← A Treatise on Cosmic Fire

S9S1 Text

Trích nội dung chương

c. Radiation and Cyclic Law. Scattered throughout this Treatise, are numerous indications of the cyclic nature of this phenomenon, and students should bear in mind that in all which concerns radiation, as in all else, there will be periods of quiescence, and periods of intensified activity. This will be seen quite clearly in connection with the fourth kingdom of nature. A period of radioactivity is being entered upon now in which men and women will achieve a larger realisation; they will begin to transcend their human limitations, and to enter the fifth kingdom one by one, and unit by unit. This period, as far as the larger cycle is…


Cosmic Fire S9

(1079-1194)

S9S1 Text

c. Radiation and Cyclic Law. Scattered throughout this Treatise, are numerous indications of the cyclic nature of this phenomenon, and students should bear in mind that in all which concerns radiation, as in all else, there will be periods of quiescence, and periods of intensified activity. This will be seen quite clearly in connection with the fourth kingdom of nature. A period of radioactivity is being entered upon now in which men and women will achieve a larger realisation; they will begin to transcend their human limitations, and to enter the fifth kingdom one by one, and unit by unit. This period, as far as the larger cycle is concerned, began when the Door of Initiation was opened in Atlantean days, but many lesser cycles have occurred, for the influx into the fifth kingdom is equally governed by cyclic law, by periodic ebb and flow. At the close of the fourth root race there was a period of distinctive radioactivity, and many hundreds of men passed out of the fourth Creative Hierarchy into another and a higher one. Many posts held hitherto by Venusian Entities were vacated in order that our humanity might occupy them, and a vast interchain [Page 1079] radiation went on as many of the Kumaras and certain lesser existences quitted our earth chain, and entered upon subtler, and more advanced work. Then the activity gradually ebbed until a recurring cycle brought in influences which produced a new radiation, though not of such a strength as in the preceding period.

c. Sự phóng xạ và Định luật Chu kỳ. Rải rác khắp Luận về Lửa Vũ Trụ này có nhiều chỉ dẫn về bản chất chu kỳ của hiện tượng này, và các đạo sinh nên ghi nhớ rằng trong mọi điều liên quan đến sự phóng xạ, cũng như trong mọi điều khác, sẽ có những thời kỳ tĩnh lặng và những thời kỳ hoạt động tăng cường. Điều này sẽ được thấy khá rõ trong mối liên hệ với giới thứ tư của thiên nhiên. Hiện nay đang bước vào một thời kỳ phóng xạ trong đó những người nam và nữ sẽ đạt được một (sự)chứng nghiệm lớn hơn; họ sẽ bắt đầu siêu vượt những giới hạn nhân loại của mình, và đi vào giới thứ năm từng người một, từng đơn vị một. Thời kỳ này, xét theo chu kỳ lớn hơn, đã bắt đầu khi Cánh Cửa Điểm Đạo được mở ra trong thời Atlantis, nhưng nhiều chu kỳ nhỏ hơn đã xảy ra, vì sự tuôn vào giới thứ năm cũng được chi phối bởi định luật chu kỳ, bởi sự lên xuống tuần hoàn. Vào lúc kết thúc giống dân gốc thứ tư đã có một thời kỳ phóng xạ đặc biệt, và nhiều trăm người đã đi ra khỏi Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư sang một Huyền Giai khác và cao hơn. Nhiều chức vụ trước đây do các Thực Thể Kim tinh nắm giữ đã được bỏ trống để nhân loại chúng ta có thể đảm nhận, và một sự phóng xạ liên dãy rộng lớn đã diễn ra khi nhiều vị Kumara và một số hiện hữu thấp hơn rời khỏi dãy địa cầu của chúng ta, và bước vào công việc tinh tế hơn, tiến bộ hơn. Khi ấy hoạt động dần dần suy giảm cho đến khi một chu kỳ tái diễn mang đến những ảnh hưởng tạo ra một sự phóng xạ mới, tuy không mạnh bằng thời kỳ trước đó.

Another period of radioactivity occurred during the time of the Buddha and many achieved Arhatship in those days. That period was the highest point of what is occultly termed “a cycle of the third degree,” and a similar degree of radiatory activity has not been reached since that time. Human radiation of a very slight nature was felt about the time of Christ, but it only lasted for a couple of hundred years, and though individuals here and there have since achieved the goal, yet no large numbers have passed successfully through the fires of transmutation, and thus transcended the fourth kingdom. The cycle is again on the upward turn; about the fourteenth century the human kingdom began to be noticeably radioactive, and we are on the way to the fulfilment of a “cycle of the second order” or of a period of transcendence of a still greater activity than in the time of the Buddha. It will become demonstrably great when certain conditions have been fulfilled.

Một thời kỳ phóng xạ khác đã xảy ra vào thời Đức Phật và nhiều người đã đạt A-la-hán quả trong những ngày ấy. Thời kỳ đó là đỉnh cao của điều được gọi một cách huyền bí là “một chu kỳ cấp ba”, và từ đó đến nay chưa đạt lại được một mức độ hoạt động phóng xạ tương tự. Sự phóng xạ của con người ở mức rất nhẹ đã được cảm nhận vào khoảng thời Đức Christ, nhưng nó chỉ kéo dài vài trăm năm, và dù từ đó đến nay vẫn có những cá nhân đây đó đạt được mục tiêu, song không có số lượng lớn nào đã đi qua thành công những ngọn lửa chuyển hoá, và như thế siêu vượt giới thứ tư. Chu kỳ hiện lại đang trên đà đi lên; vào khoảng thế kỷ mười bốn, giới nhân loại bắt đầu trở nên phóng xạ một cách đáng kể, và chúng ta đang trên đường tiến tới sự hoàn thành của “một chu kỳ cấp hai” hay một thời kỳ siêu vượt với hoạt động còn lớn hơn thời Đức Phật. Nó sẽ trở nên lớn lao một cách hiển nhiên khi một số điều kiện nhất định được hoàn tất.

First, when the present world chaos has subsided. Next, when the present generation has consummated its work of reconstruction. Third, when the coming great Lord has entered upon His mission upon earth, thereby increasing the vibration in every kingdom of nature, but particularly in the second and fourth.

Thứ nhất, khi sự hỗn loạn thế giới hiện nay đã lắng xuống. Kế đó, khi thế hệ hiện nay đã hoàn tất công việc tái thiết của mình. Thứ ba, khi vị Chúa Tể vĩ đại sắp đến đã bắt đầu sứ mệnh của Ngài trên địa cầu, nhờ đó làm gia tăng rung động trong mọi giới của thiên nhiên, nhưng đặc biệt là trong giới thứ hai và thứ tư.

Fourth, when the movement, inaugurated at the close of each century by the Trans-Himalayan Lodge is under way, and the psycho-scientific Egos who are its agents have made their presence felt.

Thứ tư, khi phong trào do Thánh đoàn Xuyên Hy Mã Lạp Sơn khởi xướng vào cuối mỗi thế kỷ đang được tiến hành, và các chân ngã tâm lý-khoa học là những tác nhân của phong trào ấy đã làm cho sự hiện diện của họ được cảm nhận.

Finally, when a movement is instituted by the Lodge, working in connection with the fourth root race; it will [Page 1080] also be part of the stimulative process, and will result in the rendering radioactive of some of the foremost thinkers of that race. It will be their day of opportunity, and so great is the importance attached to this that a Member of the Lodge, Confucius as he has been called in the past, will incarnate in order to superintend the work. The preliminary steps are being taken now, and Egos are coming in who will endeavour to direct the energies of this race on to the right line though the peak of the cycle of stimulation will not be until the middle of the next century. It is needless for me to point out that all such movements are first felt as disturbing, and only when the dust of turmoil, and the noise of clashing forces have died away will purpose be seen emerging. This is very apparent in Russia at the present time.

Sau cùng, khi một phong trào được Thánh đoàn thiết lập, hoạt động trong mối liên hệ với giống dân gốc thứ tư; nó sẽ [Page 1080] cũng là một phần của tiến trình kích thích, và sẽ đưa đến việc làm cho một số nhà tư tưởng hàng đầu của giống dân ấy trở nên phóng xạ. Đó sẽ là ngày cơ hội của họ, và tầm quan trọng gắn với điều này lớn đến nỗi một Thành viên của Thánh đoàn, người trước đây đã được gọi là Khổng Tử, sẽ nhập thể để giám sát công việc. Những bước sơ khởi hiện đang được tiến hành, và các chân ngã đang đi vào, những người sẽ cố gắng hướng dẫn các năng lượng của giống dân này đi theo đường lối đúng đắn, dù đỉnh điểm của chu kỳ kích thích sẽ không đến cho tới giữa thế kỷ tới. Tôi không cần phải chỉ ra rằng mọi phong trào như thế trước hết đều được cảm nhận như gây xáo trộn, và chỉ khi bụi của hỗn loạn và tiếng ồn của các mãnh lực xung đột đã lắng xuống thì mục đích mới được thấy đang xuất hiện. Điều này hiện rất rõ ràng ở nước Nga.

A great factor and one that it is hard to explain so that the average thinker can understand it is the cyclic coming in of egos who are at a point in evolution where they are ready for their first radioactive life. In one great department of hierarchical endeavour all egos are divided into two groups, according to their cycle and according to their type of energy. These grades are in turn subdivided according to the quality and the vibratory effect to be induced upon any one kingdom of nature by their united, or single, incarnation. This might be illustrated by pointing out that by the gradual coming in of human beings who are vegetarians by natural inclination and by the appearance of egos who are interested specifically in the welfare and nurture of the animals (as is the case so noticeably now) we have the cyclic appearance of a whole group of human units who have a definite karmic relation to the third kingdom. This relation is of a kind differing in specific detail from the meat-eating, and oft inhuman, groups of the past five hundred years.

Một yếu tố lớn lao, và là điều khó giải thích để nhà tư tưởng trung bình có thể hiểu được, là sự đi vào theo chu kỳ của các chân ngã đang ở một điểm tiến hoá mà tại đó họ đã sẵn sàng cho đời sống phóng xạ đầu tiên của mình. Trong một bộ phận lớn của nỗ lực phân cấp, mọi chân ngã được chia thành hai nhóm, tùy theo chu kỳ của họ và tùy theo loại năng lượng của họ. Đến lượt mình, các cấp bậc này lại được phân chia nhỏ hơn theo phẩm tính và theo hiệu quả rung động sẽ được gây ra trên bất kỳ giới thiên nhiên nào bởi sự nhập thể chung hay riêng của họ. Điều này có thể được minh họa bằng cách chỉ ra rằng nhờ sự đi vào dần dần của những con người ăn chay do khuynh hướng tự nhiên, và nhờ sự xuất hiện của các chân ngã đặc biệt quan tâm đến phúc lợi và sự nuôi dưỡng động vật (như hiện nay thấy rất rõ), chúng ta có sự xuất hiện theo chu kỳ của cả một nhóm đơn vị con người có một mối liên hệ nghiệp quả xác định với giới thứ ba. Mối liên hệ này thuộc một loại khác biệt về chi tiết cụ thể so với các nhóm ăn thịt, và thường vô nhân đạo, của năm trăm năm qua.

It might be of profit and of interest if we here enumerated some of the occult terms applied to some of these [Page 1081] differentiated groups, remembering that we are only touching upon a few out of a vast number, and only name those the terminology of which conveys information and educational benefit to the student:

Sẽ có ích và thú vị nếu ở đây chúng ta liệt kê một số thuật ngữ huyền bí được áp dụng cho một số [Page 1081] nhóm phân biệt này, nhớ rằng chúng ta chỉ đang chạm đến một vài nhóm trong vô số nhóm, và chỉ nêu tên những nhóm mà thuật ngữ của chúng truyền đạt thông tin và lợi ích giáo dục cho đạo sinh:

1. The units of inertia,

1. Các đơn vị của quán tính,

2. Atoms of rhythmic centralisation,

2. Các nguyên tử của sự tập trung trung tâm có nhịp điệu,

3. Units of primary radiation,

3. Các đơn vị của sự phóng xạ sơ cấp,

4. The sons of heavy rhythm,

4. Những người con của nhịp điệu nặng nề,

5. The points of fiery excellence (a name given oft to magnetic, highly-evolved types),

5. Những điểm của sự xuất sắc rực lửa (một tên gọi thường dành cho các loại từ tính, tiến hoá cao),

6. Tertiary points of secondary fire,

6. Những điểm tam cấp của lửa thứ cấp,

7. Magnetic flames (given to chelas and initiates of certain degrees),

7. Những ngọn lửa từ tính (dành cho các đệ tử và các điểm đạo đồ ở một số cấp độ nhất định),

8. Positive sons of electricity,

8. Những người con dương của điện,

9. Rotating units of the seventh order,

9. Những đơn vị xoay tròn của cấp bảy,

10. Points of light of the fourth progression,

10. Những điểm ánh sáng của tiến trình thứ tư,

11. Electric sparks,

11. Những tia lửa điện,

12. Units of negative resistance,

12. Những đơn vị của sự kháng cự âm,

13. The equilibrised atoms.

13. Những nguyên tử được quân bình.

Many more names might be given but these will suffice to indicate the general nature of these energy summations, under which all the members of the human family are gathered and placed according to:

Có thể nêu thêm nhiều tên nữa, nhưng chừng này đủ để chỉ ra bản chất tổng quát của các tổng hợp năng lượng này, theo đó mọi thành viên của gia đình nhân loại được tập hợp và xếp đặt tùy theo:

a. Their rhythm,

a. Nhịp điệu của họ,

b. Their quality,

b. Phẩm tính của họ,

c. Their heat,

c. Nhiệt của họ,

d. Their light,

d. Ánh sáng của họ,

e. Their magnetic influence,

e. Ảnh hưởng từ tính của họ,

f. Their radiation,

f. Sự phóng xạ của họ,

g. Their activity.

g. Hoạt động của họ.

This tabulation is but an extension of the major one which grouped all Egos under the divisions of colour, sound and vibration. A similar enumeration has also grouped the atoms in the other kingdoms of nature, and [Page 1082] even the Dhyan Chohans of the highest rank find their place in the hierarchical archives of this fifth (or third) department.

Bảng liệt kê này chỉ là sự mở rộng của bảng lớn hơn đã nhóm mọi Chân ngã dưới các phân bộ màu sắc, âm thanh và rung động. Một sự liệt kê tương tự cũng đã nhóm các nguyên tử trong những giới khác của thiên nhiên, và [Page 1082] ngay cả các Dhyan Chohan ở cấp bậc cao nhất cũng tìm thấy vị trí của mình trong các văn khố phân cấp của bộ phận thứ năm (hay thứ ba) này.

A cyclic tabulation is of equal interest but is of a totally different nature, carrying to the initiated and intuitive investigator many hints of an evolutionary and historical value. Again we might append a brief epitome of some of the expressions used and of some of the names under which human beings are grouped in the archives of this the seventh department:

Một bảng liệt kê theo chu kỳ cũng thú vị không kém nhưng có bản chất hoàn toàn khác, mang đến cho nhà khảo cứu được điểm đạo và trực giác nhiều gợi ý có giá trị tiến hoá và lịch sử. Một lần nữa, chúng ta có thể đính kèm một bản tóm lược ngắn về một số cách diễn đạt được dùng và một số tên gọi mà dưới đó con người được nhóm lại trong các văn khố của bộ phận thứ bảy này:

1. Units of the fire-mist stage,

1. Các đơn vị của giai đoạn sương lửa,

2. Points of lunar origin,

2. Những điểm có nguồn gốc thái âm,

3. Sons of the sun,

3. Những người con của mặt trời,

4. Devas of the fourth degree,

4. Các thiên thần của cấp bốn,

5. Flames from interplanetary spheres,

5. Những ngọn lửa từ các khối cầu liên hành tinh,

6. Atoms from the crimson sphere—a reference to certain Egos who have come to the earth from the planetary scheme whose note is red,

6. Những nguyên tử từ khối cầu đỏ thắm—ám chỉ một số Chân ngã đã đến địa cầu từ hệ hành tinh có âm điệu là màu đỏ,

7. The successful Vyasians,

7. Những Vyasians thành công,

8. The points in the third planetary petal, and groups of others related to the twelve petalled planetary lotus,

8. Những điểm trong cánh hoa hành tinh thứ ba, và những nhóm khác liên hệ với hoa sen hành tinh mười hai cánh,

9. The lovers of low vibration,

9. Những kẻ yêu rung động thấp,

10. The rejectors of the eighth scheme,

10. Những kẻ khước từ hệ hành tinh thứ tám,

11. The points of triple resistance,

11. Những điểm của sức kháng cự tam phân,

12. The followers of the ARHAT,

12. Những người theo ARHAT,

13. The cyclic sons of peace,

13. Những người con hòa bình theo chu kỳ,

14. The recurring sons of war,

14. Những người con chiến tranh tái diễn,

15. The specks within the planetary eye,

15. Những đốm nhỏ bên trong mắt hành tinh,

16. The recognised points within the chakras. These naturally exist in ten groups.

16. Những điểm được nhận biết bên trong các luân xa. Dĩ nhiên những điểm này tồn tại trong mười nhóm.

Each name conveys to the mind of the initiate some knowledge as to the place in evolution of the Monad concerned, the nature of its incarnations, and its place in cyclic evolution.

Mỗi tên gọi truyền đạt cho trí tuệ của điểm đạo đồ một số hiểu biết về vị trí tiến hoá của Chân thần liên hệ, bản chất các lần nhập thể của nó, và vị trí của nó trong tiến hoá chu kỳ.

[Page 1083] The same method of grouping is used in connection with all the kingdoms though only in the case of the fourth and the fifth kingdoms are individual atoms dealt with; the tabulations and records for the other kingdoms are concerned with groups. When a group is known, the nature, vibration, and rhythm of the atom within that group is immediately apparent.

[Page 1083] Phương pháp nhóm loại tương tự cũng được dùng trong mối liên hệ với mọi giới, dù chỉ trong trường hợp của giới thứ tư và thứ năm thì các nguyên tử cá biệt mới được đề cập đến; các bảng liệt kê và hồ sơ của những giới khác liên quan đến các nhóm. Khi một nhóm được biết, bản chất, rung động và nhịp điệu của nguyên tử bên trong nhóm đó lập tức trở nên rõ ràng.

IV. THE TURNING OF THE WHEEL

IV. SỰ XOAY CHUYỂN CỦA BÁNH XE

(312)

(312)

(312) Man must understand the nature of the wheel in which he is turned, called in Sanskrit the wheel of Samsara. This latter word derived from the root Sru, to move, indicates a motion wheel or the great wheel of changing life in which the human entities have been called upon to work and which must never be abandoned out of compassion for man and in obedience to the law of oneness which connects the many, in the opinion of all true yogees and Sri Krishna. The Teacher gives the nature of the samsaric wheel in a certain peculiar way which deserves to be thought over by you all. He says “all bhootas spring up from food and food from Parjanya or rain. Rain comes out of yagna and yagna out of Karma. Karma is out of the Veda and Veda is of the Eternal.” Here you see a Septenary gamut is given with the bhoota (or manifested form) at one end and the eternal substance unmanifested to us at the other end. If we divide this seven according to the theosophical plane of a lower four dominated over by a higher triad, we get form, food, rain and yagna as the lower four and karma, Veda and eternal substance as the higher triad. The eternal substance that pervades all space, worked on by the world song and giving rise to all the laws of karma that govern the development of the world, develops a lower four and this four is started by yagna—the spirit of evolution that connects the higher and lower or in Puranic fashion, the spirit that seeks to add to the harmony of the unmanifested by giving it a field of disharmony to work upon and establish its own greatness. This spirit of yagna in its way to produce the manifested form gives rise to the Parjanya or rain. The word Parjanya is applied to rain and often times to a spirit whose function is to produce rain.—Some Thoughts on the Gita, p. 127. (back)

(312) Con người phải thấu hiểu bản chất của bánh xe trong đó y bị xoay chuyển, được gọi trong tiếng Phạn là bánh xe Luân hồi. Từ sau này, phát sinh từ gốc Sru, nghĩa là chuyển động, chỉ một bánh xe chuyển động hay bánh xe lớn của đời sống biến đổi, trong đó các thực thể con người đã được kêu gọi hoạt động và bánh xe ấy không bao giờ được từ bỏ vì lòng từ bi đối với con người và vì sự tuân phục định luật nhất thể nối kết số nhiều, theo quan điểm của mọi yogee chân chính và của Sri Krishna. Huấn sư trình bày bản chất của bánh xe luân hồi theo một cách đặc biệt nào đó đáng để tất cả các bạn suy ngẫm. Ngài nói “mọi bhoota phát sinh từ thức ăn và thức ăn từ Parjanya hay mưa. Mưa phát sinh từ yagna và yagna từ Karma. Karma phát sinh từ Veda và Veda từ Đấng Vĩnh Cửu.” Ở đây bạn thấy một âm giai thất phân được nêu ra với bhoota (hay hình tướng biểu hiện) ở một đầu và chất liệu vĩnh cửu không biểu hiện đối với chúng ta ở đầu kia. Nếu chúng ta chia bảy này theo cõi Thông Thiên Học thành bốn thấp được chi phối bởi một tam nguyên tinh thần cao hơn, chúng ta có hình tướng, thức ăn, mưa và yagna là bốn thấp, còn karma, Veda và chất liệu vĩnh cửu là tam nguyên tinh thần cao hơn. Chất liệu vĩnh cửu thấm nhuần toàn thể không gian, được tác động bởi bài ca thế giới và làm phát sinh mọi định luật nghiệp quả chi phối sự phát triển của thế giới, phát triển thành một bộ bốn thấp và bộ bốn này được khởi động bởi yagna—tinh thần của tiến hoá nối kết cao và thấp, hay theo cách nói Puranic, tinh thần tìm cách thêm vào sự hài hòa của cái không biểu hiện bằng cách trao cho nó một lĩnh vực bất hòa để hoạt động và thiết lập sự vĩ đại riêng của nó. Tinh thần yagna này trên đường tạo ra hình tướng biểu hiện làm phát sinh Parjanya hay mưa. Từ Parjanya được áp dụng cho mưa và thường khi cho một tinh thần có chức năng tạo ra mưa.—Một vài suy tưởng về Gita, tr. 127. (trở lại)

We come now to the consideration of another point, and one of very real moment; it emerges out of what we have been saying anent cycles and is the basis of all periodic phenomena. One of the most elementary of scientific truths is that the earth revolves upon its axis, and that it travels around the sun. One of the truths less recognised, yet withal of equal importance, is that the entire solar system equally revolves upon its axis but in a cycle so vast as to be beyond the powers of ordinary man to comprehend, and which necessitates mathematical formulae [Page 1084] of great intricacy. The orbital path of the solar system in the heavens around its cosmic centre is now being sensed, and the general drift also of our constellation is being taken into consideration as a welcome hypothesis. Scientists have not yet admitted into their calculations the fact that our solar system is revolving around a cosmic centre along with six other constellations of even greater magnitude in the majority of cases than ours, only one being approximately of the same magnitude as our solar system. This cosmic centre in turn forms part of a great wheel till—to the eye of the illumined seer—the entire vault of Heaven is seen to be in motion. All the constellations, viewing them as a whole, are impelled in one direction.

Giờ đây chúng ta đi đến việc xem xét một điểm khác, và là một điểm có tầm quan trọng rất thực tiễn; nó xuất hiện từ những gì chúng ta đã nói liên quan đến các chu kỳ và là nền tảng của mọi hiện tượng tuần hoàn. Một trong những chân lý khoa học sơ đẳng nhất là địa cầu quay quanh trục của nó, và chuyển động quanh mặt trời. Một trong những chân lý ít được nhận biết hơn, nhưng đồng thời cũng quan trọng không kém, là toàn bộ hệ mặt trời cũng quay quanh trục của nó nhưng trong một chu kỳ rộng lớn đến nỗi vượt ngoài khả năng lĩnh hội của con người bình thường, và đòi hỏi những công thức toán học [Page 1084] cực kỳ phức tạp. Quỹ đạo của hệ mặt trời trên thiên không quanh trung tâm vũ trụ của nó hiện đang được cảm nhận, và xu hướng chung của chòm sao chúng ta cũng đang được xem xét như một giả thuyết đáng hoan nghênh. Các nhà khoa học vẫn chưa thừa nhận trong các phép tính của họ sự kiện rằng hệ mặt trời chúng ta đang quay quanh một trung tâm vũ trụ cùng với sáu chòm sao khác, trong đa số trường hợp còn có tầm vóc lớn hơn hệ mặt trời của chúng ta, chỉ có một chòm sao xấp xỉ cùng độ lớn với hệ mặt trời của chúng ta. Đến lượt mình, trung tâm vũ trụ này lại tạo thành một phần của một bánh xe lớn cho đến khi—đối với con mắt của nhà thông nhãn được soi sáng—toàn bộ vòm trời được thấy là đang chuyển động. Tất cả các chòm sao, khi nhìn như một toàn thể, đều bị thúc đẩy theo một hướng.

The old Commentary expresses this obscure truth as follows:

Cổ Luận diễn tả chân lý mơ hồ này như sau:

“The one wheel turns. One turn alone is made, and every sphere, and suns of all degrees, follow its course. The night of time is lost in it, and kalpas measure less than seconds in the little day of man.

“Bánh xe duy nhất xoay chuyển. Chỉ một vòng quay được thực hiện, và mọi khối cầu, cùng các mặt trời ở mọi cấp độ, đều theo lộ trình của nó. Đêm của thời gian mất hút trong đó, và các kalpa đo lường ít hơn những giây phút trong ngày nhỏ bé của con người.

Ten million million kalpas pass, and twice ten million million Brahmic cycles and yet one hour of cosmic time is not completed.

Mười triệu triệu kalpa trôi qua, và hai lần mười triệu triệu chu kỳ Brahma, vậy mà một giờ của thời gian vũ trụ vẫn chưa hoàn tất.

Within the wheel, forming that wheel, are all the lesser wheels from the first to the tenth dimension. These in their cyclic turn hold in their spheres of force other and lesser wheels. Yet many suns compose the cosmic One.

Bên trong bánh xe, tạo thành bánh xe ấy, là mọi bánh xe nhỏ hơn từ chiều kích thứ nhất đến chiều kích thứ mười. Những bánh xe này trong vòng quay chu kỳ của chúng lại giữ trong các khối cầu mãnh lực của mình những bánh xe khác và nhỏ hơn nữa. Tuy nhiên, nhiều mặt trời hợp thành Đấng Duy Nhất vũ trụ.

Wheels within wheels, spheres within spheres. Each pursues his course and attracts or rejects his brother, and yet cannot escape from the encircling arms of the mother.

Những bánh xe trong những bánh xe, những khối cầu trong những khối cầu. Mỗi cái theo đuổi lộ trình của mình và hấp dẫn hay khước từ huynh đệ của mình, nhưng vẫn không thể thoát khỏi vòng tay bao quanh của người mẹ.

When the wheels of the fourth dimension, of which our sun is one and all that is of lesser force and higher number, such as the eighth and ninth degrees, turn upon themselves, devour each other, and turn and rend their mother, then will the cosmic wheel be ready for a faster revolution.”

Khi những bánh xe của chiều kích thứ tư, mà mặt trời chúng ta là một trong số đó, cùng mọi cái có mãnh lực thấp hơn và số lượng cao hơn, như các cấp thứ tám và thứ chín, tự xoay trên chính mình, nuốt chửng lẫn nhau, và xoay chuyển rồi xé rách mẹ của chúng, khi ấy bánh xe vũ trụ sẽ sẵn sàng cho một vòng quay nhanh hơn.”

It will, therefore, be apparent that the power of man to conceive of these whirling constellations, to measure their interaction, and to realise their essential unity is not as yet great enough. We are told that even to the [Page 1085] liberated Dhyan Chohan the mystery of that which lies beyond his own solar Ring-Pass-Not is hid.

Vì vậy, sẽ rõ ràng rằng năng lực của con người trong việc hình dung các chòm sao xoay chuyển này, đo lường sự tương tác của chúng, và chứng nghiệm sự hợp nhất cốt yếu của chúng hiện vẫn chưa đủ lớn. Chúng ta được bảo rằng ngay cả đối với vị Dhyan Chohan đã được giải thoát thì huyền nhiệm của điều nằm vượt ra ngoài vòng-giới-hạn thái dương riêng của Ngài vẫn còn bị che giấu.

Certain influences indicate to Him and certain lines of force demonstrate to Him the fact that some constellations are knit with His system in a close and corporate union. We know that the Great Bear, the Pleiades, Draco or the Dragon are in some way associated with the solar system but as yet He knows not their function nor the nature of the other constellations. It must also be remembered that the turning of our tiny systemic wheel, and the revolution of a cosmic wheel can be hastened, or retarded, by influences emanating from unknown or unrealised constellations whose association with a systemic or a cosmic Logos is as mysterious relatively as the effect individuals have upon each other in the human family. This effect is hidden in logoic karma and is beyond the ken of man.

Một số ảnh hưởng chỉ cho Ngài biết và một số đường mãnh lực chứng minh cho Ngài sự kiện rằng một vài chòm sao được kết hợp với hệ thống của Ngài trong một sự hợp nhất chặt chẽ và tập thể. Chúng ta biết rằng Đại Hùng Tinh, Thất Nữ Tinh, Draco hay Con Rồng bằng cách nào đó có liên hệ với hệ mặt trời, nhưng cho đến nay Ngài vẫn chưa biết chức năng của chúng cũng như bản chất của các chòm sao khác. Cũng phải nhớ rằng sự xoay chuyển của bánh xe hệ thống nhỏ bé của chúng ta, và sự quay của một bánh xe vũ trụ, có thể được thúc đẩy nhanh hơn hoặc làm chậm lại bởi những ảnh hưởng phát ra từ các chòm sao chưa biết hoặc chưa được chứng nghiệm, mà sự liên hệ của chúng với một Logos hệ thống hay một Logos vũ trụ cũng huyền nhiệm một cách tương đối như ảnh hưởng mà các cá nhân tác động lên nhau trong gia đình nhân loại. Ảnh hưởng này ẩn giấu trong nghiệp quả logoic và vượt ngoài tầm hiểu biết của con người.

The wheels in order of their importance might be enumerated as follows:

Các bánh xe theo thứ tự quan trọng của chúng có thể được liệt kê như sau:

The wheel of the universe, or the sumtotal of all stars and starry systems.

Bánh xe của vũ trụ, hay tổng số của mọi ngôi sao và các hệ sao.

A cosmic wheel, or a group of seven constellations. These are grouped according to:

Một bánh xe vũ trụ, hay một nhóm bảy chòm sao. Chúng được nhóm lại theo:

a. Their magnitude,

a. Tầm vóc của chúng,

b. Their vibration,

b. Rung động của chúng,

c. Their colour,

c. Màu sắc của chúng,

d. Their influence upon each other.

d. Ảnh hưởng của chúng lên nhau.

These cosmic wheels, according to the esoteric books, are divided into forty-nine groups, each comprising millions of septenary constellations. For purposes of study by the Adepts, they are each known by a symbol, and these forty-nine symbols embody all that can be apprehended anent the size, magnitude, quality, vibratory activity, and objective of those great forms through which an Existence is experiencing. The Chohans of high degree [Page 1086] know the forty-nine sounds which give the quality of the consciousness aspect of these great Beings Who are as far removed from the consciousness of our solar Logos as the consciousness of man is removed from that of a crystal. The knowledge thus appreciated by the Chohans is naturally but theoretical and conveys only to their relatively limited consciousness the general nature of the group of constellations, and the force occasionally emanating from them which has at times to be taken into calculation. For instance, the interest awakened in the public mind lately by the giant star Betelgeuse in the constellation of Orion is due to the fact that at this particular time there has been an interplay of force between our tiny system and this giant one, and communication between the two informing Existences.

Theo các sách huyền bí, các bánh xe vũ trụ này được chia thành bốn mươi chín nhóm, mỗi nhóm gồm hàng triệu chòm sao thất phân. Vì mục đích nghiên cứu của các chân sư, mỗi nhóm đều được biết đến qua một biểu tượng, và bốn mươi chín biểu tượng này bao hàm tất cả những gì có thể được lĩnh hội liên quan đến kích thước, độ lớn, phẩm tính, hoạt động rung động, và mục tiêu của những hình tướng vĩ đại mà qua đó một Sự Tồn Tại đang kinh nghiệm. Các Chohan cấp cao [Page 1086] biết bốn mươi chín âm thanh tạo nên phẩm tính của phương diện tâm thức của các Hữu Thể Vĩ Đại này, là những Đấng cách xa tâm thức của Thái dương Thượng đế của chúng ta cũng như tâm thức con người cách xa tâm thức của một tinh thể. Tri thức mà các Chohan lĩnh hội được như thế dĩ nhiên chỉ là lý thuyết và chỉ truyền đạt cho tâm thức tương đối hữu hạn của các Ngài bản chất tổng quát của nhóm chòm sao ấy, cùng mãnh lực đôi khi phát ra từ chúng mà vào những lúc nhất định phải được đưa vào tính toán. Chẳng hạn, sự quan tâm gần đây được khơi dậy trong trí óc công chúng đối với ngôi sao khổng lồ Betelgeuse trong chòm Orion là do vào đúng thời điểm này đã có một sự tương tác mãnh lực giữa hệ thống nhỏ bé của chúng ta và hệ thống khổng lồ kia, cùng sự giao tiếp giữa hai Sự Tồn Tại phú linh cho chúng.

Systemic wheels or the atomic life of individual constellations. These again are divided into 343 groups, known to the Adept again through a series of characters forming a word which—through its ideographic nature—conveys essential information to the Adept. The ideograph for our solar system may in part be disclosed—not the characters themselves but a digest of that for which the characters stand. Our solar system is disclosed as being:

Các bánh xe hệ thống hay sự sống nguyên tử của các chòm sao cá biệt. Các bánh xe này lại được chia thành 343 nhóm, cũng được chân sư nhận biết qua một chuỗi ký tự hợp thành một từ, mà—nhờ bản chất biểu ý của nó—truyền đạt thông tin cốt yếu cho chân sư. Biểu ý tự của hệ mặt trời của chúng ta có thể phần nào được tiết lộ—không phải chính các ký tự ấy mà là phần tóm lược điều mà các ký tự ấy biểu thị. Hệ mặt trời của chúng ta được trình bày như sau:

a. A system of the fourth order, having its force centres upon the fourth cosmic plane, and making its objective manifestation from the fourth systemic plane, via the fourth subplane of the systemic physical plane.

a. Một hệ thống thuộc cấp bậc thứ tư, có các trung tâm mãnh lực trên cõi vũ trụ thứ tư, và biểu hiện khách quan từ cõi hệ thống thứ tư, qua cõi phụ thứ tư của cõi hồng trần hệ thống.

b. Blue in colour, esoteric orange and green.

b. Có màu xanh lam, về mặt huyền bí là cam và lục.

c. A system which is occultly known to the Adept as “in an airy sign in which the Bird can fly.”

c. Một hệ thống mà chân sư biết một cách huyền bí là “ở trong một dấu hiệu hành khí nơi Con Chim có thể bay.”

d. A system formed of “three fires which form a fourth.”

d. Một hệ thống được tạo thành bởi “ba lửa hợp thành một lửa thứ tư.”

e. A system in which the Bird has “four tail feathers” [Page 1087] and hence can occultly “mount to a higher plane and find its fifth.”

e. Một hệ thống trong đó Con Chim có “bốn lông đuôi” [Page 1087] và vì thế có thể một cách huyền bí “bay lên một cõi cao hơn và tìm thấy cái thứ năm của nó.”

f. A system which has four major cycles, and minor periods of manifestation which are multiples of that figure.

f. Một hệ thống có bốn chu kỳ chính, và các thời kỳ biểu hiện phụ là bội số của con số ấy.

g. A system which in the alchemical phraseology of the Masters is viewed as being “a product of the fourth; the fourth itself in process of transmutation; and the living stone with four shells.” All this can be seen at one glance by the Master who has the ideographic word before Him. Other ideograms are available for His use which give Him the immediate information as He studies the influences contacting our solar system.

g. Một hệ thống mà theo thuật ngữ luyện kim của các Chân sư được xem là “một sản phẩm của cái thứ tư; chính cái thứ tư trong tiến trình chuyển hoá; và hòn đá sống với bốn lớp vỏ.” Tất cả điều này có thể được Chân sư nhìn thấy chỉ trong một cái liếc mắt khi từ biểu ý ở trước Ngài. Còn có những biểu ý tự khác để Ngài sử dụng, cung cấp cho Ngài thông tin tức thời khi Ngài nghiên cứu các ảnh hưởng tiếp xúc với hệ mặt trời của chúng ta.

Planetary wheels. For these there are ten modes of expression.

Các bánh xe hành tinh. Đối với chúng có mười phương thức biểu đạt.

Chain wheels, called in some of the books rounds.

Các bánh xe dãy, trong một số sách được gọi là các cuộc tuần hoàn.

The revolution of any one globe.

Sự quay vòng của bất kỳ bầu hành tinh nào.

The cycle of the three worlds.

Chu kỳ của ba cõi thấp.

The wheel of a plane.

Bánh xe của một cõi.

The revolution or cyclic appearance of a kingdom in nature. This applies within a scheme but only to the four kingdoms in objective appearance.

Sự quay vòng hay sự xuất hiện theo chu kỳ của một giới trong thiên nhiên. Điều này áp dụng trong một hệ hành tinh nhưng chỉ đối với bốn giới trong biểu hiện khách quan.

The revolution of a planetary centre producing monadic appearance.

Sự quay vòng của một trung tâm hành tinh tạo ra sự xuất hiện chân thần.

The monadic wheel, or the periodic appearance of units of the fourth Creative Hierarchy. Thus we pass down the scale through all the kingdoms and forms till we arrive at the tiny revolution of an atom of substance.

Bánh xe chân thần, hay sự xuất hiện định kỳ của các đơn vị thuộc Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư. Như thế chúng ta đi xuống theo thang bậc qua mọi giới và mọi hình tướng cho đến khi đạt tới sự quay vòng nhỏ bé của một nguyên tử chất liệu.

S9S2 Text

In concluding our remarks concerning the diverse wheels of the universe, we will touch with brevity upon the “wheels” which concern the human monad. This is a subject but little dealt with as yet, though a few words have been spoken anent the egoic wheel.

Kết thúc các nhận xét của chúng ta về những bánh xe đa dạng của vũ trụ, chúng ta sẽ đề cập ngắn gọn đến các “bánh xe” liên quan đến chân thần con người. Đây là một đề tài cho đến nay hầu như chưa được bàn đến, mặc dù đã có đôi lời được nói ra liên quan đến bánh xe chân ngã.

It must be borne in mind that the evolution of the [Page 1088] Monad is a much more intricate thing than appears in the books as yet given to the public. In those books the development of consciousness and its transition through the kingdoms of nature are the points dwelt upon. Yet there have been earlier cycles which it will be only possible to comprehend as the history and evolution of the planetary Logoi become gradually revealed. They are parts of His body of manifestation, cells within that greater vehicle, and thus vitalised by His life, qualified by His nature, and distinguished by His characteristics. This will take the history, therefore, of a Monad back to the earlier kalpas. Such history it is not possible to reveal, and no purpose would be served by such a revelation. The fact only can be touched upon as it must be considered along general lines if the true nature of the Self is to be accurately known.

Cần ghi nhớ rằng sự tiến hoá của [Page 1088] chân thần là một điều phức tạp hơn nhiều so với những gì hiện nay xuất hiện trong các sách đã được trao cho công chúng. Trong các sách ấy, sự phát triển của tâm thức và sự chuyển tiếp của nó qua các giới trong thiên nhiên là những điểm được nhấn mạnh. Tuy nhiên, đã có những chu kỳ sớm hơn mà chỉ có thể được thấu hiểu khi lịch sử và sự tiến hoá của các Hành Tinh Thượng Đế dần dần được mặc khải. Chúng là những phần trong thể biểu hiện của Ngài, những tế bào trong vận cụ lớn lao hơn ấy, và do đó được sự sống của Ngài tiếp sinh lực, được phẩm định bởi bản chất của Ngài, và được phân biệt bởi các đặc tính của Ngài. Vì vậy, điều này sẽ đưa lịch sử của một chân thần trở lui về các kalpa sớm hơn. Lịch sử như thế không thể được tiết lộ, và cũng không có mục đích nào được phục vụ bởi một sự mặc khải như vậy. Chỉ có thể chạm đến sự kiện ấy mà thôi, vì nó phải được xem xét theo những đường nét tổng quát nếu bản chất chân thực của Bản Ngã muốn được biết đến một cách chính xác.

We might consider that the Monad of the human being passes through cycles analogous to those through which the Heavenly Man travels. There is, first, the vast cycle of unfoldment through which a “spark” passes. This covers the period of three major solar systems—that preceding this one, the present, and the succeeding one. In these three, the totality of the cosmic Past, Present, and Future, embodying the three aspects of the divine Life of the solar Logos, are carried to the point of perfection in an individualised Monad. It must be remembered that in this solar system, for instance, certain developments are only recapitulations of evolutionary processes undergone in an earlier solar system; the clue to this lies in the consideration of the manasic or mind principle. The solar Angels, the intelligent individualising factor, were (from certain angles of vision) the product of an earlier system, and only waited for the time in the present system when the forms in the three kingdoms had reached the point of synthetic development which made it possible for them to be impressed and influenced from on high. We [Page 1089] have in this concept an idea analogous to the entering in of those Monads, during Atlantean days, who, having individualised upon another chain, tarried in the inter-planetary spaces until earth conditions were such that the occupation of adequate forms became possible. The correspondence is not exact but is indicative of the truth. The vast cycle of unfoldment (which rendered later evolution possible) preceded this solar system, and might be regarded as the monadic correspondence to a cosmic wheel. In the old Commentary this point of development is hinted at in the words:

Chúng ta có thể xem rằng chân thần của con người đi qua những chu kỳ tương tự như những chu kỳ mà Đấng Thiên Nhân trải qua. Trước hết là chu kỳ khai mở bao la mà một “tia lửa” đi qua. Chu kỳ này bao trùm thời kỳ của ba hệ mặt trời lớn—hệ đi trước hệ này, hệ hiện tại, và hệ kế tiếp. Trong ba hệ ấy, toàn thể Quá Khứ, Hiện Tại và Tương Lai vũ trụ, hiện thân cho ba phương diện của Sự sống thiêng liêng của Thái dương Thượng đế, được đưa đến điểm hoàn thiện trong một chân thần đã được biệt ngã hóa. Cần nhớ rằng, chẳng hạn trong hệ mặt trời này, một số phát triển nào đó chỉ là sự lặp lại những tiến trình tiến hoá đã trải qua trong một hệ mặt trời trước; đầu mối của điều này nằm trong việc xem xét nguyên khí manas hay nguyên khí trí tuệ. Các Thái dương Thiên Thần, yếu tố thông tuệ biệt ngã hóa, đã là (xét từ một số góc độ tầm nhìn) sản phẩm của một hệ trước, và chỉ chờ đợi thời điểm trong hệ hiện tại khi các hình tướng trong ba giới đã đạt đến điểm phát triển tổng hợp khiến chúng có thể được gây ấn tượng và chịu ảnh hưởng từ trên cao. Trong [Page 1089] khái niệm này, chúng ta có một ý tưởng tương tự với sự đi vào của những chân thần ấy trong thời Atlantis, là những chân thần đã biệt ngã hóa trên một dãy khác, lưu lại trong các khoảng không gian liên hành tinh cho đến khi các điều kiện trên địa cầu trở nên thích hợp để chiếm giữ những hình tướng đầy đủ. Sự tương ứng này không hoàn toàn chính xác nhưng có tính chỉ dấu cho chân lý. Chu kỳ khai mở bao la (đã làm cho sự tiến hoá về sau trở nên khả hữu) có trước hệ mặt trời này, và có thể được xem như sự tương ứng chân thần với một bánh xe vũ trụ. Trong Cổ Luận, điểm phát triển này được ám chỉ bằng những lời sau:

“The fifth did not appear as the product of the present. The five spokes of that wheel had each a cycle of development, and one in which they were welded at the centre.”

“Cái thứ năm đã không xuất hiện như sản phẩm của hiện tại. Năm nan hoa của bánh xe ấy mỗi cái đều có một chu kỳ phát triển, và một chu kỳ trong đó chúng được hàn gắn tại trung tâm.”

The Monad has cycles analogous, though on a miniature scale, to those of the one Life Who permeates and animates all lesser lives. (Bible. I Peter 2:4.) Certain of these cycles cover periods of time so vast, and so long past, that their history can only be conveyed to the investigating Adepts through the medium of sound and symbol. The details of that development are lost in the night of other kalpas, and all that can be seen are the results,—the cause must be accepted as existing, though for us remaining inexplicable until the higher initiations are taken.

Chân thần có những chu kỳ tương tự, dù ở quy mô thu nhỏ, với các chu kỳ của Sự sống duy nhất thấm nhập và làm sinh động mọi sự sống nhỏ hơn. (Bible. I Peter 2:4.) Một số chu kỳ này bao trùm những thời kỳ dài đến mức lịch sử của chúng chỉ có thể được truyền đạt cho các chân sư khảo cứu qua trung gian của âm thanh và biểu tượng. Các chi tiết của sự phát triển ấy bị mất hút trong đêm tối của những kalpa khác, và tất cả những gì có thể thấy được là các kết quả,—nguyên nhân phải được chấp nhận là có tồn tại, dù đối với chúng ta vẫn không thể giải thích được cho đến khi các lần điểm đạo cao hơn được tiếp nhận.

In the fact of the turning of the monadic Wheel covering the period of three solar systems, lies hid the mystery of monadic self-will, and the secret as to why some of the Monads refused to incarnate, whilst others “fell,” and thus proceeded along the present lines of evolution. They refused to incarnate because of internal group conditions brought about through the evolutionary processes of the past kalpas. It will, therefore, be apparent that the question of what constitutes sin and evil is far more intricate than even appears upon the surface. From our [Page 1090] limited vision, it appears to be “sin” to fall into incarnation, and equally sin or self-will, self-satisfaction, to remain unevolved upon the higher planes. Yet both groups followed the law of their being, and the solution of the mystery lies in that which is to come.

Trong sự kiện bánh xe chân thần quay qua thời kỳ của ba hệ mặt trời, ẩn giấu bí nhiệm của ý chí tự ngã chân thần, và bí mật giải thích tại sao một số chân thần từ chối nhập thể, trong khi những chân thần khác “sa ngã,” và do đó tiến hành theo các đường tiến hoá hiện tại. Chúng từ chối nhập thể vì những điều kiện nội tại của nhóm được tạo ra qua các tiến trình tiến hoá của các kalpa quá khứ. Vì vậy, sẽ rõ rằng vấn đề điều gì cấu thành tội lỗi và điều ác phức tạp hơn nhiều so với vẻ ngoài của nó. Từ linh thị [Page 1090] hạn hẹp của chúng ta, việc sa vào nhập thể dường như là “tội lỗi,” và việc ở lại không tiến hoá trên các cõi cao hơn cũng dường như là tội lỗi hay tự ý chí, tự mãn. Tuy nhiên, cả hai nhóm đều tuân theo định luật của bản thể mình, và lời giải của bí nhiệm nằm trong điều sẽ đến.

If the student will with care meditate upon the fact that the three lower planes—the mental, the astral, and the physical—form the dense physical body of the planetary Logos and are, therefore, no principle, it will become apparent to him that through necessity certain units or cells in the body are more active in space and time than others. He must also bear in mind that groups of Monads come into incarnation according to which centre in a Heavenly Man of a particular planetary scheme, or which centre of the solar Logos, is in process of vivification or cyclic activity, and that certain of the centres of a solar Logos and this particular solar system are in a condition of partial pralaya through the process of the absorption of the lower solar life forces by the centres of higher vitality. Again, he must remember that the entire aspect of the Divine Life is not intended to reach its full unfoldment at any time in this solar system but must wait for the vitalising impulses of a later. This is due to the fact that there exist in this solar system effects of causes originating in earlier kalpas or—to word it otherwise—the karmic seeds of earlier logoic activities.

Nếu đạo sinh cẩn trọng tham thiền về sự kiện rằng ba cõi thấp—cõi trí, cõi cảm dục, và cõi hồng trần—hợp thành thể xác đậm đặc của Hành Tinh Thượng Đế và vì thế không phải là nguyên khí, thì y sẽ thấy rõ rằng do tất yếu, một số đơn vị hay tế bào trong thể ấy hoạt động trong không gian và thời gian nhiều hơn những đơn vị khác. Y cũng phải ghi nhớ rằng các nhóm chân thần đi vào nhập thể tùy theo trung tâm nào trong một Đấng Thiên Nhân của một hệ hành tinh đặc thù, hay trung tâm nào của Thái dương Thượng đế, đang trong tiến trình được tiếp sinh lực hay hoạt động theo chu kỳ, và rằng một số trung tâm của một Thái dương Thượng đế và của hệ mặt trời đặc thù này đang ở trong tình trạng giai kỳ qui nguyên từng phần do tiến trình hấp thu các mãnh lực sự sống thái dương thấp hơn bởi các trung tâm có sinh lực cao hơn. Hơn nữa, y phải nhớ rằng toàn bộ phương diện của Sự sống thiêng liêng không được dự định đạt đến sự khai mở trọn vẹn trong bất kỳ thời điểm nào của hệ mặt trời này mà phải chờ các xung lực tiếp sinh lực của một hệ về sau. Điều này là do trong hệ mặt trời này có những hiệu quả của các nguyên nhân phát sinh trong các kalpa trước đó hay—nói cách khác—những hạt giống nghiệp quả của các hoạt động logoi trước kia.

Our solar Logos has not yet attained true rhythm, but for millenia of cycles the equilibrising process must go on. Nor has our planetary Logos achieved equilibrium, and the even balancing of forces, therefore until His point in evolution and His objective vision is known and it is known also which centre in the solar body is vitalised by His life, it will be the part of wisdom to refrain from dogmatic assertion, and a too free utterance in connection with incarnating, and non-incarnating, Monads. All are turning upon the monadic cosmic wheel; each is being [Page 1091] swept into some form of activity upon the lesser revolution of this particular systemic wheel, but not all in any particular cycle are to be found revolving upon a specific planetary wheel. Many wait for development and for more appropriate seasons in interplanetary spaces, and some must wait until the entering in of a new mahamanvantara. Students should bear carefully in mind the words of H. P. B. where he tells students of the Secret Doctrine that the stanzas and their Commentary deal primarily with our particular planetary Logos. This is oft forgotten.

Thái dương Thượng đế của chúng ta vẫn chưa đạt được nhịp điệu chân chính, nhưng trong hàng thiên niên kỷ chu kỳ, tiến trình quân bình hóa vẫn phải tiếp tục. Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta cũng chưa đạt được sự quân bình và sự cân bằng đồng đều của các mãnh lực; vì vậy, cho đến khi điểm tiến hoá và linh ảnh mục tiêu của Ngài được biết đến, và cũng biết được trung tâm nào trong thể thái dương được sự sống của Ngài tiếp sinh lực, thì điều khôn ngoan là nên tránh những khẳng định giáo điều và những phát biểu quá tự do liên quan đến các chân thần nhập thể và không nhập thể. Tất cả đều đang quay trên bánh xe vũ trụ chân thần; mỗi đơn vị đang bị cuốn vào một hình thức hoạt động nào đó trên vòng quay nhỏ hơn của bánh xe hệ thống đặc thù này, nhưng không phải tất cả trong bất kỳ chu kỳ nào cũng được thấy quay trên một bánh xe hành tinh xác định. Nhiều đơn vị chờ sự phát triển và những mùa thích hợp hơn trong các khoảng không gian liên hành tinh, và một số phải chờ cho đến khi bước vào một [Page 1091] Đại giai kỳ sinh hóa mới. Đạo sinh nên cẩn thận ghi nhớ lời của H. P. B. khi bà nói với các đạo sinh của Giáo Lý Bí Nhiệm rằng các bài kệ và phần Luận giải của chúng chủ yếu bàn về Hành Tinh Thượng Đế đặc thù của chúng ta. Điều này thường bị quên lãng.

It may interest students to know that there are certain colours, veiling these groups of non-incarnating Monads, at present totally unknown to humanity. These will sweep into the consciousness of the human being in another solar system, or after the taking of the sixth Initiation. All that we have on earth are reflections of the true colours, and likewise the reflection of the lowest aspect.

Điều có thể khiến các đạo sinh quan tâm là hiện có những màu sắc nhất định che phủ các nhóm chân thần không nhập thể này, hoàn toàn chưa được nhân loại biết đến. Những màu sắc ấy sẽ tràn vào tâm thức con người trong một hệ mặt trời khác, hoặc sau khi tiếp nhận lần điểm đạo thứ sáu. Tất cả những gì chúng ta có trên địa cầu chỉ là những phản chiếu của các màu sắc chân thực, và cũng là phản chiếu của phương diện thấp nhất.

Every colour in the cosmos exists in three forms:

Mọi màu sắc trong vũ trụ đều tồn tại dưới ba hình thức:

1. The true colour.

1. Màu sắc chân thực.

2. The illusory appearance of the colour.

2. Sắc tướng ảo huyễn của màu sắc.

3. Its reflection.

3. Sự phản chiếu của nó.

The reflection is that with which we are familiar; the appearance, or that which veils the reality, is contacted and known when we see with the eye of the soul, the Eye of Shiva, and the true colour (314) is contacted after the fifth kingdom has been passed through, and group consciousness is merging in that of the divine. Students will, therefore, note that the monadic cosmic wheel can be [Page 1092] visioned in terms of “true colour,” and is seen by the illumined seer as the combined blending of the primary colours of the three solar systems.

Sự phản chiếu là điều chúng ta quen thuộc; sắc tướng, hay cái che phủ thực tại, được tiếp xúc và biết đến khi chúng ta nhìn bằng mắt của linh hồn, Con Mắt của Shiva, và màu sắc chân thực (314) được tiếp xúc sau khi giới thứ năm đã được vượt qua, và tâm thức nhóm đang hòa nhập vào tâm thức thiêng liêng. Vì vậy, đạo sinh sẽ lưu ý rằng bánh xe vũ trụ chân thần có thể được [Page 1092] hình dung theo các thuật ngữ của “màu sắc chân thực,” và được nhà thông nhãn soi sáng thấy như sự hòa trộn kết hợp của các màu cơ bản của ba hệ mặt trời.

(314) Colour.—Originally meant a “covering.” From root “celare” to cover or hide. Also Occultare, to hide.

(314) Màu sắc.—Ban đầu có nghĩa là “một sự che phủ.” Từ gốc “celare” nghĩa là che phủ hay ẩn giấu. Cũng như Occultare, nghĩa là ẩn giấu.

Symbology of colours. The language of the prism, of which “the seven mother colours have each seven sons,” that is to say, forty-nine shades or “sons” between the seven, which graduated tints are so many letters or alphabetical characters. The language of colours has, therefore, fifty-six letters for the initiate. Of these letters each septenary is absorbed by the mother colour as each of the seven mother colours is absorbed finally in the white ray, Divine Unity symbolised by these colours. (back)

Biểu tượng học của màu sắc. Ngôn ngữ của lăng kính, trong đó “bảy màu mẹ mỗi màu có bảy người con,” nghĩa là có bốn mươi chín sắc độ hay “người con” giữa bảy màu ấy, những sắc thái chuyển dần này là bấy nhiêu chữ cái hay ký tự mẫu tự. Vì vậy, ngôn ngữ của màu sắc có năm mươi sáu chữ cái đối với điểm đạo đồ. Trong các chữ cái này, mỗi bộ bảy được hấp thu bởi màu mẹ cũng như mỗi trong bảy màu mẹ cuối cùng được hấp thu vào tia trắng, Hợp Nhất thiêng liêng được biểu tượng hóa bởi các màu sắc này. (back)

The monadic systemic wheel, which concerns this solar system alone, is distinguished by being the totality of the seven colours of the seven Heavenly Men, and from the vision of the adept of the fifth Initiation is the sumtotal of the primary colours of the egoic groups of the differing planetary schemes.

Bánh xe hệ thống chân thần, chỉ liên quan đến riêng hệ mặt trời này, được phân biệt bởi việc là tổng thể của bảy màu của bảy Đấng Thiên Nhân, và theo linh thị của chân sư ở lần điểm đạo thứ năm, là tổng số toàn bộ các màu cơ bản của các nhóm chân ngã thuộc các hệ hành tinh khác nhau.

The monadic planetary wheel, which concerns the particular group of Monads incarnating in a particular scheme, is seen by the seer as the blending of egoic groups, but with the difference that the colour is a dual one, and the colouring of the personality ray of the incarnating Ego is also seen.

Bánh xe hành tinh chân thần, liên quan đến nhóm chân thần đặc thù đang nhập thể trong một hệ hành tinh đặc thù, được nhà thông nhãn thấy như sự hòa trộn của các nhóm chân ngã, nhưng với điểm khác biệt là màu sắc mang tính nhị phân, và sắc thái của cung phàm ngã của Chân ngã nhập thể cũng được nhìn thấy.

The egoic cycle, or the turning of the wheel of the incarnating Ego, is of the most practical interest to man, and has already been somewhat dealt with. For purposes of clarity and elucidation, this wheel may also be seen as turning in three cycles and as making three kinds of revolutions, covering varying periods of time.

Chu kỳ chân ngã, hay sự quay của bánh xe của Chân ngã nhập thể, là điều có mối quan tâm thực tiễn nhất đối với con người, và đã phần nào được bàn đến. Vì mục đích làm sáng tỏ và giải minh, bánh xe này cũng có thể được thấy như quay trong ba chu kỳ và thực hiện ba loại vòng quay, bao trùm những thời kỳ khác nhau.

There is first, the Wheel of the chain, or the cycling of the Monad around an entire chain, and its passage through all the globes and kingdoms. The consideration of this is complicated by the fact that in any particular chain, the Monads seldom begin and end their evolution; they seldom emerge, pass through their cycle and achieve their objective. It is not possible to dissociate a chain from its preceding or succeeding chain. Many Monads who achieved self-consciousness in the moon chain only entered into renewed activity in the middle of the fourth root race; others, who have individualised on this earth, will not succeed in reaching their goal upon this planet. There is here a correspondence to systemic evolution, and there is an analogy between the Monads who refused to [Page 1093] incarnate and the Egos who were unable to take bodies in the Lemurian or third root race.

Trước hết là, Bánh xe của dãy, hay sự tuần hoàn của chân thần quanh toàn bộ một dãy, và sự đi qua của nó qua mọi bầu hành tinh và mọi giới. Việc xem xét điều này trở nên phức tạp bởi sự kiện rằng trong bất kỳ dãy đặc thù nào, các chân thần hiếm khi bắt đầu và kết thúc sự tiến hoá của mình; chúng hiếm khi xuất hiện, đi qua chu kỳ của mình và đạt được mục tiêu. Không thể tách rời một dãy khỏi dãy đi trước hay dãy kế tiếp nó. Nhiều chân thần đã đạt ngã thức trong Dãy Mặt Trăng chỉ bước vào hoạt động mới ở giữa giống dân gốc thứ tư; những chân thần khác, đã biệt ngã hóa trên địa cầu này, sẽ không thành công trong việc đạt đến mục tiêu của mình trên hành tinh này. Ở đây có một sự tương ứng với tiến hoá hệ thống, và có một sự tương đồng giữa các chân thần đã từ chối [Page 1093] nhập thể và các chân ngã đã không thể nhận thể xác trong giống dân gốc Lemuria hay giống dân gốc thứ ba.

There is next, the Wheel of a globe, or the process of evolution upon any particular globe. The student must bear in mind that the Monad, after planetary dissolution, passes the time between incarnations on other and subtler globes, which are the correspondence to the interplanetary and intersystemic spheres.

Tiếp theo là, Bánh xe của một bầu hành tinh, hay tiến trình tiến hoá trên bất kỳ bầu hành tinh đặc thù nào. Đạo sinh phải ghi nhớ rằng chân thần, sau khi hành tinh tan rã, trải qua thời gian giữa các lần nhập thể trên những bầu hành tinh khác và tinh tế hơn, là sự tương ứng với các khối cầu liên hành tinh và liên hệ thống.

There is also, the Wheel of a race, or the lesser cycle of incarnations—forming a definite series—wherein the incarnating Monad cycles through a number of lives in a particular race.

Cũng có, Bánh xe của một nhân loại, hay chu kỳ nhỏ hơn của các lần nhập thể—hợp thành một chuỗi xác định—trong đó chân thần nhập thể tuần hoàn qua một số kiếp sống trong một nhân loại đặc thù.

All these cycles of periodic manifestation are concerned primarily with the appearance, or the manifesting of the “sparks” upon one or other of the three planes in the three worlds, or in some part of the physical body of the planetary Logos. The lesser cycles deal with this; the greater turning of the wheel concerns also the appearance, or flashing forth, of the sparks in the planetary or systemic etheric body, or on the four higher planes of our solar system. We can picture to ourselves the glory of this concept; the downpouring of the streams of fiery sparks; their flashing forth into points of intensified fire as they meet conditions which produce occult “ignition”; and the constant circulation of the forty-nine fires constructed of the sixty thousand million human Monads and the countless streams of deva monads: fire on every side—a network of fiery rivers of living energy, focal points of intensified brilliancy and everywhere the sparks.

Tất cả các chu kỳ biểu hiện định kỳ này chủ yếu liên quan đến sự xuất hiện, hay sự biểu lộ, của các “tia lửa” trên một hay một cõi khác trong ba cõi giới, hay trong một phần nào đó của thể xác của Hành Tinh Thượng Đế. Các chu kỳ nhỏ hơn bàn đến điều này; vòng quay lớn hơn của bánh xe cũng liên quan đến sự xuất hiện, hay sự bùng lóe, của các tia lửa trong thể dĩ thái hành tinh hay hệ thống, hoặc trên bốn cõi cao hơn của hệ mặt trời chúng ta. Chúng ta có thể hình dung cho mình sự huy hoàng của khái niệm này; sự tuôn đổ của các dòng tia lửa rực lửa; sự bùng lóe của chúng thành những điểm lửa tăng cường khi chúng gặp các điều kiện tạo ra sự “bốc cháy” huyền bí; và sự lưu chuyển không ngừng của bốn mươi chín ngọn lửa được cấu thành từ sáu mươi ngàn triệu chân thần nhân loại và vô số dòng chân thần thiên thần: lửa ở khắp mọi phía—một mạng lưới những dòng sông lửa của năng lượng sống, những tiêu điểm rực sáng tăng cường và ở khắp nơi là các tia lửa.

There are a few more remarks to be made anent the turning of the various wheels, and we can then take up the consideration of motion and the sheaths.

Còn một vài nhận xét nữa cần được đưa ra liên quan đến sự quay của các bánh xe khác nhau, rồi sau đó chúng ta có thể bắt đầu xem xét chuyển động và các lớp vỏ.

Within all those wheels which we have enumerated, are many lesser wheels all governed by the same laws, actuated by the same three forms of activity, and all (in their totality) forming one great whole. It will be apparent [Page 1094] to all conscientious students that the founders of the symbolical method managed to convey in the symbol of the wheel an idea of the triplicity of all atomic activity:

Bên trong tất cả những bánh xe mà chúng ta đã liệt kê, có nhiều bánh xe nhỏ hơn, tất cả đều được chi phối bởi cùng những định luật, được thúc đẩy bởi cùng ba hình thức hoạt động, và tất cả (trong tổng thể của chúng) hợp thành một toàn thể vĩ đại. Điều hiển nhiên đối với [Page 1094] mọi đạo sinh tận tâm là những người sáng lập phương pháp biểu tượng đã thành công trong việc truyền đạt, qua biểu tượng bánh xe, một ý niệm về tính tam phân của mọi hoạt động nguyên tử:

a.

The central point of active positive force

the hub.

b.

The negative stream of life

the radiating spokes.

c.

The sphere of activity itself, the effect of the interplay of these two

the circumference of the wheel.

If the student can picture those wheels in activity, if he can visualise all parts of the wheel as composed of lesser living wheels, and if he can work into his picture a hint of the interplay of all these fiery essences, coloured with certain predominant hues, he will become aware of conditions, and see before him a picture which is ever apparent to the illuminated seer. If, before doing this, he can vision the whole of the systemic wheel as in a constant state of circulation, in which the tiny lesser lives are impelled by the force of the central solar life to pass throughout the extent of the wheel so that they come in contact with all parts of the wheel, and are impressed by all the varying types of “power-substance,” then the general nature of the method can be somewhat ascertained. We use the term “motion,” but what do we really mean? Simply, and literally, the manifestation of the energy generated through the bringing together of certain aspects of energy, and the triple result thereby produced; the activities resulting from this stream of dynamic electrical energy, emanating from some centre, which sweeps into response all that it contacts, and which holds the responsive units in some form or another.

Nếu đạo sinh có thể hình dung những bánh xe ấy trong hoạt động, nếu y có thể hình dung mọi phần của bánh xe đều được cấu thành bởi những bánh xe sống nhỏ hơn, và nếu y có thể đưa vào bức tranh của mình một gợi ý về sự tương tác của tất cả các tinh chất lửa này, được nhuốm những sắc thái trội nhất định, thì y sẽ nhận biết được các điều kiện, và thấy trước mắt mình một bức tranh luôn luôn hiện rõ đối với nhà thông nhãn được soi sáng. Nếu, trước khi làm điều này, y có thể hình dung toàn bộ bánh xe hệ thống như ở trong một trạng thái lưu chuyển không ngừng, trong đó những sự sống nhỏ bé hơn bị mãnh lực của sự sống thái dương trung tâm thúc đẩy đi khắp phạm vi của bánh xe để chúng tiếp xúc với mọi phần của bánh xe, và bị gây ấn tượng bởi mọi loại “chất liệu-quyền năng” khác nhau, thì bản chất tổng quát của phương pháp có thể phần nào được xác định. Chúng ta dùng thuật ngữ “chuyển động,” nhưng thực sự chúng ta muốn nói gì? Chỉ đơn giản và theo nghĩa đen là sự biểu hiện của năng lượng được tạo ra qua việc đưa một số phương diện năng lượng lại với nhau, và kết quả tam phân do đó được tạo ra; những hoạt động phát sinh từ dòng năng lượng điện động lực này, phát ra từ một trung tâm nào đó, quét vào đáp ứng tất cả những gì nó tiếp xúc, và giữ các đơn vị đáp ứng trong hình thức này hay hình thức khác.

From the occult standpoint, all that manifests is spheroidal in form, and is appropriately called a wheel, yet (in dense physical manifestation) the forms are diverse, and many, and unless etheric vision is present, the spheroidal forms of all lives are not apparent. How can this [Page 1095] be explained? There are three major reasons for this illusion, and these we might here touch upon, finding in the word “illusion” (315) the key to the mystery.

Theo quan điểm huyền bí học, mọi thứ biểu hiện đều có hình cầu, và được gọi một cách thích đáng là một bánh xe, tuy nhiên (trong biểu hiện hồng trần đậm đặc) các hình tướng thì đa dạng và nhiều loại, và trừ phi có linh thị dĩ thái, các hình cầu của mọi sự sống sẽ không hiển lộ. Điều này có thể được [Page 1095] giải thích như thế nào? Có ba lý do chính cho ảo tưởng này, và chúng ta có thể chạm đến chúng ở đây, tìm thấy trong từ “ảo tưởng” (315) chìa khóa của bí nhiệm.

(315) Maya or Illusion. The word Maya is one which has to be properly understood by you in order that you may catch the spirit of the ancient philosophy. The derivation that is given for the word is Ma + Ya or not that. Maya is therefore a power that makes a thing appear as what it is not, or a power of illusion that arises out of limitation in the ancient concept of a true unity periodically appearing as multiplicity by the power of Maya that coexists with that unity. (back)

(315) Maya hay Ảo tưởng. Maya là một từ mà bạn phải hiểu cho đúng để có thể nắm bắt tinh thần của triết học cổ xưa. Từ nguyên được đưa ra cho từ này là Ma + Ya hay không phải cái đó. Vì vậy, Maya là một quyền năng làm cho một vật xuất hiện như cái mà nó không phải là, hay một quyền năng của ảo tưởng phát sinh từ sự giới hạn trong quan niệm cổ xưa về một hợp nhất chân thực định kỳ xuất hiện như tính đa tạp nhờ quyền năng của Maya cùng đồng tồn tại với hợp nhất ấy. (back)

We have been told in connection with the dense physical body that it is not considered a principle and is not (in this second solar system) expressing those qualities which are characteristic of the solar Logos and His present incarnation. We are told, further, that the grosser dense forms of substance, all that is objective and tangible upon the physical plane, are vibrating to a key which is characteristic of the preceding system, being a left-over (if so it might be expressed) of an earlier kalpa.

Chúng ta đã được bảo rằng liên quan đến thể xác đậm đặc, nó không được xem là một nguyên khí và không phải (trong hệ mặt trời thứ hai này) đang biểu lộ những phẩm tính đặc trưng của Thái dương Thượng đế và lần nhập thể hiện tại của Ngài. Hơn nữa, chúng ta còn được bảo rằng các hình tướng đậm đặc thô nặng hơn của chất liệu, tất cả những gì khách quan và sờ chạm được trên cõi hồng trần, đang rung động theo một chủ âm đặc trưng của hệ trước, là phần còn sót lại (nếu có thể diễn đạt như vậy) của một kalpa trước kia.

These two points must be carefully borne in mind and latitude allowed for them, when endeavouring to express the truth anent motion. Therefore, a number of the atoms of matter are as yet governed by an internal life which has for its main, distinctive feature, the faculty of a much closer adhesion, and a decisiveness of grouping that is inherently characteristic of the present body of manifestation of the solar system. We must remember when considering this, that all that is dense and gross in all forms, concerns only those forms on the three lower subplanes of the lowest systemic planes; the forms are constructed of matter of all the planes, but the percentage of gross matter is as we can plainly see but small. Interaction for the mineral monad exists, and completely negatives the vibration of the three lower subplanes of the physical plane; it passes eventually into forms which are more closely allied to the “true form.”

Hai điểm này phải được ghi nhớ cẩn thận và phải dành chỗ cho chúng khi cố gắng diễn đạt chân lý liên quan đến chuyển động. Vì vậy, một số nguyên tử của vật chất hiện vẫn bị chi phối bởi một sự sống nội tại mà đặc điểm chính, nổi bật của nó là khả năng kết dính chặt chẽ hơn nhiều, và một tính quyết định trong sự kết nhóm vốn là đặc trưng cố hữu của thể biểu hiện hiện tại của hệ mặt trời. Chúng ta phải nhớ khi xem xét điều này rằng tất cả những gì đậm đặc và thô nặng trong mọi hình tướng chỉ liên quan đến những hình tướng trên ba cõi phụ thấp hơn của cõi hệ thống thấp nhất; các hình tướng được cấu tạo từ vật chất của mọi cõi, nhưng như chúng ta có thể thấy rõ, tỷ lệ vật chất thô nặng chỉ là nhỏ. Sự tương tác đối với chân thần khoáng vật có tồn tại, và hoàn toàn phủ nhận rung động của ba cõi phụ thấp hơn của cõi hồng trần; cuối cùng nó đi vào những hình tướng gần gũi hơn với “hình tướng chân thực.”

The mineral monad has a problem slightly at variance with that of the other kingdoms, for it is specifically an [Page 1096] expression of the lives which were classed as the failures of a previous solar system, and which were doomed to immerse themselves in the forms of the mineral kingdom. Liberation for man comes when he succeeds in freeing himself from the vibration of the three lower planes of our solar system, from that part of the logoic manifestation which constitutes His dense body, and which He does not therefore regard as a principle. It will, consequently, be apparent that there is a correspondence worthy of study to be found in the relation between the mineral monad, a human being, and a solar Logos. Viewing these three as an esoteric triplicity much light may be gained by meditation upon them as

Chân thần khoáng vật có một vấn đề hơi khác với các giới khác, vì nó đặc biệt là một [Page 1096] biểu hiện của những sự sống được xếp vào loại thất bại của một hệ mặt trời trước, và đã bị định phải dìm mình vào các hình tướng của giới kim thạch. Sự giải thoát đối với con người đến khi y thành công trong việc giải phóng mình khỏi rung động của ba cõi thấp của hệ mặt trời chúng ta, khỏi phần biểu hiện logoi cấu thành thể đậm đặc của Ngài, và vì thế Ngài không xem đó là một nguyên khí. Do đó, sẽ rõ rằng có một sự tương ứng đáng nghiên cứu được tìm thấy trong mối liên hệ giữa chân thần khoáng vật, con người, và một Thái dương Thượng đế. Xem ba điều này như một bộ ba huyền bí, nhiều ánh sáng có thể đạt được bằng cách tham thiền về chúng như là

a. The residual vibration of system 1,

a. Rung động tồn dư của hệ 1,

b. The medial point of activity of system 2,

b. Điểm hoạt động trung gian của hệ 2,

c. The subjective energy of the present system.

c. Năng lượng chủ quan của hệ hiện tại.

In the comprehension of this, and in the realisation that there are forces present in nature which are in the nature of left-overs, we have the clue to much of the puzzling side of manifestation, to the cruelty and death, the suffering, and the agony which are seen in the vegetable and animal kingdoms. In the term animal kingdom I include man’s physical body. We have also the clue to some aspects of the left hand Path, and a clue to the problem of the basic cause of the appearance of such existences as black magicians. Just as no human being can escape the effects of energy generated by him in an early life, so the solar Logos Himself is working out and so held back by influences which are the result of His earlier activities in System 1.

Trong sự thấu hiểu điều này, và trong sự chứng nghiệm rằng có những mãnh lực hiện diện trong thiên nhiên mang bản chất của những phần còn sót lại, chúng ta có đầu mối để hiểu nhiều khía cạnh khó giải của biểu hiện, sự tàn nhẫn và cái chết, nỗi đau khổ và sự thống khổ được thấy trong giới thực vật và giới động vật. Trong thuật ngữ giới động vật, tôi bao gồm cả thể xác của con người. Chúng ta cũng có đầu mối cho một số phương diện của tả đạo, và một đầu mối cho vấn đề nguyên nhân căn bản của sự xuất hiện của những hữu thể như các nhà hắc thuật. Cũng như không một con người nào có thể thoát khỏi các hiệu quả của năng lượng do mình tạo ra trong một kiếp sống trước, thì chính Thái dương Thượng đế cũng đang giải quyết và do đó bị cản trở bởi những ảnh hưởng là kết quả của các hoạt động trước kia của Ngài trong Hệ 1.

The dense physical forms are an illusion because they are due to the reaction of the eye to those forces about which we have been speaking. Etheric vision, or the power to see energy-substance, is true vision for the human being, just as the etheric is the true form. But until [Page 1097] the race is further evolved, the eye is aware of, and responds to the heavier vibration only. Gradually it will shake itself free from the lower and coarser reactions, and become an organ of true vision. It might be of interest here to remember the occult fact that as the atoms in the physical body of the human being pursue their evolution, they pass on and on to ever better forms, and eventually find their place within the eye, first of animals and then of man. This is the highest dense form into which they are built, and marks the consummation of the atom of dense matter. Occultly understood, the eye is formed through the interplay of certain streams of force, of which there are three in the animal, and five in the human being. By their conjunction and interaction, they form what is called “the triple opening” or the “fivefold door” out of which the animal soul or the human spirit can “look out upon the world illusion.”

Các hình tướng hồng trần đậm đặc là một ảo tưởng vì chúng là do phản ứng của mắt đối với những mãnh lực mà chúng ta đã nói đến. Linh thị dĩ thái, hay năng lực thấy chất liệu-năng lượng, là linh thị chân thực đối với con người, cũng như dĩ thái là hình tướng chân thực. Nhưng cho đến khi [Page 1097] nhân loại tiến hoá hơn nữa, mắt chỉ nhận biết và đáp ứng với rung động nặng nề hơn mà thôi. Dần dần nó sẽ tự giải thoát khỏi các phản ứng thấp và thô hơn, và trở thành một cơ quan của linh thị chân thực. Ở đây có thể đáng quan tâm nếu nhớ đến sự kiện huyền bí rằng khi các nguyên tử trong thể xác con người theo đuổi sự tiến hoá của chúng, chúng đi mãi vào những hình tướng ngày càng tốt hơn, và cuối cùng tìm được chỗ của mình trong mắt, trước hết của động vật rồi sau đó của con người. Đây là hình tướng đậm đặc cao nhất mà chúng được xây dựng vào, và đánh dấu sự hoàn tất của nguyên tử đậm đặc của vật chất. Theo nghĩa huyền bí, mắt được hình thành qua sự tương tác của một số dòng mãnh lực, trong đó có ba ở động vật và năm ở con người. Bằng sự hội tụ và tương tác của chúng, chúng tạo thành cái được gọi là “khai mở tam phân” hay “cánh cửa ngũ phân” mà từ đó linh hồn động vật hay tinh thần con người có thể “nhìn ra thế giới ảo tưởng.”

The final reason why the spheroidal true form of everything is apparently not seen on the planet can only at this stage be expressed through a quotation from an old esoteric manuscript in the Masters’ archives:

Lý do cuối cùng giải thích tại sao hình cầu chân thực của mọi sự vật dường như không được thấy trên hành tinh này, ở giai đoạn này chỉ có thể được diễn đạt qua một trích dẫn từ một bản thảo huyền bí cổ trong văn khố của các Chân sư:

“The vision of the higher sphere is hidden in the destiny of the fourth form of substance. The eye looks downwards and, behold, the atom disappears from view. The eye looks sideways and the dimensions merge, and again the atom disappears.

“Linh thị về khối cầu cao hơn được ẩn giấu trong định mệnh của hình thức thứ tư của chất liệu. Con mắt nhìn xuống dưới và kìa, nguyên tử biến mất khỏi tầm nhìn. Con mắt nhìn sang ngang và các chiều kích hòa lẫn vào nhau, và một lần nữa nguyên tử lại biến mất.

Outward it looks but sees the atom out of all proportion. When the eye negates the downward vision, and sees all from within outwards, the spheres again will be seen.”

Nhìn ra ngoài, nó nhìn nhưng thấy nguyên tử hoàn toàn mất cân xứng. Khi con mắt phủ định linh thị hướng xuống, và nhìn mọi sự từ bên trong ra ngoài, các khối cầu sẽ lại được thấy.”

S9S3 Text

V. MOTION AND THE FORM-BUILDING IMPULSE

V. CHUYỂN ĐỘNG VÀ XUNG LỰC KIẾN TẠO HÌNH TƯỚNG

1. Motion and the Mental Sheath.

1. Chuyển động và thể trí.

In the first section of this treatise we dealt somewhat with various phases of activity when considering “fire by friction,” and the fiery motion of substance itself. We will only touch on some further aspects of the matter, for it is necessary that the student should bear in mind certain [Page 1098] things. He should endeavour to ascertain the relationship between the universal mind (or the systemic mind) and cosmic mind, and seek to comprehend the purpose of the mental sheath, which is one of the most interesting of the various bodies on account of its fiery gaseous constitution. He should also seek to bring about through meditation that mental control and alignment which will result in stabilisation, and a responsiveness to causal impression. This will lead to the transmission of egoic instruction to the man on the physical plane.

Trong phần thứ nhất của bộ luận này, chúng ta đã phần nào bàn đến các giai đoạn khác nhau của hoạt động khi xem xét “Lửa ma sát,” và chuyển động rực lửa của chính chất liệu. Chúng ta sẽ chỉ đề cập đến một vài phương diện khác nữa của vấn đề, vì điều cần thiết là đạo sinh phải ghi nhớ một số [Page 1098] điều. Y nên cố gắng xác định mối liên hệ giữa trí tuệ vũ trụ (hay trí tuệ hệ thống) và trí tuệ vũ trụ lớn, đồng thời tìm cách thấu hiểu mục đích của thể trí, vốn là một trong những thể lý thú nhất trong các thể khác nhau do cấu tạo khí lửa của nó. Y cũng nên tìm cách, qua tham thiền, mang lại sự kiểm soát trí tuệ và sự chỉnh hợp sẽ dẫn đến sự ổn định, và khả năng đáp ứng với ấn tượng nguyên nhân. Điều này sẽ dẫn đến việc truyền đạt huấn thị chân ngã đến con người trên cõi hồng trần.

Certain points in connection with the mental sheath require emphasising, though it is not our purpose to do more than call attention to their nature. Under the law of correspondence, the student should be able to arrive at certain conclusions and judge wisely the assignment of purpose and place to the particular set of lunar pitris who form the vehicle.

Một số điểm liên quan đến thể trí cần được nhấn mạnh, dù mục đích của chúng ta không phải là làm gì hơn ngoài việc lưu ý đến bản chất của chúng. Theo định luật tương ứng, đạo sinh nên có khả năng đi đến một số kết luận và phán đoán một cách minh triết về sự phân công mục đích và vị trí cho nhóm thái âm tổ phụ đặc thù tạo thành vận cụ này.

The mental body is composed of only four types of essence, whereas the astral body and the physical are formed of seven types. The devas who compose this body are grouped together as “the cohorts of the fourth order” and have a close connection with that group of cosmic Lives who (through the impress of their influence upon solar matter) are responsible for the fact that our solar system is a system of the fourth order. This group of Lives is manipulated and controlled, in the macrocosmic sense, from cosmic mental levels via the central spiritual sun, and through what is called in esoteric parlance “the fourth solar cavity.” If students will meditate upon the nature of the human heart and its various divisions, and particularly upon one of the valves, light upon this complex problem may be forthcoming. There is a constant inflow of energy from these great Entities on cosmic mental levels; this inflow is the very life itself of the solar units who are the sumtotal of the four lower subplanes of the mental plane, and consequently the life [Page 1099] of the individual units who form the mental bodies of all human beings.

Thể trí chỉ được cấu thành từ bốn loại tinh chất, trong khi thể cảm dục và thể hồng trần được tạo thành từ bảy loại. Các thiên thần cấu thành thể này được nhóm lại với nhau thành “các đoàn quân của cấp thứ tư” và có liên hệ mật thiết với nhóm Các Sự Sống vũ trụ ấy, những Đấng (qua dấu ấn ảnh hưởng của Các Ngài lên vật chất thái dương) chịu trách nhiệm cho sự kiện rằng hệ mặt trời của chúng ta là một hệ thống thuộc cấp thứ tư. Nhóm Các Sự Sống này được vận dụng và kiểm soát, theo ý nghĩa đại thiên địa, từ các cấp độ trí tuệ vũ trụ qua Mặt trời Tinh thần Trung Ương, và qua điều được gọi trong huyền bí học là “khoang thái dương thứ tư.” Nếu các đạo sinh tham thiền về bản chất của trái tim con người và các phần phân chia khác nhau của nó, đặc biệt là về một trong các van tim, thì ánh sáng soi rọi vấn đề phức tạp này có thể xuất hiện. Có một dòng năng lượng tuôn vào liên tục từ các Thực Thể vĩ đại này trên các cấp độ trí tuệ vũ trụ; dòng tuôn vào này chính là sự sống của các đơn vị thái dương, là tổng số của bốn cõi phụ thấp của cõi trí, và do đó là sự sống [Page 1099] của các đơn vị cá biệt tạo thành các thể trí của toàn thể nhân loại.

It will be apparent to all careful students that on all the planes, the fourth subplane has a peculiar and close relation to the fourth Creative Hierarchy, that of the human monads, and this is peculiarly the case in connection with the mental body. Through the medium of the plane number (five), and the subplane number (four), the possibility of initiation for the human being becomes a fact and that particular form of activity which distinguishes his progress is brought about. There are, therefore, two main streams of energy responsible for the form of the mental sheaths,

Mọi đạo sinh cẩn trọng đều sẽ thấy rõ rằng trên mọi cõi, cõi phụ thứ tư có một liên hệ đặc biệt và mật thiết với Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, tức huyền giai của các chân thần nhân loại, và điều này đặc biệt đúng trong liên hệ với thể trí. Qua trung gian của số cõi (năm), và số cõi phụ (bốn), khả năng điểm đạo đối với con người trở thành một sự kiện, và hình thức hoạt động đặc thù phân biệt sự tiến bộ của y được mang lại. Vì vậy, có hai dòng năng lượng chính chịu trách nhiệm cho hình thức của các thể trí,

a. That emanating from the fourth subplane of the cosmic mental plane, including consequently the remaining three subplanes.

a. Dòng phát ra từ cõi phụ thứ tư của cõi trí vũ trụ, do đó bao gồm cả ba cõi phụ còn lại.

b. That emanating from the aggregate of those lives who form the fourth Creative Hierarchy. As we know, the esoteric number of this Hierarchy is nine, the exoteric number being four.

b. Dòng phát ra từ tổng thể những sự sống tạo thành Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư. Như chúng ta biết, con số huyền bí của Huyền Giai này là chín, còn con số ngoại môn là bốn.

It is the blending of these two streams of force which (within the confines of the three worlds) results in the progressive activity of man. When this is coupled with the self-engendered action of the individual atoms of any sheath, we have spiral-progressive motion. This is true macrocosmically and microcosmically, for the activity of the cosmic physical plane (our seven systemic planes), is largely dependent upon the co-ordinated activity of certain force manifestations, which might be enumerated as follows:

Chính sự hòa trộn của hai dòng mãnh lực này (trong phạm vi ba cõi thấp) tạo ra hoạt động tiến triển của con người. Khi điều này kết hợp với hành động tự phát sinh của các nguyên tử cá biệt trong bất kỳ thể nào, chúng ta có chuyển động xoắn ốc-tiến triển. Điều này đúng cả ở đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa, vì hoạt động của cõi hồng trần vũ trụ (bảy cõi hệ thống của chúng ta) phần lớn tùy thuộc vào hoạt động phối hợp của một số biểu hiện mãnh lực, có thể được liệt kê như sau:

a. That of the fourth Creative Hierarchy, who, in their aggregate, form the force centres.

a. Hoạt động của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, những Đấng mà trong tổng thể tạo thành các trung tâm lực.

b. The emanating influences of the fourth cosmic ether, the buddhic plane, upon which is dependent, [Page 1100] throughout the system, the manifestation of that which is tangible and objective.

b. Ảnh hưởng phát ra của dĩ thái vũ trụ thứ tư, tức cõi Bồ đề, mà trên đó tùy thuộc, [Page 1100] trong toàn hệ thống, sự biểu lộ của điều hữu hình và khách quan.

c. The opening up, both macrocosmically and microcosmically, of the fourth aspect of the solar and human egoic lotus; this is the revelation of the “Jewel in the Lotus,” and macrocosmically is the perfect co-ordination of the three aspects through the medium of substance; this is the completion of logoic purpose, which is that of the fourth group. It might be expressed otherwise:

c. Sự khai mở, cả ở đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa, của phương diện thứ tư của Hoa Sen Chân Ngã thái dương và nhân loại; đây là sự mặc khải của “Ngọc trong Hoa Sen,” và ở đại thiên địa là sự phối hợp hoàn hảo của ba phương diện qua trung gian của chất liệu; đây là sự hoàn tất mục đích của Thượng đế, vốn là mục đích của nhóm thứ tư. Có thể diễn đạt điều này theo cách khác:

“When all is known of the significance of fourth dimensional existence, then the fourth order with the fifth will complete the sacred nine.”

“Khi mọi điều về thâm nghĩa của sự tồn tại bốn chiều được biết đến, thì cấp thứ tư cùng với cấp thứ năm sẽ hoàn tất con số chín thiêng liêng.”

d. The specific alignment, interplay or free circulation of force simultaneously through the following manifestations of the one life:

d. Sự chỉnh hợp đặc thù, sự tương tác hay sự lưu thông tự do của mãnh lực đồng thời qua các biểu hiện sau đây của sự sống duy nhất:

1. The logoic Quaternary and equally the human.

1. Bộ Tứ của Thượng đế và tương ứng là của con người.

2. The fourth systemic ether.

2. Dĩ thái hệ thống thứ tư.

3. The fourth cosmic ether, the buddhic.

3. Dĩ thái vũ trụ thứ tư, tức cõi Bồ đề.

4. The fourth Creative Hierarchy.

4. Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư.

When this has been completed, the goal universal will have been reached, and the Logos will have assumed the desired control of His physical body; the human units will be then functioning upon the buddhic plane, and the groups of lives who form the mental bodies of the human beings (who are numerically allied with the above progression) will have equally achieved.

Khi điều này đã được hoàn tất, mục tiêu phổ quát sẽ đạt được, và Thượng đế sẽ đảm nhận sự kiểm soát mong muốn đối với thể xác của Ngài; khi ấy các đơn vị nhân loại sẽ hoạt động trên cõi Bồ đề, và các nhóm sự sống tạo thành các thể trí của nhân loại (vốn có liên hệ số học với tiến trình trên) cũng sẽ đạt thành tựu tương tự.

Certain influences and forces play upon the mental sheath of any human being, and produce in it that activity which is termed “spiral progressive.” These forces might be briefly considered as comprising the following:

Một số ảnh hưởng và mãnh lực tác động lên thể trí của bất kỳ con người nào, và tạo ra trong nó hoạt động được gọi là “xoắn ốc tiến triển.” Có thể ngắn gọn xem các mãnh lực này gồm những điều sau:

1. The energies of the atoms of substance which compose the mental body.

1. Các năng lượng của những nguyên tử chất liệu cấu thành thể trí.

2. The energies of the lunar father who is the coherent [Page 1101] life of the mental group body. These two groups concern the Not-Self, the third aspect of monadic manifestation.

2. Các năng lượng của người cha nguyệt tinh, là sự sống kết hợp của thể nhóm trí tuệ. Hai nhóm này liên quan đến Phi-Ngã, phương diện thứ ba của biểu lộ chân thần. [Page 1101]

3. The energies of the solar Angel, or Father, which is the co-ordinating principle behind manifestation in the three worlds.

3. Các năng lượng của Thái dương Thiên Thần, hay Người Cha, là nguyên khí phối hợp đứng sau biểu lộ trong ba cõi thấp.

4. The energies of the intelligent lives who form the body egoic. These lives find their emanating source on other levels than the systemic. These two groups concern the egoic principle, the middle principle which links the above and the below, and is the second aspect of monadic manifestation.

4. Các năng lượng của những sự sống thông tuệ tạo thành thể chân ngã. Những sự sống này tìm thấy nguồn phát xạ của chúng trên những cấp độ khác ngoài hệ thống. Hai nhóm này liên quan đến nguyên khí chân ngã, nguyên khí trung gian nối kết cái trên và cái dưới, và là phương diện thứ hai của biểu lộ chân thần.

5. The energy emanating from the “Jewel in the Lotus” itself, the focal point of energy in the Upper Triad. This concerns the Self, the highest aspect of monadic manifestation.

5. Năng lượng phát ra từ chính “Ngọc trong Hoa Sen,” tiêu điểm năng lượng trong Tam nguyên tinh thần thượng. Điều này liên quan đến Ngã, phương diện cao nhất của biểu lộ chân thần.

The effects produced by the play of these five types of energy upon each other produce (through the medium of the mental unit) that which we term the mental sheath. This sheath is after all only the aggregate of those atoms within a specific area with which the Thinker has to do, which he holds magnetically within his ring-pass-not, and which serve as the medium for his mental expression, according to his point of evolution. This same definition will be recognised as true of all atomic sheaths, and one of the things which students of the occult sciences will eventually do is to investigate the nature of the informing lives of the sheaths, the qualities of the energies influencing such lives, and the character and force of the basic underlying principles. They will thus arrive at facts concerning energies in the human kingdom which will prove of inestimable value.

Những hiệu quả do sự tác động qua lại của năm loại năng lượng này lên nhau tạo ra (qua trung gian của đơn vị hạ trí) điều mà chúng ta gọi là thể trí. Xét cho cùng, thể này chỉ là tổng thể những nguyên tử trong một khu vực xác định mà Đấng Tư Tưởng phải xử lý, mà y giữ bằng từ lực trong vòng-giới-hạn của mình, và phục vụ như phương tiện cho sự biểu lộ trí tuệ của y, tùy theo điểm tiến hoá của y. Cùng định nghĩa này sẽ được nhìn nhận là đúng đối với mọi thể nguyên tử, và một trong những điều mà các đạo sinh của các khoa học huyền bí cuối cùng sẽ làm là khảo cứu bản chất của các sự sống thấm nhuần các thể, các phẩm tính của những năng lượng ảnh hưởng đến các sự sống ấy, và tính cách cùng mãnh lực của các nguyên khí căn bản nền tảng. Nhờ đó họ sẽ đi đến những sự kiện liên quan đến các năng lượng trong giới nhân loại, những điều sẽ chứng tỏ có giá trị vô cùng lớn.

In order to keep the basic idea of this Treatise corresponding in its various divisions, I might call your attention to the four points we considered relative to motion [Page 1102] in the physical and astral sheaths. We found that the effects of such motion might be regarded as four altogether:

Để giữ cho ý tưởng căn bản của bộ Luận này tương ứng trong các phân bộ khác nhau của nó, tôi có thể lưu ý các bạn đến bốn điểm mà chúng ta đã xem xét liên quan đến chuyển động [Page 1102] trong thể hồng trần và thể cảm dục. Chúng ta đã thấy rằng các hiệu quả của chuyển động ấy có thể được xem là gồm bốn điều tất cả:

Separation.

Sự phân ly.

Momentum.

Động lượng.

Frictional Activity.

Hoạt động ma sát.

Absorption.

Sự hấp thụ.

Separation. This separation is brought about through the initial activity of the Ego who produces the first of those forms which he intends to use during the cycle of incarnation, through the bringing together of these energies through self-engendered impulse. He, for purposes of development, identifies himself with that form, and thus temporarily separates himself off from his own real Self. Through the veil of mental matter he first knows separation, and undergoes his first experiences of the three worlds. This deals with separation from the highest aspect. Viewing it from the personality standpoint, separation is again to be seen, for the activity of the monadic sheath, its own internal volition produces the formation of a sphere of activity, distinct in its nature and governed by laws of its own, which—until a certain amount of alignment has been achieved during evolution—lives its own separate existence apart from the two lower sheaths, astral and physical. Thus it can be truly said that the “mind slays the Real” (316) and serves as the “great Deluder” of the Self in the one case, and as the “great Separator” in another; it comes between the centralised egoic life and the personality existences.

Sự phân ly. Sự phân ly này được mang lại qua hoạt động ban đầu của Chân ngã, Đấng tạo ra hình thức đầu tiên trong những hình thức mà y dự định sử dụng trong chu kỳ nhập thể, bằng cách tập hợp các năng lượng này qua xung lực tự phát sinh. Vì mục đích phát triển, y đồng hoá với hình thức ấy, và do đó tạm thời tách mình ra khỏi Chân ngã thực sự của chính mình. Qua bức màn của vật chất trí tuệ, trước hết y biết đến sự phân ly, và trải qua những kinh nghiệm đầu tiên của mình trong ba cõi thấp. Điều này liên quan đến sự phân ly khỏi phương diện cao nhất. Xét từ quan điểm phàm ngã, sự phân ly lại được thấy, vì hoạt động của thể chân thần, ý chí nội tại riêng của nó tạo ra sự hình thành một khối cầu hoạt động, khác biệt về bản chất và được chi phối bởi các định luật riêng của nó, mà—cho đến khi một mức độ chỉnh hợp nào đó đã đạt được trong tiến hoá—sống sự tồn tại riêng biệt của nó tách khỏi hai thể thấp hơn, cảm dục và hồng trần. Vì vậy có thể nói thật rằng “trí tuệ giết chết Thực Tại” (316) và trong một trường hợp phục vụ như “Kẻ Đại Mê Hoặc” của Ngã, còn trong trường hợp khác như “Kẻ Đại Phân Ly”; nó đứng giữa sự sống chân ngã tập trung và các tồn tại phàm ngã.

(316) “Mind the Slayer of the Real.”—Voice of the Silence, pp. 14-15. (back)

(316) “Trí tuệ, Kẻ Giết Chết Thực Tại.”—Tiếng Nói của Im Lặng, tr. 14-15. (trở lại)

This life of separation becomes steadily stronger as the rotary-spiral action of the mental body becomes intensified during the cycles of manifestation, and the “individualised” [Page 1103] Idea becomes daily more dominant. The “Ahamkara” principle, (317) as it is called in the Secret Doctrine, does its work, and man becomes strongly self-centred, and self-conscious in the lower connotation of the term. Later, as higher energies come into play and the effort is made to balance the three types of force manifestations in the three worlds through the three vehicles, the Ego becomes aware of delusion and eventually frees himself. When this is in process of consummation during the final stages of evolution, the mental body becomes a transmitter for force currents from the egoic mind, the antaskarana between the higher mind and the mental sheath is built, and the “transmitting mind body” blends itself with the “reflecting astral body.” Thus separation is negated.

Sự sống phân ly này ngày càng mạnh hơn khi hoạt động xoay tròn-xoắn ốc của thể trí trở nên mãnh liệt hơn trong các chu kỳ biểu lộ, và Ý Tưởng đã được “biệt ngã hóa” trở nên ngày càng chi phối hơn. Nguyên khí “Ahamkara,” ([Page 1103] 317) như được gọi trong Giáo Lý Bí Nhiệm, thực hiện công việc của nó, và con người trở nên mạnh mẽ tập trung vào bản thân, và có ngã thức theo hàm nghĩa thấp của thuật ngữ này. Về sau, khi các năng lượng cao hơn bắt đầu tác động và nỗ lực được thực hiện để quân bình ba loại biểu hiện mãnh lực trong ba cõi thấp qua ba vận cụ, Chân ngã nhận biết sự mê lầm và cuối cùng tự giải thoát. Khi điều này đang trong tiến trình hoàn tất ở các giai đoạn cuối của tiến hoá, thể trí trở thành một bộ truyền dẫn cho các dòng mãnh lực từ trí tuệ chân ngã, antaskarana giữa thượng trí và thể trí được xây dựng, và “thể trí truyền dẫn” hòa nhập với “thể cảm dục phản chiếu.” Như vậy sự phân ly bị phủ định.

(317) Ahamkara. The “I” making principle necessary in order that self-consciousness may be evolved, but transcended when its work is over. (back)

(317) Ahamkara. Nguyên khí tạo ra “Tôi,” cần thiết để ngã thức có thể được tiến hoá, nhưng phải được vượt qua khi công việc của nó đã hoàn tất. (trở lại)

Students will note, therefore, that the goal for the mental body is simply that it should become a transmitter of the thoughts and wishes of the solar Angel, and should act as the agent for the Triad. The goal for the astral body is that it should be the reflector in a similar way of the buddhic impulses, which reach the emotional body via certain petals in the egoic lotus, and the astral permanent atom. The process of equilibrising the forces in the personality (thus producing stability, and alignment) is brought about through the scientific manifestation of the electrical reactions of the three sheaths.

Vì vậy, các đạo sinh sẽ lưu ý rằng mục tiêu của thể trí đơn giản là nó phải trở thành một bộ truyền dẫn các tư tưởng và ước muốn của Thái dương Thiên Thần, và phải hoạt động như tác nhân cho Tam nguyên tinh thần. Mục tiêu của thể cảm dục là nó phải trở thành bộ phản chiếu theo cách tương tự của các xung lực Bồ đề, những xung lực đi đến thể cảm xúc qua một số cánh hoa trong Hoa Sen Chân Ngã, và nguyên tử trường tồn cảm dục. Tiến trình quân bình các mãnh lực trong phàm ngã (nhờ đó tạo ra sự ổn định, và sự chỉnh hợp) được mang lại qua sự biểu lộ khoa học của các phản ứng điện của ba thể.

The mental sheath is regarded in its totality of force as positive. The physical bodies are regarded as negative to the mental. The astral vehicle is the point of the at-one-ment of the energies; it is the battleground whereon the dualities are adjusted to each other, and equilibrium is attained. This is the underlying thought when the words “kama-manasic” body are used, because for two-thirds of the pilgrim’s journey this body serves a dual purpose. It is only during the later stage that a [Page 1104] man differentiates between will and desire, and between his mental body and his desire body.

Thể trí được xem, trong toàn bộ mãnh lực của nó, là dương. Các thể hồng trần được xem là âm đối với thể trí. Vận cụ cảm dục là điểm hợp nhất của các năng lượng; nó là chiến trường nơi các nhị nguyên tính được điều chỉnh với nhau, và sự quân bình được đạt tới. Đây là tư tưởng nền tảng khi các từ “thể trí-cảm” được dùng, bởi vì trong hai phần ba cuộc hành trình của người lữ khách, thể này phục vụ một mục đích kép. Chỉ trong giai đoạn sau này mà một [Page 1104] người mới phân biệt giữa ý chí và dục vọng, và giữa thể trí của mình với thể dục vọng của mình.

Momentum: The activity of the mental sheath and its gradually increasing rate of vibration is brought about by the inflow of energies of different kinds. These various factors, as they are brought to bear upon the mental sheath produce an increased activity and speed in the rotary motion of the individual atoms, and also greater speed in the progress of the entire sheath. This means a more rapid transference of the atoms of low vibration out of the sheath and the substitution of atoms of high quality.

Động lượng: Hoạt động của thể trí và nhịp độ rung động tăng dần của nó được mang lại bởi dòng tuôn vào của các năng lượng thuộc nhiều loại khác nhau. Các yếu tố khác nhau này, khi tác động lên thể trí, tạo ra hoạt động gia tăng và tốc độ lớn hơn trong chuyển động quay của các nguyên tử cá biệt, và cũng tạo ra tốc độ lớn hơn trong sự tiến triển của toàn thể. Điều này có nghĩa là sự chuyển dịch nhanh hơn của các nguyên tử có rung động thấp ra khỏi thể và sự thay thế bằng các nguyên tử có phẩm chất cao.

It involves also more rapid transition of the various energies, or increased spiral action. This is one of the factors resulting in more rapid incarnation, and more rapid assimilation of the experiences learnt. Curiously enough, from the standpoint of the average thinker, this factor causes longer devachanic periods, for these cycles of interior mental consideration are of ever increasing activity. They are cycles of intense mental adjustment, and of the generation of force until (towards the close of the cycle of incarnation) the activity which has been generated is so strong that continuity of consciousness becomes an accomplished fact. The man frequently then foregoes devachan as he needs it no more. Other results are the fourth dimensional activity of the various “wheels,” which begin not only to rotate but to “turn upon themselves,” and the vivification of the four spirillae of the mental unit. Some of the energies which produce increased momentum in the mental sheath might be enumerated, and as the students consider them it will again become apparent what a complicated thing human unfoldment really is. These energies are:

Điều đó cũng bao hàm sự chuyển tiếp nhanh hơn của các năng lượng khác nhau, hay hoạt động xoắn ốc gia tăng. Đây là một trong những yếu tố dẫn đến sự nhập thể nhanh hơn, và sự đồng hoá nhanh hơn các kinh nghiệm đã học được. Thật kỳ lạ, từ quan điểm của nhà tư tưởng trung bình, yếu tố này lại gây ra các thời kỳ devachan dài hơn, vì các chu kỳ suy xét trí tuệ nội tại này có hoạt động ngày càng gia tăng. Chúng là những chu kỳ điều chỉnh trí tuệ mãnh liệt, và phát sinh mãnh lực cho đến khi (về cuối chu kỳ nhập thể) hoạt động đã được phát sinh trở nên mạnh đến mức tính liên tục của tâm thức trở thành một sự kiện đã hoàn tất. Khi đó con người thường từ bỏ devachan vì y không còn cần đến nó nữa. Những kết quả khác là hoạt động bốn chiều của các “bánh xe” khác nhau, những bánh xe bắt đầu không chỉ quay mà còn “tự quay trên chính mình,” và sự làm sống động bốn loa tuyến của đơn vị hạ trí. Có thể liệt kê một số năng lượng tạo ra động lượng gia tăng trong thể trí, và khi các đạo sinh xem xét chúng, sẽ lại thấy rõ sự khai mở của con người thực sự là một điều phức tạp biết bao. Những năng lượng này là:

1. The direct increasing influence of the solar Angel.

1. Ảnh hưởng trực tiếp ngày càng tăng của Thái dương Thiên Thần.

This influence is felt in four stages:

Ảnh hưởng này được cảm nhận trong bốn giai đoạn:

As the three rows of petals unfold. [Page 1105]

Khi ba hàng cánh hoa khai mở. [Page 1105]

As the “interior jewel” rays forth more powerfully.

Khi “viên ngọc nội tại” phát ra mạnh mẽ hơn.

2. The reflex action from the physical personality, or the thought currents sent through in course of time from the physical brain.

2. Tác động phản hồi từ phàm ngã hồng trần, hay các dòng tư tưởng được gửi qua theo thời gian từ bộ não hồng trần.

3. The activities of the astral body.

3. Các hoạt động của thể cảm dục.

4. The thought currents or energy units initiated by identification with groups, national, family, racial and egoic.

4. Các dòng tư tưởng hay các đơn vị năng lượng được khởi phát bởi sự đồng hoá với các nhóm, quốc gia, gia đình, chủng tộc và chân ngã.

5. The currents which impinge upon the mental bodies of all human beings as different Rays pass in and out of incarnation.

5. Các dòng tác động lên các thể trí của toàn thể nhân loại khi các cung khác nhau đi vào và đi ra khỏi nhập thể.

6. The forces and energies which become active or latent during different cycles.

6. Các mãnh lực và năng lượng trở nên hoạt động hay tiềm ẩn trong các chu kỳ khác nhau.