← A Treatise on Cosmic Fire

1.

1.

Planetary Causal Body.

Jewel

Heavenly Man (On his own plane.)

Systemic Will

Electric Fire - Positive.

2.

Planetary Causal Body.

Lotus

Egoic Groups

Systemic Love

Solar Fire - Harmony - Balance.

3.

Physical Plane Nucleus.

Permanent Atom.

Physical Planet.

Systemic Activity.

Fire by Friction - Negative.

MAN:

CON NGƯỜI:

1.

Human Causal Body.

Jewel

Monad Spirit

Atma-Buddhi

Electric Fire - Positive Force.

2.

Human Causal Body.

Lotus

Solar Angel

Manasic Ego

Solar Fire - Equilibrising Force.

3.

Plane Nucleus.

Permanent Atom.

Lunar Angels

Lower Three-fold Man.

Fire by Friction - Negative.

PLANES:

CÁC CÕI:

1.

Plane Raja Lord.

A Deva Hierarchy.

Atomic Sub-plane.

Fohatic

Central Fire - Initiatory.

2.

Plane Devas.

Centres

Prana

Solar Energy

Form building Fire.

3.

Elementals.

Elemental Essence.

Molecular Substance.

Lunar Force

The Mother’s Heat.

ATOMS:

CÁC NGUYÊN TỬ:

1.

Atom

Nucleus

Plane Deva

Positive

Electric.

2.

Atomic Unit of Form.

Sphere

Plane Devas

Balancing

Solar Fire.

3.

Electrons

Nuclei

Elementals

Negative

Fire by Friction.

[Page 1188]vibration initiated by the Sound, which is the expression of the Law of Synthesis, is succeeded by the Voice or Word, and that Word as it progresses outward from the centre to the periphery (for, occultly understood, the Word is “spoken from the Heart”) becomes

[Page 1188]rung động được khởi xướng bởi Âm Thanh, vốn là biểu hiện của Định luật Tổng Hợp, được tiếp nối bởi Tiếng Nói hay Linh từ, và Linh từ đó khi tiến ra ngoài từ trung tâm đến chu vi (vì, được hiểu theo huyền bí học, Linh từ được “nói ra từ Tim”) trở thành

a. A phrase.

a. Một cụm từ.

b. Phrases.

b. Các cụm từ.

c. Sentences.

c. Những câu.

d. Speech.

d. Lời nói.

e. The myriad sounds of nature.

e. Vô số âm thanh của tự nhiên.

Each of these terms can be explained in terms of attractive energy, and this attractive energy is likewise the demonstration of the life of an Existence of some grade or other.

Mỗi thuật ngữ này có thể được giải thích theo năng lượng hấp dẫn, và năng lượng hấp dẫn này cũng là sự biểu lộ của sự sống của một Hiện Hữu ở cấp độ nào đó.

“God speaks and the forms are made.” This tabulation should form the basis of a complete phase of study along this line and is one of the most basic given in this Treatise.

“Thượng đế phán và các hình tướng được tạo thành.” Bảng liệt kê này nên tạo thành nền tảng cho một giai đoạn nghiên cứu hoàn chỉnh theo đường hướng này và là một trong những điều căn bản nhất được đưa ra trong Luận này.

3. Adaptation of the form to the life.

3. Sự thích ứng của hình tướng với sự sống.

This is the process of gradually providing forms which are due expressions of the indwelling consciousness which is the great purpose of what we call “Mother Nature”; this she does, working under the Law of Attraction which we are considering. This law, therefore, governs two aspects of unfoldment, that which concerns the soul or consciousness aspect and that relating to the Spirit on its own plane. It is the cause of that continuous cycle of form taking, of form utilisation and of form rejection which characterises the incarnations of every kind and type of living being. The student should here remember that the Existences who are the attractive force in manifestation, the Dhyan Chohans, are seven in number, and that, therefore, the quality of the vehicles which form Their bodies will have the sevenfold variation according to the specific nature of the Lords of Life.

Đây là tiến trình dần dần cung cấp những hình tướng là những biểu hiện thích đáng của tâm thức nội tại, vốn là mục đích lớn lao của điều chúng ta gọi là “Mẹ Thiên Nhiên”; điều này bà thực hiện khi hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn mà chúng ta đang xem xét. Vì vậy, định luật này chi phối hai phương diện của sự khai mở, phương diện liên quan đến linh hồn hay phương diện tâm thức và phương diện liên hệ đến tinh thần trên cõi riêng của nó. Nó là nguyên nhân của chu kỳ liên tục nhận lấy hình tướng, sử dụng hình tướng và loại bỏ hình tướng, vốn đặc trưng cho các lần lâm phàm của mọi loại và mọi kiểu hữu thể sống. Ở đây đạo sinh nên nhớ rằng các Hiện Hữu là mãnh lực hấp dẫn trong biểu lộ, các Dhyan Chohan, có số lượng là bảy, và vì vậy phẩm tính của các vận cụ tạo thành thể của Các Ngài sẽ có sự biến thiên thất phân tùy theo bản chất đặc thù của các Chúa Tể của Sự sống.

[Page 1189] The only way to arrive at a realisation of the basic qualities of these planetary Logoi is through a consideration of the energy emanating from Them, and it is this which the true esoteric astrology will eventually reveal. The time is not yet; it will come when the scientific consideration of human magnetism, of the distinctions between the seven types of men, and the nature of the Ego is more truly followed. Then will be revealed the nature of planetary magnetism and the quality of any specific planetary soul as it is known through the aggregated nature of the men, responsive to and exponents of any particular planetary Ray. The mystery is increased by the fact that there are not only certain logoic qualities manifesting which are not included by the term “sacred,” but that there are numerous other aspects of what we might term “secondary centres of fire,” generated and making their presence felt. We have a correspondence to this in the fact that there are centres of energy in man which are not purely etheric centres but are the product of the interaction of the etheric centres and certain forms of negative energy of the lowest kind. Such, for instance, is the heart. There is the heart centre, one of the major centers on the etheric planes, but there is also the physical heart which is an energy generator also; there are the lower organs of generation which are equally a reflex product with an energy which is the resultant of the higher vibrations yet which has a quality all its own. This has its correspondence in the solar system. Many are the lesser planets and numerous are the planetoids which have an energy or attractive quality all their own and which, from the systemic standpoint, must be allowed for in the measuring of the attraction producing the forms of or upon any particular planet.

[Page 1189] Cách duy nhất để đi đến một sự chứng nghiệm về các phẩm tính căn bản của các Hành Tinh Thượng Đế này là thông qua việc xem xét năng lượng phát ra từ Các Ngài, và chính điều này mà chiêm tinh học nội môn chân chính cuối cùng sẽ mặc khải. Thời điểm ấy chưa đến; nó sẽ đến khi việc khảo cứu khoa học về từ điện của con người, về những khác biệt giữa bảy loại người, và về bản chất của chân ngã được theo đuổi chân thực hơn. Khi đó bản chất của từ điện hành tinh và phẩm tính của bất kỳ linh hồn hành tinh đặc thù nào sẽ được mặc khải như nó được biết đến qua bản chất tổng hợp của những con người đáp ứng với và là những đại biểu của bất kỳ cung hành tinh đặc thù nào. Huyền nhiệm còn tăng thêm bởi sự kiện là không chỉ có một số phẩm tính của Thượng đế đang biểu lộ mà không được bao hàm trong thuật ngữ “thiêng liêng,” mà còn có vô số phương diện khác của điều mà chúng ta có thể gọi là “các trung tâm lửa thứ yếu,” được tạo ra và làm cho sự hiện diện của chúng được cảm nhận. Chúng ta có một tương ứng với điều này trong sự kiện là có những trung tâm năng lượng trong con người không hoàn toàn là các trung tâm dĩ thái mà là sản phẩm của sự tương tác giữa các trung tâm dĩ thái và một số dạng năng lượng âm thấp nhất. Chẳng hạn như tim. Có trung tâm tim, một trong những trung tâm chính trên các cõi dĩ thái, nhưng cũng có trái tim hồng trần, vốn cũng là một bộ phát năng lượng; có các cơ quan sinh sản thấp cũng đồng đều là một sản phẩm phản xạ cùng với một năng lượng là kết quả của các rung động cao hơn nhưng lại có một phẩm tính riêng của nó. Điều này có tương ứng của nó trong hệ mặt trời. Có nhiều hành tinh nhỏ hơn và vô số tiểu hành tinh có một năng lượng hay phẩm tính hấp dẫn riêng của chúng, và từ quan điểm hệ thống, phải được tính đến trong việc đo lường lực hấp dẫn tạo ra các hình tướng của hay trên bất kỳ hành tinh đặc thù nào.

As we know from a study of the Secret Doctrine, certain of the planetary Logoi are pure and passionless whilst others are still under the domination of desire and [Page 1190] of passion. (S. D., I, 214, 449; II, 223.) This quality of Theirs necessarily attracts to Them that which They need for the due expression of Their life in any scheme, and controls the nature of those egoic groups who are (for Them) generating force centres. Hence the nature of men upon earth. All human beings are paramountly governed by certain planetary attractions, impressions or influences which might be enumerated in the order of their importance.

Như chúng ta biết từ việc nghiên cứu Giáo Lý Bí Nhiệm, một số Hành Tinh Thượng Đế thì thanh khiết và vô dục, trong khi những vị khác vẫn còn dưới sự thống trị của dục vọng và [Page 1190] đam mê. (S. D., I, 214, 449; II, 223.) Phẩm tính này của Các Ngài tất yếu hấp dẫn đến với Các Ngài điều mà Các Ngài cần cho sự biểu lộ thích đáng của sự sống của Các Ngài trong bất kỳ hệ hành tinh nào, và kiểm soát bản chất của những nhóm chân ngã mà (đối với Các Ngài) đang tạo ra các trung tâm mãnh lực. Do đó mới có bản chất của con người trên Trái Đất. Tất cả nhân loại đều chủ yếu bị chi phối bởi một số hấp lực, ấn tượng hay ảnh hưởng hành tinh nào đó, có thể được liệt kê theo thứ tự quan trọng của chúng.

There is, first of all, the attractive pull of the Life of the planetary Logos of this particular planet. This is necessarily the strongest and is one of the basic factors which have settled the lines the human form has taken upon this planet. There are human beings, or exponents of self-consciousness on other planets, but the forms they utilise are not the same as ours.

Trước hết là lực kéo hấp dẫn của Sự sống của Hành Tinh Thượng Đế của hành tinh đặc thù này. Điều này tất yếu là mạnh nhất và là một trong những yếu tố căn bản đã quyết định những đường nét mà hình tướng con người đã mang lấy trên hành tinh này. Có những con người, hay những đại biểu của ngã thức trên các hành tinh khác, nhưng các hình tướng mà họ sử dụng không giống như của chúng ta.

There is next, the attractive pull of the planetary Logos Who is the complementary Life to that of our Logos. This involves a planetary Logos responsive to a vibration which harmonises with that of our Logos but Who, when in union with Him, forms what might be called “the Third” or His dominant, as the case may be. It is not possible to reveal whether the blending of the note will mean that our scheme will absorb that which expresses the note of another scheme, or vice versa. It means that somewhere in the solar system is a planetary scheme of some kind (not necessarily one of the seven or of the ten) which has an interplay with ours and which, therefore, inevitably affects the egoic groups. We must note also the fact that—in connection with the expression of a Heavenly Man—the egoic groups are energy centres and make His dense physical body eventually an accomplished fact.

Tiếp theo là lực kéo hấp dẫn của Hành Tinh Thượng Đế là Sự sống bổ sung cho Sự sống của Thượng đế của chúng ta. Điều này bao hàm một Hành Tinh Thượng Đế đáp ứng với một rung động hài hòa với rung động của Thượng đế của chúng ta nhưng Đấng ấy, khi hợp nhất với Ngài, tạo thành điều có thể được gọi là “Đấng Thứ Ba” hay âm chủ của Ngài, tùy trường hợp. Không thể tiết lộ liệu sự hòa trộn của âm điệu sẽ có nghĩa là hệ hành tinh của chúng ta sẽ hấp thu điều biểu lộ âm điệu của một hệ hành tinh khác, hay ngược lại. Điều đó có nghĩa là ở đâu đó trong hệ mặt trời có một hệ hành tinh nào đó (không nhất thiết là một trong bảy hay một trong mười) có sự tương tác với hệ của chúng ta và vì vậy tất yếu ảnh hưởng đến các nhóm chân ngã. Chúng ta cũng phải lưu ý sự kiện là—liên quan đến sự biểu lộ của một Đấng Thiên Nhân—các nhóm chân ngã là các trung tâm năng lượng và cuối cùng làm cho thể hồng trần đậm đặc của Ngài trở thành một sự kiện hoàn tất.

Finally, there is the attractive pull of that planetary scheme which is esoterically regarded as our polar opposite. [Page 1191] (What is here said has reference to the other schemes, for the law persists throughout the solar system.)

Cuối cùng là lực kéo hấp dẫn của hệ hành tinh được xem một cách huyền bí là đối cực của Trái Đất chúng ta. [Page 1191] (Điều được nói ở đây có liên hệ đến các hệ hành tinh khác, vì định luật này vẫn tồn tại khắp hệ mặt trời.)

It will be apparent, therefore, that the real and esoteric astrology will deal with four kinds of force, when it seeks to explain the nature of the Energies which influence any human being:

Vì vậy, sẽ hiển nhiên rằng chiêm tinh học chân chính và huyền bí sẽ đề cập đến bốn loại mãnh lực khi nó tìm cách giải thích bản chất của các Năng Lượng ảnh hưởng đến bất kỳ con người nào:

1. The quality of the solar system.

1. Phẩm tính của hệ mặt trời.

2. The quality of the Logos of the planet as it pours through the chains and globes and rounds in a sevenfold differentiation.

2. Phẩm tính của Thượng đế của hành tinh khi nó tuôn chảy qua các dãy, các bầu hành tinh và các cuộc tuần hoàn trong một sự biến phân thất phân.

3. The quality of our earth’s complementary planet.

3. Phẩm tính của hành tinh bổ sung cho Trái Đất chúng ta.

4. The quality of the attraction of our earth’s polar opposites.

4. Phẩm tính của lực hấp dẫn từ các đối cực của Trái Đất chúng ta.

This involves information as yet veiled in deepest mystery, but which will unfold as the true psychology is studied, and which will eventually embody itself in a fourth fundamental of the Secret Doctrine so that later students will have the three as they are now found in the Proem to that book, plus the fourth. (S. D., I, 42-46.) This might be expected in this fourth round. The true astrology will reveal the nature of this fourth proposition at some later date. More attention will eventually be paid to the planetary influences, and not so much to the signs of the zodiac where the nature of an Ego is concerned. The great signs of the zodiac concern the Heavenly Man, and necessarily, therefore, the Monads of every human being. The planetary influences must be studied to find out the quality of a man’s Ray, and this in the above indicated threefold manner. Man is the Monad, therefore, he expresses a small part of his enfolding life. In this solar system he is essentially the Ego.

Điều này bao hàm thông tin hiện vẫn còn bị che phủ trong huyền nhiệm sâu thẳm nhất, nhưng sẽ khai mở khi tâm lý học chân chính được nghiên cứu, và cuối cùng sẽ tự thể hiện thành một nguyên lý căn bản thứ tư của Giáo Lý Bí Nhiệm để các đạo sinh về sau sẽ có ba nguyên lý như hiện nay được tìm thấy trong Lời Mở Đầu của quyển sách ấy, cộng thêm nguyên lý thứ tư. (S. D., I, 42-46.) Điều này có thể được mong đợi trong cuộc tuần hoàn thứ tư này. Chiêm tinh học chân chính sẽ mặc khải bản chất của mệnh đề thứ tư này vào một ngày sau đó. Cuối cùng, người ta sẽ chú ý nhiều hơn đến các ảnh hưởng hành tinh, chứ không quá nhiều đến các dấu hiệu hoàng đạo khi bản chất của một chân ngã được xét đến. Các dấu hiệu lớn của hoàng đạo liên quan đến Đấng Thiên Nhân, và vì vậy tất yếu liên quan đến các chân thần của mọi con người. Các ảnh hưởng hành tinh phải được nghiên cứu để tìm ra phẩm tính của cung của một người, và điều này theo cách tam phân đã được chỉ ra ở trên. Con người là chân thần, vì vậy y biểu lộ một phần nhỏ của sự sống bao bọc y. Trong hệ mặt trời này, về bản chất y là chân ngã.

Astrologers should study the planetary schemes in the light of the Heavenly Man, viewing them as an incarnation [Page 1192] of a planetary Logos, and thus strive to cast the horoscope of the planetary Logos. They cannot succeed in doing so, but in the attempt may learn much and achieve new light upon a most difficult subject.

Các nhà chiêm tinh nên nghiên cứu các hệ hành tinh dưới ánh sáng của Đấng Thiên Nhân, xem chúng như một lần lâm phàm [Page 1192] của một Hành Tinh Thượng Đế, và nhờ vậy cố gắng lập lá số chiêm tinh của Hành Tinh Thượng Đế. Họ không thể thành công trong việc đó, nhưng trong nỗ lực ấy có thể học được nhiều điều và đạt được ánh sáng mới về một chủ đề hết sức khó khăn.

In considering this question of the adaptation of the form to vibration, or the construction of a vehicle which will be a fitting instrument for spirit, the following factors must be borne in mind:

Khi xem xét vấn đề này về sự thích ứng của hình tướng với rung động, hay việc kiến tạo một vận cụ sẽ là một công cụ thích hợp cho tinh thần, cần phải ghi nhớ các yếu tố sau đây:

1. That it is the quality of the indwelling life which decides the type of form.

1. Rằng chính phẩm tính của sự sống nội tại quyết định loại hình tướng.

2. That these qualities are the sumtotal of the attributes of divinity which the indwelling life has succeeded in unfolding.

2. Rằng các phẩm tính này là tổng số các thuộc tính của thiên tính mà sự sống nội tại đã thành công trong việc khai mở.

3. That these qualities—as may well be surmised—fall into the usual septennate.

3. Rằng các phẩm tính này—như có thể dễ dàng suy ra—cũng rơi vào bộ bảy thông thường.

4. That they fall also into two groups, those which concern the lower principles, and are, therefore, four in number, and those which concern the higher and middle and are, therefore, three.

4. Rằng chúng cũng rơi vào hai nhóm, những phẩm tính liên quan đến các nguyên khí thấp và vì vậy có số lượng là bốn, và những phẩm tính liên quan đến các nguyên khí cao hơn và trung gian, và vì vậy là ba.

This is true of all men, of the Heavenly Men and of the solar Logos likewise, and there is a mysterious analogy concerned in the manifestation of the three higher principles in man (which may be considered as demonstrating through the perfected Adept, the Bodhisattva) and the three higher principles of the solar Logos as they demonstrate through the major three aspects. They form but one principle showing forth in three ways. So it is with the unmanifested Monad (unmanifested from the standpoint of the lower man). That Monad can—at a certain very advanced stage in evolution, and one far beyond that of the Adept—have its triple simultaneous manifestation, and show forth as a Master in the three worlds, as a Bodhisattva on His own plane and as the emancipated Dhyani Buddha; yet these Three will be but One, will be [Page 1193] the result of a great spiritual vibration and will perform the triple work which may (from the standpoint of the three worlds) appear as the work of three separate great Existences. They are forms of three monadic “vestures,” worn by the one Monad as a man wears his three bodies simultaneously, and functions in them separately. (330)

Điều này đúng với mọi người, với các Đấng Thiên Nhân và cũng đúng với Thái dương Thượng đế; và có một sự tương đồng huyền bí liên quan đến sự biểu lộ của ba nguyên khí cao trong con người (có thể được xem là biểu hiện qua vị chân sư toàn thiện, Đức Bồ Tát) và ba nguyên khí cao của Thái dương Thượng đế khi chúng biểu lộ qua ba phương diện chính. Chúng chỉ tạo thành một nguyên khí biểu lộ theo ba cách. Cũng vậy đối với chân thần không biểu hiện (không biểu hiện theo quan điểm của phàm nhân). Chân thần ấy có thể—ở một giai đoạn tiến hoá rất cao nào đó, và vượt xa giai đoạn của chân sư—có sự biểu lộ tam phân đồng thời của mình, và biểu lộ như một Chân sư trong ba cõi giới, như một Đức Bồ Tát trên cõi riêng của Ngài và như một Dhyani Buddha đã được giải thoát; tuy nhiên Ba Đấng này chỉ là Một, sẽ là [Page 1193] kết quả của một rung động tinh thần vĩ đại và sẽ thực hiện công việc tam phân mà (theo quan điểm của ba cõi giới) có thể dường như là công việc của ba Thực Thể Vĩ Đại riêng biệt. Các Ngài là những hình tướng của ba “pháp y” chân thần, được một chân thần khoác lấy cũng như con người đồng thời mang ba thể của mình và hoạt động riêng biệt trong chúng. (330)

(330) The Three Vestures.—“The stream is crossed. ‘Tis true thou hast a right to Dharmakaya vesture; but Sambhogakaya is greater than a Nirvani, and greater still is a Nirmanakaya—the Buddha of Compassion.”—Voice of the Silence, p. 97.

(330) Ba Pháp Y.—“Dòng sông đã được vượt qua. Đúng vậy, ngươi có quyền đối với pháp y Dharmakaya; nhưng Sambhogakaya còn cao hơn một nirvani, và cao hơn nữa là một Nirmanakaya—Đức Phật của Lòng Từ Bi.”—Tiếng Nói của Im Lặng, tr. 97.

“The three Buddhic bodies or forms are styled: Nirmanakaya, Sambhogakaya, Dharmakaya.

“Ba thể hay ba hình tướng Bồ đề được gọi là: Nirmanakaya, Sambhogakaya, Dharmakaya.

The first is that ethereal form which one would assume when leaving his physical he would appear in his astral body—having in addition all the knowledge of an Adept. The Bodhisattva develops it in himself as he proceeds on the path. Having reached the goal and refused its fruition, he remains on earth, as an Adept; and when he dies, instead of going into Nirvana, he remains in that glorious body he has woven for himself, invisible to uninitiated mankind, to watch over and protect it.

Thứ nhất là hình tướng dĩ thái mà người ta sẽ đảm nhận khi rời bỏ thể xác; y sẽ xuất hiện trong thể cảm dục của mình—đồng thời có thêm toàn bộ tri thức của một chân sư. Đức Bồ Tát phát triển nó trong chính mình khi Ngài tiến bước trên đường đạo. Khi đã đạt đến mục tiêu và từ chối quả vị của nó, Ngài vẫn ở lại trên trần gian như một chân sư; và khi Ngài chết, thay vì đi vào Niết Bàn, Ngài vẫn ở lại trong thể huy hoàng mà Ngài đã tự dệt nên cho mình, vô hình đối với nhân loại chưa được điểm đạo, để canh chừng và bảo vệ họ.

Sambhogakaya is the same, but with the additional lustre of three perfections, one of which is entire obliteration of all earthly concerns.

Sambhogakaya cũng vậy, nhưng có thêm ánh huy hoàng của ba sự toàn thiện, một trong số đó là sự xoá bỏ hoàn toàn mọi mối bận tâm trần thế.

The Dharmakaya body is that of complete Buddha, i.e., no body at all, but an ideal breath; consciousness merged in the universal consciousness, or soul devoid of every attribute. Once a Dharmakaya, an Adept or Buddha leaves behind every possible relation with, or thought for, this earth. Thus to be enabled to help humanity, an Adept who has won the right to Nirvana, ‘renounces the Dharmakaya body’ in mystic parlance; keeps, of the Sambhogakaya, only the great and complete knowledge, and remains in his Nirmanakaya. The esoteric school teaches that Gautama Buddha, with several of his Arhats, is such a Nirmanakaya, higher than whom, on account of his great renunciation and sacrifice for mankind, there is none known.”—Voice of the Silence, p. 98. (back)

Thể Dharmakaya là thể của một vị Phật toàn vẹn, tức là không còn thể nào cả, mà là một hơi thở lý tưởng; tâm thức hòa nhập vào tâm thức vũ trụ, hay linh hồn không còn bất kỳ thuộc tính nào. Một khi đã là Dharmakaya, một chân sư hay một vị Phật bỏ lại phía sau mọi liên hệ khả hữu với, hay mọi ý nghĩ dành cho, trái đất này. Vì vậy, để có thể giúp đỡ nhân loại, một chân sư đã giành được quyền vào Niết Bàn “từ bỏ thể Dharmakaya” theo cách nói thần bí; chỉ giữ lại, từ Sambhogakaya, tri thức vĩ đại và trọn vẹn, và vẫn ở trong Nirmanakaya của mình. Trường phái huyền bí dạy rằng Đức Phật Gautama, cùng với vài vị A La Hán của Ngài, là một Nirmanakaya như thế; cao hơn Ngài, do sự từ bỏ và hi sinh lớn lao của Ngài cho nhân loại, thì không ai được biết đến.”—Tiếng Nói của Im Lặng, tr. 98. (trở lại)

One or other of these three can, if so He will, occupy a body on the physical plane which will not be simply a created mayavirupa. This is done in one of two ways: either through the occupancy of a willingly vacated body, as was the case when the Christ occupied the body of Jesus, or by a divine overshadowing of a disciple, as has been and will be the case. The quality of the form occupied or used, and the nature of its work depends upon which of the three higher aspects of the initiating impulse, is manifesting. Very rarely a more mysterious phenomenon occurs and the overshadowing Buddha, Bodhisattva, or Adept each makes His “appearance” [Page 1194] upon earth thus demonstrating the three aspects of knowledge, love and will and all taking form.

Một trong ba Đấng này, hoặc Đấng kia, nếu Ngài muốn, có thể chiếm ngụ một thể trên cõi hồng trần mà không chỉ đơn thuần là một mayavirupa được tạo ra. Điều này được thực hiện theo một trong hai cách: hoặc bằng cách chiếm ngụ một thể được tự nguyện bỏ trống, như trường hợp Đức Christ chiếm ngụ thể của Đức Jesus, hoặc bằng sự phủ bóng thiêng liêng lên một đệ tử, như đã từng và sẽ còn xảy ra. Phẩm tính của hình tướng được chiếm ngụ hay sử dụng, và bản chất công việc của nó, tùy thuộc vào việc ba phương diện cao nào của xung lực điểm đạo đang biểu lộ. Rất hiếm khi xảy ra một hiện tượng còn huyền bí hơn, và Đức Phật phủ bóng, Đức Bồ Tát, hay chân sư, mỗi Đấng đều tạo nên “sắc tướng” của Ngài [Page 1194] trên trái đất, nhờ đó biểu lộ ba phương diện tri thức, bác ái và ý chí, và tất cả đều mang hình tướng.

This may seem to be a great complexity, but it is not so much stranger after all than the phenomenon of the Monad (in time and space and during evolution) demonstrating forth as the Triad, the Ego and the Personality. This type of triple Avatar only makes its appearance under a peculiar series of cycles concerned with a group of Monads who were the most progressed and advanced at the opening of the mahamanvantara. As yet, there are not many progressed enough to do this triple work; the Buddha and nine others being the only Ones as yet remaining in touch with our particular planet in this particular manner. A few are as Christ is, and have the power to make a dual appearance. This type of monad is only found on Rays two, four, six.

Điều này có vẻ là một sự phức tạp lớn, nhưng rốt cuộc cũng không lạ lùng hơn bao nhiêu so với hiện tượng chân thần (trong thời gian và không gian, và trong tiến hoá) biểu lộ thành Tam nguyên tinh thần, chân ngã và phàm ngã. Loại Đấng Hoá Thân tam phân này chỉ xuất hiện dưới một chuỗi chu kỳ đặc biệt liên quan đến một nhóm chân thần vốn là những Đấng tiến hoá và phát triển nhất vào lúc mở đầu Đại giai kỳ sinh hóa. Hiện nay, chưa có nhiều Đấng đủ tiến bộ để làm công việc tam phân này; Đức Phật và chín Đấng khác là những Đấng duy nhất cho đến nay vẫn còn liên hệ với hành tinh đặc thù của chúng ta theo cách đặc thù này. Một số ít thì như Đức Christ, và có quyền năng tạo nên sự xuất hiện nhị phân. Loại chân thần này chỉ được tìm thấy trên các cung hai, bốn, sáu.