Trích nội dung chương
[Page 186] What are the senses? How many are there? And what is their connection with the indwelling Man, the Thinker, the Divine Manasaputra? These are questions of vital moment, and in their due comprehension comes the ability wisely to follow the path of knowledge. [Page 186] Các giác quan là gì? Có bao nhiêu giác quan? Và mối liên hệ của chúng với Con Người nội tại, Đấng Tư Tưởng, Manasaputra Thiêng Liêng là gì? Đây là những câu hỏi có tầm quan trọng thiết yếu, và trong sự thấu hiểu đúng đắn về chúng sẽ xuất hiện khả năng khôn ngoan bước theo con đường tri thức.
7. Every sense pervades every other sense....—S. D., III, 569.
7. Mỗi giác quan thấm khắp mọi giác quan khác....—S. D., III, 569.
There is no universal order.
Không có một trật tự phổ quát nào.
All are on all planes.—S. D., III, 550.
Tất cả đều hiện diện trên mọi cõi.—S. D., III, 550.
8. The senses correspond with every other septenate in nature.
8. Các giác quan tương ứng với mọi bộ bảy khác trong bản chất.
See S. D., III, 448. (Compare S. D., III, 497.
Xem S. D., III, 448. (So sánh S. D., III, 497.
Practical reading....—S. D., I, 288 (back)
Đọc phần thực hành....—S. D., I, 288 (back)
[Page 186] What are the senses? How many are there? And what is their connection with the indwelling Man, the Thinker, the Divine Manasaputra? These are questions of vital moment, and in their due comprehension comes the ability wisely to follow the path of knowledge.
[Page 186] Các giác quan là gì? Có bao nhiêu giác quan? Và mối liên hệ của chúng với Con Người nội tại, Đấng Tư Tưởng, Manasaputra Thiêng Liêng là gì? Đây là những câu hỏi có tầm quan trọng thiết yếu, và trong sự thấu hiểu đúng đắn về chúng sẽ xuất hiện khả năng khôn ngoan bước theo con đường tri thức.
The senses might be defined as those organs whereby man becomes aware of his surroundings. We should perhaps express them not so much as organs (for after all, an organ is a material form, existent for a purpose) but as media whereby the Thinker comes in contact with his environment. They are the means whereby he makes investigation on the plane of the gross physical, for instance; the means whereby he buys his experience, whereby he discovers that which he requires to know, whereby he becomes aware, and whereby he expands his consciousness. We are dealing here with the five senses as used by the human being. In the animal these five senses exist but, as the thinking correlating faculty is lacking, as the “relation between” the self and the not-self is but little developed, we will not concern ourselves with them at this juncture. The senses in the animal kingdom are group faculty and demonstrate as racial instinct. The senses in man are his individual asset, and demonstrate:
Các giác quan có thể được định nghĩa là những cơ quan nhờ đó con người trở nên nhận biết được môi trường chung quanh mình. Có lẽ chúng ta nên diễn đạt chúng không hẳn như những cơ quan (vì rốt cuộc, một cơ quan là một hình tướng vật chất, hiện hữu vì một mục đích) mà như những môi giới nhờ đó Đấng Tư Tưởng tiếp xúc với môi trường của mình. Chúng là những phương tiện nhờ đó y khảo sát trên cõi hồng trần thô trược chẳng hạn; là những phương tiện nhờ đó y mua lấy kinh nghiệm của mình, nhờ đó y khám phá điều mình cần biết, nhờ đó y trở nên nhận biết, và nhờ đó y mở rộng tâm thức của mình. Ở đây chúng ta đang bàn đến năm giác quan như được con người sử dụng. Nơi loài vật, năm giác quan này có tồn tại nhưng, vì thiếu năng lực tư tưởng tương quan, vì “mối liên hệ giữa” tự ngã và phi-ngã chỉ phát triển rất ít, nên vào lúc này chúng ta sẽ không quan tâm đến chúng. Các giác quan trong giới động vật là một năng lực nhóm và biểu lộ thành bản năng chủng loại. Các giác quan nơi con người là tài sản cá nhân của y, và biểu lộ như sau:
a. As the separate realisation of self-consciousness.
a. Như sự chứng nghiệm riêng biệt về ngã thức.
b. As ability to assert that individualism.
b. Như khả năng khẳng định tính cá biệt ấy.
c. As a valuable means to self-conscious evolution.
c. Như một phương tiện quý giá cho sự tiến hoá ngã thức.
d. As a source of knowledge.
d. Như một nguồn tri thức.
e. As the transmuting faculty towards the close of life in the three worlds.
e. Như năng lực chuyển hoá vào lúc gần kết thúc sự sống trong ba cõi giới.
As we know, the senses are five in number and in order of development are as follows:
Như chúng ta biết, các giác quan có số lượng là năm và theo thứ tự phát triển thì như sau:
a. Hearing.
a. Thính giác.
b. Touch.
b. Xúc giác.
c. Sight.
c. Thị giác.
d. Taste.
d. Vị giác.
e. Smell.
e. Khứu giác.
[Page 187] Each of these five senses has a definite connection with one or other plane, and has also a correspondence on all planes.
[Page 187] Mỗi một trong năm giác quan này có một liên hệ xác định với cõi này hay cõi khác, và cũng có một sự tương ứng trên mọi cõi.
Let us first take up each of these senses, point out some interesting facts in connection with them, and suggest their subplane correspondence.
Trước hết, chúng ta hãy xét từng giác quan này, nêu ra vài sự kiện lý thú liên quan đến chúng, và gợi ý sự tương ứng cõi phụ của chúng.
PLANE
SENSE
1.
Physical
Hearing.
2.
Astral
Touch or feeling.
3.
Mental
Sight.
4.
Buddhic
Taste.
5.
Atmic
Smell.
In the two lower planes in the three worlds—the astral and the physical—the five subplanes of human endeavour are the five highest. The two lowest subplanes, the sixth and seventh, are what we might express as “below the threshold,” and concern forms of life beneath the human altogether. We have a corroborating analogy in the fact that the two earliest root-races in this round are not definitely human, and that it is the third root-race which is really human for the first time. Counting, therefore, from the bottom upwards it is only the third subplane on the physical and the astral planes which mark the commencement of human effort, leaving five subplanes to be subdued. On the mental plane the five lower subplanes have to be subjugated during purely human evolution. When the consciousness is centred on the fifth subplane (counting from below upwards) then the planes of abstraction—from the standpoint of man in the three worlds—supervene the two subplanes of synthesis, demonstrating through the synthesis of the five senses. In the evolution of the Heavenly Man we have exactly the same thing: the five planes of endeavour, the five lower planes of the solar system, and the two higher planes of abstraction, the spiritual or monadic and the divine, or logoic. [Page 188]
Trên hai cõi thấp hơn trong ba cõi giới—cõi cảm dục và cõi hồng trần—năm cõi phụ của nỗ lực nhân loại là năm cõi phụ cao nhất. Hai cõi phụ thấp nhất, tức cõi phụ thứ sáu và thứ bảy, là điều mà chúng ta có thể gọi là “ở dưới ngưỡng,” và liên quan đến những hình thái sự sống hoàn toàn ở dưới mức con người. Chúng ta có một sự tương đồng xác nhận trong sự kiện rằng hai giống dân gốc sớm nhất trong cuộc tuần hoàn này chưa hẳn là con người, và chính giống dân gốc thứ ba mới thật sự là con người lần đầu tiên. Vì vậy, nếu tính từ dưới lên trên thì chỉ cõi phụ thứ ba trên cõi hồng trần và cõi cảm dục mới đánh dấu sự khởi đầu của nỗ lực nhân loại, để lại năm cõi phụ cần phải được chinh phục. Trên cõi trí, năm cõi phụ thấp hơn phải được chế ngự trong suốt tiến trình tiến hoá thuần túy nhân loại. Khi tâm thức được định tâm trên cõi phụ thứ năm (tính từ dưới lên trên) thì các cõi trừu tượng—xét từ quan điểm của con người trong ba cõi giới—xuất hiện, tức hai cõi phụ tổng hợp, biểu lộ qua sự tổng hợp của năm giác quan. Trong sự tiến hoá của Đấng Thiên Nhân, chúng ta có đúng cùng một điều như thế: năm cõi nỗ lực, năm cõi thấp của hệ mặt trời, và hai cõi cao của sự trừu tượng, tức cõi tinh thần hay chân thần và cõi thiêng liêng hay logoic. [Page 188]
MICROCOSMIC SENSORY EVOLUTION
SỰ TIẾN HOÁ GIÁC QUAN CỦA TIỂU THIÊN ĐỊA
Plane
Physical
1.
Hearing
5th
gaseous
2.
Touch, feeling
4th
first etheric
3.
Sight
3rd
super-etheric
4.
Taste
2nd
sub-atomic
5.
Smell
1st
atomic
Astral
1.
Clairaudience
5th
2.
Psychometry
4th
3.
Clairvoyance
3rd
4.
Imagination
2nd
5.
Emotional idealism
1st
Mental
1.
Higher clairaudience
7th
FORM
2.
Planetary psychometry
6th
FORM
3.
Higher clairvoyance
5th
FORM
4.
Discrimination
4th
FORM
5.
Spiritual discernment
3rd
FORMLESS
Response to group vibration
2nd
FORMLESS
Spiritual telepathy
1st
FORMLESS
Buddhic
1.
Comprehension
7th
2.
Healing
6th
3.
Divine vision
5th
4.
Intuition
4th
5.
Idealism
3rd
Atmic
1.
Beatitude
7th
2.
Active service
6th
3.
Realisation
5th
4.
Perfection
4th
5.
All knowledge
3rd
It can be noted that we have not summed up the two planes of abstraction on the atmic and the buddhic planes, the reason being that they mark a degree of realisation which is the property of initiates of higher degree [Page 189] than that of the adept, and which is beyond the concept of the evolving human unit, for whom this treatise is written.
Cần lưu ý rằng chúng ta chưa tổng kết hai cõi trừu tượng trên các cõi atma và Bồ đề, lý do là vì chúng đánh dấu một mức độ chứng nghiệm vốn là sở hữu của các điểm đạo đồ có cấp độ cao hơn [Page 189] chân sư, và vượt ngoài quan niệm của đơn vị nhân loại đang tiến hoá, là đối tượng mà bộ luận này được viết cho.
We might here, for the sake of clarity, tabulate the five different aspects of the five senses on the five planes, so that their correspondences may be readily visualised, using the above table as the basis:
Ở đây, để cho rõ ràng, chúng ta có thể lập bảng năm phương diện khác nhau của năm giác quan trên năm cõi, để các sự tương ứng của chúng có thể được hình dung một cách dễ dàng, dùng bảng trên làm cơ sở:
a. The First Sense...... Hearing.
a. Giác quan thứ nhất...... Thính giác.
1. Physical hearing.
1. Thính giác hồng trần.
2. Clairaudience.
2. Thông nhĩ.
3. Higher clairaudience.
3. Thông nhĩ cao hơn.
4. Comprehension (of four sounds)
4. Sự thấu hiểu (bốn âm thanh)
5. Beatitude.
5. Chí phúc.
b. The Second Sense...... Touch or feeling.
b. Giác quan thứ hai...... Xúc giác hay cảm nhận.
1. Physical touch.
1. Xúc giác hồng trần.
2. Psychometry.
2. Thuật trắc tâm.
3. Planetary psychometry.
3. Thuật trắc tâm hành tinh.
4. Healing.
4. Trị liệu.
5. Active service.
5. Phụng sự tích cực.
c. The Third Sense...... Sight.
c. Giác quan thứ ba...... Thị giác.
1. Physical sight.
1. Thị giác hồng trần.
2. Clairvoyance.
2. Thông nhãn.
3. Higher clairvoyance.
3. Thông nhãn cao hơn.
4. Divine vision.
4. Tầm nhìn thiêng liêng.
5. Realisation.
5. Chứng nghiệm.
d. The Fourth Sense...... Taste.
d. Giác quan thứ tư...... Vị giác.
1. Physical taste.
1. Vị giác hồng trần.
2. Imagination.
2. Sự tưởng tượng.
3. Discrimination.
3. Sự phân biện.
4. Intuition.
4. Trực giác.
5. Perfection.
5. Sự hoàn hảo.
e. The Fifth Sense.......Smell.
e. Giác quan thứ năm.......Khứu giác.
1. Physical smell.
1. Khứu giác hồng trần.
2. Emotional idealism.
2. Chủ nghĩa lý tưởng cảm xúc.
3. Spiritual discernment.
3. Phân biện tinh thần.
4. Idealism.
4. Chủ nghĩa lý tưởng.
5. All knowledge.
5. Mọi tri thức.
[Page 190] Let us now proceed to take up each of these senses in detail:
[Page 190] Giờ đây, chúng ta hãy tiếp tục xét chi tiết từng giác quan này:
a. Hearing. This, very appropriately, is the first sense to be manifested; the first aspect of manifestation is that of sound, and necessarily therefore we would expect sound to be the first thing noticed by man on the physical plane, the plane of densest manifestation, and of the most marked effects of sound, regarding it as a creating factor. Pre-eminently the physical plane is the plane of hearing and hence the sense ascribed to the lowest plane of evolution, and of each of the five planes. On this seventh or lowest plane man has to come to full cognisance of the effect of the Sacred Word as it is in process of sounding forth. As it reverberates throughout the system, it drives matter into its appointed place, and on the physical plane finds its point of deepest materiality and of most concrete demonstration. The key for man to discover and turn, concerns itself with the revealing of the mystery of:
a. Thính giác. Điều này, rất thích hợp, là giác quan đầu tiên được biểu lộ; phương diện đầu tiên của biểu hiện là âm thanh, và vì thế tất nhiên chúng ta sẽ mong đợi âm thanh là điều đầu tiên được con người ghi nhận trên cõi hồng trần, cõi của biểu hiện đậm đặc nhất, và của những hiệu quả rõ rệt nhất của âm thanh, khi xem nó như một yếu tố sáng tạo. Nổi bật hơn hết, cõi hồng trần là cõi của thính giác và do đó là giác quan được quy cho cõi thấp nhất của tiến hoá, và của mỗi một trong năm cõi. Trên cõi thứ bảy hay thấp nhất này, con người phải đi đến sự nhận biết đầy đủ về hiệu quả của Linh từ Thiêng Liêng khi nó đang trong tiến trình được xướng lên. Khi nó vang dội khắp hệ thống, nó đẩy vật chất vào vị trí đã được chỉ định của nó, và trên cõi hồng trần tìm thấy điểm vật chất tính sâu đậm nhất và sự biểu lộ cụ thể nhất. Chìa khóa mà con người phải khám phá và xoay mở liên quan đến việc vén lộ huyền nhiệm của:
a. His own sound.
a. Âm thanh của chính y.
b. His brother’s sound.
b. Âm thanh của huynh đệ y.
c. His group sound.
c. Âm thanh nhóm của y.
d. The sound of that one of the Heavenly Men with whom he is connected.
d. Âm thanh của một trong các Đấng Thiên Nhân mà y có liên hệ.
e. The sound of the Logos, or the sound of nature; of the solar system, of the Grand Man of the Heavens.
e. Âm thanh của Thượng đế, hay âm thanh của bản chất; của hệ mặt trời, của Đại Nhân trên Thiên Giới.
Therefore, we note that on the physical plane a man has to find his own note, finding it in spite of the density of the form.
Vì vậy, chúng ta lưu ý rằng trên cõi hồng trần con người phải tìm ra âm điệu riêng của mình, tìm thấy nó bất chấp sự đậm đặc của hình tướng.
a. On the physical plane he finds his own note.
a. Trên cõi hồng trần y tìm ra âm điệu riêng của mình.
b. On the astral plane he finds his brother’s note; through identity of emotion he comes to the recognition of his brother’s identity. [Page 191]
b. Trên cõi cảm dục y tìm ra âm điệu của huynh đệ mình; qua sự đồng nhất về cảm xúc, y đi đến chỗ nhận ra bản sắc của huynh đệ mình. [Page 191]
c. On the mental plane he begins to find his group note.
c. Trên cõi trí y bắt đầu tìm ra âm điệu nhóm của mình.
d. On the buddhic plane, or the plane of wisdom, he begins to find the note of his planetary Logos.
d. Trên cõi Bồ đề, hay cõi minh triết, y bắt đầu tìm ra âm điệu của Hành Tinh Thượng Đế của mình.
e. On the atmic, or spiritual, plane the note logoic begins to sound within his consciousness.
e. Trên cõi atma, hay cõi tinh thần, âm điệu logoic bắt đầu vang lên trong tâm thức của y.
I am differentiating thus for the sake of clarity. In evolution itself, due to the parallelism of nature, the distinctions are not so sharply made, and a man’s ray, point of development, the work earlier accomplished, his temporary limitations, and other causes create a seeming confusion, but in the great scheme as seen from above downwards, the work proceeds as described.
Tôi phân biệt như vậy là để cho rõ ràng. Trong chính tiến hoá, do tính song hành của bản chất, các phân biệt không được tạo ra sắc nét đến thế, và cung của một người, điểm tiến hoá, công việc đã hoàn tất trước đây, những giới hạn tạm thời của y, cùng các nguyên nhân khác tạo nên một sự lẫn lộn bề ngoài, nhưng trong đại thể, như được nhìn từ trên xuống dưới, công việc diễn tiến như đã mô tả.
Hearing on the astral plane is commonly called clairaudience, and means the ability to hear the sounds of the astral plane. It is a faculty that demonstrates throughout the entire astral body, and a man hears all over his vehicle and not only through the specialised organs, the ears, the product of physical plane action and reaction. This would necessarily be so, owing to the fluidic nature of the astral body. Man on the physical plane hears at the same time a certain range of sounds, and only a small and particular gamut of vibrations impinges upon his ears. There are many of the lesser sounds of nature which entirely escape him, while the major group sounds are not differentiated at all. As evolution proceeds and the inner sense of hearing becomes acute, these other physical plane sounds will likewise swing into his ken, and he will be acutely conscious of all sounds on the astral, and the physical plane—a thing, which if possible now, would result in the shattering of the body. If the note of nature, for instance, were to strike but once upon the ear of a man (a note made up of the totality of vibrations produced by all dense material forms) his physical body would be completely disrupted. [Page 192] He is not ready yet for such a happening; the inner ear is not duly prepared. Only when the threefold hearing is consummated will completed hearing on the physical plane be likewise permitted.
Thính giác trên cõi cảm dục thường được gọi là thông nhĩ, và có nghĩa là khả năng nghe các âm thanh của cõi cảm dục. Đó là một năng lực biểu lộ khắp toàn thể thể cảm dục, và con người nghe bằng toàn bộ vận cụ của mình chứ không chỉ qua các cơ quan chuyên biệt là đôi tai, sản phẩm của tác động và phản ứng trên cõi hồng trần. Điều này tất nhiên phải như vậy, do bản chất linh động của thể cảm dục. Con người trên cõi hồng trần đồng thời nghe được một phạm vi âm thanh nhất định, và chỉ một âm giai nhỏ và riêng biệt của các rung động tác động lên tai y. Có nhiều âm thanh nhỏ hơn của bản chất hoàn toàn thoát khỏi y, trong khi nhóm âm thanh lớn hơn thì hoàn toàn không được phân biệt. Khi tiến hoá tiếp diễn và giác quan thính giác bên trong trở nên bén nhạy, những âm thanh khác của cõi hồng trần này cũng sẽ đi vào tầm nhận biết của y, và y sẽ nhận biết một cách sắc bén mọi âm thanh trên cõi cảm dục và cõi hồng trần—một điều mà nếu hiện nay có thể xảy ra, sẽ dẫn đến sự tan vỡ của thể xác. Chẳng hạn, nếu âm điệu của bản chất chỉ đập vào tai một người một lần thôi (một âm điệu được tạo thành từ tổng thể các rung động do mọi hình tướng vật chất đậm đặc tạo ra) thì thể xác của y sẽ hoàn toàn bị phá vỡ. [Page 192] Y chưa sẵn sàng cho một biến cố như thế; nội nhĩ chưa được chuẩn bị đúng mức. Chỉ khi nào thính giác tam phân được hoàn tất thì thính giác hoàn chỉnh trên cõi hồng trần mới cũng được cho phép.
Hearing on the mental plane is simply an extension of the faculty of differentiating sound. The hearing dealt with on all these planes is the hearing that has to do with the form, that concerns the vibration of matter, and that is occupied with the not-self. It has not to do with the psyche, or the telepathic communication that proceeds from mind to mind, but with the sound of the form or that power whereby one separated unit of consciousness is aware of another unit who is not himself. Bear this carefully in mind. When the extension of hearing becomes such that it concerns the psyche, then we call it telepathy or that wordless communication that is the synthesis of hearing on all the three lower planes and which is known by the Ego in the causal body on the formless levels of the mental plane.
Thính giác trên cõi trí chỉ đơn giản là một sự mở rộng của năng lực phân biệt âm thanh. Thính giác được bàn đến trên tất cả các cõi này là thính giác có liên quan đến hình tướng, liên quan đến rung động của vật chất, và bận tâm với phi-ngã. Nó không liên quan đến tâm hồn, hay giao tiếp viễn cảm diễn ra từ trí tuệ này sang trí tuệ khác, mà liên quan đến âm thanh của hình tướng hay quyền năng nhờ đó một đơn vị tâm thức biệt lập nhận biết một đơn vị khác không phải là chính mình. Hãy ghi nhớ điều này cẩn thận. Khi sự mở rộng của thính giác trở nên như thế đến mức nó liên quan đến tâm hồn, thì chúng ta gọi nó là viễn cảm hay sự giao tiếp không lời, là sự tổng hợp của thính giác trên cả ba cõi thấp và được Chân ngã trong thể nguyên nhân biết đến trên các cấp độ vô tướng của cõi trí.
On the buddhic plane, hearing (now of the synthetic quality called telepathy) demonstrates as complete comprehension, for it has involved two things:
Trên cõi Bồ đề, thính giác (nay thuộc phẩm tính tổng hợp gọi là viễn cảm) biểu lộ thành sự thấu hiểu trọn vẹn, vì nó đã bao hàm hai điều:
1. A knowledge and recognition of individual sound,
1. Một tri thức và sự nhận biết về âm thanh cá nhân,
2. A similar knowledge of group sound,
2. Một tri thức tương tự về âm thanh nhóm,
and their complete unification. This causes the most perfect comprehension, and is the secret of the Master’s power.
và sự hợp nhất hoàn toàn của chúng. Điều này tạo nên sự thấu hiểu hoàn hảo nhất, và là bí mật của quyền năng của Chân sư.
On the atmic plane this perfected hearing is seen as beatitude. Sound, the basis of existence; sound, the method of being; sound, the final unifier; sound therefore realised as the raison d’être, as the method of evolution, and therefore as beatitude. (80)
Trên cõi atma, thính giác đã được hoàn thiện này được thấy như chí phúc. Âm thanh, nền tảng của hiện hữu; âm thanh, phương pháp của tồn tại; âm thanh, đấng hợp nhất tối hậu; do đó âm thanh được chứng nghiệm như là raison d’être, như phương pháp của tiến hoá, và vì vậy như chí phúc. (80)
(80)...”the chief agency by which Nature’s wheel is moved in a phenomenal direction is sound. Sound is the first aspect of the manifested pentagon since it is a property of ether called Akas and as I already said Vedic recitation is the highest Yagnam containing in itself all minor Yagnams and tending to preserve the manifested pentagon in the proper order. In the opinion of our old philosophers sound or speech is next to thought the highest karmic agent used by man.
(80)...”tác nhân chủ yếu nhờ đó bánh xe của Thiên Nhiên được chuyển động theo hướng hiện tượng là âm thanh. Âm thanh là phương diện đầu tiên của ngũ giác biểu hiện vì nó là một thuộc tính của dĩ thái gọi là Akas và như tôi đã nói, sự tụng đọc Veda là Yagnam cao nhất, tự nó chứa đựng mọi Yagnams nhỏ hơn và có khuynh hướng duy trì ngũ giác biểu hiện trong trật tự thích đáng. Theo quan điểm của các triết gia xưa của chúng ta, âm thanh hay lời nói là tác nhân nghiệp quả cao nhất mà con người sử dụng, chỉ đứng sau tư tưởng.
Of the various karmic agencies wielded by man in the way of moulding himself and surroundings, sound or speech is the most important, for, to speak is to work in ether which of course rules the lower quaternary of elements, air, fire, water and earth. Human sound or language contains therefore all the elements required to move the different classes of Devas and those elements are of course the vowels and the consonants. The details of the philosophy of sound in its relation to the devas who preside over the subtle world, belong to the domain of true Mantra Sastra which of course is in the hands of the knowers.”—Some Thoughts on the Gita, p. 72. (back)
Trong số các tác nhân nghiệp quả khác nhau mà con người vận dụng theo cách uốn nắn chính mình và môi trường chung quanh, âm thanh hay lời nói là quan trọng nhất, vì nói là làm việc trong dĩ thái, mà dĩ thái dĩ nhiên cai quản bộ tứ thấp của các nguyên tố: khí, lửa, nước và đất. Do đó âm thanh hay ngôn ngữ của con người chứa đựng mọi yếu tố cần thiết để vận động các loại thiên thần khác nhau, và những yếu tố ấy dĩ nhiên là nguyên âm và phụ âm. Các chi tiết của triết lý về âm thanh trong mối liên hệ của nó với các thiên thần chủ quản thế giới vi tế thuộc về lãnh vực của Mantra Sastra chân chính, vốn dĩ nhiên nằm trong tay các thức giả.”—Một Vài Tư Tưởng về Gita, tr. 72. (back)
[Page 193] b. Touch. In taking up the subject of the second sense, that of touch, we must note that this sense is pre-eminently the sense of very great importance in this, the second, solar system—a system of astral-buddhic consciousness. (81) Each of these senses, after having reached a certain point, begins to synthesise with the others in such a way that it is almost impossible to know where one begins and the other ends. Touch is that innate recognition of contact through the exercise of manas or mind in a threefold manner:
[Page 193] b. Xúc giác. Khi xét đến đề tài của giác quan thứ hai, đó là xúc giác, chúng ta phải lưu ý rằng giác quan này nổi bật là giác quan có tầm quan trọng rất lớn trong hệ mặt trời thứ hai này—một hệ của tâm thức cảm dục-Bồ đề. (81) Mỗi giác quan này, sau khi đã đạt đến một điểm nào đó, bắt đầu tổng hợp với các giác quan khác theo cách khiến gần như không thể biết được chỗ nào giác quan này bắt đầu và chỗ nào giác quan kia chấm dứt. Xúc giác là sự nhận biết bẩm sinh về tiếp xúc qua việc vận dụng manas hay trí tuệ theo cách tam phân:
(81) Astral-buddhic consciousness is the term applied to the basic consciousness in our solar system. It is characterised by emotion, by feeling, sensation, which have eventually to be transmuted into intuition, spiritual perception and unity. (back)
(81) Tâm thức cảm dục-Bồ đề là thuật ngữ được áp dụng cho tâm thức căn bản trong hệ mặt trời của chúng ta. Nó được đặc trưng bởi cảm xúc, bởi cảm nhận, cảm giác, những điều rốt cuộc phải được chuyển hoá thành trực giác, tri giác tinh thần và hợp nhất. (back)
As recognition.
Như sự nhận biết.
As memory.
Như ký ức.
As anticipation.
Như sự dự cảm.
Each of the five senses, when coupled with manas, develops within the subject a concept embodying the past, the present and the future. Therefore when a man is very highly evolved, has transcended time (as known in the three worlds), and can therefore look at the three lower planes from the standpoint of the Eternal Now, he has superseded the senses by full active consciousness. He knows, and needs not the senses to guide him any longer to knowledge. But in time, and in the three worlds, each sense on each plane is employed to convey to the Thinker some aspect of the not-self, and by the aid [Page 194] of mind, the Thinker can then adjust his relationship thereto.
Mỗi một trong năm giác quan, khi kết hợp với manas, phát triển trong chủ thể một khái niệm bao hàm quá khứ, hiện tại và tương lai. Vì vậy, khi một người tiến hoá rất cao, đã vượt lên trên thời gian (như được biết trong ba cõi giới), và do đó có thể nhìn ba cõi thấp từ quan điểm của Hiện Tại Vĩnh Cửu, thì y đã vượt qua các giác quan bằng tâm thức tích cực trọn vẹn. Y biết, và không còn cần các giác quan dẫn dắt mình đến tri thức nữa. Nhưng trong thời gian, và trong ba cõi giới, mỗi giác quan trên mỗi cõi được dùng để truyền đạt cho Đấng Tư Tưởng một phương diện nào đó của phi-ngã, và nhờ sự trợ giúp của trí tuệ, Đấng Tư Tưởng khi ấy có thể điều chỉnh mối liên hệ của mình với điều đó.[Page 194]
Hearing gives him an idea of relative direction, and enables a man to fix his place in the scheme and to locate himself.
Thính giác mang lại cho y một ý niệm về phương hướng tương đối, và giúp con người xác định vị trí của mình trong hệ thống và định vị chính mình.
Touch gives him an idea of relative quantity and enables him to fix his relative value as regards other bodies, extraneous to himself.
Xúc giác mang lại cho y một ý niệm về lượng tương đối và giúp y xác định giá trị tương đối của mình so với các thể khác ở ngoài mình.
Sight gives him an idea of proportion, and enables him to adjust his movements to the movements of others.
Thị giác mang lại cho y một ý niệm về tỉ lệ, và giúp y điều chỉnh các chuyển động của mình theo các chuyển động của những kẻ khác.
Taste gives him an idea of value, and enables him to fix upon that which to him appears best.
Vị giác mang lại cho y một ý niệm về giá trị, và giúp y quyết định điều mà đối với y dường như là tốt nhất.
Smell gives him an idea of innate quality, and enables him to find that which appeals to him as of the same quality or essence as himself.
Khứu giác mang lại cho y một ý niệm về phẩm tính bẩm sinh, và giúp y tìm ra điều hấp dẫn y như có cùng phẩm tính hay tinh chất với chính mình.
In all these definitions it is necessary to bear in mind that the whole object of the senses is to reveal the not-self, and to enable the Self therefore to differentiate between the real and the unreal. (82)
Trong tất cả các định nghĩa này, cần ghi nhớ rằng toàn bộ mục đích của các giác quan là vén lộ phi-ngã, và do đó giúp Bản Ngã phân biệt giữa cái thực và cái không thực. (82)
(82) Sensations aroused by sense objects are experienced by means of the outer instruments of the Lord of the Body or senses (Indriya) which are the pathways through which the Jiva receives worldly experience. These are ten in number, and are of two classes:
(82) Những cảm giác được khơi dậy bởi các đối tượng giác quan được trải nghiệm nhờ các công cụ bên ngoài của Chúa Tể của Thể hay các giác quan (Indriya), là những con đường qua đó Jiva tiếp nhận kinh nghiệm thế gian. Chúng có số lượng là mười, và thuộc hai loại:
a. The five organs of sensation.....Jnanendriya
a. Năm cơ quan cảm giác.....Jnanendriya
1......The Ear.....Hearing.
1......Tai.....Thính giác.
2...... Skin.......Feeling by touch.
2...... Da.......Cảm giác bằng xúc chạm.
3...... Eye....... Sight.
3...... Mắt....... Thị giác.
4......Tongue.....Taste.
4......Lưỡi.....Vị giác.
5...... Nose...... Smell.
5...... Mũi...... Khứu giác.
b. The five organs of action........Karmendriya
b. Năm cơ quan hành động........Karmendriya
1...... Mouth..... Speaking.
1...... Miệng..... Nói.
2...... Hands..... Grasping.
2...... Tay..... Nắm bắt.
3...... Legs.......Walking.
3...... Chân.......Đi lại.
4...... Anus.......Excretion.
4...... Hậu môn..... Bài tiết.
5...... Genitals.... Procreation.
5...... Cơ quan sinh dục.... Sinh sản.
The organs of sensation are the reactive response which the Self makes to sensation. The organs of action are those through which effect is given to the Jiva’s desires.
Các cơ quan cảm giác là sự đáp ứng phản ứng mà Bản Ngã tạo ra đối với cảm giác. Các cơ quan hành động là những cơ quan qua đó các ham muốn của Jiva được biểu lộ thành hiệu quả.
“The Indriya or sense is not the physical organ, but the faculty of mind operating through that organ as its instrument. The outward sense organs are the usual means whereby on the physical plane the functions of hearing and so forth are accomplished. But, as they are mere instruments and their power is derived from the mind, a Yogi may accomplish by the mind only all that may be done by means of these physical organs without the use of the latter....
“Indriya hay giác quan không phải là cơ quan hồng trần, mà là năng lực của trí tuệ vận hành qua cơ quan ấy như công cụ của nó. Các cơ quan giác quan bên ngoài là những phương tiện thông thường nhờ đó trên cõi hồng trần các chức năng nghe và v.v. được hoàn thành. Nhưng vì chúng chỉ là những công cụ và quyền năng của chúng bắt nguồn từ trí tuệ, nên một Yogi chỉ bằng trí tuệ cũng có thể thực hiện mọi điều có thể làm được nhờ các cơ quan hồng trần này mà không cần dùng đến chúng....
“The three functions of attention, selection and synthesising the discreet manifold of the senses, are those belonging to that aspect of the mental body, the internal agent, called Manas. Just as manas is necessary to the senses, the latter are necessary for manas....Manas is thus the leading indriya, of which the senses are powers.”—Serpent Power, by Arthur Avalon. (back)
“Ba chức năng của sự chú ý, sự chọn lọc và sự tổng hợp cái đa tạp rời rạc của các giác quan là những chức năng thuộc về phương diện ấy của thể trí, tác nhân nội tại, được gọi là Manas. Cũng như manas là cần thiết cho các giác quan, thì các giác quan cũng cần thiết cho manas....Do đó, manas là indriya dẫn đầu, mà các giác quan là những quyền năng của nó.”—Serpent Power, của Arthur Avalon. (back)
[Page 195] In the evolution of the senses, hearing is the first vague something which calls the attention of the apparently blind self
[Page 195] Trong sự tiến hoá của các giác quan, thính giác là cái gì đó mơ hồ đầu tiên thu hút sự chú ý của bản ngã dường như mù lòa
a. To another vibration.
a. Đến một rung động khác.
b. To something originating outside of itself.
b. Đến một điều gì đó phát sinh từ bên ngoài chính nó.
c. To the concept of externality. When sound is first contacted the consciousness for the first time becomes aware of that which is without.
c. Đến khái niệm về tính bên ngoài. Khi âm thanh lần đầu được tiếp xúc, tâm thức lần đầu tiên nhận biết điều ở bên ngoài.
But all that is grasped by the dormant consciousness (by means of this one sense of hearing) is the fact of something extraneous to itself, and of the direction in which that something lies. This apprehension, in course of time, calls into being another sense, that of touch. The Law of Attraction works, the consciousness moves slowly outwards towards that which is heard; and when contact is made with the not-self it is called touch. This touch conveys other ideas to the groping consciousness, ideas of size, of external texture, and of surface differences; the concept of the Thinker is thus slowly enlarged. He can hear and feel, but as yet knows not enough to correlate nor name. When he succeeds in naming, he has made a big stride forward. We might note here, therefore, that the earliest cosmic symbols are applicable to the senses as well as elsewhere:
Nhưng tất cả những gì được tâm thức đang ngủ yên nắm bắt (bằng giác quan duy nhất này là thính giác) chỉ là sự kiện có một cái gì đó ở ngoài nó, và phương hướng mà cái gì đó ấy nằm về phía đó. Sự lĩnh hội này, theo thời gian, làm phát sinh một giác quan khác, đó là xúc giác. Định luật Hấp Dẫn vận hành, tâm thức chậm rãi chuyển ra ngoài hướng về điều được nghe; và khi sự tiếp xúc được tạo lập với vô ngã thì điều đó được gọi là xúc chạm. Sự xúc chạm này truyền đạt những ý niệm khác cho tâm thức đang dò dẫm, những ý niệm về kích thước, về kết cấu bên ngoài, và về những khác biệt trên bề mặt; do đó khái niệm của Đấng Tư Tưởng được mở rộng dần dần. Ngài có thể nghe và cảm thấy, nhưng cho đến lúc này vẫn chưa biết đủ để liên hệ hay gọi tên. Khi Ngài thành công trong việc gọi tên, Ngài đã tiến một bước dài. Vì vậy, ở đây chúng ta có thể lưu ý rằng những biểu tượng vũ trụ sớm nhất cũng áp dụng cho các giác quan cũng như ở nơi khác:
The point in the centre—consciousness and the not-self at a stage where sound alone is descriptive.
Điểm ở trung tâm—tâm thức và vô ngã ở một giai đoạn mà chỉ riêng âm thanh là có tính mô tả.
The divided circle—consciousness aware of the not-self, through a dual recognition.
Vòng tròn bị chia đôi—tâm thức nhận biết vô ngã, qua một sự nhận biết nhị nguyên.
[Page 196] Sight follows on this, the third sense, and the one definitely marking the correlation of ideas, or the relation between; it parallels the coming of Mind, both in time and function. We have hearing, touch or feeling, and then sight. In connection with the correspondence it is to be noted that sight came in with the third root-race in this round, and that the third race saw also the coming in of Mind. The Self and the not-self were immediately correlated, and co-ordinated. Their close partnership became an accomplished fact, and evolution hastened forward with renewed impetus.
[Page 196] Tiếp theo đó là thị giác, giác quan thứ ba, và là giác quan xác định rõ rệt sự tương quan của các ý niệm, hay mối liên hệ giữa chúng; nó song hành với sự xuất hiện của Trí Tuệ, cả về thời gian lẫn chức năng. Chúng ta có thính giác, xúc giác hay cảm giác, rồi đến thị giác. Liên quan đến sự tương ứng, cần lưu ý rằng thị giác xuất hiện cùng với giống dân gốc thứ ba trong cuộc tuần hoàn này, và giống dân thứ ba cũng chứng kiến sự xuất hiện của Trí Tuệ. Bản Ngã và vô ngã được tương quan và phối hợp ngay tức thì. Sự cộng tác mật thiết của chúng trở thành một sự kiện đã hoàn tất, và tiến hoá được thúc đẩy nhanh hơn với một xung lực mới.
These three major senses (if I might so describe them) are very definitely allied, each with one of the three Logoi:
Ba giác quan chính này (nếu tôi có thể mô tả chúng như vậy) liên kết rất rõ rệt, mỗi giác quan với một trong ba Đấng Thượng đế:
Hearing—The recognition of the fourfold word, the activity of matter, the third Logos.
Thính giác—Sự nhận biết linh từ tứ phân, hoạt động của vật chất, Đấng Thượng đế thứ ba.
Touch—The recognition of the sevenfold Form Builder, the gathering together of forms, their approximation and interrelation, the second Logos. The Law of Attraction between the Self and the not-self begins to work.
Xúc giác—Sự nhận biết Đấng Kiến Tạo Hình Tướng thất phân, sự tập hợp các hình tướng, sự xích lại gần nhau và liên hệ lẫn nhau của chúng, Đấng Thượng đế thứ hai. Định luật Hấp Dẫn giữa Bản Ngã và vô ngã bắt đầu vận hành.
Sight—The recognition of totality, the synthesis of all, the realisation of the One in Many, the first Logos. The Law of Synthesis, operating between all forms which the self occupies, and the recognition of the essential unity of all manifestation by the means of sight.
Thị giác—Sự nhận biết tính toàn thể, sự tổng hợp của tất cả, sự chứng nghiệm Đấng Duy Nhất trong Nhiều, Đấng Thượng đế thứ nhất. Định luật Tổng Hợp, vận hành giữa mọi hình tướng mà bản ngã chiếm ngụ, và sự nhận biết tính hợp nhất cốt yếu của mọi biểu hiện bằng phương tiện thị giác.
As regards taste and smell, we might call them minor senses, for they are closely allied to the important sense of touch. They are practically subsidiary to that sense. This second sense, and its connection with this second solar system, should be carefully pondered over. It is predominantly the sense most closely connected with the second Logos. This conveys a hint of much value if duly considered. It is of value to study the extensions of physical plane touch on other planes and to see whither we are led. It is the faculty which enables us to arrive [Page 197] at the essence by due recognition of the veiling sheath. It enables the Thinker who fully utilises it to put himself en rapport with the essence of all selves at all stages, and thereby to aid in the due evolution of the sheath and actively to serve. A Lord of Compassion is one who (by means of touch) feels with, fully comprehends, and realises the manner in which to heal and correct the inadequacies of the not-self and thus actively to serve the plan of evolution. We should study likewise in this connection the value of touch as demonstrated by the healers of the race (those on the Bodhisattva line) (83) and the effect of the Law of Attraction and Repulsion as thus manipulated by them. Students of etymology will have noted that the origin of the word touch is somewhat obscure, but probably means to ‘draw with quick motion.’ Herein lies the whole secret of this objective solar system, and herein will be demonstrated the quickening of vibration by means of touch. Inertia, mobility, rhythm, are the qualities manifested by the not-self. Rhythm, balance, and stable vibration are achieved by means of this very faculty of touch or feeling. Let me illustrate briefly so as to make the problem somewhat clearer. What results in meditation? By dint of strenuous effort and due attention to rules laid down, the aspirant succeeds in touching matter of a quality rarer than is his usual custom. He contacts his causal body, in time he contacts the matter of the buddhic plane. By means of this touch his own vibration is temporarily and briefly quickened. Fundamentally we are brought back to the subject that we deal with in this treatise. The latent fire of matter attracts to itself that fire, latent in other forms. They touch, and recognition and awareness ensues. The fire of manas burns continuously and is fed by that which is attracted and repulsed. When the two [Page 198] blend, the stimulation is greatly increased and the ability to touch intensified. The Law of Attraction persists in its work until another fire is attracted and touched, and the threefold merging is completed. Forget not in this connection the mystery of the Rod of Initiation. (84) Later when we consider the subject of the centres and Initiation it must be remembered that we are definitely studying one aspect of this mysterious faculty of touch, the faculty of the second Logos, wielding the law of Attraction.
Về vị giác và khứu giác, chúng ta có thể gọi chúng là những giác quan phụ, vì chúng liên kết chặt chẽ với giác quan quan trọng là xúc giác. Trên thực tế, chúng là phụ thuộc của giác quan ấy. Giác quan thứ hai này, và mối liên hệ của nó với hệ mặt trời thứ hai này, cần được chiêm ngưỡng cẩn thận. Chủ yếu, đây là giác quan gắn bó mật thiết nhất với Đấng Thượng đế thứ hai. Điều này gợi ra một ám chỉ rất có giá trị nếu được suy xét đúng mức. Việc nghiên cứu những sự mở rộng của xúc giác cõi hồng trần trên các cõi khác và xem chúng dẫn chúng ta đến đâu là điều có giá trị. Chính năng lực này cho phép chúng ta đạt tới [Page 197] bản chất cốt yếu nhờ sự nhận biết đúng đắn lớp vỏ che phủ. Nó cho phép Đấng Tư Tưởng, khi vận dụng trọn vẹn nó, đặt mình vào trạng thái en rapport với bản chất cốt yếu của mọi bản ngã ở mọi giai đoạn, và nhờ đó trợ giúp cho sự tiến hoá đúng đắn của lớp vỏ và tích cực phụng sự. Chúa Tể của Lòng Từ Bi là Đấng mà (bằng xúc giác) cảm thông, hoàn toàn thấu hiểu, và nhận ra cách thức chữa lành và điều chỉnh những khiếm khuyết của vô ngã và nhờ đó tích cực phụng sự Thiên Cơ tiến hoá. Tương tự, trong mối liên hệ này, chúng ta cũng nên nghiên cứu giá trị của xúc giác như được biểu lộ bởi những nhà chữa lành của nhân loại (những vị trên dòng Bồ Tát) (83) và hiệu quả của Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi khi được họ vận dụng như thế. Những đạo sinh của từ nguyên học hẳn đã lưu ý rằng nguồn gốc của từ xúc chạm phần nào mơ hồ, nhưng có lẽ có nghĩa là “kéo bằng chuyển động nhanh.” Chính trong đây có toàn bộ bí mật của hệ mặt trời khách quan này, và chính trong đây sẽ được chứng minh sự làm tăng tốc rung động bằng phương tiện xúc chạm. Quán tính, tính động, nhịp điệu là những phẩm tính được vô ngã biểu lộ. Nhịp điệu, sự quân bình và rung động ổn định đạt được nhờ chính năng lực xúc chạm hay cảm giác này. Hãy để tôi minh họa ngắn gọn để làm cho vấn đề phần nào rõ hơn. Điều gì xảy ra trong tham thiền? Nhờ nỗ lực mãnh liệt và sự chú ý đúng mức đến các quy luật đã được đặt ra, người chí nguyện thành công trong việc chạm đến vật chất có phẩm tính tinh tế hơn điều thường lệ của y. Y tiếp xúc với thể nguyên nhân của mình, và theo thời gian y tiếp xúc với vật chất của cõi Bồ đề. Nhờ sự xúc chạm này, rung động của chính y tạm thời và trong chốc lát được tăng tốc. Về căn bản, chúng ta được đưa trở lại chủ đề mà chúng ta bàn đến trong bộ luận này. Lửa tiềm ẩn của vật chất tự hút về mình ngọn lửa tiềm ẩn trong các hình tướng khác. Chúng chạm nhau, và sự nhận biết cùng sự tỉnh giác tiếp theo sau. Lửa của manas cháy liên tục và được nuôi dưỡng bởi điều được hấp dẫn và bị đẩy lùi. Khi hai thứ ấy [Page 198] hòa trộn, sự kích thích tăng lên rất nhiều và khả năng xúc chạm được tăng cường. Định luật Hấp Dẫn tiếp tục công việc của nó cho đến khi một ngọn lửa khác được hút đến và được chạm tới, và sự hòa nhập tam phân được hoàn tất. Trong mối liên hệ này, đừng quên huyền nhiệm của Thần Trượng Điểm đạo. (84) Về sau, khi chúng ta xem xét chủ đề các trung tâm và Điểm đạo, cần nhớ rằng chúng ta đang nghiên cứu rõ rệt một phương diện của năng lực xúc chạm huyền nhiệm này, năng lực của Đấng Thượng đế thứ hai, vận dụng Định luật Hấp Dẫn.
(83) The line of the Bodhisattva is that of Love-Wisdom, and of the detailed science of the soul; it is the teaching line and the path upon which all must eventually pass. (back)
(83) Dòng Bồ Tát là dòng của Bác Ái – Minh Triết, và của khoa học chi tiết về linh hồn; đó là dòng giảng huấn và là con đường mà cuối cùng tất cả đều phải đi qua. (back)
(84) The Initiations spoken of in this Treatise are the major Initiations which bring about those expansions of consciousness which lead to liberation; these are taken in the causal body and from thence reflected into the physical; the Initiate never proclaims his initiation. (back)
(84) Những cuộc điểm đạo được nói đến trong bộ Luận này là những cuộc điểm đạo lớn đem lại những sự mở rộng tâm thức dẫn đến giải thoát; chúng được tiếp nhận trong thể nguyên nhân và từ đó phản chiếu vào cõi hồng trần; điểm đạo đồ không bao giờ công bố sự điểm đạo của mình. (back)
Let us now finish what may be imparted on the remaining three senses—sight, taste, smell—and then briefly sum up their relationship to the centres, and their mutual action and interaction. That will then leave two more points to be dealt with in this first division of the Treatise on Cosmic Fire, and a summing up. We shall then be in a position to take up that portion of the treatise that deals with the fire of manas and with the development of the manasaputras, (85) both in their totality and likewise individually. This topic is of the most imperative importance as it deals entirely with man, the Ego, the thinker, and shows the cosmic blending of the fires of matter and of mind, and their utilisation by the indwelling Flame.
Giờ đây, chúng ta hãy hoàn tất điều có thể được truyền đạt về ba giác quan còn lại—thị giác, vị giác, khứu giác—rồi sau đó tóm lược ngắn gọn mối liên hệ của chúng với các trung tâm, và hoạt động cùng tác động hỗ tương của chúng. Khi đó sẽ còn lại hai điểm nữa cần được bàn đến trong phần thứ nhất này của Luận về Lửa Vũ Trụ, cùng một phần tổng kết. Sau đó chúng ta sẽ ở vào vị thế để tiếp tục phần của bộ luận bàn về lửa của manas và về sự phát triển của các manasaputras, (85) cả trong tính toàn thể của các Ngài lẫn từng vị riêng biệt. Chủ đề này có tầm quan trọng cấp thiết nhất vì nó hoàn toàn bàn về con người, chân ngã, đấng tư tưởng, và cho thấy sự hòa trộn vũ trụ của các ngọn lửa vật chất và trí tuệ, cùng sự vận dụng chúng bởi Ngọn Lửa nội tại.
(85) Manasaputras: These are the Sons of Mind, the individual principle in man, the Ego, the solar Angel, in his own body on the abstract levels of the mental plane. (back)
(85) Manasaputras: Đây là các Con của Trí Tuệ, nguyên khí cá thể trong con người, chân ngã, Thái dương Thiên Thần, trong chính thể của Ngài trên các cấp độ trừu tượng của cõi trí. (back)
c. Sight. This sense, as said before, is the paramount correlating sense of the solar system.
c. Thị giác. Như đã nói trước đây, giác quan này là giác quan tương quan tối thượng của hệ mặt trời.
Under the Law of Economy man hears. Sound permeates matter and is the basis of its subsequent heterogeneity.
Dưới Định luật Tiết Kiệm, con người nghe. Âm thanh thấm khắp vật chất và là nền tảng cho tính dị biệt tiếp theo của nó.
Under the Law of Attraction, man touches and makes contact with that which is brought to his attention [Page 199] through sound waves of activity. This leads to a condition of mutual repulsion and attraction between the one who apprehends and that which is apprehended.
Dưới Định luật Hấp Dẫn, con người xúc chạm và tiếp xúc với điều được đưa đến sự chú ý của y [Page 199] qua các làn sóng hoạt động của âm thanh. Điều này dẫn đến một trạng thái đẩy lùi và hấp dẫn hỗ tương giữa kẻ lĩnh hội và điều được lĩnh hội.
Having apprehended and then contacted his eyes are opened and he recognises his place in the whole order under the Law of Synthesis.
Sau khi đã lĩnh hội rồi tiếp xúc, mắt y được mở ra và y nhận biết vị trí của mình trong toàn bộ trật tự dưới Định luật Tổng Hợp.
Hearing
Unity
Touch
Duality
Sight
Triplicity.
In these three senses the present is summed up for us. The work of evolution is to recognise, utilise, co-ordinate, and dominate the whole till the Self, by means of these three, becomes actively aware of every form, of every vibration, and of every pulsation of the not-self; then, through the arranging power of mind, the objective of the self will be to find the truth, or that centre in the circle of manifestation which is, for the Self, the centre of equilibrium, and the one point where the co-ordination is perfected; then the Self can dissociate itself from every veil, every contact, and every sense. This leads in every manifestation to three types of separation:
Trong ba giác quan này, hiện tại được tóm lược cho chúng ta. Công việc của tiến hoá là nhận biết, vận dụng, phối hợp và chế ngự toàn bộ cho đến khi Bản Ngã, bằng phương tiện ba giác quan này, trở nên nhận biết một cách tích cực mọi hình tướng, mọi rung động và mọi nhịp đập của vô ngã; khi đó, nhờ quyền năng sắp xếp của trí tuệ, mục tiêu của bản ngã sẽ là tìm ra chân lý, hay trung tâm ấy trong vòng tròn biểu hiện, vốn là, đối với Bản Ngã, trung tâm quân bình, và là điểm duy nhất nơi sự phối hợp được hoàn thiện; khi đó Bản Ngã có thể tách mình ra khỏi mọi màn che, mọi tiếp xúc và mọi giác quan. Điều này dẫn trong mọi biểu hiện đến ba loại phân ly:
Involution. The separation of matter, or the one becoming the many. The senses are developed, and the apparatus is perfected by the Self for the utilisation of matter. This is under the Law of Economy.
Giáng hạ tiến hoá. Sự phân ly của vật chất, hay cái một trở thành cái nhiều. Các giác quan được phát triển, và bộ máy được Bản Ngã hoàn thiện để vận dụng vật chất. Điều này ở dưới Định luật Tiết Kiệm.
Evolution up to the time of the Probationary Path. The merging of Spirit and matter, and the utilisation of the senses in a progressing identification of the Self with all forms from the lowest to those relatively refined. This is under the Law of Attraction.
Tiến hoá cho đến thời kỳ Con Đường Dự Bị. Sự hòa nhập của tinh thần và vật chất, và sự vận dụng các giác quan trong một sự đồng hoá ngày càng tăng của Bản Ngã với mọi hình tướng từ thấp nhất đến những hình tướng tương đối tinh luyện. Điều này ở dưới Định luật Hấp Dẫn.
Evolution on the Path. Again the separation of spirit from matter, its identification with the One, and the ultimate rejection of form. The senses then are synthesised into acquired faculty, and the Self has no [Page 200] further use for the not-self. It blends with the All-Self. This is under the Law of Synthesis.
Tiến hoá trên Con Đường. Lại là sự phân ly của tinh thần khỏi vật chất, sự đồng hoá của nó với Đấng Duy Nhất, và sự từ bỏ hình tướng sau cùng. Khi đó các giác quan được tổng hợp thành năng lực đã thủ đắc, và Bản Ngã không còn [Page 200] dùng đến vô ngã nữa. Nó hòa nhập với Đại Ngã. Điều này ở dưới Định luật Tổng Hợp.
If this is borne in mind it leads to a realisation that the separation of the Spirit from the material vehicle involves two aspects of the One great All; herein is seen the work of the Creator, the Preserver and the Destroyer.
Nếu điều này được ghi nhớ, nó sẽ dẫn đến sự nhận biết rằng sự phân ly của Tinh thần khỏi vận cụ vật chất bao hàm hai phương diện của Một Toàn Thể Vĩ Đại; chính trong đây thấy được công việc của Đấng Sáng Tạo, Đấng Bảo Tồn và Đấng Hủy Diệt.
In the final perfection of this third sense of sight, the term used is the wholly inadequate one of realisation. Let the student study carefully the lowest and highest demonstration of the senses as laid down in the tabulation earlier imparted, and note the occult significance of the expressions used in the summation.
Trong sự hoàn thiện cuối cùng của giác quan thứ ba này là thị giác, thuật ngữ được dùng là từ hết sức không đầy đủ chứng nghiệm. Hãy để đạo sinh nghiên cứu cẩn thận biểu hiện thấp nhất và cao nhất của các giác quan như đã được nêu trong bảng biểu đã truyền đạt trước đó, và lưu ý ý nghĩa huyền bí của những cách diễn đạt được dùng trong phần tổng kết.
Hearing
Beatitude.
This is realised through the not-self.
Touch
Service.
The summation of the work of the Self for the not-self.
Sight
Realisation.
Recognition of the triplicity needed in manifestation, or the reflex action of the Self and the not-self.
Taste
Perfection.
Evolution completed through the utilisation of the not-self and its realised adequacy.
Smell
Perfected Knowledge.
The principle of manas in its discriminating activity, perfecting the inter-relation between the Self and the not-self.
This all concerns the perfected, realised Personality.
Tất cả điều này đều liên quan đến Phàm ngã đã hoàn thiện, đã chứng nghiệm.
In all these perfections is seen the awareness of the Self, and the graded process of identification, utilisation, manipulation and final rejection of the not-self by that Self who is now consciously aware. He hears the note of nature and that of his monad; he recognises their identity, utilises their vibration, and passes rapidly through the three stages of Creator, Preserver and Destroyer.
Trong mọi sự hoàn thiện này, người ta thấy được sự nhận biết của Bản Ngã, và tiến trình tuần tự của sự đồng hoá, vận dụng, điều khiển và cuối cùng từ bỏ vô ngã bởi Bản Ngã nay đã nhận biết một cách hữu thức. Ngài nghe âm điệu của bản chất và âm điệu của chân thần của Ngài; Ngài nhận biết sự đồng nhất của chúng, vận dụng rung động của chúng, và nhanh chóng đi qua ba giai đoạn của Đấng Sáng Tạo, Đấng Bảo Tồn và Đấng Hủy Diệt.
[Page 201] He touches or feels the vibration of the form or not-self in all its various grades, recognises his identity in time and space, and for purposes of existence or being and by means of the three Laws of Economy, Attraction and Synthesis utilises, blends and eventually dissociates himself. He sees the threefold evolutionary process and by means of the development of the inner vision, sees within the heart of the system macrocosmic and microcosmic, the one SELF in many forms, and finally identifies himself with that one Self by the conscious rejection of the not-self after its complete subjugation and utilisation.
[Page 201] Ngài xúc chạm hay cảm nhận rung động của hình tướng hay vô ngã trong mọi cấp độ khác nhau của nó, nhận biết sự đồng nhất của Ngài trong thời gian và không gian, và vì những mục đích của sự tồn tại hay bản thể và bằng phương tiện ba Định luật Tiết Kiệm, Hấp Dẫn và Tổng Hợp, Ngài vận dụng, hòa nhập và cuối cùng tách mình ra. Ngài thấy tiến trình tiến hoá tam phân và bằng sự phát triển của linh thị bên trong, thấy trong trái tim của hệ thống, đại thiên địa và tiểu thiên địa, một BẢN NGÃ duy nhất trong nhiều hình tướng, và cuối cùng đồng hoá mình với Bản Ngã duy nhất ấy bằng sự từ bỏ vô ngã một cách hữu thức sau khi nó đã hoàn toàn bị chế ngự và được vận dụng.
d. Tasting. He tastes then finally and discriminates, for taste is the great sense that begins to hold sway during the discriminating process that takes place when the illusory nature of matter is in process of realisation. Discrimination is the educatory process to which the Self subjects itself in the process of developing intuition—that faculty whereby the Self recognises its own essence in and under all forms. Discrimination concerns the duality of nature, the Self and the not-self, and is the means of their differentiation in the process of abstraction; the intuition concerns unity and is the capacity of the Self to contact other selves, and is not a faculty whereby the not-self is contacted. Hence, its rarity these days owing to the intense individualisation of the Ego, and its identification with the form—necessary identification at this particular time. As the sense of taste on the higher planes is developed, it leads one to ever finer distinctions till one is finally led through the form, right to the heart of one’s nature.
d. Nếm. Khi đó Ngài nếm và cuối cùng phân biện, vì vị giác là giác quan lớn bắt đầu nắm quyền trong tiến trình phân biện diễn ra khi bản chất ảo tưởng của vật chất đang trong tiến trình được chứng nghiệm. Sự phân biện là tiến trình giáo dục mà Bản Ngã tự đặt mình vào trong tiến trình phát triển trực giác—năng lực nhờ đó Bản Ngã nhận biết bản chất cốt yếu của chính nó trong và dưới mọi hình tướng. Sự phân biện liên quan đến tính nhị nguyên của bản chất, Bản Ngã và vô ngã, và là phương tiện để chúng được phân biệt trong tiến trình trừu xuất; trực giác liên quan đến sự hợp nhất và là khả năng của Bản Ngã tiếp xúc với các bản ngã khác, chứ không phải là một năng lực nhờ đó vô ngã được tiếp xúc. Do đó, ngày nay nó hiếm hoi vì sự biệt ngã hóa mãnh liệt của chân ngã, và sự đồng hoá của nó với hình tướng—một sự đồng hoá cần thiết vào thời điểm đặc biệt này. Khi giác quan vị giác trên các cõi cao hơn được phát triển, nó dẫn con người đến những phân biệt ngày càng tinh tế hơn cho đến khi cuối cùng người ta được dẫn xuyên qua hình tướng, đi thẳng vào trái tim của bản chất mình.
e. Smelling is the faculty of keen perception that eventually brings a man back to the source from whence he came, the archetypal plane, the plane where his true home is to be found. A perception of difference has been cultivated that has caused a divine discontent within the [Page 202] heart of the Pilgrim in the far country; the prodigal son draws comparisons; he has developed the other four senses, and he utilises them. Now comes in the faculty of vibratory recognition of the home vibration, if it might be so expressed. It is the spiritual counterpart of that sense which in the animal, the pigeon and other birds, leads them back unerringly to the familiar spot from whence they originally came. It is the apprehension of the vibration of the Self, and a swift return by means of that instinct to the originating source.
e. Ngửi là năng lực tri giác sắc bén cuối cùng đưa con người trở về nguồn cội từ đó y đã đến, cõi nguyên mẫu, cõi nơi quê hương đích thực của y được tìm thấy. Một tri giác về sự khác biệt đã được vun bồi, gây nên một nỗi bất mãn thiêng liêng trong [Page 202] trái tim của Người Hành Hương ở xứ xa; người con hoang đàng bắt đầu so sánh; y đã phát triển bốn giác quan kia, và y vận dụng chúng. Giờ đây xuất hiện năng lực nhận biết rung động của rung động quê nhà, nếu có thể diễn đạt như vậy. Đó là đối phần tinh thần của giác quan ấy nơi loài vật, chim bồ câu và các loài chim khác, dẫn chúng trở về không sai lạc đến nơi quen thuộc từ đó ban đầu chúng đã đến. Đó là sự lĩnh hội rung động của Bản Ngã, và sự trở về mau lẹ bằng bản năng ấy đến nguồn gốc phát sinh.
The consideration of this subject awakens the realisation of the vastness of the region of thought concerned—the region of the whole evolutionary development of the human being. Yet all that is possible here, as elsewhere, is to indicate lines of thought for careful pondering, and to emphasise certain ideas which may serve as the foundation thoughts for the future mental activity of the immediate generation. The following facts must also be borne in mind when considering the matter:
Việc xem xét chủ đề này khơi dậy sự nhận biết tính bao la của lĩnh vực tư tưởng liên quan—lĩnh vực của toàn bộ sự phát triển tiến hoá của con người. Tuy nhiên, tất cả những gì có thể làm ở đây, cũng như ở nơi khác, chỉ là chỉ ra những đường hướng tư tưởng để chiêm ngưỡng cẩn thận, và nhấn mạnh một số ý tưởng nhất định có thể dùng làm những tư tưởng nền tảng cho hoạt động trí tuệ tương lai của thế hệ trước mắt. Những sự kiện sau đây cũng phải được ghi nhớ khi xem xét vấn đề này:
a. That the senses have been dealt with in this division of our Treatise on Cosmic Fire because they concern the material form. Strictly speaking the five senses, as we know them, are the means of contact built up by the Thinker (polarised in his etheric body) and find their expression in the physical form in those nerve centres, brain cells, ganglia and plexus which exoteric science recognises.
a. Rằng các giác quan đã được bàn đến trong phần này của Luận về Lửa Vũ Trụ của chúng ta vì chúng liên quan đến hình tướng vật chất. Nói một cách nghiêm ngặt, năm giác quan, như chúng ta biết, là những phương tiện tiếp xúc được Đấng Tư Tưởng xây dựng nên (phân cực trong thể dĩ thái của Ngài) và tìm thấy sự biểu lộ của chúng trong hình thể hồng trần nơi những trung tâm thần kinh, tế bào não, hạch và đám rối mà khoa học ngoại môn nhận biết.
b. That these senses for all purposes of present manifestation, have their focal point on the astral plane and are therefore largely under the stimulating action of the solar plexus—that great focal point in the centre of the body which is the stimulating agent for most of the human family at this time.
b. Rằng các giác quan này, đối với mọi mục đích của biểu hiện hiện tại, có tiêu điểm của chúng trên cõi cảm dục và do đó phần lớn ở dưới tác động kích thích của tùng thái dương—tiêu điểm lớn ấy ở trung tâm cơ thể, là tác nhân kích thích đối với phần lớn gia đình nhân loại vào lúc này.
c. That as the higher triangle comes into play and the polarisation steps up to the higher centres, the senses begin to make themselves felt on the mental level and [Page 203] man becomes aware on that plane. We have in the human body an interesting reflection of the transference of the polarisation from the Personality to the Ego, or into the causal body, in the division that exists between the higher and the lower mental planes, and the dividing line of the diaphragm between the higher and the lower portions of the body. Below the diaphragm we have the four lower centres:
c. Rằng khi tam giác cao hơn bắt đầu hoạt động và sự phân cực được nâng lên các trung tâm cao hơn, các giác quan bắt đầu tự biểu lộ trên cấp độ trí tuệ và [Page 203] con người trở nên nhận biết trên cõi ấy. Trong cơ thể con người, chúng ta có một sự phản chiếu thú vị của sự chuyển dịch phân cực từ Phàm ngã sang chân ngã, hay vào thể nguyên nhân, trong sự phân chia tồn tại giữa cõi thượng trí và cõi hạ trí, và đường phân cách của cơ hoành giữa phần trên và phần dưới của cơ thể. Bên dưới cơ hoành, chúng ta có bốn trung tâm thấp:
1. The solar plexus.
1. Tùng thái dương.
2. The spleen.
2. Lá lách.
3. Organs of generation.
3. Các cơ quan sinh sản.
4. Base of the spine.
4. Đáy cột sống.
Above are the three higher:
Bên trên là ba trung tâm cao hơn:
1. Heart.
1. Tim.
2. Throat.
2. Cổ họng.
3. Head.
3. Đầu.
In the microcosm we have the lower quaternary separated from the Triad in a similar manner, and this analogy will bear pondering upon. By careful thought we can therefore work out the reflex action of the centres and the senses from the standpoint of the different planes, remembering that as the centres are awakened the process will be threefold:
Trong tiểu thiên địa, chúng ta có bộ tứ thấp được tách khỏi Tam nguyên tinh thần theo một cách tương tự, và sự tương đồng này đáng để chiêm ngưỡng. Do đó, bằng tư duy cẩn thận, chúng ta có thể tìm ra tác động phản xạ của các trung tâm và các giác quan từ quan điểm của các cõi khác nhau, ghi nhớ rằng khi các trung tâm được thức tỉnh, tiến trình sẽ là tam phân:
First. The awakening on the physical plane, and the gradually increasing activity of the centres, until the Probationary Path is reached. This is paralleled by the increasing use of the senses, and their constant utilisation for the identification of the self and its sheaths.
Thứ nhất. Sự thức tỉnh trên cõi hồng trần, và hoạt động tăng dần của các trung tâm, cho đến khi đạt tới Con Đường Dự Bị. Điều này song hành với việc sử dụng ngày càng tăng các giác quan, và sự vận dụng liên tục của chúng để đồng hoá bản ngã với các lớp vỏ của nó.
Second. The awakening on the astral plane, and the gradually increasing activity of the centres, until the first Initiation is reached. This is paralleled by the tremendously keen use of the senses for the purposes of discriminating between the Self and the not-self. [Page 204]
Thứ hai. Sự thức tỉnh trên cõi cảm dục, và hoạt động tăng dần của các trung tâm, cho đến khi đạt tới lần điểm đạo thứ nhất. Điều này song hành với việc sử dụng cực kỳ sắc bén các giác quan nhằm mục đích phân biện giữa Bản Ngã và vô ngã. [Page 204]
Third. The awakening upon the mental plane, and the gradually increasing activity of the centres and the senses. The effect in both cases tends to identification of the Self with its own essence in all groups and the rejection of the sheaths and the forms.
Thứ ba. Sự thức tỉnh trên cõi trí, và hoạt động tăng dần của các trung tâm và các giác quan. Hiệu quả trong cả hai trường hợp đều hướng đến sự đồng hoá của Bản Ngã với bản chất cốt yếu của chính nó trong mọi nhóm và sự từ bỏ các lớp vỏ cùng các hình tướng.
This development is paralleled on the two higher planes simultaneously as in the lower, and as the astral senses come into perfected activity, the corresponding centres of force on the buddhic plane begin to function until the vibratory interplay between the two is consummated, and the force of the Triad can be felt definitely in the Personality via the astral.
Sự phát triển này song hành đồng thời trên hai cõi cao hơn cũng như ở các cõi thấp, và khi các giác quan cảm dục đi vào hoạt động hoàn hảo, các trung tâm lực tương ứng trên cõi Bồ đề bắt đầu vận hành cho đến khi sự tương tác rung động giữa hai bên được hoàn tất, và lực của Tam nguyên tinh thần có thể được cảm nhận rõ rệt trong Phàm ngã qua trung gian cõi cảm dục.
Again the corresponding vortices on the atmic level come into active vibration as the mental centres become fourth dimensional, till we have a wonderful fiery activity demonstrating on all the three planes.
Một lần nữa, các xoáy lực tương ứng trên cấp độ atma đi vào rung động hoạt động khi các trung tâm trí tuệ trở nên bốn chiều, cho đến khi chúng ta có một hoạt động rực lửa kỳ diệu biểu hiện trên cả ba cõi.
From the point of view of fire, (86) leaving the aura and [Page 205] its colors out of temporary consideration, the evolutionary development marks an equally definite process.
Xét từ quan điểm của lửa, (86) tạm thời không xét đến hào quang và [Page 205] các màu sắc của nó, sự phát triển tiến hoá đánh dấu một tiến trình cũng xác định không kém.
(86) The Fire of the manifested cosmos is Septenary.
(86) Lửa của vũ trụ biểu hiện là thất phân.
The Threefold God manifests through the seven Fires:
Thượng đế Tam Vị biểu hiện qua bảy Lửa:
1. Electric fire... The seven Heavenly Men.
1. Lửa Điện... Bảy Đấng Thiên Nhân.
2. Solar fire... Evolution of the seven Entities through their vehicles developing the seven principles.
2. Lửa Thái dương... Sự tiến hoá của bảy Thực Thể qua các vận cụ của Các Ngài, phát triển bảy nguyên khí.
3. Fire by friction... The seven chains.
3. Lửa ma sát... Bảy Dãy.
They are the seven centres of the Logos.
Các Ngài là bảy trung tâm của Thượng đế.
A Heavenly Man manifests through a chain.
Một Đấng Thiên Nhân biểu hiện qua một Dãy.
1. He is electric fire... The seven solar entities who inform each globe.
1. Ngài là Lửa Điện... Bảy thực thể thái dương phú linh mỗi bầu hành tinh.
2. He is solar fire... Evolution of the life through the forms, developing the seven principles.
2. Ngài là Lửa Thái dương... Sự tiến hoá của sự sống qua các hình tướng, phát triển bảy nguyên khí.
3. He is fire by friction... The seven globes.
3. Ngài là Lửa ma sát... Bảy bầu hành tinh.
Each Heavenly Man has seven principles.
Mỗi Đấng Thiên Nhân có bảy nguyên khí.
A Man, the Microcosm, manifests through his vehicles:
Con người, Tiểu thiên địa, biểu hiện qua các vận cụ của y:
1. He is electric fire... The monad, a solar entity.
1. Y là Lửa Điện... chân thần, một thực thể thái dương.
2. He is solar fire... Evolution of the life through the vehicles in order to develop the seven principles.
2. Y là Lửa Thái dương... Sự tiến hoá của sự sống qua các vận cụ để phát triển bảy nguyên khí.
3. He is fire by friction... The seven sheaths:
3. Y là Lửa ma sát... Bảy thể:
1. Atmic
1. Atma
2. Buddhic.
2. Bồ đề.
3. Causal
3. Nguyên nhân
4. Mental body.
4. thể trí.
5. Astral body
5. thể cảm dục
6. Etheric body.
6. thể dĩ thái.
7. Physical body.
7. thể xác.
Physical Plane man manifests in the three worlds:
Con người cõi Hồng trần biểu hiện trong ba cõi giới:
1. Electric fire... The higher self.
1. Lửa Điện... chân ngã.
2. Solar fire... The seven centres.
2. Lửa Thái dương... Bảy trung tâm.
3. Fire by friction... The sheaths. (back)
3. Lửa ma sát... Các thể. (back)
a. The vivification of the inner heat of the sheaths, or the tiny point of fire latent in every individual atom of matter. This process proceeds in all three bodies, at first slowly, then more rapidly, and finally simultaneously and synthetically.
a. Sự tiếp sinh lực cho nhiệt bên trong của các thể, hay điểm lửa nhỏ bé tiềm ẩn trong mỗi nguyên tử cá biệt của vật chất. Tiến trình này diễn ra trong cả ba thể, lúc đầu chậm chạp, rồi nhanh hơn, và cuối cùng đồng thời và tổng hợp.
b. The bringing into activity from latency of the seven centres on all planes, beginning from the bottom upwards, until the centres (according to ray and type) are interrelated and co-ordinated. There are manifest thirty-five vortices of fire in the perfected adept,—all of radiant activity and all interacting.
b. Sự đưa vào hoạt động từ trạng thái tiềm ẩn của bảy trung tâm trên mọi cõi, bắt đầu từ dưới lên trên, cho đến khi các trung tâm (theo cung và loại) liên hệ với nhau và phối hợp. Có ba mươi lăm xoáy lửa biểu hiện nơi chân sư toàn thiện,—tất cả đều hoạt động rạng ngời và đều tương tác với nhau.
c. The vortices or wheels of lambent flame become interlinked by triangles of fire which pass and circulate from one to another, till we have a web of fiery lines, uniting centres of living fire, and giving truth to the statement that the Sons of Mind are FLAMES.
c. Các xoáy lực hay bánh xe lửa rực sáng trở nên nối kết với nhau bằng những tam giác lửa truyền dẫn và lưu chuyển từ cái này sang cái khác, cho đến khi chúng ta có một mạng lưới những đường lửa, hợp nhất các trung tâm của lửa sống, và xác nhận chân lý của phát biểu rằng các Con của Trí Tuệ là NHỮNG NGỌN LỬA.
d. These centres reach this condition of perfection as the Spirit or Will aspect takes ever fuller control. The unifying triangles are produced by the action of the fire of mind, while the fire of matter holds the form together in ordered sequence. So the interdependence of matter, mind and Spirit can be seen and demonstrates to the eye of the clairvoyant as the co-ordination of the three fires.
d. Các trung tâm này đạt đến tình trạng toàn thiện ấy khi phương diện tinh thần hay Ý Chí ngày càng nắm quyền kiểm soát đầy đủ hơn. Các tam giác hợp nhất được tạo ra bởi tác động của lửa của trí tuệ, trong khi lửa của vật chất giữ hình tướng lại với nhau trong trình tự có trật tự. Vì vậy có thể thấy sự tương thuộc của vật chất, trí tuệ và tinh thần, và điều đó biểu hiện trước mắt nhà thông nhãn như sự phối hợp của ba lửa.
e. In the Heavenly Man and His body, a chain of globes (87) likewise can be seen and we need here to remember [Page 206] very carefully that the seven chains of a scheme are the expression of a planetary Logos. The Heavenly Men are expressing Themselves through a scheme of seven chains and the emphasis has been laid unduly, perhaps, upon the dense physical planet in any particular chain. This has caused the fact of the chain importance to be somewhat overlooked. Each of the seven chains might be looked upon as picturing the seven centres of one of the Heavenly Men. The idea of groups of Egos forming centres in the Heavenly Men is nevertheless correct, but in this connection the reference is to the centres of force on buddhic and monadic levels. (88)
e. Trong Đấng Thiên Nhân và thể của Ngài, một dãy các bầu hành tinh (87) cũng có thể được thấy, và ở đây chúng ta cần ghi nhớ [Page 206] rất cẩn thận rằng bảy dãy của một hệ hành tinh là biểu hiện của một Hành Tinh Thượng Đế. Các Đấng Thiên Nhân đang biểu hiện chính Các Ngài qua một hệ hành tinh gồm bảy dãy, và có lẽ sự nhấn mạnh đã được đặt quá mức vào hành tinh hồng trần đậm đặc trong bất kỳ dãy riêng biệt nào. Điều này đã khiến sự kiện về tầm quan trọng của dãy phần nào bị bỏ qua. Mỗi một trong bảy dãy có thể được xem như phác hoạ bảy trung tâm của một trong các Đấng Thiên Nhân. Tuy nhiên, ý tưởng về các nhóm chân ngã tạo thành các trung tâm trong các Đấng Thiên Nhân là đúng, nhưng trong mối liên hệ này, sự quy chiếu là đến các trung tâm mãnh lực trên các cấp độ Bồ đề và chân thần. (88)
(87) The Planetary Chains:
(87) Các Dãy Hành Tinh:
The seven Heavenly Men.......Form, the sun and the seven sacred planets.—S. D., I, 100, 155.
Bảy Đấng Thiên Nhân.......Tạo thành mặt trời và bảy hành tinh thiêng liêng.—S. D., I, 100, 155.
Some of their names and qualities.
Một vài danh xưng và phẩm tính của Các Ngài.
a. The seven planetary Logoi, or the seven Spirits before the throne.
a. Bảy Hành Tinh Thượng Đế, hay Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai.
b. The seven Kumaras.... S. D., III, 59, 327.
b. Bảy Kumara.... S. D., III, 59, 327.
c. Seven solar deities....S. D., I, 114; I, 228; II, 92, 257.
c. Bảy thần thái dương....S. D., I, 114; I, 228; II, 92, 257.
d. The primordial seven....S. D., I, 116.
d. Bảy vị nguyên sơ....S. D., I, 116.
e. The seven Builders....S. D., I, 152, 153.
e. Bảy đấng kiến tạo....S. D., I, 152, 153.
f. Seven intellectual Breaths....S. D., II, 332, note.
f. Bảy Hơi Thở trí tuệ....S. D., II, 332, note.
g. The seven Manus.... S. D., I, 488.
g. Bảy Đức Manu.... S. D., I, 488.
h. The Flames.... S. D., II, 258.
h. Những Ngọn Lửa.... S. D., II, 258.
They came from previous kalpas... S. D., II, 99.
Các Ngài đến từ những kalpa trước... S. D., II, 99.
Their nature is knowledge and love.... S. D., II, 275; S. D., II, 619.
Bản chất của Các Ngài là tri thức và bác ái.... S. D., II, 275; S. D., II, 619.
The seven sacred planets are:
Bảy hành tinh thiêng liêng là:
1. Saturn
1. Sao Thổ
2. Jupiter.
2. Sao Mộc.
3. Mars
3. Sao Hỏa
4. Sun (substitute for another).
4. Mặt Trời (thay thế cho một hành tinh khác).
5. Venus
5. Sao Kim
6. Mercury.
6. Sao Thủy.
7. Moon (substitute for another).
7. Mặt Trăng (thay thế cho một hành tinh khác).
Neptune and Uranus are not here enumerated, nor Vulcan.
Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương không được liệt kê ở đây, Vulcan cũng vậy.
The orbit of Neptune includes apparently the entire ring-pass-not.
Quỹ đạo của Sao Hải Vương dường như bao gồm toàn bộ vòng-giới-hạn.
Vulcan is within the orbit of Mercury.
Vulcan ở bên trong quỹ đạo của Sao Thủy.
Each one of the Heavenly Men manifests through a chain of seven globes.
Mỗi một Đấng Thiên Nhân biểu hiện qua một dãy gồm bảy bầu hành tinh.
All the seven Logoi influence a chain, but one of Them is the incarnating Entity. They influence:
Cả bảy Thượng đế đều ảnh hưởng đến một dãy, nhưng một trong Các Ngài là Thực Thể nhập thể. Các Ngài ảnh hưởng đến:
a. Some globe in chain
a. Một bầu hành tinh nào đó trong dãy
b. Some plane
b. Một cõi nào đó
c. Some round.
c. Một cuộc tuần hoàn nào đó.
d. Some world period
d. Một thời kỳ thế giới nào đó
e. Some rootrace
e. Một giống dân gốc nào đó
f. Some subrace.
f. Một giống dân phụ nào đó.
g. Some branch race
g. Một chủng tộc nhánh nào đó
h. Some group
h. Một nhóm nào đó
i. Some human unit. (back)
i. Một đơn vị nhân loại nào đó. (back)
(88) In the Secret Doctrine, the Sons of Mind are spoken of as flames. In Stanza VII, 4, “These are the three-tongued flame of the four wicks. The wicks are the sparks, that draw from the three-tongued flame shot out by the seven flames. The spark hangs from the flame by the finest thread of Fohat.” (back)
(88) Trong Giáo Lý Bí Nhiệm, các Con của Trí Tuệ được nói đến như những ngọn lửa. Trong Bài kệ VII, 4, “Đây là ngọn lửa ba lưỡi của bốn tim đèn. Các tim đèn là những tia lửa, rút ra từ ngọn lửa ba lưỡi phóng ra bởi bảy ngọn lửa. Tia lửa treo từ ngọn lửa bằng sợi chỉ mảnh nhất của Fohat.” (back)
[Page 207] In connection with this there is a fundamental point that must never be forgotten: these seven Heavenly Men might be considered as being in physical incarnation through the medium of a physical planet, and herein lies the mystery of planetary evolution. Herein lies the mystery of our planet, the most mysterious of all the planets. Just as the karma of individuals differs, so differs the karma of the various Logoi, and the karma of our planetary Logos has been a heavy one, and veiled in the mystery of personality at this time.
[Page 207] Liên quan đến điều này có một điểm căn bản không bao giờ được quên: bảy Đấng Thiên Nhân này có thể được xem như đang lâm phàm hồng trần qua trung gian của một hành tinh hồng trần, và chính trong đó có huyền nhiệm của sự tiến hoá hành tinh. Chính trong đó có huyền nhiệm của hành tinh chúng ta, huyền bí nhất trong mọi hành tinh. Cũng như nghiệp quả của các cá nhân khác nhau, nghiệp quả của các Thượng đế khác nhau cũng khác nhau, và nghiệp quả của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta là một nghiệp quả nặng nề, và hiện nay được che phủ trong huyền nhiệm của phàm ngã.
Again, according as the centres are active or inactive, so the manifestation differs likewise, and the study which opens up is of vast and abstruse interest in connection with the solar system.
Một lần nữa, tùy theo các trung tâm hoạt động hay bất hoạt mà biểu hiện cũng khác nhau tương ứng, và sự nghiên cứu mở ra từ đó có mối quan tâm rộng lớn và sâu xa liên quan đến hệ mặt trời.
5. The Centres and Initiation
5. Các Trung Tâm và Điểm đạo
We have dealt briefly with the evolution of the centres, with their function, their organisation and their gradually increasing activity from a point of comparative inertia until they are consummated motion. Then they become living wheels of flame, distinguished by a dual motion of the periphery and the inner revolving wheels, and by a fourth-dimensional effect, due primarily to the alignment of the inner subtler vortices with the comparatively exoteric etheric centres. This alignment is brought about eventually at initiation.
Chúng ta đã bàn ngắn gọn về sự tiến hoá của các trung tâm, về chức năng, tổ chức của chúng và hoạt động tăng dần từng bước của chúng từ một điểm có tính trì trệ tương đối cho đến khi chúng trở thành chuyển động viên mãn. Khi đó chúng trở thành những bánh xe lửa sống động, được phân biệt bởi một chuyển động kép của chu vi và các bánh xe quay bên trong, và bởi một hiệu ứng bốn chiều, chủ yếu do sự chỉnh hợp của các xoáy lực tinh tế bên trong với các trung tâm dĩ thái tương đối ngoại môn. Sự chỉnh hợp này cuối cùng được thực hiện vào lúc điểm đạo.
At the time that initiation is taken, the centres are all active and the lower four (which correspond to the Personality) are beginning the process of translating the fire into the three higher. The dual revolution in the lower centres is clearly to be seen and the three higher are commencing to be similarly active. By the application of the Rod of Initiation at the time of the initiation ceremony, certain results are achieved in connection with the centres which might be enumerated as follows:
Vào lúc điểm đạo được tiếp nhận, các trung tâm đều hoạt động và bốn trung tâm thấp (tương ứng với phàm ngã) đang bắt đầu tiến trình chuyển dịch lửa vào ba trung tâm cao. Có thể thấy rõ sự quay kép trong các trung tâm thấp và ba trung tâm cao đang bắt đầu hoạt động tương tự. Bằng việc áp dụng Thần Trượng Điểm đạo vào lúc nghi lễ điểm đạo, một số kết quả nhất định được đạt tới liên quan đến các trung tâm, có thể được liệt kê như sau: