy liên quan, nhưng như thế là đủ để truyền đạt thông tin cho những ai đang bắt đầu biết.

Astral Stability. The student of magic aims, above all, to purify his desires, and so to transmute his emotions that the lower physical purity and the higher mental responsiveness and transmutative power may equally be available. Every magician has to learn the fact that, in this solar system, during the cycle of humanity, the astral body is the pivotal point of endeavour, having a reflex effect on both the other sheaths, the physical and the mental. He, therefore, aims at transmuting (as has often been said) lower desire into aspiration; at changing the lower cruder colors which distinguish the astral body of average man, for the clearer, purer tones of the spiritual man, and of transforming its normal chaotic vibration, and the “stormy sea of life,” for the steady rhythmic response to that which is highest and the centre of peace. These things he effects by constant watchfulness, unremitting control, and steady meditation.

Sự ổn định cảm dục. Trên hết, đạo sinh huyền thuật nhắm đến việc thanh lọc các ham muốn của mình, và do đó chuyển hoá các cảm xúc của mình để sự thanh khiết hồng trần thấp hơn và khả năng đáp ứng trí tuệ cao hơn cùng quyền năng chuyển hoá đều có thể sẵn dùng như nhau. Mỗi nhà huyền thuật đều phải học sự kiện rằng, trong hệ mặt trời này, trong chu kỳ của nhân loại, thể cảm dục là điểm then chốt của nỗ lực, có tác động phản chiếu lên cả hai vỏ bọc kia, thể xác và thể trí. Vì vậy, y nhắm đến việc chuyển hoá (như đã thường được nói) ham muốn thấp thành khát vọng; thay đổi những màu sắc thấp và thô hơn vốn phân biệt thể cảm dục của con người trung bình thành những sắc điệu trong sáng, thanh khiết hơn của con người tinh thần; và chuyển đổi rung động hỗn loạn bình thường của nó, cùng “biển đời dậy sóng,” thành sự đáp ứng nhịp nhàng, vững chắc đối với điều cao nhất và trung tâm bình an. Những điều này y thực hiện bằng sự tỉnh thức liên tục, sự kiểm soát không ngơi nghỉ, và tham thiền bền bỉ.

Mental Poise. These words are used in the occult sense, wherein the mind (as it is commonly understood) becomes the keen steady instrument of the indwelling thinker, and the point from which he can travel onwards to higher realms of comprehension. It is the foundation stone whence the higher expansion can be initiated.

Sự quân bình trí tuệ. Những lời này được dùng theo nghĩa huyền bí, trong đó trí tuệ (như thường được hiểu) trở thành công cụ sắc bén, vững chắc của thức giả nội tại, và là điểm từ đó y có thể tiến lên các cõi cao hơn của sự thấu hiểu. Nó là viên đá nền tảng từ đó sự mở rộng cao hơn có thể được khởi sự.

Let not the would-be student of magic proceed in his investigations and his experiments until he has attended to these injunctions, and until the whole bent of his thought is towards their manifestation and their demonstration [Page 996] in his every day life. When he has so worked, ceaselessly and untiringly, and his physical plane life and service bear witness to the inner transmutation, then he can proceed to parallel this life with magical studies and work. Only the solar Angel can do the work of the white magician, and he effects it through the control of the lunar angels and their complete subjugation. They are arrayed against him, until, through meditation, aspiration, and control, he bends them to his will and they become his servants.

Đừng để đạo sinh huyền thuật tương lai tiến hành các khảo cứu và thí nghiệm của mình cho đến khi y đã lưu tâm đến những huấn thị này, và cho đến khi toàn bộ khuynh hướng tư tưởng của y hướng về sự biểu hiện và chứng minh chúng [Page 996] trong đời sống hằng ngày của mình. Khi y đã làm việc như vậy, không ngừng nghỉ và không mệt mỏi, và đời sống cùng sự phụng sự trên cõi hồng trần của y làm chứng cho sự chuyển hoá nội tại, khi đó y có thể tiến tới song hành đời sống này với việc học tập và công việc huyền thuật. Chỉ Thái dương Thiên Thần mới có thể làm công việc của nhà huyền thuật chánh đạo, và Ngài thực hiện điều đó qua việc kiểm soát các thái âm thiên thần và sự khuất phục hoàn toàn của họ. Họ xếp hàng chống lại Ngài, cho đến khi, qua tham thiền, khát vọng, và kiểm soát, Ngài uốn họ theo ý chí của Ngài và họ trở thành các tôi tớ của Ngài.

This thought brings us to the vital and real distinction between the white brother and the brother of darkness, and in this summation we will conclude the present discussion and proceed with the rules.

Tư tưởng này đưa chúng ta đến sự phân biệt thiết yếu và thực sự giữa huynh đệ chánh đạo và huynh đệ bóng tối, và với phần tổng kết này chúng ta sẽ kết thúc cuộc thảo luận hiện tại và tiếp tục với các quy luật.

The worker in white magic utilises ever the energy of the Solar Angel to effect his ends. The dark brother works through the inherent force of the lunar lords, which are allied in nature to all that is objective. In an old book of magic, hidden in the caves of learning, guarded by the Masters, are the following conclusive words, which find their place in this Treatise on Fire through their very appropriateness:

Người hoạt động trong Chánh Thuật luôn luôn sử dụng năng lượng của Thái dương Thiên Thần để đạt các mục đích của mình. Huynh đệ bóng tối hoạt động qua mãnh lực cố hữu của các nguyệt tinh quân, vốn đồng bản chất với mọi điều khách quan. Trong một cuốn sách huyền thuật cổ, được cất giấu trong các hang động của tri thức, do các Chân sư canh giữ, có những lời kết luận sau đây, rất thích hợp nên được đặt vào Luận về Lửa Vũ Trụ này:

“The Brothers of the Sun, through the force of solar fire, fanned to a flame in the blazing vault of the second Heaven, put out the lower lunar fires, and render naught that lower ‘fire by friction.’

“Các Huynh Đệ của Mặt Trời, qua mãnh lực của Lửa Thái dương, được quạt thành ngọn lửa trong vòm sáng rực của cõi Trời thứ hai, dập tắt các lửa thái âm thấp hơn, và làm cho ‘Lửa ma sát’ thấp hơn ấy trở thành hư không.

“The Brother of the Moon ignores the sun and solar heat; borrows his fire from all that triply is, and pursues his cycle. The fires of hell await, and lunar fire dies out. Then neither sun nor moon avails him, only the highest heaven awaits the spark electric, seeking vibration synchronous from that which lies beneath. And yet it cometh not.”

“Huynh Đệ của Mặt Trăng phớt lờ mặt trời và nhiệt thái dương; vay mượn lửa của mình từ mọi điều tam phân, và theo đuổi chu kỳ của mình. Các lửa địa ngục đang chờ đợi, và lửa thái âm tắt lịm. Khi đó cả mặt trời lẫn mặt trăng đều không giúp ích gì cho y, chỉ cõi trời cao nhất chờ đợi tia lửa điện, tìm kiếm rung động đồng bộ từ điều nằm bên dưới. Nhưng nó vẫn không đến.”

3. Fifteen Rules for Magic.

3. Mười lăm Quy luật cho Huyền thuật.

These rules will necessarily be of an esoteric nature, and the student will need to remember that the terminology is in the nature of a blind, which ever carries [Page 997] revelation to those who have the clue, but tends to perplex and to bewilder the student who as yet is unready for the truth. I would also remind the student to bear in mind that all that is here imparted concerns “white magic,” and is given from the standpoint of the solar Angel, and of solar Fire. Bearing these two points in mind the student will find much in these rules to produce eventual internal illumination. We will divide them into three groups of aphorisms or occult phrases; of these, the first will concern itself with the work of the magician on the mental plane, with his manipulation of solar energy, and his ability to sweep the Builders into co-operation with his purposes.

Những quy luật này tất yếu sẽ có bản chất huyền bí, và đạo sinh cần nhớ rằng thuật ngữ được dùng có tính chất như một bức màn che, luôn mang [Page 997] sự mặc khải đến cho những ai có chìa khóa, nhưng lại có khuynh hướng làm rối trí và hoang mang đạo sinh còn chưa sẵn sàng cho chân lý. Tôi cũng muốn nhắc đạo sinh ghi nhớ rằng tất cả những gì được truyền đạt ở đây đều liên quan đến “Chánh Thuật,” và được ban ra từ quan điểm của Thái dương Thiên Thần, và của Lửa Thái dương. Ghi nhớ hai điểm này, đạo sinh sẽ thấy trong các quy luật này nhiều điều có thể cuối cùng tạo ra sự soi sáng nội tại. Chúng ta sẽ chia chúng thành ba nhóm châm ngôn hay cụm từ huyền bí; trong đó, nhóm thứ nhất sẽ bàn đến công việc của nhà huyền thuật trên cõi trí, việc y điều khiển năng lượng thái dương, và khả năng của y trong việc cuốn các đấng kiến tạo vào sự hợp tác với các mục đích của mình.

The second group will carry the work on down to the plane of desire, and of vitalisation, and will convey information as to the balancing of the pairs of opposites, and their equilibrising, so that eventual manifestation becomes possible.

Nhóm thứ hai sẽ đưa công việc xuống cõi ham muốn và tiếp sinh lực, và sẽ truyền đạt thông tin về sự quân bình các cặp đối cực, và việc quân bình hóa chúng, để cho sự biểu hiện cuối cùng trở nên khả hữu.

The third group of rules will deal with the physical plane, with the transmission of force:

Nhóm quy luật thứ ba sẽ bàn đến cõi hồng trần, với sự truyền dẫn mãnh lực:

a. Through the centres,

a. Qua các trung tâm,

b. Through the brain,

b. Qua bộ não,

c. Through the physical plane itself.

c. Qua chính cõi hồng trần.

a. Six Rules for the Mental Plane. Certain of the laws of speech will be given, and the significance of colour and of sound will appear beneath the exoteric form of the phrasing to those whose perception suffices.

a. Sáu Quy luật cho Cõi Trí. Một số định luật của lời nói sẽ được nêu ra, và ý nghĩa của màu sắc và âm thanh sẽ hiện ra bên dưới hình thức ngoại môn của cách diễn đạt đối với những ai có tri giác đủ mức.

RULE I. The Solar Angel collects himself, scatters not his force, but in meditation deep communicates with his reflection.

QUY LUẬT I. Thái Dương Thiên Thần thu mình lại, không phân tán thần lực của Ngài mà, trong thiền định sâu sắc, giao tiếp với phản ảnh của Ngài.

The significance of this rule is easily to be seen. The white magician is ever one who, through conscious alignment with his Ego, with his “Angel,” is receptive to his plans and purposes, and therefore capable of receiving the higher impression. We must remember that [Page 998] white magic works from above downwards, and is the result of solar vibration, and not of the heating impulses emanating from one or other of the lunar Pitris; the downflow of the impressing energy from the solar Pitri is the result of his internal recollectedness, his indrawing of his forces prior to sending them out concentratedly to his shadow, man, and his steady meditation upon the purpose and the plan. It may be of use to the student if he here remembers that the Ego (as well as the Logos) is in deep meditation during the whole cycle of physical incarnation. This solar meditation is cyclic in nature, the Pitri involved sending out to his “reflection” rhythmic streams of energy, which streams are recognised by the man concerned as his “higher impulses,” his dreams and aspirations. Therefore, it will be apparent why workers in white magic are ever advanced, and spiritual men, for the “reflection” is seldom responsive to the Ego or the solar Angel until many cycles of incarnation have transpired. The solar Pitri communicates with his “shadow” or reflection by means of the sutratma, which passes down through the bodies to a point of entrance in the physical brain.

Ý nghĩa của quy luật này rất dễ thấy. Nhà huyền thuật chánh đạo luôn luôn là người, qua sự chỉnh hợp có ý thức với chân ngã của mình, với “Thiên Thần” của mình, có khả năng tiếp nhận các kế hoạch và mục đích của chân ngã, và do đó có khả năng tiếp nhận ấn tượng cao hơn. Chúng ta phải nhớ rằng [Page 998] Chánh Thuật hoạt động từ trên xuống dưới, và là kết quả của rung động thái dương, chứ không phải của các xung lực nung nóng phát ra từ một hay một số thái âm tổ phụ; dòng chảy xuống của năng lượng gây ấn tượng từ thái dương tổ phụ là kết quả của sự thu nhiếp nội tại của y, sự rút các mãnh lực của y vào trước khi phóng chúng ra một cách tập trung đến cái bóng của y, con người, và sự tham thiền bền bỉ của y về mục đích và Thiên Cơ. Sẽ hữu ích cho đạo sinh nếu ở đây y nhớ rằng chân ngã (cũng như Thượng đế) đang ở trong tham thiền sâu suốt toàn bộ chu kỳ nhập thể hồng trần. Sự tham thiền thái dương này có bản chất chu kỳ, vị tổ phụ liên hệ gửi ra cho “sự phản chiếu” của mình những dòng năng lượng nhịp nhàng, mà những dòng này được con người liên hệ nhận biết như những “xung lực cao hơn” của mình, những giấc mơ và khát vọng của mình. Vì vậy, sẽ thấy rõ tại sao những người hoạt động trong Chánh Thuật luôn luôn là những người tiến bộ và tinh thần, vì “sự phản chiếu” hiếm khi đáp ứng với chân ngã hay Thái dương Thiên Thần cho đến khi nhiều chu kỳ nhập thể đã trôi qua. Thái dương tổ phụ giao tiếp với “cái bóng” hay sự phản chiếu của mình bằng sutratma, đi xuống qua các thể đến một điểm đi vào trong bộ não hồng trần.

RULE II. When the shadow hath responded, in meditation deep the work proceedeth. The lower light is thrown upward; the greater light illuminates the three, and the work of the four proceedeth.

QUY LUẬT II. Khi cái bóng đã đáp ứng, trong thiền định sâu thẳm, công việc tiến triển. Ánh sáng thấp được ném lên trên; ánh sáng lớn hơn soi sáng bộ ba, và công việc của bốn tiến triển.

Here the work of the two, the Ego on its own plane, and its instrument in the three worlds, is shown as linked and co-ordinated. As we well know, the main function of meditation is to bring the lower instrument into such a condition of receptivity and vibratory response that the Ego, or solar Angel, can use it, and produce specific results. This involves, therefore, a downflow of force from the upper levels of the mental plane [Page 999] (the habitat of the real Man) and a reciprocal vibration, emanating from Man, the Reflection. When these two vibrations are attuned, and the interplay is rhythmic, then the two meditations proceed synchronously, and the work of magic and of creation can proceed unimpeded. It will, therefore, be apparent that the brain is the physical correspondence to the force centres upon the mental plane, and that the vibration has to be consciously set up by the man when meditating. When this is effected, the man can be a conscious creator, and the work proceeds therefore in a triple manner; the force circulates freely via three points of centralised activity:

Ở đây công việc của hai bên, chân ngã trên cõi riêng của nó, và công cụ của nó trong ba cõi giới, được cho thấy là liên kết và phối hợp. Như chúng ta đều biết rõ, chức năng chính của tham thiền là đưa công cụ thấp hơn vào một tình trạng tiếp nhận và đáp ứng rung động đến mức chân ngã, hay Thái dương Thiên Thần, có thể sử dụng nó và tạo ra các kết quả đặc thù. Vì vậy, điều này bao hàm một dòng chảy xuống của mãnh lực từ các cấp độ cao hơn của cõi trí [Page 999] (nơi cư ngụ của Con Người thực sự) và một rung động đáp ứng tương hỗ, phát ra từ Con Người, tức Sự Phản Chiếu. Khi hai rung động này được điều chỉnh hòa điệu, và sự tương tác có nhịp điệu, thì hai sự tham thiền tiến hành đồng bộ, và công việc huyền thuật cùng sáng tạo có thể tiếp tục không bị cản trở. Vì vậy, sẽ thấy rõ rằng bộ não là sự tương ứng hồng trần với các trung tâm lực trên cõi trí, và rằng rung động phải được thiết lập một cách có ý thức bởi con người khi tham thiền. Khi điều này được thực hiện, con người có thể là một đấng sáng tạo có ý thức, và do đó công việc tiến hành theo cách tam phân; mãnh lực lưu thông tự do qua ba điểm hoạt động tập trung:

First. From that circle of petals in the egoic lotus which the Ego chooses to use, or is in a position to use. This is conditioned by the objective in view, and the state of egoic unfoldment.

Thứ nhất. Từ vòng cánh hoa trong Hoa Sen Chân Ngã mà chân ngã chọn sử dụng, hay ở trong vị thế có thể sử dụng. Điều này được tác động bởi mục tiêu được nhắm đến, và trạng thái khai mở chân ngã.

Secondly. The centre in the physical brain which is active in meditation. This is also conditioned by the man’s point in evolution, and the particular goal in mind.

Thứ hai. Trung tâm trong bộ não hồng trần đang hoạt động trong tham thiền. Điều này cũng được tác động bởi điểm tiến hoá của con người, và mục tiêu đặc thù trong trí.

Thirdly. The centre of force generated by the man upon the lower mental plane, as he proceeds to form the necessitated thought form, and to sweep into activity those builders who can respond to the vibration sent forth. This is likewise conditioned by the strength of his meditation, the fullness of the note sent forth by him, and the strength of his initiated vibration.

Thứ ba. Trung tâm lực do con người tạo ra trên cõi hạ trí, khi y tiến hành hình thành Hình tư tưởng cần thiết, và cuốn vào hoạt động những đấng kiến tạo có thể đáp ứng với rung động được phát ra. Điều này cũng được tác động bởi sức mạnh của sự tham thiền của y, sự viên mãn của âm điệu do y phát ra, và sức mạnh của rung động được điểm đạo của y.

Hence, the first thing the solar Angel does is to form a triangle, consisting of himself, the man on the physical plane, and the tiny point of force which is the result of their united endeavour. It will be of value to students of meditation to ponder upon this procedure, and to study the correspondence between it and the work of the solar Logos as He created “the Heavens and the Earth.” The [Page 1000] Highest and the lowest aspects met, spirit and matter were brought into contact with each other; the consequence of this interplay was the birth of the Son, or the great solar thought form. In the three worlds, man, the lesser Deity, within his limits, proceeds along analogous lines. The three who are illumined by the light of the One are the three persons of the lower Triad, the mental body, the astral body, and the physical body. They, with the Illuminator, make the “Four” referred to, and thus becomes apparent the microcosmic Tetraktys.

Do đó, điều đầu tiên Thái dương Thiên Thần làm là hình thành một tam giác, gồm chính Ngài, con người trên cõi hồng trần, và điểm mãnh lực nhỏ bé là kết quả của nỗ lực hợp nhất của cả hai. Sẽ có giá trị cho các đạo sinh tham thiền nếu suy gẫm về tiến trình này, và nghiên cứu sự tương ứng giữa nó với công việc của Thái dương Thượng đế khi Ngài sáng tạo “Trời và Đất.” [Page 1000] Phương diện cao nhất và thấp nhất đã gặp nhau, tinh thần và vật chất được đưa vào tiếp xúc với nhau; hệ quả của sự tương tác này là sự sinh ra của Con, hay Hình tư tưởng thái dương vĩ đại. Trong ba cõi giới, con người, vị Thượng đế nhỏ hơn, trong các giới hạn của mình, tiến hành theo những đường lối tương đồng. Ba vị được soi sáng bởi ánh sáng của Đấng Duy Nhất là ba ngôi vị của Tam nguyên thấp, thể trí, thể cảm dục, và thể xác. Họ, cùng với Đấng Soi Sáng, tạo thành “Bốn” được nói đến, và như vậy Tetraktys của tiểu thiên địa trở nên hiển nhiên.

The two rules above form the esoteric basis of all meditation, and need to be carefully studied if results are to be achieved.

Hai quy luật trên tạo thành nền tảng huyền bí của mọi tham thiền, và cần được nghiên cứu cẩn thận nếu muốn đạt được kết quả.

RULE III. The Energy circulates. The point of light, the product of the labours of the Four, waxeth and groweth. The myriads gather round its glowing warmth until its light recedes. Its fire grows dim. Then shall the second sound go forth.

QUY LUẬT III. Năng Lượng tuần hoàn. Điểm ánh sáng, sản phẩm do công sức của bốn, trở nên mạnh mẽ và tăng trưởng. Vô số sinh linh tập trung quanh hơi ấm rực rỡ của nó cho đến khi ánh sáng của nó mờ dần. Ngọn lửa của nó mờ đi. Kế đó, âm thanh thứ hai sẽ phát ra.

The white magician, having, through meditation and conscious purpose, formed a focal point of energy upon the mental plane, increases the vibration through strenuous concentration; he begins then to visualise in detail the form he is seeking to build; he pictures it with all its component parts, and sees “before his mind’s eye” the consummated product of the egoic meditation as he has succeeded in bringing it through. This produces what is here called “the secondary note,” the first being the note emanating from the Ego on its own plane, which awakened the “reflection” and called forth response. The vibration becomes stronger, and the note sounded by the man on the physical plane ascends and is heard upon the mental plane. Hence, in all meditation that is [Page 1001] of occult value, the man has to do certain things in order to aid in bringing about the results.

Nhà huyền thuật chánh đạo, sau khi đã, qua tham thiền và mục đích có ý thức, hình thành một tiêu điểm năng lượng trên cõi trí, làm tăng rung động bằng sự tập trung mãnh liệt; khi đó y bắt đầu hình dung chi tiết hình tướng mà y tìm cách xây dựng; y hình dung nó với tất cả các bộ phận cấu thành, và thấy “trước con mắt trí tuệ của mình” sản phẩm viên mãn của sự tham thiền chân ngã khi y đã thành công đưa nó xuyên qua. Điều này tạo ra cái ở đây được gọi là “âm điệu thứ cấp,” âm điệu thứ nhất là âm điệu phát ra từ chân ngã trên cõi riêng của nó, đã đánh thức “sự phản chiếu” và gọi ra sự đáp ứng. Rung động trở nên mạnh hơn, và âm điệu do con người trên cõi hồng trần xướng lên đi lên và được nghe thấy trên cõi trí. Do đó, trong mọi tham thiền có [Page 1001] giá trị huyền bí, con người phải làm một số điều để giúp đem lại các kết quả.

He tranquilises his bodies in order that there be no impediment to the egoic intent, and listens for the “Voice of the Silence.” He responds then to that Voice consciously, and broods over the imparted plans.

Y làm cho các thể của mình tĩnh lặng để không có trở ngại nào đối với ý định chân ngã, và lắng nghe “Tiếng Nói của Im Lặng.” Khi đó y đáp ứng với Tiếng Nói ấy một cách có ý thức, và chiêm ngưỡng các kế hoạch được truyền đạt.

He then sounds the Sacred Word, taking up the note of the Ego as he believes he hears it, and sending it forth to swell the egoic sound, and to set in motion matter on the mental plane. He (synchronously with this sounding) visualises the proposed thought form which is to embody egoic purposes, and pictures it in detail.

Sau đó y xướng Linh từ Thiêng Liêng, tiếp nhận âm điệu của chân ngã như y tin rằng mình nghe được, và phát nó ra để làm tăng âm thanh chân ngã, và làm cho vật chất trên cõi trí chuyển động. Y (đồng thời với việc xướng này) hình dung Hình tư tưởng được dự định sẽ hiện thân cho các mục đích chân ngã, và hình dung nó một cách chi tiết.

We must not forget that we are here dealing with those conscious meditations, based on knowledge and long experience, which produce magical results on the physical plane. We are not dealing here with those meditations which have for their purpose the revelation of the inner God, and the bringing in of the illuminating fire of the Ego.

Chúng ta không được quên rằng ở đây chúng ta đang bàn đến những sự tham thiền có ý thức, dựa trên tri thức và kinh nghiệm lâu dài, tạo ra các kết quả huyền thuật trên cõi hồng trần. Ở đây chúng ta không bàn đến những sự tham thiền có mục đích là sự mặc khải Thượng đế nội tại, và việc đưa vào ngọn lửa soi sáng của chân ngã.

When this process is proceeding under rule and order, the focal point of energy on the lower mental plane gains in strength; its light or fire makes itself felt; it becomes, in the occult sense, visually objective, and attracts the attention of the lesser builders through

Khi tiến trình này diễn ra theo quy luật và trật tự, tiêu điểm năng lượng trên cõi hạ trí tăng thêm sức mạnh; ánh sáng hay lửa của nó tự làm cho mình được cảm nhận; theo nghĩa huyền bí, nó trở nên khách quan đối với linh thị, và thu hút sự chú ý của các vị tiểu kiến tạo qua

a. Its radiation or warmth,

a. Sự bức xạ hay hơi ấm của nó,

b. Its active vibration,

b. Rung động hoạt động của nó,

c. Its sound or note,

c. Âm thanh hay âm điệu của nó,

d. Its light.

d. Ánh sáng của nó.

The elemental workers of responsive capacity are gathered and swept into the radius of the force, and begin to gather around. The intended form begins to be apparent, and tiny life after tiny life takes its place in its construction. The result of this “coherency” is that the inner light becomes veiled, its brilliancy dimmed, just as the inner light of the Ego in its shadow, or thought form, man, is similarly dimmed and hidden. [Page 1002]

Các hành khí hoạt động có khả năng đáp ứng được tập hợp lại và bị cuốn vào bán kính của mãnh lực, rồi bắt đầu tụ tập xung quanh. Hình tướng được dự định bắt đầu trở nên rõ rệt, và từng sự sống nhỏ bé một đảm nhận vị trí của mình trong sự kiến tạo của nó. Kết quả của “sự cố kết” này là ánh sáng bên trong trở nên bị che phủ, độ rực rỡ của nó bị làm mờ đi, cũng như ánh sáng bên trong của chân ngã trong cái bóng của nó, hay Hình tư tưởng, con người, cũng bị làm mờ và che khuất tương tự. [Page 1002]

RULE IV. Sound, light, vibration, and the form blend and merge, and thus the work is one. It proceedeth under the law, and naught can hinder now the work from going forward. The man breathes deeply. He concentrates his forces, and drives the thought-form from him.

QUY LUẬT IV. Âm thanh, ánh sáng, rung động, và hình tướng hòa trộn và dung hợp, và như thế công việc trở thành một. Công việc tiến hành theo định luật, và không gì có thể ngăn cản công việc tiến tới. Con người hít thở sâu. Y tập trung các lực của mình và đẩy hình tư tưởng ra khỏi y.

Here we have a very important piece of work of magic dealt with, and one that is little considered and known. The force used by the Ego in the work of forcing the man to carry out His purpose has been dynamic will, and the petal, or energy centre, employed has been one of the will petals. The man has, up till now, been driven by egoic will, but has blended with this much of the energy of the attraction aspect (desire or love) thereby gathering to himself on the mental plane, the material needed for his thought form. He has succeeded so far that on the concrete levels of the mental plane is to be seen a form in mental matter which is coherent, alive, vibrant, and of a desired nature. Its internal activity is such that its persistence for the length of time necessary to ensure achievement of the egoic purpose is assured; it stands ready to be sent forth upon its mission, to gather to itself material of a denser nature upon the astral plane, and to achieve greater consolidation. This is brought about by an act of will emanating from the man, and he gives the living form power “to break loose.” It is exactly at this point, fortunately for the human race, that the majority of magical investigators fail in their work. They build a form in mental matter, but do not know how to send it forth, so that inevitably it will fulfill its mission. Thus many thought forms die a natural death on the mental plane owing to the inability of the man to exert the will faculty constructively, and his failure to understand the laws of thought-form construction. Another factor is his lack of knowledge [Page 1003] of the formula which releases the elemental builders from their surroundings, and forces them to cohere within the periphery of the thought form for as long as the thinker desires.

Ở đây chúng ta có một công việc huyền thuật rất quan trọng được bàn đến, và là một điều ít được xem xét và biết đến. Mãnh lực được chân ngã sử dụng trong công việc buộc con người thực hiện mục đích của Ngài là ý chí năng động, và cánh hoa, hay trung tâm năng lượng, được dùng là một trong các cánh hoa ý chí. Cho đến lúc này, con người đã được thúc đẩy bởi ý chí chân ngã, nhưng đã hòa trộn với điều này nhiều năng lượng của phương diện hấp dẫn (dục vọng hay tình thương), nhờ đó tập hợp cho mình trên cõi trí chất liệu cần thiết cho hình tư tưởng của mình. Cho đến nay y đã thành công đến mức trên các cấp độ cụ thể của cõi trí có thể thấy một hình tướng trong vật chất trí tuệ, kết dính, sống động, rung động và có bản chất mong muốn. Hoạt động nội tại của nó đến mức sự bền vững của nó trong khoảng thời gian cần thiết để bảo đảm việc hoàn thành mục đích chân ngã là điều chắc chắn; nó đứng sẵn để được phóng ra trong sứ mạng của nó, để tập hợp cho mình chất liệu có bản chất đậm đặc hơn trên cõi cảm dục, và đạt đến sự củng cố lớn hơn. Điều này được mang lại bởi một hành động ý chí phát ra từ con người, và y ban cho hình tướng sống động ấy quyền năng “bứt thoát.” Chính xác tại điểm này, may mắn thay cho nhân loại, mà đa số các nhà khảo cứu huyền thuật thất bại trong công việc của họ. Họ xây dựng một hình tướng trong vật chất trí tuệ, nhưng không biết cách phóng nó ra, để nó tất yếu sẽ hoàn thành sứ mạng của mình. Vì thế nhiều hình tư tưởng chết một cách tự nhiên trên cõi trí do con người không có khả năng vận dụng năng lực ý chí một cách xây dựng, và do y không thấu hiểu các định luật của việc kiến tạo hình tư tưởng. Một yếu tố khác là sự thiếu hiểu biết của y [Page 1003] về công thức giải phóng các đấng kiến tạo hành khí khỏi môi trường chung quanh chúng, và buộc chúng kết dính trong chu vi của hình tư tưởng chừng nào người tư tưởng còn mong muốn.

Finally, they die owing to the incapacity of the man, which prevents him holding a meditation long enough, and formulating his ideas clearly enough to bring about ultimate materialisation.

Sau cùng, chúng chết do sự bất lực của con người, điều ngăn y giữ được một sự tham thiền đủ lâu, và định hình các ý tưởng của mình đủ rõ ràng để mang lại sự hiện hình tối hậu.

Men are, as yet, too impure and too selfish to be trusted with this knowledge. Their thought forms would be constructed in order to be sent on selfish missions and for destructive ends, and until they are more spiritual, and have gained control over their lower nature, the magical words which galvanise into separated activity the form in mental substance will not be available for their use.

Cho đến nay, con người vẫn còn quá ô uế và quá ích kỷ để có thể được tin cậy giao cho tri thức này. Các hình tư tưởng của họ sẽ được kiến tạo để được phóng đi trong những sứ mạng ích kỷ và cho các mục đích phá hoại, và cho đến khi họ trở nên tinh thần hơn, và đã đạt được sự kiểm soát đối với bản chất thấp của mình, thì các linh từ huyền thuật làm cho hình tướng trong chất liệu trí tuệ được kích hoạt vào hoạt động tách biệt sẽ không được dành cho họ sử dụng.

It might be asked how it is that men do achieve their ends, through concentration and visualisation, and do manage to send forth thought forms which reach their objective. In two ways this can be brought about:

Có thể có người hỏi làm sao con người vẫn đạt được mục đích của mình, thông qua tập trung và sự hình dung, và vẫn xoay xở phóng ra các hình tư tưởng đạt đến mục tiêu của chúng. Điều này có thể được thực hiện theo hai cách:

First. By an unconscious recollection of methods and formulas known and used in Atlantean days, when the magical formulas were public property, and men produced results through the pronouncement of certain sounds. They did not achieve their ends through mental ability, but principally through a parrot-like capacity to repeat mantrams. These are, at times, hidden in the subconscious nature, and are used unwittingly by the man who is feeling strongly enough.

Thứ nhất. Bằng một sự hồi tưởng vô thức về các phương pháp và công thức đã được biết và sử dụng trong thời Atlantis, khi các công thức huyền thuật là tài sản công khai, và con người tạo ra kết quả qua việc phát âm một số âm thanh nhất định. Họ không đạt được mục đích của mình nhờ khả năng trí tuệ, mà chủ yếu nhờ năng lực lặp lại các mantram như con vẹt. Đôi khi những điều này được ẩn trong bản chất tiềm thức, và được sử dụng một cách vô tình bởi con người đang cảm thấy đủ mạnh.

Second. Through the thoughts and ideas of the man fitting in with the plans and purposes of those who do know, either on the path of white or black magic. Then they utilise the form with its inherent force and galvanise it into activity, and a temporary separate identity, thus sending it forth to accomplish its purpose. This accounts for many of the apparently phenomenal results achieved by selfish or by incompetent (though good) thinkers.

Thứ hai. Thông qua việc các tư tưởng và ý tưởng của con người phù hợp với các kế hoạch và mục đích của những ai thực sự biết, hoặc trên chánh đạo hoặc trên con đường của Hắc thuật. Khi đó họ sử dụng hình tướng với mãnh lực cố hữu của nó và kích hoạt nó vào hoạt động, cùng một bản sắc tách biệt tạm thời, nhờ vậy phóng nó đi để hoàn thành mục đích của nó. Điều này giải thích nhiều kết quả dường như phi thường đạt được bởi những người tư tưởng ích kỷ hoặc bất tài (dù tốt).

[Page 1004] The magical words are only communicated under the seal of secrecy, to men working under the Brotherhood of Light, to initiates, and to pledged chelas, owing to the great danger involved. Occasionally, too, they are ascertained by men and women who have brought about a condition of alignment with the Ego, and are, therefore, in touch with the inner centre of all knowledge within themselves. When this is so, the knowledge is safe, for the Ego ever works on the side of law and righteousness, and the words being emanated by the Ego are “lost in His sound” (as it is occultly termed) and will not be remembered by the physical brain when not under the influence of the solar Angel.

[Page 1004] Các linh từ huyền thuật chỉ được truyền đạt dưới ấn tín bí mật, cho những người hoạt động dưới Huynh đệ Đoàn Chánh đạo, cho các điểm đạo đồ, và cho các đệ tử đã tuyên thệ, do mối nguy hiểm lớn lao liên quan. Đôi khi nữa, chúng được khám phá bởi những người nam và nữ đã tạo ra một tình trạng chỉnh hợp với chân ngã, và vì vậy tiếp xúc được với trung tâm bên trong của mọi tri thức ở ngay trong chính họ. Khi điều này xảy ra, tri thức ấy là an toàn, vì chân ngã luôn luôn hoạt động về phía định luật và chính nghĩa, và các linh từ do chân ngã phát ra “bị mất trong âm thanh của Ngài” (như được gọi một cách huyền bí) và sẽ không được bộ não hồng trần ghi nhớ khi không ở dưới ảnh hưởng của Thái dương Thiên Thần.

The six rules for the mental plane are necessarily brief, owing to the fact that the plane of mind is as yet an unknown land to the majority,—unknown in so far as its conscious control is concerned. These two remaining rules concern, in the first case, the brother engaged in white magic, and in the second the thought form he is constructing.

Sáu quy luật cho cõi trí tất yếu phải ngắn gọn, do sự kiện rằng cõi trí cho đến nay vẫn là một miền đất chưa biết đối với đa số,—chưa biết xét về phương diện sự hữu thức kiểm soát của nó. Hai quy luật còn lại này, trong trường hợp thứ nhất, liên quan đến huynh đệ đang dấn thân vào Chánh Thuật, và trong trường hợp thứ hai liên quan đến hình tư tưởng mà y đang kiến tạo.

RULE V. Three things engage the solar Angel before the sheath created passes downward: the condition of the waters, the safety of the one who thus creates, and steady contemplation. Thus are the heart, the throat, and the eye, allied for triple service.

QUY LUẬT V. Ba điều thu hút Thái Dương Thiên Thần trước khi cái vỏ được tạo ra đi xuống; tình trạng của các dòng nước, sự an toàn của người tạo ra hình tư tưởng như vậy, và sự chiêm ngưỡng đều đặn. Như vậy, tim, cổ họng và mắt, được liên kết cho sự phụng sự tam phân.

The focal point of energy that the man, the magician, has now created upon the mental plane, has reached a vibratory activity which makes it certain that response will be called forth from the matter required for the providing of the next, and denser sheath. This vibration will result in an aggregation of a different type of divine life-substance around the central nucleus. The form, occultly, is made to be sent forth, to descend, to [Page 1005] fly as a bird forth upon its mission, and a critical moment is near for the magician. One of the things the magician has to see to is that this form which he has constructed, and which he holds linked to him by a fine thread of animated substance (a correspondence on a minute scale of the sutratmic thread whereby the Monad or the Ego holds in connection its “form of manifestation”) shall neither die for lack of vital sustenance nor return to him with its mission unfulfilled. When this latter catastrophe is the case, the thought form becomes a menace to the magician, and he becomes the prey of that which he has created. The devas who form the body of the idea which has failed in its purpose form a drain upon his vital force. He, therefore, sees to it that the motive or desire lying back of the “idea,” now clothed with its first sheath, retains its pristine purity; that no trace of selfish intent, no perversion of the initial purpose of the solar Angel has been permitted to bring in an unworthy vibration. This is what is meant by attending to the “condition of the waters.” As we well know, water stands for matter, and the substances of the astral plane which are now under consideration are of prime importance in all form-building. According to the substance used and the nature of the Builders who respond to the note of the form in mental matter, will the purpose be accomplished. This is the most important stage in many ways, for the astral body of any form conditions:

Tiêu điểm năng lượng mà con người, nhà huyền thuật, nay đã tạo ra trên cõi trí, đã đạt đến một hoạt động rung động khiến chắc chắn rằng đáp ứng sẽ được khơi dậy từ vật chất cần thiết để cung cấp lớp vỏ kế tiếp và đậm đặc hơn. Rung động này sẽ dẫn đến một sự tập hợp của một loại chất liệu sự sống thiêng liêng khác quanh hạt nhân trung tâm. Hình tướng, theo huyền bí học, được làm cho sẵn sàng để được phóng ra, để đi xuống, để [Page 1005] bay đi như một con chim trong sứ mạng của nó, và một thời điểm nguy cấp đang đến gần đối với nhà huyền thuật. Một trong những điều nhà huyền thuật phải lưu ý là hình tướng mà y đã kiến tạo này, và y giữ nó nối với mình bằng một sợi chỉ mảnh của chất liệu được tiếp sinh lực (một tương ứng trên quy mô cực nhỏ của sợi dây sutratma nhờ đó chân thần hay chân ngã giữ cho “hình tướng biểu hiện” của mình được liên kết) sẽ không chết vì thiếu sự nuôi dưỡng sinh lực cũng không quay trở lại với y khi sứ mạng chưa hoàn thành. Khi tai họa sau này xảy ra, hình tư tưởng trở thành một mối đe dọa đối với nhà huyền thuật, và y trở thành con mồi của chính điều mình đã tạo ra. Các thiên thần tạo thành thể của ý tưởng đã thất bại trong mục đích của nó tạo nên một sự rút cạn sinh lực của y. Vì vậy, y phải bảo đảm rằng động cơ hay dục vọng nằm phía sau “ý tưởng,” nay đã được khoác lớp vỏ đầu tiên, vẫn giữ được sự tinh khiết nguyên sơ của nó; rằng không một dấu vết nào của ý định ích kỷ, không một sự xuyên tạc nào của mục đích ban đầu của Thái dương Thiên Thần đã được cho phép mang vào một rung động bất xứng. Đây là điều được hàm ý bởi việc lưu ý đến “tình trạng của các nước.” Như chúng ta đều biết rõ, nước tượng trưng cho vật chất, và các chất liệu của cõi cảm dục hiện đang được xét đến có tầm quan trọng hàng đầu trong mọi việc xây dựng hình tướng. Tùy theo chất liệu được dùng và bản chất của các đấng kiến tạo đáp ứng với âm điệu của hình tướng trong vật chất trí tuệ mà mục đích sẽ được hoàn thành. Đây là giai đoạn quan trọng nhất trên nhiều phương diện, vì thể cảm dục của bất kỳ hình tướng nào cũng tác động lên:

a. The nature of the physical vehicle.

a. bản chất của vận cụ hồng trần.

b. The transmission of force from the next highest plane.

b. Sự truyền dẫn mãnh lực từ cõi cao hơn kế tiếp.

Provided the man on the physical plane can hold the purpose steady, and refuse to permit its distortion by the influences and vibrations emanating from the lower man, then the “devas of kama” can carry on their work. [Page 1006] I would remind students at this juncture that any thought form necessarily finds its way into greater streams of force or energy, emanating from advanced thinkers of every grade, from the planetary Logos downward, and according to its nature and motive so the work of evolution is assisted or retarded. It is in this connection that the Nirmanakayas work, manipulating streams of thought energy, vitalising the forms created by men, and thus carrying on the work of construction or destruction. They have to use that which exists; hence the necessity for clear thinking. Having “purified” the waters, or safeguarded his desires, the thinker next proceeds (through the use of certain words which are imparted to him by the solar Angel) to protect himself from the devas of elemental nature with which he is purposing to work. On the mental plane, the nature and vibration of the solar Angel proved sufficient protection, but he is now proposing to work with the most dangerous elementals and existences in the three worlds. (302)

Miễn là con người trên cõi hồng trần có thể giữ mục đích vững vàng, và từ chối không cho phép nó bị xuyên tạc bởi các ảnh hưởng và rung động phát ra từ phàm nhân, thì các “thiên thần của kama” có thể tiếp tục công việc của chúng. [Page 1006] Tôi muốn nhắc các đạo sinh tại điểm này rằng bất kỳ hình tư tưởng nào tất yếu cũng tìm đường đi vào các dòng mãnh lực hay năng lượng lớn hơn, phát ra từ các người tư tưởng tiến hóa ở mọi cấp độ, từ Hành Tinh Thượng Đế trở xuống, và tùy theo bản chất và động cơ của nó mà công việc tiến hoá được hỗ trợ hay bị trì hoãn. Chính trong mối liên hệ này mà các Nirmanakaya hoạt động, thao tác các dòng năng lượng tư tưởng, tiếp sinh lực cho các hình tướng do con người tạo ra, và nhờ vậy tiếp tục công việc xây dựng hay phá hủy. Các Ngài phải sử dụng cái đang hiện hữu; do đó mới cần đến tư tưởng rõ ràng. Sau khi đã “thanh lọc” các nước, hay bảo vệ các dục vọng của mình, người tư tưởng tiếp theo tiến hành (qua việc sử dụng một số linh từ nhất định được truyền cho y bởi Thái dương Thiên Thần) để bảo vệ mình khỏi các thiên thần của bản chất hành khí mà y dự định làm việc cùng. Trên cõi trí, bản chất và rung động của Thái dương Thiên Thần đã chứng tỏ là sự bảo vệ đầy đủ, nhưng giờ đây y đang dự định làm việc với các hành khí và các hiện hữu nguy hiểm nhất trong ba cõi giới. (302)

(302) H. P. B. has said that the elementals of the air are the most wicked and dangerous. He refers there to the physical plane, and to dangers menacing the physical body. They are the most dangerous where the physical plane is concerned, but in the case we are considering, we are dealing with man, the unity in the three worlds. (back)

(302) H. P. B. đã nói rằng các hành khí của khí là độc ác và nguy hiểm nhất. Ở đó bà đề cập đến cõi hồng trần, và đến những hiểm nguy đe dọa thể xác. Chúng là nguy hiểm nhất khi liên quan đến cõi hồng trần, nhưng trong trường hợp chúng ta đang xét, chúng ta đang bàn đến con người, đơn vị trong ba cõi giới. (back)

These protective formulas are sounded forth by the thinker, in conjunction with the solar Angel, at the moment the thought form is ready to receive its astral sheath. The mantram deals with the forces which impel activity in the Agnisuryans, and starts a stream of protective energy from one of the heart petals of the Egoic lotus. This circulates through the throat centre of the man, and sets up a circulatory stream of energy around him which automatically repulses the devas who might (through their blind unintelligent work) menace his peace. These two matters attended to—desire adjusted and the identity guarded—both the solar Angel and the worker in magic maintain an attitude of contemplation, [Page 1007] or that profound condition which succeeds that called meditation.

Các công thức bảo vệ này được người tư tưởng xướng lên, cùng với Thái dương Thiên Thần, vào lúc hình tư tưởng sẵn sàng tiếp nhận lớp vỏ cảm dục của nó. Mantram này liên quan đến các mãnh lực thúc đẩy hoạt động trong các Agnisuryan, và khởi động một dòng năng lượng bảo vệ từ một trong các cánh hoa tim của Hoa Sen Chân Ngã. Nó lưu chuyển qua trung tâm cổ họng của con người, và thiết lập một dòng năng lượng tuần hoàn quanh y, tự động đẩy lùi các thiên thần có thể (qua công việc mù quáng không thông minh của chúng) đe dọa sự bình an của y. Khi hai vấn đề này đã được xử lý—dục vọng được điều chỉnh và bản sắc được bảo vệ—cả Thái dương Thiên Thần lẫn người hoạt động trong huyền thuật đều duy trì một thái độ chiêm ngưỡng, [Page 1007] hay trạng thái thâm sâu tiếp nối trạng thái được gọi là tham thiền.

In contemplation, the inner eye is fixed upon the object of contemplation, and this produces (unconsciously in most cases) a steady stream of energy which is focussed upon the objective, producing vitalisation and activity. It is the basis of the “work of transmutation,” for instance, when the human substance is transmuted into solar substance. The Ego contemplates his lunar bodies, and gradually the work is accomplished. When his reflection, man, has reached a point in evolution where he can meditate and contemplate, the work is more rapidly accelerated, and transmutation proceeds with rapidity, particularly on the physical plane. In the work of thought-form building, the man, in contemplation, pursues the work of energising and vitalising. It might here be said that the eye is the great directing agency. When the third eye is used, which is the case in contemplation, it is the synthesiser and director of triple energy; hence the powerful work performed by those in whom it is functioning. The third eye only begins to function when the third circle of egoic petals is beginning slowly to unfold.

Trong chiêm ngưỡng, mắt bên trong được cố định vào đối tượng chiêm ngưỡng, và điều này tạo ra (một cách vô thức trong đa số trường hợp) một dòng năng lượng bền vững được tập trung vào mục tiêu, tạo ra sự tiếp sinh lực và hoạt động. Đây là nền tảng của “công việc chuyển hoá,” chẳng hạn, khi chất liệu nhân loại được chuyển hoá thành chất liệu thái dương. Chân ngã chiêm ngưỡng các thể thái âm của mình, và dần dần công việc được hoàn thành. Khi phản chiếu của y, con người, đã đạt đến một điểm tiến hoá mà ở đó y có thể tham thiền và chiêm ngưỡng, thì công việc được gia tốc nhanh hơn, và sự chuyển hoá diễn ra mau lẹ, đặc biệt trên cõi hồng trần. Trong công việc xây dựng hình tư tưởng, con người, trong chiêm ngưỡng, tiếp tục công việc cấp năng lượng và tiếp sinh lực. Ở đây có thể nói rằng mắt là tác nhân chỉ đạo lớn lao. Khi con mắt thứ ba được sử dụng, như trong trường hợp chiêm ngưỡng, nó là yếu tố tổng hợp và chỉ đạo của năng lượng tam phân; do đó mới có công việc đầy quyền năng được thực hiện bởi những ai nơi họ nó đang hoạt động. Con mắt thứ ba chỉ bắt đầu hoạt động khi vòng thứ ba của các cánh hoa chân ngã đang bắt đầu chậm rãi khai mở.

If students will study the effect of the human eye on the physical plane, and then extend the concept to the work of the interior Thinker, as he utilises the third eye, they will get an interesting light upon the subject of thought control. The old Commentary says:

Nếu các đạo sinh nghiên cứu tác động của mắt người trên cõi hồng trần, rồi mở rộng khái niệm ấy đến công việc của Đấng Tư Tưởng bên trong, khi y sử dụng con mắt thứ ba, họ sẽ có được một ánh sáng thú vị về đề tài kiểm soát tư tưởng. Cổ Luận nói:

“When the eye is blind, the forms created revolve in circles and fulfill not the law. When the eye is open, force streams forth, direction is assured, fulfillment is certain, and the plans proceed under law; the eye which is blue in color, and the eye which sees not red, when open, produce that which is intended with great facility.”

“Khi mắt mù, các hình tướng được tạo ra quay vòng tròn và không hoàn thành quy luật. Khi mắt mở, mãnh lực tuôn ra, sự chỉ đạo được bảo đảm, sự hoàn thành là chắc chắn, và các kế hoạch tiến hành dưới quy luật; con mắt có màu xanh lam, và con mắt không thấy màu đỏ, khi mở ra, tạo ra điều được dự định một cách rất dễ dàng.”

The final rule is contained in the words: [Page 1008]

Quy luật cuối cùng được chứa trong những lời: [Page 1008]

RULE VI. The devas of the lower four feel the force when the eye opens; they are driven forth and lose their master.

QUY LUẬT VI. Các thiên thần của bốn cõi thấp cảm nhận được mãnh lực khi con mắt mở ra; họ bị xua đuổi và đánh mất chủ nhân của mình.

The egoic energy, transmitted via the physical brain, is directed now to the work of sending forth the form, so that it may clothe itself in astral matter. The eye of the Thinker opens, and repulsing vitality streams forth. More need not be said here, for until the eye is functioning, it is not possible for men to comprehend the nature of the energy which they will then wield or direct.

Năng lượng chân ngã, được truyền qua bộ não hồng trần, giờ đây được hướng vào công việc phóng hình tướng ra, để nó có thể tự khoác lấy vật chất cảm dục. Mắt của Đấng Tư Tưởng mở ra, và sinh lực đẩy lùi tuôn ra. Không cần nói thêm ở đây, vì cho đến khi mắt hoạt động, con người không thể thấu hiểu bản chất của năng lượng mà khi ấy họ sẽ nắm giữ hay chỉ đạo.

b. Five Rules for the Astral Plane. Before we take up the consideration of the second set of “Rules for Magic,” I would like to make a few remarks anent the “eye of the Magician,” to which reference has been earlier made. One of the fundamental rules back of all magical processes is that no man is a magician or worker in white magic until the third eye is opened, or in process of opening, for it is by means of that eye that the thought form is energised, directed and controlled and the lesser builders or forces are swept into any particular line of activity. Among the coming discoveries, and among the next revelations of materialistic science will be one which will concern itself with the force-directing faculty of the human eye, alone or collectively, and this will indicate one of the first stages towards the rediscovery of the third eye, or the “Eye of Shiva.” Shiva is, as we know, one of the names for the first great logoic aspect, and under that name is hidden much of esoteric moment. Shiva stands for:

b. Năm Quy Luật cho Cõi Cảm Dục. Trước khi chúng ta bắt đầu xem xét bộ thứ hai của “Các Quy Luật Huyền Thuật,” tôi muốn đưa ra vài nhận xét liên quan đến “con mắt của Nhà huyền thuật,” điều đã được nhắc đến trước đây. Một trong những quy luật nền tảng phía sau mọi tiến trình huyền thuật là không ai là nhà huyền thuật hay người hoạt động trong Chánh Thuật cho đến khi con mắt thứ ba được mở ra, hoặc đang trong tiến trình mở ra, vì chính bằng con mắt đó mà hình tư tưởng được cấp năng lượng, chỉ đạo và kiểm soát, và các vị tiểu kiến tạo hay các mãnh lực được cuốn vào bất kỳ đường hoạt động đặc thù nào. Trong số những khám phá sắp đến, và trong số những mặc khải kế tiếp của khoa học duy vật sẽ có một khám phá liên quan đến năng lực chỉ đạo mãnh lực của mắt người, riêng lẻ hay tập thể, và điều này sẽ chỉ ra một trong những giai đoạn đầu tiên hướng đến việc tái khám phá con mắt thứ ba, hay “Con Mắt của Shiva.” Shiva, như chúng ta biết, là một trong những danh xưng của phương diện thượng đế vĩ đại thứ nhất, và dưới danh xưng ấy ẩn giấu nhiều điều có tầm quan trọng huyền bí. Shiva tượng trưng cho:

a. The Will aspect,

a. Phương diện Ý chí,

b. The Spirit aspect,

b. Phương diện Tinh thần,

c. The Father in Heaven,

c. Đức Cha trên Trời,

d. The directing purpose,

d. Mục đích chỉ đạo,

e. Conscious energy,

e. Năng lượng hữu thức,

f. Dynamic intent,

f. Ý định năng động,

[Page 1009] and in the consideration of these phrases the innate faculties of the third eye will become apparent.

[Page 1009] và khi xem xét các cụm từ này, các năng lực bẩm sinh của con mắt thứ ba sẽ trở nên hiển nhiên.

The “Eye of Shiva” in the human being has its position, as is already known, in the centre of the forehead between the two physical eyes. (S. D., I, 77; II, 297,309, 316.)

“Con Mắt của Shiva” trong con người có vị trí của nó, như đã được biết, ở trung tâm trán giữa hai mắt hồng trần. (S. D., I, 77; II, 297,309, 316.)

It is not to be confounded with the pineal gland, which is distinctly a physical centre or gland. The third eye exists in etheric matter, and is an etheric centre of force, being made of the substance of the ethers, whereas the pineal gland is formed of matter of the three lower subplanes of the physical plane. The latter, nevertheless, has to be functioning more or less before the “Eye of Shiva” becomes in any degree active, and it is this fact that has led writers of occult books in the past purposely to confound the two, in order to protect the knowledge.

Không nên nhầm lẫn nó với tuyến tùng quả, vốn rõ ràng là một trung tâm hay tuyến hồng trần. Con mắt thứ ba tồn tại trong vật chất dĩ thái, và là một trung tâm mãnh lực dĩ thái, được tạo thành từ chất liệu của các dĩ thái, trong khi tuyến tùng quả được tạo thành từ vật chất của ba cõi phụ thấp của cõi hồng trần. Tuy nhiên, tuyến sau này ít nhiều phải hoạt động trước khi “Con Mắt của Shiva” trở nên hoạt động ở bất kỳ mức độ nào, và chính sự kiện này đã khiến các tác giả của các sách huyền bí trong quá khứ cố ý làm lẫn lộn hai điều ấy, nhằm bảo vệ tri thức.

The third eye is formed through the activity of three factors:

Con mắt thứ ba được hình thành qua hoạt động của ba yếu tố:

First, through the direct impulse of the Ego on its own plane. During the greater part of evolution the Ego makes its contact with its reflection, physical plane man, through the centre at the top of the head. When man is more highly evolved, and is nearing or treading the Path, the indwelling Self takes a more complete grasp of its lower vehicle, and descends to a point in the head or brain which is found approximately in the centre of the forehead. This is its lowest contact. It is interesting here to note the correspondence with the evolution of the senses. The three major senses and the three first to demonstrate in order are, hearing, touch, sight. For the greater part of evolution, hearing is the guiding impulse of human life through egoic contact with the top of the head. Later, when the Ego descends a little lower, the etheric centre which is active in connection with the pituitary body, is added, and man becomes responsive [Page 1010] to subtler and higher vibrations; the occult correspondence to the physical sense of touch awakens. Finally, the third eye opens and the pineal gland simultaneously begins to function. At first, the sight is dim, and the gland is only partially responsive to vibration, but gradually the eye opens fully, the gland is fully active, and we have the “fully awakened” man. When this is the case, the alta major centre vibrates and then the three physical head centres are functioning.

Thứ nhất, qua xung lực trực tiếp của chân ngã trên cõi riêng của nó. Trong phần lớn tiến trình tiến hoá, chân ngã tiếp xúc với phản chiếu của nó, con người trên cõi hồng trần, qua trung tâm ở đỉnh đầu. Khi con người tiến hóa cao hơn, và đang đến gần hoặc đang bước trên Con Đường, Bản Ngã Cao Siêu nội tại nắm giữ vận cụ thấp của mình một cách trọn vẹn hơn, và hạ xuống một điểm trong đầu hay bộ não được tìm thấy xấp xỉ ở trung tâm trán. Đây là tiếp xúc thấp nhất của nó. Ở đây thật thú vị khi lưu ý sự tương ứng với sự tiến hoá của các giác quan. Ba giác quan chính và là ba giác quan đầu tiên biểu lộ theo thứ tự là thính giác, xúc giác, thị giác. Trong phần lớn tiến trình tiến hoá, thính giác là xung lực chỉ đạo của đời sống con người thông qua tiếp xúc chân ngã với đỉnh đầu. Về sau, khi chân ngã hạ xuống thấp hơn một chút, trung tâm dĩ thái hoạt động liên hệ với tuyến yên được thêm vào, và con người trở nên đáp ứng [Page 1010] với các rung động vi tế và cao hơn; sự tương ứng huyền bí với giác quan hồng trần là xúc giác được đánh thức. Sau cùng, con mắt thứ ba mở ra và tuyến tùng quả đồng thời bắt đầu hoạt động. Lúc đầu, thị giác còn mờ nhạt, và tuyến chỉ đáp ứng một phần với rung động, nhưng dần dần con mắt mở hoàn toàn, tuyến hoạt động đầy đủ, và chúng ta có con người “hoàn toàn thức tỉnh.” Khi điều này xảy ra, trung tâm alta major rung động và khi ấy ba trung tâm đầu hồng trần đều hoạt động.

Second, through the co-ordinated activity of the major head centre, the many petalled lotus above the top of the head. This centre directly affects the pineal gland, and the interplay of force behind the two (the correspondence, on a tiny scale, of the pairs of opposites, spirit and matter), produces the great organ of consciousness, the “Eye of Shiva.” It is the instrument of wisdom, and in these three centres of energy we have the correspondence of the three aspects within the head of man.

Thứ hai, qua hoạt động phối hợp của trung tâm đầu chính, hoa sen nhiều cánh phía trên đỉnh đầu. Trung tâm này trực tiếp tác động đến tuyến tùng quả, và sự tương tác của mãnh lực phía sau cả hai (sự tương ứng, trên quy mô cực nhỏ, của các cặp đối cực, tinh thần và vật chất), tạo ra cơ quan lớn của tâm thức, “Con Mắt của Shiva.” Nó là công cụ của minh triết, và trong ba trung tâm năng lượng này chúng ta có sự tương ứng của ba phương diện bên trong đầu con người.

1.

Major head centre

Will Aspect

Spirit

Father in Heaven

2.

Pineal gland

Love-Wisdom aspect

Consciousness

Son

3.

Third eye

Activity aspect

Matter

Mother