Trích nội dung chương
The third eye is the director of energy or force, and thus an instrument of the will or Spirit; it is responsive only to that will as controlled by the Son-aspect, the revealer of the love-wisdom nature of gods and man, and it is therefore the sign of the white magician. Con mắt thứ ba là tác nhân chỉ đạo năng lượng hay mãnh lực, và do đó là một công cụ của ý chí hay Tinh thần; nó chỉ đáp ứng với ý chí ấy khi được kiểm soát bởi phương diện Con, đấng mặc khải bản chất bác ái-minh triết của các thượng đế và con người, và vì vậy nó là dấu hiệu của nhà huyền thuật chánh đạo.
The third eye is the director of energy or force, and thus an instrument of the will or Spirit; it is responsive only to that will as controlled by the Son-aspect, the revealer of the love-wisdom nature of gods and man, and it is therefore the sign of the white magician.
Con mắt thứ ba là tác nhân chỉ đạo năng lượng hay mãnh lực, và do đó là một công cụ của ý chí hay Tinh thần; nó chỉ đáp ứng với ý chí ấy khi được kiểm soát bởi phương diện Con, đấng mặc khải bản chất bác ái-minh triết của các thượng đế và con người, và vì vậy nó là dấu hiệu của nhà huyền thuật chánh đạo.
Third, the reflex action of the pineal gland itself.
Thứ ba, phản ứng phản chiếu của chính tuyến tùng quả.
As these three types of energy, or the vibration of these three centres, begin to contact each other, a definite interplay is set up. This triple interplay forms in time a vortex or centre of force, which finds its place in the centre of the forehead, and takes eventually the semblance of an eye looking out between the other two. [Page 1011] It is the eye of the inner vision, and he who has opened it can direct and control the energy of matter, see all things in the Eternal Now, and therefore be in touch with causes more than with effects, read the akashic records, and see clairvoyantly. Therefore, its possessor can control the builders of low degree.
Khi ba loại năng lượng này, hay rung động của ba trung tâm này, bắt đầu tiếp xúc nhau, một sự tương tác xác định được thiết lập. Sự tương tác tam phân này theo thời gian hình thành một xoáy hay trung tâm mãnh lực, tìm được vị trí của nó ở trung tâm trán, và cuối cùng mang dáng vẻ của một con mắt nhìn ra giữa hai mắt kia. [Page 1011] Nó là con mắt của linh thị bên trong, và ai đã mở nó ra có thể chỉ đạo và kiểm soát năng lượng của vật chất, thấy mọi sự trong Hiện Tại Vĩnh Cửu, và vì vậy tiếp xúc với nguyên nhân nhiều hơn là với kết quả, đọc được các hồ sơ akasha, và thấy bằng thông nhãn. Do đó, người sở hữu nó có thể kiểm soát các đấng kiến tạo cấp thấp.
The “Eye of Shiva,” when perfected, is blue in colour, and as our solar Logos is the “Blue Logos” so do His children occultly resemble Him; but this colour must be interpreted esoterically. It must be remembered also that prior to the final two Initiations (the sixth and seventh), the eye of the white magician, when developed, will be coloured according to the man’s ray—again esoterically understood. More anent this question of colour may not be communicated. According to the colour, so will be the type of energy manipulated, but here it must be borne in mind that all magicians work with three types of energy:
“Con Mắt của Shiva,” khi hoàn thiện, có màu xanh lam, và cũng như Thái dương Thượng đế của chúng ta là “Thượng đế Xanh Lam” thì con cái của Ngài cũng giống Ngài một cách huyền bí; nhưng màu sắc này phải được giải thích một cách huyền bí. Cũng phải nhớ rằng trước hai lần điểm đạo cuối cùng (thứ sáu và thứ bảy), con mắt của nhà huyền thuật chánh đạo, khi được phát triển, sẽ được tô màu theo cung của con người—một lần nữa phải được hiểu theo nghĩa huyền bí. Không thể truyền đạt thêm gì về vấn đề màu sắc này. Tùy theo màu sắc mà sẽ có loại năng lượng được thao tác, nhưng ở đây phải ghi nhớ rằng mọi nhà huyền thuật đều làm việc với ba loại năng lượng:
a. That which is the same as their own Ray,
a. Loại giống với cung riêng của họ,
b. That which is complementary to their own type of force,
b. Loại bổ sung cho kiểu mãnh lực riêng của họ,
c. Their polar opposite,
c. Đối cực của họ,
and they work, therefore, either along the line of least resistance, or through attraction, and repulsion.
và vì vậy họ làm việc hoặc theo con đường ít trở ngại nhất, hoặc thông qua hấp dẫn và đẩy lùi.
It is through the medium of this “all-seeing eye” that the Adept can at any moment put Himself in touch with His disciples anywhere; that He can communicate with His compeers on the planet, on the polar opposite of our planet, and on the third planet which, with ours, forms a triangle; that He can, through the energy directed from it, control and direct the builders, and hold any thought form He may have created within His sphere of influence, and upon its intended path of service; and that through his eye by means of directed energy currents He can help and stimulate His disciples or groups of men in any place at any time.
Chính qua trung gian của “con mắt thấy mọi sự” này mà chân sư có thể vào bất cứ lúc nào đặt Chính Ngài vào tiếp xúc với các đệ tử của Ngài ở bất cứ nơi đâu; rằng Ngài có thể giao tiếp với các đồng đẳng của Ngài trên hành tinh, trên đối cực của hành tinh chúng ta, và trên hành tinh thứ ba, hành tinh cùng với hành tinh chúng ta tạo thành một tam giác; rằng Ngài có thể, qua năng lượng được chỉ đạo từ đó, kiểm soát và chỉ đạo các đấng kiến tạo, và giữ bất kỳ hình tư tưởng nào Ngài có thể đã tạo ra trong phạm vi ảnh hưởng của Ngài, và trên con đường phụng sự đã được dự định của nó; và rằng qua mắt của Ngài, bằng các dòng năng lượng được chỉ đạo, Ngài có thể giúp đỡ và kích thích các đệ tử của Ngài hay các nhóm người ở bất kỳ nơi nào vào bất kỳ lúc nào.
[Page 1012] The pineal gland is subject to two lines of stimulation: First, that which emanates from the Ego itself via the etheric force centres. This downflow of egoic energy (the result of the awakening of the centres through meditation and spirituality of life), impinges upon the gland and in the course of years gradually increases its secretion, enlarges its form, and starts it into a new cycle of activity.
[Page 1012] Tuyến tùng quả chịu hai đường kích thích: Thứ nhất, đường phát ra từ chính chân ngã qua các trung tâm mãnh lực dĩ thái. Dòng tuôn đổ năng lượng chân ngã này (kết quả của sự thức tỉnh các trung tâm qua tham thiền và đời sống tinh thần), tác động lên tuyến và trong tiến trình nhiều năm dần dần làm tăng sự tiết dịch của nó, làm lớn hình dạng của nó, và khởi động nó vào một chu kỳ hoạt động mới.
The second line of stimulation affecting the pineal gland is that which is the consequence of the discipline of the physical body, and its subjugation to the laws of spiritual unfoldment. As the disciple lives a regulated life, avoids meat, nicotine and alcohol, and practises continence, the pineal gland becomes no longer atrophied, but resumes its earlier activity.
Đường kích thích thứ hai tác động đến tuyến tùng quả là đường là hệ quả của sự kỷ luật thể xác, và sự khuất phục nó trước các định luật của sự khai mở tinh thần. Khi đệ tử sống một đời sống điều độ, tránh thịt, nicotine và rượu, và thực hành tiết dục, tuyến tùng quả không còn bị teo nữa, mà phục hồi hoạt động trước kia của nó.
More cannot here be given but enough has been indicated to give the student food for thought.
Không thể cho thêm ở đây, nhưng như thế đã chỉ ra đủ để đem lại nhiều điều đáng suy ngẫm cho đạo sinh.
In meditation, by the sounding of the word, the student awakens response in the major head centre, causes reciprocal vibration between it and the physical head centre, and gradually co-ordinates the forces in the head. Through the practice of the power of visualisation, the third eye is developed. The forms visualised, and the ideas and abstractions which are, in the process, mentally clothed and vehicled, are pictured a few inches from the third eye. It is the knowledge of this which causes the Eastern yogi to speak of “concentration upon the tip of the nose.” Behind this misleading phrase a great truth is veiled.
Trong tham thiền, bằng việc xướng linh từ, đạo sinh đánh thức sự đáp ứng trong trung tâm đầu chính, gây ra rung động tương hỗ giữa nó và trung tâm đầu hồng trần, và dần dần phối hợp các mãnh lực trong đầu. Qua việc thực hành năng lực hình dung, con mắt thứ ba được phát triển. Các hình tướng được hình dung, và các ý tưởng cùng các trừu tượng đang trong tiến trình được khoác lấy và mang bằng chất liệu trí tuệ, được vẽ nên cách con mắt thứ ba vài inch. Chính tri thức này khiến nhà yogi phương Đông nói đến “sự tập trung vào chóp mũi.” Đằng sau cụm từ gây hiểu lầm này là một chân lý lớn lao được che giấu.
In proceeding with the “Rules for Magic,” we will take up those concerned with the second set, which deal with the form-building impulses, and those attractive tendencies which are the basis of physical plane manifestation. We have considered certain rules which deal with the work of the solar Angel, who (in all true magical work of any kind), is the active agent. We have [Page 1013] considered the rules whereby He constructs a thought form upon the mental plane, or that germ body which will (through accretion and vibratory sound), take to itself other forms.
Khi tiếp tục với “Các Quy Luật Huyền Thuật,” chúng ta sẽ xét đến những quy luật liên quan đến bộ thứ hai, bàn về các xung lực xây dựng hình tướng, và những khuynh hướng hấp dẫn là nền tảng của sự biểu hiện trên cõi hồng trần. Chúng ta đã xem xét một số quy luật liên quan đến công việc của Thái dương Thiên Thần, Đấng (trong mọi công việc huyền thuật chân chính thuộc bất kỳ loại nào) là tác nhân hoạt động. Chúng ta đã [Page 1013] xem xét các quy luật nhờ đó Ngài kiến tạo một hình tư tưởng trên cõi trí, hay thể mầm mống mà (qua sự bồi đắp và âm thanh rung động), sẽ thu hút về mình các hình tướng khác.
RULE VII. The dual forces on the plane whereon the vital power must be sought, are seen; the two paths face the Solar Angel; the poles vibrate. A choice confronts the one who meditates.
QUY LUẬT VII. Các mãnh lực kép của cõi mà trên đó quyền năng thiết yếu phải được tìm kiếm được nhìn thấy; hai con đường đối diện với Thái Dương Thiên Thần; các cực rung động. Một sự lựa chọn đối mặt với người đang tham thiền.
Upon the astral plane the thought form must now function, and a body must be provided so as to make this possible. The energy of desire enters it, and “he who meditates” has to energise the form with one of two types of force before it passes into objectivity. Upon the action taken depends the construction of the etheric body, and the consequent physical manifestation. This point is but little realised by the average thinker, but the parallel with his own life experience is exact, as is the correspondence with the cosmic process. The “nature of the deva” (as it is called), enters in, and upon the quality of its love nature, and the specific type of that which is the object of love will depend the nature of the thought form. If the deva, or solar Angel, is as yet in love with manifestation, and has a desire for objective existence, thus identifying himself voluntarily with substance, there ensues the phenomenon of reincarnated physical life. If the deva, or solar Angel, is no longer attracted by matter, then there is no identification, and objective life is no longer the law of his existence. He identifies himself then with quality, or energy, and becomes an expression of the divine attributes. Objectivity may then ensue as a voluntary offering to the good of the group or planetary existence, but identification with the separated form is no longer the case. The human vehicle then created is as much a thought form in this case as any other particularised idea, and [Page 1014] the greatest act of conscious magic is to be seen. All other magical creations are subsidiary to this. Through manipulation of negative and positive energy, thus bringing them to the point of equilibrium before informing them, the perfected body of the Adept is formed. All magical work on the astral plane has to be along the line of equilibrising activity, and the distinctive nature of this type of work on the three planes in the three worlds might be summed up as follows:
Trên cõi cảm dục, hình tư tưởng giờ đây phải hoạt động, và một thể phải được cung cấp để làm cho điều này thành khả hữu. Năng lượng của dục vọng đi vào nó, và “người hành thiền” phải cấp năng lượng cho hình tướng bằng một trong hai loại mãnh lực trước khi nó đi vào tính khách quan. Tùy theo hành động được thực hiện mà việc kiến tạo thể dĩ thái, và sự biểu hiện hồng trần hệ quả, sẽ được quyết định. Điểm này ít được người tư tưởng trung bình nhận ra, nhưng sự tương đồng với kinh nghiệm sống riêng của y là chính xác, cũng như sự tương ứng với tiến trình vũ trụ. “Bản chất của thiên thần” (như được gọi) đi vào, và tùy theo phẩm tính của bản chất bác ái của nó, và loại đặc thù của điều là đối tượng của tình thương mà bản chất của hình tư tưởng sẽ được quyết định. Nếu thiên thần, hay Thái dương Thiên Thần, vẫn còn yêu thích biểu hiện, và có dục vọng đối với sự tồn tại khách quan, do đó tự nguyện đồng hoá với chất liệu, thì hiện tượng đời sống hồng trần tái sinh sẽ xảy ra. Nếu thiên thần, hay Thái dương Thiên Thần, không còn bị vật chất hấp dẫn nữa, thì không có sự đồng hoá, và đời sống khách quan không còn là định luật của sự tồn tại của y nữa. Khi ấy y đồng hoá với phẩm tính, hay năng lượng, và trở thành một biểu hiện của các thuộc tính thiêng liêng. Tính khách quan khi ấy có thể xảy ra như một sự hiến dâng tự nguyện cho thiện ích của sự tồn tại nhóm hay hành tinh, nhưng sự đồng hoá với hình tướng tách biệt không còn nữa. Vận cụ nhân loại khi ấy được tạo ra trong trường hợp này cũng là một hình tư tưởng nhiều như bất kỳ ý tưởng biệt hóa nào khác, và [Page 1014] hành động huyền thuật hữu thức vĩ đại nhất được thấy ở đây. Mọi sáng tạo huyền thuật khác đều phụ thuộc vào điều này. Qua việc thao tác năng lượng âm và dương, nhờ đó đưa chúng đến điểm quân bình trước khi phú linh cho chúng, thể hoàn hảo của chân sư được hình thành. Mọi công việc huyền thuật trên cõi cảm dục đều phải theo đường hoạt động quân bình hóa, và bản chất đặc thù của loại công việc này trên ba cõi trong ba cõi giới có thể được tóm lược như sau:
On the mental plane, the positive force of the solar Angel drives the substance needed into the correct form.
Trên cõi trí, mãnh lực dương của Thái dương Thiên Thần đẩy chất liệu cần thiết vào đúng hình tướng.
On the astral plane, the equilibrising force of the solar Angel gathers the needed material and energy from all directions and builds it into the necessary astral sheath.
Trên cõi cảm dục, mãnh lực quân bình hóa của Thái dương Thiên Thần tập hợp chất liệu và năng lượng cần thiết từ mọi hướng và xây dựng chúng thành lớp vỏ cảm dục cần thiết.
On the physical plane the negative force of the solar Angel is all that is needed to gather the desired etheric substance. By this I mean the form has now achieved a vitality and distinction of its own, so that no aggressive action emanating from the egoic centre is required to continue the work. The note and vibration of the form itself suffices.
Trên cõi hồng trần mãnh lực âm của Thái dương Thiên Thần là tất cả những gì cần thiết để tập hợp chất liệu dĩ thái mong muốn. Bởi điều này tôi muốn nói rằng hình tướng giờ đây đã đạt được một sinh lực và một tính phân biệt riêng của nó, đến mức không cần hành động xung kích nào phát ra từ trung tâm chân ngã để tiếp tục công việc. Chính âm điệu và rung động của bản thân hình tướng là đủ.
RULE VIII. The Agnisuryans respond to the sound. The waters ebb and flow. Let the magician guard himself from drowning at the point where land and water meet. The midway spot which is neither dry nor wet must provide the standing place whereon his feet are set. When water, land and air meet there is the place for magic to be wrought.
QUY LUẬT VIII. Các Agnisuryans đáp ứng với âm thanh. Các vùng nước lên xuống và chảy. Hãy để nhà huyền thuật tự bảo vệ mình khỏi chết đắm tại điểm nơi đất và nước gặp nhau. Nơi ở giữa, không khô cũng không ướt, phải cung cấp vị trí đứng mà trên đó y phải đặt bàn chân. Khi nước, đất và không khí gặp nhau, đó là nơi để huyền thuật được thực hiện.
It will be noted that in this rule, no mention is made of the fourth element, fire. The reason for this is that the magician has to accomplish the stupendous task of generating the needed fire at this triple “meeting place.” This is one of the most occult and most puzzling of the [Page 1015] rules. Some light is thrown on it by the following three sentences from the old Commentary:
Cần lưu ý rằng trong quy luật này không có sự nhắc đến nguyên tố thứ tư, lửa. Lý do là nhà huyền thuật phải hoàn thành nhiệm vụ phi thường là tạo ra ngọn lửa cần thiết tại “điểm gặp gỡ” tam phân này. Đây là một trong những quy luật huyền bí nhất và khó hiểu nhất. [Page 1015] Một số ánh sáng được soi rọi lên nó bởi ba câu sau đây từ Cổ Luận:
“When the fire is drawn from the inmost point within the heart the waters suffice not to subdue it. Like a stream of flame it issues forth, and traverses the waters, which disappear before it. Thus the goal is found.”
“Khi lửa được rút ra từ điểm sâu kín nhất trong tim, các nước không đủ sức khuất phục nó. Như một dòng lửa nó tuôn ra, và băng qua các nước, là những thứ biến mất trước nó. Như thế mục tiêu được tìm thấy.”
“When the fire descends from the One Who watches above, the wind suffices not to blow it out. The very winds protect, shield and aid the work, guiding the falling fire unto the point of entrance.”
“Khi lửa giáng xuống từ Đấng đang quan sát ở trên cao, gió không đủ sức thổi tắt nó. Chính các luồng gió bảo vệ, che chở và trợ giúp công việc, hướng dẫn ngọn lửa đang rơi đến điểm đi vào.”
“When the fire emanates from the mouth of the one who thinks and sees, then the earth sufficeth not to hide or kill the flame. It feeds the flame, causing a growth and magnitude of fire which reaches to the narrow door of entrance.”
“Khi lửa phát ra từ miệng của kẻ tư tưởng và thấy, thì đất không đủ sức che giấu hay giết chết ngọn lửa. Nó nuôi ngọn lửa, gây nên sự tăng trưởng và cường độ của lửa, thứ vươn tới cánh cửa hẹp của lối vào.”
Under this symbology much is hidden anent the life-giving energy, the centres symbolised to focalise it, and to drive it forth, and the place the various types of receptive matter play in the magical work. As is ever the case in all white magic, the activity of the solar Angel is the primary factor and the work of the man upon the physical plane is regarded as secondary; his physical body, and the work engendered therein, being frequently referred to as “fuel and its warmth.” This needs careful remembering, and will give the clue to the necessity of egoic alignment, and to the problem of the extinction of certain workers in magic, who were “destroyed by their own fire” or energy. The discreet magician is one who sees to the readiness of his lowest vehicle to carry the fire wherewith he works, and this he accomplishes through discipline and strict purity.
Dưới biểu tượng học này ẩn giấu nhiều điều liên quan đến năng lượng ban sự sống, các trung tâm được tượng trưng để tập trung nó và phóng nó ra, và vai trò mà các loại vật chất tiếp nhận khác nhau đảm nhiệm trong công việc huyền thuật. Như luôn luôn là trường hợp trong mọi Chánh Thuật, hoạt động của Thái dương Thiên Thần là yếu tố chính yếu và công việc của con người trên cõi hồng trần được xem là thứ yếu; thể xác của y, và công việc được tạo ra trong đó, thường được gọi là “nhiên liệu và hơi ấm của nó.” Điều này cần được ghi nhớ cẩn thận, và sẽ cho manh mối về sự cần thiết của chỉnh hợp chân ngã, và về vấn đề sự dập tắt của một số người hoạt động trong huyền thuật, những kẻ đã “bị hủy diệt bởi chính lửa” hay năng lượng của mình. Nhà huyền thuật thận trọng là người bảo đảm vận cụ thấp nhất của mình sẵn sàng mang ngọn lửa mà y làm việc cùng, và điều này y hoàn thành qua kỷ luật và sự thanh khiết nghiêm ngặt.
The magician guards himself from “drowning” or from coming under the influence of the water or astral elementals, through a knowledge of certain formulas, and until these sounds and mantrams are imparted and known, it is not safe for the man on the physical plane to attempt magical creation. These formulas are three in number: [Page 1016]
Nhà huyền thuật tự bảo vệ mình khỏi “chết đuối” hay khỏi rơi vào ảnh hưởng của các hành khí nước hay cảm dục, qua sự hiểu biết về một số công thức nhất định, và cho đến khi các âm thanh và mantram này được truyền dạy và được biết đến, thì con người trên cõi hồng trần không an toàn để thử sáng tạo huyền thuật. Các công thức này có ba loại: [Page 1016]
First, those which blend the two notes, add a third, and thus call into activity the builders of the astral plane, the Agnisuryans, in some one or other of their grades. These are based on the initiatory sound of the Ego, and distinguish between it and the sound of the note of the builders and lives of the tiny thought form already formed. The formula is chanted on a basis of these three notes, variation of tone and note, though not of formula, producing the types of forms.
Thứ nhất, những công thức hòa trộn hai âm điệu, thêm một âm thứ ba, và nhờ đó gọi vào hoạt động các đấng kiến tạo của cõi cảm dục, các Agnisuryan, trong một cấp độ nào đó của chúng. Chúng dựa trên âm thanh điểm đạo của chân ngã, và phân biệt giữa nó với âm thanh của âm điệu của các đấng kiến tạo và các sự sống của hình tư tưởng nhỏ bé đã được tạo thành. Công thức được tụng trên nền tảng của ba âm điệu này, sự biến đổi về thanh và âm điệu, dù không phải về công thức, tạo ra các loại hình tướng.
Second, those which are of a purely protective nature, and which, through a knowledge of the laws of sound as they are known in connection with water (or the astral plane), place a vacuum between the magician and the waters, as well as between him and his creation. This formula is based on the sounds connected with air as for it is through placing around himself a protecting shell of air atoms, esoterically understood, that the magician guards himself from the approach of the water builders.
Thứ hai, những công thức có bản chất thuần túy bảo vệ, và nhờ sự hiểu biết về các định luật của âm thanh như chúng được biết trong liên hệ với nước (hay cõi cảm dục), đặt một khoảng chân không giữa nhà huyền thuật và các nước, cũng như giữa y và sáng tạo của y. Công thức này dựa trên các âm thanh liên hệ với khí vì chính qua việc đặt quanh mình một vỏ bảo vệ bằng các nguyên tử khí, được hiểu theo nghĩa huyền bí, mà nhà huyền thuật tự bảo vệ mình khỏi sự tiếp cận của các đấng kiến tạo nước.
Third, those which, when sounded, produce two results: the sending forth of the perfected creation, so that it may take to itself a physical body, and next, the dispersal of the building forces, now that their work is completed.
Thứ ba, những công thức mà khi được xướng lên sẽ tạo ra hai kết quả: phóng sáng tạo đã hoàn thiện ra ngoài, để nó có thể thu hút lấy cho mình một thể hồng trần, và kế đó là làm phân tán các mãnh lực kiến tạo, giờ đây công việc của chúng đã hoàn tất.
This last set of formulas is of exceeding interest, and were they not so powerful the magician might find himself cumbered with the produce of his thought, and the prey of a vital form, and of certain “devas of the waters” who would never leave him until they had completely drained from him all the “waters of his nature,” absorbing it into their own nature, and producing his astral death. The curious phenomenon would then be seen of the Ego or solar Angel being incarnated in the mental sheath, yet separated from the physical body, owing to the occult “drowning” of the magician. There is nothing left for the Ego to do then but to snap the sutratma [Page 1017] or thread, and sever all connection with the lowest sheath. This lowest sheath then may persist for a short time, according to the strength of the animal life, but more probably death would immediately ensue. (304) Several magicians have perished thus.
Bộ công thức cuối cùng này cực kỳ đáng quan tâm, và nếu chúng không mạnh mẽ đến thế thì nhà huyền thuật có thể thấy mình bị vướng bận bởi sản phẩm của tư tưởng mình, và trở thành con mồi của một hình tướng đầy sinh lực, cùng của một số “thiên thần của các nước” sẽ không bao giờ rời y cho đến khi chúng đã hoàn toàn rút cạn khỏi y mọi “nước của bản chất y,” hấp thụ nó vào bản chất riêng của chúng, và gây ra cái chết cảm dục của y. Khi ấy sẽ thấy hiện tượng kỳ lạ là chân ngã hay Thái dương Thiên Thần nhập thể trong lớp vỏ trí tuệ, nhưng lại bị tách khỏi thể xác, do sự “chết đuối” huyền bí của nhà huyền thuật. Khi đó không còn gì cho chân ngã làm ngoài việc cắt đứt sutratma [Page 1017] hay sợi dây, và đoạn tuyệt mọi liên hệ với lớp vỏ thấp nhất. Lớp vỏ thấp nhất này khi ấy có thể tồn tại trong một thời gian ngắn, tùy theo sức mạnh của sự sống động vật, nhưng có lẽ cái chết sẽ xảy ra ngay lập tức. (304) Một số nhà huyền thuật đã chết như thế.
(304) The courses open to the Divine Ego after separation are two.—S. D., III, 524.
(304) Có hai con đường mở ra cho Chân ngã thiêng liêng sau khi tách rời.—S. D., III, 524.
a. It can start a fresh series of incarnations.
a. Nó có thể bắt đầu một chuỗi lâm phàm mới.
b. It can return to the ‘bosom of the Father’ and be gathered back to the Monad.
b. Nó có thể trở về “lòng Cha” và được thu hồi về chân thần.
Two courses are open to the lower discarded self.—S. D., III, 525, 527.
Có hai con đường mở ra cho bản ngã thấp bị loại bỏ.—S. D., III, 525, 527.
a. If with a physical body it becomes a soulless man. In this case there is hope.
a. Nếu có thể xác, nó trở thành một con người vô hồn. Trong trường hợp này vẫn còn hy vọng.
b. If without a physical body it becomes a spook, or one form of the Dweller on the Threshold. (back)
b. Nếu không có thể xác, nó trở thành một ma ảnh, hay một dạng của Kẻ Chận Ngõ. (back)
RULE IX. Condensation next ensues. The fire and waters meet, the form swells and grows. Let the magician set his form upon the proper path.
QUY LUẬT IX. Sự ngưng tụ tiếp theo xảy ra. Lửa và nước gặp nhau, hình tướng phồng lên và tăng trưởng. Hãy để nhà huyền thuật đặt hình tướng của mình trên con đường thích hợp.
This rule is very briefly summed up in the injunction: Let desire and mind be so pure and so equally apportioned and the created form so justly balanced that it cannot be attracted towards the destructive or “left-hand” path.
Quy luật này được tóm lược rất ngắn gọn trong lời huấn thị: Hãy để dục vọng và trí tuệ tinh khiết đến thế và được phân phối đồng đều đến thế, và hình tướng được tạo ra được quân bình công chính đến thế, để nó không thể bị lôi kéo về phía con đường hủy diệt hay “tả đạo.”
RULE X. As the waters bathe the form created, they are absorbed and used. The form increases in its strength; let the magician thus continue until the work suffices. Let the outer builders cease their labors then, and let the inner workers enter on their cycle.
QUY LUẬT X. Khi các vùng nước tắm rửa hình tướng được tạo ra, chúng được hấp thụ và sử dụng. Hình tướng tăng lên về sức mạnh của nó; hãy để nhà huyền thuật tiếp tục cho đến khi công việc đã đủ. Khi đó, hãy để các đấng kiến tạo bên ngoài ngừng các công việc của họ, và hãy để các công nhân bên trong bước vào chu kỳ của họ.
One of the fundamental concepts which is grasped by all magical workers, is that both will and desire are force emanations. They differ in quality and vibration, but are essentially currents of energy, one forming an initial vortex or centre of activity, being centrifugal, and the other being centripetal, and the main factor in the accretion of matter into a form around the central vortex. This can be seen demonstrating in an interesting way in the case of the egoic lotus, where we have the will aspect forming the “jewel in the lotus,” or the inner [Page 1018] centre of electrical energy, and the desire or love aspect forming the egoic lotus itself, or the form which hides the centre. The analogy in all form building holds good for gods, men and atoms. The solar system is (from the higher cosmic planes), seen as a vast blue lotus, and so on down the scale; even the tiny atom of substance can be so considered. The distinction between these various lotuses exists in the number and arrangement of the petals. The solar system is literally a twelve-petalled lotus, each petal being formed of forty-nine lesser petals. The planetary lotuses differ in each scheme, and one of the secrets of initiation is revealed when the number of the petals of
Một trong những khái niệm nền tảng được mọi người hoạt động huyền thuật nắm bắt là cả ý chí lẫn dục vọng đều là những sự phát xạ của mãnh lực. Chúng khác nhau về phẩm tính và rung động, nhưng về bản chất đều là những dòng năng lượng, một dòng tạo thành một xoáy ban đầu hay một trung tâm hoạt động, có tính ly tâm, còn dòng kia có tính hướng tâm, và là yếu tố chính trong sự bồi tụ vật chất thành một hình tướng quanh xoáy trung tâm. Điều này có thể được thấy biểu lộ một cách thú vị trong trường hợp của Hoa Sen Chân Ngã, nơi chúng ta có phương diện ý chí tạo thành “ngọc trong hoa sen,” hay trung tâm bên trong của năng lượng điện [Page 1018], còn phương diện dục vọng hay bác ái tạo thành chính Hoa Sen Chân Ngã, hay hình tướng che giấu trung tâm. Sự tương đồng trong mọi công cuộc xây dựng hình tướng đều đúng cho các vị thần, những người nam và nữ, và các nguyên tử. Hệ mặt trời được nhìn thấy (từ các cõi vũ trụ cao hơn) như một hoa sen xanh bao la, và cứ thế đi xuống theo thang bậc; ngay cả nguyên tử nhỏ bé của chất liệu cũng có thể được xem như vậy. Sự khác biệt giữa các hoa sen này nằm ở số lượng và sự sắp xếp của các cánh hoa. Hệ mặt trời theo nghĩa đen là một hoa sen mười hai cánh, mỗi cánh được tạo thành từ bốn mươi chín cánh nhỏ hơn. Các hoa sen hành tinh khác nhau trong mỗi hệ hành tinh, và một trong những bí mật của điểm đạo được tiết lộ khi số lượng cánh hoa của
a. Our earth planet,
a. hành tinh Trái Đất của chúng ta,
b. Our planetary polar opposite,
b. hành tinh đối cực của hành tinh chúng ta,
c. Our complementary or equilibrising planet,
c. hành tinh bổ sung hay quân bình của chúng ta,
is committed to the initiate. Armed with this knowledge, he can then work out certain formulas of magic which enable him to create in the three spheres. It is the same basic concept which governs thought form building, and which enables a magician of white magic to produce objective phenomena on the physical plane. He works with the two types of energy, will and desire, and their equilibrising is what leads to the balancing of the pairs of opposites, and the subsequent release of energy-substance in the formation of the physical plane structure. The magician has to know the following facts:
được trao cho điểm đạo đồ. Được trang bị bằng tri thức này, y khi đó có thể suy ra một số công thức huyền thuật giúp y sáng tạo trong ba khối cầu. Chính cùng khái niệm căn bản ấy chi phối việc xây dựng Hình tư tưởng, và giúp một nhà huyền thuật chánh đạo tạo ra các hiện tượng khách quan trên cõi hồng trần. Y làm việc với hai loại năng lượng, ý chí và dục vọng, và sự quân bình của chúng dẫn đến việc cân bằng các cặp đối cực, và sau đó giải phóng năng lượng-chất liệu trong việc hình thành cấu trúc cõi hồng trần. Nhà huyền thuật phải biết các sự kiện sau đây:
The formulas for the two aspects of logoic energy, will and desire. This is literally apprehension of the note and formula of the Brahma or substance aspect, and the note and formula of the Vishnu, or building aspect. One he ascertains because he has mastered matter; the other is revealed to him when he has achieved group consciousness.
Các công thức cho hai phương diện của năng lượng logoi, ý chí và dục vọng. Điều này theo nghĩa đen là sự lĩnh hội âm điệu và công thức của phương diện Brahma hay chất liệu, và âm điệu cùng công thức của phương diện Vishnu, hay phương diện kiến tạo. Một điều y xác định được vì y đã làm chủ vật chất; điều kia được tiết lộ cho y khi y đã đạt được tâm thức nhóm.
[Page 1019] The formula for the particular type of energy substance which he is seeking to employ. This will have relation to that particular petal in the solar lotus from which the desired force emanates.
[Page 1019] Công thức cho loại chất liệu năng lượng đặc thù mà y đang tìm cách sử dụng. Điều này sẽ liên hệ đến cánh hoa đặc thù trong hoa sen thái dương mà từ đó mãnh lực mong muốn phát ra.
The formula for the particular type of energy which is transmitted to him via one or other of the three circles of petals in his own egoic lotus.
Công thức cho loại năng lượng đặc thù được truyền đến cho y qua một trong ba vòng cánh hoa trong Hoa Sen Chân Ngã của chính y.
The formula for the particular petal in a circle of petals with which he may choose to work. All these concern primarily the will aspect, as far as the thought form to be produced is concerned, for the magician is the will, or purpose, or spirit behind the objective phenomenon which he is in process of producing.
Công thức cho cánh hoa đặc thù trong một vòng cánh hoa mà y có thể chọn để làm việc. Tất cả những điều này chủ yếu liên quan đến phương diện ý chí, xét theo Hình tư tưởng sẽ được tạo ra, vì nhà huyền thuật là ý chí, hay mục đích, hay tinh thần đứng sau hiện tượng khách quan mà y đang trong tiến trình tạo ra.
The formula which sweeps into activity (and thus produces a form), those Agnisuryans who are energised by any particular aspect of solar force. Where the two forces are brought into contact, the form is produced, or the third energy centre appears or manifests:
Công thức quét vào hoạt động (và do đó tạo ra một hình tướng) những Agnisuryan được tiếp năng lượng bởi bất kỳ phương diện đặc thù nào của mãnh lực thái dương. Nơi hai mãnh lực được đưa vào tiếp xúc, hình tướng được tạo ra, hay trung tâm năng lượng thứ ba xuất hiện hay biểu lộ:
a. The energy of the will aspect.
a. Năng lượng của phương diện ý chí.
b. The energy of the desire or love aspect.
b. Năng lượng của phương diện dục vọng hay bác ái.
c. The energy of the consequent thought form.
c. Năng lượng của Hình tư tưởng hệ quả.
There is no contradiction here to the occult teaching that Father and Mother, or Spirit and Matter, when brought into contact, produce the Son. The difficulty which students have to surmount consists in the true interpretation of the three terms: Mother—Matter—Moisture (or the waters).
Ở đây không có mâu thuẫn nào với giáo huấn huyền bí rằng Cha và Mẹ, hay Tinh thần và Vật chất, khi được đưa vào tiếp xúc, tạo ra Người Con. Khó khăn mà các đạo sinh phải vượt qua nằm ở sự diễn giải đúng đắn ba thuật ngữ: Mẹ—Vật chất—Ẩm tính (hay các nước).
In creation, the three vibratory spheres:
Trong sáng tạo, ba khối cầu rung động:
1.
The dense physical
Mother
Matter,
2.
The etheric
Matter
Holy Spirit,
3.
The astral
Moisture
Water,
work as a unit, and in the occult teaching, during the earlier stages of creation, must not be separated or distinguished apart. On the path of involution, if the subject may be approached from a different angle, and thus [Page 1020] somewhat clarify, distinctions are made, and on the path of evolution, or of return, they are, as we well know, surmounted; on the middle point of equilibrium, as on our globe, for instance, confusion ensues in the mind of the student owing to the occult fact that the various formulas are being employed simultaneously, the thought-forms are at all stages of construction, and the ensuing chaos is terrible.
hoạt động như một đơn vị, và trong giáo huấn huyền bí, trong các giai đoạn đầu của sáng tạo, không được tách rời hay phân biệt riêng ra. Trên con đường giáng hạ tiến hoá, nếu chủ đề có thể được tiếp cận từ một góc độ khác, và nhờ đó [Page 1020] làm sáng tỏ phần nào, thì có những sự phân biệt được tạo ra, còn trên con đường tiến hoá, hay Con Đường Trở Về, như chúng ta đều biết rõ, chúng được vượt qua; tại điểm giữa của sự quân bình, chẳng hạn như trên bầu hành tinh của chúng ta, sự lẫn lộn nảy sinh trong trí tuệ của đạo sinh do sự kiện huyền bí rằng các công thức khác nhau đang được sử dụng đồng thời, các Hình tư tưởng đang ở mọi giai đoạn kiến tạo, và sự hỗn loạn phát sinh thật khủng khiếp.
The rule which we are commenting upon may be interpreted as stating that in the magical work, the energy of the waters becomes paramount, and desire for the form and the fulfilment of its objective increases. This takes place after the will energy has formed the central nucleus by being brought into contact with the desire force. The magician, through desire (or strong motive), increases the vitality of the form until it is so powerful and intense in its own separated life that it is ready to go forth on its mission upon the physical plane. The building devas who have been impelled to construct the form out of the myriads of elemental lives available, have completed their work, and now cease from constructing; this particular type of energy no longer drives the lesser lives in any specific direction, and the final cycle of work upon the astral plane is entered upon. This is summed up in the next rule.
Quy luật mà chúng ta đang bình giải có thể được diễn giải là nói rằng trong công việc huyền thuật, năng lượng của các nước trở nên tối quan trọng, và dục vọng đối với hình tướng cùng sự hoàn thành mục tiêu của nó gia tăng. Điều này diễn ra sau khi năng lượng ý chí đã tạo thành hạt nhân trung tâm bằng cách được đưa vào tiếp xúc với mãnh lực dục vọng. Nhà huyền thuật, thông qua dục vọng (hay động cơ mạnh mẽ), gia tăng sinh lực của hình tướng cho đến khi nó trở nên mạnh mẽ và mãnh liệt đến mức, trong sự sống biệt lập riêng của nó, nó sẵn sàng đi ra thực hiện sứ mệnh của mình trên cõi hồng trần. Các thiên thần kiến tạo đã được thúc đẩy xây dựng hình tướng từ vô số sự sống hành khí sẵn có, nay đã hoàn tất công việc của mình, và giờ đây ngừng việc kiến tạo; loại năng lượng đặc thù này không còn thúc đẩy các sự sống nhỏ bé theo bất kỳ hướng đặc biệt nào nữa, và chu kỳ công việc cuối cùng trên cõi cảm dục được bước vào. Điều này được tóm lược trong quy luật kế tiếp.
RULE XI. Three things the worker with the law must now accomplish. First, ascertain the formula which will confine the lives within the ensphering wall; next, pronounce the words which will tell them what to do and where to carry that which has been made; and finally, to utter forth the mystic phrase which will save him from their work.
QUY LUẬT XI. Ba điều người làm việc với định luật bây giờ phải hoàn thành. Trước hết, xác định công thức sẽ giới hạn các sự sống trong bức tường bao quanh; tiếp theo, xướng các từ ngữ sẽ nói cho chúng biết phải làm gì và mang cái gì đã được tạo ra đến đâu; và cuối cùng, thốt ra cụm từ thần bí sẽ cứu y khỏi công việc của chúng.
The embodied idea has now form and shape upon the astral plane; but all is as yet in a state of flux, and the lives are only held in place through the fixed attention [Page 1021] of the magician, working through the greater builders. He must, through knowledge of certain magical phrases, make the work more permanent and independent and fix the place of the vitalising elements within the form, and give them an impetus that will result in more settled concretion. Having accomplished that, he becomes, if it might so be expressed, an agent of Karma, and sends forth the dual thought form (clothed in mental and astral matter), to fulfil its mission, whatever that may be. Finally, he has to take steps to protect himself from the attractive forces of his own nature, which might eventuate in his holding the thought form so closely within the radius of his own influence that it would be rendered useless, its own inherent energy neutralised, and its purpose negated.
Ý tưởng đã nhập thể giờ đây đã có hình dạng và hình tướng trên cõi cảm dục; nhưng mọi sự vẫn còn ở trong trạng thái lưu động, và các sự sống chỉ được giữ tại chỗ nhờ sự chú tâm cố định [Page 1021] của nhà huyền thuật, hoạt động thông qua các đấng đại kiến tạo. Y phải, thông qua tri thức về một số cụm từ huyền thuật, làm cho công việc trở nên bền vững và độc lập hơn, cố định vị trí của các yếu tố tiếp sinh lực bên trong hình tướng, và ban cho chúng một xung lực sẽ dẫn đến sự kết tụ ổn định hơn. Sau khi hoàn thành điều đó, y trở thành, nếu có thể nói như vậy, một tác nhân của nghiệp quả, và phóng ra Hình tư tưởng nhị phân (được khoác bằng vật chất trí tuệ và cảm dục), để hoàn thành sứ mệnh của nó, dù sứ mệnh ấy là gì. Sau cùng, y phải thực hiện các bước để tự bảo vệ mình khỏi các mãnh lực hấp dẫn của chính bản chất mình, những mãnh lực có thể dẫn đến việc y giữ Hình tư tưởng quá chặt trong bán kính ảnh hưởng của chính mình đến nỗi nó trở nên vô dụng, năng lượng cố hữu của nó bị trung hoà, và mục đích của nó bị phủ định.
They might also produce such a powerful, attractive force that he would draw the form so closely to himself that he would be forced to absorb it. This can be harmlessly accomplished by the man who knows how, but results, nevertheless, in a waste of energy which is forbidden under the Law of Economy. With the majority of men, who are oft unconscious magicians, many thought forms are malicious or destructive, and react back upon their creators in a disastrous manner.
Chúng cũng có thể tạo ra một mãnh lực hấp dẫn mạnh đến mức y sẽ kéo hình tướng lại quá gần mình đến nỗi y buộc phải hấp thụ nó. Điều này có thể được thực hiện một cách vô tổn hại bởi người biết cách, nhưng dù sao vẫn dẫn đến sự lãng phí năng lượng, điều bị cấm theo Định luật Tiết Kiệm. Với đa số những người nam và nữ, vốn thường là các nhà huyền thuật vô thức, nhiều Hình tư tưởng mang ác ý hay có tính phá hoại, và phản tác động trở lại lên những người tạo ra chúng theo một cách tai hại.
c. Four Rules for the Physical Plane. In the magical work of form creation, we have carried the thought form down from the mental plane where the solar Angel initiated the work, through the astral, where the equilibrising work was done, to the physical plane, or to the etheric levels. Here the work of producing objectivity is carried forward, and here the worker in magic is in critical danger of failure should he not be cognisant of the forms and mantrams by which the new group of builders can be reached, and the gap between the astral plane and the gaseous subplane of the physical be bridged. It might be useful here to remember that in the work of creation [Page 1022] the white magician avails himself of the current Ray influence. When the third, fifth and seventh rays are in power, either coming in, at full meridian, or passing out, the work is much easier than when the second, sixth or fourth are dominant. At the present time, the seventh Ray, as we know, is rapidly dominating, and it is one of the easiest of the forces with which man has to work. Under this Ray it will be possible to build a new structure for the rapidly decaying civilisation, and to erect the new temple desired for the religious impulse. Under its influence the work of the numerous unconscious magicians will be much facilitated. This will eventuate in the rapid growth of unconscious psychic phenomena, in the spread of mental science, and the consequent ability of thinkers to acquire and to create those tangible benefits they desire. Nevertheless, this magic of the unconscious or selfish kind leads to karmic results of a deplorable nature, for only those who work with the law and who control the lesser lives through knowledge, love and will, evade the consequences entailed on those who manipulate living matter for selfish ends.
c. Bốn Quy Luật cho Cõi Hồng Trần. Trong công việc huyền thuật của sự sáng tạo hình tướng, chúng ta đã đưa Hình tư tưởng đi xuống từ cõi trí, nơi Thái dương Thiên Thần khởi xướng công việc, qua cõi cảm dục, nơi công việc quân bình được thực hiện, đến cõi hồng trần, hay đến các cấp độ dĩ thái. Tại đây công việc tạo ra tính khách quan được tiếp tục, và tại đây người hoạt động trong huyền thuật ở trong mối nguy hiểm nghiêm trọng có thể thất bại nếu y không nhận biết các hình tướng và các mantram nhờ đó nhóm kiến tạo mới có thể được tiếp cận, và khoảng cách giữa cõi cảm dục với cõi phụ khí thể của cõi hồng trần có thể được bắt cầu. Ở đây, có lẽ sẽ hữu ích nếu nhớ rằng trong công việc sáng tạo [Page 1022] nhà huyền thuật chánh đạo tận dụng ảnh hưởng của cung hiện hành. Khi các cung ba, năm và bảy đang có quyền lực, dù đang đi vào, ở đỉnh cực thịnh, hay đang đi ra, công việc dễ dàng hơn nhiều so với khi cung hai, sáu hay bốn chiếm ưu thế. Hiện nay, như chúng ta biết, cung bảy đang nhanh chóng chiếm ưu thế, và đó là một trong những mãnh lực dễ làm việc nhất đối với con người. Dưới cung này, sẽ có thể xây dựng một cấu trúc mới cho nền văn minh đang nhanh chóng suy tàn, và dựng nên ngôi đền mới mà xung lực tôn giáo mong muốn. Dưới ảnh hưởng của nó, công việc của vô số nhà huyền thuật vô thức sẽ được tạo điều kiện rất nhiều. Điều này sẽ dẫn đến sự tăng trưởng nhanh chóng của các hiện tượng thông linh vô thức, sự lan rộng của khoa học trí tuệ, và khả năng hệ quả của các nhà tư tưởng trong việc đạt được và tạo ra những lợi ích hữu hình mà họ mong muốn. Tuy nhiên, loại huyền thuật vô thức hay ích kỷ này dẫn đến những kết quả nghiệp quả đáng buồn, vì chỉ những ai làm việc với định luật và kiểm soát các sự sống nhỏ bé bằng tri thức, bác ái và ý chí mới tránh được các hậu quả giáng xuống trên những kẻ thao túng vật chất sống vì những mục đích ích kỷ.
The white magician utilises solar forces. As the planet passes around the sun different types of solar energy are contacted, and expert knowledge is required to utilise the influences in due time, and to have the form so constituted that it can respond at the needed hour to the differentiated energy.
Nhà huyền thuật chánh đạo sử dụng các mãnh lực thái dương. Khi hành tinh chuyển động quanh mặt trời, các loại năng lượng thái dương khác nhau được tiếp xúc, và cần có tri thức chuyên môn để sử dụng các ảnh hưởng đúng lúc, cũng như làm cho hình tướng được cấu tạo sao cho nó có thể đáp ứng vào giờ cần thiết với năng lượng đã được biến phân.
He manipulates planetary force of a triple nature:
Y thao túng mãnh lực hành tinh có bản chất tam phân:
a. That which is the product of his own planet, and the most easily available.
a. Mãnh lực là sản phẩm của chính hành tinh y, và dễ sử dụng nhất.
b. That which emanates from the polar opposite of our planet.
b. Mãnh lực phát ra từ đối cực của hành tinh chúng ta.
c. That which can be felt originating from that planet which forms, with our earth and its opposite, the esoteric triangle.
c. Mãnh lực có thể được cảm nhận là phát sinh từ hành tinh tạo thành, cùng với Trái Đất của chúng ta và đối cực của nó, tam giác huyền bí.
[Page 1023] Students need here to remember that we are now dealing with etheric matter and vital energy, and are therefore concerning ourselves with the physical plane and all that is included in that term. They need likewise to remember that the magician (as he is working on the plane of objectivity) is in a position to use his own vital forces in the work of thought form creation, but this is only possible and permissible when he has reached the point in evolution where he is a channel for force and knows how to draw it within himself, transmute it, or combine it with the forces of his own body, and then transmit it to the thought form which he is in process of constructing. Much of interest will open up before the thinker who extends this idea to the planetary Logos and His work of form creating.
[Page 1023] Các đạo sinh ở đây cần nhớ rằng hiện nay chúng ta đang bàn đến vật chất dĩ thái và năng lượng sinh lực, và do đó đang đề cập đến cõi hồng trần cùng mọi điều được bao hàm trong thuật ngữ ấy. Các bạn cũng cần nhớ rằng nhà huyền thuật (khi y đang làm việc trên cõi khách quan) ở vào vị thế có thể sử dụng các mãnh lực sinh lực riêng của mình trong công việc sáng tạo Hình tư tưởng, nhưng điều này chỉ có thể và được phép khi y đã đạt đến điểm tiến hoá mà tại đó y là một kênh dẫn cho mãnh lực và biết cách thu hút nó vào trong mình, chuyển hoá nó, hay kết hợp nó với các mãnh lực của chính thể mình, rồi sau đó truyền nó cho Hình tư tưởng mà y đang trong tiến trình kiến tạo. Nhiều điều thú vị sẽ mở ra trước nhà tư tưởng nào mở rộng ý tưởng này đến Hành Tinh Thượng Đế và công việc sáng tạo hình tướng của Ngài.
With these few preliminary remarks, we can now continue with the Rules of Magic for the physical plane.
Với vài nhận xét sơ bộ này, giờ đây chúng ta có thể tiếp tục với các Quy Luật Huyền Thuật cho cõi hồng trần.
RULE XII. The web pulsates. It contracts and expands. Let the magician seize the midway point and thus release those “prisoners of the planet” whose note is right and justly tuned to that which must be made.
QUY LUẬT XII. Mạng lưới đập nhịp. Nó co lại và giãn ra. Hãy để nhà huyền thuật nắm bắt điểm ở giữa và như vậy giải phóng những "tù nhân của hành tinh" mà âm điệu đúng và được điều chỉnh chính xác với cái phải được tạo ra.
It is necessary for the magician here to remember that all that takes place upon the earth is to be found within the planetary etheric web. The worker in white magic, being an occultist, deals in universals, and starts his magical work on the confines of the physical etheric sphere. His problem is to locate those lesser lives, within the web, who are of the right order to be built into the proposed thought vehicle. Such work can necessarily only be done by the man who, through the severance of the confining web of his own etheric web, can reach out to that which is consciously recognised by him as the planetary vital body. Only he who is free can control and utilise those who are prisoners. This is an occult axiom [Page 1024] of real moment, and much of the failure undergone by would-be workers in magic is to be traced to the fact that they themselves are not free. The “prisoners of the planet” are those myriads of deva lives who form the planetary pranic body, and are swept in on the floods of vital force emanating from the physical sun.
Ở đây, nhà huyền thuật cần nhớ rằng mọi điều diễn ra trên trái đất đều được tìm thấy bên trong tấm lưới dĩ thái hành tinh. Người hoạt động trong Chánh Thuật, vì là một nhà huyền bí học, làm việc với những cái phổ quát, và khởi sự công việc huyền thuật của mình ở ranh giới của khối cầu dĩ thái hồng trần. Vấn đề của y là định vị những sự sống nhỏ bé ấy, bên trong tấm lưới, vốn thuộc đúng loại để được xây dựng vào vận cụ tư tưởng được đề xuất. Công việc như thế tất yếu chỉ có thể được thực hiện bởi người mà, thông qua việc cắt đứt tấm lưới giam hãm của chính thể dĩ thái mình, có thể vươn ra đến điều được y nhận biết một cách hữu thức là thể sinh lực hành tinh. Chỉ người nào tự do mới có thể kiểm soát và sử dụng những kẻ đang bị giam giữ. Đây là một tiên đề huyền bí [Page 1024] có tầm quan trọng thực sự, và phần lớn sự thất bại mà những người muốn hoạt động trong huyền thuật phải chịu có thể được truy nguyên về sự kiện là chính họ không tự do. “Những tù nhân của hành tinh” là vô số các sự sống thiên thần tạo thành thể prana hành tinh, và bị cuốn vào theo những dòng thác sinh lực phát ra từ mặt trời hồng trần.
RULE XIII. The magician must recognise the four; note in his work the shade of violet which they evidence, and thus construct the shadow. When this is so, the shadow clothes itself, and the four become the seven.
QUY LUẬT XIII. Nhà huyền thuật phải nhận ra bộ bốn; lưu ý trong công việc của mình sắc thái tím mà chúng thể hiện, và như vậy xây dựng cái bóng. Khi điều này được như vậy, cái bóng tự khoác quần áo, và bốn trở thành bảy.
This means literally that the magician must be in a position to discriminate between the different ethers, and to note the special hue of the different levels, thereby ensuring a balanced building of the “shadow.” He “recognises” them in the occult sense; that is, he knows their note and key, and is aware of the particular type of energy they embody. Enough emphasis has not been laid upon the fact that the three higher levels of the etheric planes are in vibratory communication with the three higher planes of the cosmic physical plane, and they (with their ensphering fourth level) have been called in the occult books “the inverted Tetraktys.” It is this knowledge which puts the magician in possession of the three types of planetary force and their combination, or the fourth type, and thus releases for him that vital energy which will drive this idea into objectivity. As the different types of forces meet and coalesce, a dim shadowy form clothes itself upon the vibrating astral and mental sheath, and the idea of the solar Angel is attaining definite concretion.
Điều này theo nghĩa đen có nghĩa là nhà huyền thuật phải ở vào vị thế có thể phân biện giữa các loại dĩ thái khác nhau, và ghi nhận sắc thái đặc biệt của các cấp độ khác nhau, nhờ đó bảo đảm sự kiến tạo quân bình của “cái bóng.” Y “nhận biết” chúng theo nghĩa huyền bí; nghĩa là, y biết âm điệu và chủ âm của chúng, và nhận thức được loại năng lượng đặc thù mà chúng thể hiện. Chưa có đủ sự nhấn mạnh đặt lên sự kiện rằng ba cấp độ cao hơn của các cõi dĩ thái đang ở trong sự giao tiếp rung động với ba cõi cao hơn của cõi hồng trần vũ trụ, và chúng (cùng với cấp độ thứ tư bao quanh của chúng) đã được gọi trong các sách huyền bí là “Tetraktys đảo ngược.” Chính tri thức này đặt nhà huyền thuật vào quyền sở hữu ba loại mãnh lực hành tinh và sự kết hợp của chúng, hay loại thứ tư, và nhờ đó giải phóng cho y năng lượng sinh lực sẽ thúc đẩy ý tưởng này vào tính khách quan. Khi các loại mãnh lực khác nhau gặp nhau và hợp nhất, một hình tướng mờ nhạt như bóng tự khoác lấy mình trên lớp vỏ cảm dục và trí tuệ đang rung động, và ý tưởng của Thái dương Thiên Thần đang đạt đến sự kết tụ xác định.
RULE XIV. The sound swells out. The hour of danger to the soul courageous draweth near. The waters have not hurt the white creator and naught could drown nor drench him. Danger from fire and flame [Page 1025] menaces now, and dimly yet the rising smoke is seen. Let him again, after the cycle of peace, call on the solar Angel.
QUY LUẬT XIV. Âm thanh vang dội. Giờ phút nguy hiểm đối với linh hồn quả cảm đang đến gần. Nước đã không làm tổn hại nhà sáng tạo chánh thuật, và không gì có thể nhấn chìm hay làm y ướt đẫm. Giờ đây, hiểm nguy từ lửa và ngọn lửa [Page 1025] đang đe dọa, và làn khói bốc lên mới chỉ hiện ra lờ mờ. Sau chu kỳ bình an, hãy để y một lần nữa cầu gọi Thái dương Thiên Thần.
The work of creation assumes now serious proportions, and for the final time the body of the magician is menaced by destruction. The “shadow” having been formed, it is now ready to take to itself a “fiery” or gaseous body, and it is these fire builders who menace the life of the magician, and this for the following reasons.
Công việc sáng tạo giờ đây mang những tỷ lệ nghiêm trọng, và lần cuối cùng thân thể của nhà huyền thuật bị đe doạ huỷ diệt. “Cái bóng” đã được hình thành, giờ đây sẵn sàng nhận lấy cho mình một thể “lửa” hay khí thể, và chính các thiên thần lửa này đe doạ sự sống của nhà huyền thuật, vì các lý do sau đây.
Firstly, because the fires of the human body are closely allied to the fires with which the magician seeks to work, and should these latent fires of the body and the latent fires of the planet be brought into too close juxtaposition, the creator is in danger of burning and destruction.
Thứ nhất, vì các lửa của thân thể người có quan hệ mật thiết với các lửa mà nhà huyền thuật tìm cách làm việc cùng, và nếu các lửa tiềm tàng này của thân thể cùng các lửa tiềm tàng của hành tinh bị đưa vào sự cận kề quá mức, người sáng tạo sẽ lâm nguy bị thiêu đốt và huỷ diệt.
Secondly, the Agnichaitans, being allied to the “fire devas” of the mental plane, have much power, and can only be controlled properly by the solar Angel Himself.
Thứ hai, các Agnichaitan, vì có liên hệ với các “thiên thần lửa” của cõi trí, có rất nhiều quyền năng, và chỉ có thể được kiểm soát đúng đắn bởi chính Thái dương Thiên Thần.
Thirdly, on this planet the planetary fires are not as yet dominated by solar fire, and are very easily driven into the work of destruction.
Thứ ba, trên hành tinh này, các lửa hành tinh vẫn chưa được Lửa Thái dương chi phối, và rất dễ bị thúc đẩy vào công việc huỷ diệt.
The solar Angel must, therefore, now again be invoked. This means that the magician (when his “shadow” is completed, and prior to the final stages of concretion) must see to it that his alignment with the Ego is just and unimpeded, and the communicating currents in full play. He must literally “renew his meditation,” and make direct contact afresh before proceeding with the work. Otherwise, the fires of his own body may get out of control, and his etheric body suffer in consequence. He, therefore, fights fire with fire, and draws down solar fire for his protection. This was not necessary on the astral plane. For the magician, the moments of the greatest danger in the work of creating are at certain junctures on the astral plane, where he is in danger of occult drowning, and at the transition from etheric levels [Page 1026] to the planes of tangible concretion, when he is menaced by “occult burning.” In the one case, he does not call on the Ego, but stems the tide by love and the equilibrising powers of his own nature. In the latter case, he must call in that which represents the will aspect in the three worlds, the impulsive, dynamic thinker or solar Angel. He accomplishes this by means of a mantram. No clue can be given to this, owing to the powers it confers.
Do đó, Thái dương Thiên Thần giờ đây phải lại được khẩn cầu. Điều này có nghĩa là nhà huyền thuật (khi “cái bóng” của y đã hoàn tất, và trước các giai đoạn kết tụ cuối cùng) phải bảo đảm rằng sự chỉnh hợp của y với Chân ngã là đúng đắn và không bị cản trở, và các dòng truyền thông đang vận hành đầy đủ. Y phải theo nghĩa đen “làm mới lại sự tham thiền của mình,” và một lần nữa tạo tiếp xúc trực tiếp trước khi tiếp tục công việc. Nếu không, các lửa của chính thể y có thể vượt khỏi sự kiểm soát, và thể dĩ thái của y sẽ chịu hậu quả. Vì vậy, y lấy lửa chống lửa, và kéo Lửa Thái dương xuống để tự bảo vệ. Điều này không cần thiết trên cõi cảm dục. Đối với nhà huyền thuật, những thời điểm nguy hiểm lớn nhất trong công việc sáng tạo là tại một số thời điểm nhất định trên cõi cảm dục, nơi y có nguy cơ bị chết đuối huyền bí, và tại sự chuyển tiếp từ các cấp độ dĩ thái [Page 1026] sang các cõi kết tụ hữu hình, khi y bị đe doạ bởi “sự thiêu đốt huyền bí.” Trong trường hợp thứ nhất, y không kêu gọi Chân ngã, mà ngăn dòng triều bằng bác ái và các quyền năng quân bình của chính bản chất mình. Trong trường hợp sau, y phải gọi vào điều đại diện cho phương diện ý chí trong ba cõi giới, tức nhà tư tưởng xung động, năng động hay Thái dương Thiên Thần. Y thực hiện điều này bằng một mantram. Không thể đưa ra đầu mối nào về điều này, do các quyền năng mà nó ban cho.
RULE XV. The fires approach the shadow, yet burn it not. The fire sheath is completed. Let the magician chant the words that blend the fire and water.
QUY LUẬT XV. Các ngọn lửa tiếp cận cái bóng, nhưng không đốt cháy nó. Lớp vỏ lửa đã hoàn thành. Hãy để nhà huyền thuật xướng lên những lời kết hợp lửa và nước.
Little can here be said in interpretation of these words, beyond a reference to the general sense. The gaseous sheath is created, and the hour for the formation of the sheath for the sixth subplane, the liquid, is near. The two must blend. This is the moment of the greatest danger, as far as the thought form itself is concerned. Earlier dangers have menaced the magician. Now the form he is creating must be protected. The nature of the danger is hinted at in the words: “Where fire and water meet apart from chanted sound, all dissipates in steam. The fire ceases to be.” This danger is hid in the karmic enmity existing between the two great groups of devas. These groups can only be united by the mediator, man.
Ở đây, ngoài việc đề cập đến ý nghĩa tổng quát, rất ít điều có thể được nói ra để diễn giải những lời này. Lớp vỏ khí thể được tạo ra, và giờ phút hình thành lớp vỏ cho cõi phụ thứ sáu, tức thể lỏng, đang đến gần. Hai thứ ấy phải hòa trộn. Đây là thời điểm nguy hiểm lớn nhất, xét theo chính Hình tư tưởng. Những hiểm nguy trước đó đe doạ nhà huyền thuật. Giờ đây hình tướng mà y đang tạo ra phải được bảo vệ. Bản chất của hiểm nguy được gợi ý trong những lời: “Nơi lửa và nước gặp nhau mà không có âm thanh được tụng lên, mọi sự tan biến thành hơi nước. Lửa không còn nữa.” Hiểm nguy này ẩn trong mối thù nghịch nghiệp quả tồn tại giữa hai nhóm thiên thần lớn. Các nhóm này chỉ có thể được hợp nhất bởi đấng trung gian, con người.
It might be asked of what use the fifteen rules for magic communicated above may be. Naught, as yet, as far as practical work is concerned, but much where inner intellectual development is desired. He who meditates and broods over these rules in the light of what has been earlier communicated anent the devas and building forces, will arrive at an understanding of the Laws of Construction in the macrocosm, which will avail him much, and save him much time when the magical work and formulas are put in his hands.
Có thể sẽ được hỏi rằng mười lăm quy luật huyền thuật được truyền đạt ở trên có ích gì. Hiện nay thì chưa có ích gì, xét theo công việc thực hành, nhưng lại rất hữu ích ở nơi sự phát triển trí tuệ bên trong được mong muốn. Người nào tham thiền và suy ngẫm về các quy luật này dưới ánh sáng của những gì đã được truyền đạt trước đây liên quan đến các thiên thần và các mãnh lực kiến tạo, sẽ đi đến sự thấu hiểu các Định luật Kiến tạo trong Đại thiên địa, điều sẽ giúp ích cho y rất nhiều, và tiết kiệm cho y nhiều thời gian khi công việc huyền thuật và các công thức được trao vào tay y.
DIVISION E - MOTION ON THE PLANE OF MIND
PHÂN KHU E - CHUYỂN ĐỘNG TRÊN CÕI TRÍ
[Page 1027]
[Page 1027]
I. Introductory Remarks.
I. Những nhận xét mở đầu.
II. The Nature of this Motion.
II. Bản chất của chuyển động này.
1. Spiral-cyclic.
1. Xoắn ốc-chu kỳ.
2. Triple.
2. Tam phân.
3. Attractive.
3. Hấp dẫn.
III. Results of its Activity.
III. Các kết quả của hoạt động của nó.
1. The Law of Expansion.
1. Định luật Mở Rộng.
2. The Law of Monadic Return.
2. Định luật Chân Thần Trở Về.
3. The Law of Solar Evolution.
3. Định luật Tiến Hóa Thái Dương.
4. The Law of Radiation.
4. Định luật Phóng xạ.
a. The cause of radiation.
a. Nguyên nhân của phóng xạ.
b. Radiation in the five kingdoms,
b. Phóng xạ trong năm giới,
c. Radiation and cyclic law.
c. Phóng xạ và định luật chu kỳ.
IV. The Turning of the Wheel.
IV. Sự xoay chuyển của bánh xe.
1. The solar wheel.
1. Bánh xe thái dương.
2. The planetary wheel.
2. Bánh xe hành tinh.
3. The human wheel.
3. Bánh xe nhân loại.
V. Motion and the Form-Building Aspect.
V. Chuyển động và phương diện kiến tạo hình tướng.
1. In the mental sheath.
1. Trong thể trí.
2. In the causal body.
2. Trong thể nguyên nhân.
VI. Effects of Synthetic Motion.
VI. Các hiệu quả của chuyển động tổng hợp.
1. Introductory remarks.
1. Những nhận xét mở đầu.
2. It produces periodic manifestation.
2. Nó tạo ra sự biểu hiện theo chu kỳ.
3. Causes triangular linking.
3. Gây ra sự nối kết tam giác.
4. Produces a relation between three centres.
4. Tạo ra mối liên hệ giữa ba trung tâm.
I. INTRODUCTORY REMARKS
I. NHỮNG NHẬN XÉT MỞ ĐẦU
We have now concluded our consideration of thought forms, having viewed the whole universe (including man) as an embodied thought, and having dealt with the ability [Page 1028] of man himself to create forms for the clothing of his ideas.
Giờ đây chúng ta đã kết thúc việc khảo cứu về các hình tư tưởng, sau khi đã nhìn toàn thể vũ trụ (kể cả con người) như một tư tưởng được nhập thể, và đã bàn đến khả năng [Page 1028] của chính con người trong việc tạo ra các hình tướng để khoác lấy các ý tưởng của y.
We now return once more to the realm of technicalities, and to the more scientific part of our thesis. I use the word “scientific,” for that which will be said concerns that which is proven and known to occultists, and deals with facts. The modern fact of the modern scientist is his approximation of a part, and often an infinitesimal part, of some greater whole, and even then it concerns only the most objective part of manifestation, for that which is the essence is not regarded as a reality at all by them as it is by the real occult knower. That which we see and can touch is but an effect of inner underlying causes. The occultist does not concern himself with effects, but only with their originating cause. The modern scientist, therefore, is not as yet occupying himself with causes, and during the past only approached the realm of these initiatory impulses when he began to comprehend the energy aspect of matter, and to consider the nature of the atom. When he can pass more directly in his thoughts to the discussion and consideration of the etheric substratum which underlies the tangible, then and only then will he be entering the domain of causes, and even in this case, only those physical causes which underlie the grossly objective; he will not really have ascertained the vital impulses which produce Being. Yet a great step will have been made for, under the Law of Analogy, he will then be in a position to comprehend some of the major secrets of solar manifestation; for the planes of our solar system constitute, as we know, and as this Treatise seeks to demonstrate, the seven subplanes of the cosmic physical plane.
Giờ đây chúng ta lại quay về lĩnh vực của các chi tiết kỹ thuật, và về phần khoa học hơn trong luận đề của chúng ta. Tôi dùng từ “khoa học”, vì điều sẽ được nói đến liên quan đến điều đã được chứng minh và được các nhà huyền bí học biết rõ, và bàn đến các sự kiện. Sự kiện hiện đại của nhà khoa học hiện đại là sự tiếp cận của ông đối với một phần, và thường là một phần vô cùng nhỏ, của một toàn thể lớn hơn nào đó, và ngay cả như vậy nó cũng chỉ liên quan đến phần khách quan nhất của biểu hiện, vì điều là tinh túy thì hoàn toàn không được họ xem là một thực tại như đối với thức giả huyền bí chân chính. Điều mà chúng ta thấy và có thể chạm đến chỉ là một kết quả của những nguyên nhân nội tại nền tảng. Nhà huyền bí học không bận tâm đến các kết quả, mà chỉ bận tâm đến nguyên nhân phát sinh ra chúng. Vì vậy, nhà khoa học hiện đại cho đến nay vẫn chưa thực sự chú tâm đến các nguyên nhân, và trong quá khứ chỉ mới tiếp cận lĩnh vực của các xung lực khởi nguyên này khi ông bắt đầu hiểu phương diện năng lượng của vật chất, và xem xét bản chất của nguyên tử. Khi ông có thể chuyển trực tiếp hơn trong tư tưởng của mình sang việc thảo luận và khảo cứu nền chất liệu dĩ thái nằm bên dưới cái hữu hình, thì khi ấy và chỉ khi ấy ông mới bước vào lãnh vực của các nguyên nhân, và ngay cả trong trường hợp này, cũng chỉ là những nguyên nhân hồng trần nằm dưới cái khách quan thô đặc; ông vẫn chưa thực sự xác định được các xung lực sinh động tạo ra Bản Thể. Tuy nhiên, một bước tiến lớn sẽ được thực hiện, vì theo định luật tương đồng, khi ấy ông sẽ ở vào vị thế để hiểu được một vài bí mật lớn của biểu hiện thái dương; vì các cõi của hệ mặt trời chúng ta cấu thành, như chúng ta biết, và như bộ Luận này tìm cách chứng minh, bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ.
It is apparent to all careful students of this Treatise on Fire that in this section we are concerned with:
Điều hiển nhiên đối với mọi đạo sinh cẩn trọng của bộ Luận về Lửa này là trong phần này chúng ta quan tâm đến:
First, that mode of activity which distinguishes the Vishnu aspect of Deity, or the motion of the Divine Manasaputras. [Page 1029] This involves, therefore, a consideration of the effects of this motion:
Thứ nhất, phương thức hoạt động phân biệt phương diện Vishnu của Thượng đế, hay chuyển động của các Manasaputras thiêng liêng. [Page 1029] Do đó, điều này bao hàm việc khảo cứu các hiệu quả của chuyển động này:
a. Within the planetary schemes, Their bodies.
a. Bên trong các hệ hành tinh, tức các thể của Các Ngài.
b. Upon the atoms or “Points” in those bodies, the human and deva Monads.
b. Trên các nguyên tử hay “Các Điểm” trong những thể ấy, tức các chân thần nhân loại và thiên thần.
Second, that impulse which is the basis of the Law of Periodicity, and which results in the cyclic incarnation of all Beings. This impulse manifests in three cycles or in three turns of the wheel of Being.
Thứ hai, xung lực là nền tảng của Định luật Chu Kỳ, và đưa đến sự nhập thể theo chu kỳ của mọi Hữu thể. Xung lực này biểu hiện trong ba chu kỳ hay trong ba vòng quay của bánh xe Bản Thể.
a. The activity which produces involution, or the submergence in matter of Life or Spirit.
a. Hoạt động tạo ra giáng hạ tiến hoá, hay sự chìm sâu của Sự sống hoặc tinh thần vào vật chất.
b. The activity which produces the equilibrium of these two forces, matter and Spirit, or manifestation, or the processes of evolution.
b. Hoạt động tạo ra sự quân bình của hai mãnh lực này, vật chất và tinh thần, hay biểu hiện, hay các tiến trình tiến hoá.
c. The activity which withdraws the central energy from out of the responsive form and produces obscuration.
c. Hoạt động rút năng lượng trung tâm ra khỏi hình tướng đáp ứng và tạo ra sự lu mờ.
Third, that activity which causes the interplay—attraction and consequent repulsion—between all atoms, from the great cosmic atom, a solar system, to the tiny atom of the chemist or the physicist. This activity, therefore, may be viewed as:
Thứ ba, hoạt động gây ra sự tương tác—hấp dẫn và do đó đẩy lui—giữa mọi nguyên tử, từ nguyên tử vũ trụ vĩ đại là một hệ mặt trời cho đến nguyên tử nhỏ bé của nhà hóa học hay nhà vật lý. Vì vậy, hoạt động này có thể được xem như:
a. Inter-cosmic, or affecting constellations.
a. Liên-vũ trụ, hay ảnh hưởng đến các chòm sao.
b. Inter-planetary, or affecting the schemes.
b. Liên-hành tinh, hay ảnh hưởng đến các hệ hành tinh.
c. Inter-chain, or affecting the chains.
c. Liên-dãy, hay ảnh hưởng đến các dãy.
d. Inter-globular, or producing an interchange of force between the globes of the chains.
d. Liên-bầu hành tinh, hay tạo ra sự trao đổi mãnh lực giữa các bầu hành tinh của các dãy.
e. Inter-sectional, or affecting the transference of force between the five kingdoms of nature.
e. Liên-phân khu, hay ảnh hưởng đến sự chuyển dịch mãnh lực giữa năm giới trong thiên nhiên.
f. Inter-human, or relating to the interplay between the various human units.
f. Liên-nhân loại, hay liên quan đến sự tương tác giữa các đơn vị nhân loại khác nhau.
g. Inter-atomic, or the passage of force from one atom to another atom.
g. Liên-nguyên tử, hay sự truyền mãnh lực từ nguyên tử này sang nguyên tử khác.
Students need here to remember that we are concerned with the energy or activity which produces forms, and, [Page 1030] therefore, with the forces which tend to coherence, to concretion, and to the stabilisation of the work of the builders. If they but realised it, the key to much that is connected with the production of forms, or of the Son, the second aspect, is contained in the above tabulation, for all nature holds together, and the life of any scheme, globe, kingdom, or atom, becomes in turn the animating principle of another scheme, globe, kingdom, or atom. Everything in the solar system is in a state of flux, as is everything in the universe, and the vital energy circulates, as the blood or the nervous energy of the body circulates, throughout the entire system. This is the basis of the occult fact that all in nature, for instance, will be, is, or has been, through the human kingdom. ( S. D., I, 215, 242, 295.) Under this type of solar activity, the ultimate good is attained by the method of interplay, interchange, and in mutual attraction and repulsion.
Ở đây, các đạo sinh cần nhớ rằng chúng ta đang quan tâm đến năng lượng hay hoạt động tạo ra các hình tướng, và do đó, [Page 1030] đến các mãnh lực có khuynh hướng tạo nên sự kết dính, sự cô đặc, và sự ổn định hóa công việc của các đấng kiến tạo. Nếu họ chỉ cần chứng nghiệm được điều đó, thì chìa khóa cho nhiều điều liên quan đến việc tạo ra các hình tướng, hay của Con, phương diện thứ hai, đã nằm trong bảng liệt kê trên, vì toàn thể thiên nhiên liên kết với nhau, và sự sống của bất kỳ hệ hành tinh, bầu hành tinh, giới hay nguyên tử nào lần lượt trở thành nguyên khí linh hoạt của một hệ hành tinh, bầu hành tinh, giới hay nguyên tử khác. Mọi sự trong hệ mặt trời đều ở trong trạng thái lưu chuyển, cũng như mọi sự trong vũ trụ, và năng lượng sinh động tuần hoàn, giống như máu hay năng lượng thần kinh của thể xác tuần hoàn, khắp toàn bộ hệ thống. Đây là nền tảng của sự kiện huyền bí rằng mọi sự trong thiên nhiên, chẳng hạn, sẽ là, đang là, hoặc đã từng là, thông qua giới nhân loại. ( S. D., I, 215, 242, 295.) Dưới loại hoạt động thái dương này, thiện ích tối hậu đạt được bằng phương pháp tương tác, trao đổi, và trong sự hấp dẫn và đẩy lui lẫn nhau.
It would be advisable here if students would study that which was communicated in the early part of this treatise upon motion upon the physical and astral planes. Under the Law of Analogy, much will be noted as necessarily translated on to the higher plane, and to be transmuted into the energy of the form-building impulse. We will consider what we have to say in this section under the following heads:
Ở đây sẽ là điều nên làm nếu các đạo sinh nghiên cứu điều đã được truyền đạt trong phần đầu của bộ luận này về chuyển động trên cõi hồng trần và cõi cảm dục. Theo định luật tương đồng, nhiều điều sẽ được nhận thấy là tất yếu được chuyển dịch lên cõi cao hơn, và được chuyển hoá thành năng lượng của xung lực kiến tạo hình tướng. Chúng ta sẽ xem xét điều phải nói trong phần này dưới các đề mục sau:
1. The nature of this motion.... spiral cycling
1. Bản chất của chuyển động này.... xoắn ốc chu kỳ
2. The results of its activity. These results can be viewed as four subsidiary laws or adjuncts to the major law of Attraction, and may be called:
2. Các kết quả của hoạt động của nó. Các kết quả này có thể được xem như bốn định luật phụ thuộc hay bổ trợ cho định luật lớn về Hấp Dẫn, và có thể được gọi là:
The Law of Expansion.
Định luật Mở Rộng.
The Law of Monadic Return.
Định luật Chân Thần Trở Về.
The Law of Solar Evolution.
Định luật Tiến Hóa Thái Dương.
The Law of Radiation.
Định luật Phóng xạ.
[Page 1031] It will, therefore, be apparent that, as we consider these laws, we are dealing with matters that concern:
[Page 1031] Vì vậy, sẽ hiển nhiên rằng khi chúng ta xem xét các định luật này, chúng ta đang bàn đến những vấn đề liên quan đến:
The process of initiation.
Tiến trình điểm đạo.
The life of the divine pilgrims upon the upward arc.
Đời sống của các lữ khách thiêng liêng trên cung đi lên.
The impulse which produces the Son, and which drives Him to gain experience through the medium of the solar system.
Xung lực tạo ra Con, và thúc đẩy Ngài đạt được kinh nghiệm thông qua trung gian của hệ mặt trời.
Magnetism, or Divine Alchemy.
Từ điện, hay Thuật Luyện Kim Thiêng Liêng.
3. The turning of the wheel,
3. Sự xoay chuyển của bánh xe,
a. The solar wheel,
a. Bánh xe thái dương,
b. The planetary wheel,
b. Bánh xe hành tinh,
c. The human wheel.
c. Bánh xe nhân loại.
This will involve our taking up the consideration of the orbital paths of these various spheres, their centres, inter-play and intercommunication, and of force transference, and will bring out the concept that all spiral-cyclic activity is not the result of the rotary action of matter itself, but of an impulse emanating from without any particular atom, and therefore extraneous to it.
Điều này sẽ bao hàm việc chúng ta khảo cứu các quỹ đạo của những khối cầu khác nhau này, các trung tâm của chúng, sự tương tác và giao thông giữa chúng, cùng sự chuyển dịch mãnh lực, và sẽ làm nổi bật khái niệm rằng mọi hoạt động xoắn ốc-chu kỳ không phải là kết quả của chính tác động quay của vật chất, mà là của một xung lực phát ra từ bên ngoài bất kỳ nguyên tử riêng biệt nào, và do đó là ngoại tại đối với nó.
4. Motion, or the form-building impulse latent in:
4. Chuyển động, hay xung lực kiến tạo hình tướng tiềm tàng trong:
a. The mental sheath itself, both cosmically and humanly considered.
a. Chính thể trí, xét cả về vũ trụ lẫn nhân loại.
b. The causal body of the macrocosm and the microcosm.
b. Thể nguyên nhân của đại thiên địa và tiểu thiên địa.
c. The centres, divine and human.
c. Các trung tâm, thiêng liêng và nhân loại.
5. The effects of the united activity of the sheath, the centres, and the causal body as it produces:
5. Các hiệu quả của hoạt động hợp nhất của thể, các trung tâm, và thể nguyên nhân khi nó tạo ra:
a. Periodic manifestation.
a. Sự biểu hiện theo chu kỳ.
b. The linking of the triangles.
b. Sự nối kết các tam giác.
c. The relation between the throat centre, the alta major centre, and the mental centre, macrocosmically and microcosmically considered. [Page 1032]
c. Mối liên hệ giữa trung tâm cổ họng, trung tâm alta major, và trung tâm trí tuệ, xét cả về đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa. [Page 1032]
II. THE NATURE OF THIS MOTION
II. BẢN CHẤT CỦA CHUYỂN ĐỘNG NÀY
As we well know, the nature of the motion on the plane of matter is rotary. Each atom of matter rotates on its own axis, and each larger atom, from the purely physical standpoint, likewise does the same; a cosmic atom, a solar system, a planetary atom, and a human atom, man, can be seen equally rotating at differing degrees of velocity upon their own axis or around their own pole. When we arrive at the plane of mind, and have to consider the activity of the second aspect of divinity, that which builds and holds the forms in coherent form, and which is the basis of the phenomenon we call time (literally, the awareness of the form), a different type of force or motion becomes apparent. This type of energy in no way negates or renders useless the atomic rotary type, but involves it, and yet at the same time it brings the atoms of all degrees under the influence of its own activity, so that in every form which is in manifestation, the two types are manifested. I would here remind the student that we are primarily considering the force of the second aspect as it concerns the human and superhuman kingdoms, or as the Manasaputras and their various groups are concerned. On the involutionary arc, the Vishnu force is likewise felt, but until the nature of the group soul is more apprehended, and the quality of the Life who informs each of the subhuman kingdoms of nature is known with greater accuracy, it will profit us more to deal with force as it affects the human being, the planet on which he may be found, and the system in which that planet is playing its part.
Như chúng ta đều biết rõ, bản chất của chuyển động trên cõi vật chất là quay tròn. Mỗi nguyên tử vật chất quay trên trục riêng của nó, và mỗi nguyên tử lớn hơn, xét từ quan điểm thuần hồng trần, cũng làm như vậy; một nguyên tử vũ trụ, một hệ mặt trời, một nguyên tử hành tinh, và một nguyên tử nhân loại, con người, đều có thể được thấy đang quay với những mức độ vận tốc khác nhau trên trục riêng của chúng hay quanh cực riêng của chúng. Khi chúng ta đạt đến cõi trí, và phải xem xét hoạt động của phương diện thứ hai của thiên tính, tức điều kiến tạo và giữ các hình tướng trong trạng thái kết hợp chặt chẽ, và là nền tảng của hiện tượng mà chúng ta gọi là thời gian (theo nghĩa đen, là sự nhận biết về hình tướng), thì một loại mãnh lực hay chuyển động khác trở nên hiển lộ. Loại năng lượng này tuyệt nhiên không phủ nhận hay làm cho loại quay tròn nguyên tử trở nên vô dụng, mà bao hàm nó, đồng thời cũng đưa các nguyên tử ở mọi cấp độ vào dưới ảnh hưởng của chính hoạt động của nó, đến nỗi trong mọi hình tướng đang biểu hiện, cả hai loại đều được biểu lộ. Ở đây tôi muốn nhắc đạo sinh rằng chúng ta chủ yếu đang xem xét mãnh lực của phương diện thứ hai trong chừng mực nó liên quan đến các giới nhân loại và siêu nhân loại, hay trong chừng mực các Manasaputras và các nhóm khác nhau của các Ngài có liên quan. Trên cung giáng hạ tiến hoá, mãnh lực Vishnu cũng được cảm nhận như vậy, nhưng cho đến khi bản chất của hồn nhóm được hiểu rõ hơn, và phẩm tính của Sự Sống phú linh cho mỗi giới dưới nhân loại trong thiên nhiên được biết đến chính xác hơn, thì sẽ có ích hơn cho chúng ta nếu bàn đến mãnh lực trong chừng mực nó ảnh hưởng đến con người, hành tinh nơi y có thể được tìm thấy, và hệ thống trong đó hành tinh ấy đang giữ phần việc của nó.
The activity of the second aspect has been called spiral-cyclic, which in itself involves the concept of duality. This activity is the cause of all cyclic evolution, and has been called in the occult phraseology “the activity of Brahma’s year.” It is that which brings about the [Page 1033] periodical appearing and disappearing of all existences, great or small. It is intimately linked with the will aspect of Divinity, and with the Lipika Lords of the highest degree and its origin is, therefore, difficult for us to comprehend. Perhaps all that can be said about it is that it is largely due to certain impulses which (as far as our solar system is concerned) can be traced to the sun Sirius. These impulses find their analogy in the impulses emanating in cyclic fashion from the causal body of man, which impulses bring about his appearance upon the plane of maya for a temporary period. A hint may here be given to the earnest student; in the threefold Ego (the lives who form the central bud, the lives of the petals, and the triple group of lives who form the three permanent atoms) is seen a correspondence to the three groups of Lipika Lords who are the karmic cause of solar manifestation, and who control its periodic manifestation. These three groups are related to Their guiding Intelligences on Sirius.
Hoạt động của phương diện thứ hai đã được gọi là xoắn ốc-chu kỳ, mà tự nó đã bao hàm khái niệm nhị nguyên tính. Hoạt động này là nguyên nhân của mọi tiến hoá theo chu kỳ, và trong cụm từ thần bí đã được gọi là “hoạt động của năm Brahma.” Chính nó đem lại sự [Page 1033] xuất hiện và biến mất theo chu kỳ của mọi tồn tại, lớn hay nhỏ. Nó liên hệ mật thiết với phương diện ý chí của thiên tính, và với các Đấng Lipika ở cấp độ cao nhất, nên nguồn gốc của nó vì vậy khó cho chúng ta thấu hiểu. Có lẽ tất cả những gì có thể nói về nó là nó phần lớn do một số xung lực nào đó mà (trong chừng mực hệ mặt trời của chúng ta có liên quan) có thể được truy nguyên về mặt trời Sirius. Những xung lực này có sự tương đồng của chúng trong các xung lực phát ra theo chu kỳ từ thể nguyên nhân của con người, những xung lực đem lại sự xuất hiện của y trên cõi ảo lực trong một thời kỳ tạm thời. Ở đây có thể đưa ra một gợi ý cho đạo sinh chí thành; trong Chân ngã tam phân (các sự sống tạo thành nụ trung tâm, các sự sống của các cánh hoa, và nhóm tam phân các sự sống tạo thành ba nguyên tử trường tồn) có thể thấy một sự tương ứng với ba nhóm Đấng Lipika là nguyên nhân nghiệp quả của biểu hiện thái dương, và kiểm soát sự biểu hiện theo chu kỳ của nó. Ba nhóm này có liên hệ với các Trí Tuệ hướng dẫn của Các Ngài trên Sirius.
The Law of Periodicity is the effect produced by the amalgamation of these two types of force with a third. The two types of force or energy are the activity of the first Aspect, the logoic will or purpose, and the energy of the second aspect. This purpose is hidden in foreknowledge of the Logos and is completely hidden even from the Adept of the fifth Initiation. The Adept has achieved a comprehension of the purpose of the Son, and for Him there remains the problem to recognise the purpose of the Father. The one is the impulse behind the forward movement of all life, and the other the impulse behind its cyclic activity, and this is called spiral-cyclic. When this blended dual force is brought in touch with the rotary activity of matter itself, we have the triple activity of the Ego, for instance, which is rotary-spiral-cyclic, and that which results in the stimulation of the self-contained atom, in the periodical emergence of form, and in the [Page 1034] steady, though slow, progress towards a goal. We might, for the sake of clarity, differentiate the effects thus:
Định luật Chu Kỳ là hiệu quả được tạo ra bởi sự hòa trộn của hai loại mãnh lực này với một loại thứ ba. Hai loại mãnh lực hay năng lượng ấy là hoạt động của Phương diện thứ nhất, ý chí hay mục đích logoic, và năng lượng của phương diện thứ hai. Mục đích này được che giấu trong tiền tri của Logos và hoàn toàn bị che giấu ngay cả đối với chân sư của lần điểm đạo thứ năm. Chân sư đã đạt được sự thấu hiểu mục đích của Con, và đối với Ngài vẫn còn vấn đề là nhận ra mục đích của Cha. Một bên là xung lực đứng sau chuyển động tiến tới của mọi sự sống, và bên kia là xung lực đứng sau hoạt động theo chu kỳ của nó, và điều này được gọi là xoắn ốc-chu kỳ. Khi mãnh lực nhị nguyên đã hòa trộn này được đưa vào tiếp xúc với hoạt động quay tròn của chính vật chất, chúng ta có hoạt động tam phân của chân ngã, chẳng hạn, là quay tròn-xoắn ốc-chu kỳ, và điều này đưa đến sự kích thích của nguyên tử tự chứa, sự xuất hiện theo chu kỳ của hình tướng, và sự [Page 1034] tiến bộ vững chắc, dù chậm, hướng đến một mục tiêu. Vì mục đích làm sáng tỏ, chúng ta có thể phân biệt các hiệu quả như sau:
1. Rotary activity
The internal activity of every atom viewed as a unity, the activity of Brahma or the Holy Spirit, perfected in the first solar system. It is unified individual consciousness... “I am.”
2. Cyclic activity
The activity of all forms, viewing them from the aspect of consciousness, and of time. It is unified group consciousness... “I am That,” the activity of Vishnu in process of being perfected in this the second solar system.
3. Spiral activity
The influence which impresses all forms, which emanates from their greater centre, and which merges itself a little, a very little, with the two other modes of motion, being practically lost sight of in the stronger vibration. It is the activity which will be perfected in the third solar system, and is the Shiva form of motion, and the unified consciousness of all groups. It is the consciousness which proclaims “I am That I am.”
One of the primary things the occult student should remember when considering the nature of spiral-cyclic activity, is that it has two effects.
Một trong những điều chủ yếu mà đạo sinh huyền bí nên ghi nhớ khi xem xét bản chất của hoạt động xoắn ốc-chu kỳ là nó có hai hiệu quả.
First, it is an attractive force, gathering the rotating atoms of matter into definite types and forms, and holding them there as long as necessity demands.
Thứ nhất, nó là một mãnh lực hấp dẫn, tập hợp các nguyên tử vật chất đang quay vào những loại và hình tướng xác định, và giữ chúng ở đó chừng nào nhu cầu còn đòi hỏi.
Secondly, it is itself gradually dominated by another and higher vibration, and through its spiralling progress through matter it sweeps those forms systematically nearer and nearer to another and stronger point of energy.
Thứ hai, bản thân nó dần dần bị chi phối bởi một rung động khác cao hơn, và qua sự tiến triển theo xoắn ốc của nó xuyên qua vật chất, nó cuốn các hình tướng ấy một cách có hệ thống ngày càng gần hơn với một điểm năng lượng khác mạnh hơn.
These effects are to be seen clearly demonstrated in man’s evolution in the approach he makes uniformly through the cycles to the centre of the spiral-cyclic energy, [Page 1035] and subsequently to the still more impressive point, that of his “Father in Heaven.” The Angel first attracts animal man; cyclically He actuates the material sheaths, thus giving them coherence, and ever swings them into closer relation to himself. Later, as the momentum is increased, the man is swung more definitely into relation with the monadic aspect, until that higher rhythm is imposed upon him. This is equally true of a planetary Logos, and of a solar Logos.
Các hiệu quả này có thể được thấy biểu lộ rõ ràng trong sự tiến hoá của con người qua sự tiếp cận mà y thực hiện một cách đều đặn xuyên qua các chu kỳ đến trung tâm của năng lượng xoắn ốc-chu kỳ, [Page 1035] và sau đó đến điểm còn gây ấn tượng mạnh hơn nữa, tức điểm của “Cha y trên Trời.” Thiên Thần trước hết hấp dẫn người thú; theo chu kỳ Ngài làm cho các thể vật chất hoạt động, nhờ đó ban cho chúng sự kết hợp chặt chẽ, và luôn luôn đưa chúng vào mối liên hệ gần gũi hơn với chính Ngài. Về sau, khi động lượng gia tăng, con người được đưa vào mối liên hệ rõ rệt hơn với phương diện chân thần, cho đến khi nhịp điệu cao hơn ấy được áp đặt lên y. Điều này cũng đúng như vậy đối với một Hành Tinh Thượng Đế, và đối với một Thái dương Thượng đế.
The spiral-cyclic force demonstrates, as might be expected, in seven ways; of these, the three major methods of demonstration are symbolised in the Rod of Initiation of Sanat Kumara. The Rod most frequently recognised by men is that of the Hierophant, the Bodhisattva, which consists of the straight central serpent with the two others entwined around it, thus picturing, among other things:
Mãnh lực xoắn ốc-chu kỳ biểu lộ, như có thể dự đoán, theo bảy cách; trong số đó, ba phương pháp biểu lộ chính được biểu trưng trong Thần Trượng Điểm đạo của Đức Sanat Kumara. Thần Trượng thường được con người nhận biết nhất là của Đấng Điểm đạo, Đức Bồ Tát, gồm con rắn thẳng ở trung tâm với hai con khác quấn quanh nó, nhờ đó mô tả, trong nhiều điều khác, như sau:
a. The three outpourings,
a. Ba lần tuôn đổ,
b. The three worlds,
b. ba cõi giới,
c. The spinal column and its channels,
c. cột sống và các kinh đạo của nó,
or those main factors with which the initiate concerns himself. He has to understand somewhat the nature of matter and what is occultly involved in that expression, his own triple constitution, the three worlds in which he has to play his part, and the instrument which he has to use. This rod of the Bodhisattva is surmounted by a diamond which is not as great a diamond as the “Flaming Diamond” of the first Kumara, but is of rare beauty. At the time of initiation when the electrical forces are tapped, this diamond revolves on its axis, picturing the rotary nature of atomic matter.
hay những yếu tố chính mà điểm đạo đồ quan tâm đến. Y phải hiểu phần nào bản chất của vật chất và điều được bao hàm một cách huyền bí trong cách diễn đạt ấy, cấu tạo tam phân của chính y, ba cõi giới trong đó y phải giữ phần việc của mình, và công cụ mà y phải sử dụng. Thần Trượng này của Đức Bồ Tát được gắn trên đỉnh bởi một viên kim cương không lớn bằng “Kim Cương Rực Lửa” của Kumara thứ nhất, nhưng có vẻ đẹp hiếm có. Vào lúc điểm đạo khi các mãnh lực điện được khai mở, viên kim cương này quay trên trục của nó, mô tả bản chất quay tròn của vật chất nguyên tử.
The Rod of Sanat Kumara is far more intricate, and instead of the central Rod, or Serpent, standing on the tip of its tail, all the three serpents are interwoven in a spiral fashion, and the Flaming Diamond which surmounts [Page 1036] it is of such radiance that the effect is produced of a spheroidal aura, cast around the interlaced serpents, typifying the form-building nature of the Vishnu activity.
Thần Trượng của Đức Sanat Kumara phức tạp hơn nhiều, và thay vì Cây Trượng trung tâm, hay Con Rắn, đứng trên chót đuôi của nó, thì cả ba con rắn đều đan xen nhau theo hình xoắn ốc, và Kim Cương Rực Lửa ở trên đỉnh [Page 1036] của nó có độ rạng ngời đến mức tạo ra hiệu quả của một hào quang hình cầu bao quanh các con rắn đan xen, tượng trưng cho bản chất kiến tạo hình tướng của hoạt động Vishnu.
According to the initiation taken, a reflection will be seen from a part of the interlaced serpents, and the illusion will be created that the diamond is cycling up and down between the summit, and the irradiated portion.
Tùy theo lần điểm đạo đã nhận, một sự phản chiếu sẽ được thấy từ một phần của các con rắn đan xen, và ảo giác sẽ được tạo ra rằng viên kim cương đang tuần hoàn lên xuống giữa đỉnh cao và phần được chiếu rạng.
At the same time, each serpent revolves upon itself, and likewise cycles around its neighbor, producing an effect of extraordinary brilliance and beauty, and typifying rotary-spiral-cyclic force.
Đồng thời, mỗi con rắn quay trên chính nó, và cũng tuần hoàn quanh con bên cạnh, tạo ra một hiệu quả rực rỡ và mỹ lệ phi thường, và tượng trưng cho mãnh lực quay tròn-xoắn ốc-chu kỳ.