Trích nội dung chương
Second. The four Lipikas of the second group, referred to by H. P. B. as occupied in applying future karma, and wielding the future destiny of the races. The work of the first group of four cosmic Lipika Lords is occult and is only revealed somewhat at the fourth Initiation (and even then but slightly) so it will not be touched upon here. Thứ hai. Bốn Lipika của nhóm thứ hai, được H. P. B. nhắc đến như đang bận rộn áp dụng nghiệp quả tương lai, và nắm giữ vận mệnh tương lai của các nhân loại. Công việc của nhóm thứ nhất gồm bốn Đấng Lipika vũ trụ là huyền bí và chỉ được tiết lộ phần nào ở lần điểm đạo thứ tư (và ngay cả khi đó cũng chỉ rất…
Second. The four Lipikas of the second group, referred to by H. P. B. as occupied in applying future karma, and wielding the future destiny of the races. The work of the first group of four cosmic Lipika Lords is occult and is only revealed somewhat at the fourth Initiation (and even then but slightly) so it will not be touched upon here.
Thứ hai. Bốn Lipika của nhóm thứ hai, được H. P. B. nhắc đến như đang bận rộn áp dụng nghiệp quả tương lai, và nắm giữ vận mệnh tương lai của các nhân loại. Công việc của nhóm thứ nhất gồm bốn Đấng Lipika vũ trụ là huyền bí và chỉ được tiết lộ phần nào ở lần điểm đạo thứ tư (và ngay cả khi đó cũng chỉ rất ít) nên sẽ không được đề cập ở đây.
Third. The fourth Creative Hierarchy of human Monads, held by a fourfold karmic law under the guidance of the Lipikas.
Thứ ba. Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư của các chân thần nhân loại, bị giữ dưới một định luật nghiệp quả tứ phân dưới sự hướng dẫn của các Lipika.
Fourth. The four planetary Logoi (50) of Harmony, Knowledge, Abstract Thought and Ceremonial, who [Page 113] are in Their totality the Quaternary of Manas while in process of evolution, and who pass under Their influence all the sons of men.
Thứ tư. Bốn Hành Tinh Thượng Đế (50) của Hài Hòa, Tri Thức, Tư Tưởng Trừu Tượng và Nghi Lễ, là những Đấng mà [Page 113] trong tổng thể của Các Ngài là Bộ Tứ của Manas trong tiến trình tiến hoá, và là những Đấng đưa tất cả những người con của nhân loại đi qua dưới ảnh hưởng của Các Ngài.
(50) The four rays of mind are the four minor rays which form the logoic Quaternary and which are synthesised eventually into a fifth ray, the third major ray of active intelligence, or adaptability. The names of the rays are as follows:
(50) Bốn cung của trí tuệ là bốn cung phụ tạo thành Bộ Tứ logoi và cuối cùng được tổng hợp thành một cung thứ năm, cung chính thứ ba của trí tuệ linh hoạt, hay khả năng thích ứng. Tên các cung như sau:
The three major rays:
Ba cung chính:
1. The Ray of Will or Power.
1. Cung Ý Chí hay Quyền Năng.
2. The Ray of Love or Wisdom.
2. Cung Bác Ái hay Minh Triết.
3. The Ray of Active Intelligence.
3. Cung Trí Tuệ Linh Hoạt.
The four minor Rays:
Bốn cung phụ:
4. The Ray of Beauty, Harmony, Art or Rhythm.
4. Cung Mỹ Lệ, Hài Hòa, Nghệ Thuật hay Nhịp Điệu.
5. The Ray of Concrete Knowledge or Science.
5. Cung Tri Thức Cụ Thể hay Khoa Học.
6. The Ray of Abstract Idealism.
6. Cung Lý Tưởng Trừu Tượng.
7. The Ray of Ceremonial Order or Organisation. (back)
7. Cung Trật Tự hay Tổ Chức Nghi Lễ. (back)
Fifth. The Deva Lords of the four planes of Buddhi, or the plane of spiritual Intuition, Manas, or the mental plane, Desire, and the Physical, who are likewise allied to the human evolution in a closer sense than the higher three.
Thứ năm. Các Chúa Tể thiên thần của bốn cõi Bồ đề, hay cõi Trực giác tinh thần, Manas, hay cõi trí, Dục vọng, và cõi Hồng trần, cũng liên hệ với tiến hoá nhân loại theo một ý nghĩa mật thiết hơn so với ba cõi cao hơn.
A further interesting correspondence is found in the following facts that are even now in process of development:
Một sự tương ứng thú vị nữa được tìm thấy trong các sự kiện sau đây hiện nay vẫn đang trong tiến trình phát triển:
The fourth plane of Buddhi is the one on which the planetary Logoi begin to make Their escape from Their planetary ring-pass-not, or from the etheric web that has its counterpart on all the planes.
Cõi thứ tư, cõi Bồ đề, là cõi trên đó các Hành Tinh Thượng Đế bắt đầu thoát ra khỏi vòng-giới-hạn hành tinh của Các Ngài, hay khỏi mạng dĩ thái có đối phần của nó trên mọi cõi.
When man begins in a small sense to co-ordinate the buddhic vehicle or, to express it otherwise, when he has developed the power to contact ever so slightly the buddhic plane, then he begins simultaneously and consciously to achieve the ability to escape from the etheric web on the physical plane. Later he escapes from its correspondence on the astral plane, and finally from the correspondence on the fourth subplane of the mental plane this time via the mental unit. This leads eventually to causal functioning, or to the ability to dand to be active in, the vehicle of the Ego, who is the embodiment of the love and wisdom aspect of the Monad. Note here the correspondence to that proved fact, that many can even now escape from the etheric body, and function in their [Page 114] astral sheath, which is the personality reflection of that same second aspect.
Khi con người bắt đầu, theo một nghĩa nhỏ, phối hợp vận cụ Bồ đề hay, nói cách khác, khi y đã phát triển năng lực tiếp xúc dù chỉ rất nhẹ với cõi Bồ đề, thì y đồng thời và một cách hữu thức bắt đầu đạt được khả năng thoát ra khỏi mạng dĩ thái trên cõi hồng trần. Về sau y thoát khỏi đối phần của nó trên cõi cảm dục, và cuối cùng khỏi đối phần trên cõi phụ thứ tư của cõi trí, lần này qua đơn vị hạ trí. Điều này cuối cùng dẫn đến hoạt động nguyên nhân, hay đến khả năng dand và hoạt động trong vận cụ của chân ngã, là hiện thân của phương diện bác ái và minh triết của chân thần. Hãy lưu ý ở đây sự tương ứng với sự kiện đã được chứng minh rằng ngay cả hiện nay nhiều người có thể thoát ra khỏi thể dĩ thái và hoạt động trong [Page 114] thể cảm dục của họ, vốn là phản ánh phàm ngã của cùng phương diện thứ hai đó.
When a man takes the fourth Initiation, he functions in the fourth plane vehicle, the buddhic, and has escaped permanently from the personality ring-pass-not, on the fourth subplane of the mental. There is naught to hold him to the three worlds. At the first Initiation he escapes from the ring-pass-not in a more temporary sense, but he has yet to escape from the three higher mental levels, which are the mental correspondences to the higher ethers, and to develop full consciousness on these three higher subplanes. We have here a correspondence to the work to be done by the initiate after he has achieved the fourth solar plane, the buddhic. There yet remains the development of full consciousness on the three higher planes of spirit before he can escape from the solar ring-pass-not, which is achieved at the seventh Initiation, taken somewhere in the system, or in its cosmic correspondence reached by the cosmic sutratma, or cosmic thread of life. (51)
Khi một người trải qua lần điểm đạo thứ tư, y hoạt động trong vận cụ cõi thứ tư, tức vận cụ Bồ đề, và đã vĩnh viễn thoát khỏi vòng-giới-hạn phàm ngã trên cõi phụ thứ tư của cõi trí. Không còn gì giữ y lại với ba cõi thấp. Ở lần điểm đạo thứ nhất, y thoát khỏi vòng-giới-hạn theo một nghĩa tạm thời hơn, nhưng y vẫn còn phải thoát khỏi ba cấp độ trí tuệ cao hơn, là những tương ứng trí tuệ với các dĩ thái cao hơn, và phát triển tâm thức đầy đủ trên ba cõi phụ cao hơn này. Ở đây chúng ta có một sự tương ứng với công việc mà điểm đạo đồ phải làm sau khi đã đạt đến cõi thái dương thứ tư, cõi Bồ đề. Vẫn còn sự phát triển tâm thức đầy đủ trên ba cõi cao hơn của tinh thần trước khi y có thể thoát khỏi vòng-giới-hạn thái dương, điều này đạt được ở lần điểm đạo thứ bảy, được thực hiện ở một nơi nào đó trong hệ thống, hay trong sự tương ứng vũ trụ của nó do sutratma vũ trụ, hay sợi dây sự sống vũ trụ, đạt tới. (51)
(51) Sutratma. The “silver thread” which incarnates from the beginning of a period of manifestation until the end, stringing upon itself the pearls of human existence. It is the line of energy which connects the lower personal man with his Father in Heaven via the ego, the mediating middle principle. Upon it are found those focal points of energy we call the permanent atoms. (back)
(51) Sutratma. “Sợi chỉ bạc” nhập thể từ đầu một thời kỳ biểu hiện cho đến cuối thời kỳ ấy, xâu trên chính nó những hạt ngọc của sự tồn tại nhân loại. Nó là đường năng lượng nối kết con người phàm ngã thấp với Cha của y trên Thiên Đàng qua chân ngã, nguyên khí trung gian ở giữa. Trên đó có những điểm hội tụ năng lượng mà chúng ta gọi là các nguyên tử trường tồn. (back)
This fourth earth chain is in this connection one of the most important, for it is the appointed place for the domination of the etheric body by the human monad, with the aim in view of both human and planetary escape from limitations. This earth chain, though not one of the seven sacred planetary chains, is of vital importance at this time to the planetary Logos, who temporarily employs it as a medium of incarnation, and of expression. This fourth round finds the solution of its strenuous and chaotic life in the very simple fact of the shattering of [Page 115] the etheric web in order to effect liberation, and permit a later and more adequate form to be employed.
Dãy địa cầu thứ tư này, trong mối liên hệ này, là một trong những dãy quan trọng nhất, vì đó là nơi đã được chỉ định cho sự thống ngự của thể dĩ thái bởi chân thần nhân loại, nhằm mục đích giúp cả nhân loại lẫn hành tinh thoát khỏi các giới hạn. Dãy địa cầu này, tuy không phải là một trong bảy dãy hành tinh thiêng liêng, nhưng hiện nay có tầm quan trọng thiết yếu đối với Hành Tinh Thượng Đế, Đấng tạm thời sử dụng nó như một trung gian lâm phàm và biểu lộ. Cuộc tuần hoàn thứ tư này tìm thấy giải pháp cho đời sống căng thẳng và hỗn loạn của nó trong sự kiện rất đơn giản là làm tan vỡ [Page 115] mạng lưới dĩ thái để thực hiện sự giải thoát, và cho phép về sau sử dụng một hình tướng thích đáng hơn.
A further chain of ideas may be followed up in the remembrance that the fourth ether is even now being studied and developed by the average scientist, and is already somewhat harnessed to the service of man; that the fourth subplane of the astral plane is the normal functioning ground of the average man and that in this round escape from the etheric vehicle is being achieved; that the fourth subplane of the mental plane is the present goal of endeavor of one-fourth of the human family; that the fourth manvantara will see the solar ring-pass-not offering avenues of escape to those who have reached the necessary point; that the four planetary Logoi will perfect Their escape from Their planetary environment, and will function with greater ease on the cosmic astral plane, paralleling on cosmic levels the achievement of the human units who are the cells in Their bodies.
Một chuỗi ý tưởng khác nữa có thể được theo đuổi nếu nhớ rằng dĩ thái thứ tư ngay lúc này đang được nhà khoa học trung bình nghiên cứu và phát triển, và đã phần nào được chế ngự để phụng sự con người; rằng cõi phụ thứ tư của cõi cảm dục là nền hoạt động bình thường của con người trung bình và rằng trong cuộc tuần hoàn này, sự thoát khỏi vận cụ dĩ thái đang được thành tựu; rằng cõi phụ thứ tư của cõi trí là mục tiêu nỗ lực hiện nay của một phần tư gia đình nhân loại; rằng giai kỳ sinh hóa thứ tư sẽ chứng kiến vòng-giới-hạn thái dương mở ra những lối thoát cho những ai đã đạt đến điểm cần thiết; rằng bốn Hành Tinh Thượng Đế sẽ hoàn thiện sự thoát ly của Các Ngài khỏi môi trường hành tinh của Các Ngài, và sẽ hoạt động dễ dàng hơn trên cõi cảm dục vũ trụ, song hành trên các cấp độ vũ trụ với thành tựu của các đơn vị nhân loại là những tế bào trong các thân thể của Các Ngài.
Our solar Logos, being a Logos of the fourth order, will begin to co-ordinate His cosmic buddhic body, and as He develops cosmic mind He will gradually achieve, by the aid of that mind, the ability to touch the cosmic buddhic plane.
Thái dương Thượng đế của chúng ta, là một Thượng đế thuộc đẳng cấp thứ tư, sẽ bắt đầu phối hợp thể Bồ đề vũ trụ của Ngài, và khi Ngài phát triển trí tuệ vũ trụ, Ngài sẽ dần dần đạt được, nhờ sự trợ giúp của trí tuệ ấy, khả năng chạm đến cõi Bồ đề vũ trụ.
These possibilities and correspondences have been somewhat dwelt upon, as it is necessary for us to realise the work to be done in connection with the etheric web before we take up the matter of the various causes which may hinder the desired progress, and prevent the appointed escape and destined liberation. Later we will take up the consideration of the etheric web, and its static condition. This will entail the recollection of two things:
Những khả năng và những tương ứng này đã được bàn đến phần nào, vì chúng ta cần phải chứng nghiệm công việc phải được thực hiện liên quan đến mạng lưới dĩ thái trước khi xét đến vấn đề các nguyên nhân khác nhau có thể cản trở sự tiến bộ mong muốn, và ngăn trở sự thoát ra đã được chỉ định cùng sự giải thoát đã được định sẵn. Về sau chúng ta sẽ xem xét mạng lưới dĩ thái và trạng thái tĩnh của nó. Điều này đòi hỏi phải ghi nhớ hai điều:
First, that this static condition is only so when viewed from the standpoint of man at the present time, and is [Page 116] only termed so in order to make plainer the changes that must be effected and the dangers that must be offset. Evolution moves so slowly from man’s point of view that it seems to be almost stationary, especially where etheric evolution is concerned.
Thứ nhất, trạng thái tĩnh này chỉ là như vậy khi được nhìn từ quan điểm của con người ở thời điểm hiện tại, và chỉ được gọi như thế để [Page 116] làm rõ hơn những thay đổi phải được thực hiện và những nguy hiểm phải được hóa giải. Từ quan điểm của con người, tiến hoá vận động chậm đến nỗi dường như gần như đứng yên, đặc biệt là khi liên quan đến tiến hoá dĩ thái.
Second, that we are only concerning ourselves with the physical etheric body and not with its correspondences on all planes. This is because our system is on the cosmic etheric levels, and hence is of prime importance to us.
Thứ hai, chúng ta chỉ đang đề cập đến thể dĩ thái hồng trần chứ không phải các tương ứng của nó trên mọi cõi. Điều này là vì hệ thống của chúng ta ở trên các cấp độ dĩ thái vũ trụ, và do đó có tầm quan trọng hàng đầu đối với chúng ta.
2. Cosmic and Systemic Ethers
2. Các Dĩ Thái Vũ Trụ và Hệ Thống
For the sake of those who read this treatise, and because the sequential repetition of fact makes for clarity, let us here briefly tabulate certain fundamental hypotheses that have a definite bearing upon the matter in hand, and which may serve to clear up the present existing confusion concerning the matter of the solar system. Some of the facts stated are already well known, others are inferential, while some are the expression of old and true correspondences couched in a more modern form.
Vì lợi ích của những người đọc bộ luận này, và bởi vì sự lặp lại tuần tự của sự kiện tạo nên tính sáng tỏ, ở đây chúng ta hãy tóm lược ngắn gọn dưới dạng bảng một số giả thuyết nền tảng có liên hệ xác định đến vấn đề đang bàn, và có thể giúp làm sáng tỏ sự lẫn lộn hiện đang tồn tại liên quan đến vấn đề hệ mặt trời. Một số sự kiện được nêu ra đã được biết rõ, một số khác là suy luận, trong khi một số là sự biểu đạt của những tương ứng cổ xưa và chân thực được trình bày dưới một hình thức hiện đại hơn.
a. The lowest cosmic plane is the cosmic physical, and it is the only one which the finite mind of man can in any way comprehend.
a. Cõi vũ trụ thấp nhất là cõi hồng trần vũ trụ, và đó là cõi duy nhất mà trí tuệ hữu hạn của con người có thể hiểu được phần nào.
b. This cosmic physical plane exists in matter differentiated into seven qualities, groups, grades, or vibrations.
b. Cõi hồng trần vũ trụ này tồn tại trong vật chất được biến phân thành bảy phẩm tính, nhóm, cấp độ, hay rung động.
c. These seven differentiations are the seven major planes of our solar system.
c. Bảy sự biến phân này là bảy cõi chính của hệ mặt trời chúng ta.
For purposes of clarity, we might here tabulate under the headings physical, systemic, and cosmic, so that the relationship and the correspondences may be apparent, and the connection to that which is above, and to that which is below, or included, may be plainly seen. [Page 117]
Để làm sáng tỏ, ở đây chúng ta có thể lập bảng dưới các tiêu đề hồng trần, hệ thống và vũ trụ, để mối liên hệ và các tương ứng được hiển lộ, và mối nối kết với điều ở trên, và với điều ở dưới, hay được bao gồm, có thể được thấy rõ ràng. [Page 117]
CHART III
BIỂU ĐỒ III
[picture]
[picture]
THE PLANES [Page 118]
CÁC CÕI [Page 118]
Physical Plane
Systemic Planes
Cosmic Planes
1.
Atomic plane
Divine. Adi.
Atomic plane
1st ether
Primordial matter
1st ether
2.
Sub-atomic
Monadic. Anupadaka The Akasha
Sub-atomic 2nd ether
3.
Super-etheric
Spiritual. Atmic Ether
3rd ether
Plane of Union or At-one-ment
Plane of Union or At-one-ment
4.
Etheric
Intuitional. Buddhic Air
4th Cosmic ether
The Lower Three Worlds
The Lower Three Worlds
5.
Gaseous
Mental. Fire
Gaseous Sub-etheric
6.
Liquid
Astral. Emotional
Liquid
7.
Dense physical
Physical plane
Dense physical
d. These major seven planes of our solar system being but the seven subplanes of the cosmic physical plane, we can consequently see the reason for the emphasis laid by H. P. B. (S. D., I, 136, 354; I, 87, 136, 731, 732. See also note page 8.) upon the fact that matter and ether are synonymous terms and that this ether is found in some form or other on all the planes, and is but a gradation of cosmic atomic matter, called when undifferentiated mulaprakriti or primordial pre-genetic substance, and when differentiated by Fohat (or the energising Life, the third Logos or Brahma) it is termed prakriti, or matter. (54)
d. Vì bảy cõi chính này của hệ mặt trời chúng ta chỉ là bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ, nên do đó chúng ta có thể thấy lý do của sự nhấn mạnh mà H. P. B. đặt (S. D., I, 136, 354; I, 87, 136, 731, 732. Xem thêm chú thích trang 8.) vào sự kiện rằng vật chất và dĩ thái là những thuật ngữ đồng nghĩa và rằng dĩ thái này được tìm thấy dưới hình thức này hay hình thức khác trên mọi cõi, và chỉ là một sự phân cấp của vật chất nguyên tử vũ trụ, được gọi khi chưa biến phân là mulaprakriti hay chất liệu nguyên sơ tiền sinh thành, và khi được Fohat (hay Sự sống tiếp sinh lực, Thượng đế thứ ba hay Brahma) biến phân thì được gọi là prakriti, hay vật chất. (54)
(54) Mulaprakriti. The Parabrahmic root, the abstract deific feminine principle—undifferentiated substance. Akasa. Literally, “the root of Nature” (Prakriti), or matter. (back)
(54) Mulaprakriti. Căn nguyên Parabrahmic, nguyên lý nữ tính thần thánh trừu tượng—chất liệu chưa biến phân. Akasa. Theo nghĩa đen là “căn nguyên của Bản Chất” (Prakriti), hay vật chất. (back)
e. Our solar system is what is called a system of the fourth order; that is, it has its location on the fourth cosmic etheric plane, counting, as always, from above downwards.[Page 119]
e. Hệ mặt trời của chúng ta là cái được gọi là một hệ thống thuộc đẳng cấp thứ tư; nghĩa là, nó có vị trí trên cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư, luôn luôn tính từ trên xuống dưới.[Page 119]
f. Hence this fourth cosmic etheric plane forms the meeting ground for the past and the future, and is the present.
f. Do đó cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư này tạo thành nơi gặp gỡ của quá khứ và tương lai, và là hiện tại.
g. Therefore, also, the buddhic or intuitional plane (the correspondence in the system of this fourth cosmic ether) is the meeting ground, or plane of union, for that which is man and for that which will be superman, and links the past with that which is to be.
g. Vì vậy, cõi Bồ đề hay trực giác (tương ứng trong hệ thống của dĩ thái vũ trụ thứ tư này) cũng là nơi gặp gỡ, hay cõi hợp nhất, của điều là con người và điều sẽ là siêu nhân, và nối kết quá khứ với điều sẽ đến.
h. The following correspondences in time would repay careful meditation. They are based on a realisation of the relationship between this fourth cosmic ether, the buddhic plane, and the fourth physical etheric subplane.
h. Những tương ứng sau đây trong thời gian rất đáng để tham thiền cẩn trọng. Chúng dựa trên sự chứng nghiệm về mối liên hệ giữa dĩ thái vũ trụ thứ tư này, cõi Bồ đề, và cõi phụ dĩ thái hồng trần thứ tư.
The fourth subplane of mind, the correspondence on the mental plane of the physical etheric, is likewise a point of transition from out of a lower into a higher, and is the transferring locality into a higher body.
Cõi phụ thứ tư của cõi trí, là tương ứng trên cõi trí của dĩ thái hồng trần, cũng là một điểm chuyển tiếp từ thấp lên cao, và là nơi chuyển dịch vào một thể cao hơn.
The fourth subplane of the monadic plane is in a very real sense the place of transition from off the egoic ray (whichever that ray may be) on to the monadic ray; these three major rays are organised on the three higher subplanes of the monadic plane in the same way that the three abstract subplanes of the mental are the group of transference from off the personality ray on to the egoic.
Cõi phụ thứ tư của cõi chân thần, theo một ý nghĩa rất thực, là nơi chuyển tiếp từ cung chân ngã (dù đó là cung nào) sang cung chân thần; ba cung chính này được tổ chức trên ba cõi phụ cao của cõi chân thần theo cùng cách mà ba cõi phụ trừu tượng của cõi trí là nhóm chuyển dịch từ cung phàm ngã sang cung chân ngã.
The four lesser rays blend with the third major ray of active intelligence on the mental plane and on the atmic plane. The four Logoi or planetary Spirits work as one, on the atmic plane.
Bốn cung nhỏ hòa nhập với cung chính thứ ba của trí tuệ linh hoạt trên cõi trí và trên cõi atma. Bốn Thượng đế hay các Tinh thần Hành tinh hoạt động như một trên cõi atma.
i. Another synthesis takes place on the synthetic second ray on the second subplane of the buddhic plane and the monadic plane, while the comparatively few Monads of will or power are synthesised on the atomic subplane of the atmic. All three groups of Monads work in triple form on the mental plane under the Mahachohan, the Manu, and the Bodhisattva, or the Christ; on the second or monadic plane they work as a unit, only demonstrating [Page 120] their dual work on the atmic plane, and their essential triplicity on the buddhic plane. (55)
i. Một sự tổng hợp khác diễn ra trên cung hai tổng hợp ở cõi phụ thứ hai của cõi Bồ đề và cõi chân thần, trong khi số tương đối ít các chân thần ý chí hay quyền năng được tổng hợp trên cõi phụ nguyên tử của cõi atma. Cả ba nhóm chân thần đều hoạt động dưới hình thức tam phân trên cõi trí dưới quyền Đức Mahachohan, Đức Manu, và Đức Bồ Tát, hay Đức Christ; trên cõi thứ hai hay cõi chân thần, các Ngài hoạt động như một đơn vị, chỉ biểu lộ [Page 120] công việc nhị phân của các Ngài trên cõi atma, và tính tam phân cốt yếu của các Ngài trên cõi Bồ đề. (55)
(55) The monads of the fourth Creative Hierarchy, the human Monads, exist in three main groups:
(55) Các chân thần của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, các chân thần nhân loại, tồn tại trong ba nhóm chính:
a. The Monads of Will.
a. Các Chân thần Ý chí.
b. The Monads of Love.
b. Các Chân thần Bác ái.
c. The Monads of Activity.
c. Các Chân thần Hoạt động.
Mahachohan. The officer in our planetary Hierarchy who presides over the activities carried on in the four minor rays and their synthesising third ray. He has to do with civilisation, with the intellectual culture of the races, and with intelligent energy. He is the head of all the Adepts.
Đức Mahachohan. Vị chức sắc trong Thánh đoàn hành tinh của chúng ta chủ trì các hoạt động được tiến hành trong bốn cung phụ và cung thứ ba tổng hợp của chúng. Ngài liên quan đến nền văn minh, đến văn hóa trí tuệ của các giống dân, và đến năng lượng thông tuệ. Ngài là thủ lĩnh của mọi chân sư.
Bodhisattva. The exponent of second ray force, the Teacher of the Adepts of men and of Angels. This office was originally held by the Buddha, but His place was taken (after His Illumination) by the Christ. The work of the Bodhisattva is with the religions of the world, and with the spiritual Essence in Man.
Đức Bồ Tát. Đấng biểu hiện mãnh lực cung hai, Huấn sư của các chân sư của loài người và của các Thiên Thần. Chức vụ này nguyên thủy do Đức Phật nắm giữ, nhưng vị trí của Ngài đã được Đức Christ đảm nhận (sau sự Soi Sáng của Ngài). Công việc của Đức Bồ Tát liên quan đến các tôn giáo của thế giới, và đến Tinh chất tinh thần trong Con Người.
The Manu. The One Who presides over the evolution of the races. He is the ideal man. He has to work with the forms through which Spirit is to manifest; he destroys, and builds up again. These three Individuals preside over the three Departments into which the Hierarchy is divided, and therefore represent in their particular sphere the three Aspects of divine manifestation. (back)
Đức Manu. Đấng chủ trì sự tiến hoá của các giống dân. Ngài là con người lý tưởng. Ngài phải làm việc với các hình tướng qua đó Tinh thần sẽ biểu lộ; Ngài hủy diệt, rồi xây dựng lại. Ba Cá Nhân này chủ trì ba Ban mà Thánh đoàn được phân chia thành, và do đó đại diện trong phạm vi riêng của các Ngài cho ba Phương diện của sự biểu lộ thiêng liêng. (back)
The fourth etheric plane holds the key to the dominance of matter, and it might be noted that:
Cõi dĩ thái thứ tư nắm giữ chìa khóa của sự thống ngự vật chất, và cần lưu ý rằng:
On the fourth physical ether man begins to co-ordinate his astral, or emotional body, and to escape at ever more frequent intervals into that vehicle. Continuity of consciousness is achieved when a man has mastered the four ethers.
Trên dĩ thái hồng trần thứ tư, con người bắt đầu phối hợp thể cảm dục, hay thể cảm xúc, của mình, và ngày càng thường xuyên thoát vào vận cụ đó. Sự liên tục của tâm thức đạt được khi con người đã làm chủ bốn dĩ thái.
On the fourth subplane of the mental plane, man begins to control his causal or egoic body, and to polarise his consciousness therein until the polarisation is complete. He functions then consciously on it when he has mastered the correspondences to the ethers on the mental plane.
Trên cõi phụ thứ tư của cõi trí, con người bắt đầu kiểm soát thể nguyên nhân hay thể chân ngã của mình, và phân cực tâm thức của mình trong đó cho đến khi sự phân cực hoàn tất. Khi đã làm chủ các tương ứng với các dĩ thái trên cõi trí, lúc ấy y hoạt động hữu thức trên đó.
On the buddhic plane (the fourth cosmic ether) the Heavenly Men (or the grouped consciousness of the human and deva Monads) begin to function, and to escape eventually from the cosmic etheric planes. When these three cosmic ethers are mastered, the functioning is perfected, polarisation is centred in the monadic vehicles, and the seven Heavenly Men have achieved Their goal.
Trên cõi Bồ đề (dĩ thái vũ trụ thứ tư), các Đấng Thiên Nhân (hay tâm thức nhóm của các chân thần nhân loại và thiên thần) bắt đầu hoạt động, và cuối cùng thoát khỏi các cõi dĩ thái vũ trụ. Khi ba dĩ thái vũ trụ này được làm chủ, sự hoạt động được hoàn thiện, sự phân cực được định tâm trong các vận cụ chân thần, và bảy Đấng Thiên Nhân đã đạt được mục tiêu của Các Ngài.
j. On these etheric levels, therefore, the Logos of our [Page 121] system repeats, as a grand totality, the experiences of His tiny reflections on the physical planes; He co-ordinates His cosmic astral body, and attains continuity of consciousness when He has mastered the three cosmic ethers.
j. Do đó, trên các cấp độ dĩ thái này, Thượng đế của hệ thống [Page 121] chúng ta lặp lại, như một toàn thể vĩ đại, những kinh nghiệm của các phản ánh nhỏ bé của Ngài trên các cõi hồng trần; Ngài phối hợp thể cảm dục vũ trụ của Ngài, và đạt được sự liên tục của tâm thức khi Ngài đã làm chủ ba dĩ thái vũ trụ.
k. It is to be observed that just as in man the dense physical body in its three grades—dense, liquid and gaseous—is not recognised as a principle, so in the cosmic sense the physical (dense) astral (liquid) and mental (gaseous) levels are likewise regarded as non-existing, and the solar system has its location on the fourth ether. The seven sacred planets are composed of matter of this fourth ether, and the seven Heavenly Men, whose bodies they are, function normally on the fourth plane of the system, the buddhic or the fourth cosmic ether. When man has attained the consciousness of the buddhic plane, he has raised his consciousness to that of the Heavenly Man in whose body he is a cell. This is achieved at the fourth Initiation, the liberating initiation. At the fifth Initiation he ascends with the Heavenly Man on to the fifth plane (from the human standpoint), the atmic, and at the sixth he has dominated the second cosmic ether and has monadic consciousness and continuity of function. At the seventh Initiation he dominates the entire sphere of matter contained in the lowest cosmic plane, escapes from all etheric contact, and functions on the cosmic astral plane.
k. Cần lưu ý rằng cũng như nơi con người, thể xác hồng trần đậm đặc trong ba cấp độ của nó—đậm đặc, lỏng và khí—không được thừa nhận là một nguyên khí, thì theo nghĩa vũ trụ, các cấp độ hồng trần (đậm đặc), cảm dục (lỏng) và trí tuệ (khí) cũng được xem như không tồn tại, và hệ mặt trời có vị trí của nó trên dĩ thái thứ tư. Bảy hành tinh thiêng liêng được cấu thành bằng vật chất của dĩ thái thứ tư này, và bảy Đấng Thiên Nhân, mà các hành tinh ấy là các thân thể của Các Ngài, hoạt động bình thường trên cõi thứ tư của hệ thống, cõi Bồ đề hay dĩ thái vũ trụ thứ tư. Khi con người đạt đến tâm thức của cõi Bồ đề, y đã nâng tâm thức của mình lên đến tâm thức của Đấng Thiên Nhân mà trong thân thể của Ngài y là một tế bào. Điều này đạt được ở lần điểm đạo thứ tư, cuộc điểm đạo giải thoát. Ở lần điểm đạo thứ năm, y thăng lên cùng với Đấng Thiên Nhân đến cõi thứ năm (theo quan điểm nhân loại), cõi atma, và ở lần thứ sáu, y đã thống ngự dĩ thái vũ trụ thứ hai và có tâm thức chân thần cùng sự liên tục của chức năng. Ở lần điểm đạo thứ bảy, y thống ngự toàn bộ khối cầu vật chất chứa trong cõi vũ trụ thấp nhất, thoát khỏi mọi tiếp xúc dĩ thái, và hoạt động trên cõi cảm dục vũ trụ.
The past solar system saw the surmounting of the three lowest cosmic physical planes viewed from the matter standpoint and the co-ordination of the dense threefold physical form in which all life is found, dense matter, liquid matter, gaseous matter. A correspondence may be seen here in the work achieved in the first three rootraces.(56, 57)
Hệ mặt trời quá khứ đã chứng kiến sự vượt qua ba cõi hồng trần vũ trụ thấp nhất xét từ quan điểm vật chất và sự phối hợp hình tướng hồng trần tam phân đậm đặc trong đó mọi sự sống được tìm thấy: vật chất đậm đặc, vật chất lỏng, vật chất khí. Ở đây có thể thấy một tương ứng trong công việc được hoàn thành trong ba giống dân gốc đầu tiên.giống dân gốc.(56, 57)
(56) Rootrace. The Secret Doctrine teaches us that in this evolution or Round on this planet the Jivatma—the human soul—passes through seven main types or “rootraces.” In the case of the two earliest of these, known as the “Adamic” and the “Hyperborean,” the forms ensouled were astral and etheric respectively: “huge and indefinite” they were with a low state or outward-going consciousness exercised through the one sense (hearing) possessed by the first race, or through the two senses (hearing and touch) possessed by the second. But with the third race the Lemurian, a denser and more human type was evolved, this being perfected in the fourth or Atlantean race. The fifth race, the Aryan, is now running its course on this globe concurrently with a large part of the fourth race and a few remnants of the third. For it must be noted that, although each race gives birth to the succeeding race, the two will overlap in time, coexisting for many ages. Of existing peoples the Tartars, Chinese and Mongolians belong to the fourth race, the Australian aborigines and Hottentots to the third. (back)
(56) Giống dân gốc. Giáo Lý Bí Nhiệm dạy chúng ta rằng trong cuộc tiến hoá này hay Cuộc tuần hoàn này trên hành tinh này, Jivatma—linh hồn nhân loại—đi qua bảy loại chính hay “giống dân gốc.” Trong trường hợp của hai loại sớm nhất này, được biết đến như “Adamic” và “Hyperborean,” các hình tướng được phú linh lần lượt là cảm dục và dĩ thái: chúng “khổng lồ và không xác định” với một trạng thái tâm thức thấp hay hướng ngoại được vận dụng qua một giác quan (thính giác) mà giống dân thứ nhất sở hữu, hoặc qua hai giác quan (thính giác và xúc giác) mà giống dân thứ hai sở hữu. Nhưng với giống dân thứ ba là Lemuria, một loại đậm đặc hơn và nhân loại hơn đã được tiến hóa, và loại này được hoàn thiện trong giống dân thứ tư hay Atlantis. Giống dân thứ năm, Arya, hiện đang vận hành tiến trình của nó trên bầu hành tinh này đồng thời với một phần lớn của giống dân thứ tư và một vài tàn dư của giống dân thứ ba. Vì cần lưu ý rằng, mặc dù mỗi giống dân sinh ra giống dân kế tiếp, hai giống dân sẽ chồng lấn nhau trong thời gian, cùng tồn tại trong nhiều thời đại. Trong các dân tộc hiện tồn, người Tartars, người Trung Hoa và người Mông Cổ thuộc giống dân thứ tư, còn thổ dân Úc và người Hottentots thuộc giống dân thứ ba. (back)
[Page 122]
[Page 122]
S1S13
3. The Protective Purpose of the Etheric Body.
3. Mục Đích Bảo Vệ của Thể Dĩ Thái.
Now let us, after this somewhat lengthy digression, leave things cosmic and incomprehensible, and come down to practical evolution, and to the study of the matter of man’s etheric body, and of the harm that may ensue to him should that body (through the breaking of the law) no longer perform its protective function. Let us see first of all what those protective functions are:
Giờ đây, sau sự lạc đề khá dài này, chúng ta hãy rời khỏi những điều vũ trụ và bất khả lĩnh hội, để đi xuống tiến hoá thực tiễn, và đến với việc nghiên cứu vấn đề thể dĩ thái của con người, cùng sự tổn hại có thể xảy đến cho y nếu thể đó (do vi phạm định luật) không còn thực hiện chức năng bảo vệ của nó nữa. Trước hết hãy xem những chức năng bảo vệ ấy là gì:
First. The etheric web acts as a separator or a dividing web between the astral and the dense physical body.
Thứ nhất. Mạng lưới dĩ thái hoạt động như một tấm màn ngăn cách hay một mạng lưới phân chia giữa thể cảm dục và thể xác hồng trần đậm đặc.
Second. It circulates the inflowing vitality or pranic fluid and carries on its work in three stages.
Thứ hai. Nó luân chuyển sinh lực hay lưu chất prana đang tuôn vào và thực hiện công việc của nó trong ba giai đoạn.
The first stage is that wherein the pranic fluid and [Page 123] solar radiations are received, and circulated three times around the triangle, thence being distributed to the periphery of the body, animating and vitalising all the physical organs and conducing to the automatic subconscious workings of the body of dense matter. When perfectly accomplishing its object it protects from disease, and the ills of the flesh are unknown to the man who absorbs and distributes prana with accuracy. This hint is recommended to all physicians, and when properly comprehended, will result in a basic change in medicine, from a curative to a preventive foundation.
Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn trong đó lưu chất prana và [Page 123] các bức xạ thái dương được tiếp nhận, rồi luân chuyển ba lần quanh tam giác, từ đó được phân phối đến chu vi của thân thể, làm sinh động và tiếp sinh lực cho mọi cơ quan hồng trần và góp phần vào các hoạt động tự động vô thức của thể vật chất đậm đặc. Khi hoàn thành mục đích của nó một cách hoàn hảo, nó bảo vệ khỏi bệnh tật, và những chứng bệnh của xác thân là điều không được biết đến đối với người hấp thu và phân phối prana một cách chính xác. Gợi ý này được khuyến nghị cho mọi y sĩ, và khi được thấu hiểu đúng đắn, sẽ dẫn đến một thay đổi căn bản trong y học, từ nền tảng chữa trị sang nền tảng phòng ngừa.
The second stage is that in which the pranic fluids begin to blend with the fire at the base of the spine and to drive that fire slowly upwards, transferring its heat from the centres below the solar plexus to the three higher centres—that of the heart, the throat and the head. This is a long and slow process when left to the unaided force of nature, but it is just here that (in a few cases) a quickening of the process is permitted in order to equip workers in the field of human service. This is the object of all occult training. This angle of the matter we will take up in still greater detail when we handle our next point of “Kundalini and the Spine.”
Giai đoạn thứ hai là giai đoạn trong đó các lưu chất prana bắt đầu hòa trộn với lửa ở đáy cột sống và đẩy ngọn lửa ấy chậm rãi đi lên, chuyển nhiệt của nó từ các trung tâm bên dưới tùng thái dương đến ba trung tâm cao hơn—trung tâm tim, cổ họng và đầu. Đây là một tiến trình dài và chậm khi được để cho mãnh lực tự nhiên không được trợ giúp vận hành, nhưng chính ở đây mà (trong một vài trường hợp) sự thúc đẩy nhanh tiến trình được cho phép để trang bị cho những người hoạt động trong lĩnh vực phụng sự nhân loại. Đây là mục tiêu của mọi sự huấn luyện huyền bí học. Khía cạnh này của vấn đề chúng ta sẽ còn xét chi tiết hơn nữa khi bàn đến điểm kế tiếp là “Kundalini và Cột sống.”
The third stage is that in which active radiatory matter or prana is blended ever more perfectly with the fire latent in matter; this results (as will be brought out later) in certain effects.
Giai đoạn thứ ba là giai đoạn trong đó vật chất bức xạ linh hoạt hay prana ngày càng được hòa trộn hoàn hảo hơn với ngọn lửa tiềm ẩn trong vật chất; điều này dẫn đến (như sẽ được trình bày sau) một số hiệu quả nhất định.
It produces a quickening of the normal vibration of the physical body so that it responds with more readiness to the higher note of the Ego, and causes a steady rising of the blending fires through the threefold channel in the spinal column. In the second stage this vitalising blended fire reaches a centre between the lower part of the shoulder blades, which is the point of conjunction, and of complete merging, of the fire from the base of the [Page 124] spine and the fire circulating along the pranic triangle. It will be remembered how one point of this triangle originates there. When the threefold basic fire and the threefold pranic fire meet and merge, then evolution proceeds with greatly increased velocity. This is effected definitely at the first Initiation when the polarisation becomes fixed in one or other of the three higher centres,—which centre being dependent upon a man’s ray.
Nó tạo ra sự gia tốc trong rung động bình thường của thể xác hồng trần để thể này đáp ứng dễ dàng hơn với âm điệu cao hơn của chân ngã, và gây nên sự dâng lên đều đặn của các ngọn lửa hòa trộn qua kênh tam phân trong cột sống. Trong giai đoạn thứ hai, ngọn lửa hòa trộn tiếp sinh lực này đạt đến một trung tâm nằm giữa phần dưới của hai xương bả vai, là điểm giao hội và hòa nhập hoàn toàn của ngọn lửa từ đáy [Page 124] cột sống và ngọn lửa luân chuyển dọc theo tam giác prana. Sẽ nhớ rằng một điểm của tam giác này phát nguyên tại đó. Khi lửa căn bản tam phân và lửa prana tam phân gặp nhau và hòa nhập, thì tiến hoá diễn ra với tốc độ tăng mạnh. Điều này được thực hiện một cách xác định ở lần điểm đạo thứ nhất khi sự phân cực trở nên cố định trong một trong ba trung tâm cao hơn,—trung tâm nào tùy thuộc vào cung của một người.
The result of this merging leads to a change in the action of the centres. They become “wheels turning upon themselves,” and from a purely rotary movement become fourth dimensional in action, and manifest as radiant whirling centres of living fire.
Kết quả của sự hòa nhập này dẫn đến một thay đổi trong hoạt động của các trung tâm. Chúng trở thành “những bánh xe tự xoay trên chính mình,” và từ một chuyển động thuần túy quay tròn trở thành có tác động bốn chiều, và biểu lộ như những trung tâm lửa sống động xoáy tròn rực xạ.
The three major head centres (the sequence varying according to ray) become active and a similar process is effected between them as was effected in the pranic triangle. From being three centres that react faintly to each other’s vibratory movement (feeling the warmth and rhythm of each other, yet separated), the fire leaps from centre to centre, and each whirling wheel becomes linked by a chain of fire till there is a triangle of fire through which the kundalini and pranic fires radiate back and forth. Circulation is also carried on. The fire of kundalini produces the heat of the centre, and its intense radiance and brilliance, while the pranic emanatory fire produces ever increasing activity and rotation.
Ba trung tâm đầu chính (trình tự thay đổi tùy theo cung) trở nên linh hoạt và một tiến trình tương tự được thực hiện giữa chúng như đã được thực hiện trong tam giác prana. Từ chỗ là ba trung tâm chỉ phản ứng mờ nhạt với chuyển động rung động của nhau (cảm nhận hơi ấm và nhịp điệu của nhau, nhưng vẫn tách biệt), lửa nhảy từ trung tâm này sang trung tâm khác, và mỗi bánh xe xoáy tròn được nối kết bằng một chuỗi lửa cho đến khi có một tam giác lửa qua đó các lửa kundalini và prana bức xạ qua lại. Sự luân chuyển cũng được tiếp tục. Lửa kundalini tạo ra nhiệt của trung tâm, cùng sự rực xạ và chói sáng mãnh liệt của nó, trong khi lửa phát xạ prana tạo ra hoạt động và sự quay tròn ngày càng tăng.
As time elapses between the first and fourth Initiation, the threefold channel in the spine, and the entire etheric body is gradually cleansed and purified by the action of the fire till all “dross” (as the Christian expresses it) is burnt away, and naught remains to impede the progress of this flame.
Khi thời gian trôi qua giữa lần điểm đạo thứ nhất và thứ tư, kênh tam phân trong cột sống, và toàn bộ thể dĩ thái, dần dần được tẩy sạch và thanh lọc bởi tác động của lửa cho đến khi mọi “cặn bã” (như người Cơ Đốc giáo diễn đạt) đều bị đốt cháy, và không còn gì ngăn trở bước tiến của ngọn lửa này nữa.
As the fire of kundalini and prana proceed with their work, and the channel becomes more and more cleared, the centres more active, and the body purer, the flame [Page 125] of spirit, or the fire from the Ego, comes more actively downwards till a flame of real brilliance issues from the top of the head. This flame surges upwards through the bodies towards its source, the causal body.
Khi lửa kundalini và prana tiếp tục công việc của chúng, và kênh ngày càng được khai thông, các trung tâm linh hoạt hơn, và thể thanh khiết hơn, thì ngọn lửa [Page 125] của tinh thần, hay lửa từ chân ngã, đi xuống xuống dưới một cách linh hoạt hơn cho đến khi một ngọn lửa thực sự rực rỡ phát ra từ đỉnh đầu. Ngọn lửa này dâng lên xuyên qua các thể hướng về nguồn của nó, thể nguyên nhân.
Simultaneously with the activity of these fires of matter and of Spirit, the fires of mind, or manas, burn with greater intensity. These are the fires given at individualisation. They are fed continuously by the fire of matter, and their heat is augmented by solar emanatory fire, which originates on the cosmic levels of mind. It is this aspect of the manasic fire that develops under the forms of instinct, animal memory, and functional recollection which are so apparent in the little evolved man. As time progresses the fire of mind burns more brightly and thus reaches a point where it begins to burn through the etheric web—that portion of the web that can be found guarding the centre at the very top of the head, and admitting entrance to the downflow from the Spirit. By its means certain things are brought about:
Đồng thời với hoạt động của các lửa vật chất và Tinh thần này, các lửa của trí tuệ, hay manas, bùng cháy với cường độ lớn hơn. Đây là những ngọn lửa được ban cho vào lúc biệt ngã hóa. Chúng liên tục được nuôi dưỡng bởi lửa vật chất, và nhiệt của chúng được tăng cường bởi lửa phát xạ thái dương, phát nguyên trên các cấp độ vũ trụ của trí tuệ. Chính phương diện này của lửa manas phát triển dưới các hình thức bản năng, ký ức động vật, và sự hồi tưởng chức năng vốn rất hiển nhiên nơi con người ít tiến hóa. Khi thời gian trôi qua, lửa trí tuệ cháy sáng hơn và do đó đạt đến một điểm mà nó bắt đầu đốt xuyên qua mạng lưới dĩ thái—phần của mạng lưới có thể được tìm thấy đang bảo vệ trung tâm ở ngay đỉnh đầu, và cho phép sự tuôn xuống từ Tinh thần đi vào. Nhờ đó một số điều được thực hiện:
The kundalini fire is consciously directed and controlled by the mind or will aspect from the mental plane. The two fires of matter by the power of the mind of man are blended first with each other, and, secondly, with the fire of mind.
Lửa kundalini được trí tuệ hay phương diện ý chí từ cõi trí điều khiển và kiểm soát một cách hữu thức. Hai lửa của vật chất, nhờ quyền năng của trí tuệ con người, trước hết được hòa trộn với nhau, và thứ hai, được hòa trộn với lửa trí tuệ.
The united result of this blending is the destruction (under rule and order), of the etheric web, and the consequent production of continuity of consciousness and the admission into the personal life of man of “Life more abundant,” or the third fire of Spirit.
Kết quả hợp nhất của sự hòa trộn này là sự hủy diệt (dưới quy luật và trật tự) của mạng lưới dĩ thái, và hậu quả là tạo ra sự liên tục của tâm thức cùng sự tiếp nhận vào đời sống cá nhân của con người “Sự sống dồi dào hơn,” hay ngọn lửa thứ ba của Tinh thần.
The downrush of Spirit, and the uprising of the inner fires of matter (controlled and directed by the conscious action of the fire of mind) produce corresponding results on the same levels on the astral and mental planes, so that a paralleling contact is brought about, and the great work of liberation proceeds in an ordered manner.
Sự tuôn xuống của Tinh thần, và sự dâng lên của các lửa nội tại của vật chất (được kiểm soát và điều khiển bởi tác động hữu thức của lửa trí tuệ) tạo ra những kết quả tương ứng trên cùng các cấp độ của cõi cảm dục và cõi trí, nhờ đó một sự tiếp xúc song hành được thiết lập, và đại công cuộc giải thoát tiến hành một cách có trật tự.
The three first initiations see these results perfected, [Page 126] and lead to the fourth, where the intensity of the united fires results in the complete burning away of all barriers, and the liberation of the Spirit by conscious directed effort from out its threefold lower sheath. Man has consciously to bring about his own liberation. These results are self-induced by the man himself, as he is emancipated from the three worlds, and has broken the wheel of rebirth himself instead of being broken upon it.
Ba lần điểm đạo đầu tiên chứng kiến những kết quả này được hoàn thiện, [Page 126] và dẫn đến lần thứ tư, nơi cường độ của các lửa hợp nhất dẫn đến sự thiêu hủy hoàn toàn mọi rào cản, và sự giải thoát của tinh thần bằng nỗ lực hữu thức có định hướng ra khỏi lớp vỏ thấp tam phân của nó. Con người phải tự mình một cách hữu thức tạo ra sự giải thoát của chính mình. Những kết quả này do chính con người tự gây ra, khi y được giải phóng khỏi ba cõi giới, và tự mình phá vỡ bánh xe tái sinh thay vì bị nó nghiền nát.
It will be apparent from this elucidation that the exceeding importance of the etheric vehicle as the separator of the fires has been brought forward, and consequently we have brought to our notice the dangers that must ensue should man tamper injudiciously, ignorantly or wilfully with these fires.
Từ sự làm sáng tỏ này, sẽ hiển nhiên rằng tầm quan trọng vượt bậc của vận cụ dĩ thái như yếu tố phân cách các ngọn lửa đã được nêu bật, và do đó chúng ta được lưu ý đến những nguy hiểm chắc chắn sẽ xảy ra nếu con người can thiệp một cách thiếu thận trọng, vô minh hay cố ý vào các ngọn lửa này.
Should a man, by the power of will or through an over-development of the mental side of his character, acquire the power to blend these fires of matter and to drive them forward, he stands in danger of obsession, insanity, physical death, or of dire disease in some part of his body, and he also runs the risk of an over-development of the sex impulse through the driving of the force in an uneven manner upwards, or in forcing its radiation to undesirable centres. The reason of this is that the matter of his body is not pure enough to stand the uniting of the flames, that the channel up the spine is still clogged and blocked, and therefore acts as a barrier, turning the flame backwards and downwards, and that the flame (being united by the power of mind and not being accompanied by a simultaneous downflow from the plane of spirit), permits the entrance, through the burning etheric, of undesirable and extraneous forces, currents, and even entities. These wreck and tear and ruin what is left of the etheric vehicle, of the brain tissue and even of the dense physical body itself.
Nếu một người, bằng quyền năng của ý chí hoặc do sự phát triển quá mức mặt trí tuệ trong tính cách của mình, đạt được quyền năng dung hợp các lửa của vật chất này và thúc đẩy chúng tiến lên, y đứng trước nguy cơ bị ám nhập, điên loạn, chết về thể xác, hoặc mắc bệnh hiểm nghèo ở một phần nào đó của thể mình, và y cũng có nguy cơ phát triển quá mức xung lực tính dục do thúc đẩy mãnh lực đi lên một cách không đồng đều, hoặc ép sự bức xạ của nó đến những trung tâm không mong muốn. Lý do là vì vật chất của thể y không đủ thanh khiết để chịu đựng sự hợp nhất của các ngọn lửa, rằng kênh dọc theo cột sống vẫn còn bị nghẽn và bít lại, do đó hoạt động như một rào cản, làm ngọn lửa quay ngược trở xuống, và rằng ngọn lửa ấy (được hợp nhất bởi quyền năng của trí tuệ mà không đi kèm với một dòng tuôn xuống đồng thời từ cõi tinh thần), cho phép những mãnh lực, dòng lực, và ngay cả những thực thể không mong muốn và ngoại lai xâm nhập qua thể dĩ thái đang cháy. Chúng tàn phá, xé nát và hủy hoại những gì còn lại của vận cụ dĩ thái, của mô não và ngay cả của chính thể xác đậm đặc.
The unwary man, being unaware of his Ray and therefore of the proper geometrical form of triangle that is [Page 127] the correct method of circulation from centre to centre, will drive the fire in unlawful progression and thus burn up tissue; this will result then (if in nothing worse), in a setting back for several lives of the clock of his progress, for he will have to spend much time in rebuilding where he destroyed, and with recapitulating on right lines all the work to be done.
Người bất cẩn, vì không biết cung của mình và do đó không biết hình tam giác hình học thích hợp là gì, tức là [Page 127] phương pháp tuần hoàn đúng đắn từ trung tâm này sang trung tâm khác, sẽ thúc đẩy lửa theo một tiến trình trái luật và do đó thiêu hủy mô; điều này rồi sẽ dẫn đến ít nhất là sự trì hoãn đồng hồ tiến bộ của y trong nhiều kiếp sống, vì y sẽ phải dành nhiều thời gian để tái tạo nơi mình đã phá hủy, và làm lại theo những đường lối đúng đắn toàn bộ công việc cần phải làm.
If a man persists from life to life in this line of action, if he neglects his spiritual development and concentrates on intellectual effort turned to the manipulation of matter for selfish ends, if he continues this in spite of the promptings of his inner self, and in spite of the warnings that may reach him from Those who watch, and if this is carried on for a long period he may bring upon himself a destruction that is final for this manvantara or cycle. He may, by the uniting of the two fires of matter and the dual expression of mental fire, succeed in the complete destruction of the physical permanent atom, and thereby sever his connection with the higher self for aeons of time. H. P. B. has somewhat touched on this when speaking of “lost souls”; (58,59) we must here emphasise the reality of this dire disaster and sound a warning note to those who approach this subject of the fires of matter with all its latent dangers. The blending of these fires must be the result of spiritualised knowledge, and must be directed solely by the Light of the Spirit, who works through love and is love, and who seeks this unification and this utter merging not from the point of view of sense or of material gratification, but because liberation and purification is desired in order that the higher union with the Logos may be effected; this union must be desired, not for selfish ends, but because group perfection is the goal and scope for greater service to the race must be achieved.
Nếu một người cứ tiếp tục đường lối hành động này từ đời này sang đời khác, nếu y sao lãng sự phát triển tinh thần của mình và tập trung vào nỗ lực trí tuệ hướng đến việc thao túng vật chất vì những mục đích ích kỷ, nếu y tiếp tục như vậy bất chấp những thôi thúc của bản ngã bên trong, và bất chấp những cảnh báo có thể đến với y từ Các Ngài đang quan sát, và nếu điều này được tiếp diễn trong một thời gian dài, y có thể tự chuốc lấy một sự hủy diệt mang tính chung cuộc đối với giai kỳ sinh hóa hay chu kỳ này. Y có thể, bằng sự hợp nhất của hai lửa của vật chất và biểu hiện nhị phân của lửa trí tuệ, thành công trong việc hủy diệt hoàn toàn nguyên tử trường tồn hồng trần, và do đó cắt đứt mối liên hệ của y với chân ngã trong những đại kiếp thời gian. H. P. B. đã phần nào đề cập đến điều này khi nói về “những linh hồn lạc mất”; (58,59) ở đây chúng ta phải nhấn mạnh tính hiện thực của tai họa khủng khiếp này và lên tiếng cảnh báo cho những ai tiếp cận chủ đề về các lửa của vật chất với tất cả những hiểm nguy tiềm ẩn của nó. Sự dung hợp các lửa này phải là kết quả của tri thức đã được tinh thần hóa, và chỉ phải được định hướng bởi Ánh sáng của Tinh thần, Đấng hoạt động qua tình thương và là tình thương, và Đấng tìm kiếm sự hợp nhất này cùng sự hòa tan hoàn toàn này không phải từ quan điểm của cảm giác hay sự thỏa mãn vật chất, mà bởi vì sự giải thoát và thanh lọc được mong cầu để sự hợp nhất cao hơn với Thượng đế có thể được thực hiện; sự hợp nhất này phải được mong cầu không vì những mục đích ích kỷ, mà bởi vì sự hoàn thiện nhóm là mục tiêu và phạm vi cho sự phụng sự lớn lao hơn đối với nhân loại phải được đạt đến.
(58) Lost Souls. See Isis Unveiled, Vol. II, p. 368; also S. D., I, 255, and S. D., III 493, 513-516, 521, 525, 527.cosmic aether. This will not be then counted. (back)
(58) Những linh hồn lạc mất. Xem Isis Unveiled, Tập II, tr. 368; cũng xem S. D., I, 255, và S. D., III 493, 513-516, 521, 525, 527.cosmic aether. Khi đó điều này sẽ không được tính đến. (back)
S1S14
V. DEATH AND THE ETHERIC BODY
V. CÁI CHẾT VÀ THỂ DĨ THÁI
[Page 128] It is not our purpose to give facts for verification by science, or even to point the way to the next step onward for scientific investigators; that we may do so is but incidental and purely secondary. What we seek mainly is to give indications of the development and correspondence of the threefold whole that makes the solar system what it is—the vehicle through which a great cosmic ENTITY, the solar Logos, manifests active intelligence with the purpose in view of demonstrating perfectly the love side of His nature. Back of this design lies a yet more esoteric and ulterior purpose, hid in the Will Consciousness of the Supreme Being, which perforce will be later demonstrated when the present objective is attained. The dual alternation of objective manifestation and of subjective obscuration, the periodic out-breathing, followed by the in-breathing of all that has been carried forward through evolution embodies in the system one of the basic cosmic vibrations, and the key-note of that cosmic ENTITY whose body we are. The heart beats of the Logos (if it might be so inadequately expressed) are the source of all cyclic evolution, and hence the importance attached to that aspect of development called the “heart” or “love aspect,” and the interest that is awakened by the study of rhythm. This is true, not only cosmically and macrocosmically, but likewise in the study of the human unit. Underlying all the physical sense attached to rhythm, vibration, cycles and heart-beat, lie their subjective analogies—love, feeling, emotion, desire, harmony, synthesis and ordered sequence,—and back of these analogies lies the source of all, the identity of that Supreme Being Who thus expresses Himself.
[Page 128] Mục đích của chúng ta không phải là đưa ra những dữ kiện để khoa học kiểm chứng, hay thậm chí chỉ ra bước tiến kế tiếp cho các nhà nghiên cứu khoa học; việc chúng ta có thể làm như vậy chỉ là ngẫu nhiên và hoàn toàn thứ yếu. Điều chúng ta chủ yếu tìm cách làm là đưa ra những chỉ dẫn về sự phát triển và sự tương ứng của toàn thể tam phân tạo nên hệ mặt trời đúng như nó là—vận cụ qua đó một THỰC THỂ vũ trụ vĩ đại, Thái dương Thượng đế, biểu lộ trí tuệ linh hoạt với mục đích nhằm biểu hiện một cách hoàn hảo phương diện bác ái trong bản chất của Ngài. Đằng sau đồ án này còn có một mục đích huyền bí hơn và sâu xa hơn nữa, ẩn trong Tâm thức Ý Chí của Đấng Tối Cao, mục đích ấy tất yếu sẽ được biểu hiện về sau khi mục tiêu hiện tại đã đạt được. Sự luân phiên nhị nguyên giữa biểu hiện khách quan và sự che khuất chủ quan, sự thở ra theo chu kỳ tiếp theo bởi sự hít vào của tất cả những gì đã được đưa tiến lên qua tiến hoá, thể hiện trong hệ thống một trong những rung động vũ trụ căn bản, và chủ âm của THỰC THỂ vũ trụ mà chúng ta là thân thể của Ngài. Những nhịp đập tim của Thượng đế (nếu có thể diễn đạt một cách không đầy đủ như vậy) là nguồn gốc của mọi tiến hoá theo chu kỳ, và do đó tầm quan trọng được gán cho phương diện phát triển gọi là “tim” hay “phương diện bác ái,” cùng sự quan tâm được khơi dậy bởi việc nghiên cứu nhịp điệu. Điều này đúng không chỉ về mặt vũ trụ và đại thiên địa, mà cũng đúng trong việc nghiên cứu đơn vị con người. Nằm bên dưới mọi ý nghĩa hồng trần gắn với nhịp điệu, rung động, chu kỳ và nhịp tim là những tương đồng chủ quan của chúng—bác ái, cảm giác, cảm xúc, dục vọng, hài hòa, tổng hợp và trình tự có trật tự,—và đằng sau những tương đồng này là nguồn cội của tất cả, tức bản sắc của Đấng Tối Cao ấy, Đấng tự biểu lộ chính Ngài như vậy.
Therefore, the study of pralaya, or the withdrawal of the life from out of the etheric vehicle will be the same [Page 129] whether one studies the withdrawal of the human etheric double, the withdrawal of the planetary etheric double, or the withdrawal of the etheric double of the solar system. The effect is the same and the consequences similar.
Do đó, việc nghiên cứu pralaya, hay sự rút sự sống ra khỏi vận cụ dĩ thái sẽ giống nhau [Page 129] dù người ta nghiên cứu sự rút bản sao dĩ thái của con người, sự rút bản sao dĩ thái của hành tinh, hay sự rút bản sao dĩ thái của hệ mặt trời. Hiệu quả là như nhau và các hệ quả thì tương tự.
What is the result of this withdrawal, or rather what causes that something which we call death or pralaya? As we are strictly pursuing the text-book style in this treatise, we will continue our methods of tabulation. The withdrawal of the etheric double of a man, a planet, and a system is brought about by the following causes:
Kết quả của sự rút này là gì, hay đúng hơn điều gì gây ra cái mà chúng ta gọi là cái chết hay pralaya? Vì chúng ta đang nghiêm ngặt theo đuổi lối văn giáo khoa trong bộ luận này, chúng ta sẽ tiếp tục phương pháp liệt kê của mình. Sự rút bản sao dĩ thái của một người, một hành tinh và một hệ thống được gây ra bởi các nguyên nhân sau đây:
a. The cessation of desire. This should be the result of all evolutionary process. True death, under the law, is brought about by the attainment of the objective, and hence by the cessation of aspiration. This, as the perfected cycle draws to its close, will be true of the individual human being, of the Heavenly Man, and of the Logos Himself.
a. Sự chấm dứt dục vọng. Đây phải là kết quả của toàn bộ tiến trình tiến hoá. Cái chết chân chính, dưới định luật, được mang lại bởi việc đạt đến mục tiêu, và do đó bởi sự chấm dứt khát vọng. Điều này, khi chu kỳ hoàn thiện dần đi đến kết thúc, sẽ đúng đối với cá nhân con người, đối với Đấng Thiên Nhân, và đối với chính Thượng đế.
b. By the slowing down and gradual cessation of the cyclic rhythm, the adequate vibration is achieved, and the work accomplished. When the vibration or note is perfectly felt or sounded it causes (at the point of synthesis with other vibrations) the utter shattering of the forms.
b. Do sự chậm lại và dần dần chấm dứt của nhịp điệu chu kỳ, rung động thích đáng được đạt tới, và công việc được hoàn thành. Khi rung động hay âm điệu được cảm nhận hoặc được xướng lên một cách hoàn hảo, nó gây ra (tại điểm tổng hợp với các rung động khác) sự tan vỡ hoàn toàn của các hình tướng.
Motion is characterised, as we know, by three qualities:
Chuyển động được đặc trưng, như chúng ta biết, bởi ba phẩm tính:
1. Inertia,
1. Quán tính,
2. Mobility,
2. Tính động,
3. Rhythm.
3. Nhịp điệu.
These three are experienced in just the above sequence and presuppose a period of slow activity, succeeded by one of extreme movement. This middle period produces incidentally (as the true note and rate is sought) cycles of chaos, of experiment, of experience and of comprehension. Following on these two degrees of motion (which are characteristic of the atom, Man, of the Heavenly Man [Page 130] or group, and of the Logos or the Totality) comes a period of rhythm and of stabilisation wherein the point of balance is achieved. By the force of balancing the pairs of opposites, and thus producing equilibrium, pralaya is the inevitable sequence.
Ba phẩm tính này được trải nghiệm đúng theo trình tự trên và giả định trước một giai đoạn hoạt động chậm, tiếp theo là một giai đoạn chuyển động cực độ. Giai đoạn giữa này ngẫu nhiên tạo ra (khi âm điệu và tốc độ chân chính được tìm kiếm) các chu kỳ hỗn loạn, thử nghiệm, kinh nghiệm và thấu hiểu. Tiếp theo hai cấp độ chuyển động này (vốn là đặc trưng của nguyên tử, của Con Người, của Đấng Thiên Nhân [Page 130] hay nhóm, và của Thượng đế hay Toàn Thể) là một giai đoạn nhịp điệu và sự ổn định trong đó điểm quân bình được đạt tới. Bằng mãnh lực quân bình các cặp đối nghịch, và do đó tạo ra trạng thái cân bằng, pralaya là hệ quả tất yếu tiếp theo.
c. By the severing of the physical from the subtler body on the inner planes, through the shattering of the web. This has a threefold effect:
c. Do sự cắt rời thể xác khỏi thể vi tế hơn trên các cõi bên trong, thông qua sự phá vỡ màng lưới. Điều này có tác động tam phân:
First. The life that had animated the physical form (both dense and etheric) and which had its starting point in the permanent atom and from thence “pervaded the moving and the unmoving” (in God, the Heavenly Man, and the human being, as well as in the atom of matter) is withdrawn entirely within the atom upon the plane of abstraction. This “plane of abstraction” is a different one for the entities involved:
Thứ nhất. Sự sống đã làm sinh động hình tướng hồng trần (cả đậm đặc lẫn dĩ thái) và có điểm khởi đầu trong nguyên tử trường tồn, rồi từ đó “thấm khắp cái động và cái bất động” (trong Thượng đế, Đấng Thiên Nhân, và con người, cũng như trong nguyên tử vật chất) được rút hoàn toàn vào trong nguyên tử trên cõi trừu xuất. “Cõi trừu xuất” này là khác nhau đối với các thực thể liên quan:
a. For the physical permanent atom, it is the atomic level.
a. Đối với nguyên tử trường tồn hồng trần, đó là cấp độ nguyên tử.
b. For man, it is the causal vehicle.
b. Đối với con người, đó là vận cụ nguyên nhân.
c. For the Heavenly Man, it is the second plane of monadic life, His habitat.
c. Đối với Đấng Thiên Nhân, đó là cõi thứ hai của sự sống chân thần, nơi cư ngụ của Ngài.
d. For the Logos, it is the plane of Adi.
d. Đối với Thượng đế, đó là cõi Adi.
All these mark the points for the disappearance of the unit into pralaya. We need here to remember that it is always pralaya when viewed from below. From the higher vision, that sees the subtler continuously overshadowing the dense when not in objective manifestation, pralaya is simply subjectivity, and is not that “which is not,” but simply that which is esoteric.
Tất cả những điều này đánh dấu các điểm mà tại đó đơn vị biến mất vào pralaya. Ở đây chúng ta cần nhớ rằng đó luôn luôn là pralaya khi được nhìn từ bên dưới. Từ linh thị cao hơn, vốn thấy cái vi tế liên tục phủ bóng lên cái đậm đặc khi không ở trong biểu hiện khách quan, pralaya đơn giản chỉ là tính chủ quan, và không phải là “cái không hiện hữu,” mà chỉ đơn giản là cái huyền bí.
Second. The etheric double of a man, a planetary Logos, and a solar Logos, being shattered, becomes nonpolarised as regards its indweller, and permits therefore of escape. It is (to word it otherwise) no longer a source of attraction, nor a focal magnetic point. It becomes non-magnetic, and the great Law of Attraction ceases to [Page 131] control it; hence disintegration is the ensuing condition of the form. The Ego ceases to be attracted by its form on the physical plane, and, proceeding to inbreathe, withdraws its life from out of the sheath. The cycle draws to a close, the experiment has been made, the objective (a relative one from life to life and from incarnation to incarnation) has been achieved, and there remains nothing more to desire; the Ego, or the thinking entity, loses interest therefore in the form, and turns his attention inward. His polarisation changes, and the physical is eventually dropped.
Thứ hai. Bản sao dĩ thái của một người, một Hành Tinh Thượng Đế, và một Thái dương Thượng đế, khi bị phá vỡ, trở nên không phân cực đối với đấng ngự bên trong của nó, và do đó cho phép sự thoát ra. Nói cách khác, nó không còn là một nguồn hấp dẫn, cũng không còn là một điểm hội tụ từ tính. Nó trở nên không từ tính, và Định luật Hấp Dẫn vĩ đại không còn [Page 131] kiểm soát nó nữa; do đó sự tan rã là tình trạng tiếp theo của hình tướng. Chân ngã không còn bị thu hút bởi hình tướng của mình trên cõi hồng trần, và, tiến tới hít vào, rút sự sống của mình ra khỏi vỏ bọc. Chu kỳ đi đến kết thúc, cuộc thử nghiệm đã được thực hiện, mục tiêu (một mục tiêu tương đối từ đời này sang đời khác và từ lần nhập thể này sang lần nhập thể khác) đã đạt được, và không còn gì để ham muốn nữa; do đó Chân ngã, hay thực thể tư duy, mất hứng thú đối với hình tướng, và quay sự chú ý vào bên trong. Sự phân cực của y thay đổi, và cuối cùng cái hồng trần bị buông bỏ.
The planetary Logos likewise in His greater cycle (the synthesis or the aggregate of the tiny cycles of the cells of His body) pursues the same course; He ceases to be attracted downward or outward, and turns His gaze within; He gathers inward the aggregate of the smaller lives within His body, the planet, and severs connection. Outer attraction ceases and all gravitates towards the centre instead of scattering to the periphery of His body.
Hành Tinh Thượng Đế cũng vậy, trong chu kỳ lớn hơn của Ngài (sự tổng hợp hay tổng số các chu kỳ nhỏ bé của những tế bào trong thân thể Ngài) đi theo cùng một tiến trình; Ngài không còn bị thu hút xuống dưới hay ra bên ngoài nữa, mà quay ánh nhìn vào bên trong; Ngài thu gom vào trong tổng số các sự sống nhỏ hơn trong thể Ngài, tức hành tinh, và cắt đứt liên hệ. Sự hấp dẫn bên ngoài chấm dứt và mọi sự hấp dẫn về trung tâm thay vì tản ra chu vi thể Ngài.
In the system, the same process is followed by the solar Logos; from His high place of abstraction, He ceases to be attracted by His body of manifestation. He withdraws His interest and the two pairs of opposites, the spirit and the matter of the vehicle, dissociate. With this dissociation the solar system, that “Son of Necessity,” or of desire, ceases to be, and passes out of objective existence.
Trong hệ thống, cùng một tiến trình được Thái dương Thượng đế tuân theo; từ vị trí trừu xuất cao cả của Ngài, Ngài không còn bị thu hút bởi thể biểu hiện của Ngài nữa. Ngài rút lại sự quan tâm của mình và hai cặp đối nghịch, tinh thần và vật chất của vận cụ, phân ly. Với sự phân ly này, hệ mặt trời, “Con của Tất Yếu,” hay của dục vọng, không còn hiện hữu nữa, và ra khỏi sự tồn tại khách quan.
Third. This leads finally, to the scattering of the atoms of the etheric body into their primordial condition. The subjective life, the synthesis of will and love taking active form, is withdrawn. The partnership is dissolved. The form then breaks up; the magnetism that has held it in coherent shape is no longer present, and dissipation is complete. Matter persists, but the form no longer persists.
Thứ ba. Điều này cuối cùng dẫn đến sự phân tán các nguyên tử của thể dĩ thái trở về trạng thái nguyên sơ của chúng. Sự sống chủ quan, sự tổng hợp của ý chí và bác ái mang hình thức linh hoạt, được rút đi. Sự cộng tác bị giải thể. Khi đó hình tướng tan vỡ; từ điện đã giữ nó trong hình dạng kết hợp không còn hiện diện nữa, và sự tiêu tan hoàn tất. Vật chất vẫn tồn tại, nhưng hình tướng không còn tồn tại nữa.
The work of the second Logos ends, and the divine [Page 132] incarnation of the Son is concluded. But the faculty or inherent quality of matter also persists, and at the end of each period of manifestation, matter (though distributed again into its primal form) is active intelligent matter plus the gain of objectivity, and the increased radiatory and latent activity which it has gained through experience. Let us illustrate: The matter of the solar system, when undifferentiated, was active intelligent matter, and that is all that can be predicated of it. This active intelligent matter was matter qualified by an earlier experience, and coloured by an earlier incarnation. Now this matter is in form, the solar system is not in pralaya but in objectivity,—his objectivity having in view the addition of another quality to the logoic content, that of love and wisdom. Therefore at the next solar pralaya, at the close of the one hundred years of Brahma, the matter of the solar system will be coloured by active intelligence, and by active love. This means literally that the aggregate of solar atomic matter will eventually vibrate to another key than it did at the first dawn of manifestation.
Công việc của Thượng đế thứ hai chấm dứt, và sự nhập thể thiêng liêng [Page 132] của Người Con được hoàn tất. Nhưng năng lực hay phẩm tính cố hữu của vật chất cũng vẫn tồn tại, và vào cuối mỗi thời kỳ biểu hiện, vật chất (dù lại được phân bố vào hình thức nguyên sơ của nó) là vật chất trí tuệ linh hoạt cộng thêm thành quả của tính khách quan, và hoạt động bức xạ cùng hoạt động tiềm ẩn gia tăng mà nó đã đạt được qua kinh nghiệm. Chúng ta hãy minh họa: Vật chất của hệ mặt trời, khi chưa biến phân, là vật chất trí tuệ linh hoạt, và đó là tất cả những gì có thể được khẳng định về nó. Vật chất trí tuệ linh hoạt này là vật chất được định tính bởi một kinh nghiệm trước đó, và được nhuốm màu bởi một lần nhập thể trước đó. Hiện nay vật chất này đang ở trong hình tướng, hệ mặt trời không ở trong pralaya mà ở trong tính khách quan,—tính khách quan của nó nhằm thêm vào nội dung Thượng đế một phẩm tính khác, đó là bác ái và minh triết. Do đó, vào lần pralaya mặt trời kế tiếp, khi kết thúc một trăm năm của Brahma, vật chất của hệ mặt trời sẽ được nhuốm màu bởi trí tuệ linh hoạt, và bởi bác ái linh hoạt. Điều này theo nghĩa đen có nghĩa là tổng số vật chất nguyên tử mặt trời cuối cùng sẽ rung động theo một chủ âm khác với chủ âm của nó vào buổi bình minh đầu tiên của biểu hiện.
We can work this out in connection with the planetary Logos and the human unit, for the analogy holds good. We have a correspondence on a tiny scale in the fact that each human life period sees a man taking a more evolved physical body of a greater responsiveness, tuned to a higher key, of more adequate refinement, and vibrating to a different measure. In these three thoughts lies much information, if they are carefully studied and logically extended.
Chúng ta có thể triển khai điều này trong liên hệ với Hành Tinh Thượng Đế và đơn vị con người, vì sự tương đồng là xác đáng. Chúng ta có một sự tương ứng ở quy mô nhỏ trong sự kiện là mỗi giai đoạn đời sống con người đều cho thấy một người đảm nhận một thể xác tiến hóa hơn, có khả năng đáp ứng lớn hơn, được chỉnh theo một chủ âm cao hơn, có sự tinh luyện thích đáng hơn, và rung động theo một nhịp độ khác. Chính trong ba ý tưởng này có nhiều thông tin, nếu chúng được nghiên cứu cẩn thận và được mở rộng một cách hợp lý.
d. By the transmutation of the violet into the blue. This we cannot enlarge on. We simply make the statement, and leave its working out to those students whose karma permits and whose intuition suffices.
d. Do sự chuyển hoá từ tím sang lam. Điều này chúng ta không thể nói rộng thêm. Chúng ta chỉ nêu ra mệnh đề ấy, và để việc triển khai nó cho những đạo sinh mà nghiệp quả cho phép và trực giác đủ sức đảm đương.
e. By the withdrawal of the life, the form should gradually dissipate. The reflex action here is interesting to note, for the greater Builders and Devas who are the [Page 133] active agents during manifestation, and who hold the form in coherent shape, transmuting, applying and circulating the pranic emanations, likewise lose their attraction to the matter of the form, and turn their attention elsewhere. On the path of out-breathing (whether human, planetary or logoic) these building devas (on the same Ray as the unit desiring manifestation, or on a complementary Ray) are attracted by his will and desire, and perform their office of construction. On the path of in-breathing (whether human, planetary or logoic) they are no longer attracted, and the form begins to dissipate. They withdraw their interest and the forces (likewise entities) who are the agents of destruction, carry on their necessary work of breaking up the form; they scatter it—as it is occultly expressed—to “The four winds of Heaven,” or to the regions of the four breaths,—a fourfold separation and distribution. A hint is here given for careful consideration.
e. Do sự rút sự sống, hình tướng phải dần dần tiêu tan. Phản ứng phản chiếu ở đây đáng chú ý, vì các đấng kiến tạo lớn hơn và các thiên thần là [Page 133] những tác nhân linh hoạt trong thời kỳ biểu hiện, và là những vị giữ hình tướng trong hình dạng kết hợp, chuyển hoá, áp dụng và tuần hoàn các phát xạ prana, cũng mất đi sự hấp dẫn đối với vật chất của hình tướng, và chuyển sự chú ý của họ sang nơi khác. Trên con đường thở ra (dù là con người, hành tinh hay Thượng đế) các thiên thần kiến tạo này (ở cùng cung với đơn vị mong muốn biểu hiện, hoặc ở một cung bổ sung) bị thu hút bởi ý chí và dục vọng của y, và thực hiện chức năng kiến tạo của mình. Trên con đường hít vào (dù là con người, hành tinh hay Thượng đế) họ không còn bị thu hút nữa, và hình tướng bắt đầu tiêu tan. Họ rút lại sự quan tâm của mình và các mãnh lực (cũng là các thực thể) là những tác nhân hủy diệt tiếp tục công việc cần thiết của họ là phá vỡ hình tướng; họ phân tán nó—như được diễn tả một cách huyền bí—vào “Bốn ngọn gió của Thiên Đàng,” hay vào các vùng của bốn hơi thở,—một sự phân ly và phân bố tứ phân. Ở đây có một gợi ý cần được suy xét cẩn thận.
Though no pictures have been drawn of death bed scenes nor of the dramatic escape of the palpitating etheric body from the centre in the head, as might have been anticipated, yet some of the rules and purposes governing this withdrawal have been mentioned. We have seen how the aim of each life (whether human, planetary or solar) should be the effecting and the carrying out of a definite purpose. This purpose is the development of a more adequate form for the use of the spirit; and when this purpose is achieved then the Indweller turns his attention away, and the form disintegrates, having served his need. This is not always the case in every human life nor even in each planetary cycle. The mystery of the moon is the mystery of failure. This leads, when comprehended, to a life of dignity and offers an aim worthy of our best endeavour. When this angle of truth is universally recognised, as it will be when the intelligence of the race suffices, then evolution will proceed with certainty, and the failures be less numerous.
Dù không có những bức tranh nào được vẽ ra về các cảnh bên giường chết hay về sự thoát ra đầy kịch tính của thể dĩ thái rung động từ trung tâm ở đầu, như người ta có thể chờ đợi, tuy nhiên một số quy luật và mục đích chi phối sự rút lui này đã được đề cập đến. Chúng ta đã thấy mục tiêu của mỗi đời sống (dù là con người, hành tinh hay mặt trời) phải là thực hiện và hoàn thành một mục đích xác định. Mục đích này là phát triển một hình tướng thích đáng hơn cho tinh thần sử dụng; và khi mục đích này đạt được thì Đấng Ngự Bên Trong quay sự chú ý đi nơi khác, và hình tướng tan rã, vì đã phục vụ nhu cầu của y. Điều này không phải lúc nào cũng đúng trong mọi đời sống con người, thậm chí cũng không đúng trong mỗi chu kỳ hành tinh. Bí nhiệm của mặt trăng là bí nhiệm của sự thất bại. Khi được thấu hiểu, điều này dẫn đến một đời sống có phẩm giá và đưa ra một mục tiêu xứng đáng với nỗ lực tốt nhất của chúng ta. Khi góc độ chân lý này được thừa nhận một cách phổ quát, như sẽ xảy ra khi trí tuệ của nhân loại đủ sức, thì tiến hoá sẽ tiến hành một cách chắc chắn, và những thất bại sẽ ít đi hơn.