← A Treatise on White Magic – Alice A. Bailey

RULE THIRTEEN

RULE THIRTEEN

The magician must recognize the four; note in his work the shade of violet they evidence, and thus constructed the shadow. When this is so, the shadow clothes itself, and the four become the seven.

Nhà huyền thuật phải nhận biết bốn; ghi nhận trong công việc của mình sắc tím mà chúng biểu lộ, và nhờ đó kiến tạo bóng. Khi điều này xảy ra, bóng tự khoác lấy hình tướng, và bốn trở thành bảy.

The Quarternaries to be Recognised— Các Bộ Bốn Cần Được Nhận Biết

[541]

[541]

This rule is for me one of the most difficult to explain, the reason for this being threefold:

Đối với tôi, quy luật này là một trong những quy luật khó giải thích nhất, lý do của điều này có ba phần:

One: The number of people in physical incarnation at this time who can work in a truly creative manner and profit by the information given in this Rule is exceedingly few. Only to the white magician, and he experienced in his work, can the real interpretation be given. There is much danger in imparting the significance of these rules to those who are not qualified in themselves to work correctly. We will, therefore, consider the qualifications required of those who are entitled to this knowledge so that the student can begin to develop in himself that which may be lacking.

Một: Số người đang lâm phàm trên cõi hồng trần vào lúc này có thể làm việc theo một cách thật sự sáng tạo và hưởng lợi từ thông tin được đưa ra trong Quy luật này là cực kỳ ít. Chỉ cho nhà huyền thuật chánh đạo, và là người đã có kinh nghiệm trong công việc của mình, sự diễn giải thật sự mới có thể được trao. Có nhiều nguy hiểm trong việc truyền đạt thâm nghĩa của các quy luật này cho những người tự thân chưa đủ tư cách để làm việc đúng đắn. Vì vậy, chúng ta sẽ xem xét các phẩm chất cần có nơi những người có quyền tiếp nhận tri thức này, để đạo sinh có thể bắt đầu phát triển nơi chính mình điều có thể còn thiếu.

Two: The danger of minute and detailed instructions consists in the fact that were they now to be given to the world, we should be flooded with thought-forms and these thought-forms would be created in order to express purely selfish desire and mental matter would be swept into activity in line with the fancies and the whims of the undeveloped along spiritual lines. It must be remembered that every human thought, whether the potent mass thoughts or individual dynamic ideas, must eventually emerge objectively on the physical plane. This is an inevitable and unalterable rule and due consideration of this law which governs mental substance will show the danger of wrong thought and the power of right. The potency of human thought at this time is primarily of mass description, for few there are who can think creatively. Public opinion, mass ideas, the tendencies of human [542] desire and thought, are not at this time of the highest order, and the physical precipitation of these vague and inchoate thoughts distinguished by a vast similarity, and coloured by selfish intent and personal behest, and based upon likes and dislikes, prejudices and longings, can be seen in the most interesting precipitation. The vast assembly of insects which now haunt our planet and cause increasing concern to the scientist, agriculturist, and all those dealing with the welfare of the human animal, are the direct result of thought precipitation.

Hai: Mối nguy của những chỉ dẫn tỉ mỉ và chi tiết nằm ở chỗ, nếu giờ đây chúng được trao cho thế gian, chúng ta sẽ bị tràn ngập bởi các hình tư tưởng; và những hình tư tưởng này sẽ được tạo ra để biểu lộ dục vọng hoàn toàn ích kỷ, còn chất liệu trí tuệ sẽ bị cuốn vào hoạt động theo những tưởng tượng và thất thường của những người chưa phát triển theo đường hướng tinh thần. Cần nhớ rằng mọi tư tưởng của con người, dù là những tư tưởng quần chúng mạnh mẽ hay những ý tưởng năng động cá nhân, cuối cùng đều phải xuất hiện một cách khách quan trên cõi hồng trần. Đây là một quy luật tất yếu và bất biến; và sự cân nhắc đúng mức định luật này, vốn chi phối chất liệu trí tuệ, sẽ cho thấy mối nguy của tư tưởng sai lầm và quyền năng của tư tưởng đúng đắn. Quyền năng của tư tưởng nhân loại vào lúc này chủ yếu mang tính quần chúng, vì rất ít người có thể tư duy một cách sáng tạo. Công luận, các ý tưởng quần chúng, những khuynh hướng của dục vọng và tư tưởng nhân loại [542] hiện nay không thuộc trật tự cao nhất; và sự ngưng tụ hồng trần của những tư tưởng mơ hồ, chưa thành hình này — vốn nổi bật bởi một sự tương đồng rộng lớn, nhuốm màu ý định ích kỷ và mệnh lệnh cá nhân, dựa trên những ưa ghét, thành kiến và khát vọng — có thể được thấy trong một sự ngưng tụ hết sức đáng chú ý. Tập hợp khổng lồ các loài côn trùng hiện đang ám ảnh hành tinh chúng ta và gây mối quan tâm ngày càng tăng cho nhà khoa học, nhà nông học và tất cả những ai xử lý phúc lợi của con vật nhân loại, là kết quả trực tiếp của sự ngưng tụ tư tưởng.

I have not time to enlarge upon this fact, but I can assure you that as men learn to think with more unselfishness and with greater purity, and as malice and hatred and competition give place to brotherhood, kindness and cooperation, the insect pest, as it is now called, will most surely die out.

Tôi không có thời gian để nói rộng thêm về sự kiện này, nhưng tôi có thể bảo đảm với các bạn rằng khi con người học cách tư duy với nhiều tính vô ngã hơn và với sự tinh khiết lớn hơn, và khi ác ý, hận thù cùng cạnh tranh nhường chỗ cho tình huynh đệ, lòng tử tế và sự hợp tác, thì tai họa côn trùng, như hiện nay người ta gọi, chắc chắn sẽ dần biến mất.

Three: Another difficulty which I experience in elucidating these rules lies in the fact that it is today more easy to prove the fact that there is a realm of mind than it is to prove that there is a realm of the ether, even though scientists use the word widely. This rule concerns the four grades of etheric substance which constitute the etheric envelope of all forms in nature, from a mountain to an ant, and from a plant to an atom. Certain scientists recognize the fact of an etheric body, vast numbers do not, and from the standpoint of the masses of humanity, it remains unrecognized. That which lies closest to us and in our immediate foreground is often overlooked, and it has interested those of us who teach and guide to note how much emphasis is laid upon psychic and astral phenomena, and how little attention is paid to the more obvious and more easily discerned etheric forms and forces! Given a slight change in the present mode of visual focussing it will be found that the human eye is capable of including an entirely new field of perception and of awareness. Blindly men introvert their [543] consciousness and become aware of astral objects and that illusive world of ever changing forms in which we live and move and have our being, and yet, they fail to see that which lies immediately before them.

Ba: Một khó khăn khác mà tôi gặp phải khi làm sáng tỏ các quy luật này nằm ở chỗ, ngày nay việc chứng minh rằng có một cõi trí dễ hơn việc chứng minh rằng có một cõi dĩ thái, dù các nhà khoa học dùng rộng rãi từ này. Quy luật này liên quan đến bốn cấp độ của chất liệu dĩ thái, vốn cấu thành lớp bao dĩ thái của mọi hình tướng trong thiên nhiên, từ một ngọn núi đến một con kiến, và từ một cây cỏ đến một nguyên tử. Một số nhà khoa học thừa nhận sự kiện về một thể dĩ thái, còn số đông thì không; và xét theo quan điểm của đại chúng nhân loại, nó vẫn chưa được thừa nhận. Điều nằm gần chúng ta nhất và ngay trước tầm mắt chúng ta thường bị bỏ qua; và đối với những người trong chúng tôi, những người giảng dạy và hướng dẫn, thật đáng chú ý khi thấy người ta đặt quá nhiều nhấn mạnh lên các hiện tượng thông linh và cảm dục, trong khi lại quá ít chú ý đến những hình tướng và mãnh lực dĩ thái hiển nhiên hơn và dễ phân biện hơn! Nếu chỉ có một thay đổi nhẹ trong cách tập trung thị giác hiện nay, người ta sẽ thấy rằng mắt người có khả năng bao gồm một lĩnh vực tri nhận và nhận biết hoàn toàn mới. Con người mù quáng hướng nội tâm thức của mình [543] và trở nên nhận biết các đối tượng cảm dục cùng thế giới ảo huyễn của những hình tướng luôn biến đổi, trong đó chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu; thế nhưng họ lại không thấy điều nằm ngay trước mặt mình.

These three difficulties of:

Ba khó khăn này:

1. Lack of qualification,

1. Thiếu phẩm chất thích hợp,

2. Dangers inherent in unconscious form-building.

2. Những nguy hiểm cố hữu trong việc kiến tạo hình tướng một cách vô thức.

3. Etheric blindness,

3. Sự mù lòa dĩ thái,

make it well nigh impossible for me to do full justice to this rule and to elucidate the work on etheric levels, and hence the relative brevity of the elucidation.

khiến tôi hầu như không thể trình bày đầy đủ quy luật này và làm sáng tỏ công việc trên các cấp độ dĩ thái; do đó phần giải thích tương đối ngắn gọn.

In dealing with the subject of qualification and answering the question: What constitutes the equipment needed by a white magician? I would say one thing: —all students realize that certain requirements must be met if a man is to be entrusted with any measure of understanding of the technique of the Great Work. I take it for granted, however, that the character qualifications are not those to which our question refers. All aspirants know, and down the ages have been taught, that a clean mind and a pure heart, love of truth, and a life of service and unselfishness, are prime prerequisites, and where they are lacking, naught avails and none of the great secrets can be imparted. You might well say here: We have also been taught that there exist those who work in the four ethers and who undoubtedly perform magical deeds, yet who do not possess this essential purity and loving-kindness to which reference has been made. This is undoubtedly true; they belong to a group of workers in matter whom we call Black Magicians; they are highly developed intellectually and can motivate mental substance or mind stuff in such a manner that it can achieve objectivity on the physical plane and bring about their deep intent. About this group there is much misunderstanding and profound ignorance. It is perhaps as well, [544] for their destiny is tied up with the future race, the sixth, and their end and the cessation of their activities will come about in that far distant aeon which is technically called the Sixth Round. The final break or division between the so-called black and white forces, for this particular world cycle, will take place during the period of the sixth root race in the present round. Towards the close of the sixth root race, before the emergence of the seventh, we shall have the true Armageddon about which so much has been taught. A small cycle, corresponding to this final battle and cleavage, will appear during the sixth subrace which is now in process of formation. The world war which has just taken place and our present cycle of separativeness and upheaval, do not constitute the real Armageddon. The war which is told to us in the Mahabharata and the present war had the roots of their trouble and the seeds of the disasters which they brought about, one in the lower and one in the higher astral world. Selfishness and desire of a low order were the impulses back of them both. The coming great division will have its roots in the mental world and will consummate in the sixth subrace. In the sixth root race it will have the seeds of portentous disaster in the coordinated triplicity of mind, astralism, and physical nature, which will bring about a climaxing moment for the planetary duality.

Khi đề cập đến vấn đề phẩm chất thích hợp và trả lời câu hỏi: Trang bị cần thiết của một nhà huyền thuật chánh đạo gồm những gì? Tôi xin nói một điều: —mọi đạo sinh đều nhận ra rằng phải đáp ứng một số yêu cầu nhất định nếu một người được giao phó bất kỳ mức độ thấu hiểu nào về kỹ thuật của Đại Công Trình. Tuy nhiên, tôi mặc nhiên cho rằng các phẩm chất về tính cách không phải là những điều mà câu hỏi của chúng ta muốn nói tới. Tất cả những người chí nguyện đều biết, và qua các thời đại đã được dạy, rằng một thể trí trong sạch và một trái tim tinh khiết, tình thương chân lý, cùng một đời sống phụng sự và vô ngã, là những điều kiện tiên quyết hàng đầu; và nơi nào thiếu chúng, không gì có hiệu quả và không một bí mật lớn lao nào có thể được truyền trao. Ở đây các bạn có thể nói: Chúng tôi cũng đã được dạy rằng có những người hoạt động trong bốn dĩ thái và chắc chắn thực hiện những hành vi huyền thuật, nhưng lại không sở hữu sự tinh khiết thiết yếu và lòng nhân ái mà ở đây đã nhắc đến. Điều này chắc chắn đúng; họ thuộc về một nhóm người hoạt động trong vật chất mà chúng ta gọi là các nhà hắc thuật; họ phát triển rất cao về mặt trí tuệ và có thể thúc đẩy chất liệu trí tuệ theo cách khiến nó đạt đến tính khách quan trên cõi hồng trần và thực hiện ý định sâu kín của họ. Về nhóm này có rất nhiều hiểu lầm và vô minh sâu xa. Có lẽ như vậy cũng tốt, [544] vì số phận của họ gắn liền với nhân loại tương lai, nhân loại thứ sáu, và sự kết thúc của họ cùng sự chấm dứt các hoạt động của họ sẽ diễn ra trong thời đại rất xa xôi được gọi một cách chuyên môn là Cuộc Tuần Hoàn thứ sáu. Sự đoạn tuyệt hay phân chia cuối cùng giữa những mãnh lực được gọi là đen và trắng, đối với chu kỳ thế giới đặc thù này, sẽ diễn ra trong thời kỳ của giống dân gốc thứ sáu trong cuộc tuần hoàn hiện tại. Vào cuối giống dân gốc thứ sáu, trước khi giống dân thứ bảy xuất hiện, chúng ta sẽ có trận Armageddon thực sự mà về nó người ta đã giảng dạy rất nhiều. Một chu kỳ nhỏ, tương ứng với trận chiến và sự phân rẽ cuối cùng này, sẽ xuất hiện trong giống dân phụ thứ sáu hiện đang trong tiến trình hình thành. Cuộc thế chiến vừa diễn ra và chu kỳ hiện tại của chúng ta với sự chia rẽ và biến động không cấu thành Armageddon thật sự. Cuộc chiến được kể cho chúng ta trong Mahabharata và cuộc chiến hiện tại đều có gốc rễ của rắc rối và hạt giống của những tai họa mà chúng gây ra, một ở thế giới cảm dục thấp và một ở thế giới cảm dục cao. Tính ích kỷ và dục vọng thuộc trật tự thấp là các xung lực đằng sau cả hai. Sự phân chia lớn sắp đến sẽ có gốc rễ trong thế giới trí tuệ và sẽ hoàn tất trong giống dân phụ thứ sáu. Trong giống dân gốc thứ sáu, nó sẽ có những hạt giống của tai họa trọng đại trong bộ ba được phối hợp của trí tuệ, cảm dục tính và bản chất hồng trần, điều này sẽ đưa tới một thời điểm cực điểm cho nhị nguyên hành tinh.

Beyond that we need not go, for the humanity of the sixth round will be so different in nature to ours and those who will differentiate into the black and the white forces will be so unlike what we now understand by the words, that we need not concern ourselves with that far distant problem.

Xa hơn thế chúng ta không cần đi, vì nhân loại của cuộc tuần hoàn thứ sáu sẽ khác với chúng ta đến mức những ai sẽ phân hoá thành các mãnh lực đen và trắng cũng sẽ khác xa điều hiện nay chúng ta hiểu qua các từ ấy; vì vậy chúng ta không cần bận tâm đến vấn đề rất xa xôi đó.

Let it be remembered that the true black magician (I refer not here to a person with a tendency to black magic) is a soulless entity. He is a being in whom the Ego is—as [545] we understand the term today—non-existent. It is oft overlooked and seldom grasped or told that they, therefore, do not exist in physical bodies. Their world is ever the world of illusion. They work, from the lower mental plane, on desire matter and on the sentient desire bodies of those on the physical plane who are swept by delusion and held in the bonds of extreme selfishness and self-centeredness. What the ignorant call a black magician on the physical plane is only some man or woman sensitive to or en rapport with a true black magician on the astral plane. This relationship is only possible when there have been many lives of selfishness, low desire, perverted intellectual aspiration, and love of the lower psychism, and this only when the man has been held willingly in thrall by them. Such men and women are few and far between, for unadulterated selfishness is rare indeed. Where it exists, it is exceedingly potent, as are all one-pointed tendencies.

Hãy nhớ rằng nhà hắc thuật chân chính — ở đây tôi không nói đến một người có khuynh hướng hắc thuật — là một thực thể không có linh hồn. Y là một hữu thể trong đó Chân ngã — theo [545] cách chúng ta hiểu thuật ngữ này ngày nay — không hiện hữu. Người ta thường bỏ qua và hiếm khi nắm bắt hay nói ra rằng vì thế họ không tồn tại trong các thể xác. Thế giới của họ luôn là thế giới của ảo tưởng. Họ hoạt động từ cõi hạ trí, trên chất liệu dục vọng và trên các thể dục vọng hữu cảm của những người ở cõi hồng trần, những người bị cuốn đi bởi mê lầm và bị giữ trong xiềng xích của tính ích kỷ cùng sự tập trung vào bản thân cực độ. Điều mà kẻ vô minh gọi là một nhà hắc thuật trên cõi hồng trần chỉ là một người nam hay nữ nhạy cảm với, hoặc có quan hệ tương thông với, một nhà hắc thuật chân chính trên cõi cảm dục. Mối quan hệ này chỉ có thể có khi đã có nhiều kiếp sống ích kỷ, dục vọng thấp, khát vọng trí tuệ bị xuyên tạc và lòng yêu thích thông linh thấp; và điều này chỉ xảy ra khi con người đã tự nguyện bị chúng chế ngự. Những người nam và nữ như thế rất hiếm, vì tính ích kỷ không pha tạp quả thật hiếm có. Ở đâu nó tồn tại, nó cực kỳ mạnh mẽ, như mọi khuynh hướng nhất tâm đều vậy.

The clue to the requirements of a more esoteric kind is given to us in Rule XIII. “The magician must recognize the four.” He has presumably built up a fine character. He has educated himself for service. His aspiration is true and steady. He is living purely and unselfishly. He has mastered somewhat the meaning of meditation. He now has to begin to train himself in what is called “occult recognition.”

Manh mối về các yêu cầu thuộc loại huyền bí hơn được trao cho chúng ta trong Quy luật XIII. “Nhà huyền thuật phải nhận biết bốn.” Giả định rằng y đã xây dựng được một tính cách tốt đẹp. Y đã tự giáo dục mình cho việc phụng sự. Khát vọng của y chân thật và kiên định. Y đang sống thanh khiết và vô ngã. Y đã phần nào làm chủ ý nghĩa của tham thiền. Giờ đây y phải bắt đầu rèn luyện mình trong điều được gọi là “sự nhận biết huyền bí.”

This rule is a most interesting example of the many connotations and numerous correspondences which can be conveyed in a few simple words. We are told that he must “recognize the four”. The Treatise on Cosmic Fire tells us:

Quy luật này là một ví dụ hết sức thú vị về nhiều hàm nghĩa và vô số tương ứng có thể được truyền đạt trong vài lời đơn giản. Chúng ta được bảo rằng y phải “nhận biết bốn”. Luận về Lửa Vũ Trụ nói với chúng ta:

“This means literally that the magician must be in a position to discriminate between the different ethers and to note the special hue of the different levels, thereby insuring a balanced building of the ‘shadow.’ He ‘recognizes’ them, in the occult sense; that is, he knows their note [546] and key and is aware of the particular type of energy they embody. Enough emphasis has not been laid upon the fact that the three higher levels of the etheric plane are in vibratory communication with the three higher planes of the cosmic physical plane, and they (with their ensphering fourth level) have been called in the occult books ‘the inverted Tetraktys.’ It is this knowledge which puts the magician in possession of the three types of planetary force and their combination, or the fourth type, and thus releases for him that vital energy which will drive this idea into objectivity. As the different types of forces meet and coalesce, a dim shadowy form clothes itself upon the vibrating astral and mental sheath, and the idea of the solar Angel is attaining definite concretion.”

“Điều này theo nghĩa đen có nghĩa là nhà huyền thuật phải ở trong vị thế có thể phân biện giữa các dĩ thái khác nhau và ghi nhận sắc thái đặc biệt của các cấp độ khác nhau, nhờ đó bảo đảm việc kiến tạo cân bằng ‘cái bóng.’ Y ‘nhận biết’ chúng theo nghĩa huyền bí; tức là, y biết âm điệu [546] và chủ âm của chúng, và nhận biết loại năng lượng đặc thù mà chúng hiện thân. Người ta chưa nhấn mạnh đủ vào sự kiện rằng ba cấp độ cao hơn của cõi dĩ thái ở trong sự giao tiếp rung động với ba cõi cao hơn của cõi hồng trần vũ trụ, và chúng — cùng với cấp độ thứ tư bao bọc chúng — đã được gọi trong các sách huyền bí là ‘Tứ nguyên đảo ngược.’ Chính tri thức này đặt nhà huyền thuật vào quyền sở hữu ba loại mãnh lực hành tinh và sự kết hợp của chúng, hay loại thứ tư, và nhờ đó giải phóng cho y năng lượng thiết yếu sẽ thúc đẩy ý tưởng này đi vào tính khách quan. Khi các loại mãnh lực khác nhau gặp nhau và hòa nhập, một hình tướng mờ tối, lờ mờ, khoác lấy lớp vỏ cảm dục và trí tuệ đang rung động, và ý tưởng của Thái dương Thiên Thần đang đạt tới sự cụ thể hóa xác định.”

The obvious and most apparent meaning is, therefore, recognition of the four ethers, but this is in its turn dependent upon other meanings and based upon the recognition of other quaternaries. I would like to give a short résumé of some of the qualifications needed by the white magician and of some of the recognitions which will gradually emerge in his consciousness.

Do đó, ý nghĩa hiển nhiên và rõ ràng nhất là sự nhận biết bốn dĩ thái; nhưng điều này đến lượt nó lại phụ thuộc vào các ý nghĩa khác và dựa trên sự nhận biết những bộ bốn khác. Tôi muốn đưa ra một phần tóm lược ngắn về một số phẩm chất cần thiết nơi nhà huyền thuật chánh đạo và một số nhận biết sẽ dần dần xuất hiện trong tâm thức của y.

First, he must recognize “the four that constitute the One.” In other words, the first quaternary that he must know and know well is that which he is essentially himself:

Trước hết, y phải nhận biết “bốn điều cấu thành Đấng Duy Nhất.” Nói cách khác, bộ bốn đầu tiên mà y phải biết, và biết rõ, là điều y vốn là trong bản chất:

1. Physical body, sensitive emotional nature, mind and soul;

1. Thể xác, bản chất cảm xúc nhạy cảm, thể trí và linh hồn;

2. Soul, mind, brain and the outer world of forces;

2. Linh hồn, thể trí, bộ não và thế giới bên ngoài của các mãnh lực;

3. Spirit, soul and body within the great Whole.

3. Tinh thần, linh hồn và thể trong Đại Toàn Thể.

This presupposes real spiritual attainment and the capacity, therefore, to function as a soul. Until this has been achieved, one can be an aspirant to the practice of white magic, but one is not yet a white magician.

Điều này giả định một thành tựu tinh thần thật sự và do đó là năng lực hoạt động như một linh hồn. Cho đến khi điều này đạt được, người ta có thể là một người chí nguyện đối với việc thực hành Chánh Thuật, nhưng chưa phải là một nhà huyền thuật chánh đạo.

Second, he must recognize “the city that stands foursquare.” He must understand the meaning, of “man, the cube”, and this in three ways: [547]

Thứ hai, y phải nhận biết “thành phố đứng vuông vức.” Y phải thấu hiểu ý nghĩa của “con người, khối lập phương”, và điều này theo ba cách: [547]

1. Himself as a human being;

1. Chính y như một con người;

2. His fellow man in relation to himself and the Whole;

2. Người đồng loại của y trong tương quan với chính y và với Toàn Thể;

3. The fourth kingdom in nature, the human kingdom, viewing that entire kingdom as an entity, an organized life functioning on the physical plane, indwelt by soul, animated by spirit.

3. Giới thứ tư trong thiên nhiên, giới nhân loại, khi nhìn toàn bộ giới ấy như một thực thể, một sự sống có tổ chức hoạt động trên cõi hồng trần, được linh hồn nội cư và được tinh thần làm sinh động.

This means, therefore, that as a man he is responsive to his kind and is aware also of the purpose of the kingdom to which he belongs. This can best be expressed in some wonderful words from an ancient writing in the Masters’ Archives. It is said to date back to early Atlantean times. The material on which the writing is found is so old and so frail that all that the Masters themselves can touch and see is a precipitation made from it, the original being kept at Shamballa. It runs thus, with certain deletions, which it is wiser not to insert:

Do đó, điều này có nghĩa là với tư cách một con người, y đáp ứng với đồng loại của mình và cũng nhận biết Thiên Ý của giới mà y thuộc về. Điều này có thể được diễn đạt tốt nhất bằng một vài lời tuyệt diệu trích từ một bản văn cổ trong Văn khố của các Chân sư. Người ta nói nó có niên đại từ thời Atlantis sơ kỳ. Chất liệu trên đó bản văn được tìm thấy cổ xưa và mong manh đến mức tất cả những gì chính các Chân sư có thể chạm đến và nhìn thấy chỉ là một bản ngưng tụ được tạo ra từ nó, còn nguyên bản được lưu giữ tại Shamballa. Nó viết như sau, với một vài chỗ lược bỏ mà tốt hơn là không nên đưa vào:

“At the four corners of the square, the four angelic...are seen. Orange they are, but veiled in rosy light. Within each form the yellow flame is seen and round each form the blue...

“Tại bốn góc của hình vuông, bốn vị thiên thần...được nhìn thấy. Các vị có màu cam, nhưng được che phủ trong ánh sáng hồng. Trong mỗi hình tướng, ngọn lửa vàng được nhìn thấy và quanh mỗi hình tướng là màu xanh...

“Four words they utter forth, one for each human race, but not the sacred sound which bringeth forth the seventh. Two words have died away, four sound today. One sounds in realms so high that man can enter not as man. Thus are the seven words of man ringing around the square, passing from mouth to mouth.

“Bốn lời các vị thốt ra, mỗi lời dành cho một nhân loại, nhưng không phải âm thanh thiêng liêng vốn gọi ra nhân loại thứ bảy. Hai lời đã tan biến, bốn lời vang lên hôm nay. Một lời vang trong các cảnh giới cao đến mức con người không thể bước vào như con người. Như thế, bảy lời của con người vang quanh hình vuông, truyền từ miệng này sang miệng khác.

“Each day of man the words take form and different seem. In...the words will be as follows:

“Mỗi ngày của con người, các lời ấy khoác lấy hình tướng và có vẻ khác nhau. Trong...các lời sẽ như sau:

“From out the North a word is chanted forth which means...be pure.

“Từ phương Bắc, một lời được xướng lên, có nghĩa là...hãy tinh khiết.

“From out the South the word peals out: I dedicate and...

“Từ phương Nam, lời vang dội: Tôi thánh hiến và...

“From out the East, bringing a light divine, the word comes swinging round the square: Love all.

“Từ phương Đông, mang theo một ánh sáng thiêng liêng, lời ấy xoay quanh hình vuông: Hãy thương yêu tất cả.

“From out the West, answer is thrown back: I serve.”

“Từ phương Tây, lời đáp được ném trở lại: Tôi phụng sự.”

This is a faint effort to express in English these ancient Atlantean phrases, older than Sanskrit or Senzar, and [548] known only to a mere handful of the members of the present hierarchy. But in the thoughts of purity, dedication, love and service, are summed up the nature and the destiny of man, and it should be remembered that they do not stand for so-called spiritual qualities, but for potent occult forces, dynamic in their incentive and creative in their result. This should be pondered on carefully by all aspirants. We have, consequently, with these four, added to the first one, spiritual attainment, five of the qualifications of the white magician.

Đây là một nỗ lực mờ nhạt nhằm diễn đạt bằng tiếng Anh những câu cổ Atlantis này, cổ hơn tiếng Sanskrit hay Senzar, và [548] chỉ được biết bởi một nhóm rất nhỏ các thành viên của Thánh đoàn hiện nay. Nhưng trong các tư tưởng về sự tinh khiết, thánh hiến, tình thương và phụng sự, bản chất và vận mệnh của con người được tóm lược; và cần nhớ rằng chúng không đại diện cho các phẩm tính được gọi là tinh thần, mà cho những mãnh lực huyền bí mạnh mẽ, năng động trong sự thúc đẩy và sáng tạo trong kết quả. Tất cả những người chí nguyện nên suy ngẫm kỹ điều này. Do đó, với bốn điều này, cộng thêm điều đầu tiên là thành tựu tinh thần, chúng ta có năm phẩm chất của nhà huyền thuật chánh đạo.

Third, the white magician must recognize the cross which stands in the Heavens upon which the cosmic Christ is crucified and on which the white magician, being a cell in the body of the cosmic Christ, is also crucified. Technically and astrologically speaking, in this present aeon he must understand the inner significance of Taurus, of Leo, of Scorpio and of Aquarius, for they are potent in our world cycle. He must, if I may express it symbolically, and yet at the same time accurately, be able to utter forth the achievement which is the goal of his endeavor in each of these four signs and under each of these four powers. In Taurus he must be able to say: “I seek illumination and am myself the light.” In Leo he will say: “I know myself to be the one. I rule by Law.” The word he will utter forth in Scorpio will be: “Illusion cannot hold me. I am the bird that flies with utter freedom.” In Aquarius the words spoken will be: “I am the server, and I the dispenser am of living water.”

Thứ ba, nhà huyền thuật chánh đạo phải nhận biết thập giá đứng trên Trời, trên đó Đức Christ vũ trụ bị đóng đinh, và trên đó nhà huyền thuật chánh đạo, là một tế bào trong thể của Đức Christ vũ trụ, cũng bị đóng đinh. Nói theo nghĩa chuyên môn và chiêm tinh, trong thời đại hiện nay y phải thấu hiểu thâm nghĩa bên trong của Kim Ngưu, Sư Tử, Hổ Cáp và Bảo Bình, vì chúng đầy quyền năng trong chu kỳ thế giới của chúng ta. Nếu tôi có thể diễn đạt một cách biểu tượng, nhưng đồng thời chính xác, y phải có khả năng thốt ra thành tựu vốn là mục tiêu nỗ lực của y trong mỗi một trong bốn dấu hiệu này và dưới mỗi một trong bốn quyền năng này. Trong Kim Ngưu, y phải có thể nói: “Tôi tìm kiếm sự soi sáng và chính tôi là ánh sáng.” Trong Sư Tử, y sẽ nói: “Tôi biết mình là Đấng Duy Nhất. Tôi cai quản bằng Định luật.” Lời y sẽ thốt ra trong Hổ Cáp là: “Ảo tưởng không thể giữ tôi. Tôi là con chim bay với tự do tuyệt đối.” Trong Bảo Bình, những lời được nói sẽ là: “Tôi là người phụng sự, và tôi là người phân phát nước hằng sống.”

These occult qualifications upon which I have thus lightly touched, must be closely studied by the aspirant and as he studies them and lives by these rules, various qualifications will emerge and will distinguish him. It must be remembered that all that I have here said has a different meaning on each plane and in relation [549] to the seven stages of consciousness as these express themselves in these seven fields of awareness.

Các phẩm chất huyền bí mà tôi đã chỉ chạm nhẹ đến đây phải được người chí nguyện nghiên cứu kỹ lưỡng; và khi y nghiên cứu chúng và sống theo các quy luật này, nhiều phẩm chất khác nhau sẽ xuất hiện và sẽ phân biệt y. Cần nhớ rằng tất cả những gì tôi đã nói ở đây đều có một ý nghĩa khác trên mỗi cõi và trong tương quan [549] với bảy giai đoạn của tâm thức khi chúng biểu lộ trong bảy lĩnh vực nhận biết này.

Finally, as far as the aspirant who reads these instructions is concerned, he must have transcended the four noble truths, learned the meaning of the four gospels, understood the significance and purpose of the four elements—earth, water, fire and air, and, esoterically speaking, passed as a Saviour through the four kingdoms. This latter phrase will only be really understood at the fourth initiation. When he has done this, he can say: “Desire holds me not, with freedom now I stand. I desire all and nothing. I live and die, am offered up and rise again: I come and go at will. Earth lies beneath my feet and water laves my form. The fire destroys that which impedes my way, and master of the air am I. Through all the world of forms my feet have passed. All now exists for me and I, the servant of the whole, persist.”

Sau cùng, xét về người chí nguyện đang đọc những chỉ dẫn này, y phải đã vượt qua bốn chân lý cao quý, học được ý nghĩa của bốn phúc âm, thấu hiểu thâm nghĩa và mục đích của bốn nguyên tố — đất, nước, lửa và khí — và, nói một cách huyền bí, đã đi qua bốn giới như một Đấng Cứu Rỗi. Cụm sau cùng này chỉ thật sự được thấu hiểu ở lần điểm đạo thứ tư. Khi y đã làm điều này, y có thể nói: “Dục vọng không giữ được tôi; giờ đây tôi đứng trong tự do. Tôi ham muốn tất cả và không gì cả. Tôi sống và chết, được dâng hiến và sống lại; tôi đến và đi theo ý chí. Đất nằm dưới chân tôi và nước rửa hình tướng tôi. Lửa hủy diệt điều cản trở đường tôi, và tôi là chủ của khí. Qua toàn thể thế giới hình tướng, chân tôi đã đi qua. Giờ đây tất cả hiện hữu cho tôi, và tôi, người phụng sự của toàn thể, vẫn trường tồn.”

Study these words and note how the concept of the ideal requirements which constitute the equipment of the white magician has steadily grown.

Hãy nghiên cứu những lời này và ghi nhận cách quan niệm về các yêu cầu lý tưởng cấu thành trang bị của nhà huyền thuật chánh đạo đã tăng trưởng đều đặn ra sao.

I could enlarge on many other quaternaries, but the few just quoted suffice to show some of the recognitions towards which the aspirant strives. The only other one which I will note is that referred to as the violet four, or the four types of energy which constitute the vital or etheric body of all forms in the natural world. Here again we have a higher three and a lower one, which ever indicates the three aspects or principles of divinity and the form through which these three must manifest. Spirit, soul and body express the same idea from another angle, added to that which is produced through their interaction. It must ever be remembered that from the point of view of Reality what we call the dense physical body, tangible and objective, is but an illusion. We are told again and again in the ancient writings that it is not a principle. Why is this so? Because it is only an [550] appearance brought about by the merging of the higher three and the fourth, and this appearance is a fiction or a figment of the human mind. I speak not in parable; I utter only facts in nature and one that is slowly coming into mature consideration among the philosophers of both hemispheres. Both in the solar system, the macrocosm of the microcosm, and likewise in the microcosm, there are ever the three highest planes which embody the principles and produce the dynamic purpose, and which constitute the four levels of the etheric body of both God and man, viewing them from what we call the energy or physical angle. These four are reflected in the four levels of the etheric division of the physical plane as regards the physical body of all forms. These four etheric levels, or these four grades of vital substance constitute what is called the “true form” of all material objects or phenomena, and they are responsive to the four higher types of spiritual energy which we usually call divine. This relation between the prototypal trinity and its plane of merging and the etheric reflection is found in all forms according to the type of energy which predominates. In each of the four kingdoms in nature all four types are found, but the fourth etheric is found in fuller degree in the mineral kingdom than in the human, whilst the highest of the four ethers is found in greater proportion in the human than in the other three kingdoms. This which I tell you is apt to be found confusing by the neophyte for the words energy, dynamic purpose, vitality and etheric substance mean little to the beginner, but they serve to indicate some of the knowledge which the worker in white magic has to grasp. This I might illustrate, for instance, by stating that working in the mineral kingdom, the fourth kingdom in nature from the standpoint of God, and the first from the standpoint of time and space, he will work with the fourth cosmic ether (buddhic energy) utilizing [551] ether of the fourth grade in his own body as the transmitting agent, and so on, in connection with the other three kingdoms in nature. One of the secrets not yet revealed, fortunately, is concerned with the question as to whether light violet is the colour of the highest or the lowest of the four and this will not be revealed for some time to come.

Tôi có thể nói rộng về nhiều bộ bốn khác, nhưng vài bộ vừa nêu đủ để chỉ ra một số nhận biết mà người chí nguyện đang phấn đấu hướng tới. Điều duy nhất khác mà tôi sẽ ghi nhận là điều được gọi là bốn màu tím, hay bốn loại năng lượng cấu thành thể sinh lực hay thể dĩ thái của mọi hình tướng trong thế giới tự nhiên. Ở đây một lần nữa chúng ta có một bộ ba cao và một cái thấp, điều luôn chỉ ra ba phương diện hay nguyên khí của thiên tính và hình tướng qua đó ba điều này phải biểu hiện. Tinh thần, linh hồn và thể diễn đạt cùng một ý tưởng từ một góc độ khác, cộng thêm điều được tạo ra qua sự tương tác của chúng. Cần luôn nhớ rằng từ quan điểm của Thực Tại, điều chúng ta gọi là thể xác đậm đặc, hữu hình và khách quan, chỉ là một ảo tưởng. Trong các bản văn cổ, chúng ta được nói đi nói lại rằng nó không phải là một nguyên khí. Vì sao lại như vậy? Vì nó chỉ là một [550] sắc tướng được tạo ra bởi sự hòa nhập của ba cái cao hơn và cái thứ tư; và sắc tướng này là một hư cấu hay sản phẩm của thể trí con người. Tôi không nói bằng dụ ngôn; tôi chỉ thốt ra những sự kiện trong thiên nhiên, và một sự kiện đang dần đi vào sự cân nhắc chín chắn nơi các triết gia ở cả hai bán cầu. Cả trong hệ mặt trời, đại thiên địa của tiểu thiên địa, và cũng như trong tiểu thiên địa, luôn có ba cõi cao nhất hiện thân các nguyên khí và tạo ra mục đích năng động, và chúng cấu thành bốn cấp độ của thể dĩ thái của cả Thượng đế lẫn con người, khi nhìn chúng từ góc độ năng lượng hay hồng trần mà chúng ta gọi như vậy. Bốn cấp độ này được phản ánh trong bốn cấp độ của phân bộ dĩ thái thuộc cõi hồng trần, xét theo thể xác của mọi hình tướng. Bốn cấp độ dĩ thái này, hay bốn phẩm cấp của chất liệu sinh lực, cấu thành điều được gọi là “hình tướng chân thực” của mọi vật thể hay hiện tượng vật chất; và chúng đáp ứng với bốn loại năng lượng tinh thần cao hơn mà chúng ta thường gọi là thiêng liêng. Mối liên hệ này giữa Tam vị nguyên mẫu và cõi hòa nhập của nó với phản ảnh dĩ thái được tìm thấy trong mọi hình tướng, tùy theo loại năng lượng chiếm ưu thế. Trong mỗi một trong bốn giới của thiên nhiên, cả bốn loại đều được tìm thấy; nhưng dĩ thái thứ tư được tìm thấy ở mức độ đầy đủ hơn trong giới kim thạch so với trong giới nhân loại, trong khi dĩ thái cao nhất trong bốn dĩ thái được tìm thấy với tỉ lệ lớn hơn trong giới nhân loại so với ba giới kia. Điều tôi nói với các bạn đây dễ làm người sơ cơ bối rối, vì các từ năng lượng, mục đích năng động, sinh lực và chất liệu dĩ thái có rất ít ý nghĩa đối với người mới bắt đầu; nhưng chúng giúp chỉ ra một phần tri thức mà người hoạt động trong Chánh Thuật phải nắm bắt. Chẳng hạn, tôi có thể minh họa điều này bằng cách nói rằng khi hoạt động trong giới kim thạch — giới thứ tư trong thiên nhiên theo quan điểm của Thượng đế, và giới thứ nhất theo quan điểm của thời gian và không gian — y sẽ làm việc với dĩ thái vũ trụ thứ tư, tức năng lượng Bồ đề, bằng cách sử dụng [551] dĩ thái thuộc cấp độ thứ tư trong chính thể của mình làm tác nhân truyền dẫn; và tương tự như vậy trong liên hệ với ba giới khác trong thiên nhiên. Một trong những bí mật may mắn chưa được mặc khải liên quan đến câu hỏi liệu màu tím nhạt là màu của cấp cao nhất hay cấp thấp nhất trong bốn cấp, và điều này sẽ chưa được mặc khải trong một thời gian nữa.

The consideration of these various quaternaries which it is necessary that the white magician understand, and the qualifications which he must possess before he is permitted to carry forward the magical work, leads to the following question: Is there some basic formula or proposition which must govern the magical activity?

Việc xem xét các bộ bốn khác nhau này, những điều mà nhà huyền thuật chánh đạo cần thấu hiểu, cùng các phẩm chất mà y phải sở hữu trước khi được phép tiến hành công việc huyền thuật, dẫn đến câu hỏi sau: Có một công thức hay mệnh đề căn bản nào phải chi phối hoạt động huyền thuật không?

This question is, of course, too general and vague, but until the inclusiveness of the human mind is greater than is now the case, such questions will inevitably be asked. I can, however, give a short reply which holds in it the clue to the entire process. When correctly understood, it will govern the method of work and the thought life of the worker in white magic. My answer is this: Potencies produce precipitation. In those three words lies the entire story. They sum up the history of the Creator and the life story and environing conditions of every human being. They account for all that is, and lie back of the law of rebirth. These potencies are driven into activity by the power of thought and hence, in training them to be creators and in teaching them to govern and control their own destinies, the Teachers of the race begin with the mind aspect of aspirants. They emphasize that which will govern the potencies; they deal with that which produces the objective form, which is qualified by them, is energized by them and which fulfills the purpose of the Thinker.

Dĩ nhiên, câu hỏi này quá tổng quát và mơ hồ; nhưng cho đến khi tính bao gồm của thể trí con người lớn hơn hiện nay, những câu hỏi như vậy chắc chắn sẽ được nêu ra. Tuy nhiên, tôi có thể đưa ra một câu trả lời ngắn, trong đó chứa manh mối của toàn bộ tiến trình. Khi được thấu hiểu đúng, nó sẽ chi phối phương pháp làm việc và đời sống tư tưởng của người hoạt động trong Chánh Thuật. Câu trả lời của tôi là: Các quyền năng tạo ra sự ngưng tụ. Trong ba từ ấy nằm trọn toàn bộ câu chuyện. Chúng tóm lược lịch sử của Đấng Sáng Tạo, cũng như câu chuyện đời sống và các điều kiện bao quanh của mỗi con người. Chúng giải thích tất cả những gì hiện hữu và nằm phía sau định luật tái sinh. Các quyền năng này được thúc đẩy vào hoạt động bởi quyền năng của tư tưởng; do đó, trong việc huấn luyện họ trở thành những người sáng tạo và dạy họ cai quản cùng kiểm soát vận mệnh của chính mình, các Huấn sư của nhân loại bắt đầu với phương diện trí tuệ của những người chí nguyện. Các Ngài nhấn mạnh điều sẽ chi phối các quyền năng; các Ngài đề cập đến điều tạo ra hình tướng khách quan, điều được chúng ban phẩm tính, được chúng tiếp sinh lực và hoàn thành mục đích của Chủ Thể Tư Tưởng.

A thinker, then, is the essential factor, and it will become apparent to you, therefore, as you study these words, just what is going on in the world of today. The [552] trend of our modern civilization, in spite of all its mistakes and errors, is to produce thinkers. Education, books, travel, in its many and varied forms, enunciations of science and of philosophy, and the driving inner urge which we call religious, but which is, in fact, the drive towards truth and its mental verification—all these factors have one objective, and this is to produce thinkers. Given a real thinker, you have an incipient creator and (unconsciously at first, but consciously later on) one who will wield power in order to “precipitate” or cause to emerge objective forms. These forms will either be in line with Divine purpose and plan and, consequently, will further the cause of evolution, or they will be animated by personal intent, characterized by separated, selfish purpose, and constitute, therefore, part of the work of the retro-active forces and the material element. They will be of the nature of black magic.

Vậy, một chủ thể tư duy là yếu tố thiết yếu; và do đó, khi các bạn nghiên cứu những lời này, sẽ trở nên rõ ràng đối với các bạn chính xác điều gì đang diễn ra trong thế giới ngày nay. Khuynh hướng [552] của nền văn minh hiện đại của chúng ta, bất chấp mọi sai lầm và lệch lạc của nó, là tạo ra những chủ thể tư duy. Giáo dục, sách vở, du hành trong nhiều hình thức đa dạng, những tuyên bố của khoa học và triết học, cùng xung lực nội tâm thúc đẩy mà chúng ta gọi là tôn giáo, nhưng thực ra là động lực hướng tới chân lý và sự xác minh nó bằng trí tuệ — tất cả những yếu tố này đều có một mục tiêu, và mục tiêu đó là tạo ra những chủ thể tư duy. Khi có một chủ thể tư duy thật sự, các bạn có một người sáng tạo mới chớm; và lúc đầu một cách vô thức, nhưng về sau một cách hữu thức, người ấy sẽ vận dụng quyền năng để “ngưng tụ” hay khiến các hình tướng khách quan xuất hiện. Các hình tướng này hoặc sẽ phù hợp với mục đích và Thiên Cơ thiêng liêng, và do đó thúc đẩy sự nghiệp tiến hoá, hoặc chúng sẽ được làm sinh động bởi ý định cá nhân, mang đặc trưng bởi mục đích chia rẽ và ích kỷ, và vì thế cấu thành một phần công việc của các mãnh lực phản tiến hoá và yếu tố vật chất. Chúng sẽ mang bản chất của hắc thuật.

Again the four appear:

Một lần nữa, bốn điều xuất hiện:

1. The thinker.

1. Chủ thể tư duy.

2. The potency.

2. Quyền năng.

3. The quality of that potency.

3. Phẩm tính của quyền năng ấy.

4. The precipitation.

4. Sự ngưng tụ.

The Precipitation of Thought Forms— Sự Ngưng Tụ của các Hình Tư Tưởng

What is a precipitation? Many definitions could be given and most of them—being clothed in words—would lose much of their true significance, but some idea may be conveyed in the following terms:

Sự ngưng tụ là gì? Có thể đưa ra nhiều định nghĩa, và phần lớn các định nghĩa ấy — vì được khoác trong ngôn từ — sẽ mất đi nhiều thâm nghĩa chân thật của chúng; nhưng một ý niệm nào đó có thể được truyền đạt bằng những lời sau:

“A precipitation is an aggregation of energies arranged in a certain form, in order to express the idea of some creative Thinker, and qualified or characterized by the nature of his thought and held in that peculiar form as long as his thought remains dynamic.”

“Một sự ngưng tụ là một tập hợp các năng lượng được sắp đặt trong một hình tướng nhất định, nhằm biểu lộ ý tưởng của một Chủ Thể Tư Tưởng sáng tạo nào đó, và được ban phẩm tính hay mang đặc trưng bởi bản chất tư tưởng của vị ấy, được giữ trong hình tướng đặc thù ấy chừng nào tư tưởng của vị ấy còn năng động.”

These words are an attempt to express a symbol found in the same ancient book, or rather compilation, referred [553] to earlier, in our consideration of Rule XIII. Certainly these symbols emerging from the remote past constitute the working tools, if I might so express it, of the Thinkers Who guide our racial and planetary evolution. This particular symbol might be described as follows:

Những lời này là một nỗ lực nhằm diễn đạt một biểu tượng được tìm thấy trong cùng quyển sách cổ, hay đúng hơn là bộ sưu tập cổ, đã được nhắc [553] đến trước đây trong khi chúng ta xem xét Quy luật XIII. Chắc chắn những biểu tượng xuất hiện từ quá khứ xa xưa này cấu thành các công cụ làm việc, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy, của các Chủ Thể Tư Tưởng đang hướng dẫn cuộc tiến hoá nhân loại và hành tinh của chúng ta. Biểu tượng đặc thù này có thể được mô tả như sau:

A blazing sun forms the background and at the very center of that sun appears an eye; projecting downwards toward the right from this eye pours forth a stream of energy in the form of a beam of light. It rays outward, widening towards the end, into a second circle and in that circle is a cross resembling what is called a Maltese cross. At the center of the cross is another eye and within the eye the Sacred Word. Between the arms of the cross forming, therefore, another cross, is the Swastika, the arms emerging from behind the Maltese cross. At the bottom of the page whereon this symbol is found are four geometrical forms. Some of these are referred to by H. P. B. and were taken by her from this ancient picture. They are well known but seldom applied by esotericists to the creative work. They are the cube, the five pointed star, the six pointed star and the eight sided diamond, superimposed one upon the other. They constitute, therefore, the base of the symbol. H. P. B. refers also to the point, the line and the circle, but these, with the triangle, have been exoterically applied to Deity and the manifested universe. Later these other forms will also be applied to God and to man, in the exoteric sense. But this will only be when the truths of the Ageless Wisdom are universally recognized.

Một mặt trời rực cháy làm nền, và ngay tại trung tâm của mặt trời ấy xuất hiện một con mắt; từ con mắt này, phóng xuống về phía bên phải, tuôn ra một dòng năng lượng dưới hình thức một tia sáng. Nó tỏa ra ngoài, mở rộng dần về phía cuối, đi vào một vòng tròn thứ hai; và trong vòng tròn ấy có một thập giá giống với điều được gọi là thập giá Malta. Tại trung tâm của thập giá có một con mắt khác, và trong con mắt là Linh từ Thiêng Liêng. Giữa các cánh của thập giá, do đó tạo thành một thập giá khác, là chữ vạn, với các cánh hiện ra từ phía sau thập giá Malta. Ở phần dưới của trang trên đó biểu tượng này được tìm thấy có bốn hình hình học. Một số hình này được H. P. B. nhắc đến và được bà lấy từ bức hình cổ này. Chúng được biết đến rộng rãi nhưng hiếm khi được các nhà bí truyền học áp dụng vào công việc sáng tạo. Chúng là khối lập phương, ngôi sao năm cánh, ngôi sao sáu cánh và viên kim cương tám mặt, chồng lên nhau. Vì thế, chúng cấu thành nền tảng của biểu tượng. H. P. B. cũng nhắc đến điểm, đường thẳng và vòng tròn; nhưng những hình này, cùng với tam giác, đã được áp dụng một cách ngoại môn vào Thượng đế và vũ trụ biểu hiện. Về sau, những hình khác này cũng sẽ được áp dụng cho Thượng đế và con người theo nghĩa ngoại môn. Nhưng điều này chỉ xảy ra khi các chân lý của Minh Triết Ngàn Đời được thừa nhận rộng khắp.

The laws of thought are the laws of creation, and the entire creative work is carried forward on the etheric level. This constitutes practically a second formula. The Creator of the solar system confines his attention to the work performed on what we call the four higher planes of our system. The lower three, constituting the cosmic dense physical plane, are in the nature of precipitation. [554] They are objective, because the matter of space responds to, or is attracted by the potency of the four higher etheric vibrations. These, in their turn, are motivated or swept into activity by the dynamic impact of the divine thought. There is a similar procedure where man is concerned. Just as soon as man becomes a thinker and can formulate his thought, desire its manifestation and can energize “by recognition” the four ethers, a dense physical manifestation is inevitable. He will attract by his pranic energy, coloured by desire high or low, and animated by the potency of his thought, just as much of the responsive matter in space as is needed to give body to his form.

Các định luật của tư tưởng là các định luật của sáng tạo, và toàn bộ công việc sáng tạo được tiến hành trên cấp độ dĩ thái. Điều này thực tế cấu thành một công thức thứ hai. Đấng Sáng Tạo của hệ mặt trời giới hạn sự chú tâm của Ngài vào công việc được thực hiện trên điều chúng ta gọi là bốn cõi cao hơn của hệ chúng ta. Ba cõi thấp, cấu thành cõi hồng trần đậm đặc vũ trụ, mang bản chất của sự ngưng tụ. [554] Chúng là khách quan, vì vật chất của không gian đáp ứng với, hay bị thu hút bởi, quyền năng của bốn rung động dĩ thái cao hơn. Đến lượt mình, những rung động này được thúc đẩy hay cuốn vào hoạt động bởi tác động năng động của tư tưởng thiêng liêng. Có một tiến trình tương tự liên quan đến con người. Ngay khi con người trở thành một chủ thể tư duy và có thể định hình tư tưởng của mình, ham muốn sự biểu hiện của nó và có thể tiếp sinh lực cho bốn dĩ thái “bằng sự nhận biết”, một sự biểu hiện hồng trần đậm đặc là điều tất yếu. Y sẽ thu hút, bằng năng lượng prana của mình, nhuốm màu bởi dục vọng cao hay thấp, và được làm sinh động bởi quyền năng tư tưởng của mình, đúng lượng vật chất đáp ứng trong không gian cần thiết để trao thể cho hình tướng của y.

Much of this is dealt with in A Treatise on Cosmic Fire and as these Instructions are intended to deal with the inner development of the aspirant, I shall not carry these ideas further beyond prophesying that within fifty years the true significance of precipitations will be engrossing the attention of the scientists. Occult students would do well to give the subject careful thought. It can be approached in two ways. There is, first of all, the study of the objective world in which the individual aspirant finds himself. He will need to consider the fact that his body of manifestation is a precipitation, that it is a result of his potent thought and desire and of his “recognition” of the four ethers. He will need to understand that this form which he has created will persist just as long as the dynamic power of his thought holds it together, and that it will dissipate when he (occultly speaking) “takes his eye away”. He will need to consider also that his environment is the result of the work of an aggregate of group thinkers—group to which he belongs. This concept can be traced back all the way from a family group to the group of egos who, closely interlinked, form a group on the higher level of the mental plane, and on again to the seven major thinkers of the universe, the Lords of the seven rays. These seven, in their turn, are [555] swept into activity by the three supreme magical workers, the manifested Trinity. These Three, in due course, will be recognized as responsive to the thought of the One Creator, the Unmanifested Logos.

Nhiều điều trong đây đã được đề cập trong Luận về Lửa Vũ Trụ; và vì các Huấn Thị này nhằm đề cập đến sự phát triển bên trong của người chí nguyện, tôi sẽ không đưa các ý tưởng này đi xa hơn, ngoài việc tiên đoán rằng trong vòng năm mươi năm nữa, thâm nghĩa chân thật của các sự ngưng tụ sẽ thu hút sự chú ý của các nhà khoa học. Các đạo sinh huyền bí nên suy nghĩ cẩn trọng về chủ đề này. Có thể tiếp cận nó theo hai cách. Trước hết là nghiên cứu thế giới khách quan trong đó từng người chí nguyện thấy mình đang ở. Y sẽ cần xem xét sự kiện rằng thể biểu hiện của mình là một sự ngưng tụ, rằng nó là kết quả của tư tưởng và dục vọng mạnh mẽ của y, cũng như của sự “nhận biết” bốn dĩ thái của y. Y sẽ cần thấu hiểu rằng hình tướng mà y đã tạo ra này sẽ tồn tại chừng nào quyền năng năng động của tư tưởng y còn giữ nó kết hợp, và nó sẽ làm tiêu tan khi y, nói theo nghĩa huyền bí, “rời mắt đi”. Y cũng sẽ cần xem xét rằng môi trường của mình là kết quả công việc của một tập hợp các chủ thể tư duy nhóm — nhóm mà y thuộc về. Quan niệm này có thể được truy ngược suốt từ một nhóm gia đình đến nhóm các chân ngã, vốn liên kết chặt chẽ với nhau, tạo thành một nhóm trên cấp độ cao hơn của cõi trí; rồi tiếp tục đến bảy chủ thể tư duy chính yếu của vũ trụ, các Chúa Tể của bảy cung. Đến lượt mình, bảy Đấng này [555] được cuốn vào hoạt động bởi ba nhà hoạt động huyền thuật tối thượng, Tam Vị biểu hiện. Đúng thời, Ba Đấng này sẽ được nhận biết là đáp ứng với tư tưởng của Đấng Sáng Tạo Duy Nhất, Thượng đế Không Biểu Hiện.

The word “recognition” is one of the most important in the language of occultism and holds the clue to the mystery of Being. It is related to karmic activity and on it the Lords of Time and Space depend. It is hard to illustrate this in simple terms, but it might be said that the problem of God Himself consists in this, that He must manifest a threefold recognition:

Từ “nhận biết” là một trong những từ quan trọng nhất trong ngôn ngữ của huyền bí học và chứa manh mối của bí nhiệm về Hiện Hữu. Nó liên hệ với hoạt động nghiệp quả và các Chúa Tể của Thời Gian và Không Gian nương vào nó. Thật khó minh họa điều này bằng những lời đơn giản, nhưng có thể nói rằng vấn đề của chính Thượng đế nằm ở chỗ này: Ngài phải biểu hiện một sự nhận biết tam phân:

1. Recognition of the past, which necessarily involves a recognition of that matter in space which is, through past association, already coloored by thought and purpose.

1. Nhận biết quá khứ, điều này tất yếu bao hàm sự nhận biết chất liệu trong không gian vốn, qua liên hệ quá khứ, đã được nhuộm màu bởi tư tưởng và mục đích.

2. Recognition of the four grades of lives which, again through past association, are capable of response to His new thought for the present and can, therefore, carry out His plans and work in collaboration with Him. They subject their individual purposes to the one divine plan.

2. Nhận biết bốn cấp độ của các sự sống vốn, một lần nữa qua liên hệ quá khứ, có khả năng đáp ứng với tư tưởng mới của Ngài cho hiện tại và do đó có thể thực hiện các Thiên Cơ của Ngài và làm việc trong sự cộng tác với Ngài. Chúng đặt các mục đích cá nhân của mình dưới một Thiên Cơ thiêng liêng duy nhất.

3. Recognition of the objective which exists in His Mind. This, in its turn, necessitates a one pointed focussing upon the goal and the holding of the purpose intact throughout the vicissitudes of the creative work, and in spite of the potency of the many divine Thinkers who have been attracted to Him by similarity of idea.

3. Nhận biết mục tiêu đang hiện hữu trong Trí của Ngài. Điều này, đến lượt nó, đòi hỏi một sự tập trung nhất tâm vào mục tiêu và giữ nguyên vẹn mục đích xuyên qua những thăng trầm của công việc sáng tạo, bất chấp quyền năng của nhiều Chủ Thể Tư Tưởng thiêng liêng đã bị thu hút đến với Ngài do sự tương đồng về ý tưởng.

It is hopeless to attempt to avoid the use of personal pronouns when talking pictorially and symbolically. If the student will bear in mind that such an attempt to reduce cosmic principles and concepts to words is in itself ridiculous and that the only possible thing to do is to present a picture, then no harm can eventuate. But the pictures change, as evolution proceeds upon its way, and [556] the picture of today will at a later date be deemed no better than a child’s rough scrawl. A new picture will then be presented, simpler and more harmonious, and more beautiful, until it, in its turn, is deemed inadequate.

Thật vô vọng nếu cố tránh việc dùng các đại từ nhân xưng khi nói bằng hình ảnh và biểu tượng. Nếu đạo sinh ghi nhớ rằng nỗ lực thu giảm các nguyên lý và quan niệm vũ trụ thành ngôn từ tự nó là điều lố bịch, và rằng điều duy nhất có thể làm là trình bày một hình ảnh, thì sẽ không có tổn hại nào xảy ra. Nhưng các hình ảnh thay đổi khi tiến hoá tiếp tục con đường của nó, và [556] hình ảnh của hôm nay vào một ngày sau sẽ bị xem chẳng hơn gì nét nguệch ngoạc thô sơ của trẻ nhỏ. Khi ấy một hình ảnh mới sẽ được trình bày, đơn giản hơn, hài hòa hơn và đẹp đẽ hơn, cho đến khi đến lượt nó cũng bị xem là không đầy đủ.

The same recognitions, on a lesser scale, govern the activities of the solar Angel as he proceeds with the work of incarnation and of manifestation upon the physical plane. He has in his turn to recognize the matter of the three planes of human expression which are already, through past association, coloured by his vibration; he has to recognize the groups of lives with which he has had relation and with which he again must work. Finally, he has, throughout the tiny cycle of an incarnation, to hold his purpose steady and to see that each life carries that purpose forward into fuller manifestation and completion.

Những nhận thức tương tự, trên một quy mô nhỏ hơn, chi phối các hoạt động của Thái dương Thiên Thần khi Ngài tiến hành công việc nhập thể và biểu hiện trên cõi hồng trần. Đến lượt mình, Ngài phải nhận biết chất liệu của ba cõi biểu hiện nhân loại vốn đã, do liên hệ trong quá khứ, được nhuốm màu bởi rung động của Ngài; Ngài phải nhận biết các nhóm sự sống mà Ngài đã từng có liên hệ và nay lại phải cùng làm việc. Sau cùng, trong suốt chu kỳ nhỏ bé của một lần nhập thể, Ngài phải giữ vững mục đích của mình và thấy rằng mỗi đời sống đều đưa mục đích ấy tiến tới sự biểu hiện và hoàn tất đầy đủ hơn.

The work of the human being also, as he endeavors to become a creative thinker, lies along analogous lines. His creative work will be successful if he can recognize the tendency of his mind as that tendency emerges through the medium of his present interests, for these have their roots in the past. It will be successful if he can recognize the vibration of the group of lives in line with whose thought his creative work must proceed, for unlike the Deity in the solar system, he cannot work sole and alone. And who shall say whether in those greater spheres of existence in which our Deity plays His part, He is any more free from cosmic group influences than the human individual is free from impression by his environing impulses? He has to recognize the purpose for which he has deemed it wise to build a thought-form and he must hold that purpose steady and unimpaired throughout the whole period of objectivity. This we call one pointed attention, and this creative work is one of the, as yet unrecognized, goals of the meditation process. Hitherto the emphasis has been laid on the achieving of [557] a focussed attention and on the necessity, when that has been attained, of coming in touch with the soul, the spiritual thinker. But later decades will see the emerging of a technique of creation. When soul, mind and brain are unified and facility in unification has been achieved, further instructions will be given in the creative art. Meditation is the first basic lesson given when men have achieved the capacity to function on the mental plane.

Công việc của con người cũng vậy, khi y nỗ lực trở thành một tư tưởng gia sáng tạo, đi theo những đường lối tương đồng. Công việc sáng tạo của y sẽ thành công nếu y có thể nhận biết khuynh hướng của thể trí mình khi khuynh hướng ấy xuất hiện qua trung gian các mối quan tâm hiện tại của y, vì những mối quan tâm này có gốc rễ trong quá khứ. Công việc ấy sẽ thành công nếu y có thể nhận biết rung động của nhóm sự sống mà công việc sáng tạo của y phải tiến hành phù hợp với tư tưởng của nhóm ấy, vì không giống như Thượng đế trong hệ mặt trời, y không thể làm việc một mình và đơn độc. Và ai có thể nói rằng, trong những khối cầu hiện tồn rộng lớn hơn, nơi Thượng đế của chúng ta đóng vai trò của Ngài, Ngài có thoát khỏi các ảnh hưởng nhóm vũ trụ hơn mức cá nhân con người thoát khỏi ấn tượng của những xung lực bao quanh y hay không? Y phải nhận biết mục đích mà vì đó y đã xem là khôn ngoan khi kiến tạo một hình tư tưởng, và y phải giữ mục đích ấy vững vàng, không suy suyển trong suốt toàn bộ thời kỳ khách quan hóa. Điều này chúng ta gọi là sự chú tâm nhất tâm, và công việc sáng tạo này là một trong những mục tiêu, cho đến nay vẫn chưa được nhận biết, của tiến trình tham thiền. Từ trước đến nay, trọng tâm đã được đặt vào việc đạt tới [557] sự chú tâm tập trung và vào sự cần thiết, khi điều đó đã đạt được, là tiếp xúc với linh hồn, tư tưởng gia tinh thần. Nhưng các thập niên về sau sẽ chứng kiến sự xuất hiện của một kỹ thuật sáng tạo. Khi linh hồn, thể trí và bộ não được hợp nhất, và khả năng hợp nhất đã đạt được, những chỉ dẫn xa hơn sẽ được ban về nghệ thuật sáng tạo. Tham thiền là bài học căn bản đầu tiên được trao khi con người đã đạt được năng lực hoạt động trên cõi trí.

Down the great cycle upon the wheel of rebirth “the idea of the solar Angel is attaining definite concretion”. A Treatise on Cosmic Fire, p. 1024. Each life sees the initial purpose clarified and time is literally the length of a thought. This same basic truth underlies the creation of all forms on the physical plane, whether it is a thought-form embodying the urgent desire of a man for selfish acquisition or that thought-form which we call a group or an organization and which is animated by the unselfish purpose and embodies some disciple’s mode of helping humanity. It underlies group work, regarding a group as an entity. If a group could appreciate the power of this fact, and “recognize” its opportunity, it could, by its one-pointed fixity of purpose and its focussed attention to the spiritual objective, perform miracles in salvaging the world. I here appeal to all who read these words to reconsecrate themselves and to recognize the opportunity they have of an united effort towards world usefulness.

Suốt chu kỳ lớn trên bánh xe tái sinh, “ý tưởng của Thái dương Thiên Thần đang đạt tới sự cụ thể hóa xác định”. Luận về Lửa Vũ Trụ, tr. 1024. Mỗi đời sống chứng kiến mục đích ban đầu được làm sáng tỏ, và thời gian, theo nghĩa đen, là độ dài của một tư tưởng. Chân lý căn bản này cũng nằm bên dưới sự sáng tạo mọi hình tướng trên cõi hồng trần, dù đó là một hình tư tưởng thể hiện dục vọng bức thiết của con người muốn chiếm hữu ích kỷ, hay hình tư tưởng mà chúng ta gọi là một nhóm hoặc một tổ chức, được linh hoạt bởi mục đích vô vị kỷ và thể hiện phương thức của một đệ tử trong việc trợ giúp nhân loại. Nó nằm bên dưới công việc nhóm, khi xem một nhóm như một thực thể. Nếu một nhóm có thể thấu hiểu quyền năng của sự kiện này và “nhận biết” cơ hội của mình, thì nhờ sự cố định mục đích một cách nhất tâm và sự chú tâm tập trung vào mục tiêu tinh thần, nhóm ấy có thể thực hiện những điều kỳ diệu trong việc cứu vãn thế giới. Ở đây tôi kêu gọi tất cả những ai đọc các lời này hãy tự thánh hiến lại và nhận biết cơ hội mà họ có được trong một nỗ lực hợp nhất hướng tới sự hữu dụng cho thế giới.

It might be of use here if I expressed quite simply the requirements needed to bring about the manifestation of individual spiritual purpose or of group spiritual purpose. These can be summed up in three words:

Ở đây có thể hữu ích nếu tôi trình bày thật đơn giản những yêu cầu cần thiết để đưa mục đích tinh thần cá nhân hoặc mục đích tinh thần nhóm vào biểu hiện. Những điều này có thể được tóm lược trong ba từ:

1. Power.

1. Quyền năng.

2. Detachment.

2. Tách rời.

3. Non-criticism.

3. Không phê phán.

So often simple words are used because of [558] their every day connotation their true significance and esoteric value are lost.

Những từ đơn giản thường được dùng đến mức, vì [558] ý nghĩa hằng ngày của chúng, thâm nghĩa chân thật và giá trị huyền bí của chúng bị đánh mất.

Let me give you a few thoughts anent each of these, with application only to the creative work of white magic.

Hãy để tôi trao cho các bạn một vài tư tưởng về từng điều này, chỉ áp dụng vào công việc sáng tạo của Chánh Thuật.

Power is dependent for expression upon two factors:

Quyền năng tùy thuộc vào hai yếu tố để biểu lộ:

a. Singleness of purpose.

a. Tính duy nhất của mục đích.

b. Lack of impediments.

b. Sự thiếu vắng các chướng ngại.

Students would be amazed if they could see their motives as we see them who guide on the subjective side of experience. Mixed motive is universal. Pure motive is rare and where it exists there is ever success and achievement. Such pure motive can be entirely selfish and personal, or unselfish and spiritual, and in between, where aspirants are concerned, mixed in varying degree. According, however, to the purity of intent and the singleness of purpose, so will be the potency.

Các đạo sinh sẽ kinh ngạc nếu họ có thể nhìn thấy các động cơ của mình như chúng tôi, những người hướng dẫn từ phía chủ quan của kinh nghiệm, nhìn thấy. Động cơ pha tạp là điều phổ biến. Động cơ thuần khiết là hiếm có, và nơi nào nó hiện hữu thì nơi đó luôn có thành công và thành tựu. Động cơ thuần khiết như thế có thể hoàn toàn ích kỷ và cá nhân, hoặc vô vị kỷ và tinh thần; còn ở khoảng giữa, đối với những người chí nguyện, nó pha tạp theo nhiều mức độ khác nhau. Tuy nhiên, tùy theo sự thuần khiết của ý định và tính duy nhất của mục đích, quyền năng cũng sẽ như vậy.

The Master of all the Masters has said, “If thine eye be single, thy whole body shall be full of light”. These words which He enunciated give us a principle underlying all the creative work and we can link up the idea which He clothed in words with the symbol I have earlier described in this Treatise. Power, light, vitality, and manifestation! Such is the true procedure.

Chân sư của tất cả các Chân sư đã nói: “Nếu mắt ngươi đơn nhất, toàn thân ngươi sẽ tràn đầy ánh sáng”. Những lời Ngài tuyên thuyết trao cho chúng ta một nguyên lý nằm bên dưới mọi công việc sáng tạo, và chúng ta có thể liên kết ý tưởng mà Ngài đã khoác vào lời nói với biểu tượng tôi đã mô tả trước đây trong Khảo luận này. Quyền năng, ánh sáng, sinh lực và biểu hiện! Đó là tiến trình chân thật.

It will be obvious, therefore, why the manifested unit, man, is urged to be vital in his search and to cultivate his aspiration. When that aspiration is strong enough, he is then urged to achieve the capacity to “hold his mind steady in the light”. When he can do this, he will achieve power and possess that single eye which will redound to the glory of the indwelling divinity. Before, however, he has mastered this process of development, he may not be trusted with power. The procedure is as follows: The individual aspirant begins to manifest somewhat soul purpose in his life on the physical plane. He is transmuting desire into aspiration and that aspiration [559] is vital and real. He is learning the meaning of light. When he has mastered the technique of meditation (and with this certain schools in existence at present are concerned) he can proceed to handle power, because he will have learned to function as a divine Thinker. He is now cooperative and is in touch with the divine Purpose.

Do đó, sẽ hiển nhiên tại sao đơn vị đã biểu hiện, tức con người, được thúc giục phải có sinh lực trong cuộc tìm kiếm của mình và phải vun bồi khát vọng. Khi khát vọng ấy đủ mạnh, y được thúc giục đạt tới năng lực “giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng”. Khi y có thể làm điều này, y sẽ đạt được quyền năng và sở hữu con mắt đơn nhất ấy, điều sẽ làm rạng rỡ thiên tính nội tại. Tuy nhiên, trước khi y làm chủ tiến trình phát triển này, không thể giao quyền năng cho y. Tiến trình như sau: cá nhân người chí nguyện bắt đầu biểu hiện phần nào mục đích linh hồn trong đời sống của y trên cõi hồng trần. Y đang chuyển hoá dục vọng thành khát vọng, và khát vọng ấy [559] là sống động và chân thật. Y đang học ý nghĩa của ánh sáng. Khi y đã làm chủ kỹ thuật tham thiền, điều mà một số trường phái hiện đang tồn tại quan tâm đến, y có thể tiến tới việc vận dụng quyền năng, vì y đã học cách hoạt động như một Tư Tưởng Gia thiêng liêng. Giờ đây y có tính hợp tác và đang tiếp xúc với Thiên Ý.

As all true students know, however, the number of impediments is legion. Hindrances and obstacles abound. Singleness of purpose may occasionally be realized in high moments, but it does not abide with us always. There are the hindrances of physical nature, of heredity and environment, of character, of time and conditions, of world karma, as well as individual karma. What shall then be done? I have only one word to say and that is, persist. Failure never prevents success. Difficulties develop the strength of the soul. The secret of success is ever to stand steady and to be impersonal.

Tuy nhiên, như mọi đạo sinh chân chính đều biết, số lượng chướng ngại là vô kể. Những cản trở và trở ngại thì đầy dẫy. Tính duy nhất của mục đích đôi khi có thể được nhận ra trong những khoảnh khắc cao cả, nhưng nó không luôn ở lại với chúng ta. Có những chướng ngại thuộc bản chất hồng trần, di truyền và môi trường, tính cách, thời gian và hoàn cảnh, nghiệp quả thế giới, cũng như nghiệp quả cá nhân. Vậy phải làm gì? Tôi chỉ có một lời để nói, đó là: kiên trì. Thất bại không bao giờ ngăn cản thành công. Khó khăn phát triển sức mạnh của linh hồn. Bí quyết của thành công luôn là đứng vững và vô ngã.

The second requirement is detachment. The worker in white magic must hold himself free as much as he can from identifying himself with that which he has created or has attempted to create. The secret for all aspirants is to cultivate the attitude of the onlooker and of the silent watcher, and, may I emphasize the word silent. Much true magical work comes to naught because of the failure of the worker and builder in matter to keep silent. By premature speech and too much talk, he slays that which he has attempted to create, the child of his thought is still-born. All workers in the field of the world should recognize the need for silent detachment and the work before every student who reads these Instructions must consist in cultivating a detached attitude. It is a mental detachment which enables the thinker to dwell ever in the high and secret place and from that center of peace calmly and powerfully to carry out the work he has set before himself. He works in the world of men; he loves and comforts and serves; he pays no attention to his personality [560] likes and dislikes, or to his prejudices and attachments; he stands as a rock of strength and as a strong hand in the dark to all whom he contacts. The cultivation of a detached attitude personally, with the attached attitude spiritually, will cut at the very roots of a man’s life; but it will render back a thousandfold for all that it cuts away.

Yêu cầu thứ hai là tách rời. Người hoạt động trong Chánh Thuật phải giữ cho mình được tự do hết mức có thể khỏi việc đồng hoá mình với điều y đã tạo ra hoặc đã cố gắng tạo ra. Bí quyết cho mọi người chí nguyện là vun bồi thái độ của người quan sát và của người canh chừng thầm lặng; và xin cho tôi nhấn mạnh từ thầm lặng. Nhiều công việc huyền thuật chân chính trở thành vô ích vì sự thất bại của người hoạt động và đấng kiến tạo trong vật chất trong việc giữ im lặng. Bằng lời nói quá sớm và quá nhiều chuyện, y giết chết điều y đã cố gắng tạo ra; đứa con của tư tưởng y bị chết non. Tất cả những người hoạt động trong lĩnh vực thế giới nên nhận biết nhu cầu về sự tách rời thầm lặng, và công việc trước mắt mỗi đạo sinh đọc các Huấn thị này phải là vun bồi một thái độ tách rời. Chính sự tách rời trí tuệ giúp tư tưởng gia luôn cư ngụ nơi cao cả và bí mật, và từ trung tâm bình an ấy, bình thản và đầy quyền năng thực hiện công việc y đã đặt ra cho mình. Y làm việc trong thế giới con người; y thương yêu, an ủi và phụng sự; y không chú ý đến những [560] ưa thích và không ưa thích của phàm ngã mình, cũng như các thành kiến và chấp trước của mình; y đứng như một tảng đá sức mạnh và như một bàn tay vững chắc trong bóng tối cho tất cả những ai y tiếp xúc. Việc vun bồi một thái độ tách rời về mặt cá nhân, cùng với một thái độ gắn bó về mặt tinh thần, sẽ cắt tận gốc rễ đời sống của con người; nhưng nó sẽ hoàn trả gấp nghìn lần cho tất cả những gì nó cắt bỏ.

Much has been written anent attachment and the need to develop detachment. May I beg all students in the urgency of the present situation to leave off reading and thinking about it aspirationally and to begin to practise it and to demonstrate it.

Đã có nhiều điều được viết về sự chấp trước và nhu cầu phát triển sự tách rời. Trong tình thế cấp bách hiện nay, tôi xin tất cả các đạo sinh hãy ngừng đọc và suy nghĩ về điều đó theo kiểu khát vọng, và hãy bắt đầu thực hành cũng như biểu hiện nó.

Non-criticism is the third requirement. What shall I say about that? Why is it regarded as so essential a requirement? Because criticism (analysis and, consequently, separativeness) is the outstanding characteristic of mental types and also of all coordinated personalities. Because criticism is a potent factor in swinging mental and emotional substance into activity and so making strong impress upon the brain cells and working out into words. Because in a sudden burst of critical thought, the entire personality can be galvanized into a potent coordination, but of a wrong kind and with disastrous results. Because criticism being a faculty of the lower mind can hurt and wound and no man can proceed upon the Way as long as wounds are made and pain is knowingly given. Because the work of white magic and the carrying out of hierarchical purpose meets with basic hindrances in the relations existing between its workers and disciples. In the pressure of the present opportunity there is no time for criticism to exist between workers. They hinder each other and they hinder the work.

Không phê phán là yêu cầu thứ ba. Tôi sẽ nói gì về điều đó? Tại sao nó được xem là một yêu cầu thiết yếu đến thế? Vì phê phán, tức phân tích và do đó là tính chia rẽ, là đặc điểm nổi bật của các loại người trí tuệ, cũng như của mọi phàm ngã đã được phối hợp. Vì phê phán là một yếu tố mạnh mẽ trong việc đưa chất liệu trí tuệ và cảm xúc vào hoạt động, do đó tạo ấn tượng mạnh lên các tế bào não và biểu lộ thành lời nói. Vì trong một cơn bùng phát đột ngột của tư tưởng phê phán, toàn bộ phàm ngã có thể được kích hoạt vào một sự phối hợp mạnh mẽ, nhưng thuộc loại sai lầm và với những kết quả tai hại. Vì phê phán, là một quan năng của hạ trí, có thể làm tổn thương và gây đau đớn; và không ai có thể tiến bước trên Đường Đạo chừng nào các vết thương còn được tạo ra và nỗi đau còn được cố ý trao cho. Vì công việc của Chánh Thuật và việc thực hiện mục đích của Thánh Đoàn gặp những chướng ngại căn bản trong các mối quan hệ hiện hữu giữa những người hoạt động và các đệ tử của nó. Dưới áp lực của cơ hội hiện tại, không có thời gian cho sự phê phán tồn tại giữa những người hoạt động. Họ cản trở lẫn nhau và cản trở công việc.

I have upon me at this time a sense of urgency. I urge upon all those who read these Instructions to forget their likes and their dislikes and to overlook the personality [561] hindrances which inevitably exist in themselves and in all who work upon the physical plane, handicapped by the personality. I urge upon all workers the remembrance that the day of opportunity is with us and that it has its term. This present type of opportunity will not last forever. The pettiness of the human frictions, the failures to understand each other, the little faults which have their roots in personality and which are, after all, ephemeral, the ambitions and illusions must all go. If the workers would practise detachment, knowing that the Law works and that God’s purposes must come to an ultimate conclusion and if they would learn never to criticize in thought or word, the salvaging of the world would proceed apace and the new age of love and illumination would be ushered in.

Vào lúc này, tôi mang trong mình một cảm thức cấp bách. Tôi thúc giục tất cả những ai đọc các Huấn thị này hãy quên đi những điều mình ưa thích và không ưa thích, và hãy bỏ qua những chướng ngại thuộc phàm ngã [561] vốn tất yếu tồn tại trong chính họ và trong tất cả những ai làm việc trên cõi hồng trần, bị phàm ngã làm hạn chế. Tôi thúc giục tất cả những người hoạt động nhớ rằng ngày cơ hội đang ở cùng chúng ta và rằng nó có kỳ hạn của nó. Loại cơ hội hiện tại này sẽ không kéo dài mãi mãi. Sự nhỏ nhen của những va chạm nhân loại, những thất bại trong việc thấu hiểu lẫn nhau, những lỗi nhỏ có gốc rễ trong phàm ngã và xét cho cùng chỉ là phù du, các tham vọng và ảo tưởng, tất cả đều phải ra đi. Nếu những người hoạt động thực hành sự tách rời, biết rằng Định luật vận hành và các mục đích của Thượng đế phải đi đến kết luận tối hậu; và nếu họ học cách không bao giờ phê phán trong tư tưởng hay lời nói, thì việc cứu vãn thế giới sẽ tiến hành nhanh chóng và kỷ nguyên mới của tình thương và sự soi sáng sẽ được mở ra.

RULE FOURTEEN

Webinar 14-1

The sound swells out. The hour of danger to the soul courageous draweth near. The waters have not hurt the white creator and naught could drown nor drench him. Danger from fire and flame menaces now, and dimly yet the rising smoke is seen. Let him again, after the cycle of peace, call on the Solar Angel.

Âm thanh vang lớn dần. Giờ nguy hiểm đối với linh hồn can đảm đang đến gần. Các dòng nước đã không làm hại nhà sáng tạo chánh đạo, và không gì có thể nhấn chìm hay làm y ướt đẫm. Giờ đây, hiểm nguy từ lửa và ngọn lửa đe dọa, và khói đang bốc lên còn mờ nhạt đã được nhìn thấy. Sau chu kỳ bình an, hãy để y một lần nữa kêu gọi Thái dương Thiên Thần.

The Centres and Prana

Các Luân xa và Prana

[565]

[565]

The nearer we approach in our thought to the physical plane, the more difficulty is experienced by the magician, whether he be the solar Angel occupied with the magical work of manifestation, or an expert worker under the plan. This is due to two causes:

Trong tư tưởng, càng tiến gần cõi hồng trần, nhà huyền thuật càng trải nghiệm nhiều khó khăn hơn, dù đó là Thái dương Thiên Thần đang bận rộn với công việc huyền thuật của sự biểu hiện, hay một người hoạt động lão luyện dưới Thiên Cơ. Điều này do hai nguyên nhân:

1. The automatic response of dense physical matter to substance, remembering always that substance is force.

1. Sự đáp ứng tự động của vật chất hồng trần đậm đặc đối với chất liệu, luôn nhớ rằng chất liệu là mãnh lực.

2. The dangers incident to working with the fires or with the pranas of the Universe. This latter danger is that with which Rule XIV concerns itself.

2. Những hiểm nguy gắn liền với việc làm việc cùng các lửa hoặc cùng các prana của Vũ Trụ. Chính hiểm nguy sau này là điều Quy luật mười bốn đề cập đến.

There are many ways in which this Rule can be interpreted. We can study the work of the solar Angel as he approaches the dense physical plane to take incarnation and thus arrives at that critical point in his creative work wherein the threefold sheath is at the stage where it must, inevitably and unavoidably, make a contact with the matter aspect. It is the stage during which, expressing this truth in occult terms, it is literally called upon to “clothe itself and disappear into the light of day.” The spiritual man is now veiled by a mental or by a fire sheath. He is clothed “in a watery mist”, which is an ancient way of referring to the great illusion. This term conveys not only the concept of the possession of an astral or watery body, but also presents to the mind the effect which that body must have upon the hidden solar Angel. The latter looks out through the fire and through [566] the mist and sees distortion and reflection. He sees that which must mislead.

Có nhiều cách để diễn giải Quy luật này. Chúng ta có thể nghiên cứu công việc của Thái dương Thiên Thần khi Ngài đến gần cõi hồng trần đậm đặc để nhập thể, và như thế đạt tới điểm quyết định ấy trong công việc sáng tạo của Ngài, nơi lớp vỏ tam phân ở giai đoạn mà nó tất yếu và không thể tránh khỏi phải tiếp xúc với phương diện vật chất. Đó là giai đoạn mà, nếu diễn đạt chân lý này bằng thuật ngữ huyền bí, nó được gọi theo nghĩa đen là phải “khoác áo cho mình và biến mất trong ánh sáng ban ngày”. Con người tinh thần giờ đây được che phủ bởi một lớp vỏ trí tuệ hay lớp vỏ lửa. Y được khoác “trong một làn sương nước”, đó là một cách cổ xưa để chỉ đại ảo tưởng. Thuật ngữ này không chỉ truyền đạt quan niệm về việc sở hữu một thể cảm dục hay thể nước, mà còn trình bày cho thể trí hiệu quả mà thể ấy phải có đối với Thái dương Thiên Thần ẩn giấu. Ngài nhìn ra qua lửa và qua [566] làn sương, và thấy sự méo mó cùng phản chiếu. Ngài thấy điều tất yếu gây lầm lạc.

Besides the sheath of fire and the sheath of mist he has clothed upon himself an outer web of closely interlocking streams of force. These constitute his etheric or vital body, which is in the nature of a web or mesh of energy nadis, which, in their tens of thousands, are woven together and form in certain localities in this energy body various focal points of force, of which the most important are the seven centers. There are, however, many such focal points.

Ngoài lớp vỏ lửa và lớp vỏ sương, Ngài còn khoác lên mình một mạng lưới bên ngoài gồm những dòng mãnh lực đan xen chặt chẽ. Chúng tạo thành thể dĩ thái hay thể sinh lực của Ngài, vốn có bản chất như một mạng lưới hay tấm lưới các kinh mạch năng lượng; hàng chục nghìn kinh mạch ấy được dệt lại với nhau và tạo nên, tại một số vị trí trong thể năng lượng này, nhiều tiêu điểm mãnh lực khác nhau, trong đó quan trọng nhất là bảy trung tâm. Tuy nhiên, còn có nhiều tiêu điểm như thế.

When this clothing has been assumed by the solar Angel, a final stage is reached, and solar fire and fire by friction must be brought into contact with three “most ancient fires”. These are the fires of the dense physical objective matter or of those material energy units which we normally cover by the words “gaseous, liquid and dense”, a meaningless phrase and only of use to us, through its teaching of differentiation. These three ancient fires are an aspect of fire by friction.

Khi Thái dương Thiên Thần đã khoác lấy lớp áo này, một giai đoạn cuối cùng được đạt tới, và Lửa Thái dương cùng Lửa ma sát phải được đưa vào tiếp xúc với ba “lửa tối cổ”. Đây là các lửa của vật chất khách quan hồng trần đậm đặc, hay của những đơn vị năng lượng vật chất mà chúng ta thường bao hàm bằng các từ “khí, lỏng và đặc”, một cụm từ vô nghĩa và chỉ hữu dụng cho chúng ta qua việc nó dạy về sự biến phân. Ba lửa cổ xưa này là một phương diện của Lửa ma sát.

At this point is the hour of danger for the soul courageous. It is the hour wherein the soul must bring into at-one-ment the etheric body and the gaseous envelope which is the highest aspect of the dense physical sheath, the instrument of tangible organic manifestation.

Tại điểm này là giờ nguy hiểm đối với linh hồn can đảm. Đó là giờ mà linh hồn phải đưa thể dĩ thái và lớp bao khí, vốn là phương diện cao nhất của lớp vỏ hồng trần đậm đặc, tức khí cụ của sự biểu hiện hữu cơ hữu hình, vào sự hợp nhất.

We can also study this Rule from the point of view of the initiate who is occupied with the wielding of forces and who, through the power of his thought, may have created a thought-form. This thought-form he has clothed with an astral or desire sheath, deliberately vitalized with his energy, and now seeks to give it objective existence and send it forth to accomplish his purpose and his intent. The crucial moment in all creative work is ever to be found at this stage. It is the stage wherein the vibrant subjective form has to attract to itself that material which will give it organization upon the physical [567] plane. This fact has to be remembered, no matter what the magician is seeking to render objective. It refers equally to an organization, to a group or to a society; it may refer to the materialization of money or to the clothing or exteriorization of an idea. The moment of danger to the magician comes at this final stage. A point of fine discrimination is reached and the magician has to proceed now with caution. Many good plans fail to materialize and the reason lies right here. A plan is, after all, an idea let loose in time and space to seek a form and do its work. Many come to naught because their creator, or the creative mind from which they emanate, understands not this critical period. A right adjustment of forces has here to be arranged, so that neither too much energy is used in the work, nor too little. When too much energy is released through the medium of the vital body, then a fire blazes forth when the gaseous energy of the dense physical plane is brought in contact with vital etheric energy. Thus the embryo form is destroyed. Where there is not sufficient energy, or adequate persistent attention, and when the thought of the magician wavers, then the idea comes to naught, then the infant is still-born, and nothing comes into objective manifestation. This has a literal correspondence on the physical plane. Many infants are still-born for this very reason that the solar Angel wavers in his intent and is not sufficiently interested. Many fine ideas equally fail to materialize or have no persistent living existence “in the light of day,” because there was not sufficient energy to generate that spark of living flame which must ever burn at the center of all forms. The danger, therefore, is twofold:

Chúng ta cũng có thể nghiên cứu Quy luật này từ quan điểm của điểm đạo đồ đang bận rộn với việc vận dụng các mãnh lực và, nhờ quyền năng tư tưởng của mình, có thể đã tạo ra một hình tư tưởng. Hình tư tưởng này, y đã khoác cho một lớp vỏ cảm dục hay dục vọng, cố ý tiếp sinh lực cho nó bằng năng lượng của mình, và giờ đây tìm cách ban cho nó sự hiện hữu khách quan, phóng nó ra để hoàn thành mục đích và ý định của mình. Khoảnh khắc quyết định trong mọi công việc sáng tạo luôn được tìm thấy ở giai đoạn này. Đó là giai đoạn mà hình tướng chủ quan rung động phải thu hút về phía mình chất liệu sẽ đem lại cho nó sự tổ chức trên cõi hồng trần [567]. Sự kiện này phải được ghi nhớ, bất kể nhà huyền thuật đang tìm cách khiến điều gì trở nên khách quan. Nó áp dụng như nhau cho một tổ chức, một nhóm hoặc một hội đoàn; nó có thể liên quan đến việc hiện hình tiền bạc, hoặc đến việc khoác áo hay ngoại hiện một ý tưởng. Khoảnh khắc nguy hiểm đối với nhà huyền thuật đến ở giai đoạn cuối cùng này. Một điểm phân biện tinh tế được đạt tới, và nhà huyền thuật giờ đây phải tiến hành với sự thận trọng. Nhiều kế hoạch tốt thất bại trong việc hiện hình, và lý do nằm chính tại đây. Xét cho cùng, một kế hoạch là một ý tưởng được thả vào thời gian và không gian để tìm kiếm một hình tướng và thực hiện công việc của nó. Nhiều kế hoạch trở thành vô ích vì người sáng tạo của chúng, hay thể trí sáng tạo mà từ đó chúng xuất lộ, không thấu hiểu thời kỳ quyết định này. Ở đây phải sắp đặt một sự điều chỉnh đúng đắn các mãnh lực, để không dùng quá nhiều năng lượng trong công việc, cũng không quá ít. Khi quá nhiều năng lượng được phóng thích qua trung gian thể sinh lực, thì một ngọn lửa bùng cháy khi năng lượng khí của cõi hồng trần đậm đặc được đưa vào tiếp xúc với năng lượng dĩ thái sinh lực. Như vậy hình tướng phôi thai bị hủy diệt. Nơi nào không có đủ năng lượng, hoặc không có sự chú tâm bền bỉ thích đáng, và khi tư tưởng của nhà huyền thuật dao động, thì ý tưởng trở thành vô ích, đứa trẻ bị chết non, và không điều gì đi vào sự biểu hiện khách quan. Điều này có một tương ứng theo nghĩa đen trên cõi hồng trần. Nhiều trẻ sơ sinh bị chết non vì chính lý do này: Thái dương Thiên Thần dao động trong ý định của Ngài và không đủ quan tâm. Nhiều ý tưởng tốt đẹp cũng thất bại trong việc hiện hình hoặc không có sự hiện hữu sống động bền bỉ “trong ánh sáng ban ngày”, vì không có đủ năng lượng để tạo ra tia lửa của ngọn lửa sống động vốn luôn phải cháy tại trung tâm của mọi hình tướng. Do đó, hiểm nguy là nhị phân:

1. That of destruction by fire, owing to the expenditure of too much energy and the expression of too violent a purpose. [568]

1. Hiểm nguy bị hủy diệt bởi lửa, do việc tiêu hao quá nhiều năng lượng và sự biểu lộ của một mục đích quá mãnh liệt. [568]

2. That of death, through lack of vitality and because the “directed attention” of the magician is not of adequate strength and duration to bring the form into being. The occult law holds good that energy follows thought.

2. Hiểm nguy của sự chết, do thiếu sinh lực và vì “sự chú tâm được định hướng” của nhà huyền thuật không đủ mạnh và đủ lâu để đưa hình tướng vào hiện tồn. Định luật huyền bí vẫn đúng rằng năng lượng đi theo tư tưởng.

We could study this Rule from the standpoint of the aspirant, as he learns to work with energy and with the forces of nature, as he learns the significance and the purpose of the vital body, and gains power in the control of the vital fires or the pranas of his own little system. It seems to me that for our particular purpose, this line of approach would be of the most use. These Instructions are intended for those who are definitely interested in the way of liberation from form, and who are seeking to prepare themselves to work in cooperation with the Great White Lodge. They are learning the first steps in the magical work and for them, therefore, an understanding of the fires and of the energies with which they must work, is of prime importance. We will, therefore, confine our attention to this phase of the great work and consider neither the work of the soul as it takes incarnation and manifests objectively through a form, nor with the work of the initiates, as they act as creative magicians under group impulse and through an intelligent understanding of the evolutionary plan. These Instructions are intended to be practical and to convey the teaching needed to those students who can read between the lines and who are developing the capacity to see the esoteric meaning behind the outer blinds and exoteric forms.

Chúng ta có thể nghiên cứu Quy luật này từ lập trường của người chí nguyện, khi y học cách làm việc với năng lượng và với các mãnh lực của thiên nhiên, khi y học thâm nghĩa và mục đích của thể sinh lực, và đạt được quyền năng trong việc kiểm soát các lửa sinh lực hay các prana của hệ nhỏ bé của chính mình. Đối với mục đích riêng của chúng ta, dường như đường lối tiếp cận này sẽ hữu ích nhất. Các Huấn thị này dành cho những ai dứt khoát quan tâm đến con đường giải thoát khỏi hình tướng, và đang tìm cách chuẩn bị chính mình để làm việc trong sự hợp tác với Thánh đoàn. Họ đang học những bước đầu tiên trong công việc huyền thuật, và do đó, đối với họ, sự thấu hiểu về các lửa và các năng lượng mà họ phải làm việc cùng là điều quan trọng hàng đầu. Vì vậy, chúng ta sẽ giới hạn sự chú ý của mình vào giai đoạn này của đại công việc, và sẽ không xét đến công việc của linh hồn khi nó nhập thể và biểu hiện khách quan qua một hình tướng, cũng không xét đến công việc của các điểm đạo đồ khi họ hành động như những nhà huyền thuật sáng tạo dưới xung lực nhóm và qua một sự thấu hiểu thông minh về Thiên Cơ thăng thượng tiến hoá. Các Huấn thị này nhằm có tính thực tiễn và truyền đạt giáo huấn cần thiết cho những đạo sinh có thể đọc giữa các dòng chữ và đang phát triển năng lực nhìn thấy ý nghĩa huyền bí phía sau các màn che bên ngoài và các hình thức ngoại môn.

Webinar 14-2

We are now going to consider the pranas, and I would here quote some paragraphs from The Light of the Soul which give a description of these pranas. We find in Book II, Sutra 39 that there are five aspects of prana, [569] functioning through and, therefore, constituting the total etheric or vital body.

Giờ đây chúng ta sẽ xét đến các prana, và ở đây tôi muốn trích dẫn vài đoạn từ Ánh Sáng của Linh Hồn vốn mô tả các prana này. Chúng ta thấy trong Quyển hai, Kinh ba mươi chín rằng có năm phương diện của prana, [569] hoạt động xuyên qua và do đó cấu thành toàn bộ thể dĩ thái hay thể sinh lực.

“Prana is fivefold in its manifestations, thus corresponding to the five states of mind, the fifth principle, and to the five modifications of the thinking principle. Prana in the solar system works out as the five great states of energy which we call planes, the medium of consciousness....The five differentiations of prana in the human body are:

“Prana là ngũ phân trong các biểu hiện của nó, như vậy tương ứng với năm trạng thái của thể trí, nguyên khí thứ năm, và với năm biến thái của nguyên khí tư duy. Prana trong hệ mặt trời biểu lộ thành năm trạng thái năng lượng lớn mà chúng ta gọi là các cõi, tức trung gian của tâm thức... Năm biến phân của prana trong thân thể con người là:

“1. Prana, extending from the nose to the heart and having special relation to the mouth and speech, the heart and lungs.

“1. Prana, trải dài từ mũi đến tim và có liên hệ đặc biệt với miệng và lời nói, tim và phổi.

“2. Samana extends from the heart to the solar plexus; it concerns food and the nourishing of the body through the medium of food and drink and has special relation to the stomach.

“2. Samana trải dài từ tim đến tùng thái dương; nó liên quan đến thực phẩm và việc nuôi dưỡng thân thể qua trung gian thức ăn và thức uống, và có liên hệ đặc biệt với dạ dày.

“3. Apana controls from the solar plexus to the soles of the feet; it concerns the organs of elimination, of rejection and of birth, thus having special relation to the organs of generation and of elimination.

“3. Apana kiểm soát từ tùng thái dương đến lòng bàn chân; nó liên quan đến các cơ quan bài tiết, thải bỏ và sinh sản, do đó có liên hệ đặc biệt với các cơ quan sinh dục và bài tiết.

“4. Udana is found between the nose and the top of the head; it has a special relation to the brain, the nose and the eyes, and when properly controlled produces the coordination of the vital airs and their correct handling.

“4. Udana được tìm thấy giữa mũi và đỉnh đầu; nó có liên hệ đặc biệt với bộ não, mũi và mắt, và khi được kiểm soát đúng đắn, nó tạo ra sự phối hợp của các sinh khí và sự vận dụng đúng đắn chúng.

“5. Vyana is the term applied to the sum total of pranic energy as it is distributed evenly throughout the entire body. Its instruments are the thousands of nadis or nerves found in the body, and it has a peculiar definite connection with the blood channels, the veins and arteries.” (Pp. 329-330.)

“5. Vyana là thuật ngữ áp dụng cho tổng số năng lượng prana khi nó được phân phối đều khắp toàn thân. Các khí cụ của nó là hàng nghìn kinh mạch hay dây thần kinh trong thân thể, và nó có một mối liên hệ xác định đặc biệt với các mạch máu, tĩnh mạch và động mạch.” (tr. 329-330.)

“The etheric body is the force or vital body and it permeates every part of the dense vehicle. It is the background, the true substance of the physical body. According to the nature of the force animating the etheric body, according to the activity of that force in the etheric body, according to the aliveness or the sluggishness of the most important parts of the etheric body (the centers up the spine) so will be the corresponding activity of the physical body. Similarly and symbolically, according to the wholeness of the breathing apparatus, and according to the ability of that apparatus to oxygenate and render pure the blood, so will be the health or wholeness of the dense physical body.” (pp. 218-219.)

“Thể dĩ thái là thể mãnh lực hay thể sinh lực, và nó thấm nhập mọi phần của hiện thể đậm đặc. Nó là nền tảng, chất liệu chân thật của thể xác. Tùy theo bản chất của mãnh lực linh hoạt thể dĩ thái, tùy theo hoạt động của mãnh lực ấy trong thể dĩ thái, tùy theo sức sống hay sự trì trệ của những phần quan trọng nhất của thể dĩ thái, tức các trung tâm dọc cột sống, thì hoạt động tương ứng của thể xác cũng sẽ như vậy. Tương tự và theo nghĩa biểu tượng, tùy theo sự toàn vẹn của bộ máy hô hấp, và tùy theo khả năng của bộ máy ấy trong việc oxy hóa và làm tinh sạch máu, thì sức khỏe hay sự toàn vẹn của thể xác đậm đặc cũng sẽ như vậy.” (tr. 218-219.)

[570]

[570]

We find it also stated that the forces which make up the vital body or the various pranas of which it is constructed emanate:

Chúng ta cũng thấy được nêu rằng các mãnh lực tạo nên thể sinh lực, hay các prana khác nhau mà từ đó nó được kiến tạo, xuất lộ:

“a. From the planetary aura. In this case it is planetary prana, and so concerns primarily the spleen and the health of the physical body.

“a. Từ hào quang hành tinh. Trong trường hợp này, đó là prana hành tinh, và vì thế chủ yếu liên quan đến lá lách và sức khỏe của thể xác.

“b. From the astral world via the astral body. This will be purely kamic or desire force and will affect primarily the centers below the diaphragm.

“b. Từ thế giới cảm dục qua thể cảm dục. Đây sẽ thuần túy là mãnh lực dục vọng và sẽ tác động chủ yếu lên các trung tâm bên dưới hoành cách mô.

“c. From the universal mind or manasic force. This will largely be thought force and will go to the throat center.

“c. Từ Vũ Trụ Trí hay mãnh lực manas. Điều này phần lớn sẽ là mãnh lực tư tưởng và sẽ đi đến trung tâm cổ họng.

“d. From the ego itself, stimulating primarily the head and heart centers.” (P. 220.)

“d. Từ chính chân ngã, chủ yếu kích thích các trung tâm đầu và tim.” (tr. 220.)

We read also that “most people receive force only from the physical and astral planes, but disciples receive force also from the mental and egoic levels.” Finally we read:

Chúng ta cũng đọc thấy rằng “đa số người chỉ nhận mãnh lực từ các cõi hồng trần và cảm dục, nhưng các đệ tử cũng nhận mãnh lực từ các cấp độ trí tuệ và chân ngã.” Cuối cùng chúng ta đọc:

“It may help the student if he realizes that the right control of prana involves the recognition that energy is the sum total of existence and of manifestation, and that the three lower bodies are energy bodies, each forming a vehicle for the higher type of energy and being themselves transmitters of energy. The energies of the lower man are energies of the third aspect, the Holy Ghost or Brahma aspect. The energy of the spiritual man is that of the second aspect, the Christ force, or buddhi. The object of evolution in the human family is to bring this Christ force, the principle of buddhi, into full manifestation upon the physical plane and this through the utilization of the lower triple sheath.” (P. 227.)

“Điều này có thể giúp ích cho đạo sinh nếu y nhận ra rằng sự kiểm soát đúng đắn prana bao hàm việc nhận biết rằng năng lượng là tổng số của sự hiện hữu và biểu hiện, và rằng ba thể thấp là các thể năng lượng, mỗi thể tạo thành một vận cụ cho loại năng lượng cao hơn và chính chúng cũng là các bộ truyền năng lượng. Các năng lượng của phàm nhân là các năng lượng của phương diện thứ ba, phương diện Chúa Thánh Thần hay phương diện Sáng Tạo. Năng lượng của con người tinh thần là năng lượng của phương diện thứ hai, mãnh lực Đức Christ, hay Bồ đề. Mục tiêu của tiến hoá trong gia đình nhân loại là đưa mãnh lực Đức Christ này, nguyên khí Bồ đề, vào sự biểu hiện trọn vẹn trên cõi hồng trần, và điều này thông qua việc sử dụng lớp vỏ tam phân thấp.” (tr. 227.)

This gives a general picture of the subject of our consideration and gives us the elementary facts upon which all our thoughts must be based. It becomes apparent, therefore, as we study the above that the aspirant has three things to do:

Điều này đem lại một bức tranh tổng quát về chủ đề chúng ta đang xét, và trao cho chúng ta những sự kiện sơ đẳng mà mọi tư tưởng của chúng ta phải dựa vào. Do đó, khi nghiên cứu những điều trên, rõ ràng người chí nguyện có ba việc phải làm:

First, he has to learn the nature of the energies or [571] pranas which have brought his magical creation, the physical body, into manifestation and which keep it in such a condition that he can or cannot rapidly achieve the spiritual objective of his soul. This lesson involves:

Trước hết, y phải học bản chất của các năng lượng hay [571] prana đã đưa tạo vật huyền thuật của y, tức thể xác, vào biểu hiện, và giữ nó trong một tình trạng khiến y có thể hoặc không thể nhanh chóng đạt được mục tiêu tinh thần của linh hồn mình. Bài học này bao hàm:

a. Arriving at a knowledge of those forces which are peculiarly potent in his life and which seem to direct his activities. This will bring to him the knowledge as to which centers of his etheric body are awakened and which are dormant. This all aspirants have to grasp before they really can apply themselves to the real training for discipleship.

a. Đạt tới sự hiểu biết về những mãnh lực đặc biệt mạnh mẽ trong đời sống của y và dường như điều khiển các hoạt động của y. Điều này sẽ đem đến cho y tri thức về những trung tâm nào trong thể dĩ thái của y đã thức tỉnh và những trung tâm nào còn ngủ yên. Tất cả những người chí nguyện phải nắm vững điều này trước khi họ thật sự có thể chuyên tâm vào việc huấn luyện đích thực cho địa vị đệ tử.

b. Grasping the relation between these forces of nature which he has appropriated for his own use and which constitute the sum total of his personal, mental, sentient and vital energies, and those same forces as they are found in the natural world and govern the manifestation of the Macrocosm.

b. Nắm bắt mối liên hệ giữa các mãnh lực thiên nhiên này, mà y đã chiếm dụng cho mục đích riêng của mình và tạo thành tổng số các năng lượng cá nhân, trí tuệ, cảm giác và sinh lực của y, với chính những mãnh lực ấy khi chúng được tìm thấy trong thế giới tự nhiên và chi phối sự biểu hiện của Đại thiên địa.

c. Learning to work with these energies in an intelligent manner in order to bring about three happenings:

c. Học cách làm việc với các năng lượng này một cách thông minh nhằm đem lại ba sự việc:

An harmonious cooperation with his own solar Angel, so that solar force may impose its rhythm upon the lunar forces.

Một sự hợp tác hài hòa với Thái dương Thiên Thần của chính y, để mãnh lực thái dương có thể áp đặt nhịp điệu của nó lên các mãnh lực thái âm.

An intelligent response to and affiliation with the group of World Servers who at any given time have undertaken the work of directing, by the power of their thought, the forces of nature and so leading the whole creative body forward along the line of divine intent.

Một sự đáp ứng thông minh và sự liên kết với nhóm những Người Phụng Sự Thế Gian, những người vào bất cứ thời điểm nào đã đảm nhận công việc điều khiển, bằng quyền năng tư tưởng của họ, các mãnh lực của thiên nhiên, và như thế dẫn toàn bộ cơ thể sáng tạo tiến tới theo đường lối của ý định thiêng liêng.

The production on the physical plane of a personality adequate for its creative task and capable of those forms of activity, emanating [572] from the mind, which will enable him to further the work of the directing agencies.

Sự tạo ra trên cõi hồng trần một phàm ngã thích hợp với nhiệm vụ sáng tạo của nó và có khả năng thực hiện những hình thức hoạt động, xuất lộ [572] từ thể trí, sẽ giúp y thúc đẩy công việc của các cơ quan điều khiển.

Second, learn to live as a soul and, therefore, free from identification with the body nature. This brings out three things:

Thứ hai, học sống như một linh hồn và do đó thoát khỏi sự đồng hoá với bản chất thể xác. Điều này làm nổi bật ba điều:

a. An ability to withdraw into the head consciousness and from that high place to direct the life of the personal self.

a. Khả năng rút vào tâm thức nơi đầu và từ nơi cao ấy điều khiển đời sống của cái tôi cá nhân.

b. The power to pass through the various centers in the body those universal forces and energies which are needed for world work. This has to be done consciously and in full awareness of the source from which they come, of the mode of their activity and of the purpose for which they must be used. This involves also the understanding of which force is related to a center. This consequently involves the necessity to develop the centers, to bring them into a state of potency and to harmonize them into a unified rhythm.

b. Quyền năng chuyển qua các trung tâm khác nhau trong thân thể những mãnh lực và năng lượng vũ trụ cần thiết cho công việc thế giới. Điều này phải được thực hiện một cách có ý thức và trong sự tỉnh biết đầy đủ về nguồn gốc mà chúng đến từ đó, phương thức hoạt động của chúng và mục đích mà vì đó chúng phải được sử dụng. Điều này cũng bao hàm sự thấu hiểu mãnh lực nào liên hệ với trung tâm nào. Do đó, điều này bao hàm nhu cầu phát triển các trung tâm, đưa chúng vào một trạng thái quyền năng và hòa điệu chúng thành một nhịp điệu hợp nhất.

c. The capacity, therefore, to work at will through the medium of any particular center. This is only possible when the soul can dwell as the Ruler on the “throne between the eyebrows” and when the Kundalini fire has been what is occultly called raised. This fire has to pass up through the spinal column and burn its way through the web which separates center from center on the “Golden Rod of Power.”

c. Do đó, năng lực làm việc theo ý chí qua trung gian bất kỳ trung tâm đặc thù nào. Điều này chỉ có thể xảy ra khi linh hồn có thể cư ngụ như Đấng Cai Quản trên “ngai giữa hai chân mày” và khi lửa hỏa xà đã được nâng lên, theo cách gọi huyền bí. Lửa này phải đi lên qua cột sống và đốt đường xuyên qua mạng lưới ngăn cách trung tâm này với trung tâm khác trên “Thần Trượng Vàng của Quyền Năng”.

Third, learn to study the reactions upon others of whatever energy he, through his personality, may be expressing, or which, if he be an initiate and, therefore, a conscious worker with the Plan, it may be his privilege to utilize or transmit. Through a close study of [573] his personal “effect” upon his fellowmen, as he lives amongst them, and as he thinks, speaks and acts, he learns the nature of that type of force which may flow through him. He can arrive, therefore, at an understanding of its type, its quality, its strength, and its speed. These four words warrant consideration and elucidation.

Thứ ba, học nghiên cứu các phản ứng nơi người khác đối với bất kỳ năng lượng nào mà y, qua phàm ngã của mình, có thể đang biểu lộ; hoặc năng lượng nào mà, nếu y là một điểm đạo đồ và do đó là một người hoạt động có ý thức với Thiên Cơ, y có đặc ân sử dụng hay truyền dẫn. Nhờ nghiên cứu sát sao [573] “tác động” cá nhân của mình lên đồng loại, khi y sống giữa họ, và khi y suy nghĩ, nói năng và hành động, y học được bản chất của loại mãnh lực có thể tuôn chảy qua y. Do đó y có thể đạt tới sự thấu hiểu về loại, phẩm tính, sức mạnh và tốc độ của nó. Bốn từ này đáng được xem xét và làm sáng tỏ.

A. The type of force as used by an aspirant will indicate to him its emanating source, and a study of it will begin to signify to him the Entity from which it has emanated. A knowledge of the type answers the question: Along what line of energy and upon what ray is this force to be found? A close watch upon this aspect of work will soon indicate to the aspirant:

A. Loại mãnh lực mà một người chí nguyện sử dụng sẽ chỉ cho y nguồn phát xuất của nó, và việc nghiên cứu nó sẽ bắt đầu biểu thị cho y Thực Thể mà từ đó nó đã xuất lộ. Tri thức về loại trả lời câu hỏi: Mãnh lực này được tìm thấy theo đường năng lượng nào và trên cung nào? Việc quan sát sát sao phương diện này của công việc sẽ sớm chỉ cho người chí nguyện:

1. upon what plane he himself may be working,

1. y có thể đang làm việc trên cõi nào,

2. the nature of his ray, egoic ray and personality ray. Only the initiate of the third degree can ascertain his monadic ray,

2. bản chất cung của y, cung chân ngã và cung phàm ngã của y. Chỉ điểm đạo đồ bậc ba mới có thể xác định cung chân thần của mình,

3. the particular tattva which may be involved,

3. yếu tố tinh chất đặc thù có thể liên quan,

4. the center through which he may be transmitting the force.

4. trung tâm mà qua đó y có thể đang truyền dẫn mãnh lực.

It will be apparent, therefore, that a study of the types of energy is of practical usefulness and will tend to leave no part of the aspirant’s nature untouched. Think for a minute of the lessons which can be learned by the man who submits the energy used in verbal expression, for instance, to the scrutiny of the Inner Ruler and who—after talking or after joining in the give and take of daily life—asks himself the questions: What was the type of energy used by me in my speech today? What was the force that I expended in my contacts with my fellowmen? You ask me if I can illustrate this for you? Now let me attempt to do so and so make simple what is deemed so oft to be abstruse and difficult. Let the student inquire [574] of himself whether the position he held mentally and whether the words which he spoke on any particular occasion were prompted by a desire to impose his will upon his hearers. This imposition of his will could be either right or wrong. When right, it would mean that he was speaking under the impulse of his spiritual will, that his words would be in line with soul purpose and intent and would be governed by love and, therefore, would be constructive, helpful and healing. His attitude would be one of detachment and he would have no desire to take prisoner the mind of his brother. But if his words were prompted by self-will and by the desire to impose his ideas upon other people and so to shine in their presence, or to force them to agree with his conclusions, his method would then be destructive, dominating, aggressive, argumentative, forceful, rude or irritable, according to his personality trends and inclinations. This would indicate the right or the wrong use of first ray force.

Do đó, điều hiển nhiên là việc nghiên cứu các loại năng lượng có ích dụng thực tiễn và sẽ có khuynh hướng không để phần nào trong bản chất của người chí nguyện không được chạm tới. Hãy suy nghĩ trong một phút về những bài học mà con người có thể học được khi y đặt năng lượng được dùng trong sự diễn đạt bằng lời nói, chẳng hạn, dưới sự soi xét của Đấng Cai Quản Bên Trong, và sau khi nói chuyện hoặc sau khi tham gia vào sự trao đổi qua lại của đời sống hằng ngày, y tự hỏi: Hôm nay, trong lời nói của tôi, tôi đã dùng loại năng lượng nào? Mãnh lực nào tôi đã tiêu hao trong các tiếp xúc với đồng loại? Các bạn hỏi tôi liệu tôi có thể minh họa điều này cho các bạn không? Bây giờ, hãy để tôi thử làm điều đó, và nhờ vậy làm cho đơn giản điều thường bị xem là trừu tượng và khó hiểu. Hãy để đạo sinh tự hỏi [574] chính mình xem lập trường mà y giữ trong trí và những lời y nói ra trong một dịp đặc biệt nào đó có được thúc đẩy bởi một ham muốn áp đặt ý chí của y lên người nghe hay không. Sự áp đặt ý chí này có thể đúng hoặc sai. Khi đúng, điều đó có nghĩa là y đang nói dưới xung động của ý chí tinh thần của mình, rằng lời nói của y sẽ phù hợp với mục đích và ý định của linh hồn, và sẽ được chi phối bởi bác ái; do đó, chúng sẽ có tính xây dựng, hữu ích và chữa lành. Thái độ của y sẽ là tách rời, và y sẽ không có ham muốn giam giữ thể trí của huynh đệ mình. Nhưng nếu lời nói của y được thúc đẩy bởi ý chí cá nhân và bởi ham muốn áp đặt các ý tưởng của y lên người khác, để nhờ đó tỏa sáng trước mặt họ, hoặc buộc họ đồng ý với các kết luận của y, thì phương pháp của y khi ấy sẽ có tính phá hoại, thống trị, công kích, tranh biện, cưỡng bách, thô lỗ hoặc cáu kỉnh, tùy theo các khuynh hướng và thiên hướng của phàm ngã y. Điều này sẽ cho thấy việc sử dụng đúng hay sai mãnh lực cung một.

Should the type of force he wields be that of the second ray, he can submit it to a similar analysis. He will then find it to be based on group love, service and compassion, or upon a selfish longing to be liked, on sentiment and on attachment. His words will indicate this to him if he will closely study them. Similarly, if he is using third ray force, in a personal manner, he will be devious in his propositions, subtle and elusive in his arguments, using manipulation in his relations with his fellowmen, or be an interfering busybody, actively engaged in running the world, in managing other people’s lives for them, or in grasping so firmly the reins of government in his own self-interest that he will sacrifice everything and everybody in the work of furthering his own busy ends. If he is, however, a true disciple and aspirant, he will work with the Plan and will wield third ray force to bring about the loving purposes of the spiritual Reality. He will be busy and active and his word will carry [575] truth, and will lead to the helping of others, for they will be detached and true.

Nếu loại mãnh lực mà y vận dụng là mãnh lực cung hai, y có thể đặt nó dưới một sự phân tích tương tự. Khi ấy y sẽ thấy nó được đặt nền trên bác ái nhóm, phụng sự và lòng từ bi, hoặc trên một nỗi khao khát ích kỷ muốn được yêu thích, trên cảm tính và sự quyến luyến. Lời nói của y sẽ cho y thấy điều này nếu y chịu nghiên cứu chúng một cách kỹ lưỡng. Tương tự, nếu y đang dùng mãnh lực cung ba theo một cách cá nhân, y sẽ quanh co trong các đề nghị của mình, tinh vi và lẩn tránh trong các lập luận, dùng sự thao túng trong các quan hệ với đồng loại, hoặc trở thành một kẻ bận rộn hay can thiệp, tích cực lo điều hành thế giới, quản lý đời sống của người khác thay cho họ, hoặc nắm chặt dây cương cai quản vì quyền lợi riêng đến mức y sẽ hy sinh mọi sự và mọi người trong công việc thúc đẩy các mục tiêu bận rộn của riêng mình. Tuy nhiên, nếu y là một đệ tử và người chí nguyện chân chính, y sẽ làm việc với Thiên Cơ và sẽ vận dụng mãnh lực cung ba để đem lại các mục đích bác ái của Thực Tại tinh thần. Y sẽ bận rộn và năng động, và lời nói của y sẽ mang [575] chân lý, đồng thời sẽ dẫn đến việc giúp đỡ người khác, vì chúng sẽ tách rời và chân thật.

The Use of the Hands

Việc Sử Dụng Bàn Tay

It is of value here when we are dealing with the wielding of force to give a little information anent the use of the hands in such work. One of the Masters has said, “It is but with armed hand and ready either to conquer or perish that the modern mystic can hope to achieve his object.” I intend to speak a few words about the hands, for there is more occult teaching hidden in these words than is apparent on the surface.

Ở đây, khi chúng ta đang bàn đến việc vận dụng mãnh lực, sẽ hữu ích nếu đưa ra một ít thông tin về việc sử dụng bàn tay trong công việc như thế. Một trong các Chân sư đã nói: “Chỉ với bàn tay được trang bị và sẵn sàng hoặc chinh phục hoặc diệt vong, nhà thần bí hiện đại mới có thể hy vọng đạt được mục tiêu của mình.” Tôi dự định nói vài lời về đôi tay, vì trong những lời này có nhiều giáo huấn huyền bí ẩn giấu hơn điều có thể thấy trên bề mặt.

In one of the old books, available for the instruction of disciples these words are found:

Trong một trong các sách cổ, hiện có để giáo huấn các đệ tử, có những lời sau:

“The armed hand is an empty hand and this protects its possessor from the accusations of his enemies. It is a hand freed from the taint of the four symbolic evils—gold, lust, the dagger, and the finger of enticement.”

“Bàn tay được trang bị là bàn tay trống không, và điều này bảo vệ người sở hữu nó khỏi những lời cáo buộc của kẻ thù. Đó là bàn tay đã được giải thoát khỏi vết nhơ của bốn điều ác biểu tượng: vàng, dục vọng, dao găm và ngón tay cám dỗ.”

These words are most significant, and it might be well to study briefly the type of hands and their quality which are distinctive of disciples. In all forms of esoteric teaching the hands play a great part and this for four reasons:

Những lời này có ý nghĩa sâu xa nhất, và có lẽ nên nghiên cứu ngắn gọn loại bàn tay và phẩm tính của chúng, vốn là nét đặc trưng của các đệ tử. Trong mọi hình thức giáo huấn huyền bí, đôi tay giữ một vai trò lớn lao, và điều này vì bốn lý do:

1. They are the symbol of acquisitiveness.

1. Chúng là biểu tượng của tính chiếm hữu.

2. They are centres of force

2. Chúng là các trung tâm mãnh lực.

3. They are wielders of the sword.

3. Chúng là những khí cụ vận dụng thanh gươm.

4. They are, when employed unselfishly

4. Khi được sử dụng một cách vô ngã, chúng là:

a. Instruments of healing.

a. Các công cụ chữa lành.

b. Agencies whereby certain keys are turned.

b. Các tác nhân nhờ đó một số chìa khóa được xoay.

Viewing them as symbols of acquisitiveness it must be remembered that in the average man they are employed to “grasp and to hold” and to acquire that which the man wants for himself and for the satisfaction of his selfish desire. In spiritual man, the hands are still symbols of acquisitiveness but he only grasps that which [576] is needed for the helping of the group and releases at once towards that end that which he has thus acquired. The initiate holds nothing for himself; the saviour of the race may utilise all that is laid up in the divine storehouse but not for himself, only for those he seeks to help.

Khi xem chúng như biểu tượng của tính chiếm hữu, cần nhớ rằng nơi con người trung bình, chúng được dùng để “nắm lấy và giữ lại”, và để chiếm hữu điều mà con người muốn cho chính mình và để thỏa mãn ham muốn ích kỷ của mình. Nơi con người tinh thần, đôi tay vẫn là biểu tượng của tính chiếm hữu, nhưng y chỉ nắm lấy điều [576] cần thiết để giúp đỡ nhóm, và lập tức phóng thích về mục đích đó điều mà y đã có được như thế. Điểm đạo đồ không giữ gì cho chính mình; vị cứu tinh của nhân loại có thể sử dụng tất cả những gì được cất giữ trong kho tàng thiêng liêng, nhưng không vì chính mình, mà chỉ vì những người y tìm cách giúp đỡ.

As centres of force the hands play a most potent part, and one that is little understood. It is an occult fact that the hands of a disciple (once he has acquired that acquisitiveness which is based on unselfish group work) become transmitters of spiritual energy. The “laying on of hands” is no idle phrase nor confined solely to the operations of the episcopate of any faith. The occult laying on of hands can be studied in four aspects:

Là các trung tâm mãnh lực, đôi tay giữ một vai trò mạnh mẽ nhất, nhưng ít được thấu hiểu. Một sự thật huyền bí là đôi tay của một đệ tử, một khi y đã đạt được tính chiếm hữu đặt nền trên công việc nhóm vô ngã, sẽ trở thành các bộ truyền dẫn năng lượng tinh thần. “Đặt tay lên” không phải là một cụm từ rỗng tuếch, cũng không chỉ giới hạn trong các nghi thức của hàng giám mục thuộc bất cứ tín ngưỡng nào. Việc đặt tay huyền bí có thể được nghiên cứu theo bốn phương diện:

1. In healing. In this case the force which flows through the hands comes from a dual source and via two etheric centres, the spleen and the heart.

1. Trong chữa lành. Trong trường hợp này, mãnh lực tuôn chảy qua đôi tay đến từ một nguồn kép và đi qua hai trung tâm dĩ thái: lá lách và tim.

2. In the stimulation of any specific centre. The energy employed in this case comes from the base of the spine, and the throat, and must be accompanied by appropriate words.

2. Trong việc kích thích bất cứ trung tâm đặc biệt nào. Năng lượng được dùng trong trường hợp này đến từ đáy cột sống và trung tâm cổ họng, và phải đi kèm với những lời thích hợp.

3. In the work of linking a man up with his ego. The force used here must be received from three etheric centres, the solar plexus, the heart, and the centre between the eyebrows.

3. Trong công việc liên kết một người với chân ngã của y. Mãnh lực được dùng ở đây phải được tiếp nhận từ ba trung tâm dĩ thái: tùng thái dương, tim và trung tâm giữa hai chân mày.

4. In group work. Here energy is utilised emanating from the ego, via the head centre, the throat centre and the base of the spine.

4. Trong công việc nhóm. Ở đây, năng lượng phát xuất từ chân ngã được sử dụng, qua trung tâm đầu, trung tâm cổ họng và đáy cột sống.

It will be apparent therefore that the Science of the Hands is a very real one and the disciple has to learn the nature of the forces in the different centres, how to transmit and unify them and then by an act of the will how to pass them outward through the chakras in the hands. The hands do their work either directly, or through the projection of a steady flow once the blended currents have been tapped, or indirectly, or by manipulation. Through [577] a knowledge of the law a disciple can not only utilise the current flowing through the centres of his own body, but can also combine them with the planetary or cosmic currents to be found in his environment. This is done unconsciously frequently by speakers who magnetically use the hands to any extent and the effects as seen by a clairvoyant are often amazing. When this work is done consciously a most potent factor is added to the equipment of any chela.

Do đó, điều hiển nhiên là Khoa Học về Đôi Tay là một khoa học rất thực, và đệ tử phải học bản chất của các mãnh lực trong những trung tâm khác nhau, cách truyền dẫn và hợp nhất chúng, rồi bằng một hành vi của ý chí, cách đưa chúng ra ngoài qua các luân xa trong đôi tay. Đôi tay thực hiện công việc của chúng hoặc trực tiếp, hoặc qua sự phóng chiếu một dòng chảy đều đặn một khi các luồng đã hòa trộn được khai thông, hoặc gián tiếp, hoặc bằng sự thao tác. Nhờ [577] tri thức về định luật, một đệ tử không chỉ có thể sử dụng dòng chảy qua các trung tâm của chính thể mình, mà còn có thể kết hợp chúng với các dòng hành tinh hoặc vũ trụ có trong môi trường của y. Điều này thường được thực hiện một cách vô thức bởi những diễn giả sử dụng đôi tay một cách từ tính ở một mức độ nào đó, và các hiệu quả, khi được một nhà thông nhãn nhìn thấy, thường rất đáng kinh ngạc. Khi công việc này được thực hiện một cách có ý thức, một yếu tố mạnh mẽ nhất được thêm vào trang bị của bất cứ đệ tử nào.

In this connection it must be borne in mind that the matter is a very abstruse one and that certain ray forces pass along the line of least resistance from left to right and others from right to left. Certain centres transmit their energies via the right hand and others via the left. Much knowledge is therefore required in order to work scientifically.

Trong mối liên hệ này, cần ghi nhớ rằng vấn đề này rất trừu tượng, và một số mãnh lực cung đi theo con đường ít trở ngại nhất từ trái sang phải, còn những mãnh lực khác từ phải sang trái. Một số trung tâm truyền dẫn năng lượng của chúng qua bàn tay phải, và những trung tâm khác qua bàn tay trái. Vì vậy, cần có nhiều tri thức để làm việc một cách khoa học.

I have no time to take up in detail the meaning of the hands as they wield the sword, save to point out that the sword as a symbol stands for many things:

Tôi không có thời gian bàn chi tiết về ý nghĩa của đôi tay khi chúng vận dụng thanh gươm, ngoại trừ chỉ ra rằng thanh gươm, với tư cách là một biểu tượng, tượng trưng cho nhiều điều:

1. The sharp, two-edged sword is the discriminative faculty which reaches to the roots of the chela’s being and separates the real and true from the false and impermanent. It is wielded by the ego from the mental plane and is spoken of as the “Sword of cold blue steel.”

1. Thanh gươm sắc bén hai lưỡi là năng lực phân biện, vươn tới tận gốc rễ bản thể của đệ tử và tách điều thực và chân thật ra khỏi điều giả dối và vô thường. Nó được chân ngã vận dụng từ cõi trí, và được nói đến như “Thanh gươm bằng thép xanh lạnh”.

2. The sword of renunciation, or that double-bladed axe which the chela willingly applies to anything he considers as likely to hold him back from his goal. It is applied primarily to the things of the physical plane.

2. Thanh gươm của sự từ bỏ, hay chiếc rìu hai lưỡi mà đệ tử sẵn lòng áp vào bất cứ điều gì y xem là có thể giữ y lại khỏi mục tiêu. Nó được áp dụng chủ yếu vào các sự vật thuộc cõi hồng trần.

3. The sword of the Spirit is that weapon which in the hands of the disciple cuts down before the eyes of the group he is serving the obstacles which stand in the way of group progress. It is only wielded safely by those who have trained their arms to [578] wield the other swords and in the hands of an initiate is a most potent factor.

3. Thanh gươm của Tinh thần là vũ khí mà trong tay đệ tử, nó chặt đứt trước mắt nhóm mà y đang phụng sự những chướng ngại cản đường sự tiến bộ của nhóm. Nó chỉ được vận dụng an toàn bởi những người đã rèn luyện cánh tay mình để [578] vận dụng các thanh gươm khác, và trong tay một điểm đạo đồ, nó là một yếu tố mạnh mẽ nhất.

The Old Commentary to which reference has been oft times made says:

Cổ Luận, vốn đã nhiều lần được nhắc đến, nói rằng:

“The steel is needed for the transmission of the fire. When the force of the inner man is coupled with the energy transmitted through the chakras of the palms, it passeth down the shining blade and blendeth with the force of the One Who is the ALL. Thus is the Plan consumated.”

“Thép cần thiết cho việc truyền dẫn lửa. Khi mãnh lực của con người bên trong được kết hợp với năng lượng được truyền qua các luân xa trong lòng bàn tay, nó đi xuống theo lưỡi sáng chói và hòa nhập với mãnh lực của Đấng là TẤT CẢ. Nhờ vậy, Thiên Cơ được hoàn thành.”

And thus it might be added is the energy of the unit augmented by the force of the greater Whole.

Và như thế, có thể thêm rằng năng lượng của đơn vị được gia tăng bởi mãnh lực của Toàn Thể lớn lao hơn.

It is said in the occult books and likewise in The Secret Doctrine that all initiates must be healers; therefore, that all initiates use the palms of the hands in the work of healing. Only those therefore, who have wielded the sword dare lay the sword down and stand with empty hands, uplifted in blessing. Only the “armed hand” can safely be used in the work of salvation; only those who have “taken the kingdom of Heaven by force” and who are occultly known as the “Violent Ones” can take the heavenly supply and use it in the work of healing. This should be carefully borne in mind. The true healing force can only flow through those who in some degree either directly (by right of initiation or of advanced discipleship) or indirectly as being used on the inner side by some adept or advanced healer, are linked with the hierarchy. A man should know his status before he can rightly heal. This does not apply to those healers who are unconscious workers, being powerful transmitters of prana or solar vitality. Their name is legion and they do much good even though at times the energy they transmit serves to stimulate wrongly.

Trong các sách huyền bí, cũng như trong Giáo Lý Bí Nhiệm, có nói rằng mọi điểm đạo đồ đều phải là những người chữa lành; do đó, mọi điểm đạo đồ đều sử dụng lòng bàn tay trong công việc chữa lành. Vì vậy, chỉ những ai đã vận dụng thanh gươm mới dám đặt thanh gươm xuống và đứng với đôi tay trống không, giơ lên trong sự ban phước. Chỉ “bàn tay được trang bị” mới có thể được sử dụng an toàn trong công việc cứu độ; chỉ những ai đã “chiếm lấy Thiên Giới bằng mãnh lực” và được huyền bí học gọi là “Những Đấng Mãnh Liệt” mới có thể nhận lấy nguồn cung ứng thiên thượng và dùng nó trong công việc chữa lành. Điều này cần được ghi nhớ cẩn thận. Mãnh lực chữa lành chân chính chỉ có thể tuôn chảy qua những người, ở một mức độ nào đó, hoặc trực tiếp do quyền điểm đạo hoặc địa vị đệ tử tiến cao, hoặc gián tiếp vì được một chân sư hay một nhà chữa lành tiến cao sử dụng ở nội giới, có liên kết với Thánh đoàn. Một người phải biết địa vị của mình trước khi y có thể chữa lành đúng đắn. Điều này không áp dụng cho những nhà chữa lành là người hoạt động vô thức, vốn là các bộ truyền dẫn mạnh mẽ của prana hay sinh lực thái dương. Tên của họ đông vô số, và họ làm được nhiều điều tốt, dù đôi khi năng lượng họ truyền dẫn lại kích thích sai lầm.

As regards the use of the hands in turning keys I will simply give a hint. Only those hands can turn the key in the door of initiation who have learnt the art of the [579] centres”, the significance of the hands in service, the wielding of the swords, and the four positions in which the hands are held in group service.

Về việc dùng tay để xoay các chìa khóa, tôi chỉ đơn giản đưa ra một gợi ý. Chỉ những bàn tay nào đã học được nghệ thuật của các [579] trung tâm, thâm nghĩa của đôi tay trong phụng sự, việc vận dụng các thanh gươm, và bốn vị thế trong đó đôi tay được giữ trong phụng sự nhóm, mới có thể xoay chìa khóa nơi cánh cửa điểm đạo.

Study, therefore, the type of force which you usually wield; know along what line of ray energy it comes and so arrive at a truer knowledge of yourself and of your own inner capacities, and ascertain likewise what types of energy you may lack and how your equipment can be duly rounded out.

Vì vậy, hãy nghiên cứu loại mãnh lực mà các bạn thường vận dụng; hãy biết nó đến theo tuyến năng lượng cung nào, và nhờ đó đạt đến một tri thức chân thật hơn về chính mình và về các năng lực bên trong của mình; đồng thời hãy xác định những loại năng lượng nào các bạn có thể còn thiếu, và cách trang bị của các bạn có thể được làm cho tròn đầy đúng mức.

B. The quality of the force used is necessarily dependent upon the ray from which it may emanate. You ask me to differentiate between the words type and quality. I would say that the type of force indicates the life aspect, whilst the quality indicates the consciousness aspect, and that both of them are aspects of the entity or the being who is the embodiment of a ray. The type will manifest primarily through what we might call dynamic direction and through its power to produce an effect. This has, of course, to be coupled to right quality and skill in action. The quality will be indicated more by its power of attractive approach. It has in it more of the magnetic aspect than the type has. Students can arrive at the quality of the force they may be using by noticing what they attract to themselves, both in circumstances, in people, and in the reactions which people show to what the student may say or do. In the type there is a preponderance of the will aspect, in the quality the desire aspect is primarily to be found. It is profoundly true that according to a man’s desires so will be the forms of life which he will, like a magnet, attract to himself.

B. Phẩm tính của mãnh lực được dùng tất nhiên tùy thuộc vào cung mà từ đó nó có thể phát xuất. Các bạn yêu cầu tôi phân biệt giữa hai từ loại và phẩm tính. Tôi muốn nói rằng loại mãnh lực chỉ phương diện sự sống, trong khi phẩm tính chỉ phương diện tâm thức, và cả hai đều là các phương diện của thực thể hay hữu thể vốn là hiện thân của một cung. Loại sẽ biểu lộ chủ yếu qua điều mà chúng ta có thể gọi là sự định hướng năng động và qua quyền năng của nó trong việc tạo ra một hiệu quả. Dĩ nhiên, điều này phải được kết hợp với phẩm tính đúng đắn và kỹ năng trong hành động. Phẩm tính sẽ được biểu thị nhiều hơn bởi quyền năng tiếp cận có sức thu hút của nó. Trong nó có nhiều phương diện từ tính hơn so với loại. Các đạo sinh có thể đi đến phẩm tính của mãnh lực mà họ có thể đang sử dụng bằng cách quan sát những gì họ thu hút về phía mình, cả trong hoàn cảnh, nơi con người, và trong các phản ứng mà người khác biểu lộ trước điều đạo sinh có thể nói hoặc làm. Trong loại có sự vượt trội của phương diện ý chí; trong phẩm tính, phương diện ham muốn được thấy trước hết. Điều hết sức đúng là tùy theo các ham muốn của một người mà các hình tướng sự sống sẽ, như một nam châm, được y thu hút về phía mình.

C. The strength of a particular force brings us back to the Rule we are studying, for it involves in itself the factor of true persistence, and we have earlier seen that the emergence into functioning life and activity of any form is dependent upon the persistent attention of its [580] creator. Energy can be used dynamically or steadily and the effects of these two modes of the application of energy differ. One is primarily used in destructive work, and this is the dynamic method. There are, for instance, certain dynamic words of power which, when employed by the Creative Destroyers, bring about the destruction of forms. With these, however, aspirants have naught to do. Their important work is to learn the meaning of persistence and of strength. It is literally a time-persistence, and strength is beyond all other things the power to endure, to hold out, to stand steady, and to go forward undeterred. Study, therefore, most carefully the types dynamic, the quality magnetic, and the strength persistent of the forces which constitute your equipment. When you can wield, either destructively or constructively, either selfishly or selflessly, or in line with the Plan Universal, or the plan selfish and personal then you will work consciously and will knowingly tread the right or the left hand path.

C. Sức mạnh của một mãnh lực đặc thù đưa chúng ta trở lại với Quy Luật mà chúng ta đang nghiên cứu, vì trong chính nó có bao hàm yếu tố kiên trì chân thật, và trước đây chúng ta đã thấy rằng sự xuất hiện vào đời sống hoạt động và vận hành của bất cứ hình tướng nào đều tùy thuộc vào sự chú tâm bền bỉ của [580] đấng tạo ra nó. Năng lượng có thể được dùng một cách năng động hoặc đều đặn, và các hiệu quả của hai phương thức áp dụng năng lượng này khác nhau. Một phương thức được dùng chủ yếu trong công việc phá hủy, và đó là phương pháp năng động. Chẳng hạn, có một số Quyền năng từ năng động, khi được các Đấng Hủy Diệt Sáng Tạo sử dụng, sẽ đem lại sự hủy diệt các hình tướng. Tuy nhiên, những điều này không liên quan gì đến người chí nguyện. Công việc quan trọng của họ là học ý nghĩa của sự kiên trì và của sức mạnh. Theo nghĩa đen, đó là sự kiên trì theo thời gian, và trên hết mọi sự, sức mạnh là quyền năng chịu đựng, bền bỉ, đứng vững và tiến tới không nao núng. Vì vậy, hãy nghiên cứu một cách cẩn thận nhất loại năng động, phẩm tính từ tính, và sức mạnh bền bỉ của các mãnh lực cấu thành trang bị của các bạn. Khi các bạn có thể vận dụng, hoặc theo cách phá hoại hoặc xây dựng, hoặc ích kỷ hoặc vô ngã, hoặc phù hợp với Thiên Cơ Vũ Trụ, hoặc theo kế hoạch ích kỷ và cá nhân, khi ấy các bạn sẽ làm việc một cách có ý thức và sẽ bước đi một cách hiểu biết trên chánh đạo hoặc tả đạo.

D. The speed of the force used is dependent upon these three previous factors. Speed in this sense has no essential relation to time, though it is hard to find another word to use in the place of speed. It relates to the world of effects as they emanate from the world of causes. It has, perhaps, essentially a relation to truth, for the truer an impulse is and the clearer the understanding of the subjective purpose, so will the right direction and the impact of the force, follow automatically. Perhaps speed would be more correctly translated by the words “correct direction”, for where there is correct direction, true orientation, exact understanding of purpose and recognition of the type of force required, then there is an instantaneous effect. When the soul has registered the desired quality and possesses the strength of the Timeless One and the persistence of the One Who is from the beginning, the process of force expression and the relation [581] between cause and effect is spontaneous and simultaneous, and not sequential. This can scarcely be understood by those who have not yet the consciousness of the eternal Now. But this spontaneous and simultaneous effect is the clue to the entire magical work and in these four words—type, quality, strength and speed—the story of the work of a White Magician is told. But more I dare not give and it is not permitted to me to speak more clearly. Few are yet fitted to be magicians and few (perhaps fortunately) have as yet all the seven centres awakened so that they can work freely on the seven planes and with the seven types of the seven ray energies.

D. Tốc độ của mãnh lực được dùng tùy thuộc vào ba yếu tố trước đó. Tốc độ theo nghĩa này không có liên hệ cốt yếu với thời gian, mặc dù khó tìm một từ khác để dùng thay cho tốc độ. Nó liên quan đến thế giới các hiệu quả khi chúng phát xuất từ thế giới các nguyên nhân. Có lẽ, về bản chất, nó liên hệ với chân lý, vì một xung động càng chân thật và sự thấu hiểu mục đích chủ quan càng rõ ràng, thì hướng đi đúng và tác động của mãnh lực sẽ tự động theo sau. Có lẽ “tốc độ” sẽ được chuyển dịch chính xác hơn bằng các từ “hướng đi đúng”, vì nơi nào có hướng đi đúng, sự định hướng chân thật, sự thấu hiểu chính xác về mục đích và sự nhận biết loại mãnh lực cần thiết, thì nơi đó có hiệu quả tức thì. Khi linh hồn đã ghi nhận phẩm tính mong muốn và sở hữu sức mạnh của Đấng Vô Thời Gian cùng sự kiên trì của Đấng có từ ban đầu, thì tiến trình biểu lộ mãnh lực và mối liên hệ [581] giữa nguyên nhân và hiệu quả là tự phát và đồng thời, chứ không theo trình tự. Điều này hầu như không thể được thấu hiểu bởi những người chưa có tâm thức của Hiện Tại Vĩnh Cửu. Nhưng hiệu quả tự phát và đồng thời này là chìa khóa cho toàn bộ công việc huyền thuật, và trong bốn từ này: loại, phẩm tính, sức mạnh và tốc độ, câu chuyện về công việc của một nhà huyền thuật chánh đạo được kể lại. Nhưng tôi không dám trao thêm, và tôi không được phép nói rõ hơn. Ít người hiện nay đủ thích hợp để trở thành nhà huyền thuật, và ít người, có lẽ may thay, đã có đủ cả bảy trung tâm thức tỉnh để họ có thể làm việc tự do trên bảy cõi và với bảy loại năng lượng của bảy cung.

I would point out that these four aspects of energy can be studied by the aspirant in his own nature. On the physical plane he is apparently the initiating cause and as he works with these energies they will call forth a response and a reaction from those who feel the impact of them and who demonstrate their effect. It is true, therefore, is it not, that we work and live in a world of forces? We need no distant field or special domain in which to live and learn and work, for we dwell in a world of force and energy; we are ourselves constituted of force or energy units; and we wield force, knowingly or unknowingly, throughout the twenty-four hours of the day. The field of our occult training is the field of the world and the world of our peculiar circumstances and environment.

Tôi muốn chỉ ra rằng bốn phương diện năng lượng này có thể được người chí nguyện nghiên cứu trong chính bản chất của y. Trên cõi hồng trần, y dường như là nguyên nhân khởi phát, và khi y làm việc với các năng lượng này, chúng sẽ gợi lên một đáp ứng và một phản ứng từ những người cảm nhận tác động của chúng và biểu lộ hiệu quả của chúng. Do đó, có đúng chăng rằng chúng ta làm việc và sống trong một thế giới các mãnh lực? Chúng ta không cần một lĩnh vực xa xôi hay một phạm vi đặc biệt nào để sống, học hỏi và làm việc, vì chúng ta cư ngụ trong một thế giới của mãnh lực và năng lượng; chính chúng ta được cấu thành từ các đơn vị mãnh lực hay năng lượng; và chúng ta vận dụng mãnh lực, dù biết hay không biết, suốt hai mươi bốn giờ mỗi ngày. Lĩnh vực huấn luyện huyền bí của chúng ta là lĩnh vực của thế giới, và là thế giới của các hoàn cảnh cùng môi trường đặc thù của chúng ta.

Webinar 14-3

The Treading of the Way

Bước Đi Trên Đường Đạo

We have seen, as we have considered Rule XIV that, in the magical work, the critical point of objectivity has now been reached by the aspirant. He is endeavouring to become a magical creator and to accomplish two things:

Khi xem xét Quy Luật XIV, chúng ta đã thấy rằng trong công việc huyền thuật, điểm then chốt của tính khách quan nay đã được người chí nguyện đạt đến. Y đang cố gắng trở thành một nhà sáng tạo huyền thuật và hoàn thành hai điều:

1. Re-create his instrument or mechanism of contact, so that the solar Angel has a vehicle, adequate for [582] the expression of Reality. This involves, we noted, right type, quality, strength and speed.

1. Tái tạo công cụ hay bộ máy tiếp xúc của mình, để Thái dương Thiên Thần có một vận cụ thích đáng cho [582] sự biểu lộ của Thực Tại. Như chúng ta đã ghi nhận, điều này bao hàm loại, phẩm tính, sức mạnh và tốc độ đúng đắn.

2. Build those subsidiary forms of expression in the outer world through which the embodied Energy, flowing through the re-created sheaths, can serve the world.

2. Xây dựng những hình tướng biểu lộ phụ trợ trong thế giới bên ngoài, qua đó Năng Lượng nhập thể, tuôn chảy qua các lớp vỏ đã được tái tạo, có thể phụng sự thế giới.

In the first case, the aspirant is dealing with himself, working within his own circumference, and thus learning to know himself, to change himself and to rebuild his form aspect. In the other case, he is learning to be a server of the race, and to construct those forms of expression which will embody the new ideas, the emerging principles, and the new concepts which must govern and round out our racial progress.

Trong trường hợp thứ nhất, người chí nguyện đang xử lý chính mình, làm việc trong chu vi của riêng mình, và nhờ đó học biết chính mình, thay đổi chính mình và tái kiến tạo phương diện hình tướng của mình. Trong trường hợp kia, y đang học trở thành một người phụng sự nhân loại, và kiến tạo những hình tướng biểu lộ sẽ làm hiện thân cho các ý tưởng mới, các nguyên khí đang xuất hiện, và các khái niệm mới vốn phải chi phối và làm tròn đầy sự tiến bộ của nhân loại chúng ta.

Remember that no man is a disciple, in the Master’s sense of the word, who is not a pioneer. A registered response to spiritual truth, a realised pleasure in forward-looking ideals, and a pleased acquiescence in the truths of the New Age do not constitute discipleship. If it were so, the ranks of disciples would be rapidly filled and this is sadly not the case. It is the ability to arrive at an understanding of the next realisations which lie ahead of the human mind which marks the aspirant, who stands at the threshold of accepted discipleship; it is the power, wrought out in the crucible of strenuous inner experience, to see the immediate vision and to grasp those concepts in which the mind must necessarily clothe it, which give a man the right to be a recognised worker with the plan (recognised by the Great Ones, if not recognised by the world); it is the achievement of that spiritual orientation, held steadily—no matter what the outer disturbance in the physical plane life may be—that signifies to Those Who watch and seek for workers, that a man can be trusted to deal with some small aspect of Their undertaken work; it is the capacity to submerge [583] and to lose sight of the personal lower self in the task of world guidance, under soul impulse, which lifts a man out of the ranks of the aspiring mystics into those of the practical, though mystically minded, occultists.

Hãy nhớ rằng không ai là đệ tử, theo nghĩa mà Chân sư dùng từ này, nếu người ấy không phải là một người tiên phong. Một đáp ứng đã được ghi nhận đối với chân lý tinh thần, một niềm vui đã được nhận biết trong các lý tưởng hướng về phía trước, và sự thuận nhận vui vẻ các chân lý của Kỷ Nguyên Mới không cấu thành địa vị đệ tử. Nếu là như vậy, hàng ngũ đệ tử sẽ nhanh chóng được lấp đầy, và đáng buồn thay, sự thật không phải thế. Chính khả năng đi đến sự thấu hiểu các chứng nghiệm kế tiếp đang nằm phía trước thể trí nhân loại là điều đánh dấu người chí nguyện đang đứng tại ngưỡng cửa của địa vị đệ tử được chấp nhận; chính quyền năng, được rèn luyện trong lò thử thách của kinh nghiệm nội tâm căng thẳng, để thấy linh ảnh trước mắt và nắm bắt các khái niệm mà thể trí nhất thiết phải khoác lên nó, là điều đem lại cho một người quyền được là một người hoạt động được công nhận với Thiên Cơ, được Các Đấng Cao Cả công nhận, dù thế giới có thể không công nhận; chính sự đạt được định hướng tinh thần ấy, được giữ vững không lay chuyển, bất kể sự xáo trộn bên ngoài trong đời sống cõi hồng trần có thể là gì, là điều báo hiệu cho Những Đấng đang quan sát và tìm kiếm người hoạt động rằng một người có thể được tin cậy để xử lý một phương diện nhỏ nào đó trong công việc mà Các Ngài đảm trách; chính khả năng nhấn chìm [583] và đánh mất khỏi tầm nhìn phàm ngã cá nhân trong nhiệm vụ hướng dẫn thế giới, dưới xung động của linh hồn, là điều nâng một người ra khỏi hàng ngũ các nhà thần bí chí nguyện để bước vào hàng ngũ các nhà huyền bí học thực tiễn, dù có khuynh hướng thần bí.

This is an intensely practical work, on which we are engaged; it is likewise of such proportions that it will occupy all of a man’s attention and time, even his entire thought life, and will lead him to efficient expression in his personality task (imposed by karmic limitation and inherited tendency) and to a steadfast application of the creative and magical work. Discipleship is a synthesis of hard work, intellectual unfoldment, steady aspiration and spiritual orientation, plus the unusual qualities of positive harmlessness and the opened eye which sees at will into the world of reality.

Đây là một công việc hết sức thực tiễn mà chúng ta đang dấn thân vào; đồng thời, nó có tầm vóc đến mức sẽ chiếm trọn mọi chú tâm và thời gian của một người, thậm chí toàn bộ đời sống tư tưởng của y, và sẽ dẫn y đến sự biểu lộ hữu hiệu trong nhiệm vụ phàm ngã của mình, vốn được áp đặt bởi giới hạn nghiệp quả và khuynh hướng thừa hưởng, cũng như đến sự áp dụng vững bền công việc sáng tạo và huyền thuật. Địa vị đệ tử là sự tổng hợp của lao động gian khổ, sự khai mở trí tuệ, khát vọng bền bỉ và định hướng tinh thần, cộng thêm các phẩm tính khác thường của tính vô tổn hại tích cực và con mắt đã mở, có thể tùy ý nhìn vào thế giới của thực tại.

Certain considerations should be brought to the notice of the disciple which—for the sake of clarity—we will tabulate. To become an adept it will be necessary for the disciple to:

Một số điều cần được đưa đến sự chú ý của đệ tử, và để rõ ràng, chúng ta sẽ liệt kê. Để trở thành một chân sư, đệ tử cần phải:

1. Enquire the Way.

1. Tìm hỏi Đường Đạo.

2. Obey the inward impulses of the soul.

2. Tuân theo các xung động bên trong của linh hồn.

3. Pay no attention to any worldly consideration.

3. Không chú ý đến bất cứ cân nhắc thế gian nào.

4. Live a life which is an example to others.

4. Sống một đời sống làm gương cho người khác.

These four requirements may sound at the first superficial reading as easy of accomplishment, but if carefully studied it will become apparent why an adept is a “rare efflorescence of a generation of enquirers.” Let us take up each of these four points:

Bốn yêu cầu này khi đọc qua lần đầu có thể nghe như dễ thực hiện, nhưng nếu được nghiên cứu cẩn thận, sẽ thấy rõ vì sao một chân sư là “bông hoa hiếm hoi của một thế hệ những người tìm hỏi”. Chúng ta hãy bàn từng điểm trong bốn điểm này:

1. Enquire the Way. We are told by one of the Masters that a whole generation of enquirers may only produce one adept. Why should this be so? For two reasons:

1. Tìm hỏi Đường Đạo. Một trong các Chân sư cho chúng ta biết rằng cả một thế hệ những người tìm hỏi có thể chỉ tạo ra một chân sư. Vì sao lại như vậy? Vì hai lý do:

First, the true enquirer is one who avails himself of the wisdom of his generation, who is the best product of his own period and yet who remains unsatisfied and with the [584] inner longing for wisdom unappeased. To him there appears to be something of more importance than knowledge and something of greater moment than the accumulated experience of his own period and time. He recognises a step further on and seeks to take it in order to gain something to add to the quota already gained by his compeers. Nothing satisfies him until he finds the Way, and nothing appeases the desire at the centre of his being except that which is found in the house of his Father. He is what he is because he has tried all lesser ways and found them wanting, and has submitted to many guides only to find them “blind leaders of the blind”. Nothing is left to him but to become his own guide and find his own way home alone. In the loneliness which is the lot of every true disciple are born that self-knowledge and self-reliance which will fit him in his turn to be a Master. This loneliness is not due to any separative spirit but to the conditions of the Way itself. Aspirants must carefully bear this distinction in mind.

Thứ nhất, người tìm hỏi chân chính là người tận dụng minh triết của thế hệ mình, là sản phẩm tốt đẹp nhất của thời kỳ mình, nhưng vẫn không thỏa mãn và nỗi [584] khao khát bên trong về minh triết vẫn chưa được xoa dịu. Đối với y, dường như có điều gì đó quan trọng hơn tri thức, và có điều gì đó trọng đại hơn kinh nghiệm tích lũy của chính thời kỳ và thời đại y. Y nhận ra một bước xa hơn ở phía trước và tìm cách thực hiện bước ấy để đạt được điều gì đó bổ sung vào phần đã được các bạn đồng hành của y đạt tới. Không điều gì thỏa mãn y cho đến khi y tìm thấy Đường Đạo, và không điều gì làm dịu niềm ham muốn nơi trung tâm bản thể y ngoại trừ điều được tìm thấy trong nhà của Cha y. Y là như thế vì y đã thử mọi con đường thấp hơn và thấy chúng thiếu sót, và đã phó mình cho nhiều người hướng dẫn chỉ để thấy họ là “những kẻ mù dẫn dắt người mù”. Không còn gì cho y ngoài việc trở thành người hướng dẫn của chính mình và một mình tìm đường về nhà đơn độc. Trong sự cô độc vốn là số phận của mọi đệ tử chân chính, sự tự tri và tự lực được sinh ra, và những điều này đến lượt chúng sẽ làm cho y thích hợp để trở thành một Chân sư. Sự cô độc này không do bất cứ tinh thần chia rẽ nào, mà do chính các điều kiện của Đường Đạo. Người chí nguyện phải ghi nhớ cẩn thận sự phân biệt này.

Secondly, the true enquirer is one whose courage is of that rare kind which enables its possessor to stand upright and to sound his own clear note in the very midst of the turmoil of the world. He is one who has the eye trained to see beyond the fogs and miasmas of the earth to that centre of peace which presides over all earth’s happenings, and that trained attentive ear which (having caught a whisper of the Voice of the Silence) is kept tuned to that high vibration and is thus deaf to all lesser alluring voices. This again brings loneliness and produces that aloofness which all less evolved souls feel when in the presence of those who are forging ahead.

Thứ hai, người tìm hỏi chân chính là người có lòng can đảm thuộc loại hiếm hoi, cho phép người sở hữu nó đứng thẳng và xướng lên âm điệu trong trẻo của chính mình ngay giữa cơn hỗn loạn của thế giới. Y là người có con mắt đã được rèn luyện để nhìn vượt qua sương mù và uế khí của Trái Đất đến trung tâm bình an vốn chủ trì mọi biến cố của Trái Đất, và có đôi tai chăm chú đã được rèn luyện, sau khi bắt được một tiếng thì thầm của Tiếng Nói của Im Lặng, vẫn giữ mình hòa điệu với rung động cao ấy và do đó điếc trước mọi tiếng gọi quyến rũ thấp hơn. Điều này lại đem đến sự cô độc và tạo ra sự cách biệt mà mọi linh hồn kém tiến hóa hơn cảm thấy khi ở trong sự hiện diện của những người đang tiến lên phía trước.

A paradoxical situation is brought about from the fact that the disciple is told to enquire the Way and yet there is none to tell him. Those who know the Way may not speak, knowing that the Path is constructed by the aspirant as the spinner spins its web out of the centre [585] of his own being. Thus only those souls flower forth into adepts in any specific generation who have “trodden the winepress of the wrath of God alone” or who (in other words) have worked out their karma alone and who have intelligently taken up the task of treading the Path.

Một tình trạng nghịch lý được tạo ra từ sự kiện rằng đệ tử được bảo phải tìm hỏi Đường Đạo, nhưng lại không có ai nói cho y biết. Những ai biết Đường Đạo không thể nói, vì biết rằng Đường Đạo được người chí nguyện kiến tạo như con nhện dệt tấm mạng của nó từ trung tâm [585] bản thể của chính mình. Do đó, chỉ những linh hồn nào trong bất cứ thế hệ đặc thù nào đã “một mình giẫm đạp bàn ép rượu của cơn thịnh nộ của Thượng đế”, hay nói cách khác, đã tự mình giải quyết nghiệp quả của mình và đã thông minh đảm nhận nhiệm vụ bước đi trên Đường Đạo, mới nở hoa thành các chân sư.

2. Obey the inward impulses of the soul. Well do the teachers of the race instruct the budding initiate to practise discrimination and train him in the arduous task of distinguishing between:

2. Tuân theo các xung động bên trong của linh hồn. Các huấn sư của nhân loại đã dạy rất đúng khi chỉ dẫn điểm đạo đồ đang chớm nở thực hành phân biện và rèn luyện y trong nhiệm vụ gian khổ là phân biệt giữa:

a. Instinct and intuition.

a. Bản năng và trực giác.

b. Higher and lower mind.

b. Thượng trí và hạ trí.

c. Desire and spiritual impulse.

c. Ham muốn và xung động tinh thần.

d. Selfish aspiration and divine incentive.

d. Khát vọng ích kỷ và động lực thiêng liêng.

e. The urge emanating from the lunar lords, and the unfoldment of the solar Lord.

e. Sự thúc đẩy phát xuất từ các nguyệt tinh quân, và sự khai mở của nhật tinh quân.

It is no easy or flattering task to find oneself out and to discover that perhaps even the service we have rendered and our longing to study and work has had a basically selfish origin, and resting on a desire for liberation or a distaste for the humdrum duties of everyday. He who seeks to obey the impulses of the soul has to cultivate an accuracy of summation and a truthfulness with himself which is rare indeed these days. Let him say to himself “I must to my own Self be true” and in the private moments of his life and in the secrecy of his own meditation let him not gloss over one fault, nor excuse himself along a single line. Let him learn to diagnose his own words, deeds, and motives, and to call things by their true names. Only thus will he train himself in spiritual discrimination and learn to recognise truth in all things. Only thus will the reality be arrived at and the true self known.

Không dễ dàng hay dễ chịu chút nào khi khám phá ra chính mình và phát hiện rằng có lẽ ngay cả sự phụng sự mà chúng ta đã hiến dâng, cũng như niềm khao khát học hỏi và làm việc của chúng ta, về căn bản đã có nguồn gốc ích kỷ, và đặt nền trên ham muốn được giải thoát hoặc sự chán ghét những bổn phận tẻ nhạt hằng ngày. Người nào tìm cách tuân theo các xung động của linh hồn phải vun bồi một sự chính xác trong tổng kết và một sự chân thật với chính mình, điều quả thật hiếm có trong những ngày này. Hãy để y tự nói với mình: “Tôi phải chân thật với Chính Mình”, và trong những khoảnh khắc riêng tư của đời sống y, trong sự kín nhiệm của chính sự tham thiền của y, y đừng che đậy một lỗi lầm nào, cũng đừng tự bào chữa theo bất cứ đường lối nào. Hãy để y học chẩn đoán lời nói, hành vi và động cơ của chính mình, và gọi sự vật bằng đúng tên của chúng. Chỉ như thế y mới tự rèn luyện trong sự phân biện tinh thần và học nhận biết chân lý trong mọi sự. Chỉ như thế mới đạt đến thực tại và biết được chân ngã.

3. Pay no consideration to the prudential considerations of worldly science and sagacity. If the aspirant has need to cultivate a capacity to walk alone, if he has to [586] develop the ability to be truthful in all things, he has likewise need to cultivate courage. It will be needful for him to run counter consistently to the world’s opinion, and to the very best expression of that opinion, and this with frequency. He has to learn to do the right thing as he sees and knows it, irrespective of the opinion of earth’s greatest and most quoted. He must depend upon himself and upon the conclusions he himself has come to in his moments of spiritual communion and illumination. It is here that so many aspirants fail. They do not do the very best they know; they fail to act in detail as their inner voice tells them; they leave undone certain things which they are prompted to do in their moments of meditation, and fail to speak the word which their spiritual mentor, the Self, urges them to speak. It is in the aggregate of these unaccomplished details that the big failures are seen.

3. Không chú ý đến những cân nhắc thận trọng của khoa học và sự khôn ngoan thế gian. Nếu người chí nguyện cần vun bồi khả năng bước đi một mình, nếu y phải [586] phát triển năng lực chân thật trong mọi sự, thì y cũng cần vun bồi lòng can đảm. Y sẽ cần thường xuyên và nhất quán đi ngược lại ý kiến của thế gian, và cả sự biểu lộ tốt đẹp nhất của ý kiến ấy. Y phải học làm điều đúng như y thấy và biết, bất kể ý kiến của những người vĩ đại nhất và được trích dẫn nhiều nhất trên Trái Đất. Y phải nương tựa vào chính mình và vào các kết luận mà chính y đã đi đến trong những khoảnh khắc giao cảm tinh thần và soi sáng. Chính ở đây rất nhiều người chí nguyện thất bại. Họ không làm điều tốt nhất mà họ biết; họ không hành động trong từng chi tiết như tiếng nói bên trong bảo họ; họ bỏ không làm một số điều mà họ được thúc đẩy làm trong những khoảnh khắc tham thiền, và không nói lời mà vị cố vấn tinh thần của họ, Chân Ngã, thôi thúc họ nói. Chính trong tổng số những chi tiết chưa được hoàn thành này mà các thất bại lớn được nhìn thấy.

There are no trifles in the life of the disciple and an unspoken word or unfulfilled action may prove the factor which is holding a man from initiation.

Không có điều gì nhỏ nhặt trong đời sống của đệ tử, và một lời không nói ra hay một hành động không được thực hiện có thể chứng tỏ là yếu tố giữ một người lại khỏi điểm đạo.

4. Live a life which is an example to others. Is it necessary for me to enlarge upon this? It seems as if it should not be and yet here again is where men fail. What after all is group service? Simply the life of example. He is the best exponent of the Ageless Wisdom who lives each day in the place where is the life of the disciple; he does not live it in the place where he thinks he should be. Perhaps after all the quality which produces the greatest number of failures among aspirants to adeptship is cowardice. Men fail to make good where they are because they find some reason which makes them think they should be elsewhere. Men run away, almost unrealising it, from difficulty, from inharmonious conditions, from places which involve problems, and from circumstances which call for action of a high sort and which are staged to draw out the best that is in a man, [587] provided he stays in them. They flee from themselves and from other people, instead of simply living the life.

4. Sống một đời sống làm gương cho người khác. Có cần tôi mở rộng về điều này không? Dường như không cần, nhưng ở đây một lần nữa chính là nơi con người thất bại. Rốt cuộc, phụng sự nhóm là gì? Đơn giản là đời sống nêu gương. Người diễn giải tốt nhất Minh Triết Ngàn Đời là người sống mỗi ngày tại nơi đời sống của đệ tử đang hiện hữu; y không sống đời sống ấy ở nơi y nghĩ rằng mình nên ở. Có lẽ, sau cùng, phẩm tính gây ra số lượng thất bại lớn nhất trong số những người chí nguyện đến địa vị chân sư là sự hèn nhát. Con người không làm tốt tại nơi họ đang ở vì họ tìm ra một lý do nào đó khiến họ nghĩ rằng họ nên ở nơi khác. Hầu như không nhận ra, con người chạy trốn khỏi khó khăn, khỏi các điều kiện bất hòa, khỏi những nơi liên quan đến vấn đề, và khỏi các hoàn cảnh đòi hỏi hành động thuộc loại cao cả, những hoàn cảnh được sắp đặt để rút ra điều tốt nhất có trong một người, [587] miễn là y ở lại trong đó. Họ chạy trốn khỏi chính mình và khỏi người khác, thay vì đơn giản sống đời sống.

The adept speaks no word which can hurt, harm or wound. Therefore he has had to learn the meaning of speech in the midst of life’s turmoil. He wastes no time in self pity or self justification for he knows the law has placed him where he is, and where he best can serve, and has learnt that difficulties are ever of a man’s own making and the result of his own mental attitude. If the incentive to justify himself occurs he recognises it as a temptation to be avoided. He realises that each word spoken, each deed undertaken and every look and thought has its effect for good or for evil upon the group.

Chân sư không nói lời nào có thể làm đau, gây hại hay gây thương tổn. Vì vậy, Ngài đã phải học ý nghĩa của lời nói ngay giữa cơn hỗn loạn của đời sống. Ngài không lãng phí thời gian vào sự tự thương hại hay tự biện minh, vì Ngài biết định luật đã đặt Ngài ở nơi Ngài đang ở, nơi Ngài có thể phụng sự tốt nhất, và Ngài đã học rằng khó khăn luôn do chính con người tạo ra và là kết quả của thái độ trí tuệ của chính y. Nếu động lực tự biện minh nảy sinh, Ngài nhận ra đó là một cám dỗ cần tránh. Ngài nhận biết rằng mỗi lời nói ra, mỗi việc làm được thực hiện, và mỗi ánh nhìn cùng tư tưởng đều có hiệu quả thiện hoặc ác đối với nhóm.

Is it not apparent therefore why so few achieve and so many fail?

Vì vậy, chẳng phải đã rõ vì sao rất ít người đạt được, còn rất nhiều người thất bại sao?