Trích nội dung chương
In the evolution of the fires of the spine, we have a correspondence to the sutratma with its three points of interest, the monadic auric egg, its emitting point, the egoic auric egg, the medial point, and the body or gross form, its lowest point. Trong sự tiến hoá của các lửa nơi cột sống, chúng ta có một tương ứng với sutratma cùng ba điểm đáng chú ý của nó: noãn hào quang chân thần, điểm phát xạ của nó; noãn hào quang chân ngã, điểm trung gian; và thể hay hình tướng thô nặng, điểm thấp nhất của nó.
1. The lowest centre corresponds to the personality,
1. Trung tâm thấp nhất tương ứng với phàm ngã,
2. The middle centre to the Ego, or the Thinker,
2. Trung tâm giữa tương ứng với chân ngã, hay Kẻ Tư Duy,
3. The supreme head centre to the Monad.
3. Trung tâm đầu tối cao tương ứng với chân thần.
In the evolution of the fires of the spine, we have a correspondence to the sutratma with its three points of interest, the monadic auric egg, its emitting point, the egoic auric egg, the medial point, and the body or gross form, its lowest point.
Trong sự tiến hoá của các lửa nơi cột sống, chúng ta có một tương ứng với sutratma cùng ba điểm đáng chú ý của nó: noãn hào quang chân thần, điểm phát xạ của nó; noãn hào quang chân ngã, điểm trung gian; và thể hay hình tướng thô nặng, điểm thấp nhất của nó.
Another hint of interest lies in the fact that there exist between these spinal centres, certain gaps (if I may so express it) which have (in the course of evolution) to be bridged by the energetic action of the rapidly growing vibration of the force unit. Between the triple energy of the spinal column and the alta major centre, there is a hiatus, just as there exists that which must be bridged between the triple lower man and the egoic body, or between the mental unit on the fourth subplane of the mental plane and the solar Angel on the third subplane. Though we are told that the permanent atomic triad is enclosed in the [Page 1160] causal periphery, nevertheless, from the standpoint of consciousness there is that which must be bridged. Again, between the alta major centre and the supreme head centre, exists another gulf—a correspondence to the gulf found between the plane of the Ego and the lowest point of the Triad, the manasic permanent atom. When man has constructed the antaskarana (which he does during the final stages of his evolution in the three worlds) that gulf is bridged and the Monad and the Ego are closely linked. When man is polarised in his mental body, he begins to bridge the antaskarana. When the centre between the shoulder blades, referred to earlier in this Treatise as the manasic centre, is vibrating forcefully, then the alta major centre and the head centre, via the throat centre can be united.
Một gợi ý lý thú khác nằm ở sự kiện là giữa các trung tâm cột sống này có những khoảng hở nhất định (nếu tôi có thể diễn đạt như vậy) mà trong tiến trình tiến hoá phải được bắt cầu bằng hoạt động năng động của rung động đang tăng trưởng nhanh chóng của đơn vị mãnh lực. Giữa năng lượng tam phân của cột sống và trung tâm alta major có một khoảng gián đoạn, cũng như tồn tại điều phải được bắt cầu giữa phàm nhân tam phân và thể chân ngã, hay giữa đơn vị hạ trí trên cõi phụ thứ tư của cõi trí và Thái dương Thiên Thần trên cõi phụ thứ ba. Dù chúng ta được bảo rằng tam nguyên nguyên tử trường tồn được bao bọc trong [Page 1160] chu vi nhân thể, tuy nhiên, xét từ quan điểm của tâm thức vẫn có điều phải được bắt cầu. Lại nữa, giữa trung tâm alta major và trung tâm đầu tối cao tồn tại một vực ngăn khác—một tương ứng với vực ngăn được tìm thấy giữa cõi của chân ngã và điểm thấp nhất của Tam nguyên tinh thần, nguyên tử trường tồn manas. Khi con người đã xây dựng antaskarana (điều này y thực hiện trong các giai đoạn cuối của sự tiến hoá của mình trong ba cõi thấp) thì vực ngăn ấy được bắt cầu và chân thần cùng chân ngã được nối kết chặt chẽ. Khi con người được phân cực trong thể trí của mình, y bắt đầu bắt cầu antaskarana. Khi trung tâm giữa hai bả vai, đã được nói đến trước đây trong Luận này như là trung tâm manas, rung động mạnh mẽ, thì trung tâm alta major và trung tâm đầu, qua trung tâm cổ họng có thể được hợp nhất.
Man, when he reaches this stage, is a creator in mental matter of a calibre different from the unconsciously working average man. He constructs in unison with the plan and the divine Manasaputra, the Son of Mind, will turn his attention from being a Son of Power in the three worlds and centre his attention in the Spiritual Triad, thus recapitulating on a higher turn of the spiral, the work he earlier did as man. This becomes possible when the growth of the triangle just above dealt with (base of spine, alta major centre and throat, as they unify in the head) is paralleled by another triplicity, the solar plexus, the heart and the third eye; the energy merging through them is similarly unified in the same head centre. The third eye is an energy centre constructed by man; it is a correspondence to the energy centre, the causal body, constructed by the Monad. The alta major centre is similarly constructed by other streams of force and corresponds interestingly to the triple form constructed by the ego in the three worlds.
Khi đạt đến giai đoạn này, con người là một nhà sáng tạo trong chất liệu trí tuệ với một tầm mức khác với con người trung bình hoạt động một cách vô thức. Y kiến tạo trong sự hợp nhất với Thiên Cơ và divine Manasaputra, Con của Trí Tuệ, sẽ chuyển sự chú ý của mình khỏi việc là một Con của Quyền Năng trong ba cõi thấp và tập trung sự chú ý vào Tam Nguyên Tinh Thần, nhờ đó lặp lại ở một vòng xoắn cao hơn công việc mà trước kia y đã làm với tư cách con người. Điều này trở nên khả hữu khi sự tăng trưởng của tam giác vừa được bàn đến ở trên (đáy cột sống, trung tâm alta major và cổ họng, khi chúng hợp nhất trong đầu) được song hành bởi một bộ ba khác, tùng thái dương, tim và con mắt thứ ba; năng lượng hòa nhập qua chúng cũng được hợp nhất trong cùng trung tâm đầu ấy. Con mắt thứ ba là một trung tâm năng lượng do con người kiến tạo; nó là một tương ứng với trung tâm năng lượng, thể nguyên nhân, do chân thần kiến tạo. Trung tâm alta major cũng được kiến tạo tương tự bởi những dòng mãnh lực khác và tương ứng một cách lý thú với hình tướng tam phân do chân ngã kiến tạo trong ba cõi thấp.
When this dual work has proceeded to a certain evolutionary point, another triplicity becomes alive within the [Page 1161] head itself as the result of these dual streams of triple energy. This triangle transmits fiery energy via the pineal gland, the pituitary body and the alta major centre and this reaches the head centre. In this way in these three triangles we have nine streams of energy converging and passing into the highest head lotus. The correspondence to certain macrocosmical forces will here be apparent to all discerning students.
Khi công việc kép này đã tiến đến một điểm tiến hoá nhất định, một bộ ba khác trở nên sống động bên trong chính [Page 1161] đầu như là kết quả của các dòng tam phân kép này. Tam giác này truyền năng lượng hỏa qua tuyến tùng quả, tuyến yên và trung tâm alta major, rồi năng lượng này đi đến trung tâm đầu. Theo cách này, trong ba tam giác này chúng ta có chín dòng năng lượng hội tụ và đi vào hoa sen đầu tối cao. Tương ứng với một số mãnh lực đại thiên địa ở đây sẽ hiển nhiên đối với mọi đạo sinh có khả năng phân biện tinh thần.
We have seen the close connection between the different centres and the gradually demonstrating effects to be noted as they are linked up and eventually produce a synthetic circulatory system for egoic energy in conjunction with the energy of the lower man, which forms a kind of medium by which the egoic force makes itself felt. Macrocosmically, but little can be said which would prove intelligible to man at his present stage of evolution. Some brief statements might, nevertheless, be given which (if pondered on and correlated with each other) may throw some light on planetary evolution and on the relation of the planetary Logoi to the solar Logos.
Chúng ta đã thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa các trung tâm khác nhau và những hiệu quả dần dần biểu lộ cần được ghi nhận khi chúng được nối kết với nhau và cuối cùng tạo ra một hệ tuần hoàn tổng hợp cho năng lượng chân ngã kết hợp với năng lượng của phàm nhân, vốn tạo thành một loại trung gian nhờ đó mãnh lực chân ngã tự làm cho được cảm nhận. Xét theo Đại thiên địa, chỉ có thể nói rất ít điều mà con người ở giai đoạn tiến hoá hiện nay có thể hiểu được. Tuy nhiên, có thể nêu ra vài phát biểu ngắn gọn mà nếu được suy ngẫm và liên hệ với nhau, có thể soi sáng phần nào về sự tiến hoá hành tinh và về mối liên hệ của các Hành Tinh Thượng Đế với Thái dương Thượng đế.
A solar Logos uses for His energy centres the planetary schemes, each of which embodies a peculiar type of energy, and each of which, therefore, vibrates to the key of the logoic solar Angel, of which the human solar Angel is a dim reflection. It is interesting here to note that as the human solar Angel is a unity, manifesting through three tiers of petals, the logoic correspondence is even more interesting, for that great cosmic Entity demonstrates on the cosmic mental plane as a triple flame working through seven tiers of petals, and it is the energy from these seven circles of energy which pulsates through the medium of any scheme. All this is hidden in the mystery of the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID, and it is not possible for men to solve it,—the truth being obscure to even the highest Dhyan Chohan of our system.
Một Thái dương Thượng đế dùng các hệ hành tinh làm những trung tâm năng lượng của Ngài, mỗi hệ hiện thân cho một loại năng lượng đặc thù, và vì vậy mỗi hệ rung động theo chủ âm của Thái dương Thiên Thần thượng đế, mà Thái dương Thiên Thần của con người chỉ là một phản ánh mờ nhạt. Ở đây thật lý thú khi lưu ý rằng cũng như Thái dương Thiên Thần của con người là một đơn vị, biểu lộ qua ba tầng cánh hoa, thì tương ứng thượng đế còn lý thú hơn nữa, vì Thực Thể vũ trụ vĩ đại ấy biểu lộ trên cõi trí vũ trụ như một ngọn lửa tam phân hoạt động qua bảy tầng cánh hoa, và chính năng lượng từ bảy vòng năng lượng này đập nhịp qua trung gian của bất kỳ hệ hành tinh nào. Tất cả điều này được che giấu trong huyền nhiệm của ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ, và con người không thể giải được—sự thật ấy mờ tối ngay cả đối với Dhyan Chohan cao nhất trong hệ của chúng ta.
The energy centres of the solar Logos are themselves [Page 1162] in the form of vast lotuses (324) or wheels, at the centre of which lies hidden that central cosmic Life, we call a planetary Logos. He is the meeting place for two types of force, spiritual or logoic, which reaches Him (via the logoic Lotus on cosmic mental planes) from the seven Rishis of the Great Bear on Their own plane, and, secondly, of buddhic force, which is transmitted via the Seven Sisters or the Pleiades from a constellation called the Dragon in some books, and from which has come the appellation “The Dragon of Wisdom.”
Các trung tâm năng lượng của Thái dương Thượng đế tự chúng [Page 1162] có hình thức những hoa sen bao la (324) hay những bánh xe, ở trung tâm của chúng ẩn giấu Sự sống vũ trụ trung tâm mà chúng ta gọi là một Hành Tinh Thượng Đế. Ngài là điểm gặp gỡ của hai loại mãnh lực: mãnh lực tinh thần hay thượng đế, đến với Ngài (qua Hoa Sen thượng đế trên các cõi trí vũ trụ) từ bảy Đấng Rishi của Đại Hùng Tinh trên cõi riêng của Các Ngài; và thứ hai là mãnh lực Bồ đề, được truyền qua Bảy Chị Em hay Pleiades từ một chòm sao được gọi trong vài sách là Con Rồng, và từ đó phát sinh danh xưng “Con Rồng Minh Triết.”
(324) See Section VIII, Secret Doctrine, Volume I.
(324) Xem Phần VIII, Giáo Lý Bí Nhiệm, Quyển I.
The Lotus is symbolical of both the Macrocosm and of the Microcosm.
Hoa sen là biểu tượng cho cả Đại thiên địa lẫn Tiểu thiên địa.
a. The seeds of the Lotus contain in miniature the perfect plant.
a. Các hạt giống của Hoa sen chứa trong thu nhỏ cây hoàn hảo.
b. It is the product of fire and matter.
b. Nó là sản phẩm của lửa và vật chất.
c. It has its roots in the mud, it grows up through the water, it is fostered by the warmth of the sun, it blossoms in the air.
c. Rễ của nó ở trong bùn, nó mọc lên qua nước, được nuôi dưỡng bởi hơi ấm của mặt trời, và nở hoa trong không khí.
MACROCOSM
ĐẠI THIÊN ĐỊA
The mud........ The objective physical solar system.
Bùn........ Hệ mặt trời hồng trần khách quan.
Water...........The emotional or astral nature.
Nước........... Bản chất cảm xúc hay cảm dục.
Flower on water.. Fruition of the spiritual.
Hoa trên nước.. Thành quả của tinh thần.
Method......... Cosmic fire or intelligence.
Phương pháp....... Lửa vũ trụ hay trí tuệ.
MICROCOSM
TIỂU THIÊN ĐỊA
The mud........ The physical body.
Bùn........ Thể xác.
Water...........Emotional or astral nature.
Nước........... Bản chất cảm xúc hay cảm dục.
Flower on water.. Fruition of the buddhic or spiritual.
Hoa trên nước.. Thành quả của Bồ đề hay tinh thần.
Method......... Fire of mind.
Phương pháp....... Lửa của trí tuệ.
“The significance of the tradition that Brahma is born from or in the lotus, is the same. The lotus symbolises a world-system, and Brahma dwells therein representing action; he is therefore called the Kamal-asana, the Lotus-seated. The lotus, again, is said to arise from or in the navel of Vishnu, because the navel of Vishnu or all-knowledge is necessary desire, the primal form of which, as embodied in the Veda-text, is: May I be born forth (as multitudinous progeny). From such central and essential desire, the will to live, arises the whole of becoming, all the operations, all the whirls and whorls, of change and manifestation, which make up life. In such becoming dwells Brahma, and from him and by him, i.e., by incessant activity, arises and manifests the organised world, the trib huvanam, the triple world. Because first manifested, therefore is Brahma named the first of the gods; by action is manifestation, and he is the actor; and because actor, therefore is he also sometimes called the preserver or protector of the world; for he who makes a thing desires also the maintenance and preservation of his handiwork, and, moreover, by the making of the thing supplies the basis and opportunity for the operation of preservation, which, in strictness, of course, belong to Vishnu.”—Pranava-Vada, pp. 84, 311. (back)
“Thâm nghĩa của truyền thống cho rằng Brahma sinh ra từ hay trong hoa sen cũng là như vậy. Hoa sen biểu tượng cho một hệ thống thế giới, và Brahma ngự trong đó, tượng trưng cho hành động; vì vậy ngài được gọi là Kamal-asana, Đấng ngồi trên Hoa sen. Hoa sen, lại nữa, được nói là phát sinh từ hay trong rốn của Vishnu, bởi vì rốn của Vishnu hay toàn tri là dục vọng tất yếu, mà hình thức nguyên sơ của nó, như được thể hiện trong văn bản Veda, là: Cầu mong ta được sinh ra (thành vô số hậu duệ). Từ dục vọng trung tâm và cốt yếu ấy, ý chí sống, phát sinh toàn bộ tiến trình trở thành, mọi hoạt động, mọi vòng xoáy và cuộn xoáy của biến đổi và biểu hiện, vốn hợp thành sự sống. Trong tiến trình trở thành ấy Brahma ngự trị, và từ ngài và bởi ngài, tức là bởi hoạt động không ngừng, thế giới có tổ chức phát sinh và biểu hiện, trib huvanam, thế giới tam phân. Bởi vì được biểu hiện trước tiên, nên Brahma được gọi là vị thần đầu tiên; biểu hiện là do hành động, và ngài là tác nhân; và bởi vì là tác nhân, nên ngài cũng đôi khi được gọi là đấng bảo tồn hay bảo hộ thế giới; vì kẻ tạo ra một vật cũng mong muốn duy trì và bảo tồn công trình của mình, và hơn nữa, bằng việc tạo ra vật ấy, cung cấp nền tảng và cơ hội cho hoạt động bảo tồn, vốn theo nghĩa chặt chẽ dĩ nhiên thuộc về Vishnu.”—Pranava-Vada, tr. 84, 311. (back)
A third type of energy is added and, therefore, can be detected in these centres, that of manasic type. This reaches the logoic centres via the star Sirius, and is transmitted from that constellation which (as earlier I have [Page 1163] hinted) must remain obscure at present. These three great streams of energy form the total manifestation of a logoic centre. This is known to us as a planetary scheme.
Một loại năng lượng thứ ba được thêm vào và vì vậy có thể được nhận ra trong các trung tâm này, đó là loại manas. Nó đến các trung tâm thượng đế qua sao Sirius, và được truyền từ chòm sao ấy mà (như trước đây tôi đã gợi ý) hiện nay vẫn phải còn [Page 1163] mờ tối. Ba dòng năng lượng lớn này tạo thành toàn bộ biểu hiện của một trung tâm thượng đế. Điều này được chúng ta biết đến như một hệ hành tinh.
Within the planetary scheme, these streams of energy work paramountly in the following manner:
Bên trong hệ hành tinh, các dòng năng lượng này hoạt động chủ yếu theo cách sau:
a.
Spiritual energy
three higher planes
the Monads.
b.
Buddhic force
fourth plane
the solar Angels.
c.
Manasic force
two lower planes
the four kingdoms of nature.
Physical energy, the left-over of a previous solar system, demonstrates through the dense physical form and in the material which is energised during the involutionary cycle. It is not considered a principle; and is regarded as the basis of maya or illusion.
Năng lượng hồng trần, phần còn lại của một hệ mặt trời trước, biểu lộ qua hình thể hồng trần đậm đặc và trong chất liệu được tiếp sinh lực trong chu kỳ giáng hạ tiến hoá. Nó không được xem là một nguyên khí; và được coi là nền tảng của ảo lực hay ảo tưởng.
The various planetary schemes are not all alike and differ as to:
Các hệ hành tinh khác nhau không hoàn toàn giống nhau và khác biệt về:
a. Type of energy,
a. Loại năng lượng,
b. Point in evolution,
b. Điểm tiến hoá,
c. Position in the general plan,
c. Vị trí trong kế hoạch tổng quát,
d. Karmic opportunity,
d. Cơ hội nghiệp quả,
e. Rate of vibration.
e. Tốc độ rung động.
The main distinction exists in the fact, as we have so oft repeated, that three of them form the three higher etheric energy centres of the Logos, and four constitute the lower centres.
Sự phân biệt chính nằm ở sự kiện, như chúng ta đã lặp đi lặp lại rất nhiều lần, rằng ba trong số chúng tạo thành ba trung tâm năng lượng dĩ thái cao của Thượng đế, và bốn trung tâm còn lại cấu thành các trung tâm thấp.
Saturn is of interest to us here because the Logos of Saturn holds a position in the body logoic similar to that held by the throat centre in the microcosm. Three centres towards the close of manifestation will become aligned in the same way as the centre at the base of the spine, the throat centre and the alta major centre. Here it must be pointed out that there are three planetary schemes which [Page 1164] hold a place analogous to that held by the pineal gland, the pituitary body, and the alta major centre, but they are not the schemes referred to as centres, or known to us as informed by planetary Logoi. Certain of the planetoids have their place here, and one scheme which has passed out of activity, and is in a condition of quiescence and nonactivity. This latter scheme is the correspondence in the logoic body to the atrophied third eye in the fourth kingdom of nature. When man has developed etheric vision and thus has expanded his range of vision, he will become aware of these facts, for he will see. Many planetary schemes which are found only in etheric matter will be revealed to his astonished gaze, and he will find that (as in the body microcosmic) there are seven (or ten), paramount centres but numbers of other centres for the purpose of energising various organs. So likewise the body macrocosmic has myriads of energy focal points or feeders which have their place, their function, and their felt effects. These centres, with no dense physical globe, constitute what has sometimes been called “the inner round” and transmit their force through those greater centres which have been spoken of in occult books as having a connection with the inner round.
Sao Thổ đáng quan tâm đối với chúng ta ở đây vì Thượng đế của Sao Thổ giữ một vị trí trong thể thượng đế tương tự như vị trí của trung tâm cổ họng trong tiểu thiên địa. Ba trung tâm vào lúc gần kết thúc biểu hiện sẽ trở nên chỉnh hợp theo cùng cách như trung tâm ở đáy cột sống, trung tâm cổ họng và trung tâm alta major. Ở đây cần chỉ ra rằng có ba hệ hành tinh giữ một vị trí [Page 1164] tương tự với vị trí của tuyến tùng quả, tuyến yên và trung tâm alta major, nhưng chúng không phải là các hệ được nói đến như những trung tâm, hay được chúng ta biết là được các Hành Tinh Thượng Đế thấm nhuần. Một số tiểu hành tinh có vị trí của chúng ở đây, và một hệ đã ra khỏi hoạt động, đang ở trong trạng thái tĩnh lặng và bất hoạt. Hệ sau này là tương ứng trong thể thượng đế với con mắt thứ ba bị teo đi trong giới thứ tư của thiên nhiên. Khi con người đã phát triển linh thị dĩ thái và nhờ đó mở rộng tầm nhìn của mình, y sẽ nhận biết các sự kiện này, vì y sẽ thấy. Nhiều hệ hành tinh chỉ được tìm thấy trong chất liệu dĩ thái sẽ được mặc khải trước cái nhìn kinh ngạc của y, và y sẽ thấy rằng (như trong thể tiểu thiên địa) có bảy (hay mười) trung tâm chính yếu nhưng có vô số trung tâm khác nhằm mục đích tiếp sinh lực cho các cơ quan khác nhau. Tương tự như vậy, thể đại thiên địa có vô số tiêu điểm năng lượng hay các điểm cấp dưỡng có vị trí, chức năng và hiệu quả cảm nhận được của chúng. Những trung tâm này, không có bầu hành tinh hồng trần đậm đặc, cấu thành cái đôi khi được gọi là “cuộc tuần hoàn bên trong” và truyền mãnh lực của chúng qua những trung tâm lớn hơn đã được nói đến trong các sách huyền bí là có liên hệ với cuộc tuần hoàn bên trong.
Each of these planetary schemes can be seen as a lotus having seven major petals, of which each chain forms one petal, but having also subsidiary petals of a secondary colour according to the nature and karma of the Entity concerned. It is in the enumeration of these solar lotuses that occult students go astray. It is, for instance, correct to say that the planetary scheme corresponding to the microcosmic base of the spine is a fourfold lotus and has, therefore, four petals. There are four outstanding petals of a peculiar hue, but there are three of a secondary colour, and nine of a tertiary nature. (To students with intuition the hint here conveyed may reveal the name of the planet, and the nature of its evolution).
Mỗi hệ hành tinh này có thể được thấy như một hoa sen có bảy cánh hoa chính, trong đó mỗi dãy tạo thành một cánh hoa, nhưng cũng có những cánh hoa phụ với màu sắc thứ cấp tùy theo bản chất và nghiệp quả của Thực Thể liên hệ. Chính trong việc liệt kê các hoa sen mặt trời này mà các đạo sinh huyền bí học đi lạc hướng. Chẳng hạn, nói rằng hệ hành tinh tương ứng với đáy cột sống của tiểu thiên địa là một hoa sen tứ phân và do đó có bốn cánh hoa là điều đúng. Có bốn cánh hoa nổi bật với một sắc thái đặc biệt, nhưng có ba cánh mang màu thứ cấp, và chín cánh có bản chất tam cấp. (Đối với các đạo sinh có trực giác, gợi ý được chuyển trao ở đây có thể mặc khải tên của hành tinh ấy và bản chất của sự tiến hoá của nó).
[Page 1165] Each of these solar lotuses, or planetary schemes, unfolds in three great stages of activity, in each one of which one of the three types of energy dominates. As the unfolding proceeds, the vibratory activity increases, and the appearance of the manifesting activity changes.
[Page 1165] Mỗi hoa sen mặt trời này, hay mỗi hệ hành tinh, khai mở trong ba giai đoạn hoạt động lớn, trong mỗi giai đoạn một trong ba loại năng lượng chi phối. Khi sự khai mở tiếp diễn, hoạt động rung động gia tăng, và vẻ ngoài của hoạt động biểu hiện thay đổi.
a. The motion of the lotus or wheel for a long time is simply that of a slow revolution.
a. Chuyển động của hoa sen hay bánh xe trong một thời gian dài đơn giản chỉ là một sự quay chậm.
b. Later, for a still vaster period, each petal revolves within the greater whole, and at an angle different to that of the whole revolution.
b. Về sau, trong một thời kỳ còn bao la hơn nữa, mỗi cánh hoa quay bên trong toàn thể lớn hơn, và theo một góc khác với góc của toàn bộ vòng quay.
c. Finally, these two activities are increased by the appearance of a form of energy which, originating from the centre, pulsates so powerfully that it produces what look to be streams of energy passing backwards and forwards from the centre to the periphery.
c. Cuối cùng, hai hoạt động này được tăng cường bởi sự xuất hiện của một dạng năng lượng mà, phát sinh từ trung tâm, đập nhịp mạnh mẽ đến mức tạo ra điều trông như những dòng năng lượng đi qua đi lại từ trung tâm đến chu vi.
d. When these three are working in unison, the effect is wonderful in the extreme, and impossible for the eye to follow, the mind of man to conceive, or the pen to express in words. It is this stage, macrocosmic and microcosmic, which constitutes the different grades of alignment, for it must never be forgotten by students that all that manifests is a sphere, and alignment really consists in unimpeded communication between the heart of the sphere and the periphery or the bound of the influence of the dynamic will and the centre.
d. Khi cả ba hoạt động đồng nhất, hiệu quả là kỳ diệu đến tột bậc, mắt không thể theo kịp, trí tuệ con người không thể hình dung, hay ngòi bút không thể diễn tả bằng lời. Chính giai đoạn này, trong Đại thiên địa và Tiểu thiên địa, cấu thành các cấp độ chỉnh hợp khác nhau, vì đạo sinh không bao giờ được quên rằng mọi cái biểu hiện đều là một khối cầu, và chỉnh hợp thực sự bao gồm sự thông giao không bị ngăn trở giữa trái tim của khối cầu và chu vi hay ranh giới ảnh hưởng của ý chí năng động và của trung tâm.
Within each planetary scheme, are found the seven chains which are the seven planetary centres, and again within the chain are the seven globes which are the chain centres, but students would do well not to study the globes from the point of view of centres until their knowledge of the mystery underlying dense physical substance is greater, or they will be led into error. The lower down one seeks to carry the correspondence, the more the likelihood of error. The correspondence must lie in quality and in principle expressed, but not in form.
Bên trong mỗi hệ hành tinh có bảy dãy là bảy trung tâm hành tinh, và lại nữa bên trong dãy có bảy bầu hành tinh là các trung tâm của dãy, nhưng đạo sinh nên tránh nghiên cứu các bầu hành tinh từ quan điểm các trung tâm cho đến khi tri thức của họ về huyền nhiệm nằm dưới chất liệu hồng trần đậm đặc lớn hơn, nếu không họ sẽ bị dẫn vào sai lầm. Càng tìm cách mang sự tương ứng xuống thấp hơn, khả năng sai lầm càng lớn. Sự tương ứng phải nằm trong phẩm tính và trong nguyên khí được biểu lộ, chứ không phải trong hình tướng.
S9S10 Text
DIVISION F. - THE LAW OF ATTRACTION
PHÂN ĐOẠN F. - ĐỊNH LUẬT HẤP DẪN
[Page 1166]
[Page 1166]
I. The Subsidiary laws.
I. Các định luật phụ thuộc.
1. Law of Chemical Affinity.
1. Định luật Ái lực Hóa học.
2. Law of Progress.
2. Định luật Tiến bộ.
3. Law of Sex.
3. Định luật Giới tính.
4. Law of Magnetism.
4. Định luật Từ điện.
5. Law of Radiation.
5. Định luật Phóng xạ.
6. Law of the Lotus.
6. Định luật Hoa sen.
7. Law of Colour.
7. Định luật Màu sắc.
8. Law of Gravitation.
8. Định luật Trọng lực.
9. Law of Planetary Affinity.
9. Định luật Ái lực Hành tinh.
10. Law of Solar Unity.
10. Định luật Hợp nhất Thái dương.
11. Law of the Schools.
11. Định luật của các Trường phái.
II. Its Effects.
II. Các hiệu quả của nó.
1. Association.
1. Sự kết hợp.
2. Form Building.
2. Sự kiến tạo hình tướng.
3. Adaptation of form to life.
3. Sự thích ứng của hình tướng với sự sống.
4. Group Unity.
4. Sự hợp nhất nhóm.
III. Group Relations.
III. Các liên hệ nhóm.
1. Three atomic relations.
1. Ba liên hệ nguyên tử.
2. Seven laws of group work.
2. Bảy định luật của công việc nhóm.
3. Twenty-two methods of interplay.
3. Hai mươi hai phương pháp tương tác.
This law is, as we know, the basic law of all manifestation, and the paramount law for this solar system. It might strictly be called the Law of Adjustment or of Balance, for it conditions that aspect of electrical phenomena which we call neutral. The Law of Economy is the basic law of one pole, that of the negative aspect; the Law of Synthesis is the basic law of the positive pole, but the Law of Attraction is the law for the fire which is produced [Page 1167] by the merging during evolution of the two poles. From the standpoint of the human being, it is that which brings about the realisation of self-consciousness; from the point of view of the subhuman beings it is that which draws all forms of life on to self-realisation; whilst in connection with the superhuman aspect it may be stated that this law of life expands into the processes conditioned by the higher law of Synthesis, of which the Law of Attraction is but a subsidiary branch.
Định luật này, như chúng ta biết, là định luật căn bản của mọi biểu hiện, và là định luật tối quan trọng của hệ mặt trời này. Nói một cách chính xác, nó có thể được gọi là Định luật Điều chỉnh hay Quân bình, vì nó tác động lên phương diện của các hiện tượng điện mà chúng ta gọi là trung tính. Định luật Tiết Kiệm là định luật căn bản của một cực, tức cực âm; Định luật Tổng Hợp là định luật căn bản của cực dương, nhưng Định luật Hấp Dẫn là định luật dành cho ngọn lửa được tạo ra [Page 1167] bởi sự hòa nhập của hai cực trong tiến hoá. Từ quan điểm của con người, đó là cái mang lại sự chứng nghiệm ngã thức; từ quan điểm của các sinh thể dưới nhân loại, đó là cái kéo mọi hình thức sự sống tiến đến sự chứng nghiệm bản ngã; còn liên hệ với phương diện siêu nhân loại, có thể nói rằng định luật của sự sống này mở rộng vào các tiến trình được tác động bởi Định luật Tổng Hợp cao hơn, mà Định luật Hấp Dẫn chỉ là một nhánh phụ thuộc.
Strictly speaking, the Law of Attraction is a generic term under which are grouped several other laws similar in nature but diverse in their manifestations. It might be useful if we enumerated a few of these laws, thereby enabling the student to get (as he studies them in their totality) a broad general idea as to the Law and its modifications, its spheres of influence and the scope of its activity. It should be noted here as a basic proposition in connection with all atoms that the Law of Attraction governs the Soul aspect. The Law of Economy is the law of the negative electron; the Law of Synthesis is the Law of the positive central life; whilst the Law of Attraction governs that which is produced by the relation of these two, and is itself controlled by a greater cosmic law which is the principle of the intelligence of substance. It is the law of Akasha.
Nói một cách chính xác, Định luật Hấp Dẫn là một thuật ngữ tổng quát, dưới đó tập hợp nhiều định luật khác tương tự về bản chất nhưng khác nhau trong các biểu hiện của chúng. Sẽ hữu ích nếu chúng ta liệt kê một vài định luật trong số đó, nhờ vậy giúp đạo sinh có được (khi nghiên cứu chúng trong tính toàn thể của chúng) một ý niệm khái quát rộng lớn về Định luật này và các biến thái của nó, các phạm vi ảnh hưởng của nó và tầm mức hoạt động của nó. Ở đây cần lưu ý như một mệnh đề căn bản liên quan đến mọi nguyên tử rằng Định luật Hấp Dẫn chi phối phương diện linh hồn. Định luật Tiết Kiệm là định luật của điện tử âm; Định luật Tổng Hợp là Định luật của sự sống trung tâm dương; còn Định luật Hấp Dẫn chi phối điều được tạo ra bởi mối liên hệ của hai điều này, và chính nó lại được kiểm soát bởi một định luật vũ trụ lớn hơn, là nguyên khí của trí tuệ của chất liệu. Đó là định luật của Akasha.
It must be borne in mind that these three laws are the expression of the intent or purpose of the three Logoic Aspects. The Law of Economy is the governing principle of Brahma or the Holy Spirit; the Law of Synthesis is the law of the Father’s life; whilst the Son’s life is governed by, and manifests forth divine attraction. Yet these three are the three subsidiary laws of a greater impulse which governs the life of the Unmanifested Logos. (S. D., I, 56, 73, 74.) [Page 1168]
Cần ghi nhớ rằng ba định luật này là biểu hiện của ý định hay mục đích của ba Phương diện Thượng đế. Định luật Tiết Kiệm là nguyên khí chi phối của Brahma hay Chúa Thánh Thần; Định luật Tổng Hợp là định luật của sự sống của Đức Cha; còn sự sống của Đức Con được chi phối bởi, và biểu lộ ra, sức hút thiêng liêng. Tuy nhiên, cả ba định luật này là ba định luật phụ thuộc của một xung lực lớn hơn, chi phối sự sống của Thượng đế Không Biểu Hiện. (S. D., I, 56, 73, 74.) [Page 1168]
I. THE SUBSIDIARY LAWS
I. CÁC ĐỊNH LUẬT PHỤ THUỘC
The subsidiary aspects, or laws, of the Law of Attraction might be enumerated as follows:
Các phương diện phụ thuộc, hay các định luật, của Định luật Hấp Dẫn có thể được liệt kê như sau:
1. The Law of Chemical Affinity. This law governs the soul aspect in the mineral kingdom. It concerns the marriage of the atoms, and the romance of the elements. It serves to perpetuate the life of the mineral kingdom and to preserve its integrity.
1. Định luật Ái lực Hóa học. Định luật này chi phối phương diện linh hồn trong giới kim thạch. Nó liên quan đến sự kết hôn của các nguyên tử, và mối tình của các nguyên tố. Nó giúp duy trì sự sống của giới kim thạch và bảo tồn tính toàn vẹn của giới này.
It is the cause of the immetalisation of the Monad.
Nó là nguyên nhân của sự kim thạch hóa của chân thần.
2. The Law of Progress. It is called this in the vegetable kingdom owing to the fact that it is in this kingdom that definite objective response to stimulation can be noted. It is the basis of the phenomenon of sensation, which is the key to this solar system of love, our system being a “Son of Necessity” or of desire. This law is the working out into manifestation of the informing consciousness of a part of the deva kingdom, and of certain pranic energies. The student will find much of esoteric interest in the following line of living forces:
2. Định luật Tiến Bộ. Nó được gọi như vậy trong giới thực vật vì chính trong giới này có thể ghi nhận được sự đáp ứng khách quan rõ rệt đối với kích thích. Nó là nền tảng của hiện tượng cảm giác, vốn là chìa khóa của hệ mặt trời tình thương này, vì hệ của chúng ta là một “Con của Sự Cần Thiết” hay của dục vọng. Định luật này là sự triển khai vào biểu hiện của tâm thức thấm nhuần của một phần giới thiên thần, và của một số năng lượng prana. Đạo sinh sẽ tìm thấy nhiều điều huyền bí học đáng quan tâm trong tuyến các mãnh lực sống động sau đây:
a. The second chain, globe and round,
a. Dãy thứ hai, bầu hành tinh và cuộc tuần hoàn,
b. The vegetable kingdom,
b. giới thực vật,
c. The devas of desire in their second reflected groupings,
c. các thiên thần của dục vọng trong các nhóm phản chiếu thứ hai của họ,
d. The heart of the Sun,
d. trái tim của Mặt Trời,
e. The second Ray force.
e. mãnh lực cung hai.
3. The Law of Sex.
3. Định luật Tính Dục.
This is the term applied to the force which brings about the physical merging of the two poles in connection with the animal kingdom, and of man, viewing him as responsive to the call of his animal nature. It concerns itself with the due guarding of the form in this particular cycle and its perpetuation. It is only powerful during the period of the duality of the sexes and their separation and, in the case of man, will be offset by a higher expression of the law when man is again androgynous. It is [Page 1169] the law of marriage, and finds some aspects of its manifestation not only in marriage of men and animals in the physical sense, but in the “occult marriage” of
Đây là thuật ngữ được áp dụng cho mãnh lực tạo ra sự hòa nhập hồng trần của hai cực liên quan đến giới động vật, và của con người, khi xem y như đang đáp ứng tiếng gọi của bản chất động vật của mình. Nó quan tâm đến việc bảo vệ thích đáng hình tướng trong chu kỳ đặc biệt này và sự duy trì của nó. Nó chỉ mạnh mẽ trong thời kỳ nhị nguyên tính của hai giới tính và sự phân ly của chúng, và trong trường hợp con người, nó sẽ được hóa giải bởi một biểu hiện cao hơn của định luật khi con người lại trở nên lưỡng tính. Nó là [Page 1169] định luật của hôn nhân, và tìm thấy một số phương diện biểu hiện của nó không chỉ trong hôn nhân của những người nam và nữ và của động vật theo nghĩa hồng trần, mà còn trong “hôn phối huyền bí” của
a. The Soul and the Spirit.
a. Linh hồn và tinh thần.
b. The Son with his Mother (or the Soul with the physical substance).
b. Đức Con với Mẹ của Ngài (hay linh hồn với chất liệu hồng trần).
c. The negative planetary lives with the positive ones earlier pointed out.
c. Các sự sống hành tinh âm với các sự sống hành tinh dương đã được nêu ra trước đó.
d. The systemic marriage, or the merging of the two final planetary schemes after their absorption of the other forces.
d. Cuộc hôn phối hệ thống, hay sự hòa nhập của hai hệ hành tinh chung cuộc sau khi chúng hấp thu các mãnh lực khác.
e. The cosmic marriage, or the merging of our solar system with its opposite cosmic pole, another constellation. The cosmic marriage of stars and Systems is the cause of the occasional irregular flaring-up or intensification of suns and their increased luminosity which is sometimes seen, and which has frequently been the subject of discussion.
e. Cuộc hôn phối vũ trụ, hay sự hòa nhập của hệ mặt trời chúng ta với cực vũ trụ đối nghịch của nó, một chòm sao khác. Cuộc hôn phối vũ trụ của các ngôi sao và các hệ thống là nguyên nhân của sự bùng sáng bất thường hay sự tăng cường cường độ của các mặt trời và độ sáng gia tăng của chúng đôi khi được thấy, và điều này thường là đề tài bàn luận.
4. The Law of Magnetism. This is the law which produces the unifying of a personality, and though it is an expression of lunar force, is, nevertheless, of a much higher order than the law of physical sex. It is the expression of the law as it is demonstrated by the three major groups of lunar pitris. These three groups are not concerned with the building of the forms of the animal kingdom, for they are the builders of the body of man in the final three stages of the path of evolution:
4. Định luật Từ Điện. Đây là định luật tạo ra sự hợp nhất của một phàm ngã, và tuy là một biểu hiện của mãnh lực thái âm, nhưng dù vậy, nó thuộc một trật tự cao hơn nhiều so với định luật tính dục hồng trần. Nó là biểu hiện của định luật như được chứng tỏ bởi ba nhóm lớn các thái âm tổ phụ pitris. Ba nhóm này không liên quan đến việc xây dựng các hình tướng của giới động vật, vì họ là các đấng kiến tạo thân thể của con người trong ba giai đoạn cuối cùng của con đường tiến hoá:
a. The stage of high intellectuality, or of artistic attainment,
a. Giai đoạn trí tuệ cao, hay thành tựu nghệ thuật,
b. The stage of discipleship,
b. Giai đoạn địa vị đệ tử,
c. The stage of treading the Path.
c. Giai đoạn bước đi trên Con Đường.
The lower four groups concern themselves with the earlier stages, and with the animal aspects of attraction in both the kingdoms. [Page 1170]
Bốn nhóm thấp hơn liên quan đến các giai đoạn sớm hơn, và đến các phương diện động vật của sức hút trong cả hai giới. [Page 1170]
5. The Law of Radiation. This is one of the most interesting of the laws for it only comes into activity in connection with the highest specimens of the various kingdoms, and concerns itself with the attraction that a higher kingdom of nature will have for the highest lives of the next lower kingdom. It governs the radioactivity of minerals, the radiations of the vegetable kingdom and (curiously enough) the entire question of perfumes. Smell is the highest of the purely physical senses; so in the vegetable kingdom a certain series of perfumes are evidence of radiation in that kingdom.
5. Định luật Phóng Xạ. Đây là một trong những định luật lý thú nhất vì nó chỉ đi vào hoạt động liên quan đến những mẫu mực cao nhất của các giới khác nhau, và liên quan đến sức hút mà một giới tự nhiên cao hơn sẽ có đối với các sự sống cao nhất của giới thấp hơn kế tiếp. Nó chi phối tính phóng xạ của khoáng vật, các bức xạ của giới thực vật và (điều lạ lùng là) toàn bộ vấn đề về hương thơm. Khứu giác là giác quan cao nhất trong các giác quan thuần hồng trần; vì vậy trong giới thực vật, một chuỗi hương thơm nào đó là bằng chứng của sự phóng xạ trong giới ấy.
There is, moreover, an interesting link between those who are members of the fifth kingdom (the spiritual) and the vegetable, for in esotericism the two and the five, the Son, and the Sons of Mind, are closely allied. It is not possible to indicate more, but it is not without significance that certain Rays are, through the initiates and Masters, represented by vegetable perfumes. It signifies radiation, and to those who have the key reveals the quality of the egoic lotus and the place it holds in any particular planetary lotus, as well as a connection with certain devas who are the sevenfold life of the vegetable kingdom. We must not forget that man is occultly a “seven-leaved plant, the saptaparna.” (S. D., I, 251; II, 626.)
Hơn nữa, có một mối liên hệ lý thú giữa những ai là thành viên của giới thứ năm (giới tinh thần) và giới thực vật, vì trong huyền bí học, số hai và số năm, Đức Con, và các Con của Trí Tuệ, có liên hệ mật thiết với nhau. Không thể nói thêm, nhưng không phải là không có thâm nghĩa khi một số cung, thông qua các điểm đạo đồ và các Chân sư, được biểu hiện bằng các hương thơm thực vật. Điều đó biểu thị sự phóng xạ, và đối với những ai có chìa khóa, nó tiết lộ phẩm tính của Hoa Sen Chân Ngã và vị trí mà nó giữ trong bất kỳ hoa sen hành tinh đặc thù nào, cũng như một mối liên hệ với một số thiên thần là sự sống thất phân của giới thực vật. Chúng ta không được quên rằng con người, một cách huyền bí, là “một cây bảy lá, saptaparna.” (S. D., I, 251; II, 626.)
This law in a mysterious manner, inexplicable to those ignorant of the karma of our planetary Logos, is not operative in the animal kingdom during this Cycle or chain. One of the problems of the next chain will be the bringing in of animal radiation; thus offsetting the method of initiation now pursued. It must never be forgotten that the chain process of individualisation, and the earlier three Initiations concern the animal kingdom and man is viewed therein as an animal. In the final Initiation or the offering up of the entire bodily nature, [Page 1171] this part of the general karma of the planetary Logos and the Life of the informing Spirit of the animal kingdom become adjusted. If this is meditated upon, some light may be thrown upon the problem as to why the Adepts of the left hand path in Atlantean days were called “the Trees,” (S. D., II, 519, 520, 521.) and were destroyed with the entire Atlantean vegetation. In the oldest of all the Commentaries the mystery is expressed thus:
Định luật này, theo một cách huyền nhiệm, không thể giải thích đối với những ai không biết nghiệp quả của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta, không hoạt động trong giới động vật trong Chu kỳ hay Dãy này. Một trong những vấn đề của Dãy kế tiếp sẽ là việc đưa vào sự phóng xạ động vật; nhờ đó hóa giải phương pháp điểm đạo hiện đang được theo đuổi. Không bao giờ được quên rằng tiến trình biệt ngã hóa của Dãy, và ba lần điểm đạo đầu tiên, liên quan đến giới động vật và con người được xem trong đó như một động vật. Trong cuộc Điểm đạo chung cuộc hay sự hiến dâng toàn bộ bản chất thể xác, [Page 1171] phần này của nghiệp quả tổng quát của Hành Tinh Thượng Đế và Sự sống của Tinh thần phú linh của giới động vật trở nên được điều chỉnh. Nếu điều này được tham thiền, một ít ánh sáng có thể được rọi vào vấn đề tại sao các chân sư của tả đạo trong thời Atlantis được gọi là “các Cây,” (S. D., II, 519, 520, 521.) và đã bị hủy diệt cùng với toàn bộ thực vật Atlantis. Trong bản Cổ Luận xưa nhất, huyền nhiệm này được diễn tả như sau:
“They (the Adepts of the Left Hand Path) became thus separated through their own fault. Their smell rose not up to Heaven; they refused to merge. No perfume was theirs. They hugged to their greedy bosoms all the gains of the flowering plant.”
“Họ (các chân sư của tả đạo) do đó trở nên tách biệt bởi chính lỗi lầm của họ. Mùi hương của họ không bay lên Thiên giới; họ từ chối hòa nhập. Họ không có hương thơm nào. Họ ôm chặt vào lòng tham lam của mình mọi thành quả của cây đang nở hoa.”
6. The Law of the Lotus. This is the name given to the mysterious influence from the cosmic Law of Attraction which brought in the divine Sons of Mind, and thus linked the two poles of Spirit and matter, producing upon the plane of mind that which we call the egoic lotus, or “the Flower of the Self.” It is the law which enables the lotus to draw from the lower nature (the matter aspect and the water aspect) the moisture and heat necessary for its unfoldment, and to bring down from the levels of the Spirit that which is to it what the rays of the sun are to the vegetable kingdom. It governs the process of petal unfoldment, and therefore itself demonstrates as a triple law:
6. Định luật Hoa Sen. Đây là tên gọi dành cho ảnh hưởng huyền nhiệm từ Định luật Hấp Dẫn vũ trụ đã đưa các Con thiêng liêng của Trí Tuệ vào, và nhờ đó nối kết hai cực của tinh thần và vật chất, tạo ra trên cõi trí điều mà chúng ta gọi là Hoa Sen Chân Ngã, hay “Hoa của Bản Ngã.” Đó là định luật giúp hoa sen rút từ bản chất thấp (phương diện vật chất và phương diện nước) độ ẩm và nhiệt cần thiết cho sự khai mở của nó, và kéo xuống từ các cấp độ của tinh thần điều đối với nó cũng như các tia mặt trời đối với giới thực vật. Nó chi phối tiến trình khai mở các cánh hoa, và vì vậy chính nó biểu lộ như một định luật tam phân:
a.
The Law of Solar Heat
Knowledge petals.
b.
The Law of Solar Light
Love petals.
c.
The Law of Solar Fire
Sacrifice petals.
7. The Law of Colour.
7. Định luật Màu Sắc.
To get any comprehension of this law students should remember that colour serves a twofold purpose. It acts as a veil for that which lies behind, and is therefore attracted [Page 1172] to the central spark; it demonstrates the attractive quality of the central life.
Để có được bất kỳ sự thấu hiểu nào về định luật này, các đạo sinh nên nhớ rằng màu sắc phục vụ một mục đích nhị phân. Nó hoạt động như một bức màn che cho điều nằm phía sau, và vì vậy bị hút [Page 1172] về tia lửa trung tâm; nó chứng tỏ phẩm tính hấp dẫn của sự sống trung tâm.
All colours, therefore, are centres of attraction, are complementary, or are antipathetic to each other, and students who study along these lines can find out the law, and comprehend its working through a realisation of the purpose, the activity, and the relation of colours to or for each other.
Vì vậy, mọi màu sắc đều là những trung tâm hấp dẫn, hoặc bổ sung cho nhau, hoặc đối nghịch nhau, và các đạo sinh nghiên cứu theo những đường hướng này có thể tìm ra định luật ấy, và thấu hiểu sự vận hành của nó thông qua sự chứng nghiệm về mục đích, hoạt động, và mối liên hệ của các màu sắc với nhau hay đối với nhau.
8. The Law of Gravitation. This law is for the non-occult student the most puzzling and confusing of all the laws. It shows itself in one aspect as the power, and the stronger urge that a more vital life may have upon the lesser, such as the power of the spirit of the Earth (the planetary Entity, not the planetary Logos) to hold all physical forms to itself and prevent their “scattering.” This is due to the heavier vibration, the greater accumulative force, and the aggregated tamasic lives of the body of the planetary Entity. This force works upon the negative, or lowest, aspect of all physical forms. The Law of Gravitation shows itself also in the response of the soul of all things to the greater Soul in which the lesser finds itself. This law, therefore, affects the two lowest forms of divine life, but not the highest. It emanates in the first instance from the physical sun and the heart of the Sun. The final synthesising forces which might be regarded as forms of spiritual gravitational activity are, nevertheless, not so, but are due to the working of another law, emanating from the central spiritual Sun. The one is purely systemic, the other a cosmic law.
8. Định luật Trọng Lực. Định luật này, đối với đạo sinh không huyền bí học, là điều khó hiểu và gây bối rối nhất trong mọi định luật. Nó biểu lộ trong một phương diện như là quyền năng, và sự thúc đẩy mạnh hơn mà một sự sống sinh động hơn có thể có đối với sự sống nhỏ hơn, chẳng hạn như quyền năng của tinh linh linh địa cầu (Thực Thể Hành Tinh, không phải Hành Tinh Thượng Đế) giữ mọi hình tướng hồng trần lại với chính nó và ngăn chúng “phân tán.” Điều này là do rung động nặng hơn, mãnh lực tích lũy lớn hơn, và các sự sống tamas kết tập của thể của Thực Thể Hành Tinh. Mãnh lực này tác động lên phương diện âm, hay thấp nhất, của mọi hình tướng hồng trần. Định luật Trọng Lực cũng biểu lộ trong sự đáp ứng của linh hồn của vạn vật đối với Đại Hồn lớn hơn mà trong đó linh hồn nhỏ hơn tự thấy mình ở trong. Vì vậy, định luật này ảnh hưởng đến hai hình thức thấp nhất của sự sống thiêng liêng, nhưng không ảnh hưởng đến hình thức cao nhất. Trước hết, nó phát xuất từ mặt trời hồng trần và trái tim của Mặt Trời. Tuy nhiên, các mãnh lực tổng hợp hóa chung cuộc có thể được xem như những hình thức hoạt động trọng lực tinh thần thực ra không phải như vậy, mà là do sự vận hành của một định luật khác, phát xuất từ Mặt trời Tinh thần Trung Ương. Một cái hoàn toàn thuộc hệ thống, cái kia là một định luật vũ trụ.
9. The Law of Planetary Affinity. This term is used in the occult teaching specifically in connection with the interaction of the planets with each other and their eventual marriage. As we know, the planetary schemes (the seven sacred planets) will eventually synthesise, or absorb the life of the planets which are not termed sacred and the numerous planetoids, as far as the four kingdoms [Page 1173] of nature are concerned. The absorption of the Spirit aspect proceeds under the Law of Synthesis. The minor four planetary schemes become first the two, and then the one. This one, with the major three, forms a second and higher quaternary which again repeats the process, producing from the four, the two, and from the two, the one. This final one is eventually merged in the Sun, producing in this prolonged process, and over a vast period of time, the appearance of the “seven Suns who run together, and thus blaze forth, producing one flaming ball of fire.”
9. Định luật Ái lực Hành tinh. Thuật ngữ này được dùng trong giáo huấn huyền bí học một cách đặc biệt liên quan đến sự tương tác của các hành tinh với nhau và cuộc hôn phối chung cuộc của chúng. Như chúng ta biết, các hệ hành tinh (bảy hành tinh thiêng liêng) rốt cuộc sẽ tổng hợp, hay hấp thu sự sống của các hành tinh không được gọi là thiêng liêng và vô số tiểu hành tinh, xét theo bốn giới [Page 1173] tự nhiên. Sự hấp thu phương diện tinh thần diễn ra dưới Định luật Tổng Hợp. Bốn hệ hành tinh nhỏ trước hết trở thành hai, rồi sau đó thành một. Cái một này, cùng với ba hệ lớn, tạo thành một bộ bốn thứ hai và cao hơn, rồi lại lặp lại tiến trình, tạo ra từ bốn thành hai, và từ hai thành một. Cái một chung cuộc này cuối cùng hòa nhập vào Mặt Trời, tạo ra trong tiến trình kéo dài này, và qua một thời kỳ vô cùng lâu dài, sự xuất hiện của “bảy Mặt Trời cùng chạy với nhau, và do đó bùng cháy rực rỡ, tạo thành một khối cầu lửa duy nhất.”
On a lesser scale the same law governs the merging of the chains in a scheme.
Ở quy mô nhỏ hơn, cùng định luật ấy chi phối sự hòa nhập của các Dãy trong một hệ hành tinh.
10. The Law of Solar Union. When the interplay of the Suns is being dealt with from the material aspect and from the consciousness aspect, this term is occultly used. It is not possible to enlarge upon it, but only to point out the universality of this Law of Attraction.
10. Định luật Hợp Nhất Thái Dương. Khi sự tương tác của các Mặt Trời được bàn đến từ phương diện vật chất và từ phương diện tâm thức, thuật ngữ này được dùng một cách huyền bí. Không thể nói rộng hơn về nó, mà chỉ có thể chỉ ra tính phổ quát của Định luật Hấp Dẫn này.
S9S11 Text
11. The Law of the Schools. (The Law of Love and Light.) This is a mysterious term used to cover the law as it affects the expansions of consciousness which an initiate undergoes, and his ability to attract to himself through knowledge,
11. Định luật của các Trường Phái. (Định luật của Tình thương và Ánh sáng.) Đây là một thuật ngữ huyền nhiệm dùng để bao quát định luật khi nó ảnh hưởng đến các sự mở rộng tâm thức mà một điểm đạo đồ trải qua, và khả năng của y trong việc hút về mình, thông qua tri thức,
a. His own Higher Self, so as to produce alignment and illumination,
a. Bản Ngã Cao Siêu của chính y, để tạo ra sự chỉnh hợp và sự soi sáng,
b. His Guru,
b. Guru của y,
c. That which he seeks to know,
c. Điều mà y tìm cách biết,
d. That which he can utilise in his work of service,
d. Điều mà y có thể sử dụng trong công việc phụng sự của mình,
e. Other souls with whom he can work.
e. Những linh hồn khác mà y có thể cùng làm việc.
It will be evident, therefore, to the thoughtful student that this Law of the Schools is primarily applicable to all units of divine life who have arrived at, or transcended the stage of self-consciousness. It has consequently a vital connection with the human kingdom, and there is an occult significance in the fact that this is the eleventh [Page 1174] Law. It is the law which enables a man to unite two of his aspects (the personal self and the Higher Self). It is the law which governs the transition of the human atom into another and a higher kingdom. It is the law which (when comprehended and conformed to) enables a man to enter into a new cycle. It is the law of the adept, of the Master, and of the perfected man. For this reason it might be of profit here if we dealt with it a little more fully than with the other laws, for mankind is now at the stage where a number of its units are ready to come under the specific influence of this law, and thus be transferred out of the Hall of Learning, via the Hall of Wisdom, into the fifth or spiritual kingdom.
Vì vậy, đối với đạo sinh biết suy tư, sẽ hiển nhiên rằng Định luật của các Trường Phái này trước hết áp dụng cho mọi đơn vị của sự sống thiêng liêng đã đạt đến, hay đã vượt qua, giai đoạn ngã thức. Do đó, nó có một mối liên hệ thiết yếu với giới nhân loại, và có một thâm nghĩa huyền bí trong sự kiện đây là Định luật thứ mười một [Page 1174]. Đây là định luật giúp một người hợp nhất hai phương diện của mình (phàm ngã và Bản Ngã Cao Siêu). Đây là định luật chi phối sự chuyển tiếp của nguyên tử nhân loại vào một giới khác và cao hơn. Đây là định luật mà (khi được thấu hiểu và tuân theo) giúp một người bước vào một chu kỳ mới. Đây là định luật của chân sư, của Chân sư, và của con người hoàn thiện. Vì lý do này, ở đây sẽ có ích nếu chúng ta bàn đến nó đầy đủ hơn đôi chút so với các định luật khác, vì hiện nay nhân loại đang ở giai đoạn mà một số đơn vị của nó đã sẵn sàng đi vào dưới ảnh hưởng đặc thù của định luật này, và nhờ đó được chuyển ra khỏi Phòng Hiểu Biết, qua Phòng Minh triết, vào giới thứ năm hay giới tinh thần.
This Law of the Schools does not specifically apply to the deva evolution. They come under another law called “The Law of Passive Resistance” which does not concern us here, nor would it profit us to consider it. Three main groups of existences are controlled by it:
Định luật của các Trường Phái này không áp dụng một cách đặc thù cho tiến hoá thiên thần. Họ ở dưới một định luật khác gọi là “Định luật Kháng Cự Thụ Động”, điều này không liên quan đến chúng ta ở đây, và việc xét đến nó cũng không có ích gì. Ba nhóm hiện hữu chính được nó kiểm soát là:
1. Human beings from the moment they tread the Probationary Path.
1. Nhân loại từ lúc họ bước lên Con Đường Dự Bị.
2. All the units of the fifth kingdom, therefore, all the members of the Hierarchy.
2. Mọi đơn vị của giới thứ năm, do đó, mọi thành viên của Thánh Đoàn.
3. The planetary Logoi throughout the system.
3. Các Hành Tinh Thượng Đế trong toàn hệ thống.
It will be apparent, therefore, that this law concerns the great experiment which has been inaugurated on earth by our planetary Logos in connection with the process of initiation, and it has only held sway since the Door of Initiation was opened in Atlantean days. It does not, therefore, apply to all the members of the human family; some of whom will achieve slowly and under the sway of the basic Law of Evolution. It does not affect, in any way, for instance, those members of the human family who have individualised on the earth chain through the fanning of the spark of mind—one of the methods employed by the Lords of the Flame, as earlier seen.
Vì vậy, sẽ rõ ràng rằng định luật này liên quan đến cuộc thí nghiệm lớn đã được Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta khai mở trên địa cầu liên quan đến tiến trình điểm đạo, và nó chỉ mới nắm quyền từ khi Cánh Cửa Điểm Đạo được mở ra trong thời Atlantis. Do đó, nó không áp dụng cho mọi thành viên của gia đình nhân loại; một số trong họ sẽ thành tựu một cách chậm chạp và dưới quyền chi phối của Định luật căn bản của Tiến Hoá. Chẳng hạn, nó không ảnh hưởng theo bất kỳ cách nào đến những thành viên của gia đình nhân loại đã biệt ngã hóa trên dãy địa cầu thông qua việc quạt bùng tia lửa trí tuệ—một trong những phương pháp được các Đấng Chúa Tể của Ngọn Lửa sử dụng, như đã thấy trước đây.
[Page 1175] It can be studied in two main divisions, first, in connection with the human units passing under hierarchical influence in the Hall of Wisdom, and also in connection with the various planetary schemes. Each scheme exists in order to teach a specific aspect of consciousness, and each planetary school or Hierarchy subjects its pupils to this law, only in manners diverse. These planetary schools are necessarily governed by certain factors of which the two most important are the peculiar karma of the planetary Logos concerned, and His particular Ray.
[Page 1175] Nó có thể được nghiên cứu trong hai phân bộ chính, thứ nhất, liên quan đến các đơn vị nhân loại đi vào dưới ảnh hưởng của Thánh đoàn trong Phòng Minh triết, và cũng liên quan đến các hệ hành tinh khác nhau. Mỗi hệ tồn tại để dạy một phương diện đặc thù của tâm thức, và mỗi trường hành tinh hay Thánh Đoàn hành tinh đặt các môn sinh của mình dưới định luật này, chỉ khác nhau về cách thức. Các trường hành tinh này tất yếu được chi phối bởi một số yếu tố, trong đó hai yếu tố quan trọng nhất là nghiệp quả đặc thù của Hành Tinh Thượng Đế liên hệ, và cung đặc thù của Ngài.
It is not possible at this stage to convey to students the information as to the nature of each planetary school. They exist in five great groups:
Ở giai đoạn này, không thể truyền đạt cho các đạo sinh thông tin về bản chất của từng trường hành tinh. Chúng tồn tại trong năm nhóm lớn:
1. The exoteric non-sacred planets, called in occult parlance “the outer round” or outer circle of initiates. Of these our earth is one, but being aligned in a peculiar fashion with certain spheres on the inner round, a dual opportunity exists for mankind, which facilitates, whilst it complicates, the evolutionary process.
1. Các hành tinh ngoại môn không thiêng liêng, được gọi trong thuật ngữ huyền bí là “cuộc tuần hoàn bên ngoài” hay vòng tròn bên ngoài của các điểm đạo đồ. Trong số này có địa cầu của chúng ta, nhưng vì nó được chỉnh hợp theo một cách đặc biệt với một số khối cầu trong cuộc tuần hoàn bên trong, nên có một cơ hội kép dành cho nhân loại, điều này vừa làm dễ vừa làm phức tạp tiến trình tiến hoá.
2. The sacred planets, called sometimes (when this Law of the Schools is under consideration) the “seven grades of psychic knowledge” or the “seven divisions of the field of knowledge.”
2. Các hành tinh thiêng liêng, đôi khi được gọi (khi Định luật của các Trường Phái này được xét đến) là “bảy cấp độ tri thức thông linh” hay “bảy phân bộ của lĩnh vực tri thức.”
3. The inner round, which carries with it vast opportunity for those who can surmount its problems and withstand its temptations. This inner round has a peculiar appeal to units on certain Rays, and has its own specific dangers. The inner round is the round that is followed by those who have passed through the human stage and have consciously developed the faculty of etheric living and can follow the etheric cycles, functioning consciously on the three higher etheric planes in all parts of the system. They have—for certain occult and specific purposes—broken the connection between the third etheric and the four lower subplanes of the physical plane. This [Page 1176] round is followed only by a prepared percentage of humanity, and is closely associated with a group who pass with facility and develop with equal facility on the three planets that make a triangle with the earth, namely Mars, Mercury, and Earth. These three planets—in connection with this inner round—are considered only as existing in etheric matter, and (in relation to one of the Heavenly Men) hold a place analogous to the etheric triangle found in the human etheric body. I have here conveyed more than has as yet been exoterically communicated anent this inner round and by the study of the human etheric triangle, its function, and the type of force which circulates around it, much may be deduced about the planetary inner round. We must bear in mind in this connection that just as the human etheric triangle is but the preparatory stage to a vast circulation within the sphere of the entire etheric body, so the etheric planetary triangle—passing from the Earth to Mars and Mercury—is but the preparatory circulatory system to a vaster round included within the sphere of influence of one planetary Lord.
3. Cuộc tuần hoàn bên trong, mang theo những cơ hội to lớn cho những ai có thể vượt qua các vấn đề của nó và đứng vững trước các cám dỗ của nó. Cuộc tuần hoàn bên trong này có một sức hấp dẫn đặc biệt đối với các đơn vị trên một số cung nhất định, và có những nguy hiểm đặc thù riêng. Cuộc tuần hoàn bên trong là cuộc tuần hoàn được theo bởi những ai đã vượt qua giai đoạn nhân loại và đã một cách hữu thức phát triển năng lực sống dĩ thái và có thể theo các chu kỳ dĩ thái, hoạt động một cách hữu thức trên ba cõi dĩ thái cao hơn trong mọi phần của hệ thống. Họ đã—vì những mục đích huyền bí và đặc thù nào đó—cắt đứt mối liên hệ giữa cõi dĩ thái thứ ba và bốn cõi phụ thấp hơn của cõi hồng trần. Cuộc tuần hoàn này [Page 1176] chỉ được một tỷ lệ nhân loại đã chuẩn bị theo đuổi, và có liên hệ mật thiết với một nhóm đi qua một cách dễ dàng và phát triển cũng dễ dàng như vậy trên ba hành tinh tạo thành một tam giác với địa cầu, đó là Sao Hỏa, Sao Thủy, và Trái Đất. Ba hành tinh này—liên quan đến cuộc tuần hoàn bên trong này—chỉ được xem như tồn tại trong vật chất dĩ thái, và (liên hệ với một trong các Đấng Thiên Nhân) giữ một vị trí tương tự như tam giác dĩ thái được tìm thấy trong thể dĩ thái của con người. Ở đây tôi đã truyền đạt nhiều hơn những gì cho đến nay đã được công bố ngoại môn liên quan đến cuộc tuần hoàn bên trong này, và bằng việc nghiên cứu tam giác dĩ thái của con người, chức năng của nó, và loại mãnh lực lưu chuyển quanh nó, nhiều điều có thể được suy ra về cuộc tuần hoàn bên trong hành tinh. Chúng ta phải ghi nhớ trong mối liên hệ này rằng cũng như tam giác dĩ thái của con người chỉ là giai đoạn chuẩn bị cho một sự lưu chuyển rộng lớn bên trong khối cầu của toàn bộ thể dĩ thái, thì tam giác hành tinh dĩ thái—đi từ Trái Đất đến Sao Hỏa và Sao Thủy—cũng chỉ là hệ tuần hoàn chuẩn bị cho một cuộc tuần hoàn lớn hơn được bao gồm trong phạm vi ảnh hưởng của một Chúa Tể Hành Tinh.
4. The circle of the planetoids. Students of the Ageless Wisdom are apt to forget that the Life of the Logos manifests itself through those circling spheres which (though not large enough to be regarded as planets) pursue their orbital paths around the solar centre and have their own evolutionary problems and are functioning as part of the solar Body. They are informed—as are the planets—by a cosmic Entity and are under the influence of the Life impulses of the solar Logos as are the greater bodies. The evolutions upon them are analogous to, though not identical with, those of our planet, and they swing through their cycles in the Heavens under the same laws as do the greater planets.
4. Vòng tròn các tiểu hành tinh. Các đạo sinh của Minh Triết Ngàn Đời thường quên rằng Sự sống của Thượng đế biểu lộ chính nó qua những khối cầu đang quay đó, những khối cầu này (dù không đủ lớn để được xem là hành tinh) vẫn theo các quỹ đạo của chúng quanh trung tâm thái dương và có những vấn đề tiến hoá riêng của chúng và đang hoạt động như một phần của Thể thái dương. Chúng được phú linh—cũng như các hành tinh—bởi một Thực Thể vũ trụ và ở dưới ảnh hưởng của các xung lực sự sống của Thái dương Thượng đế cũng như các thể lớn hơn. Các tiến hoá trên chúng là tương tự, dù không đồng nhất, với các tiến hoá của hành tinh chúng ta, và chúng xoay chuyển qua các chu kỳ của chúng trong các cõi trời dưới cùng những định luật như các hành tinh lớn hơn.
5. The absorbing Triangles. This term is applied to the evolutionary schools found located in the three major [Page 1177] planets of our system—Uranus, Neptune and Saturn—and to those found in the three major chains, and three major globes in a planetary scheme. The Rulers of these planets, chains and globes are called the “Divine Examiners,” and Their work concerns the human kingdom specifically and entirely. They are responsible for the work of
5. Các Tam Giác Hấp Thu. Thuật ngữ này được áp dụng cho các trường tiến hoá tọa lạc trong ba hành tinh lớn [Page 1177] của hệ thống chúng ta—Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương và Sao Thổ—và cho những trường được tìm thấy trong ba Dãy lớn, và ba bầu hành tinh lớn trong một hệ hành tinh. Các Đấng Cai Quản của các hành tinh, các Dãy và các bầu hành tinh này được gọi là “Các Đấng Khảo Thí Thiêng Liêng,” và công việc của Các Ngài liên quan một cách đặc thù và hoàn toàn đến giới nhân loại. Các Ngài chịu trách nhiệm về công việc
a. Transferring men from one school to another, and from one grade to another.
a. Chuyển những người nam và nữ từ trường này sang trường khác, và từ cấp độ này sang cấp độ khác.
b. For the expanding of the human consciousness under the law,
b. Mở rộng tâm thức nhân loại dưới định luật,
c. For the transmutation of the forms of the human unit in the three worlds and the consequent negation of the form,
c. Chuyển hoá các hình tướng của đơn vị nhân loại trong ba cõi giới và hậu quả là phủ nhận hình tướng,
d. For the radioactivity of the fourth kingdom in nature.
d. Tính phóng xạ của giới thứ tư trong tự nhiên.
We might regard the presiding lives in these departmental schools as the custodians of the Path, and responsible, therefore, for the divine Pilgrim during the final stages of the treading of the Path of Evolution. They begin to work with men from the moment they first set foot upon the Probationary Path and They continue Their work until the seventh initiation is taken.
Chúng ta có thể xem các sự sống chủ trì trong các trường bộ môn này như những vị giám hộ của Con Đường, và do đó chịu trách nhiệm về Người Hành Hương thiêng liêng trong các giai đoạn cuối cùng của việc bước đi trên Con Đường Tiến Hoá. Các Ngài bắt đầu làm việc với con người từ lúc họ lần đầu đặt chân lên Con Đường Dự Bị và Các Ngài tiếp tục công việc của mình cho đến khi lần điểm đạo thứ bảy được tiếp nhận.
The Masters, therefore, Who take pupils for training, are numbered amongst them, whilst the Masters Who do not concern Themselves with individuals and their development are not.
Vì vậy, các Chân sư nhận môn sinh để huấn luyện được kể vào số đó, trong khi các Chân sư không quan tâm đến các cá nhân và sự phát triển của họ thì không.
It is not possible to give fully the types of schools and teaching which is given on the different planets. All that can be done is to give an occult phrase which will convey to the intuitive student the necessary hint.
Không thể trình bày đầy đủ các loại trường và giáo huấn được ban ra trên các hành tinh khác nhau. Tất cả những gì có thể làm là đưa ra một cụm từ huyền bí sẽ chuyển đến đạo sinh trực giác gợi ý cần thiết.
Planetary Schools
Các Trường Hành Tinh
URANUS—The School of Magic of the tenth order. It is sometimes called “the planet of the violet [Page 1178] force,” and its graduates wield the power of cosmic etheric prana.
SAO THIÊN VƯƠNG—Trường Huyền Thuật của cấp mười. Nó đôi khi được gọi là “hành tinh của mãnh lực tím” [Page 1178] và các học viên tốt nghiệp của nó vận dụng quyền năng của prana dĩ thái vũ trụ.
EARTH—The School of Magnetic Response. Another name given to its pupils is “The graduates of painful endeavour” or the “adjudicators between the polar opposites.”
TRÁI ĐẤT—Trường Đáp Ứng Từ Tính. Một tên gọi khác dành cho các môn sinh của nó là “Những người tốt nghiệp của nỗ lực đau đớn” hay “những vị phân xử giữa các cực đối nghịch.”
A further hint to be taken in connection with the two names above given, is that its graduates are said to undergo examination upon the third subplane of the astral plane.
Một gợi ý thêm cần được lưu ý liên quan đến hai tên gọi nêu trên là các học viên tốt nghiệp của nó được nói là phải trải qua khảo hạch trên cõi phụ thứ ba của cõi cảm dục.
VULCAN—The School for Fiery Stones. There is a curious connection between the human units who pass through its halls and the mineral kingdom. The human units on the earth scheme are called in mystical parlance “the living stones”; on Vulcan they are called “fiery stones.”
VULCAN—Trường dành cho Những Viên Đá Rực Lửa. Có một mối liên hệ kỳ lạ giữa các đơn vị nhân loại đi qua các đại sảnh của nó và giới kim thạch. Các đơn vị nhân loại trong hệ hành tinh địa cầu được gọi trong thuật ngữ thần bí là “những viên đá sống”; trên Vulcan họ được gọi là “những viên đá rực lửa.”
JUPITER—The School of Beneficent Magicians. This planet is sometimes called in the parlance of the schools, the “College of Quadruple Force units,” for its members wield four kinds of force in constructive magical work. Another name given to its halls is “The Palace of Opulence” for its graduates work with the Law of Supply, and are frequently called “The Sowers.”
SAO MỘC—Trường của Các Nhà Huyền Thuật Từ Tâm. Hành tinh này đôi khi được gọi trong ngôn ngữ của các trường là “Học viện của các đơn vị mãnh lực tứ phân,” vì các thành viên của nó vận dụng bốn loại mãnh lực trong công việc huyền thuật xây dựng. Một tên gọi khác dành cho các đại sảnh của nó là “Cung Điện Phong Phú” vì các học viên tốt nghiệp của nó làm việc với Định luật Cung Ứng, và thường được gọi là “Những Người Gieo Hạt.”
MERCURY—The pupils in this planetary school are called “The Sons of Aspiration” or “The Points of Yellow Life.” They have a close connection with our Earth scheme, and the old Commentary refers to this in the words:
SAO THỦY—Các môn sinh trong trường hành tinh này được gọi là “Các Con của Khát Vọng” hay “Các Điểm của Sự Sống Vàng.” Họ có một mối liên hệ mật thiết với hệ Địa Cầu của chúng ta, và Cổ Luận nói đến điều này bằng những lời sau:
“The points of golden flame merge and blend with the four-leaved plant of tender green, and change its colour to a tinge of autumn yellow. The four-leaved plant through new and fresh [Page 1179] inflow becomes the plant with seven leaves and three white flowers.”
“Các điểm của ngọn lửa vàng hòa nhập và pha trộn với cây bốn lá màu xanh non, và đổi màu của nó thành một sắc vàng thu. Cây bốn lá nhờ một dòng chảy vào mới mẻ và tươi mới [Page 1179] trở thành cây bảy lá và ba hoa trắng.”
VENUS—The School with five strict Grades. This again is a planetary scheme closely related to ours, but its planetary Logos is in a more advanced group of students in the cosmic sense than is our planetary Logos. Most of its hierarchical instructors come from the fifth cosmic plane, and are a peculiar group of Manasadevas of very exalted rank. They are each depicted in the archives of our Hierarchy as holding a trident of fire surmounted by five green emeralds.
SAO KIM—Trường với năm Cấp nghiêm ngặt. Đây lại là một hệ hành tinh có liên hệ mật thiết với hệ của chúng ta, nhưng Hành Tinh Thượng Đế của nó thuộc một nhóm đạo sinh tiến bộ hơn theo nghĩa vũ trụ so với Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta. Phần lớn các huấn sư của Thánh đoàn của nó đến từ cõi vũ trụ thứ năm, và là một nhóm đặc biệt gồm các Manasadevas có cấp bậc rất cao. Mỗi vị trong số họ được mô tả trong văn khố của Thánh Đoàn chúng ta như đang cầm một cây đinh ba lửa được gắn trên đỉnh bằng năm viên ngọc lục bảo xanh.
MARS—The School for Warriors, or the open grades for soldiers. Four of these planetary schools are responsible for the energy flowing through the foremost exponents of the four castes and this not only in India but in all parts of the world. Its teachers are spoken of as the “Graduates of the ruddy Fire,” and are frequently portrayed as clothed in red robes, and carrying ebony wands. They work under the first Aspect logoic and train those whose work is along the lines of the destroyer.
SAO HỎA—Trường dành cho các chiến binh, hay các cấp mở dành cho binh sĩ. Bốn trường hành tinh này chịu trách nhiệm về năng lượng tuôn chảy qua những đại biểu hàng đầu của bốn giai cấp, và điều này không chỉ ở Ấn Độ mà còn ở mọi nơi trên thế giới. Các huấn sư của trường được nói đến như “Những Vị Tốt Nghiệp của Lửa đỏ rực”, và thường được mô tả là khoác áo choàng đỏ, mang những trượng mun. Họ hoạt động dưới Phương diện thứ nhất của Thượng đế và huấn luyện những ai có công việc đi theo đường lối của đấng hủy diệt.
NEPTUNE—This school concerns itself with the development and fostering of the desire element and its graduates are called “the Sons of Vishnu.” Their symbol is a robe with a full sailed boat portrayed over the heart, the significance of which will be apparent to those who have eyes to see.
SAO HẢI VƯƠNG—Trường này chuyên đề cập đến sự phát triển và nuôi dưỡng yếu tố dục vọng, và những người tốt nghiệp của trường được gọi là “Các Con của Vishnu.” Biểu tượng của họ là một chiếc áo choàng có hình một con thuyền căng buồm trọn vẹn trên tim, ý nghĩa của điều này sẽ hiển nhiên đối với những ai có mắt để thấy.
It is not permissible to touch upon the other planetary schools, nor would it profit. Certain further facts can be ascertained by the student of meditation who is aligned with his Ego, and in touch with his egoic group.
Không được phép đề cập đến các trường hành tinh khác, và điều đó cũng không ích lợi. Một số sự kiện khác nữa có thể được đạo sinh tham thiền xác định, nếu người ấy được chỉnh hợp với chân ngã của mình, và tiếp xúc với nhóm chân ngã của mình.
[Page 1180] The teaching given on our earth scheme in the Hall of Wisdom has been dealt with in many occult books, including Initiation, Human and Solar, and need not be enlarged upon here.
[Page 1180] Giáo huấn được ban ra trong hệ hành tinh Trái Đất của chúng ta tại Phòng Minh triết đã được bàn đến trong nhiều sách huyền bí học, kể cả Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương, và không cần được khai triển thêm ở đây.
Some of the aspects of this law are here indicated. The ground is by no means covered but enough has been shown to indicate its magnitude and extent. In closing, it must be pointed out that the Law of Karma is from some angles of vision the sum total of this Law of Attraction for it governs the relation of all forms to that which uses the form, and of all lives to each other.
Một số phương diện của định luật này được chỉ ra ở đây. Nền tảng hoàn toàn chưa được bao quát, nhưng đã trình bày đủ để chỉ ra tầm vóc và phạm vi của nó. Để kết thúc, cần phải chỉ ra rằng Định luật Nghiệp Quả xét từ một số góc độ tầm nhìn là tổng thể của Định luật Hấp Dẫn này, vì nó chi phối mối liên hệ của mọi hình tướng với cái sử dụng hình tướng, và của mọi sự sống với nhau.
Students of the Law of Attraction must be careful to bear in mind certain things. These should be carefully considered and realised as the subject is studied.
Các đạo sinh nghiên cứu Định luật Hấp Dẫn phải cẩn thận ghi nhớ một số điều. Những điều này cần được cân nhắc cẩn thận và chứng nghiệm khi chủ đề này được nghiên cứu.
They must remember first, that all these subsidiary laws are really only the manifestation of the One Law; that they are but differentiated terms, employed to express one great method of manifestation.
Trước hết, họ phải nhớ rằng tất cả các định luật phụ này thực ra chỉ là sự biểu lộ của Định luật Duy Nhất; chúng chỉ là những thuật ngữ đã được biến phân, được dùng để diễn tả một phương pháp biểu lộ vĩ đại.
Secondly, that all energy, demonstrating in the solar system, is after all the energy of the logoic physical permanent atom, having its nucleus on the atomic subplane of the cosmic physical. This physical permanent atom (as is the case with the corresponding atom of the incarnating jiva), has its place within the causal body of the Logos on His own plane; it is, therefore, impressed by the totality of the force of the egoic cosmic lotus, or the attractive quality of cosmic love. This force is transmitted to the solar system in two ways: Through the medium of the Sun, which is in an occult sense the physical permanent atom; it, therefore, attracts, and holds attracted, all within its sphere of influence, thus producing the logoic physical body: through the medium of the planes which are the correspondences to the seven spirillae of the physical permanent atom of a human being. Thus a dual type of attractive force is found: one, basic and fundamental; the other more differentiated and secondary. [Page 1181]
Thứ hai, rằng mọi năng lượng biểu lộ trong hệ mặt trời, rốt cuộc đều là năng lượng của nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế, có hạt nhân của nó trên cõi phụ nguyên tử của cõi hồng trần vũ trụ. Nguyên tử trường tồn hồng trần này (cũng như trường hợp nguyên tử tương ứng của jiva đang lâm phàm) có vị trí của nó bên trong thể nguyên nhân của Thượng đế trên cõi riêng của Ngài; vì vậy, nó chịu ấn tượng bởi toàn bộ mãnh lực của Hoa Sen chân ngã vũ trụ, hay phẩm tính hấp dẫn của tình thương vũ trụ. Mãnh lực này được truyền vào hệ mặt trời theo hai cách: qua trung gian Mặt Trời, vốn theo một nghĩa huyền bí là nguyên tử trường tồn hồng trần; do đó, nó hấp dẫn và giữ mọi thứ trong phạm vi ảnh hưởng của nó ở trạng thái bị hấp dẫn, nhờ vậy tạo ra thể hồng trần của Thượng đế; qua trung gian các cõi, là những tương ứng với bảy loa tuyến của nguyên tử trường tồn hồng trần của một con người. Vì vậy, tìm thấy một loại mãnh lực hấp dẫn nhị phân: một loại căn bản và nền tảng; loại kia biệt hóa hơn và thứ yếu hơn. [Page 1181]
CHART XI — ETHERIC-ATOMIC PHILOSOPHY OF FORCE
BIỂU ĐỒ XI — TRIẾT HỌC DĨ THÁI-NGUYÊN TỬ VỀ MÃNH LỰC
[picture]
[picture]
Fig 135. The General form of an atom, including the spirals and 1st Spirillae, together with influx and efflux ethers, represented by dots, which pass trhough these spirillae. The2nd and 3rd spirillae and their still finer ethers are not shown.
Hình 135. Hình dạng tổng quát của một nguyên tử, gồm các vòng xoắn và các loa tuyến thứ nhất, cùng với các dĩ thái nhập lưu và xuất lưu, được biểu thị bằng các chấm, đi qua trhough các loa tuyến này. Các loa tuyến thứ hai và thứ ba cùng các dĩ thái còn tinh tế hơn của chúng không được trình bày.
From ‘the Principles of Light and Colour’,
Trích từ ‘Các Nguyên Lý của Ánh Sáng và Màu Sắc’,
Edwin D. Babbitt, New York 1878
Edwin D. Babbitt, New York 1878
[Page 1182] These streams of energy, judged by their effects, are called in human terminology laws, because their results are ever immutable and irresistible, and their effects remain unchangeably the same, varying only according to the form which is the subject of the energic impulse.
[Page 1182] Các dòng năng lượng này, xét theo các hiệu quả của chúng, được gọi trong thuật ngữ nhân loại là các định luật, vì các kết quả của chúng luôn bất biến và không thể cưỡng lại, và các hiệu quả của chúng luôn giữ nguyên không thay đổi, chỉ biến thiên tùy theo hình tướng là đối tượng của xung động năng lượng.
Thirdly, the student must bear in mind that the seven planes, or the seven spirillae of the logoic permanent atom, are not all equally vitalised by the attractive pull emanating from the logoic lotus via the heart of the Sun. Five of them are more “alive” than the other two; these five do not include the highest and the lowest. The words “the heart of the Sun” must be understood to mean more than a locality situated in the interior recesses of the solar body, and have reference to the nature of the solar sphere. This solar sphere is closely similar to the atom pictured in the book by Babbitt and later in Occult Chemistry by Mrs. Besant. The Sun is heart-shaped, and (seen from cosmic angles) has a depression at what we might call its north pole. This is formed by the impact of logoic energy upon solar substance.
Thứ ba, đạo sinh phải ghi nhớ rằng bảy cõi, hay bảy loa tuyến của nguyên tử trường tồn của Thượng đế, không phải tất cả đều được tiếp sinh lực như nhau bởi lực kéo hấp dẫn phát ra từ Hoa Sen của Thượng đế qua tim của Mặt Trời. Năm trong số đó “sống động” hơn hai cái kia; năm cái này không bao gồm cái cao nhất và cái thấp nhất. Những từ “tim của Mặt Trời” phải được hiểu là nhiều hơn một vị trí nằm trong các chỗ sâu bên trong của thể thái dương, và có liên hệ đến bản chất của khối cầu thái dương. Khối cầu thái dương này rất giống với nguyên tử được minh họa trong sách của Babbitt và sau đó trong Hóa Học Huyền Bí của bà Besant. Mặt Trời có hình tim, và (nhìn từ các góc độ vũ trụ) có một chỗ lõm tại nơi mà chúng ta có thể gọi là cực bắc của nó. Điều này được tạo thành bởi sự va chạm của năng lượng Thượng đế lên chất liệu thái dương.
This energy which impinges upon the solar sphere, and is thence distributed to all parts of the entire system, emanates from three cosmic centres and, therefore, is triple during this particular cycle.
Năng lượng này tác động lên khối cầu thái dương, rồi từ đó được phân phối đến mọi phần của toàn bộ hệ thống, phát ra từ ba trung tâm vũ trụ và vì vậy là tam phân trong chu kỳ đặc biệt này.
a. From the sevenfold great Bear.
a. Từ Đại Hùng thất phân.
b. From the Sun Sirius.
b. Từ Mặt Trời Sirius.
c. From the Pleiades.
c. Từ Pleiades.
It must be remembered that the possible cosmic streams of energy available for use in our solar system are seven in number, of which three are major. These three vary during vast and incalculable cycles.
Cần nhớ rằng các dòng năng lượng vũ trụ khả dĩ có sẵn để sử dụng trong hệ mặt trời của chúng ta có số lượng là bảy, trong đó có ba dòng chính. Ba dòng này biến đổi qua những chu kỳ bao la và không thể tính được.
Students may find it of use to remember that,
Các đạo sinh có thể thấy hữu ích khi nhớ rằng,
a. The Law of Economy demonstrates as an urge,
a. Định luật Tiết Kiệm biểu lộ như một xung lực,
b. The Law of Attraction as a pull,
b. Định luật Hấp Dẫn như một lực kéo,
c. The Law of Synthesis as a tendency to concentrate at a centre, or to merge.
c. Định luật Tổng Hợp như một khuynh hướng tập trung vào một trung tâm, hay hòa nhập.
[Page 1183] The streams of energy which pour forth through the medium of the Sun from the egoic lotus and which are in reality “logoic Soul energy” attract to them that which is akin to them in vibration. This may sound rather like the statement of a platitude, but is susceptible of really deep significance to the student, being accountable for all systemic phenomena. These streams pass in different directions, and in the knowledge of occult direction comes knowledge of the various hierarchies of being, and the secret of the esoteric symbols.
[Page 1183] Các dòng năng lượng tuôn đổ qua trung gian Mặt Trời từ Hoa Sen chân ngã và thực ra là “năng lượng Linh hồn của Thượng đế” hấp dẫn về phía chúng những gì đồng loại với chúng về rung động. Điều này có thể nghe khá giống một lời phát biểu sáo mòn, nhưng lại có thể mang thâm nghĩa thật sâu xa đối với đạo sinh, vì nó giải thích cho mọi hiện tượng hệ thống. Các dòng này đi theo những hướng khác nhau, và trong tri thức về phương hướng huyền bí có tri thức về các huyền giai khác nhau của hiện hữu, cùng bí mật của các biểu tượng huyền bí.
The main stream of energy enters at the top depression in the solar sphere and passes through the entire ring-pass-not, bisecting it into two halves.
Dòng năng lượng chính đi vào tại chỗ lõm phía trên của khối cầu thái dương và đi xuyên qua toàn bộ vòng-giới-hạn, chia nó thành hai nửa.
With this stream enters that group of active lives whom we call the “Lords of Karma.” They preside over the attractive forces, and distribute them justly. They enter, pass to the centre of the sphere and there (if I may so express it) locate, and set up the “Holy Temple of Divine Justice,” sending out to the four quarters of the circle the four Maharajahs, their representatives. So is the equal armed Cross formed—and all the wheels of energy set in motion. This is conditioned by the karmic seeds of an earlier system, and only that substance is utilised by the Logos, and only those lives come into manifestation who have set up a mutual attraction.
Cùng với dòng này đi vào là nhóm các sự sống hoạt động mà chúng ta gọi là “các Đấng Giải Thoát.” Các Ngài chủ trì các mãnh lực hấp dẫn và phân phối chúng một cách công bằng. Các Ngài đi vào, tiến đến trung tâm của khối cầu và ở đó (nếu tôi có thể diễn tả như vậy) định vị, và thiết lập “Ngôi Đền Thiêng của Công Lý thiêng liêng,” gửi ra bốn phương của vòng tròn bốn Maharajah, là các đại diện của Các Ngài. Như thế Thập Giá có các cánh bằng nhau được hình thành—và mọi bánh xe năng lượng được đưa vào chuyển động. Điều này được tác động bởi các hạt giống nghiệp quả của một hệ thống trước, và chỉ chất liệu đó mới được sử dụng bởi Thượng đế, và chỉ những sự sống nào đã thiết lập một sự hấp dẫn hỗ tương mới đi vào biểu lộ.
These five streams of living energy (the one and the four) are the basis of the onward march of all things; these are sometimes esoterically called “the forward moving Lives.” They embody the Will of the Logos. It is the note they sound and the attractive pull which they initiate which bring into contact with the solar sphere a group of existences whose mode of activity is spiral and not forward.
Năm dòng năng lượng sống động này (một và bốn) là nền tảng của cuộc tiến bước không ngừng của vạn vật; đôi khi chúng được gọi một cách huyền bí là “các Sự Sống chuyển động tiến lên.” Chúng thể hiện Ý Chí của Thượng đế. Chính âm điệu mà chúng xướng lên và lực kéo hấp dẫn mà chúng khởi xướng đã đưa vào tiếp xúc với khối cầu thái dương một nhóm hiện hữu có phương thức hoạt động là xoắn ốc chứ không phải tiến thẳng.
These groups are seven in number and pass into manifestation [Page 1184] through what is for them a great door of Initiation. In some of the occult books, these seven groups are spoken of as the “seven cosmic Initiates Who have passed within the Heart, and there remain until the test is passed.” These are the seven Hierarchies of Beings, the seven Dhyan Chohans. They spiral into manifestation, cutting across the fourfold cross, and touching the cruciform stream of energy in certain places. The places where the streams of love energy cross the streams of will and karmic energy are mystically called the “Caves of dual light” and when a reincarnating or liberated jiva enters one of these Caves in the course of his pilgrimage, he takes an initiation, and passes on to a higher turn of the spiral.
Các nhóm này có số lượng là bảy và đi vào biểu lộ [Page 1184] qua điều đối với họ là một cánh cửa lớn của Điểm đạo. Trong một số sách huyền bí học, bảy nhóm này được nói đến như “bảy Điểm đạo đồ vũ trụ đã đi vào trong Tim, và ở lại đó cho đến khi cuộc thử thách được vượt qua.” Đây là bảy Huyền Giai của các Đấng, bảy Dhyan Chohan. Họ xoắn ốc đi vào biểu lộ, cắt ngang thập giá tứ phân, và chạm vào dòng năng lượng hình thập tự tại một số điểm nhất định. Những nơi mà các dòng năng lượng bác ái cắt các dòng năng lượng ý chí và nghiệp quả được gọi một cách thần bí là “Các Hang Động của ánh sáng nhị nguyên” và khi một jiva tái sinh hay được giải thoát đi vào một trong các Hang Động này trong tiến trình cuộc hành hương của y, y nhận một điểm đạo, và tiến lên một vòng xoắn cao hơn.
Another stream of energy follows a different route, which is a little difficult to make clear. This particular set of active lives enter the heart shaped depression, pass around the edge of the ring-pass-not to the lowest part of the solar sphere and then mount upwards, coming into opposition therefore with the stream of downpouring energy. This stream of force is called “lunar” force for lack of a better term. They form the body of the raja Lord of each of the planes, and are governed by the Law of Economy.
Một dòng năng lượng khác đi theo một lộ trình khác, hơi khó làm cho rõ. Tập hợp đặc biệt này của các sự sống hoạt động đi vào chỗ lõm hình tim, đi quanh rìa của vòng-giới-hạn đến phần thấp nhất của khối cầu thái dương rồi sau đó đi lên trên, vì vậy đi vào thế đối nghịch với dòng năng lượng tuôn xuống. Dòng mãnh lực này được gọi là mãnh lực “nguyệt” vì không có thuật ngữ nào tốt hơn. Chúng tạo thành thể của vị raja Chúa Tể của mỗi cõi, và được chi phối bởi Định luật Tiết Kiệm.
All these streams of energy form geometrical designs of great beauty to the eye of the initiated seer. We have the transverse and bisecting lines, the seven lines of force which form the planes, and the seven spiralling lines, thus forming lines of systemic latitude and longitude, and their interplay and interaction produce a whole of wondrous beauty and design. When these are visualised in colour, and seen in their true radiance, it will be realised that the point of attainment of our solar Logos is very high, for the beauty of the logoic Soul is expressed by that which is seen. [Page 1185]
Tất cả các dòng năng lượng này tạo thành những mô hình hình học có vẻ đẹp lớn lao đối với mắt của nhà thông nhãn đã được điểm đạo. Chúng ta có các đường ngang và đường phân đôi, bảy đường mãnh lực tạo thành các cõi, và bảy đường xoắn ốc, nhờ đó hình thành các đường vĩ độ và kinh độ của hệ thống, và sự tương tác cùng tác động hỗ tương của chúng tạo ra một toàn thể có vẻ đẹp và mô hình kỳ diệu. Khi những điều này được hình dung trong màu sắc, và được thấy trong sự rạng ngờichân thực của chúng, người ta sẽ chứng nghiệm rằng mức thành tựu của Thái dương Thượng đế của chúng ta là rất cao, vì vẻ đẹp của Linh hồn Thượng đế được biểu lộ qua điều được thấy. [Page 1185]
S9S12 Text
II. THE EFFECTS OF THE LAW OF ATTRACTION
II. CÁC HIỆU QUẢ CỦA ĐỊNH LUẬT HẤP DẪN
The Law of Attraction produces certain effects which it might profit us to touch upon here, provided we remember that only a few effects out of many possible are being considered.
Định luật Hấp Dẫn tạo ra một số hiệu quả mà sẽ có ích nếu chúng ta đề cập đến ở đây, miễn là chúng ta nhớ rằng chỉ một vài hiệu quả trong số rất nhiều hiệu quả khả dĩ đang được xem xét.
1. Association.
1. Sự liên kết.
The first effect might be called association. Under this law the karmic Lords are enabled to bring together those lives (human, subhuman, and superhuman) which have earlier been associated, and have, therefore, somewhat to work out. The seven Heavenly Men, for instance, are a few out of the great band of associated Lives who have chosen to come into incarnation in this kalpa for purposes of mutual help and mutual correction. They are really destined to work together, but nevertheless on other cosmic planes have points of contact unknown to us.
Hiệu quả thứ nhất có thể được gọi là sự liên kết. Dưới định luật này, các Chúa Tể nghiệp quả có thể đưa lại gần nhau những sự sống (nhân loại, dưới nhân loại, và siêu nhân loại) đã từng liên kết với nhau trước đây, và vì vậy có điều gì đó phải giải quyết. Chẳng hạn, bảy Đấng Thiên Nhân là một số ít trong đại đoàn các Sự Sống liên kết đã chọn đi vào lâm phàm trong kalpa này vì những mục đích trợ giúp lẫn nhau và điều chỉnh lẫn nhau. Các Ngài thực sự được định để cùng làm việc với nhau, nhưng tuy vậy trên các cõi vũ trụ khác vẫn có những điểm tiếp xúc mà chúng ta không biết.
Under this attractive pull the informing existences of the various kingdoms of nature are engaged in mutual interaction, and thus swing into lesser but similar activity all the lives of these various bodies of manifestation. These lines of attraction are veiled in mystery, and all that it is possible to indicate is the karma of the Lord of the second or vegetable kingdom with the Lord of the fifth kingdom, and a close line of linking energy between the Lord of the mineral kingdom and the human. These points are only for reference to our own planetary scheme. The Lord of the Moon chain and the Lord of our present animal kingdom are “blood brothers” and in their relationship and the esoteric interference of the “Man of Men” (the human family personified) is hidden the mystery of present animal karma and the slaughter of animal forms, the terror of wild beasts and the work of vivisectionists.
Dưới lực kéo hấp dẫn này, các hiện hữu phú linh của các giới khác nhau trong tự nhiên tham gia vào sự tương tác hỗ tương, và nhờ vậy đưa mọi sự sống trong các thể biểu lộ khác nhau này vào một hoạt động nhỏ hơn nhưng tương tự. Những đường hấp dẫn này được che phủ trong huyền nhiệm, và tất cả những gì có thể chỉ ra là nghiệp quả của Chúa Tể của giới thứ hai hay giới thực vật với Chúa Tể của giới thứ năm, và một đường năng lượng liên kết chặt chẽ giữa Chúa Tể của giới kim thạch và con người. Những điểm này chỉ để tham chiếu đến hệ hành tinh riêng của chúng ta. Chúa Tể của Dãy Mặt Trăng và Chúa Tể của giới động vật hiện nay của chúng ta là “huynh đệ huyết thống” và trong mối liên hệ của Các Ngài cùng sự can thiệp huyền bí của “Con Người của những con người” (gia đình nhân loại được nhân cách hóa) ẩn giấu huyền nhiệm của nghiệp quả động vật hiện nay và sự tàn sát các hình tướng động vật, nỗi kinh hoàng của thú dữ và công việc của những kẻ mổ xẻ sinh thể.
Under this Law, too, is found “the Path” upon which [Page 1186] men lift themselves out of the human state of consciousness into the divine, but on this there is no need to enlarge.
Dưới Định luật này cũng tìm thấy “Con Đường” mà trên đó [Page 1186] con người nâng mình ra khỏi trạng thái tâm thức nhân loại để đi vào trạng thái thiêng liêng, nhưng về điều này không cần khai triển thêm.
2. Form Building.
2. Sự tạo dựng hình tướng.
The second effect is form building. Upon this we will not enlarge at any length, as all that it is at present possible to impart anent this subject has already been given in this Treatise, and other works of a similar nature. It is the middle, or second aspect which is ever responsible for the construction of a form around a central nucleus. Students would find it useful to study and meditate upon the appended tabulation of energy streams and their objectivising through mutual interplay.
Hiệu quả thứ hai là sự tạo dựng hình tướng. Về điều này chúng ta sẽ không khai triển dài dòng, vì tất cả những gì hiện nay có thể truyền đạt liên quan đến chủ đề này đã được nêu ra trong Luận này, và trong các tác phẩm khác có tính chất tương tự. Chính phương diện trung gian, hay phương diện thứ hai, luôn chịu trách nhiệm cho việc kiến tạo một hình tướng quanh một hạt nhân trung tâm. Các đạo sinh sẽ thấy hữu ích nếu nghiên cứu và tham thiền về bảng liệt kê kèm theo của các dòng năng lượng và sự khách quan hóa của chúng qua sự tương tác hỗ tương.
As time goes on, science will become aware of the basic nature and fundamental accuracy of the method whereby every form can be divided into its three aspects, and viewed as an Entity energised by three types of force, emanating from various points extraneous to the form under consideration. It can be considered also as expressing in some way or another, in its various parts, force or energy originating in the three forces of manifestation, Brahma, Vishnu and Shiva. Where this is the case and the premise admitted, the entire outlook on life, on nature, medicine and science and on methods of construction or destruction will be changed. Things will be viewed as essential triplicities, men will be regarded as a combination of energy units, and work with things and with men from the form aspect will be revolutionised. In the tabulation much information is given anent the form building aspects of energy and the Law of Attraction as it shows itself in the working of the various groups of the Army of the Voice. It is this Army which is responsible for the attraction which is the medium of bringing together the material required by the free Spirits in order to construct their bodies of manifestation. The [Page 1187]
Theo thời gian, khoa học sẽ nhận biết bản chất căn bản và tính chính xác nền tảng của phương pháp nhờ đó mọi hình tướng có thể được chia thành ba phương diện của nó, và được xem như một Thực Thể được tiếp năng lượng bởi ba loại mãnh lực, phát ra từ nhiều điểm ở ngoài hình tướng đang được xem xét. Nó cũng có thể được xem như đang biểu lộ, bằng cách này hay cách khác, trong các phần khác nhau của nó, mãnh lực hay năng lượng bắt nguồn từ ba mãnh lực của biểu lộ, Brahma, Vishnu và Shiva. Khi điều này là như vậy và tiền đề được chấp nhận, toàn bộ quan điểm về sự sống, về bản chất, y học và khoa học, cũng như về các phương pháp kiến tạo hay hủy diệt sẽ thay đổi. Mọi vật sẽ được nhìn như những bộ ba cốt yếu, con người sẽ được xem như một sự kết hợp của các đơn vị năng lượng, và công việc với sự vật và với con người từ phương diện hình tướng sẽ được cách mạng hóa. Trong bảng liệt kê này có nhiều thông tin được đưa ra liên quan đến các phương diện tạo dựng hình tướng của năng lượng và Định luật Hấp Dẫn như nó tự biểu lộ trong hoạt động của các nhóm khác nhau của Đạo Quân của Tiếng Nói. Chính Đạo Quân này chịu trách nhiệm cho lực hấp dẫn là trung gian đưa lại với nhau vật chất cần thiết cho các Tinh thần tự do để kiến tạo các thể biểu lộ của các Ngài. [Page 1187]
TABULATION VII
BẢNG LIỆT KÊ VII
ENERGIES
CÁC NĂNG LƯỢNG
SOLAR LOGOS:
THÁI DƯƠNG THƯỢNG ĐẾ:
Source
Focal Point
Medium
Type of Energy
Nature of Fire
1.
Causal Body.
Jewel
Central Spiritual Sun.
Cosmic Will
Electric Fire - Positive.
2.
Causal Body.
Lotus (two petalled)
Heart of the Sun.
Cosmic Love - (The Son)
Solar Fire - Harmony - Equilibrium.
3.
Physical Plane Nucleus.
Permanent Atom.
The Physical Sun.
Cosmic Activity (Universal Mind).
Fire by Friction - Negative.
PLANETARY LOGOS:
HÀNH TINH THƯỢNG ĐẾ: