← A Treatise on Cosmic Fire

Cosmic Fire S2

Trích nội dung chương

(60) “Kundalini, the serpent power or mystic fire; it is called the serpentine or annular power on account of its spiral-like working or progress in the body of the ascetic developing the power in himself. It is an electric fiery occult, or fohatic power, the great pristine force which underlies all organic and inorganic matter.”—H. P. Blavatsky. (back) (60) “Kundalini, quyền năng rắn hay lửa thần bí; nó được gọi là quyền năng hình rắn hay hình vòng do hoạt động hay sự tiến triển giống xoắn ốc của nó trong thân thể của nhà khổ hạnh đang phát triển quyền năng ấy trong chính mình. Nó là một quyền năng huyền bí bằng lửa điện, hay fohat, là…


Cosmic Fire S2

(134 – 220)

DIVISION D - KUNDALINI AND THE SPINE

PHÂN ĐOẠN D - KUNDALINI VÀ CỘT SỐNG

(60, 61)

(60, 61)

(60) “Kundalini, the serpent power or mystic fire; it is called the serpentine or annular power on account of its spiral-like working or progress in the body of the ascetic developing the power in himself. It is an electric fiery occult, or fohatic power, the great pristine force which underlies all organic and inorganic matter.”—H. P. Blavatsky. (back)

(60) “Kundalini, quyền năng rắn hay lửa thần bí; nó được gọi là quyền năng hình rắn hay hình vòng do hoạt động hay sự tiến triển giống xoắn ốc của nó trong thân thể của nhà khổ hạnh đang phát triển quyền năng ấy trong chính mình. Nó là một quyền năng huyền bí bằng lửa điện, hay fohat, là mãnh lực nguyên sơ vĩ đại làm nền tảng cho mọi vật chất hữu cơ và vô cơ.”—H. P. Blavatsky. (back)

[Page 134]

[Page 134]

I. Kundalini and the three triangles.

I. Kundalini và ba tam giác.

1. In the head.

1. Trong đầu.

2. In the body.

2. Trong thể.

3. At the base of the spine.

3. Ở đáy cột sống.

II. The arousing of Kundalini.

II. Sự đánh thức Kundalini.

Very briefly, owing to the impossibility of revealing much on this necessarily dangerous subject, we will consider the subject of kundalini and the spine.

Rất vắn tắt, do không thể tiết lộ nhiều về chủ đề tất yếu nguy hiểm này, chúng ta sẽ xem xét chủ đề kundalini và cột sống.

We must remember here that we are dealing with the etheric counterpart of the spine, and not with the bony structure which we call the spine or spinal column. This is a fact not sufficiently recognised by those who treat of the matter. Too much emphasis has been laid on the three spinal channels that compose the threefold spinal cord.

Ở đây chúng ta phải nhớ rằng mình đang đề cập đến đối phần dĩ thái của cột sống, chứ không phải cấu trúc xương mà chúng ta gọi là cột sống hay trụ sống. Đây là một sự kiện chưa được thừa nhận đầy đủ bởi những người bàn về vấn đề này. Quá nhiều sự nhấn mạnh đã được đặt vào ba kênh cột sống hợp thành tủy sống tam phân.

These channels are important in connection with the [Page 135] nervous system of the man, but in relation to the matter in hand, they are not primarily so important as the etheric channel, which is the unit enclosing these three. Therefore, we must strictly remember that we are dealing with

Những kênh này quan trọng trong liên hệ với [Page 135] hệ thần kinh của con người, nhưng đối với vấn đề đang bàn, chúng không quan trọng hàng đầu bằng kênh dĩ thái, là đơn vị bao bọc ba kênh ấy. Do đó, chúng ta phải nghiêm ngặt nhớ rằng mình đang đề cập đến

a. The etheric channel,

a. Kênh dĩ thái,

b. The fire that passes up the channel,

b. Ngọn lửa đi lên qua kênh ấy,

c. The conjunction of this fire with the radiatory energising fire of the physical body at the point between the shoulder blades,

c. Sự kết hợp của ngọn lửa này với ngọn lửa tiếp sinh lực bức xạ của thể xác tại điểm giữa hai xương bả vai,

d. Their united ascension into the head,

d. Sự thăng lên hợp nhất của chúng vào đầu,

e. Their blending eventually with the manasic fire which energises the three head centres.

e. Cuối cùng sự hòa trộn của chúng với lửa manas tiếp sinh lực cho ba trung tâm đầu.

I. KUNDALINI AND THE THREE TRIANGLES

I. KUNDALINI VÀ BA TAM GIÁC

The fire energising the triangle in the head is the higher correspondence to the triangle of prana, midway in the body, and its lower reflection at the base of the spine. We have, therefore, in the human unit three important triangles:

Ngọn lửa tiếp sinh lực cho tam giác trong đầu là sự tương ứng cao hơn với tam giác prana ở giữa thể, và sự phản chiếu thấp hơn của nó ở đáy cột sống. Do đó, trong đơn vị con người chúng ta có ba tam giác quan trọng:

1. In the head: The triangle of the three major centres,

1. Trong đầu: Tam giác của ba trung tâm chính,

a. The pineal gland,

a. Tuyến tùng quả,

b. The pituitary body,

b. Tuyến yên,

c. The alta major centre.

c. Trung tâm alta major.

2. In the body: The triangle of prana,

2. Trong thể: Tam giác prana,

a. Between the shoulders,

a. Giữa hai vai,

b. Above the diaphragm,

b. Phía trên cơ hoành,

c. The spleen.

c. Lá lách.

3. At the base of the spine: The three lower centres,

3. Ở đáy cột sống: Ba trung tâm thấp,

a. A point at the bottom of the spinal column.

a. Một điểm ở đáy trụ sống.

b. and c. The two major sex organs in the male and female. (62)

b. và c. Hai cơ quan tính dục chính ở nam và nữ. (62)

(62) It is not my intention to lay any stress on the sex side of this subject, for these are organs with which the occultist has nothing to do. I will not therefore enumerate them in detail. I would only point out that in the transference of the fire at the base of the spine and the turning of its attention to the two higher triangles comes the redemption of man. (back)

(62) Tôi không có ý định nhấn mạnh vào phương diện tính dục của chủ đề này, vì đây là những cơ quan mà nhà huyền bí học không có gì để làm với chúng. Do đó tôi sẽ không liệt kê chúng một cách chi tiết. Tôi chỉ muốn chỉ ra rằng trong sự chuyển dịch ngọn lửa ở đáy cột sống và việc quay sự chú ý của nó về hai tam giác cao hơn, có sự cứu chuộc của con người. (back)

[Page 136] The merging of the fires of matter and the fires of mind results in the energising of the sumtotal of the atoms of the matter of the body. This is the secret of the immense staying power of the great thinkers and workers of the race. It results also in a tremendous stimulation of the three higher centres in the body, the head, the heart, the throat and in the electrification of this area of the body. These higher centres then form a field of attraction for the downflow of the third fire, that of Spirit. The many-petalled head centre at the top of the head becomes exceedingly active. It is the synthetic head centre, and the sumtotal of all the other centres. The stimulation of the centres throughout the body is paralleled or duplicated by the concurrent vivification of the many-petalled lotus. It is the meeting place of the three fires, those of the body, of the mind, and of the Spirit. The at-one-ment with the Ego is completed when it is fully stimulated, and combustion then ensues; this is duplicated in the subtler vehicles and causes the final consummation and the liberation of Spirit.

[Page 136] Sự hòa nhập của các lửa của vật chất và các lửa của trí tuệ dẫn đến sự tiếp sinh lực cho tổng số các nguyên tử của vật chất trong thân thể. Đây là bí mật của sức bền phi thường nơi các nhà tư tưởng và người hoạt động vĩ đại của nhân loại. Nó cũng dẫn đến một sự kích thích mãnh liệt của ba trung tâm cao hơn trong thân thể, đầu, tim, cổ họng, và đến sự điện hóa khu vực này của thân thể. Khi đó các trung tâm cao hơn này tạo thành một trường hấp dẫn cho dòng tuôn xuống của lửa thứ ba, tức lửa của Tinh thần. Trung tâm đầu nhiều cánh ở đỉnh đầu trở nên cực kỳ linh hoạt. Nó là trung tâm đầu tổng hợp, và là tổng số của tất cả các trung tâm khác. Sự kích thích các trung tâm khắp thể được song hành hay lặp lại bởi sự làm sống động đồng thời của hoa sen nhiều cánh. Nó là nơi gặp gỡ của ba lửa, các lửa của thân thể, của trí tuệ, và của Tinh thần. Sự hợp nhất với Chân ngã được hoàn tất khi nó được kích thích đầy đủ, và khi đó sự cháy bùng xảy ra; điều này được lặp lại trong các vận cụ vi tế hơn và gây ra sự thành tựu tối hậu cùng sự giải thoát của Tinh thần.

The merging of the fires of matter is the result of evolutionary growth, when left to the normal, slow development that time alone can bring. The junction of the two fires of matter is effected early in the history of man, and is the cause of the rude health that the clean-living, high-thinking man should normally enjoy. When the fires of matter have passed (united) still further along the etheric spinal channel they contact the fire of manas as it radiates from the throat centre. Clarity of thought is here essential, and it will be necessary to elucidate somewhat this rather abstruse subject.

Sự dung hợp của các lửa của vật chất là kết quả của sự tăng trưởng tiến hoá, khi được để cho phát triển bình thường và chậm chạp mà chỉ thời gian mới có thể mang lại. Sự kết hợp của hai lửa của vật chất được thực hiện sớm trong lịch sử loài người, và là nguyên nhân của sức khỏe cường tráng mà người sống thanh sạch, suy nghĩ cao thượng lẽ ra bình thường phải được hưởng. Khi các lửa của vật chất đã đi xa hơn nữa (hợp nhất) dọc theo ống sống dĩ thái, chúng tiếp xúc với lửa của manas khi nó phát xạ từ trung tâm cổ họng. Ở đây, sự minh bạch của tư tưởng là điều thiết yếu, và cần phải làm sáng tỏ phần nào chủ đề khá trừu tượng này.

1. The three major head centres (from the physical standpoint) are the:

1. Ba trung tâm đầu chính yếu (xét từ quan điểm hồng trần) là:

a. Alta centre,

a. Trung tâm alta,

b. Pineal gland,

b. Tuyến tùng quả,

c. Pituitary body. [Page 137]

c. Tuyến yên. [Page 137]

2. They form a manasic triangle, after their juncture with the two fires of the two lower triangles, i.e., when they become synthetic.

2. Chúng tạo thành một tam giác manas sau khi kết hợp với hai lửa của hai tam giác thấp hơn, tức là khi chúng trở nên tổng hợp.

3. But the purely manasic triangle prior to this merging is,

3. Nhưng tam giác thuần manas trước sự dung hợp này là,

a. The throat centre,

a. Trung tâm cổ họng,

b. The pineal gland,

b. Tuyến tùng quả,

c. Pituitary body.

c. Tuyến yên.

This is during the period when the human unit consciously aspires and throws his will on the side of evolution, thus making his life constructive.

Đây là trong giai đoạn khi đơn vị nhân loại có ý thức khát vọng và đặt ý chí của y về phía tiến hoá, nhờ đó làm cho đời sống của y có tính xây dựng.

The other fire of matter (the dual fire) is attracted upward, and merges with the fire of mind through a junction effected at the alta major centre. This centre is situated at the base of the skull, and there is a slight gap between this centre and the point at which the fires of matter issue from the spinal channel. Part of the work the man who is developing thought power has to do, is to build a temporary channel in etheric matter to bridge the gap. This channel is the reflection in physical matter of the antaskarana (63) that the Ego has to build in order to bridge the gap between the lower and higher mental, between the causal vehicle on the third subplane of the mental plane, and the manasic permanent atom on the first subplane. This is the work that all advanced thinkers are unconsciously doing now. When the gap is completely [Page 138] bridged, man’s body becomes co-ordinated with the mental body and the fires of mind and of matter are blended. It completes the perfecting of the personality life, and as earlier said, this perfecting brings a man to the portal of initiation—initiation being the seal set upon accomplished work; it marks the end of one lesser cycle of development, and the beginning of the transference of the whole work to a still higher spiral.

Lửa kia của vật chất (lửa nhị phân) bị hút lên trên, và dung hợp với lửa của trí tuệ qua một sự kết hợp được thực hiện tại trung tâm alta major. Trung tâm này nằm ở đáy sọ, và có một khoảng hở nhỏ giữa trung tâm này với điểm mà các lửa của vật chất phát ra từ ống sống. Một phần công việc mà người đang phát triển quyền năng tư tưởng phải làm là xây dựng một ống dẫn tạm thời trong vật chất dĩ thái để bắt cầu qua khoảng hở đó. Ống dẫn này là sự phản ánh trong vật chất hồng trần của antaskarana (63) mà chân ngã phải xây dựng để bắt cầu qua khoảng hở giữa hạ trí và thượng trí, giữa vận cụ nguyên nhân trên cõi phụ thứ ba của cõi trí và nguyên tử trường tồn manas trên cõi phụ thứ nhất. Đây là công việc mà tất cả những nhà tư tưởng tiến bộ hiện nay đang vô thức thực hiện. Khi khoảng hở được [Page 138] bắt cầu hoàn toàn, thân thể của con người trở nên phối hợp với thể trí và các lửa của trí tuệ và của vật chất được hòa trộn. Điều đó hoàn tất sự hoàn thiện của đời sống phàm ngã, và như đã nói trước đây, sự hoàn thiện này đưa con người đến cổng điểm đạo—điểm đạo là dấu ấn đặt lên công việc đã hoàn thành; nó đánh dấu sự kết thúc của một chu kỳ phát triển nhỏ hơn, và sự khởi đầu của việc chuyển toàn bộ công việc sang một vòng xoắn cao hơn nữa.

(63) 1. “The Master-soul is Alaya, the universal soul or Atma, each man having a ray of it in him and being supposed to be able to identify himself with and to merge himself into it.

(63) 1. “Linh hồn-Chân sư là Alaya, linh hồn vũ trụ hay Atma, mỗi người đều có một tia của nó trong mình và được cho là có thể đồng hoá với nó và hòa nhập vào nó.

2. Antaskarana is the lower Manas, the path of communication or communion between the personality and the higher Manas or human soul.

2. Antaskarana là Hạ trí, con đường giao tiếp hay hiệp thông giữa phàm ngã và Thượng trí hay linh hồn nhân loại.

At death it is destroyed as a path or medium of communication, and its remains survive in a form as the Kama-rupa—the shell.”—Voice of the Silence, page 71.

Khi chết, nó bị hủy diệt như một con đường hay phương tiện giao tiếp, và phần còn lại của nó tồn tại dưới một hình thức là Kama-rupa—cái vỏ.” —Tiếng Nói của Im Lặng, trang 71.

“The antaskarana is the imaginary path between the personal and the impersonal self, and is the highway of sensation; it is the battlefield for mastery over the personal self. It is the path of aspiration, and where one longing for goodness exists the antaskarana persists.”—See Voice of the Silence, pp. 50, 55, 56, 88. (back)

“Antaskarana là con đường tưởng tượng giữa bản ngã cá nhân và bản ngã vô ngã, và là đại lộ của cảm giác; nó là chiến trường để làm chủ bản ngã cá nhân. Nó là con đường khát vọng, và nơi nào có một lòng khao khát điều thiện tồn tại thì antaskarana vẫn tồn tại.” —Xem Tiếng Nói của Im Lặng, các trang 50, 55, 56, 88. (trở lại

We must always bear in mind that the fires from the base of the spine and the splenic triangle are fires of matter. We must not lose this recollection nor get confused. They have no spiritual effect, and concern themselves solely with the matter in which the centres of force are located. These centres of force are always directed by manas or mind, or by the conscious effort of the indwelling entity; but that entity is held back in the effects he seeks to achieve until the vehicles through which he is seeking expression, and their directing, energising centres, make adequate response. Hence it is only in due course of evolution, and when the matter of these vehicles is energised sufficiently by its own latent fires that he can accomplish his long-held purpose. Hence again the need of the ascension of the fire of matter to its own place, and its resurrection from its long burial and seeming prostitution before it can be united with its Father in Heaven, the third Logos, Who is the Intelligence of matter itself. The correspondence, again, holds good. Even the atom of the physical plane has its goal, its initiations and its ultimate triumph.

Chúng ta phải luôn ghi nhớ rằng các lửa từ đáy cột sống và tam giác lá lách là các lửa của vật chất. Chúng ta không được đánh mất sự ghi nhớ này hay trở nên lẫn lộn. Chúng không có tác động tinh thần, và chỉ liên quan duy nhất đến vật chất trong đó các trung tâm lực được định vị. Các trung tâm lực này luôn luôn được manas hay trí tuệ, hoặc bởi nỗ lực có ý thức của thực thể nội tại, điều khiển; nhưng thực thể đó bị ngăn lại trong các kết quả mà y tìm cách đạt được cho đến khi các vận cụ mà qua đó y tìm cách biểu lộ, và các trung tâm tiếp sinh lực chỉ đạo của chúng, có đáp ứng thích đáng. Vì vậy, chỉ theo tiến trình thích đáng của tiến hoá, và khi vật chất của các vận cụ này được tiếp sinh lực đầy đủ bởi các lửa tiềm ẩn riêng của nó thì y mới có thể hoàn thành mục đích đã ôm giữ từ lâu. Vì vậy lại càng cần sự thăng lên của lửa vật chất đến đúng chỗ của nó, và sự phục sinh của nó khỏi sự chôn vùi lâu dài và sự dường như bị làm ô uế trước khi nó có thể được hợp nhất với Cha của nó trên Thiên Đàng, tức Thượng đế thứ ba, Đấng là Trí Tuệ của chính vật chất. Sự tương ứng, một lần nữa, vẫn đúng. Ngay cả nguyên tử của cõi hồng trần cũng có mục tiêu, các lần điểm đạo và chiến thắng tối hậu của nó.

Other angles of this subject, such as the centres and their relationship to manas, the fire of Spirit and manas, and the eventual blending of the three fires, will be dealt with in our next two main divisions. In this division we are confining ourselves to the study of matter and fire, and must not digress, or confusion will ensue.

Những góc độ khác của chủ đề này, như các trung tâm và mối liên hệ của chúng với manas, lửa của Tinh thần và manas, và sự hòa trộn sau cùng của ba lửa, sẽ được bàn đến trong hai phần chính tiếp theo của chúng ta. Trong phần này, chúng ta đang giới hạn mình vào việc nghiên cứu vật chất và lửa, và không được đi chệch hướng, nếu không sự lẫn lộn sẽ xảy ra.

II. THE AROUSING OF KUNDALINI

II. SỰ ĐÁNH THỨC KUNDALINI

[Page 139] How this fire at the base of the spine can be aroused, the form its progression should take (dependent upon the Ray), the blending of the fire with pranic fire and their subsequent united progression, are things of the past with many, and fortunately for the race, the work was achieved without conscious effort. The second blending with the fire of manas has to be effected. Scarcely as yet have men succeeded in directing the fire up more than one channel of the threefold column; hence two-thirds of its effect in the majority is yet confined to the stimulation of the organs of race propagation. Only when the fire has circled unimpeded up another channel is the complete merging with the fire of manas effected, and only when it progresses geometrically up all the three—with simultaneous action and at uniform vibration—is the true kundalini fire fully aroused, and therefore able to perform its work of cleansing through the burning of the confining web and of the separating particles. When this is accomplished the threefold channel becomes one channel. Hence the danger.

[Page 139] Việc lửa này ở đáy cột sống có thể được đánh thức như thế nào, hình thức tiến triển của nó nên diễn ra ra sao (tùy thuộc vào cung), sự hòa trộn của lửa này với lửa prana và sự tiến triển hợp nhất tiếp theo của chúng, là những điều đối với nhiều người đã thuộc về quá khứ, và may thay cho nhân loại, công việc ấy đã được hoàn thành mà không có nỗ lực có ý thức. Sự hòa trộn thứ hai với lửa của manas phải được thực hiện. Cho đến nay, con người hầu như chưa thành công trong việc hướng lửa đi lên quá một ống dẫn của cột tam phân; vì vậy hai phần ba tác động của nó nơi đa số vẫn còn bị giới hạn vào sự kích thích các cơ quan sinh sản của nhân loại. Chỉ khi lửa đã tuần hoàn không bị cản trở lên một ống dẫn khác thì sự dung hợp hoàn toàn với lửa của manas mới được thực hiện, và chỉ khi nó tiến lên theo hình học qua cả ba ống dẫn—với hoạt động đồng thời và ở rung động đồng nhất—thì lửa kundalini chân chính mới được đánh thức trọn vẹn, và do đó có thể thực hiện công việc thanh tẩy của nó bằng cách đốt cháy mạng lưới giam hãm và các hạt phân cách. Khi điều này được hoàn thành, ống dẫn tam phân trở thành một ống dẫn duy nhất. Vì vậy mới có sự nguy hiểm.

No more can be imparted concerning this subject. He who directs his efforts to the control of the fires of matter, is (with a dangerous certainty) playing with a fire that may literally destroy him. He should not cast his eyes backwards, but should lift them to the plane where dwells his immortal Spirit, and then by self-discipline, mind-control and a definite refining of his material bodies, whether subtle or physical, fit himself to be a vehicle for the divine birth, and participate in the first Initiation. When the Christ-child (as the Christian so beautifully expresses it) has been born in the cave of the heart, then that divine guest can consciously control the lower material bodies by means of consecrated mind. Only when buddhi has assumed an ever-increasing control [Page 140] of the personality, via the mental plane (hence the need of building the antaskarana), will the personality respond to that which is above, and the lower fires mount and blend with the two higher. Only when Spirit, by the power of thought, controls the material vehicles, does the subjective life assume its rightful place, does the God within shine and blaze forth till the form is lost from sight, and “The path of the just shine ever more and more until the day be with us.”

Không thể truyền đạt thêm gì nữa về chủ đề này. Kẻ hướng nỗ lực của mình vào việc kiểm soát các lửa của vật chất là (với một sự chắc chắn nguy hiểm) đang đùa với một ngọn lửa có thể theo nghĩa đen hủy diệt y. Y không nên ngoảnh mắt nhìn về phía sau, mà nên ngước chúng lên cõi nơi Tinh thần bất tử của y ngự trị, rồi bằng tự kỷ luật, kiểm soát trí tuệ và một sự tinh luyện rõ rệt các thể vật chất của mình, dù vi tế hay hồng trần, làm cho mình thích hợp để trở thành một vận cụ cho sự giáng sinh thiêng liêng, và tham dự vào lần điểm đạo thứ nhất. Khi Hài Nhi Christ (như tín đồ Cơ Đốc diễn tả thật đẹp) đã được sinh ra trong hang động của tim, thì vị khách thiêng liêng ấy có thể có ý thức kiểm soát các thể vật chất thấp hơn bằng phương tiện của trí tuệ đã được thánh hiến. Chỉ khi Bồ đề đã đảm nhận một sự kiểm soát ngày càng tăng [Page 140] đối với phàm ngã, qua cõi trí (vì thế mới cần xây dựng antaskarana), thì phàm ngã mới đáp ứng với điều ở bên trên, và các lửa thấp hơn mới thăng lên và hòa trộn với hai lửa cao hơn. Chỉ khi Tinh thần, bằng quyền năng của tư tưởng, kiểm soát các vận cụ vật chất, thì đời sống chủ quan mới đảm nhận vị trí chính đáng của nó, Thượng đế bên trong mới chiếu sáng và bừng cháy cho đến khi hình tướng khuất khỏi tầm mắt, và “Con đường của người công chính chiếu sáng ngày càng hơn cho đến khi ngày ở cùng chúng ta.”

DIVISION E - MOTION ON THE PHYSICAL AND ASTRAL PLANES

PHÂN ĐOẠN E - CHUYỂN ĐỘNG TRÊN CÕI HỒNG TRẦN VÀ CÕI CẢM DỤC

I. Preliminary remarks.

I. Những nhận xét sơ bộ.

1. The threefold goal.

1. Mục tiêu tam phân.

2. The threefold function.

2. Chức năng tam phân.

3. The threefold mode of activity.

3. Phương thức hoạt động tam phân.

II. The effects of rotary motion.

II. Các tác động của chuyển động quay.

1. Separation.

1. Sự phân ly.

2. Momentum.

2. Động lượng.

3. Friction.

3. Ma sát.

4. Absorption.

4. Sự hấp thu.

III. The qualities of rotary motion.

III. Các phẩm tính của chuyển động quay.

1. Inertia.

1. Quán tính.

2. Mobility.

2. Tính động.

3. Rhythm.

3. Nhịp điệu.

IV. Rotary motion and symbolism.

IV. Chuyển động quay và biểu tượng học.

V. Motion and the centres.

V. Chuyển động và các trung tâm.

1. The nature of the centres.

1. Bản chất của các trung tâm.

2. The centres and the rays.

2. Các trung tâm và các cung.

3. The centres and kundalini.

3. Các trung tâm và kundalini.

4. The centres and the senses.

4. Các trung tâm và các giác quan.

5. The centres and initiation.

5. Các trung tâm và điểm đạo.

I. PRELIMINARY REMARKS

I. NHỮNG NHẬN XÉT SƠ BỘ

[Page 141] I would point out primarily and emphasize the fact that the motion we are considering is that due to the fire latent in matter itself, a motion that is the prime characteristic and basic quality of the Primordial Ray of Active Intelligence. To express it otherwise: it is the outstanding faculty of the third Logos, of Brahma [Page 142] viewed as the Creator, and this faculty is the product or result of an earlier manifestation. Each of the three Logoi, when in manifestation and thus personified, is exemplifying some one quality which predominates over the others. Each, more or less, exemplifies all, but each demonstrates one of the three aspects so profoundly as to be recognised as that aspect itself. In much the same way, for instance, the different incarnating jivas carry a vibration which is their main measure, though they may also have lesser vibrations that are subsidiary to them. Let us get this clear, for the truth embodied is fundamental.

[Page 141] Trước hết, tôi muốn chỉ ra và nhấn mạnh sự kiện rằng chuyển động mà chúng ta đang xem xét là chuyển động do lửa tiềm ẩn trong chính vật chất tạo ra, một chuyển động là đặc tính chủ yếu và phẩm tính căn bản của Cung Nguyên Sơ của Trí Tuệ Hoạt Động. Nói cách khác: đó là năng lực nổi bật của Thượng đế thứ ba, của Brahma [Page 142] được xem như Đấng Sáng Tạo, và năng lực này là sản phẩm hay kết quả của một biểu lộ trước đó. Mỗi một trong ba Thượng đế, khi biểu lộ và do đó được nhân cách hóa, đều biểu hiện một phẩm tính nào đó trội hơn các phẩm tính khác. Mỗi vị, ít nhiều, đều biểu hiện tất cả, nhưng mỗi vị chứng tỏ một trong ba phương diện sâu sắc đến mức được nhận biết như chính phương diện ấy. Chẳng hạn, cũng gần giống như vậy, các jiva nhập thể khác nhau mang một rung động là thước đo chính của chúng, dù chúng cũng có thể có những rung động nhỏ hơn phụ thuộc vào rung động chính đó. Chúng ta hãy làm cho điều này rõ ràng, vì chân lý được hàm chứa ở đây là nền tảng.

1. The threefold goal,

1. Mục tiêu tam phân,

2. The threefold function,

2. Chức năng tam phân,

3. The threefold mode of activity.

3. Phương thức hoạt động tam phân.

The Third Logos. The third Logos, or Brahma, is characterised by active intelligence; His mode of action is that which we call rotary, or that measured revolution of the matter of the system, first as a grand totality, setting in movement the material circumscribed by the entire ring-pass-not, and secondly differentiating it, according to seven vibratory rates or measures into the seven planes. On each of these planes the process is pursued, and the matter of any plane within the plane ring-pass-not shows first as a totality and then as a sevenfold differentiation. This differentiation of matter is brought about by rotary motion, and is controlled by the Law of Economy (one of the cosmic laws) with which we will deal later, only pausing here to say that this Law of Economy might be considered as the controlling factor in the life of the third Logos. Therefore:

Thượng đế thứ ba. Thượng đế thứ ba, hay Brahma, được đặc trưng bởi trí tuệ hoạt động; phương thức hành động của Ngài là điều mà chúng ta gọi là quay tròn, hay sự xoay chuyển có chừng mực của vật chất của hệ thống, trước hết như một toàn thể vĩ đại, làm cho vật chất được bao bọc trong toàn bộ vòng-giới-hạn chuyển động, và thứ hai là biến phân nó, theo bảy tốc độ hay thước đo rung động, thành bảy cõi. Trên mỗi cõi này, tiến trình ấy được tiếp tục, và vật chất của bất kỳ cõi nào trong vòng-giới-hạn của cõi trước hết biểu lộ như một toàn thể rồi sau đó như một sự biến phân thất phân. Sự biến phân của vật chất này được tạo ra bởi chuyển động quay, và được kiểm soát bởi Định luật Tiết Kiệm (một trong các định luật vũ trụ) mà chúng ta sẽ bàn đến sau, ở đây chỉ dừng lại để nói rằng Định luật Tiết Kiệm này có thể được xem như yếu tố kiểm soát trong đời sống của Thượng đế thứ ba. Vì vậy:

a. His goal is the perfect blending of Spirit and matter.

a. Mục tiêu của Ngài là sự hòa trộn hoàn hảo giữa Tinh thần và vật chất.

b. His function is the manipulation of prakriti, or matter, so as to make it fit, or equal to, the demands and needs of the Spirit. [Page 143]

b. Chức năng của Ngài là vận dụng prakriti, hay vật chất, sao cho làm cho nó thích hợp, hay tương xứng, với những đòi hỏi và nhu cầu của Tinh thần. [Page 143]

c. His mode of action is rotary, or, by the revolution of matter, to increase activity and thereby make the material more pliable.

c. Phương thức hành động của Ngài là quay tròn, hay bằng sự xoay chuyển của vật chất, làm gia tăng hoạt động và nhờ đó khiến chất liệu trở nên dễ uốn nắn hơn.

All these three concepts are governed by the Law of Economy, which is the Law of Adaptation in time and space, or the line of least resistance. This line of least resistance is that which is sought for and followed on the matter side of existence. Incidentally, Brahma manifests Will, because He is purpose, and Love because in this solar system Love is the line of least resistance. While this is an occult statement worthy of consideration, yet it must be remembered that He is primarily activity and intelligence with the aim of adaptability, and that this is His main characteristic.

Cả ba khái niệm này đều được chi phối bởi Định luật Tiết Kiệm, tức Định luật Thích Ứng trong thời gian và không gian, hay con đường ít trở ngại nhất. Con đường ít trở ngại nhất này là điều được tìm kiếm và đi theo ở phía vật chất của sự tồn tại. Nhân đây, Brahma biểu lộ Ý Chí, vì Ngài là mục đích, và biểu lộ Bác ái vì trong hệ mặt trời này Bác ái là con đường ít trở ngại nhất. Dù đây là một phát biểu huyền bí đáng để suy ngẫm, vẫn phải nhớ rằng trước hết Ngài là hoạt động và trí tuệ với mục tiêu là khả năng thích ứng, và đó là đặc tính chính của Ngài.

The Second Logos. The second Logos, Vishnu, the divine Wisdom Ray, the great principle of Buddhi seeking to blend with the principle of Intelligence, is characterised by Love. His motion is that which we might term spiral cyclic. Availing Himself of the rotary motion of all atoms, He adds to that His own form of motion or of spiralling periodical movement, and by circulation along an orbit or spheroidal path (which circles around a central focal point in an ever ascending spiral) two results are brought about:

Thượng đế thứ hai. Thượng đế thứ hai, Vishnu, Cung Minh triết thiêng liêng, nguyên khí vĩ đại của Bồ đề đang tìm cách hòa trộn với nguyên khí của Trí Tuệ, được đặc trưng bởi Bác ái. Chuyển động của Ngài là điều mà chúng ta có thể gọi là xoắn ốc chu kỳ. Tận dụng chuyển động quay của mọi nguyên tử, Ngài thêm vào đó hình thức chuyển động riêng của Ngài hay chuyển động xoắn chu kỳ định kỳ, và bằng sự tuần hoàn dọc theo một quỹ đạo hay đường hình cầu (quay quanh một tiêu điểm trung tâm trong một đường xoắn ốc luôn đi lên) hai kết quả được tạo ra:

a. He gathers the atoms into forms.

a. Ngài tập hợp các nguyên tử thành các hình tướng.

b. By means of these forms He gains the needed contact, and develops full consciousness on the five planes of human development, gradually rarefying and refining the forms as the Spirit of Love or the Flame Divine spirals ever onward towards its goal, that goal which is also the source from which it came.

b. Bằng các hình tướng này, Ngài đạt được sự tiếp xúc cần thiết, và phát triển tâm thức trọn vẹn trên năm cõi của sự phát triển nhân loại, dần dần làm cho các hình tướng trở nên thanh nhẹ và tinh luyện hơn khi Tinh thần Bác ái hay Ngọn Lửa Thiêng liêng xoắn tiến mãi về mục tiêu của nó, mục tiêu ấy cũng chính là nguồn mà từ đó nó đã xuất phát.

These forms are the sumtotal of all spheres or atoms within the solar system, or within the solar ring-pass-not, and in their seven major differentiations they are the [Page 144] spheres of the seven Spirits, or the seven planetary Logoi.

Các hình tướng này là tổng số của mọi khối cầu hay nguyên tử trong hệ mặt trời, hay trong vòng-giới-hạn mặt trời, và trong bảy biến phân chính yếu của chúng, chúng là các [Page 144] khối cầu của bảy Thánh Linh, hay bảy Hành Tinh Thượng Đế.

All lesser spheres ranging downward from these major spheres, include all grades of manifestation down to the elemental essence on the arc of involution. (64) We need to remember that on the Path of Involution, the action of Brahma is primarily felt, seeking the line of least resistance. On the Path of Evolution the work of the second Logos is felt, beginning at a point in time and space which hides the mystery of the second chain, but finding its point of accelerated vibration or the unification of the two modes of manifestation—rotary-spiral-cyclic—in the middle part of what we call the third chain. This is after all the blending of the activity of Brahma with the onward progress of Vishnu. We have the correspondence to this in the sumtotal of the effects brought about in the second and third root races.

Mọi khối cầu nhỏ hơn trải dài xuống dưới từ các khối cầu lớn này bao gồm mọi cấp độ biểu lộ cho đến Tinh chất hành khí trên cung giáng hạ tiến hoá. (64) Chúng ta cần nhớ rằng trên Con Đường Giáng Hạ Tiến Hoá, hoạt động của Brahma được cảm nhận chủ yếu, tìm kiếm con đường ít trở ngại nhất. Trên Con Đường Tiến Hoá, công việc của Thượng đế thứ hai được cảm nhận, bắt đầu tại một điểm trong thời gian và không gian che giấu huyền nhiệm của dãy thứ hai, nhưng tìm thấy điểm rung động gia tốc của nó hay sự hợp nhất của hai phương thức biểu lộ—quay tròn-xoắn ốc-chu kỳ—ở phần giữa của điều mà chúng ta gọi là dãy thứ ba. Rốt cuộc, đây là sự hòa trộn hoạt động của Brahma với sự tiến triển đi tới của Vishnu. Chúng ta có sự tương ứng với điều này trong tổng số các tác động được tạo ra trong giống dân gốc thứ hai và thứ ba.

(64) Elemental Essence is seen to consist of aggregations of matter, on one of the six non-atomic subplanes of the mental and the desire planes—aggregations which do not themselves serve as forms for any entity to inhabit, but as the material out of which such forms may be built. the turning of its attention. (back)

(64) Tinh chất hành khí được thấy là gồm những tập hợp vật chất trên một trong sáu cõi phụ không nguyên tử của cõi trí và cõi dục vọng—những tập hợp mà tự chúng không làm thành hình tướng cho bất kỳ thực thể nào cư ngụ, nhưng là chất liệu để từ đó những hình tướng như thế có thể được xây dựng. sự quay sự chú ý của nó. (trở lại)

The activity of the second Logos is carried on under the cosmic Law of Attraction. The Law of Economy has for one of its branches a subsidiary Law of marked development called the Law of Repulsion. The cosmic Laws of Attraction and Economy are therefore the raison d’être (viewed from one angle) of the eternal repulsion that goes on as Spirit seeks ever to liberate itself from form. The matter aspect always follows the line of least resistance, and repulses all tendency to group formation, while Spirit, governed by the Law of Attraction, seeks ever to separate itself from matter by the method of attracting an ever more adequate type of matter in the process of distinguishing the real from the unreal, and passing from one illusion to another until the resources of matter are fully utilised.

Hoạt động của Thượng đế thứ hai được tiến hành dưới Định luật Hấp Dẫn vũ trụ. Định luật Tiết Kiệm có một trong những phân nhánh của nó là một Định luật phụ thuộc đã phát triển rõ rệt gọi là Định luật Đẩy Lùi. Vì vậy, các Định luật Hấp Dẫn và Tiết Kiệm vũ trụ là raison d’être (xét từ một góc độ) của sự đẩy lùi vĩnh cửu diễn ra khi Tinh thần luôn tìm cách giải thoát chính nó khỏi hình tướng. Phương diện vật chất luôn đi theo con đường ít trở ngại nhất, và đẩy lùi mọi khuynh hướng hướng đến sự hình thành nhóm, trong khi Tinh thần, được chi phối bởi Định luật Hấp Dẫn, luôn tìm cách tách chính nó khỏi vật chất bằng phương pháp thu hút một loại vật chất ngày càng thích đáng hơn trong tiến trình phân biệt cái thực với cái không thực, và đi từ ảo tưởng này sang ảo tưởng khác cho đến khi các tài nguyên của vật chất được sử dụng trọn vẹn.

[Page 145] Eventually the Indweller of the form feels the urge, or attractive pull, of its Own Self. The reincarnating jiva, for instance, lost in the maze of illusion, begins in course of time to recognise (under the Law of Attraction) the vibration of its own Ego, which stands to it as the Logos of its own system, its deity in the three worlds of experience. Later, when the body egoic itself is seen as illusion, the vibration of the Monad is felt, and the jiva, working under the same law, works its way back through the matter of the two planes of superhuman evolution, till it is merged in its own essence.

[Page 145] Sau cùng, Đấng Nội Tại của hình tướng cảm nhận được sự thôi thúc, hay lực hút hấp dẫn, của chính Bản Ngã của nó. Chẳng hạn, jiva tái sinh, bị lạc trong mê cung của ảo tưởng, theo thời gian bắt đầu nhận biết (dưới Định luật Hấp Dẫn) rung động của chân ngã của chính nó, chân ngã này đối với nó cũng như Thượng đế của hệ thống riêng của nó, vị thần của nó trong ba cõi kinh nghiệm. Về sau, khi chính thể chân ngã được thấy là ảo tưởng, rung động của chân thần được cảm nhận, và jiva, hoạt động dưới cùng định luật ấy, lần đường quay trở lại xuyên qua vật chất của hai cõi của sự tiến hoá siêu nhân cho đến khi nó hòa nhập vào bản chất riêng của nó.

Therefore:

Vì vậy:

a. The goal of the second Logos is consciousness, to be achieved in co-operation with the third Logos.

a. Mục tiêu của Thượng đế thứ hai là tâm thức, đạt được trong sự hợp tác với Thượng đế thứ ba.

b. His function is the building of forms to be His instruments of experience.

b. Chức năng của Ngài là xây dựng các hình tướng để làm công cụ kinh nghiệm của Ngài.

c. His mode of action is cyclic and spiral, the revolution of the wheel of existence in ordered cycles for a specific purpose, and the progression of these spheres of matter around a fixed centre, within the solar periphery.

c. Phương thức hành động của Ngài là chu kỳ và xoắn ốc, sự quay của bánh xe tồn tại trong những chu kỳ có trật tự vì một mục đích xác định, và sự tiến triển của các khối cầu vật chất này quanh một trung tâm cố định, trong chu vi mặt trời.

These three concepts are governed by the Law of Attraction, or the law governing the interplay or the action and reaction.

Ba khái niệm này được chi phối bởi Định luật Hấp Dẫn, hay định luật chi phối sự tương tác hoặc tác động và phản tác động.

a. Between the Sun and its six brothers.

a. Giữa Mặt Trời và sáu huynh đệ của nó.

b. Between the circling whirling seven planes of the solar system.

b. Giữa bảy cõi quay tròn xoáy lượn của hệ mặt trời.

c. Between everything in the matter of all forms, the spheres of matter themselves and the aggregate of those spheres that are embodied in the forms of still others.

c. Giữa mọi thứ trong vật chất của mọi hình tướng, chính các khối cầu vật chất và tổng thể những khối cầu ấy được nhập thể trong các hình tướng của những khối cầu khác nữa.

The First Logos. The first Logos is the Ray of Cosmic Will. His mode of action is a literal driving forward of the solar ring-pass-not through space, and until the end of this mahamanvantara or day of Brahma (the logoic [Page 146] cycle) we shall not be able to conceive of the first aspect of will or power as it really is. We know it now as the will to exist, manifesting through the matter of the forms (the Primordial Ray and the Divine Ray), and we know it as that which in some occult manner links the system up with its cosmic centre. In a manner inconceivable to us the first Logos brings in the influence of other constellations. When this first aspect is better understood (in the next mahamanvantara) the work of the seven Rishis of the Great Bear, (65) and the supreme influence of Sirius will be comprehended; in this present manifestation of the Son, or of the Vishnu aspect, we are concerned more closely with the Pleiades and their influence via the Sun, and, in relation to our planet, via Venus.

Thượng đế thứ nhất. Thượng đế thứ nhất là Cung của Ý Chí Vũ Trụ. Phương thức hành động của Ngài là một sự thúc đẩy theo nghĩa đen vòng-giới-hạn mặt trời tiến xuyên qua không gian, và cho đến cuối Đại giai kỳ sinh hóa hay ngày của Brahma này (chu kỳ logoic [Page 146]) chúng ta sẽ không thể quan niệm được phương diện thứ nhất của ý chí hay quyền năng như nó thực sự là gì. Hiện nay chúng ta biết nó như ý chí tồn tại, biểu lộ qua vật chất của các hình tướng (Cung Nguyên Sơ và Cung Thiêng liêng), và chúng ta biết nó như điều bằng một cách huyền bí nào đó liên kết hệ thống với trung tâm vũ trụ của nó. Theo một cách không thể quan niệm được đối với chúng ta, Thượng đế thứ nhất mang vào ảnh hưởng của các chòm sao khác. Khi phương diện thứ nhất này được thấu hiểu rõ hơn (trong Đại giai kỳ sinh hóa kế tiếp) công việc của bảy Rishi của Đại Hùng Tinh, (65) và ảnh hưởng tối thượng của Sirius sẽ được hiểu rõ; trong biểu lộ hiện tại này của Con, hay của phương diện Vishnu, chúng ta quan tâm gần gũi hơn đến Pleiades và ảnh hưởng của chúng qua Mặt Trời, và, liên hệ với hành tinh của chúng ta, qua Sao Kim.

(65) “The Hindus place their seven primitive Rishis in the Great Bear. The prototypes or the animating source of the seven Heavenly Men, the planetary Logoi, are considered the seven Existences who function through the seven stars of the Bear.”—S. D., II, 668. (back)

(65) “Người Hindu đặt bảy vị Rishi nguyên thủy của họ trong Đại Hùng Tinh. Các nguyên mẫu hay nguồn sinh động của bảy Đấng Thiên Nhân, các Hành Tinh Thượng Đế, được xem là bảy Hiện Hữu hoạt động qua bảy ngôi sao của chòm Gấu.” — S. D., II, 668. (trở lại)

This subject of the first Logos, manifesting only in connection with the other two in the system, is a profound mystery, which is not fully understood by even those who have taken the sixth Initiation.

Chủ đề này về Thượng đế thứ nhất, chỉ biểu lộ trong sự liên hệ với hai Thượng đế kia trong hệ thống, là một huyền nhiệm sâu xa mà ngay cả những người đã trải qua lần điểm đạo thứ sáu cũng chưa thấu hiểu trọn vẹn.

The first Logos embodies the “will to live” and it was through His instrumentality that the Manasaputras came into objective existence in relation to the human and deva hierarchies. In this system, the blending of the Divine Ray of Wisdom and the Primordial Ray of intelligent matter forms the great dual evolution; back of both these cosmic Entities stands another Entity Who is the embodiment of Will, and Who is the utiliser of forms—though not the forms of any other than the Greater Building devas and the human hierarchies in time and space. He is the animating principle; the will-to-live aspect of the seven Hierarchies. Nevertheless these seven Hierarchies are (as says H. P. B.) the sevenfold ray of wisdom, the dragon in its seven forms. (S. D., I, 100-108.) (67, 68) This is a [Page 147] deep mystery, and only a clue to it all can be found at this time by man in the contemplation of his own nature in the three worlds of his manifestation. Just as our Logos is seeking objectivity through His solar system in its threefold form of which the present is the second, so man seeks objectivity through his three bodies—physical, astral and mental. At this time he is polarised in his astral body, or in his second aspect in like manner as the undifferentiated Logos is polarised in His second aspect. In time and space as we now conceive it, the sum total of jivas are governed by feeling, emotion, and desire, and not by the will, yet at the same time the will aspect governs manifestation, for the Ego who is the source of personality shows in manifestation the will to love.

Thượng đế thứ nhất thể hiện “ý chí sống”, và chính nhờ công cụ của Ngài mà các Manasaputras đi vào sự tồn tại khách quan trong liên hệ với các huyền giai nhân loại và thiên thần. Trong hệ này, sự hòa trộn của Cung thiêng liêng Minh Triết và Cung nguyên sơ của vật chất thông tuệ tạo thành cuộc tiến hoá nhị nguyên vĩ đại; đằng sau cả hai Thực thể vũ trụ này còn có một Thực thể khác, Đấng là hiện thân của Ý Chí, và là người sử dụng các hình tướng—dù không phải các hình tướng nào khác ngoài các thiên thần đại kiến tạo và các huyền giai nhân loại trong thời gian và không gian. Ngài là nguyên khí linh hoạt; là phương diện ý chí-sống của bảy Huyền Giai. Tuy nhiên, bảy Huyền Giai này lại là (như H. P. B. nói) cung minh triết thất phân, con rồng trong bảy hình thức của nó. (S. D., I, 100-108.) (67, 68) Đây là một [Page 147] huyền nhiệm sâu xa, và hiện nay con người chỉ có thể tìm được một đầu mối cho toàn bộ điều này bằng cách chiêm ngưỡng bản chất của chính mình trong ba cõi thấp của sự biểu hiện của y. Cũng như Thượng đế của chúng ta đang tìm kiếm tính khách quan qua hệ mặt trời của Ngài trong hình thức tam phân của nó mà hiện nay là hình thức thứ hai, thì con người cũng tìm kiếm tính khách quan qua ba thể của mình—thể xác, thể cảm dục và thể trí. Hiện nay y đang phân cực trong thể cảm dục của mình, hay trong phương diện thứ hai của y, cũng giống như Thượng đế chưa biến phân đang phân cực trong phương diện thứ hai của Ngài. Trong thời gian và không gian như chúng ta hiện quan niệm, tổng số các jivas bị chi phối bởi cảm giác, cảm xúc và dục vọng, chứ không phải bởi ý chí, tuy nhiên đồng thời phương diện ý chí vẫn chi phối sự biểu hiện, vì chân ngã là nguồn của phàm ngã biểu lộ trong sự biểu hiện ý chí yêu thương.

(67) Subba Rao says in Five Years of Theosophy, page 102: “As a general rule, whenever seven entities are mentioned in the ancient occult science of India in any connection whatsoever, you must suppose that those seven entities came into existence from three primary entities; and that these three entities, again, are evolved out of a single entity or monad. To take a familiar example, the seven coloured rays in the solar ray are evolved out of three primary coloured rays; and the three primary colours coexist with the four secondary colours in the solar ray. Similarly the three primary entities which brought man into existence coexist in him with the four secondary entities which arose from different combinations of the three primary entities. Read also S. D., I, 190, 191. (back)

(67) Subba Rao nói trong Five Years of Theosophy, trang 102: “Theo quy luật chung, bất cứ khi nào bảy thực thể được nhắc đến trong khoa huyền bí cổ xưa của Ấn Độ trong bất kỳ mối liên hệ nào, bạn phải giả định rằng bảy thực thể ấy đi vào tồn tại từ ba thực thể sơ nguyên; và ba thực thể này, đến lượt chúng, lại được tiến hoá ra từ một thực thể đơn nhất hay chân thần. Lấy một ví dụ quen thuộc, bảy tia màu sắc trong tia mặt trời được tiến hoá ra từ ba tia màu sắc sơ nguyên; và ba màu sơ nguyên cùng đồng tồn tại với bốn màu thứ cấp trong tia mặt trời. Tương tự như vậy, ba thực thể sơ nguyên đã đưa con người vào tồn tại cùng đồng tồn tại trong y với bốn thực thể thứ cấp phát sinh từ những sự kết hợp khác nhau của ba thực thể sơ nguyên. Cũng hãy đọc S. D., I, 190, 191. (back)

The difficulty lies in the inability of the finite mind to grasp the significance of this threefold manifestation, but by thoughtful brooding over the Personality and its relation to the Ego, who is the love aspect and who nevertheless in relation to manifestation in the three worlds is the will aspect likewise, will come some faint light upon the same problems raised to Deity, or expanded from microcosmic to macrocosmic spheres.

Khó khăn nằm ở chỗ trí tuệ hữu hạn không thể nắm bắt được thâm nghĩa của sự biểu hiện tam phân này, nhưng bằng sự suy tư sâu sắc về Phàm ngã và mối liên hệ của nó với Chân ngã, vốn là phương diện bác ái và tuy vậy trong liên hệ với sự biểu hiện trong ba cõi thấp cũng đồng thời là phương diện ý chí, sẽ có chút ánh sáng mờ nhạt soi vào chính những vấn đề ấy khi được nâng lên tới Thượng đế, hay được mở rộng từ các khối cầu vi mô sang các khối cầu vĩ mô.

The Mahadeva aspect or the first Logos (who embodies cosmic will) is controlled by the Law of Synthesis, the cosmic law governing the tendency to unification; only in this case, it is not the unification of matter and Spirit, but the unification of the seven into the three, and into the one. These three figures primarily stand for Spirit, [Page 148] for quality, for principle, and not so primarily for matter, although matter, being inspired by spirit, conforms. The Law of Synthesis has a direct connection with One Who is still higher than our Logos, and is the law of control exercised by Him upon the Logos of our system. This is a spiritual relationship that tends to abstraction or to that synthesis of the spiritual elements that will result in their conscious return (the whole point lying in that word “conscious”) to their cosmic point of synthesis, or of unification with their source. Their source is the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID, as we have earlier seen.

Phương diện Mahadeva hay Thượng đế thứ nhất (Đấng thể hiện ý chí vũ trụ) được kiểm soát bởi Định luật Tổng Hợp, định luật vũ trụ chi phối khuynh hướng hướng tới hợp nhất; chỉ có điều trong trường hợp này, đó không phải là sự hợp nhất của vật chất và tinh thần, mà là sự hợp nhất của bảy vào trong ba, và vào trong một. Ba con số này trước hết tượng trưng cho Tinh thần, [Page 148] cho phẩm tính, cho nguyên khí, chứ không chủ yếu tượng trưng cho vật chất, mặc dù vật chất, vì được tinh thần truyền cảm hứng, vẫn tuân theo. Định luật Tổng Hợp có liên hệ trực tiếp với một Đấng còn cao hơn Thượng đế của chúng ta, và là định luật kiểm soát do Ngài thực thi lên Thượng đế của hệ chúng ta. Đây là một mối liên hệ tinh thần có khuynh hướng đi đến sự trừu xuất, hay đến sự tổng hợp các yếu tố tinh thần mà kết quả sẽ là sự trở về hữu thức của chúng (toàn bộ điểm then chốt nằm trong từ “hữu thức” ấy) về điểm tổng hợp vũ trụ của chúng, hay sự hợp nhất với cội nguồn của chúng. Cội nguồn của chúng là ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ, như chúng ta đã thấy trước đây.

Therefore, in connection with the first Logos, we can sum up as we did with the other Logoi:

Do đó, liên quan đến Thượng đế thứ nhất, chúng ta có thể tóm lược như đã làm với các Thượng đế khác:

a. His goal is the synthesis of the Spirits who are gaining consciousness through manifestation, and who, by means of experience in matter, are gaining in quality.

a. Mục tiêu của Ngài là sự tổng hợp các Tinh thần đang đạt được tâm thức qua sự biểu hiện, và đang nhờ kinh nghiệm trong vật chất mà gia tăng phẩm tính.

b. His function is, by means of will, to hold them in manifestation for the desired period, and later to abstract them, and blend them again with their spiritual source. Hence the necessity of remembering that fundamentally, the first Logos controls the cosmic entities or extra-systemic beings; the second Logos controls the solar entities; the third Logos controls the lunar entities and their correspondences elsewhere in the system.

b. Chức năng của Ngài là, bằng ý chí, giữ chúng trong sự biểu hiện trong thời kỳ mong muốn, và về sau trừu xuất chúng, rồi hòa trộn chúng trở lại với cội nguồn tinh thần của chúng. Vì thế cần nhớ rằng, về căn bản, Thượng đế thứ nhất kiểm soát các thực thể vũ trụ hay các hữu thể ngoài hệ; Thượng đế thứ hai kiểm soát các thực thể thái dương; Thượng đế thứ ba kiểm soát các thực thể thái âm và các tương ứng của chúng ở nơi khác trong hệ.

This rule must not be carried too far in detail as long as man’s mind is of its present calibre. The mystery lies in the realisation that all is carried on in a divine co-operation that has its base outside the system. Hence too the fact that the first Logos is called the Destroyer, because He is abstraction, if viewed from below upwards. His work is the synthesis of Spirit with Spirit, their [Page 149] eventual abstraction from matter, and their unification with their cosmic source. Hence also He is the one who brings about pralaya or the disintegration of form,—the form from which the Spirit has been abstracted.

Không nên đẩy quy luật này đi quá xa vào chi tiết chừng nào trí tuệ con người vẫn còn ở tầm mức hiện nay. Huyền nhiệm nằm trong sự nhận biết rằng mọi sự đều được tiến hành trong một sự hợp tác thiêng liêng có nền tảng ở bên ngoài hệ. Vì thế cũng có sự kiện rằng Thượng đế thứ nhất được gọi là Đấng Hủy Diệt, bởi vì Ngài là sự trừu xuất, nếu nhìn từ dưới lên trên. Công việc của Ngài là sự tổng hợp Tinh thần với Tinh thần, sự [Page 149] trừu xuất cuối cùng của chúng ra khỏi vật chất, và sự hợp nhất của chúng với cội nguồn vũ trụ của chúng. Vì thế Ngài cũng là Đấng mang lại pralaya hay sự tan rã của hình tướng,—hình tướng mà từ đó Tinh thần đã được trừu xuất.

If we carry the analogy down to the microcosm a glimpse can be gained of the same idea and hence ability to comprehend with greater facility. The Ego (being to the man on the physical plane what the Logos is to His system) is likewise the animating will, the destroyer of forms, the producer of pralaya and the One Who withdraws the inner spiritual man from out of his threefold body; he draws them to himself the centre of his little system. The Ego is extra-cosmic as far as the human being on the physical plane is concerned, and in the realisation of this fact may come elucidation of the true cosmic problem involving the Logos and “the spirits in prison,” as the Christian puts it.

Nếu chúng ta đưa phép loại suy xuống tiểu thiên địa, có thể thoáng thấy cùng một ý tưởng ấy và nhờ đó có khả năng thấu hiểu dễ dàng hơn. Chân ngã (đối với con người trên cõi hồng trần cũng như Thượng đế đối với hệ của Ngài) cũng là ý chí linh hoạt, là kẻ hủy diệt các hình tướng, là tác nhân tạo ra pralaya và là Đấng rút con người tinh thần bên trong ra khỏi thể tam phân của y; chân ngã kéo chúng về với chính nó, trung tâm của hệ nhỏ bé của nó. Chân ngã là ngoài vũ trụ xét theo con người trên cõi hồng trần, và trong sự nhận biết sự kiện này có thể xuất hiện sự làm sáng tỏ vấn đề vũ trụ chân thực liên quan đến Thượng đế và “những tinh thần trong ngục tù”, như cách người Cơ Đốc giáo nói.

c. His mode of action is a driving forward; the will that lies back of evolutionary development is His, and He it is who drives Spirit onward through matter till it eventually emerges from matter, having achieved two things:

c. Phương thức hành động của Ngài là một sự thúc đẩy tiến lên; ý chí nằm phía sau sự phát triển tiến hoá là của Ngài, và chính Ngài thúc đẩy Tinh thần tiến qua vật chất cho đến khi cuối cùng nó xuất hiện ra khỏi vật chất, sau khi đã đạt được hai điều:

First, Added quality to quality, and therefore emerging plus the gained faculty that experience has engendered.

Thứ nhất, cộng thêm phẩm tính vào phẩm tính, và do đó xuất hiện với năng lực đã đạt được mà kinh nghiệm đã tạo ra.

Second, Increased the vibration of matter itself by means of its own energy, so that matter at the moment of pralaya and obscuration will have two main characteristics,—activity, the result of the Law of Economy, and a dual magnetism which will be the result of the Law of Attraction.

Thứ hai, làm tăng rung động của chính vật chất bằng năng lượng riêng của nó, để cho vật chất vào lúc pralaya và sự che khuất sẽ có hai đặc tính chính,—hoạt động, là kết quả của Định luật Tiết Kiệm, và một từ điện nhị nguyên sẽ là kết quả của Định luật Hấp Dẫn.

All of these three concepts are governed by the Law of Synthesis, which is the law of a coherent will-to-be, persisting [Page 150] not only in time and space, but within a still vaster cycle.

Tất cả ba khái niệm này đều được chi phối bởi Định luật Tổng Hợp, là định luật của một ý chí-gắn bó-với-hiện-hữu mạch lạc, tồn tại bền bỉ [Page 150] không chỉ trong thời gian và không gian, mà còn trong một chu kỳ còn rộng lớn hơn nữa.

These preliminary statements have been laid down in an endeavour to show the synthesis of the whole. In the use of words comes limitation, and a clouding of the idea; words literally veil or hide thoughts, detract from their clarity, and confuse them by expression. The work of the second and third Logoi (being the production of the objectivity of the essential Spirit) is more easy to grasp in broad outline than the more esoteric work of the first Logos, which is that of the animating will.

Những phát biểu sơ bộ này đã được nêu ra nhằm cố gắng chỉ ra sự tổng hợp của toàn thể. Trong việc dùng ngôn từ có sự giới hạn, và có sự làm mờ ý tưởng; ngôn từ theo nghĩa đen che phủ hay giấu kín tư tưởng, làm giảm sự sáng tỏ của chúng, và làm chúng rối lên qua sự diễn đạt. Công việc của Thượng đế thứ hai và thứ ba (là tạo ra tính khách quan của Tinh thần cốt yếu) dễ nắm bắt trong đại cương hơn là công việc huyền bí hơn của Thượng đế thứ nhất, vốn là công việc của ý chí linh hoạt.

In terms of fire another angle of expression may perhaps elucidate.

Xét theo thuật ngữ của lửa, một góc độ diễn đạt khác có lẽ sẽ làm sáng tỏ hơn.

The third Logos is fire in matter. He burns by friction, and gains speed and added vibration by the rotation of the spheres, their interplay thus producing friction with each other.

Thượng đế thứ ba là lửa trong vật chất. Ngài bốc cháy bằng ma sát, và đạt được tốc độ cùng rung động gia tăng nhờ sự quay của các khối cầu, sự tương tác của chúng do đó tạo ra ma sát với nhau.

The second Logos is solar fire. He is the fire of matter and the electric fire of Spirit blended, producing, in time and space, that fire which we call solar. He is the quality of the flame, or the essential flame, produced by this merging. A correspondence to this may be seen in the radiatory fire of matter, and in the emanation, for instance, from the central sun, from a planet, or from a human being,—which latter emanation we call magnetism. A man’s emanation, or characteristic vibration, is the result of the blending of Spirit and matter, and the relative adequacy of the matter, or the form, to the life within. The objective solar system, or the sun in manifestation, is the result of the blending of Spirit (electric fire) with matter (fire by friction), and the emanations of the Son, in time and space, are dependent upon the adequacy of the matter, and of the form to the life within.

Thượng đế thứ hai là Lửa Thái dương. Ngài là lửa của vật chất và Lửa Điện của Tinh thần hòa trộn, tạo ra, trong thời gian và không gian, ngọn lửa mà chúng ta gọi là thái dương. Ngài là phẩm tính của ngọn lửa, hay ngọn lửa cốt yếu, được tạo ra bởi sự hòa nhập này. Một tương ứng của điều này có thể thấy trong lửa bức xạ của vật chất, và trong sự phát xạ, chẳng hạn, từ mặt trời trung tâm, từ một hành tinh, hay từ một con người,—mà sự phát xạ sau cùng này chúng ta gọi là từ điện. Sự phát xạ của một người, hay rung động đặc trưng của y, là kết quả của sự hòa trộn giữa Tinh thần và vật chất, và của mức độ tương đối thích đáng của vật chất, hay của hình tướng, đối với sự sống bên trong. Hệ mặt trời khách quan, hay mặt trời trong sự biểu hiện, là kết quả của sự hòa trộn giữa Tinh thần (Lửa Điện) với vật chất (Lửa ma sát), và các phát xạ của Con, trong thời gian và không gian, tùy thuộc vào mức độ thích đáng của vật chất, và của hình tướng đối với sự sống bên trong.

The first Logos is electric fire, the fire of pure Spirit. Yet in manifestation He is the Son, for by union with matter (the mother) the Son is produced by Whom He is [Page 151] known. “I and my Father are One” (Bible. John, 10:30) is the most occult statement in the Christian Bible, for it not only refers to the union of a man with his source, the monad, via the ego, but to the union of all life with its source, the will aspect, the first Logos.

Thượng đế thứ nhất là Lửa Điện, lửa của Tinh thần thuần túy. Tuy nhiên trong sự biểu hiện Ngài là Con, vì nhờ sự kết hợp với vật chất (người mẹ), Con được sinh ra, nhờ Đấng ấy mà Ngài được [Page 151] biết đến. “Ta và Cha Ta là Một” (Bible. John, 10:30) là phát biểu huyền bí nhất trong Kinh Thánh Cơ Đốc, vì nó không chỉ nói đến sự hợp nhất của một con người với cội nguồn của mình, chân thần, qua chân ngã, mà còn nói đến sự hợp nhất của mọi sự sống với cội nguồn của nó, phương diện ý chí, Thượng đế thứ nhất.

We will now endeavor to confine ourselves strictly to the subject of fire in matter, and its active effect upon the sheaths of which it is the animating factor, and upon the centers which come primarily under its control.

Giờ đây chúng ta sẽ cố gắng giới hạn mình một cách nghiêm ngặt vào chủ đề lửa trong vật chất, và tác động hoạt động của nó lên các vỏ bọc mà nó là nhân tố linh hoạt, cũng như lên các trung tâm chủ yếu nằm dưới sự kiểm soát của nó.

As we have been told, and as is generally recognised, the effect of heat in matter is to produce that activity which we call rotary, or the revolution of the spheres. Some of the ancient books, and among them a few that are not yet accessible in the occident, have taught that the entire vault of heaven is a vast sphere, revolving slowly like a stupendous wheel, and carrying with it, in its revolution, the entire number of constellations and of universes contained within it. This is a statement unverifiable by the finite mind of man at his present stage, and with his present scientific accessories, but (like all occult statements) it contains within it the seed of thought, the germ of truths, and the clue to the mystery of the universe. Suffice it here to say, that the rotation of the spheres within the solar periphery is a recognized occult fact, and indications are available to prove that science itself likewise formulates the hypothesis that the solar ring-pass-not similarly rotates in its appointed place among the constellations. But at this juncture we will not deal with this angle of the subject, but will study the rotary action of the spheres of the system, and of its content—all the lesser spheres of every degree—remembering ever to keep the distinction clearly in mind that we are dealing now simply with the inherent characteristic of matter itself, and not with matter in co-operation with [Page 152] its opposite, Spirit, which co-operation brings about spiral-cyclic movement.

Như chúng ta đã được bảo, và như thường được thừa nhận, tác động của nhiệt trong vật chất là tạo ra hoạt động mà chúng ta gọi là quay tròn, hay sự xoay chuyển của các khối cầu. Một số sách cổ, và trong số đó có vài sách vẫn chưa thể tiếp cận được ở phương Tây, đã dạy rằng toàn bộ vòm trời là một khối cầu bao la, quay chậm như một bánh xe khổng lồ, và mang theo trong vòng quay của nó toàn bộ số chòm sao và vũ trụ chứa bên trong nó. Đây là một phát biểu mà trí tuệ hữu hạn của con người ở giai đoạn hiện nay, với các phương tiện khoa học hiện có, không thể kiểm chứng được, nhưng (giống như mọi phát biểu huyền bí) nó chứa trong nó hạt giống của tư tưởng, mầm mống của chân lý, và đầu mối dẫn đến huyền nhiệm của vũ trụ. Ở đây chỉ cần nói rằng sự quay của các khối cầu bên trong chu vi thái dương là một sự kiện huyền bí đã được công nhận, và có những chỉ dấu sẵn có để chứng minh rằng chính khoa học cũng xây dựng giả thuyết rằng vòng-giới-hạn thái dương cũng quay tương tự trong vị trí đã định của nó giữa các chòm sao. Nhưng vào lúc này chúng ta sẽ không bàn đến góc độ ấy của chủ đề, mà sẽ nghiên cứu hoạt động quay tròn của các khối cầu của hệ, và của nội dung của nó—mọi khối cầu nhỏ hơn ở mọi cấp độ—luôn luôn nhớ giữ rõ trong tâm trí sự phân biệt rằng hiện nay chúng ta chỉ đang đề cập đến đặc tính cố hữu của chính vật chất, chứ không phải vật chất trong sự hợp tác với [Page 152] đối cực của nó là Tinh thần, mà sự hợp tác ấy tạo ra chuyển động xoắn ốc-chu kỳ.

II. THE EFFECTS OF ROTARY MOTION

II. CÁC TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỘNG QUAY TRÒN

Every sphere in the body macrocosmic rotates. This rotation produces certain effects, which effects might be enumerated as follows:

Mọi khối cầu trong thể đại thiên địa đều quay. Sự quay này tạo ra những tác động nhất định, và các tác động ấy có thể được liệt kê như sau:

1. Separation is produced by rotary movement. By means of this action, all the spheres became differentiated, and form, as we know, the following atomic units:

1. Sự phân ly được tạo ra bởi chuyển động quay tròn. Nhờ hoạt động này, mọi khối cầu trở nên biến phân, và tạo thành, như chúng ta biết, các đơn vị nguyên tử sau đây:

a. The solar system, recognised as a cosmic atom, all the so-called atoms within its periphery being regarded as molecular.

a. Hệ mặt trời, được công nhận như một nguyên tử vũ trụ, mọi cái gọi là nguyên tử bên trong chu vi của nó đều được xem là phân tử.

b. The seven planes, regarded as seven vast spheres, rotating latitudinally within the solar periphery.

b. Bảy cõi, được xem như bảy khối cầu bao la, quay theo vĩ độ bên trong chu vi thái dương.

c. The seven rays, regarded as the seven veiling forms of the Spirits, themselves spheroidal bands of colour, rotating longitudinally, and forming (in connection with the seven planes) a vast interlacing network. These two sets of spheres (planes and rays) form the totality of the solar system, and produce its form spheroidal.

c. Bảy cung, được xem như bảy hình tướng che phủ của các Tinh thần, bản thân chúng là những dải màu hình cầu, quay theo kinh độ, và tạo thành (liên hệ với bảy cõi) một mạng lưới đan xen bao la. Hai tập hợp khối cầu này (các cõi và các cung) tạo thành toàn thể của hệ mặt trời, và tạo ra hình thể cầu của nó.

Let us withdraw our thought at this juncture from the informing Consciousnesses of these three types of spheres, and concentrate our attention upon the realisation that each plane is a vast sphere of matter, actuated by latent heat and progressing or rotating in one particular direction. Each ray of light, no matter of what colour, is likewise a sphere of matter of the utmost tenuity, rotating in a direction opposite to that of the planes. These rays produce by their mutual interaction a radiatory effect upon each other. Thus by the approximation of the latent heat in matter, and the interplay of that heat upon other spheres that totality is produced which we call “fire by friction.”

Vào lúc này, hãy rút tư tưởng của chúng ta ra khỏi các Tâm thức phú linh của ba loại khối cầu này, và tập trung sự chú ý vào sự nhận biết rằng mỗi cõi là một khối cầu vật chất bao la, được thúc động bởi nhiệt tiềm ẩn và đang tiến triển hay quay theo một hướng đặc biệt. Mỗi tia sáng, bất kể màu gì, cũng là một khối cầu vật chất cực kỳ tinh tế, quay theo hướng ngược lại với các cõi. Các tia này tạo ra, nhờ sự tương tác lẫn nhau, một hiệu quả bức xạ lên nhau. Như vậy, nhờ sự tiếp cận của nhiệt tiềm ẩn trong vật chất, và sự tương tác của nhiệt ấy lên các khối cầu khác, mà toàn thể ấy được tạo ra, cái mà chúng ta gọi là “Lửa ma sát.”

[Page 153] In connection with these two types of spheres we might, by way of illustration and for the sake of clarity, say that:

[Page 153] Liên quan đến hai loại khối cầu này, chúng ta có thể, để minh họa và cho rõ ràng, nói rằng:

a. The planes rotate from east to west.

a. Các cõi quay từ đông sang tây.

b. The rays rotate from north to south.

b. Các cung quay từ bắc xuống nam.

Students should here bear carefully in mind that we are not referring here to points in space; we are simply making this distinction and employing words in order to make an abstruse idea more comprehensible. From the point of view of the totality of the rays and planes there is no north, south, east nor west. But at this point comes a correspondence and a point of real interest, though also of complexity. By means of this very interaction, the work of the four Maharajahs or Lords of Karma, is made possible; the quaternary and all sumtotals of four can be seen as one of the basic combinations of matter, produced by the dual revolutions of planes and rays.

Ở đây các đạo sinh nên cẩn thận ghi nhớ rằng chúng ta không nói đến các điểm trong không gian; chúng ta chỉ đơn giản tạo ra sự phân biệt này và dùng ngôn từ để làm cho một ý tưởng khó hiểu trở nên dễ hiểu hơn. Xét từ quan điểm của toàn thể các cung và các cõi thì không có bắc, nam, đông hay tây. Nhưng tại điểm này xuất hiện một tương ứng và một điểm thật sự đáng quan tâm, dù cũng phức tạp. Chính nhờ sự tương tác này mà công việc của bốn Maharajah hay các Chúa Tể Nghiệp Quả trở nên khả hữu; bộ bốn và mọi tổng thể của bốn có thể được thấy như một trong những tổ hợp căn bản của vật chất, được tạo ra bởi các vòng quay nhị nguyên của các cõi và các cung.

The seven planes, likewise atoms, rotate on their own axis, and conform to that which is required of all atomic lives.

Bảy cõi, cũng là các nguyên tử, quay trên trục riêng của chúng, và tuân theo điều được đòi hỏi nơi mọi sự sống nguyên tử.

The seven spheres of any one plane, which we call subplanes, equally correspond to the system; each has its seven revolving wheels or planes that rotate through their own innate ability, due to latent heat—the heat of the matter of which they are formed.

Bảy khối cầu của bất kỳ một cõi nào, mà chúng ta gọi là các cõi phụ, cũng tương ứng với hệ; mỗi cõi có bảy bánh xe hay cõi quay của nó, quay nhờ năng lực bẩm sinh riêng, do nhiệt tiềm ẩn—nhiệt của vật chất mà chúng được tạo thành.

The spheres or atoms of any form whatsoever, from the form logoic, which we have somewhat dealt with, down to the ultimate physical atom and the molecular matter that goes to the construction of the physical body, show similar correspondences and analogies.

Các khối cầu hay nguyên tử của bất kỳ hình tướng nào, từ hình tướng logoic mà chúng ta đã phần nào bàn đến, xuống đến nguyên tử hồng trần tối hậu và vật chất phân tử dùng để cấu tạo thể xác, đều cho thấy những tương ứng và loại suy tương tự.

All these spheres conform to certain rules, fulfil certain conditions and are characterised by the same fundamental qualifications. Later we will consider these conditions, [Page 154] but must now continue with the effect of rotary action.

Tất cả các khối cầu này đều tuân theo những quy luật nhất định, đáp ứng những điều kiện nhất định và được đặc trưng bởi cùng những phẩm tính căn bản. Sau này chúng ta sẽ xem xét các điều kiện ấy, [Page 154] nhưng giờ đây phải tiếp tục với tác động của hoạt động quay tròn.

2. Momentum, resulting therefore in repulsion, was produced by the rotary movement. We have referred to the Law of Repulsion as one of the subsidiary branches of the great Law of Economy, which governs matter. Repulsion is brought about by rotary action, and is the basis of that separation which prevents the contact of any atom with any other atom, which keeps the planets at fixed points in space and separated stably from each other; which keeps them at a certain distance from their systemic centre, and which likewise keeps the planes and subplanes from losing their material identity. Here we can see the beginning of that age-long duel between Spirit and matter, which is characteristic of manifestation, one aspect working under the Law of Attraction, and the other governed by the Law of Repulsion. From aeon to aeon the conflict goes on, with matter becoming less potent. Gradually (so gradually as to seem negated when viewed from the physical plane) the attractive power of Spirit is weakening the resistance of matter till, at the close of the greater solar cycles, destruction (as it is called) will ensue, and the Law of Repulsion be overcome by the Law of Attraction. It is a destruction of form and not of matter itself, for matter is indestructible. This can be seen even now in the microcosmic life, and is the cause of the disintegration of form, which holds itself as a separated unit by the very method of repulsing all other forms. It can be seen working out gradually and inappreciably in connection with the Moon, which no longer is repulsive to the earth, and is giving of her very substance to this planet. H. P. B. hints at this in The Secret Doctrine, and I have here suggested the law under which this is so. (S. D., I, 179.) (70)

2. Động lượng, do đó dẫn đến sự đẩy lùi, được tạo ra bởi chuyển động quay tròn. Chúng ta đã đề cập đến Định luật Đẩy Lùi như một trong những nhánh phụ của Định luật Tiết Kiệm vĩ đại, định luật chi phối vật chất. Sự đẩy lùi được tạo ra bởi hoạt động quay tròn, và là nền tảng của sự phân ly ngăn cản sự tiếp xúc của bất kỳ nguyên tử nào với bất kỳ nguyên tử nào khác, giữ các hành tinh ở những điểm cố định trong không gian và ổn định tách biệt với nhau; giữ chúng ở một khoảng cách nhất định với trung tâm hệ của chúng, và cũng giữ cho các cõi và cõi phụ không đánh mất bản sắc vật chất của chúng. Ở đây chúng ta có thể thấy khởi đầu của cuộc đấu tranh lâu dài giữa Tinh thần và vật chất, vốn là đặc trưng của sự biểu hiện, một phương diện hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn, còn phương diện kia được chi phối bởi Định luật Đẩy Lùi. Từ aeon này sang aeon khác, cuộc xung đột vẫn tiếp diễn, với vật chất ngày càng kém mạnh hơn. Dần dần (chậm đến mức dường như bị phủ nhận khi nhìn từ cõi hồng trần) quyền năng hấp dẫn của Tinh thần đang làm suy yếu sức kháng cự của vật chất cho đến khi, vào lúc kết thúc các chu kỳ thái dương lớn hơn, sự hủy diệt (như cách gọi) sẽ xảy ra, và Định luật Đẩy Lùi bị Định luật Hấp Dẫn vượt thắng. Đó là sự hủy diệt hình tướng chứ không phải của chính vật chất, vì vật chất là bất khả hủy. Điều này có thể thấy ngay cả bây giờ trong sự sống tiểu thiên địa, và là nguyên nhân của sự tan rã của hình tướng, vốn tự giữ mình như một đơn vị tách biệt bằng chính phương pháp đẩy lùi mọi hình tướng khác. Có thể thấy điều này đang diễn ra dần dần và không dễ nhận ra liên quan đến Mặt Trăng, vốn không còn đẩy lùi Trái Đất nữa, và đang trao chính chất liệu của nó cho hành tinh này. H. P. B. gợi ý điều này trong Giáo Lý Bí Nhiệm, và ở đây tôi đã nêu ra định luật chi phối điều đó. (S. D., I, 179.) (70)

(70) “The moon (our satellite) pouring forth into the lowest globe of our planetary chain (Globe D. “Earth”), all its energy and powers; and having transferred them to a new centre, becoming virtually a dead planet in which, since the birth of our globe, rotation has ceased.”—S. D., I, 179. (back)

(70) “Mặt trăng (vệ tinh của chúng ta) tuôn đổ vào bầu hành tinh thấp nhất của dãy hành tinh chúng ta (Bầu D. “Trái Đất”), toàn bộ năng lượng và quyền năng của nó; và sau khi đã chuyển chúng sang một trung tâm mới, trên thực tế trở thành một hành tinh chết mà trong đó, kể từ khi bầu hành tinh của chúng ta ra đời, sự quay đã chấm dứt.”—S. D., I, 179. (back)

[Page 155] 3. Frictional effect on all other bodies atomic, producing:

[Page 155] 3. Tác động ma sát lên mọi thể nguyên tử khác, tạo ra:

a. Vitality of the atom,

a. Sinh lực của nguyên tử,

b. Coherence of the atom,

b. Sự kết dính của nguyên tử,

c. Ability to function.

c. Khả năng hoạt động.

d. Heat supplied to the composite form of which it may form a fragmentary part, whether it is the heat supplied by the rotation of a planet within the form macrocosmic, or the rotation of a cell in the physical body within the form microcosmic.

d. Nhiệt được cung cấp cho hình tướng hợp thành mà nó có thể là một phần tử cấu thành, dù đó là nhiệt được cung cấp bởi sự quay của một hành tinh trong hình tướng đại thiên địa, hay sự quay của một tế bào trong thể xác bên trong hình tướng tiểu thiên địa.

e. Final combustion or disintegration, when the fires latent and radiatory have achieved a specific stage. This is the secret of final obscuration and of pralaya, but cannot be dissociated from the two other factors of solar and electric fire.

e. Sự bốc cháy cuối cùng hay tan rã, khi các ngọn lửa tiềm ẩn và bức xạ đã đạt đến một giai đoạn nhất định. Đây là bí mật của sự che khuất cuối cùng và của pralaya, nhưng không thể tách rời khỏi hai yếu tố kia là Lửa Thái dương và Lửa Điện.

4. Absorption, through that expression which is seen in all whirling spheres of atomic matter at whichever surface in the sphere corresponds to the point called in a planet the North Pole. Some idea of the intention that I seek to convey may be grasped by a study of the atom as portrayed in Babbitt’s “Principles of Light and Colour,” and later in Mrs. Besant’s “Occult Chemistry.” This depression is produced by radiations which proceed counter to the rotations of the sphere and pass down from the north southwards to a midway point. From there they tend to increase the latent heat, to produce added momentum and to give specific quality according to the source from which the radiation comes. This absorption of extra-spheroidal emanation is the secret of the dependence of one sphere upon another, and has its correspondence in the cycling of a ray through any plane sphere. Every atom, though termed spheroidal, is more accurately a sphere slightly depressed at one location, [Page 156] that location being the place through which flows the force which animates the matter of the sphere. This is true of all spheres, from the solar down to the atom of matter that we call the cell in the body physical. Through the depression in the physical atom flows the vitalising force from without. Every atom is both positive and negative; it is receptive or negative where the inflowing force is concerned, and positive or radiatory where its own emanations are concerned, and in connection with its effect upon its environment.

4. Sự hấp thụ, thông qua biểu hiện được thấy trong mọi khối cầu xoáy của vật chất nguyên tử tại bất cứ bề mặt nào trong khối cầu tương ứng với điểm được gọi trên một hành tinh là Cực Bắc. Có thể nắm được phần nào ý định mà tôi muốn truyền đạt bằng cách nghiên cứu nguyên tử như được mô tả trong tác phẩm “Principles of Light and Colour,” của Babbitt, và sau đó trong “Occult Chemistry.” của bà Besant. Chỗ lõm này được tạo ra bởi các bức xạ đi ngược chiều quay của khối cầu và đi xuống từ phía bắc về phía nam đến một điểm ở giữa. Từ đó chúng có khuynh hướng làm tăng nhiệt tiềm ẩn, tạo ra thêm động lượng và ban cho phẩm tính đặc thù tùy theo nguồn mà bức xạ phát ra. Sự hấp thụ phát xạ ngoài khối cầu này là bí mật của sự phụ thuộc của khối cầu này vào khối cầu khác, và có tương ứng của nó trong sự tuần hoàn của một cung qua bất kỳ khối cầu cõi nào. Mọi nguyên tử, dù được gọi là hình cầu, chính xác hơn là một khối cầu hơi lõm tại một vị trí, [Page 156] vị trí ấy là nơi mà qua đó mãnh lực làm linh hoạt vật chất của khối cầu chảy vào. Điều này đúng với mọi khối cầu, từ khối cầu thái dương xuống đến nguyên tử vật chất mà chúng ta gọi là tế bào trong thể xác. Qua chỗ lõm trong nguyên tử hồng trần chảy vào mãnh lực tiếp sinh lực từ bên ngoài. Mọi nguyên tử vừa là dương vừa là âm; nó tiếp nhận hay âm xét theo mãnh lực chảy vào, và dương hay bức xạ xét theo các phát xạ riêng của nó, cũng như liên quan đến tác động của nó lên môi trường xung quanh.

This can be predicated likewise of the entire ring-pass-not of the solar system in relation to its cosmic environment. Force flows into the solar system from three directions via three channels:

Điều này cũng có thể được khẳng định đối với toàn bộ vòng-giới-hạn của hệ mặt trời trong liên hệ với môi trường vũ trụ của nó. Mãnh lực chảy vào hệ mặt trời từ ba hướng qua ba kênh:

a. The sun Sirius,

a. Sao Thiên Lang,

b. The Pleiades,

b. Thất Tinh,

c. The Great Bear.

c. Đại Hùng Tinh.

I would here point out the connection or correspondence in this statement to an earlier one made when speaking of solar radiation, and the channels through which it can be felt. These currents or radiations we call

Ở đây tôi muốn chỉ ra mối liên hệ hay tương ứng trong phát biểu này với một phát biểu trước đó khi nói về bức xạ thái dương, và các kênh mà qua đó nó có thể được cảm nhận. Những dòng hay bức xạ này chúng ta gọi là

a. Akashic.

a. Akashic.

b. Electrical.

b. Điện.

c. Pranic.

c. Prana.

In considering the occult meaning of what is here suggested, one point in elucidation may be imparted, leaving the working out of the other two relationships to the student. The Pleiades are to the solar system, the source of electrical energy, and just as our sun is the embodiment of the heart, or love aspect, of the Logos (Who is Himself the heart of ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID) so the Pleiades are the feminine opposite of Brahma. Think this out, for much is contained in this statement.

Khi xem xét ý nghĩa huyền bí của điều được gợi ra ở đây, có thể truyền đạt một điểm để làm sáng tỏ, còn việc khai triển hai mối liên hệ kia xin để lại cho đạo sinh. Pleiades đối với hệ mặt trời là nguồn năng lượng điện, và cũng như mặt trời của chúng ta là hiện thân của phương diện tim, hay phương diện bác ái, của Thượng đế (Đấng mà chính Ngài là tim của ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ) thì Pleiades là đối cực nữ tính của Brahma. Hãy suy ngẫm điều này, vì có rất nhiều điều được hàm chứa trong phát biểu ấy.

Certain broad statements have been laid down here concerning the rotation of matter, and the results produced [Page 157] in diverse spheres by that rotation. What is predicated of any one sphere or atom can be predicated of all, if it is in any way an occult statement of fact and we should be able to work out these four effects:

Ở đây đã nêu ra một số khẳng định khái quát liên quan đến sự quay của vật chất, và các kết quả được tạo ra [Page 157] trong những khối cầu khác nhau bởi sự quay đó. Điều được khẳng định về bất kỳ khối cầu hay nguyên tử nào cũng có thể được khẳng định về tất cả, nếu đó theo bất kỳ cách nào là một phát biểu huyền bí về sự kiện, và chúng ta phải có thể khai triển bốn hiệu quả này:

1. Separation, or the repulsive effect,

1. Sự tách rời, hay hiệu quả đẩy lùi,

2. Momentum, or the interior effect,

2. Động lượng, hay hiệu quả nội tại,

3. Frictional, environal effect,

3. Hiệu quả ma sát của môi trường chung quanh,

4. Absorption, the receptive or attractive effect,

4. Sự hấp thu, hiệu quả tiếp nhận hay thu hút,

in every grade and type of atom,—a solar system, a sun, a planet, a plane, a ray, the body of the Ego, or a cell in the physical body.

trong mọi cấp độ và loại nguyên tử,—một hệ mặt trời, một mặt trời, một hành tinh, một cõi, một cung, thể của chân ngã, hay một tế bào trong thể xác.

III. THE QUALITIES OF ROTARY MOTION

III. CÁC PHẨM TÍNH CỦA CHUYỂN ĐỘNG QUAY

Every rotating sphere of matter is characterised by the three qualities, of inertia, mobility and rhythm.

Mọi khối cầu vật chất đang quay đều được đặc trưng bởi ba phẩm tính: quán tính, tính động và nhịp điệu.

1. Inertia. This characterises every atom at the dawn of manifestation, at the beginning of a solar cycle or mahamanvantara (or one hundred years of Brahma), at the commencement of a chain, of a globe, or of any spheroidal form whatsoever without exception. This statement, therefore, includes the totality of manifesting forms within the solar system.

1. Quán tính. Điều này đặc trưng cho mọi nguyên tử vào buổi bình minh của biểu hiện, vào lúc khởi đầu một chu kỳ mặt trời hay một Đại giai kỳ sinh hóa (hay một trăm năm của Brahma), vào lúc bắt đầu một Dãy, một bầu hành tinh, hay bất kỳ hình tướng cầu thể nào mà không có ngoại lệ. Vì vậy, phát biểu này bao gồm toàn thể các hình tướng đang biểu hiện trong hệ mặt trời.

Let us keep clearly in our minds that we are simply considering the three qualities of matter itself and are not considering consciousness. Inertia is the result of lack of activity and the relative quiescence of the fires of matter. These fires, during obscuration or Pralaya, though latent, are free from the stimulation that comes from the aggregation of atoms into form, and the consequent interplay of the forms upon each other. Where form exists and the Laws of Repulsion and Attraction are coming into force, making radiation therefore possible, then comes stimulation, emanative effect, and a gradual speeding up which eventually, from within the atom itself, by its own rotary movement produces the next quality. [Page 158]

Chúng ta hãy ghi nhớ thật rõ rằng chúng ta chỉ đang xem xét ba phẩm tính của chính vật chất, chứ không xem xét tâm thức. Quán tính là kết quả của sự thiếu hoạt động và sự tĩnh tại tương đối của các lửa của vật chất. Các lửa này, trong thời kỳ che khuất hay Giai kỳ qui nguyên, tuy tiềm ẩn, nhưng không chịu sự kích thích phát sinh từ sự kết tụ các nguyên tử thành hình tướng, và từ sự tương tác hệ quả của các hình tướng lên nhau. Ở đâu có hình tướng tồn tại và các Định luật Đẩy Lùi cùng Thu Hút bắt đầu có hiệu lực, nhờ đó làm cho sự bức xạ trở nên khả hữu, thì ở đó xuất hiện sự kích thích, hiệu quả phát xạ, và một sự gia tốc dần dần mà cuối cùng, từ bên trong chính nguyên tử, bằng chuyển động quay của nó, tạo ra phẩm tính kế tiếp. [Page 158]

2. Mobility. The inherent fires of matter produce rotary movement. Eventually this rotation results in radiation. The radiation of matter, the result of its dual heat, produces necessarily an effect upon other atoms in its environment (it matters not whether that environment is cosmic space, systemic space, or the periphery of the physical body of a man), and this interaction and interplay causes repulsion and attraction according to the polarity of the cosmic, systemic or physical atom. Eventually this produces coherence of form; bodies, or aggregates of atoms come into being or manifestation, and persist for the length of their greater or lesser cycles until the third quality is brought into definite recognition.

2. Tính động. Các lửa cố hữu của vật chất tạo ra chuyển động quay. Cuối cùng sự quay này dẫn đến bức xạ. Sự bức xạ của vật chất, là kết quả của nhiệt song đôi của nó, tất yếu tạo ra một hiệu quả lên các nguyên tử khác trong môi trường chung quanh nó (môi trường ấy là không gian vũ trụ, không gian hệ thống, hay chu vi của thể xác của một con người cũng không thành vấn đề), và sự tương tác cùng tác động qua lại này gây ra sự đẩy lùi và thu hút tùy theo sự phân cực của nguyên tử vũ trụ, hệ thống hay hồng trần. Cuối cùng điều này tạo ra sự kết dính của hình tướng; các thể, hay các tập hợp nguyên tử, đi vào hiện hữu hay biểu hiện, và tồn tại suốt độ dài của các chu kỳ lớn hay nhỏ của chúng cho đến khi phẩm tính thứ ba được nhận biết một cách rõ rệt.

3. Rhythm, or the attainment of the point of perfect balance and of equilibrium. This point of perfect balance then produces certain specific effects which might be enumerated and pondered upon, even if to our finite minds they may seem paradoxical and contradictory.

3. Nhịp điệu, hay sự đạt đến điểm quân bình hoàn hảo và thế cân bằng. Điểm quân bình hoàn hảo này sau đó tạo ra một số hiệu quả đặc thù có thể được liệt kê và suy ngẫm, dù đối với trí tuệ hữu hạn của chúng ta chúng có thể dường như nghịch lý và mâu thuẫn.

The limitation lies with us and with the use of words, and not in any real inaccuracy. These effects are:

Sự giới hạn nằm ở chúng ta và ở việc sử dụng ngôn từ, chứ không phải ở bất kỳ sự thiếu chính xác thực sự nào. Các hiệu quả ấy là:

a. The disintegration of form,

a. Sự tan rã của hình tướng,

b. The liberation of the essence which the form confines,

b. Sự giải thoát tinh chất mà hình tướng giam giữ,

c. The separations of Spirit and matter,

c. Sự phân ly của tinh thần và vật chất,

d. The end of a cycle, whether planetary, human or solar,

d. Sự chấm dứt của một chu kỳ, dù là hành tinh, nhân loại hay mặt trời,

e. The production of obscuration, and the end of objectivity or manifestation,

e. Sự tạo ra tình trạng che khuất, và sự chấm dứt của tính khách quan hay biểu hiện,

f. The reabsorption of the essence, and the merging again of differentiated matter with the root of matter,

f. Sự tái hấp thu tinh chất, và sự hòa nhập trở lại của vật chất đã biến phân với cội nguồn của vật chất,

g. The end of time and space as we understand it,

g. Sự chấm dứt của thời gian và không gian như chúng ta hiểu,

h. The unification of the three Fires and the bringing about of spontaneous combustion, if one might so express it, [Page 159]

h. Sự hợp nhất của ba Lửa và việc tạo ra sự tự bốc cháy, nếu có thể diễn tả như vậy, [Page 159]

i. The synthetic activity of matter in the three types of movement,—rotary, spiralling-cyclic and onward progression,—which unified movement will be produced by the interaction of the fires of matter, of mind and of Spirit upon each other.

i. Hoạt động tổng hợp của vật chất trong ba loại chuyển động,—quay, xoắn ốc-chu kỳ và tiến triển về phía trước,—mà chuyển động hợp nhất ấy sẽ được tạo ra bởi sự tương tác của các lửa của vật chất, của trí tuệ và của tinh thần lên nhau.

When the point of rhythm or balance is reached in a solar system, in a plane, in a ray, in a causal body, and in the physical body, then the occupier of the form is loosed from prison; he can withdraw to his originating source, and is liberated from the sheath which has hitherto acted as a prison; and he can escape from an environment which he has utilised for the gaining of experience and as a battle ground between the pairs of opposites. The sheath or form of whatever kind then automatically disintegrates.

Khi điểm nhịp điệu hay quân bình được đạt tới trong một hệ mặt trời, trong một cõi, trong một cung, trong một thể nguyên nhân, và trong thể xác, thì kẻ cư ngụ trong hình tướng được tháo khỏi ngục tù; y có thể rút lui về nguồn gốc phát sinh của mình, và được giải thoát khỏi lớp vỏ bấy lâu nay đã hoạt động như một nhà tù; và y có thể thoát khỏi một môi trường mà y đã sử dụng để thu nhận kinh nghiệm và như một chiến trường giữa các cặp đối nghịch. Khi đó lớp vỏ hay hình tướng thuộc bất kỳ loại nào cũng tự động tan rã.

IV. ROTARY MOTION AND SYMBOLISM

IV. CHUYỂN ĐỘNG QUAY VÀ BIỂU TƯỢNG HỌC