← A Treatise on White Magic – Alice A. Bailey

Webinar 14-4

Webinar 14-4

The Awakening of the Centres— Sự Thức Tỉnh của các Trung Tâm

Speaking more technically and therefore warranting the use of the word Instructions in connection with this treatise for aspirants and disciples, it must be carefully borne in mind that the main task of the aspirant is the handling of energies, both in himself and in the world of physical phenomena and externalisation. This consequently involves an understanding of the centres and of their awakening. But understanding must come first, and the awakening at a much later date in the sequence of time. This awakening will fall into two stages:

Nói một cách kỹ thuật hơn, và do đó biện minh cho việc dùng từ Giáo Huấn liên quan đến khảo luận này dành cho người chí nguyện và đệ tử, cần ghi nhớ cẩn thận rằng nhiệm vụ chính của người chí nguyện là xử lý các năng lượng, cả trong chính y lẫn trong thế giới của các hiện tượng hồng trần và sự ngoại hiện. Vì vậy, điều này bao hàm sự thấu hiểu các trung tâm và sự thức tỉnh của chúng. Nhưng sự thấu hiểu phải đến trước, còn sự thức tỉnh đến muộn hơn nhiều trong trình tự thời gian. Sự thức tỉnh này sẽ rơi vào hai giai đoạn:

First, there is the stage wherein, by the practice of a disciplined life and by the purification of the thought life, the seven centres are automatically brought into a right condition of rhythm, vitality and vibratory activity. This stage involves no danger and there is no directed thought—in connection with the centres—permitted to the aspirant. By that I mean he is not allowed to concentrate his mind upon any one centre, nor may he seek to awaken or energise them. He must remain engrossed with the [588] problem of purifying the bodies in which the centres are found, which are primarily the astral, etheric and physical bodies, remembering ever that the endocrine system and the seven major glands, in particular, are the effectual externalisations of the seven major centres. In this stage, the aspirant is working all around the centres and is dealing with their environing matter and with the living substance which completely surrounds them. This is all that can be safely undertaken by the majority, and it is with this stage that the bulk of the aspirants in the world today are engaged and with which they must remain engaged for a long time to come.

Trước hết, có giai đoạn trong đó, nhờ thực hành một đời sống có kỷ luật và nhờ thanh lọc đời sống tư tưởng, bảy trung tâm tự động được đưa vào một trạng thái đúng đắn về nhịp điệu, sinh lực và hoạt động rung động. Giai đoạn này không hàm chứa nguy hiểm nào, và người chí nguyện không được phép có tư tưởng định hướng — liên quan đến các trung tâm. Nói như vậy, tôi muốn nói rằng y không được phép tập trung thể trí vào bất cứ một trung tâm nào, cũng không được tìm cách đánh thức hay tiếp sinh lực cho chúng. Y phải tiếp tục chuyên chú vào vấn đề [588] thanh lọc các thể trong đó các trung tâm được tìm thấy, mà chủ yếu là thể cảm dục, thể dĩ thái và thể xác, luôn nhớ rằng hệ nội tiết và, đặc biệt, bảy tuyến chính là những ngoại hiện hữu hiệu của bảy trung tâm chính. Trong giai đoạn này, người chí nguyện làm việc chung quanh các trung tâm và đang xử lý vật chất bao quanh chúng cũng như chất liệu sống hoàn toàn vây quanh chúng. Đây là tất cả những gì đa số người có thể đảm nhận một cách an toàn, và chính với giai đoạn này mà phần lớn những người chí nguyện trên thế giới hiện nay đang bận tâm, và họ phải còn tiếp tục bận tâm trong một thời gian dài sắp tới.

Secondly, there is the stage wherein the centres, through the effective work of the earlier stage, become what is esoterically called “released within the prison house”; they can now become the subject (under proper direction by a teacher) of definite methods of awakening and of charging, —the methods differing according to the ray, personality and egoic, of the aspirant. Hence the difficulty of the subject and the impossibility of giving general and blanket rules.

Thứ hai, có giai đoạn trong đó các trung tâm, nhờ công việc hữu hiệu của giai đoạn trước, trở thành cái mà một cách huyền bí được gọi là “được giải phóng trong nhà tù”; bấy giờ chúng có thể trở thành đối tượng, dưới sự hướng dẫn đúng đắn của một huấn sư, của những phương pháp đánh thức và nạp năng lượng xác định — các phương pháp khác nhau tùy theo cung, cung phàm ngã và cung chân ngã của người chí nguyện. Do đó có sự khó khăn của vấn đề và sự bất khả trong việc đưa ra những quy luật tổng quát, bao trùm.

It is interesting here to note, even though it has no bearing on the matter of personal training, that this method, first of a long period of purification and later of energising scientifically, is the one employed by the guiding hierarchy which stands behind world affairs. Steadily They have been working at the task of clarifying world matter, and bringing about world purification on a large scale. This is the first stage of the work and only became generally possible when man became a more truly thinking entity, during the past few centuries, on a wide level. This purification is going on now in all departments of human existence, for humanity now stands, or rather three-fifths of it stands, on the path of probation. Through welfare and uplift movements and the wide spread of sanitation, the work goes forward [589] on the physical plane; through political upheavals which reveal abuses; through economic discontent which is after all a striving to change that which is undesirable so as to give the human unit conditions of living which will lead to thought and from thought to soul control; through religious propaganda and the efforts of the many organisations and groups throughout the world which hold before the minds of men what I might symbolically call “the hope of Heaven” (using the word “Heaven” as a symbol of perfection and of purity), the work of this stage is going steadily forward. So successful has it been that now the filth and impurities which surround the world soul and which keep humanity from its true expression are known and recognised and there is consequently a steady drive towards betterment. All has been brought to the surface, and the result seems appalling and uncontrollable to those who only see the surface. But underneath, the deep river of purity and truth is flowing strong.

Ở đây, điều đáng lưu ý, dù không liên quan đến vấn đề huấn luyện cá nhân, là phương pháp này — trước hết là một thời kỳ dài thanh lọc, rồi sau đó là tiếp sinh lực một cách khoa học — chính là phương pháp được Thánh đoàn hướng dẫn, đứng phía sau các sự vụ thế giới, sử dụng. Các Ngài đã bền bỉ làm việc trong nhiệm vụ làm trong sạch vật chất thế giới, và đem lại sự thanh lọc thế giới trên quy mô rộng lớn. Đây là giai đoạn thứ nhất của công việc, và chỉ trở nên khả hữu một cách phổ quát khi con người, trong vài thế kỷ qua, trở thành một thực thể tư duy chân thật hơn trên bình diện rộng. Sự thanh lọc này hiện đang diễn ra trong mọi lĩnh vực của đời sống nhân loại, vì nhân loại hiện nay đứng, hay đúng hơn ba phần năm nhân loại đứng, trên Con Đường Dự Bị. Qua các phong trào phúc lợi và nâng cao đời sống, cùng sự lan rộng của vệ sinh công cộng, công việc tiến tới [589] trên cõi hồng trần; qua những biến động chính trị phơi bày các lạm dụng; qua sự bất mãn kinh tế, rốt cuộc là một nỗ lực nhằm thay đổi những gì không đáng mong muốn để đem lại cho đơn vị nhân loại những điều kiện sống dẫn đến tư tưởng, và từ tư tưởng đến sự kiểm soát của linh hồn; qua tuyên truyền tôn giáo và các nỗ lực của nhiều tổ chức, đoàn thể trên khắp thế giới, vốn đặt trước thể trí của con người điều mà tôi có thể gọi một cách biểu tượng là “niềm hy vọng về Thiên Đàng”, dùng từ “Thiên Đàng” như một biểu tượng của sự hoàn thiện và thanh khiết, công việc của giai đoạn này đang đều đặn tiến tới. Nó đã thành công đến mức hiện nay những dơ bẩn và bất tịnh bao quanh linh hồn thế giới, và ngăn cản nhân loại biểu lộ chân thật, đều được biết đến và nhận ra; do đó có một sức thúc đẩy bền bỉ hướng tới sự cải thiện. Tất cả đã được đưa lên bề mặt, và kết quả có vẻ kinh hoàng, không thể kiểm soát đối với những ai chỉ thấy bề mặt. Nhưng bên dưới, dòng sông sâu của sự thanh khiết và chân lý đang tuôn chảy mạnh mẽ.

One evidence of the success of the world movement towards pure living and the destruction of that which hinders is that the work of the second stage is now in process of initiation. The hierarchy, for the first time in world history, can now work directly with the centres in the body of humanity. Thus we have now the formation of the new Group of World Workers, who, in their totality throughout the world, constitute the heart centre and the “centre between the eyebrows” of the etheric body of the human family. Through the one, spiritual life can begin to flow in and vitalise all the centres, and through the other, the vision can be seen and the inner worlds sensed and known.

Một bằng chứng về sự thành công của phong trào thế giới hướng tới đời sống thanh khiết và sự hủy diệt những gì cản trở là công việc của giai đoạn thứ hai hiện đang bắt đầu tiến trình khai mở. Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, Thánh đoàn nay có thể làm việc trực tiếp với các trung tâm trong thân thể nhân loại. Vì thế hiện nay chúng ta có sự hình thành của Đoàn Người Hoạt Động Mới của Thế Gian, mà trong toàn thể trên khắp thế giới, họ tạo thành trung tâm tim và “trung tâm giữa hai chân mày” của thể dĩ thái của gia đình nhân loại. Qua trung tâm này, sự sống tinh thần có thể bắt đầu tuôn vào và tiếp sinh lực cho tất cả các trung tâm; và qua trung tâm kia, tầm nhìn có thể được thấy, còn các cõi bên trong có thể được cảm nhận và nhận biết.

I would here like to point out two other matters, and so clarify the entire situation. There is much confusion on the subject of the centres and much erroneous teaching [590] leading many astray and causing a great deal of misapprehension.

Ở đây tôi muốn chỉ ra hai vấn đề khác, và nhờ vậy làm sáng tỏ toàn bộ tình thế. Có nhiều nhầm lẫn về chủ đề các trung tâm, và nhiều giáo huấn sai lạc [590] đang dẫn nhiều người lạc đường, gây nên rất nhiều hiểu lầm.

First, I would state that no work such as an effort to awaken the centres should ever be undertaken whilst the aspirant is aware of definite impurities in his life, or when the physical body is in poor condition or is diseased. Neither should it be undertaken when the pressure of external circumstances is such that there is no place or opportunity for quiet and uninterrupted work. It is essential that for the immediate and focussed work on the centres there should be the possibility of hours of seclusion and of freedom from interruption. This I cannot too strongly emphasise, and I do so in order to demonstrate to the eager student that at this period of our history there are few whose lives permit of this seclusion. This is however a most beneficent circumstance and not one to be deplored. Only one in a thousand aspirants is at the stage where he should begin to work with the energy in his centres and perhaps even this estimate is too optimistic. Better far that the aspirant serves and loves and works and disciplines himself, leaving his centres to develop and unfold more slowly and therefore more safely. Unfold they inevitably will and the slower and safer method is (in the vast majority of cases) the more rapid. Premature unfoldment involves much loss of time, and carries with it often the seeds of prolonged trouble.

Trước hết, tôi xin nói rằng không bao giờ nên thực hiện bất cứ công việc nào như nỗ lực đánh thức các trung tâm khi người chí nguyện còn nhận biết những bất tịnh rõ rệt trong đời sống của mình, hoặc khi thể xác ở trong tình trạng kém hay đang bệnh. Cũng không nên thực hiện điều đó khi áp lực của hoàn cảnh bên ngoài đến mức không có nơi chốn hay cơ hội cho công việc yên tĩnh, không bị gián đoạn. Điều thiết yếu là đối với công việc trực tiếp và tập trung trên các trung tâm, phải có khả năng dành nhiều giờ ẩn cư và thoát khỏi sự quấy nhiễu. Tôi không thể nhấn mạnh điều này quá mạnh, và tôi làm như vậy để cho đạo sinh nhiệt thành thấy rằng, trong thời kỳ lịch sử hiện nay của chúng ta, chỉ có ít người mà đời sống cho phép sự ẩn cư này. Tuy nhiên, đây là một hoàn cảnh hết sức có lợi, chứ không phải điều đáng than tiếc. Chỉ một trong một nghìn người chí nguyện đang ở giai đoạn mà y nên bắt đầu làm việc với năng lượng trong các trung tâm của mình, và có lẽ ngay cả ước lượng này cũng còn quá lạc quan. Tốt hơn rất nhiều là người chí nguyện phụng sự, yêu thương, làm việc và tự rèn luyện kỷ luật, để các trung tâm của y phát triển và khai mở chậm hơn, và do đó an toàn hơn. Chúng tất yếu sẽ khai mở, và phương pháp chậm hơn, an toàn hơn, trong đại đa số trường hợp, lại là phương pháp nhanh hơn. Sự khai mở non sớm kéo theo nhiều mất mát thời gian, và thường mang trong nó những mầm mống của rắc rối kéo dài.

Over-stimulation of the brain cells is necessarily one of the results of the merging, by an act of will, of the fires which circulate in the human body. Such stimulation can produce insanity and the breaking down of the cellular structure of the brain, and through the over-activity of the cell life can also induce that internal friction between them which will eventuate in brain tumors and abscesses. This cannot be too strongly reiterated.

Sự kích thích quá độ các tế bào não tất yếu là một trong các kết quả của việc, bằng một hành vi của ý chí, hòa nhập các lửa lưu chuyển trong thân thể con người. Sự kích thích như thế có thể tạo ra điên loạn và sự suy sụp cấu trúc tế bào của bộ não, và qua hoạt động quá mức của đời sống tế bào cũng có thể gây ra sự ma sát nội tại giữa chúng, cuối cùng dẫn đến các khối u và áp-xe trong não. Điều này không thể được lặp lại quá mạnh.

The underlying objective in all laya yoga work (or [591] work with the centres) is based upon the fact that the energy of the cells which compose the body or the matter aspect (called in The Secret Doctrine, and in A Treatise on Cosmic Fire, “fire by friction”) must be blended with the fire of consciousness. This latter is the energy, present in matter yet different from the fire of matter itself, which underlies the entire nervous system and because it so underlies it produces sensitivity and awareness. It is the cause of response to contact and confers the ability to register and record impression, as you well know. This fire is technically called “solar fire”, and when it blends with the fire of matter and with the “electric fire” of the highest divine aspect, then man’s being comes into its fullest manifestation and the great work is completed. But it is a most dangerous undertaking, when induced before the mechanism is ready to deal with it.

Mục tiêu nền tảng trong mọi công việc du-già tiêu dung, hay [591] công việc với các trung tâm, dựa trên sự kiện rằng năng lượng của các tế bào cấu thành thân thể, hay phương diện vật chất, được gọi trong Giáo Lý Bí Nhiệm và trong Luận về Lửa Vũ Trụ, là “lửa ma sát”, phải được hòa trộn với lửa của tâm thức. Loại lửa sau này là năng lượng hiện diện trong vật chất nhưng khác với lửa của chính vật chất; nó nằm dưới toàn bộ hệ thần kinh, và vì nằm dưới như thế nên tạo ra sự nhạy cảm và nhận biết. Nó là nguyên nhân của sự đáp ứng với tiếp xúc và ban cho khả năng ghi nhận, ghi lại ấn tượng, như các bạn đều biết rõ. Lửa này về mặt kỹ thuật được gọi là “Lửa Thái dương”, và khi nó hòa trộn với lửa của vật chất và với “Lửa Điện” của phương diện thiêng liêng cao nhất, bấy giờ bản thể của con người đi vào sự biểu hiện đầy đủ nhất của nó, và công trình vĩ đại được hoàn tất. Nhưng đó là một việc làm hết sức nguy hiểm khi được khơi dậy trước khi bộ máy sẵn sàng xử lý nó.

This triple blending can only be safely undertaken by the highly organised and rounded-out person, and by one who has achieved the capacity to focus his attention in the head and from that high point direct the entire process of fusion. It involves the ability to withdraw the consciousness literally into the etheric body and yet at the same time to preserve—in full awareness—a point of contact in the head, and from that point direct the automaton, the physical body. It presupposes, if successful, certain etheric conditions in the body. One of these is the process of burning through or destruction (partial or complete) of any obstructions found along the spinal cord which could prevent the free rising of the fire at the base of the spine, commonly called the kundalini fire, which lies quiescent, latent and potential in the lowest centre. This is “the sleeping serpent which must arise and uncoil”.

Sự hòa trộn tam phân này chỉ có thể được đảm nhận một cách an toàn bởi người đã được tổ chức cao và phát triển trọn vẹn, và bởi người đã đạt được khả năng tập trung sự chú ý của mình trong đầu, rồi từ điểm cao ấy điều khiển toàn bộ tiến trình dung hợp. Nó đòi hỏi khả năng rút tâm thức theo nghĩa đen vào thể dĩ thái, nhưng đồng thời vẫn duy trì, trong nhận biết đầy đủ, một điểm tiếp xúc trong đầu, và từ điểm ấy điều khiển cái máy tự động là thể xác. Nếu thành công, nó giả định một số điều kiện dĩ thái nhất định trong thân thể. Một trong những điều kiện này là tiến trình thiêu xuyên qua hoặc hủy diệt, từng phần hay toàn phần, mọi chướng ngại được tìm thấy dọc theo tủy sống, vốn có thể ngăn cản sự vươn lên tự do của lửa ở đáy cột sống, thường được gọi là lửa hỏa xà, vốn nằm yên, tiềm tàng và còn trong trạng thái khả hữu tại trung tâm thấp nhất. Đây là “con rắn ngủ phải trỗi dậy và tháo cuộn”.

Each centre in the spine is separated from the one above it and the one below it by an interlaced protective [592] web which is composed of a curious blend of etheric and gaseous substance. This has to be burnt away and dissipated before there can be the free play of the fires of the body. A complete network of nadis and centres underlies and is the subtle counterpart of the nervous and endocrine systems. A little clear thinking therefore will demonstrate the need for excessive care, for there will obviously be a direct effect upon the external apparatus and this in its turn will definitely affect what the psychologists call “behaviour”. There are four of these interlaced circular “webs” lying between the five centres found on the rod of the spinal column, such as follows: 0/0/0/0/0, and three are to be found in the head. These three bisect the head, and form a series of crosses, as follows:

Mỗi trung tâm trong cột sống được tách khỏi trung tâm ở trên nó và trung tâm ở dưới nó bằng một màng bảo vệ [592] đan xen, cấu thành từ một sự pha trộn kỳ lạ giữa chất liệu dĩ thái và chất khí. Màng này phải được thiêu rụi và làm tiêu tan trước khi các lửa của thân thể có thể hoạt động tự do. Một mạng lưới hoàn chỉnh gồm các tuyến vi tế và các trung tâm nằm bên dưới, và là đối phần tinh tế của hệ thần kinh và hệ nội tiết. Vì vậy, chỉ cần suy nghĩ sáng suốt đôi chút cũng sẽ cho thấy nhu cầu phải hết sức cẩn trọng, vì hiển nhiên sẽ có một tác động trực tiếp lên bộ máy bên ngoài, và đến lượt nó, điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến điều các nhà tâm lý học gọi là “hành vi”. Có bốn “màng” tròn đan xen như thế nằm giữa năm trung tâm được tìm thấy trên trục của cột sống, như sau: 0/0/0/0/0, và ba màng được tìm thấy trong đầu. Ba màng này chia đôi đầu và tạo thành một loạt thập giá, như sau:

This is much like the cross upon the Union Jack, which has always had an esoteric significance for the student, and indicates a point in racial evolution. This cross in the head separates the ajna centre (the centre between the eyebrows) from the head centre, for it lies behind that centre in the forehead, and at the same time forms a protective shield between the ajna and throat centres.

Điều này rất giống thập giá trên quốc kỳ Anh, vốn luôn có một thâm nghĩa huyền bí đối với đạo sinh, và chỉ ra một điểm trong sự tiến hoá của nhân loại. Thập giá này trong đầu tách trung tâm ajna, tức trung tâm giữa hai chân mày, khỏi trung tâm đầu, vì nó nằm phía sau trung tâm ấy trong vùng trán, đồng thời tạo thành một tấm chắn bảo vệ giữa trung tâm ajna và trung tâm cổ họng.

These etheric webs are in reality disks, rotating or revolving at specific rates, which differ for the different centres, and according to the point in evolution of the system of centres concerned. Only when these webs are burnt away by the ascending and descending fires can the true centres really be seen. Many clairvoyants confuse the centres and their protective counterparts, for the latter have a radiance and light of their own.

Các màng dĩ thái này thực ra là những đĩa, xoay hay quay ở những tốc độ riêng biệt, khác nhau đối với các trung tâm khác nhau, và tùy theo điểm tiến hoá của hệ thống trung tâm liên quan. Chỉ khi các màng này bị thiêu rụi bởi các lửa đi lên và đi xuống thì các trung tâm chân thật mới thực sự có thể được thấy. Nhiều nhà thông nhãn lẫn lộn các trung tâm với các đối phần bảo vệ của chúng, vì những đối phần sau có ánh rạng và ánh sáng riêng.

As the life achieves an increasingly high vibration through purification and discipline, the fire of the soul, which is literally the fire of mind, causes the centres also to increase their vibration, and this increased activity sets up a contact with the protective “webs”, or disks of pranic energy found on either side of them. Thus, [593] through the interplay, they are gradually worn away, so that in the course of time they become perforated, if I might use such an inadequate term. Many aspirants feel convinced that they have raised the kundalini fire at the base of the spine and are consequently making rapid progress, whereas all that they have accomplished is to burn or “rub through” the web at some point or other up the spine. A sensation of burning or of pain in any part of the spine, when not due to physiological causes, is, in the majority of cases, due to the piercing of one or other of the webs, through the activity of the centres allied to them. This happens very frequently in the case of women in connection with the solar plexus centre, and with men in connection with the sacral centre. Both these centres—as a result of evolutionary development—are exceedingly active and highly organised, for they are the expression of the physical creative nature and of the emotional body. A sense therefore of burning and of pain in the back indicates usually undue activity in a centre, which produces destructive results upon the protective apparatus, and is no true indication of spiritual unfoldment and superiority. It may indicate the latter, but it should be remembered that, where there is true spiritual growth, pain and danger are in this connection practically eliminated.

Khi đời sống đạt được một rung động ngày càng cao hơn nhờ thanh lọc và kỷ luật, lửa của linh hồn, theo nghĩa đen là lửa của trí tuệ, cũng khiến các trung tâm gia tăng rung động của chúng; và hoạt động gia tăng này thiết lập một tiếp xúc với các “màng” bảo vệ, hay các đĩa năng lượng prana, được tìm thấy ở hai phía của chúng. Như vậy, [593] qua sự tương tác, chúng dần dần bị mài mòn, đến nỗi theo thời gian chúng trở nên bị xuyên thủng, nếu tôi có thể dùng một từ ngữ không thỏa đáng như thế. Nhiều người chí nguyện tin chắc rằng họ đã nâng lửa hỏa xà ở đáy cột sống lên và vì thế đang tiến bộ nhanh chóng, trong khi tất cả những gì họ đã làm được chỉ là thiêu hay “chà xuyên qua” màng tại một điểm nào đó dọc theo cột sống. Một cảm giác nóng rát hay đau ở bất kỳ phần nào của cột sống, khi không do nguyên nhân sinh lý, trong đa số trường hợp là do sự xuyên thủng một trong các màng, bởi hoạt động của các trung tâm liên kết với chúng. Điều này xảy ra rất thường xuyên nơi phụ nữ liên quan đến trung tâm tùng thái dương, và nơi nam giới liên quan đến trung tâm xương cùng. Cả hai trung tâm này, do kết quả của sự phát triển tiến hoá, đều cực kỳ hoạt động và được tổ chức cao, vì chúng là biểu hiện của bản chất sáng tạo hồng trần và của thể cảm xúc. Do đó, cảm giác nóng rát và đau ở lưng thường chỉ ra hoạt động quá mức trong một trung tâm, tạo ra các kết quả phá hoại đối với bộ máy bảo vệ, và không phải là dấu hiệu chân thật của sự khai mở tinh thần hay tính ưu việt. Nó có thể chỉ ra điều sau, nhưng cần nhớ rằng nơi nào có sự tăng trưởng tinh thần chân thật, thì đau đớn và nguy hiểm trong mối liên hệ này hầu như bị loại trừ.

There has been much loose talk about the raising of the kundalini fire and much misapprehension in the matter. Let me assure you that it is most difficult to raise, and can only be done by a definite act of the will and through the intense mental focussing and concentrated attention of the man, seated on the throne of consciousness in the head. The Masonic tradition has the teaching clearly held in its beautiful ritual of the raising of the great Master-Mason. Only when there is united effort of a fivefold kind, and only after repeated failure, does the [594] vivifying life course through the entire body and bring to life the true man.

Đã có nhiều lời bàn lỏng lẻo về việc nâng lửa hỏa xà và nhiều hiểu lầm trong vấn đề này. Hãy để tôi bảo đảm với các bạn rằng nó cực kỳ khó nâng, và chỉ có thể được thực hiện bằng một hành vi xác định của ý chí, cũng như qua sự tập trung trí tuệ mãnh liệt và chú tâm cô đọng của con người, ngồi trên ngai của tâm thức trong đầu. Truyền thống Hội Tam Điểm đã giữ giáo huấn này một cách rõ ràng trong nghi lễ đẹp đẽ về sự nâng vị Đại Chân Sư Tam Điểm. Chỉ khi có nỗ lực hợp nhất thuộc loại ngũ phân, và chỉ sau nhiều lần thất bại lặp đi lặp lại, thì sự sống tiếp sinh lực mới tuôn chảy qua toàn bộ thân thể và làm sống động con người chân thật.

The second point I would touch upon is that all this deeply esoteric work must only proceed under the direction of the skilled teacher. Platitudinously, the aspirant is told that “when the pupil is ready, the Master will appear”. He then settles comfortably back and waits, or focusses his attention upon an attempt to attract the attention of some Master, having apparently settled in his mind that he is ready or good enough. He naturally gives himself a spiritual prod at intervals, and attends spasmodically to the work of discipline and of purification. But steady and prolonged undeviating effort on the part of aspirants is rare indeed.

Điểm thứ hai tôi muốn đề cập là tất cả công việc huyền bí sâu xa này chỉ được tiến hành dưới sự hướng dẫn của huấn sư thiện xảo. Một cách sáo rỗng, người chí nguyện được bảo rằng “khi đệ tử sẵn sàng, Chân sư sẽ xuất hiện”. Rồi y thoải mái ngồi lại và chờ đợi, hoặc tập trung sự chú ý vào nỗ lực thu hút sự chú ý của một Chân sư nào đó, dường như đã quyết định trong trí mình rằng y đã sẵn sàng hay đủ tốt. Tự nhiên, thỉnh thoảng y thúc đẩy mình về mặt tinh thần, và chú ý thất thường đến công việc kỷ luật và thanh lọc. Nhưng nỗ lực bền bỉ, kéo dài, không lệch hướng của những người chí nguyện thật sự hiếm hoi.

It is indeed true that at the right moment the Master will appear, but the right moment is contingent upon certain self-induced conditions. When the process of purification has become a life-long habit, when the aspirant can at will concentrate his consciousness in the head, when the light in the head shines forth and the centres are active, then the Master will take the man in hand. In the meantime he may have a vision of the Master, or he may see a thought-form of the Master, and may get much real good and inspiration from contact with the reflected reality, but it is not the Master and does not indicate the stage of accepted discipleship. Through the medium of the light of the soul, the soul can be known. Therefore seek the light of your own soul, and know that soul as your director. When soul contact is established, your own soul will, if I may so express it, introduce you to your Master. With all due reverence again may I add, that the Master waits not with eagerness to make your acquaintance. In the world of souls, your soul and His soul are allied, and know essential unity. But in the world of human affairs and in the process of the great work it should be remembered that when a Master [595] takes an aspirant into His group of disciples, that aspirant is, for a long time, a liability and oft a hindrance. Students over-estimate themselves quite often, even when repudiating such an idea; subjectively they have a real liking for themselves and are frequently puzzled as to why the Great Ones give them no sign, nor indicate Their watching care. They will not and They need not until such time as the aspirant has used to the full the knowledge which he has gained from lesser teachers, and from books and printed scriptures of the world. Students must attend to the immediate duty and prepare their mechanisms for service in the world, and should desist from wasting time and looking for a Master; they should achieve mastery where now they are defeated and in the life of service and of struggle they may then reach the point of such complete self-forgetfulness that the Master may find no hindrance in His approach to them.

Quả thật, đúng là vào thời điểm thích hợp Chân sư sẽ xuất hiện, nhưng thời điểm thích hợp tùy thuộc vào một số điều kiện do chính mình tạo ra. Khi tiến trình thanh lọc đã trở thành một thói quen suốt đời, khi người chí nguyện có thể tùy ý tập trung tâm thức mình trong đầu, khi ánh sáng trong đầu tỏa ra và các trung tâm hoạt động, bấy giờ Chân sư sẽ nhận con người ấy vào tay. Trong lúc đó, y có thể có một linh ảnh về Chân sư, hoặc có thể thấy một hình tư tưởng của Chân sư, và có thể nhận được nhiều điều tốt đẹp chân thật cùng cảm hứng từ sự tiếp xúc với thực tại phản chiếu; nhưng đó không phải là Chân sư và không chỉ ra giai đoạn của địa vị đệ tử được chấp nhận. Qua trung gian ánh sáng của linh hồn, linh hồn có thể được nhận biết. Vì vậy hãy tìm ánh sáng của chính linh hồn các bạn, và nhận biết linh hồn ấy như vị hướng dẫn của các bạn. Khi sự tiếp xúc với linh hồn được thiết lập, chính linh hồn của các bạn, nếu tôi có thể diễn đạt như thế, sẽ giới thiệu các bạn với Chân sư của mình. Với tất cả lòng tôn kính, tôi lại có thể thêm rằng Chân sư không háo hức chờ đợi để làm quen với các bạn. Trong thế giới của các linh hồn, linh hồn các bạn và linh hồn của Ngài liên kết với nhau và biết sự hợp nhất thiết yếu. Nhưng trong thế giới sự vụ nhân loại và trong tiến trình của công trình vĩ đại, cần nhớ rằng khi một Chân sư [595] nhận một người chí nguyện vào nhóm đệ tử của Ngài, người chí nguyện ấy trong một thời gian dài là một gánh nặng, và thường là một trở ngại. Các đạo sinh rất thường đánh giá quá cao chính mình, ngay cả khi bác bỏ ý tưởng như thế; về mặt chủ quan, họ thật sự ưa thích chính mình và thường bối rối không hiểu vì sao Các Đấng Cao Cả không ban cho họ dấu hiệu nào, cũng không biểu thị sự chăm sóc dõi theo của Các Ngài. Các Ngài sẽ không làm và cũng không cần làm như thế, cho đến khi người chí nguyện đã sử dụng trọn vẹn tri thức mà y đã thu nhận từ các huấn sư cấp thấp hơn, từ sách vở và kinh điển in ấn của thế giới. Các đạo sinh phải chú tâm vào bổn phận trước mắt và chuẩn bị các bộ máy của mình cho phụng sự trong thế giới, và nên chấm dứt việc lãng phí thời gian để tìm kiếm một Chân sư; họ nên đạt quyền làm chủ ở nơi hiện nay họ đang bị đánh bại, và trong đời sống phụng sự cùng tranh đấu, bấy giờ họ có thể đạt tới điểm hoàn toàn quên mình đến mức Chân sư có thể không thấy trở ngại nào trong việc đến gần họ.

It will be apparent therefore from the above that I cannot give specific instructions as to the awakening of the centres and the burning of the etheric web which will result in the release of energy. Such information is too dangerous and too intriguing to be put in the hands of the general public, who are driven by desire for some new thing, and lack right poise and the needed mental development. The time has come however when the fact that there is an energy body underlying the nervous system must be recognized by the world at large, and when the nature of the seven centres, their structure and location should be grasped technically, and when the laws of their unfoldment should be widely known. But more than this cannot yet be safely given. The intricate nature of this science of the centres is too great for general usefulness. The teaching to be given in any particular case and the methods to be applied are dependent upon too many factors for a general rule and instruction to be given. The ray and type, the sex and point in [596] evolution must be considered and also the balance of the centres. By this I mean the consideration as to their over-development in one case and under development in another and as to whether there is a preponderance of the force below or above the diaphragm, or whether the main energy is concentrated in that central clearing house, the solar plexus. The quality and the brilliance of the light in the head has to be studied, for it indicates the measure of soul control and the relative purity of the vehicles, and the various etheric “webs” have to be carefully dealt with, and also the rate of vibration of the web and the centre. A synchronisation has to be set up and this is most difficult to bring about. These are only a few of the points that the teacher has to note, and it is apparent therefore that only a teacher who has achieved synthetic vision and can see a man “whole,” or as he really is, can give those instructions which will reverse the ancient rhythm of the centres, destroy without pain and danger the protective sheaths, and raise the kundalini fire from the base of the spine to the exit in the head.

Do đó, từ những điều trên sẽ rõ ràng rằng tôi không thể đưa ra các chỉ dẫn cụ thể về việc đánh thức các trung tâm và thiêu rụi màng dĩ thái, điều sẽ dẫn đến sự giải phóng năng lượng. Thông tin như thế quá nguy hiểm và quá hấp dẫn để đặt vào tay công chúng nói chung, những người bị thúc đẩy bởi ham muốn một điều mới mẻ nào đó, và thiếu sự thăng bằng đúng đắn cũng như sự phát triển trí tuệ cần thiết. Tuy nhiên, thời điểm đã đến khi sự kiện rằng có một thể năng lượng nằm dưới hệ thần kinh phải được thế giới nói chung công nhận, và khi bản chất của bảy trung tâm, cấu trúc và vị trí của chúng nên được nắm bắt về mặt kỹ thuật, cũng như khi các định luật chi phối sự khai mở của chúng nên được biết đến rộng rãi. Nhưng nhiều hơn thế thì hiện nay chưa thể được trao truyền một cách an toàn. Bản chất phức tạp của khoa học về các trung tâm này quá lớn đối với sự hữu ích phổ thông. Giáo huấn được trao trong bất kỳ trường hợp riêng nào và các phương pháp được áp dụng đều tùy thuộc vào quá nhiều yếu tố để có thể đưa ra một quy luật và chỉ dẫn tổng quát. Cung và loại, giới tính và điểm [596] tiến hoá phải được xem xét, cũng như sự cân bằng của các trung tâm. Bằng điều này, tôi muốn nói đến việc xem xét sự phát triển quá mức của chúng trong một trường hợp và sự kém phát triển trong một trường hợp khác, cũng như xem xét liệu có sự trội hơn của mãnh lực bên dưới hay bên trên cơ hoành, hoặc liệu năng lượng chính có tập trung trong trạm phân phối trung tâm ấy, tức tùng thái dương, hay không. Phẩm tính và độ rực rỡ của ánh sáng trong đầu phải được nghiên cứu, vì nó chỉ ra mức độ kiểm soát của linh hồn và sự thanh khiết tương đối của các hiện thể; và các “màng” dĩ thái khác nhau phải được xử lý cẩn thận, cũng như tốc độ rung động của màng và của trung tâm. Một sự đồng bộ phải được thiết lập, và điều này hết sức khó thực hiện. Đây chỉ là một vài điểm mà huấn sư phải lưu ý, và do đó rõ ràng rằng chỉ một huấn sư đã đạt được tầm nhìn tổng hợp và có thể thấy một con người “toàn vẹn”, hay như y thật sự là, mới có thể đưa ra những chỉ dẫn đảo ngược nhịp điệu cổ xưa của các trung tâm, phá hủy các lớp vỏ bảo vệ mà không gây đau đớn và nguy hiểm, và nâng lửa hỏa xà từ đáy cột sống lên đến lối thoát trong đầu.

Such teachers are found by the pupil when he has carried forward his life work under the direction of his soul, when he has grasped the theory of the science of the centres, and has mastered and controlled the astral nature and its corresponding centre, the solar plexus. The emphasis laid upon the dominance of the Christ principle by Christianity has laid a sure foundation for the work to be done. This truth is curiously substantiated in a study of the number “eight” in connection with the centres which, we are told, is the number of the Christ. There are eight centres if the spleen is counted, all of them are multiples of eight with the exception of the centre at the base of the spine which has four petals, one half of eight. In our day and in the Anglo Saxon mode of writing, the number eight is the basic symbol [597] of all the centres, for the petals are really in form like a number of superimposed eights. The word petal is purely pictorial and a centre is formed on this pattern. First, a circle, O; then two circles, touching each other and making therefore an 8. Then, as the petals increase in number, it is simply a growth of these double circles, superimposed at differing angles one upon another until we arrive at the thousand-petalled lotus in the head.

Những huấn sư như thế được đệ tử tìm thấy khi y đã tiến hành công việc đời mình dưới sự hướng dẫn của linh hồn mình, khi y đã nắm vững lý thuyết của khoa học về các trung tâm, và đã làm chủ, kiểm soát bản chất cảm dục cùng trung tâm tương ứng của nó là tùng thái dương. Sự nhấn mạnh mà Kitô giáo đặt lên quyền chủ trị của nguyên khí Đức Christ đã đặt một nền tảng chắc chắn cho công việc phải được thực hiện. Chân lý này được chứng thực một cách lạ lùng trong việc nghiên cứu con số “tám” liên quan đến các trung tâm, mà chúng ta được bảo rằng đó là con số của Đức Christ. Có tám trung tâm nếu tính cả lá lách; tất cả chúng đều là bội số của tám, ngoại trừ trung tâm ở đáy cột sống có bốn cánh hoa, tức một nửa của tám. Trong thời đại chúng ta và theo lối viết của người Anglo Saxon, con số tám là biểu tượng căn bản [597] của tất cả các trung tâm, vì các cánh hoa thật ra có hình dạng như nhiều số tám chồng lên nhau. Từ cánh hoa chỉ thuần túy mang tính hình ảnh, và một trung tâm được tạo thành theo mô hình này. Trước hết là một vòng tròn, O; rồi hai vòng tròn chạm nhau và do đó tạo thành một số 8. Sau đó, khi các cánh hoa tăng thêm về số lượng, đó chỉ đơn giản là sự phát triển của các vòng tròn kép này, chồng lên nhau ở những góc độ khác nhau, cho đến khi chúng ta đi đến Hoa sen nghìn cánh trong đầu.

These centres are, in the last analysis, twofold in function. They demonstrate the form building aspect of divinity and through their activity bring the outer form into manifestation; then towards the end of the evolutionary cycle—both in the macrocosm and the microcosm—they bring into expression the soul force and life and produce the incarnation of a fully revealed son of God, with all the powers and knowledge which divinity contains.

Rốt cuộc, các trung tâm này có chức năng nhị phân. Chúng biểu thị phương diện kiến tạo hình tướng của thiên tính, và qua hoạt động của chúng đưa hình tướng bên ngoài vào biểu hiện; rồi vào cuối chu kỳ tiến hoá, cả trong Đại thiên địa lẫn Tiểu thiên địa, chúng đưa mãnh lực và sự sống của linh hồn vào biểu lộ, và tạo ra sự nhập thể của một Con của Thượng đế được mặc khải đầy đủ, với tất cả các quyền năng và tri thức mà thiên tính chứa đựng.

RULE FIFTEEN

The fires approach the shadow, yet burn it not. The fire sheath is completed. Let the magician chant the words that blend the fire and water.

Các lửa tiến đến bóng tối, nhưng không thiêu đốt nó. Lớp vỏ lửa được hoàn tất. Hãy để nhà huyền thuật xướng những linh từ hòa trộn lửa và nước.

The Esoteric Sense—Giác Quan Bí Truyền

[601]

[601]

We come now to the consideration of the last rule for magic. As we cast our minds back over this long series of instructions certain basic lines of teaching stand out with exceptional clarity, casting lesser lines of instruction into the shade. Students would do well to remember that in the reading of any basic textbook (and this one is so regarded) a definite procedure should be adopted. The student should first of all read the textbook as a whole, in order to grasp its outstanding points, its main lines of teaching, and the three or four propositions upon which its entire structure is founded. Having grasped these, he can then begin to deal with, and to isolate, those subsidiary points which serve to elucidate and clarify the main essentials. After that, he can successfully deal with the details. Students therefore would find it of interest to review these instructions, and gather out of them the major points; then they can proceed to fill in the secondary teachings, and finally arrange the detailed data under the various heads which have emerged. This, when completed would constitute a synopsis of the book and would fix the knowledge it contains firmly in the student’s memory.

Giờ đây chúng ta đi đến việc xem xét quy luật cuối cùng về huyền thuật. Khi nhìn lại trong trí toàn bộ loạt chỉ dẫn dài này, một số đường nét giáo huấn căn bản nổi bật với sự sáng tỏ đặc biệt, khiến những đường nét chỉ dẫn thứ yếu lùi vào bóng tối. Các đạo sinh nên nhớ rằng trong việc đọc bất kỳ sách giáo khoa căn bản nào, và quyển này được xem như thế, cần áp dụng một trình tự xác định. Trước hết, đạo sinh nên đọc toàn bộ sách giáo khoa để nắm bắt các điểm nổi bật, các đường nét giáo huấn chính, và ba hay bốn mệnh đề trên đó toàn bộ cấu trúc của sách được xây dựng. Sau khi đã nắm được những điều này, y có thể bắt đầu đề cập đến và tách riêng những điểm phụ trợ vốn dùng để minh giải và làm sáng tỏ các yếu tố chính yếu. Sau đó, y có thể xử lý thành công các chi tiết. Vì vậy, các đạo sinh sẽ thấy hữu ích khi duyệt lại các chỉ dẫn này và rút ra từ đó các điểm chính; rồi họ có thể tiếp tục điền vào các giáo huấn thứ cấp, và sau cùng sắp xếp dữ kiện chi tiết dưới những đề mục khác nhau đã hiện ra. Khi hoàn tất, điều này sẽ tạo thành một bản tóm lược của quyển sách và sẽ khắc sâu tri thức mà nó chứa đựng vào ký ức của đạo sinh.

One of the main teachings which can be seen most clearly in all instructions of a truly esoteric character, concerns the attitude of the student of the occult. He is supposed to be dealing with things subjective and esoteric; he aims to be a worker in white magic. As such, he must assume and consistently hold the position of the Observer, detached from the mechanism of observation [602] and contact; he must recognise himself as essentially a spiritual entity, different in nature, objectives and methods of working from the bodies which he considers it wise to occupy temporarily and to employ. He must realise his unity and lines of contact with all similar workers and thus arrive at a conscious awareness of his position in the spiritual hierarchy of Beings. So much misinformation has been spread abroad and so much emphasis has been unwisely laid upon status and position in the so-called hierarchy of souls, that sane and balanced disciples now seek to turn their thoughts elsewhere and to eliminate as far as may be all thought of grades and spheres of activity. It is possible, in the swing of the pendulum, to swing too far in the opposite direction and to discount these stages of activity. Do not misunderstand me however; I do not suggest that an attempt be made to place people and to decide where they stand upon the evolutionary ladder. This has been most foolishly done in the past, with much dishonour to the subject, so much so that, in the minds of the public, the whole matter has fallen into disrepute. If these stages are regarded sanely for what they are—states of extended consciousness, and grades of responsibility—then the danger of personality reaction to the terms “accepted disciple, initiate, adept, master” would be negligible and much trouble would be eliminated. It must ever be remembered that individual status is rigidly kept to oneself, and the point of evolution (which may be truthfully recognised as lying ahead of that of the average citizen) will be demonstrated by a life of active unselfish service and by the manifestation of an illumined vision which is ahead of the racial idea.

Một trong các giáo huấn chính có thể được thấy rõ nhất trong mọi chỉ dẫn có tính chất thật sự nội môn liên quan đến thái độ của đạo sinh huyền bí học. Y được giả định là đang đề cập đến những điều chủ quan và nội môn; y nhắm đến việc trở thành một người hoạt động trong Chánh Thuật. Như vậy, y phải đảm nhận và luôn giữ vững vị thế của Người Quan Sát, tách rời khỏi bộ máy quan sát [602] và tiếp xúc; y phải nhận ra mình về bản chất là một thực thể tinh thần, khác về bản tính, mục tiêu và phương pháp làm việc so với các thể mà y thấy là khôn ngoan khi tạm thời chiếm hữu và sử dụng. Y phải nhận ra sự hợp nhất và các đường tiếp xúc của mình với tất cả những người hoạt động tương tự, và nhờ vậy đạt đến sự nhận biết có ý thức về vị trí của mình trong Huyền Giai tinh thần của các Đấng. Quá nhiều thông tin sai lạc đã được truyền bá, và quá nhiều nhấn mạnh thiếu khôn ngoan đã được đặt lên địa vị và vị trí trong cái gọi là thang bậc của các linh hồn, đến nỗi các đệ tử lành mạnh và quân bình hiện nay tìm cách hướng tư tưởng của mình sang nơi khác, và loại bỏ, trong mức có thể, mọi tư tưởng về cấp bậc và các khối cầu hoạt động. Trong sự dao động của con lắc, có thể đi quá xa theo hướng ngược lại và xem nhẹ các giai đoạn hoạt động này. Tuy nhiên, đừng hiểu lầm tôi; tôi không gợi ý rằng nên cố gắng đặt người này người kia vào vị trí nào đó và quyết định họ đứng ở đâu trên nấc thang tiến hoá. Điều này đã được làm một cách hết sức dại dột trong quá khứ, gây nhiều tổn hại cho chủ đề, đến mức trong trí công chúng, toàn bộ vấn đề đã rơi vào tình trạng mất uy tín. Nếu các giai đoạn này được nhìn nhận một cách lành mạnh đúng như chúng là — các trạng thái tâm thức mở rộng và các cấp độ trách nhiệm — thì nguy cơ phản ứng của phàm ngã đối với các thuật ngữ “đệ tử được chấp nhận, điểm đạo đồ, chân sư, Chân sư” sẽ không đáng kể và nhiều rắc rối sẽ được loại trừ. Phải luôn nhớ rằng địa vị cá nhân được giữ nghiêm ngặt cho chính mình, và điểm tiến hoá, vốn có thể được chân thật nhận ra là nằm trước điểm của công dân trung bình, sẽ được biểu thị bằng một đời sống phụng sự tích cực, không ích kỷ, và bằng sự biểu hiện của một tầm nhìn được soi sáng vượt trước ý tưởng của nhân loại.

In the gathering together in the world at this time of the new Group of World Workers, true caution must be preserved. Each worker is responsible for himself and his service and for no one else. It is wise to gauge and [603] approximate the evolutionary status, not upon claims made, but upon work accomplished and the love and wisdom shown. Judgment should be based upon an evidenced knowledge of the plan as it works out in the wise formulation of the nest step ahead for the human race; upon a manifested esoteric sense, and upon an influence or an auric power which is wide, constructive and inclusive.

Trong việc quy tụ trên thế giới vào lúc này Đoàn Người Hoạt Động Mới của Thế Gian, cần giữ sự thận trọng chân thật. Mỗi người hoạt động chịu trách nhiệm về chính mình, về sự phụng sự của mình, và không về ai khác. Sẽ là khôn ngoan khi đo lường và [603] ước định tình trạng tiến hoá, không dựa trên các lời tuyên bố, mà dựa trên công việc đã hoàn thành, cũng như tình thương và minh triết được biểu lộ. Sự phán đoán nên dựa trên một tri thức được chứng minh về Thiên Cơ khi nó diễn ra trong việc hình thành khôn ngoan bước kế tiếp trước mắt cho nhân loại; dựa trên một giác thức nội môn được biểu hiện, và dựa trên một ảnh hưởng hay quyền năng hào quang rộng lớn, có tính xây dựng và bao gồm.

You ask me to define more clearly what I mean by the words “esoteric sense”. I mean essentially the power to live and to function subjectively, to possess a constant inner contact with the soul and the world in which it is found, and this must work out subjectively through love, actively shown; through wisdom, steadily outpoured; and through that capacity to include and to identify oneself with all that breathes and feels which is the outstanding characteristic of all truly functioning sons of God. I mean, therefore, an interiorly held attitude of mind which can orient itself at will in any direction. It can govern and control the emotional sensitiveness, not only of the disciple himself, but of all whom he may contact. By the strength of his silent thought, he can bring light and peace to all. Through that mental power, he can tune in on the world thought, and upon the realm of ideas and can discriminate between and choose those mental agencies and those concepts which will enable him, as a worker under the plan, to influence his environment and to clothe the new ideals in that thought matter which will enable them to be more easily recognised in the world of ordinary everyday thinking and living. This attitude of mind will enable the disciple also to orient himself to the world of souls and in that high place of inspiration and of light, discover his fellow-workers, communicate with them and—in union with them—collaborate in the working out of divine intentions.

Các bạn yêu cầu tôi định nghĩa rõ hơn điều tôi muốn nói bằng các từ “giác thức nội môn”. Về căn bản, tôi muốn nói đến quyền năng sống và hoạt động một cách chủ quan, sở hữu sự tiếp xúc bên trong thường hằng với linh hồn và thế giới trong đó linh hồn được tìm thấy; và điều này phải được thể hiện một cách chủ quan qua tình thương được biểu lộ tích cực, qua minh triết được tuôn đổ bền bỉ, và qua khả năng bao gồm cũng như đồng hoá với tất cả những gì thở và cảm nhận — vốn là đặc tính nổi bật của tất cả các Con của Thượng đế đang hoạt động chân thật. Vì vậy, tôi muốn nói đến một thái độ trí tuệ được giữ bên trong, có thể tùy ý tự định hướng theo bất kỳ hướng nào. Nó có thể cai quản và kiểm soát sự nhạy cảm xúc cảm, không chỉ của chính đệ tử, mà của tất cả những người y có thể tiếp xúc. Bằng sức mạnh của tư tưởng thầm lặng, y có thể đem ánh sáng và bình an đến cho tất cả. Qua quyền năng trí tuệ ấy, y có thể bắt nhịp với tư tưởng thế giới và với cõi giới của các ý tưởng, đồng thời phân biện và chọn lựa những tác nhân trí tuệ cùng những khái niệm sẽ cho phép y, với tư cách một người hoạt động dưới Thiên Cơ, ảnh hưởng đến môi trường của mình và khoác cho các lý tưởng mới loại chất liệu tư tưởng giúp chúng được nhận ra dễ dàng hơn trong thế giới của tư duy và đời sống thường nhật. Thái độ trí tuệ này cũng sẽ cho phép đệ tử tự định hướng về thế giới của các linh hồn, và trong nơi cao cả của cảm hứng và ánh sáng ấy, khám phá các cộng sự của mình, giao tiếp với họ và, trong hợp nhất với họ, cộng tác vào việc thực hiện các ý định thiêng liêng.

This esoteric sense is the main need of the aspirant at [604] this time of the world history. Until aspirants have somewhat grasped it and can use it, they can never form part of the New Group; they can never work as white magicians, and these Instructions will remain for them theoretical and mainly intellectual, instead of being practical and effective.

Giác thức nội môn này là nhu cầu chính của người chí nguyện vào [604] thời điểm này của lịch sử thế giới. Cho đến khi những người chí nguyện phần nào nắm bắt được nó và có thể sử dụng nó, họ không bao giờ có thể trở thành một phần của Đoàn Mới; họ không bao giờ có thể hoạt động như những nhà huyền thuật chánh đạo, và những Huấn thị này đối với họ sẽ vẫn chỉ là lý thuyết, chủ yếu thuộc trí năng, thay vì thực tiễn và hữu hiệu.

To cultivate this inner esoteric sense, meditation is needed, and continuous meditation, in the early stages of development. But as time elapses and a man grows spiritually, this daily meditation will perforce give way to a steady spiritual orientation and then meditation as now understood and needed will no longer be required. The detachment between a man and his usable forms will be so complete, that he will live ever in the “seat of the Observer”, and from that point and attitude will direct the activities of the mind and of the emotions and of the energies which make physical expression possible and useful.

Để vun bồi giác thức nội môn bên trong này, cần có tham thiền, và trong các giai đoạn đầu của sự phát triển, cần tham thiền liên tục. Nhưng khi thời gian trôi qua và con người tăng trưởng về mặt tinh thần, việc tham thiền hằng ngày này tất yếu sẽ nhường chỗ cho một sự định hướng tinh thần bền bỉ, và khi đó tham thiền như hiện nay được hiểu và cần đến sẽ không còn được đòi hỏi nữa. Sự tách rời giữa con người và các hình tướng mà y có thể sử dụng sẽ hoàn toàn đến mức y sẽ luôn sống trong “chỗ ngồi của Người Quan Sát”, và từ điểm cùng thái độ ấy y sẽ điều khiển các hoạt động của thể trí, của các cảm xúc, và của những năng lượng làm cho sự biểu hiện hồng trần trở nên khả hữu và hữu ích.

The first stage in this development and culture of the esoteric sense consists in the holding of the attitude of constant detached observation.

Giai đoạn đầu trong sự phát triển và vun bồi giác thức nội môn này gồm ở việc giữ thái độ quan sát tách rời thường hằng.

The new Group of World Workers might well be regarded in its outer ranks as a trained body of organised observers. I would divide the group into three divisions and I do so in order that aspirants and chelas all over the world may be guided in their knowledge as to where they stand individually and may, in sincerity and truth, begin to work with intelligence. They can be thus aided to place themselves.

Đoàn Người Hoạt Động Mới của Thế Gian, ở các hàng ngũ bên ngoài, có thể được xem như một tập thể được huấn luyện gồm những nhà quan sát có tổ chức. Tôi sẽ chia đoàn này thành ba phân bộ, và tôi làm như vậy để những người chí nguyện và các đệ tử trên khắp thế giới có thể được hướng dẫn trong tri thức của họ về vị trí cá nhân của mình, và có thể, trong sự chân thành và chân thật, bắt đầu làm việc một cách thông minh. Nhờ vậy họ có thể được trợ giúp để tự đặt mình vào đúng vị trí.

First, there are the Organised Observers. These aspirants are learning to do two things. They are learning to practice that detachment which will enable them to live as souls in the world of daily affairs and to understand the real significance of the words: to work without attachment. They are also, secondly, those students of world affairs in one or other of the seven departments [605] earlier referred to when I brought the new group to the attention of the world. They are studying the signs of the times. They investigate the great drama of history in order to discover its main trend and so express to the ordinary academic world and to the thinkers of the race what they see and understand.

Trước hết, có những Nhà Quan Sát Có Tổ Chức. Những người chí nguyện này đang học làm hai điều. Họ đang học thực hành sự tách rời, điều sẽ cho phép họ sống như những linh hồn trong thế giới các sự vụ hằng ngày và thấu hiểu thâm nghĩa chân thật của các lời: làm việc mà không dính mắc. Thứ hai, họ cũng là những đạo sinh về các sự vụ thế giới trong một hay nhiều hơn trong bảy lĩnh vực [605] đã được đề cập trước đây khi tôi đưa đoàn mới ra trước sự chú ý của thế giới. Họ đang nghiên cứu các dấu hiệu của thời đại. Họ khảo sát vở kịch lớn của lịch sử để khám phá xu hướng chính của nó, và nhờ vậy trình bày cho thế giới học thuật thông thường cũng như cho những nhà tư tưởng của nhân loại điều họ thấy và thấu hiểu.

Running all through human history is a triple thread and in the interplay of these three threads the story of evolution is to be found. One thread guides the thoughts of man as he deals with the development of the form aspect, with the racial trends, and it shows how undeviatingly the forms of races, of countries, and of the fauna and flora of our planetary life have kept pace with the needs of the slowly emerging sons of God. The second thread leads us to an understanding of the growth of consciousness, and indicates emergence from the instinctual stage into that of intellectual awareness, and on to that intuitional illumination which is the present goal of consciousness.

Xuyên suốt lịch sử nhân loại là một sợi dây tam phân, và trong sự tương tác của ba sợi dây này, câu chuyện của tiến hoá được tìm thấy. Một sợi dây dẫn dắt tư tưởng của con người khi y đề cập đến sự phát triển của phương diện hình tướng, với các xu hướng nhân loại, và nó cho thấy các hình tướng của các giống dân, các quốc gia, cùng hệ động vật và thực vật của sự sống hành tinh chúng ta đã theo kịp một cách không lệch lạc như thế nào với các nhu cầu của những Con của Thượng đế đang dần dần xuất hiện. Sợi dây thứ hai dẫn chúng ta đến sự thấu hiểu về sự tăng trưởng của tâm thức, và chỉ ra sự xuất hiện từ giai đoạn bản năng sang giai đoạn nhận biết trí năng, rồi tiến tới sự soi sáng trực giác, vốn là mục tiêu hiện nay của tâm thức.

The third thread concerns the Plan itself and here we enter the realm of the truly unknown. What the plan is, and what the goal, is as yet totally unrealised except by the highest adept and the most exalted of the sons of God. Until the illumined mind and the power of intuitional response are developed in the human family, it is not possible for us to grasp the basic concepts which are to be found in the mind of God Himself. Until the highest point of the Mount of Initiation has been climbed, it is not possible to vision the Promised Land as it is. Until the limitations—the necessary limitations—of the three worlds have been surmounted and man can function as a free soul in the spiritual kingdom, that which lies beyond that kingdom must remain hid to man just as much as the human state of being and awareness remains a sealed book to the animal. This is a salutary and needed lesson which all disciples should grasp. [606]

Sợi dây thứ ba liên quan đến chính Thiên Cơ, và ở đây chúng ta bước vào lĩnh vực của điều thật sự chưa được biết. Thiên Cơ là gì, và mục tiêu là gì, cho đến nay vẫn hoàn toàn chưa được chứng nghiệm, ngoại trừ bởi vị chân sư cao nhất và những Con của Thượng đế được tôn cao nhất. Cho đến khi trí tuệ được soi sáng và quyền năng đáp ứng trực giác được phát triển trong gia đình nhân loại, chúng ta không thể nắm bắt các khái niệm căn bản được tìm thấy trong Trí của chính Thượng đế. Cho đến khi điểm cao nhất của Núi Điểm Đạo đã được leo lên, thì không thể nhìn thấy Miền Đất Hứa đúng như nó là. Cho đến khi các giới hạn, những giới hạn cần thiết của ba cõi thấp, đã được vượt qua và con người có thể hoạt động như một linh hồn tự do trong giới tinh thần, thì điều nằm bên kia giới ấy vẫn phải ẩn kín đối với con người, cũng y như trạng thái hiện hữu và nhận biết của con người vẫn là một quyển sách niêm phong đối với loài vật. Đây là một bài học lành mạnh và cần thiết mà tất cả các đệ tử nên nắm bắt. [606]

But observers of times and seasons can make rapid progress in intuitional growth if they persevere in their meditation, train their intellects, and endeavour always to think in terms of universals. Let them look at the historical retrospect as part of the emerging preparation which will inaugurate the future. Let them take heart of grace as they recognise the fact that the kingdom of souls is steadily becoming a physical plane phenomenon (do I speak paradoxically?) and will be known eventually as a kingdom of nature and considered so by the scientists before two centuries have passed away. These “Organised Observers” form the outer circle of the new group and their keynote is synthesis, the elimination of non-essentials and the organising of human knowledge. Working in the many fields of human awareness, they are distinguished by a non-sectarian spirit, and by an ability to deal with foundational essentials and to link up varying departments of human investigation into one organised and unified whole.

Nhưng những nhà quan sát thời kỳ và mùa vụ có thể tiến bộ nhanh chóng trong sự tăng trưởng trực giác nếu họ kiên trì trong tham thiền, rèn luyện trí năng, và luôn cố gắng tư duy theo các phổ quát. Hãy để họ nhìn lại lịch sử như một phần của sự chuẩn bị đang xuất hiện, điều sẽ mở màn cho tương lai. Hãy để họ vững lòng khi nhận ra sự kiện rằng giới linh hồn đang đều đặn trở thành một hiện tượng trên cõi hồng trần, tôi có đang nói nghịch lý chăng, và cuối cùng sẽ được biết đến như một giới của tự nhiên, cũng như được các nhà khoa học xem như thế trước khi hai thế kỷ trôi qua. Những “Nhà Quan Sát Có Tổ Chức” này tạo thành vòng ngoài của đoàn mới, và chủ âm của họ là sự tổng hợp, loại bỏ những điều không thiết yếu và tổ chức tri thức nhân loại. Hoạt động trong nhiều lĩnh vực nhận biết của con người, họ được phân biệt bởi tinh thần không giáo phái, và bởi khả năng xử lý các yếu tố nền tảng chính yếu, cũng như liên kết các ngành khảo cứu khác nhau của con người thành một toàn thể có tổ chức và hợp nhất.

Second, the next group in the new Group of World Workers is that of the telepathic communicators. These are much fewer in number and are distinguished by their relatively close interrelation with each other. They are primarily a linking or a bridging group. They are gathered out of the more exoteric circle of the organised observers, but have a wider scope of service than they have, for they work in a more truly esoteric manner. They are in touch with each other, and with the organised observers, but they are likewise in touch with the group of men and women who stand at the very centre or heart of the world group. Their work is threefold and very difficult. Steadily they have to cultivate that detachment which characterises the soul which knows itself. Steadily they take the knowledge and information accumulated by the organised observers and adapt it to the need of the world, and give out the teaching. They work effectively [607] but always from behind the scenes, and though they may be known in the world in this early stage of the work of the new group, and though they may be therefore recognised as teachers, writers and workers, later they will recede more and more into the background and will work through the outer circle. They will inspire them, and will place increasing responsibility upon their shoulders; they will nurture the growth of telepathic interplay in the world and thus weave those strands which will eventually bridge the present gap between the seen and the unseen and so make the new world possible—a world in which death as we know it will be abolished and a trained universal continuity of consciousness be established. That is why the emphasis is laid in training the members of this group in the new group, upon telepathic sensitivity. The members of this second circle of workers are taught to develop sensitiveness in three directions: to the thoughts of men in physical incarnation; to the minds of those who have passed over and who are still in mind bodies, and thirdly to the group of spiritual Beings who stand as the custodians of the evolutionary process and through whose hands the three threads of developing life steadily pass.

Thứ hai, nhóm kế tiếp trong Đoàn Người Hoạt Động Thế Gian mới là nhóm các nhà giao tiếp viễn cảm. Những người này ít hơn nhiều về số lượng và được phân biệt bởi mối tương liên tương đối mật thiết giữa họ với nhau. Trước hết, họ là một nhóm liên kết hay một nhóm bắt cầu. Họ được quy tụ từ vòng tròn ngoại môn hơn của các nhà quan sát có tổ chức, nhưng có phạm vi phụng sự rộng hơn những người ấy, vì họ làm việc theo một cách thật sự huyền bí hơn. Họ tiếp xúc với nhau, và với các nhà quan sát có tổ chức, nhưng họ cũng tiếp xúc với nhóm những người nam và nữ đang đứng ngay tại trung tâm hay trái tim của nhóm thế giới. Công việc của họ có tính tam phân và rất khó khăn. Một cách bền bỉ, họ phải vun bồi sự tách rời vốn đặc trưng cho linh hồn biết chính mình. Một cách bền bỉ, họ tiếp nhận tri thức và thông tin do các nhà quan sát có tổ chức tích lũy, rồi thích nghi nó với nhu cầu của thế giới, và truyền ra giáo huấn. Họ làm việc hữu hiệu [607] nhưng luôn luôn từ phía sau hậu trường; và dù ở giai đoạn đầu này của công việc của nhóm mới, họ có thể được biết đến trong thế gian, và do đó có thể được nhìn nhận là huấn sư, tác giả và người hoạt động, về sau họ sẽ ngày càng lui vào hậu cảnh và sẽ làm việc qua vòng tròn bên ngoài. Họ sẽ truyền cảm hứng cho những người ấy, và sẽ đặt trách nhiệm ngày càng lớn hơn lên vai họ; họ sẽ nuôi dưỡng sự tăng trưởng của tương tác viễn cảm trong thế giới, và như thế dệt nên những sợi dây cuối cùng sẽ bắt cầu qua khoảng cách hiện nay giữa cái hữu hình và cái vô hình, nhờ đó khiến thế giới mới trở thành khả hữu — một thế giới trong đó sự chết như chúng ta biết sẽ bị bãi bỏ, và một sự liên tục tâm thức phổ quát, được rèn luyện, sẽ được thiết lập. Chính vì vậy mà trong việc huấn luyện các thành viên của nhóm này trong nhóm mới, trọng tâm được đặt vào sự nhạy bén viễn cảm. Các thành viên của vòng tròn người hoạt động thứ hai này được dạy phát triển sự nhạy cảm theo ba hướng: đối với tư tưởng của con người trong kiếp lâm phàm hồng trần; đối với thể trí của những người đã chuyển sang bên kia và vẫn còn ở trong các thể trí; và thứ ba, đối với nhóm các Đấng Tinh Thần đang đứng như những vị bảo hộ tiến trình tiến hoá, và qua tay các Ngài, ba sợi dây của sự sống đang phát triển liên tục đi qua.

Their task is exceedingly hard, far harder than that of the first group and harder even than that of the last, for they lack as yet certain powers and needed experience. Their centre of consciousness is the intuition and not that of the synthesising intellect, and their state of awareness is wide and inclusive. They therefore can suffer more than the majority, and few there are who are not at this stage too sensitive for their own comfort and too responsive to vibrations emanating from the form aspect in all three worlds. Their state of detachment is not yet complete. They bridge, and therefore support infinite problems and respond to world pain. They see, if I may so express it, too much, for theirs is not yet the privilege [608] of visioning with clarity the goal that lies two hundred years ahead. They sense the present need. They are responsive to the new tide of spiritual force which is flowing in. They carry the weight of humanity on their shoulders, and because they are somewhat coordinated, they live in all three worlds at once, and this few can do. They are aware of the urgency of the present opportunity and also of the apathy of the many and for these reasons they work under terrific pressure.

Nhiệm vụ của họ cực kỳ khó khăn, khó hơn nhiều so với nhóm thứ nhất và thậm chí khó hơn nhóm cuối cùng, vì cho đến nay họ vẫn còn thiếu một số quyền năng và kinh nghiệm cần thiết. Trung tâm tâm thức của họ là trực giác chứ không phải trí năng tổng hợp, và trạng thái nhận biết của họ rộng lớn và bao gồm. Vì vậy, họ có thể đau khổ nhiều hơn đa số người khác, và hiếm có ai ở giai đoạn này mà không quá nhạy cảm đối với sự an ổn của chính mình, và quá đáp ứng với những rung động phát xuất từ phương diện hình tướng trong cả ba cõi. Trạng thái tách rời của họ chưa hoàn toàn. Họ bắt cầu, và vì vậy gánh đỡ vô số vấn đề và đáp ứng với nỗi đau của thế giới. Nếu tôi có thể diễn đạt như thế, họ thấy quá nhiều, vì họ chưa có đặc ân [608] nhìn thấy rõ ràng mục tiêu nằm ở hai trăm năm phía trước. Họ cảm nhận nhu cầu hiện tại. Họ đáp ứng với làn sóng mới của mãnh lực tinh thần đang tuôn vào. Họ mang sức nặng của nhân loại trên vai, và vì họ đã được phối hợp phần nào, họ sống trong cả ba cõi cùng một lúc, và điều này rất ít người có thể làm. Họ nhận biết tính khẩn thiết của cơ hội hiện tại, cũng như sự lãnh đạm của số đông; và vì những lý do này, họ làm việc dưới một áp lực khủng khiếp.

Third, the innermost group of all is that of the members of the Hierarchy itself. I care not the least whether these liberated souls are recognised as Elder Brethren of the race, as Masters of the Wisdom, as the Cloud of Witnesses, as the Christ and His Church, as Supermen or under any terms which the inherited tendencies of humanity or tradition may choose to call them. They themselves care less. The petty quarrels as to their personalities and names and status matter not at all. But they are the intelligent forces of the planet; they express, because of their state of expanded consciousness, the Mind of God; they embody the intelligent principle, immutable and unchanging, and through them flows the energy which we call the Will of God, for lack of better understanding. They know far more of the plan than do the two outer circles in the new Group of World Workers, for they see clearly just what is the next step which planetary evolution will guide the race to take during the next two hundred years. They do not occupy themselves with idle speculations as to the ultimate goal at the close of a world age. This may surprise you in view of the many speculations of the uninitiate. But so it is. They know that there is a time and a season for all things, and looking ahead and comprehending intuitively the goal for all kingdoms in the immediate future, all their united effort is bent to one end—the cultivating of the intuitional telepathic responsiveness of the Communicators who bridge the gap [609] between them and the physical world. These latter in their turn seek to employ the Observers, Knowers, Communicators, and Observers—all working in a close if oft-times unrealised unity, and all responsive (according to their degree) to the impulsion of the Mind and Will of the Logos, the solar Deity.

Thứ ba, nhóm nội tại nhất trong tất cả là nhóm gồm các thành viên của chính Thánh Đoàn. Tôi không hề quan tâm chút nào việc các linh hồn đã giải thoát này được nhìn nhận là các Huynh Trưởng của nhân loại, là các Chân sư Minh Triết, là Đám Mây Chứng Nhân, là Đức Christ và Giáo Hội của Ngài, là các Siêu nhân, hay dưới bất cứ danh xưng nào mà những khuynh hướng di truyền của nhân loại hoặc truyền thống có thể chọn để gọi các Ngài. Chính các Ngài còn ít quan tâm hơn nữa. Những tranh cãi nhỏ nhặt về phàm ngã, danh xưng và địa vị của các Ngài hoàn toàn không quan trọng. Nhưng các Ngài là những mãnh lực thông tuệ của hành tinh; do trạng thái tâm thức mở rộng của mình, các Ngài biểu lộ Trí của Thượng đế; các Ngài hiện thân nguyên khí thông tuệ, bất biến và không đổi thay, và qua các Ngài tuôn chảy năng lượng mà chúng ta gọi là Ý Chí của Thượng Đế, vì thiếu một sự thấu hiểu tốt hơn. Các Ngài biết về Thiên Cơ nhiều hơn rất nhiều so với hai vòng tròn bên ngoài trong Đoàn Người Hoạt Động Thế Gian mới, vì các Ngài thấy rõ chính xác bước kế tiếp mà cuộc tiến hoá hành tinh sẽ hướng dẫn nhân loại thực hiện trong hai trăm năm tới. Các Ngài không bận tâm với những suy đoán vô ích về mục tiêu tối hậu vào lúc kết thúc một thời đại thế giới. Điều này có thể khiến các bạn ngạc nhiên, xét theo nhiều suy đoán của những người chưa được điểm đạo. Nhưng sự thật là như vậy. Các Ngài biết rằng mọi sự đều có thời điểm và mùa tiết của nó; và khi nhìn về phía trước, đồng thời thấu hiểu bằng trực giác mục tiêu dành cho mọi giới trong tương lai gần, toàn bộ nỗ lực hợp nhất của các Ngài đều hướng về một cứu cánh duy nhất — vun bồi khả năng đáp ứng viễn cảm bằng trực giác nơi các Nhà Giao Tiếp, những người bắt cầu qua khoảng cách [609] giữa các Ngài và thế giới hồng trần. Đến lượt mình, những người sau này tìm cách sử dụng các Nhà Quan Sát, các Thức Giả, các Nhà Giao Tiếp và các Nhà Quan Sát — tất cả đều làm việc trong một sự hợp nhất mật thiết, dù thường khi không nhận ra, và tất cả đều đáp ứng, tùy theo cấp độ của mình, với sự thúc đẩy của Trí và Ý Chí của Thượng đế, Thượng đế thái dương.

Beyond this triple group stand the Thrones, Principalities, and Powers with whom we need not concern ourselves. On the other side stands humanity torn by the disasters of the past world war, bewildered by the social, religious and economic pressure of the present, sensitive and responsive to the influences and energies pouring in on the new tide of the Aquarian Age; unable to understand and explain, and conscious only of a longing for liberty of thought and of physical condition, snatching at every chance to gain knowledge and so providing a fertile field wherein this new group can work.

Bên ngoài nhóm tam phân này là các Ngai Vị, các Chủ Quyền và các Quyền Năng mà chúng ta không cần bận tâm. Ở phía bên kia là nhân loại, bị xé nát bởi những tai họa của cuộc chiến tranh thế giới vừa qua, hoang mang trước áp lực xã hội, tôn giáo và kinh tế của hiện tại, nhạy cảm và đáp ứng với các ảnh hưởng và năng lượng đang tuôn vào theo làn sóng mới của Kỷ Nguyên Bảo Bình; không thể thấu hiểu và giải thích, và chỉ ý thức về một niềm khao khát tự do tư tưởng và tự do trong điều kiện hồng trần, nắm lấy mọi cơ hội để đạt tri thức, và nhờ vậy cung cấp một cánh đồng màu mỡ trong đó nhóm mới này có thể làm việc.

We have seen that the objective of all inner training is to develop the esoteric sense, and to unfold that inner sensitive awareness which will enable a man to function, not only as a Son of God in physical incarnation but as one who also possesses that continuity of consciousness which will enable him to be interiorly awake as well as exteriorly active. This is accomplished through developing the power to be a trained Observer. I commend these words to all aspirants. It is persistence in the attitude of right observation that brings about detachment from form, a subsequent power to use form at will and with the end in view of furthering hierarchical plans and consequent usefulness to humanity. When this power to observe has been somewhat brought about, we then have the aspirant joining that intermediate group of trained Communicators who stand between the aforementioned groups (the exoteric groups and the group of spiritual workers on the subjective plane), interpreting the one to the other. It is well to remember that even the members [610] of the Hierarchy profit by the opinions and advice of those disinterested disciples who can be trusted to rightly recognise and interpret the need of the hour.

Chúng ta đã thấy rằng mục tiêu của mọi huấn luyện nội tâm là phát triển giác quan huyền bí, và khai mở sự nhận biết nhạy bén bên trong, điều sẽ cho phép con người hoạt động không chỉ như một Con của Thượng đế trong kiếp lâm phàm hồng trần, mà còn như một người sở hữu sự liên tục tâm thức, nhờ đó y có thể tỉnh thức bên trong cũng như hoạt động bên ngoài. Điều này được thành tựu qua việc phát triển quyền năng trở thành một Nhà Quan Sát Lão Luyện. Tôi xin khuyến nghị những lời này với tất cả những người chí nguyện. Chính sự kiên trì trong thái độ quan sát đúng đắn đem lại sự tách rời khỏi hình tướng, rồi sau đó là quyền năng sử dụng hình tướng theo ý chí, với mục đích xúc tiến các kế hoạch của Thánh Đoàn và do đó trở nên hữu ích cho nhân loại. Khi quyền năng quan sát này đã được tạo lập phần nào, bấy giờ chúng ta có người chí nguyện gia nhập nhóm trung gian gồm các Nhà Giao Tiếp được rèn luyện, những người đứng giữa các nhóm đã nói ở trên, tức các nhóm ngoại môn và nhóm những người hoạt động tinh thần trên cõi chủ quan, để diễn giải nhóm này cho nhóm kia. Cần nhớ rằng ngay cả các thành viên [610] của Thánh Đoàn cũng được lợi ích từ những ý kiến và lời khuyên của các đệ tử vô tư, những người có thể được tin cậy để nhận ra và diễn giải đúng nhu cầu của thời điểm.

When this stage has been reached and a man is in conscious touch with the plan then true magical work can begin. Men and women, who are beginning to live as souls, can undertake the magical work of the new age, and can inaugurate those changes and that rebuilding which will bring about the manifestation of the new heavens and the new earth, to which all the Scriptures of the world bear eloquent testimony. They can then work with forces in etheric matter and so bring into being those physical plane creations and organisations which will more adequately embody the life of God in the Aquarian Age which is now upon us. It is to this stage that Rule XV refers.

Khi giai đoạn này đã đạt tới và một người có tiếp xúc hữu thức với Thiên Cơ, bấy giờ công việc huyền thuật chân chính có thể bắt đầu. Những người nam và nữ đang bắt đầu sống như các linh hồn có thể đảm nhận công việc huyền thuật của kỷ nguyên mới, và có thể khai mở những thay đổi cùng công cuộc tái thiết sẽ đem lại sự biểu hiện của trời mới và đất mới, điều mà mọi Kinh Điển của thế giới đều làm chứng một cách hùng hồn. Bấy giờ họ có thể làm việc với các mãnh lực trong vật chất dĩ thái, và như thế đưa vào hiện tồn những sáng tạo và tổ chức trên cõi hồng trần, vốn sẽ hiện thân đầy đủ hơn sự sống của Thượng đế trong Kỷ Nguyên Bảo Bình hiện đang đến với chúng ta. Chính giai đoạn này là điều Quy luật XV đề cập đến.

These words mark the consummation of the magical work, and are equally true of the magical work of a solar Logos, of a planetary Logos, of an incarnating soul, or of that advanced human being who has learnt to work as a white magician under the plan of the great White Lodge. It, of course, refers to the work of those who through intellectual achievement have learnt to work as magicians but on what is called the black side, for the same rules of magical work hold good for both groups, though the motivating impulse differs. But with the work of the black magician we have naught to do. That which they do is powerful in transient effect, using the word transient in its cyclic sense; but these effects must in due time cease, and be subordinated to the claims and the work of the bringers of light and of life.

Những lời này đánh dấu sự viên mãn của công việc huyền thuật, và cũng đúng như nhau đối với công việc huyền thuật của một Thái dương Thượng đế, của một Hành Tinh Thượng đế, của một linh hồn đang nhập thể, hay của một con người tiến hoá cao đã học làm việc như một nhà huyền thuật chánh đạo dưới Thiên Cơ của Thánh đoàn. Dĩ nhiên, nó cũng đề cập đến công việc của những người, nhờ thành tựu trí tuệ, đã học làm việc như các nhà huyền thuật nhưng ở phía được gọi là hắc đạo, vì cùng các quy luật của công việc huyền thuật đều có giá trị đối với cả hai nhóm, dù xung lực thúc đẩy khác nhau. Nhưng chúng ta không liên quan gì đến công việc của nhà hắc thuật. Những gì họ làm có hiệu quả mạnh mẽ nhưng tạm thời, dùng chữ tạm thời theo nghĩa chu kỳ của nó; song các hiệu quả này đến đúng thời phải chấm dứt, và phải phục tùng những đòi hỏi cùng công việc của những người mang ánh sáng và sự sống.

The shadow stage is the dim and uncertain period which is found prior to dense and concrete manifestation. It does not here refer to the shadow as the counterpart in physical manifestation of the soul. It refers to one of the intermediate stages in the creative process. [611] It is technically called the “stage of the waxing and the waning of the nebulae”, and this stage precedes the appearance of the more stabilised and relatively static exoteric form. In the formation of a solar system, this is recognised as a preliminary period and can be seen going on in the starry heavens. It indicates the stage wherein the Great Magician is only in process of carrying forward His work; He has not yet finally chanted those mystic words or those spiritual sounds which will produce concretion and the tangible appearance of form.

Giai đoạn bóng tối là thời kỳ mờ nhạt và bất định có trước sự biểu hiện đậm đặc và cụ thể. Ở đây nó không chỉ bóng tối như đối phần trong biểu hiện hồng trần của linh hồn. Nó chỉ một trong những giai đoạn trung gian trong tiến trình sáng tạo. [611] Về mặt kỹ thuật, nó được gọi là “giai đoạn tăng trưởng và suy giảm của các tinh vân”, và giai đoạn này đi trước sự xuất hiện của hình tướng ngoại môn ổn định hơn và tương đối tĩnh tại. Trong sự hình thành một hệ mặt trời, điều này được nhìn nhận như một thời kỳ sơ bộ và có thể được thấy đang diễn ra trong các tầng trời đầy sao. Nó chỉ giai đoạn trong đó Nhà Huyền Thuật Vĩ Đại mới chỉ đang trong tiến trình xúc tiến công việc của Ngài; Ngài chưa xướng dứt khoát những lời thần bí hay những âm thanh tinh thần sẽ tạo nên sự cụ thể hóa và sự xuất hiện hữu hình của hình tướng.

The Secret Doctrine refers to the three fires, and these are of ancient usage; the Vishnu Purana gives these fires exactly the same nomenclature as does H.P.B. who borrowed the terms from the ancient Scripture. Electric Fire, Solar Fire and Fire by Friction, when brought into conjunction, produce the manifested macrocosm and microcosm, and to this conjunction my earlier Treatise on Cosmic Fire referred. These fires are esoterically one fire but this fire produces, according to the witnessing consciousness (itself at varying stages of evolutionary development) the effect of differentiated fiery essence. This fiery essence can be known as Life itself, or as the “Self-shining Light,” or it can be known as the active form inherent in the one substance which underlies all phenomena. In this final rule for magic the fires which are considered are those of matter itself which approach the shadow and (as the Old Commentary symbolically expresses it) “rise up from the second darkness at the call of the spirit of light and meet in their appointed place that which will absorb them and raise them to the fiery point from whence the fires of living light and radiant life have come.”

Giáo Lý Bí Nhiệm đề cập đến ba loại lửa, và các loại lửa này đã được dùng từ thời cổ; Vishnu Purana gọi các loại lửa ấy bằng đúng cùng một danh pháp như bà Blavatsky, người đã mượn các thuật ngữ này từ Kinh Điển cổ. Lửa Điện, Lửa Thái dương và Lửa ma sát, khi được đưa vào sự kết hợp, tạo nên đại thiên địa và tiểu thiên địa biểu hiện, và chính sự kết hợp này đã được đề cập trong Luận về Lửa Vũ Trụ trước đây của tôi. Một cách huyền bí, các loại lửa này là một lửa duy nhất; nhưng lửa này tạo ra, tùy theo tâm thức chứng kiến, vốn tự nó ở những giai đoạn phát triển tiến hoá khác nhau, hiệu quả của tinh chất lửa đã biến phân. Tinh chất lửa này có thể được biết như chính Sự Sống, hoặc như “Ánh Sáng Tự Chiếu”, hoặc có thể được biết như hình tướng hoạt động vốn nội tại trong chất liệu duy nhất nằm bên dưới mọi hiện tượng. Trong quy luật cuối cùng này về huyền thuật, những loại lửa được xét đến là các loại lửa của chính vật chất, vốn tiến gần đến bóng tối và, như Cổ Luận diễn đạt bằng biểu tượng, “trỗi dậy từ bóng tối thứ hai theo tiếng gọi của tinh thần ánh sáng, và gặp tại nơi đã định điều sẽ hấp thu chúng và nâng chúng lên điểm lửa mà từ đó các lửa của ánh sáng sống động và sự sống rạng ngời đã đến.”

The Negation of the Great Illusion— Sự Phủ Định Đại Ảo Tưởng

The phrase in Rule XV which says “that blend the fire and water” has reference to the effect produced at the [612] point of condensation, after the great words bringing about that effect have been pronounced. This rule is almost incapable of explanation and it is not permitted to me to give to you the words that effect this process. Only some hints may be given which will serve to encourage the true aspirant to think and may, alas, only irritate the casual thinker who seeks easy and quick methods and formulas through which to work. Heat and moisture are present in the production of all forms of life, but the great mystery (and almost the final mystery to be explained to the adept) is how the merging of three fires can produce moisture or the watery element. This problem and this phenomenon constitute the basis of the Great Illusion to which the ancient books refer; through the agency of the combination, the enveloping maya is produced. There is, in reality, no such thing as water; the watery sphere, the astral plane, is, could you but realise it, an illusory effect and has no real existence. Yet—in time and space and to the understanding of the witnessing consciousness—it is more real than that which it hides and conceals. I cannot make this clearer in words. It is only possible to suggest to the intelligent student that the light of his soul (reflected in his mind) and the energy of form (as expressed in his etheric body) are for him, in the realm of temporary duality, his two basic realities. The watery nature of his astral experience in which these two aspects of divinity seem (again illusion, be it noted) to meet and work is but a glamorous phenomenon and in an occult sense is not based on fact. Any true aspirant knows that his spiritual progress can be gauged in terms of his freedom from this illusion and of his release into the clear air and pure light of his spiritual consciousness. In its consciousness, the animal kingdom works with the second of these two basic realities, and for it the life of the etheric body and the force which governs the animal or material nature are the [613] prime expression of truth. Yet the animal is beginning to sense dimly the world of illusion and possesses certain psychic powers and senses which recognise yet fail to interpret the astral plane. The veil of illusion is beginning to fail before the eyes of the animal but it knows it not. The human being has wandered for ages in the world of illusion, for it is of his own creating. Yet man in his turn, from the standpoint of consciousness, has contact with both the realities and learns little by little to dissipate the illusion by the steady growth of the radiant light of the soul. May I pause here to remind you that duality is only a stage on the evolutionary arc, leading eventually to the realisation of unity.

Cụm từ trong Quy luật XV nói rằng “hòa trộn lửa và nước” liên quan đến hiệu quả được tạo ra tại [612] điểm ngưng tụ, sau khi những lời vĩ đại đem lại hiệu quả ấy đã được phát âm. Quy luật này hầu như không thể giải thích, và tôi không được phép trao cho các bạn những lời tạo nên tiến trình này. Chỉ có thể đưa ra một vài gợi ý nhằm khích lệ người chí nguyện chân chính suy tư, và than ôi, có thể chỉ làm người suy nghĩ hời hợt, vốn tìm kiếm những phương pháp và công thức dễ dàng, nhanh chóng để làm việc, cảm thấy bực bội. Nhiệt và ẩm hiện diện trong sự tạo thành mọi hình tướng của sự sống, nhưng huyền nhiệm lớn lao, và hầu như là huyền nhiệm cuối cùng được giải thích cho chân sư, là làm thế nào sự hòa nhập của ba loại lửa có thể tạo ra ẩm ướt hay nguyên tố nước. Vấn đề này và hiện tượng này tạo thành nền tảng của Đại Ảo Tưởng mà các sách cổ đề cập; thông qua tác nhân của sự kết hợp, ảo lực bao bọc được tạo ra. Trong thực tại, không có cái gọi là nước; khối cầu nước, tức cõi cảm dục, nếu các bạn có thể nhận ra, là một hiệu quả ảo tưởng và không có sự tồn tại thật. Tuy nhiên — trong thời gian và không gian, và đối với sự thấu hiểu của tâm thức chứng kiến — nó lại thật hơn điều mà nó che khuất và che giấu. Tôi không thể làm điều này rõ hơn bằng lời. Chỉ có thể gợi ý cho đạo sinh thông minh rằng ánh sáng của linh hồn y, phản chiếu trong thể trí y, và năng lượng của hình tướng, như được biểu lộ trong thể dĩ thái của y, đối với y, trong lĩnh vực nhị nguyên tạm thời, là hai thực tại căn bản của y. Bản chất nước của kinh nghiệm cảm dục của y, trong đó hai phương diện thiên tính này dường như, xin lưu ý rằng lại là ảo tưởng, gặp nhau và hoạt động, chỉ là một hiện tượng ảo cảm và, theo nghĩa huyền bí, không đặt nền trên sự kiện. Bất cứ người chí nguyện chân chính nào cũng biết rằng sự tiến bộ tinh thần của y có thể được đo bằng mức độ y thoát khỏi ảo tưởng này và được giải phóng vào bầu không khí trong sáng cùng ánh sáng tinh khiết của tâm thức tinh thần của y. Trong tâm thức của mình, giới động vật làm việc với thực tại thứ hai trong hai thực tại căn bản này, và đối với nó, sự sống của thể dĩ thái cùng mãnh lực chi phối bản chất động vật hay vật chất là biểu hiện [613] chủ yếu của chân lý. Tuy nhiên, con vật đang bắt đầu cảm nhận lờ mờ thế giới ảo tưởng và sở hữu một số quyền năng cùng giác quan thông linh nhận ra nhưng không diễn giải được cõi cảm dục. Tấm màn ảo tưởng đang bắt đầu suy yếu trước mắt con vật, nhưng nó không biết điều đó. Con người đã lang thang qua nhiều thời đại trong thế giới ảo tưởng, vì đó là tạo vật của chính y. Tuy nhiên, đến lượt mình, xét từ lập trường tâm thức, con người có tiếp xúc với cả hai thực tại và dần dần học cách làm tiêu tan ảo tưởng nhờ sự tăng trưởng đều đặn của ánh sáng rạng ngời của linh hồn. Tôi xin dừng lại ở đây để nhắc các bạn rằng nhị nguyên chỉ là một giai đoạn trên cung tiến hoá, cuối cùng dẫn đến sự chứng nghiệm hợp nhất.

The veil of illusion resembles the moment before dawn when the world of familiar things is seen through the fogs and the streamers of mist which veil the world form and also veil the rising sun. Then we have that half-time, that mysterious and vague period when the real is hidden by the unreal; then we have that weird and distorted condition when forms are not seen as they truly are but lose their shape and colour and perspective. True vision is then impossible. The astral stage and the vast cycle of time in which the great illusion holds sway can therefore be judged, from the above symbolic approach, to be but temporary and transient. It is not the stage of a definitely divine manifestation; it is not the stage of pure undimmed awareness; it is not the stage of the perfected work. It is that period of time wherein the half-Gods walk; it is the time wherein truth is only dimly sensed, the vision only vaguely and occasionally seen; it is the stage of the half-realised Plan, and when one works on partial knowledge, difficulty and mistakes are bound to supervene. It is also the stage of distortion and of constant mutability: whilst it is in evidence we have the apparently ceaseless pulling hither and thither by forces, working blindly and seemingly without purpose. [614] As far as humanity is concerned, it is the time wherein man is enveloped in mist and fog, and lost in the miasmas arising out of the ground (symbol of the foundational nature of the animal kingdom). Yet at times this stage is seen to be unreal as the dawning light of the spiritual consciousness pierces through the surrounding darkness. It is the interlude between the dominance of the animal consciousness and that of the spiritual, and this interlude of astral illusion is only known in the human family. There is no astral plane except in the consciousness of the fourth kingdom in nature, for man is “under illusion” in a sense different to the conscious awareness of any other kingdom—subhuman or superhuman.

Tấm màn ảo tưởng giống như khoảnh khắc trước bình minh, khi thế giới của những sự vật quen thuộc được nhìn thấy qua sương mù và những dải hơi mù che phủ hình tướng thế giới cũng như che phủ mặt trời đang mọc. Khi ấy chúng ta có một khoảng nửa chừng, một thời kỳ huyền bí và mơ hồ trong đó cái thật bị cái không thật che khuất; khi ấy chúng ta có một tình trạng kỳ dị và méo mó, trong đó các hình tướng không được thấy như chúng thật sự là, mà mất đi hình dạng, màu sắc và phối cảnh của chúng. Khi ấy tầm nhìn chân chính là điều không thể có. Do đó, giai đoạn cảm dục và chu kỳ thời gian rộng lớn trong đó đại ảo tưởng nắm quyền có thể được phán đoán, từ cách tiếp cận biểu tượng trên, chỉ là tạm thời và thoáng qua. Đó không phải là giai đoạn của một biểu hiện thiêng liêng xác định; không phải là giai đoạn của sự nhận biết tinh khiết không bị lu mờ; không phải là giai đoạn của công trình hoàn thiện. Đó là thời kỳ trong đó các bán thần bước đi; là thời kỳ trong đó chân lý chỉ được cảm nhận lờ mờ, tầm nhìn chỉ được thấy mơ hồ và đôi khi; là giai đoạn của Thiên Cơ chỉ được nhận ra một phần, và khi người ta làm việc dựa trên tri thức từng phần, khó khăn và sai lầm tất yếu sẽ phát sinh. Đó cũng là giai đoạn của sự méo mó và tính biến đổi liên tục: chừng nào nó còn hiển hiện, chúng ta còn có sự lôi kéo dường như không ngừng từ bên này sang bên kia bởi các mãnh lực, hoạt động một cách mù quáng và dường như không có mục đích. [614] Đối với nhân loại, đó là thời kỳ trong đó con người bị bao bọc trong sương mù và hơi mù, và lạc mất trong những khí độc bốc lên từ mặt đất, biểu tượng cho bản chất nền tảng của giới động vật. Tuy nhiên, đôi khi giai đoạn này được thấy là không thật, khi ánh sáng bình minh của tâm thức tinh thần xuyên qua bóng tối bao quanh. Đó là khoảng chuyển tiếp giữa sự thống trị của tâm thức động vật và tâm thức tinh thần, và khoảng chuyển tiếp của ảo tưởng cảm dục này chỉ được biết đến trong gia đình nhân loại. Không có cõi cảm dục ngoại trừ trong tâm thức của giới thứ tư trong thiên nhiên, vì con người “ở dưới ảo tưởng” theo một nghĩa khác với sự nhận biết hữu thức của bất cứ giới nào khác — dưới nhân loại hay siêu nhân loại.

I despair in making my meaning clear. How can one who is subject to the illusions of the senses, as are all human creatures, conceive of the state of consciousness of those who have freed themselves from the illusions of the astral plane or realise the state of awareness of those forms of life which have not yet developed astral consciousness? It is the dual nature of the mind which causes this illusion, for the mind of man presents to him the keys of the kingdom of heaven or locks upon him the door of entrance into the world of spiritual realities. It is the concretising unprincipled mind which brings about all the troubles of humanity. It is the sense of I-ness and the spirit of separative individuality which has brought humanity to its present condition, and yet even that is a part of the great developing process. It is the consciousness of duality, and the subjectively realised and synchronously acknowledged sense of “I am God” and “I am form” which has plunged mankind into the great illusion.

Tôi thật khó làm cho ý nghĩa của mình trở nên rõ ràng. Làm sao một người còn chịu chi phối bởi các ảo tưởng của giác quan, như tất cả các tạo vật nhân loại, có thể quan niệm được trạng thái tâm thức của những vị đã tự giải thoát khỏi các ảo tưởng của cõi cảm dục, hoặc nhận ra trạng thái nhận biết của những hình tướng sự sống chưa phát triển tâm thức cảm dục? Chính bản chất nhị phân của thể trí gây ra ảo tưởng này, vì thể trí của con người trao cho y các chìa khóa của Thiên Giới, hoặc khóa chặt trên y cánh cửa đi vào thế giới của các thực tại tinh thần. Chính thể trí cụ thể hóa, vô nguyên khí, đã gây ra mọi rắc rối của nhân loại. Chính ý thức về cái tôi và tinh thần cá thể tính chia rẽ đã đưa nhân loại đến tình trạng hiện nay, tuy nhiên ngay cả điều đó cũng là một phần của tiến trình phát triển lớn lao. Chính tâm thức nhị nguyên, cùng cảm thức được chứng nghiệm chủ quan và đồng thời được thừa nhận về “Tôi là Thượng đế” và “Tôi là hình tướng”, đã đẩy nhân loại chìm vào đại ảo tưởng.

Yet it is this very illusion which renders up to man eventually the secret password into the kingdom of God and brings about his release. It is this maya itself which [615] serves to guide him into truth and knowledge; it is on the plane of the astral that the heresy of separateness has to be overcome, and it is on the field of Kurukshetra that the individual aspiring Arjuna, and the cosmic Arjuna learn the lesson that the knower and the known are one. The secret science of the Master of the Wisdom is the secret of how to dissipate the fogs and mist and darkness and gloom which are produced by the union of the fires in the early stages. The secret of the Master is the discovery that there is no astral plane; he finds that the astral plane is a figment of the imagination and has been created through the uncontrolled use of the creative imagination and the misuse of the magical powers. The work of the hierarchy is primarily to bring to an end the shadows and to dispel the moisture; the aim of the Masters is to let in the light of the soul and to show that spirit and matter are the two realities which constitute the unity and that it is only in time and in space and through the cyclic misuse of the magical and psychic powers that the astral plane of the great illusion has come into being and is now so real a thing that it is—in a certain sense—more real (to man) than the kingdom of light and the kingdom of form. In one most interesting sense it is true that because the human being is a soul and because the light of the soul is found within him and is gradually growing into fuller radiance this itself produces the illusion. Because of this illusion, the magical work has been carried forward along wrong lines and has been based on wrong motives and fitted into a scheme which is stronger than the average worker, for the whole force of the world illusion is against all the efforts of the beginner in white magic.

Tuy nhiên, chính ảo tưởng này cuối cùng lại trao cho con người mật khẩu bí mật vào Thiên Giới và đem lại sự giải thoát cho y. Chính ảo lực này [615] phục vụ để dẫn dắt y vào chân lý và tri thức; chính trên cõi cảm dục mà tà thuyết chia rẽ phải được khắc phục, và chính trên cánh đồng Câu Lư mà A Châu Na cá nhân đang chí nguyện, cũng như A Châu Na vũ trụ, học bài học rằng thức giả và cái được biết là một. Khoa học bí mật của Chân sư Minh Triết là bí quyết làm tiêu tan sương mù, hơi mù, bóng tối và u ám do sự hợp nhất của các lửa trong những giai đoạn đầu tạo ra. Bí mật của Chân sư là khám phá rằng không có cõi cảm dục; Ngài thấy rằng cõi cảm dục là một sản phẩm của sự tưởng tượng và đã được tạo ra do việc sử dụng không kiểm soát Sự tưởng tượng sáng tạo và việc lạm dụng các quyền năng huyền thuật. Công việc của Thánh Đoàn trước hết là chấm dứt các bóng tối và xua tan hơi ẩm; mục tiêu của các Chân sư là để ánh sáng của linh hồn đi vào và chỉ ra rằng tinh thần và vật chất là hai thực tại cấu thành sự hợp nhất, và chỉ trong thời gian và không gian, cùng qua việc lạm dụng các quyền năng huyền thuật và thông linh theo chu kỳ, mà cõi cảm dục của đại ảo tưởng đã đi vào hiện tồn và nay trở thành một điều thật đến mức — theo một nghĩa nào đó — đối với con người, nó thật hơn giới ánh sáng và giới hình tướng. Theo một nghĩa rất thú vị, đúng là vì con người là một linh hồn, và vì ánh sáng của linh hồn được tìm thấy trong y và đang dần dần tăng trưởng thành sự rạng ngời đầy đủ hơn, chính điều này tạo ra ảo tưởng. Vì ảo tưởng này, công việc huyền thuật đã được tiến hành theo những đường hướng sai lạc, đặt nền trên những động cơ sai lạc và được lồng vào một hệ thống mạnh hơn người hoạt động trung bình, vì toàn bộ mãnh lực của ảo tưởng thế giới chống lại mọi nỗ lực của người sơ cơ trong Chánh Thuật.

The rules therefore end with the statement that the magician chants the words that “blend the fire and water”—but these are the rules for the aspirant. The rules for initiates of a paralleling kind end with the [616] words: “Let the initiate sound the note that unifies the fires”. This is significant and of much encouragement to the beginner in the magical work. He is still perforce working on the astral plane and he cannot possibly avoid so doing for much time. The mark of growth for him is the steady withdrawal of his consciousness from that plane and his attainment of mental poise and of mental awareness, followed by creative work on the mental plane. There is an interesting and ancient proclamation found in the archives of the adepts which covers some of the stages in the magical work, couched of course in symbolic form:

Do đó, các quy luật kết thúc bằng lời tuyên bố rằng nhà huyền thuật xướng những lời “hòa trộn lửa và nước” — nhưng đây là các quy luật dành cho người chí nguyện. Các quy luật dành cho các điểm đạo đồ thuộc loại song song kết thúc bằng [616] những lời: “Hãy để điểm đạo đồ xướng âm điệu hợp nhất các lửa”. Điều này có ý nghĩa và đem lại nhiều khích lệ cho người sơ cơ trong công việc huyền thuật. Y vẫn buộc phải làm việc trên cõi cảm dục, và trong một thời gian dài, y không thể nào tránh làm như vậy. Dấu hiệu tăng trưởng đối với y là sự rút lui đều đặn của tâm thức y khỏi cõi ấy, và sự đạt tới quân bình trí tuệ cùng sự nhận biết trí tuệ, tiếp theo là công việc sáng tạo trên cõi trí. Có một tuyên ngôn cổ xưa và thú vị được tìm thấy trong văn khố của các chân sư, bao hàm một số giai đoạn trong công việc huyền thuật, dĩ nhiên được diễn đạt bằng hình thức biểu tượng:

“Let the magician stand within the great world sea. Let him immerse himself in water and there let him stand his ground. Let him look down into the watery depths. Nothing is seen in form correct. Nothing appears but water. Beneath his feet it moves, around him, and above his head. He cannot speak; he cannot see. Truth disappears in water.

“Hãy để nhà huyền thuật đứng trong biển cả thế giới vĩ đại. Hãy để y ngâm mình trong nước và ở đó giữ vững lập trường. Hãy để y nhìn xuống những chiều sâu nước. Không có gì được thấy trong hình tướng đúng đắn. Không gì xuất hiện ngoài nước. Dưới chân y, nước chuyển động; quanh y và trên đầu y cũng vậy. Y không thể nói; y không thể thấy. Chân lý biến mất trong nước.

“Let the magician stand within the stream. Around him water flows. His feet stand firm on land and rock, but all the forms he sees are lost in the grey immensity of mist. The water is around his neck, but, feet on rock and head in air, he maketh progress. All is distortion still. He knows he stands, but where to go and how to go he knows not, nor understands. He sounds the words of magic, but muffled, dim and lost, the mist returns them to him, and no true note sounds forth. Around him are the many sounds of many forms, which swallow up his sound.

“Hãy để nhà huyền thuật đứng trong dòng chảy. Quanh y, nước tuôn chảy. Chân y đứng vững trên đất và đá, nhưng mọi hình tướng y thấy đều mất hút trong sự bao la xám xịt của sương mù. Nước ở quanh cổ y, nhưng với chân trên đá và đầu trong không khí, y tiến bước. Tất cả vẫn còn méo mó. Y biết mình đang đứng, nhưng đi đâu và đi như thế nào thì y không biết, cũng không thấu hiểu. Y xướng những lời huyền thuật, nhưng bị bóp nghẹt, mờ nhạt và lạc mất, sương mù trả chúng lại cho y, và không một âm điệu chân thật nào vang ra. Quanh y là nhiều âm thanh của nhiều hình tướng, nuốt chửng âm thanh của y.

“Let the magician stand in watery mist, free of the running stream. Some outlines dim appear. He sees a little distance on the Path. Flickers of light break through the clouds of mist and fog. He hears his voice; its note is clearer and more true. The forms of other pilgrims can be seen. Behind him is the sea. Beneath his feet is seen the stream. Around him mist and fog. Above his head no sky is seen nor sun.

“Hãy để nhà huyền thuật đứng trong sương nước, thoát khỏi dòng chảy đang tuôn. Một vài đường nét mờ nhạt xuất hiện. Y thấy được một khoảng ngắn trên Đường Đạo. Những tia sáng lập lòe xuyên qua các đám mây sương mù và hơi mù. Y nghe tiếng nói của mình; âm điệu của nó rõ hơn và chân thật hơn. Có thể thấy các hình tướng của những người hành hương khác. Phía sau y là biển cả. Dưới chân y là dòng chảy. Quanh y là sương mù và hơi mù. Trên đầu y không thấy bầu trời cũng không thấy mặt trời.

“Let the magician stand on higher ground, but in the rain. The drops pour down upon him; the thunder breaks; the lightning flashes in the sky. But as the rain pours down, [617] it dissipates the mist, it washes clean the form and clears the atmosphere.

“Hãy để nhà huyền thuật đứng trên vùng đất cao hơn, nhưng trong mưa. Những giọt mưa đổ xuống trên y; sấm nổ; chớp lóe trên bầu trời. Nhưng khi mưa đổ xuống, [617] nó làm tiêu tan sương mù, rửa sạch hình tướng và làm trong bầu khí quyển.

“Thus forms are seen and sounds are heard, though dim as yet, for loud the thunder roars and heavy is the sound of failing rain. But now the sky is seen; the sun breaks forth and in between the drifting clouds, expanses of the blue of heaven cheer the tired eyes of the disciple.

“Như thế các hình tướng được thấy và các âm thanh được nghe, dù vẫn còn mờ nhạt, vì tiếng sấm gầm vang và âm thanh của mưa rơi nặng nề. Nhưng giờ đây bầu trời được thấy; mặt trời ló dạng, và giữa những đám mây trôi dạt, các khoảng trời xanh làm vui đôi mắt mệt mỏi của người đệ tử.

“Let the magician stand upon the mountain top. Beneath him in the valleys and the plains, water and streams and clouds are seen. Above him is the blue of heaven, the radiance of the rising sun, the pureness of the mountain air. Each sound is clear. The silence speaks with sound.”

“Hãy để nhà huyền thuật đứng trên đỉnh núi. Bên dưới y, trong các thung lũng và đồng bằng, nước, dòng suối và mây được thấy. Trên y là bầu trời xanh, ánh rạng của mặt trời đang mọc, sự tinh khiết của không khí núi cao. Mỗi âm thanh đều rõ ràng. Im lặng nói bằng âm thanh.”

Then come the highly significant phrases which give the picture of the consummation:

Sau đó đến những cụm từ hết sức có ý nghĩa, đưa ra bức tranh về sự viên mãn:

“Let the magician stand within the sun, looking from thence upon the ball of earth. From that high point of peace serene let him sound forth the words that will create the forms, build worlds and universes and give his life to that which he has made. Let him project the forms created on the mountain top in such a way that they can cleave the clouds which circle round the ball of earth, and carry light and power. These shall dispel the veil of forms which hide the true abode of earth from the eye of the beholder.”

“Hãy để nhà huyền thuật đứng trong mặt trời, từ đó nhìn xuống quả cầu Trái Đất. Từ điểm cao của sự an bình tĩnh lặng ấy, hãy để y xướng ra những lời sẽ tạo nên các hình tướng, xây dựng các thế giới và các vũ trụ, và trao sự sống của mình cho điều y đã làm ra. Hãy để y phóng chiếu các hình tướng được tạo ra trên đỉnh núi theo cách để chúng có thể xẻ đôi các đám mây bao quanh quả cầu Trái Đất, và mang ánh sáng cùng quyền năng. Những điều này sẽ xua tan tấm màn hình tướng che giấu trú xứ chân thật của Trái Đất khỏi mắt người quan sát.”

Such is the end of the magical work. It involves the discovery that the astral plane and the astral light so-called are but the cinematographs created by man himself. What man has created he can also destroy.

Đó là sự kết thúc của công việc huyền thuật. Nó bao hàm sự khám phá rằng cõi cảm dục và cái gọi là ánh sáng cảm dục chỉ là những hình ảnh điện ảnh do chính con người tạo ra. Điều con người đã tạo ra, y cũng có thể phá hủy.

More as to the magical work I may not at this time give. The words that blend may not under any circumstances be given except under the oath of secrecy which governs automatically the pledged disciple; these oaths are given to no man but are rendered by the aspirant to his own soul when that soul has conveyed to him the words. He finds them for himself as the result of tireless effort and endeavour. He knows that these formulas are the prerogative of all souls and can only be known and safely used by those who have realised the Self as One. He therefore pledges himself never to reveal these [618] words to any one who is not functioning as a soul or who is wandering blinded in the vale of illusion. From this automatic response to knowledge by the knowers of the race, the Hierarchy of Adepts has gathered its personnel.

Về công việc huyền thuật, lúc này tôi không thể trao thêm. Những lời hòa trộn không thể, trong bất cứ hoàn cảnh nào, được trao ra ngoại trừ dưới lời thệ nguyện giữ bí mật, vốn tự động chi phối người đệ tử đã cam kết; những lời thệ nguyện này không được trao cho bất cứ ai, mà do người chí nguyện dâng lên linh hồn của chính mình khi linh hồn ấy đã truyền cho y những lời đó. Y tự mình tìm thấy chúng như kết quả của nỗ lực và cố gắng không mệt mỏi. Y biết rằng những công thức này là đặc quyền của mọi linh hồn, và chỉ có thể được biết cùng sử dụng an toàn bởi những ai đã chứng nghiệm Bản Ngã như Một. Vì vậy, y tự cam kết không bao giờ tiết lộ những [618] lời này cho bất cứ ai không hoạt động như một linh hồn, hoặc đang lang thang mù lòa trong thung lũng ảo tưởng. Từ sự đáp ứng tự động này đối với tri thức bởi những thức giả của nhân loại, Thánh Đoàn Chân Sư đã quy tụ nhân sự của mình.

A Call to Service— Một Lời Kêu Gọi Phụng Sự

In closing this treatise on the magical work of the individual aspirant I seek to do two things:

Khi khép lại khảo luận này về công việc huyền thuật của người chí nguyện cá nhân, tôi tìm cách làm hai việc:

1. Indicate the immediate goal for students in this century, and summarise time steps that they must take.

1. Chỉ ra mục tiêu trước mắt cho các đạo sinh trong thế kỷ này, và tóm lược các bước theo thời gian mà họ phải thực hiện.

2. Indicate the things which must be eliminated and overcome and the penalties which overtake the probationer and the disciple when mistakes are made and faults are condoned.

2. Chỉ ra những điều phải được loại bỏ và khắc phục, cùng các hình phạt giáng xuống người dự bị và đệ tử khi sai lầm được phạm phải và lỗi lầm được dung túng.

First of all, the immediate goal must be well recognised, if lost effort is to be avoided and real progress achieved. Many well-intentioned aspirants are prone to give undue time to their registered aspirations, and to the formulation of their plans for service. The world aspiration is now so strong and humanity is now so potently orienting itself towards the Path that sensitive people everywhere are being swept into a vortex of spiritual desire, and ardently long for the life of liberation, of spiritual undertakings and of recorded soul consciousness. Their recognition of their own latent possibilities is now so strong that they over-estimate themselves; they give much time to picturing themselves as the ideal mystic or in deploring their lack of spiritual achievement or their failure to achieve a sphere of service. Thus they become lost, on the one hand, in the vague and misty realms of a beautiful idealism, of colourful hypotheses, and of delightful theories; on the other hand, they become engulfed in a dramatisation of themselves as centres of power in a field of fruitful service; they [619] draw up, mentally, plans for world endeavour to see themselves as the pivotal point around which that service will move; they frequently make an effort to work out these plans and produce an organisation, for instance on the physical plane, which is potentially valuable but equally potentially useless, even if not dangerous. They fail to realise that the motivating impulse is primarily due to what the Hindu teachers call a “sense of I-ness”, and that their work is founded on a subjective egoism which must—and will—be eliminated before true service can be rendered.

Trước hết, mục tiêu trước mắt phải được nhận biết rõ ràng, nếu muốn tránh nỗ lực lãng phí và đạt được tiến bộ thật sự. Nhiều người chí nguyện có thiện ý dễ dành quá nhiều thời gian cho những khát vọng mà họ ghi nhận, và cho việc hình thành các kế hoạch phụng sự của họ. Khát vọng thế giới hiện nay mạnh mẽ đến mức, và nhân loại hiện nay đang định hướng một cách đầy quyền năng về phía Đường Đạo đến mức, những người nhạy cảm ở khắp nơi đang bị cuốn vào một xoáy lốc của ham muốn tinh thần, và tha thiết khao khát đời sống giải thoát, các công cuộc tinh thần và tâm thức linh hồn được ghi nhận. Sự nhận biết của họ về các khả năng tiềm tàng của chính mình hiện nay mạnh đến mức họ đánh giá quá cao bản thân; họ dành nhiều thời gian để hình dung mình là nhà thần bí lý tưởng, hoặc than tiếc sự thiếu thành tựu tinh thần của mình, hay sự thất bại trong việc đạt được một lĩnh vực phụng sự. Như thế, một mặt, họ lạc mất trong những cõi mơ hồ và đầy sương mù của một chủ nghĩa lý tưởng đẹp đẽ, của các giả thuyết nhiều màu sắc và các lý thuyết thú vị; mặt khác, họ bị chìm ngập trong sự kịch tính hóa chính mình như những trung tâm quyền năng trong một lĩnh vực phụng sự phong phú; họ [619] vạch ra, trong trí, các kế hoạch cho nỗ lực thế giới để thấy mình là điểm then chốt quanh đó sự phụng sự ấy sẽ vận hành; họ thường cố gắng thực hiện các kế hoạch này và tạo ra một tổ chức, chẳng hạn trên cõi hồng trần, vốn có tiềm năng giá trị nhưng cũng có tiềm năng vô dụng, thậm chí nguy hiểm. Họ không nhận ra rằng xung lực thúc đẩy trước hết là do điều mà các huấn sư Ấn Độ gọi là “ý thức về cái tôi”, và công việc của họ đặt nền trên một chủ nghĩa vị kỷ chủ quan, điều phải — và sẽ — bị loại bỏ trước khi sự phụng sự chân chính có thể được thực hiện.

This tendency to aspiration and to service is right and good and should be seen as forming part of the coming universal consciousness and equipment of the race as a whole. It is steadily coming to the surface owing to the growing strength of the Aquarian influence which (from about the year A.D. 1640) has been gaining in potency and is producing two effects: it is breaking down the crystallised old forms of the Piscean age, and is stimulating the creative faculties, as they express themselves in group concepts, and group plans. As all of you well know, this is the cause of the present disturbed conditions, and these conditions can be summed up in the words: impersonalisation wherein the state, group or groups are regarded as of more importance than the individual and his rights; amalgamation, which is the tendency to fuse, blend, and cohere and to produce that interrelation which must eventually mark the intercourse of humanity and produce that “synthesis of all the single men”, which Browning so truly remarks is the goal of the evolutionary process and marks the conclusion of the journey of the divine prodigal; and sensitive intercommunication between units, groups and combinations of groups, both on the subjective and objective sides of manifestation. In these three words—impersonalisation, amalgamation, and intercommunication—you [620] have summed up for you the outstanding phenomena which are appearing among us at this time. Students are urged to consider the plan as it is thus expressing itself, and to study these growing tendencies in human affairs. The fact that they are so prominent will appear, if the student will take the trouble to consider the panorama of history; he will then note that even the history of five hundred years ago will reveal to him the fact that at that time great individuals were the prominent factors, and that history is concerned largely with the doings of powerful personalities who cast their spell over their time and age; then isolation and separateness governed human affairs and every man fought for his own land and every man forgot his brother and lived selfishly; then there was little interrelation between different races or between human families, and there was no real means of communication, except that of personal contact, which was frequently impossible.

Khuynh hướng hướng tới khát vọng và phụng sự này là đúng và tốt, và nên được nhìn như hình thành một phần của tâm thức phổ quát đang đến cùng trang bị của toàn thể nhân loại. Nó đang liên tục trồi lên bề mặt nhờ sức mạnh ngày càng tăng của ảnh hưởng Bảo Bình, vốn từ khoảng năm 1640 sau Công nguyên đã gia tăng quyền năng và đang tạo ra hai hiệu quả: nó phá vỡ các hình tướng cũ đã kết tinh của Kỷ Nguyên Song Ngư, và kích thích các năng lực sáng tạo khi chúng biểu lộ trong các khái niệm nhóm và kế hoạch nhóm. Như tất cả các bạn đều biết rõ, đây là nguyên nhân của những tình trạng rối loạn hiện nay, và các tình trạng này có thể được tóm lược trong những từ: phi cá nhân hóa, trong đó nhà nước, nhóm hay các nhóm được xem là quan trọng hơn cá nhân và các quyền của y; hợp nhất hóa, tức khuynh hướng dung hợp, hòa trộn và cố kết, đồng thời tạo ra mối tương liên cuối cùng phải đánh dấu sự giao tiếp của nhân loại và tạo nên “sự tổng hợp của mọi con người riêng lẻ”, điều mà Browning đã nhận xét rất đúng là mục tiêu của tiến trình tiến hoá và đánh dấu kết thúc cuộc hành trình của người con hoang đàng thiêng liêng; và giao thông liên lạc nhạy bén giữa các đơn vị, các nhóm và các tổ hợp nhóm, trên cả hai mặt chủ quan và khách quan của sự biểu hiện. Trong ba từ này — phi cá nhân hóa, hợp nhất hóa và giao thông liên lạc — các bạn [620] có phần tóm lược những hiện tượng nổi bật đang xuất hiện giữa chúng ta vào lúc này. Các đạo sinh được thúc giục hãy xem xét Thiên Cơ như nó đang tự biểu lộ như vậy, và nghiên cứu những khuynh hướng đang tăng trưởng này trong các sự vụ của nhân loại. Sự kiện chúng nổi bật đến thế sẽ hiện ra nếu đạo sinh chịu khó xem xét toàn cảnh lịch sử; khi ấy y sẽ ghi nhận rằng ngay cả lịch sử năm trăm năm trước cũng sẽ tiết lộ cho y sự kiện rằng vào thời ấy, các cá nhân vĩ đại là những yếu tố nổi bật, và lịch sử phần lớn quan tâm đến hành động của những phàm ngã quyền lực, những người đã phủ sức hấp dẫn của họ lên thời đại của mình; khi ấy sự cô lập và chia rẽ chi phối các sự vụ nhân loại, mỗi người chiến đấu cho vùng đất của riêng mình, mỗi người quên huynh đệ mình và sống ích kỷ; khi ấy có rất ít tương liên giữa các nhân loại khác nhau hoặc giữa các gia đình nhân loại, và không có phương tiện giao tiếp thật sự nào ngoài tiếp xúc cá nhân, điều thường khi là không thể.

Students should therefore ponder on these words which will be found to become of increasing importance during the next fifty years. This is far enough ahead for the average student to look and to plan, and in their recognition of this phase of the working out of the divine Purpose, they would do well to study their individual life expression and to ask themselves the following questions:

Do đó, các đạo sinh nên suy ngẫm về những lời này, vốn sẽ được thấy là ngày càng quan trọng trong năm mươi năm tới. Đây là khoảng đủ xa phía trước để đạo sinh trung bình nhìn và hoạch định; và trong sự nhận biết của họ về giai đoạn này của việc thực thi Thiên Ý, họ nên nghiên cứu biểu hiện đời sống cá nhân của mình và tự hỏi những câu hỏi sau:

1. Are they wasting time in mystical dreams, or are they occupied in a practical application of the sensed spiritual truths, thus making them part of their daily experience?

1. Họ có đang lãng phí thời gian trong những giấc mơ thần bí, hay đang bận rộn với việc áp dụng thực tiễn các chân lý tinh thần đã cảm nhận, nhờ đó biến chúng thành một phần trong kinh nghiệm hằng ngày của mình?

2. Do they find that their reaction to the growing impersonality of the age is one of resentment, or do they find that this relatively new attitude of personal detachment is tending to solve their own personal problems? [621]

2. Họ có thấy rằng phản ứng của mình trước tính phi cá nhân ngày càng tăng của thời đại là sự oán giận, hay họ thấy rằng thái độ tương đối mới này của sự tách rời cá nhân đang có khuynh hướng giải quyết các vấn đề cá nhân của chính họ? [621]

3. Can they register an increasing ability to sense the thoughts and ideas of others, and do they find that they are becoming more sensitive and therefore more able to swing into the great tide of intercommunication?

3. Họ có thể ghi nhận một khả năng ngày càng tăng trong việc cảm nhận tư tưởng và ý tưởng của người khác, và họ có thấy rằng mình đang trở nên nhạy cảm hơn, do đó có khả năng hơn để hòa vào làn sóng lớn của giao thông liên lạc hay không?

4. How much is the faculty of dramatisation governing their daily life? Do they find that they are the centre of the universe, which revolves automatically around them, or are they working at the problem of decentralising themselves and at absorption in the whole?

4. Năng lực kịch tính hóa đang chi phối đời sống hằng ngày của họ đến mức nào? Họ có thấy rằng mình là trung tâm của vũ trụ, vũ trụ ấy tự động xoay quanh họ, hay họ đang làm việc với vấn đề phi tập trung vào bản thân và hấp thu vào toàn thể?

These and other questions which will arise may serve to indicate the responsiveness of the aspirant to the coming in of the new age.

Những câu hỏi này và những câu hỏi khác sẽ nảy sinh có thể dùng để chỉ ra khả năng đáp ứng của người chí nguyện đối với sự đi vào của kỷ nguyên mới.

In this treatise on individual development and on astral control, a vision has been given and a rule of life expounded which holds in it the needed instruction for the interlude between the two great ages—the Piscean and the Aquarian. A part of the underlying purpose has been expressed in words—a purpose which is recognised by many all over the world and which is working out in practically every department of human life. It is subconsciously registered and intuitively followed by many who know nothing of the technicalities of the plan. Those who guide the human race are not particularly concerned as to the success of the emerging new conditions. That is most definitely assured, and the growth of human realisation and of the spiritual consciousness of non-separateness cannot be arrested. The problem is what means to continue to employ to bring these desired ends about in such a way that the form nature can be keyed up and prepared to handle its new responsibilities, and deal with its new knowledges without undue suffering and those painful cleavages and hours of agony which attract more attention than the more subtle and [622] successful growth of divine awareness. Every time there is a tendency towards synthesis and understanding in the world, every time the lesser is merged in the greater and the unit is blended in the whole, every time great and universal concepts make their impact upon the minds of the masses, there is a subsequent disaster and cataclysm and breaking down of the form aspect and of that which might prevent those concepts becoming physical plane facts. This is therefore the problem of the hierarchical workers: —how to avert the dreaded suffering and carry man along whilst the tidal wave of this spiritual realisation sweeps over the world and does its needed work. Hence the present call to service which is sounding like a trumpet in the ear of all attentive disciples.

Trong khảo luận này về sự phát triển cá nhân và về việc kiểm soát cõi cảm dục, một tầm nhìn đã được trao và một quy luật sống đã được giảng giải, trong đó chứa đựng giáo huấn cần thiết cho khoảng chuyển tiếp giữa hai đại thời đại—Song Ngư và Bảo Bình. Một phần của mục đích nền tảng đã được diễn đạt thành lời—một mục đích được nhiều người khắp thế giới nhận ra và đang thành tựu trong hầu như mọi ngành của đời sống nhân loại. Mục đích ấy được nhiều người ghi nhận trong tiềm thức và noi theo bằng trực giác, dù họ không biết gì về các chi tiết kỹ thuật của Thiên Cơ. Những Đấng hướng dẫn nhân loại không đặc biệt bận tâm về sự thành công của các điều kiện mới đang xuất hiện. Điều đó chắc chắn tuyệt đối, và sự tăng trưởng trong nhận biết của nhân loại cùng tâm thức tinh thần về tính bất phân ly không thể bị ngăn lại. Vấn đề là cần tiếp tục dùng những phương tiện nào để đem lại các mục tiêu mong muốn ấy theo cách khiến bản chất hình tướng có thể được nâng đúng âm điệu và chuẩn bị để đảm nhận các trách nhiệm mới, cũng như xử lý các tri thức mới của nó mà không chịu đau khổ quá mức, không trải qua những chia rẽ đau đớn và những giờ phút thống khổ vốn thu hút nhiều chú ý hơn sự tăng trưởng tinh tế hơn và [622] thành công hơn của nhận thức thiêng liêng. Mỗi khi có một khuynh hướng hướng tới sự tổng hợp và thấu hiểu trong thế giới, mỗi khi cái nhỏ hơn được hòa nhập vào cái lớn hơn và đơn vị được hòa vào toàn thể, mỗi khi những quan niệm lớn lao và phổ quát tác động vào trí tuệ của quần chúng, thì sau đó có tai họa, biến động và sự tan vỡ của phương diện hình tướng cùng những gì có thể ngăn các quan niệm ấy trở thành sự kiện trên cõi hồng trần. Do đó, đây là vấn đề của các người hoạt động thuộc Thánh Đoàn: làm thế nào để ngăn ngừa sự đau khổ đáng sợ và đưa con người tiến tới trong khi làn sóng thủy triều của sự nhận biết tinh thần này quét qua thế giới và thực hiện công việc cần thiết của nó. Vì thế, lời kêu gọi phụng sự hiện nay đang vang lên như tiếng kèn trong tai mọi đệ tử chú tâm.

This call to service usually meets with a response, but that response is coloured by the personality of the aspirant and tinctured with his pride, and his ambition. Need is truly realised. The desire to meet the need is genuine and sincere; the longing to serve and lift is real. Steps are taken which are intended by the aspirant to enable him to fit in with the plan. But the trouble with which we on the inner side have perforce to deal is, that though there is no question as to willingness and desire to serve, the characters and temperaments are such that well nigh insuperable difficulties are presented. Through these aspirants we have to work, and the material they present gives us much trouble frequently.

Lời kêu gọi phụng sự này thường gặp sự đáp ứng, nhưng sự đáp ứng ấy bị nhuộm màu bởi phàm ngã của người chí nguyện và bị pha lẫn với lòng kiêu hãnh cùng tham vọng của y. Nhu cầu thật sự được nhận biết. Ước muốn đáp ứng nhu cầu là chân thật và thành tâm; niềm khao khát phụng sự và nâng đỡ là có thật. Người chí nguyện thực hiện những bước đi mà y cho là sẽ giúp y hòa hợp với Thiên Cơ. Nhưng khó khăn mà chúng tôi ở phía bên trong buộc phải xử lý là: dù không hề nghi ngờ về thiện chí và ước muốn phụng sự, tính cách và khí chất của họ lại tạo ra những khó khăn gần như không thể vượt qua. Chúng tôi phải làm việc qua các người chí nguyện này, và chất liệu mà họ đưa ra thường gây cho chúng tôi nhiều phiền toái.

These latent characteristics often do not make their appearance until after the service has been undertaken. That they are there, the watching guides may suspect, but even they have not the right to withhold opportunity. When there is this delayed appearance the tragedy is that many others suffer besides the aspirant concerned. As the human fabric makes itself felt and stands out of the mist of idealism, of lovely plans and much talk and arranging, many are in the meantime attracted by synchronous [623] idealism, and gather around the server. When the hidden weaknesses appear, they suffer as well as he. The method of the Great Ones, which is to seek out those who have trained themselves somewhat in sensitive response and to work through them, carries with it certain dangers. The ordinary well-meaning aspirant is not in such danger as the more advanced and active disciple. He is in danger in three directions and can be swept off his feet in three ways:

Những đặc tính tiềm ẩn này thường chỉ xuất hiện sau khi công việc phụng sự đã được đảm nhận. Các vị hướng dẫn đang quan sát có thể nghi ngờ rằng chúng hiện hữu, nhưng ngay cả Các Ngài cũng không có quyền từ chối cơ hội. Khi sự xuất hiện ấy bị trì hoãn, bi kịch là ngoài người chí nguyện liên hệ, nhiều người khác cũng phải chịu khổ. Khi kết cấu nhân loại tự bộc lộ và nổi bật khỏi làn sương mù của chủ nghĩa lý tưởng, của các kế hoạch đẹp đẽ, của nhiều lời nói và sắp đặt, thì trong lúc ấy nhiều người bị thu hút bởi [623] chủ nghĩa lý tưởng đồng nhịp và tụ họp quanh người phụng sự. Khi các yếu điểm ẩn giấu xuất hiện, họ cũng chịu khổ như y. Phương pháp của Các Đấng Cao Cả—tức là tìm ra những người đã phần nào tự rèn luyện trong sự đáp ứng nhạy bén và làm việc qua họ—mang theo những nguy cơ nhất định. Người chí nguyện bình thường, có thiện chí, không ở trong nguy hiểm nhiều như đệ tử tiến bộ và hoạt động hơn. Y gặp nguy hiểm theo ba hướng và có thể bị cuốn bật khỏi chỗ đứng của mình theo ba cách:

1. His whole nature is under undue stimulation on account of his inner contacts and the spiritual forces with which he is in touch, and this carries with it real danger, for he hardly knows as yet how to handle himself, and is scarcely aware of the risk entailed.

1. Toàn bộ bản chất của y bị kích thích quá mức do các tiếp xúc bên trong và các mãnh lực tinh thần mà y đang liên hệ, và điều này mang theo nguy hiểm thật sự, vì y hầu như chưa biết cách xử lý chính mình và hầu như chưa nhận thức được nguy cơ kéo theo.

2. The people with whom he is working, in their turn, make his problem. Their greed, their adulation, and praise, and their criticism tend to becloud his way. Because he is not sufficiently detached and spiritually advanced, he walks bemused in a cloud of thought-forms, and knows it not. Thus he loses his way and wanders from the original intent and again he knows it not.

2. Những người mà y đang làm việc cùng, đến lượt họ, lại tạo nên vấn đề của y. Lòng tham, sự tôn sùng và khen ngợi, cũng như sự chỉ trích của họ có khuynh hướng làm mờ lối đi của y. Vì y chưa đủ tách rời và chưa tiến bộ về mặt tinh thần, y bước đi trong mê hoặc giữa một đám mây các hình tư tưởng mà không hay biết. Như thế y lạc đường, rời khỏi ý định ban đầu, và một lần nữa y không hay biết.

3. His latent weaknesses must emerge under the pressure of the work, and inevitably he will show signs of cracking at times, if I may use such a word. The personality faults become strengthened as he seeks to carry his particular form of service to the world. I refer to that service which is self-sought and formulated on a background of personal ambition and love of power, even if only partially recognised or not recognised at all. He is under strain naturally, and—like a man carrying a heavy load up a steep hill—he discovers points of strain, and evinces a tendency to break [624] down physically, or to lower his ideal so as to conform to weaknesses.

3. Các yếu điểm tiềm ẩn của y phải xuất hiện dưới áp lực của công việc, và tất yếu đôi khi y sẽ cho thấy dấu hiệu rạn nứt, nếu tôi có thể dùng từ ấy. Những lỗi lầm của phàm ngã trở nên mạnh hơn khi y tìm cách đem hình thức phụng sự riêng của mình đến với thế giới. Tôi đang nói đến loại phụng sự do tự mình tìm kiếm và được hình thành trên nền tảng của tham vọng cá nhân và lòng yêu quyền lực, dù điều ấy chỉ được nhận ra một phần hoặc hoàn toàn không được nhận ra. Tự nhiên y ở dưới sức căng, và—giống như một người mang gánh nặng lên một ngọn đồi dốc—y phát hiện các điểm căng thẳng và bộc lộ khuynh hướng suy [624] sụp về thể xác, hoặc hạ thấp lý tưởng của mình để phù hợp với các yếu điểm.

To all this must be added the strain of the period itself, and the general condition of unhappy humanity. This subconsciously has its effect on all disciples, and upon all who are now working in the world. Some are showing signs of physical pressure, though the inner life remains poised and normal, sane and rightly oriented. Others are breaking up emotionally and this produces two effects according to the point of development of the aspirant to service. He is either, through the strain, learning detachment, and this curiously enough is what might be called the “defense mechanism” of the soul in this present period of world unfoldment, or he is becoming increasingly nervous and is on the way to become a neurotic. Others, again, are feeling the pressure in the mental body. They become bewildered in some cases and no clear truth appears. They then work on without inspiration, and because they know it to be right and they also have the rhythm of work. Others are grasping opportunity as they see it and, to do so, fall back on innate self-assertion (which is the outstanding fault of the mental types) and build up a structure around their service, and construct a form which in reality embodies what they desire, what they think to be right, but which is separative and the child of their minds and not the child of their souls. Some, in their turn, more potent and more coordinated, feel the pressure of the entire personality; the versatile psychic nature responds both to need and to the theory of the plan; they realise their truly valuable assets and know they have somewhat to contribute. They are still, however, so full of what is called personality that their service is gradually and steadily stepped down to the level of that personality, and is consequently coloured by their personality reactions, their likes and dislikes, [625] and their individual life tendencies and habits. These eventually assert themselves and there is then a worker, doing good work but spoiling it all by this unrealised separateness and individual methods. This means that such a worker gathers to himself only those whom he can subordinate and govern. His group is not coloured by the impulses of the new age, but by the separative instincts of the worker at the centre. The danger here is so subtle that much care must be taken by a disciple in self-analysis. It is so easy to be glamoured by the beauty of one’s own ideals and vision, and by the supposed rectitude of one’s own position, and yet all the time be influenced subjectively by love of personal power, individual ambition, jealousy of other workers, and the many traps which catch the feet of the unwary disciple.

Vào tất cả những điều này phải thêm sức căng của chính thời kỳ hiện nay, và tình trạng chung của nhân loại bất hạnh. Điều này tác động trong tiềm thức đến mọi đệ tử và đến tất cả những ai hiện đang hoạt động trong thế giới. Một số người cho thấy dấu hiệu áp lực trên thể xác, dù đời sống bên trong vẫn quân bình, bình thường, lành mạnh và được định hướng đúng. Những người khác đang tan vỡ về mặt cảm xúc, và điều này tạo ra hai kết quả tùy theo điểm phát triển của người chí nguyện phụng sự. Hoặc do sức căng, y đang học sự tách rời—và điều này, lạ thay, có thể được gọi là “cơ chế phòng vệ” của linh hồn trong thời kỳ khai mở hiện nay của thế giới—hoặc y ngày càng trở nên căng thẳng thần kinh và đang trên đường thành người loạn thần kinh. Lại có những người khác cảm thấy áp lực trong thể trí. Trong vài trường hợp, họ trở nên hoang mang và không thấy chân lý rõ ràng nào. Khi ấy họ tiếp tục làm việc mà không có cảm hứng, bởi vì họ biết đó là điều đúng, và cũng vì họ có nhịp điệu của công việc. Những người khác nắm lấy cơ hội như họ thấy, và để làm như vậy, họ dựa vào sự tự khẳng định bẩm sinh, vốn là lỗi nổi bật của các loại trí tuệ, rồi dựng lên một cấu trúc quanh công việc phụng sự của họ, kiến tạo một hình tướng mà trong thực tế hiện thân cho điều họ mong muốn, điều họ cho là đúng, nhưng lại có tính chia rẽ và là đứa con của thể trí họ, chứ không phải đứa con của linh hồn họ. Đến lượt một số người khác, mạnh mẽ hơn và phối hợp hơn, cảm thấy áp lực của toàn bộ phàm ngã; bản chất thông linh linh hoạt đáp ứng cả nhu cầu lẫn lý thuyết của Thiên Cơ; họ nhận biết các tài sản thật sự quý giá của mình và biết rằng họ có điều gì đó để đóng góp. Tuy nhiên, họ vẫn còn quá đầy cái gọi là phàm ngã đến nỗi công việc phụng sự của họ dần dần và đều đặn bị hạ xuống cấp độ của phàm ngã ấy, và vì thế bị nhuộm màu bởi các phản ứng phàm ngã, các điều họ thích và không thích, [625] cùng các khuynh hướng và thói quen của đời sống cá nhân. Cuối cùng những điều này tự khẳng định, và khi ấy có một người hoạt động đang làm công việc tốt nhưng làm hỏng tất cả bởi sự phân ly không được nhận biết này và bởi các phương pháp cá nhân. Điều đó có nghĩa là người hoạt động ấy chỉ thu hút về mình những ai y có thể đặt dưới quyền và cai quản. Nhóm của y không được nhuộm màu bởi các xung lực của kỷ nguyên mới, mà bởi các bản năng chia rẽ của người hoạt động ở trung tâm. Nguy cơ ở đây tinh vi đến mức đệ tử phải hết sức cẩn trọng trong việc tự phân tích. Rất dễ bị ảo cảm bởi vẻ đẹp của các lý tưởng và tầm nhìn của chính mình, bởi tính đúng đắn giả định của lập trường riêng mình, trong khi suốt thời gian đó vẫn bị ảnh hưởng một cách chủ quan bởi lòng yêu quyền lực cá nhân, tham vọng cá nhân, sự ganh tị với các người hoạt động khác, và nhiều cạm bẫy bắt lấy đôi chân của đệ tử thiếu cảnh giác.

But if true impersonality is cultivated, if the power to stand steady is developed, if every situation is handled in a spirit of love and if there is a refusal to take hasty action and to permit separation to creep in, then there will be the growth of a group of true servers, and the gathering out of those who can materialise the plan and bring to birth the new age and its attendant wonders.

Nhưng nếu sự vô ngã chân thật được vun trồng, nếu năng lực đứng vững được phát triển, nếu mọi tình huống được xử lý trong tinh thần bác ái, và nếu có sự từ chối hành động vội vàng cũng như từ chối cho phép sự chia rẽ len vào, thì sẽ có sự tăng trưởng của một nhóm những người phụng sự chân thật, và sự quy tụ những người có thể hiện hình Thiên Cơ, khai sinh kỷ nguyên mới cùng các kỳ diệu đi kèm của nó.

To do this, there must be courage of the rarest kind. Fear holds the world in thrall, and no one is exempt from its influence. For the aspirant and for the disciple are two kinds of fear which require to be especially considered. The fears that we dealt with in the earlier part of the treatise, and the fears that are inherent, as you know, in existence itself are familiar to all of us. They have their root in the instinctual nature (economic fears, fears arising out of the sex life, physical fear and terror, fear of the unknown, with that dominating fear of death which colours so many lives) and have been the subject of much psychological investigation. With them I do not seek to deal. They are to be overcome by the life of the soul as it permeates and transforms the daily life, [626] and by the refusal of the aspirant to accord them any recognition. The first method builds towards future strength of character, and prevents the coming in of any new fears. They cannot exist when the soul is consciously controlling life and its situations. The second negatives the old thought forms and brings about eventually their destruction through lack of nourishment. A dual process is therefore carried forward, producing a genuine manifestation of the qualities of the spiritual man and a growing freedom from the thralldom of age-old fear concepts. The student finds himself becoming steadily detached from the prime governing instincts which have hitherto served to weld him into the general scheme of the elementary planetary life. It might be valuable here to point out that all the major instincts have their roots in that peculiar quality of the planetary life, —fear reactions, leading to activity of some kind. As you know the psychologists list five main and dominant instincts, and we will very briefly touch upon them.

Để làm được điều này, cần có lòng can đảm thuộc loại hiếm hoi nhất. Sợ hãi đang giam giữ thế giới, và không ai được miễn khỏi ảnh hưởng của nó. Đối với người chí nguyện và đệ tử, có hai loại sợ hãi cần được đặc biệt xem xét. Những nỗi sợ mà chúng ta đã bàn ở phần trước của khảo luận, và những nỗi sợ vốn có trong chính sự hiện hữu, như các bạn biết, đều quen thuộc với tất cả chúng ta. Chúng bắt rễ trong bản chất bản năng: các nỗi sợ kinh tế, các nỗi sợ phát sinh từ đời sống tính dục, sợ hãi và kinh hoàng về thể xác, sợ điều chưa biết, cùng nỗi sợ chết chi phối và nhuộm màu rất nhiều đời sống; và chúng đã là đề tài của nhiều cuộc nghiên cứu tâm lý. Tôi không tìm cách bàn đến chúng ở đây. Chúng phải được vượt qua bằng đời sống của linh hồn khi đời sống ấy thấm nhuần và chuyển đổi đời sống hằng ngày, [626] và bằng việc người chí nguyện từ chối dành cho chúng bất kỳ sự công nhận nào. Phương pháp thứ nhất xây dựng sức mạnh tính cách trong tương lai và ngăn không cho bất kỳ nỗi sợ mới nào đi vào. Chúng không thể tồn tại khi linh hồn có ý thức kiểm soát đời sống và các tình huống của nó. Phương pháp thứ hai phủ định các hình tư tưởng cũ và cuối cùng đem lại sự hủy diệt chúng do thiếu nuôi dưỡng. Vì thế một tiến trình kép được tiến hành, tạo ra sự biểu lộ chân thật các phẩm tính của con người tinh thần và một sự tự do ngày càng tăng khỏi ách nô lệ của các quan niệm sợ hãi lâu đời. Đạo sinh thấy mình dần dần tách rời khỏi các bản năng cai quản sơ khởi, vốn cho đến nay đã dùng để hàn gắn y vào hệ thống chung của đời sống hành tinh sơ khai. Ở đây có thể hữu ích khi chỉ ra rằng tất cả các bản năng chính đều có gốc rễ trong phẩm tính đặc thù ấy của đời sống hành tinh—các phản ứng sợ hãi dẫn đến một loại hoạt động nào đó. Như các bạn biết, các nhà tâm lý học liệt kê năm bản năng chính và chi phối, và chúng ta sẽ đề cập rất vắn tắt đến chúng.

The instinct of self-preservation has its roots in an innate fear of death; through the presence of this fear, the race has fought its way to its present point of longevity and endurance. The sciences which concern themselves with the preservation of life, the medical knowledge of the day, and the achievements of civilised comfort have all grown out of this basic fear. All has tended to the persistence of the individual, and to his preserved condition of being. Humanity persists, as a race and as a kingdom in nature, as a result of this fear tendency, this instinctual reaction of the human unit to self-perpetuation.

Bản năng tự bảo tồn có gốc rễ trong nỗi sợ chết bẩm sinh; nhờ sự hiện diện của nỗi sợ này, nhân loại đã chiến đấu để đạt đến điểm trường thọ và sức chịu đựng hiện nay. Các ngành khoa học liên quan đến việc bảo tồn sự sống, tri thức y học ngày nay, và các thành tựu của tiện nghi văn minh đều phát triển từ nỗi sợ căn bản này. Tất cả đều hướng đến sự tồn tại bền bỉ của cá nhân và đến tình trạng hiện hữu được bảo tồn của y. Nhân loại tồn tại, như một nhân loại và như một giới trong thiên nhiên, nhờ khuynh hướng sợ hãi này, phản ứng bản năng này của đơn vị nhân loại đối với sự tự duy trì.

The instinct of sex has its main root in the fear of separateness and of isolation, and in a revolt against separative unity on the physical plane, against aloneness; and it has resulted in the carrying forward of the race and [627] the persistence and propagation of the forms through which the race can come into manifestation.

Bản năng tính dục có gốc rễ chính trong nỗi sợ phân ly và cô lập, trong sự nổi loạn chống lại tính hợp nhất chia rẽ trên cõi hồng trần, chống lại sự đơn độc; và nó đã đưa nhân loại tiếp tục tiến lên, [627] đồng thời duy trì và truyền sinh các hình tướng qua đó nhân loại có thể đi vào biểu hiện.

The herd instinct can easily be seen to have its root in a similar reaction; for the sense of safety and for convinced assured security—based on numerical aggregations—men have always sought their own kind and herded themselves together for defense and for economic stability. Out of this instinctual reaction of the race as a whole, our modern civilisation is the result; its vast centres, its huge cities and its massed tenements have emerged, and we have modern herding, carried to the nth degree.

Bản năng bầy đàn có thể dễ dàng thấy là bắt rễ trong một phản ứng tương tự; vì cảm giác an toàn và vì sự bảo đảm chắc chắn—dựa trên các tập hợp đông đảo—con người luôn tìm kiếm đồng loại của mình và tụ họp lại với nhau để phòng vệ và để ổn định kinh tế. Từ phản ứng bản năng này của toàn thể nhân loại, nền văn minh hiện đại của chúng ta đã phát sinh; các trung tâm rộng lớn, các thành phố khổng lồ và những khu nhà ở dày đặc của nó đã xuất hiện, và chúng ta có sự tụ đàn hiện đại, được đẩy đến mức tột cùng.

The fourth great instinct, that of self-assertion, is also based on fear; it connotes the fear of the individual that he will fail of recognition and thus lose much that would otherwise be his. As time has progressed, the selfishness of the race has thus grown; its sense of acquisitiveness has developed and the power to grasp has emerged (the “will to power” in some form or another) until today we have the intense individualism and the positive sense of importance which have produced much of the modern economic and national troubles. We have fostered self-determination, self-assertion and self-interest until we are presented with a well-nigh insuperable problem. But out of it all, much good has come and will come, for no individual is of value until he realises that value for himself, and then with definiteness sacrifices the acquired values for the good of the whole.

Bản năng lớn thứ tư, tức sự tự khẳng định, cũng đặt nền trên sợ hãi; nó hàm ý nỗi sợ của cá nhân rằng y sẽ không được công nhận và do đó mất nhiều điều lẽ ra thuộc về y. Theo dòng thời gian, tính ích kỷ của nhân loại vì thế đã tăng trưởng; ý thức chiếm hữu của nó đã phát triển và năng lực nắm giữ đã xuất hiện, tức “ý chí quyền lực” dưới hình thức này hay hình thức khác, cho đến ngày nay chúng ta có chủ nghĩa cá nhân mãnh liệt và cảm thức tích cực về tầm quan trọng, vốn đã tạo ra nhiều rối ren kinh tế và quốc gia hiện đại. Chúng ta đã nuôi dưỡng sự tự quyết, sự tự khẳng định và lợi ích riêng cho đến khi đối diện với một vấn đề gần như không thể vượt qua. Nhưng từ tất cả điều đó, nhiều điều tốt đẹp đã đến và sẽ đến, vì không cá nhân nào có giá trị cho đến khi y tự nhận ra giá trị ấy cho chính mình, rồi sau đó dứt khoát hiến dâng các giá trị đã đạt được cho lợi ích của toàn thể.

The instinct to enquire in its turn is based on fear of the unknown, but out of this fear has emerged—as a result of age-long enquiry—our present educational and cultural systems and the entire structure of scientific investigation.

Đến lượt bản năng tìm hiểu đặt nền trên nỗi sợ điều chưa biết, nhưng từ nỗi sợ này—như kết quả của sự tìm hiểu qua nhiều thời đại—đã xuất hiện các hệ thống giáo dục và văn hóa hiện nay của chúng ta cùng toàn bộ cấu trúc nghiên cứu khoa học.

These tendencies, based on fear have (because man is divine) acted as a tremendous stimulation of his entire nature, and have carried him forward to his present point [628] of wide comprehension and usefulness; they have produced our modern civilisation with all its defects and yet with all its indicated divinity. Out of these instincts carried forward into infinity, and out of the process of their transmutation into their higher correspondences the full flower of soul expression will emerge. I would like to point out the following:

Các khuynh hướng này, đặt nền trên sợ hãi, bởi vì con người là thiêng liêng, đã tác động như một sự kích thích mạnh mẽ đối với toàn bộ bản chất của y và đã đưa y tiến tới điểm hiện nay [628] của sự thấu hiểu rộng rãi và tính hữu dụng; chúng đã tạo ra nền văn minh hiện đại của chúng ta với tất cả những khiếm khuyết của nó, nhưng cũng với tất cả thiên tính được chỉ ra của nó. Từ các bản năng này khi được đưa tiến vào vô hạn, và từ tiến trình chuyển hoá chúng thành các tương ứng cao hơn của chúng, đóa hoa trọn vẹn của sự biểu lộ linh hồn sẽ xuất hiện. Tôi muốn chỉ ra những điều sau:

The instinct of self-presentation finds its consummation in assured immortality, and of this the work undertaken by the spiritualists and psychic investigators right down the ages is the mode of approach and the inevitable guarantee.

Bản năng tự bảo tồn đạt đến sự viên mãn của nó trong tính bất tử chắc chắn, và công việc do các nhà thần linh học cùng các nhà nghiên cứu thông linh thực hiện suốt các thời đại là phương thức tiếp cận và sự bảo đảm tất yếu cho điều này.

The sex instinct has worked out and finds its logical consummation in the relationship—consciously realised—of the soul and the body. This is the keynote of mysticism and religion, which is today, as ever, the expression of the Law of Attraction, not as it expresses itself through physical plane marriage, but as it finds its consummation (for man) in the sublime marriage carried forward with conscious intent between the positive soul and the negative and receptive form.

Bản năng tính dục đã vận hành và tìm thấy sự viên mãn hợp lý của nó trong mối tương quan—được nhận biết một cách có ý thức—giữa linh hồn và thể xác. Đây là chủ âm của Thần bí học và tôn giáo, vốn ngày nay cũng như bao giờ là sự biểu lộ của Định luật Hấp Dẫn, không phải như nó biểu lộ qua hôn nhân trên cõi hồng trần, mà như nó đạt đến sự viên mãn, đối với con người, trong cuộc hôn phối cao cả được tiến hành với ý định có ý thức giữa linh hồn dương tính và hình tướng âm tính, tiếp nhận.

The herd instinct finds its divine consummation in an awakened group consciousness, which is evidenced today in the general tendency towards amalgamations, and the widespread fusing and blending which are going on everywhere. It demonstrates in the ability to think in terms of internationalism, of universal concepts, which will eventually result in the establishing of universal brotherhood.

Bản năng bầy đàn tìm thấy sự viên mãn thiêng liêng của nó trong một tâm thức nhóm được thức tỉnh, điều đang được chứng minh ngày nay qua khuynh hướng chung hướng tới các sự hợp nhất, và sự dung hợp cùng hòa trộn rộng khắp đang diễn ra ở mọi nơi. Nó biểu lộ trong năng lực suy nghĩ theo tinh thần quốc tế, theo các quan niệm phổ quát, điều cuối cùng sẽ dẫn đến việc thiết lập tình huynh đệ phổ quát.

The instinct of self-assertion, in its turn, has given to our modern civilisation its intense individualism, the cult of the personality, and the production of ancestor and hero-worship. It is leading, however, to the assertion of the Self, of the divine inner Ruler, and out of our newest science, psychology, will emerge a knowledge of the assertive and dominant spiritual Self, and lead [629] finally to the manifestation of the kingdom of souls on earth.

Đến lượt bản năng tự khẳng định đã đem lại cho nền văn minh hiện đại của chúng ta chủ nghĩa cá nhân mãnh liệt, sự sùng bái phàm ngã, và việc tạo ra sự thờ phụng tổ tiên cùng anh hùng. Tuy nhiên, nó đang dẫn đến sự khẳng định của Bản Ngã, của Đấng Cai Quản thiêng liêng bên trong; và từ khoa học mới nhất của chúng ta, Tâm Lý Học, sẽ xuất hiện tri thức về Bản Ngã tinh thần có tính khẳng định và chi phối, rồi cuối [629] cùng dẫn đến sự biểu lộ của giới linh hồn trên Trái Đất.

And what of the instinct to enquire? Transmuted into divine investigation and transformed by the application of the light of the soul in the realm of enquiry, we shall have humanity carried forward into the Hall of Wisdom and thus man will leave behind the experiences of the Hall of Knowledge. Our great educational centres will become schools for the development of intuitive perception and of spiritual awareness.

Còn bản năng tìm hiểu thì sao? Khi được chuyển hoá thành sự khảo cứu thiêng liêng và được chuyển đổi bằng việc áp dụng ánh sáng của linh hồn trong lĩnh vực tìm hiểu, chúng ta sẽ có nhân loại được đưa tiến vào Phòng Minh triết, và như thế con người sẽ bỏ lại phía sau các kinh nghiệm của Phòng Hiểu Biết. Các trung tâm giáo dục lớn của chúng ta sẽ trở thành những trường học để phát triển nhận thức trực giác và nhận thức tinh thần.

Instinct

Correspondence

Mode

1. Self-preservation

Immortality

Spiritualistic Research.

2. Sex

Spiritual union At-one-ment

Religion. Mysticism.

3. Herd

Group consciousness

Brotherhood.

4. Self-Assertion

Assertion of the Self

Psychology.

5. Enquiry

Intuition

Education.

The table above should be carefully studied by the student:

Đạo sinh nên nghiên cứu kỹ bảng trên:

Thus the fears which beset humanity, having their roots in instincts, seem nevertheless to be divine characteristics, misapplied and misused. When, however, they are rightly understood and used, and transmuted by the knowing soul, they produce awareness and are the source of growth and that which conveys to the dormant sou-—in time and space—the needed impulse, impetus and urge to progress which have carried man forward from the caveman stage and the prehistoric cycle, through the long period of history, and can be trusted today to carry him forward with increasing rapidity, as he now arrives at intellectual comprehension and can apply himself to the problem of progress in full awareness.

Như vậy, những nỗi sợ vây bủa nhân loại, tuy bắt rễ trong bản năng, dẫu vậy dường như lại là các đặc tính thiêng liêng bị áp dụng sai và sử dụng sai. Tuy nhiên, khi chúng được thấu hiểu và sử dụng đúng, được linh hồn hiểu biết chuyển hoá, chúng tạo ra nhận thức và là nguồn của tăng trưởng, cũng như là điều truyền cho linh hồn đang ngủ yên—trong thời gian và không gian—xung lực, động lực và thôi thúc cần thiết để tiến bộ, vốn đã đưa con người tiến lên từ giai đoạn người hang động và chu kỳ tiền sử, qua thời kỳ dài của lịch sử, và ngày nay có thể được tin cậy là sẽ đưa y tiến tới với tốc độ ngày càng nhanh, khi hiện nay y đạt đến sự thấu hiểu trí tuệ và có thể chuyên tâm vào vấn đề tiến bộ trong nhận thức đầy đủ.

Students need to realise more deeply that the whole process is a divine one, and that evil, so-called, is but an illusion and an inherent part of duality, giving place in [630] time and out of time to a divine unity. Evil is due to wrong perception and erroneous interpretation of that which is perceived. The achievement of true vision, plus right understanding, brings about freedom from the instinctual reactions and evokes that inner detachment which enables a man to walk at liberty in the kingdom of God.

Các đạo sinh cần nhận biết sâu xa hơn rằng toàn bộ tiến trình là một tiến trình thiêng liêng, và cái gọi là ác chỉ là một ảo tưởng và là một phần cố hữu của Nhị nguyên, nhường chỗ trong [630] thời gian và ngoài thời gian cho một sự hợp nhất thiêng liêng. Ác là do nhận thức sai và diễn giải sai điều được nhận thức. Việc đạt được tầm nhìn chân thật, cộng với sự thấu hiểu đúng, đem lại tự do khỏi các phản ứng bản năng và gợi lên sự tách rời bên trong, nhờ đó con người có thể bước đi tự do trong Thiên Giới.

But what of the two fears with which the aspirant has peculiar concern? What of the fear of public opinion, and fear of failure? These are two potent factors in the life of service, and hinder many.

Nhưng còn hai nỗi sợ mà người chí nguyện đặc biệt liên hệ thì sao? Còn nỗi sợ dư luận công chúng và nỗi sợ thất bại thì sao? Đây là hai yếu tố mạnh mẽ trong đời sống phụng sự, và cản trở nhiều người.

Those who are beginning to work in cooperation with the plan and are learning the significance of service are prone to fear that what they do will be criticised and misjudged, or fall a victim to the reverse idea that what they do will not be sufficiently liked, appreciated and understood. They demand liking and praise. They gauge success by numbers and by response. They dislike to have their motives impugned and misjudged, and rush violently into explanation; they are unhappy if their methods, the personnel of their group, and the way in which their service is rendered comes under the tongue of criticism. The false objectives of numbers, of power or of a formulated doctrine control them. Unless what they do measures up to the standards or conforms to the technique of the group of minds which surrounds them or appeals the most to them, they are unhappy and consequently frequently change their plans, alter their viewpoint, and lower their standard until it conforms to their immediate mass psychology, or their chosen counsellors.

Những người bắt đầu làm việc trong sự hợp tác với Thiên Cơ và đang học thâm nghĩa của phụng sự thường có khuynh hướng sợ rằng điều họ làm sẽ bị chỉ trích và phán xét sai, hoặc rơi làm nạn nhân của ý tưởng ngược lại rằng điều họ làm sẽ không được yêu thích, trân trọng và thấu hiểu đủ mức. Họ đòi hỏi sự yêu thích và lời khen. Họ đo lường thành công bằng số lượng và bằng sự đáp ứng. Họ không thích động cơ của mình bị nghi ngờ và phán xét sai, và lao vào giải thích một cách dữ dội; họ bất hạnh nếu các phương pháp của họ, nhân sự trong nhóm của họ và cách công việc phụng sự của họ được thực hiện trở thành đề tài cho lời chỉ trích. Các mục tiêu sai lầm về số lượng, quyền lực hoặc một giáo lý đã được công thức hóa kiểm soát họ. Trừ phi điều họ làm đạt đến các tiêu chuẩn hoặc phù hợp với kỹ thuật của nhóm trí tuệ bao quanh họ hay hấp dẫn họ nhất, họ bất hạnh và do đó thường xuyên thay đổi kế hoạch, đổi quan điểm và hạ thấp tiêu chuẩn của mình cho đến khi nó phù hợp với tâm lý quần chúng tức thời của họ hoặc các cố vấn mà họ đã chọn.

The true disciple sees the vision. He then seeks to keep so closely in touch with his soul that he can stand with steadiness whilst he endeavours to make that vision a reality; he aims to achieve what, from the standpoint of the world seems to be impossible, knowing that the vision is not materialised through expediency and undue [631] adaptation of the suggested ideas of worldly or intellectual counsellors. Public opinion and the advice of those who are Piscean in their tendencies and not Aquarian are carefully considered but not unduly so, and when advice is found to be separative and tends to eliminate harmony, and produces a lack of brotherly love and understanding, it is discarded at once. When there is evidenced a constantly critical attitude towards other workers in the field of world service and where there is a capacity to see only selfishness and fault and to impute wrong motives and to believe evil, then the true aspirant refuses to be swayed and goes serenely on his way.

Đệ tử chân thật thấy tầm nhìn. Sau đó y tìm cách giữ tiếp xúc mật thiết đến mức với linh hồn mình, để y có thể đứng vững trong khi nỗ lực làm cho tầm nhìn ấy thành hiện thực; y nhắm đến việc đạt được điều mà theo quan điểm thế gian dường như là bất khả, vì biết rằng tầm nhìn không hiện hình nhờ sự quyền biến và sự [631] thích nghi quá mức với các ý tưởng được đề nghị bởi các cố vấn thế tục hoặc trí thức. Dư luận công chúng và lời khuyên của những người có khuynh hướng Song Ngư chứ không phải Bảo Bình được cân nhắc cẩn thận nhưng không quá mức; và khi lời khuyên được thấy là có tính chia rẽ, có khuynh hướng loại trừ hòa hợp, tạo ra sự thiếu bác ái huynh đệ và thiếu thấu hiểu, thì nó bị gạt bỏ ngay. Khi một thái độ thường xuyên chỉ trích đối với các người hoạt động khác trong lĩnh vực phụng sự thế giới được bộc lộ, và khi có khả năng chỉ thấy ích kỷ và lỗi lầm, gán động cơ sai trái và tin vào điều ác, thì người chí nguyện chân thật từ chối bị lay chuyển và thanh thản đi tiếp con đường của mình.

In the coming cycle I emphatically tell you that the true work will be carried forward (the work of spiritually welding the world into a synthesis and the production of a recognised brotherhood of souls) only by those who refuse to be separative and whose words are watched so that no evil is spoken; these are the workers who see the divine in all and refuse to think evil and impute evil; they work with sealed lips; they deal not with their brothers affairs, nor reveal that which concerns them; their lives are coloured by understanding and by love; their minds are characterised by a trained spiritual perception and that spiritual awareness which employs a keen intellect as the corollary of a loving spirit.

Trong chu kỳ sắp tới, tôi nhấn mạnh nói với các bạn rằng công việc chân thật sẽ được tiến hành—công việc hàn gắn thế giới về mặt tinh thần thành một sự tổng hợp và tạo ra một tình huynh đệ các linh hồn được công nhận—chỉ bởi những người từ chối chia rẽ và canh giữ lời nói của mình để không lời ác nào được thốt ra; đó là những người hoạt động thấy thiên tính trong tất cả và từ chối nghĩ điều ác cũng như gán điều ác; họ làm việc với đôi môi khép kín; họ không bàn đến việc của các huynh đệ mình, cũng không tiết lộ những gì liên quan đến họ; đời sống của họ được nhuộm màu bởi sự thấu hiểu và bác ái; thể trí của họ được đặc trưng bởi một nhận thức tinh thần đã được rèn luyện và bởi nhận thức tinh thần sử dụng một trí năng sắc bén như hệ quả của một tinh thần bác ái.

May I repeat in other words this theme, for its importance is vital and the effect of the work of these instruments on the world is immense. These men and women whose mission it is to inaugurate the New Age have learned the secret of silence; they are animated ceaselessly by a spirit of inclusive love; their tongues lead them not astray into the field of ordinary criticism, and they permit no condemnation of others; they are animated by the spirit of protection. To them will be committed the work of fostering the life of the New Age. [632]

Tôi xin lặp lại chủ đề này bằng những lời khác, vì tầm quan trọng của nó là thiết yếu và ảnh hưởng của công việc do các khí cụ này thực hiện đối với thế giới là bao la. Những người nam và nữ có sứ mệnh khai mở Kỷ Nguyên Mới này đã học được bí quyết của im lặng; họ không ngừng được linh hoạt bởi một tinh thần bác ái bao gồm; lưỡi của họ không dẫn họ lạc vào lĩnh vực chỉ trích thông thường, và họ không cho phép bất kỳ sự kết án nào đối với người khác; họ được linh hoạt bởi tinh thần che chở. Công việc nuôi dưỡng đời sống của Kỷ Nguyên Mới sẽ được giao phó cho họ. [632]

To those who have not yet reached this point in evolution and whose vision is not so clear, nor their natures so disciplined, there remains the important work, on a lower level, of working with their kind. Their attributes and qualities bring to them those who resemble them; they do not work in such loneliness and their work is more outwardly successful, though not always so.

Đối với những người chưa đạt đến điểm tiến hoá này, có tầm nhìn chưa rõ ràng như thế, và bản chất chưa được kỷ luật như thế, vẫn còn công việc quan trọng ở một cấp độ thấp hơn: làm việc với những người cùng loại với họ. Các thuộc tính và phẩm tính của họ thu hút đến với họ những người giống họ; họ không làm việc trong sự cô độc như vậy, và công việc của họ có vẻ thành công hơn ở bên ngoài, dù không phải lúc nào cũng thế.

It must be remembered that all work, in the sight of the Great Ones, is of equal importance. For those souls who are at the stage where a home or office provides sufficient experience, that is for them the supreme effort; their attempt to work is—on its own level—as great an achievement as to fulfill the destiny of a Christ or a Napoleon. Forget this not and seek to see life truly and not with its distinctions—men-made and dangerous. A disciple who has not yet the fuller vision of a more trained worker and who is only just learning the ABC of public work may, with all his failures and dense stupidities, be doing as well as an older disciple with his wider knowledge and experience.

Cần nhớ rằng mọi công việc, dưới mắt Các Đấng Cao Cả, đều có tầm quan trọng ngang nhau. Đối với những linh hồn đang ở giai đoạn mà một mái nhà hay một văn phòng cung cấp đủ kinh nghiệm, thì đó là nỗ lực tối thượng đối với họ; nỗ lực làm việc của họ—trên cấp độ riêng của nó—là một thành tựu lớn lao như việc hoàn thành số mệnh của một Đức Christ hay một Napoleon. Đừng quên điều này, và hãy tìm cách thấy đời sống một cách chân thật, chứ không qua các phân biệt do con người tạo ra và đầy nguy hiểm. Một đệ tử chưa có tầm nhìn đầy đủ hơn của một người hoạt động được rèn luyện nhiều hơn, và chỉ mới học những bước đầu của công việc công khai, với tất cả các thất bại và sự ngu độn đậm đặc của mình, có thể đang làm tốt ngang một đệ tử già dặn hơn với tri thức và kinh nghiệm rộng hơn của y.

The New Age Groups and Training— Các Nhóm Kỷ Nguyên Mới và Sự Huấn Luyện

To those of us who are working on the inner side, the workers in the world fall into three groups:

Đối với những người trong chúng tôi đang làm việc ở phía bên trong, các người hoạt động trong thế giới chia thành ba nhóm:

1. Those, few and far between, who are true Aquarians. These work under real difficulties, for their vision is beyond the grasp of the majority, and they meet often lack of understanding, frequent disappointment in their fellow workers, and much loneliness.

1. Những người, rất ít và rải rác, là các người Bảo Bình chân thật. Họ làm việc dưới những khó khăn thật sự, vì tầm nhìn của họ vượt ngoài sự nắm bắt của đa số, và họ thường gặp sự thiếu thấu hiểu, sự thất vọng thường xuyên nơi các bạn đồng sự, và nhiều cô độc.

2. Those who are straight Pisceans. These work with much greater facility and find a more rapid response from those around them. Their work is more doctrinal, less inclusive and coloured by the spirit of separation. They include the mass of [633] world workers in all the various departments of human thought and welfare.

2. Những người hoàn toàn thuộc Song Ngư. Họ làm việc dễ dàng hơn nhiều và tìm thấy sự đáp ứng nhanh hơn từ những người chung quanh. Công việc của họ có tính giáo điều hơn, ít bao gồm hơn và bị nhuộm màu bởi tinh thần chia rẽ. Họ bao gồm đại đa số [633] các người hoạt động thế giới trong mọi ngành khác nhau của tư tưởng và phúc lợi nhân loại.

3. Those Pisceans who are enough developed to respond to the Aquarian message, but who—as yet—cannot trust themselves to employ the real Aquarian methods of work and message.

3. Những người Song Ngư đã phát triển đủ để đáp ứng với thông điệp Bảo Bình, nhưng cho đến nay vẫn chưa thể tin cậy chính mình để sử dụng các phương pháp và thông điệp Bảo Bình thật sự.

For instance, they have in the political field, a sense of internationalism, but they cannot apply it when it comes to the understanding of others. They think they have a universal consciousness, but when it comes to a test, they discriminate and eliminate. They constitute a much smaller group than the true Pisceans and are doing good work and filling a much needed place. The problem they present however to the Aquarian worker lies in the fact that though they respond to the ideal and regard themselves as of the new age, they are not truly so. They see a bit of the vision and have grasped the theory but cannot express it in action.

Chẳng hạn, trong lĩnh vực chính trị, họ có cảm thức về tinh thần quốc tế, nhưng họ không thể áp dụng nó khi cần thấu hiểu người khác. Họ nghĩ mình có một tâm thức phổ quát, nhưng khi gặp thử thách, họ phân biện và loại trừ. Họ tạo thành một nhóm nhỏ hơn nhiều so với những người Song Ngư chân thật, và đang làm công việc tốt cũng như lấp đầy một vị trí rất cần thiết. Tuy nhiên, vấn đề mà họ đặt ra cho người hoạt động Bảo Bình nằm ở chỗ: dù họ đáp ứng với lý tưởng và tự xem mình thuộc kỷ nguyên mới, họ thật sự không phải như vậy. Họ thấy một phần của tầm nhìn và đã nắm được lý thuyết, nhưng không thể biểu lộ nó trong hành động.

Thus we have these three groups doing much needed work and reaching through their united undertakings the mass of people and fulfilling thus their dharma. One group works necessarily under the glamour of public opinion. The intermediate group has a most difficult task to perform, for where there is no clear vision the voice of their chosen environment and the voice of the inner group of world Knowers are often in conflict and they are pulled hither and thither as they respond first to one and then to the other. The group of those who respond more fully to the incoming Aquarian vibration register the voices of the leaders of the other two groups, but the voice of the guiding Masters and the voice of the group of world Masters serve to guide them unerringly forward.

Như vậy, chúng ta có ba nhóm này đang làm công việc rất cần thiết và, qua các nỗ lực hợp nhất của họ, chạm đến đại chúng và nhờ đó hoàn thành thiên chức của họ. Một nhóm tất yếu làm việc dưới ảo cảm của dư luận công chúng. Nhóm trung gian có một nhiệm vụ khó khăn nhất phải thực hiện, vì nơi nào không có tầm nhìn rõ ràng, tiếng nói của môi trường mà họ đã chọn và tiếng nói của nhóm bên trong gồm các thức giả thế giới thường xung đột, và họ bị kéo qua kéo lại khi đáp ứng lúc thì với bên này, lúc thì với bên kia. Nhóm những người đáp ứng đầy đủ hơn với rung động Bảo Bình đang đi vào ghi nhận tiếng nói của các nhà lãnh đạo thuộc hai nhóm kia, nhưng tiếng nói của các Chân sư hướng dẫn và tiếng nói của nhóm các Chân sư thế giới dẫn dắt họ tiến tới không sai lạc.

I have sought to explain the above modes and methods [634] of work, for the times are hard and clarity of thought is needed if the work is to go forward as desired. Even such triple distinctions as exist between the groups are themselves of a separative tincture, and it is yet impossible to preserve any idea in its true and synthetic relation. It is a gain when the many thousands of separative groups can be grouped into three comprehensive ones and the mind of the disciple be thus freed from the detailed analysis of the world situation among the workers with the Plan.

Tôi đã tìm cách giải thích các lối và phương pháp [634] làm việc trên, vì thời cuộc khó khăn và sự rõ ràng trong tư tưởng là cần thiết nếu công việc phải tiến lên như mong muốn. Ngay cả những phân biệt tam phân như đang tồn tại giữa các nhóm cũng tự chúng mang sắc thái chia rẽ, và hiện vẫn chưa thể bảo tồn bất kỳ ý tưởng nào trong mối tương quan chân thật và tổng hợp của nó. Đó là một lợi ích khi nhiều ngàn nhóm chia rẽ có thể được gom lại thành ba nhóm bao quát, và thể trí của đệ tử nhờ đó được giải phóng khỏi sự phân tích chi tiết tình hình thế giới giữa các người hoạt động với Thiên Cơ.

The second great test of the sensitive disciple is fear of failure. This is based on past experience (for all have failed), on a realisation of the immediate need and opportunity, and on an acute appreciation of individual limitation and deficiency. It is the result oft times of a response to the lowered spiritual and physical vitality of the race today. Never before has there been a time when fear of failure has more widely haunted the human family. Another cause of this reaction is to be found in the fact that mankind as a whole and for the first time in the history of the race, senses the vision and has therefore a truer sense of relative values than ever before. Men know themselves to be divine, and this is becoming increasingly a universal realisation. Hence the present unrest and revolt from tramelling conditions. It is however a serious waste of time for a disciple to ponder upon a failure or to fear failing. There is no such thing as failure; there can only be loss of time. That in itself is serious in these days of dire world need, but the disciple must inevitably some day make good and retrieve his past failures. I need not point out that we learn by failure, for that is a well known truth, and is known as such by all who are attempting to live as souls. Nor need the disciple sorrow over the failures, apparent or real, of his fellow disciples. The sense of time produces glamour and disappointment, whereas the work goes truly [635] forward, and a lesson learnt by failure acts as a safeguard for the future. Thus it leads to rapid growth. An honest disciple may be momentarily glamoured, but in the long run nothing can really deter him. What are a few brief years in a comparative cycle of aeons? What is a second of time in a span of man’s allotted seventy years? To the individual disciple they appear most important; to the onlooking soul, they seem as nothing at all. For the world perhaps, a temporary failure may connote delay in expected help, but that again is brief, and help will come from other sources, for the Plan goes unerringly forward.

Thử thách lớn thứ hai của đệ tử nhạy bén là nỗi sợ thất bại. Điều này đặt nền trên kinh nghiệm quá khứ, vì tất cả đều đã thất bại; trên sự nhận biết về nhu cầu và cơ hội trước mắt; và trên sự đánh giá sắc bén về giới hạn và khiếm khuyết cá nhân. Nó thường là kết quả của một sự đáp ứng với sinh lực tinh thần và thể xác đã hạ thấp của nhân loại ngày nay. Chưa bao giờ có một thời kỳ mà nỗi sợ thất bại ám ảnh gia đình nhân loại rộng khắp hơn. Một nguyên nhân khác của phản ứng này được tìm thấy trong sự kiện rằng nhân loại như một toàn thể, và lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, cảm nhận được tầm nhìn và do đó có một cảm thức chân thật hơn bao giờ hết về các giá trị tương đối. Con người biết mình là thiêng liêng, và điều này ngày càng trở thành một nhận biết phổ quát. Vì thế có sự bất an hiện nay và sự nổi dậy chống lại các điều kiện trói buộc. Tuy nhiên, đối với một đệ tử, suy nghĩ mãi về một thất bại hoặc sợ thất bại là một sự lãng phí thời gian nghiêm trọng. Không có cái gọi là thất bại; chỉ có thể có sự mất thời gian. Tự điều đó đã nghiêm trọng trong những ngày thế giới đang có nhu cầu cấp bách này, nhưng một ngày nào đó đệ tử tất yếu phải bù đắp và chuộc lại các thất bại quá khứ của mình. Tôi không cần chỉ ra rằng chúng ta học qua thất bại, vì đó là một chân lý ai cũng biết, và được mọi người đang cố gắng sống như các linh hồn công nhận là như vậy. Đệ tử cũng không cần buồn rầu về các thất bại, hiển nhiên hay thật sự, của các đệ tử đồng môn. Cảm thức về thời gian tạo ra ảo cảm và thất vọng, trong khi công việc thật sự vẫn [635] tiến lên, và một bài học học được qua thất bại tác động như một sự bảo vệ cho tương lai. Như thế nó dẫn đến tăng trưởng nhanh chóng. Một đệ tử chân thành có thể nhất thời bị ảo cảm, nhưng về lâu dài không gì thật sự có thể ngăn cản y. Vài năm ngắn ngủi có là gì trong một chu kỳ tương đối của nhiều đại kiếp? Một giây thời gian là gì trong khoảng đời bảy mươi năm được phân cho con người? Đối với đệ tử cá nhân, chúng có vẻ hết sức quan trọng; đối với linh hồn đang quan sát, chúng dường như chẳng là gì cả. Đối với thế giới, có lẽ một thất bại tạm thời có thể hàm ý sự trì hoãn trong sự trợ giúp được mong đợi, nhưng điều đó cũng ngắn ngủi, và sự trợ giúp sẽ đến từ các nguồn khác, vì Thiên Cơ tiến tới không sai lạc.

May I in all earnest offer to you the paradoxical injunction to work with utter earnestness, and yet at the same time to refuse to work with such earnestness, and not to take yourself so earnestly? Those who stand on the inner side and study the work of the world aspirants today see an almost pitiful distress of individual deficiency, a sustained and strenuous effort on their part to “make themselves what they ought to be”, and yet at the same time a distressing lack of proportion, and no sense of humour whatsoever. I urge upon you to cultivate both these qualities. Do not take yourself so seriously, and you will find that you will release yourself for freer and more potent work. Take the Plan seriously and the call to serve, but waste not time in constant self-analysis.

Tôi xin hết sức nghiêm túc đưa ra cho các bạn huấn thị có vẻ nghịch lý: hãy làm việc với sự nghiêm túc tuyệt đối, đồng thời từ chối làm việc với sự nghiêm trọng như thế, và đừng quá xem trọng chính mình. Những vị đứng ở phía bên trong và nghiên cứu công việc của các người chí nguyện thế giới ngày nay thấy một nỗi khổ gần như đáng thương về sự khiếm khuyết cá nhân, một nỗ lực bền bỉ và căng thẳng của họ nhằm “làm cho mình trở thành điều mình phải là”, nhưng đồng thời cũng thấy một sự thiếu ý thức về tỉ lệ đáng buồn và hoàn toàn không có óc hài hước. Tôi thúc giục các bạn vun trồng cả hai phẩm tính này. Đừng quá nghiêm trọng với chính mình, và các bạn sẽ thấy mình được giải phóng để làm việc tự do hơn và mạnh mẽ hơn. Hãy nghiêm túc với Thiên Cơ và với lời kêu gọi phụng sự, nhưng đừng lãng phí thời gian trong sự tự phân tích liên tục.

Therefore the immediate goal for all aspiring disciples at this time can be seen to be as follows:

Do đó, mục tiêu trước mắt của mọi đệ tử chí nguyện vào lúc này có thể được thấy như sau:

1. An achievement of clarity of thought as to their own personal and immediate problems and primarily the problem as to their objective in service. This is to be done through meditation.

1. Đạt được sự rõ ràng trong tư tưởng về các vấn đề cá nhân và trước mắt của chính họ, và chủ yếu là vấn đề về mục tiêu của họ trong phụng sự. Điều này phải được thực hiện qua tham thiền.

2. The development of sensitivity to the new impulses which are flooding the world at this time. This is [636] to be brought about by loving all men more and through love and understanding contacting them with greater facility. Love reveals.

2. Phát triển sự nhạy bén đối với các xung lực mới đang tràn ngập thế giới vào lúc này. Điều này [636] phải được đem lại bằng cách yêu thương mọi người nhiều hơn, và qua bác ái cùng thấu hiểu mà tiếp xúc với họ dễ dàng hơn. Bác ái mặc khải.

3. The rendering of service with complete impersonality. This is done by eliminating personal ambition and love of power.

3. Thực hiện phụng sự với sự vô ngã hoàn toàn. Điều này được thực hiện bằng cách loại bỏ tham vọng cá nhân và lòng yêu quyền lực.

4. The refusal to pay attention to public opinion or to failure. This is done by the application of strict attention to the voice of the soul, and by an endeavour to dwell ever in the secret place of the Most High.

4. Từ chối chú ý đến dư luận công chúng hoặc thất bại. Điều này được thực hiện bằng cách chăm chú nghiêm ngặt vào tiếng nói của linh hồn, và bằng nỗ lực luôn trú trong nơi kín nhiệm của Đấng Tối Cao.

We have merged our first point as to the immediate goal and the steps to be taken to reach it with our second point as to conduct and the factors which must be eliminated. It only remains therefore to point out the penalties which will overtake the probationary disciple and the trained worker should he give way to the glamour and to the faults inherent in his nature and permit them to hinder his work and come between him and the visioned goal.

Chúng ta đã hòa nhập điểm thứ nhất của mình về mục tiêu trước mắt và các bước cần thực hiện để đạt đến nó với điểm thứ hai về cách hành xử và các yếu tố phải được loại bỏ. Do đó, chỉ còn lại việc chỉ ra các hình phạt sẽ giáng xuống đệ tử dự bị và người hoạt động đã được rèn luyện nếu y nhượng bộ ảo cảm và các lỗi lầm cố hữu trong bản chất của mình, để chúng cản trở công việc của y và chen vào giữa y với mục tiêu đã được thấy trong tầm nhìn.

It might be pointed out that there are three main points of danger in the life of service. I am not here dealing with the individual training of the disciple but with his life of service, and with the activities in which he is engaged as a worker. His temperament, equipment of characteristics (physical, emotional, and mental) do have a potent effect on his environment and on the people he seeks to help, and also his family background, his world training and his speech.

Có thể chỉ ra rằng có ba điểm nguy hiểm chính trong đời sống phụng sự. Ở đây tôi không bàn đến sự huấn luyện cá nhân của đệ tử, mà bàn đến đời sống phụng sự của y và các hoạt động mà y tham gia với tư cách một người hoạt động. Khí chất, trang bị đặc tính của y—hồng trần, cảm xúc và trí tuệ—thật sự có ảnh hưởng mạnh mẽ đến môi trường của y và đến những người y tìm cách giúp đỡ, cũng như nền tảng gia đình, sự huấn luyện trong thế giới và lời nói của y.

The first point of danger is his physical condition. On this I cannot enlarge beyond begging all disciples to act with wisdom to give themselves sufficient sleep, right food (which must vary for each individual), and those surroundings, if possible, which will enable them to work with the greatest facility. The penalty for the infringing [637] of these suggestions works out in lack of power in service and in the growing thralldom of the physical body. Where the physical body is in poor condition, the disciple has to add the liabilities incident upon the bringing in of force which he finds himself unable to handle.

Điểm nguy hiểm thứ nhất là tình trạng thể xác của y. Về điều này, tôi không thể nói rộng hơn ngoài việc khẩn thiết yêu cầu mọi đệ tử hành động với minh triết: tự cho mình ngủ đủ, ăn uống đúng cách, điều này phải thay đổi tùy mỗi cá nhân, và nếu có thể, có những hoàn cảnh giúp họ làm việc dễ dàng nhất. Hình phạt cho việc vi phạm [637] các gợi ý này biểu lộ thành sự thiếu quyền năng trong phụng sự và sự nô lệ ngày càng tăng đối với thể xác. Khi thể xác ở trong tình trạng kém, đệ tử phải cộng thêm các gánh nặng phát sinh từ việc đưa mãnh lực vào mà y thấy mình không thể xử lý.

The second point of danger is to be found in the astral illusion in which all humanity lives, and its power to glamour even experienced workers. I have considered this at length in this treatise, which is, as you know, a treatise on the control of the astral body and a right understanding of its laws. Only mental control, plus true spiritual perception, will suffice to pierce this illusory astral miasma, and reveal to the man that he is a spiritual entity in incarnation and in touch—through his mind—with the Universal Mind. The penalty which overtakes the disciple who persistently permits himself to be glamoured is obvious. His vision becomes fogged and misty and he “loses the sense of touch” as it is called in the old commentaries. He wanders “down the lanes of life and misses that straight highway which will lead him to his goal.”

Điểm nguy hiểm thứ hai nằm trong ảo tưởng cảm dục mà toàn thể nhân loại đang sống trong đó, và trong quyền năng của nó có thể gây ảo cảm ngay cả cho những người hoạt động giàu kinh nghiệm. Tôi đã bàn đến điều này khá dài trong khảo luận này, vốn, như các bạn biết, là một khảo luận về sự kiểm soát thể cảm dục và sự thấu hiểu đúng đắn các định luật của nó. Chỉ sự kiểm soát trí tuệ, cộng với tri giác tinh thần chân chính, mới đủ để xuyên thủng lớp khí độc cảm dục đầy ảo tưởng này, và mặc khải cho con người rằng y là một thực thể tinh thần đang lâm phàm và đang tiếp xúc — qua thể trí của y — với Vũ Trụ Trí. Hình phạt giáng xuống người đệ tử cứ khăng khăng cho phép mình bị ảo cảm chi phối là điều hiển nhiên. Tầm nhìn của y trở nên mờ đục và sương phủ, và y “mất cảm thức tiếp xúc”, như được gọi trong Cổ Luận. Y lang thang “xuống những lối nhỏ của đời sống và bỏ lỡ con đường lớn thẳng tắp sẽ dẫn y đến mục tiêu của mình.”

The third danger (and one that is very prevalent at this time) is that of mental pride and consequent inability to work in group formation. The penalty for this is often a temporary success and an enforced working with a group, which has been devitalised of its best elements and which has in it only those people who feed the personality of the head of the group. Because of the emphasis upon his own ideas and his own methods of working, a disciple finds that his group lacks those factors and those people who would have rounded it out, who would have balanced his endeavour, and given to his undertaking those qualities which he himself lacks. This is, in itself, a sufficient punishment, and quickly brings the honest disciple to his senses. Let a disciple who is [638] intelligent, honest and basically true so err, and in time he will awaken to the fact that the group he has gathered around him are moulded by him or he is moulded by them; they are oft embodiments of himself and repeat him. The law works rapidly in the case of a disciple, and thus adjustments are speedily made.

Nguy hiểm thứ ba, và là nguy hiểm rất phổ biến vào lúc này, là lòng kiêu hãnh trí tuệ và hậu quả là không có khả năng làm việc trong đội hình nhóm. Hình phạt cho điều này thường là một thành công tạm thời và một sự buộc phải làm việc với một nhóm đã bị rút mất sinh lực nơi những thành phần tốt đẹp nhất của nó, và trong đó chỉ còn những người nuôi dưỡng phàm ngã của người đứng đầu nhóm. Vì nhấn mạnh vào các ý tưởng riêng và các phương pháp làm việc riêng của mình, một đệ tử nhận thấy nhóm của y thiếu những yếu tố và những con người lẽ ra đã làm cho nhóm ấy được trọn vẹn, đã quân bình nỗ lực của y, và đem lại cho công trình của y những phẩm tính mà chính y còn thiếu. Điều này, tự nó, là một hình phạt đầy đủ, và nhanh chóng đưa người đệ tử chân thật trở lại với sự tỉnh táo. Hãy để một đệ tử [638] thông minh, chân thật và căn bản trung thành phạm sai lầm như thế, rồi theo thời gian y sẽ tỉnh thức trước sự kiện rằng nhóm mà y đã quy tụ quanh mình hoặc bị y khuôn đúc, hoặc y bị họ khuôn đúc; họ thường là những hiện thân của chính y và lặp lại y. Định luật tác động nhanh chóng trong trường hợp của một đệ tử, và vì vậy những điều chỉnh được thực hiện mau lẹ.

I would like to point out to the student that, having with steadfastness gone forward he will discover that the exoteric and esoteric linking of the outer schools and inner school or rank of knowers of truth is so close that not one earnest student goes totally unrecognised. In the press of the work and in the burden and toil of the day’s labours it is an encouragement to know that there are those who watch, and that every loving deed, every aspiring thought and every unselfish reaction is noted and known. Bear in mind, however, that it comes to the recognition of the Helpers through the increased vibration of the aspirant and not through a specific knowledge of the deed accomplished or the thought sent out. Those who teach are occupied with principles of truth, with vibratory rates and with the quality of the light to be seen. They are not aware of, nor have they the time to consider, specific deeds, words and conditions, and the sooner students grasp this and put out of their minds any hope of contacting a phenomenal individual whom they call a Master, with so much leisure, of such developed powers that he can occupy himself with their trivial affairs in time and space, the more rapidly will they progress.

Tôi muốn chỉ ra cho đạo sinh rằng, khi đã kiên định tiến tới, y sẽ khám phá rằng sự liên kết ngoại môn và nội môn giữa các trường phái bên ngoài với trường phái bên trong, hay hàng ngũ những thức giả của chân lý, mật thiết đến mức không một đạo sinh nghiêm túc nào hoàn toàn không được nhận biết. Giữa áp lực của công việc, trong gánh nặng và nhọc nhằn của lao động hằng ngày, thật là một niềm khích lệ khi biết rằng có những Đấng đang quan sát, và rằng mọi hành động đầy tình thương, mọi tư tưởng khát vọng và mọi đáp ứng vô ngã đều được ghi nhận và được biết đến. Tuy nhiên, hãy ghi nhớ rằng điều đó đi đến sự nhận biết của các Đấng Trợ Giúp qua sự gia tăng rung động của người chí nguyện, chứ không qua một tri thức cụ thể về hành động đã hoàn tất hay tư tưởng đã được phóng ra. Những Đấng giảng dạy bận tâm đến các nguyên lý của chân lý, đến các mức độ rung động và đến phẩm tính của ánh sáng có thể được nhìn thấy. Các Ngài không biết, cũng không có thời gian để xem xét, những hành động, lời nói và hoàn cảnh cụ thể; và đạo sinh càng sớm nắm bắt điều này, cũng như loại khỏi thể trí mình mọi hy vọng tiếp xúc với một cá nhân hiện tượng mà họ gọi là Chân sư — có quá nhiều nhàn rỗi, có các quyền năng phát triển đến mức có thể bận tâm đến những việc vụn vặt của họ trong thời gian và không gian — thì họ sẽ càng tiến bộ nhanh chóng hơn.

Where, however, there is steady growth, an application to occult principles so that definite changes are produced in the bodies used, and an increasing radiatory light, it is known and recorded, and the aspirant is rewarded by increased opportunity to serve his fellowmen. They do not reward by commendation, by patting on the [639] head, or by expressing their pleasure in words. They are occupied in making knowers and masters out of everyday men and women by:

Tuy nhiên, nơi nào có sự tăng trưởng bền bỉ, có sự áp dụng các nguyên lý huyền bí để những thay đổi rõ rệt được tạo ra trong các thể được sử dụng, và có ánh sáng tỏa chiếu ngày càng tăng, thì điều đó được biết và được ghi nhận; và người chí nguyện được tưởng thưởng bằng cơ hội phụng sự đồng loại ngày càng lớn hơn. Các Ngài không tưởng thưởng bằng lời khen, bằng cách vỗ về trên [639] đầu, hay bằng cách bày tỏ sự hài lòng bằng lời nói. Các Ngài bận tâm đến việc biến những người nam và nữ bình thường thành các thức giả và những bậc làm chủ bằng cách:

1. Teaching them to know themselves.

1. Dạy họ biết chính mình.

2. Setting them free from authority by awakening interest and enquiry in their minds, and then indicating (not more than that) the direction in which the answer should be sought.

2. Giải phóng họ khỏi uy quyền bằng cách đánh thức sự quan tâm và tinh thần khảo cứu trong thể trí họ, rồi chỉ ra, không hơn thế, hướng mà trong đó câu trả lời nên được tìm kiếm.

3. Giving them those conditions which will force them to stand on their own feet and rely on their own souls and not on any human being, be he a beloved friend, teacher, or a Master of the Wisdom.

3. Trao cho họ những điều kiện buộc họ phải đứng trên đôi chân của chính mình và nương tựa vào linh hồn của chính mình, chứ không vào bất kỳ con người nào, dù y là một người bạn yêu quý, một huấn sư, hay một Chân sư Minh Triết.

I seek not to repeat myself. Most of the points that concern the work of the aspirant today I have considered earlier in this treatise. It remains now for all of you to study it with care. I close with an appeal to all who read these instructions to rally their forces, to renew their vows of dedication to the service of humanity, to subordinate their own ideas and wishes to the group good, to take their eyes off themselves and fix them anew upon the vision, to guard their tongues from idle speech and criticism, from gossip and inuendo, and to read and study so that the work may go intelligently forward. Let all students make up their minds in this day of emergency and of rapid unfolding opportunity to sacrifice all they have to the helping of humanity. Now is the need and the demand. The urgency of the hour is upon us, and I call upon all of you whom I am seeking to help, to join the strenuous effort of the Great Ones. They are working day and night in an effort to relieve humanity and to offset those evils and disasters which are immanent in the present situation. I offer to you opportunity and I tell you that you are needed—even the very least of you. I assure you that groups of students, working in [640] unison and with deep and unfaltering love for each other, can achieve significant results.

Tôi không tìm cách lặp lại chính mình. Phần lớn các điểm liên quan đến công việc của người chí nguyện ngày nay, tôi đã bàn đến trước đó trong khảo luận này. Giờ đây, điều còn lại là tất cả các bạn hãy nghiên cứu nó một cách cẩn trọng. Tôi kết thúc bằng một lời kêu gọi gửi đến tất cả những ai đọc các huấn thị này: hãy tập hợp các mãnh lực của mình, hãy làm mới lại các lời thệ nguyện hiến dâng cho việc phụng sự nhân loại, hãy đặt các ý tưởng và ước muốn riêng của mình dưới thiện ích của nhóm, hãy rời mắt khỏi chính mình và một lần nữa hướng chúng vào tầm nhìn, hãy giữ gìn lưỡi mình khỏi lời nói phù phiếm và phê bình, khỏi chuyện ngồi lê đôi mách và lời bóng gió, và hãy đọc cũng như học để công việc có thể tiến tới một cách thông minh. Hãy để tất cả đạo sinh quyết định trong ngày khẩn cấp này, và trong cơ hội đang khai mở nhanh chóng này, hy sinh tất cả những gì họ có cho việc trợ giúp nhân loại. Hiện nay là lúc có nhu cầu và đòi hỏi. Tính khẩn cấp của giờ phút đang đè nặng trên chúng ta, và tôi kêu gọi tất cả các bạn, những người mà tôi đang tìm cách trợ giúp, hãy tham gia vào nỗ lực mãnh liệt của Các Đấng Cao Cả. Các Ngài đang làm việc ngày đêm trong nỗ lực xoa dịu nhân loại và hóa giải những điều ác cùng các tai họa đang tiềm tàng trong tình hình hiện nay. Tôi trao cho các bạn cơ hội, và tôi nói với các bạn rằng các bạn là cần thiết — ngay cả người nhỏ bé nhất trong các bạn. Tôi bảo đảm với các bạn rằng các nhóm đạo sinh, làm việc trong [640] sự hòa hợp và với tình thương sâu xa, không lay chuyển dành cho nhau, có thể đạt được những kết quả đáng kể.

That each of you may so work, and that each of you may lose sight of self in the realisation of world need, is the earnest prayer and deepest aspiration of your brother, THE TIBETAN.

Mong rằng mỗi người trong các bạn có thể làm việc như thế, và mong rằng mỗi người trong các bạn có thể quên đi bản ngã trong sự nhận biết nhu cầu của thế giới — đó là lời cầu nguyện tha thiết và khát vọng sâu xa nhất của huynh đệ các bạn, Chân sư Tây Tạng.

ARCANE SCHOOL TRAINING

Training for new age discipleship is provided

Việc huấn luyện cho địa vị đệ tử trong kỷ nguyên mới được cung cấp

by the Arcane School. The principles of the

bởi Trường Arcane. Các nguyên lý của

Ageless Wisdom are presented through esoteric

Minh Triết Ngàn Đời được trình bày thông qua

meditation, study and service as a way of life.

tham thiền nội môn, học tập và phụng sự như một lối sống.

Contact the publishers for information

Hãy liên hệ với nhà xuất bản để biết thêm thông tin

www.lucistrust.org/arcaneschool

www.lucistrust.org/arcaneschool