Astrology and the Energies
To these two energies, a third group of energies must be added, and these are the basis of much of our astrological research. They emanate from the twelve constellations which form our solar zodiac. Their effect is infinite and the permutations of these three groups of energies lead to the infinite complication which we find in nature. The claims of the astrologers as to the reality of the energies playing upon the human organism can be seen to be true; their claims as to their capacity to interpret are for the most part unfounded. So little is really known by the highest intelligence on the planet; for, forget not, that the adepts utilise primarily the intuition. These energies leave their mark upon every form in every kingdom in nature, acting as a retrograding or a stimulating force. They carry one type of energy on to a fuller expression of the quality of any form, or hold another back from a developed manifestation.
Vào hai năng lượng này, phải thêm một nhóm năng lượng thứ ba, và chúng là nền tảng của phần lớn công trình nghiên cứu chiêm tinh của chúng ta. Chúng phát xuất từ mười hai chòm sao tạo thành hoàng đạo thái dương của chúng ta. Tác động của chúng là vô tận, và các hoán vị của ba nhóm năng lượng này dẫn đến sự phức tạp vô hạn mà chúng ta thấy trong thiên nhiên. Những khẳng định của các nhà chiêm tinh về thực tại của các năng lượng tác động lên cơ thể con người có thể được thấy là đúng; nhưng những khẳng định của họ về khả năng diễn giải thì phần lớn là không có cơ sở. Ngay cả trí tuệ cao nhất trên hành tinh cũng thật sự biết rất ít; vì đừng quên rằng các chân sư chủ yếu sử dụng trực giác. Các năng lượng này để lại dấu ấn trên mọi hình tướng trong mọi giới của thiên nhiên, hoạt động như một mãnh lực làm thụt lùi hoặc kích thích. Chúng đưa một loại năng lượng đến sự biểu lộ đầy đủ hơn phẩm tính của một hình tướng nào đó, hoặc giữ một loại khác lại khỏi sự biểu hiện đã phát triển.
It is not opportune here to outline the nature of true astrology. That astrology is a science, and a coming science, is true. That astrology in its highest aspect and its true interpretation will enable man eventually to focus his understanding and to function rightly is equally true. That in the revelations that astrology will make in time to come will be found the secret of the true coordination between soul and form is also correct. But that astrology is not yet to be found. Too much is overlooked and too little known to make astrology the exact science that many claim it is. The claim will be fulfilled at some future date, but the time is not yet.
Ở đây chưa phải lúc để phác họa bản chất của chiêm tinh học chân chính. Chiêm tinh học là một khoa học, và là một khoa học sắp đến, điều đó đúng. Chiêm tinh học trong phương diện cao nhất và trong sự diễn giải chân thực của nó rốt cuộc sẽ giúp con người tập trung sự thấu hiểu và hoạt động đúng đắn, điều đó cũng đúng. Trong những mặc khải mà chiêm tinh học sẽ đem lại trong thời gian tới, người ta cũng sẽ tìm thấy bí mật của sự phối hợp chân chính giữa linh hồn và hình tướng, điều đó cũng chính xác. Nhưng chiêm tinh học đó hiện vẫn chưa có. Quá nhiều điều bị bỏ qua và quá ít điều được biết đến để khiến chiêm tinh học trở thành khoa học chính xác như nhiều người tuyên bố. Tuyên bố ấy sẽ được thành tựu vào một ngày tương lai, nhưng thời điểm ấy chưa đến.
Certain factors which astrologers should bear in mind, and certain conditions they are only too apt to forget, may however be briefly noted. For the sake of clear understanding we will simply tabulate a number of statements which should be studied with care by the [435] average investigator in this field. I cannot here write a treatise on the energies with which astrology should deal, sorely as such a treatise is needed.
Tuy nhiên, có thể ghi nhận vắn tắt một số yếu tố mà các nhà chiêm tinh nên ghi nhớ, và một số điều kiện mà họ rất dễ quên. Để thấu hiểu rõ ràng, chúng ta sẽ chỉ liệt kê một số phát biểu mà nhà nghiên cứu trung bình trong lĩnh vực này cần học hỏi cẩn trọng. [435] Ở đây tôi không thể viết một khảo luận về các năng lượng mà chiêm tinh học nên bàn đến, dù một khảo luận như thế đang rất cần thiết.
Astrologers concern themselves primarily with three types of energy:
Các nhà chiêm tinh chủ yếu quan tâm đến ba loại năng lượng:
a. The energy of the constellation in which the Sun is posited at the time of birth.
a. Năng lượng của chòm sao trong đó Mặt Trời an vị vào thời điểm sinh.
b. The rising sign to which the man should respond.
b. Dấu hiệu mọc mà con người nên đáp ứng.
c. The moon which governs his form aspect, and particularly the physical form.
c. Mặt Trăng, vốn cai quản phương diện hình tướng của y, và đặc biệt là hình tướng hồng trần.
The energy of the particular constellation or sign in which a man is born is more deeply significant than has ever yet been suggested. It embodies or indicates his present problem, sets the pace or tempo of his life, and is related to the quality of his personality. It governs, if I may so express it, the rajasic or activity aspect of his life during incarnation.
Năng lượng của chòm sao hay dấu hiệu đặc thù trong đó một người được sinh ra có thâm nghĩa sâu xa hơn nhiều so với những gì từng được gợi ý. Nó hiện thân hay chỉ ra vấn đề hiện tại của y, đặt nhịp độ hay tiết tấu cho đời sống của y, và liên hệ với phẩm tính của phàm ngã y. Nếu tôi có thể diễn đạt như vậy, nó cai quản phương diện rajas hay phương diện hoạt động của đời sống y trong khi nhập thể.
The ascendant or rising sign indicates the line along which his energy as a whole can flow if he is to fulfill the purpose of any incarnation. This, of course, if rightly handled. It holds the secret of his future, and in its symbolism and understanding he can find the clue to his life problem and an indication of what he can be and achieve. It presents to him the type of force which will enable him to succeed. This, when duly consummated, might be regarded as producing the sattvic, or harmony aspect of his life, for when it plays its part and is utilised, it produces harmony with the will of the soul during any particular incarnation.
Dấu hiệu mọc chỉ ra đường lối mà toàn bộ năng lượng của y có thể tuôn chảy nếu y muốn hoàn thành mục đích của bất cứ lần nhập thể nào. Dĩ nhiên, điều này chỉ đúng nếu được xử lý đúng đắn. Nó nắm giữ bí mật tương lai của y, và trong biểu tượng cùng sự thấu hiểu về nó, y có thể tìm thấy manh mối cho vấn đề đời sống của mình và một chỉ dẫn về điều y có thể trở thành và đạt được. Nó trình bày cho y loại mãnh lực sẽ giúp y thành công. Khi được hoàn tất đúng mức, điều này có thể được xem là tạo ra phương diện sattva, hay phương diện hài hòa của đời sống y, vì khi nó đóng vai trò của mình và được vận dụng, nó tạo ra sự hài hòa với ý chí của linh hồn trong bất cứ lần nhập thể đặc thù nào.
In the moon influence, we have indicated the native’s past. It summarises the limitations and handicaps under which he must work, and therefore might be regarded as embodying the tamasic aspect of matter, or that which “holds back” and which—if permitted to influence unduly—will produce inertia. In the body with which man [436] is equipped lies hid the secret of past experience, and every lunar form through which we have to arrive at due expression is in itself the product or synthesis of all the past. Let me see if I can put the present truth about astrology in such simple guise that they who know naught of this intricate science may understand.
Trong ảnh hưởng của Mặt Trăng, chúng ta có chỉ dấu về quá khứ của người bản mệnh. Nó tóm lược những giới hạn và trở ngại mà y phải làm việc dưới chúng, và vì vậy có thể được xem là hiện thân phương diện tamas của vật chất, hay điều “giữ lại”, và nếu được phép ảnh hưởng quá mức, sẽ tạo ra Quán tính. Trong thể mà con người [436] được trang bị có ẩn giấu bí mật của kinh nghiệm quá khứ, và mọi hình tướng nguyệt tính mà qua đó chúng ta phải đạt đến sự biểu lộ đúng mức tự nó là sản phẩm hay sự tổng hợp của toàn bộ quá khứ. Hãy để tôi xem liệu tôi có thể trình bày chân lý hiện tại về chiêm tinh học dưới hình thức đơn giản đến mức những ai không biết gì về khoa học phức tạp này cũng có thể thấu hiểu.
The birth month indicates the day of opportunity. The door stands open. The particular month in which a soul comes into incarnation is indicated to that soul by the month in which it passed out of incarnation in a previous life cycle. If it, for instance, died in the month governed by the sign Leo, it will return into incarnation in the same sign, picking up the thread of experience where it left it, and starting with the same type of energy and the peculiar equipment with which it passed away from earth life, plus the gain of thought and conscious onlooking. The quality of the energy and the nature of the forces to be manipulated during life are indicated to the soul in this way.
Tháng sinh chỉ ra ngày của cơ hội. Cánh cửa đứng mở. Tháng đặc thù mà một linh hồn đi vào nhập thể được chỉ ra cho linh hồn ấy bởi tháng mà nó đã đi ra khỏi nhập thể trong một chu kỳ đời sống trước. Chẳng hạn, nếu nó chết trong tháng do dấu hiệu Sư Tử cai quản, nó sẽ trở lại nhập thể trong cùng dấu hiệu ấy, tiếp nối sợi dây kinh nghiệm nơi nó đã bỏ lại, và bắt đầu với cùng loại năng lượng cùng trang bị đặc thù mà nó đã mang theo khi rời đời sống trần gian, cộng thêm phần thu hoạch của tư tưởng và sự quan sát có ý thức. Bằng cách này, phẩm tính của năng lượng và bản chất của các mãnh lực cần được vận dụng trong đời sống được chỉ ra cho linh hồn.
The rising sign, embodying another type of energy, should wax in strength during the incarnation, for it indicates the nature of the soul force that the incarnated son of God is seeking to wield through the medium of a particular personality, possessing certain characteristics.
Dấu hiệu mọc, vốn hiện thân một loại năng lượng khác, nên tăng trưởng về sức mạnh trong suốt lần nhập thể, vì nó chỉ ra bản chất của mãnh lực linh hồn mà người Con của Thượng đế đang nhập thể tìm cách sử dụng qua trung gian một phàm ngã đặc thù, có những đặc tính nhất định.
The influence of the moon is primarily physical. The prison of the soul is thus indicated. The handicaps to be met are thus secured; the type of body or of bodies through which the force of the native’s sign and the quality of the energy which will bring him to his goal are thus defined. Through the medium of the lunar lords and what they have given him as the result of past experience down the ages must he express himself upon the physical plane.
Ảnh hưởng của Mặt Trăng chủ yếu là hồng trần. Nhà tù của linh hồn do đó được chỉ ra. Những trở ngại cần đối diện do đó được xác định; loại thể, hay các thể, mà qua đó mãnh lực của dấu hiệu bản mệnh và phẩm tính của năng lượng sẽ đưa y đến mục tiêu được định rõ. Qua trung gian các nguyệt tinh quân và những gì các vị ấy đã trao cho y như kết quả của kinh nghiệm quá khứ qua các thời đại, y phải biểu lộ chính mình trên cõi hồng trần.
Owing to the precession of the equinoxes, a situation is brought about in which a fourth type of force makes itself felt. The sun is, in reality, many degrees [437] away in the great round of the heavens from where it is stated to be, as far as the greater zodiac is concerned. This is, of course, from the standpoint of time. As the sweep of the sun through a constellation covers a period of approximately two thousand two hundred years, the shift in the course of the centuries is very slight, so slight that little difference would be noted in the casting of the planetary horoscope. In the casting of the horoscope of a solar system it would be of vital importance, but this is so far beyond the capacity of the wisest astrologer on our planet that discussion is immaterial.
Do sự tuế sai của các điểm phân, một tình trạng được tạo ra trong đó loại mãnh lực thứ tư tự khiến mình được cảm nhận. Trong thực tế, Mặt Trời cách nhiều độ [437] trên vòng lớn của bầu trời so với vị trí mà người ta nói nó đang ở, xét theo hoàng đạo lớn. Dĩ nhiên, điều này là từ lập trường thời gian. Vì vòng quét của Mặt Trời qua một chòm sao bao phủ một chu kỳ khoảng hai nghìn hai trăm năm, sự dịch chuyển trong dòng các thế kỷ rất nhỏ, nhỏ đến mức ít có khác biệt nào được ghi nhận khi lập lá số chiêm tinh hành tinh. Trong việc lập lá số của một hệ mặt trời, điều ấy có tầm quan trọng thiết yếu, nhưng điều này vượt quá xa khả năng của nhà chiêm tinh khôn ngoan nhất trên hành tinh chúng ta đến nỗi việc bàn luận là không cần thiết.
In casting the horoscope of a human being who is born in a particular month, however, it should be borne in mind (which it seldom is) that now the month and the sign do not coincide at all. The sun is really not in Leo, for instance, during the month of August. The correct interpretation therefore of a chart is largely psychometrical and dependent upon the thought-form of the constellation which has been built up for ages by the astrologers. Energy follows thought. For thousands of years certain types of energy and their consequent qualifying effects on substance and form have been considered to be thus and so. Therefore, thus they are, except in the case of the highly evolved, of the true aspirant who has oriented himself, and is thus escaping from the wheel of existence and beginning to govern his stars, and so is no longer under their rule and domination.
Tuy nhiên, khi lập lá số của một con người sinh ra trong một tháng đặc thù, cần ghi nhớ — điều này hiếm khi được thực hiện — rằng hiện nay tháng và dấu hiệu hoàn toàn không trùng khớp. Chẳng hạn, Mặt Trời thật ra không ở trong Sư Tử trong tháng Tám. Vì vậy, sự diễn giải đúng đắn một bản đồ sao phần lớn mang tính trắc tâm và tùy thuộc vào hình tư tưởng của chòm sao đã được các nhà chiêm tinh xây dựng qua nhiều thời đại. Năng lượng đi theo tư tưởng. Trong hàng nghìn năm, một số loại năng lượng và các tác động định phẩm theo sau của chúng trên chất liệu và hình tướng đã được xem là thế này hay thế nọ. Vì vậy, chúng là như vậy, ngoại trừ trong trường hợp người tiến hoá cao, người chí nguyện chân chính đã tự định hướng, và do đó đang thoát khỏi bánh xe hiện tồn, bắt đầu cai quản các vì sao của mình, và vì thế không còn ở dưới sự cai trị và thống trị của chúng nữa.
Astrology now deals primarily with the personality for whom the horoscope may be cast and with the events of the personality life. When, through meditation and service, plus the discipline of the lunar bodies, a man comes consciously and definitely under his soul ray, then he comes as definitely under the influence of one or other of the seven solar systems, as they focus their energy through one or other of the constellations and [438] subsequently one or other of the seven sacred planets. Eventually, there will be twelve sacred planets, corresponding to the twelve constellations, but the time is not yet. Our solar system, as you know, is one of seven. When a man has arrived at this point in evolution, birth months, mundane astrology, and the influences which play upon the form aspect become of less and less importance. This circle of solar systems affects paramountly the soul and it becomes the focal point of spiritual energies. This is the problem of the soul on its own plane, —responsiveness to these types of energy, and, of them, the personality is totally unaware.
Hiện nay, chiêm tinh học chủ yếu đề cập đến phàm ngã mà lá số có thể được lập cho y, và đến các biến cố trong đời sống phàm ngã. Khi, nhờ tham thiền và phụng sự, cộng với kỷ luật các thể nguyệt tính, một người đi vào một cách có ý thức và xác định dưới cung linh hồn của mình, thì y cũng đi vào một cách xác định dưới ảnh hưởng của một trong bảy hệ mặt trời, khi chúng tập trung năng lượng qua một trong các chòm sao và [438] sau đó qua một trong bảy hành tinh thiêng liêng. Rốt cuộc, sẽ có mười hai hành tinh thiêng liêng, tương ứng với mười hai chòm sao, nhưng thời điểm ấy chưa đến. Như bạn biết, hệ mặt trời của chúng ta là một trong bảy hệ. Khi một người đã đạt đến điểm tiến hoá này, các tháng sinh, chiêm tinh học trần tục, và những ảnh hưởng tác động lên phương diện hình tướng trở nên ngày càng ít quan trọng. Vòng tròn các hệ mặt trời này tác động tối thượng lên linh hồn, và linh hồn trở thành điểm tập trung của các năng lượng tinh thần. Đây là vấn đề của linh hồn trên cõi riêng của nó — sự đáp ứng với các loại năng lượng này — và về chúng, phàm ngã hoàn toàn không hay biết.
The signs which fall therefore into the four categories of earth, water, fire and air, concern primarily the man who lives below the diaphragm, and who utilises the lower four centres: —the centre at the base of the spine, the sacral centre, the solar plexus and the spleen. The inner group of seven major or systemic energies produce their effect upon the man who is living above the diaphragm, and work through the seven representative centres in the head. Four of them focus through the throat centre, the heart centre, the ajna and head centres. Three are held latent in the region of the head centres (the thousand petalled lotus) and only enter into functioning activity after the third initiation. It will be evident therefore how complicated from the standpoint of the horoscope (as well as of the individual problem) is this meeting of the energies of two types of constellations in the case of the man who is neither purely human nor purely spiritual. The ordinary horoscope is negated. The horoscope is not possible as yet of delineation. The only horoscope, which is basically and almost infallibly correct is that of the entirely low grade human being who lives entirely below the diaphragm and is governed by his animal nature alone.
Vì vậy, các dấu hiệu rơi vào bốn phạm trù đất, nước, lửa và khí chủ yếu liên quan đến người sống dưới hoành cách mô và sử dụng bốn trung tâm thấp: trung tâm ở đáy cột sống, trung tâm xương cùng, tùng thái dương và lá lách. Nhóm bên trong gồm bảy năng lượng chính hay thuộc hệ thống tạo tác động của chúng trên người sống phía trên hoành cách mô, và hoạt động qua bảy trung tâm đại diện trong đầu. Bốn trong số đó tập trung qua trung tâm cổ họng, trung tâm tim, ajna và các trung tâm đầu. Ba năng lượng còn lại được giữ tiềm tàng trong vùng các trung tâm đầu — Hoa sen ngàn cánh — và chỉ đi vào hoạt động chức năng sau lần điểm đạo thứ ba. Vì vậy, từ lập trường lá số chiêm tinh — cũng như từ lập trường vấn đề cá nhân — rõ ràng là sự gặp gỡ của các năng lượng thuộc hai loại chòm sao trong trường hợp người không thuần là nhân loại cũng không thuần là tinh thần phức tạp đến mức nào. Lá số thông thường bị vô hiệu hóa. Lá số ấy hiện vẫn chưa thể được mô tả. Lá số duy nhất về căn bản và gần như không sai lầm là đúng là lá số của con người hoàn toàn ở cấp thấp, sống trọn vẹn dưới hoành cách mô và chỉ bị bản chất thú tính của mình cai quản.
Astrologers must remember also that there are several [439] undiscovered planets which are producing pulls and shifts and focussing streams of energy upon our earth which tend to complicate the problem still further. Pluto is one of them, and having now emerged into manifestation (or rather into recognition) to it will be assigned all the unexplained conditions. Pluto will be made the scapegoat for faulty astrology for a long time to come. This chart failed to work and be true because Pluto must be influential in it and we know little about Pluto. So the story will run. Yet Pluto has always been revolving around our sun and producing its effects. It governs however the death or cessation of old ideas and emotions, and its influence is therefore largely cerebral and in that you have the clue to its late discovery. Mankind is only on the verge of becoming mental. Its effects are felt first in the mental body. The names of the planets are not the result of arbitrary choice but the planets name themselves.
Các nhà chiêm tinh cũng phải nhớ rằng có một số [439] hành tinh chưa được khám phá đang tạo ra những lực kéo, những chuyển dịch, và đang tập trung các dòng năng lượng lên Trái Đất chúng ta, có khuynh hướng làm vấn đề thêm phức tạp. Sao Diêm Vương là một trong số đó, và vì nay đã xuất hiện vào biểu hiện — hay đúng hơn, vào sự nhận biết — nên mọi tình trạng chưa giải thích được sẽ được gán cho nó. Sao Diêm Vương sẽ bị biến thành vật tế thần cho chiêm tinh học sai lầm trong một thời gian dài sắp tới. Lá số này không vận hành và không đúng vì Sao Diêm Vương hẳn phải có ảnh hưởng trong đó, mà chúng ta biết rất ít về Sao Diêm Vương. Câu chuyện sẽ diễn ra như thế. Tuy nhiên, Sao Diêm Vương luôn quay quanh mặt trời của chúng ta và tạo ra các tác động của nó. Dù vậy, nó cai quản cái chết hay sự chấm dứt của các ý tưởng và cảm xúc cũ, và vì thế ảnh hưởng của nó phần lớn thuộc về não bộ; trong điều đó bạn có chìa khóa cho sự phát hiện muộn của nó. Nhân loại chỉ mới ở ngưỡng trở nên trí tuệ. Các tác động của nó trước hết được cảm nhận trong thể trí. Tên gọi của các hành tinh không phải là kết quả của lựa chọn tùy tiện; chính các hành tinh tự đặt tên cho mình.
Astrologers will eventually find it necessary to cast three horoscopes or three charts: —one purely physical dealing with the body of nature; one primarily emotional, and dealing with the quality of the personality and with its sensitivity, or state of awareness; the third will be the chart of the mental impulses and conditions. It will be found that these three charts will take certain geometrical lines, the lines of energies will form patterns. These three charts, superimposed one upon the other, will give the personality diagram, the individual life pattern. Amazing symbolic charts and lineal forms will be found to emerge when this is done, and the “geometry of the individual” will grow out of this, for it will be found that each line will function in relation to another line, and the trends of the life energies will become apparent. Eventually, even in this department of knowledge, “the star will shine forth” This will constitute a new branch of psychology and its true exponent for [440] our age will duly be found. I but indicate the lines of the future astrology in order to safeguard the present.
Cuối cùng, các nhà chiêm tinh sẽ thấy cần thiết phải lập ba lá số hay ba bản đồ: một lá số thuần hồng trần, đề cập đến thể của thiên nhiên; một lá số chủ yếu thuộc cảm xúc, đề cập đến phẩm tính của phàm ngã và sự nhạy cảm của nó, hay trạng thái nhận biết; lá số thứ ba sẽ là bản đồ của các xung lực và điều kiện trí tuệ. Người ta sẽ thấy rằng ba bản đồ này sẽ đi theo những đường hình học nhất định; các đường năng lượng sẽ tạo thành những mô hình. Ba bản đồ này, khi chồng lên nhau, sẽ đem lại biểu đồ phàm ngã, mô hình đời sống cá nhân. Khi điều này được thực hiện, những bản đồ biểu tượng kỳ diệu và các hình thức tuyến tính sẽ được thấy xuất hiện, và “hình học của cá nhân” sẽ nảy sinh từ đó, vì người ta sẽ thấy rằng mỗi đường sẽ vận hành trong tương quan với một đường khác, và các khuynh hướng của những năng lượng đời sống sẽ trở nên hiển nhiên. Rốt cuộc, ngay cả trong ngành tri thức này, “ngôi sao sẽ tỏa sáng”. Điều này sẽ cấu thành một nhánh mới của tâm lý học, và người trình bày chân chính của nó cho [440] thời đại chúng ta sẽ được tìm thấy đúng lúc. Tôi chỉ chỉ ra những đường nét của chiêm tinh học tương lai nhằm bảo vệ hiện tại.
One thing astrologers need at this time to do and that is to make due allowance for this transition period out of Pisces into Aquarius. This is seldom done, but it is evident that the tremendous turmoil incident to these transitions affects the individual chart, and frequently offsets individual destiny or karma. People are submerged in planetary and racial destinies, and their own tiny affairs are offset almost entirely and sometimes completely negated. It is not possible to cast the horoscope of the planet, and those who propose to do so are deceiving themselves and others. The horoscope of the fourth kingdom in nature, of humanity, will eventually be cast, but it will be done by initiates, and there are no initiate astrologers working on the physical plane at this time. One hint here I give.
Một điều mà các nhà chiêm tinh cần làm vào lúc này là xét đến đúng mức thời kỳ chuyển tiếp này từ Song Ngư sang Bảo Bình. Điều này hiếm khi được thực hiện, nhưng rõ ràng sự xáo trộn ghê gớm đi kèm các chuyển tiếp này ảnh hưởng đến lá số cá nhân, và thường hóa giải vận mệnh hay nghiệp quả cá nhân. Con người bị chìm ngập trong các vận mệnh hành tinh và nhân loại, và những việc nhỏ bé riêng của họ hầu như bị hóa giải hoàn toàn, đôi khi bị phủ định trọn vẹn. Không thể lập lá số của hành tinh, và những ai đề nghị làm như vậy đang tự lừa dối mình và lừa dối người khác. Lá số của giới thứ tư trong thiên nhiên, tức nhân loại, rốt cuộc sẽ được lập, nhưng điều đó sẽ do các điểm đạo đồ thực hiện, và hiện nay không có nhà chiêm tinh điểm đạo đồ nào đang làm việc trên cõi hồng trần. Ở đây tôi trao một gợi ý.
The Sun was in Sagittarius when the first human tendencies struggled to the fore. The stage of animal man was completed and when Sagittarius was dominant (from our planetary standpoint—I am using words with care) the great event of individualisation took place. But the brain of the then human being failed to register what had happened. In the words of the Old Commentary:
Mặt Trời ở trong Nhân Mã khi những khuynh hướng nhân loại đầu tiên vùng lên phía trước. Giai đoạn người thú đã hoàn tất, và khi Nhân Mã chi phối — từ lập trường hành tinh của chúng ta; tôi dùng từ rất cẩn trọng — biến cố lớn của sự biệt ngã hóa đã diễn ra. Nhưng bộ não của con người lúc bấy giờ không ghi nhận được điều đã xảy ra. Theo lời của Cổ Luận:
“The sons of God shot forth like arrows from the bow. The forms received the impulse and lo! a God was born. The tiny babe knew not the great event.”
“Các Con của Thượng đế phóng ra như những mũi tên từ cây cung. Các hình tướng nhận xung lực, và kìa, một Thượng đế được sinh ra. Đứa trẻ bé nhỏ không biết biến cố lớn lao ấy.”
This took place twenty-one million years ago. Cycles passed and when at a later date the sun was in Leo (approximately eighteen million years ago) the first instances of coordination between brain and mind took place and the human being was definitely self-conscious. He registered his individuality. The figures for the first [441] date (though exactness is not possible in a system of mutation such as ours) are 21,688,345 years ago. These figures are useless at this time for they can neither be proved correct nor incorrect. Later investigation will prove their usefulness, when the nature of time is better understood. Sagittarius governs human evolution, for it symbolises progress towards a conscious goal. Leo governs the human consciousness in the human kingdom for the energy pouring through it enables man to say “I am”.
Điều này xảy ra hai mươi mốt triệu năm trước. Các chu kỳ trôi qua, và vào một thời điểm sau đó, khi Mặt Trời ở trong Sư Tử — khoảng mười tám triệu năm trước — những trường hợp đầu tiên của sự phối hợp giữa bộ não và thể trí đã diễn ra, và con người trở nên xác định là có ngã thức. Y ghi nhận cá tính của mình. Các con số cho niên đại thứ nhất [441] — dù sự chính xác là không thể có trong một hệ thống biến đổi như hệ của chúng ta — là 21.688.345 năm trước. Những con số này hiện nay vô dụng, vì chúng không thể được chứng minh là đúng hay sai. Nghiên cứu về sau sẽ chứng minh tính hữu dụng của chúng, khi bản chất của thời gian được thấu hiểu hơn. Nhân Mã cai quản tiến hoá nhân loại, vì nó tượng trưng cho sự tiến tới một mục tiêu có ý thức. Sư Tử cai quản tâm thức nhân loại trong giới nhân loại, vì năng lượng tuôn qua nó giúp con người nói: “Tôi hiện hữu”.
It might be of value if I here attempted a translation necessarily inadequate, of the key word of each sign. These fall into two categories as far as humanity is concerned. There is the key word for the form aspect and the keyword for the soul aspect. In the first case, the word is expressed; in the second it is consciously spoken by the soul. Translated into modern terms much is lost, but the underlying thought which directs the work of the emanating energies is of value. For our world period they are as follows:
Có thể sẽ hữu ích nếu ở đây tôi cố gắng đưa ra một bản dịch tất yếu không đầy đủ của chủ âm của mỗi dấu hiệu. Các chủ âm này rơi vào hai phạm trù xét theo nhân loại. Có chủ âm dành cho phương diện hình tướng, và có chủ âm dành cho phương diện linh hồn. Trong trường hợp thứ nhất, linh từ được biểu lộ; trong trường hợp thứ hai, nó được linh hồn xướng lên một cách có ý thức. Khi dịch sang các thuật ngữ hiện đại, nhiều điều bị mất đi, nhưng tư tưởng nền tảng điều khiển công việc của các năng lượng phát xuất thì có giá trị. Đối với chu kỳ thế giới của chúng ta, chúng như sau:
For the aspirant who progresses from Aries to Pisces and has therefore re-oriented himself we have:
Đối với người chí nguyện tiến từ Bạch Dương đến Song Ngư và do đó đã tự tái định hướng, chúng ta có:
Aries......I come forth, and from the plane of mind I rule.
Bạch Dương......Tôi xuất hiện, và từ cõi trí tôi cai quản.
Taurus......I see, and when the eye is opened, all is illumined.
Kim Ngưu......Tôi thấy, và khi con mắt được mở ra, tất cả đều được soi sáng.
Gemini......I recognise my other self and in the waning of that self I grow and glow.
Song Tử......Tôi nhận ra bản ngã kia của mình, và trong sự suy tàn của bản ngã ấy, tôi lớn lên và bừng sáng.
Cancer......I build a lighted house and therein dwell.
Cự Giải......Tôi xây một ngôi nhà được soi sáng và cư ngụ trong đó.
Leo......I am That and That am I.
Sư Tử......Tôi là Cái Đó và Cái Đó là tôi.
Virgo.......I am the Mother and the Child, I God, I matter am.
Xử Nữ.......Tôi là Mẹ và là Con, tôi là Thượng đế, tôi là vật chất.
Libra......I choose the Way that leads between the two great lines of force. [442]
Thiên Bình......Tôi chọn Con Đường dẫn giữa hai đường mãnh lực lớn. [442]
Scorpio.......Warrior I am, and from the battle I emerge triumphant.
Hổ Cáp.......Tôi là chiến sĩ, và từ trận chiến tôi bước ra khải hoàn.
Sagittarius......I see the goal. I reach the goal and see another.
Nhân Mã......Tôi thấy mục tiêu. Tôi đạt đến mục tiêu và thấy một mục tiêu khác.
Capricorn......Lost am I in light supernal and on that light I turn my back.
Ma Kết......Tôi mất hút trong ánh sáng thiên thượng, và với ánh sáng ấy, tôi quay lưng lại.
Aquarius......Water of life am I, poured forth for thirsty men.
Bảo Bình......Tôi là nước của sự sống, tuôn đổ cho những người khát.
Pisces......I leave the Father’s home and turning back, I save.
Song Ngư......Tôi rời nhà Cha, và khi quay trở lại, tôi cứu độ.
From the standpoint of the form, the life proceeds in a reverse direction, and the work of nature is seen under the following words:
Từ lập trường của hình tướng, sự sống tiến hành theo chiều ngược lại, và công việc của thiên nhiên được thấy dưới những lời sau:
Pisces.......And the Word said: Go forth into matter.
Song Ngư.......Và Linh từ phán: Hãy đi vào vật chất.
Aquarius......And the Word said: Let desire in form be ruler.
Bảo Bình......Và Linh từ phán: Hãy để ham muốn trong hình tướng làm kẻ cai trị.
Capricorn......And the Word said: Let ambition rule and the door stand wide.
Ma Kết......Và Linh từ phán: Hãy để tham vọng cai quản và cánh cửa rộng mở.
Sagittarius......And the Word said: Let food be sought.
Nhân Mã......Và Linh từ phán: Hãy để thức ăn được tìm kiếm.
Scorpio......And the Word said: Let Maya flourish and deception rule.
Hổ Cáp......Và Linh từ phán: Hãy để ảo lực hưng thịnh và lừa dối cai quản.
Libra......And the Word said: Let choice be made.
Thiên Bình......Và Linh từ phán: Hãy để sự lựa chọn được thực hiện.
Virgo......And the Word said: Let matter reign.
Xử Nữ......Và Linh từ phán: Hãy để vật chất trị vì.
Leo......And the Word said: Let other forms exist, I rule.
Sư Tử......Và Linh từ phán: Hãy để các hình tướng khác hiện hữu, ta cai quản.
Cancer......And the Word said: Let isolation be the rule and yet the crowd exists.
Cự Giải......Và Linh từ phán: Hãy để sự cô lập là quy luật, nhưng đám đông vẫn hiện hữu.
Gemini......And the Word said: Let instability do its work.
Song Tử......Và Linh từ phán: Hãy để sự bất ổn làm công việc của nó.
Taurus......And the Word said: Let struggle be undismayed. [443]
Kim Ngưu......Và Linh từ phán: Hãy để cuộc đấu tranh không nản chí. [443]
Aries......And the Word said: Let form again be sought.
Bạch Dương......Và Linh từ phán: Hãy để hình tướng lại được tìm kiếm.
It will be noted that all these ideas concern the work of energy in some form or another and in the last grouping with the work of the so-called unregenerate selfish individual, full of desire for satisfaction. The group of mantric words used by the aspirant in the power of his own soul, are positive.
Cần lưu ý rằng tất cả những ý tưởng này đều liên quan đến công việc của năng lượng dưới hình thức này hay hình thức khác, và trong nhóm cuối cùng là công việc của cá nhân ích kỷ, được gọi là chưa tái sinh, đầy ham muốn được thỏa mãn. Nhóm các linh từ mantram mà người chí nguyện sử dụng trong quyền năng của chính linh hồn mình thì mang tính tích cực.
It seems needless to deal further with the various types of force and we shall now turn our attention to Rule XI.
Dường như không cần thiết phải bàn thêm về các loại mãnh lực khác nhau, và giờ đây chúng ta sẽ chuyển sự chú ý sang Quy luật XI.
RULE ELEVEN
Three things the worker with the law must now accomplish. First, ascertain the formula which will confine the lives within the ensphering wall; next, pronounce the words which will tell them what to do and where to carry that which has been made; and finally, utter forth the mystic phrase which will save him from their work.
Ba điều mà người hoạt động với định luật bây giờ phải hoàn thành. Trước hết, xác định công thức sẽ giam giữ các sự sống trong bức tường bao quanh; kế đó, xướng những lời sẽ cho chúng biết phải làm gì và mang điều đã được tạo ra đi đâu; sau cùng, thốt ra cụm từ thần bí sẽ cứu y khỏi công việc của chúng.
Analysis of the Three Sentences—Phân tích Ba Câu
[447]
[447]
This rule is, as you know, the last of those governing work on the astral plane and the magical task of motivating those thought-forms which are to be the expression of some type of energy. We have considered the various energies with which men work and the power a man can wield through building thought-forms. We have seen also how a man can manipulate the various grades of matter until the embodied idea has clothed itself with mental matter and with astral matter. It is therefore a vital entity, on the verge of materialising upon the physical plane. Nothing, it should be noted, can now stop its emergence into objectivity except the expressed act of the will of its creator, for the form, being vitalised by that creator, is subject always to his will, until he has severed his connection with it by the utterance of the “mystic phrase”. We will assume that emergence into effective existence is the decision and that the creative work is carried forward.
Như các bạn biết, quy luật này là quy luật cuối cùng trong những quy luật chi phối công việc trên cõi cảm dục và nhiệm vụ huyền thuật là thúc động những hình tư tưởng vốn sẽ là sự biểu lộ của một loại năng lượng nào đó. Chúng ta đã xem xét các năng lượng khác nhau mà con người vận dụng, và quyền năng mà một người có thể sử dụng qua việc kiến tạo các hình tư tưởng. Chúng ta cũng đã thấy cách một người có thể điều khiển các cấp độ khác nhau của vật chất cho đến khi ý tưởng được hiện thân đã khoác lấy vật chất trí tuệ và vật chất cảm dục. Vì thế, nó là một thực thể sống động, đang ở ngưỡng hiện hình trên cõi hồng trần. Cần lưu ý rằng giờ đây không gì có thể ngăn chặn sự xuất hiện của nó vào tính khách quan, ngoại trừ hành động ý chí được biểu lộ của người sáng tạo ra nó; vì hình tướng, do được người sáng tạo ấy tiếp sinh lực, luôn luôn lệ thuộc vào ý chí của y, cho đến khi y cắt đứt mối liên hệ với nó bằng việc thốt ra “cụm từ thần bí”. Chúng ta sẽ giả định rằng sự xuất hiện vào hiện hữu hữu hiệu là quyết định đã được chọn, và công việc sáng tạo được tiếp tục tiến hành.
It will here be noted that this work is either conscious or unconscious. In the unconscious building of thought-forms such as is the case with the average human being, many never produce the desired physical plane effects, and fail in their intended purpose. As long however, as man is animated by selfishness and by hatred, this is a beneficent thing. Fortunately for the human race, few people as yet work in mental matter. Most of them work with astral or desire matter and these forms are fluidic and changeable, and are powerful only through the faculty of persistence. There is an occult basis for [448] the statement that if one desires a thing for a sufficiently long period of time one will possess it. Such is the law governing the return to incarnation of the average human being. Lacking the one-pointedness of the mental plane matter as it is influenced by a concentrated mind, these desire forms fail to do the damage they otherwise might. Their effect is felt largely by the creator of these kama-manasic forms and not by his environing associates. The moment that the mind factor enters in and becomes dominant, that moment a man becomes dangerous or useful as the case may be—dangerous not only to himself but to those around him, or useful in the working out of the plan of evolution. He can then create thought-forms, capable of producing outward manifesting results and tangible effects. Given aspiration, however, and spiritual impulse, a man can become a true occultist, and produce organised results, and functioning organisms upon the physical plane. I use the word “organism” deliberately, for it will serve to convey the idea that any thought-form is regarded by us as a subjective and existing entity, clothed in subtle matter, and capable of manifestation. This is called popularly sometimes “the working out of an idea”, or the “carrying through of a project”; it is termed at other times a “discovery”, or an “ invention”, or something of that nature. All the time, quite unrealising it, man is talking in occult terms and evidencing an inner appreciation of the methods whereby all that has been thought (by God or man) comes into existence.
Ở đây cần lưu ý rằng công việc này hoặc là có ý thức hoặc là vô thức. Trong việc kiến tạo vô thức các hình tư tưởng, như trường hợp của con người trung bình, nhiều hình tư tưởng không bao giờ tạo ra được các hiệu quả mong muốn trên cõi hồng trần, và thất bại trong mục đích đã định. Tuy nhiên, chừng nào con người còn được thúc đẩy bởi tính ích kỷ và lòng thù hận, thì điều này là một điều lành. May mắn cho nhân loại, cho đến nay rất ít người làm việc trong vật chất trí tuệ. Phần lớn họ làm việc với vật chất cảm dục hay dục vọng, và các hình tướng này linh động, hay thay đổi, và chỉ có quyền năng nhờ năng lực kiên trì. Có một nền tảng huyền bí cho [448] lời khẳng định rằng nếu một người ham muốn một điều gì trong một thời gian đủ dài, y sẽ sở hữu nó. Đó là định luật chi phối sự trở lại nhập thể của con người trung bình. Vì thiếu tính nhất tâm của vật chất cõi trí khi nó chịu ảnh hưởng của một thể trí tập trung, các hình tướng dục vọng này không gây ra được sự tổn hại mà nếu khác đi chúng có thể gây ra. Hiệu quả của chúng phần lớn được cảm nhận bởi người sáng tạo ra các hình tướng trí-cảm này, chứ không phải bởi những người cộng sự bao quanh y. Ngay khoảnh khắc yếu tố thể trí bước vào và trở nên chiếm ưu thế, ngay khoảnh khắc ấy con người trở nên nguy hiểm hoặc hữu ích, tùy trường hợp—nguy hiểm không chỉ cho chính y mà còn cho những người chung quanh, hoặc hữu ích trong việc thực hiện thiên cơ tiến hóa. Khi ấy y có thể tạo ra các hình tư tưởng có khả năng tạo nên những kết quả biểu hiện ra bên ngoài và các hiệu quả hữu hình. Tuy nhiên, nếu có khát vọng và xung lực tinh thần, một người có thể trở thành một nhà huyền bí học chân chính, và tạo ra những kết quả có tổ chức cùng những cơ cấu sống vận hành trên cõi hồng trần. Tôi cố ý dùng từ “cơ cấu sống”, vì nó sẽ giúp truyền đạt ý tưởng rằng mọi hình tư tưởng đều được chúng tôi xem như một thực thể chủ quan và hiện hữu, khoác lấy vật chất tinh anh, và có khả năng biểu hiện. Điều này đôi khi thường được gọi là “việc triển khai một ý tưởng”, hay “việc thực hiện một dự án”; lúc khác nó được gọi là một “khám phá”, hay một “phát minh”, hoặc điều gì đó thuộc loại ấy. Suốt thời gian đó, hoàn toàn không nhận ra, con người đang nói bằng những thuật ngữ huyền bí và biểu lộ một sự cảm nhận bên trong về các phương pháp nhờ đó mọi điều đã được tư tưởng đến, bởi Thượng đế hoặc con người, đi vào hiện hữu.
The embodied idea or thought (the former being potentially far more potent than the latter) has worked its way through to the verge of physical manifestation. Its creator who, in the case of a “white magician” is not an emotionally centred person, is consciously bringing it to the stage when its inner purpose and plan can be demonstrated. He holds the thought-form in his consciousness [449] and gives it shape and energy through the power of his own one-pointed mental focus.
Ý tưởng hay tư tưởng được hiện thân, trong đó cái trước tiềm tàng mạnh mẽ hơn cái sau rất nhiều, đã tự mở đường đến ngưỡng biểu hiện hồng trần. Người sáng tạo ra nó, trong trường hợp một “nhà huyền thuật chánh đạo”, không phải là một người lấy cảm xúc làm trung tâm, đang có ý thức đưa nó đến giai đoạn mà mục đích và thiên cơ bên trong của nó có thể được chứng minh. Y giữ hình tư tưởng trong tâm thức của mình [449] và ban cho nó hình dạng cùng năng lượng nhờ quyền năng của sự tập trung trí tuệ nhất tâm của chính y.
We are told in the rule under consideration that the aspirant has three things to do:
Trong quy luật đang được xem xét, chúng ta được cho biết rằng người chí nguyện có ba điều phải làm:
1. Ascertain the formula which will crystallise the form he has built, much in the same way that we find architects and bridge builders reducing the desired form to a mathematical formula.
1. Xác định công thức sẽ kết tinh hình tướng mà y đã kiến tạo, gần giống như cách chúng ta thấy các kiến trúc sư và những người xây cầu quy giảm hình tướng mong muốn thành một công thức toán học.
2. Pronounce certain words which will give the form vitality and so carry it forth on to the physical plane.
2. Xướng một số lời nhất định sẽ ban sinh lực cho hình tướng, và nhờ đó đưa nó tiến ra cõi hồng trần.
3. Utter the phrase which will detach the thought-form from his aura and so save the drain upon his energies.
3. Thốt ra cụm từ sẽ tách rời hình tư tưởng khỏi hào quang của y, và nhờ đó cứu y khỏi sự hao tổn năng lượng.
It will be noted that the formula has relation to the thought-form, the words of power to the objective for which the form has been constructed, and the mystic phrase concerns the severing of the magnetic link which binds together the creator and his creation. One therefore concerns the form, another the soul embodied in the form (whose lowest characteristic is desire, the reflection of love) and the last the life aspect with which the creator has endowed the creation. We are consequently face to face again with the eternal triplicities of spirit, soul and body. It should be remembered that the Rules for Magic, as understood by the true esotericist, are as true of a created universe, solar system or planet as they are true of the tiny thought creations of a chela or aspirant.
Cần lưu ý rằng công thức liên hệ với hình tư tưởng, các Quyền năng từ liên hệ với mục tiêu mà hình tướng được kiến tạo để đạt tới, và cụm từ thần bí liên quan đến việc cắt đứt mối liên kết từ tính vốn ràng buộc người sáng tạo với tạo vật của y. Vì vậy, một điều liên quan đến hình tướng, điều khác đến linh hồn được hiện thân trong hình tướng, mà đặc tính thấp nhất là dục vọng, phản ánh của bác ái, và điều cuối cùng liên quan đến phương diện sự sống mà người sáng tạo đã phú cho tạo vật. Do đó, chúng ta lại đối diện với các bộ ba vĩnh cửu của tinh thần, linh hồn và thể xác. Cần nhớ rằng Các Quy Luật về Huyền Thuật, như nhà bí truyền học chân chính thấu hiểu, đúng đối với một vũ trụ, hệ mặt trời hay hành tinh được sáng tạo, cũng như đúng đối với những tạo tác tư tưởng nhỏ bé của một đệ tử hay người chí nguyện.
The first reaction of the average student on reading the above is to think immediately of the body nature as it expresses some type of energy. Thus duality is the thing noted and that which employs the thing is present in his mind. Yet one of the main necessities before occult aspirants at this time is to endeavour to think in [450] terms of the one Reality which is Energy itself and nothing else. Therefore it is of value to emphasize in our discussions of this abstruse subject the fact that spirit and energy are synonymous terms and are interchangeable. Only in the realisation of this can we arrive at the reconciliation of science and religion and at a true understanding of the world of active phenomena by which we are surrounded and in which we move.
Phản ứng đầu tiên của đạo sinh trung bình khi đọc những điều trên là lập tức nghĩ đến bản chất thể xác khi nó biểu lộ một loại năng lượng nào đó. Như vậy, điều được ghi nhận là nhị nguyên, và cái sử dụng điều ấy hiện diện trong thể trí của y. Tuy nhiên, một trong những nhu cầu chính yếu trước mắt các người chí nguyện huyền bí vào lúc này là cố gắng tư tưởng trong [450] các thuật ngữ của Thực Tại duy nhất, vốn chính là Năng Lượng và không gì khác. Vì vậy, trong các cuộc bàn luận của chúng ta về đề tài thâm áo này, việc nhấn mạnh sự kiện rằng tinh thần và năng lượng là những thuật ngữ đồng nghĩa và có thể thay thế cho nhau là điều có giá trị. Chỉ trong sự chứng nghiệm điều này, chúng ta mới có thể đạt đến sự hòa giải giữa khoa học và tôn giáo, và đến một sự thấu hiểu chân thực về thế giới của các hiện tượng đang hoạt động bao quanh chúng ta và trong đó chúng ta vận hành.
The terms organic and inorganic are largely responsible for much of the confusion, and the sharp differentiation existing in the minds of many people between body and spirit, between life and form, have led to a refusal to admit the essential identity in nature of these two. The world in which we live is regarded by the majority as really solid and tangible, yet possessing some mysterious power lying concealed within it which produces movement, activity and change. This is of course putting it crudely but it suffices to sum up the unintelligent attitude.
Các thuật ngữ hữu cơ và vô cơ chịu trách nhiệm phần lớn cho nhiều sự lẫn lộn; và sự biến phân sắc bén hiện hữu trong thể trí của nhiều người giữa thể xác và tinh thần, giữa sự sống và hình tướng, đã dẫn đến việc từ chối thừa nhận bản sắc thiết yếu trong bản chất của hai điều này. Thế giới trong đó chúng ta sống được đa số xem là thật sự rắn chắc và hữu hình, nhưng lại sở hữu một quyền năng huyền bí nào đó ẩn giấu bên trong, tạo ra chuyển động, hoạt động và biến đổi. Dĩ nhiên, nói như vậy là thô sơ, nhưng đủ để tóm lược thái độ thiếu trí tuệ.
The orthodox scientist is largely occupied with structures, relationships, with the composition of form and with the activity produced by the component form parts and their interrelations and dependencies. The chemicals and elements and the functions and parts they play, and their mutual interactions as they compose all forms in all the kingdoms of nature are the subject of their investigation. The nature of the atom, of the molecule and the cell, their functions, the qualities of their force manifestations and the varying types of activity, the solving of the problem as to the character and nature of the energies—focalised or localised in the differing forms of the natural or material world—demand the consideration of the ablest minds in the world of thought. Yet the questions—What is Life? What is Energy? or What is the process of Becoming and the nature of Being? remain unanswered. The problem as to the why and the [451] wherefore is regarded as fruitless and speculative, almost insoluble.
Nhà khoa học chính thống phần lớn bận tâm đến các cấu trúc, các mối quan hệ, thành phần của hình tướng và hoạt động do các phần cấu thành hình tướng cùng những tương quan và phụ thuộc lẫn nhau của chúng tạo ra. Các hóa chất và nguyên tố, các chức năng và vai trò của chúng, cùng những tương tác lẫn nhau của chúng khi chúng cấu thành mọi hình tướng trong tất cả các giới của thiên nhiên, là đối tượng nghiên cứu của họ. Bản chất của nguyên tử, phân tử và tế bào, các chức năng của chúng, các phẩm tính trong những biểu hiện mãnh lực của chúng và các loại hoạt động khác nhau; việc giải quyết vấn đề về tính chất và bản chất của các năng lượng—được hội tụ hay định vị trong các hình tướng khác nhau của thế giới tự nhiên hay vật chất—đòi hỏi sự chú tâm của những thể trí ưu tú nhất trong thế giới tư tưởng. Tuy nhiên, các câu hỏi: Sự Sống là gì? Năng Lượng là gì? hay Tiến trình Đang Trở Thành và bản chất của Bản Thể là gì? vẫn chưa được trả lời. Vấn đề về lý do và căn nguyên [451] được xem là vô ích và tư biện, gần như không thể giải quyết.
Nevertheless, to the pure reason and through the correct functioning of the intuition, these problems can be solved and these questions answered. Their solution is one of the ordinary revelations and attainments of initiation. The only true biologists are the initiates of the mysteries, for they have an understanding of life and its purpose and are so identified with the life principle that they think and speak in terms of energy and its effects, and all their activities, in connection with the work of the planetary Hierarchy, are based on a few fundamental formulas which concern life as it makes itself felt through its three differentiations or aspects: —energy, force, matter.
Tuy vậy, đối với lý trí thuần túy và nhờ sự vận hành đúng đắn của trực giác, các vấn đề này có thể được giải quyết và các câu hỏi này có thể được trả lời. Sự giải quyết chúng là một trong những mặc khải và thành tựu thông thường của điểm đạo. Những nhà sinh học chân chính duy nhất là các điểm đạo đồ của các bí nhiệm, vì các vị ấy có sự thấu hiểu về sự sống và mục đích của nó, và đồng hóa với nguyên khí sự sống đến mức các vị ấy tư tưởng và nói năng bằng những thuật ngữ của năng lượng và các hiệu quả của nó; và mọi hoạt động của các vị ấy, liên hệ với công việc của Thánh đoàn hành tinh, đều dựa trên một vài công thức căn bản liên quan đến sự sống khi nó khiến chính nó được cảm nhận qua ba biến phân hay phương diện của nó: năng lượng, mãnh lực, vật chất.
It should be noted here that only as a man understands himself can he arrive at an understanding of that which is the sum total that we call God. This is a truism and an occult platitude, but when acted upon leads to a revelation which makes the present “Unknown God” a recognised Reality. Let me illustrate:
Ở đây cần lưu ý rằng chỉ khi con người thấu hiểu chính mình, y mới có thể đạt đến sự thấu hiểu về cái tổng thể mà chúng ta gọi là Thượng đế. Đây là một chân lý hiển nhiên và là một lời nói quen thuộc trong huyền bí học, nhưng khi được đem ra thực hành, nó dẫn đến một sự mặc khải khiến “Thượng đế Chưa Biết” hiện nay trở thành một Thực Tại được nhận biết. Hãy để tôi minh họa:
Man knows himself to be a living being and calls death that mysterious process wherein that something, which he commonly designates as the breath of life, is withdrawn. On its withdrawal, the form disintegrates. The cohesive vitalising force is gone, and this produces that falling apart into its essential elements of that which has hitherto been regarded as the body.
Con người biết mình là một sinh thể sống và gọi cái tiến trình huyền bí, trong đó một điều gì đó mà y thường gọi là hơi thở sự sống được rút lui, là cái chết. Khi nó rút lui, hình tướng tan rã. Mãnh lực cố kết và tiếp sinh lực đã ra đi, và điều này tạo ra sự phân rã thành các nguyên tố thiết yếu của cái cho đến lúc ấy vẫn được xem là thể xác.
This life principle, this basic essential of being and this mysterious elusive factor is the correspondence in man of that which we call spirit or life in the macrocosm. Just as the life in man holds together, animates, vitalises and drives into activity the form and so makes of him a living being, so the life of God—as the Christian calls it—performs the same purpose in the universe and produces [452] that coherent, living, vital ensemble which we call a solar system.
Nguyên khí sự sống này, yếu tính căn bản này của hiện hữu và yếu tố huyền bí khó nắm bắt này, là tương ứng trong con người của điều mà chúng ta gọi là tinh thần hay sự sống trong Đại thiên địa. Cũng như sự sống trong con người giữ hình tướng lại với nhau, làm nó sinh động, tiếp sinh lực cho nó và thúc đẩy nó hoạt động, nhờ đó khiến y thành một sinh thể sống, thì sự sống của Thượng đế—như người Kitô hữu gọi—cũng thực hiện cùng mục đích ấy trong vũ trụ và tạo nên [452] tổng hợp cố kết, sống động và đầy sinh lực mà chúng ta gọi là một hệ mặt trời.
This life principle in man manifests in a triple manner:
Nguyên khí sự sống này trong con người biểu hiện theo ba cách:
1. As the directional will, purpose, basic incentive. This is the dynamic energy which sets the being functioning, brings him into existence, sets the term of his life, carries him through the years, long or short, and abstracts itself at the close of his life cycle. This is the spirit in man, manifesting as the will to live, to be, to act, to pursue, to evolve. In its lowest aspect this works through the mental body or nature, and in connection with the dense physical makes itself felt through the brain.
1. Như ý chí định hướng, mục đích, động cơ căn bản. Đây là năng lượng năng động khiến sinh thể vận hành, đưa y vào hiện hữu, ấn định thời hạn đời sống của y, đưa y đi qua những năm tháng, dài hay ngắn, và tự rút lui vào cuối chu kỳ đời sống của y. Đây là tinh thần trong con người, biểu hiện như ý chí muốn sống, muốn hiện hữu, muốn hành động, muốn theo đuổi, muốn tiến hóa. Ở phương diện thấp nhất của nó, điều này hoạt động qua thể trí hay bản chất trí tuệ, và trong liên hệ với thể xác đậm đặc, nó khiến chính nó được cảm nhận qua bộ não.
2. As the coherent force. It is that significant essential quality which makes each man different, which produces that complex manifestation of moods, desires, qualities, complexes, inhibitions, feelings and characteristics which produce a man’s peculiar psychology. This is the result of the interplay between the spirit or energy aspect, and the matter or body nature. This is the distinctive subjective man, his colouring, or individual note; this it is which sets the rate of vibratory activity of his body, produces his particular type of form, is responsible for the condition and nature of his organs, his glands, and his outer aspect. This is the soul and—in its lowest aspect—it works through the emotional or astral nature and in connection with the dense physical, through the heart.
2. Như mãnh lực cố kết. Đó là phẩm tính thiết yếu đầy thâm nghĩa khiến mỗi người khác biệt, tạo ra biểu hiện phức tạp của các tâm trạng, dục vọng, phẩm tính, phức cảm, ức chế, cảm giác và đặc điểm vốn tạo nên tâm lý riêng biệt của một người. Đây là kết quả của sự tương tác giữa phương diện tinh thần hay năng lượng, và bản chất vật chất hay thể xác. Đây là con người chủ quan đặc thù, sắc thái hay âm điệu cá nhân của y; chính điều này ấn định tốc độ hoạt động rung động của thể xác y, tạo ra loại hình tướng riêng của y, chịu trách nhiệm về tình trạng và bản chất của các cơ quan, các tuyến và phương diện bên ngoài của y. Đây là linh hồn và—ở phương diện thấp nhất—nó hoạt động qua bản chất cảm xúc hay cảm dục, và trong liên hệ với thể xác đậm đặc, qua trái tim.
3. As the activity of the atoms and cells of which the physical body is composed. It is the sum total of those little lives of which the human organs, comprising the entire man are composed. These have a life of their own and a consciousness which is strictly individual and identified. This aspect of the life principle works through [453] the etheric or vital body and in connection with the solid mechanism of the tangible form through the spleen.
3. Như hoạt động của các nguyên tử và tế bào cấu thành thể xác. Đó là tổng thể của những sự sống nhỏ bé mà các cơ quan của con người, hợp thành toàn bộ con người, được cấu tạo nên. Chúng có sự sống riêng của chúng và một tâm thức nghiêm ngặt cá biệt và đồng hóa. Phương diện này của nguyên khí sự sống hoạt động qua [453] thể dĩ thái hay thể sinh lực, và trong liên hệ với bộ máy rắn chắc của hình tướng hữu hình, qua lá lách.
It is not, of course, possible to give the mantric words and phrases which are mentioned in Rule XI. They would be profoundly incomprehensible to all but the initiate, and therefore need not engross our attention. It should be noted that much in these Instructions is in advance of modern thought and both these Instructions and the Treatise on Cosmic Fire will only be fully understood towards the end of this century.
Dĩ nhiên, không thể trao ra các lời và cụm từ mantram được đề cập trong Quy Luật XI. Chúng sẽ hoàn toàn không thể hiểu được đối với tất cả, ngoại trừ điểm đạo đồ, và vì vậy không cần chiếm lấy sự chú tâm của chúng ta. Cần lưu ý rằng nhiều điều trong các Huấn Thị này vượt trước tư tưởng hiện đại, và cả các Huấn Thị này lẫn Luận về Lửa Vũ Trụ sẽ chỉ được thấu hiểu trọn vẹn vào cuối thế kỷ này.
Let us consider this rule sentence by sentence, and arrive at that one of the interpretations which is the easiest for the average aspirant. All these rules can be read from the standpoint of intelligent man, and will mean but little; they can be read from the standpoint of the aspirant, and will then convey certain practical ideas which are susceptible of daily application and can be wrought out in the crucible of life experience. They will achieve meaning as the aspirant learns to handle energies, to work in mental matter and to cooperate creatively with the Purpose underlying the evolutionary plan. From the angle of vision of the disciple, these Rules carry certain potent instructions and will lead him to an understanding of the process of the creative work in nature, which is necessarily sealed to the mind of the aspirant. As to the comprehension of the initiate, these words convey definite commands which only his illumined intuition can rightly interpret. With the higher grades of intelligences we need not concern ourselves. We will consider this Rule therefore solely from the angle of vision of the average aspirant, leaving other interpretations to those individuals who have the internal equipment which will enable them to understand.
Chúng ta hãy xem xét quy luật này từng câu một, và đi đến một trong những diễn giải dễ nhất đối với người chí nguyện trung bình. Tất cả các quy luật này có thể được đọc từ quan điểm của con người có trí tuệ, và sẽ chỉ hàm nghĩa rất ít; chúng có thể được đọc từ quan điểm của người chí nguyện, và khi đó sẽ truyền đạt một số ý tưởng thực tiễn có thể áp dụng hằng ngày và có thể được thực hiện trong lò luyện của kinh nghiệm sống. Chúng sẽ đạt được ý nghĩa khi người chí nguyện học cách vận dụng các năng lượng, làm việc trong vật chất trí tuệ và cộng tác một cách sáng tạo với Thiên Ý nằm bên dưới thiên cơ tiến hóa. Từ góc nhìn của đệ tử, các Quy Luật này mang một số huấn thị đầy quyền năng và sẽ dẫn y đến sự thấu hiểu về tiến trình của công việc sáng tạo trong thiên nhiên, điều tất yếu bị niêm kín đối với thể trí của người chí nguyện. Đối với sự lĩnh hội của điểm đạo đồ, những lời này truyền đạt các mệnh lệnh xác định mà chỉ trực giác đã được soi sáng của y mới có thể diễn giải đúng. Chúng ta không cần bận tâm đến các cấp trí tuệ cao hơn. Vì vậy, chúng ta sẽ xem xét Quy Luật này chỉ từ góc nhìn của người chí nguyện trung bình, để các diễn giải khác lại cho những cá nhân có trang bị nội tại giúp họ thấu hiểu.
I. Ascertain the formula which will confine the lives within the ensphering wall.
I. Xác định công thức sẽ giam giữ các sự sống trong bức tường bao quanh thành khối cầu.
All forms in nature, as we well know, are made up of [454] myriads of tiny lives, holding a certain measure of awareness, of rhythm, and of coherency according to the force of the Law of Attraction, utilized by the builder of the form. This is true both of the Macrocosm and of the infinite world of microcosmic lives, which are contained within the greater whole. Embryo solar systems, coming into being under the impulse of divine thought, are at first fluidic and nebulous, are shifting in outline and are held together loosely by the central nucleus of energy—another way of expressing the embodied idea. As time progresses, they pass on to other conditions, they take more definite form, they enter into peculiar relations with allied and neighbouring forms, and adjust themselves to varying relations of an internal nature with those forms, which in the earlier stage was not possible. Eventually we find a solar system such as ours and myriads of others—a solar system functioning as a sun with its revolving and rotating planets, preserving their differing orbits, holding their stated and relative positions, active as independent and inter-dependent organisms, and yet presenting, to the eye of the astronomer, a coherence, a unity and a structure that is unique in each case and yet which functions under cosmic law. It measures up to some vast purpose, conceived and held steadily in the Universal Mind, which is in its turn an aspect of that group-conscious and self-conscious entity who is the author of its being and the creator of its form.
Như chúng ta đều biết rõ, mọi hình tướng trong thiên nhiên được cấu thành bởi [454] vô số sự sống nhỏ bé, nắm giữ một mức độ nhận biết, nhịp điệu và cố kết nào đó tùy theo mãnh lực của Định luật Hấp Dẫn được đấng kiến tạo hình tướng sử dụng. Điều này đúng với cả Đại thiên địa lẫn thế giới vô tận của các sự sống tiểu thiên địa được chứa đựng trong toàn thể lớn hơn. Các hệ mặt trời phôi thai, đi vào hiện hữu dưới xung lực của tư tưởng thiêng liêng, lúc đầu linh động và mờ sương, đường nét thay đổi và được giữ lại với nhau một cách lỏng lẻo bởi hạt nhân năng lượng trung tâm—một cách khác để diễn đạt ý tưởng được hiện thân. Khi thời gian trôi qua, chúng chuyển sang những tình trạng khác, khoác lấy hình tướng xác định hơn, đi vào những mối quan hệ đặc thù với các hình tướng liên hệ và lân cận, và tự điều chỉnh theo những mối quan hệ khác nhau có tính nội tại với các hình tướng ấy, điều mà ở giai đoạn ban đầu là không thể. Cuối cùng, chúng ta thấy một hệ mặt trời như hệ của chúng ta và vô số hệ khác—một hệ mặt trời vận hành như một mặt trời với các hành tinh xoay quanh và tự quay, duy trì các quỹ đạo khác nhau, giữ các vị trí đã định và tương đối của chúng, hoạt động như những cơ cấu sống độc lập và tương thuộc, nhưng đồng thời, đối với mắt nhà thiên văn, trình hiện một sự cố kết, một sự hợp nhất và một cấu trúc độc nhất trong mỗi trường hợp, nhưng vẫn vận hành theo định luật vũ trụ. Nó đáp ứng một mục đích rộng lớn nào đó, được hình thành và nắm giữ vững vàng trong Vũ Trụ Trí, vốn đến lượt nó là một phương diện của thực thể có tâm thức nhóm và ngã thức, là tác giả của hiện hữu của nó và là đấng sáng tạo hình tướng của nó.
This one intelligent Life may be posited as creating in his meditation (or its, if you prefer, for what do words matter when all is futile to express reality as it is!) and consequently in his reflective mind, that which we call a thought-form. This thought-form has four main characteristics:
Có thể giả định rằng Sự sống thông tuệ duy nhất này sáng tạo trong tham thiền của Ngài, hay của Nó nếu các bạn thích, vì lời nói có nghĩa gì khi tất cả đều bất lực trong việc diễn đạt thực tại đúng như nó là, và do đó trong thể trí phản chiếu của Ngài, điều mà chúng ta gọi là một hình tư tưởng. Hình tư tưởng này có bốn đặc tính chính:
1. It is brought into being through the conscious use of the Law of Attraction. [455]
1. Nó được đưa vào hiện hữu nhờ việc sử dụng có ý thức Định luật Hấp Dẫn. [455]
2. It is formed of an infinite number of living entities who are attracted by the mind of the divine Creator and thus enter into relation with each other.
2. Nó được tạo thành từ vô số thực thể sống bị thể trí của Đấng Sáng Tạo thiêng liêng thu hút, và do đó đi vào liên hệ với nhau.
3. The form is the externalization of something that its Creator has:
3. Hình tướng là sự ngoại hiện của một điều mà Đấng Sáng Tạo của nó đã:
a. Visualized.
a. Hình dung.
b. Built intelligently and “coloured” or “qualified”, so as to meet the purpose for which it was intended.
b. Kiến tạo một cách thông tuệ và “nhuộm màu” hay “định phẩm”, để đáp ứng mục đích mà nó được dự định phục vụ.
c. Vitalized by the potency of his desire and the strength of his living thought.
c. Tiếp sinh lực bằng quyền năng dục vọng của Ngài và sức mạnh tư tưởng sống động của Ngài.
d. Held in shape as long as it is needed in order to perform its specific work.
d. Giữ trong hình dạng chừng nào nó còn cần thiết để thực hiện công việc riêng biệt của nó.
e. Connected to himself by a magnetic thread—the thread of his living purpose and the strength of his dominant will.
e. Nối kết với chính Ngài bằng một sợi dây từ tính—sợi dây của mục đích sống động của Ngài và sức mạnh của ý chí chủ đạo của Ngài.
4. This interior purpose, which has clothed itself in mental, astral and vital substance, is potent on the physical plane just as long as:
4. Mục đích nội tại này, vốn đã khoác lấy chất liệu trí tuệ, cảm dục và sinh lực, có quyền năng trên cõi hồng trần chừng nào:
a. It remains consciously in its Creator’s thought.
a. Nó vẫn còn ở trong tư tưởng có ý thức của Đấng Sáng Tạo của nó.
b. It “keeps its distance” occultly from its Creator. Many thought-forms remain futile as they are “too close” to their Creator.
b. Nó “giữ khoảng cách” theo nghĩa huyền bí với Đấng Sáng Tạo của nó. Nhiều hình tư tưởng vẫn vô hiệu vì chúng “quá gần” Đấng Sáng Tạo của chúng.
c. It can be directed in any desired direction, and under the law of least resistance, can find its own place, thus performing its desired function and carrying out the purpose for which it was created.
c. Nó có thể được hướng theo bất cứ chiều hướng mong muốn nào, và theo con đường ít trở ngại nhất, có thể tìm được vị trí riêng của nó, nhờ đó thực hiện chức năng mong muốn và thi hành mục đích mà nó đã được tạo ra để phục vụ.
The “formula” therefore might be regarded as the idea emanating from the divine Thinker; it might be defined as the dynamic purpose, the "thing" as the Thinker sees it and externalizes it in his mind, and visualizes it as the carrier of his intent. The mathematics which underlie the construction of a bridge, such as any of the great spans which signalize human achievement, convey [456] naught to the uninitiated, but to those who know and understand, they are the bridge itself, reduced to its essential terms. They are the bridge in latency, and in these mathematical formulas lie hid the purpose, the quality and the form of the completed structure and its eventual usefulness. So it is with the concepts and the ideas which give birth to a thought-form. These occult formulas exist on the archetypal plane which (for the aspirant) is the plane of the intuition, though in reality it is a state of consciousness far higher still. These formulas underlie a world of forms and must be contacted by those who are duly equipped to work under the Great Architect of the Universe. There are, symbolically speaking, three great books of formulas. Note the words “symbolically speaking”, and forget them not. There is first the Book of Life, read and eventually mastered by initiates of all degrees. There is the Book of Divine Wisdom, read by aspirants of all degrees, sometimes called the Book of Knowing Experience, and there is the Book of Forms which is compulsory reading for all in whom the intelligence is awakening to functioning activity. It is with the Book of Forms that we are now concerned.
Vì vậy, “công thức” có thể được xem như ý tưởng xuất lộ từ Đấng Tư Tưởng thiêng liêng; nó có thể được định nghĩa là mục đích năng động, là “sự vật” như Đấng Tư Tưởng thấy nó và ngoại hiện nó trong thể trí của Ngài, rồi hình dung nó như vật mang ý định của Ngài. Toán học nằm bên dưới việc xây dựng một cây cầu, chẳng hạn bất cứ nhịp cầu lớn nào đánh dấu thành tựu của con người, chẳng truyền đạt [456] điều gì cho người chưa được điểm đạo; nhưng đối với những ai biết và thấu hiểu, chúng chính là cây cầu, được quy giảm thành các thuật ngữ thiết yếu của nó. Chúng là cây cầu ở trạng thái tiềm tàng, và trong các công thức toán học này ẩn giấu mục đích, phẩm tính và hình tướng của cấu trúc hoàn tất cùng tính hữu dụng sau cùng của nó. Đối với các quan niệm và ý tưởng sinh ra một hình tư tưởng cũng vậy. Các công thức huyền bí này hiện hữu trên cõi nguyên mẫu, cõi mà đối với người chí nguyện là cõi của trực giác, dù trong thực tại nó còn là một trạng thái tâm thức cao hơn rất nhiều. Các công thức này nằm bên dưới một thế giới hình tướng và phải được tiếp xúc bởi những ai được trang bị đúng mức để làm việc dưới quyền Đại Kiến Trúc Sư của Vũ Trụ. Nói theo biểu tượng, có ba quyển sách lớn về các công thức. Hãy lưu ý những lời “nói theo biểu tượng”, và đừng quên chúng. Trước hết có Sách Sự Sống, được các điểm đạo đồ thuộc mọi cấp đọc và cuối cùng làm chủ. Có Sách Minh Triết Thiêng Liêng, được các người chí nguyện thuộc mọi cấp đọc, đôi khi được gọi là Sách Kinh Nghiệm Hiểu Biết; và có Sách Hình Tướng, là sách đọc bắt buộc đối với tất cả những ai mà trí tuệ đang thức tỉnh vào hoạt động vận hành. Chính Sách Hình Tướng là điều chúng ta hiện đang quan tâm.
Patanjali speaks in one place of the “rain-cloud of knowable things” of which the soul is consciously aware. The aspirant, weary of the eternal round of his own futile and unimportant thoughts, seeks to tap the resources of this “rain cloud” and so precipitate upon the earth some of the thoughts of God. He seeks to work so that he can further the manifestation of the ideas of the Creator. To do this he has to fulfill certain initial requirements, which might be briefly stated as follows:
Ở một chỗ, Patanjali nói về “đám mây mưa của những điều khả tri” mà linh hồn có ý thức nhận biết. Người chí nguyện, mệt mỏi vì vòng quay bất tận của những tư tưởng vô ích và không quan trọng của chính mình, tìm cách khai thác các nguồn lực của “đám mây mưa” này, và nhờ đó ngưng tụ xuống Trái Đất một số tư tưởng của Thượng đế. Y tìm cách làm việc để có thể thúc đẩy sự biểu hiện các ý tưởng của Đấng Sáng Tạo. Để làm điều này, y phải hoàn thành một số yêu cầu ban đầu, có thể được nêu vắn tắt như sau:
1. Know the true meaning of meditation.
1. Biết ý nghĩa chân thực của tham thiền.
2. Align with facility the soul, the mind and the brain.
2. Chỉnh hợp dễ dàng linh hồn, thể trí và bộ não.
3. Contemplate, or function as the soul on its own plane. It then becomes possible for the soul to act [457] as the intermediary between the plane of divine ideas and the mental plane. You see how this matter of participation in the divine creative process works out as the objective of all true meditation work?
3. Chiêm ngưỡng, hay vận hành như linh hồn trên cõi riêng của nó. Khi đó, linh hồn có thể hoạt động [457] như trung gian giữa cõi của các ý tưởng thiêng liêng và cõi trí. Các bạn thấy vấn đề tham dự vào tiến trình sáng tạo thiêng liêng này được thực hiện như mục tiêu của mọi công việc tham thiền chân chính như thế nào?
4. Register the idea, received by the soul intuitively, and recognize the form which it should take. These last seven words are of vital importance.
4. Ghi nhận ý tưởng mà linh hồn tiếp nhận bằng trực giác, và nhận ra hình tướng mà nó phải khoác lấy. Bảy từ sau cùng ấy có tầm quan trọng thiết yếu.
5. Reduce the vague and misty idea to its essentials, discarding all vain imaginings and the formulations of the lower mind, so equipping oneself to leap readily into activity, and, through steadfastness in contemplation, receive accurately the vision of the inner structure, or of the subjective skeleton, if I may so term it, of the form which is to be.
5. Quy giảm ý tưởng mơ hồ và mờ sương về các yếu tính của nó, loại bỏ mọi tưởng tượng hão huyền và các tạo lập của hạ trí, nhờ đó trang bị cho chính mình để sẵn sàng lao vào hoạt động, và nhờ sự kiên định trong chiêm ngưỡng, tiếp nhận chính xác linh ảnh về cấu trúc bên trong, hay khung xương chủ quan, nếu tôi có thể gọi như vậy, của hình tướng sẽ thành hình.
6. This, as recorded consciously by the soul upon the mind, is as consciously registered by the mind, held steady in the light, and might be regarded as the reduction of the formula to the blue print. It is not the formula itself, but the secondary process. According to the strength, the simplicity and the clarity of the embodiment of the formula in a simple outlined structure, so will be the finally furnished building and the consequent form, which will confine within the periphery of the outer form itself the lives used in its construction.
6. Điều này, khi được linh hồn ghi nhận một cách có ý thức trên thể trí, thì cũng được thể trí ghi nhận một cách có ý thức, giữ vững trong ánh sáng, và có thể được xem như sự quy giảm công thức thành bản thiết kế. Nó không phải là chính công thức, mà là tiến trình thứ yếu. Tùy theo sức mạnh, sự đơn giản và sự rõ ràng của việc hiện thân công thức trong một cấu trúc phác thảo đơn giản, mà công trình sau cùng được hoàn thiện và hình tướng hệ quả sẽ tương ứng, hình tướng ấy sẽ giam giữ trong chu vi của chính hình tướng bên ngoài các sự sống được dùng trong việc kiến tạo nó.
This, in reality, resembles the stage of conception. Latent within the germ (the result of male-female interrelation) lie all the potencies and capacities of the finished product. Latent within the idea which has been materially conceived, but which has been inspired by the Spirit aspect, lie hid the potencies of the finished thoughtforms. The matter aspect, represented by the mind, has been fecundated by the Spirit aspect, and the triplicity [458] will eventually be completed by the created form. But in the early stages there is as yet only the “formula”—the conceived idea, the latent yet dynamic concept. It is potent enough to draw to itself the essentials for growth and form, yet who shall say whether it will prove an abortion, a mediocre and feeble product, or a creation of real beauty and value?
Trong thực tại, điều này giống với giai đoạn thụ thai. Tiềm ẩn trong mầm giống, là kết quả của tương quan nam-nữ, có tất cả các tiềm lực và khả năng của sản phẩm hoàn tất. Tiềm ẩn trong ý tưởng đã được thụ thai một cách vật chất, nhưng được phương diện Tinh thần truyền cảm hứng, có các tiềm lực của các hình tư tưởng hoàn tất. Phương diện vật chất, được thể trí đại diện, đã được phương diện Tinh thần thụ tinh, và bộ ba [458] cuối cùng sẽ được hoàn tất bởi hình tướng được sáng tạo. Nhưng trong các giai đoạn đầu, vẫn chỉ có “công thức”—ý tưởng được thụ thai, quan niệm tiềm tàng nhưng năng động. Nó đủ mạnh để thu hút về mình các yếu tính cần cho sự tăng trưởng và hình tướng; tuy nhiên ai có thể nói liệu nó sẽ chứng tỏ là một sự sẩy thai, một sản phẩm tầm thường và yếu ớt, hay một tạo vật có vẻ đẹp và giá trị thực sự?
Every externalized idea is, therefore, possessed of form, animated by desire, and created by the power of the mind. The desire plane is the one upon which the mind imposes its conceptions in order to produce the “idea incarnate”, to clothe the idea in form. It is therefore the gestation ground. The mind previously has been the recipient of the archetypal idea, as grasped and visualized by the soul. In its turn the soul is the recipient of the formula as presented to it in the world of ideas. You have thus the “presented-idea”, the “perceived-idea” and the “formulated-idea”, and the idea working out into manifestation.
Vì vậy, mọi ý tưởng được ngoại hiện đều sở hữu hình tướng, được dục vọng làm cho sinh động, và được tạo ra bởi quyền năng của thể trí. Cõi dục vọng là cõi mà trên đó thể trí áp đặt các quan niệm của nó để tạo ra “ý tưởng nhập thể”, để khoác cho ý tưởng hình tướng. Vì vậy, đó là nền đất thai nghén. Trước đó, thể trí đã là nơi tiếp nhận ý tưởng nguyên mẫu, như linh hồn nắm bắt và hình dung. Đến lượt mình, linh hồn là nơi tiếp nhận công thức khi nó được trình bày cho linh hồn trong thế giới các ý tưởng. Như vậy các bạn có “ý tưởng được trình hiện”, “ý tưởng được tri nhận” và “ý tưởng được công thức hóa”, cùng ý tưởng đang tự triển khai vào biểu hiện.
It is well to bear in mind that the following factors govern the emergence of the idea out of the Universal Mind into the world of tangible forms. These are:
Cần ghi nhớ rằng các yếu tố sau chi phối sự xuất hiện của ý tưởng từ Vũ Trụ Trí vào thế giới của các hình tướng hữu hình. Đó là:
1. The energies emanating from the archetypal plane. This plane is the focus of the attention of the highest group of Intelligences on our planet. Their consciousness can respond and be inclusive to this sphere of activity whereon the Mind of God expresses itself, free from the limitations of what we understand as form. They are the custodians of the formula; they are the mathematicians who prepare the blue prints of the great Plan; they calculate the effects of the forces with which the work is carried forward, and the energies which must be manipulated; they allow for the strains and stresses to which the forms must be subjected under the impact of the life force, they deal with the cyclic impulses to which the evolutionary process must respond; they concern [459] themselves with the relation between the form aspect and the life urge.
1. Các năng lượng xuất lộ từ cõi nguyên mẫu. Cõi này là tiêu điểm chú tâm của nhóm các Trí Tuệ cao nhất trên hành tinh chúng ta. Tâm thức của Các Ngài có thể đáp ứng với và bao gồm khối cầu hoạt động này, nơi Trí của Thượng đế tự biểu lộ, tự do khỏi những giới hạn của điều chúng ta thấu hiểu là hình tướng. Các Ngài là những vị bảo trì công thức; các Ngài là những nhà toán học chuẩn bị các bản thiết kế của Thiên Cơ vĩ đại; các Ngài tính toán các hiệu quả của những mãnh lực nhờ đó công việc được tiến hành, và các năng lượng phải được điều khiển; các Ngài dự liệu những sức căng và áp lực mà các hình tướng phải chịu dưới tác động của mãnh lực sự sống; các Ngài xử lý các xung lực chu kỳ mà tiến trình tiến hóa phải đáp ứng; các Ngài quan tâm [459] đến mối quan hệ giữa phương diện hình tướng và thôi thúc sự sống.
2. The intuitional state of awareness. On this level of consciousness, we find the Masters of the Wisdom carrying on Their work, and it is in this sphere of influence that They work with the greatest ease and facility, as much so as does normally intelligent man work on the physical plane. Their minds are constantly in touch with the archetypal minds, who are the custodians of the formulas, and They—taking the blue prints (I speak again in symbolic fashion), deal with the specifications, look for those suitable for the control of the work, and assemble the needed personnel. Among Their disciples They search until They find the one most suited to be the focal point of information on the physical plane, or the group most eligible to carry into manifestation the desired part of the Plan. They work with those so chosen, impressing upon their minds that eternal triplicity of idea-quality-form until the details begin to emerge, and the work of what is literally a “precipitation” can go forward.
2. Trạng thái nhận biết trực giác. Trên cấp độ tâm thức này, chúng ta thấy các Chân sư Minh Triết tiếp tục công việc của Các Ngài, và chính trong khối cầu ảnh hưởng này Các Ngài làm việc với sự dễ dàng và thuận tiện lớn nhất, cũng như con người thông tuệ bình thường làm việc trên cõi hồng trần. Thể trí của Các Ngài thường xuyên tiếp xúc với các thể trí nguyên mẫu, là những vị bảo trì các công thức; và Các Ngài—tiếp nhận các bản thiết kế, tôi lại nói theo lối biểu tượng—xử lý các quy cách, tìm những người thích hợp cho việc kiểm soát công việc, và tập hợp nhân sự cần thiết. Trong số các đệ tử của Các Ngài, Các Ngài tìm kiếm cho đến khi tìm được người thích hợp nhất để làm tiêu điểm thông tin trên cõi hồng trần, hoặc nhóm đủ điều kiện nhất để đưa phần mong muốn của Thiên Cơ vào biểu hiện. Các Ngài làm việc với những người được chọn như vậy, in sâu vào thể trí họ bộ ba vĩnh cửu của ý tưởng-phẩm tính-hình tướng, cho đến khi các chi tiết bắt đầu xuất hiện, và công việc đúng nghĩa là một sự “ngưng tụ” có thể tiến hành.
3. The activity of the mental state of consciousness. It is on the mental plane that much of this work is necessarily done, and here is reason sufficient for the development, on the part of the aspirant, of a trained intellect. The “rain cloud of knowable things” precipitates first of all on the mental plane, and a further precipitation goes forward when disciples and aspirants are the recipients. These latter, in their turn, seek to impress and guide the lesser workers and aspirants, who, karmically or by choice, lie within their radius of influence. Thus the “idea” presented is seized upon by many minds and the formula aspect of the great work has played its part.
3. Hoạt động của trạng thái tâm thức trí tuệ. Chính trên cõi trí mà phần lớn công việc này nhất thiết được thực hiện, và đây là lý do đủ cho việc người chí nguyện phát triển một trí năng được rèn luyện. “Đám mây mưa của những điều khả tri” trước hết ngưng tụ trên cõi trí, và một sự ngưng tụ xa hơn diễn ra khi các đệ tử và người chí nguyện là những người tiếp nhận. Đến lượt mình, những người sau này tìm cách in ấn và hướng dẫn những người hoạt động cấp dưới và các người chí nguyện, những người, do nghiệp quả hoặc do lựa chọn, nằm trong phạm vi ảnh hưởng của họ. Như vậy, “ý tưởng” được trình hiện được nhiều thể trí nắm lấy, và phương diện công thức của công việc vĩ đại đã đóng phần của nó.
It will be seen how this work is consequently and essentially group work, and is therefore only truly possible for those who have somewhat mastered the meditation [460] process, and can “hold the mind steady in the light”. This light in reality streams forth from the Universal Mind and is of varying kinds and was (esoterically speaking) generated in a previous solar system and must be used and developed in this one.
Do đó, sẽ thấy rằng công việc này, về bản chất và tất yếu, là công việc nhóm, và vì vậy chỉ thật sự khả thi đối với những ai đã phần nào làm chủ tiến trình tham thiền [460] và có thể “giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng”. Ánh sáng này trong thực tại tuôn ra từ Vũ Trụ Trí và có nhiều loại khác nhau; nói một cách huyền bí, nó đã được tạo sinh trong một hệ mặt trời trước và phải được sử dụng, phát triển trong hệ này.
In the words “the light of the intuition” we have conveyed to our minds that type of energy which embodies the purpose, the will of God, the Plan, as we regard it. In the words “the light of the soul”, we have an expression which sums up the purpose, the plan, the will of those entities, who, incarnated in human form, and at times functioning out of the body, have the responsibility of materializing the divine concepts in the four kingdoms in nature. The human kingdom is, par excellence, the medium of expression for the Universal Mind, and when the sons of God in human form are perfected, the problems of the natural world will be solved in a large measure. The fully conscious sons of God, aware of themselves whilst in the human form (and they are few as yet), constitute literally the brain of the planetary life.
Trong những lời “ánh sáng của trực giác”, chúng ta đã truyền đạt vào thể trí mình loại năng lượng hiện thân cho mục đích, Ý Chí của Thượng Đế, Thiên Cơ, như chúng ta nhìn nhận. Trong những lời “ánh sáng của linh hồn”, chúng ta có một cách diễn đạt tóm lược mục đích, thiên cơ, ý chí của những thực thể, những vị nhập thể trong hình tướng con người và đôi khi vận hành ngoài thể xác, có trách nhiệm hiện hình các quan niệm thiêng liêng trong bốn giới của thiên nhiên. Giới nhân loại, một cách ưu việt nhất, là trung gian biểu lộ của Vũ Trụ Trí; và khi những người con của Thượng đế trong hình tướng con người được hoàn thiện, các vấn đề của thế giới tự nhiên sẽ được giải quyết ở mức độ lớn. Những người con của Thượng đế hoàn toàn có ý thức, nhận biết chính mình khi ở trong hình tướng con người, và hiện nay họ vẫn còn ít, thật sự cấu thành bộ não của sự sống hành tinh.
There is a truly occult significance to the words “to throw the light” upon a problem, a condition, or a situation. In its essential meaning it connotes the revelation of the presented idea, of the principle which underlies the outer manifestation. It is the recognition of the inner and spiritual reality which produces the outer and visible form. This is the keynote of all work in symbolism. The work of ascertaining the formulas, of drawing up the subjective charts or plans of intuitive impression and of intense activity on the mental plane is the sole work of the organized planetary hierarchy. The second phase of the work is carried on by those workers, who, co-operating consciously with the hierarchy, demonstrate the reality of that work in the three worlds of human evolution. They bring the germ of the idea, and the embryonic concept into outer and completed existence, [461] through the process of right thought, the awakening of desire, and the nurturing of right public opinion. They thus bring about the needed physical activity.
Có một thâm nghĩa huyền bí chân chính trong những lời “rọi ánh sáng” lên một vấn đề, một tình trạng hay một hoàn cảnh. Trong ý nghĩa thiết yếu, nó hàm ý sự mặc khải của ý tưởng được trình hiện, của nguyên khí nằm bên dưới biểu hiện bên ngoài. Đó là sự nhận biết thực tại bên trong và tinh thần, vốn tạo ra hình tướng bên ngoài và hữu hình. Đây là chủ âm của mọi công việc trong biểu tượng học. Công việc xác định các công thức, lập ra các biểu đồ hay thiên cơ chủ quan của ấn tượng trực giác, và hoạt động mãnh liệt trên cõi trí, là công việc riêng của Thánh đoàn hành tinh có tổ chức. Giai đoạn thứ hai của công việc được thực hiện bởi những người hoạt động, những người cộng tác có ý thức với Thánh đoàn, chứng minh thực tại của công việc ấy trong ba cõi giới của tiến hóa nhân loại. Họ đưa mầm giống của ý tưởng và quan niệm phôi thai vào hiện hữu bên ngoài và hoàn tất, [461] qua tiến trình tư tưởng đúng đắn, sự đánh thức dục vọng, và việc nuôi dưỡng công luận đúng đắn. Nhờ vậy, họ tạo ra hoạt động hồng trần cần thiết.
Aspirants, group leaders and thinkers in all parts of the globe can be available for this work, provided their minds are open and focussed. According to the simplicity of their approach to truth, according to the clarity of their thought, according to their group influence and state of inclusive awareness, and according also to their power for long sustained effort will be the approximation of the outer form to the inner idea and the spiritual subjective reality.
Các người chí nguyện, những vị lãnh đạo nhóm và những nhà tư tưởng ở mọi phần của địa cầu có thể sẵn sàng cho công việc này, miễn là thể trí của họ mở rộng và tập trung. Tùy theo sự đơn giản trong cách họ tiếp cận chân lý, tùy theo sự rõ ràng của tư tưởng họ, tùy theo ảnh hưởng nhóm và trạng thái nhận biết bao gồm của họ, và cũng tùy theo quyền năng nỗ lực bền bỉ lâu dài của họ, mà hình tướng bên ngoài sẽ xấp xỉ với ý tưởng bên trong và thực tại chủ quan tinh thần.
The point I seek to make is that the average reader of these Instructions has nothing to do with the formulas. They are grasped and understood by the great Knowers Who stand back of the evolutionary process and are responsible for its functional activity. The hierarchy of Masters, of the senior initiates, and disciples is proceeding steadily with that work but is dependent, under the Law, upon those on the physical plane who are to produce the outer forms. If they fail to respond, there will be delay or incorrect building; if they make mistakes, there will be lost time and energy, and again delay; if they lose interest and cease to work, or are primarily interested in their own affairs and personalities, the Plan will have to wait, and energy which would otherwise be made available for the solving of human problems and the guidance of humanity will have to find its outlet in other directions. There is never anything static in the creative process; energy which is flowing forth in the pulsation of the one Life, and its rhythmic and cyclic activity—never ending and never resting—must be somewhere utilized, and must find its way in some direction, often (when man fails in his duty) with catastrophic results. The problem of cataclysms, the cause, for instance, of the steadily increasing insect peril, will be [462] found to be related to the inflow of unused and unrecognized energy which is capable of right direction and right purpose and for the furthering of the Plan, if the aspirants and disciples of the world will shoulder their group responsibilities, submerge their personalities, and achieve true realization. Humanity must be more diligent and more intelligent in the working out of its true destiny and karmic obligations. When men are universally en rapport with the custodians of the plan and their minds and brains are illumined by the light of the intuition, of the soul and of the universal mind, when they can train themselves to respond intelligently to the timely impulses which cyclically emanate from the inner side of life, then there will be a steady adjustment between life and form and a rapid amelioration of world conditions. It is an interesting point to hear in mind that the first effect of the response of the more advanced of the sons of men to the formulas as translated and transmitted by the Knowers will be the establishing of right relations between the four kingdoms in nature, and right relations between units and groups in the human family. A step in this direction is being made. Relations between the four spheres of activity which we call human, animal, vegetable and mineral are now badly adjusted because the energy of matter is primarily the governing factor. In the human kingdom, the working of this energy demonstrates in what we call selfishness. In the animal kingdom, it demonstrates in what we call cruelty, though, where the sense of responsibility is nonexistent and only instinctual and temporary parental responsibility is found, there is no criticism to be given. In the vegetable kingdom this maladjustment expresses itself during this planetary period of misuse as disease.
Điểm tôi muốn nêu rõ là người đọc trung bình của các Huấn thị này không liên quan gì đến các công thức. Chúng được các đại Thức Giả, những Đấng đứng phía sau tiến trình tiến hoá và chịu trách nhiệm về hoạt động chức năng của tiến trình ấy, nắm bắt và thấu hiểu. Thánh đoàn các Chân sư, các điểm đạo đồ cao cấp và các đệ tử đang đều đặn tiến hành công việc ấy, nhưng theo Định luật, công việc đó tùy thuộc vào những người trên cõi hồng trần, những người phải tạo ra các hình tướng bên ngoài. Nếu họ không đáp ứng, sẽ có sự trì hoãn hoặc việc kiến tạo sai lầm; nếu họ phạm sai lầm, thời gian và năng lượng sẽ bị mất, và lại có sự trì hoãn; nếu họ mất hứng thú và ngừng làm việc, hoặc chủ yếu quan tâm đến các việc riêng và phàm ngã của mình, Thiên Cơ sẽ phải chờ đợi, và năng lượng lẽ ra có thể được dùng để giải quyết các vấn đề nhân loại và hướng dẫn nhân loại sẽ phải tìm lối thoát theo những hướng khác. Không bao giờ có điều gì tĩnh tại trong tiến trình sáng tạo; năng lượng đang tuôn chảy trong nhịp đập của Sự Sống Duy Nhất, và trong hoạt động nhịp nhàng, chu kỳ của nó — không bao giờ chấm dứt và không bao giờ nghỉ ngơi — phải được sử dụng ở đâu đó, và phải tìm đường đi theo một hướng nào đó, thường là với những kết quả thảm khốc khi con người thất bại trong bổn phận của mình. Vấn đề các đại biến động, chẳng hạn nguyên nhân của mối nguy côn trùng ngày càng gia tăng đều đặn, sẽ [462] được thấy là liên hệ với dòng chảy vào của năng lượng không được sử dụng và không được nhận biết, vốn có thể được định hướng đúng đắn, hướng đến mục đích đúng đắn và thúc đẩy Thiên Cơ, nếu các người chí nguyện và đệ tử của thế gian chịu gánh vác các trách nhiệm nhóm của mình, đặt chìm các phàm ngã của mình xuống, và đạt đến sự nhận biết chân thực. Nhân loại phải chuyên cần hơn và thông minh hơn trong việc thực hiện thiên mệnh chân thật và các nghĩa vụ nghiệp quả của mình. Khi con người ở khắp nơi hòa điệu với các vị bảo hộ Thiên Cơ, và thể trí cùng bộ não của họ được soi sáng bởi ánh sáng của trực giác, của linh hồn và của Vũ Trụ Trí; khi họ có thể tự rèn luyện để đáp ứng một cách thông minh với các xung lực đúng thời, vốn phát xuất theo chu kỳ từ mặt bên trong của sự sống, bấy giờ sẽ có một sự điều chỉnh đều đặn giữa sự sống và hình tướng, cùng một sự cải thiện nhanh chóng các điều kiện thế giới. Một điểm thú vị cần ghi nhớ là hiệu quả đầu tiên của sự đáp ứng nơi những người tiến bộ hơn trong những người con của nhân loại đối với các công thức, như đã được các Thức Giả chuyển dịch và truyền đạt, sẽ là việc thiết lập các liên hệ đúng đắn giữa bốn giới trong thiên nhiên, và các liên hệ đúng đắn giữa những đơn vị và các nhóm trong gia đình nhân loại. Một bước theo hướng này đang được thực hiện. Các liên hệ giữa bốn lĩnh vực hoạt động mà chúng ta gọi là nhân loại, động vật, thực vật và kim thạch hiện nay đang bị điều chỉnh rất tệ, bởi năng lượng của vật chất là yếu tố chi phối chủ yếu. Trong giới nhân loại, hoạt động của năng lượng này biểu hiện trong điều chúng ta gọi là lòng ích kỷ. Trong giới động vật, nó biểu hiện trong điều chúng ta gọi là sự tàn ác, dù ở nơi nào ý thức trách nhiệm không tồn tại, và chỉ có trách nhiệm cha mẹ mang tính bản năng và tạm thời, thì không có gì để phê phán. Trong giới thực vật, sự mất điều chỉnh này tự biểu lộ, trong chu kỳ hành tinh lạm dụng này, như bệnh tật.
This surprises you? Disease has its roots primarily in maladjustments and misdirected force in the vegetable kingdom; this affects the animal and mineral kingdoms [463] and subsequently the human. It is too far ahead for this to be demonstrated, but when this condition is understood, it will be in that kingdom in nature that the attention of the investigators must be focussed, and the eradication of disease will eventually find its solution.
Điều này làm các bạn ngạc nhiên chăng? Bệnh tật có gốc rễ chủ yếu trong những mất điều chỉnh và mãnh lực bị định hướng sai trong giới thực vật; điều này ảnh hưởng đến giới động vật và giới kim thạch [463] và sau đó đến giới nhân loại. Còn quá sớm để chứng minh điều này, nhưng khi tình trạng này được thấu hiểu, chính trong giới ấy của thiên nhiên mà sự chú ý của các nhà nghiên cứu phải được tập trung, và cuối cùng việc diệt trừ bệnh tật sẽ tìm thấy lời giải của nó.
II. Pronounce the words which will tell them what to do and where to carry that which has been made.
Hai. Hãy phát âm những lời sẽ bảo cho chúng biết phải làm gì và phải mang điều đã được tạo ra đi đâu.
Let us remember in connection with this Rule that it is only potent in so far as the “worker with the Law” is en rapport with the inner reality within himself, with the soul. It is essential that through him, in full waking consciousness, the soul should be functioning. It is the soul who pronounces the words. It is the soul who utters forth the mystic phrase, but it is the soul as controller or ruler of the mechanism, of the form-apparatus. This control is only possible where there is alignment of the brain and mind and soul. Again, it is necessary to remember that this Rule, being an expression of the creative work, applies to all creative process, whether macrocosmic or microcosmic, whether we are dealing with God as the creator of the solar system, with the soul as the creator of the human mechanism, or with the man as he attempts to master the technique of the magical work and so become a creator of forms in his own little sphere. All have to work out the true significance of the Rule, for God works under the law of His Being, and this Law demonstrates to us as the laws of nature.
Liên quan đến Quy luật này, chúng ta hãy nhớ rằng nó chỉ có uy lực trong mức độ “người hoạt động với Định luật” hòa điệu với thực tại bên trong nơi chính mình, với linh hồn. Điều thiết yếu là qua y, trong tâm thức tỉnh thức trọn vẹn, linh hồn phải đang hoạt động. Chính linh hồn phát âm các lời. Chính linh hồn thốt ra cụm từ thần bí, nhưng đó là linh hồn với tư cách là chủ thể kiểm soát hay cai quản bộ máy, tức bộ máy-hình tướng. Sự kiểm soát này chỉ có thể có khi bộ não, thể trí và linh hồn được chỉnh hợp. Một lần nữa, cần nhớ rằng Quy luật này, vì là một biểu hiện của công việc sáng tạo, áp dụng cho mọi tiến trình sáng tạo, dù thuộc Đại thiên địa hay Tiểu thiên địa, dù chúng ta đang đề cập đến Thượng đế với tư cách Đấng sáng tạo hệ mặt trời, đến linh hồn với tư cách Đấng sáng tạo bộ máy nhân loại, hay đến con người khi y cố gắng làm chủ kỹ thuật của công tác huyền thuật và nhờ đó trở thành một nhà sáng tạo hình tướng trong khối cầu nhỏ bé của riêng mình. Tất cả đều phải thực hiện thâm nghĩa chân thật của Quy luật, vì Thượng đế hoạt động dưới định luật của Bản Thể Ngài, và Định luật này biểu hiện với chúng ta như các định luật của thiên nhiên.
The ideas of ordered activity and of a conscious and purposeful goal are bound up in the phrase we are considering. The builder of any form is first of all a controller of lives and the arbiter of the destinies of certain entities. In this thought we have light thrown upon the subject of free will and upon the Law of Cause and Effect. It must not be forgotten however that the mystery of causes lies hid in past universes—all, in their day, the “forms indwelt by God”. For us there can be no such [464] thing as pure cause, but only the working out of major effects. Just as for us such a reality as pure reason is totally incomprehensible and unattainable, so with pure cause. These factors antedate our solar system and therefore speculation about them remains unrewarded, except in so far as it tends to develop the mental apparatus. This solar system is a system of effects, which in their turn generate causes. Only in the human family and only among those human beings who are consciously using mind power are any causes of any kind being generated. All causes, being initiated by a mind of some kind, functioning consciously and thinking clearly, posit a Thinker, and this is profoundly the position of the occult sciences. Our solar system is a thought-form but one having real existence just as long as thought persists. All that is forms part of the current of ideas emanating from the divine Thinker. All thoughts are part of a divine stream. The mass of people think not, and so do not generate causes that must in due time produce their effect.
Các ý tưởng về hoạt động có trật tự và về một mục tiêu có ý thức, có chủ đích, được gắn liền trong cụm từ mà chúng ta đang xem xét. Đấng kiến tạo bất kỳ hình tướng nào trước hết là một chủ thể kiểm soát các sự sống và là người phân xử số phận của một số thực thể nhất định. Trong tư tưởng này, chúng ta có ánh sáng chiếu rọi lên đề tài ý chí tự do và Định luật Nhân Quả. Tuy nhiên, không được quên rằng bí nhiệm của các nguyên nhân nằm ẩn trong các vũ trụ quá khứ — tất cả, vào thời của chúng, đều là “những hình tướng được Thượng đế nội trú”. Đối với chúng ta, không thể có [464] điều gì gọi là nguyên nhân thuần túy, mà chỉ có sự triển khai của các hiệu quả lớn. Cũng như đối với chúng ta, một thực tại như lý trí thuần túy hoàn toàn không thể thấu hiểu và không thể đạt tới, nguyên nhân thuần túy cũng vậy. Các yếu tố này có trước hệ mặt trời của chúng ta, và do đó mọi suy đoán về chúng vẫn không đem lại kết quả, ngoại trừ trong chừng mực nó có khuynh hướng phát triển bộ máy trí tuệ. Hệ mặt trời này là một hệ thống của các hiệu quả, mà đến lượt chúng lại sinh ra các nguyên nhân. Chỉ trong gia đình nhân loại, và chỉ nơi những con người đang sử dụng quyền năng thể trí một cách có ý thức, mới có bất kỳ nguyên nhân thuộc loại nào được tạo ra. Tất cả các nguyên nhân, vì được khởi phát bởi một loại thể trí nào đó đang hoạt động có ý thức và suy nghĩ rõ ràng, đều giả định có một Chủ Thể Tư Duy, và đây chính là lập trường sâu xa của các khoa học huyền bí. Hệ mặt trời của chúng ta là một hình tư tưởng, nhưng là hình tư tưởng có sự hiện hữu thực sự bao lâu tư tưởng còn tiếp diễn. Tất cả những gì hiện hữu đều là một phần của dòng ý tưởng phát xuất từ Chủ Thể Tư Duy thiêng liêng. Mọi tư tưởng đều là một phần của một dòng chảy thiêng liêng. Đại đa số con người không tư duy, và do đó không tạo ra các nguyên nhân mà đến đúng lúc phải sản sinh hiệu quả của chúng.
You ask, where then the truth of the statement made in many occult modern books that the trend of life or cycle of lives indicates necessarily the future, and that the causes initiated in one life work out as effects in another? Where lives are predominantly emotional and are physically oriented, it is not a particular life that sets the pace but the group of lives, simultaneously interacting with each other, predisposes the future along certain lines. This is eternally true of all human beings at a certain level of conscious development where they are swayed by mass ideas, moulded unthinkingly by tradition and public opinion, are frankly immersed in selfish interests, and are not “taking hold” of conditions themselves but are being carried forward on the tide of evolution. It is a form of group activity (groups governed by the vibration of physical and astral forms) which produces the [465] characteristics and tendencies which cause the situation and environing circumstances. In this realization lies hid the secret of racial and national karma and conditions. In these groups, the ordinary feeling, active man is immersed, and out of this immersion he must find his way by discovering and using his mind. Instinct must give place to intellect. For cycles of lives, groups of souls incarnate through the pull of the material forms towards which they are attracted. These attractive energies have earlier been utilized by the soul—finally being discarded and disintegrated. It is the potency of form which in the first case draws the soul into incarnation, for in the first half of the evolutionary process matter—highly organized in a previous solar system—is the dominant factor. Later, we know, spirit mounts on the shoulder of matter. The mass interplay of spirit and matter is now so potent that one of the major experiences that a soul undergoes is the achieving of the stage wherein the pull of matter begins to wane and the soul learns to detach itself. This is the experience through which humanity is now passing—again a group activity on a higher turn of the spiral.
Các bạn hỏi: vậy đâu là chân lý trong lời khẳng định, được nêu trong nhiều sách huyền bí hiện đại, rằng chiều hướng của một đời sống hay chu kỳ các đời sống tất yếu chỉ ra tương lai, và rằng các nguyên nhân được khởi phát trong một đời sẽ được triển khai như các hiệu quả trong một đời khác? Nơi nào các đời sống chủ yếu mang tính cảm xúc và được định hướng về hồng trần, thì không phải một đời sống riêng biệt ấn định nhịp tiến, mà chính nhóm các đời sống, đồng thời tương tác với nhau, khiến tương lai nghiêng theo một số đường hướng nhất định. Điều này vĩnh viễn đúng đối với mọi con người ở một cấp độ phát triển tâm thức nhất định, nơi họ bị chi phối bởi các ý tưởng quần chúng, bị truyền thống và công luận vô thức uốn nắn, thật sự chìm đắm trong các lợi ích ích kỷ, và không tự mình “nắm lấy” các điều kiện mà bị cuốn theo dòng thủy triều của tiến hoá. Đó là một hình thức hoạt động nhóm, gồm các nhóm được điều khiển bởi rung động của các hình tướng hồng trần và cảm dục, sản sinh ra [465] những đặc tính và khuynh hướng tạo nên hoàn cảnh và các điều kiện bao quanh. Trong sự nhận biết này ẩn giấu bí mật của nghiệp quả và các điều kiện của giống dân và quốc gia. Trong các nhóm này, con người bình thường, cảm xúc và hoạt động, bị chìm đắm; và khỏi sự chìm đắm ấy, y phải tìm đường thoát ra bằng cách khám phá và sử dụng thể trí của mình. Bản năng phải nhường chỗ cho trí năng. Qua nhiều chu kỳ đời sống, các nhóm linh hồn nhập thể bởi sức hút của các hình tướng vật chất mà họ bị hấp dẫn đến. Những năng lượng hấp dẫn này trước đó đã được linh hồn sử dụng — cuối cùng bị loại bỏ và tan rã. Chính quyền năng của hình tướng, trong trường hợp đầu tiên, lôi kéo linh hồn vào nhập thể, vì trong nửa đầu của tiến trình tiến hoá, vật chất — đã được tổ chức cao trong một hệ mặt trời trước — là yếu tố chi phối. Về sau, như chúng ta biết, tinh thần vươn lên trên vai vật chất. Sự tương tác đại chúng giữa tinh thần và vật chất hiện nay mạnh mẽ đến mức một trong những kinh nghiệm lớn mà linh hồn trải qua là đạt đến giai đoạn trong đó sức hút của vật chất bắt đầu suy giảm và linh hồn học cách tách rời chính mình. Đây là kinh nghiệm mà nhân loại hiện đang đi qua — lại là một hoạt động nhóm trên một vòng xoắn cao hơn của đường xoắn ốc.
Large generalizations are indeed safer than the detailed and oft erroneous information anent the rules governing the taking and relinquishing of form, found in much of our puerile literature, but e’en these generalizations should be regarded with much distrust. All that can be posited is that, under the Law of Cause and Effect, spirit and matter coalesced and the worlds were made. Governed by the same law, forms were created and became material expressions of the life urge. They were swept in and out of manifestation according to a rhythmic cyclic beat, initiated in still earlier solar systems, than the one immediately preceding ours. Groups of forms appeared and disappeared, and were governed [466] almost entirely by their group coherence and vibration. So the life progressed through the elemental or involutionary kingdoms, through the three lower kingdoms in nature and on into the human kingdom.
Những khái quát rộng lớn quả thật an toàn hơn các thông tin chi tiết và thường sai lầm về các quy luật chi phối việc tiếp nhận và từ bỏ hình tướng, được thấy trong nhiều tài liệu non nớt của chúng ta; nhưng ngay cả những khái quát này cũng nên được nhìn với nhiều dè dặt. Tất cả những gì có thể nêu ra là, dưới Định luật Nhân Quả, tinh thần và vật chất đã kết hợp, và các thế giới được tạo thành. Được chi phối bởi cùng một định luật, các hình tướng được tạo ra và trở thành những biểu hiện vật chất của xung lực sự sống. Chúng bị cuốn vào và ra khỏi biểu hiện theo một nhịp đập chu kỳ, nhịp nhàng, đã được khởi phát trong các hệ mặt trời còn sớm hơn cả hệ ngay trước hệ của chúng ta. Các nhóm hình tướng xuất hiện và biến mất, và hầu như hoàn toàn bị chi phối [466] bởi sự cố kết nhóm và rung động nhóm của chúng. Như thế, sự sống tiến triển qua các giới hành khí hay các giới giáng hạ tiến hoá, qua ba giới thấp trong thiên nhiên và đi vào giới nhân loại.
In the lower human stages and in the stage of animal man, the same group activity reigns, only (as in the involutionary kingdoms) becoming smaller and smaller groups as the individual units achieve—one by one—the status of truly self-conscious individuals, and begin to work as souls. Then they not only become creators, with the power of standing alone, with the faculty of clear thinking and accurate visualization, but demonstrate also that they are the possessors of the creative art or faculty of creative imagination. They pass through life after life of self-sufficiency in which the personality is developed and used; then they begin to find their subjective group which will eventually take the place of the outer material groups in their consciousness. Thus they regain again group existence, only this time in full awareness and control.
Trong các giai đoạn nhân loại thấp và trong giai đoạn người thú, cùng một hoạt động nhóm vẫn ngự trị, chỉ khác là các nhóm ấy, như trong các giới giáng hạ tiến hoá, trở nên ngày càng nhỏ hơn khi từng đơn vị cá nhân, lần lượt từng người một, đạt đến địa vị những cá nhân thật sự có ngã thức, và bắt đầu hoạt động như các linh hồn. Khi đó họ không chỉ trở thành những nhà sáng tạo, với quyền năng đứng một mình, với năng lực tư duy rõ ràng và hình dung chính xác, mà còn chứng tỏ rằng họ là những người sở hữu nghệ thuật sáng tạo hay năng lực của Sự tưởng tượng sáng tạo. Họ đi qua đời này sang đời khác trong sự tự túc, trong đó phàm ngã được phát triển và sử dụng; rồi họ bắt đầu tìm thấy nhóm nội tại của mình, nhóm cuối cùng sẽ thay thế các nhóm vật chất bên ngoài trong tâm thức của họ. Như thế, họ lại giành lại đời sống nhóm, chỉ khác là lần này trong nhận biết trọn vẹn và trong sự kiểm soát.
In the group with which they find themselves subjectively affiliated, will be found those who have worked with them in the earlier mass state, so that they work in close association with those who have been nearest to them and who have been linked with them in the great life cycle.
Trong nhóm mà họ thấy mình liên kết một cách nội tại, sẽ có những người đã từng làm việc với họ trong trạng thái quần chúng trước kia, đến nỗi họ hoạt động trong sự liên kết mật thiết với những người đã gần gũi nhất với họ và đã được nối kết với họ trong chu kỳ sự sống vĩ đại.
There are certain names given to these stages in the occult archives which are suggestive and illuminating; they are of course symbolic. It might be of interest if I gave some of these ancient cryptic utterances which convey three items of information, namely, the name of the stage, its esoteric colour, and its symbol. I would like to point out, however, that these intriguing pieces of information which I at times convey and which some of the students seem to regard as of vital importance are of [467] far less importance than the injunction to live kindly, speak words of gentleness and of wisdom, and practice self-forgetfulness. The occult data is read and noted, the familiar instructions are skipped and overlooked. We, who work with aspirants, smile oft at the foolishness and lack of judgment evinced by those we teach. Say to a student: Practice with steadfastness the law of loving-kindness, and he will say that indeed he will attempt to do, but within himself the very familiarity of the injunction palls and is deemed, at best, a needed platitude. Say to the student: I will give you some occult phrases or some items of information anent the Great Ones, and with keenness, with excitement, and with smug self-satisfaction and with a pleased curiosity, he prepares for the important revelation. Yet the earlier injunction is the conveyer of occult information and indicates a law which—if rightly followed—leads to release and liberation. The latter concerns phenomena and the knowledge of it leads not the weary pilgrim to the gates of heaven. Some of you need this reminder.
Có một số danh xưng được đặt cho các giai đoạn này trong các văn khố huyền bí, vừa gợi ý vừa soi sáng; dĩ nhiên chúng mang tính biểu tượng. Có lẽ sẽ thú vị nếu tôi đưa ra một vài phát ngôn cổ xưa, bí nhiệm này, vốn truyền đạt ba mục thông tin, đó là tên của giai đoạn, màu sắc huyền bí của nó, và biểu tượng của nó. Tuy nhiên, tôi muốn chỉ ra rằng những mẩu thông tin hấp dẫn này, mà đôi khi tôi truyền đạt và một số đạo sinh dường như xem là có tầm quan trọng thiết yếu, lại [467] kém quan trọng hơn rất nhiều so với huấn lệnh hãy sống nhân ái, nói những lời dịu dàng và minh triết, và thực hành sự quên mình. Dữ liệu huyền bí được đọc và ghi chú; các huấn thị quen thuộc bị bỏ qua và xem nhẹ. Chúng tôi, những người làm việc với các người chí nguyện, thường mỉm cười trước sự khờ dại và thiếu phán đoán được biểu lộ bởi những người chúng tôi dạy. Hãy nói với một đạo sinh: Hãy thực hành bền bỉ định luật của lòng từ ái; y sẽ nói rằng quả thật y sẽ cố gắng làm như vậy, nhưng trong chính y, sự quá quen thuộc của huấn lệnh khiến nó trở nên nhạt nhẽo và, tốt nhất, bị xem là một câu sáo ngữ cần thiết. Hãy nói với đạo sinh ấy: Tôi sẽ trao cho bạn một vài cụm từ huyền bí hoặc một số mục thông tin liên quan đến Các Đấng Cao Cả; và với sự sắc bén, hào hứng, tự mãn kiêu hãnh cùng tò mò thích thú, y chuẩn bị đón nhận sự mặc khải quan trọng. Thế nhưng huấn lệnh trước mới là vật truyền đạt thông tin huyền bí và chỉ ra một định luật mà, nếu được theo đúng, sẽ dẫn đến sự thoát ly và giải thoát. Điều sau liên quan đến các hiện tượng, và tri thức về nó không dẫn người lữ khách mỏi mệt đến các cổng trời. Một số các bạn cần lời nhắc nhở này.
Those stages which precede the human are omitted as none who will read these words possess the equipment to comprehend their inner sense. We will begin therefore with the stages in the human kingdom.
Những giai đoạn trước nhân loại được bỏ qua, vì không ai đọc những lời này có đủ trang bị để thấu hiểu ý nghĩa bên trong của chúng. Do đó, chúng ta sẽ bắt đầu với các giai đoạn trong giới nhân loại.
Stage I
Giai đoạn Một
The life has climbed the stairway long through daily use of form. Through the lesser three, with progress slow, the long path has been travelled. Another door stands open now. The words sound forth: “Enter upon the way of real desire.”
Sự sống đã leo lên chiếc thang dài qua việc sử dụng hình tướng hằng ngày. Qua ba giới thấp, với bước tiến chậm, con đường dài đã được đi qua. Một cánh cửa khác nay đang mở. Những lời vang lên: “Hãy bước vào con đường của dục vọng chân thực.”
The life, that only knows itself as form, enshrouds itself in vivid red, the red of known desire, and through the red all longed-for forms approach, are grasped and held, used and discarded, until the red changes to rose [468] and rose to palest pink, and pink to white. Forth flowers then the pure white rose of life.
Sự sống, vốn chỉ biết chính nó như hình tướng, tự bao phủ trong màu đỏ rực rỡ, màu đỏ của dục vọng đã biết; và xuyên qua màu đỏ ấy, mọi hình tướng được khao khát tiến đến, bị nắm lấy và giữ lại, được sử dụng rồi bị loại bỏ, cho đến khi màu đỏ chuyển thành màu hồng [468] và màu hồng thành hồng phớt nhạt nhất, rồi hồng phớt thành trắng. Bấy giờ hoa hồng trắng tinh khiết của sự sống nở ra.
The tiny rose of living life is seen in bud; not yet the full blown flower.
Đóa hồng nhỏ bé của sự sống đang sống được thấy trong nụ; chưa phải là bông hoa nở trọn.
Stage II
Giai đoạn Hai
The picture changes form. Another voice, coming from close at hand utters another phrase. The life continues on its way. “Enter the field where children play and join their game.” Awakened to the game of life, the soul passes the gate.
Bức tranh đổi dạng. Một tiếng nói khác, đến từ gần bên, thốt ra một cụm từ khác. Sự sống tiếp tục con đường của nó. “Hãy bước vào cánh đồng nơi trẻ thơ vui chơi và tham gia trò chơi của chúng.” Được đánh thức trước trò chơi của sự sống, linh hồn đi qua cổng.
The field is green and on its broad expanse the many forms of the one moving Life disport themselves; they weave the dance of life, the many patterned forms God takes. The soul enters “the playground of the Lord” and plays thereon until he sees the star with five bright points, and says: “My Star.”
Cánh đồng xanh tươi, và trên khoảng rộng lớn của nó, nhiều hình tướng của một Sự Sống đang vận động nô đùa; chúng dệt nên vũ điệu của sự sống, những hình tướng đa dạng mà Thượng đế khoác lấy. Linh hồn bước vào “sân chơi của Chúa” và chơi ở đó cho đến khi y thấy ngôi sao có năm điểm sáng, và nói: “Ngôi Sao của tôi.”
The star is but a point of light, not yet a radiant sun.
Ngôi sao chỉ là một điểm sáng, chưa phải một mặt trời rực rỡ.
Stage III
Giai đoạn Ba
The way of red desire fails. It loses its allure. The playground of the sons of God no longer holds appeal. The voice which has twice sounded from out the world of form sounds now within the heart. The challenge comes: “Prove thine own worth. Take to thyself the orange ball of thy one-pointed purpose.” Responsive to the sounded word, the living soul, immersed in form, emerges from the many forms and hews its onward way. The way of the destroyer comes, the builder and again the tearer down of forms. The broken forms hold not the power to satisfy. The soul’s own form is now the great desire, and thus there comes the entering of the playground of the mind.
Con đường của dục vọng đỏ thẫm thất bại. Nó mất đi sức quyến rũ. Sân chơi của những người con của Thượng đế không còn hấp dẫn. Tiếng nói đã hai lần vang lên từ thế giới hình tướng nay vang trong tim. Lời thách thức đến: “Hãy chứng tỏ giá trị của chính ngươi. Hãy nhận lấy quả cầu cam của mục đích nhất tâm của ngươi.” Đáp ứng với lời đã vang lên, linh hồn sống động, chìm đắm trong hình tướng, trồi lên khỏi nhiều hình tướng và tự mở đường tiến tới. Con đường của kẻ phá hủy đến, của đấng kiến tạo và lại của kẻ phá bỏ các hình tướng. Các hình tướng tan vỡ không còn quyền năng thỏa mãn. Hình tướng riêng của linh hồn nay là dục vọng lớn lao, và như thế có sự bước vào sân chơi của thể trí.
But in these dreams and fantasies, at times a vision comes—a vision of a folded lotus flower, close petalled, [469] tightly sealed, lacking aroma yet, but bathed in cold blue light.
Nhưng trong những giấc mơ và ảo ảnh này, đôi khi một linh ảnh xuất hiện — linh ảnh về một hoa sen khép lại, các cánh hoa đóng kín, [469] niêm kín chặt chẽ, chưa có hương thơm, nhưng được tắm trong ánh sáng xanh lạnh.
Orange and blue in some more distant time will blended be, but far off yet the date. Their blending bathes the bud in light and causes future opening. Let the light shine.
Màu cam và màu xanh trong một thời xa hơn sẽ được hòa quyện, nhưng ngày ấy còn xa. Sự hòa quyện của chúng tắm nụ hoa trong ánh sáng và gây nên sự khai mở tương lai. Hãy để ánh sáng chiếu rọi.
Stage IV
Giai đoạn Bốn
Into the dark the life proceeds. A different voice seems to sound forth. “Enter the cave and find your own; walk in the dark and on your head carry a lighted lamp.” The cave is dark and lonely; cold is it and a place of many sounds and voices. The voice of the many sons of God, left playing on the playground of the Lord, make their appeal for light. The cave is long and narrow. The air is full of fog. The sound of running water meets the rushing sound of wind, and frequent roll of thunder.
Sự sống tiến vào bóng tối. Một tiếng nói khác dường như vang lên. “Hãy bước vào hang động và tìm người của ngươi; hãy đi trong bóng tối và trên đầu ngươi mang một ngọn đèn sáng.” Hang động tối tăm và cô độc; nó lạnh lẽo và là nơi có nhiều âm thanh cùng tiếng nói. Tiếng nói của nhiều người con của Thượng đế, bị bỏ lại vui chơi trên sân chơi của Chúa, cất lời kêu gọi ánh sáng. Hang động dài và hẹp. Không khí đầy sương mù. Âm thanh nước chảy gặp tiếng gió rít, và tiếng sấm thường vang rền.
Far off, dim and most vaguely seen, appears an oval opening, its color blue. Stretched athwart this space of blue, a rosy cross is seen, and at the centre of the cross, where four arms meet, a rose. Upon the upper limb, a vibrant diamond shines, within a star five-pointed.
Xa xa, mờ nhạt và được thấy hết sức lờ mờ, hiện ra một cửa mở hình bầu dục, màu xanh. Trải ngang khoảng không xanh ấy, một thập giá hồng được thấy, và ở trung tâm của thập giá, nơi bốn cánh tay gặp nhau, có một đóa hồng. Trên nhánh trên, một viên kim cương rung động tỏa sáng, nằm trong một ngôi sao năm cánh.
The living soul drives forward towards the cross which bars his way to life, revealed and known.
Linh hồn sống động thúc mình tiến về phía thập giá đang chắn đường y đến sự sống, đã được mặc khải và được biết.
Not yet the cross is mounted and therefore left behind. But onward goes the living soul, eyes fixed upon the cross, ears open to the wailing cries of all his brother souls.
Thập giá chưa được leo lên và do đó chưa bị bỏ lại phía sau. Nhưng linh hồn sống động vẫn tiến tới, mắt cố định trên thập giá, tai mở ra trước những tiếng khóc than của mọi linh hồn huynh đệ của y.
Stage V
Giai đoạn Năm
Out into radiant life and light! The cave is left behind; the cross is overturned; the way stands clear. The word sounds clear within the head and not within the heart. “Enter again the playground of the Lord and this time lead the games.” The way upon the second [470] tier of stairs stands barred, this by the soul’s own act. No longer red desire governs all the life, but now the clear blue flame burns strong. Upon the bottom step of the barred Way he turns back and passes down the stairs on to the playground, meeting dead shells built in an earlier stage, stepping upon forms discarded and destroyed, and holding forth the hands of helpfulness. Upon his shoulder sits the bird of peace; upon his feet the sandals of the messenger.
Bước ra vào sự sống và ánh sáng rạng rỡ! Hang động bị bỏ lại phía sau; thập giá bị lật ngược; con đường mở rõ. Linh từ vang rõ trong đầu chứ không trong tim. “Hãy bước vào lại sân chơi của Chúa, và lần này hãy dẫn dắt các trò chơi.” Con đường trên tầng [470] thang thứ hai bị chắn lại, điều này do chính hành động của linh hồn. Dục vọng đỏ thẫm không còn chi phối toàn bộ sự sống nữa, mà nay ngọn lửa xanh trong sáng cháy mạnh. Trên bậc thấp nhất của Con Đường bị chắn, y quay lại và đi xuống các bậc thang đến sân chơi, gặp những lớp vỏ chết đã được xây dựng trong một giai đoạn trước, bước lên các hình tướng đã bị loại bỏ và phá hủy, và đưa ra đôi tay trợ giúp. Trên vai y đậu con chim hòa bình; nơi chân y là đôi dép của sứ giả.
Not yet the utter glory of the radiant life! Not yet the entering into everlasting peace! But still the work, and still the lifting of the little ones.
Chưa phải vinh quang trọn vẹn của sự sống rạng rỡ! Chưa phải sự bước vào an bình vĩnh cửu! Nhưng vẫn còn công việc, và vẫn còn việc nâng đỡ những kẻ bé nhỏ.
Here in symbolic form we have pictures of human life and progress, of life in form and growing through the building process which marks the creative work. It is only a bald translation of some mantric phrases, and of some basic symbols, and must in no way be considered to be anything except indicative of a process, veiled and couched so that only those who know can understand. Esotericists will understand that these five stages cover the life period of every form, no matter whether the creator is cosmic, planetary or human.
Ở đây, trong hình thức biểu tượng, chúng ta có những bức tranh về đời sống và tiến bộ của nhân loại, về sự sống trong hình tướng và sự tăng trưởng qua tiến trình kiến tạo vốn đánh dấu công việc sáng tạo. Đây chỉ là một bản chuyển dịch sơ lược của một vài cụm mantram và một số biểu tượng căn bản, và tuyệt đối không được xem là gì khác ngoài sự chỉ dẫn về một tiến trình, được che phủ và diễn đạt sao cho chỉ những người biết mới có thể thấu hiểu. Các nhà bí truyền học sẽ thấu hiểu rằng năm giai đoạn này bao trùm chu kỳ sống của mọi hình tướng, bất kể đấng sáng tạo là vũ trụ, hành tinh hay nhân loại.
Every form is built by an impulsive spark of life, emanated by a creator, and growing stage by stage under the law of accretion—an aspect of the law of attraction, which is the law of life. This law cooperates with the Law of Cause and Effect, which, as we know, is the law governing matter. Cause, attraction or desire, accretion and effect—these four words govern the construction of any thought-form. When the latter is a completed entity, it is an effect built by accretion under the power of an organized cause.
Mọi hình tướng đều được xây dựng bởi một tia lửa sự sống thôi thúc, phát xuất từ một đấng sáng tạo, và tăng trưởng từng giai đoạn dưới định luật bồi tụ — một phương diện của định luật hấp dẫn, vốn là định luật của sự sống. Định luật này hợp tác với Định luật Nhân Quả, mà như chúng ta biết, là định luật chi phối vật chất. Nguyên nhân, hấp dẫn hay dục vọng, bồi tụ và hiệu quả — bốn từ này chi phối việc kiến tạo bất kỳ hình tư tưởng nào. Khi hình tư tưởng ấy là một thực thể hoàn tất, nó là một hiệu quả được xây dựng bằng sự bồi tụ dưới quyền năng của một nguyên nhân có tổ chức.
The race has evolved now to a point where we think of effects primarily in terms of quality rather than in terms of matter. A thought-form exists for us in order [471] to produce an effect. The raison d’être of all forms we have come to feel is to express some subjective quality which will give us the key to its creator’s purpose. Ponder on these words. Hence, we find in this Rule XI that the purpose of the word pronounced is to tell the lives which constitute the form “what to do and where to carry that which has been made.” Thus we find the idea of purpose, activity and goal.
Nhân loại nay đã tiến hoá đến một điểm mà chúng ta nghĩ về các hiệu quả chủ yếu theo phẩm tính hơn là theo vật chất. Một hình tư tưởng hiện hữu đối với chúng ta nhằm [471] tạo ra một hiệu quả. Chúng ta đã dần cảm nhận rằng lý do hiện hữu của mọi hình tướng là để biểu lộ một phẩm tính nội tại nào đó, phẩm tính ấy sẽ trao cho chúng ta chìa khóa đến mục đích của đấng sáng tạo nó. Hãy suy ngẫm những lời này. Vì thế, trong Quy luật Mười Một này, chúng ta thấy rằng mục đích của linh từ được phát âm là để bảo cho các sự sống cấu thành hình tướng “phải làm gì và phải mang điều đã được tạo ra đi đâu”. Như vậy, chúng ta thấy có ý tưởng về mục đích, hoạt động và mục tiêu.
There is no need for me to add to the vast amount of literature which has been put forth or to emphasize the significance of purpose in connection with such a thoughtform as a solar system, a planet, a kingdom in nature or a human being. In some respects this subjective triplicity of purpose, activity and goal is well known and in others it is of too high and too inscrutable a nature for us to deal with in these Instructions and wander into the realms of speculation. With the goal, religion has long sought to deal; with the activity aspect, the scientist is now attempting to deal; and with the Will of God the most advanced thinkers and philosophers are constantly speculating. Only when man submits himself to the discipline of his own spiritual will and controls the activity of the lives within his form nature and so orients himself to the goal as it progressively makes its appeal to his vision, will he arrive at a true understanding of the plan, which constitutes the will of God as far as human beings can grasp it.
Tôi không cần thêm vào khối lượng văn liệu bao la đã được đưa ra, hoặc nhấn mạnh thâm nghĩa của mục đích liên quan đến một hình tư tưởng như hệ mặt trời, một hành tinh, một giới trong thiên nhiên hay một con người. Theo một vài phương diện, bộ ba nội tại này gồm mục đích, hoạt động và mục tiêu đã được biết rõ; theo những phương diện khác, nó có bản chất quá cao và quá bí hiểm để chúng ta bàn đến trong các Huấn thị này và lang thang vào các lãnh vực suy đoán. Từ lâu, tôn giáo đã tìm cách bàn đến mục tiêu; nhà khoa học nay đang cố gắng bàn đến phương diện hoạt động; còn các nhà tư tưởng và triết gia tiến bộ nhất thì không ngừng suy đoán về Ý Chí của Thượng Đế. Chỉ khi con người tự đặt mình dưới kỷ luật của ý chí tinh thần của chính y, kiểm soát hoạt động của các sự sống bên trong bản chất hình tướng của y, và nhờ đó tự định hướng về mục tiêu khi mục tiêu ấy dần dần kêu gọi tầm nhìn của y, bấy giờ y mới đạt đến sự thấu hiểu chân thật về Thiên Cơ, vốn cấu thành Ý Chí của Thượng Đế trong phạm vi con người có thể nắm bắt.
But with the thought-forms which he is beginning to create as he daily learns to think, we can concern ourselves for it is the first lesson soon to be learnt in the magical work. The creator in mental matter has:
Nhưng chúng ta có thể quan tâm đến các hình tư tưởng mà y bắt đầu tạo ra khi hằng ngày học cách tư duy, vì đó là bài học đầu tiên sắp được học trong công tác huyền thuật. Đấng sáng tạo trong chất liệu trí tuệ phải:
a. To learn to build intelligently.
Một là, học cách kiến tạo một cách thông minh.
b. To give the impulse, through right speech which will animate that which he has built, and so enable the thought-form to convey the intended idea. [472]
Hai là, trao xung lực, thông qua lời nói đúng đắn, để làm linh hoạt điều y đã xây dựng, và nhờ đó khiến hình tư tưởng có thể truyền đạt ý tưởng được dự định. [472]
c. To send out his thought-form correctly oriented to his goal, and so truly directed that it will reach the objective and accomplish its sender’s purpose.
Ba là, phóng xuất hình tư tưởng của mình, được định hướng đúng đắn đến mục tiêu của y, và được chỉ đạo chân thật đến mức nó sẽ đạt tới đối tượng và hoàn thành mục đích của người phóng xuất nó.
The necessity for clear thinking and the elimination of idle, destructive and negative thoughts becomes increasingly apparent as the aspirant progresses upon his way. As the power of the mind increases and as the human being differentiates his thought increasingly from mass thought, he inevitably builds thought substance into form. It is at first automatic and unconscious. He cannot help so doing, and fortunately, for the race, the forms constructed are so feeble that they are largely innocuous, or so in line with mass thought that they are negligible in their effect. But as man evolves his power and his capacity to harm or to help increases, and unless he learns to build rightly and correctly to motivate that which he has built he will become a destructive agency and a centre of harmful force—destroying and harming not only himself, as we shall see shortly, but equally hurting and harming those who vibrate to his note.
Nhu cầu tư duy rõ ràng và loại bỏ các tư tưởng vô ích, phá hoại và tiêu cực trở nên ngày càng hiển nhiên khi người chí nguyện tiến bước trên đường mình. Khi quyền năng của thể trí gia tăng và khi con người ngày càng phân biệt tư tưởng của mình với tư tưởng quần chúng, y tất yếu xây dựng chất liệu tư tưởng thành hình tướng. Lúc đầu việc ấy là tự động và vô thức. Y không thể không làm như vậy, và may thay cho nhân loại, các hình tướng được kiến tạo quá yếu nên phần lớn vô hại, hoặc quá phù hợp với tư tưởng quần chúng nên hiệu quả của chúng không đáng kể. Nhưng khi con người tiến hoá, quyền năng và khả năng gây hại hay giúp đỡ của y gia tăng; và nếu y không học cách kiến tạo đúng đắn, cũng như đặt động cơ đúng đắn cho điều y đã xây dựng, y sẽ trở thành một tác nhân phá hoại và một trung tâm của mãnh lực có hại — không chỉ hủy hoại và làm tổn thương chính mình, như chúng ta sẽ sớm thấy, mà còn gây tổn thương và hại đến những người rung động theo âm điệu của y.
Granted all this you might appositely inquire: Are there some simple rules which the earnest and sincere beginner could apply to this science of building and which are so clear and concise that they will produce the needed effect? There are, and I will state them simply so that the beginner will, if he follows them, escape the dangers of black magic, and learn to build in line with the plan. He will, if he follows the rules I give, avoid the intricate problem which he has himself blindly constructed and which will indeed shut out the light of day, darken his world, and imprison him in a wall of forms which will embody for him his own peculiar great illusion.
Thừa nhận tất cả những điều này, các bạn có thể hỏi một cách thích đáng: Có những quy luật đơn giản nào mà người sơ cơ nghiêm túc và chân thành có thể áp dụng vào khoa học kiến tạo này, những quy luật rõ ràng và súc tích đến mức chúng sẽ tạo ra hiệu quả cần thiết chăng? Có, và tôi sẽ trình bày chúng một cách đơn giản để người sơ cơ, nếu y noi theo, sẽ tránh được các nguy hiểm của Hắc thuật và học cách kiến tạo phù hợp với Thiên Cơ. Nếu y noi theo các quy luật tôi đưa ra, y sẽ tránh được vấn đề phức tạp mà chính y đã mù quáng xây dựng, và điều đó quả thật sẽ che khuất ánh sáng ban ngày, làm tối thế giới của y, và giam giữ y trong một bức tường hình tướng, vốn đối với y sẽ hiện thân cho đại ảo tưởng riêng biệt của chính y.
These rules may sound too simple for the learned aspirant but for those who are willing to become as little children they will be found to be a safe guide into truth [473] and will eventually make them able to pass the tests for adeptship. Some are couched in terms symbolic, others are necessarily blinds, still others express the truth just as it is.
Các quy luật này có thể nghe quá đơn giản đối với người chí nguyện uyên bác, nhưng đối với những ai sẵn lòng trở nên như trẻ thơ, chúng sẽ được thấy là một hướng dẫn an toàn vào chân lý [473] và cuối cùng sẽ khiến họ có khả năng vượt qua các thử thách để đạt địa vị chân sư. Một số được diễn đạt bằng ngôn ngữ biểu tượng, số khác tất yếu là những màn che, lại có số khác biểu lộ chân lý đúng như nó là.
1. View the world of thought, and separate the false out of the true.
1. Hãy quan sát thế giới tư tưởng, và tách điều giả khỏi điều thật.
2. Learn the meaning of illusion, and in its midst locate the golden thread of truth.
2. Hãy học ý nghĩa của ảo tưởng, và giữa lòng nó hãy định vị sợi dây vàng của chân lý.
3. Control the body of emotion for the waves that rise upon the stormy seas of life engulf the swimmer, shut out the sun and render all plans futile.
3. Hãy kiểm soát thể cảm xúc, vì những đợt sóng nổi lên trên biển đời bão tố sẽ nhấn chìm người bơi, che khuất mặt trời và làm mọi kế hoạch trở nên vô ích.
4. Discover that thou hast a mind and learn its dual use.
4. Hãy khám phá rằng ngươi có một thể trí và học cách sử dụng kép của nó.
5. Concentrate the thinking principle, and be the master of thy mental world.
5. Hãy tập trung nguyên khí tư duy, và trở thành chủ nhân của thế giới trí tuệ của ngươi.
6. Learn that the thinker and his thought and that which is the means of thought are diverse in their nature, yet one in ultimate reality.
6. Hãy học rằng chủ thể tư duy, tư tưởng của y, và cái là phương tiện của tư tưởng, khác nhau trong bản chất, nhưng là một trong thực tại tối hậu.
7. Act as the thinker, and learn it is not right to prostitute thy thought to the base use of separative desire.
7. Hãy hành động như chủ thể tư duy, và học rằng không đúng khi đem tư tưởng của ngươi làm công cụ cho việc sử dụng thấp hèn của dục vọng chia rẽ.
8. The energy of thought is for the good of all and for the furtherance of the Plan of God. Use it not therefore for thy selfish ends.
8. Năng lượng của tư tưởng là vì lợi ích của tất cả và vì sự thúc đẩy Thiên Cơ của Thượng đế. Vì vậy, đừng dùng nó cho các mục đích ích kỷ của ngươi.
9. Before a thought-form is by thee constructed, vision its purpose, ascertain its goal, and verify the motive.
9. Trước khi ngươi kiến tạo một hình tư tưởng, hãy hình dung mục đích của nó, xác định mục tiêu của nó, và kiểm chứng động cơ.
10. For thee, the aspirant on the way of life, the way of conscious building is not yet the goal. The work of cleaning out the atmosphere of thought, of barring fast the doors of thought to hate and pain, to fear, and jealousy and low desire, must first precede the conscious work of building. See to thy aura, oh traveler on the way.
10. Đối với ngươi, người chí nguyện trên con đường sự sống, con đường kiến tạo có ý thức chưa phải là mục tiêu. Công việc làm sạch bầu khí quyển tư tưởng, khóa chặt các cánh cửa tư tưởng trước hận thù và đau khổ, trước sợ hãi, ghen tị và dục vọng thấp hèn, trước hết phải đi trước công việc kiến tạo có ý thức. Hãy chăm nom hào quang của ngươi, hỡi lữ khách trên đường.
11. Watch close the gates of thought. Sentinel desire. [474] Cast out all fear, all hate, all greed. Look out and up.
11. Hãy canh giữ kỹ các cổng của tư tưởng. Hãy canh chừng dục vọng. [474] Hãy trục xuất mọi sợ hãi, mọi hận thù, mọi tham lam. Hãy nhìn ra ngoài và hướng lên.
12. Because the life is mostly centered on the plane of concrete life, thy words and speech will indicate thy thought. To these pay close attention.
12. Vì sự sống phần lớn được tập trung trên cõi của đời sống cụ thể, lời nói và ngôn từ của ngươi sẽ chỉ ra tư tưởng của ngươi. Hãy chú ý kỹ đến chúng.
13. Speech is of triple kind. The idle words will each produce effect. If good and kind, naught need be done. If otherwise, the paying of the price cannot be long delayed.
13. Lời nói có ba loại. Những lời vô ích mỗi lời đều sẽ tạo ra hiệu quả. Nếu tốt lành và tử tế, không cần làm gì. Nếu ngược lại, việc trả giá không thể bị trì hoãn lâu.
The selfish words, sent forth with strong intent, build up a wall of separation. Long time it takes to break that wall and so release the stored-up, selfish purpose. See to thy motive, and seek to use those words which blend the little life with the large purpose of the will of God.
Những lời ích kỷ, được phóng ra với ý định mạnh mẽ, xây dựng một bức tường chia rẽ. Phải mất thời gian dài để phá vỡ bức tường ấy và nhờ đó giải phóng mục đích ích kỷ đã tích chứa. Hãy xem xét động cơ của ngươi, và tìm cách sử dụng những lời hòa nhập sự sống nhỏ bé với mục đích lớn lao của Ý Chí của Thượng Đế.
The word of hate, the cruel speech which ruins those who feel its spell, the poisonous gossip, passed along because it gives a thrill—these words kill the flickering impulses of the soul, cut at the roots of life, and so bring death.
Lời hận thù, lời nói tàn nhẫn hủy hoại những người cảm nhận bùa lực của nó, chuyện ngồi lê độc hại được truyền đi vì nó đem lại sự kích thích — những lời ấy giết chết các xung lực lập lòe của linh hồn, chặt đứt gốc rễ của sự sống, và như thế đem lại cái chết.
If spoken in the light of day, just retribution will they bring; when spoken and then registered as lies, they strengthen that illusory world in which the speaker lives and holds him back from liberation.
Nếu được nói ra trong ánh sáng ban ngày, chúng sẽ đem lại sự báo ứng công bằng; khi được nói ra rồi được ghi nhận như những lời dối trá, chúng củng cố thế giới ảo tưởng trong đó người nói sống và giữ y lại khỏi sự giải thoát.
If uttered with intent to hurt, to bruise and kill, they wander back to him who sent them forth and him they bruise and kill.
Nếu được thốt ra với ý định làm tổn thương, làm bầm dập và giết chết, chúng sẽ quay trở lại với người đã phóng chúng ra, và chính y bị chúng làm bầm dập và giết chết.
14. The idle thought, time selfish thought, the cruel hateful thought if rendered into word produce a prison, poison all the springs of life, lead to disease, and cause disaster and delay. Therefore, be sweet and kind and good as far as in thee lies. Keep silence and the light will enter in.
14. Tư tưởng vô ích, tư tưởng ích kỷ, tư tưởng tàn nhẫn đầy hận thù, nếu được chuyển thành lời, sẽ tạo ra một nhà tù, đầu độc mọi nguồn mạch của sự sống, dẫn đến bệnh tật, và gây nên tai họa cùng trì hoãn. Vì vậy, hãy dịu dàng, tử tế và tốt lành hết mức trong khả năng ngươi. Hãy giữ im lặng và ánh sáng sẽ đi vào.
15. Speak not of self. Pity not thy fate. The thoughts of self and of thy lower destiny prevent the inner [475] voice of thine own soul from striking upon thine ear. Speak of the soul; enlarge upon the plan; forget thyself in building for the world. Thus is the law of form offset. Thus can the rule of love enter upon that world.
15. Đừng nói về bản thân. Đừng thương hại số phận của ngươi. Các tư tưởng về bản thân và về định mệnh thấp của ngươi ngăn tiếng nói [475] bên trong của chính linh hồn ngươi chạm đến tai ngươi. Hãy nói về linh hồn; hãy mở rộng về Thiên Cơ; hãy quên mình trong việc kiến tạo cho thế giới. Như thế, định luật của hình tướng được hóa giải. Như thế, quy luật của tình thương có thể đi vào thế giới ấy.
These simple rules will lay right foundations for the carrying forward of the magical work, and will render the mental body so clear and so powerful that right motive will control and true work in building will be possible.
Những quy luật đơn giản này sẽ đặt các nền tảng đúng đắn cho việc tiến hành công tác huyền thuật, và sẽ khiến thể trí trở nên trong sáng và mạnh mẽ đến mức động cơ đúng đắn sẽ kiểm soát, và công việc chân thật trong kiến tạo sẽ trở nên khả hữu.
Much of the significance of this rule must remain theoretical, and be considered as holding a challenge until such time as the real magical work of thought-form building becomes universally possible. The formula, as we have seen, will remain unknown to all save the members of the Hierarchy of Adepts for long ages to come. The directional words are capable of ascertainment, but only to those who are working consciously under the guidance of their own souls, and who, through mind control merging into deep meditation, can manipulate the matter of thought and become “knowing creators.” These can, and do, speak the impulsive words which bring into being those new forms and organisms, those expressions of ideas and those organisations which live their life cycle and serve their purpose, and so come, duly, to their timely and appointed end. These creators are the leaders and organisers, the teachers and the guides in all phases of human living. Their sound does go forth into all lands and their note is internationally recognised. Hundreds of such names are easily remembered and spring unhidden to the mind. They live in the memory of the multitude and that which lives is the sound of their accomplishment, be that good or bad.
Phần lớn thâm nghĩa của quy luật này phải còn mang tính lý thuyết, và được xem như một thách thức cho đến khi công tác huyền thuật thực sự của việc kiến tạo hình tư tưởng trở nên khả hữu một cách phổ quát. Công thức, như chúng ta đã thấy, sẽ vẫn không được biết đến đối với tất cả, ngoại trừ các thành viên của Thánh đoàn Chân sư, trong nhiều thời đại dài sắp tới. Những lời định hướng có thể được xác định, nhưng chỉ bởi những ai đang làm việc một cách có ý thức dưới sự hướng dẫn của chính linh hồn mình, và qua sự kiểm soát thể trí hòa nhập vào tham thiền sâu xa, có thể vận dụng vật chất của tư tưởng và trở thành “những nhà sáng tạo hiểu biết”. Những người này có thể, và thật sự, nói ra những lời thôi thúc đem vào hiện hữu các hình tướng và cơ cấu mới, những biểu hiện của các ý tưởng và những tổ chức sống trọn chu kỳ đời sống của mình, phụng sự mục đích của mình, và như thế, đúng lúc, đi đến kết thúc hợp thời và được ấn định. Những nhà sáng tạo này là các nhà lãnh đạo và tổ chức, các huấn sư và người hướng dẫn trong mọi giai đoạn của đời sống nhân loại. Âm thanh của họ quả thật vang đi khắp mọi vùng đất, và âm điệu của họ được nhận biết trên bình diện quốc tế. Hàng trăm danh xưng như thế dễ dàng được nhớ đến và tự nhiên hiện lên trong thể trí. Họ sống trong ký ức của quần chúng, và điều sống còn chính là âm thanh của thành tựu của họ, dù tốt hay xấu.
But in the sentence which we must consider we find portrayed a universal function, even though it is as yet [476] carried forward for the most part unconsciously. The words to be dealt with are as follows:
Nhưng trong câu mà chúng ta phải xem xét, chúng ta thấy được phác họa một chức năng phổ quát, dù cho hiện nay nó vẫn [476] phần lớn được tiến hành một cách vô thức. Những lời cần được bàn đến như sau:
III. Finally, to utter forth the mystic phrase which will save him from their work.
Ba. Cuối cùng, thốt ra cụm từ thần bí sẽ cứu y khỏi công việc của chúng.
Therefore it appears that at the close of the magical work of creation, a phrase must be enunciated which effects a salvation and produces a liberation of a dual kind, —a liberation of the creating agent from the form which he has created, and the emancipation of that form from the control of the one who has brought it into being.
Vì vậy, có vẻ như vào lúc kết thúc công tác huyền thuật của sáng tạo, phải phát ra một cụm từ tạo nên sự cứu thoát và đem lại một sự giải phóng kép — sự giải phóng tác nhân sáng tạo khỏi hình tướng mà y đã tạo ra, và sự giải thoát hình tướng ấy khỏi sự kiểm soát của kẻ đã đưa nó vào hiện hữu.
It is obvious that already the nature of speech in relation to embodied ideas is being somewhat understood. Study the method of talk which is now the main factor employed to “launch an idea.” Note how all inventions (which are neither more nor less than embodied concepts) come into exoteric being on the physical plane through the power of the spoken word, and consider also with care the occult significance underlying all conferences, all meetings, all consultations, and all discussions which concern themselves with the launching of some idea or set of ideas upon the sea of public necessity. May it not be possible that under the modes of activity employed by the advertising agencies and the constant training given to salesmen in the use of the spoken word as a means of approach to the public in order to sell an idea, we shall find the first distorted indications of the emanations of those mystic phrases which will bring into being the creation of the soul in all fields of creative enterprise?
Hiển nhiên là bản chất của lời nói trong mối liên hệ với các ý tưởng được hiện thân trong hình tướng đã bắt đầu được thấu hiểu phần nào. Hãy nghiên cứu phương pháp đàm luận hiện nay vốn là yếu tố chính được dùng để “phóng xuất một ý tưởng”. Hãy lưu ý cách mọi phát minh, vốn chẳng hơn chẳng kém các khái niệm được hiện thân trong hình tướng, đi vào sự hiện hữu bên ngoài trên cõi hồng trần nhờ quyền năng của lời nói; và cũng hãy suy xét cẩn trọng thâm nghĩa huyền bí nằm bên dưới mọi hội nghị, mọi cuộc họp, mọi cuộc tham vấn và mọi cuộc thảo luận liên quan đến việc phóng xuất một ý tưởng hay một tập hợp ý tưởng lên biển nhu cầu của công chúng. Phải chăng có thể rằng, bên dưới các phương thức hoạt động mà những cơ quan quảng cáo sử dụng, và sự huấn luyện thường xuyên dành cho những người bán hàng trong việc dùng lời nói như một phương tiện tiếp cận công chúng nhằm bán một ý tưởng, chúng ta sẽ tìm thấy những dấu hiệu đầu tiên, tuy bị biến dạng, của các xuất lộ từ những cụm từ thần bí vốn sẽ đưa vào hiện hữu sự sáng tạo của linh hồn trong mọi lĩnh vực của hoạt động sáng tạo?
The training of public opinion, the utilisation of catch words and slogans, the tendency to embody the concepts of campaigners in trite and apposite phrases are part of the growing realisation as to the magical work. All these means are employed blindly and without true realisation; they constitute a part of the emerging activities of a humanity which is on the verge of real creative work, [477] the principles of which are not yet understood nor scientifically applied. But they do point the way, and under the simplification which marks the return to synthesis, we shall have the cessation of speech and the utilisation of simpler forms. Under the evolutionary urge, we have had the creative Sound, the Word, Speech. The latter, in its turn, has been differentiated into words, phrases, sentences, paragraphs, books, until we now have the era wherein this differentiation is at its height, and we have speeches at all hours of the day and night; we have the utilisation of the public platform to reach the public ear, and of the radio to reach all classes and races of humanity in an effort to mould public opinion and bring certain ideas and concepts into the public consciousness. We have the publication of books literally in their millions, and all playing their part in the same great work, and we have as yet both methods of communication being prostituted to the selfish ends and ambitious purposes of those who speak and write. Yet there are a few true creators who are endeavouring to make their sound heard, to speak those mystical words which will enable humanity to see the vision. Thus will be dispersed eventually the clouds of thought-forms which at this time shut out the clear light of God.
Việc rèn luyện dư luận công chúng, việc sử dụng các câu nói bắt tai và khẩu hiệu, khuynh hướng hiện thân các khái niệm của những người vận động trong các câu nói sáo mòn nhưng thích hợp, tất cả đều là một phần của sự nhận biết ngày càng tăng về công việc huyền thuật. Mọi phương tiện này được sử dụng một cách mù quáng và không có sự chứng nghiệm chân thật; chúng cấu thành một phần trong các hoạt động đang xuất hiện của một nhân loại đang ở ngưỡng cửa của công việc sáng tạo đích thực, [477] các nguyên lý của công việc ấy vẫn chưa được thấu hiểu cũng như chưa được áp dụng một cách khoa học. Nhưng chúng thật sự chỉ đường, và dưới sự đơn giản hóa vốn đánh dấu sự trở về với tổng hợp, chúng ta sẽ có sự chấm dứt của lời nói và việc sử dụng các hình thức đơn giản hơn. Dưới thúc đẩy thăng thượng tiến hoá, chúng ta đã có Âm thanh sáng tạo, Linh từ, Lời nói. Đến lượt mình, Lời nói đã được biến phân thành các từ, cụm từ, câu, đoạn văn, sách vở, cho đến nay chúng ta có một thời đại trong đó sự biến phân này đạt đến cực điểm; chúng ta có những bài diễn thuyết vào mọi giờ trong ngày và đêm; chúng ta có việc sử dụng diễn đàn công cộng để đến với tai nghe của công chúng, và máy thu thanh để đến với mọi giai cấp và mọi nhân loại, trong nỗ lực uốn nắn dư luận công chúng và đưa một số ý tưởng cùng khái niệm nhất định vào tâm thức công chúng. Chúng ta có việc xuất bản sách theo nghĩa đen là hàng triệu cuốn, tất cả đều đóng phần của mình trong cùng một công việc vĩ đại ấy; và cho đến nay, cả hai phương pháp giao tiếp này vẫn đang bị lạm dụng cho những mục tiêu ích kỷ và những mục đích tham vọng của những người nói và viết. Tuy nhiên, vẫn có một vài nhà sáng tạo chân chính đang cố gắng làm cho âm thanh của mình được nghe thấy, nói ra những lời thần bí sẽ giúp nhân loại nhìn thấy tầm nhìn. Như vậy, cuối cùng các đám mây hình tư tưởng hiện đang che khuất ánh sáng trong trẻo của Thượng đế sẽ được xua tan.
The subject is too large for me to elaborate in this Treatise. I but seek to make suggestions which will carry to the intelligent reader some idea of the enormous progress which has been made in the magical work. In this way he will be enabled to go forward with optimism knowing that hitherto all has been good inasmuch as man has progressed in knowledge. Out of the present welter of speech and of words, of lectures and of books, a few clear concepts will surely emerge which will find an echo in the hearts of men. Thus also will men be led on into the new age, wherein “talk will die out and books come to naught” for the lines of subjective communication [478] will lie open. Men will recognise that noise acts as a deterrent to telepathic intercourse. The written word will not be needed either, for men will use symbols of light and colour to supplement through the eye what the subjective hearing has recorded. But that day is not yet, even though the radio and television are the first steps in the right direction.
Chủ đề này quá rộng để tôi triển khai trong Khảo luận này. Tôi chỉ tìm cách đưa ra những gợi ý có thể truyền đến độc giả thông minh một ý niệm nào đó về tiến bộ to lớn đã đạt được trong công việc huyền thuật. Bằng cách này, y sẽ có thể tiến tới với tinh thần lạc quan, biết rằng cho đến nay mọi sự đều tốt đẹp trong chừng mực con người đã tiến bộ trong tri thức. Từ tình trạng hỗn độn hiện tại của lời nói và ngôn từ, của các bài giảng và sách vở, chắc chắn sẽ xuất hiện một vài khái niệm trong sáng, những khái niệm sẽ tìm được tiếng vang trong lòng người. Như vậy, con người cũng sẽ được dẫn vào kỷ nguyên mới, trong đó “lời nói sẽ tàn lụi và sách vở trở nên vô nghĩa”, vì các đường giao tiếp nội tại [478] sẽ mở ra. Con người sẽ nhận ra rằng tiếng ồn tác động như một trở ngại đối với sự giao lưu viễn cảm. Lời viết cũng sẽ không còn cần thiết, vì con người sẽ dùng các biểu tượng ánh sáng và màu sắc để bổ sung qua mắt những gì thính giác nội tại đã ghi nhận. Nhưng ngày ấy vẫn chưa đến, dù máy thu thanh và truyền hình là những bước đầu theo đúng hướng.
Putting the truth as simply as possible we might state that through the complexity of much speech-making and book-writing, ideas are now enabled to take form and so run through their cycle of activity. But this method is as unsatisfactory in the field of knowledge as is the ancient tallow dip in the field of illumination. Electric light has superseded it, and some day the true telepathic communication and vision will take the place of speech and of writings.
Trình bày chân lý một cách đơn giản nhất, chúng ta có thể nói rằng, qua tính phức tạp của nhiều bài diễn thuyết và nhiều tác phẩm được viết ra, các ý tưởng hiện nay có thể khoác lấy hình tướng và nhờ đó đi hết chu kỳ hoạt động của chúng. Nhưng phương pháp này trong lĩnh vực tri thức cũng bất toàn chẳng khác nào cây đèn mỡ xưa trong lĩnh vực soi sáng. Ánh sáng điện đã thay thế nó, và một ngày nào đó, Giao tiếp viễn cảm cùng tầm nhìn chân thật sẽ thay thế lời nói và chữ viết.
Carrying the same concepts into the field of real esoteric work we have the worker in thought-matter building his thought-form and “confining the lives” which express and respond to his idea within a “ring-pass-not”. This latter persists for as long as his mind attention and hence his ensouling energy is directed upon it. We have him pronouncing the words which will enable his thought-form to do its work, fulfill the mission for which it has been constructed, and carry out the purpose for which it was created. All that has been given out hitherto in connection with the words used in the creative work is the sevenfold sacred Word, AUM. This, when rightly used by the soul on the mental plane vitalises and expedites all thought-forms, and so produces successful enterprise. It is interesting to note that in Atlantean days, the word used was TAU, enunciated explosively and so forcefully, that the thought-forms thus energised and expedited acted inevitably like a boomerang, and returned to the one who sent them forth. This word TAU is likewise, in its symbolic form, the [479] symbol of reincarnation. It is desire for form which produces the use of form and causes cyclic and constant rebirth in form. It was the constant use of the TAU likewise, which brought about the final overwhelming with water, which swept away the ancient Atlantean civilisation; the few who used the AUM in those days were not potent enough to offset the force of desire. The mind bodies of the race could not respond to that newer creative sound. Humanity was still swept entirely by longing and desire to such an extent that the united desire for possessions and for the enjoyment of form drove men esoterically “into the waters”. Desire for form still forces upon humanity the constant process of rebirth until such time as the TAU influence is exhausted and the AUM sound can dominate. The former influence is however weakening, and the AUM is increasing in potency until it will be the dominating factor. To this latter sound, the word of the Soul must eventually succeed, until AUM in its turn is entirely superseded.
Khi đưa cùng các khái niệm ấy vào lĩnh vực của công việc huyền bí đích thực, chúng ta có người hoạt động trong chất liệu tư tưởng, xây dựng hình tư tưởng của mình và “giam giữ các sự sống” vốn biểu lộ và đáp ứng ý tưởng của y bên trong một “vòng-giới-hạn”. Hình tư tưởng này tồn tại chừng nào sự chú ý của thể trí y, và do đó năng lượng phú linh của y, còn được hướng vào nó. Chúng ta có y phát âm những lời sẽ giúp hình tư tưởng của y thực hiện công việc của nó, hoàn thành sứ mệnh mà vì đó nó được xây dựng, và thi hành mục đích mà vì đó nó được tạo ra. Tất cả những gì cho đến nay đã được đưa ra liên quan đến các lời được dùng trong công việc sáng tạo là Linh từ thiêng liêng thất phân, AUM. Khi được sử dụng đúng cách do linh hồn trên cõi trí, Linh từ này tiếp sinh lực và thúc đẩy mọi hình tư tưởng, nhờ đó tạo nên hoạt động thành công. Điều thú vị cần lưu ý là vào thời Atlantis, linh từ được sử dụng là TAU, được phát âm một cách bùng nổ và mạnh mẽ đến nỗi các hình tư tưởng được truyền năng lượng và thúc đẩy như vậy đã tác động tất yếu như một vật ném quay trở lại, và trở về với người đã phóng chúng ra. Linh từ TAU này, trong hình thức biểu tượng của nó, cũng là biểu tượng của sự tái sinh. Chính dục vọng đối với hình tướng tạo ra việc sử dụng hình tướng và gây nên sự tái sinh theo chu kỳ và liên tục trong hình tướng. Cũng chính việc sử dụng thường xuyên TAU đã đưa đến sự ngập lụt cuối cùng bằng nước, quét sạch nền văn minh Atlantis cổ xưa; số ít người dùng AUM trong những ngày ấy không đủ mạnh để hóa giải mãnh lực của dục vọng. Các thể trí của nhân loại không thể đáp ứng âm thanh sáng tạo mới hơn ấy. Nhân loại vẫn hoàn toàn bị cuốn đi bởi khát vọng và dục vọng đến mức dục vọng hợp nhất về sở hữu và về sự hưởng thụ hình tướng đã đẩy con người, xét một cách huyền bí, “vào trong nước”. Dục vọng đối với hình tướng vẫn còn áp đặt lên nhân loại tiến trình tái sinh liên tục, cho đến khi ảnh hưởng TAU cạn kiệt và âm thanh AUM có thể thống trị. Tuy nhiên, ảnh hưởng trước đang suy yếu, còn AUM đang gia tăng quyền năng cho đến khi nó trở thành yếu tố thống trị. Cuối cùng, Linh từ của Linh hồn phải kế tiếp âm thanh sau này, cho đến khi chính AUM đến lượt nó cũng hoàn toàn bị thay thế.
The sound of many waters (which is the symbolic way of expressing the TAU influence) will cease, and the time will come, as we are assured in the Christian Bible, when there “will be no more sea”. Then the sound of the AUM which is symbolically spoken of as the “roaring of a blazing fire”, and which is the sound of the mental plane will take its place. The word of the soul cannot be given except in the secret place of initiation. It has its own peculiar vibration and note, but this cannot be conveyed until such time as the AUM is used with correctness. Just as the TAU, carrying the note of desire and of the urge to have and to be, was misused and carried its civilisations to disaster, so AUM can also be misused and can carry its civilisations into the fire. This is the truth which really underlies the misunderstood Christian teaching anent hell-fire and the lake of fire. They portray symbolically the end of the age [480] when the mental plane civilisations will come to a cataclysmic end, as far as the form aspect is concerned just as the earlier civilisations came to a watery consummation.
Âm thanh của nhiều dòng nước, vốn là cách biểu tượng để diễn tả ảnh hưởng TAU, sẽ chấm dứt; và thời điểm sẽ đến, như chúng ta được bảo đảm trong Kinh Thánh Cơ Đốc, khi “sẽ không còn biển nữa”. Khi ấy âm thanh AUM, được nói đến một cách biểu tượng như “tiếng gầm của lửa cháy rực”, và là âm thanh của cõi trí, sẽ thay thế nó. Linh từ của linh hồn không thể được trao truyền ngoại trừ trong nơi bí mật của điểm đạo. Nó có rung động và âm điệu riêng biệt của nó, nhưng điều này không thể được truyền đạt cho đến khi AUM được sử dụng đúng đắn. Cũng như TAU, mang âm điệu của dục vọng và của thúc đẩy muốn có và muốn hiện tồn, đã bị lạm dụng và đưa các nền văn minh của nó đến thảm họa, AUM cũng có thể bị lạm dụng và có thể đưa các nền văn minh của nó vào lửa. Đây là chân lý thật sự nằm bên dưới giáo lý Cơ Đốc bị hiểu sai về lửa địa ngục và hồ lửa. Chúng mô tả một cách biểu tượng sự kết thúc của thời đại [480] khi các nền văn minh của cõi trí sẽ đi đến một kết thúc đại họa, xét theo phương diện hình tướng, cũng như các nền văn minh trước kia đã đi đến sự hoàn tất bằng nước.
One hint here I will give, and one that is oft overlooked. On the mental plane, time is not; therefore the time equation enters not into the idea of a final ending by fire. There is no setting of a time for a disaster or a catastrophe. The full effect will take place in the realm of the mind, and may it not be said that even now the fire of anxiety, of foreboding, of worry, and of fear is burning up our thoughts and engrossing our mental attention? Its work is to purify and cleanse, so, let the AUM do its work and let all of you who can, employ it with frequency and with right thought so that the world purification may proceed apace. Much must be burned and consumed which bars the way for the emergence of the new ideas, the new archetypal forms. These will eventually dominate the new age and make it possible for the word of the soul to sound forth and be heard exoterically.
Ở đây tôi sẽ đưa ra một gợi ý, và đó là điều thường bị bỏ qua. Trên cõi trí không có thời gian; vì vậy, phương trình thời gian không đi vào ý tưởng về một kết thúc cuối cùng bằng lửa. Không có việc ấn định thời điểm cho một tai họa hay một thảm biến. Hiệu quả trọn vẹn sẽ diễn ra trong lĩnh vực của thể trí; và chẳng phải có thể nói rằng ngay cả hiện nay, ngọn lửa của lo âu, của linh cảm dữ, của phiền muộn và của sợ hãi đang thiêu đốt các tư tưởng của chúng ta và chiếm trọn sự chú ý trí tuệ của chúng ta sao? Công việc của nó là thanh lọc và tẩy sạch; vậy hãy để AUM làm công việc của nó, và tất cả các bạn nào có thể, hãy sử dụng nó thường xuyên và với tư tưởng đúng đắn, để sự thanh lọc thế giới có thể tiến triển nhanh chóng. Nhiều điều phải bị thiêu đốt và tiêu hủy, những điều đang chặn đường cho sự xuất hiện của các ý tưởng mới, các hình tướng nguyên mẫu mới. Cuối cùng, chúng sẽ thống trị kỷ nguyên mới và khiến cho Linh từ của linh hồn có thể vang lên và được nghe thấy bên ngoài.
I realize that that which I have imparted here is difficult of comprehension, but the paragraphs above dictated hold warning for the careless and much instruction for the earnest seeker after light.
Tôi nhận ra rằng điều tôi đã truyền đạt ở đây khó thấu hiểu, nhưng các đoạn văn được đọc cho ghi lại ở trên chứa đựng lời cảnh báo cho kẻ bất cẩn và nhiều chỉ dẫn cho người thành tâm tìm kiếm ánh sáng.
There are two aspects of this phrase which we are considering with which I seek briefly to deal. There are many which I might take up, but two will suffice to carry practical suggestion, and to indicate ideas which aspirants everywhere would do well to grasp. The thought of salvation from the effect of form-embodied ideas must be considered, and I would like also to cover the idea of “a saving-from” under two headings. The aspirant has to be saved from the thought-forms built daily during his mental life, and a soul in incarnation has also to be saved from the form attachments which during the ages have [481] grown and strengthened, and from which he has to be released through the process we call death. We will therefore divide our subject as follows:
Có hai phương diện của cụm từ mà chúng ta đang xem xét, và tôi muốn đề cập ngắn gọn đến chúng. Có nhiều phương diện tôi có thể bàn đến, nhưng hai phương diện sẽ đủ để đưa ra gợi ý thực tiễn và chỉ ra những ý tưởng mà người chí nguyện ở khắp nơi nên nắm bắt. Tư tưởng về sự cứu thoát khỏi hiệu quả của các ý tưởng đã nhập vào hình tướng phải được xem xét; và tôi cũng muốn bao quát ý tưởng về “sự cứu thoát khỏi” dưới hai đề mục. Người chí nguyện phải được cứu khỏi các hình tư tưởng được xây dựng hằng ngày trong đời sống trí tuệ của y; và một linh hồn đang nhập thể cũng phải được cứu khỏi các ràng buộc với hình tướng, những ràng buộc đã [481] lớn mạnh và thêm vững chắc qua các thời đại, và khỏi đó y phải được giải thoát qua tiến trình mà chúng ta gọi là cái chết. Vì vậy, chúng ta sẽ chia chủ đề của mình như sau:
I. Salvation from the power exerted by the thought-forms we have ourselves created.
I. Sự cứu thoát khỏi quyền năng do các hình tư tưởng mà chính chúng ta đã tạo ra tác động.
II. Salvation from the power of the threefold body which the soul has built, through the magical release called death.
II. Sự cứu thoát khỏi quyền năng của thể tam phân mà linh hồn đã xây dựng, nhờ sự giải phóng huyền thuật được gọi là cái chết.
It is with the latter that I wish primarily to deal, but certain things must be said concerning the power of thought-forms, and concerning their danger, and the mode whereby they can be rendered innocuous.
Chính với điều sau tôi chủ yếu muốn đề cập, nhưng cần phải nói một số điều liên quan đến quyền năng của các hình tư tưởng, đến mối nguy hiểm của chúng, và phương thức nhờ đó chúng có thể trở nên vô hại.