← A Treatise on White Magic – Alice A. Bailey

Salvation from our Thought-forms—Cứu Rỗi Từ các Hình tư tưởng

Salvation from our Thought-forms—Cứu Rỗi Từ các Hình tư tưởng

I speak now for aspirants, who, through concentration and meditation, are gaining power in thought. I speak for the thinkers of the world, who, through their one-pointed application and devotion to business, to science, to religion or to the varying modes of human activity have oriented the mind (not the emotions but the mentality) to some line of constant action which is necessarily a part of the divine activity in the large sense.

Giờ đây tôi nói với những người chí nguyện, những người nhờ tập trung và tham thiền đang đạt được quyền năng trong tư tưởng. Tôi nói với các nhà tư tưởng của thế giới, những người nhờ sự chuyên chú nhất tâm và sự tận tụy của mình đối với kinh doanh, khoa học, tôn giáo hoặc các phương thức hoạt động khác nhau của con người, đã định hướng thể trí, không phải cảm xúc mà là trí năng, theo một đường hoạt động liên tục nào đó, vốn tất yếu là một phần của hoạt động thiêng liêng theo nghĩa rộng.

It is right here, in the use of thought, that the difference between black and white magic can be seen. Selfishness, ruthlessness, hatred, and cruelty characterise the worker in mental substance whose motives are, for many lives, centred around his own aggrandisement, focussed on his personal acquisition of possessions, and directed entirely to the attainment of his own pleasure and satisfaction, no matter what the cost to others. Such men are happily few, but the way to such a point of view is easy to achieve, and many need to guard themselves lest they tread unthinkingly the way towards materiality.

Chính ở đây, trong việc sử dụng tư tưởng, có thể thấy sự khác biệt giữa Hắc thuật và Chánh Thuật. Sự ích kỷ, tàn nhẫn, thù hận và độc ác đặc trưng cho người hoạt động trong chất liệu trí tuệ mà động cơ của y, qua nhiều kiếp sống, tập trung quanh sự phóng đại bản thân, hướng vào việc thủ đắc của cải cho cá nhân, và hoàn toàn nhằm đạt được khoái lạc cùng sự thỏa mãn của riêng y, bất kể cái giá phải trả cho người khác. May thay, những người như thế rất ít; nhưng con đường dẫn đến quan điểm như vậy rất dễ đạt được, và nhiều người cần tự canh giữ để khỏi vô tình bước trên con đường hướng về vật chất tính.

A gradual and steady growth in group consciousness and responsibility, a submergence of the wishes of the [482] personal self and the manifestation of a loving spirit characterise those who are oriented towards the life side of the divine whole. It might be said that human beings fall into three main groups:

Sự tăng trưởng dần dần và vững chắc trong tâm thức nhóm và trách nhiệm, sự chìm lắng các ước muốn của [482] bản ngã cá nhân, và sự biểu hiện của một tinh thần yêu thương, đặc trưng cho những ai được định hướng về phía sự sống của toàn thể thiêng liêng. Có thể nói rằng con người rơi vào ba nhóm chính:

1. The vast majority, who are neither good nor bad, but simply unthinking and entirely submerged in the evolutionary tide, and in the work of developing a true self consciousness, and the needed equipment.

1. Đại đa số, những người không tốt cũng không xấu, mà chỉ đơn giản là không suy nghĩ và hoàn toàn bị chìm ngập trong dòng triều thăng thượng tiến hoá, cũng như trong công việc phát triển một ngã thức chân thật và trang bị cần thiết.

2. A small, a very small number, who are definitely and consciously working on the side of materiality or (if you prefer so to express it) on the side of evil. Potent are they on the physical plane, but their power is temporal and not eternal. The law of the universe, which is the law of love, is eternally against them, and out of the seeming evil good will come.

2. Một số ít, rất ít, những người đang làm việc một cách rõ rệt và có ý thức về phía vật chất tính, hoặc nếu các bạn thích diễn đạt như thế, về phía điều ác. Họ có quyền năng trên cõi hồng trần, nhưng quyền năng của họ thuộc thời gian chứ không vĩnh cửu. Định luật của vũ trụ, tức định luật của bác ái, vĩnh viễn chống lại họ; và từ điều ác có vẻ như vậy, điều thiện sẽ xuất hiện.

3. A goodly number who are the pioneers into the kingdom of the soul, who are the exponents of the new age ideas, and the custodians of that aspect of the Ageless Wisdom which is next to be revealed to mankind. This group is constituted of the unselfish and intelligent men and women in every field of human endeavour, of the aspirants and disciples, of the initiates who sound the note for the various groups and types, and of the Occult Hierarchy itself. The influence of this band of mystics and knowers is exceedingly great and the opportunity to work in cooperation with it at this time is easier of attainment than at any other time in racial history.

3. Một số khá đông là những người tiên phong đi vào giới của linh hồn, là những người trình bày các ý tưởng của kỷ nguyên mới, và là những người gìn giữ phương diện của Minh Triết Ngàn Đời sắp được mặc khải cho nhân loại. Nhóm này được cấu thành bởi những người nam và nữ vô ngã và thông minh trong mọi lĩnh vực nỗ lực của con người, bởi những người chí nguyện và các đệ tử, bởi các điểm đạo đồ xướng lên âm điệu cho những nhóm và kiểu loại khác nhau, và bởi chính Thánh đoàn Huyền môn. Ảnh hưởng của đoàn thể các nhà thần bí và các thức giả này vô cùng lớn lao, và cơ hội làm việc trong sự hợp tác với đoàn thể ấy vào lúc này dễ đạt được hơn bất cứ thời điểm nào khác trong lịch sử nhân loại.

The first group is unthinking; the two other groups are beginning to think and to employ the laws of thought. It is with the use of thought by the aspirant that I seek to deal. Much about thought will be found in A Treatise on Cosmic Fire [483], but I intend to give some practical ideas and suggestions which will help the average aspirant to work as he should.

Nhóm thứ nhất không suy nghĩ; hai nhóm kia đang bắt đầu suy nghĩ và sử dụng các định luật của tư tưởng. Chính việc sử dụng tư tưởng của người chí nguyện là điều tôi muốn bàn đến. Nhiều điều về tư tưởng sẽ được tìm thấy trong Luận về Lửa Vũ Trụ [483], nhưng tôi dự định đưa ra một số ý tưởng và gợi ý thực tiễn sẽ giúp người chí nguyện trung bình làm việc như y phải làm.

Let us remember first of all that no aspirant, no matter how sincere and devoted, is free from faults. Were he free, he would be an adept. All aspirants are still selfish, still prone to temper and to irritability, still subject to depression and even at times to hatred. Oft that temper and hatred may be aroused by what we call just causes. Injustice on the part of others, cruelty to human beings and to animals, and the hatreds and viciousness of their fellow men do arouse in them corresponding reactions, and cause them much suffering and delay. One thing must ever be remembered. If an aspirant evokes hatred in an associate, if he arouses him to temper, and if he meets with dislike and antagonism, it is because he himself is not entirely harmless; there are still in him the seeds of trouble, for it is a law in nature that we get what we give, and produce reactions in line with our activity be it physical, emotional or mental.

Trước hết, chúng ta hãy nhớ rằng không một người chí nguyện nào, dù chân thành và tận tụy đến đâu, lại không có lỗi lầm. Nếu y không có lỗi lầm, y đã là một chân sư. Mọi người chí nguyện vẫn còn ích kỷ, vẫn còn dễ nóng giận và cáu kỉnh, vẫn còn chịu sự chi phối của buồn nản và đôi khi cả thù hận. Thường khi, sự nóng giận và thù hận ấy có thể bị khơi dậy bởi những gì chúng ta gọi là các nguyên nhân chính đáng. Sự bất công từ phía người khác, sự tàn ác đối với con người và thú vật, những thù hận và sự độc ác của đồng loại họ thật sự khơi dậy trong họ những phản ứng tương ứng, và gây cho họ nhiều đau khổ cùng trì hoãn. Một điều luôn phải được ghi nhớ. Nếu một người chí nguyện gợi lên thù hận nơi một người cộng sự, nếu y khiến người ấy nổi nóng, và nếu y gặp sự không ưa cùng đối kháng, đó là vì chính y chưa hoàn toàn vô tổn hại; trong y vẫn còn các hạt giống của rắc rối, vì đó là một định luật trong thiên nhiên rằng chúng ta nhận được những gì mình cho đi, và tạo ra các phản ứng phù hợp với hoạt động của mình, dù là hồng trần, cảm xúc hay trí tuệ.

There are certain types of men who do not come under this category. When a man has reached a stage of high initiation, the case is different. The seed ideas he seeks to convey, the work he is empowered to do, the pioneering enterprise he is endeavouring to carry forward, may—and often do—call forth from those who sense not the beauty of his cause and the rightness of the truth he enunciates, a hatred and a fury which causes him much trouble and for which he is not personally responsible. This antagonism comes from the reactionaries and the devotees of the race and it should be remembered that it is largely impersonal even though focussed on him as the representative of an idea. But with these high souls I deal not, but with students of the Ageless Wisdom who are learning not only that they seldom think, but that when they do they are oft thinking [484] wrongly, for they are forced into a thought activity by reactions which have their seat in their lower nature, and are based on selfishness and lack of love.

Có một số kiểu người không thuộc phạm trù này. Khi một người đã đạt đến một giai đoạn điểm đạo cao, trường hợp sẽ khác. Các ý tưởng hạt giống mà y tìm cách truyền đạt, công việc y được trao quyền để thực hiện, hoạt động tiên phong y đang cố gắng tiến hành, có thể, và thường thật sự, gợi lên nơi những người không cảm nhận được vẻ đẹp của chính nghĩa y và sự đúng đắn của chân lý y tuyên thuyết, một thù hận và cuồng nộ gây cho y nhiều rắc rối mà y không chịu trách nhiệm cá nhân. Sự đối kháng này đến từ những kẻ phản động và những người sùng tín trong nhân loại; cần nhớ rằng nó phần lớn mang tính phi cá nhân, dù được tập trung vào y như đại diện của một ý tưởng. Nhưng tôi không bàn đến các linh hồn cao cả này, mà bàn đến các đạo sinh của Minh Triết Ngàn Đời, những người đang học không chỉ rằng họ hiếm khi suy nghĩ, mà còn rằng khi họ suy nghĩ, họ thường suy nghĩ [484] sai lầm, vì họ bị buộc vào hoạt động tư tưởng bởi các phản ứng có gốc rễ trong bản chất thấp của họ, và đặt nền trên ích kỷ cùng thiếu bác ái.

There are three lessons which every aspirant needs to learn:

Có ba bài học mà mỗi người chí nguyện cần học:

First, that every thought-form which he builds is built under the impulse of some emotion or of some desire; in rarer cases it may be built in the light of illumination and embody, therefore, some intuition. But with the majority, the motivating impulse which sweeps the mind-stuff into activity is an emotional one, or a potent desire, either good or bad, either selfish or unselfish.

Thứ nhất, mọi hình tư tưởng mà y xây dựng đều được xây dựng dưới xung lực của một cảm xúc nào đó hoặc một dục vọng nào đó; trong những trường hợp hiếm hơn, nó có thể được xây dựng trong ánh sáng của sự soi sáng và do đó hiện thân một trực giác nào đó. Nhưng với đa số, xung lực thúc đẩy cuốn chất liệu trí tuệ vào hoạt động là một xung lực cảm xúc, hoặc một dục vọng mạnh mẽ, dù tốt hay xấu, dù ích kỷ hay vô ngã.

Secondly, it should be borne in mind that the thoughtform so constructed will either remain in his own aura, or will find its way to a sensed objective. In the first case, it will form part of a dense wall of such thoughtforms which entirely surround him or constitute his mental aura, and will grow in strength as he pays it attention until it is so large that it will shut out reality from him, or it will be so dynamic and potent that he will become the victim of that which he built. The thought-form will be more powerful than its creator, so that he becomes obsessed by his own ideas, and driven by his own creation. In the second case, his thought-form will find its way into the mental aura of another human being, or into some group. You have here the seeds of evil magical work and the imposition of a powerful mind upon a weaker. If it finds its way into some group, analogous impulsive forms (found within the group aura) will coalesce with it, having the same vibratory rate or measure. Then the same thing will take place in the group aura as has taken place within the individual ring-pass-not, —the group will have around it an inhibiting wall of thought-forms, or it will be obsessed by some idea. Here we have the clue to all sectarianism, to all fanaticism, and to some forms of insanity, both group and individual. [485]

Thứ hai, cần ghi nhớ rằng hình tư tưởng được kiến tạo như vậy hoặc sẽ ở lại trong hào quang của chính y, hoặc sẽ tìm đường đến một mục tiêu được cảm nhận. Trong trường hợp thứ nhất, nó sẽ tạo thành một phần của bức tường đậm đặc gồm những hình tư tưởng như thế, hoàn toàn bao quanh y hoặc cấu thành hào quang trí tuệ của y; và nó sẽ tăng trưởng sức mạnh khi y chú ý đến nó, cho đến khi nó lớn đến mức che khuất thực tại khỏi y, hoặc trở nên năng động và mạnh mẽ đến mức y trở thành nạn nhân của chính điều y đã xây dựng. Hình tư tưởng sẽ mạnh hơn người tạo ra nó, khiến y bị ám ảnh bởi chính các ý tưởng của mình và bị thúc đẩy bởi chính sáng tạo của mình. Trong trường hợp thứ hai, hình tư tưởng của y sẽ tìm đường vào hào quang trí tuệ của một người khác, hoặc vào một nhóm nào đó. Ở đây các bạn có những hạt giống của công việc huyền thuật tà vạy và sự áp đặt của một thể trí mạnh lên một thể trí yếu hơn. Nếu nó tìm đường vào một nhóm nào đó, các hình thức xung động tương tự, vốn được tìm thấy trong hào quang của nhóm, sẽ hợp nhất với nó, vì có cùng tốc độ hay mức độ rung động. Khi ấy, điều tương tự sẽ diễn ra trong hào quang của nhóm như đã diễn ra bên trong vòng-giới-hạn của cá nhân: nhóm sẽ có quanh nó một bức tường ngăn cản gồm các hình tư tưởng, hoặc sẽ bị một ý tưởng nào đó ám ảnh. Ở đây chúng ta có chìa khóa của mọi chủ nghĩa bè phái, mọi cuồng tín, và một số hình thức điên loạn, cả nhóm lẫn cá nhân. [485]

Thirdly, the creator of the thought-form (in this case an aspirant) remains responsible. The form remains linked to him by his living purpose and therefore the karma of the results, and the ultimate work of destroying that which he has built must be his. This is true of every embodied idea, the good as well as the bad. The creator of all of them is responsible for the work of his creation. The Master Jesus, for instance, has still to deal with the thought-forms which we call the Christian Church, and has much to do. The Christ and the Buddha have still some consummating work to carry through, though not so much with the forms which embody Their enunciated principles, as with the souls who have evolved through the application of those principles.

Thứ ba, người tạo ra hình tư tưởng, trong trường hợp này là một người chí nguyện, vẫn chịu trách nhiệm. Hình tướng vẫn liên kết với y bằng mục đích sống động của y; vì vậy nghiệp quả của các kết quả, và công việc cuối cùng là phá hủy điều y đã xây dựng, phải là của y. Điều này đúng với mọi ý tưởng được hiện thân, cả tốt lẫn xấu. Người tạo ra tất cả chúng chịu trách nhiệm về công việc của sáng tạo mình. Chẳng hạn, Chân sư Jesus vẫn còn phải xử lý các hình tư tưởng mà chúng ta gọi là Giáo hội Cơ Đốc, và Ngài còn nhiều việc phải làm. Đức Christ và Đức Phật vẫn còn một số công việc hoàn tất phải thực hiện, tuy không quá nhiều với các hình thức hiện thân những nguyên lý Các Ngài đã tuyên thuyết, cho bằng với các linh hồn đã tiến hoá qua việc áp dụng những nguyên lý ấy.

With the aspirant, however, who is still learning to think, the problem is different. He is still prone to use thought matter to embody his mistaken apprehension of the real ideas; he is still apt to express his likes and dislikes through the power of thought; he is still inclined to use the mind stuff to make possible his personality desires. To this every sincere aspirant will bear witness.

Tuy nhiên, với người chí nguyện vẫn đang học suy nghĩ, vấn đề lại khác. Y vẫn còn dễ dùng chất liệu tư tưởng để hiện thân sự lĩnh hội sai lầm của mình về các ý tưởng thực; y vẫn còn có khuynh hướng biểu lộ điều mình thích và không thích bằng quyền năng của tư tưởng; y vẫn còn nghiêng về việc dùng chất liệu trí tuệ để làm cho các dục vọng phàm ngã của mình có thể thành tựu. Mọi người chí nguyện chân thành đều sẽ làm chứng cho điều này.

Much concern is being felt among many of you as to the guarding of thoughts and the protection of formulated ideas. Some thoughts are ideas, clothed in mental matter and keep their habitat on the plane of thought matter. Such are the abstract conceptions and the scarcely sensed facts of the inner occult or mystic life that pass through the mind of the thinker. They are not so difficult to guard, for their vibrations are so high and light that few people have the power to clothe them adequately in mental matter, and those few are so very scarce that the risk of such statements being unwisely promulgated is not very great.

Nhiều bạn đang cảm thấy nhiều lo lắng về việc canh giữ các tư tưởng và bảo vệ các ý tưởng đã thành hình. Một số tư tưởng là các ý tưởng được khoác trong chất liệu trí tuệ và giữ nơi cư ngụ của chúng trên cõi chất liệu tư tưởng. Đó là các quan niệm trừu tượng và những sự kiện chỉ mơ hồ được cảm nhận của đời sống huyền môn hoặc thần bí bên trong, những điều đi qua thể trí của nhà tư tưởng. Chúng không quá khó để canh giữ, vì các rung động của chúng cao và nhẹ đến nỗi ít người có quyền năng khoác cho chúng một cách thích đáng bằng chất liệu trí tuệ; và số ít ấy lại quá hiếm, nên nguy cơ những phát biểu như thế bị truyền bá thiếu khôn ngoan không lớn lắm.

Then there are the communications involved in occult teaching. The circle of those who apprehend them is widening somewhat and these thought-forms frequently [486] take to themselves astral matter from the desire in the heart of the student to verify, corroborate, and share with the group whose knowledge is as vital as his. Sometimes this is possible, and sometimes not. If prohibited what is the method of protection then? Largely a refusing to allow the matter of the astral plane to adhere to the mental thought-form. Fight the matter out on the desire level, and inhibit that type of matter from formulating. Where no desire to speak exists, and where the striving is to prevent the gathering of the material around the nucleus, another thought-form is built up, one that intervenes and protects.

Kế đó là các truyền đạt liên quan đến giáo huấn huyền môn. Vòng tròn những người lĩnh hội chúng đang mở rộng phần nào, và các hình tư tưởng này thường [486] tự thu hút lấy chất liệu cảm dục từ dục vọng trong tim của đạo sinh muốn kiểm chứng, xác nhận và chia sẻ với nhóm mà tri thức của họ cũng thiết yếu như tri thức của y. Đôi khi điều này có thể thực hiện, và đôi khi thì không. Nếu bị cấm, phương pháp bảo vệ khi ấy là gì? Chủ yếu là từ chối cho phép chất liệu của cõi cảm dục bám vào hình tư tưởng trí tuệ. Hãy xử lý chất liệu ấy trên cấp độ dục vọng, và ngăn chặn loại chất liệu đó kết hình. Nơi nào không có dục vọng nói ra, và nơi nào nỗ lực là ngăn chất liệu tụ lại quanh hạt nhân, thì một hình tư tưởng khác được xây dựng, một hình tư tưởng can thiệp và bảo vệ.

Still another type of thought-form comes forth, —the most prevalent and the one that causes the most trouble. These are the facts of information, the detailed material, the news (if so you like to call it), the basis of what may degenerate into gossip, that concerns either your work, administrative or otherwise, and that which concerns other people. How shall you prevent your mind from transmitting to another facts such as these? These are facts that have their origination in physical plane occurrence, and therein lies the difficulty. The inner facts of the occult life, and those that originate on the mental plane are not so difficult to hide. They do not come your way till your vibrations are keyed high enough for them, and as a rule, when that is so, character of sufficient stability and wisdom goes alongside. But it is not thus with a physical plane fact. What must be done? The other thoughts descend from above; these latter work upwards from the physical plane and are increased in vitality by the knowledge of the many, often of the many unwise. One kind starts nebulously on the mental plane, and only the higher type of mind can formulate it, and clothe it with matter in geometrical precision, and such a mind usually has the wisdom that refuses to clothe it in astral plane matter. Not so with the physical plane fact. It [487] is a vital entity, robed in material of the astral plane and the mental plane when first you meet and contact it. Will you vitalise it, or will you arrest it? Arrest it by a rush and wave of love for the party implicated, that envelops the thought-form and sends it back to the originator, borne on the wings of a surge of astral plane matter, strong enough to sweep through and around, mayhap disintegrating, but most certainly returning it harmlessly to the sender. Perhaps it is an evil piece of information, a lie or item of gossip. Devitalise it by love, break it in pieces by the power of a counter thought-form of peace and harmony.

Lại còn một loại hình tư tưởng khác xuất hiện, loại phổ biến nhất và gây nhiều rắc rối nhất. Đó là các dữ kiện thông tin, chất liệu chi tiết, tin tức, nếu các bạn muốn gọi như vậy, nền tảng của điều có thể thoái hóa thành chuyện ngồi lê đôi mách, liên quan hoặc đến công việc của các bạn, hành chính hay mặt khác, hoặc đến những người khác. Làm thế nào các bạn ngăn thể trí mình truyền đến người khác những dữ kiện như thế? Đây là các dữ kiện có nguồn gốc trong sự việc xảy ra trên cõi hồng trần, và chính trong đó có khó khăn. Các sự kiện bên trong của đời sống huyền môn, và những sự kiện phát sinh trên cõi trí, không quá khó để che giấu. Chúng không đến với các bạn cho đến khi các rung động của các bạn được điều chỉnh đủ cao cho chúng; và theo quy luật, khi điều đó xảy ra, tính cách có đủ ổn định và minh triết sẽ đi kèm. Nhưng với một sự kiện trên cõi hồng trần thì không như vậy. Cần phải làm gì? Các tư tưởng kia đi xuống từ bên trên; còn các tư tưởng sau này hoạt động đi lên từ cõi hồng trần và được tăng cường sinh lực bởi sự biết đến của nhiều người, thường là nhiều người thiếu khôn ngoan. Một loại bắt đầu một cách mơ hồ trên cõi trí, và chỉ loại thể trí cao hơn mới có thể kết hình nó, khoác cho nó chất liệu với độ chính xác hình học; và một thể trí như thế thường có minh triết từ chối khoác cho nó chất liệu của cõi cảm dục. Không như vậy với sự kiện trên cõi hồng trần. Nó [487] là một thực thể sống động, khoác trong chất liệu của cõi cảm dục và cõi trí khi các bạn mới gặp và tiếp xúc với nó. Các bạn sẽ tiếp sinh lực cho nó, hay sẽ chặn nó lại? Hãy chặn nó bằng một luồng trào và làn sóng bác ái dành cho người liên quan, bao bọc hình tư tưởng ấy và gửi nó trở lại người khởi phát, được mang trên đôi cánh của một đợt dâng chất liệu cõi cảm dục đủ mạnh để quét xuyên qua và bao quanh, có thể làm tan rã, nhưng chắc chắn trả nó về cho người gửi một cách vô hại. Có lẽ đó là một mẩu thông tin xấu, một lời dối trá hay một chuyện ngồi lê đôi mách. Hãy làm nó mất sinh lực bằng bác ái, phá vỡ nó thành từng mảnh bằng quyền năng của một hình tư tưởng đối lập về bình an và hòa hợp.

Or again, it may be true, some sad or evil occurrence or deed of some mistaken brother. What then is there to do? Truth cannot be devitalised or disintegrated. The Law of Absorption will aid you here. Into your heart you absorb the thought-form you encounter and there transmute it by the alchemy of love. Let me be practical and illustrate, for the matter is of importance.

Hoặc nữa, nó có thể là sự thật, một biến cố hay hành vi buồn thảm hoặc xấu xa của một huynh đệ lầm lạc nào đó. Khi ấy phải làm gì? Chân lý không thể bị làm mất sinh lực hay bị làm tan rã. Định luật Hấp Thụ sẽ giúp các bạn ở đây. Vào trong tim mình, các bạn hấp thụ hình tư tưởng mà các bạn gặp, và tại đó chuyển hoá nó bằng thuật luyện kim của bác ái. Hãy để tôi thực tiễn và minh họa, vì vấn đề này quan trọng.

Some brother comes to you and tells to you a fact about another brother—a fact involving what the world would call wrongdoing on that brother’s part. You who know so much more than the average man of the street, will realise that that so called wrongdoing may be but the working out of karma, or have its basis in a good motive wrongly construed. You add not to the talk, you do not hand on the information, as far as you are concerned the thought-form, built around the fact, has wandered into what you call a cul-de-sac.

Một huynh đệ nào đó đến với các bạn và kể cho các bạn một sự kiện về một huynh đệ khác, một sự kiện liên quan đến điều mà thế gian sẽ gọi là hành vi sai trái về phía huynh đệ ấy. Các bạn, những người biết nhiều hơn người bình thường ngoài phố, sẽ nhận ra rằng cái gọi là hành vi sai trái ấy có thể chỉ là sự vận hành của nghiệp quả, hoặc có nền tảng trong một động cơ tốt bị hiểu sai. Các bạn không thêm vào lời bàn, các bạn không truyền tiếp thông tin; xét về phía các bạn, hình tư tưởng được xây dựng quanh sự kiện ấy đã đi vào điều các bạn gọi là một ngõ cụt.

What do you then? You build a counter stream of thoughts which (on a wave of love) you send your apparently erring brother: thoughts of kindly assistance, of courage and aspiration, and of a wise application of the lessons to be learnt from the deed he has accomplished. Use not force, for strong thinkers must not unduly influence other minds, but a gentle stream of [488] wise transmuting love. We have here three methods, none strictly occult, for those later shall be imparted, but methods available for the many.

Vậy các bạn làm gì? Các bạn xây dựng một luồng tư tưởng đối lập, và trên một làn sóng bác ái, các bạn gửi nó đến huynh đệ dường như lầm lỗi của mình: những tư tưởng về sự trợ giúp thân ái, về lòng can đảm và khát vọng, và về sự áp dụng khôn ngoan các bài học cần được rút ra từ hành vi y đã thực hiện. Đừng dùng mãnh lực, vì các nhà tư tưởng mạnh không được ảnh hưởng quá mức đến các thể trí khác, mà hãy dùng một luồng dịu dàng của [488] bác ái minh triết có sức chuyển hoá. Ở đây chúng ta có ba phương pháp, không phương pháp nào hoàn toàn huyền môn, vì các phương pháp về sau sẽ được truyền đạt, nhưng là những phương pháp khả dụng cho số đông.

1. The thought form kept to the mental levels, i.e. the inhibiting of astral plane matter.

1. Hình tư tưởng được giữ lại ở các cấp độ trí tuệ, tức là sự ngăn chặn chất liệu cõi cảm dục.

2. The thought-form broken up and disintegrated by a stream of love-force well-directed.

2. Hình tư tưởng bị phá vỡ và làm tan rã bởi một luồng mãnh lực bác ái được hướng dẫn đúng đắn.

3. The absorbing of the thought-form, and the formulation of a counter-thought of loving wisdom.

3. Sự hấp thụ hình tư tưởng, và việc kết hình một tư tưởng đối lập của minh triết yêu thương.

Inhibition—Disintegration—Absorption

Ngăn chặn—Làm tan rã—Hấp thụ

There are three main penalties which attach to the wrong use of thought substance, and from these the aspirant must learn to save himself, and to avoid those activities; eventually this will make the process of salvation unnecessary.

Có ba hình phạt chính gắn liền với việc sử dụng sai chất liệu tư tưởng, và khỏi những điều này người chí nguyện phải học cách tự cứu mình, đồng thời tránh các hoạt động ấy; cuối cùng, điều này sẽ làm cho tiến trình cứu thoát trở nên không cần thiết.

1. A potent thought-form can act like a boomerang. It can return, charged with increased velocity, to the one who sent it on its mission. A strong hatred, clothed in mental matter, can return to its creator charged with the energy of the hated person, and can hence work havoc in the life of the aspirant. Hate not, for hatred returns ever from whence it came. There is a depth of truth in the ancient aphorism: “Curses, like chickens, come home to roost.”

1. Một hình tư tưởng mạnh mẽ có thể tác động như một vật ném quay trở lại. Nó có thể trở về, được tích điện với tốc độ tăng thêm, với người đã phái nó đi thi hành sứ mệnh. Một thù hận mạnh mẽ, khoác trong chất liệu trí tuệ, có thể trở về với người tạo ra nó, được tích điện bằng năng lượng của người bị thù ghét, và do đó có thể gây tàn phá trong đời sống của người chí nguyện. Đừng thù ghét, vì thù hận luôn trở về từ nơi nó đã đến. Có một chiều sâu chân lý trong châm ngôn cổ: “Lời nguyền, như gà con, cuối cùng cũng về chuồng.”

A potent desire for material acquisition will eventually return bringing inevitably that which has been desired, only to find in the majority of cases that the aspirant no longer aches for possession, but regards it as an incubus, or, in the meantime, already possesses more than he needs and is satiated and knows not what to do with all that he has gained.

Một dục vọng mạnh mẽ đối với sự thủ đắc vật chất cuối cùng sẽ trở về, tất yếu mang theo điều đã được ham muốn, chỉ để thấy rằng trong đa số trường hợp, người chí nguyện không còn đau đáu muốn sở hữu nữa, mà xem nó như một gánh nặng đè nén; hoặc trong thời gian đó, y đã sở hữu nhiều hơn mức y cần, đã chán ngấy và không biết phải làm gì với tất cả những gì y đã đạt được.

A potent thought-form embodying an aspiration for spiritual illumination or for recognition by the Master may bring such a flood of light as to blind the aspirant, and make him consequently the possessor of a wealth of spiritual energy for which he is unready, and which he [489] cannot use. Again, it may attract to the aspirant a thought-form of one of the Great Ones, and thus swing him deeper into the world of illusion and of astralism. Hence the need for humility, for a longing to serve and a resulting self-forgetfulness if one is to build truly and correctly. Such is the law.

Một hình tư tưởng mạnh mẽ hiện thân khát vọng về sự soi sáng tinh thần hoặc về sự công nhận của Chân sư có thể mang đến một trận lũ ánh sáng đến mức làm mù người chí nguyện, và vì thế khiến y trở thành sở hữu chủ của một khối năng lượng tinh thần mà y chưa sẵn sàng, và y [489] không thể sử dụng. Lại nữa, nó có thể thu hút đến người chí nguyện một hình tư tưởng của một trong Các Đấng Cao Cả, và như vậy cuốn y sâu hơn vào thế giới ảo tưởng và tình trạng cảm dục. Vì thế cần có sự khiêm nhường, lòng khao khát phụng sự và kết quả là sự quên mình, nếu một người muốn xây dựng một cách chân thật và đúng đắn. Định luật là như vậy.

2. A thought-form can also act as a poisoning agent, and poison all the springs of life. It may not be potent enough to swing out of its creator’s aura (very few thought-forms are), and find its goal in another aura there to gather strength and so return from whence it came, but it may have a vitality of its own which can devastate the life of the aspirant. A violent dislike, a gnawing worry, a jealousy, a constant anxiety and a longing for something or someone may act so potently as an irritant or poison that the entire life is spoilt, and service is rendered futile. The entire life is embittered and devitalised by the embodied worry, hatred or desire. All relationships with other people are rendered equally futile or even definitely harmful, for the worried or suspicious aspirant spoils the home circle or his group of friends by his inner poisonous attitude, governed by an idea. His relation to his own soul and the strength of the contact with the world of spiritual ideas is at a standstill, for he cannot progress onward and is held back by the poison in his mental system. His vision becomes distorted, his nature corroded, and all his relationships impeded by the wearing, nagging thoughts which he has himself embodied in form and which have a life so powerful that they can poison him. He cannot rid himself of them no matter how hard he tries or how clearly he sees (theoretically) the cause of his trouble. This is one of the commonest forms of difficulty, for it has its seat in the selfish personal life, and is ofttimes so fluidic that it seems to defy direct action.

2. Một hình tư tưởng cũng có thể tác động như một tác nhân đầu độc, và đầu độc mọi nguồn mạch của sự sống. Nó có thể không đủ mạnh để văng ra khỏi hào quang của người tạo ra nó, rất ít hình tư tưởng có thể làm được như vậy, và tìm thấy mục tiêu của nó trong một hào quang khác, tại đó gom thêm sức mạnh rồi trở về từ nơi nó đã đến; nhưng nó có thể có một sinh lực riêng có khả năng tàn phá đời sống của người chí nguyện. Một sự không ưa mãnh liệt, một nỗi lo âu gặm nhấm, một sự ghen tị, một nỗi bất an thường trực và một khao khát đối với một điều gì hay một người nào đó có thể tác động mạnh mẽ như một chất kích thích hoặc chất độc đến mức toàn bộ đời sống bị hủy hoại, và sự phụng sự trở nên vô hiệu. Toàn bộ đời sống bị làm đắng cay và mất sinh lực bởi nỗi lo, thù hận hoặc dục vọng đã được hiện thân. Mọi mối quan hệ với người khác đều trở nên vô hiệu như nhau, hoặc thậm chí rõ ràng có hại, vì người chí nguyện đầy lo âu hoặc nghi ngờ làm hỏng vòng gia đình hay nhóm bạn hữu của mình bằng thái độ độc hại bên trong, do một ý tưởng chi phối. Mối liên hệ của y với linh hồn của chính mình và sức mạnh của sự tiếp xúc với thế giới các ý tưởng tinh thần bị đình trệ, vì y không thể tiến tới và bị giữ lại bởi chất độc trong hệ thống trí tuệ của mình. Tầm nhìn của y trở nên méo mó, bản chất của y bị ăn mòn, và mọi mối quan hệ của y bị cản trở bởi các tư tưởng dai dẳng, quấy nhiễu mà chính y đã hiện thân trong hình tướng, và chúng có một sự sống mạnh đến mức có thể đầu độc y. Y không thể tự giải thoát khỏi chúng, dù cố gắng đến đâu hay thấy rõ về mặt lý thuyết nguyên nhân của rắc rối mình đến mức nào. Đây là một trong những hình thức khó khăn thông thường nhất, vì nó có gốc rễ trong đời sống cá nhân ích kỷ, và thường linh động đến mức dường như thách thức hành động trực tiếp.

3. The third danger against which the aspirant must [490] guard himself is becoming obsessed by his own embodied ideas, be they temporarily right or basically wrong. Forget not that all right ideas are temporary in nature and must eventually take their place as partial rights and give place to the greater truth. The fact of the day is seen later as part of a greater fact. A man can have grasped some of the lesser principles of the Ageless Wisdom so clearly and be so convinced of their correctness that the bigger whole is forgotten and he builds a thought-form about the partial truth which he has seen which can prove a limitation and keep him a prisoner and hold him back from progress. He is so sure of his possession of truth that he can see the truth of no one else. He can be so convinced of the reality of His own embodied concept of what the truth may be that he forgets his own brain limitations and that the truth has come to him via his own soul and is consequently coloured by his ray, being subsequently built into form by his personal separative mind. He lives but for that little truth; he can see no other; he forces his thought-form on other people; he becomes the obsessed fanatic and so mentally unbalanced, even if the world regards him as sane.

3. Mối nguy thứ ba mà người chí nguyện phải [490] tự canh giữ là bị ám ảnh bởi chính các ý tưởng được hiện thân của mình, dù chúng tạm thời đúng hay căn bản sai. Đừng quên rằng mọi ý tưởng đúng đều có bản chất tạm thời, và cuối cùng phải nhận vị trí của chúng như những chân lý đúng từng phần, rồi nhường chỗ cho chân lý lớn hơn. Sự kiện của ngày hôm nay về sau được thấy như một phần của một sự kiện lớn hơn. Một người có thể nắm bắt một số nguyên lý nhỏ hơn của Minh Triết Ngàn Đời một cách rõ ràng đến mức, và tin chắc vào sự đúng đắn của chúng đến mức, toàn thể lớn hơn bị quên lãng; và y xây dựng một hình tư tưởng quanh chân lý từng phần mà y đã thấy, một hình tư tưởng có thể trở thành giới hạn, giam giữ y như tù nhân và kìm hãm y khỏi tiến bộ. Y quá chắc chắn về việc mình sở hữu chân lý đến nỗi không thể thấy chân lý của bất cứ ai khác. Y có thể quá tin chắc vào thực tại của khái niệm được hiện thân của chính y về điều chân lý có thể là, đến mức y quên các giới hạn của bộ não mình và quên rằng chân lý đã đến với y qua linh hồn của chính y, do đó bị tô màu bởi cung của y, rồi sau đó được xây dựng thành hình tướng bởi thể trí cá nhân chia rẽ của y. Y sống chỉ vì chút chân lý nhỏ ấy; y không thể thấy điều nào khác; y áp đặt hình tư tưởng của mình lên người khác; y trở thành kẻ cuồng tín bị ám ảnh và do đó mất quân bình trí tuệ, dù thế gian xem y là lành mạnh.

How shall a man guard himself from these dangers? How shall he rightly build? How shall he preserve that balance which will enable him to see truth, judge rightly, and so preserve his mental contact with his soul and with the souls of his fellow men?

Làm thế nào một người tự canh giữ khỏi những mối nguy này? Làm thế nào y xây dựng đúng đắn? Làm thế nào y duy trì được sự quân bình giúp y thấy chân lý, phán đoán đúng, và nhờ đó duy trì sự tiếp xúc trí tuệ với linh hồn của mình và với linh hồn của đồng loại?

First and foremost, by the constant practice of Harmlessness. This involves harmlessness in speech and also in thought and consequently in action. It is a positive harmlessness, involving constant activity and watchfulness; it is not a negative and fluidic tolerance.

Trước hết và trên hết, bằng việc thực hành thường xuyên tính vô tổn hại. Điều này bao hàm tính vô tổn hại trong lời nói cũng như trong tư tưởng, và do đó trong hành động. Đó là một tính vô tổn hại tích cực, bao hàm hoạt động và sự tỉnh thức thường xuyên; nó không phải là một sự khoan dung tiêu cực và linh động.

Secondly, by a daily guarding of the doors of thought, and a supervision of the thought life. Certain lines of thought will not be permitted; certain old thought habits will be offset by the institution of constructive creative [491] thinking; certain preconceived ideas (note the esoteric value of that phrase), will be relegated to the background so that the new horizons will be visioned and the new ideas can enter. This will entail a daily, hourly watchfulness, but only until ancient habits have been overcome and the new rhythm established. Then the aspirant will discover that the mind is so focussed on the new spiritual ideas that the old thought-forms will fail to arrest the attention; they will die of inanition. There is encouragement in this thought. The first three years’ work will be the hardest. After that the mind will be engrossed by the ideas and not by the thought-form.

Thứ hai, bằng việc hằng ngày canh giữ các cánh cửa của tư tưởng, và giám sát đời sống tư tưởng. Một số đường lối tư tưởng sẽ không được phép tồn tại; một số thói quen tư tưởng cũ sẽ được hóa giải bằng việc thiết lập tư duy sáng tạo có tính xây dựng [491]; một số ý tưởng định kiến sẵn có — hãy lưu ý giá trị huyền bí của cụm từ ấy — sẽ được đẩy lùi vào hậu cảnh để những chân trời mới được linh thị và các ý tưởng mới có thể đi vào. Điều này sẽ đòi hỏi sự tỉnh thức hằng ngày, hằng giờ, nhưng chỉ cho đến khi các thói quen xưa cũ đã được vượt qua và nhịp điệu mới được thiết lập. Khi đó, người chí nguyện sẽ khám phá rằng thể trí tập trung đến mức vào các ý tưởng tinh thần mới đến nỗi những hình tư tưởng cũ không còn thu hút được sự chú ý; chúng sẽ chết vì thiếu nuôi dưỡng. Trong tư tưởng này có sự khích lệ. Công việc trong ba năm đầu sẽ là khó khăn nhất. Sau đó, thể trí sẽ bị cuốn hút bởi các ý tưởng, chứ không phải bởi hình tư tưởng.

Thirdly, by refusing to live in one’s own thought world and by entering the world of ideas and the stream of human thought currents. The world of ideas is the world of the soul, and of the higher mind. The stream of human thoughts and of opinions is that of the public consciousness and of the lower mind. The aspirant must function free in both worlds. Note this with care. The thought is not that he must function freely, which involves more the idea of facility but that he must function as a free agent in both worlds. Through constant daily meditation he does the first. Through wide reading and sympathetic interest and understanding he accomplishes the second.

Thứ ba, bằng việc từ chối sống trong thế giới tư tưởng riêng của mình và bằng cách đi vào thế giới của các ý tưởng cùng dòng chảy các luồng tư tưởng nhân loại. Thế giới của các ý tưởng là thế giới của linh hồn và của thượng trí. Dòng chảy các tư tưởng và ý kiến của nhân loại là dòng chảy của tâm thức công chúng và của hạ trí. Người chí nguyện phải hoạt động như một tác nhân tự do trong cả hai thế giới. Hãy lưu ý điều này một cách cẩn thận. Ý tưởng ở đây không phải là y phải hoạt động một cách dễ dàng, điều hàm ý nhiều hơn về sự thuận tiện, mà là y phải hoạt động như một tác nhân tự do trong cả hai thế giới. Nhờ tham thiền hằng ngày và đều đặn, y thực hiện điều thứ nhất. Nhờ đọc rộng, quan tâm với thiện cảm và thấu hiểu, y hoàn thành điều thứ hai.

Fourthly, he must learn to detach himself from his own thought creations, and leave them free to accomplish the purpose for which he intelligently sent them forth. This fourth process falls into two parts:

Thứ tư, y phải học cách tách rời mình khỏi các tạo tác tư tưởng của chính mình, và để chúng tự do hoàn thành mục đích mà y đã thông minh phóng chúng ra. Tiến trình thứ tư này chia thành hai phần:

1. By the use of a mystic phrase he severs the link which holds an embodied idea in his thought-aura.

1. Bằng việc sử dụng một cụm từ thần bí, y cắt đứt mối liên kết đang giữ một ý tưởng đã nhập thể trong hào quang tư tưởng của y.

2. By detaching his mind from the idea, once he has sent it on its mission, he learns the lesson of the Bhagavad Gita and “works without attachment”.

2. Bằng cách tách thể trí của y khỏi ý tưởng, một khi y đã phái nó đi thực hiện sứ mệnh, y học bài học của Chí Tôn Ca và “làm việc không chấp trước”.

These two points will vary according to the growth and status of the aspirant. Each has, for himself, to formulate [492] his own “severing phrase”, and each has for himself, alone and unaided, to learn to look away from the three worlds wherein he works in his effort to push his idea of the work to be done. He has to teach himself to withdraw his attention from the thought-form he has built, wherein that idea is embodied, knowing that as he lives as a soul, and as spiritual energy pours through him so his thought-form will express the spiritual idea and accomplish its work. It is held together by the life of the soul, and not by personality desire. The tangible results are ever dependent upon the strength of the spiritual impulse animating his idea, which is embodied in his thought-form. His work lies in the world of ideas and not in physical effects. Automatically the physical aspects will respond to the spiritual impulse.

Hai điểm này sẽ thay đổi tùy theo sự trưởng thành và địa vị của người chí nguyện. Mỗi người phải tự mình tạo lập [492] “cụm từ cắt đứt” của riêng mình, và mỗi người phải tự mình, một mình và không được trợ giúp, học cách quay cái nhìn khỏi ba cõi giới nơi y làm việc trong nỗ lực thúc đẩy ý tưởng của mình về công việc cần làm. Y phải tự dạy mình rút sự chú ý khỏi hình tư tưởng mà y đã xây dựng, trong đó ý tưởng ấy được nhập thể, biết rằng khi y sống như một linh hồn, và khi năng lượng tinh thần tuôn chảy qua y, thì hình tư tưởng của y sẽ biểu lộ ý tưởng tinh thần và hoàn thành công việc của nó. Nó được giữ lại với nhau bởi sự sống của linh hồn, chứ không phải bởi dục vọng của phàm ngã. Các kết quả hữu hình luôn tùy thuộc vào sức mạnh của xung lực tinh thần đang làm linh hoạt ý tưởng của y, vốn được nhập thể trong hình tư tưởng của y. Công việc của y nằm trong thế giới của các ý tưởng chứ không nằm trong các hiệu quả hồng trần. Các phương diện hồng trần sẽ tự động đáp ứng với xung lực tinh thần.

Salvation from Death—Cứu Rỗi từ Sự Chết

We come now to the second phase of our study of the final words of Rule XI. We have dealt with salvation from the dangers incident to the creation of thoughtforms by a human being who has learnt, or is learning, to create on the mental plane. Much could have been said from the standpoint of the inability of the majority of students to think with clarity. Clear thinking involves capacity to dissociate oneself, temporarily at least, from all reactions and activities of an emotional nature. As long as the astral body is in a state of restless movement, and its moods and feelings, its desires and emotions are powerful enough to attract attention, positive pure thought processes are not possible. Until the time comes when there is a more general appreciation of the value of concentration and of meditation, and until the nature of the mind and its modifications are more universally understood, any further teaching on the subject would be futile.

Giờ đây chúng ta đi đến giai đoạn thứ hai trong việc nghiên cứu những lời cuối của Quy luật XI. Chúng ta đã đề cập đến sự cứu thoát khỏi những hiểm nguy gắn liền với việc tạo ra các hình tư tưởng bởi một con người đã học, hoặc đang học, cách sáng tạo trên cõi trí. Có thể nói rất nhiều từ lập trường về sự bất lực của đa số đạo sinh trong việc suy nghĩ rõ ràng. Tư duy rõ ràng bao hàm khả năng tách mình ra, ít nhất là tạm thời, khỏi mọi phản ứng và hoạt động thuộc bản chất cảm xúc. Bao lâu thể cảm dục còn ở trong trạng thái chuyển động bất an, và các tâm trạng, cảm xúc, dục vọng cùng xúc cảm của nó còn đủ mạnh để thu hút sự chú ý, thì các tiến trình tư tưởng thuần khiết và tích cực không thể có được. Cho đến khi đến lúc người ta biết trân trọng rộng rãi hơn giá trị của định trí và tham thiền, và cho đến khi bản chất của thể trí cùng các biến thái của nó được thấu hiểu phổ quát hơn, thì mọi giáo huấn thêm nữa về đề tài này đều sẽ vô ích.

In these Instructions I have sought to give an indication [493] of the first steps in esoteric psychology, and have dealt primarily with the nature and mode of training of the astral body. Later on in this century, the psychology of the mind, its nature and modifications may be handled in more detail. But the time is not yet.

Trong các Huấn thị này, Tôi đã tìm cách đưa ra một chỉ dẫn [493] về những bước đầu trong Tâm Lý Học Nội Môn, và chủ yếu đã đề cập đến bản chất cùng phương thức huấn luyện thể cảm dục. Về sau trong thế kỷ này, tâm lý học của thể trí, bản chất và các biến thái của nó, có thể được xử lý chi tiết hơn. Nhưng thời điểm ấy chưa đến.

Our subject now is salvation from the body nature through the process of death.

Đề tài của chúng ta hiện nay là sự cứu thoát khỏi bản chất thể xác thông qua tiến trình cái chết.

Two things must be borne in mind as we seek to study the means of this salvation:

Có hai điều cần được ghi nhớ khi chúng ta tìm cách nghiên cứu phương tiện của sự cứu thoát này:

First, by the body nature I mean the integrated personality, or the human equipment of physical body, vital or etheric vehicle, the matter (or mode of being) of the desire nature, and the mind stuff. These constitute the sheaths or outer forms of the incarnated soul. The consciousness aspect is sometimes focussed in one and sometimes in another, or is identified with the form or with the soul. The average man works with facility and self-consciousness in the physical and astral bodies. The intelligent and highly evolved man has added to these two the conscious control of his mental apparatus, though only in certain of its aspects, such as the memorising or analysing faculties. He has also, in some cases, succeeded in unifying these three into a consciously functioning personality. The aspirant is beginning to understand something of the principle of life which is animating the personality, whilst the disciple is utilising all three, because he has coordinated or aligned the soul, the mind, and the brain and is therefore beginning to work with his subjective apparatus or energy aspects.

Trước hết, khi nói đến bản chất thể xác, Tôi muốn nói đến Phàm ngã tích hợp, hay trang bị con người gồm thể xác, vận cụ sinh lực hay dĩ thái, chất liệu — hay phương thức hiện hữu — của bản chất dục vọng, và chất liệu trí tuệ. Những điều này cấu thành các lớp vỏ hay các hình tướng bên ngoài của linh hồn đang nhập thể. Phương diện tâm thức đôi khi tập trung trong lớp này, đôi khi trong lớp khác, hoặc đồng hóa với hình tướng hay với linh hồn. Người bình thường hoạt động dễ dàng và có ngã thức trong thể xác và thể cảm dục. Người thông minh và tiến hóa cao đã thêm vào hai thể này sự kiểm soát có ý thức đối với bộ máy trí tuệ của mình, dù chỉ trong một số phương diện của nó, như các năng lực ghi nhớ hay phân tích. Trong một vài trường hợp, y cũng đã thành công trong việc hợp nhất ba yếu tố này thành một phàm ngã hoạt động có ý thức. Người chí nguyện đang bắt đầu thấu hiểu đôi chút về nguyên khí sự sống vốn làm linh hoạt phàm ngã, trong khi người đệ tử đang sử dụng cả ba, bởi vì y đã phối hợp hay chỉnh hợp linh hồn, thể trí và bộ não, và do đó đang bắt đầu làm việc với bộ máy chủ quan hay các phương diện năng lượng của mình.

Secondly, this salvation is brought about through a right understanding of the mystical experience we call death. This is to be our theme, and the subject is so immense that I can only indicate certain lines along which the aspirant may think, and posit certain premises which he can later elaborate. We shall confine ourselves also primarily to the death of the physical body. [494]

Thứ hai, sự cứu thoát này được đem lại nhờ sự thấu hiểu đúng đắn về kinh nghiệm thần bí mà chúng ta gọi là cái chết. Đây sẽ là chủ đề của chúng ta, và đề tài này rộng lớn đến mức Tôi chỉ có thể chỉ ra một số đường hướng mà người chí nguyện có thể suy nghĩ, và nêu lên một số tiền đề mà về sau y có thể khai triển. Chúng ta cũng sẽ tự giới hạn chủ yếu vào cái chết của thể xác. [494]

Let us first of all define this mysterious process to which all forms are subject and which is frequently only the dreaded end—dreaded because it is not understood. The mind of man is so little developed that fear of the unknown, terror of the unfamiliar, and attachment to form have brought about a situation where one of the most beneficent occurrences in the life cycle of an incarnating Son of God is looked upon as something to be avoided and postponed for as long a time as possible.

Trước hết, chúng ta hãy định nghĩa tiến trình huyền bí này, mà mọi hình tướng đều phải chịu, và thường chỉ được xem như một kết thúc đáng sợ — đáng sợ vì nó không được thấu hiểu. Thể trí của con người còn phát triển quá ít đến nỗi nỗi sợ điều chưa biết, sự kinh hoàng trước điều xa lạ, và sự bám chấp vào hình tướng đã tạo nên một tình trạng trong đó một trong những biến cố phúc lành nhất trong chu kỳ sống của một Con của Thượng đế đang nhập thể lại bị xem như điều cần tránh né và trì hoãn càng lâu càng tốt.

Death, if we could but realise it, is one of our most practised activities. We have died many times and shall die again and again. Death is essentially a matter of consciousness. We are conscious one moment on the physical plane, and a moment later we have withdrawn onto another plane and are actively conscious there. Just as long as our consciousness is identified with the form aspect, death will hold for us its ancient terror. Just as soon as we know ourselves to be souls, and find that we are capable of focussing our consciousness or sense of awareness in any form or on any plane at will, or in any direction within the form of God, we shall no longer know death.

Nếu chúng ta có thể nhận ra, cái chết là một trong những hoạt động mà chúng ta thực hành nhiều nhất. Chúng ta đã chết nhiều lần và sẽ còn chết đi chết lại. Về bản chất, cái chết là một vấn đề của tâm thức. Trong khoảnh khắc này chúng ta có ý thức trên cõi hồng trần, và khoảnh khắc tiếp theo chúng ta đã rút lui sang một cõi khác và có ý thức hoạt động ở đó. Bao lâu tâm thức của chúng ta còn đồng hóa với phương diện hình tướng, cái chết sẽ còn giữ đối với chúng ta nỗi kinh hoàng cổ xưa của nó. Ngay khi chúng ta biết mình là linh hồn, và nhận thấy rằng chúng ta có khả năng tùy ý tập trung tâm thức hay cảm thức nhận biết của mình trong bất kỳ hình tướng nào, trên bất kỳ cõi nào, hoặc theo bất kỳ hướng nào trong hình tướng của Thượng đế, chúng ta sẽ không còn biết đến cái chết nữa.

Death for the average man is the cataclysmic end, involving the termination of all human relations, the cessation of all physical activity, the severing of all signs of love and of affection, and the passage (unwilling and protesting) into the unknown and the dreaded. It is analogous to leaving a lighted and a warmed room, friendly and familiar, where our loved ones are assembled, and going out into the cold and dark night, alone and terror stricken, hoping for the best and sure of nothing.

Đối với người bình thường, cái chết là sự kết thúc mang tính thảm họa, bao hàm sự chấm dứt mọi quan hệ nhân loại, sự ngưng lại của mọi hoạt động hồng trần, sự cắt đứt mọi dấu hiệu của tình thương và tình cảm, và sự đi vào điều chưa biết và đáng sợ trong trạng thái không muốn và phản kháng. Nó tương tự như rời khỏi một căn phòng sáng đèn và ấm áp, thân thiện và quen thuộc, nơi những người thân yêu của chúng ta tụ họp, rồi đi ra ngoài vào đêm tối lạnh lẽo, một mình và đầy kinh hãi, hy vọng điều tốt đẹp nhất mà không chắc chắn điều gì.

But people are apt to forget that every night, in the hours of sleep, we die to the physical plane and are alive and functioning elsewhere. They forget that they have already achieved facility in leaving the physical body; [495] because they cannot as yet bring back into the physical brain consciousness the recollection of that passing out, and of the subsequent interval of active living, they fail to relate death and sleep. Death, after all, is only a longer interval in the life of physical plane functioning; one has only “gone abroad” for a longer period. But the process of daily sleep and the process of occasional dying are identical, with the one difference that in sleep the magnetic thread or current of energy along which the life force streams is preserved intact, and constitutes the path of return to the body. In death, this life thread is broken or snapped. When this has happened, the conscious entity cannot return to the dense physical body and that body lacking the principle of coherence, then disintegrates.

Nhưng người ta dễ quên rằng mỗi đêm, trong những giờ ngủ, chúng ta chết đối với cõi hồng trần và sống, hoạt động ở nơi khác. Họ quên rằng họ đã đạt được sự dễ dàng trong việc rời khỏi thể xác; [495] vì họ chưa thể đem trở lại vào tâm thức bộ não hồng trần ký ức về sự ra đi ấy, và về khoảng thời gian sống động sau đó, nên họ không liên hệ được cái chết với giấc ngủ. Xét cho cùng, cái chết chỉ là một khoảng gián đoạn dài hơn trong đời sống hoạt động trên cõi hồng trần; người ta chỉ “đi xa” trong một thời gian dài hơn. Nhưng tiến trình ngủ hằng ngày và tiến trình thỉnh thoảng chết đi là đồng nhất, với một khác biệt duy nhất: trong giấc ngủ, sợi dây từ tính hay dòng năng lượng dọc theo đó sinh lực tuôn chảy vẫn được giữ nguyên vẹn, và tạo thành con đường trở về với thể xác. Trong cái chết, sinh mệnh tuyến này bị đứt hay bị cắt lìa. Khi điều này xảy ra, thực thể có ý thức không thể trở về thể xác đậm đặc, và thể xác ấy, thiếu nguyên khí cố kết, khi đó tan rã.

It should be remembered that the purpose and will of the soul, the spiritual determination to be and to do, utilises the thread soul, the sutratma, the life current, as its means of expression in form. This life current differentiates into two currents or two threads when it reaches the body, and is “anchored”, if I might so express it, in two locations in that body. This is symbolic of the differentiations of Atma, or Spirit, into its two reflections, soul and body. The soul, or consciousness aspect, that which makes a human being a rational, thinking entity, is “anchored” by one aspect of this thread soul to a “seat” in the brain, found in the region of the pineal gland. The other aspect of the life which animates every atom of the body and which constitutes the principle of coherence or of integration, finds its way to the heart and is focussed or “anchored” there. From these two points, the spiritual man seeks to control the mechanism. Thus functioning on the physical plane becomes possible, and objective existence becomes a temporary mode of expression. The soul, seated in the brain, makes man an intelligent rational entity, self-conscious and self-directing; [496] he is aware in varying degree of the world in which he lives, according to the point in evolution and the consequent development of the mechanism. That mechanism is triple in expression. There are first of all the nadis and the seven centres of force; then the nervous system in its three divisions: cerebro-spinal, sympathetic, and peripheral; and then there is the endocrine system, which might be regarded as the densest aspect or externalisation of the other two.

Cần nhớ rằng mục đích và ý chí của linh hồn, quyết tâm tinh thần để hiện hữu và hành động, sử dụng sợi dây linh hồn, tức sinh mệnh tuyến, dòng sinh lực, như phương tiện biểu lộ của nó trong hình tướng. Dòng sinh lực này biến phân thành hai dòng hay hai sợi dây khi nó đến thể xác, và được “neo lại”, nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy, tại hai vị trí trong thể xác ấy. Điều này tượng trưng cho các sự biến phân của Atma, hay Tinh thần, thành hai phản chiếu của nó: linh hồn và thể xác. Linh hồn, hay phương diện tâm thức, cái làm cho một con người trở thành một thực thể có lý trí và biết suy nghĩ, được “neo” bởi một phương diện của sợi dây linh hồn này vào một “chỗ ngồi” trong bộ não, nằm ở vùng tuyến tùng. Phương diện kia của sự sống, vốn làm linh hoạt mọi nguyên tử của thể xác và cấu thành nguyên khí cố kết hay tích hợp, tìm đường đến trái tim và được tập trung hay “neo” ở đó. Từ hai điểm này, con người tinh thần tìm cách kiểm soát bộ máy. Nhờ vậy, việc hoạt động trên cõi hồng trần trở nên khả hữu, và sự tồn tại khách quan trở thành một phương thức biểu lộ tạm thời. Linh hồn, an tọa trong bộ não, làm cho con người trở thành một thực thể thông minh, có lý trí, có ngã thức và tự hướng dẫn; [496] y nhận biết ở những mức độ khác nhau về thế giới trong đó y sống, tùy theo điểm tiến hoá và sự phát triển hệ quả của bộ máy. Bộ máy ấy có biểu lộ tam phân. Trước hết là các tuyến lực và bảy trung tâm mãnh lực; kế đó là hệ thần kinh trong ba phân bộ của nó: não tủy, giao cảm và ngoại biên; rồi đến hệ nội tiết, có thể được xem như phương diện đậm đặc nhất hay sự ngoại hiện của hai hệ kia.

The soul, seated in the heart, is the life principle, the principle of self-determination, the central nucleus of positive energy by means of which all the atoms of the body are held in their right place and subordinated to the “will-to-be” of the soul. This principle of life utilises the blood stream as its mode of expression and as its controlling agency, and through the close relation of the endocrine system to the blood stream, we have the two aspects of soul activity brought together in order to make man a living, conscious, functioning entity, governed by the soul, and expressing the purpose of the soul in all the activities of daily living.

Linh hồn, an tọa trong trái tim, là nguyên khí sự sống, nguyên khí tự quyết, hạt nhân trung tâm của năng lượng tích cực nhờ đó mọi nguyên tử của thể xác được giữ đúng vị trí của chúng và được đặt dưới “ý chí hiện hữu” của linh hồn. Nguyên khí sự sống này sử dụng dòng máu như phương thức biểu lộ và như cơ quan kiểm soát của nó, và thông qua mối liên hệ mật thiết giữa hệ nội tiết với dòng máu, chúng ta có hai phương diện của hoạt động linh hồn được đem lại với nhau để khiến con người thành một thực thể sống động, có ý thức, đang hoạt động, được linh hồn cai quản, và biểu lộ mục đích của linh hồn trong mọi hoạt động của đời sống hằng ngày.

Death, therefore, is literally the withdrawal from the heart and from the head of these two streams of energy, producing consequently, complete loss of consciousness and disintegration of the body. Death differs from sleep in that both streams of energy are withdrawn. In sleep only the thread of energy, which is anchored in the brain is withdrawn, and when this happens the man becomes unconscious. By this we mean that his consciousness or sense of awareness is focussed elsewhere. His attention is no longer directed towards things tangible and physical but is turned upon another world of being and becomes centred in another apparatus or mechanism. In death, both the threads are withdrawn or unified in the life thread. Vitality ceases to penetrate through the medium of the blood stream and the heart fails to function [497] just as the brain fails to record, and thus silence settles down. The house is empty. Activity ceases except that amazing and immediate activity which is the prerogative of matter itself and which expresses itself in the process of decomposition. From certain aspects, therefore, that process indicates man’s unity with everything that is material; it demonstrates that he is part of nature itself and by nature we mean the body of the one life in whom “we live and move and have our being”. In those three words—living, moving and being—we have the entire story. Being is awareness, self consciousness and self-expression and of this man’s head and brain are the exoteric symbols. Living is energy, desire in form, coherence and adhesion to an idea and of this the heart and the blood are the exoteric symbols. Moving indicates the integration and response of the existing, aware, living entity into the universal activity, and of this the stomach, pancreas and liver are the symbols.

Do đó, cái chết, theo nghĩa đen, là sự rút lui khỏi trái tim và khỏi đầu của hai dòng năng lượng này, và hệ quả là tạo ra sự mất hoàn toàn tâm thức cùng sự tan rã của thể xác. Cái chết khác với giấc ngủ ở chỗ cả hai dòng năng lượng đều được rút lui. Trong giấc ngủ, chỉ sợi dây năng lượng được neo trong bộ não là được rút lui, và khi điều này xảy ra, con người trở nên vô thức. Bằng điều này, chúng ta muốn nói rằng tâm thức hay cảm thức nhận biết của y được tập trung ở nơi khác. Sự chú ý của y không còn hướng về những điều hữu hình và hồng trần, mà quay sang một thế giới hiện hữu khác và trở nên tập trung trong một bộ máy hay cơ chế khác. Trong cái chết, cả hai sợi dây đều được rút lui hoặc hợp nhất trong sinh mệnh tuyến. Sinh lực ngừng thâm nhập qua trung gian dòng máu và trái tim không còn hoạt động [497] cũng như bộ não không còn ghi nhận, và như thế sự im lặng lắng xuống. Ngôi nhà trống rỗng. Hoạt động chấm dứt, ngoại trừ hoạt động kỳ diệu và tức thời vốn là đặc quyền của chính vật chất và biểu lộ qua tiến trình phân hủy. Do đó, xét từ một số phương diện, tiến trình ấy cho thấy sự hợp nhất của con người với mọi điều thuộc vật chất; nó chứng minh rằng y là một phần của chính thiên nhiên, và bởi thiên nhiên chúng ta muốn nói đến thể của sự sống duy nhất trong đó “chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu”. Trong ba từ ấy — sống, chuyển động và hiện hữu — chúng ta có toàn bộ câu chuyện. Hiện hữu là nhận biết, ngã thức và tự biểu lộ, và đầu cùng bộ não của con người là các biểu tượng ngoại môn của điều này. Sống là năng lượng, dục vọng trong hình tướng, sự cố kết và sự gắn bó với một ý tưởng, và trái tim cùng máu là các biểu tượng ngoại môn của điều này. Chuyển động chỉ sự tích hợp và đáp ứng của thực thể đang hiện hữu, đang nhận biết, đang sống đối với hoạt động phổ quát, và dạ dày, tụy cùng gan là các biểu tượng của điều này.

It is interesting, though incidental to our subject, to bear in mind that in cases of imbecility and idiocy and in that stage of old age which we call senile decay, the thread which is anchored in the brain is withdrawn, whilst that which conveys the life impulse or urge remains still anchored in the heart. There is life but no intelligent awareness; there is movement but no intelligent direction; in the case of senile decay, when there has been a high grade apparatus utilized in life, there may be the appearance of intelligent functioning but that is an illusion due to old habit and to old established rhythm but not to coordinated coherent purpose.

Điều thú vị, dù chỉ là phụ đối với đề tài của chúng ta, là cần ghi nhớ rằng trong các trường hợp đần độn và ngu si, cũng như trong giai đoạn tuổi già mà chúng ta gọi là suy thoái lão niên, sợi dây được neo trong bộ não đã được rút lui, trong khi sợi dây truyền xung lực hay thôi thúc sự sống vẫn còn neo trong trái tim. Có sự sống nhưng không có nhận biết thông minh; có chuyển động nhưng không có sự hướng dẫn thông minh; trong trường hợp suy thoái lão niên, khi trong đời sống đã từng sử dụng một bộ máy thuộc cấp độ cao, có thể có vẻ ngoài của hoạt động thông minh, nhưng đó là một ảo tưởng do thói quen cũ và nhịp điệu đã thiết lập từ lâu, chứ không phải do mục đích phối hợp và cố kết.

It must be noted also that death is, therefore, undertaken at the direction of the ego, no matter how unaware a human being may be of that direction. The process works automatically with the majority, for when the soul withdraws its attention the inevitable reaction on the physical plane is death, either by the abstraction of the [498] dual threads of life and reason energy, or by the abstraction of the thread of energy which is qualified by mentality, leaving the life stream still functioning through the heart but no intelligent awareness. The soul is engaged elsewhere and occupied on its own plane with its own affairs.

Cũng cần lưu ý rằng, do đó, cái chết được thực hiện theo sự chỉ dẫn của chân ngã, bất kể một con người có thể không nhận biết đến mức nào về sự chỉ dẫn ấy. Đối với đa số, tiến trình này vận hành tự động, vì khi linh hồn rút sự chú ý của nó, phản ứng tất yếu trên cõi hồng trần là cái chết, hoặc bằng sự rút lấy [498] hai sợi dây của sự sống và năng lượng lý trí, hoặc bằng sự rút lấy sợi dây năng lượng được phẩm định bởi trí tuệ, để lại dòng sự sống vẫn hoạt động qua trái tim nhưng không có nhận biết thông minh. Linh hồn đang bận rộn ở nơi khác và lo việc riêng trên cõi riêng của nó.

In the case of highly developed human beings we often find a sense of pre-vision as to the death period; this is incident upon egoic contact and awareness of the wishes of the ego. It involves sometimes a knowledge of the very day of death, coupled to a preservation of self-determination up to the final moment of withdrawal. In the case of initiates there is much more than this. There is an intelligent understanding of the laws of abstraction and this enables the one who is making the transition to withdraw consciously and in full waking awareness out of the physical body and so to function on the astral plane. This involves the preservation of continuity of consciousness so that no hiatus occurs between the sense of awareness on the physical plane and that of the after death state. The man knows himself to be as he was before, though without an apparatus whereby he can contact the physical plane. He remains aware of the states of feeling and of the thoughts of those he loves, though he cannot perceive or contact the dense physical vehicle. He can communicate with them on the astral plane or telepathically through the mind if they and he are en rapport, but communication that involves the use of the five physical senses of perception lies necessarily out of his reach. It is useful to remember, however, that astrally and mentally the interplay can be closer and more sensitive than ever before for he is freed of the handicap of the physical body. Two things, however, militate against this interplay: one is the grief and violent emotional upset of those left behind and, in the case of the average human being, the other is the man’s own ignorance [499] and bewilderment as he stands faced by what are to him new conditions, though they are really old conditions, if he could but realize it. Once men have lost the fear of death and have established an understanding of the after-death world which is not based on hallucination and hysteria or on the conclusions (oft unintelligent) of the average medium, who speaks under the control of his own thought-form (built by himself and the circle of sitters), we shall have the process of death properly controlled. The condition of those left behind will be carefully handled so that there is no loss of relationship and no false expenditure of energy.

Trong trường hợp những con người phát triển cao, chúng ta thường thấy có một cảm thức tiên kiến về thời kỳ chết; điều này gắn liền với sự tiếp xúc chân ngã và sự nhận biết các ý muốn của chân ngã. Đôi khi nó bao hàm sự biết rõ chính ngày chết, đi kèm với việc duy trì quyền tự quyết cho đến khoảnh khắc cuối cùng của sự rút lui. Trong trường hợp các điểm đạo đồ, còn có nhiều hơn thế. Có một sự thấu hiểu thông minh về các định luật của sự rút lấy, và điều này cho phép người đang thực hiện chuyển tiếp rút lui một cách có ý thức và trong trạng thái tỉnh thức trọn vẹn ra khỏi thể xác, rồi hoạt động trên cõi cảm dục. Điều này bao hàm việc duy trì tính liên tục của tâm thức, để không có khoảng đứt đoạn nào xảy ra giữa cảm thức nhận biết trên cõi hồng trần và cảm thức của trạng thái sau khi chết. Con người biết mình vẫn là chính mình như trước, dù không còn một bộ máy nhờ đó y có thể tiếp xúc với cõi hồng trần. Y vẫn nhận biết các trạng thái cảm xúc và các tư tưởng của những người y yêu thương, dù y không thể nhận thức hay tiếp xúc với vận cụ hồng trần đậm đặc. Y có thể giao tiếp với họ trên cõi cảm dục hoặc bằng viễn cảm qua thể trí nếu họ và y ở trong sự hòa hợp cảm ứng, nhưng sự giao tiếp bao hàm việc sử dụng năm giác quan tri giác hồng trần tất yếu nằm ngoài tầm với của y. Tuy nhiên, hữu ích khi nhớ rằng về mặt cảm dục và trí tuệ, sự tương tác có thể gần gũi và nhạy bén hơn bao giờ hết, vì y đã được giải thoát khỏi sự cản trở của thể xác. Tuy nhiên, có hai điều chống lại sự tương tác này: một là nỗi đau buồn và sự xáo trộn cảm xúc dữ dội của những người ở lại, và trong trường hợp con người bình thường, điều kia là sự vô minh [499] và hoang mang của chính người ấy khi y đối diện với những điều kiện đối với y là mới, dù thật ra chúng là những điều kiện cũ, nếu y chỉ có thể nhận ra điều đó. Một khi con người đã mất đi nỗi sợ cái chết và đã thiết lập một sự thấu hiểu về thế giới sau khi chết không dựa trên ảo giác và kích động cuồng loạn, cũng không dựa trên các kết luận — thường thiếu thông minh — của đồng tử trung bình, người nói dưới sự kiểm soát của chính hình tư tưởng của mình, do bản thân y và vòng người tham dự xây dựng, thì chúng ta sẽ có tiến trình cái chết được kiểm soát đúng đắn. Tình trạng của những người ở lại sẽ được xử lý cẩn thận, để không có sự mất mát quan hệ và không có sự tiêu hao năng lượng sai lầm.

There is a big difference now between the scientific method of bringing people into incarnation and the perfectly blind and oft frightened and surely ignorant way in which we usher them out of incarnation. I seek today to open the door in the occident to a newer and more scientific method of handling the process of dying, and let me make myself perfectly clear. What I have to say in no way abrogates modern medical science with its palliatives and skill. All I plead for is a sane approach to death; all I seek to make is a suggestion that when pain has worn itself out and weakness has supervened, the dying person be permitted to prepare himself, even if apparently unconscious, for the great transition. Forget not that it takes strength and a strong hold on the nervous apparatus to produce pain. Is it impossible to conceive of a time when the act of dying will be a triumphant finale of life? Is it impossible to vision the time when the hours spent on the death bed may be but a glorious prelude to a conscious exit? When the fact that the man is to discard the handicap of the physical sheath may be for him and those around him the long waited for and joyous consummation? Can you not visualize the time when instead of tears and fear and the refusal to recognize the inevitable, the dying person and [500] his friends would mutually agree on the hour and that nothing but happiness would characterize the passing? That in the minds of those left behind the thought of sorrow will not enter and death beds will be regarded as happier occasions than births and marriages? I tell you, that before so very long this will be deeply so for the intelligent of the race, and little by little for all.

Hiện nay có một khác biệt lớn giữa phương pháp khoa học trong việc đưa con người vào lâm phàm và cách hoàn toàn mù quáng, thường đầy sợ hãi và chắc chắn vô minh mà chúng ta tiễn họ ra khỏi lâm phàm. Hôm nay, Tôi tìm cách mở cánh cửa ở phương Tây cho một phương pháp mới hơn và khoa học hơn trong việc xử lý tiến trình chết, và hãy để Tôi nói thật rõ. Điều Tôi phải nói không hề bác bỏ khoa học y học hiện đại với các phương tiện giảm đau và kỹ năng của nó. Tất cả những gì Tôi kêu gọi là một cách tiếp cận lành mạnh đối với cái chết; tất cả những gì Tôi tìm cách đưa ra là một gợi ý rằng khi đau đớn đã tự cạn kiệt và sự yếu sức đã ập đến, người sắp chết nên được phép chuẩn bị cho chính mình, ngay cả khi bề ngoài dường như vô thức, cho cuộc chuyển tiếp lớn lao. Đừng quên rằng cần có sức mạnh và sự nắm giữ mạnh mẽ trên bộ máy thần kinh mới tạo ra được đau đớn. Có phải không thể hình dung một thời điểm khi hành động chết đi sẽ là đoạn kết khải hoàn của đời sống? Có phải không thể linh thị thời điểm khi những giờ nằm trên giường chết chỉ là khúc dạo đầu huy hoàng cho một cuộc ra đi có ý thức? Khi sự kiện con người sắp loại bỏ chướng ngại của lớp vỏ hồng trần có thể là sự viên thành hoan hỉ và được chờ đợi từ lâu đối với y và những người chung quanh y? Các bạn không thể hình dung thời điểm khi thay vì nước mắt, sợ hãi và sự từ chối nhận ra điều không thể tránh khỏi, người sắp chết và [500] bạn bè của y sẽ cùng đồng thuận về giờ phút ấy, và chỉ có hạnh phúc đặc trưng cho sự ra đi đó sao? Rằng trong tâm trí của những người ở lại, tư tưởng buồn đau sẽ không đi vào, và giường chết sẽ được xem là những dịp hạnh phúc hơn cả sinh nở và hôn lễ? Tôi nói với các bạn rằng, chẳng bao lâu nữa điều này sẽ sâu sắc là như vậy đối với những người thông minh trong nhân loại, và dần dần đối với tất cả mọi người.

You say there are as yet only beliefs as to immortality and no sure evidences. In the accumulation of testimony, in the inner assurances of the human heart, in the fact of belief in eternal persistence as an idea in the minds of men lies sure indication. But indication will give place to conviction and knowledge before another hundred years has elapsed, for an event will take place and a revelation be given to the race which will turn hope into certainty and belief into knowledge. In the meantime, let a new attitude to death be cultivated and a new science of death be inaugurated. Let it cease to be the one thing we cannot control and which inevitably defeats us and let us begin to control our passing over to the other side, and to understand somewhat the technique of transition.

Các bạn nói rằng cho đến nay chỉ có những niềm tin về sự bất tử và không có bằng chứng chắc chắn. Trong sự tích lũy chứng ngôn, trong những xác tín bên trong của trái tim con người, trong sự kiện niềm tin vào sự tồn tại vĩnh cửu như một ý tưởng trong tâm trí con người, có một chỉ dấu chắc chắn. Nhưng chỉ dấu sẽ nhường chỗ cho xác tín và tri thức trước khi một trăm năm nữa trôi qua, vì một biến cố sẽ xảy ra và một sự mặc khải sẽ được ban cho nhân loại, điều sẽ biến hy vọng thành chắc chắn và niềm tin thành tri thức. Trong khi chờ đợi, hãy vun trồng một thái độ mới đối với cái chết và khởi lập một khoa học mới về cái chết. Hãy để nó không còn là điều duy nhất mà chúng ta không thể kiểm soát và điều tất yếu đánh bại chúng ta, và hãy bắt đầu kiểm soát sự vượt qua của chúng ta sang phía bên kia, cũng như thấu hiểu đôi chút về kỹ thuật chuyển tiếp.

Before I take up this subject in greater detail I would like to make reference to the “web in the brain”, which is intact for the majority but is non-existent for the illumined seer.

Trước khi Tôi bàn đề tài này chi tiết hơn, Tôi muốn nhắc đến “mạng lưới trong não”, vốn còn nguyên vẹn đối với đa số nhưng không tồn tại đối với nhà thông nhãn đã được soi sáng.

In the human body, as you know, we have an underlying, interpenetrating vital body which is the counterpart of the physical, which is larger than the physical and which we call the etheric body or double. It is an energy body and is composed of force centres and nadis or force threads. These underlie or are the counterparts of the nervous apparatus—the nerves and the nerve ganglia. In two places in the human vital body there are orifices of exit for the life force. One opening is in the solar plexus and the other is in the brain at the top of the head. Protecting [501] both is a closely woven web of etheric matter, composed of interlacing strands of life energy.

Trong thân người, như các bạn biết, chúng ta có một thể sinh lực nền tảng, thâm nhập lẫn nhau, là Đối phần của thể xác, lớn hơn thể xác, và chúng ta gọi nó là thể dĩ thái hay bản sao dĩ thái. Đó là một thể năng lượng và được cấu thành bởi các trung tâm mãnh lực cùng các tuyến lực hay sợi dây mãnh lực. Những thứ này nằm bên dưới hoặc là Đối phần của bộ máy thần kinh — các dây thần kinh và các hạch thần kinh. Ở hai nơi trong thể sinh lực của con người có các lỗ thoát ra cho sinh lực. Một lỗ mở nằm ở tùng thái dương và lỗ kia ở trong não, tại đỉnh đầu. Bảo vệ [501] cả hai là một mạng lưới chất liệu dĩ thái được dệt chặt chẽ, gồm những sợi năng lượng sự sống đan xen vào nhau.

During the process of death, the pressure of the life energy beating against the web produces eventually a puncturing or opening. Out of this the life force pours as the potency of the abstracting influence of the soul increases. In the case of animals, of infants and of men and women who are polarized entirely in the physical and astral bodies, the door of exit is the solar plexus and it is that web which is punctured, thus permitting the passing out. In the case of mental types, of the more highly evolved human units, it is the web at the top of the head in the region of the fontanelle which is ruptured, thus again permitting the exit of the thinking rational being.

Trong tiến trình cái chết, áp lực của năng lượng sự sống đập vào mạng lưới cuối cùng tạo ra một lỗ thủng hay lỗ mở. Từ đó sinh lực tuôn ra khi quyền năng của ảnh hưởng rút lấy từ linh hồn gia tăng. Trong trường hợp động vật, trẻ sơ sinh, và những người nam và nữ hoàn toàn phân cực trong thể xác và thể cảm dục, cửa thoát ra là tùng thái dương, và chính mạng lưới ấy bị chọc thủng, nhờ đó cho phép sự ra đi. Trong trường hợp các kiểu người trí tuệ, những đơn vị nhân loại tiến hóa cao hơn, chính mạng lưới ở đỉnh đầu, trong vùng thóp đầu, bị phá vỡ, nhờ đó một lần nữa cho phép thực thể có lý trí và biết suy nghĩ thoát ra.

In psychics and in the case of mediums and lower seers (clairvoyant and clairaudient people) the solar plexus web is permanently ruptured early in life and easily therefore they pass in or out of the body, going into trance, as it is called, and functioning on the astral plane. But for these types there is no continuity of consciousness and there seems no relation between their physical plane existence and the happenings which they relate whilst in trance and of which they usually remain totally unaware in the waking consciousness. The whole performance is below the diaphragm and is related primarily to animal sentient life. In the case of conscious clairvoyance and in the work of the higher psychics and seers there is no trance, obsession or mediumship. It is the web in the brain which is punctured and the opening in that region permits the inflow of light, information and inspiration; it confers also the power to pass into the state of Samadhi which is the spiritual correspondence to the trance condition of the animal nature.

Trong những người thông linh, và trong trường hợp các đồng tử cùng các nhà thông nhãn thấp — những người thông nhãn và thông nhĩ — mạng lưới tùng thái dương bị rách vĩnh viễn từ sớm trong đời, và do đó họ dễ dàng đi vào hoặc đi ra khỏi thể xác, bước vào trạng thái xuất thần, như người ta gọi, và hoạt động trên cõi cảm dục. Nhưng đối với các kiểu người này, không có tính liên tục của tâm thức, và dường như không có mối liên hệ nào giữa sự tồn tại trên cõi hồng trần của họ với các sự việc mà họ thuật lại trong khi xuất thần, những điều mà thường họ hoàn toàn không nhận biết trong tâm thức tỉnh thức. Toàn bộ hoạt động này nằm bên dưới cơ hoành và chủ yếu liên hệ với đời sống cảm tri của động vật. Trong trường hợp thông nhãn có ý thức, và trong công việc của những người thông linh và nhà thông nhãn cao hơn, không có xuất thần, ám ảnh hay đồng cốt. Chính mạng lưới trong não bị chọc thủng, và lỗ mở trong vùng ấy cho phép ánh sáng, thông tin và cảm hứng tuôn vào; nó cũng ban năng lực đi vào trạng thái đại định, vốn là tương ứng tinh thần của trạng thái xuất thần thuộc bản chất động vật.

In the process of death these are, therefore, the two main exits: the solar plexus for the astrally polarized, [502] physically biased human being and therefore of the vast majority, and the head centre for the mentally polarized and spiritually oriented human being. This is the first and most important fact to remember and it will easily be seen how the trend of a life tendency and the focus of the life attention determine the mode of exit at death. It can be seen also that an effort to control the astral life and the emotional nature and to orient one’s self to the mental world and to spiritual things has a momentous effect upon the phenomenal aspects of the death process.

Do đó, trong tiến trình cái chết, đây là hai lối ra chính: tùng thái dương dành cho con người phân cực cảm dục, [502] thiên về hồng trần, và vì thế dành cho đại đa số; và trung tâm đầu dành cho con người phân cực trí tuệ và hướng về tinh thần. Đây là sự kiện đầu tiên và quan trọng nhất cần ghi nhớ, và có thể dễ dàng thấy rằng xu hướng của khuynh hướng đời sống và tiêu điểm của sự chú ý trong đời sống quyết định phương thức thoát ra khi chết như thế nào. Cũng có thể thấy rằng nỗ lực kiểm soát đời sống cảm dục và bản chất cảm xúc, đồng thời định hướng bản thân về thế giới trí tuệ và các sự việc tinh thần, có một ảnh hưởng trọng đại đối với các phương diện hiện tượng của tiến trình cái chết.

If the student is thinking clearly, it will be apparent to him that one exit concerns the spiritual and highly evolved man, whilst the other concerns the low grade human being who has scarcely advanced beyond the animal stage. What then of the average man? A third exit is now in temporary use; just below the apex of the heart another etheric web is found covering an orifice of exit. We have, therefore, the following situation:

Nếu đạo sinh suy nghĩ rõ ràng, y sẽ thấy hiển nhiên rằng một lối ra liên quan đến con người tinh thần và tiến hóa cao, trong khi lối kia liên quan đến con người cấp thấp, hầu như chưa tiến xa hơn giai đoạn động vật. Vậy còn người bình thường thì sao? Hiện nay có một lối ra thứ ba đang được sử dụng tạm thời; ngay bên dưới đỉnh của trái tim có một mạng lưới dĩ thái khác che phủ một lỗ thoát ra. Do đó, chúng ta có tình trạng như sau:

1. The exit in the head, used by the intellectual type, by the disciples and initiates of the world.

1. Lối ra ở đầu, được kiểu người trí thức, các đệ tử và các điểm đạo đồ của thế gian sử dụng.

2. The exit in the heart, used by the kindly, well-meaning man or woman who is a good citizen, an intelligent friend and a philanthropic worker.

2. Lối ra ở tim, được người nam hay người nữ tử tế, có thiện chí, là công dân tốt, người bạn thông minh và người hoạt động nhân đạo sử dụng.

3. The exit in the region of the solar plexus, used by the emotional, unintelligent, unthinking man and by those whose animal nature is strong.

3. Lối ra ở vùng tùng thái dương, được người cảm xúc, thiếu thông minh, không suy nghĩ, và những người có bản chất động vật mạnh sử dụng.

This is the first point in the new information which will slowly become common knowledge in the West during the next century. Much of it is already known by thinkers in the East and is in the nature of a first step towards a rational understanding of the death process.

Đây là điểm đầu tiên trong thông tin mới sẽ dần dần trở thành tri thức phổ biến ở phương Tây trong thế kỷ tới. Phần lớn điều này đã được các nhà tư tưởng ở phương Đông biết đến, và có bản chất như một bước đầu hướng tới sự thấu hiểu hợp lý về tiến trình cái chết.

The second point to be grasped is that there can be a technique of dying and a training given during life which will lead up to the utilization of that technique.

Điểm thứ hai cần nắm bắt là có thể có một kỹ thuật chết và một sự huấn luyện được trao trong đời sống, dẫn đến việc sử dụng kỹ thuật ấy.

As regards the training to which a man can submit himself I will give a few hints which will be found to [503] convey a new meaning to much work now being done by all aspirants. The Elder Brothers of the race who have guided humanity through long centuries, are now busy preparing people for the next great step to be taken. This step will bring in a continuity of consciousness which will do away with all fear of death and link the physical and astral planes in such a close relation that they will in reality constitute one plane. Just as an at-one-ment has to be brought about between the various aspects of man, so a similar unification has to take place in connection with the various aspects of the planetary life. The planes have to be at-one-ed as well as soul and body. This has already been largely accomplished between the etheric plane and the dense physical plane. Now it is being rapidly carried forward between the physical and the astral.

Liên quan đến sự huấn luyện mà một người có thể tự mình tuân theo, Tôi sẽ đưa ra một vài gợi ý, những gợi ý sẽ được thấy là [503] truyền đạt một ý nghĩa mới cho nhiều công việc hiện đang được mọi người chí nguyện thực hiện. Các Huynh Trưởng của nhân loại, những Đấng đã hướng dẫn nhân loại qua nhiều thế kỷ dài, hiện đang bận rộn chuẩn bị con người cho bước lớn tiếp theo cần thực hiện. Bước này sẽ đem lại tính liên tục của tâm thức, điều sẽ loại bỏ mọi sợ hãi về cái chết và liên kết cõi hồng trần với cõi cảm dục trong một mối quan hệ gần gũi đến mức chúng thực sự sẽ cấu thành một cõi duy nhất. Cũng như một sự hợp nhất phải được tạo ra giữa các phương diện khác nhau của con người, thì một sự hợp nhất tương tự cũng phải diễn ra liên quan đến các phương diện khác nhau của sự sống hành tinh. Các cõi phải được hợp nhất cũng như linh hồn và thể xác. Điều này phần lớn đã được hoàn thành giữa cõi dĩ thái và cõi hồng trần đậm đặc. Giờ đây, nó đang được nhanh chóng thúc đẩy giữa cõi hồng trần và cõi cảm dục.

In the work being done by seekers in all departments of human thought and life, this unification is proceeding and in the training now suggested to earnest and sincere aspirants, there are other objectives than just the one of producing soul and body at-one-ment. No emphasis, however, is laid upon them, owing to the ability of man unduly to emphasize the wrong objectives. It might well be asked if it is possible to give a simple set of rules that would be followed now by all who seek to establish such a rhythm that life itself is not only organized and constructive, but when the moment for vacating the outer sheath arrives, there will be no problem nor difficulty. I will, therefore, give you four simple rules that link up with much that all students are now doing:

Trong công việc đang được những người tìm kiếm thực hiện trong mọi lĩnh vực tư tưởng và đời sống nhân loại, sự hợp nhất này đang tiến hành; và trong sự huấn luyện hiện được đề nghị cho những người chí nguyện nghiêm túc và chân thành, còn có các mục tiêu khác ngoài mục tiêu duy nhất là tạo ra sự hợp nhất giữa linh hồn và thể xác. Tuy nhiên, không nhấn mạnh vào chúng, do khả năng của con người là nhấn mạnh quá mức vào các mục tiêu sai lầm. Có thể đặt câu hỏi rằng liệu có thể đưa ra một bộ quy luật đơn giản mà hiện nay tất cả những ai tìm cách thiết lập một nhịp điệu như thế sẽ noi theo, để đời sống tự nó không chỉ có tổ chức và có tính xây dựng, mà khi khoảnh khắc rời bỏ lớp vỏ bên ngoài đến, sẽ không có vấn đề hay khó khăn nào. Do đó, Tôi sẽ trao cho các bạn bốn quy luật đơn giản liên kết với nhiều điều mà mọi đạo sinh hiện đang làm:

1. Learn to keep focussed in the head through visualization and meditation and through the steady practice of concentration; develop the capacity to live increasingly as the king seated on the throne between the eyebrows. This is a rule that can be applied to the every day affairs of life. [504]

1. Hãy học cách giữ sự tập trung trong đầu thông qua sự hình dung và tham thiền, cũng như qua việc thực hành định trí đều đặn; hãy phát triển khả năng ngày càng sống như vị vua ngồi trên ngai giữa hai lông mày. Đây là một quy luật có thể được áp dụng vào các công việc hằng ngày của đời sống. [504]

2. Learn to render heart service and not an emotional insistence on activity directed towards handling the affairs of others. This involves, prior to all such activity, the answering of two questions: —Am I rendering this service to an individual as an individual, or am I rendering it as a member of a group to a group? Is my motive an egoic impulse, or am I prompted by emotion, ambition to shine and love of being loved or admired? These two activities will result in the focussing of the life energies above the diaphragm and so negate the attractive power of the solar plexus. Hence, that centre will become increasingly inactive and there will not be so much danger of puncturing the web in that locality.

2. Hãy học cách thực hiện sự phụng sự bằng trái tim, chứ không phải sự khăng khăng đầy cảm xúc về hoạt động nhằm xử lý công việc của người khác. Điều này bao hàm, trước mọi hoạt động như vậy, việc trả lời hai câu hỏi: — Tôi đang thực hiện sự phụng sự này cho một cá nhân với tư cách là một cá nhân, hay tôi đang thực hiện nó với tư cách là một thành viên của một nhóm đối với một nhóm? Động cơ của tôi là một xung lực chân ngã, hay tôi bị thúc đẩy bởi cảm xúc, tham vọng tỏa sáng và sự yêu thích được yêu hoặc ngưỡng mộ? Hai hoạt động này sẽ dẫn đến việc tập trung các năng lượng sự sống bên trên cơ hoành và do đó phủ định quyền năng thu hút của tùng thái dương. Vì thế, trung tâm ấy sẽ ngày càng trở nên bất hoạt, và sẽ không còn nhiều nguy cơ chọc thủng mạng lưới ở vị trí đó.

3. Learn, as you go to sleep, to withdraw the consciousness to the head. This should be practiced as a definite exercise as one falls to sleep. One should not permit oneself to drift off to sleep, but should endeavor to preserve the consciousness intact until there is a conscious passing out onto the astral plane. Relaxation, close attention, and a steady drawing upwards to the center in the head should be attempted, for until the aspirant has learned to be steadily aware of all processes in going to sleep and to preserve at the same time his positivity, there is danger in this work. The first steps must be taken with intelligence and followed for many years until facility in the work of abstraction is achieved.

3. Hãy học, khi đi vào giấc ngủ, cách rút tâm thức về đầu. Điều này nên được thực hành như một bài tập xác định khi người ta chìm vào giấc ngủ. Người ta không nên để mình trôi dạt vào giấc ngủ, mà nên cố gắng giữ tâm thức nguyên vẹn cho đến khi có một sự đi ra có ý thức lên cõi cảm dục. Cần cố gắng thực hiện sự thư giãn, sự chú ý sát sao, và sự kéo lên đều đặn về trung tâm trong đầu; vì cho đến khi người chí nguyện đã học cách liên tục nhận biết mọi tiến trình trong khi đi vào giấc ngủ và đồng thời giữ vững tính tích cực của mình, vẫn có nguy hiểm trong công việc này. Những bước đầu phải được thực hiện với trí thông minh và được theo đuổi trong nhiều năm cho đến khi đạt được sự dễ dàng trong công việc rút lấy.

4. Record and watch all phenomena connected with the withdrawing process, whether followed in the meditation work or in going to sleep. It will be found, for instance, that many people wake with an almost painful start just as they have dropped asleep. This is due to the slipping out of the consciousness through a web which is not adequately clear and through an orifice which is partially closed. Others may hear an intensely loud snap in the region of the head. This is caused by the vital airs in the head of which we are not usually aware and is produced [505] by an inner aural sensitivity which causes awareness of sounds always present but not usually registered. Others will see light as they fall asleep, or clouds of colour, or banners and streamers of violet, all of which are etheric phenomena. These phenomena which are of no real moment, are all related to the vital body, to pranic emanations, and to the web of light.

4. Hãy ghi nhận và quan sát mọi hiện tượng liên quan đến tiến trình rút lui, dù được theo dõi trong công việc tham thiền hay khi đi vào giấc ngủ. Chẳng hạn, người ta sẽ thấy rằng nhiều người thức dậy với một cú giật mình gần như đau đớn ngay khi họ vừa chìm vào giấc ngủ. Điều này là do tâm thức trượt ra qua một mạng lưới chưa đủ thông suốt và qua một lỗ mở còn đóng một phần. Những người khác có thể nghe một tiếng tách cực lớn trong vùng đầu. Điều này do các luồng khí sinh lực trong đầu, mà thường chúng ta không nhận biết, gây ra, và được tạo nên [505] bởi một sự nhạy cảm thính giác bên trong, khiến ta nhận biết các âm thanh vốn luôn hiện diện nhưng thường không được ghi nhận. Những người khác sẽ thấy ánh sáng khi chìm vào giấc ngủ, hoặc các đám mây màu, hoặc các dải và luồng màu tím, tất cả đều là các hiện tượng dĩ thái. Những hiện tượng này, vốn không có tầm quan trọng thực sự, đều liên quan đến thể sinh lực, đến các phát xạ prana, và đến mạng lưới ánh sáng.

The carrying on of this practice and the following of these four rules over a period of years will do much to facilitate the technique of the death bed, for the man who has learned to handle his body as he falls asleep, has an advantage over the man who never pays any attention to the process.

Việc duy trì thực hành này và theo đúng bốn quy luật ấy trong một thời kỳ nhiều năm sẽ giúp rất nhiều cho kỹ thuật nơi giường chết, vì người đã học cách xử lý thể của mình khi đi vào giấc ngủ có lợi thế hơn người không bao giờ chú ý đến tiến trình ấy.

In relation to the technique of dying it is only possible for me at this time to make one or two suggestions. I deal not here with the attitude of the attendant watchers, I deal only with those points which will make for an easier passing over of the transient soul.

Liên quan đến kỹ thuật chết, vào lúc này Tôi chỉ có thể đưa ra một hoặc hai gợi ý. Ở đây Tôi không đề cập đến thái độ của những người túc trực chăm sóc; Tôi chỉ đề cập đến những điểm sẽ giúp cho sự vượt qua của linh hồn tạm trú được dễ dàng hơn.

First, let there be silence in the chamber. This is, of course, frequently the case. It must be remembered that the dying person may usually be unconscious. This unconsciousness is apparent but not real. In nine hundred cases out of a thousand the brain awareness is there, with a full consciousness of happenings, but there is a complete paralysis of the will to express and complete inability to generate the energy which will indicate aliveness. When silence and understanding rule the sick room, the departing soul can hold possession of its instrument with clarity until the last minute and can make due preparation.

Trước hết, hãy để có sự im lặng trong căn phòng. Dĩ nhiên, điều này thường là như vậy. Cần nhớ rằng người sắp chết thường có thể vô thức. Sự vô thức này là bề ngoài chứ không thật sự. Trong chín trăm trường hợp trên một nghìn, nhận biết của bộ não vẫn có đó, với tâm thức đầy đủ về các sự việc đang xảy ra, nhưng có sự tê liệt hoàn toàn của ý chí biểu lộ và sự bất lực hoàn toàn trong việc tạo ra năng lượng để chỉ ra rằng còn sống. Khi sự im lặng và thấu hiểu cai quản phòng bệnh, linh hồn đang ra đi có thể giữ quyền sở hữu công cụ của mình một cách rõ ràng cho đến phút cuối và có thể chuẩn bị thích đáng.

Later, when more anent colour is known, only orange lights will be permitted in the sick room of a dying person, and these will only be installed with due ceremony when there is assuredly no possibility of recovery. Orange aids the focussing in the head, just as red stimulates [506] the solar plexus and green has a definite effect upon the heart and life streams.

Sau này, khi người ta hiểu biết nhiều hơn về màu sắc, chỉ những ánh sáng màu cam mới được phép dùng trong phòng bệnh của người sắp chết, và chúng chỉ được đặt vào với nghi lễ thích đáng khi chắc chắn không còn khả năng hồi phục. Màu cam hỗ trợ sự tập trung trong đầu, cũng như màu đỏ kích thích [506] tùng thái dương và màu xanh lá có một ảnh hưởng rõ rệt đối với tim và các dòng sự sống.

Certain types of music will be used when more in connection with sound is understood, but there is no music as yet which will facilitate the work of the soul in abstracting itself from the body, though certain notes on the organ will be found effective. At the exact moment of death, if a person’s own note is sounded, it will coordinate the two streams of energy and eventually rupture the life thread, but the knowledge of this is too dangerous to transmit yet and can only later be given. I would indicate the future and the lines along which future occult study will run.

Một số loại âm nhạc sẽ được sử dụng khi người ta thấu hiểu nhiều hơn về âm thanh, nhưng hiện chưa có thứ âm nhạc nào có thể hỗ trợ công việc của linh hồn trong việc tự rút ra khỏi thể xác, dù một số âm điệu trên đại phong cầm sẽ được thấy là hữu hiệu. Vào đúng khoảnh khắc chết, nếu âm điệu riêng của một người được xướng lên, nó sẽ phối hợp hai dòng năng lượng và cuối cùng làm đứt sinh mệnh tuyến; nhưng tri thức này hiện còn quá nguy hiểm để truyền đạt và chỉ về sau mới có thể được trao. Tôi muốn chỉ ra tương lai và những đường hướng mà việc nghiên cứu huyền bí trong tương lai sẽ theo đó tiến hành.

It will be found also that pressure on certain nerve centers and on certain arteries will facilitate the work. (This science of dying is held in custody, as many students know, in Tibet.) Pressure on the jugular vein and on certain big nerves in the region of the head and on a particular spot in the medulla oblongata will be found helpful and effective. A definite science of death will inevitably later be elaborated, but only when the fact of the soul is recognized and its relation to the body has been scientifically demonstrated.

Người ta cũng sẽ thấy rằng việc tạo áp lực lên một số trung tâm thần kinh và một số động mạch sẽ hỗ trợ công việc ấy. Khoa học về sự chết này được gìn giữ tại Tây Tạng, như nhiều đạo sinh đã biết. Áp lực lên tĩnh mạch cảnh, lên một số dây thần kinh lớn trong vùng đầu, và lên một điểm đặc biệt ở hành tủy sẽ được thấy là hữu ích và hiệu quả. Một khoa học xác định về sự chết chắc chắn về sau sẽ được khai triển, nhưng chỉ khi sự kiện về linh hồn được công nhận và mối liên hệ của nó với thể xác đã được chứng minh một cách khoa học.

Mantric phrases will also be employed and definitely built into the consciousness of the dying person by those around him, or employed deliberately and mentally by himself. The Christ demonstrated their use when he cried aloud, “Father, into Thy hands I commend my spirit.” And we have another instance in the words, “Lord, now lettest Thou Thy servant depart in peace.” The steady use of the Sacred Word chanted in an undertone or on a particular key (to which the dying man will be found to respond) may later constitute also a part of the ritual of transition accompanied by the anointing with oil, as preserved in the Catholic Church. Extreme unction has an occult, scientific basis. The top of the [507] head of the dying man should also symbolically point towards the East and the feet and the hands should be crossed. Sandalwood only should be burned in the room and no incense of any other kind permitted, for sandalwood is the incense of the first or destroyer ray and the soul is in process of destroying its habitation.

Các cụm mantram cũng sẽ được sử dụng và được xây dựng rõ rệt vào tâm thức của người sắp chết bởi những người chung quanh y, hoặc được chính y sử dụng một cách chủ ý và bằng trí tuệ. Đức Christ đã chứng minh cách dùng chúng khi Ngài lớn tiếng kêu: “Lạy Cha, con phó thác tinh thần con trong tay Cha.” Và chúng ta có một trường hợp khác trong những lời: “Lạy Chúa, giờ đây xin để tôi tớ Ngài ra đi bình an.” Việc đều đặn dùng Linh từ Thiêng Liêng, được xướng bằng giọng trầm hoặc theo một chủ âm đặc biệt mà người sắp chết sẽ được thấy là đáp ứng, về sau cũng có thể trở thành một phần của nghi thức chuyển tiếp, đi kèm với việc xức dầu như được duy trì trong Giáo hội Công giáo. Phép xức dầu sau cùng có một nền tảng huyền bí và khoa học. Phần đỉnh [507] đầu của người sắp chết cũng nên hướng tượng trưng về phương Đông, và bàn chân cùng bàn tay nên được đặt chéo. Chỉ nên đốt gỗ đàn hương trong phòng, và không được phép dùng bất kỳ loại hương nào khác, vì đàn hương là hương của cung một, tức cung hủy diệt, và linh hồn đang trong tiến trình phá hủy nơi cư ngụ của mình.

This is all I can at this time communicate on the subject of death for the consideration of the general public. But I conjure all of you to push the study of death and its technique as far as possible and to carry forward occult investigation of this matter.

Đó là tất cả những gì vào lúc này tôi có thể truyền đạt về đề tài sự chết để công chúng suy xét. Nhưng tôi khẩn cầu tất cả các bạn hãy đẩy mạnh việc nghiên cứu sự chết và kỹ thuật của nó đến mức tối đa có thể, và hãy tiến hành việc khảo cứu huyền bí về vấn đề này.

RULE TWELVE

The web pulsates. It contracts and expands. Let the magician seize the midway point and thus release those “prisoners of the planet” whose note is right and justly tuned to that which must be made.

Tấm lưới rung nhịp. Nó co lại và giãn ra. Hãy để nhà huyền thuật nắm lấy điểm ở giữa và nhờ đó giải thoát những “tù nhân của hành tinh” có âm điệu đúng và được điều chỉnh công chính theo điều phải được tạo nên.

Interludes and Cycles— Các khoảng lặng và các chu kỳ

[511]

[511]

We now come to the four rules which concern the physical plane. In many ways their understanding is far more difficult than was the case in the other rules, in just the same way that practical application is far harder than theorising. We can frequently think with clarity and desire rightly but the working out into physical plane manifestation of the subjective ideas, under law and constructively, is never an easy thing to do. It is however just at this point that a white magician begins to do his real work, and it is just here that he encounters failure and finds that his inner grasp of reality does not necessarily result in correct creative activity. In A Treatise on Cosmic Fire, there will be found certain points of interest for us to consider, and I would like to quote a few words from them:

Giờ đây chúng ta đi đến bốn quy luật liên quan đến cõi hồng trần. Theo nhiều phương diện, việc thấu hiểu chúng khó khăn hơn nhiều so với các quy luật khác, cũng như việc áp dụng thực tiễn luôn khó hơn nhiều so với việc lý thuyết hóa. Chúng ta thường có thể suy nghĩ rõ ràng và khao khát đúng đắn, nhưng việc thể hiện các ý tưởng chủ quan ra thành sự biểu hiện trên cõi hồng trần, một cách đúng định luật và có tính xây dựng, không bao giờ là điều dễ làm. Tuy nhiên, chính tại điểm này mà một nhà huyền thuật chánh đạo bắt đầu thực hiện công việc thật sự của mình, và chính tại đây y gặp thất bại, rồi nhận ra rằng sự nắm bắt bên trong của y về thực tại không nhất thiết đưa đến hoạt động sáng tạo đúng đắn. Trong Luận về Lửa Vũ Trụ, có một số điểm đáng quan tâm để chúng ta suy xét, và tôi muốn trích dẫn vài lời từ đó:

“It might be useful here to remember that in the work of creation the white magician avails himself of the current ray influences. When the fifth, third and seventh rays are in power, either coming in, at full meridian, or passing out, the work is much easier than when the second, sixth or fourth are dominant. At the present time, the seventh ray, as we know is rapidly dominating, and it is one of the easiest of the forces with which man has to work. Under this ray it will be possible to build a new structure for the rapidly decaying civilisation, and to erect the new temple desired for the religious impulse. Under its influence the work of the numerous unconscious magicians will be much facilitated.” Pages 1021-1022.

“Ở đây có thể hữu ích nếu nhớ rằng trong công việc sáng tạo, nhà huyền thuật chánh đạo tận dụng các ảnh hưởng cung đang lưu hành. Khi cung năm, cung ba và cung bảy đang có quyền lực, dù đang đi vào, ở chính ngọ trọn vẹn, hay đang đi ra, công việc sẽ dễ dàng hơn nhiều so với khi cung hai, cung sáu hoặc cung bốn chiếm ưu thế. Vào lúc hiện tại, cung bảy, như chúng ta biết, đang nhanh chóng trở nên chủ đạo, và đó là một trong những mãnh lực dễ dàng nhất để con người làm việc cùng. Dưới cung này, sẽ có thể xây dựng một cấu trúc mới cho nền văn minh đang suy tàn nhanh chóng, và dựng lên ngôi đền mới mà xung lực tôn giáo mong muốn. Dưới ảnh hưởng của nó, công việc của vô số nhà huyền thuật vô thức sẽ được hỗ trợ rất nhiều.” Trang 1021-1022.

It is apparent therefore that the day of opportunity is with us, and that the coming generation can, if it so wishes, perform the magical work with many of the factors [512] present which will tend to produce satisfactory results. The fifth ray is passing out, but its influence can still be felt; the third ray is at full meridian, and the seventh ray is rapidly coming into right activity. Much will consequently occur to make man successful, provided he can preserve constantly a right orientation, purity of motive and of life, a stabilised and receptive emotional body and that inner alignment which will make his personality a true vehicle for his soul or self.

Do đó, rõ ràng là ngày cơ hội đang ở cùng chúng ta, và thế hệ sắp tới, nếu muốn, có thể thực hiện công việc huyền thuật với nhiều yếu tố [512] hiện diện có xu hướng tạo ra những kết quả thỏa đáng. Cung năm đang đi ra, nhưng ảnh hưởng của nó vẫn còn có thể được cảm nhận; cung ba đang ở chính ngọ trọn vẹn, và cung bảy đang nhanh chóng đi vào hoạt động đúng đắn. Vì thế, nhiều điều sẽ xảy ra để giúp con người thành công, miễn là y có thể thường xuyên giữ một định hướng đúng, sự trong sạch về động cơ và đời sống, một thể cảm dục ổn định và tiếp nhận, cùng sự chỉnh hợp bên trong khiến phàm ngã của y trở thành một vận cụ chân thật cho linh hồn hay bản ngã của y.

A very interesting analogy works out as we study the words: “The web pulsates. It contracts and expands”. The underlying thought is that of pulsation, of diastole and systole, of ebb and flow, of cyclic activity, of the day of opportunity and the night of inactivity, of inflow and output, and of those many appearances and disappearances which mark the sweep of all lives in all kingdoms and dimensions. This day and night cycle which is the inevitable mark of manifested existence has to be recognised. One of the things which every disciple has to learn (putting the truth in the simplest terms) is to achieve that wisdom which is based on a knowledge of when to work and when to refrain, and on an understanding of those periods or interludes which are characterised by speech and by silence. It is here that mistakes are made and here that many workers fail to make good.

Một sự tương đồng rất thú vị hiện ra khi chúng ta nghiên cứu những lời: “Tấm lưới rung nhịp. Nó co lại và giãn ra.” Tư tưởng nền tảng là tư tưởng về sự rung nhịp, về trương nở và co thắt, về thủy triều lên xuống, về hoạt động chu kỳ, về ngày cơ hội và đêm bất hoạt, về dòng chảy vào và dòng tuôn ra, cùng nhiều lần xuất hiện và biến mất vốn đánh dấu nhịp quét của mọi sự sống trong mọi giới và mọi chiều kích. Chu kỳ ngày và đêm này, dấu hiệu tất yếu của hiện tồn biểu hiện, phải được nhận biết. Một trong những điều mà mọi đệ tử phải học, nếu diễn đạt chân lý bằng những thuật ngữ đơn giản nhất, là đạt được minh triết đặt nền trên tri thức về khi nào nên làm việc và khi nào nên kiềm lại, cũng như trên sự thấu hiểu những thời kỳ hay khoảng lặng được đặc trưng bởi lời nói và sự im lặng. Chính tại đây các sai lầm được tạo ra, và chính tại đây nhiều người hoạt động không thể thành công.

This entire rule might be given in the following paraphrase which will merit careful thought and which I will elucidate somewhat.

Toàn bộ quy luật này có thể được diễn đạt lại như sau; cách diễn đạt này đáng được suy ngẫm cẩn trọng, và tôi sẽ làm sáng tỏ đôi chút.

God breathes and His pulsating life emanates from the divine heart and manifests as the vital energy of all forms. It flows, pulsating in its cycles, throughout all nature. This constitutes the divine inhalation and exhalation. Between this breathing out and the breathing in comes a period of silence and the moment for effective work. If disciples can learn to utilise these interludes, they can then release the “prisoners of the planet,” which [513] is the objective of all magical work, performed during this world period.

Thượng đế thở, và sự sống rung nhịp của Ngài xuất lộ từ trái tim thiêng liêng và biểu hiện thành năng lượng thiết yếu của mọi hình tướng. Nó tuôn chảy, rung nhịp theo các chu kỳ của nó, xuyên suốt toàn bộ thiên nhiên. Điều này tạo thành sự hít vào và thở ra thiêng liêng. Giữa sự thở ra và sự hít vào này có một thời kỳ im lặng và khoảnh khắc cho công việc hữu hiệu. Nếu các đệ tử có thể học cách sử dụng những khoảng lặng này, họ sẽ có thể giải thoát những “tù nhân của hành tinh”, điều [513] vốn là mục tiêu của mọi công việc huyền thuật được thực hiện trong thời kỳ thế giới này.

With the manner in which this One Life of the solar system works in these vast interludes of meditative silence, called technically a pralaya, we need not concern ourselves. The activity of the Universal Mind and its comprehensive purpose can only be perceived when each son of God enters consciously into his divine heritage. The mode of working by means of which our planetary Life utilises the cycles of silence concerns Him alone, and it must be remembered that each planetary Logos has a different pulsation, a varying periodic interlude, and His Own unique method of procedure.

Chúng ta không cần bận tâm đến cách thức Sự Sống Duy Nhất này của hệ mặt trời làm việc trong những khoảng lặng bao la của sự im lặng tham thiền, được gọi theo thuật ngữ là Giai kỳ qui nguyên. Hoạt động của Vũ Trụ Trí và mục đích bao quát của nó chỉ có thể được nhận biết khi mỗi Con của Thượng đế đi vào di sản thiêng liêng của mình một cách có ý thức. Phương thức làm việc nhờ đó Sự Sống Hành Tinh của chúng ta sử dụng các chu kỳ im lặng chỉ liên quan đến riêng Ngài; và cần nhớ rằng mỗi Hành Tinh Thượng đế có một nhịp rung khác nhau, một khoảng lặng chu kỳ khác nhau, và phương pháp hành động độc đáo của riêng Ngài.

What does concern the student of these Instructions however is how he can himself attain a definite constructive activity in his interludes. These interludes, for the purpose of our discussion, fall into three categories:

Tuy nhiên, điều liên quan đến đạo sinh của các Huấn thị này là làm thế nào chính y có thể đạt được một hoạt động xây dựng xác định trong các khoảng lặng của mình. Các khoảng lặng này, xét theo mục đích cuộc thảo luận của chúng ta, rơi vào ba loại:

1. Life interludes, or those periods wherein the spiritual man is out of incarnation and has withdrawn into the egoic consciousness. These, for the little evolved, are practically nonexistent; they cycle in and out of incarnation with amazing rapidity. The physical plane analogy of this rapidity of activity is to be found in the intense rushing to and fro of the ordinary man as he meets the exigencies of existence and also in the difficulty he evidences in patience and in waiting and in achieving the meditative poise. As growth takes place, the periods of withdrawal from incarnation steadily lengthen, until the point is reached when the periods out of physical manifestation greatly exceed those spent in outer expression. Then the interlude dominates. The periods of outgoing (exhalation) and of inbreathing (inhalation) are relatively brief and—the point to be emphasised—these two periods are coloured and controlled by the purposes of the soul, formulated and recorded on the mind during the interlude between the two more active stages of experience. [514] The inner life, slowly developed during the cyclic interludes, becomes the dominating factor. The man gradually becomes subjective in his attitude and the physical plane expression is primarily then the result of the inner thought life and not so much the result of reaction to physical plane occurrences and the restlessness of the desire nature.

1. Các khoảng lặng của sự sống, tức những thời kỳ trong đó con người tinh thần ở ngoài sự lâm phàm và đã rút vào tâm thức chân ngã. Đối với những người ít tiến hóa, các khoảng lặng này thực tế không tồn tại; họ luân phiên vào và ra khỏi sự lâm phàm với tốc độ đáng kinh ngạc. Sự tương đồng trên cõi hồng trần của tốc độ hoạt động này được thấy trong sự lao tới lao lui mãnh liệt của người bình thường khi y đối diện với những đòi hỏi cấp bách của hiện tồn, cũng như trong khó khăn mà y bộc lộ về sự kiên nhẫn, sự chờ đợi và việc đạt được thế quân bình tham thiền. Khi sự tăng trưởng diễn ra, các thời kỳ rút khỏi sự lâm phàm đều đặn kéo dài, cho đến khi đạt tới điểm mà các thời kỳ ở ngoài sự biểu hiện hồng trần vượt xa những thời kỳ trải qua trong sự biểu lộ bên ngoài. Khi ấy khoảng lặng chiếm ưu thế. Các thời kỳ đi ra ngoài, tức thở ra, và đi vào trong, tức hít vào, tương đối ngắn; và điểm cần nhấn mạnh là hai thời kỳ này được nhuộm màu và kiểm soát bởi các mục đích của linh hồn, được hình thành và ghi nhận trên thể trí trong khoảng lặng giữa hai giai đoạn kinh nghiệm hoạt động hơn. [514] Đời sống bên trong, được phát triển chậm rãi trong các khoảng lặng chu kỳ, trở thành yếu tố chi phối. Con người dần dần trở nên chủ quan trong thái độ của mình, và sự biểu lộ trên cõi hồng trần khi ấy chủ yếu là kết quả của đời sống tư tưởng bên trong, chứ không còn nhiều là kết quả của phản ứng trước các biến cố trên cõi hồng trần và sự bất an của bản chất ham muốn.

2. The ebb and flow of daily life during a particular incarnation will also demonstrate its interludes, and these the aspirant has to learn to recognise and to utilise. He has to register the distinction between intense outgoing activity, periods of withdrawal, and interludes wherein the outer life seems static and free from active interest. This he must do if he is to avail himself fully of the opportunity which life experience is intended to furnish. The whole of life is not concentrated in one furious continuous stretch of rushing forth to work, nor is it comprehended in one eternal siesta. It has normally its own rhythmic beat and vibration and its own peculiar pulsation. Some lives change their rhythm and mode of activity every seven years; others alter every nine or eleven years. Still others work under shorter cycles and have months of strenuous endeavour followed by months of apparent non-effort. Some people again are so sensitively organised that, in the midst of work, events and circumstances are so staged that they are forced into a temporary retirement wherein they assimilate the lessons learnt during the preceding period of work.

2. Sự lên xuống của đời sống hằng ngày trong một kiếp lâm phàm đặc biệt cũng sẽ biểu lộ các khoảng lặng của nó, và người chí nguyện phải học cách nhận ra và sử dụng chúng. Y phải ghi nhận sự phân biệt giữa hoạt động hướng ngoại mãnh liệt, các thời kỳ rút lui, và những khoảng lặng trong đó đời sống bên ngoài dường như tĩnh tại và không có mối quan tâm hoạt động. Y phải làm điều này nếu muốn tận dụng trọn vẹn cơ hội mà kinh nghiệm sống được dự định cung cấp. Toàn bộ đời sống không tập trung trong một dải liên tục điên cuồng lao ra làm việc, cũng không được bao hàm trong một giấc ngủ trưa vĩnh viễn. Bình thường, nó có nhịp đập và rung động riêng, cùng sự rung nhịp đặc thù của nó. Một số đời sống thay đổi nhịp điệu và phương thức hoạt động mỗi bảy năm; những đời sống khác thay đổi mỗi chín hoặc mười một năm. Lại có những đời sống khác làm việc dưới các chu kỳ ngắn hơn, có những tháng nỗ lực căng thẳng tiếp theo bởi những tháng dường như không nỗ lực. Lại có một số người được tổ chức nhạy bén đến mức, giữa lúc làm việc, các biến cố và hoàn cảnh được sắp đặt sao cho họ bị buộc phải tạm thời lui vào ẩn dật, nơi họ đồng hóa các bài học đã học được trong thời kỳ làm việc trước đó.

Two groups of human beings work with apparently no physical plane ebb and flow, but manifest steadily an urge to work. These are people who are so little evolved and so low down (if one might thus express it) on the ladder of evolution and so predominantly animal that there is no mental reaction to circumstances but simply a response to the call of physical needs, and the use of time for the satisfaction of desire. This never lets up [515] and therefore there is little that can be called cyclic in their expression. They include the unthinking toiler and the uncivilised man. Then there are those men and women who are on the opposite scale, and have climbed relatively high on the ladder of progress. These are so emancipated from the purely physical and are so aware of the nature of desire that they have learnt to preserve a continuous activity—based on discipline and service. They work consciously with cycles and understand somewhat their nature. They know the divine art of abstracting their consciousness into that of the soul in contemplation and can control and wisely guide their work in the world of men. This is the lesson which all disciples are learning and this is the high achievement of the initiates and trained workers of the race.

Hai nhóm nhân loại làm việc dường như không có sự lên xuống trên cõi hồng trần, nhưng đều đặn biểu hiện một xung lực làm việc. Đó là những người tiến hóa quá ít và ở quá thấp, nếu có thể nói như vậy, trên nấc thang tiến hóa, và còn quá trội về tính thú vật đến nỗi không có phản ứng trí tuệ trước hoàn cảnh, mà chỉ đơn giản đáp ứng lời gọi của các nhu cầu hồng trần và sử dụng thời gian để thỏa mãn ham muốn. Điều này không bao giờ giảm [515] xuống, và vì thế có rất ít điều có thể gọi là chu kỳ trong sự biểu lộ của họ. Họ bao gồm người lao công không suy nghĩ và người chưa văn minh. Rồi có những người nam và nữ ở cực đối lập, đã leo tương đối cao trên nấc thang tiến bộ. Họ đã được giải phóng khỏi cái thuần túy hồng trần đến mức, và ý thức rõ bản chất của ham muốn đến mức, họ đã học được cách duy trì một hoạt động liên tục đặt nền trên kỷ luật và phụng sự. Họ làm việc với các chu kỳ một cách có ý thức và thấu hiểu phần nào bản chất của chúng. Họ biết nghệ thuật thiêng liêng của việc rút tâm thức mình vào tâm thức của linh hồn trong chiêm ngưỡng, và có thể kiểm soát cũng như hướng dẫn công việc của mình trong thế giới con người một cách minh triết. Đây là bài học mà mọi đệ tử đang học, và đây là thành tựu cao cả của các điểm đạo đồ và những người hoạt động được rèn luyện của nhân loại.

3. The third type of interlude, and the one with which we are here primarily concerned as we consider the magical work on the physical plane, is the interlude achieved and utilised during the meditation process. With this the student must familiarise himself, for otherwise he will be unable to work with power. This interlude or period of intense silence differentiates itself into two parts:

3. Loại khoảng lặng thứ ba, và là loại mà ở đây chúng ta chủ yếu quan tâm khi xét công việc huyền thuật trên cõi hồng trần, là khoảng lặng đạt được và sử dụng trong tiến trình tham thiền. Đạo sinh phải làm quen với điều này, vì nếu không y sẽ không thể làm việc với quyền năng. Khoảng lặng hay thời kỳ im lặng mãnh liệt này tự phân biệt thành hai phần:

There is first of all the interlude which we call contemplation. I would remind you of the definition given in a book by Evelyn Underhill which describes contemplation as “an interlude between two activities”. This period of silence succeeds upon the activity (found so difficult by the beginner) of making the alignment between soul-mind-brain, of quieting the emotional body, and of achieving that concentration and meditation which will serve to focus and reorient the mind upon a new world, and place it within the sphere of influence of the soul. It is analogous to the period of inhalation. In this cycle, the outgoing consciousness is gathered in and lifted up. When success crowns this effort, the consciousness then [516] slips out of what we call the personality, the mechanism aspect, and becomes a changed consciousness. The soul on its own plane becomes active and of this activity the mind and brain are aware. From the standpoint of personality activity, an interlude takes place. There is a point of inspired waiting. The mechanism is entirely quiescent. The mind is held steady in the light and the soul in the meantime thinks, as is its habit, in unison with all souls, taps the resources of the Universal Mind, and formulates its purposes in line with the universal plan. This cycle of recorded soul activity is followed by what might be called the process of exhalation. The interlude comes to an end; the waiting mind again becomes active and in so far as it has been rightly oriented and held in a purely receptive attitude, it becomes the interpreter and instrument of the soul, which has now turned the “light of its countenance upon the attentive personality”. Through that medium it can now work out the plans formulated in the interlude of contemplation. The emotional nature is swept by desire to make objective the plans with which the reoriented mind seeks to colour its experience, and subsequently the brain receives the transmitted impression and the physical plane life is then adjusted so that those plans can properly materialise. This of course delineates a mechanism, trained and adjusted and rightly responsive—a rare thing indeed to find. The second part of the interlude only becomes possible when the first or contemplative interlude has been achieved.

Trước hết có khoảng lặng mà chúng ta gọi là chiêm ngưỡng. Tôi muốn nhắc các bạn về định nghĩa được đưa ra trong một quyển sách của Evelyn Underhill, mô tả chiêm ngưỡng là “một khoảng lặng giữa hai hoạt động”. Thời kỳ im lặng này theo sau hoạt động, vốn rất khó đối với người mới bắt đầu, là tạo sự chỉnh hợp giữa linh hồn, thể trí và bộ não; làm yên lặng thể cảm dục; và đạt được sự tập trung cùng tham thiền sẽ giúp quy tụ và tái định hướng thể trí vào một thế giới mới, đồng thời đặt nó vào trong phạm vi ảnh hưởng của linh hồn. Nó tương đồng với thời kỳ hít vào. Trong chu kỳ này, tâm thức hướng ngoại được thu gom lại và nâng lên. Khi nỗ lực này được thành công phủ lên, tâm thức khi ấy [516] trượt ra khỏi điều chúng ta gọi là phàm ngã, phương diện bộ máy, và trở thành một tâm thức đã biến đổi. Linh hồn trên cõi riêng của nó trở nên hoạt động, và thể trí cùng bộ não nhận biết hoạt động này. Từ lập trường hoạt động của phàm ngã, một khoảng lặng diễn ra. Có một điểm chờ đợi được cảm hứng. Bộ máy hoàn toàn yên tĩnh. Thể trí được giữ vững trong ánh sáng, và trong khi đó linh hồn suy tư, như thói quen của nó, trong sự hòa hợp với mọi linh hồn, khai thác các nguồn lực của Vũ Trụ Trí, và hình thành các mục đích của nó phù hợp với Thiên Cơ phổ quát. Chu kỳ hoạt động linh hồn được ghi nhận này được tiếp nối bởi điều có thể gọi là tiến trình thở ra. Khoảng lặng kết thúc; thể trí đang chờ đợi lại trở nên hoạt động, và trong chừng mực nó đã được định hướng đúng và được giữ trong một thái độ tiếp nhận thuần khiết, nó trở thành người diễn dịch và khí cụ của linh hồn, vốn giờ đây đã hướng “ánh sáng của dung nhan mình lên phàm ngã đang chú tâm”. Qua trung gian ấy, linh hồn giờ đây có thể thực hiện các kế hoạch đã được hình thành trong khoảng lặng chiêm ngưỡng. Bản chất cảm dục được thúc đẩy bởi ham muốn làm cho các kế hoạch ấy trở nên khách quan, những kế hoạch mà thể trí đã tái định hướng tìm cách dùng để nhuộm màu kinh nghiệm của nó; và sau đó bộ não tiếp nhận ấn tượng được truyền xuống, rồi đời sống trên cõi hồng trần được điều chỉnh để các kế hoạch ấy có thể hiện hình đúng đắn. Dĩ nhiên, điều này phác họa một bộ máy đã được rèn luyện, điều chỉnh và đáp ứng đúng đắn, một điều quả thật hiếm thấy. Phần thứ hai của khoảng lặng chỉ trở nên khả hữu khi khoảng lặng thứ nhất, hay khoảng lặng chiêm ngưỡng, đã được đạt tới.

The disciple who is seeking to cooperate with the Hierarchy of Masters and to manifest this cooperation by active participation in Their work on the physical plane has to learn to work not only through the contemplative realisation but through a scientific utilisation of the interludes, developed in breathing, between points of inhalation and exhalation in the purely physical sense of [517] the term. This is the true science and objective of pranayama. The brain consciousness is necessarily involved. The interlude between breaths is only capable of right use when a man has achieved the power to follow the interlude of contemplation affecting the soul and the mind and the brain. Just as the mind has been held in the light, and has been receptive to the soul impression so the brain has to be held receptive to impression from the mind.

Đệ tử đang tìm cách hợp tác với Thánh Đoàn các Chân sư và biểu hiện sự hợp tác này bằng việc tham gia tích cực vào công việc của Các Ngài trên cõi hồng trần phải học cách làm việc không chỉ qua sự chứng nghiệm chiêm ngưỡng, mà còn qua việc sử dụng một cách khoa học các khoảng lặng được phát triển trong hơi thở, giữa các điểm hít vào và thở ra theo nghĩa thuần túy hồng trần của [517] thuật ngữ ấy. Đây là khoa học chân thật và mục tiêu của pranayama. Tâm thức bộ não tất yếu có liên quan. Khoảng lặng giữa các hơi thở chỉ có thể được sử dụng đúng khi con người đã đạt được quyền năng theo dõi khoảng lặng chiêm ngưỡng tác động đến linh hồn, thể trí và bộ não. Cũng như thể trí đã được giữ trong ánh sáng và đã tiếp nhận ấn tượng của linh hồn, bộ não cũng phải được giữ để tiếp nhận ấn tượng từ thể trí.

One interlude therefore (from the standpoint of the united soul and personality) takes place after the period of soul inhalation, when the outgoing consciousness has been gathered inward, and the other takes place at the close of that interlude when the soul again becomes outgoing consciously to the objective world; exhalation takes the place of inhalation and also has its interlude. The disciple has to learn facility in utilising these two soul interludes—one of which produces effects upon the mind, and the other upon the brain.

Do đó, một khoảng lặng, xét từ lập trường của linh hồn và phàm ngã hợp nhất, diễn ra sau thời kỳ hít vào của linh hồn, khi tâm thức hướng ngoại đã được thu gom vào trong; và khoảng lặng kia diễn ra vào cuối khoảng lặng ấy, khi linh hồn lại một lần nữa hướng ra thế giới khách quan một cách có ý thức; sự thở ra thay thế sự hít vào và cũng có khoảng lặng của nó. Đệ tử phải học sự thành thạo trong việc sử dụng hai khoảng lặng của linh hồn này, một khoảng lặng tạo ra các hiệu quả trên thể trí, và khoảng lặng kia trên bộ não.

There is, as always, a physical plane analogy of this process of divine inhalation and exhalation with its two interludes of silence and of thought. Let me again reiterate the consequences of these interludes. In the higher interlude, abstract or divine thought impresses the soul and is transmitted to the waiting mind; in the other, the mind, through concrete thought and an attempt to embody divine thought in form, impresses the brain and produces action through the medium of the physical body.

Như luôn luôn, có một sự tương đồng trên cõi hồng trần đối với tiến trình hít vào và thở ra thiêng liêng này, cùng hai khoảng lặng của im lặng và tư tưởng. Hãy để tôi một lần nữa nhắc lại các hệ quả của những khoảng lặng này. Trong khoảng lặng cao hơn, tư tưởng trừu tượng hay thiêng liêng in dấu lên linh hồn và được truyền đến thể trí đang chờ đợi; trong khoảng lặng kia, thể trí, qua tư tưởng cụ thể và nỗ lực thể hiện tư tưởng thiêng liêng trong hình tướng, in dấu lên bộ não và tạo ra hành động qua trung gian của thể xác.

Students of occultism who have demonstrated their devotion and their mental poise, and who (to use the ancient formula of the schools of meditation) have kept the five commandments and the five rules, and have achieved right poise, can begin to use the interludes between the two aspects of physical breathing for intense activity and the use of the power of will to produce magical effects. [518] The consciousness, focussed in the brain and having participated in the work of contemplation can now proceed to the work of materialising the plan upon the physical plane by the focussed energy of will, used in the silence by the conscious man. As can be seen, these breathing interludes are also two in number, after inhalation and after exhalation and the more experienced the disciple, the longer will be the interlude and the greater the opportunity therefore for focussed magical work and for the utterance of those words of power which will make divine purpose to be.

Các đạo sinh huyền bí học đã chứng minh được sự sùng tín và thế quân bình trí tuệ của mình, và những người, dùng công thức cổ xưa của các trường tham thiền, đã giữ năm giới luật và năm quy luật, đồng thời đạt được thế quân bình đúng, có thể bắt đầu sử dụng các khoảng lặng giữa hai phương diện của hơi thở hồng trần cho hoạt động mãnh liệt và việc sử dụng quyền năng của ý chí để tạo ra các hiệu quả huyền thuật. [518] Tâm thức, được tập trung trong bộ não và đã tham dự vào công việc chiêm ngưỡng, giờ đây có thể tiến đến công việc hiện hình Thiên Cơ trên cõi hồng trần bằng năng lượng tập trung của ý chí, được con người hữu thức sử dụng trong im lặng. Như có thể thấy, các khoảng lặng của hơi thở này cũng có hai loại, sau khi hít vào và sau khi thở ra; và đệ tử càng kinh nghiệm, khoảng lặng càng dài, và do đó cơ hội cho công việc huyền thuật tập trung cùng việc xướng những Quyền năng từ khiến Thiên Ý hiện tồn càng lớn.

It would not be right nor proper for me to enlarge here upon the work of utilising these “midway points”, as they are called in Rule XII, which the magician seizes and which he employs in constructive work. In them he consciously uses energy, directing it as he sees fit; in them, he consciously comes in contact with those forces and lives which he can employ and command to bring to him what he requires for the furtherance of spiritual purposes and for the work of constructing those forms and organisms which may be needed; in them, he goes forward with the work of releasing the “prisoners of the planet”; and in them he becomes conscious of his fellow workers, of the group of world mystics, and of the hierarchy of souls.

Sẽ không đúng cũng không thích hợp để tôi mở rộng ở đây về công việc sử dụng các “điểm ở giữa” này, như chúng được gọi trong Quy luật Mười Hai, những điểm mà nhà huyền thuật nắm lấy và sử dụng trong công việc xây dựng. Trong chúng, y sử dụng năng lượng một cách có ý thức, điều hướng nó theo cách y thấy thích hợp; trong chúng, y tiếp xúc một cách có ý thức với những mãnh lực và sự sống mà y có thể sử dụng và chỉ huy để đem đến cho mình những gì y cần cho việc thúc đẩy các mục đích tinh thần và cho công việc xây dựng những hình tướng cùng cơ cấu có thể cần thiết; trong chúng, y tiến tới với công việc giải thoát những “tù nhân của hành tinh”; và trong chúng, y trở nên ý thức về các bạn đồng công của mình, về đoàn các nhà thần bí thế giới, và về thánh đoàn các linh hồn.

In Instructions such as these, which are to be read by the general public it would be most unwise to give more explicit directions. Enough has been left unsaid to make it impossible for any but a deeply learned student to arrive at the necessary correlations which will enable him to carry forward the “work of the interludes”, in which alone magical work can be done. You might ask: Why is this so? Why are the secrets of the breath so carefully guarded? Because the efficacy of black magic is found right here. There is a point where both black and white magic employ necessarily one similar stage in the work. [519] Certain men, with potent wills and clear and trained minds, but animated by purely selfish purpose, have learnt to use the lower of the two soul interludes—that which concerns the relation of mind and brain. Through an intense application and a knowledge of the science of the centres they have been enabled to work out their selfish plans and to impose their will and mental authority upon the “prisoners of the planet”. Thus they have wrought much harm. They have no desire to participate in the higher interlude wherein the soul is active, and the mind responsive. The intellectual activity and the responsiveness of the brain to mind impression is all that concerns them. Both white and black magicians, as you see, employ the lower interlude, and both know the significance of the physical breathing interludes. But the white magician works from the soul level out into the manifested world and seeks to carry out the divine plan, whilst the black magician works from the level of the intellect as he seeks to achieve his own separative ends. The difference is not only that of motive, but also of alignment and the radius of the consciousness and its field of expansion. Hence you will see why such extreme caution is evidenced by all true teachers, as they endeavor to teach the nature of the magical work. Only the tested and the true, only the unselfish and the pure can be given the full instructions. All can be given the information concerning the major interludes of soul-mind and mind-brain. Only a few can as yet be trusted with the significant information concerning the minor interludes, carried on in the physical body between breaths and in the brain consciousness.

Trong những Huấn thị như thế này, vốn được dành cho công chúng đọc, sẽ là điều hết sức thiếu minh triết nếu đưa ra những chỉ dẫn rõ ràng hơn. Đã có đủ điều chưa được nói ra để khiến bất cứ ai, trừ một đạo sinh uyên thâm sâu xa, không thể đạt đến những tương quan cần thiết giúp y tiến hành “công việc của các khoảng lặng”, nơi duy nhất mà công việc huyền thuật có thể được thực hiện. Các bạn có thể hỏi: Tại sao lại như vậy? Tại sao những bí mật của hơi thở được canh giữ cẩn trọng đến thế? Bởi vì hiệu lực của hắc thuật được tìm thấy ngay tại đây. Có một điểm nơi cả hắc thuật lẫn Chánh Thuật tất yếu sử dụng một giai đoạn tương tự trong công việc. [519] Một số người, với ý chí mạnh mẽ và thể trí rõ ràng, được rèn luyện, nhưng được thúc động bởi mục đích hoàn toàn ích kỷ, đã học cách sử dụng khoảng lặng thấp hơn trong hai khoảng lặng của linh hồn, tức khoảng lặng liên quan đến mối quan hệ giữa thể trí và bộ não. Nhờ áp dụng mãnh liệt và nhờ tri thức về khoa học các trung tâm, họ đã có thể thực hiện các kế hoạch ích kỷ của mình, và áp đặt ý chí cùng uy quyền trí tuệ của họ lên các “tù nhân của hành tinh”. Như vậy họ đã gây ra nhiều tổn hại. Họ không có mong muốn tham dự vào khoảng lặng cao hơn, nơi linh hồn hoạt động và thể trí đáp ứng. Hoạt động trí năng và sự đáp ứng của bộ não đối với ấn tượng của thể trí là tất cả những gì họ quan tâm. Như các bạn thấy, cả nhà huyền thuật chánh đạo lẫn nhà hắc thuật đều sử dụng khoảng lặng thấp hơn, và cả hai đều biết thâm nghĩa của các khoảng lặng trong hơi thở hồng trần. Nhưng nhà huyền thuật chánh đạo làm việc từ cấp độ linh hồn hướng ra thế giới biểu hiện và tìm cách thực hiện Thiên Cơ, trong khi nhà hắc thuật làm việc từ cấp độ của trí năng khi y tìm cách đạt được các mục tiêu chia rẽ của riêng mình. Sự khác biệt không chỉ là ở động cơ, mà còn ở sự chỉnh hợp, ở bán kính của tâm thức và lĩnh vực mở rộng của nó. Do đó, các bạn sẽ thấy vì sao mọi huấn sư chân chính đều biểu lộ sự thận trọng cực độ khi họ cố gắng giảng dạy bản chất của công việc huyền thuật. Chỉ những người đã được thử thách và chân thật, chỉ những người vô kỷ và trong sạch mới có thể được trao những huấn thị đầy đủ. Tất cả đều có thể được trao thông tin về các khoảng lặng chính yếu của linh hồn-thể trí và thể trí-bộ não. Hiện nay chỉ một số ít có thể được tin cậy với thông tin quan trọng về các khoảng lặng nhỏ hơn, diễn ra trong thể xác giữa các hơi thở và trong tâm thức bộ não.

One other point might be of interest before I proceed to speak of the “prisoners of the planet” and the work to be done with them.

Một điểm khác có thể đáng quan tâm trước khi tôi tiếp tục nói về những “tù nhân của hành tinh” và công việc cần làm với họ.

Humanity at this time is passing through a cycle of excessive activity. For the first time in human history [520] this activity embraces mankind on a large scale in the entire three aspects of the personality consciousness. The physical bodies, the emotional and mental states of consciousness are all in a condition of potent upheaval. This unified triple activity is increased by a cycle of equally intense planetary activity, due to the coming in of a new age, the passing of the sun into a new sign in the Zodiac and the preparation consequently going on to fit man to work easily with the new forces and energies playing upon him. At the centre of human life, the integrating group of new World Servers must meet therefore a very real need. Their work must primarily be to keep such a close link with the soul of humanity—made up of all souls on their own level of being—through their own organised soul activity that there will always be those who can “work in the interludes” and so keep the plan progressing and the vision before the eyes of those who cannot as yet themselves enter into the high and secret place. They have, as I oft times have said, to learn to work subjectively, and this they must do in order to preserve—in this cycle of activity and exoteric expression—the power, latent in all, to withdraw into the centre. They constitute the door, speaking symbolically. Capacities and powers can die out for lack of use; the power of divine abstraction and the faculty to find what has been called “the golden path which leads to the clear pool and from thence to the Temple of Retreat” must not be lost. This is the first work of the Group of World Mystics, and they must keep the path open and the way clear of obstructions. Otherwise white magic might temporarily die out and the selfish purposes of the form nature assume undue control. This dire event happened in Atlantean days and the then group of workers had to withdraw from all external activity and “abstract the divine mysteries, hiding them away from the curious and the unworthy.”

Nhân loại vào lúc này đang trải qua một chu kỳ hoạt động quá mức. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, [520] hoạt động này bao trùm nhân loại trên quy mô lớn trong toàn bộ ba phương diện của tâm thức phàm ngã. Các thể xác, các trạng thái tâm thức cảm dục và trí tuệ đều đang ở trong một tình trạng biến động mạnh mẽ. Hoạt động tam phân hợp nhất này được gia tăng bởi một chu kỳ hoạt động hành tinh cũng mãnh liệt như vậy, do sự đi vào của một kỷ nguyên mới, sự chuyển của mặt trời vào một dấu hiệu hoàng đạo mới, và do đó là sự chuẩn bị đang diễn ra để làm cho con người thích hợp làm việc dễ dàng với các mãnh lực và năng lượng mới đang tác động lên y. Vì vậy, tại trung tâm của đời sống nhân loại, nhóm tích hợp gồm những Người Phụng Sự Thế Gian mới phải đáp ứng một nhu cầu rất thực. Công việc của họ trước hết phải là giữ một liên kết gần gũi với linh hồn của nhân loại, được hợp thành bởi mọi linh hồn trên cấp độ hiện tồn riêng của họ, thông qua hoạt động linh hồn có tổ chức của chính họ, để luôn luôn có những người có thể “làm việc trong các khoảng lặng” và nhờ đó giữ cho Thiên Cơ tiến triển, đồng thời giữ tầm nhìn trước mắt những người chưa thể tự mình đi vào nơi cao cả và bí mật. Như tôi đã nhiều lần nói, họ phải học cách làm việc một cách chủ quan; và họ phải làm điều này để duy trì, trong chu kỳ hoạt động và biểu lộ ngoại môn này, quyền năng tiềm tàng nơi tất cả là rút vào trung tâm. Nói theo biểu tượng, họ tạo thành cánh cửa. Các năng lực và quyền năng có thể lụi tàn vì thiếu sử dụng; quyền năng trừu xuất thiêng liêng và khả năng tìm ra điều đã được gọi là “con đường vàng dẫn đến hồ nước trong, và từ đó đến Đền Ẩn Tu” không được để mất. Đây là công việc đầu tiên của Đoàn các Nhà Thần Bí Thế Giới, và họ phải giữ cho con đường mở rộng và lối đi sạch mọi chướng ngại. Nếu không, Chánh Thuật có thể tạm thời lụi tàn và các mục đích ích kỷ của bản chất hình tướng có thể nắm quyền kiểm soát quá mức. Biến cố thảm khốc này đã xảy ra trong thời Atlantis, và nhóm người hoạt động khi ấy đã phải rút khỏi mọi hoạt động bên ngoài và “rút các huyền nhiệm thiêng liêng vào trong, cất giấu chúng khỏi kẻ tò mò và người bất xứng.”

[521]

[521]

Now a new attempt is being made to free the “prisoners of the planet”. The Hierarchy, through the Group of World Servers now in process of formation is seeking to externalise itself, and to restore the mysteries to humanity to whom they truly belong. If the attempt is to succeed it is basically necessary that all of you who have sensed the vision or seen a part of the intended plan should re-dedicate yourselves to the service of humanity, should pledge yourselves to the work of aiding to the utmost of your ability (ponder those words and search out their significance) all world servers, and should sacrifice your time and give of your money to further the endeavor of the Great Ones. Rest not, above all, from your meditation work; keep the inner link; think truth at all times. The need and the opportunity are great and all possible helpers are being called to the forefront of the battle. All can be used in some way, if the true nature of sacrifice is grasped, if skill in action is developed and if work without attachment is the effort of each and all of you.

Giờ đây một nỗ lực mới đang được thực hiện để giải thoát những “tù nhân của hành tinh”. Thánh Đoàn, thông qua Đoàn Người Phụng Sự Thế Gian hiện đang trong tiến trình hình thành, đang tìm cách ngoại hiện chính mình và khôi phục các huyền nhiệm cho nhân loại, vốn là những điều thật sự thuộc về nhân loại. Nếu nỗ lực này muốn thành công, về căn bản điều cần thiết là tất cả các bạn, những người đã cảm nhận tầm nhìn hoặc thấy một phần của Thiên Cơ được dự định, phải tái thánh hiến mình cho việc phụng sự nhân loại, phải cam kết với công việc hỗ trợ đến mức tối đa trong khả năng của mình, hãy suy ngẫm những lời này và tìm ra thâm nghĩa của chúng, tất cả những Người Phụng Sự Thế Gian, và phải hy sinh thời gian cũng như đóng góp tiền bạc để thúc đẩy nỗ lực của Các Đấng Cao Cả. Trên hết, đừng ngừng nghỉ công việc tham thiền của các bạn; hãy giữ liên kết bên trong; hãy suy nghĩ chân lý vào mọi lúc. Nhu cầu và cơ hội đều lớn lao, và mọi người trợ giúp có thể đều đang được kêu gọi ra tuyến đầu của trận chiến. Tất cả đều có thể được sử dụng theo một cách nào đó, nếu bản chất chân thật của sự hy sinh được nắm bắt, nếu sự khéo léo trong hành động được phát triển, và nếu làm việc không dính mắc là nỗ lực của mỗi người và của tất cả các bạn.

The Prisoners of the Planet— Những tù nhân của hành tinh

Having dealt with the work of the magician in his own interior consciousness and with the need for him to learn the importance of seizing the “midway point” in his work of using the interludes, both major and minor, we come now to the consideration of the objective of all his work, that is if he is a true white magician. It is stated clearly that this is to release the “prisoners of the planet”. It would profit us therefore to study who these prisoners are and what is the mode of their release to be employed by the working disciple.

Sau khi đã đề cập đến công việc của nhà huyền thuật trong tâm thức nội tại của chính y, và đến nhu cầu y phải học tầm quan trọng của việc nắm lấy “điểm ở giữa” trong công việc sử dụng các khoảng lặng, cả chính yếu lẫn thứ yếu, giờ đây chúng ta đi đến việc xem xét mục tiêu của toàn bộ công việc của y, nếu y là một nhà huyền thuật chánh đạo chân thật. Điều được nêu rõ là mục tiêu ấy là giải thoát những “tù nhân của hành tinh”. Do đó, sẽ hữu ích cho chúng ta nghiên cứu những tù nhân này là ai và phương thức giải thoát họ mà đệ tử đang hoạt động phải sử dụng là gì.

These prisoners of the planet fall into two major groups, which embody necessarily certain subdivisions. Inclusively they constitute all forms of life that we usually call subhuman, but these words must be given a [522] wider connotation than is normally the case. They must be extended to include all lives which are embodied in forms.

Những tù nhân của hành tinh này rơi vào hai nhóm chính, tất yếu bao hàm một số phân nhóm. Theo nghĩa bao gồm, họ tạo thành mọi hình tướng sự sống mà chúng ta thường gọi là dưới nhân loại, nhưng những lời này phải được trao một [522] hàm nghĩa rộng hơn bình thường. Chúng phải được mở rộng để bao gồm mọi sự sống được thể hiện trong các hình tướng.

The two divisions are as follows:

Hai phân bộ như sau:

First, the substance of all forms, or the multiplicity of tiny atomic lives which, through the power of thought, are drawn into the form aspect through which all existences or all souls, mineral, vegetable, animal and the animal body of man, express themselves. This opens up a wide horizon and covers practically the work of creation on the physical plane so that we cannot even touch upon it. Under the Law of Magnetic Attraction and owing to the impulsive activity of the Universal Mind as it works out the purposes of the solar Logos or of the planetary Logos these constituents of the matter of space, these atoms of substance, are drawn together, manipulated in a rhythmic manner and held together in form. Through this mode of creation, existences come into manifestation, participate in the experience of their particular cycle, whether it is ephemeral, like the life of a butterfly or relatively permanent like the ensouling life of the planetary deity, and vanish. The two aspects concerned, spirit and matter, are brought thus into a close rapport, and necessarily exert an effect upon each other. Matter, so-called, is energised or “lifted up” in the occult sense of the term by its contact with spirit so-called. Spirit, in its turn, is enabled to enhance its vibration through the medium of its experience in matter. The bringing together of these two divine aspects results in the emergence of a third, which we call the soul, and through the medium of the soul, spirit develops a sentiency and a conscious awareness and capacity to respond which remains its permanent possession when the divorce between the two comes around eventually and cyclically.

Thứ nhất, chất liệu của mọi hình tướng, hay vô số những sự sống nguyên tử nhỏ bé, vốn nhờ quyền năng của tư tưởng được hút vào phương diện hình tướng mà qua đó mọi hiện tồn hay mọi linh hồn, khoáng vật, thực vật, động vật và thể thú vật của con người, tự biểu lộ. Điều này mở ra một chân trời rộng lớn và thực tế bao trùm công việc sáng tạo trên cõi hồng trần, đến mức chúng ta thậm chí không thể chạm đến nó. Dưới Định luật Hấp Dẫn Từ Tính và do hoạt động xung động của Vũ Trụ Trí khi nó thực hiện các mục đích của Thái dương Thượng đế hoặc của Hành Tinh Thượng đế, các thành tố này của vật chất không gian, các nguyên tử chất liệu này, được kéo lại với nhau, được điều khiển theo một cách nhịp nhàng và được giữ lại với nhau trong hình tướng. Qua phương thức sáng tạo này, các hiện tồn đi vào biểu hiện, tham dự vào kinh nghiệm của chu kỳ riêng của chúng, dù phù du như đời sống của một con bướm hay tương đối thường tồn như sự sống phú linh của Thượng đế hành tinh, rồi biến mất. Hai phương diện liên quan, tinh thần và vật chất, như vậy được đưa vào một mối tương quan gần gũi, và tất yếu tác động lên nhau. Cái gọi là vật chất được tiếp năng lượng hay được “nâng lên” theo nghĩa huyền bí của thuật ngữ ấy bởi sự tiếp xúc của nó với cái gọi là tinh thần. Đến lượt mình, tinh thần có thể tăng cường rung động của nó qua trung gian kinh nghiệm của nó trong vật chất. Sự đưa hai phương diện thiêng liêng này lại với nhau dẫn đến sự xuất hiện của một phương diện thứ ba, mà chúng ta gọi là linh hồn; và qua trung gian của linh hồn, tinh thần phát triển một sự cảm biết, một nhận thức hữu thức và năng lực đáp ứng, vốn vẫn là sở hữu thường tồn của nó khi sự phân ly giữa hai phương diện cuối cùng và theo chu kỳ xảy đến.

Much anent this will be found in A Treatise on Cosmic Fire [523] and there is no need for me to repeat myself here. This second treatise is intended to be more practical and generally useful. It deals primarily with the training of the aspirant so that he can, in his turn, act as a conscious creator, and as he works serve the higher ends of the Life which enfolds him. Thus he aids in the materialising of the plans of God. The training of the aspirant, the indicating to him of possible trends and lines of evolution, and the definition of the underlying purpose is all that it is wise to impart at the present stage in which the average aspirant finds himself. This has been attempted in these Instructions and there has been given also some new teaching anent the emotional vehicle. In the next century, when man’s equipment is better developed and when a truer meaning of group activity is available, it will be possible to convey more information, but the time is not yet. All that is possible for me is to grope for those feeble words which will somewhat clothe the thought. As they clothe it they limit it and I am guilty of creating new prisoners who must ultimately be released. All books are prison houses of ideas, and only when speech and writing are superseded by telepathic communication and by intuitive interplay will the plan and the technique of its expression be grasped in a clearer fashion. I talk now in symbols; I manipulate words in order to create a certain impression; I construct a thought-form which, when dynamic enough, can impress the brain of a transmitting agent, such as yourself. But, as I do so, I know well how much must be left unrelated and how seldom it is possible to do more than point out a cosmology, macrocosmic or microcosmic, which will suffice to convey a temporary picture of divine reality.

Nhiều điều về vấn đề này sẽ được thấy trong Luận về Lửa Vũ Trụ [523] và tôi không cần lặp lại mình ở đây. Luận thư thứ hai này được dự định có tính thực tiễn hơn và hữu ích rộng rãi hơn. Nó chủ yếu đề cập đến việc rèn luyện người chí nguyện để đến lượt mình, y có thể hành động như một người sáng tạo có ý thức, và khi làm việc, phụng sự các mục tiêu cao hơn của Sự Sống bao bọc y. Như vậy y hỗ trợ việc hiện hình các Thiên Cơ của Thượng đế. Việc rèn luyện người chí nguyện, việc chỉ ra cho y các khuynh hướng và đường hướng tiến hóa khả dĩ, và việc xác định mục đích nền tảng là tất cả những gì minh triết cho phép truyền đạt ở giai đoạn hiện nay, nơi người chí nguyện trung bình đang tự thấy mình. Điều này đã được cố gắng thực hiện trong các Huấn thị này, và cũng đã có một số giáo huấn mới được trao về vận cụ cảm dục. Trong thế kỷ tới, khi trang bị của con người được phát triển tốt hơn và khi một ý nghĩa chân thật hơn của hoạt động nhóm trở nên sẵn có, sẽ có thể truyền đạt thêm thông tin; nhưng thời điểm ấy chưa đến. Tất cả những gì tôi có thể làm là dò tìm những lời yếu ớt có thể phần nào khoác áo cho tư tưởng. Khi khoác áo cho nó, chúng giới hạn nó, và tôi mắc lỗi tạo ra những tù nhân mới mà cuối cùng phải được giải thoát. Mọi quyển sách đều là nhà tù của các ý tưởng, và chỉ khi lời nói cùng chữ viết được thay thế bởi giao tiếp viễn cảm và sự tương tác trực giác, Thiên Cơ và kỹ thuật biểu lộ nó mới được nắm bắt theo một cách rõ ràng hơn. Giờ đây tôi nói bằng biểu tượng; tôi điều khiển các lời để tạo ra một ấn tượng nhất định; tôi xây dựng một hình tư tưởng mà, khi đủ linh động, có thể in dấu lên bộ não của một tác nhân truyền đạt, chẳng hạn như chính bạn. Nhưng khi làm như vậy, tôi biết rõ có biết bao điều phải bị bỏ lại không được liên kết, và hiếm khi nào có thể làm nhiều hơn là chỉ ra một vũ trụ luận, đại thiên địa hay tiểu thiên địa, đủ để truyền đạt một hình ảnh tạm thời về thực tại thiêng liêng.

I talk to you of laws, and I seek to formulate them intelligently but I am dealing really with those divine impulses which emanate from a cosmic Creator and become laws as they produce effects in the matter of space, meeting [524] therein practically no resistance. Other divine impulses which also cyclically stream forth have not as yet carried such a strong vibration, and have not therefore been as powerful as the vibration of the combined substance affected. These latter are those impulses to which we give the name spiritual, and which we look forward to seeing established as the laws of the new era, and which will then supersede or coalesce with the present laws of the universe. Together they will bring in the new synthetic world.

Tôi nói với các bạn về các định luật, và tôi tìm cách hình thành chúng một cách thông minh; nhưng thật ra tôi đang bàn đến những xung lực thiêng liêng xuất lộ từ một Đấng Sáng Tạo vũ trụ và trở thành các định luật khi chúng tạo ra các hiệu quả trong vật chất không gian, nơi chúng hầu như [524] không gặp sự kháng cự nào. Những xung lực thiêng liêng khác, cũng tuôn tràn ra theo chu kỳ, đến nay vẫn chưa mang một rung động mạnh như vậy, và do đó chưa mạnh bằng rung động của chất liệu kết hợp đã chịu ảnh hưởng. Những xung lực sau này là những xung lực mà chúng ta gọi là tinh thần, và chúng ta mong thấy chúng được thiết lập thành các định luật của kỷ nguyên mới, khi đó chúng sẽ thay thế hoặc hợp nhất với các định luật hiện tại của vũ trụ. Cùng nhau, chúng sẽ đưa vào thế giới tổng hợp mới.

But how can the whole be comprehended by the part? How can the entire plan be noted by a soul which sees as yet but a tiny fraction of the structure? Bear this steadily in mind as you study and ponder these Instructions and remember that, in the light of the future knowledge of humanity, all that is here conveyed is like a fifth reader in grammar school to the text books utilised by a college professor. It will serve however to graduate the aspirant out of the Hall of Learning into the Hall of Wisdom, if he uses the information given.

Nhưng làm sao phần có thể thấu hiểu toàn thể? Làm sao toàn bộ Thiên Cơ có thể được ghi nhận bởi một linh hồn hiện chỉ thấy một phần rất nhỏ của cấu trúc? Hãy luôn ghi nhớ điều này khi các bạn nghiên cứu và suy ngẫm các Huấn thị này, và hãy nhớ rằng, dưới ánh sáng tri thức tương lai của nhân loại, tất cả những gì được truyền đạt ở đây giống như sách đọc lớp năm trong trường phổ thông so với các giáo trình được một giáo sư đại học sử dụng. Tuy nhiên, nếu người chí nguyện sử dụng thông tin được trao, nó sẽ giúp y tốt nghiệp khỏi Phòng Học Tập để đi vào Phòng Minh triết.

Learn to be telepathic and intuitive. Then these forms of words and these ideas, clothed in form, will not be needed. You can then stand face to face with naked truth, and live and work in the terrain of ideas and not in the world of forms.

Hãy học cách trở nên viễn cảm và trực giác. Khi ấy, những hình thức ngôn từ này và những ý tưởng này, được khoác lấy hình tướng, sẽ không còn cần thiết nữa. Khi ấy, bạn có thể đứng mặt đối mặt với chân lý trần trụi, và sống cùng làm việc trong địa hạt của ý tưởng, chứ không phải trong thế giới của hình tướng.

So we leave the vast expanse of lives, covered by the unmeaning phrase “atomic substance,” and pass on secondly to a consideration of those prisoners of the planet which can be more easily contacted, whose general plight can be more specifically understood, and who stand in a closer relation to man. Men are not yet equipped to comprehend the nature of those units of electrical energy which embody what we call the soul of all things and which has been termed the “anima mundi”—the life and soul of the One in whom all embodied existences live and move and have their being. [525]

Vì vậy, chúng ta rời khỏi vùng bao la của các sự sống, vốn được bao phủ bởi cụm từ vô nghĩa “chất liệu nguyên tử”, và kế đến chuyển sang xem xét những tù nhân của hành tinh có thể được tiếp xúc dễ dàng hơn, có cảnh ngộ chung có thể được thấu hiểu cụ thể hơn, và đứng trong mối liên hệ gần gũi hơn với con người. Nhân loại chưa được trang bị để thấu hiểu bản chất của những đơn vị năng lượng điện vốn thể hiện điều mà chúng ta gọi là linh hồn của muôn vật, và điều đã được gọi là “linh hồn thế giới” — sự sống và linh hồn của Đấng Duy Nhất, trong Ngài mọi hiện hữu nhập thể đều sống, vận động và có bản thể của mình. [525]

To do this, it will be necessary to understand somewhat the part that the fourth kingdom in nature plays in relation to the whole, and the purpose for which that aggregate of forms which we call the human family exists. We must study this from the standpoint of the relation of the fourth kingdom to the whole, and not from the standpoint of man’s own individual progressive development and the part he plays as a human unit within the ring-pass-not of the human family. We will use the word humanity, and speak of its mission and function in the big scheme and the working out of the plan. We will infer a humanity which is composed of all the sons of men. It includes on the one hand the hierarchy of adepts who have deliberately incarnated on the physical plane in order to work within the limits of the human kingdom, and on the other we find the undeveloped types which are more animal than human. Between these two extremes we find the many and varied types, the developed and the undeveloped, the intelligent and the unintelligent—all who are covered by the word man.

Để làm điều này, cần phải thấu hiểu phần nào vai trò mà giới thứ tư trong thiên nhiên đảm nhiệm trong quan hệ với toàn thể, và mục đích vì đó mà tập hợp các hình tướng mà chúng ta gọi là gia đình nhân loại hiện hữu. Chúng ta phải nghiên cứu điều này từ lập trường quan hệ của giới thứ tư với toàn thể, chứ không phải từ lập trường phát triển tiến bộ cá nhân của riêng con người và vai trò y đảm nhiệm như một đơn vị nhân loại bên trong vòng-giới-hạn của gia đình nhân loại. Chúng ta sẽ dùng từ nhân loại, và nói về sứ mệnh cùng chức năng của nó trong hệ hành tinh lớn lao và trong việc thực hiện Thiên Cơ. Chúng ta sẽ hàm ý một nhân loại được hợp thành bởi tất cả những người con của nhân loại. Một mặt, nó bao gồm Thánh đoàn các chân sư đã cố ý lâm phàm trên cõi hồng trần để làm việc trong các giới hạn của giới nhân loại; mặt khác, chúng ta thấy những kiểu người chưa phát triển, còn mang tính thú hơn là tính người. Giữa hai cực đoan này, chúng ta thấy nhiều kiểu loại đa dạng, phát triển và chưa phát triển, thông minh và kém thông minh — tất cả những ai được bao hàm trong từ con người.

Humanity constitutes a centre of energy within the cosmos, capable of three activities.

Nhân loại cấu thành một trung tâm năng lượng trong vũ trụ, có khả năng thực hiện ba hoạt động.

I. First of all, humanity is responsive to the inflow of spiritual energy. This pours into it from the cosmos, and speaking symbolically these energies are basically three in number:

I. Trước hết, nhân loại đáp ứng với dòng năng lượng tinh thần tuôn vào. Dòng này đổ vào nhân loại từ vũ trụ, và nói theo biểu tượng, những năng lượng này về căn bản có ba loại:

1. Spiritual energy, as we inadequately term it. This emanates from God the Father and reaches humanity from the level of what is technically called the monadic plane, from the archetypal sphere, the highest source of which a man can become conscious. To this type of energy there are few so equipped that they can respond. It is for the majority practically nonexistent. I use the words “God the Father” in the sense of the One Self-Existent Life, or Absolute Being.

1. Năng lượng tinh thần, như chúng ta gọi một cách bất toàn. Năng lượng này phát xuất từ Thượng đế Cha và đến với nhân loại từ cấp độ của điều được gọi một cách kỹ thuật là cõi chân thần, từ khối cầu nguyên mẫu, nguồn cao nhất mà con người có thể trở nên hữu thức. Rất ít người được trang bị đến mức có thể đáp ứng với loại năng lượng này. Đối với đa số, nó hầu như không hiện hữu. Tôi dùng các từ “Thượng đế Cha” theo nghĩa Sự Sống Duy Nhất Tự Hữu, hay Bản Thể Tuyệt Đối.

2. Sentient energy—the energy which makes man a [526] soul. It is the principle of awareness, the faculty of consciousness, that something, inherent in matter (when brought into relation with spirit), which awakens responsiveness to an outer and far-reaching field of contacts. It is that which eventually develops in man a recognition of the whole, of the self, and which leads him to self-determination and self-realisation. When these are developed, as they are not in the subhuman kingdoms, a man can become aware of the first type of energy, mentioned above. This energy of sentient consciousness comes from the second aspect of deity, from the heart of the sun, just as the first, technically but symbolically speaking, emanates from the central spiritual sun. The parallel to these two types of force in a human being is the nervous energy working through the nervous system with headquarters in the brain, and the life energy which is seated in the heart.

2. Năng lượng cảm tri — năng lượng khiến con người trở thành một [526] linh hồn. Đó là nguyên khí của sự nhận biết, năng lực của tâm thức, một điều gì đó cố hữu trong vật chất khi được đưa vào quan hệ với tinh thần, đánh thức sự đáp ứng với một trường tiếp xúc bên ngoài và rộng lớn. Đó là điều cuối cùng phát triển nơi con người sự nhận biết về toàn thể, về bản ngã, và dẫn y đến sự tự quyết và tự chứng nghiệm. Khi những điều này được phát triển, như chúng chưa được phát triển trong các giới dưới nhân loại, con người có thể trở nên nhận biết loại năng lượng thứ nhất đã nói ở trên. Năng lượng của tâm thức cảm tri này đến từ phương diện thứ hai của Thượng đế, từ trái tim của mặt trời, cũng như loại thứ nhất, nói một cách kỹ thuật nhưng biểu tượng, phát xuất từ Mặt trời Tinh thần Trung Ương. Sự tương ứng với hai loại mãnh lực này trong một con người là năng lượng thần kinh hoạt động qua hệ thần kinh với trung tâm đặt trong bộ não, và năng lượng sự sống đặt nơi tim.

3. Pranic energy, or vitality. This is that vital force, inherent in matter itself and in which all forms are immersed, as they constitute functioning parts of the greater form. To this all forms respond. This type of energy comes from the physical sun and works actively upon the vital bodies of every form in the natural world, including the physical form of humanity itself.

3. Năng lượng prana, hay sinh lực. Đây là mãnh lực sinh động, cố hữu trong chính vật chất và trong đó mọi hình tướng đều được ngâm mình, vì chúng cấu thành những bộ phận hoạt động của hình tướng lớn hơn. Mọi hình tướng đều đáp ứng với nó. Loại năng lượng này đến từ mặt trời hồng trần và tác động tích cực lên các thể sinh lực của mọi hình tướng trong giới tự nhiên, kể cả chính hình tướng hồng trần của nhân loại.

In the terminology of the Ageless Wisdom, these three are called electric fire, solar fire, and fire by friction, and their purpose in relation to each other is summed up for us in the words of The Secret Doctrine as follows:

Trong thuật ngữ của Minh Triết Ngàn Đời, ba loại này được gọi là Lửa Điện, Lửa Thái dương và Lửa ma sát, và mục đích của chúng trong quan hệ với nhau được tóm lược cho chúng ta trong những lời của Giáo Lý Bí Nhiệm như sau:

“Matter is the Vehicle for the manifestation of Soul on this plane of existence, and Soul is the Vehicle on a higher plane for the manifestation of Spirit and these three are a Trinity, synthesized by Life which pervades them all.” S. D. I. 80.

“Vật chất là Vận cụ cho sự biểu hiện của Linh hồn trên cõi hiện hữu này, và Linh hồn là Vận cụ trên một cõi cao hơn cho sự biểu hiện của Tinh thần; và ba điều này là một Tam Vị, được tổng hợp bởi Sự Sống thấm nhuần tất cả.” Giáo Lý Bí Nhiệm I. 80.

Humanity, being the meeting-place for all the three types of energy, constitutes therefore a “midway point,” [527] in the consciousness of the Creator. This “midway point” has to be seized by the active creating agent in some such manner as the aspirant has to learn to seize his midway points in the tiny bit of magical and creative work which he is seeking to carry forward. Humanity is intended to be the medium wherein certain activities can be instituted. It is in reality the brain of the planetary Deity, its many units being analogous to the brain cells in the human apparatus. Just as the human brain, made up of an infinite number of sentient responsive cells, can be suitably impressed when quiescence has been achieved, and can become the medium of expression for the plans and purposes of the soul, transmitting its ideas via the mind, so the planetary Deity, working under the inspiration of the Universal Mind, can impress humanity with the purposes of God and produce consequent effects in the world of phenomena.

Vì là nơi gặp gỡ của cả ba loại năng lượng, nhân loại do đó cấu thành một “Điểm ở giữa” [527] trong tâm thức của Đấng Sáng Tạo. “Điểm ở giữa” này phải được tác nhân sáng tạo tích cực nắm bắt theo một cách nào đó tương tự như người chí nguyện phải học cách nắm bắt những điểm ở giữa của mình trong phần nhỏ bé của công việc huyền thuật và sáng tạo mà y đang tìm cách tiến hành. Nhân loại được dự định là phương tiện trong đó một số hoạt động có thể được thiết lập. Thực ra, nó là bộ não của Thượng đế Hành Tinh, nhiều đơn vị của nó tương tự như các tế bào não trong bộ máy con người. Cũng như bộ não con người, được hợp thành bởi vô số tế bào cảm tri và đáp ứng, có thể được ghi ấn thích đáng khi sự tĩnh lặng đã đạt được, và có thể trở thành phương tiện biểu đạt các kế hoạch và mục đích của linh hồn, truyền đạt các ý tưởng của linh hồn qua thể trí, thì Thượng đế Hành Tinh, hoạt động dưới cảm hứng của Vũ Trụ Trí, có thể ghi ấn lên nhân loại các mục đích của Thượng đế và tạo ra những hiệu quả tương ứng trong thế giới hiện tượng.

The members of the hierarchy represent those who have achieved peace and quiescence, and can be impressed; aspirants and disciples represent those brain cells which are beginning to fall into the larger divine rhythm. They are learning the nature of responsiveness. The mass of men are like the millions of unused brain cells which the psychologists and scientists tell us we possess but do not employ. This analogy you can think out in greater detail for yourself, but even superficially it will be apparent to you that when this point is grasped, the purpose for which humanity exists, the objective before the group of world mystics and workers, and the ideal set before the individual aspirant, are the same as in the individual meditation; the achieving of that focussed attention and mental quiet wherein reality can be contacted, the true and the beautiful can be registered, divine purpose can be recorded, and it becomes possible to transmit to the phenomenal form, upon the physical plane, the needed energy whereby the subjective [528] realisation can be materialised. The aspirant does this in connection with his own soul purpose if he is successful in his endeavour; the disciple is learning to do this in relation to group purpose, and the initiate cooperates with the planetary purpose. These constitute the inner group of vitally alive brain cells in the planetary brain, the entire human group, and it is evident that the more powerful their united vibration and the clearer the light which they reflect and transmit, the more rapidly will the present inert mass of human cells be brought into activity. The occult hierarchy is to the planetary Life what the light in the head is to the average awakened disciple, only on so much vaster a scale, and with such an adequate inner alignment that students such as those who read these Instructions cannot understand the true significance of the words. The point to be grasped is that through humanity on the physical plane, the nature of reality will be revealed; the true and the beautiful will be manifested; the divine plan will eventually work out, and that energy be transmitted to all forms in nature which will enable the inner spiritual reality to emerge.

Các thành viên của Thánh đoàn đại diện cho những người đã đạt được bình an và tĩnh lặng, và có thể được ghi ấn; những người chí nguyện và đệ tử đại diện cho các tế bào não đang bắt đầu hòa vào nhịp điệu thiêng liêng lớn hơn. Họ đang học bản chất của sự đáp ứng. Quần chúng nhân loại giống như hàng triệu tế bào não chưa được dùng đến mà các nhà tâm lý học và khoa học gia nói rằng chúng ta sở hữu nhưng không sử dụng. Bạn có thể tự mình suy ngẫm phép tương đồng này chi tiết hơn, nhưng ngay cả một cách hời hợt cũng sẽ rõ ràng với bạn rằng khi điểm này được nắm bắt, mục đích vì đó nhân loại hiện hữu, mục tiêu trước mắt nhóm các nhà thần bí và người hoạt động thế gian, và lý tưởng đặt trước người chí nguyện cá nhân, đều giống như trong tham thiền cá nhân: đạt được sự chú tâm tập trung và sự yên lặng trí tuệ, trong đó thực tại có thể được tiếp xúc, điều chân thật và đẹp đẽ có thể được ghi nhận, Thiên Ý có thể được ghi khắc, và có thể truyền đến hình tướng hiện tượng trên cõi hồng trần năng lượng cần thiết nhờ đó sự chứng nghiệm chủ quan [528] có thể hiện hình. Người chí nguyện làm điều này liên quan đến mục đích linh hồn của chính mình nếu y thành công trong nỗ lực; đệ tử đang học làm điều này trong quan hệ với mục đích nhóm, và điểm đạo đồ hợp tác với mục đích hành tinh. Những người này cấu thành nhóm bên trong của các tế bào não sống động mãnh liệt trong bộ não hành tinh, tức toàn thể nhóm nhân loại; và hiển nhiên rằng rung động hợp nhất của họ càng mạnh mẽ, ánh sáng họ phản chiếu và truyền dẫn càng trong sáng, thì khối tế bào nhân loại hiện đang trì trệ càng nhanh chóng được đưa vào hoạt động. Thánh đoàn huyền bí đối với Sự Sống hành tinh cũng như ánh sáng trong đầu đối với đệ tử thức tỉnh trung bình, chỉ ở một quy mô bao la hơn nhiều, và với một sự chỉnh hợp bên trong thích đáng đến mức các đạo sinh đọc những Huấn thị này không thể thấu hiểu thâm nghĩa thật sự của các lời ấy. Điểm cần nắm bắt là: qua nhân loại trên cõi hồng trần, bản chất của thực tại sẽ được mặc khải; điều chân thật và đẹp đẽ sẽ được biểu hiện; Thiên Cơ cuối cùng sẽ được thực hiện, và năng lượng ấy sẽ được truyền đến mọi hình tướng trong thiên nhiên, nhờ đó thực tại tinh thần bên trong có thể xuất lộ.

II. The second type of activity of which man is capable is an intense progressive and spiral development within the human ring-pass-not. This sentence covers the mode of development and the entire procedure of unfoldment of all the evolving units that we call men. With this I seek not here to deal. The history of the human structural growth, the entire field of the unfolding human consciousness and the history of all races and peoples that have lived or are living upon our planet can be dealt with under this heading. It concerns the use humanity has made of all the energies available within the natural world of which it is a part, inherent in the fourth kingdom itself and coming to it also from the world of spiritual realities. [529]

II. Loại hoạt động thứ hai mà con người có khả năng thực hiện là một sự phát triển mãnh liệt, tiến bộ và xoắn ốc bên trong vòng-giới-hạn của nhân loại. Câu này bao hàm phương thức phát triển và toàn bộ tiến trình khai mở của tất cả các đơn vị đang tiến hoá mà chúng ta gọi là con người. Tôi không tìm cách bàn đến điều này ở đây. Lịch sử tăng trưởng cấu trúc của nhân loại, toàn bộ lĩnh vực khai mở tâm thức con người và lịch sử của mọi chủng tộc cùng các dân tộc đã sống hoặc đang sống trên hành tinh chúng ta đều có thể được bàn đến dưới đề mục này. Nó liên quan đến cách nhân loại đã sử dụng mọi năng lượng sẵn có trong thế giới tự nhiên mà nó là một phần, vốn cố hữu trong chính giới thứ tư và cũng đến với nó từ thế giới của các thực tại tinh thần. [529]

III. The third type of activity which should occupy the attention of humanity, and one as yet little understood, is that it should act as a transmitting centre of spiritual forces—soul force and spiritual energy united and combined—to the prisoners of the planet and to the lives, held in embodied existence in the other kingdoms of nature. Human beings are apt to be primarily concerned with their higher group relations, with their return to the Father’s home, and with the trend which we call “upwards” and away from the phenomenal world. They are principally occupied with the finding of the centre within the form aspect, that which we call the soul, and, having found it, with the work then of acquainting themselves with that soul and thus finding peace. This is right and in line with divine intention but it is not all of the plan for man, and when this remains the prime objective, a man is dangerously near falling into the snare of spiritual selfishness and separateness.

III. Loại hoạt động thứ ba nên chiếm sự chú ý của nhân loại, và hiện còn ít được thấu hiểu, là nhân loại phải hoạt động như một trung tâm truyền dẫn các mãnh lực tinh thần — mãnh lực linh hồn và năng lượng tinh thần được hợp nhất và phối hợp — đến các tù nhân của hành tinh và đến những sự sống bị giữ trong hiện hữu nhập thể trong các giới khác của thiên nhiên. Con người thường có khuynh hướng chủ yếu quan tâm đến các quan hệ nhóm cao hơn của mình, đến sự trở về nhà Cha, và đến xu hướng mà chúng ta gọi là “hướng thượng” và rời xa thế giới hiện tượng. Họ chủ yếu bận tâm với việc tìm thấy trung tâm bên trong phương diện hình tướng, điều chúng ta gọi là linh hồn, và khi đã tìm thấy nó, với công việc làm quen với linh hồn ấy và nhờ đó tìm được bình an. Điều này là đúng và phù hợp với ý định thiêng liêng, nhưng nó không phải là toàn bộ Thiên Cơ dành cho con người; và khi điều này vẫn là mục tiêu chính yếu, con người ở rất gần nguy cơ sa vào cạm bẫy của sự ích kỷ và chia rẽ tinh thần.

When the centre is found by any human being and he becomes at-one with, and enters into relation with his soul, then he automatically shifts his position in the human family and—again speaking in symbols—finds himself part of the centre of light and understanding which we call, esoterically, the occult hierarchy, the cloud of witnesses, the disciples of the Christ, and other names according to the trend of the disciple’s convictions. This hierarchy is also attempting to externalise itself in the form of the group of World Workers, and when a man has found his soul and the principle of unity is sufficiently revealed to him he shifts also into this more exoteric group. All who find the centre do not as yet link up with both the interior and exterior groups. Then he is pledged to the magical work, to the salvaging of souls, to the releasing of the prisoners of the planet. This is the goal for humanity as a whole, and when all the sons of men have attained the objective, these prisoners will be released. [530] The reason for this will be that the magical work will be carried forward intelligently and perfectly and human beings in group formation will act as transmitters of pure spiritual energy, which will vivify every form in every kingdom in nature.

Khi bất kỳ con người nào tìm thấy trung tâm và y trở nên hợp nhất với, cũng như bước vào quan hệ với linh hồn của mình, thì y tự động chuyển vị trí của mình trong gia đình nhân loại và — lại nói theo biểu tượng — thấy mình là một phần của trung tâm ánh sáng và thấu hiểu mà chúng ta gọi, một cách huyền bí, là Thánh đoàn huyền bí, đám mây các nhân chứng, các đệ tử của Đức Christ, và những tên gọi khác tùy theo khuynh hướng xác tín của đệ tử. Thánh đoàn này cũng đang cố gắng ngoại hiện chính mình trong hình thức nhóm Những Người Hoạt Động Thế Gian, và khi một người đã tìm thấy linh hồn mình và nguyên khí hợp nhất được mặc khải đủ cho y, y cũng chuyển vào nhóm có tính ngoại môn hơn này. Không phải tất cả những ai tìm thấy trung tâm đều đã liên kết với cả hai nhóm bên trong và bên ngoài. Bấy giờ y được hiến dâng cho công việc huyền thuật, cho việc cứu vớt các linh hồn, cho việc giải thoát các tù nhân của hành tinh. Đây là mục tiêu của toàn thể nhân loại, và khi tất cả những người con của nhân loại đã đạt được mục tiêu, các tù nhân này sẽ được giải thoát. [530] Lý do là vì công việc huyền thuật sẽ được tiến hành một cách thông minh và hoàn hảo, và con người trong đội hình nhóm sẽ hoạt động như những người truyền dẫn năng lượng tinh thần thuần khiết, năng lượng này sẽ làm sinh động mọi hình tướng trong mọi giới của thiên nhiên.

In considering the problem of the prisoners of the planet and their eventual release, it must be remembered that one of the forces which lie back of the entire evolutionary scheme is that of the Principle of Limitation. This is the primary impulse which brings about the act of creation, and is intimately linked with that of will and its lower reflection, desire. Will is desire, formulated so clearly and carried so powerfully to an intelligent climax that the mode of its materialisation is grasped with such accuracy and energised with such intent that the result is inescapable. But pure will is only possible to a coordinated thinker, to truly self-conscious entities. Desire is instinctual or rather inherent in all forms, for all forms and organisms constitute part of some primary thinker and are influenced by the powerful intent of that primary force.

Khi xem xét vấn đề các tù nhân của hành tinh và sự giải thoát cuối cùng của họ, cần nhớ rằng một trong những mãnh lực nằm phía sau toàn bộ hệ thống tiến hoá là Nguyên khí Giới hạn. Đây là xung lực nguyên sơ đưa đến hành vi sáng tạo, và liên hệ mật thiết với ý chí cùng phản ánh thấp hơn của nó là dục vọng. Ý chí là dục vọng được định thức rõ ràng đến mức, và được đưa đến cao điểm thông minh một cách mạnh mẽ đến mức, phương thức hiện hình của nó được nắm bắt với độ chính xác như vậy và được tiếp năng lượng với chủ đích như vậy đến nỗi kết quả là không thể tránh khỏi. Nhưng ý chí thuần khiết chỉ có thể có nơi một người tư tưởng phối hợp, nơi các thực thể thật sự tự ý thức. Dục vọng có tính bản năng, hay đúng hơn là cố hữu trong mọi hình tướng, vì mọi hình tướng và cơ cấu đều cấu thành một phần của một Đấng Tư Tưởng nguyên sơ nào đó và chịu ảnh hưởng bởi chủ đích mạnh mẽ của mãnh lực nguyên sơ ấy.

The Principle of Limitation therefore is the outcome of the purposeful will and formulated desire of some thinking Being, and governs consequently the form-taking process of all incarnated lives. This Principle of Limitation controls the scope of an incarnation, sets its measure and rhythm, determines the radius of its influence, and brings about that illusory appearance of reality which we call manifestation.

Do đó, Nguyên khí Giới hạn là kết quả của ý chí có mục đích và dục vọng đã được định thức của một Đấng Tư Tưởng nào đó, và vì thế chi phối tiến trình khoác lấy hình tướng của mọi sự sống nhập thể. Nguyên khí Giới hạn này kiểm soát phạm vi của một kiếp nhập thể, ấn định mức độ và nhịp điệu của nó, xác định bán kính ảnh hưởng của nó, và tạo ra vẻ ngoài ảo tưởng của thực tại mà chúng ta gọi là sự biểu hiện.

The “prisoners of the planet” fall into two categories:

Các “tù nhân của hành tinh” rơi vào hai loại:

1. Those lives which act under the influence of a conscious purpose, and who “limit the life that is in them” for a time. They consciously take form, knowing the end from the beginning. These Beings in their turn fall into three main groups. [531]

1. Những sự sống hoạt động dưới ảnh hưởng của một mục đích có ý thức, và “giới hạn sự sống ở trong họ” trong một thời gian. Họ khoác lấy hình tướng một cách có ý thức, biết điểm kết thúc ngay từ khởi đầu. Đến lượt mình, các Đấng này rơi vào ba nhóm chính. [531]

a. The Being Who is the life of our planet, the One in Whom we live and move and have our being. This being, or sum total of organised lives is sometimes called the planetary Logos, sometimes the Ancient of Days, sometimes God, and sometimes the One Life.

a. Đấng là sự sống của hành tinh chúng ta, Đấng Duy Nhất trong Ngài chúng ta sống, vận động và có bản thể của mình. Đấng này, hay tổng thể các sự sống có tổ chức, đôi khi được gọi là Hành Tinh Thượng đế, đôi khi là Đấng Thái Cổ, đôi khi là Thượng đế, và đôi khi là Sự Sống Duy Nhất.

b. Those lives who constitute the Principle of Limitation in a kingdom of nature. The Life that is, for instance, expressing itself through the medium of the animal kingdom is a self-conscious intelligent entity, working in full awareness of intent and objective, and limiting his sphere of activity in order to provide due opportunity and expression for the myriad lives that find their life and being and sustenance in him. See you how the law of sacrifice runs throughout creation.

b. Những sự sống cấu thành Nguyên khí Giới hạn trong một giới của thiên nhiên. Chẳng hạn, Sự Sống đang biểu đạt chính mình qua phương tiện của giới động vật là một thực thể thông minh tự ý thức, hoạt động trong sự nhận biết trọn vẹn về chủ đích và mục tiêu, và giới hạn khối cầu hoạt động của mình để cung cấp cơ hội và sự biểu đạt thích đáng cho vô số sự sống tìm thấy sự sống, bản thể và dưỡng chất của chúng trong Ngài. Bạn có thấy định luật hy sinh vận hành xuyên suốt sáng tạo như thế nào không?

c. The sons of mind, human souls, solar Angels, the divine sons of God who in full self-consciousness work out certain well seen ends through the medium of the human family.

c. Những người con của trí tuệ, các linh hồn nhân loại, các Thái dương Thiên Thần, những người con thiêng liêng của Thượng đế, những Đấng trong ngã thức trọn vẹn thực hiện một số mục đích đã thấy rõ qua phương tiện của gia đình nhân loại.

2. Those lives who are limited in form because they are not self-conscious but are unconscious constituent parts of a greater form. They have not yet evolved to the point where they are self-conscious entities.

2. Những sự sống bị giới hạn trong hình tướng vì chúng không tự ý thức, mà là những thành phần vô thức của một hình tướng lớn hơn. Chúng chưa tiến hoá đến điểm trở thành những thực thể tự ý thức.

It might be said that this second category includes all existences, but the line of demarcation between self-produced limitation and unrealised form-taking lies entirely in the realm of consciousness. Some lives are prisoners and know it. Others are prisoners and know it not. The clue to suffering lies right here in the realm of mind. Pain and agony, rebellion and the conscious urge towards betterment and the changing of conditions are only found where what we call individuality is present, where the “I” complex is controlling, and where a self-conscious entity is functioning. There is of course [532] the equivalent to pain in kingdoms below the human, but it enters into another differentiation. It is not self-related. Subhuman forms of life suffer and undergo discomfort and are subject to the throes of death but they lack memory and prevision, and possess not that mental apprehension which will enable them to relate past and present and anticipate the future. They are exempt from the agony of foreboding. Their entire reaction to what are called evil conditions is so different to that of humanity that it is difficult for us to grasp it. The Old Commentary describes these two groups in the following terms:

Có thể nói rằng loại thứ hai này bao gồm mọi hiện hữu, nhưng đường ranh giới giữa sự tự tạo giới hạn và việc khoác lấy hình tướng mà chưa nhận biết hoàn toàn nằm trong lĩnh vực tâm thức. Một số sự sống là tù nhân và biết điều đó. Những sự sống khác là tù nhân mà không biết. Chìa khóa của đau khổ nằm ngay đây, trong lĩnh vực của thể trí. Đau đớn và thống khổ, phản kháng và xung lực có ý thức hướng tới sự cải thiện và thay đổi các điều kiện chỉ được tìm thấy nơi điều chúng ta gọi là cá tính hiện diện, nơi phức cảm “tôi” đang kiểm soát, và nơi một thực thể tự ý thức đang hoạt động. Dĩ nhiên [532] có điều tương đương với đau đớn trong các giới dưới nhân loại, nhưng nó thuộc về một biến phân khác. Nó không quy về bản ngã. Các hình thức sự sống dưới nhân loại chịu đau khổ, trải qua khó chịu và chịu các cơn hấp hối của cái chết, nhưng chúng thiếu ký ức và khả năng dự kiến, và không sở hữu sự lĩnh hội trí tuệ cho phép chúng liên hệ quá khứ với hiện tại và dự đoán tương lai. Chúng được miễn khỏi nỗi thống khổ của sự lo sợ trước. Toàn bộ phản ứng của chúng đối với những điều được gọi là điều kiện xấu khác với phản ứng của nhân loại đến mức chúng ta khó nắm bắt được. Cổ Luận mô tả hai nhóm này bằng những lời sau:

“The Sons of God, who know and see and hear (and knowing, know they know) suffer the pain of conscious limitation. Deep in the inmost depths of conscious being, their lost estate of liberty eats like a canker. Pain, sickness, poverty and loss are seen as such, and from them every son of God revolts. He knows that in himself, as once he was before he entered prisoner into form, he knew not pain. Sickness and death, corruption and disease, they touched him not. The riches of the universe were his, and naught he knew of loss.

“Các Con của Thượng đế, những Đấng biết, thấy và nghe, và khi biết thì biết rằng mình biết, chịu nỗi đau của sự giới hạn có ý thức. Sâu trong tận đáy sâu thẳm nhất của bản thể có ý thức, tình trạng tự do đã mất của các Ngài ăn mòn như một chứng loét. Đau đớn, bệnh tật, nghèo khổ và mất mát được thấy đúng như thế, và mọi Con của Thượng đế đều phản kháng chống lại chúng. Ngài biết rằng trong chính mình, như Ngài từng là trước khi bước vào hình tướng như một tù nhân, Ngài không biết đau đớn. Bệnh tật và cái chết, mục nát và chứng bệnh, chúng không chạm đến Ngài. Những của cải của vũ trụ là của Ngài, và Ngài không biết gì về mất mát.

“The lives that enter into form alone with lives self-conscious, the deva lives which build the forms indwelt by all the Sons of God, they know not pain or loss or poverty. The form decays, the other forms retire, and that which is required to nourish and keep strong the outer, lacks. But lacking also will and planned intent, they feel no aggravation and know no clear revolt.”

“Những sự sống đi vào hình tướng cùng với các sự sống tự ý thức, các sự sống thiên thần kiến tạo những hình tướng được tất cả Các Con của Thượng đế cư ngụ, chúng không biết đau đớn, mất mát hay nghèo khổ. Hình tướng suy tàn, các hình tướng khác rút lui, và điều cần thiết để nuôi dưỡng và giữ cho bên ngoài mạnh mẽ thì thiếu vắng. Nhưng vì cũng thiếu ý chí và chủ đích có hoạch định, chúng không cảm thấy sự bức bách và không biết sự phản kháng rõ ràng.”

A word about pain might be in place here, though I have naught of an abstruse nature to communicate anent the evolution of the human hierarchy through the medium of pain. The devas do not suffer pain as does mankind. Their rate of rhythm is steadier although in line with the Law. They learn through application to the work of building and through incorporation into the form of that which is built. They grow through appreciation [533] of and joy in the forms built and the work accomplished. The devas build and humanity breaks and through the shattering of the forms man learns through discontent. Thus is acquiescence in the work of the greater Builders achieved. Pain is that upward struggle through matter which lands a man at the Feet of the Logos; pain is the following of the line of the greatest resistance and thereby reaching the summit of the mountain; pain is the smashing of the form and the reaching of the inner fire; pain is the cold of isolation which leads to the warmth of the central sun; pain is the burning in the furnace in order finally to know the coolness of the water of life; pain is the journeying into the far country, resulting in the welcome to the Father’s Home; pain is the illusion of the Father’s disowning, which drives the prodigal straight to the Father’s heart; pain is the cross of utter loss, that renders back the riches of the eternal bounty; pain is the whip that drives the struggling builder to carry to utter perfection the building of the Temple.

Một lời về đau đớn có thể thích hợp ở đây, dù tôi không có điều gì thuộc bản chất thâm áo để truyền đạt liên quan đến sự tiến hoá của Thánh đoàn nhân loại qua phương tiện đau đớn. Các thiên thần không chịu đau đớn như nhân loại. Tốc độ nhịp điệu của họ ổn định hơn, dù vẫn phù hợp với Định luật. Họ học qua việc áp dụng vào công việc kiến tạo và qua sự kết nhập vào hình tướng của điều được kiến tạo. Họ tăng trưởng qua sự trân trọng [533] và niềm hoan hỉ trong các hình tướng được kiến tạo và công việc đã hoàn thành. Các thiên thần kiến tạo, còn nhân loại phá vỡ; và qua sự đập vỡ các hình tướng, con người học bằng bất mãn. Nhờ vậy, sự thuận nhận công việc của các Đấng Kiến Tạo lớn hơn được đạt thành. Đau đớn là cuộc đấu tranh hướng thượng xuyên qua vật chất, đưa con người đến dưới Chân Thượng đế; đau đớn là việc đi theo con đường có sức kháng cự lớn nhất và nhờ đó đạt tới đỉnh núi; đau đớn là sự đập vỡ hình tướng và vươn tới lửa bên trong; đau đớn là cái lạnh của sự cô lập dẫn đến hơi ấm của mặt trời trung tâm; đau đớn là sự thiêu đốt trong lò lửa để cuối cùng biết được sự mát lành của nước sự sống; đau đớn là cuộc hành trình đến miền xa xôi, dẫn đến sự chào đón tại Nhà Cha; đau đớn là ảo tưởng về việc bị Cha từ bỏ, điều thúc đẩy đứa con hoang đàng đi thẳng vào trái tim Cha; đau đớn là thập giá của sự mất mát hoàn toàn, trả lại những của cải của nguồn ân phúc vĩnh cửu; đau đớn là roi thúc đẩy người kiến tạo đang vật lộn đưa công trình xây dựng Đền Thờ đến sự hoàn hảo tuyệt đối.

The uses of pain are many, and they lead the human soul out of darkness into light, out of bondage into liberation, out of agony into peace. That peace, that light and that liberation, with the ordered harmony of the cosmos are for all the sons of men.

Công dụng của đau đớn thì nhiều, và chúng dẫn linh hồn con người ra khỏi bóng tối vào ánh sáng, ra khỏi ràng buộc vào giải thoát, ra khỏi thống khổ vào bình an. Bình an ấy, ánh sáng ấy và sự giải thoát ấy, cùng với hòa điệu có trật tự của vũ trụ, dành cho tất cả những người con của nhân loại.

With the problem of limitation is closely linked that of liberation. Into the prison house of form enter all that live; some enter consciously and some unconsciously, and this we call birth, appearance, incarnation, manifestation. Immediately there sweeps into activity another law or the working out of an active principle which we call the Law of Cycles. This is the principle of periodic appearance—a beneficent operation of the lower wisdom of innate divinity, for it produces that sequence of the states of consciousness which we term Time. This produces therefore in the world field of awareness a [534] gradual and slow growth towards self-expression, self-appreciation, and self-realisation. To these principles of Limitation and of Cycles is added another principle, that of Expansion. This brings about the development of consciousness so that the latent germ of sentiency or of sensitive response to environment may be fostered in the living unit.

Với vấn đề giới hạn, vấn đề giải thoát liên kết chặt chẽ. Vào ngôi nhà tù của hình tướng, mọi sự sống đều đi vào; một số đi vào có ý thức và một số vô thức, và điều này chúng ta gọi là sinh ra, sắc tướng, nhập thể, biểu hiện. Ngay lập tức, một định luật khác, hay sự vận hành của một nguyên khí tích cực mà chúng ta gọi là Định luật Chu kỳ, tràn vào hoạt động. Đây là nguyên khí của sự xuất hiện theo chu kỳ — một hoạt động từ thiện của minh triết thấp hơn thuộc thiên tính bẩm sinh, vì nó tạo ra chuỗi các trạng thái tâm thức mà chúng ta gọi là Thời gian. Do đó, trong trường nhận biết của thế giới, điều này tạo ra một [534] sự tăng trưởng dần dần và chậm rãi hướng tới tự biểu đạt, tự trân trọng và tự chứng nghiệm. Vào các nguyên khí Giới hạn và Chu kỳ này, còn được thêm một nguyên khí khác, đó là nguyên khí Mở rộng. Nguyên khí này tạo nên sự phát triển của tâm thức để mầm tiềm ẩn của cảm tri hay sự đáp ứng nhạy bén với môi trường có thể được nuôi dưỡng trong đơn vị sống.

We have therefore three Principles:

Vì vậy, chúng ta có ba Nguyên khí:

1. The Principle of Limitation.

1. Nguyên khí Giới hạn.

2. The Principle of Periodic Manifestation.

2. Nguyên khí Biểu hiện Theo Chu kỳ.

3. The Principle of Expansion.

3. Nguyên khí Mở rộng.

These three Principles together constitute the factors underlying the Law of Evolution as men call it. They bring about the imprisonment of the Life in its various appearances or aspects; they produce the environing forms, and they lead the imprisoned lives on into ever more educational prison houses. Finally the time arrives when the Principle of Liberation becomes active and a transition is effected out of a prison house which cramps and distorts into one which provides adequate conditions for the next development of consciousness.

Ba Nguyên khí này cùng nhau cấu thành những yếu tố nằm dưới Định luật Tiến hoá, như con người gọi. Chúng đem lại sự giam giữ Sự Sống trong các sắc tướng hay phương diện khác nhau của nó; chúng tạo ra các hình tướng bao quanh, và dẫn các sự sống bị giam giữ tiến vào những ngôi nhà tù ngày càng có tính giáo dục hơn. Cuối cùng, thời điểm đến khi Nguyên khí Giải thoát trở nên hoạt động và một sự chuyển tiếp được thực hiện ra khỏi một ngôi nhà tù gây bó hẹp và méo mó, để bước vào một ngôi nhà tù cung cấp các điều kiện thích đáng cho sự phát triển kế tiếp của tâm thức.

It is interesting here to note that death is governed by the Principle of Liberation, and not by that of Limitation. Death is only recognised as a factor to be dealt with by self-conscious lives and is only misunderstood by human beings, who are the most glamoured and deluded of all incarnated lives.

Điều thú vị cần lưu ý ở đây là cái chết được chi phối bởi Nguyên khí Giải thoát, chứ không phải bởi Nguyên khí Giới hạn. Cái chết chỉ được nhận biết như một yếu tố cần được xử lý bởi các sự sống tự ý thức, và chỉ bị hiểu lầm bởi con người, vốn là những sự sống nhập thể bị ảo cảm và ảo tưởng nhiều nhất.

The next point to be noted is that each kingdom in nature acts in two ways:

Điểm kế tiếp cần lưu ý là mỗi giới trong thiên nhiên hoạt động theo hai cách:

1. As the liberator of the kingdom of forms which has not reached its particular stage of conscious awareness.

1. Như kẻ giải thoát cho giới hình tướng chưa đạt tới giai đoạn nhận biết có ý thức riêng của nó.

2. As the prison house of lives that have transmitted into it from the level of consciousness next beneath it. [535]

2. Như ngôi nhà tù của những sự sống đã chuyển vào đó từ cấp độ tâm thức ngay bên dưới nó. [535]

Let it be remembered always that each field of awareness in its boundaries constitutes a prison, and that the objective of all work of liberation is to release the consciousness and expand its field of contacts. Where there are boundaries of any kind, where a field of influence is circumscribed, and where the radius of contact is limited there you have a prison. Ponder on this statement for it holds much of truth. Where there is an apprehension of a vision and of a wide unconquered territory of contacts then there will inevitably be a sense of imprisonment and of cramping. Where there is realisation of worlds to conquer, of truths to be learnt, of conquests to be made, of desires to be achieved, of knowledges to be mastered, there you will have a festering sense of limitation, goading on the aspirant to renewed effort and driving the living entity on along the path of evolution. Instinct, governing the vegetable and animal kingdoms, develops into intellect in the human family. Later intellect merges into intuition and intuition into illumination. When the superhuman consciousness is evoked these two—intuition and illumination—take the place of instinct and of intelligence.

Hãy luôn nhớ rằng mỗi trường nhận biết, trong các ranh giới của nó, cấu thành một nhà tù, và mục tiêu của mọi công việc giải thoát là giải phóng tâm thức và mở rộng trường tiếp xúc của nó. Ở đâu có các ranh giới thuộc bất kỳ loại nào, ở đâu một trường ảnh hưởng bị giới hạn, và ở đâu bán kính tiếp xúc bị hạn chế, ở đó bạn có một nhà tù. Hãy suy ngẫm câu nói này, vì nó chứa đựng nhiều chân lý. Ở đâu có sự lĩnh hội một tầm nhìn và một lãnh thổ tiếp xúc rộng lớn chưa được chinh phục, ở đó chắc chắn sẽ có cảm giác bị giam giữ và bị bó hẹp. Ở đâu có sự chứng nghiệm về những thế giới cần chinh phục, những chân lý cần học, những chiến thắng cần đạt, những dục vọng cần thành tựu, những tri thức cần làm chủ, ở đó bạn sẽ có một cảm thức giới hạn nung nấu, thúc giục người chí nguyện nỗ lực mới và đẩy thực thể sống tiến lên dọc theo con đường tiến hoá. Bản năng, chi phối giới thực vật và giới động vật, phát triển thành trí năng trong gia đình nhân loại. Về sau, trí năng hòa nhập vào trực giác và trực giác vào soi sáng. Khi tâm thức siêu nhân được gợi lên, hai điều này — trực giác và soi sáng — thay thế cho bản năng và trí thông minh.

Illumination—what does that lead to? Straight to the summit of achievement, to the fulfillment of cyclic destiny, to the emergence of the radiant glory, to wisdom, power, God consciousness. These words however mean but little or nothing in comparison with a Reality which can only be sensed by any human being when his intuition is awakened and his mind illumined.

Soi sáng — điều đó dẫn đến đâu? Trực tiếp đến đỉnh cao thành tựu, đến sự hoàn tất định mệnh chu kỳ, đến sự xuất lộ của vinh quang rạng rỡ, đến minh triết, quyền năng, tâm thức Thượng đế. Tuy nhiên, những lời này chỉ có nghĩa rất ít hoặc không có nghĩa gì khi so với một Thực tại chỉ có thể được bất kỳ con người nào cảm nhận khi trực giác của y được đánh thức và thể trí của y được soi sáng.

Grasping these facts anent imprisonment how, to be practical, can a man become a releasing agent for the “prisoners of the planet”? What can humanity as a whole achieve along this line? What can the individual do?

Sau khi nắm bắt những sự kiện này liên quan đến sự giam giữ, vậy một cách thực tiễn, làm thế nào con người có thể trở thành một tác nhân giải thoát cho các “tù nhân của hành tinh”? Nhân loại như một toàn thể có thể đạt được điều gì theo hướng này? Cá nhân có thể làm gì?

The task of humanity fails primarily into three divisions of labour. Three groups of prisoners can be released [536] and will eventually find their way out of their prison house through the instrumentality of man. Already human beings are working in all three fields.

Nhiệm vụ của nhân loại về căn bản rơi vào ba phân bộ lao động. Ba nhóm tù nhân có thể được giải thoát [536] và cuối cùng sẽ tìm được đường ra khỏi ngôi nhà tù của họ qua công cụ là con người. Con người hiện đã đang làm việc trong cả ba lĩnh vực.

1. Prisoners within the human form. This involves working with one’s fellow men.

1. Các tù nhân bên trong hình tướng con người. Điều này bao hàm việc làm việc với đồng loại của mình.

2. Prisoners within the animal kingdom, and already much is being done in this field.

2. Các tù nhân bên trong giới động vật, và đã có nhiều việc đang được thực hiện trong lĩnh vực này.

3. Prisoners within the forms of the vegetable world. A beginning has been made here.

3. Các tù nhân bên trong các hình tướng của giới thực vật. Một khởi đầu đã được thực hiện ở đây.

Much work is being accomplished by man for men, and through the agency of scientific, religious and educational endeavour, the human consciousness is steadily expanding until one by one the Sons of God are breaking through their limitations into the world of souls. In the retrospect of history, the picture of the emerging prisoner, Man, can be seen in clear delineation. Little by little he has mastered the planetary boundaries; little by little, he has grown from the stage of cave man to that of a Shakespeare, a Newton, a Leonardo da Vinci, an Einstein, a St. Francis of Assisi, to a Christ and a Buddha. The capacity of man to achieve in any field of human expression seems practically unlimited, and if the past few thousand years have seen such a stupendous growth, what shall we see in the next five thousand years? If prehistoric man, little more than an animal, has grown into the genius, what unfoldment is not possible as more and more of innate divinity makes its presence felt? The superman is with us. What will the world manifest when all mankind is tending towards a concrete manifestation of superhuman powers?

Nhiều công việc đang được con người thực hiện cho con người, và qua tác nhân của nỗ lực khoa học, tôn giáo và giáo dục, tâm thức con người đang mở rộng đều đặn cho đến khi từng người một, Các Con của Thượng đế phá vỡ những giới hạn của mình để bước vào thế giới của các linh hồn. Khi nhìn lại lịch sử, bức tranh về tù nhân đang xuất lộ, Con Người, có thể được thấy với nét phác rõ ràng. Từng chút một, y đã làm chủ các ranh giới hành tinh; từng chút một, y đã tăng trưởng từ giai đoạn người hang động đến một Shakespeare, một Newton, một Leonardo da Vinci, một Einstein, một Thánh Francis thành Assisi, đến một Đức Christ và một Đức Phật. Năng lực thành tựu của con người trong bất kỳ lĩnh vực biểu đạt nhân loại nào dường như hầu như vô giới hạn; và nếu vài nghìn năm qua đã chứng kiến một sự tăng trưởng phi thường như thế, chúng ta sẽ thấy gì trong năm nghìn năm tới? Nếu con người tiền sử, chỉ hơn thú vật một chút, đã tăng trưởng thành thiên tài, thì sự khai mở nào lại không thể có khi ngày càng nhiều thiên tính bẩm sinh làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận? Siêu nhân đang ở cùng chúng ta. Thế giới sẽ biểu hiện điều gì khi toàn thể nhân loại đang hướng tới một sự biểu hiện cụ thể của các quyền năng siêu nhân?

Man’s consciousness is being released in varying directions and dimensions. It is expanding into the world of spiritual realities and beginning to embrace the fifth or spiritual kingdom, the kingdom of souls. It is interpenetrating, through scientific research, the world of [537] super-human endeavour, and investigating the many aspects of the Form of God, and of the forms that constitute the Form.

Tâm thức con người đang được giải phóng theo nhiều hướng và chiều kích khác nhau. Nó đang mở rộng vào thế giới của các thực tại tinh thần và bắt đầu bao gồm giới thứ năm hay giới tinh thần, giới của các linh hồn. Qua nghiên cứu khoa học, nó đang thâm nhập lẫn nhau với thế giới của [537] nỗ lực siêu nhân, và khảo sát nhiều phương diện của Hình Tướng Thượng đế, cũng như của các hình tướng cấu thành Hình Tướng ấy.

In touching upon the work of humanity in releasing the units of which it is constructed, and in releasing the prisoners in the vegetable and animal kingdoms, I want to point out two things, both of profound importance:

Khi đề cập đến công việc của nhân loại trong việc giải phóng các đơn vị cấu thành nó, và trong việc giải phóng các tù nhân trong giới thực vật và giới động vật, tôi muốn chỉ ra hai điều, cả hai đều có tầm quan trọng sâu xa:

First, in order to release the “prisoners of the planet” that come under the title of subhuman, man has to work under the influence of the intuition; when working to release his fellow men he has to know the meaning of Illumination.

Trước hết, để giải thoát các “tù nhân của hành tinh” thuộc danh xưng dưới nhân loại, con người phải làm việc dưới ảnh hưởng của trực giác; khi làm việc để giải thoát đồng loại, y phải biết ý nghĩa của Soi sáng.

When the true nature of Service is comprehended, it will be found that it is an aspect of that divine energy which works always under the destroyer aspect, for it destroys the forms in order to release. Service is a manifestation of the Principle of Liberation, and of this principle, death and service, constitute two aspects. Service saves, liberates and releases, on various levels, the imprisoned consciousness. The same statements can be made of death. But unless service can he rendered from an intuitive understanding of all the facts in the case, interpreted intelligently, and applied in a spirit of love upon the physical plane, it fails to fulfil its mission adequately.

Khi bản chất thật sự của Phụng sự được thấu hiểu, người ta sẽ thấy rằng nó là một phương diện của năng lượng thiêng liêng luôn hoạt động dưới phương diện hủy diệt, vì nó phá hủy các hình tướng để giải phóng. Phụng sự là một biểu hiện của Nguyên khí Giải thoát, và của nguyên khí này, cái chết và phụng sự cấu thành hai phương diện. Phụng sự cứu vớt, giải phóng và phóng thích, trên nhiều cấp độ khác nhau, tâm thức bị giam giữ. Những phát biểu tương tự có thể được đưa ra về cái chết. Nhưng trừ khi phụng sự có thể được thực hiện từ một sự thấu hiểu trực giác về tất cả các sự kiện trong trường hợp ấy, được diễn giải một cách thông minh, và được áp dụng trong tinh thần bác ái trên cõi hồng trần, nó không hoàn thành sứ mệnh của mình một cách thích đáng.

When the factor of spiritual illumination enters into that service, you have those transcendent Lights which have illumined the way of humanity and have acted like search-lights, thrown out into the great ocean of consciousness, revealing to man the Path he can and must go.

Khi yếu tố soi sáng tinh thần bước vào sự phụng sự ấy, bạn có những Ánh Sáng siêu việt đã soi sáng con đường của nhân loại và hoạt động như những đèn pha, chiếu ra đại dương bao la của tâm thức, mặc khải cho con người Đường Đạo mà y có thể và phải đi.

I would like to point out another thing. I have given no specific rules for releasing the prisoners of the planet. I have made no classification of the prisons and their prisoners, nor of methods of work nor of techniques of release.

Tôi muốn chỉ ra một điều khác. Tôi không đưa ra các quy luật cụ thể nào để giải thoát các tù nhân của hành tinh. Tôi không phân loại các nhà tù và tù nhân của chúng, cũng không phân loại các phương pháp làm việc hay các kỹ thuật giải thoát.

I urge only upon each and all who read these Instructions [538] the necessity for renewed effort to fit themselves for service by a conscious and deliberate effort to develop the intuition and to achieve illumination. Every human being who reaches the goal of light and wisdom automatically has a field of influence which extends both up and down, and which reaches both inwards to the source of light and outwards into the “fields of darkness”. When he has thus attained he will become a conscious centre of life giving force, and will be so without effort. He will stimulate, energise and vivify to fresh efforts all lives that he contacts, be they his fellow aspirants, or an animal, or a flower. He will act as a transmitter of light in the darkness. He will dispel the glamour around him and let in the radiance of reality.

Tôi chỉ thôi thúc mỗi người và tất cả những ai đọc các Huấn thị này [538] về sự cần thiết của nỗ lực mới để tự chuẩn bị cho phụng sự bằng một nỗ lực có ý thức và chủ tâm nhằm phát triển trực giác và đạt được soi sáng. Mỗi con người đạt tới mục tiêu của ánh sáng và minh triết tự động có một trường ảnh hưởng trải rộng cả lên trên lẫn xuống dưới, vươn cả vào trong đến nguồn ánh sáng và ra ngoài vào “các cánh đồng bóng tối”. Khi y đã đạt được như vậy, y sẽ trở thành một trung tâm có ý thức của mãnh lực ban sự sống, và sẽ như thế mà không cần nỗ lực. Y sẽ kích thích, tiếp năng lượng và làm sinh động mọi sự sống mà y tiếp xúc để hướng tới những nỗ lực mới, dù đó là các bạn chí nguyện đồng hành, hay một con vật, hay một đóa hoa. Y sẽ hoạt động như người truyền dẫn ánh sáng trong bóng tối. Y sẽ xua tan ảo cảm quanh mình và để hào quang của thực tại đi vào.

When large numbers of the sons of men can so act, then the human family will enter upon its destined work of planetary service. Its mission is to act as a bridge between the world of spirit and the world of material forms. All grades of matter meet in man, and all the states of consciousness are possible to him. Mankind can work in all directions and lift the subhuman kingdoms into heaven and bring heaven down to earth.

Khi số đông những người con của nhân loại có thể hành động như vậy, bấy giờ gia đình nhân loại sẽ bước vào công việc phụng sự hành tinh đã được định sẵn của mình. Sứ mệnh của nó là hoạt động như một cây cầu giữa thế giới tinh thần và thế giới của các hình tướng vật chất. Mọi cấp độ của vật chất gặp nhau trong con người, và mọi trạng thái tâm thức đều có thể có đối với y. Nhân loại có thể làm việc theo mọi hướng, nâng các giới dưới nhân loại lên thiên giới và đem thiên giới xuống Trái Đất.