← A Treatise on Cosmic Fire

DIVISION F - THE LAW OF ECONOMY

Trích nội dung chương

a. The fire at the base of the spine is definitely directed [Page 208] to whichever centre is the object of special attention. This varies according to the Ray, or the specialised work of the initiate. a. Lửa ở đáy cột sống được hướng đi một cách xác định [Page 208] đến bất cứ trung tâm nào là đối tượng của sự chú ý đặc biệt. Điều này thay đổi tùy theo cung, hoặc công việc chuyên biệt của điểm đạo đồ.


a. The fire at the base of the spine is definitely directed [Page 208] to whichever centre is the object of special attention. This varies according to the Ray, or the specialised work of the initiate.

a. Lửa ở đáy cột sống được hướng đi một cách xác định [Page 208] đến bất cứ trung tâm nào là đối tượng của sự chú ý đặc biệt. Điều này thay đổi tùy theo cung, hoặc công việc chuyên biệt của điểm đạo đồ.

b. The centre has its activity intensified, its rate of evolution increased, and certain of the central spokes of the wheel brought into more active radiance. These spokes which are also called by some students lotus-petals, have a close connection with the different spirillae in the permanent atoms. Through their stimulation there comes into play one or more of the corresponding spirillae in the permanent atoms on the three lower planes. After the third Initiation, a corresponding stimulation takes place in the permanent atoms of the Triad, leading to the co-ordination of the buddhic vehicle, and the transference of the lower polarisation into the higher.

b. Trung tâm được tăng cường hoạt động, tốc độ tiến hoá của nó được gia tăng, và một số nan hoa trung tâm của bánh xe được đưa vào sự rạng ngời hoạt động hơn. Những nan hoa này, cũng được một số đạo sinh gọi là các cánh hoa sen, có liên hệ mật thiết với các loa tuyến khác nhau trong các nguyên tử trường tồn. Qua sự kích thích của chúng, một hay nhiều loa tuyến tương ứng trong các nguyên tử trường tồn trên ba cõi thấp được đưa vào hoạt động. Sau lần điểm đạo thứ ba, một sự kích thích tương ứng diễn ra trong các nguyên tử trường tồn của Tam nguyên tinh thần, dẫn đến sự phối hợp của vận cụ Bồ đề, và sự chuyển dịch phân cực thấp lên phân cực cao.

c. By the application of the Rod of Initiation the downflow of force from the Ego to the personality is tripled, the direction of that force being dependent upon whether the centres receiving attention are the etheric, or the astral at the first and second Initiations, or whether the initiate is standing before the LORD OF THE WORLD. In the latter case, his mental centres or their corresponding force vortices on higher levels, will receive stimulation. When the World Teacher initiates at the first and second Initiations, the direction of the Triadal force is turned to the vivification of the heart, and throat centres, and the ability to synthesise the force of the lower centres is greatly increased. When the One Initiator applies the Rod of His Power, the downflow is from the Monad, and though the throat and heart intensify vibration as a response, the main direction of the force is to the seven head centres, and finally (at liberation) to the radiant head centre above, and synthesising the lesser seven head centres.

c. Bằng việc áp dụng Thần Trượng Điểm đạo, dòng mãnh lực tuôn xuống từ chân ngã đến phàm ngã được tăng gấp ba, hướng đi của mãnh lực ấy tùy thuộc vào việc các trung tâm được chú ý là các trung tâm dĩ thái, hay cảm dục trong lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai, hoặc liệu điểm đạo đồ đang đứng trước ĐỨC CHÚA TỂ THẾ GIỚI hay không. Trong trường hợp sau, các trung tâm trí tuệ của y hoặc các xoáy mãnh lực tương ứng của chúng trên các cấp độ cao hơn sẽ nhận được sự kích thích. Khi Đức Chưởng Giáo điểm đạo trong lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai, hướng của mãnh lực Tam nguyên tinh thần được chuyển sang sự tiếp sinh lực cho các trung tâm tim và cổ họng, và khả năng tổng hợp mãnh lực của các trung tâm thấp được gia tăng rất nhiều. Khi Đấng Điểm đạo Duy Nhất áp dụng Thần Trượng Quyền năng của Ngài, dòng tuôn xuống là từ chân thần, và dù cổ họng và tim tăng cường rung động như một đáp ứng, hướng chính của mãnh lực là đến bảy trung tâm đầu, và cuối cùng (khi giải thoát) đến trung tâm đầu rạng ngời ở phía trên, và tổng hợp bảy trung tâm đầu nhỏ hơn.

d. The centres at initiation receive a fresh access of [Page 209] vibratory capacity and of power, and this results, in the exoteric life, as:

d. Các trung tâm khi điểm đạo nhận được một sự gia tăng mới về [Page 209] năng lực rung động và quyền năng, và điều này dẫn đến, trong đời sống ngoại môn, như sau:

First. A sensitiveness and refinement of the vehicles which may result, at first, in much suffering to the initiate, but which produces a capacity to respond to contacts that far outweighs the incidental pain.

Thứ nhất. Một sự nhạy cảm và tinh luyện của các vận cụ, lúc đầu có thể dẫn đến nhiều đau khổ cho điểm đạo đồ, nhưng tạo ra một khả năng đáp ứng với các tiếp xúc vượt xa nỗi đau ngẫu nhiên đi kèm.

Second. A development of psychic faculty that again may lead to temporary distress, but which eventually causes a recognition of the one Self in all selves, which is the goal of endeavor.

Thứ hai. Một sự phát triển năng lực thông linh, điều này lại có thể dẫn đến khổ sở tạm thời, nhưng cuối cùng gây ra sự nhận biết một Bản Ngã trong mọi bản ngã, vốn là mục tiêu của nỗ lực.

Third. A burning away, through a gradual arousing of kundalini, and its correct geometrical progression through the etheric web. This produces a resultant continuity of consciousness which enables the initiate consciously to utilise time as a factor in the plans of evolution.

Thứ ba. Một sự đốt cháy đi, qua sự thức tỉnh dần dần của kundalini, và sự tiến triển hình học đúng đắn của nó xuyên qua mạng dĩ thái. Điều này tạo ra một sự liên tục của tâm thức, giúp điểm đạo đồ một cách hữu thức sử dụng thời gian như một yếu tố trong các kế hoạch tiến hoá.

Fourth. A gradual grasp of the Law of Vibration as an aspect of the basic law of building; the initiate learns consciously to build, to manipulate thought matter for the perfecting of the plans of the Logos, to work in mental essence, and to apply the law of mental levels and thereby affect the physical plane. Motion originates cosmically on cosmic mental levels, and in the microcosm the same order will be seen. There is an occult hint here that will reveal much if pondered upon. At initiation, at the moment of the application of the Rod, the initiate consciously realises the meaning of the Law of Attraction in form building, and in the synthesis of the three fires. Upon his ability to retain that realisation and himself to apply the law, will depend his power and progress.

Thứ tư. Một sự nắm bắt dần dần Định luật Rung động như một phương diện của định luật căn bản về kiến tạo; điểm đạo đồ học cách kiến tạo một cách hữu thức, vận dụng chất liệu tư tưởng để hoàn thiện các kế hoạch của Thượng đế, làm việc trong tinh chất trí tuệ, và áp dụng định luật của các cấp độ trí tuệ, nhờ đó tác động đến cõi hồng trần. Chuyển động khởi nguồn về mặt vũ trụ trên các cấp độ trí tuệ vũ trụ, và trong tiểu thiên địa cũng sẽ thấy cùng một trật tự như vậy. Ở đây có một gợi ý huyền bí sẽ tiết lộ nhiều điều nếu được suy ngẫm. Khi điểm đạo, vào khoảnh khắc áp dụng Thần Trượng, điểm đạo đồ một cách hữu thức chứng nghiệm ý nghĩa của Định luật Hấp dẫn trong việc kiến tạo hình tướng, và trong sự tổng hợp ba lửa. Quyền năng và sự tiến bộ của y sẽ tùy thuộc vào khả năng giữ vững sự chứng nghiệm ấy và tự mình áp dụng định luật.

e. By the application of the Rod, the fire of kundalini is aroused, and its upward progress directed. The fire at the base of the spine, and the fire of mind are [Page 210] directed along certain routes, or triangles, by the action of the Rod as it moves in a specified manner. There is a definite occult reason, under the Laws of Electricity, behind the known fact that every initiate, presented to the Initiator, is accompanied by two of the Masters, who stand one on either side of him. The three of them together form a triangle which makes the work possible.

e. Bằng việc áp dụng Thần Trượng, lửa kundalini được đánh thức, và sự tiến triển đi lên của nó được định hướng. Lửa ở đáy cột sống, và lửa của trí tuệ được [Page 210] hướng theo những lộ trình, hay tam giác nhất định, bởi tác động của Thần Trượng khi nó di chuyển theo một cách thức xác định. Có một lý do huyền bí rõ rệt, theo các Định luật Điện, đằng sau sự kiện đã biết rằng mọi điểm đạo đồ được dẫn đến trước Đấng Điểm đạo đều có hai Chân sư đi kèm, đứng mỗi vị một bên y. Cả ba cùng nhau tạo thành một tam giác làm cho công việc trở nên khả thi.

The force of the Rod is twofold, and its power terrific. Apart and alone the initiate could not receive the voltage from the Rod without serious hurt, but in triangular formation transmission comes safely. The two Masters Who thus sponsor the initiate, represent two polarities of the electric All; part of Their work is therefore to stand with all applicants for initiation when they come before the Great Lord.

Mãnh lực của Thần Trượng là nhị phân, và quyền năng của nó thật khủng khiếp. Nếu tách riêng và đơn độc, điểm đạo đồ không thể tiếp nhận điện thế từ Thần Trượng mà không bị tổn thương nghiêm trọng, nhưng trong đội hình tam giác, sự truyền dẫn diễn ra an toàn. Hai Chân sư bảo trợ điểm đạo đồ theo cách đó tượng trưng cho hai cực tính của Toàn Thể điện; vì vậy một phần công việc của Các Ngài là đứng cùng mọi ứng viên điểm đạo khi họ đến trước Đức Chúa Tể Vĩ Đại.

When the Rods of Initiation are held in the hands of the Initiator in His position of power, and at the stated seasons, they act as transmitters of electric force from very high levels,—so high indeed that the “Flaming Diamond” at certain of the final initiations (the sixth and seventh) transmits force, via the Logos, from outside the system altogether. We need to remember that this major Rod is the one used on this planet, but that within the system there are several such Rods of Power, and that they are to be found in three grades, if it may be so expressed.

Khi các Thần Trượng Điểm đạo được cầm trong tay Đấng Điểm đạo ở vị thế quyền năng của Ngài, và vào những mùa kỳ định, chúng hoạt động như những vật truyền dẫn mãnh lực điện từ các cấp độ rất cao,—quả thật cao đến mức “Kim Cương Rực Lửa” trong một số lần điểm đạo cuối cùng (thứ sáu và thứ bảy) truyền mãnh lực, qua Thượng đế, từ hoàn toàn bên ngoài hệ thống. Chúng ta cần nhớ rằng đại Thần Trượng này là loại được dùng trên hành tinh này, nhưng trong nội bộ hệ thống có một số Thần Trượng Quyền năng như vậy, và có thể nói rằng chúng được tìm thấy trong ba cấp bậc.

First. The Rod of Initiation used for the first two initiations and wielded by the Great Lord, the Christ, the World Teacher. It is magnetised by application of the “Flaming Diamond”—the magnetisation being repeated when each new world Teacher takes office. There is a wonderful ceremony performed at the time that a new World Teacher takes up His work. During the ceremony He receives His Rod of Power—the same Rod as used since the foundation of our planetary Hierarchy—and holds it forth to the Lord of the World, Who touches it [Page 211] with His own mighty Rod, causing a fresh re-charging of its electric capacity. This ceremony takes place at Shamballa. (89, 90)

Thứ nhất. Thần Trượng Điểm đạo được dùng cho hai lần điểm đạo đầu tiên và do Đức Chúa Tể Vĩ Đại, Đức Christ, Đức Chưởng Giáo, sử dụng. Nó được từ hoá bằng việc áp dụng “Kim Cương Rực Lửa”—sự từ hoá được lặp lại khi mỗi Đức Chưởng Giáo mới nhậm chức. Có một nghi lễ kỳ diệu được cử hành vào lúc một Đức Chưởng Giáo mới đảm nhận công việc của Ngài. Trong nghi lễ, Ngài nhận Thần Trượng Quyền năng của Ngài—chính Thần Trượng đã được dùng từ khi Huyền Giai Tinh Thần hành tinh của chúng ta được thiết lập—và giơ nó ra trước Đức Chúa Tể Thế Giới, Đấng chạm vào nó [Page 211] bằng chính Thần Trượng hùng lực của Ngài, gây ra một sự nạp lại mới cho năng lực điện của nó. Nghi lễ này diễn ra tại Shamballa. (89, 90)

Second. The Rod of Initiation known as the “Flaming Diamond” and used by Sanat Kumara, the One Initiator, called in the Bible, the Ancient of Days. This Rod lies hidden “in the East” and holds the fire latent which irradiates the Wisdom Religion. This Rod was brought by the Lord of the World when He took form and came to our planet eighteen million years ago.

Thứ hai. Thần Trượng Điểm đạo được biết đến như “Kim Cương Rực Lửa” và được Đức Sanat Kumara, Đấng Điểm đạo Duy Nhất, sử dụng, Đấng được gọi trong Kinh Thánh là Đấng Thái Cổ. Thần Trượng này được cất giấu “ở phương Đông” và giữ ngọn lửa tiềm ẩn chiếu rạng Tôn Giáo Minh Triết. Thần Trượng này đã được Đức Chúa Tể Thế Giới mang đến khi Ngài nhận hình tướng và đến hành tinh chúng ta mười tám triệu năm trước.

Once in every world period it is subjected to a similar process as that of the lesser Rod, only this time it is recharged by the direct action of the Logos Himself,—the Logos of the solar system. The location of this Rod is known only to the Lord of the World, and to the Chohans of the Rays, and (being the talisman of this evolution) the Chohan of the second Ray is—under the Lord of the World—its main guardian, aided by the deva Lord of the second plane. The Buddhas of activity are responsible for its custody, and under them the Chohan of the Ray. It is produced only at stated times when specific work has to be done. It is used not only at the initiating of men, but at certain planetary functions, of which nothing as yet has been given out. It has its place and function in certain ceremonies connected with the inner round (91) and the triangle formed by the Earth, Mars [Page 212] and Mercury. But more about this is not at this time permissible.

Mỗi thời kỳ thế giới một lần, nó chịu một tiến trình tương tự như của Thần Trượng nhỏ hơn, chỉ khác là lần này nó được nạp lại bằng tác động trực tiếp của chính Thượng đế,—Thượng đế của hệ mặt trời. Vị trí của Thần Trượng này chỉ được biết bởi Đức Chúa Tể Thế Giới, và các Chohan của các Cung, và (vì là bùa hộ mệnh của cuộc tiến hoá này) Chohan của cung hai là—dưới quyền Đức Chúa Tể Thế Giới—người giám hộ chính của nó, được trợ giúp bởi Chúa thiên thần của cõi thứ hai. Các Đức Phật Hoạt Động chịu trách nhiệm gìn giữ nó, và dưới các Ngài là Chohan của Cung. Nó chỉ được đưa ra vào những thời điểm định sẵn khi công việc đặc thù phải được thực hiện. Nó không chỉ được dùng trong việc điểm đạo cho những người nam và nữ, mà còn trong một số chức năng hành tinh, về những điều đó cho đến nay vẫn chưa được tiết lộ. Nó có vị trí và chức năng của nó trong một số nghi lễ liên quan đến cuộc tuần hoàn nội môn (91) và tam giác được tạo thành bởi Trái Đất, Sao Hỏa [Page 212] và Sao Thủy. Nhưng hiện nay không được phép nói thêm về điều này.

(91) The inner round is a mysterious cycle of which little can be told. It is not concerned with manifestation through the seven schemes or globes, but has to do with certain aspects of the subjective Life or the soul. (back)

(91) Cuộc tuần hoàn nội môn là một chu kỳ huyền bí mà rất ít điều có thể được nói ra. Nó không liên quan đến sự biểu hiện qua bảy hệ hành tinh hay các bầu hành tinh, mà liên quan đến một số phương diện của Sự sống chủ quan hay linh hồn. (back)

Third. The Rod of Initiation, wielded by the Logos of the solar system, is called among other things, the “Sevenfold Flaming Fire.” It was confided to our Logos by the Lord of Sirius and sent to our system from that radiant sun. One of its purposes is for use in emergencies. This great talisman has never yet been employed in this particular manner, though twice it was nearly thus used,—once in Atlantean days, and once in the third year of the late war. This Rod of Power is used at the initiation of the seven Heavenly Men on cosmic levels. It is used also in the initiation of groups, a thing almost incomprehensible to us. It is applied to the centres of the seven Heavenly Men in the same general way as the lesser Rods are applied to the human centres, and the effects are the same, only on a vaster scale. This, needless to say, is a vast and abstruse subject, and concerns not the sons of men. It is but touched upon, as an enumeration of the Rods of Initiation would be incomplete without some reference to it, and it serves to show the wondrous synthesis of the whole, and the place of the system within an even greater scheme. In all things cosmic, perfect law and order are found, and the ramifications of the plan can be seen on all planes and all subplanes. This greatest Rod is in the care of the first great group of karmic Lords. It might be described as the Rod which carries a voltage of pure fohatic force from cosmic levels. The two lesser Rods carry differentiated fohatic force. This logoic Rod of Power is kept within the Sun, and is only re-charged at the beginning of every one hundred years of Brahma.

Thứ ba. Thần Trượng Điểm đạo, do Thượng đế của hệ mặt trời sử dụng, được gọi, trong số những danh xưng khác, là “Lửa Rực Lửa Thất Phân.” Nó đã được Chúa Tể của Sirius giao phó cho Thượng đế của chúng ta và gửi đến hệ thống chúng ta từ mặt trời rạng ngời ấy. Một trong những mục đích của nó là để dùng trong các tình huống khẩn cấp. Bùa hộ mệnh vĩ đại này chưa bao giờ được sử dụng theo cách đặc biệt này, mặc dù đã hai lần suýt được dùng như vậy,—một lần vào thời Atlantis, và một lần vào năm thứ ba của cuộc chiến vừa qua. Thần Trượng Quyền năng này được dùng trong việc điểm đạo cho bảy Đấng Thiên Nhân trên các cấp độ vũ trụ. Nó cũng được dùng trong việc điểm đạo cho các nhóm, một điều hầu như không thể hiểu nổi đối với chúng ta. Nó được áp dụng vào các trung tâm của bảy Đấng Thiên Nhân theo cùng cách tổng quát như các Thần Trượng nhỏ hơn được áp dụng vào các trung tâm của con người, và các hiệu quả cũng giống như vậy, chỉ là trên một quy mô rộng lớn hơn. Không cần phải nói, đây là một chủ đề rộng lớn và sâu xa, và không liên quan đến những người con của nhân loại. Nó chỉ được chạm đến, vì việc liệt kê các Thần Trượng Điểm đạo sẽ không đầy đủ nếu không có một vài quy chiếu đến nó, và nó giúp cho thấy sự tổng hợp kỳ diệu của toàn thể, cùng vị trí của hệ thống trong một hệ hành tinh còn lớn hơn nữa. Trong mọi sự việc vũ trụ, đều có thể tìm thấy quy luật và trật tự hoàn hảo, và các phân nhánh của Thiên Cơ có thể được thấy trên mọi cõi và mọi cõi phụ. Đại Thần Trượng này được đặt dưới sự chăm sóc của nhóm lớn thứ nhất các Đấng nghiệp quả. Nó có thể được mô tả như Thần Trượng mang một điện thế của mãnh lực fohat thuần túy từ các cấp độ vũ trụ. Hai Thần Trượng nhỏ hơn mang mãnh lực fohat đã được biến phân. Thần Trượng Quyền năng logoic này được giữ trong Mặt Trời, và chỉ được nạp lại vào đầu mỗi một trăm năm Brahma.

The reason why the Rods of Power are here discussed is that they have definitely to do with the centres which are force vortices in matter and which (though channels [Page 213] for spiritual force, or centres wherein the ‘will to be’ finds expression) demonstrate as activity in matter. They are the centres of existence, and just as one cannot, in manifestation, dissociate the two poles of Spirit and matter, so one cannot, in initiation apply the Rod without bringing about definite effects between the two. The Rods are charged with Fohat which is fire of matter plus electric fire, hence their effect. The mystery cannot be explained in greater detail as the secrets of initiation are not transmissible. More has been here imparted on this matter than hitherto, though there are those who have heard these things.

Lý do các Thần Trượng Quyền năng được bàn đến ở đây là vì chúng chắc chắn có liên quan đến các trung tâm, vốn là những xoáy mãnh lực trong vật chất và là những gì (dù là các kênh [Page 213] cho mãnh lực tinh thần, hay các trung tâm trong đó “ý chí hiện hữu” tìm được sự biểu hiện) vẫn biểu lộ như hoạt động trong vật chất. Chúng là các trung tâm của sự tồn tại, và cũng như trong biểu hiện người ta không thể tách rời hai cực của tinh thần và vật chất, thì trong điểm đạo cũng không thể áp dụng Thần Trượng mà không gây ra những hiệu quả xác định giữa hai cực ấy. Các Thần Trượng được nạp bằng Fohat, vốn là lửa của vật chất cộng với Lửa Điện, do đó mới có hiệu quả của chúng. Huyền nhiệm này không thể được giải thích chi tiết hơn vì các bí mật của điểm đạo không thể truyền đạt được. Ở đây đã truyền ra về vấn đề này nhiều hơn trước kia, mặc dù có những người đã nghe những điều này.

DIVISION F - THE LAW OF ECONOMY

PHÂN ĐOẠN F - ĐỊNH LUẬT TIẾT KIỆM

[Page 214] I. Its effect in matter.

[Page 214] I. Tác động của nó trong vật chất.

1. Dissociation of atoms.

1. Sự phân ly của các nguyên tử.

2. Distribution of atoms.

2. Sự phân bố các nguyên tử.

3. Vibratory rhythm.

3. Nhịp điệu rung động.

4. Heterogeneity.

4. Tính dị biệt.

5. Inherent rotary activity.

5. Hoạt động quay vốn có.

II. Its subsidiary laws.

II. Các định luật phụ thuộc của nó.

1. The law of vibration.

1. Định luật rung động.

2. The law of adaptation.

2. Định luật thích ứng.

3. The law of repulsion.

3. Định luật đẩy lùi.

4. The law of friction.

4. Định luật ma sát.

I. ITS EFFECT IN MATTER

I. TÁC ĐỘNG CỦA NÓ TRONG VẬT CHẤT

This law is the law governing the matter aspect of manifestation, and is the law characterising the work of the third Logos, and of the entities who are the embodiment of His will and the agents of His purposes. Each of the great cosmic Entities who take form as the three Logoi, is distinguished by different methods of activity, which might be described thus:

Định luật này là định luật chi phối phương diện vật chất của sự biểu hiện, và là định luật đặc trưng cho công việc của Thượng đế thứ ba, cùng các thực thể là hiện thân của ý chí của Ngài và là tác nhân cho các mục đích của Ngài. Mỗi một trong các Thực Thể vũ trụ vĩ đại khoác lấy hình tướng như ba Đấng Logoi đều được phân biệt bởi những phương pháp hoạt động khác nhau, có thể được mô tả như sau:

The third Aspect or Brahma aspect of the activities of those Entities who are His expression, is characterised by that method in the distribution of matter which we call the Law of Economy. It is the law governing the scattering of the atoms of matter and their dissociation from one another, wide distribution, vibratory rhythm, [Page 215] heterogeneity and quality and their inherent rotary action. This Law of Economy causes matter always to follow the line of least resistance, and is the basis of the separative action of atomic matter. It governs matter, the opposite pole of spirit.

Phương diện thứ ba hay phương diện Brahma của các hoạt động của những Thực Thể là biểu hiện của Ngài, được đặc trưng bởi phương pháp phân bố vật chất mà chúng ta gọi là Định luật Tiết Kiệm. Đây là định luật chi phối sự phân tán các nguyên tử của vật chất và sự phân ly của chúng khỏi nhau, sự phân bố rộng khắp, nhịp điệu rung động, [Page 215] tính dị biệt và phẩm tính của chúng cùng hoạt động quay vốn có của chúng. Định luật Tiết Kiệm này khiến vật chất luôn luôn đi theo con đường ít trở ngại nhất, và là nền tảng của hoạt động phân ly của vật chất nguyên tử. Nó chi phối vật chất, cực đối nghịch của tinh thần.

The second Aspect, the building, or Vishnu aspect, is governed by the Law of Attraction; the activities of the entities who embody this aspect are directed to the attracting of matter to Spirit, and the gradual approximation of the two poles. It results in cohesion, in the production of congeries of atoms in various formations, and this attraction is brought about by the attractive power of Spirit itself. It shows itself in:

Phương diện thứ hai, phương diện kiến tạo hay Vishnu, được chi phối bởi Định luật Hấp Dẫn; các hoạt động của những thực thể hiện thân cho phương diện này được hướng đến việc hút vật chất về phía Tinh thần, và sự xích lại gần dần dần của hai cực. Điều này đưa đến sự kết dính, đến việc tạo ra những tập hợp nguyên tử trong nhiều cấu trúc khác nhau, và sự hấp dẫn này được tạo ra bởi chính quyền năng hấp dẫn của Tinh thần. Nó biểu lộ trong:

1. Association,

1. Sự liên kết,

2. Form building,

2. Sự tạo dựng hình tướng,

3. Adaptation of form to vibration,

3. Sự thích ứng của hình tướng với rung động,

4. Relative homogeneity of group unity,

4. Tính đồng nhất tương đối của sự hợp nhất nhóm,

5. Cyclic spiralling movement.

5. Chuyển động xoắn ốc theo chu kỳ.

The line of least resistance is not the law for this aspect. The attractive power of Spirit in form-building, and in the adaptation of the form to the need, is the secret of the pain and resistance in the world; pain is only caused by resistance, and is a necessary phase in the process of evolution. This law of attraction is the law governing the Spirit, the opposite pole of matter.

Con đường ít trở ngại nhất không phải là định luật của phương diện này. Quyền năng hấp dẫn của Tinh thần trong việc xây dựng hình tướng, và trong sự thích ứng của hình tướng với nhu cầu, là bí mật của đau khổ và sự kháng cự trong thế gian; đau khổ chỉ do sự kháng cự gây ra, và là một giai đoạn cần thiết trong tiến trình tiến hoá. Định luật hấp dẫn này là định luật chi phối Tinh thần, cực đối nghịch của vật chất.

The first Aspect, or the will to exist, is governed by the Law of Synthesis, and the activities of the cosmic entities who are its embodiments are governed by the law of enforced unity, and of essential homogeneity. It is the law that eventually comes into play after spirit and matter are blending, and adapting themselves each to each; it governs the eventual synthesis of Self with Self, and finally with the All-Self, and also of essence with essence in contra-distinction to the synthesis of matter and Spirit. It demonstrates as: [Page 216]

Phương diện thứ nhất, hay ý chí hiện hữu, được chi phối bởi Định luật Tổng Hợp, và các hoạt động của những thực thể vũ trụ là hiện thân của nó được chi phối bởi định luật của sự hợp nhất cưỡng bách, và của tính đồng nhất bản chất. Đây là định luật rốt cuộc đi vào hoạt động sau khi tinh thần và vật chất đang hòa trộn và thích ứng với nhau; nó chi phối sự tổng hợp tối hậu của Ngã với Ngã, và cuối cùng với Đại Ngã Toàn Thể, đồng thời cả của tinh túy với tinh túy, đối lập với sự tổng hợp của vật chất và Tinh thần. Nó biểu lộ như: [Page 216]

1. Abstraction,

1. Sự trừu xuất,

2. Spiritual liberation,

2. Sự giải thoát tinh thần,

3. Destruction of form through the withdrawal of Spirit (the Destroyer aspect)

3. Sự hủy diệt hình tướng qua việc rút Tinh thần ra (phương diện Đấng Hủy Diệt)

4. Absolute homogeneity and absolute essential unity,

4. Tính đồng nhất tuyệt đối và sự hợp nhất bản chất tuyệt đối,

5. Progressive forward motion.

5. Chuyển động tiến tới không ngừng.

Thus can be seen the wonderful synthesis brought about by the evolutionary working of these three cosmic laws,—each of them embodying the mode of work of certain cosmic Entities or Existences. The final two will be taken up in their right place. Now we will touch but briefly upon the law of matter, that of Economy.

Như vậy có thể thấy được sự tổng hợp kỳ diệu do hoạt động tiến hoá của ba định luật vũ trụ này mang lại,—mỗi định luật trong số đó hiện thân cho phương thức hoạt động của những Thực Thể hay Hiện Hữu vũ trụ nhất định. Hai định luật cuối sẽ được bàn đến ở đúng chỗ của chúng. Giờ đây chúng ta chỉ chạm sơ lược đến định luật của vật chất, tức Định luật Tiết Kiệm.

This is the law that lies back of what has been mistakenly called “The Fall” by religious writers, by which is defined in reality the involutionary process, cosmically considered. It led to a sevenfold differentiation in the matter of the system. Just as the Law of Attraction led to the sevenfold psychic differentiation of the Sons of Mind, and the Law of Synthesis results in the sevenfold perfection of the same Manasaputras, so we have an interesting connection between

Đây là định luật nằm phía sau điều mà các tác giả tôn giáo đã lầm gọi là “Sự Sa Ngã”, mà thực ra là để xác định tiến trình giáng hạ tiến hoá, xét theo vũ trụ. Nó đã dẫn đến một sự biến phân thất phân trong vật chất của hệ thống. Cũng như Định luật Hấp Dẫn đã dẫn đến sự biến phân thông linh thất phân của các Con của Trí Tuệ, và Định luật Tổng Hợp đưa đến sự hoàn thiện thất phân của chính các Manasaputras ấy, thì ở đây chúng ta có một mối liên hệ thú vị giữa

The seven planes, or the seven grades of matter.

Bảy cõi, hay bảy cấp độ của vật chất.

The seven Heavenly Men, the seven Divine Manasaputras, or the seven types of wisdom-love.

Bảy Đấng Thiên Nhân, bảy Manasaputras thiêng liêng, hay bảy loại minh triết-bác ái.

The seven qualities of wisdom, which are produced by the cosmic entities, the Kumaras by the aid of knowledge through the medium of matter.

Bảy phẩm tính của minh triết, được tạo ra bởi các thực thể vũ trụ, các Kumaras, nhờ sự trợ giúp của tri thức qua trung gian của vật chất.

This Law of Economy has several subsidiary laws which govern its effects on the different grades of matter. As said before, this is the Law swept into action by the sounds as uttered by the Logos. The Sacred Word, or the uttered Sound of the Creator, exists in different forms, and though in reality but one Word, has several syllables. The syllables all together form a solar [Page 217] phrase; separated they form certain words of power, producing different effects. (92)

Định luật Tiết Kiệm này có một số định luật phụ thuộc chi phối các tác động của nó trên những cấp độ khác nhau của vật chất. Như đã nói trước đây, đây là Định luật được đưa vào hoạt động bởi các âm thanh do Thượng đế xướng lên. Linh từ Thiêng Liêng, hay Âm Thanh được Đấng Sáng Tạo phát ra, tồn tại dưới những hình thức khác nhau, và tuy thực sự chỉ là một Linh từ, lại có nhiều âm tiết. Tất cả các âm tiết hợp lại tạo thành một cụm từ mặt trời; tách riêng ra, chúng tạo thành những quyền năng từ nhất định, tạo ra những tác động khác nhau. ([Page 217]92)

(92)...”the Veda, the world song in human sound that was given to man for his use metaphysically from the standpoint of its meaning, and magically from the standpoint of its proper recitation. The world song obeying certain laws of proportions or the Pythagorean arithmetic and imparting its thrilling effect to the domain of cosmic substance, has induced the latter into a crystallisation process that the philosopher Plato called the geometry of the cosmos. The various forms that are observed from a molecule of salt crystal to the wonderfully complex organism of the human body are all the structures of the great cosmic geometriser known as Viswakarma, the deva carpenter in our Puranic writings. The revealed Veda whose function is to trace out the cosmos from one basic sound substance symbolised as Om, necessarily split itself into a primal three, a subsequent seven vowels and then into seven notes and then into seven combinations of the seven notes on a basic three and then into hymns. All these falling into the material field of the consonants, gradually produced the manifested crystallised forms which are collectively taken as the universe. The world to a thinker is the magic motion produced by the Orphean singer or the Hindu Saraswati....”

(92)...”Veda, bài ca thế giới trong âm thanh nhân loại được ban cho con người để sử dụng về mặt siêu hình từ quan điểm ý nghĩa của nó, và về mặt huyền thuật từ quan điểm sự tụng đọc đúng đắn của nó. Bài ca thế giới, tuân theo những định luật nhất định về tỉ lệ hay số học Pythagoras và truyền tác động rung động của nó vào cõi chất liệu vũ trụ, đã khiến cõi này đi vào một tiến trình kết tinh mà triết gia Plato gọi là hình học của vũ trụ. Những hình thức khác nhau được quan sát thấy từ một phân tử tinh thể muối cho đến cơ thể sống phức tạp kỳ diệu của thân thể con người đều là những cấu trúc của nhà hình học hóa vũ trụ vĩ đại được biết đến như Viswakarma, vị thiên thần thợ mộc trong các trước tác Puranic của chúng ta. Veda được mặc khải, mà chức năng của nó là phác ra vũ trụ từ một chất liệu âm thanh căn bản được biểu tượng hóa như Om, tất yếu đã tự phân tách thành một bộ ba nguyên thủy, rồi thành bảy nguyên âm tiếp theo, rồi thành bảy nốt, rồi thành bảy tổ hợp của bảy nốt trên một bộ ba căn bản, và sau đó thành các thánh ca. Tất cả những điều này, khi rơi vào lĩnh vực vật chất của các phụ âm, dần dần tạo ra những hình tướng biểu hiện đã kết tinh mà tổng thể được xem là vũ trụ. Đối với một nhà tư tưởng, thế giới là chuyển động huyền thuật do người ca sĩ Orpheus hay Saraswati của Ấn Độ tạo ra....”

“In the Vishnu Purana, second part, you will see that the power that resides in the sun is represented as the three-sided Vedic power, that the power as Rik creates, as Yajus preserves and as Sama destroys. Rik is therefore the creative song of the Devas in the Sun. Yajus the song of preservation and Sama the song of destruction of the Devas in the sun and construction of the Devas in the moon. Rik therefore is the song of the Devas and Sama the song of the Pitris and Yajua the intermediate song. The functions of the Vedas must of course vary according to the standpoint. If you take the Pitris, Sama is their constructive song, and Rik is their destructive note. The three Vedas correspond to every trinity in Nature and I request you will search for further information in the much abused Puranas....”

“Trong Vishnu Purana, phần thứ hai, bạn sẽ thấy rằng quyền năng ngự trong mặt trời được trình bày như quyền năng Veda tam diện, rằng quyền năng ấy với tư cách Rik thì sáng tạo, với tư cách Yajus thì bảo tồn và với tư cách Sama thì hủy diệt. Vì vậy Rik là bài ca sáng tạo của các thiên thần trong Mặt Trời. Yajus là bài ca bảo tồn và Sama là bài ca hủy diệt của các thiên thần trong mặt trời và kiến tạo của các thiên thần trong mặt trăng. Vì vậy Rik là bài ca của các thiên thần và Sama là bài ca của các Pitris còn Yajua là bài ca trung gian. Dĩ nhiên các chức năng của các Veda phải thay đổi tùy theo quan điểm. Nếu bạn xét các Pitris, thì Sama là bài ca kiến tạo của họ, còn Rik là nốt hủy diệt của họ. Ba Veda tương ứng với mọi bộ ba trong Thiên Nhiên và tôi đề nghị bạn hãy tìm thêm thông tin trong các Purana vốn bị lạm dụng quá nhiều....”

“Of the various karmic agencies wielded by man in the way of moulding himself and surroundings, sound or speech is the most important, for, to speak is to work in ether which of course rules the lower quaternary or elements, air, fire, water and earth. Human sound or language contains therefore all the elements required to move the different classes of Devas and those elements are of course the vowels and the consonants. The details of the philosophy of sound in its relation to the devas who preside over the subtle world, belong to the domain of true Mantra Sastra which of course is in the hands of the knowers.”—From Some Thoughts on the Gita. (back)

“Trong số những tác nhân nghiệp quả khác nhau mà con người sử dụng để uốn nắn chính mình và môi trường xung quanh, âm thanh hay lời nói là quan trọng nhất, vì nói là hoạt động trong dĩ thái, mà dĩ nhiên dĩ thái chi phối bộ tứ thấp hay các nguyên tố: khí, lửa, nước và đất. Do đó âm thanh hay ngôn ngữ của con người chứa đựng mọi yếu tố cần thiết để làm chuyển động các loại thiên thần khác nhau, và dĩ nhiên những yếu tố ấy là nguyên âm và phụ âm. Các chi tiết của triết học về âm thanh trong mối liên hệ của nó với các thiên thần chủ quản thế giới vi tế thuộc về lĩnh vực của Mantra Sastra chân chính, mà dĩ nhiên nằm trong tay các thức giả.”—Trích từ Một vài suy tưởng về Gita. (trở lại)

The great WORD that peals through one hundred years of Brahma or persists in reverberation throughout a solar system, is the sacred sound of A U M. In differentiation and as heard in time and space, each of those three mystic letters stands for the first letter of a subsidiary phrase, consisting of various sounds. One letter, with a sequence of four sounds, makes up the vibration or note of Brahma, which is the intelligence aspect dominant in matter. Hence the mystery hidden in [Page 218] the pentagon, in the fifth principle of mind, and in the five planes of human evolution. These five letters when sounded forth on the right note, give the key to the true inwardness of matter and also to its control,—this control being based on the right interpretation of the Law of Economy.

Linh từ vĩ đại vang dội suốt một trăm năm của Brahma hay tiếp tục ngân vọng trong toàn bộ một hệ mặt trời là âm thanh thiêng liêng A U M. Trong sự biến phân và như được nghe thấy trong thời gian và không gian, mỗi một trong ba mẫu tự thần bí ấy tượng trưng cho mẫu tự đầu tiên của một cụm từ phụ thuộc, gồm nhiều âm thanh khác nhau. Một mẫu tự, với một chuỗi bốn âm, tạo thành rung động hay âm điệu của Brahma, tức phương diện trí tuệ chiếm ưu thế trong vật chất. Do đó có bí nhiệm ẩn giấu trong [Page 218] ngũ giác, trong nguyên khí thứ năm là trí tuệ, và trong năm cõi tiến hoá của con người. Năm mẫu tự này khi được xướng lên đúng âm điệu sẽ trao chìa khóa cho nội nghĩa chân thực của vật chất và cả cho sự kiểm soát nó,—sự kiểm soát này dựa trên sự giải thích đúng đắn Định luật Tiết Kiệm.

Another phrase, this time of seven letters, or a letter for each of the seven Heavenly Men, embodies the sound or note of the Vishnu aspect, the second aspect logoic, the form-building aspect. By its correct or partial sounding, by its complete or incomplete reverberation, are the forms built and adapted. The Law of Attraction finds expression in the manipulation of matter and its welding into form for the use of Spirit.

Một cụm từ khác, lần này gồm bảy mẫu tự, hay một mẫu tự cho mỗi một trong bảy Đấng Thiên Nhân, hiện thân cho âm thanh hay âm điệu của phương diện Vishnu, phương diện thứ hai của Thượng đế, phương diện xây dựng hình tướng. Bằng sự xướng lên đúng đắn hay từng phần của nó, bằng sự ngân vọng trọn vẹn hay không trọn vẹn của nó, các hình tướng được xây dựng và thích ứng. Định luật Hấp Dẫn tìm thấy sự biểu lộ trong việc vận dụng vật chất và hàn gắn nó thành hình tướng để Tinh thần sử dụng.

Then a third Word or phrase is added to the other two, completing the entire Word logoic and producing consummation. It is a Word of nine letters, making therefore the twenty-one sounds (5 + 7 + 9) of this solar system. The final nine sounds produce spiritual synthesis, and the dissociation of the spirit from the form. We have a correspondence in the nine Initiations, each initiation marking a more perfect union of the Self with the All-Self, and a further liberation from the trammels of matter.

Rồi một Linh từ hay cụm từ thứ ba được thêm vào hai cụm từ kia, hoàn tất toàn bộ Linh từ của Thượng đế và tạo ra sự viên mãn. Đó là một Linh từ gồm chín mẫu tự, do đó tạo thành hai mươi mốt âm thanh (5 + 7 + 9) của hệ mặt trời này. Chín âm thanh cuối cùng tạo ra sự tổng hợp tinh thần, và sự phân ly của tinh thần khỏi hình tướng. Chúng ta có một sự tương ứng trong chín cuộc điểm đạo, mỗi cuộc điểm đạo đánh dấu một sự hợp nhất hoàn hảo hơn của Ngã với Đại Ngã Toàn Thể, và một sự giải thoát thêm nữa khỏi những trói buộc của vật chất.

When the sense of hearing on all planes is perfected (which is brought about by the Law of Economy rightly understood) these three great Words or phrases will be known. The Knower will utter them in his own true key, thus blending his own sound with the entire volume of vibration, and thereby achieving sudden realisation of his essential identity with Those Who utter the words. As the sound of matter or of Brahma peals forth in his ears on all the planes, he will see all forms as illusion and will be freed, knowing himself as omnipresent. As the sound of Vishnu reverberates within himself, he knows himself as perfected wisdom, and distinguishes [Page 219] the note of his being (or that of the Heavenly Man in whose Body he finds place) from the group notes, and knows himself as omniscient. As the note of the first or Mahadeva aspect, follows upon the other two, he realises himself as pure Spirit and on the consummation of the chord is merged in the Self, or the source from which he came. Mind is not, matter is not, and nought is left but the Self merged in the ocean of the Self. At each stage of relative attainment, one of the laws comes into sway,—first the law of matter, then the law of groups, to be succeeded by the law of Spirit and of liberation.

Khi giác quan nghe trên mọi cõi được hoàn thiện (điều này được mang lại bởi Định luật Tiết Kiệm được thấu hiểu đúng đắn) thì ba Linh từ hay cụm từ vĩ đại này sẽ được biết đến. Thức giả sẽ xướng chúng theo đúng chủ âm riêng của mình, nhờ đó hòa trộn âm thanh riêng của mình với toàn bộ âm lượng rung động, và như vậy đạt được sự chứng nghiệm đột ngột về bản sắc cốt yếu của mình với Những Đấng xướng lên các linh từ ấy. Khi âm thanh của vật chất hay của Brahma vang lên trong tai y trên mọi cõi, y sẽ thấy mọi hình tướng là ảo tưởng và sẽ được giải thoát, biết mình là hiện diện khắp nơi. Khi âm thanh của Vishnu ngân vọng bên trong chính mình, y biết mình là minh triết hoàn hảo, và phân biệt được [Page 219] âm điệu của bản thể mình (hay của Đấng Thiên Nhân mà trong Thể của Ngài y tìm được chỗ đứng) với các âm điệu nhóm, và biết mình là toàn tri. Khi âm điệu của phương diện thứ nhất hay Mahadeva tiếp nối hai âm điệu kia, y chứng nghiệm mình là Tinh thần thuần túy và khi hợp âm đạt đến viên mãn thì được hòa nhập vào Ngã, hay nguồn cội từ đó y đã đến. Trí tuệ không còn, vật chất không còn, và chẳng còn gì ngoài Ngã hòa nhập trong đại dương của Ngã. Ở mỗi giai đoạn thành tựu tương đối, một trong các định luật đi vào quyền lực,—trước hết là định luật của vật chất, rồi đến định luật của các nhóm, sau đó là định luật của Tinh thần và của sự giải thoát.

II. THE SUBSIDIARY LAWS

II. CÁC ĐỊNH LUẬT PHỤ THUỘC

The subsidiary laws under the Law of Economy are four in number, dealing with the lower quaternary:

Các định luật phụ thuộc dưới Định luật Tiết Kiệm có bốn, liên quan đến bộ tứ thấp:

1. The Law of Vibration, dealing with the key note or measure of the matter of each plane. By knowledge of this law the material of any plane in its seven divisions can be controlled. 2. The Law of Adaptation, is the law governing the rotary movement of any atom on every plane and subplane. 3. The Law of Repulsion, governs that relationship between atoms, which results in their non-attachment and in their complete freedom from each other; it also keeps them rotating at fixed points from the globe or sphere of opposite polarity. 4. The Law of Friction, governs the heat aspect of any atom, the radiation of an atom, and the effect of that radiation on any other atom.

1. Định luật Rung Động, liên quan đến chủ âm hay nhịp độ của vật chất trên mỗi cõi. Nhờ hiểu biết định luật này, chất liệu của bất kỳ cõi nào trong bảy phân bộ của nó đều có thể được kiểm soát. 2. Định luật Thích Ứng, là định luật chi phối chuyển động quay của bất kỳ nguyên tử nào trên mọi cõi và cõi phụ. 3. Định luật Đẩy Lùi, chi phối mối liên hệ giữa các nguyên tử, đưa đến việc chúng không bám dính vào nhau và hoàn toàn tự do đối với nhau; nó cũng giữ cho chúng quay tại những điểm cố định tính từ bầu hành tinh hay khối cầu có cực tính đối nghịch. 4. Định luật Ma Sát, chi phối phương diện nhiệt của bất kỳ nguyên tử nào, sự bức xạ của một nguyên tử, và tác động của sự bức xạ ấy lên bất kỳ nguyên tử nào khác.

Every atom of matter can be studied in four aspects, and is governed by one or other, or all of the four above mentioned laws.

Mỗi nguyên tử của vật chất có thể được nghiên cứu dưới bốn phương diện, và được chi phối bởi một hay nhiều, hoặc cả bốn định luật vừa nêu trên.

a. An atom vibrates to a certain measure.

a. Một nguyên tử rung động theo một nhịp độ nhất định.

b. It rotates at a certain speed. [Page 220]

b. Nó quay với một tốc độ nhất định. [Page 220]

c. It acts and reacts upon its environing atoms.

c. Nó tác động và phản ứng lên các nguyên tử bao quanh nó.

d. It adds its quota to the general heat of the atomic system, whatever that may be.

d. Nó góp phần của mình vào nhiệt lượng chung của hệ thống nguyên tử, dù hệ thống ấy là gì đi nữa.

These general rules relating to atomic bodies can be extended not only to the atoms of the physical plane, but to all spheroidal bodies within the system, and including the system also, regarding it as a cosmic atom.

Những quy luật tổng quát này liên quan đến các thể nguyên tử có thể được mở rộng không chỉ cho các nguyên tử của cõi hồng trần, mà còn cho mọi thể hình cầu trong hệ thống, kể cả chính hệ thống, nếu xem nó như một nguyên tử vũ trụ.

The tiny atom of the physical plane, a plane itself, a planet, and a solar system all evolve under these rules, and all are governed by the Law of Economy in one of its four aspects.

Nguyên tử nhỏ bé của cõi hồng trần, bản thân một cõi, một hành tinh, và một hệ mặt trời đều tiến hoá theo các quy luật này, và tất cả đều được chi phối bởi Định luật Tiết Kiệm trong một trong bốn phương diện của nó.

It might be added in closing, that this law is one that initiates have to master before They can achieve liberation. They have to learn to manipulate matter, and to work with energy or force in matter under this law; they have to utilise matter and energy in order to achieve the liberation of Spirit, and to bring to fruition the purposes of the Logos in the evolutionary process.

Có thể nói thêm để kết thúc rằng định luật này là một định luật mà các điểm đạo đồ phải làm chủ trước khi Các Ngài có thể đạt được giải thoát. Các Ngài phải học cách vận dụng vật chất, và làm việc với năng lượng hay mãnh lực trong vật chất dưới định luật này; Các Ngài phải sử dụng vật chất và năng lượng để đạt được sự giải thoát của Tinh thần, và làm cho các mục đích của Thượng đế trong tiến trình tiến hoá được kết quả viên mãn.