← A Treatise on White Magic – Alice A. Bailey

A TREATISE

A TREATISE

LUẬN

ON WHITE MAGIC

VỀ CHÁNH THUẬT

or

hay

The Way of the Disciple

Con Đường của Người Đệ Tử

by

của

ALICE A. BAILEY.

ALICE A. BAILEY.

INDEX EDITION

ẤN BẢN CÓ MỤC LỤC TRA CỨU

Published by the Lucis Publishing Companies

Do Công ty Xuất bản Lucis ấn hành

The first and only publisher of the complete

Nhà xuất bản đầu tiên và duy nhất của toàn bộ

works of Alice A. Bailey

các tác phẩm của Alice A. Bailey

http://www.lucistrust.org/books

http://www.lucistrust.org/books

Dedicated with affection and gratitude to my co-workers

Kính tặng với lòng quý mến và biết ơn đến các cộng sự của tôi

and fellow students in THE ARCANE SCHOOL

và các học viên đồng môn trong TRƯỜNG ARCANE

COPYRIGHT © 1951 BY LUCIS TRUST

BẢN QUYỀN © 1951 THUỘC LUCIS TRUST

COPYRIGHT © RENEWED 1979 BY LUCIS TRUST

BẢN QUYỀN © GIA HẠN 1979 THUỘC LUCIS TRUST

First Printing, 1934

Lần in thứ nhất, 1934

Tenth Printing, 1970 (First Paperback Edition)

Lần in thứ mười, 1970 (Ấn bản bìa mềm đầu tiên)

Twenty-First Printing, 2014

Lần in thứ hai mươi mốt, 2014

Library of Congress Catalog Card Number: 34-4815

Số thẻ mục lục Thư viện Quốc hội: 34-4815

E Book edition: First 2011, This 2016. ISBN No. 978-0-85330-423-4

Ấn bản sách điện tử: lần đầu 2011, ấn bản này 2016. Số ISBN 978-0-85330-423-4

The publication of this book is financed by the Tibetan Book Fund which is established for the perpetuation of the teachings of the Tibetan and Alice A. Bailey.

Việc xuất bản quyển sách này được tài trợ bởi Quỹ Sách Chân sư Tây Tạng, được thành lập nhằm duy trì lâu dài các giáo huấn của Chân sư Tây Tạng và Alice A. Bailey.

This Fund is controlled by the Lucis Trust, a tax-exempt, religious, educational corporation.

Quỹ này do Lucis Trust quản lý, một pháp nhân tôn giáo và giáo dục được miễn thuế.

The Lucis Publishing Companies are non-profit organisations owned by the Lucis Trust. No royalties are paid on this book.

Các Công ty Xuất bản Lucis là những tổ chức phi lợi nhuận thuộc sở hữu của Lucis Trust. Không có tiền tác quyền nào được chi trả cho quyển sách này.

It has been translated into Danish, Dutch, Finnish, French, German, Greek, Hungarian, Italian, Japanese, Polish, Portuguese, Russian, Spanish and Swedish. Translation into other languages is proceeding.

Sách đã được dịch sang tiếng Đan Mạch, Hà Lan, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Hungary, Ý, Nhật, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Nga, Tây Ban Nha và Thụy Điển. Việc dịch sang các ngôn ngữ khác đang được tiến hành.

LUCIS PUBLISHING COMPANY

CÔNG TY XUẤT BẢN LUCIS

120 Wall Street, New York, NY 10005

120 Phố Wall, New York, NY 10005

LUCIS PRESS LIMITED

LUCIS PRESS LIMITED

Suite 54, 3 Whitehall Court, London SW1A 2EF

Phòng 54, 3 Whitehall Court, Luân Đôn SW1A 2EF

BOOKS BY ALICE A. BAILEY

CÁC SÁCH CỦA ALICE A. BAILEY

Initiation, Human and Solar

Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương

Letters on Occult Meditation

Các Bức Thư về Tham Thiền Huyền Bí

The Consciousness of the Atom

Tâm Thức của Nguyên Tử

A Treatise on Cosmic Fire

Luận về Lửa Vũ Trụ

The Light of the Soul

Ánh Sáng của Linh Hồn

The Soul and its Mechanism

Linh Hồn và Bộ Máy của Nó

From Intellect to Intuition

Từ Trí Tuệ đến Trực Giác

A Treatise on White Magic

Luận về Chánh Thuật

From Bethlehem to Calvary

Từ Bethlehem đến Calvary

Discipleship in the New Age–Vol. I

Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới–Quyển I

Discipleship in the New Age–Vol. II

Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới–Quyển II

Problems of Humanity

Các Vấn Đề của Nhân Loại

The Reappearance of the Christ

Sự Tái Lâm của Đức Christ

The Destiny of the Nations

Vận Mệnh của các Quốc Gia

Glamour: A World Problem

Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới

Telepathy and the Etheric Vehicle

Viễn Cảm và Hiện Thể Dĩ Thái

The Unfinished Autobiography

Tự Truyện Chưa Hoàn Tất

Education in the New Age

Giáo Dục Trong Kỷ Nguyên Mới

The Externalisation of the Hierarchy

Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn

A Treatise on the Seven Rays:

Luận về Bảy Cung:

Vol. I–Esoteric Psychology

Quyển I–Tâm Lý Học Nội Môn

Vol. II–Esoteric Psychology

Quyển II–Tâm Lý Học Nội Môn

Vol. III–Esoteric Astrology

Quyển III–Chiêm Tinh Học Nội Môn

Vol. IV–Esoteric Healing

Quyển IV–Trị Liệu Huyền Môn

Vol. V–The Rays and the Initiations

Quyển V–Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo

THE GREAT INVOCATION

From the point of Light within the Mind of God

Từ điểm Ánh sáng trong Trí Thượng Đế

Let light stream forth into the minds of men.

Cầu xin Ánh sáng tràn vào Trí Con người

Let Light descend on Earth.

Cầu xin Ánh sáng giáng xuống trần gian

From the point of Love within the Heart of God

Từ điểm Tình thương trong Tâm Thượng đế

Let love stream forth into the hearts of men.

Cầu xin Tình thương tràn vào Tâm Con người

May Christ return to Earth.

Cầu xin Đức Christ trở lại trần gian

From the centre where the Will of God is known

Từ Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế

Let purpose guide the little wills of men—

Cầu xin Thiên Ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của Con người

The purpose which the Masters know and serve.

Thiên Ý mà các Chân sư đều biết và phụng sự

From the centre which we call the race of men

Từ trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người

Let the Plan of Love and Light work out.

Cầu xin Thiên Cơ, Tình thương và Ánh sáng được thực thi

And may it seal the door where evil dwells.

Và cầu mong Thiên cơ đóng kín cửa vào nẻo ác

Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth.

Cầu xin Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên cơ trên Trần gian

“The above Invocation or Prayer does not belong to any person or group but to all Humanity. The beauty and the strength of this Invocation lies in its simplicity, and in its expression of certain central truths which all men, innately and normally, accept—the truth of the existence of a basic Intelligence to Whom we vaguely give the name of God; the truth that behind all outer seeming, the motivating power of the universe is Love; the truth that a great Individuality came to earth, called by Christians, the Christ, and embodied that love so that we could understand; the truth that both love and intelligence are effects of what is called the Will of God; and finally the self-evident truth that only through humanity itself can the Divine Plan work out.”

“Bài Khấn Nguyện hay Lời Cầu Nguyện trên không thuộc về bất kỳ cá nhân hay nhóm nào mà thuộc về toàn thể Nhân loại. Vẻ đẹp và sức mạnh của bài Khấn Nguyện này nằm ở sự đơn giản của nó, và ở sự diễn đạt những chân lý cốt lõi nhất định mà tất cả mọi người, một cách bẩm sinh và bình thường, đều chấp nhận—chân lý về sự tồn tại của một Trí Thông Minh cơ bản mà chúng ta mơ hồ đặt tên là Thượng đế; chân lý rằng đằng sau mọi Sắc tướng, động lực của vũ trụ là Tình Thương; chân lý rằng một Cá Thể Tính vĩ đại đã đến trái đất, được người Kitô giáo gọi là Đức Christ, và hiện thân cho tình thương đó để chúng ta có thể hiểu được; chân lý rằng cả tình thương và trí thông minh đều là kết quả của cái được gọi là Ý Chí của Thượng đế; và cuối cùng là chân lý hiển nhiên rằng chỉ thông qua chính nhân loại, Thiên Cơ mới có thể thực hiện được.”

ALICE A. BAILEY

ALICE A. BAILEY

EXTRACT FROM A STATEMENT BY THE TIBETAN

Suffice it to say, that I am a Tibetan disciple of a certain degree, and this tells you but little, for all are disciples from the humblest aspirant up to, and beyond, the Christ Himself. I live in a physical body like other men, on the borders of Tibet, and at times (from the exoteric standpoint) preside over a large group of Tibetan lamas, when my other duties permit. It is this fact that has caused it to be reported that I am an abbot of this particular lamasery. Those associated with me in the work of the Hierarchy (and all true disciples are associated in this work) know me by still another name and office. A.A.B. knows who I am and recognises me by two of my names.

Chỉ cần nói rằng, tôi là một đệ tử người Tây Tạng ở một cấp độ nhất định, và điều này nói cho các bạn biết rất ít, vì tất cả đều là đệ tử từ người chí nguyện khiêm tốn nhất cho đến, và vượt lên trên, chính Đức Christ. Tôi sống trong một thể xác giống như những người khác, ở biên giới Tây Tạng, và đôi khi (theo quan điểm ngoại môn) chủ trì một nhóm lớn các lạt ma Tây Tạng, khi các nhiệm vụ khác của tôi cho phép. Chính sự thật này đã khiến người ta đồn rằng tôi là một tu viện trưởng của tu viện lạt ma đặc biệt này. Những người liên kết với tôi trong công việc của Thánh Đoàn (và tất cả các đệ tử chân chính đều liên kết trong công việc này) biết tôi qua một cái tên và chức vụ khác. A.A.B. biết tôi là ai và nhận ra tôi qua hai trong số các tên gọi của tôi.

I am a brother of yours, who has travelled a little longer upon the Path than has the average student, and has therefore incurred greater responsibilities. I am one who has wrestled and fought his way into a greater measure of light than has the aspirant who will read this article, and I must therefore act as a transmitter of the light, no matter what the cost. I am not an old man, as age counts among the teachers, yet I am not young or inexperienced. My work is to teach and spread the knowledge of the Ageless Wisdom wherever I can find a response, and I have been doing this for many years. I seek also to help the Master M. and the Master K.H. whenever opportunity offers, for I have been long connected with Them and with Their work. In all the above, I have told you much; yet at the same time I have told you nothing which would lead you to offer me that blind obedience and the foolish devotion which the emotional aspirant offers to the Guru and Master Whom he is as yet unable to contact. Nor will he make that desired contact until he has transmuted emotional devotion into unselfish service to humanity-not to the Master.

Tôi là một huynh đệ của các bạn, người đã đi trên Đường Đạo lâu hơn một chút so với người đạo sinh trung bình, và do đó đã gánh vác những trách nhiệm lớn hơn. Tôi là một người đã phấn đấu và chiến đấu để tiến vào một mức độ ánh sáng lớn hơn so với người chí nguyện sẽ đọc bài viết này, và vì vậy tôi phải hành động như một người truyền dẫn ánh sáng, bất kể giá nào. Tôi không phải là một người già, theo cách tính tuổi tác của các vị giáo sư, tuy nhiên tôi không còn trẻ hay thiếu kinh nghiệm. Công việc của tôi là giảng dạy và truyền bá kiến thức về Minh Triết Ngàn Đời bất cứ nơi nào tôi có thể tìm thấy một sự đáp ứng, và tôi đã làm điều này trong nhiều năm. Tôi cũng tìm cách giúp đỡ Chân sư M. và Chân sư K.H. bất cứ khi nào có cơ hội, vì tôi đã liên kết lâu dài với Các Ngài và với công việc của Các Ngài. Trong tất cả những điều trên, tôi đã nói với các bạn nhiều điều; tuy nhiên đồng thời tôi chưa nói với các bạn điều gì có thể khiến các bạn dâng hiến cho tôi sự vâng lời mù quáng và sự sùng tín ngu muội mà người chí nguyện đầy cảm xúc thường dâng lên cho Vị Guru và Chân sư Mà y chưa thể tiếp xúc. Y cũng sẽ không thực hiện được sự tiếp xúc mong muốn đó cho đến khi y chuyển hóa sự sùng tín đầy cảm xúc thành sự phụng sự vô kỷ vị tha cho nhân loại – chứ không phải cho Chân sư.

The books that I have written are sent out with no claim for their acceptance. They may, or may not, be correct, true and useful. It is for you to ascertain their truth by right practice and by the exercise of the intuition. Neither I nor A.A.B. is the least interested in having them acclaimed as inspired writings, or in having anyone speak of them (with bated breath) as being the work of one of the Masters. If they present truth in such a way that it follows sequentially upon that already offered in the world teachings, if the information given raises the aspiration and the will-to-serve from the plane of the emotions to that of the mind (the plane whereon the Masters can be found) then they will have served their purpose. If the teaching conveyed calls forth a response from the illumined mind of the worker in the world, and brings a flashing forth of his intuition, then let that teaching be accepted. But not otherwise. If the statements meet with eventual corroboration, or are deemed true under the test of the Law of Correspondences, then that is well and good. But should this not be so, let not the student accept what is said.

Những quyển sách mà tôi đã viết được đưa ra mà không đòi hỏi sự chấp nhận. Chúng có thể, hoặc có thể không, chính xác, đúng đắn và hữu ích. Việc xác minh sự thật của chúng bằng thực hành đúng đắn và bằng sự rèn luyện trực giác là tùy thuộc vào các bạn. Cả tôi và A.A.B. đều không quan tâm chút nào đến việc chúng được tung hô như những bài viết đầy cảm hứng, hay việc bất kỳ ai nói về chúng (với hơi thở hổn hển) như là công trình của một trong các Chân sư. Nếu chúng trình bày sự thật theo cách mà nó tiếp nối một cách tuần tự những gì đã được đưa ra trong các giáo lý thế giới, nếu thông tin được đưa ra nâng cao khát vọng và ý chí-phụng sự từ cõi cảm xúc lên cõi trí (cõi mà các Chân sư có thể được tìm thấy) thì chúng đã phục vụ mục đích của mình. Nếu giáo huấn được truyền tải gợi lên một sự đáp ứng từ tâm trí được soi sáng của người hoạt động trên thế gian, và mang lại một sự lóe sáng của trực giác nơi y, thì hãy để giáo huấn đó được chấp nhận. Nhưng nếu không thì thôi. Nếu các tuyên bố nhận được sự chứng thực cuối cùng, hoặc được coi là đúng dưới sự kiểm chứng của Định luật Tương ứng, thì điều đó thật tốt. Nhưng nếu không phải như vậy, thì đạo sinh đừng chấp nhận những gì được nói.

AUGUST 1934

THÁNG 8 NĂM 1934

RULES FOR MAGIC

RULE ONE

QUY LUẬT MỘT

The Solar Angel collects himself, scatters not his force, but, in meditation deep, communicates with his reflection.

Thái dương Thiên Thần thu mình lại, không phân tán mãnh lực của Ngài, mà trong tham thiền sâu, giao tiếp với phản ảnh của Ngài.

RULE TWO

QUY LUẬT HAI

When the shadow hath responded, in meditation deep the work proceedeth. The lower light is thrown upward; the greater light illuminates the three, and the work of the four proceedeth.

Khi cái bóng đã đáp ứng, trong tham thiền sâu công việc tiếp diễn. Ánh sáng thấp được ném lên trên; ánh sáng lớn hơn soi sáng bộ ba, và công việc của bốn tiếp diễn.

RULE THREE

QUY LUẬT BA

The Energy circulates. The point of light, the product of the labours of the four, waxeth and groweth. The myriads gather round its glowing warmth until its light recedes. Its fire grows dim. Then shall the second sound go forth.

Năng lượng luân chuyển. Điểm ánh sáng, sản phẩm của những lao tác của bốn, lớn dần và tăng trưởng. Vô số sinh linh tụ họp quanh hơi ấm rực sáng của nó cho đến khi ánh sáng của nó rút lui. Lửa của nó trở nên mờ nhạt. Khi ấy âm thanh thứ hai sẽ vang ra.

RULE FOUR

QUY LUẬT BỐN

Sound, light, vibration, and the form blend and merge, and thus the work is one. It proceedeth under the law, and naught can hinder now the work from going forward. The man breathes deeply. He concentrates his forces, and drives the thought-form from him.

Âm thanh, ánh sáng, rung động và hình tướng hòa trộn và hợp nhất, và như thế công việc là một. Nó tiến hành theo định luật, và giờ đây không gì có thể ngăn cản công việc tiến tới. Con người hít thở sâu. Y tập trung các mãnh lực của mình, và đẩy hình tư tưởng ra khỏi mình.

RULE FIVE

QUY LUẬT NĂM

Three things engage the Solar Angel before the sheath created passes downward; the condition of the waters, the safety of the one who thus creates, and steady contemplation. Thus are the heart, the throat, and eye, allied for triple service. [xiii]

Ba điều thu hút Thái dương Thiên Thần trước khi lớp vỏ được tạo ra đi xuống: tình trạng của các dòng nước, sự an toàn của người tạo tác như thế, và sự chiêm ngưỡng vững bền. Như vậy, tim, cổ họng và mắt được liên kết để phụng sự tam phân. [xiii]

RULE SIX

QUY LUẬT SÁU

The devas of the lower four feel the force when the eye opens; they are driven forth and lose their master.

Các thiên thần của bốn thấp cảm nhận mãnh lực khi con mắt mở ra; họ bị xua đi và mất chủ của mình.

RULE SEVEN

QUY LUẬT BẢY

The dual forces of the plane whereon the vital power must be sought are seen; the two paths face the solar Angel; the poles vibrate. A choice confronts the one who meditates.

Các mãnh lực kép của cõi nơi phải tìm kiếm quyền năng thiết yếu được nhìn thấy; hai con đường đối diện Thái dương Thiên Thần; các cực rung động. Một sự lựa chọn hiện ra trước người hành thiền.

RULE EIGHT

QUY LUẬT TÁM

The Agnisuryans respond to the sound. The waters ebb and flow. Let the magician guard himself from drowning at the point where land and water meet. The midway spot, which is neither dry nor wet, must provide the standing place whereon his feet are set. When water, land and air meet, there is the place for magic to be wrought.

Các Agnisuryan đáp ứng với âm thanh. Các dòng nước lên xuống. Nhà huyền thuật hãy tự bảo vệ mình khỏi bị chìm tại điểm nơi đất và nước gặp nhau. Nơi ở giữa, không khô cũng không ướt, phải cung cấp chỗ đứng để đôi chân y đặt lên. Khi nước, đất và khí gặp nhau, đó là nơi huyền thuật được thực hiện.

RULE NINE

QUY LUẬT CHÍN

Condensation next ensues. The fire and waters meet, the form swells and grows. Let the magician set his form upon the proper path.

Sự ngưng tụ kế đó xảy ra. Lửa và nước gặp nhau, hình tướng phồng lên và tăng trưởng. Nhà huyền thuật hãy đặt hình tướng của mình trên con đường thích hợp.

RULE TEN

QUY LUẬT MƯỜI

As the waters bathe the form created, they are absorbed and used. The form increases in its strength; let the magician thus continue until the work suffices. Let the outer builders cease their labors then, and let the inner workers enter on their cycle.

Khi các dòng nước tắm gội hình tướng đã tạo, chúng được hấp thu và sử dụng. Hình tướng gia tăng sức mạnh của nó; nhà huyền thuật hãy cứ tiếp tục như thế cho đến khi công việc đủ đầy. Khi ấy hãy để các đấng kiến tạo bên ngoài chấm dứt lao tác của họ, và để các người hoạt động bên trong bước vào chu kỳ của họ.

RULE ELEVEN

QUY LUẬT MƯỜI MỘT

Three things the worker with the law must now accomplish. First, ascertain the formula which will confine the lives within the ensphering wall; next, pronounce the words which will tell them what to do and where to carry [xiv] that which has been made; and finally, utter forth the mystic phrase which will save him from their work.

Ba điều người hoạt động với định luật giờ đây phải hoàn thành. Trước hết, xác định công thức sẽ giam giữ các sự sống bên trong bức tường bao bọc thành khối cầu; kế đó, xướng những lời sẽ bảo họ phải làm gì và mang [xiv] điều đã được tạo ra đến đâu; và sau cùng, thốt ra cụm từ thần bí sẽ cứu y khỏi công việc của họ.

RULE TWELVE

QUY LUẬT MƯỜI HAI

The web pulsates. It contracts and expands. Let the magician seize the midway point and thus release those “prisoners of the planet” whose note is right and justly tuned to that which must be made.

Tấm lưới đập nhịp. Nó co lại và giãn ra. Nhà huyền thuật hãy nắm lấy điểm ở giữa và như thế giải phóng những “tù nhân của hành tinh” có âm điệu đúng và được chỉnh đúng với điều phải được tạo ra.

RULE THIRTEEN

QUY LUẬT MƯỜI BA

The magician must recognize the four; note in his work the shade of violet they evidence, and thus construct the shadow. When this is so, the shadow clothes itself, and the four become the seven.

Nhà huyền thuật phải nhận ra bốn; ghi nhận trong công việc của mình sắc thái tím mà họ biểu lộ, và như thế kiến tạo cái bóng. Khi điều này xảy ra, cái bóng tự khoác áo, và bốn trở thành bảy.

RULE FOURTEEN

QUY LUẬT MƯỜI BỐN

The sound swells out. The hour of danger to the soul courageous draweth near. The waters have not hurt the white creator and naught could drown nor drench him. Danger from fire and flame menaces now, and dimly yet the rising smoke is seen. Let him again, after the cycle of peace, call on the solar Angel.

Âm thanh vang lớn. Giờ nguy hiểm đối với linh hồn can đảm đang đến gần. Các dòng nước đã không làm hại đấng sáng tạo trắng, và không gì có thể nhấn chìm hay làm y ướt đẫm. Giờ đây nguy hiểm từ lửa và ngọn lửa đe dọa, và làn khói đang bốc lên còn được thấy một cách mờ nhạt. Sau chu kỳ bình an, hãy để y lại kêu gọi Thái dương Thiên Thần.

RULE FIFTEEN

QUY LUẬT MƯỜI LĂM

The fires approach the shadow, yet burn it not. The fire sheath is completed. Let the magician chant the words that blend the fire and water.

Các ngọn lửa đến gần cái bóng, nhưng không đốt cháy nó. Lớp vỏ lửa đã hoàn tất. Nhà huyền thuật hãy xướng những lời hòa trộn lửa và nước.

FROM “A TREATISE ON COSMIC FIRE”

TRÍCH TỪ “LUẬN VỀ LỬA VŨ TRỤ”

INTRODUCTORY REMARKS

[3]

[3]

In the study of the ideas outlined in this book and their careful consideration certain basic concepts are borne in mind:

Trong quá trình nghiên cứu các ý tưởng được nêu ra trong quyển sách này và cân nhắc chúng một cách cẩn thận, cần ghi nhớ một số khái niệm cơ bản:

First, that the matter of prime importance to each student is not the fact of a particular teacher’s personality but the measure of truth for which he stands, and the student’s power to discriminate between truth, partial truth, and falsity.

Thứ nhất, điều có tầm quan trọng hàng đầu đối với mỗi đạo sinh không phải là sự kiện về phàm ngã của một huấn sư cụ thể, mà là mức độ chân lý mà vị ấy đại diện, và năng lực của đạo sinh trong việc phân biện giữa chân lý, chân lý phần nào và điều giả dối.

Second, that with increased esoteric teaching comes increased exoteric responsibility. Let each student with clarity therefore take stock of himself, remembering that understanding comes through application of the measure of truth grasped to the immediate problem and environment, and that the consciousness expands through use of the truth imparted.

Thứ hai, khi giáo huấn nội môn gia tăng thì trách nhiệm ngoại môn cũng gia tăng. Vì vậy, mỗi đạo sinh hãy tự kiểm điểm mình một cách sáng suốt, nhớ rằng sự thấu hiểu đến nhờ áp dụng mức độ chân lý đã nắm bắt vào vấn đề và môi trường trước mắt, và rằng tâm thức mở rộng thông qua việc sử dụng chân lý được truyền đạt.

Third, that a dynamic adherence to the chosen path and a steady perseverance that overcomes and remains unmoved by aught that may eventuate, is a prime requisite and leads to the portal admitting to a kingdom, a dimension and a state of being which is inwardly or subjectively known. It is this state of realisation which produces changes in form and environment commensurate with its power.

Thứ ba, sự gắn bó năng động với con đường đã chọn và sự kiên trì vững bền, vượt thắng và vẫn bất lay chuyển trước bất cứ điều gì có thể xảy ra, là một điều kiện tiên quyết hàng đầu và dẫn đến cánh cổng mở vào một giới, một chiều kích và một trạng thái bản thể được nhận biết từ bên trong hay về mặt chủ quan. Chính trạng thái chứng nghiệm này tạo ra những thay đổi trong hình tướng và môi trường tương xứng với quyền năng của nó.

These three suggestions will merit a close consideration by all, and their significance must be somewhat grasped before further real progress is possible. It is not my function to make individual and personal application of the teaching given. That must be done by each student for himself.

Ba gợi ý này đáng để mọi người cân nhắc kỹ lưỡng, và thâm nghĩa của chúng phải được nắm bắt phần nào trước khi có thể có sự tiến bộ thật sự sâu xa hơn. Chức năng của Tôi không phải là áp dụng giáo huấn đã trao truyền vào từng cá nhân và từng phàm ngã. Điều đó mỗi đạo sinh phải tự mình thực hiện.

You have wisely guarded the teaching from the taint of superimposed authority, and there lies back of your [4] books no esoteric principle of hierarchical authority or support, such as has produced the narrow limits of certain ecclesiastical bodies and groups, differing as widely as the Catholic Church, Christian Science, those who believe in the verbal inspiration of the Scriptures, and numerous (so-called) esoteric organisations. The curse of many groups has been the whispered word that “Those who know wish....” “The Master says....” “The Great Ones command...” and the group of silly sheep feebly and blindly tumble over themselves to obey. They think thereby, through their misplaced devotion, to contact certain authoritative personages, and to get into heaven by some short cut.

Các bạn đã khôn ngoan bảo vệ giáo huấn khỏi vết nhiễm của quyền uy áp đặt, và đằng sau các [4] quyển sách của các bạn không có nguyên khí nội môn nào của quyền uy hay sự hỗ trợ mang tính Thánh Đoàn, kiểu đã tạo ra những giới hạn hẹp hòi của một số tổ chức và nhóm giáo hội, khác biệt rất rộng như Giáo hội Công giáo, Khoa học Kitô, những người tin vào sự linh hứng từng lời của Kinh Thánh, và nhiều tổ chức được gọi là nội môn. Lời nguyền của nhiều nhóm là lời thì thầm rằng “Những Đấng Biết mong muốn....” “Chân sư nói....” “Các Đấng Cao Cả ra lệnh...” và bầy cừu ngu muội lảo đảo và mù quáng chen lấn nhau để vâng theo. Họ tưởng rằng nhờ lòng sùng tín đặt sai chỗ ấy, họ sẽ tiếp xúc được với một số nhân vật có thẩm quyền, và vào thiên đường bằng một lối tắt nào đó.

You have wisely guarded your books from the reaction accorded to those who claim to be masters, adepts and initiates. My anonymity and status must be preserved, and my rank be regarded as only that of a senior student and of an aspirant to that expansion of consciousness which is for me the next step forward. What I say of truth alone is of moment; the inspiration and help I can accord to any pilgrim on the path is alone vital; that which I have learned through experience is at the disposal of the earnest aspirant; and the wideness of the vision which I can impart (owing to my having climbed higher up the mountain than some) is my main contribution. Upon these points the students are at liberty to ponder, omitting idle speculation as to the exact details of unimportant personalities, and environing conditions.

Các bạn đã khôn ngoan bảo vệ các quyển sách của mình khỏi phản ứng dành cho những người tự nhận là Chân sư, chân sư thành tựu và điểm đạo đồ. Tính ẩn danh và địa vị của Tôi phải được giữ gìn, và cấp bậc của Tôi chỉ nên được xem là cấp bậc của một đạo sinh cao niên và của một người chí nguyện hướng tới sự mở rộng tâm thức vốn là bước tiến kế tiếp đối với Tôi. Chỉ điều Tôi nói về chân lý mới là quan trọng; chỉ nguồn cảm hứng và sự trợ giúp mà Tôi có thể ban cho bất kỳ người hành hương nào trên Đường Đạo mới là thiết yếu; điều Tôi đã học được qua kinh nghiệm luôn sẵn dành cho người chí nguyện chân thành; và độ rộng của tầm nhìn mà Tôi có thể truyền đạt, do Tôi đã leo cao hơn trên núi so với một số người, là đóng góp chính của Tôi. Về những điểm này, các đạo sinh được tự do suy ngẫm, đồng thời gạt bỏ mọi suy đoán vô ích về các chi tiết chính xác của những phàm ngã không quan trọng và các điều kiện bao quanh.

Our theme is to be that of the Magic of the Soul, and the key thought, underlying all that may appear in this book, is to be found in the words of the Bhagavad Gita which runs as follows:

Chủ đề của chúng ta sẽ là Huyền thuật của Linh hồn, và tư tưởng chủ đạo, nằm bên dưới tất cả những gì có thể xuất hiện trong quyển sách này, được tìm thấy trong những lời của Bhagavad Gita như sau:

“Though I am Unborn, the Soul that passes not away, though I am the Lord of Beings, yet as Lord over My nature I become manifest, through the magical power of the Soul.” Gita IV.6. [5]

“Mặc dù Ta là Đấng Vô Sinh, là Linh hồn không hề mất đi; mặc dù Ta là Chúa Tể của các Sinh Linh, nhưng với tư cách là Chúa Tể đối với bản chất của Ta, Ta trở nên biểu hiện thông qua quyền năng huyền thuật của Linh hồn.” Gita IV.6. [5]

The statistical and the academic is a necessary basis and a preliminary step for most scientific study, but in this book we will centre our attention on the life aspect, and the practical application of truth to the daily life of the aspirant. Let us study how we can become practical magicians, and in what way we can best live the life of a spiritual man, and of an aspirant to accepted discipleship in our own peculiar times, state and environment.

Yếu tố thống kê và học thuật là nền tảng cần thiết và là bước sơ khởi cho hầu hết mọi nghiên cứu khoa học, nhưng trong quyển sách này chúng ta sẽ tập trung sự chú ý vào phương diện sự sống, và vào việc áp dụng thực tiễn chân lý vào đời sống hằng ngày của người chí nguyện. Chúng ta hãy nghiên cứu cách mình có thể trở thành những nhà huyền thuật thực tiễn, và bằng cách nào chúng ta có thể sống tốt nhất đời sống của một con người tinh thần, cũng như của một người chí nguyện hướng tới địa vị đệ tử được chấp nhận trong thời đại, trạng thái và môi trường đặc thù của chính chúng ta.

To do this we will take the Fifteen Rules for Magic to be found in my earlier book, entitled A Treatise on Cosmic Fire. I will comment on them, dealing not with their cosmic significance or with solar and other correspondences and analogies, but applying them to the work of the aspirant, and giving practical suggestions for the better development of soul contact and soul manifestation. I shall take for granted certain knowledges and assume the students can follow and comprehend certain technical terms that I may be led to use. I am not dealing with babes but with matured men and women who have chosen a certain way and who are pledged to “walk in the light.”

Để làm điều này, chúng ta sẽ lấy Mười Lăm Quy Luật về Huyền thuật được tìm thấy trong quyển sách trước của Tôi, nhan đề Luận về Lửa Vũ Trụ. Tôi sẽ bình giảng về chúng, không bàn đến thâm nghĩa vũ trụ của chúng hay các tương ứng và tương đồng thuộc thái dương và những loại khác, mà áp dụng chúng vào công việc của người chí nguyện, đồng thời đưa ra những gợi ý thực tiễn nhằm phát triển tốt hơn sự tiếp xúc với linh hồn và sự biểu hiện của linh hồn. Tôi sẽ xem như các đạo sinh đã có một số tri thức nhất định và giả định rằng họ có thể theo dõi cũng như lĩnh hội một số thuật ngữ kỹ thuật mà Tôi có thể được dẫn dắt để sử dụng. Tôi không đề cập đến trẻ thơ mà đến những người nam và nữ trưởng thành, những người đã chọn một con đường nhất định và đã nguyện “bước đi trong ánh sáng.”

I seek in this book to do four things, and to make appeal to three types of people. It is based, as regards its teaching, upon four fundamental postulates. These are intended to:

Trong quyển sách này, Tôi tìm cách thực hiện bốn điều và kêu gọi ba loại người. Về giáo huấn, nó được đặt trên bốn định đề căn bản. Những định đề này nhằm:

1. Teach the laws of spiritual psychology as distinguished from mental and emotional psychology.

1. Giảng dạy các định luật của tâm lý học tinh thần, khác với tâm lý học trí tuệ và cảm xúc.

2. Make clear the nature of the soul of man and its systemic and cosmic relationships. This will include its group relationship as a preliminary step.

2. Làm rõ bản chất linh hồn của con người và các mối liên hệ của nó trong hệ thống và trong vũ trụ. Điều này sẽ bao gồm mối liên hệ nhóm của nó như một bước sơ khởi.

3. Demonstrate the relations between the self and the sheaths which that self may use, and thus clarify public thought as to the constitution of man.

3. Chứng minh các mối quan hệ giữa bản ngã và các lớp vỏ mà bản ngã ấy có thể sử dụng, và nhờ đó làm sáng tỏ tư tưởng công chúng về cấu tạo của con người.

4. Elucidate the problem of the supernormal powers, [6] and give the rules for their safe and useful development.

4. Làm sáng tỏ vấn đề các quyền năng siêu thường, [6] và đưa ra các quy luật để phát triển chúng một cách an toàn và hữu ích.

1. Dạy các định luật của tâm lý học tinh thần phân biệt với tâm lý học trí tuệ và cảm xúc.

1. Dạy các định luật của tâm lý học tinh thần phân biệt với tâm lý học trí tuệ và cảm xúc.

2. Làm rõ bản chất của linh hồn con người và các mối quan hệ hệ thống và vũ trụ của nó. Điều này sẽ bao gồm mối quan hệ nhóm của nó như một bước sơ bộ.

2. Làm rõ bản chất của linh hồn con người và các mối quan hệ hệ thống và vũ trụ của nó. Điều này sẽ bao gồm mối quan hệ nhóm của nó như một bước sơ bộ.

3. Chứng minh mối quan hệ giữa Chân ngã và các thể mà Chân ngã có thể sử dụng, qua đó làm sáng tỏ suy nghĩ của công chúng về cấu trúc của con người.

3. Chứng minh mối quan hệ giữa Chân ngã và các thể mà Chân ngã có thể sử dụng, qua đó làm sáng tỏ suy nghĩ của công chúng về cấu trúc của con người.

4. Làm sáng tỏ vấn đề các năng lực siêu thường, [6] và đưa ra các quy tắc để phát triển chúng một cách an toàn và hữu ích.

4. Làm sáng tỏ vấn đề các năng lực siêu thường, [6] và đưa ra các quy tắc để phát triển chúng một cách an toàn và hữu ích.

We stand now towards the close of a great transition period and the subtler realms of life are closer than ever before; unusual phenomena and inexplicable happenings are commoner than at any time heretofore, whilst matters telepathic, psychic, and peculiar occupy the attention even of sceptics, scientists, and religionists. Reasons for the appearance of phenomena are being everywhere sought, and societies are formed for their investigation and demonstration. Many are likewise going astray in the effort to induce in themselves psychic conditions and the energy-producing factors which give rise to the manifestation of peculiar powers. This book will endeavor to fit the information given into the scheme of life as we today recognize it and will show how basically natural and true is all that is termed mysterious. All is under law, and the laws need elucidation now that man’s development has reached the stage of a juster appreciation of their beauty and reality.

Giờ đây chúng ta đang đứng gần cuối một thời kỳ chuyển tiếp lớn, và các cõi vi tế hơn của sự sống đang gần hơn bao giờ hết; các hiện tượng bất thường và những biến cố không thể giải thích trở nên phổ biến hơn bất kỳ thời nào trước đây, trong khi các vấn đề viễn cảm, thông linh và kỳ lạ thu hút sự chú ý ngay cả của những người hoài nghi, các nhà khoa học và các nhà tôn giáo. Khắp nơi người ta đang tìm kiếm các lý do cho sự xuất hiện của các hiện tượng, và các hội đoàn được thành lập để khảo sát và chứng minh chúng. Nhiều người cũng đang lạc đường trong nỗ lực tự tạo nơi mình những trạng thái thông linh và các yếu tố sản sinh năng lượng làm phát sinh sự biểu hiện của những quyền năng đặc biệt. Quyển sách này sẽ cố gắng đặt thông tin được trao truyền vào trong hệ hành tinh của đời sống như chúng ta nhận biết ngày nay, và sẽ chỉ ra rằng mọi điều được gọi là huyền bí, về căn bản, tự nhiên và chân thật đến mức nào. Tất cả đều ở dưới định luật, và các định luật cần được làm sáng tỏ, giờ đây khi sự phát triển của con người đã đạt đến giai đoạn có sự trân trọng đúng đắn hơn đối với vẻ đẹp và thực tại của chúng.

Three types of people will respond to this book. They are:

Ba loại người sẽ đáp ứng với quyển sách này. Họ là:

1. Those open minded investigators who are willing to accept its fundamentals as a working hypothesis until these are demonstrated to be erroneous. They will be frankly agnostic, but willing temporarily, in their search for truth, to try out the methods and follow the suggestions laid down for their consideration.

1. Những nhà khảo cứu có tâm trí cởi mở, sẵn sàng chấp nhận các nguyên lý nền tảng của quyển sách này như một giả thuyết thực hành cho đến khi chúng được chứng minh là sai lầm. Họ sẽ thẳng thắn theo lập trường bất khả tri, nhưng trong khi tìm kiếm chân lý, họ sẵn sàng tạm thời thử nghiệm các phương pháp và làm theo những gợi ý được nêu ra để họ xem xét.

2. Aspirants and disciples. They will study this treatise in order to understand themselves better and because they seek to help their brother man. They will not accept its dicta blindly but will experiment, check and corroborate with care the stages [7] and steps laid down for them in this section of the teachings of the Ageless Wisdom.

2. Những người chí nguyện và các đệ tử. Họ sẽ nghiên cứu khảo luận này để hiểu rõ hơn về chính mình và vì họ tìm cách trợ giúp người huynh đệ nhân loại của mình. Họ sẽ không chấp nhận các lời khẳng định trong đó một cách mù quáng, mà sẽ thử nghiệm, kiểm chứng và xác nhận cẩn thận các giai đoạn [7] và các bước được nêu ra cho họ trong phần giáo huấn này của Minh Triết Ngàn Đời.

3. Initiates. These persons will arrive at a meaning which will not be apparent to those in the first group and which will only be suspected by the more advanced members of the second. Within themselves they know the truth of many of its statements and will realise the subjective working out of many of the laws. These laws of nature have effects in three distinct realms:

3. Các điểm đạo đồ. Những người này sẽ đạt đến một ý nghĩa vốn không hiển nhiên đối với những người thuộc nhóm thứ nhất, và chỉ được những thành viên tiến bộ hơn của nhóm thứ hai linh cảm. Trong chính mình, họ biết chân lý của nhiều phát biểu trong đó và sẽ nhận ra sự vận hành chủ quan của nhiều định luật. Những định luật tự nhiên này có các hiệu quả trong ba lĩnh vực rõ rệt:

a. Physically, where they demonstrate as effects in the dense form.

a. Về mặt hồng trần, nơi chúng biểu hiện như các hiệu quả trong hình tướng đậm đặc.

b. Etherically, where they demonstrate as the energy lying back of those effects.

b. Về mặt dĩ thái, nơi chúng biểu hiện như năng lượng nằm phía sau những hiệu quả ấy.

c. Mentally, where they concern the impulses which produce the other two.

c. Về mặt trí tuệ, nơi chúng liên quan đến các xung động tạo ra hai điều kia.

The Treatise on Cosmic Fire dealt primarily with the solar system and only touched upon human aspects and correspondences insofar as they demonstrated the relation of the part to the whole, and of the unit to the totality.

Luận về Lửa Vũ Trụ chủ yếu đề cập đến hệ mặt trời và chỉ chạm đến các phương diện và tương ứng của con người trong chừng mực chúng biểu hiện mối liên hệ của phần với toàn thể, và của đơn vị với tổng thể.

The present book will deal more specifically with human development and unfoldment, elucidating the causes which are responsible for the present effects, and pointing to the future and its possibilities, and to the nature of the unfolding potentialities.

Quyển sách hiện tại sẽ đề cập chuyên biệt hơn đến sự phát triển và sự khai mở của con người, làm sáng tỏ các nguyên nhân chịu trách nhiệm cho những hiệu quả hiện nay, đồng thời chỉ về tương lai cùng các khả năng của nó, và về bản chất của những tiềm năng đang khai mở.

This book will be based also upon four fundamental postulates which must be admitted by the student of the succeeding pages as providing an hypothesis worthy of his consideration and trial. No true investigator of the Ageless Wisdom is asked to give blind adherence to any presentation of truth; he is asked, however, to have an open mind and seriously to weigh and consider the theories and ideals, the laws and the truths which have guided so many out of darkness into the light of knowledge [8] and experience. The postulates might be enumerated as follows and are given in the order of their importance.

Quyển sách này cũng sẽ dựa trên bốn định đề căn bản mà đạo sinh của các trang tiếp theo phải thừa nhận như một giả thuyết đáng để y xem xét và thử nghiệm. Không một nhà khảo cứu chân chính nào của Minh Triết Ngàn Đời được yêu cầu phải mù quáng tuân theo bất kỳ trình bày nào về chân lý; tuy nhiên, y được yêu cầu giữ một tâm trí cởi mở và nghiêm túc cân nhắc, xem xét các lý thuyết và lý tưởng, các định luật và các chân lý đã dẫn dắt biết bao người ra khỏi bóng tối vào ánh sáng của tri thức [8] và kinh nghiệm. Các định đề có thể được liệt kê như sau và được đưa ra theo thứ tự tầm quan trọng của chúng.

I. First, that there exists in our manifested universe the expression of an Energy or Life which is the responsible cause of the diverse forms and the vast hierarchy of sentient beings who compose the sum total of all that is. This is the so-called hylozoistic theory, though the term but serves to confuse. This great Life is the basis of Monism, and all enlightened men are Monists. “God is One” is the utterance of truth. One life pervades all forms and those forms are the expressions, in time and space, of the central universal energy. Life in manifestation produces existence and being. It is the root cause, therefore, of duality. This duality which is seen when objectivity is present and which disappears when the form aspect vanishes is covered by many terms, of which for the sake of clarity, the most usual might be here listed:

I. Trước hết, trong vũ trụ biểu hiện của chúng ta có sự biểu lộ của một Năng lượng hay Sự Sống, vốn là nguyên nhân chịu trách nhiệm cho các hình tướng đa dạng và Huyền Giai rộng lớn gồm những sinh thể hữu cảm, hợp thành tổng thể của tất cả những gì hiện hữu. Đây là thuyết vật hoạt luận, dù thuật ngữ này chỉ khiến vấn đề thêm rối. Sự Sống vĩ đại này là nền tảng của chủ nghĩa nhất nguyên, và mọi người đã được soi sáng đều là những nhà nhất nguyên. “Thượng đế là Một” là lời phát biểu của chân lý. Một sự sống thấm nhuần mọi hình tướng, và các hình tướng ấy là những biểu hiện, trong thời gian và không gian, của năng lượng vũ trụ trung tâm. Sự sống trong biểu hiện tạo ra tồn tại và hiện hữu. Vì vậy, nó là nguyên nhân gốc rễ của Nhị nguyên. Nhị nguyên này, được thấy khi khách quan tính hiện diện và biến mất khi phương diện hình tướng tan biến, được bao hàm trong nhiều thuật ngữ; để rõ ràng, những thuật ngữ thông dụng nhất có thể được liệt kê ở đây:

Spirit............Matter

Tinh thần............Vật chất

Life..............Form

Sự sống..............Hình tướng

Father..........Mother

Cha..........Mẹ

Positive.......Negative

Dương tính.......Âm tính

Darkness.....Light

Bóng tối.....Ánh sáng

Students must clearly have this essential unity in mind e’en when they talk (as they needs must) in finite terms of that duality which is everywhere, cyclically, apparent.

Các đạo sinh phải giữ rõ trong trí sự thống nhất cốt yếu này, ngay cả khi họ nói—như họ buộc phải nói—bằng những thuật ngữ hữu hạn về Nhị nguyên vốn hiển hiện khắp nơi theo chu kỳ.

II. The second postulate grows out of the first and states that the one Life, manifesting through matter, produces a third factor which is consciousness. This consciousness, which is the result of the union of the two poles of spirit and matter is the soul of all things; it permeates all substance or objective energy; it underlies all forms, whether it be the form of that unit of energy which we call an atom, or the form of man, a planet, or a solar system. This is the Theory of Self-determination [9] or the teaching that all the lives of which the one life is formed, in their sphere and in their state of being, become, so to speak, grounded in matter and assume forms whereby their peculiar specific state of consciousness may be realised and their vibration stabilised; thus they may know themselves as existences. Thus again the one life becomes a stabilised and conscious entity through the medium of the solar system, and is essentially, therefore the sum total of energies, of all states of consciousness, and of all forms in existence. The homogeneous becomes the heterogeneous, and yet remains a unity; the one manifests in diversity and yet is unchanged; the central unity is known in time and space as composite and differentiated and yet, when time and space are not (being but states of consciousness), only the unity will remain, and only spirit will persist, plus an increased vibratory action, plus capacity for an intensification of the light when again the cycle of manifestation returns.

II. Định đề thứ hai phát sinh từ định đề thứ nhất và nêu rằng sự sống duy nhất, biểu hiện qua vật chất, tạo ra một yếu tố thứ ba là tâm thức. Tâm thức này, vốn là kết quả của sự hợp nhất giữa hai cực tinh thần và vật chất, là linh hồn của mọi sự; nó thấm nhuần mọi chất liệu hay năng lượng khách quan; nó nằm bên dưới mọi hình tướng, dù đó là hình tướng của đơn vị năng lượng mà chúng ta gọi là nguyên tử, hay hình tướng của con người, một hành tinh, hoặc một hệ mặt trời. Đây là Thuyết Tự Quyết [9] hay giáo huấn rằng mọi sự sống cấu thành sự sống duy nhất, trong khối cầu và trạng thái hiện hữu của chúng, có thể nói là trở nên cắm rễ trong vật chất và khoác lấy các hình tướng, nhờ đó trạng thái tâm thức đặc thù riêng của chúng có thể được nhận biết và rung động của chúng được ổn định; nhờ vậy, chúng có thể biết mình như những tồn tại. Như thế, một lần nữa, sự sống duy nhất trở thành một thực thể ổn định và có ý thức thông qua phương tiện là hệ mặt trời, và vì vậy, về căn bản, là tổng số của các năng lượng, của mọi trạng thái tâm thức và của mọi hình tướng đang hiện hữu. Cái đồng nhất trở thành cái dị biệt, nhưng vẫn là một sự thống nhất; cái duy nhất biểu hiện trong đa dạng mà vẫn không đổi thay; sự thống nhất trung tâm được biết đến trong thời gian và không gian như là hợp thành và biến phân, nhưng khi thời gian và không gian không còn—vì chúng chỉ là những trạng thái tâm thức—thì chỉ còn lại sự thống nhất, và chỉ tinh thần còn tồn tại, cộng với một tác động rung động gia tăng, cộng với năng lực làm tăng cường ánh sáng khi chu kỳ biểu hiện lại quay về.

Within the vibratory pulsation of the one manifesting Life all the lesser lives repeat the process of being, —Gods, angels, men, and the myriad lives which express themselves through the forms of the kingdoms of nature and the activities of the evolutionary process. All become self-centered and self-determined.

Bên trong nhịp rung động của Sự Sống duy nhất đang biểu hiện, mọi sự sống nhỏ hơn đều lặp lại tiến trình hiện hữu: các Thượng đế, các thiên thần, con người, và vô số sự sống tự biểu lộ qua các hình tướng của những giới trong tự nhiên và qua các hoạt động của tiến trình thăng thượng tiến hoá. Tất cả đều trở nên tập trung vào bản thân và tự quyết.

III. The third basic postulate is that the object for which life takes form and the purpose of manifested being is the unfoldment of consciousness, or the revelation of the soul. This might be called the Theory of the Evolution of Light. When it is realised that even the modern scientist is saying that light and matter are synonymous terms, thus echoing the teaching of the East, it becomes apparent that through the interplay of the poles, and through the friction of the pairs of opposites light flashes forth. The goal of evolution is found to be a gradual series of light demonstrations. Veiled and [10] hidden by every form lies light. As evolution proceeds, matter becomes increasingly a better conductor of the light, thus demonstrating the accuracy of the statement of the Christ “I am the Light of the World”.

III. Định đề căn bản thứ ba là mục tiêu khiến sự sống khoác lấy hình tướng, và mục đích của hiện hữu biểu hiện, là sự khai mở tâm thức, hay sự mặc khải của linh hồn. Điều này có thể được gọi là Thuyết Tiến Hoá của Ánh Sáng. Khi nhận ra rằng ngay cả nhà khoa học hiện đại cũng nói ánh sáng và vật chất là những thuật ngữ đồng nghĩa, qua đó vang vọng giáo huấn của phương Đông, thì rõ ràng rằng nhờ sự tương tác giữa các cực, và nhờ sự ma sát của các cặp đối lập, ánh sáng bừng lóe. Mục tiêu của tiến hoá được thấy là một chuỗi biểu hiện ánh sáng diễn ra dần dần. Bị che phủ và [10] ẩn giấu trong mọi hình tướng là ánh sáng. Khi tiến hoá tiếp diễn, vật chất ngày càng trở thành một chất dẫn tốt hơn của ánh sáng, nhờ đó chứng minh tính chính xác của lời Đức Christ: “Ta là Ánh Sáng của Thế Gian”.

IV. The fourth postulate consists of the statement that all lives manifest cyclically. This is the Theory of Rebirth or of re-incarnation, the demonstration of the law of periodicity.

IV. Định đề thứ tư gồm lời khẳng định rằng mọi sự sống đều biểu hiện theo chu kỳ. Đây là Thuyết Tái Sinh hay Tái Lâm Phàm, tức sự biểu hiện của định luật chu kỳ.

Such are the great underlying truths which form the foundation of the Ageless Wisdom—the existence of life, and the development of consciousness through the cyclic taking of form.

Đó là những chân lý lớn lao nằm bên dưới, tạo thành nền tảng của Minh Triết Ngàn Đời—sự hiện hữu của sự sống, và sự phát triển tâm thức thông qua việc khoác lấy hình tướng theo chu kỳ.

In this book, however, the emphasis will be laid upon the little life; upon man “made in the image of God”, who through the method of re-incarnation unfolds his consciousness until it flowers forth as the perfected soul, whose nature is light and whose realisation is that of a self-conscious identity. This developed unit has eventually to be merged, with full intelligent participation, in the greater consciousness of which it is a part.

Tuy nhiên, trong quyển sách này, trọng tâm sẽ được đặt vào sự sống nhỏ bé; vào con người “được tạo ra theo hình ảnh của Thượng đế”, là kẻ, nhờ phương pháp tái sinh, khai mở tâm thức của mình cho đến khi nó nở hoa như linh hồn hoàn thiện, có bản chất là ánh sáng và có sự chứng nghiệm là một bản sắc tự ý thức. Đơn vị đã phát triển này rốt cuộc phải được hòa nhập, với sự tham dự đầy đủ và thông minh, vào tâm thức lớn hơn mà y là một phần.

Before we take up our subject it might be of value if we defined certain words which will be in constant use, so that we will know what we are talking about, and the significance of the terms we use.

Trước khi chúng ta đi vào chủ đề của mình, có lẽ sẽ hữu ích nếu chúng ta định nghĩa một số từ sẽ được dùng thường xuyên, để chúng ta biết mình đang nói về điều gì và thâm nghĩa của các thuật ngữ mà chúng ta sử dụng.

1. Occult. This term concerns the hidden forces of being and those springs of conduct which produce the objective manifestation. The word “conduct” is used here deliberately, for all manifestation, in all the kingdoms of nature, is the expression of the life, purpose and type of activity of some being or existence, and thus is literally the conduct (or outer nature or quality) of a life. These springs of action lie hid in the purpose of any life, whether it be a solar life, a planetary entity, a man, or that Being who is the sum total of the states of consciousness and of the forms of any kingdom in nature.

1. Huyền bí. Thuật ngữ này liên quan đến các mãnh lực ẩn giấu của hiện hữu và những suối nguồn của hành vi tạo ra biểu hiện khách quan. Từ “hành vi” được dùng ở đây một cách chủ ý, vì mọi biểu hiện, trong tất cả các giới của tự nhiên, đều là sự biểu lộ của sự sống, mục đích và loại hoạt động của một sinh thể hay một tồn tại nào đó; và vì vậy, theo nghĩa đen, đó là hành vi, hay bản chất hoặc phẩm tính bên ngoài, của một sự sống. Những suối nguồn hành động này nằm ẩn trong mục đích của bất kỳ sự sống nào, dù đó là một sự sống thái dương, một Thực Thể Hành Tinh, một con người, hay Đấng là tổng thể của các trạng thái tâm thức và các hình tướng của bất kỳ giới nào trong tự nhiên.

2. Laws. A law presupposes a superior being who, [11] gifted with purpose, and aided by intelligence, is so coordinating his forces that a plan is being sequentially and steadily matured. Through a clear knowledge of the goal, that entity sets in activity those steps and stages which when carried forward in order will bring the plan to perfection. The word “law”, as usually understood, conveys the idea of subjection to an activity which is recognised as inexorable and undeviating, but which is not understood by the one who is subjected to it; it involves, from one standpoint, the attitude of the submersed unit in the group impulse and the inability of that unit to change the impulse or evade the issue; it inevitably brings about in the consciousness of the man who is considering these laws, a feeling of being a victim—of being driven forward like a leaf before the breeze towards an end about which speculation only is possible, and of being governed by a force which acts apparently with an unavoidable pressure and thus produces group results, at the expense of the unit. This attitude of mind is inevitable until the consciousness of man can be so expanded that he becomes aware of the greater issues. When, through contact with his own higher self, he participates in the knowledge of the objective, and when through climbing the mountain of vision his perspective changes and his horizon enlarges, he comes to the realisation that a law is but the spiritual impulse, incentive and life manifestation of that Being in which he lives and moves. He learns that that impulse demonstrates an intelligent purpose, wisely directed, and based on love. He then himself begins to wield the law or to pass wisely, lovingly and intelligently through himself as much of that spiritual life impulse which his particular organism can respond to, transmit and utilise. He ceases to obstruct and begins to transfer. He brings to an end the cycle of the closed self-centered life, and opens the doors wide to spiritual energy. In so doing he finds that the law [12] which he has hated and mistrusted is the vitalising, purifying agency which is sweeping him and all God’s creatures on to a glorious consummation.

2. Định luật. Một định luật giả định có một sinh thể cao hơn, [11] được phú cho mục đích và được trí tuệ trợ giúp, đang phối hợp các mãnh lực của mình đến mức một Thiên Cơ được tuần tự và vững chắc làm cho chín muồi. Nhờ tri thức rõ ràng về mục tiêu, thực thể ấy khởi động những bước và giai đoạn mà khi được tiến hành theo trật tự sẽ đưa Thiên Cơ đến chỗ hoàn thiện. Từ “định luật”, như thường được hiểu, hàm ý sự lệ thuộc vào một hoạt động được nhìn nhận là không thể cưỡng lại và không sai lệch, nhưng lại không được kẻ chịu nó thấu hiểu; từ một quan điểm, nó bao hàm thái độ của đơn vị bị chìm trong xung lực nhóm và sự bất lực của đơn vị ấy trong việc thay đổi xung lực hay tránh né kết quả; điều đó tất yếu tạo ra trong tâm thức của người đang xem xét các định luật này cảm giác mình là nạn nhân—bị thúc đẩy tiến tới như chiếc lá trước làn gió, hướng về một cứu cánh mà người ta chỉ có thể suy đoán, và bị cai quản bởi một mãnh lực dường như tác động với một áp lực không thể tránh, nhờ vậy tạo ra các kết quả nhóm với cái giá mà đơn vị phải trả. Thái độ trí tuệ này là điều không thể tránh khỏi cho đến khi tâm thức của con người có thể được mở rộng đến mức y trở nên nhận biết những vấn đề lớn lao hơn. Khi, nhờ tiếp xúc với chân ngã của chính mình, y tham dự vào tri thức về mục tiêu, và khi nhờ leo lên ngọn núi của tầm nhìn, viễn cảnh của y thay đổi và chân trời của y mở rộng, y đi đến nhận thức rằng một định luật chỉ là xung lực tinh thần, động lực thúc đẩy và biểu hiện sự sống của Đấng mà trong Ngài y sống và chuyển động. Y học được rằng xung lực ấy biểu hiện một mục đích thông minh, được hướng dẫn minh triết và đặt nền trên tình thương. Bấy giờ chính y bắt đầu vận dụng định luật, hoặc để cho trong chính y đi qua một cách minh triết, đầy tình thương và thông minh, phần xung lực sự sống tinh thần mà cơ cấu riêng biệt của y có thể đáp ứng, truyền đạt và sử dụng. Y ngừng cản trở và bắt đầu chuyển dịch. Y kết thúc chu kỳ của đời sống khép kín, tập trung vào bản thân, và mở rộng các cánh cửa cho năng lượng tinh thần. Khi làm như vậy, y thấy rằng định luật [12] mà y từng ghét bỏ và không tin cậy chính là tác nhân tiếp sinh lực và thanh luyện, đang cuốn y cùng mọi tạo vật của Thượng đế tiến tới một sự viên mãn vinh quang.

3. Psychic. There are two types of the above force in manifestation as far as the human kingdom is concerned, and these must be clearly grasped. There is the force which animates the subhuman kingdoms in nature, —the ensouling energy which, brought into conjunction with the energy of matter and self, produces all forms. The effect of this junction is to add to the embryo intelligence of substance itself a latent sentiency and responsiveness that produces that subjective something we call the animal soul. This exists in four degrees or states of sentient awareness:

3. Thông linh. Có hai loại mãnh lực nói trên trong biểu hiện, xét theo giới nhân loại, và cần phải nắm rõ chúng. Có mãnh lực làm sinh động các giới dưới nhân loại trong tự nhiên—năng lượng phú linh, khi được đưa vào kết hợp với năng lượng của vật chất và bản ngã, tạo ra mọi hình tướng. Hiệu quả của sự kết hợp này là thêm vào trí tuệ phôi thai của chính chất liệu một tính cảm nhận và khả năng đáp ứng tiềm tàng, tạo ra một cái gì đó chủ quan mà chúng ta gọi là linh hồn động vật. Điều này hiện hữu trong bốn cấp độ hay trạng thái nhận biết hữu cảm:

a. The consciousness of the mineral kingdom.

a. Tâm thức của giới kim thạch.

b. The consciousness of the vegetable kingdom.

b. Tâm thức của giới thực vật.

c. The consciousness of the animal kingdom.

c. Tâm thức của giới động vật.

d. The consciousness of the animal form through which the spiritual man functions, which after all is but a department of the former group in its highest presentation.

d. Tâm thức của hình tướng động vật mà qua đó con người tinh thần hoạt động, xét cho cùng chỉ là một bộ phận của nhóm trước trong biểu hiện cao nhất của nó.

Secondly, there is that psychic force which is the result of the union of the spirit with sentient matter in the human kingdom and which produces a psychic centre which we call the soul of man. This psychic centre is a force centre, and the force of which it is the custodian or which it demonstrates, brings into play a responsiveness and an awareness which is that of the soul of the planetary life, a group consciousness which brings with it faculties and knowledge of a different order than that in the animal soul. These supersede eventually the powers of the animal soul which limit, distort, and imprison, and give man a range of contacts and a knowledge which is infallible, free from error, and which admits him to “the freedom of the heavens”. The effect of the free [13] play of the soul of man serves to demonstrate the fallibility and relative uselessness of the powers of the animal soul. All I desire to do here is to show the two senses in which the word “psychic” is used. Later we will deal with the growth and development of the lower psychic nature or the soul of the vehicles in which man functions in the three worlds, and then will seek to elucidate the true nature of the soul of man and of the powers which can be brought into play once a man can contact his own spiritual centre, the soul, and live in that soul consciousness.

Thứ hai, có mãnh lực thông linh là kết quả của sự hợp nhất giữa tinh thần với vật chất hữu cảm trong giới nhân loại, và tạo ra một trung tâm thông linh mà chúng ta gọi là linh hồn của con người. Trung tâm thông linh này là một trung tâm mãnh lực, và mãnh lực mà nó gìn giữ hay biểu hiện đưa vào hoạt động một khả năng đáp ứng và một sự nhận biết thuộc về linh hồn của sự sống hành tinh, một tâm thức nhóm đem theo những năng lực và tri thức thuộc một trật tự khác với linh hồn động vật. Những điều này rốt cuộc thay thế các quyền năng của linh hồn động vật vốn giới hạn, bóp méo và giam hãm, đồng thời ban cho con người một phạm vi tiếp xúc và một tri thức không sai lầm, không có lỗi, và cho phép y bước vào “sự tự do của các cõi trời”. Hiệu quả của sự vận hành tự do [13] của linh hồn con người là chứng minh tính có thể sai lầm và sự tương đối vô dụng của các quyền năng thuộc linh hồn động vật. Tất cả những gì tôi muốn làm ở đây là chỉ ra hai nghĩa mà từ “thông linh” được dùng. Về sau, chúng ta sẽ đề cập đến sự tăng trưởng và phát triển của bản chất thông linh thấp, hay linh hồn của các hiện thể mà trong đó con người hoạt động trong ba cõi giới; rồi chúng ta sẽ tìm cách làm sáng tỏ bản chất đích thực của linh hồn con người và của các quyền năng có thể được đưa vào hoạt động một khi con người có thể tiếp xúc với trung tâm tinh thần của chính mình, tức linh hồn, và sống trong tâm thức linh hồn ấy.

4. Unfoldment. The life at the heart of the solar system is producing an evolutionary unfoldment of the energies of that universe which it is not possible for finite man as yet to vision. Similarly the centre of energy which we call the spiritual aspect in man is (through the utilisation of matter or substance) producing an evolutionary development of that which we call the soul, and which is the highest of the form manifestations—the human kingdom. Man is the highest product of existence in the three worlds. By man, I mean the spiritual man, a son of God in incarnation. The forms of all the kingdoms of nature—human, animal, vegetable and mineral—contribute to that manifestation. The energy of the third aspect of divinity tends to the revelation of the soul or the second aspect which in turn reveals the highest aspect. It must ever be remembered that The Secret Doctrine of H. P. Blavatsky expresses this with accuracy in the words “Life we look upon as the one form of existence, manifesting in what is called Matter; or what, incorrectly separating them, we name spirit, soul and matter in man. Matter is the vehicle for the manifestation of soul on this plane of existence, and soul is the vehicle on a higher plane for the manifestation of spirit, and these three are a trinity synthesized by life, [14] which pervades them all.” (The Secret Doctrine. Vol: I. p. 79. 80.)

4. Sự khai mở. Sự sống ở trung tâm của hệ mặt trời đang tạo ra một sự khai mở thăng thượng tiến hoá của các năng lượng thuộc vũ trụ ấy, điều mà con người hữu hạn hiện nay vẫn chưa thể hình dung. Tương tự, trung tâm năng lượng mà chúng ta gọi là phương diện tinh thần trong con người, thông qua việc sử dụng vật chất hay chất liệu, đang tạo ra một sự phát triển thăng thượng tiến hoá của điều chúng ta gọi là linh hồn, vốn là biểu hiện cao nhất trong các biểu hiện hình tướng—giới nhân loại. Con người là sản phẩm cao nhất của sự tồn tại trong ba cõi giới. Nói đến con người, tôi muốn nói con người tinh thần, một Con của Thượng đế đang lâm phàm. Các hình tướng của mọi giới trong tự nhiên—nhân loại, động vật, thực vật và kim thạch—đều góp phần vào biểu hiện ấy. Năng lượng của phương diện thứ ba của thiên tính có khuynh hướng đưa đến sự mặc khải của linh hồn, hay phương diện thứ hai, và phương diện này đến lượt mình mặc khải phương diện cao nhất. Cần luôn nhớ rằng Giáo Lý Bí Nhiệm của H. P. Blavatsky diễn đạt điều này một cách chính xác bằng những lời sau: “Chúng ta xem Sự Sống là hình thức duy nhất của tồn tại, biểu hiện trong cái được gọi là Vật Chất; hoặc cái mà, do phân tách chúng một cách không đúng, chúng ta gọi là tinh thần, linh hồn và vật chất trong con người. Vật chất là hiện thể cho sự biểu hiện của linh hồn trên cõi tồn tại này, và linh hồn là hiện thể trên một cõi cao hơn cho sự biểu hiện của tinh thần; và ba điều này là một Ba Ngôi được tổng hợp bởi sự sống, [14] vốn thấm nhuần tất cả chúng.” (Giáo Lý Bí Nhiệm. Quyển: I. tr. 79. 80.)

Through the use of matter the soul unfolds and finds its climax in the soul of man, and this treatise will concern itself with the unfoldment of that soul and its discovery by man.

Thông qua việc sử dụng vật chất, linh hồn khai mở và đạt đến đỉnh cao trong linh hồn con người; khảo luận này sẽ bàn đến sự khai mở của linh hồn ấy và việc con người khám phá ra nó.

5. Knowledge might be divided into three categories: —First, there is theoretical knowledge. This includes all knowledge of which man is aware but which is accepted by him on the statements of other people, and by the specialists in the various branches of knowledge. It is founded on authoritative statements and has in it the element of trust in the writers and speakers, and in the trained intelligences of the workers in any of the many and varied fields of thought. The truths accepted as such have not been formulated or verified by the one who accepts them, lacking as he does the necessary training and equipment. The dicta of science, the theologies of religion, and the findings of the philosophers and thinkers everywhere colour the point of view and meet with a ready acquiescence from the untrained mind, and that is the average mind.

5. Tri thức có thể được chia thành ba loại: —Thứ nhất, có tri thức lý thuyết. Điều này bao gồm mọi tri thức mà con người nhận biết nhưng được y chấp nhận dựa trên các tuyên bố của người khác và của các chuyên gia trong nhiều ngành tri thức khác nhau. Nó đặt nền trên những phát biểu có thẩm quyền, và trong đó có yếu tố tin cậy vào các tác giả và diễn giả, cũng như vào trí tuệ được rèn luyện của những người hoạt động trong bất kỳ lĩnh vực tư tưởng nào trong vô số lĩnh vực đa dạng. Những chân lý được chấp nhận như vậy chưa được người chấp nhận chúng tự mình hình thành hay kiểm chứng, vì y thiếu sự huấn luyện và phương tiện cần thiết. Các luận thuyết của khoa học, các thần học của tôn giáo, và các kết luận của các triết gia cùng những nhà tư tưởng khắp nơi đều tô màu cho quan điểm và dễ dàng nhận được sự thuận theo của thể trí chưa được rèn luyện; và đó là thể trí trung bình.

Then, secondly, we have discriminative knowledge, which has in it a selective quality and which posits the intelligent appreciation and practical application of the more specifically scientific method, and the utilisation of test, the elimination of that which cannot be proved, and the isolation of those factors which will bear investigation and are in conformity with what is understood as law. The rational, argumentative, scholastic, and concretising mind is brought into play with the result that much that is childish, impossible and unverifiable is rejected and a consequent clarifying of the fields of thought results. This discriminating and scientific process has enabled man to arrive at much truth in relation to the three worlds. The scientific method is, in relation to the [15] mind of humanity, playing the same function as the occult method of meditation (in its first two stages of concentration and prolonged concentration or meditation) plays in relation to the individual. Through it right processes of thought are engendered, non-essentials and incorrect formulations of truth are ultimately eliminated or corrected, and the steady focussing of the attention either upon a seed thought, a scientific problem, a philosophy or a world situation results in an ultimate clarifying and the steady seeping in of right ideas and sound conclusions. The foremost thinkers in any of the great schools of thought are simply exponents of occult meditation and the brilliant discoveries of science, the correct interpretations of nature’s laws, and the formulations of correct conclusions whether in the fields of science, of economics, of philosophy, psychology or elsewhere is but the registering by the mind (and subsequently by the brain) of the eternal verities, and the indication that the race is beginning also to bridge the gap between the objective and the subjective, between the world of form and the world of ideas.

Rồi, thứ hai, chúng ta có tri thức phân biện, vốn có trong nó một phẩm tính tuyển chọn và giả định sự nhận thức sáng suốt cùng sự áp dụng thực tiễn phương pháp khoa học chuyên biệt hơn, cũng như việc vận dụng sự kiểm nghiệm, loại bỏ những gì không thể chứng minh, và cô lập những yếu tố nào có thể chịu được khảo sát và phù hợp với điều được thấu hiểu như là định luật. Trí tuệ duy lý, biện luận, kinh viện và cụ thể hóa được đưa vào hoạt động, với kết quả là nhiều điều trẻ con, bất khả và không thể kiểm chứng bị bác bỏ, và từ đó các lĩnh vực tư tưởng được làm sáng tỏ. Tiến trình phân biện và khoa học này đã giúp con người đạt đến nhiều chân lý liên quan đến ba cõi thấp. Phương pháp khoa học, trong tương quan với thể trí [15] của nhân loại, đang đảm nhiệm cùng một chức năng như phương pháp tham thiền huyền bí, trong hai giai đoạn đầu của nó là tập trung và tập trung kéo dài hay tham thiền, đảm nhiệm đối với cá nhân. Nhờ đó, các tiến trình tư tưởng đúng đắn được sinh khởi, những điều không thiết yếu và những công thức sai lạc về chân lý cuối cùng bị loại bỏ hoặc được chỉnh sửa, và sự tập trung bền bỉ của chú tâm vào một tư tưởng hạt giống, một vấn đề khoa học, một triết lý hoặc một tình hình thế giới đưa đến sự sáng tỏ sau cùng và sự thấm nhập đều đặn của các ý tưởng đúng đắn cùng những kết luận lành mạnh. Những tư tưởng gia hàng đầu trong bất cứ trường phái tư tưởng lớn nào chỉ đơn giản là những người biểu đạt tham thiền huyền bí; và những khám phá rực rỡ của khoa học, những diễn giải đúng đắn về các định luật của thiên nhiên, cùng những công thức hóa các kết luận đúng đắn, dù trong các lĩnh vực khoa học, kinh tế, triết học, tâm lý học hay nơi nào khác, chỉ là sự ghi nhận bởi thể trí, và sau đó bởi bộ não, về các chân lý vĩnh cửu, đồng thời là dấu hiệu cho thấy nhân loại cũng đang bắt đầu bắc cầu qua khoảng cách giữa khách quan và chủ quan, giữa thế giới hình tướng và thế giới ý tưởng.

This leads inevitably to the emergence of the third branch of knowledge, the intuitive. The intuition is in reality only the appreciation by the mind of some factor in creation, some law of manifestation and some aspect of truth, known by the soul, emanating from the world of ideas, and being of the nature of those energies which produce all that is known and seen. These truths are always present, and these laws are ever active, but only as the mind is trained and developed, focussed, and open-minded can they be recognized, later understood, and finally adjusted to the needs and demands of the cycle and time. Those who have thus trained the mind in the art of clear thinking, the focussing of the attention, and consequent receptivity to truth have always been with us, but hitherto have been few and far between. They [16] are the outstanding minds of the ages. But now they are many and increasingly found. The minds of the race are in process of training and many are hovering on the borders of a new knowledge. The intuition which guides all advanced thinkers into the newer fields of learning is but the forerunner of that omniscience which characterises the soul. The truth about all things exists, and we call it omniscience, infallibility, the “correct knowledge” of the Hindu philosophy. When man grasps a fragment of it and absorbs it into the racial consciousness we call it the formulation of a law, a discovery of one or other of nature’s processes. Hitherto this has been a slow and piecemeal undertaking. Later, and before so very long, light will pour in, truth will be revealed and the race will enter upon its heritage—the heritage of the soul.

Điều này tất yếu dẫn đến sự xuất hiện của nhánh thứ ba của tri thức, tức trực giác. Trực giác, trong thực tại, chỉ là sự nhận thức của thể trí về một yếu tố nào đó trong sáng tạo, một định luật nào đó của biểu hiện và một phương diện nào đó của chân lý, vốn được linh hồn biết đến, xuất phát từ thế giới ý tưởng, và có bản chất của những năng lượng tạo ra tất cả những gì được biết và được thấy. Những chân lý này luôn hiện diện, và các định luật này luôn hoạt động, nhưng chỉ khi thể trí được rèn luyện và phát triển, được tập trung và rộng mở, chúng mới có thể được nhận ra, về sau được thấu hiểu, và cuối cùng được điều chỉnh cho phù hợp với các nhu cầu và đòi hỏi của chu kỳ và thời đại. Những người đã rèn luyện thể trí như thế trong nghệ thuật tư duy sáng tỏ, tập trung chú tâm, và nhờ đó trở nên tiếp nhận chân lý, luôn hiện diện giữa chúng ta, nhưng cho đến nay họ vẫn ít ỏi và thưa thớt. Họ [16] là những trí tuệ nổi bật của các thời đại. Nhưng hiện nay họ đã nhiều hơn và ngày càng được thấy nhiều hơn. Các thể trí của nhân loại đang trong tiến trình rèn luyện, và nhiều người đang lơ lửng trên ranh giới của một tri thức mới. Trực giác hướng dẫn mọi tư tưởng gia tiến bộ vào những lĩnh vực học hỏi mới hơn chỉ là điềm báo trước của sự toàn tri vốn đặc trưng cho linh hồn. Chân lý về mọi sự đều hiện hữu, và chúng ta gọi đó là toàn tri, là tính bất khả ngộ, là “tri thức đúng đắn” của triết học Ấn Độ. Khi con người nắm bắt một mảnh của chân lý ấy và hấp thu nó vào tâm thức nhân loại, chúng ta gọi đó là sự công thức hóa một định luật, là sự khám phá một trong những tiến trình của thiên nhiên. Cho đến nay, đây là một công việc chậm chạp và từng mảnh. Về sau, và không còn bao lâu nữa, ánh sáng sẽ tuôn vào, chân lý sẽ hiển lộ và nhân loại sẽ bước vào di sản của mình—di sản của linh hồn.

In some of our considerations, speculation must perforce enter in. Those who see a vision that is withheld from those lacking the necessary equipment for its apprehension are regarded as fanciful, and unreliable. When many see the vision, its possibility is admitted, but when humanity itself has the awakened and open eye, the vision is no longer emphasised but a fact is stated and a law enunciated. Such has been the history of the past and such will be the process in the future.

Trong một vài khảo sát của chúng ta, sự suy đoán tất phải chen vào. Những ai thấy một linh ảnh bị giữ lại khỏi những người thiếu trang bị cần thiết để lĩnh hội nó thường bị xem là giàu tưởng tượng và không đáng tin cậy. Khi nhiều người thấy linh ảnh ấy, khả năng của nó được thừa nhận; nhưng khi chính nhân loại có con mắt thức tỉnh và rộng mở, linh ảnh không còn được nhấn mạnh nữa, mà một sự kiện được nêu ra và một định luật được công bố. Lịch sử quá khứ đã như thế, và tiến trình tương lai cũng sẽ như thế.

The past is purely speculative from the standpoint of the average man and the future is equally so, but he himself is the result of that past and the future will work out of the sum total of his present characteristics and qualities. If this is true of the individual it is then also equally true of mankind as a whole. That unit in nature, which we call the fourth or human kingdom, represents that which is the product of its physical heritage; its characteristics are the sum of its emotional and mental unfoldments and its assets are those which it has succeeded in accumulating during the cycles wherein it has [17] been wrestling with its environment—the sum total of the other kingdoms in nature. Within the human kingdom lie potentialities and latencies, characteristics and assets which the future will reveal and which in their turn determine that future.

Quá khứ hoàn toàn mang tính suy đoán theo quan điểm của con người trung bình, và tương lai cũng như vậy; nhưng chính y là kết quả của quá khứ ấy, và tương lai sẽ được triển khai từ tổng số các đặc tính và phẩm tính hiện tại của y. Nếu điều này đúng đối với cá nhân, thì nó cũng đúng như vậy đối với toàn thể nhân loại. Đơn vị trong thiên nhiên mà chúng ta gọi là giới thứ tư hay giới nhân loại biểu hiện điều vốn là sản phẩm của di sản hồng trần của nó; các đặc tính của nó là tổng số những sự khai mở cảm xúc và trí tuệ của nó, và tài sản của nó là những gì nó đã thành công tích lũy trong các chu kỳ mà trong đó nó đã [17] vật lộn với môi trường của mình—tổng số các giới khác trong thiên nhiên. Bên trong giới nhân loại có những tiềm năng và năng lực tiềm ẩn, những đặc tính và tài sản mà tương lai sẽ mặc khải, và đến lượt chúng, chúng quyết định tương lai ấy.

I have purposely chosen to begin with the undefinable and the unrecognised. The soul is as yet an unknown quantity. It has no real place in the theories of the academic and scientific investigators. It is unproven and regarded by even the more open-minded of the academicians as a possible hypothesis, but lacking demonstration. It is not accepted as a fact in the consciousness of the race. Only two groups of people accept it as a fact; one is the gullible, undeveloped, childlike person who, brought up on a scripture of the world, and being religiously inclined, accepts the postulates of religion—such as the soul, God and immortality—without questioning. The other is that small but steadily growing band of Knowers of God, and of reality, who know the soul to be a fact in their own experience but are unable to prove its existence satisfactorily to the man who admits only that which the concrete mind can grasp, analyse, criticise and test.

Tôi đã cố ý chọn bắt đầu bằng điều không thể định nghĩa và chưa được công nhận. Linh hồn cho đến nay vẫn là một đại lượng chưa biết. Nó không có vị trí thực sự trong các lý thuyết của những nhà khảo cứu hàn lâm và khoa học. Nó chưa được chứng minh và ngay cả những học giả cởi mở hơn cũng xem nó như một giả thuyết có thể có, nhưng thiếu sự chứng minh. Nó không được chấp nhận như một sự kiện trong tâm thức của nhân loại. Chỉ có hai nhóm người chấp nhận nó như một sự kiện; một là người nhẹ dạ, chưa phát triển, như trẻ thơ, được nuôi dưỡng bằng một thánh thư của thế giới, và do có khuynh hướng tôn giáo nên chấp nhận các tiền đề của tôn giáo—như linh hồn, Thượng đế và sự bất tử—mà không đặt câu hỏi. Nhóm kia là đoàn nhỏ nhưng đang tăng trưởng đều đặn gồm những Thức giả của Thượng đế và của thực tại, những người biết linh hồn là một sự kiện trong kinh nghiệm riêng của họ, nhưng không thể chứng minh sự tồn tại của nó một cách thỏa đáng cho người chỉ thừa nhận những gì trí cụ thể có thể nắm bắt, phân tích, phê phán và kiểm nghiệm.

The ignorant and the wise meet on common ground as extremes always do. In between are those who are neither totally ignorant nor intuitively wise. They are the mass of the educated people who have knowledge but not understanding, and who have yet to learn the distinction between that which can be grasped by the rational mind, that which can be seen by the mind’s eye, and that which only the higher or abstract mind can formulate and know. This ultimately merges in the intuition, which is the “knowing faculty” of the intelligent and practical mystic who—relegating the emotional and feeling nature to its own place—uses the mind as a focussing [18] point and looks out through that lens upon the world of the soul.

Người vô minh và người minh triết gặp nhau trên nền tảng chung, như các cực đoan vẫn thường làm. Ở giữa là những người không hoàn toàn vô minh cũng không minh triết bằng trực giác. Họ là khối đông những người có học thức, có tri thức nhưng chưa có sự thấu hiểu, và còn phải học phân biệt giữa điều mà trí tuệ duy lý có thể nắm bắt, điều mà con mắt của thể trí có thể thấy, và điều mà chỉ thượng trí hay trí trừu tượng mới có thể công thức hóa và biết. Điều này cuối cùng hòa nhập vào trực giác, vốn là “quan năng biết” của nhà thần bí thông minh và thực tiễn, người—khi đặt bản chất cảm xúc và cảm giác vào đúng vị trí của nó—sử dụng thể trí như một điểm tập trung [18] và nhìn qua thấu kính ấy vào thế giới của linh hồn.

Man’s Three Aspects

One of the main means whereby man arrives at an understanding of that great sum total we call the Macrocosm—God, functioning through a solar system—is by an understanding of himself, and the Delphic injunction “Man, know thyself” was an inspired utterance, intended to give man the clue to the mystery of deity. Through the Law of Analogy, or correspondences, the cosmic processes, and the nature of the cosmic principles are indicated in the functions, structure, and characteristics of a human being. They are indicated but not explained or elaborated. They serve simply as sign posts, directing man along the path whereon future sign posts may be found and more definite indications noted.

Một trong những phương tiện chính nhờ đó con người đạt đến sự thấu hiểu tổng thể vĩ đại mà chúng ta gọi là Đại thiên địa—Thượng đế, hoạt động qua một hệ mặt trời—là nhờ sự thấu hiểu chính mình; và lời huấn thị Delphi “Hỡi con người, hãy biết chính mình” là một phát ngôn được cảm hứng, nhằm trao cho con người chìa khóa mở vào mầu nhiệm của Thượng đế. Nhờ Định luật Tương đồng, hay các tương ứng, các tiến trình vũ trụ và bản chất của các nguyên khí vũ trụ được chỉ ra trong các chức năng, cấu trúc và đặc tính của một con người. Chúng được chỉ ra nhưng không được giải thích hay triển khai. Chúng chỉ đơn giản đóng vai trò như các cột mốc chỉ đường, hướng dẫn con người dọc theo con đường nơi những cột mốc tương lai có thể được tìm thấy và những chỉ dẫn xác định hơn có thể được ghi nhận.

The comprehension of that triplicity of spirit, soul, and body lies as yet beyond man’s achievement, but an idea as to their relationship and their general coordinated function may be indicated by a consideration of man from the physical side, and his objective functioning.

Sự lĩnh hội bộ ba tinh thần, linh hồn và thể xác cho đến nay vẫn vượt ngoài thành tựu của con người; nhưng một ý niệm về mối quan hệ của chúng và chức năng phối hợp tổng quát của chúng có thể được chỉ ra bằng cách xem xét con người từ phương diện hồng trần và hoạt động khách quan của y.

There are three aspects of man’s organism which are symbols, and symbols only, of the three aspects of being.

Có ba phương diện trong cơ cấu của con người vốn là biểu tượng, và chỉ là biểu tượng, của ba phương diện của bản thể.

1. The energy, or activating principle, which withdraws mysteriously at death, partially withdraws in the hours of sleep or of unconsciousness, and which seems to use the brain as its main seat of activity and from there to direct the functioning of the organism. This energy has a primary direct relation with the three parts of the organism which we call the brain, the heart, and the breathing apparatus. This is the microcosmic symbol of spirit.

1. Năng lượng, hay nguyên khí hoạt hóa, vốn rút lui một cách huyền nhiệm lúc chết, rút lui một phần trong những giờ ngủ hoặc vô thức, và dường như sử dụng bộ não làm chỗ ngồi chính cho hoạt động của nó, rồi từ đó điều khiển sự vận hành của cơ cấu. Năng lượng này có một liên hệ trực tiếp chủ yếu với ba phần của cơ cấu mà chúng ta gọi là bộ não, trái tim và bộ máy hô hấp. Đây là biểu tượng tiểu thiên địa của tinh thần.

2. The nervous system, with its complexities of nerves, nerve centres and that multiplicity of interrelated and sensitive parts which serve to coordinate the organism, [19] to produce the sensitive response which exists between the many organs and parts which form the organism as a whole, and which serve also to make the man aware of, and sensitive to, his environment. This entire sensory apparatus is that which produces the organised awareness and coordinated sensitivity of the entire human being, first, within itself as a unit, and secondly, its responsiveness and sensitive reaction to the world within which it plays its part. This nervous structure, coordinating, correlating, and producing an outer and inner group activity demonstrates primarily through the three parts of the nervous system.

2. Hệ thần kinh, với những phức tạp của các dây thần kinh, các trung tâm thần kinh và vô số bộ phận nhạy cảm liên hệ với nhau, vốn phục vụ để phối hợp cơ cấu, [19] tạo ra sự đáp ứng nhạy cảm hiện hữu giữa nhiều cơ quan và bộ phận hợp thành cơ cấu như một toàn thể, và cũng phục vụ để khiến con người nhận biết và nhạy cảm với môi trường của mình. Toàn bộ bộ máy cảm giác này là cái tạo ra sự nhận biết có tổ chức và sự nhạy cảm được phối hợp của toàn thể con người, trước hết, bên trong chính nó như một đơn vị, và thứ hai, trong tính đáp ứng cùng phản ứng nhạy cảm của nó đối với thế giới nơi nó đóng vai trò của mình. Cấu trúc thần kinh này, vốn phối hợp, liên kết và tạo ra một hoạt động nhóm bên ngoài và bên trong, biểu lộ chủ yếu qua ba phần của hệ thần kinh.

a. Cerebro-spinal system.

a. Hệ não-tủy.

b. Sensory system of nerves.

b. Hệ thần kinh cảm giác.

c. Peripheral system of nerves.

c. Hệ thần kinh ngoại biên.

It is closely associated with the energy aspect, being the apparatus utilised by that energy to vitalise the body, to produce its coordinated activity and functioning, and to bring about an intelligent rapport with the world in which it has to play its part. It lies back, if one might use such an expression, of the body-nature proper, back of the mass of the flesh and bone and muscle. It in its turn, is motivated by and controlled by two factors:

Nó liên hệ mật thiết với phương diện năng lượng, vì là bộ máy được năng lượng ấy sử dụng để tiếp sinh lực cho thể xác, tạo ra hoạt động và chức năng phối hợp của nó, và đem lại mối giao cảm thông minh với thế giới trong đó nó phải đóng vai trò của mình. Nếu có thể dùng một cách nói như vậy, nó nằm phía sau bản chất thể xác đúng nghĩa, phía sau khối thịt, xương và cơ. Đến lượt nó, nó được thúc đẩy và kiểm soát bởi hai yếu tố:

a. The sum total of the energy which is the individual quota of vital energy.

a. Tổng số năng lượng vốn là phần năng lượng sinh lực riêng của cá nhân.

b. The energy of the environment in which the individual finds himself and within which he has to function and to play his part.

b. Năng lượng của môi trường trong đó cá nhân thấy mình hiện diện và trong đó y phải hoạt động và đóng vai trò của mình.

This coordinating nervous system, this network of interrelating and sensitive nerves is the symbol in man of the soul, and an outer and visible form of an inner spiritual reality.

Hệ thần kinh phối hợp này, mạng lưới các dây thần kinh liên hệ và nhạy cảm này, là biểu tượng nơi con người của linh hồn, và là một hình tướng bên ngoài, hữu hình của một thực tại tinh thần bên trong.

3. There is finally what might be described as the body, the sum total of flesh, of muscle, and of bone which the [20] man carries around, correlated by the nervous system and energised by what we vaguely call his “life”.

3. Sau cùng có điều có thể được mô tả như là thể xác, tổng số thịt, cơ và xương mà con người [20] mang theo, được liên kết bởi hệ thần kinh và được tiếp năng lượng bởi điều mà chúng ta mơ hồ gọi là “sự sống” của y.

In these three, the life, the nervous system and the body mass we find the reflection and the symbol of the greater whole, and by a close study of these, and a comprehension of their functions and group relation, we can arrive at an understanding of some of the laws and principles which direct the activities of “God in nature”—a phrase, sublimely true and equally finitely false.

Trong ba điều này—sự sống, hệ thần kinh và khối thể xác—chúng ta thấy sự phản chiếu và biểu tượng của toàn thể lớn hơn; và bằng sự nghiên cứu kỹ lưỡng về chúng, cùng sự lĩnh hội các chức năng và mối quan hệ nhóm của chúng, chúng ta có thể đạt đến sự thấu hiểu một vài định luật và nguyên khí điều khiển các hoạt động của “Thượng đế trong thiên nhiên”—một cụm từ vừa siêu tuyệt chân thật, vừa hữu hạn sai lầm.

The three aspects of divinity, the central energy, or spirit, the coordinating force or soul, and that which these two use and unify are in reality one vital principle manifesting in diversity. These are the Three in One, the One in Three, God in nature, and nature itself in God.

Ba phương diện của thiên tính, năng lượng trung tâm hay tinh thần, mãnh lực phối hợp hay linh hồn, và cái mà hai điều này sử dụng và hợp nhất, trong thực tại là một nguyên khí sống động biểu hiện trong tính đa dạng. Chúng là Ba trong Một, Một trong Ba, Thượng đế trong thiên nhiên, và chính thiên nhiên trong Thượng đế.

Carrying the concept, for the sake of illustration, into other realms of thought this trinity of aspects can be seen functioning in the religious world as the esoteric teaching, the fundamental symbology and doctrines of the great world religions and the exoteric organisations; in government it is the sum total of the will of the people whatever that will may be, the formulated laws, and the exoteric administration; in education it is the will to learn, the arts and sciences, and the great exoteric educational systems; in philosophy it is the urge to wisdom, the interrelated schools of thought, and the outer presentation of the teachings. Thus this eternal triplicity runs through every department of the manifested world, whether viewed as that which is tangible, or as that which is sensitive and coherent, or that which is energising. It is that intelligent activity which has been clumsily called “awareness”; it is the capacity of awareness itself, involving as it does sensitive response to environment, and the apparatus of that response, the divine duality of the soul; it is finally the sum total of that which is contacted and known; it is that of which the sensitive apparatus [21] becomes aware. This, as we shall see later, is a gradually growing realisation, shifting ever into more esoteric and inner realms.

Để minh họa, nếu đem khái niệm này vào các lĩnh vực tư tưởng khác, tam vị phương diện này có thể được thấy đang hoạt động trong thế giới tôn giáo như giáo huấn nội môn, biểu tượng học căn bản và các giáo lý của những tôn giáo lớn trên thế giới, cùng các tổ chức ngoại môn; trong chính quyền, nó là tổng số ý chí của dân chúng, bất kể ý chí ấy là gì, các luật lệ đã được công thức hóa, và nền hành chính ngoại môn; trong giáo dục, nó là ý chí học hỏi, các nghệ thuật và khoa học, cùng những hệ thống giáo dục ngoại môn lớn; trong triết học, nó là xung lực hướng đến minh triết, các trường phái tư tưởng liên hệ với nhau, và sự trình bày bên ngoài của các giáo huấn. Như vậy, bộ ba vĩnh cửu này xuyên suốt mọi ngành của thế giới biểu hiện, dù được xem như cái hữu hình, hay như cái nhạy cảm và cố kết, hoặc như cái tiếp năng lượng. Nó là hoạt động thông minh đã bị gọi một cách vụng về là “sự nhận biết”; nó là chính năng lực nhận biết, bao hàm như nó vốn có sự đáp ứng nhạy cảm với môi trường, cùng bộ máy của sự đáp ứng ấy, tức nhị nguyên thiêng liêng của linh hồn; sau cùng, nó là tổng số những gì được tiếp xúc và được biết; nó là điều mà bộ máy nhạy cảm [21] trở nên nhận biết. Điều này, như chúng ta sẽ thấy về sau, là một sự chứng nghiệm tăng trưởng dần dần, luôn chuyển dịch vào những lĩnh vực huyền bí và nội tại hơn.

These three aspects are seen in man, the divine unit of life. First he recognises them in himself; then he sees them in every form in his environment, and finally he learns to relate these aspects of himself to the similar aspects in other forms of divine manifestation. Correct relation between forms will result in the harmonising and right adjustment of physical plane life. Correct response to one’s environment will result in correct rapport with the soul aspect, hidden in every form, and will produce right relations between the various parts of the inner nervous structure to be found in every kingdom of nature, subhuman and superhuman. This is as yet practically unknown but is rapidly coming into recognition, and when it is proven and realised it will be discovered that therein lies the basis of brotherhood and of unity. As the liver, the heart, the lungs, the stomach, and other organs in the body are separate in existence and in function and yet are unified and brought into relation through the medium of the nervous system throughout the body, so will it be found that in the world such organisms as the kingdoms in nature have their separate life and functions yet are correlated and coordinated by a vast intricate sensory system which is sometimes called the soul of all things, the anima mundi, the underlying consciousness.

Ba phương diện này được thấy nơi con người, đơn vị thiêng liêng của sự sống. Trước hết, y nhận ra chúng trong chính mình; rồi y thấy chúng trong mọi hình tướng trong môi trường của mình; và cuối cùng y học cách liên hệ các phương diện này của chính mình với những phương diện tương tự trong các hình tướng khác của biểu hiện thiêng liêng. Mối liên hệ đúng đắn giữa các hình tướng sẽ đưa đến sự hài hòa và điều chỉnh đúng đắn đời sống cõi hồng trần. Sự đáp ứng đúng đắn với môi trường của mình sẽ đưa đến mối giao cảm đúng đắn với phương diện linh hồn, ẩn trong mọi hình tướng, và sẽ tạo ra các mối liên hệ đúng đắn giữa những phần khác nhau của cấu trúc thần kinh bên trong vốn được tìm thấy trong mọi giới của thiên nhiên, dưới nhân loại và siêu nhân loại. Điều này cho đến nay trên thực tế vẫn chưa được biết đến, nhưng đang nhanh chóng được công nhận; và khi nó được chứng minh và chứng nghiệm, người ta sẽ khám phá rằng chính trong đó có nền tảng của tình huynh đệ và sự hợp nhất. Cũng như gan, tim, phổi, dạ dày và các cơ quan khác trong thân thể tồn tại và hoạt động riêng biệt, nhưng vẫn được hợp nhất và đưa vào liên hệ nhờ trung gian của hệ thần kinh khắp thân thể, thì trong thế giới cũng sẽ thấy rằng những cơ cấu như các giới trong thiên nhiên có sự sống và chức năng riêng biệt của chúng, nhưng vẫn được liên kết và phối hợp bởi một hệ thống cảm giác rộng lớn và phức tạp, đôi khi được gọi là linh hồn của vạn vật, linh hồn thế giới, tâm thức nền tảng.

In dealing with the triplicities so often used when speaking of deity, such as spirit, soul, and body, —life, consciousness, and form, —it is of value to remember that they refer to differentiations of the one life, and that the more of these triplicities with which one can familiarise oneself the more one will be in rapport with a wider circle of men. But when one is dealing with things occult and subjective, and when the subject about which [22] one writes deals with the undefinable, then difficulty is encountered. It is no difficult matter to describe a man’s personal appearance, his clothing, his form, and the things with which he is surrounded. Language suffices satisfactorily to deal with the concrete and with the world of form. But when one endeavours to convey an idea of his quality, character, and nature one is immediately faced with the problem of the unknown, with that undefinable unseen part which we sense, but which remains in a large sense unrevealed, and unrealised even by the man himself. How then shall we describe him through the medium of language?

Khi đề cập đến các bộ ba thường được dùng khi nói về Thượng đế, như tinh thần, linh hồn và thể xác,—sự sống, tâm thức và hình tướng,—điều hữu ích là nhớ rằng chúng chỉ các biến phân của một sự sống duy nhất, và càng quen thuộc với nhiều bộ ba như vậy, người ta càng ở trong mối giao cảm với một vòng người rộng lớn hơn. Nhưng khi người ta đề cập đến những sự việc huyền bí và chủ quan, và khi đề tài mà [22] người ta viết liên quan đến điều không thể định nghĩa, thì khó khăn xuất hiện. Không khó để mô tả vẻ ngoài cá nhân của một người, y phục của y, hình tướng của y, và những sự vật bao quanh y. Ngôn ngữ đủ để xử lý một cách thỏa đáng cái cụ thể và thế giới hình tướng. Nhưng khi người ta cố gắng truyền đạt một ý niệm về phẩm tính, tính cách và bản chất của y, người ta lập tức đối diện với vấn đề của điều chưa biết, với phần vô hình không thể định nghĩa mà chúng ta cảm nhận, nhưng phần lớn vẫn chưa được mặc khải, và ngay cả chính người ấy cũng chưa chứng nghiệm được. Vậy làm sao chúng ta mô tả y bằng phương tiện ngôn ngữ?

If this is so of man, how much greater is the difficulty when we seek through words to express that inexpressible sum total of which the terms spirit, soul, and body are regarded as the main component differentiations? How shall we define that undefinable life that men have (for the sake of understanding) limited and separated into a trinity of aspects, or persons, calling the whole by the name of God?

Nếu điều này đúng đối với con người, thì khó khăn còn lớn hơn biết bao khi chúng ta tìm cách dùng lời để diễn đạt tổng thể không thể diễn đạt, mà các thuật ngữ tinh thần, linh hồn và thể xác được xem là những biến phân thành phần chính? Làm sao chúng ta định nghĩa sự sống không thể định nghĩa ấy, mà con người, vì mục đích thấu hiểu, đã giới hạn và phân chia thành một tam vị các phương diện hay ngôi vị, rồi gọi toàn thể ấy bằng danh xưng Thượng đế?

Yet where this differentiation of God into a trinity is universal and age-long in use, where every people—ancient and modern—employ the same triplicity of ideation to express an intuitive realisation, there is warrant for the usage. That some day we may think and express the truth differently may indeed be so, but for the average thinker of today the terms spirit, soul, and body stand for the aggregate of divine manifestation, both in the deity of the universe and in that lesser divinity, man himself. As this treatise is intended for the thinking human being and not for the crystallised theologians or the theoretically biassed scientists we will adhere to the well-used terminology and seek to understand what has lain back of the phrases in which man has sought to explain God Himself.

Tuy nhiên, nơi nào sự biến phân Thượng đế thành một tam vị được sử dụng phổ quát và lâu đời, nơi nào mọi dân tộc—cổ xưa và hiện đại—đều dùng cùng một bộ ba ý niệm để diễn đạt một chứng nghiệm trực giác, thì việc sử dụng ấy có cơ sở. Rằng một ngày nào đó chúng ta có thể suy nghĩ và diễn đạt chân lý theo cách khác quả thật có thể như vậy; nhưng đối với tư tưởng gia trung bình ngày nay, các thuật ngữ tinh thần, linh hồn và thể xác biểu thị tổng hợp của biểu hiện thiêng liêng, cả trong Thượng đế của vũ trụ lẫn trong thiên tính nhỏ hơn, chính con người. Vì khảo luận này dành cho con người biết suy tư chứ không dành cho các nhà thần học kết tinh hay các nhà khoa học thiên lệch về lý thuyết, chúng ta sẽ giữ thuật ngữ đã được dùng rộng rãi và tìm cách thấu hiểu điều nằm phía sau những cụm từ mà con người đã dùng để cố giải thích chính Thượng đế.

“God is Spirit, and they that worship Him must worship [23] Him in Spirit and in Truth,” states one of the scriptures of the world. “Man became a living soul,” is to be found in another place in the same scripture. “I pray God your whole spirit and soul and body may be preserved blameless,” said a great initiate of the White Lodge; and the greatest of them all yet present with us in physical form on earth, repeated the words of an earlier sage when He said: “I have said ye are Gods, and ye are all the children of the most High”. In those words the triplicity of man, his divinity and his relationship to the life in Whom he lives and moves and has his being, is touched upon from the Christian standpoint, and all the great religions deal in analogous phrases with that relationship.

“Thượng đế là Tinh thần, và những ai thờ phượng Ngài phải thờ phượng [23] Ngài trong Tinh thần và trong Chân lý,” một trong các thánh thư của thế giới tuyên bố. “Con người trở thành một linh hồn sống động,” được tìm thấy ở một chỗ khác trong cùng thánh thư ấy. “Tôi cầu xin Thượng đế gìn giữ toàn thể tinh thần, linh hồn và thể xác của các bạn được không chỗ trách,” một điểm đạo đồ vĩ đại của Huynh đệ Đoàn Chánh đạo đã nói; và Đấng vĩ đại nhất trong các Ngài, hiện vẫn đang có mặt với chúng ta trong hình tướng hồng trần trên Trái Đất, đã lặp lại lời của một bậc hiền triết xưa hơn khi Ngài nói: “Ta đã nói các ngươi là các Thượng đế, và tất cả các ngươi là con cái của Đấng Tối Cao.” Trong những lời ấy, bộ ba của con người, thiên tính của y và mối quan hệ của y với sự sống trong Đấng mà y sống, chuyển động và có sự hiện hữu của mình, được đề cập theo quan điểm Cơ Đốc giáo; và tất cả các tôn giáo lớn đều đề cập đến mối quan hệ ấy bằng những cụm từ tương tự.

a. Spirit, Life, Energy.

a. Tinh thần, Sự sống, Năng lượng.

The word spirit is applied to that undefinable, elusive, essential impulse or Life which is the cause of all manifestation. It is the breath of Life and is that rhythmic inflow of vital energy which manifests in its turn as the attractive force, as the consciousness, or soul, and is the sum total of atomic substance. It is the correspondence in the great Existence or Macrocosm of that which in the little existence or microcosm is the vital inspiring factor which we call the life of man; this is indicated by the breath in his body, which is abstracted or withdrawn when the life course is run.

Từ tinh thần được áp dụng cho xung lực hay Sự sống thiết yếu, khó nắm bắt, không thể định nghĩa, vốn là nguyên nhân của mọi biểu hiện. Nó là hơi thở của Sự sống và là dòng tuôn vào nhịp nhàng của năng lượng sinh lực, đến lượt nó biểu hiện như mãnh lực hấp dẫn, như tâm thức hay linh hồn, và là tổng số chất liệu nguyên tử. Nó là sự tương ứng trong Đại Hiện Hữu hay Đại thiên địa với điều mà trong tiểu hữu thể hay tiểu thiên địa là yếu tố truyền cảm hứng sinh động mà chúng ta gọi là sự sống của con người; điều này được chỉ ra bởi hơi thở trong thân thể y, vốn bị rút ra hay thu hồi khi hành trình sự sống đã hoàn tất.

What this something is, who shall say? We trace it back to the soul or consciousness aspect, and from the soul to the spirit (as we call the three aspects of the one breath) but what these words really signify, who has the courage to declare? We call this unknown something by differing names, according to our particular school of thought; we seek to express it in words, and end by call it Spirit, the One Life, the Monad, Energy. Again we must remember that understanding as to the nature [24] of this one life is purely relative. Those who are engrossed in the form side of existence think in terms of physical vitality, of feeling, impulse, or of mental force and do not pass beyond that unified life-consciousness of which all the above are differentiations. Those again who are interested in the more metaphysical approach and in the soul-life more than in the form aspect express their concept in terms of soul manifestation and—passing beyond the personal selfish reactions of the body nature—think in terms of life, in terms of quality, of group will or power, group coordination or love-wisdom, and of group intelligence or knowledge, covering all by the generic term of brotherhood.

Điều gì là cái gì đó này, ai có thể nói? Chúng ta truy nó về phương diện linh hồn hay tâm thức, và từ linh hồn đến tinh thần, như chúng ta gọi ba phương diện của một hơi thở duy nhất, nhưng các từ này thật sự hàm nghĩa gì, ai có đủ can đảm để tuyên bố? Chúng ta gọi cái gì đó chưa biết này bằng những danh xưng khác nhau, tùy theo trường phái tư tưởng riêng của mình; chúng ta tìm cách diễn đạt nó bằng lời, và cuối cùng gọi nó là Tinh thần, Sự Sống Duy Nhất, Chân thần, Năng lượng. Một lần nữa, chúng ta phải nhớ rằng sự thấu hiểu về bản chất [24] của sự sống duy nhất này hoàn toàn tương đối. Những ai bị cuốn hút vào phương diện hình tướng của sự hiện hữu thì suy nghĩ theo các thuật ngữ sinh lực hồng trần, cảm giác, xung lực, hoặc mãnh lực trí tuệ, và không vượt quá sự sống-tâm thức hợp nhất mà tất cả những điều trên chỉ là các biến phân. Những người khác, quan tâm đến cách tiếp cận siêu hình hơn và đến đời sống linh hồn nhiều hơn phương diện hình tướng, diễn đạt quan niệm của họ bằng các thuật ngữ biểu hiện linh hồn và—vượt quá các phản ứng ích kỷ cá nhân của bản chất thể xác—suy nghĩ theo các thuật ngữ sự sống, phẩm tính, ý chí hay quyền năng nhóm, sự phối hợp nhóm hay Bác Ái – Minh Triết, và trí tuệ hay tri thức nhóm, bao trùm tất cả bằng thuật ngữ chung là tình huynh đệ.

But even that is found to be separative, through the separation into larger units than the lower is capable of grasping. Therefore the initiate, especially after the third initiation, begins to think even more synthetically and to express truth to himself in terms of Spirit, Life, the One. These terms mean to him something significant, but something so far removed from the concept of ordinary thinking humanity that it is needless for me to enlarge further upon it.

Nhưng ngay cả điều đó cũng được thấy là còn chia rẽ, do sự phân tách thành những đơn vị lớn hơn mức mà cái thấp có thể nắm bắt. Vì vậy, điểm đạo đồ, đặc biệt sau lần điểm đạo thứ ba, bắt đầu suy nghĩ theo cách tổng hợp hơn nữa và diễn đạt chân lý cho chính mình bằng các thuật ngữ Tinh thần, Sự sống, Đấng Duy Nhất. Đối với y, các thuật ngữ này có một ý nghĩa thâm sâu, nhưng là điều quá xa khỏi quan niệm của nhân loại tư duy thông thường đến nỗi tôi không cần mở rộng thêm về nó.

This brings me to a point, that should be dealt with here, prior to any further expansion of our subject. In the Treatise on Cosmic Fire and in the above passage it frequently appears that teaching is carried forward to a certain point and then dropped with the statement that, owing to the point in evolution of the average man, his reaction to truth and the reaction of the disciple-student or the initiate will differ. This is necessarily so; each will read into the words his own state of consciousness; each will fail to interpret in terms of the more advanced reaction of those on a higher stage of the ladder of evolution. The average reader, however, objects to being forced to recognise wider points of view than his own, and the phraseology which says: “It is needless to enlarge on [25] this for it would only be understood by the initiate”, serves only to aggravate him, tends to make him believe that evasion is intended, and that the writer (having got out of his depth) is seeking to save his face by some such statement. Just as a scientific treatise would prove meaningless and a mere jumble of words to the average grammar school child, but would carry a clear definition and meaning to experts in the subject owing to training and mental development, so there are those to whom the subject of the soul and its nature as dealt with in such an instruction as this is as clear and lucid as current literature is to the average reader, and the best sellers, as you call them, to the general public. Equally, though fewer in number, there are those advanced souls to whom the spirit and its nature is also a rational and understandable subject, to be appreciated and comprehended through the medium of the soul and its powers just as it is possible to arrive at an understanding of the soul through the medium of the mind, correctly employed. On a lower level altogether, we know it is easy to understand the nature of the physical body through a study and right use of the desire nature. It is a form of pride, and a refusal to recognize one’s temporary limitations that awakens in readers a dislike for phrases which aptly and truly say: “When you are further developed, you will understand the above.” This should be made clear.

Điều này đưa tôi đến một điểm cần được đề cập ở đây, trước khi mở rộng thêm đề tài của chúng ta. Trong Luận về Lửa Vũ Trụ và trong đoạn văn trên, thường thấy giáo huấn được đưa đến một điểm nhất định rồi dừng lại với lời tuyên bố rằng, do điểm tiến hoá của con người trung bình, phản ứng của y đối với chân lý và phản ứng của đạo sinh-đệ tử hay điểm đạo đồ sẽ khác nhau. Điều này tất yếu là như vậy; mỗi người sẽ đọc vào các lời ấy chính trạng thái tâm thức của mình; mỗi người sẽ không thể diễn giải theo các thuật ngữ của phản ứng tiến bộ hơn nơi những người ở một bậc cao hơn trên chiếc thang tiến hoá. Tuy nhiên, độc giả trung bình phản đối việc bị buộc phải thừa nhận các quan điểm rộng hơn quan điểm của chính mình, và lối diễn đạt nói rằng: “Không cần mở rộng về [25] điều này vì chỉ điểm đạo đồ mới hiểu được,” chỉ làm y thêm bực bội, khiến y có khuynh hướng tin rằng có ý né tránh, và rằng tác giả, vì đã đi quá tầm của mình, đang tìm cách giữ thể diện bằng một lời tuyên bố như vậy. Cũng như một khảo luận khoa học sẽ trở nên vô nghĩa và chỉ là một mớ từ ngữ lộn xộn đối với một học sinh phổ thông trung bình, nhưng lại mang định nghĩa và ý nghĩa rõ ràng đối với các chuyên gia trong đề tài ấy nhờ sự rèn luyện và phát triển trí tuệ, thì cũng có những người mà đối với họ, đề tài về linh hồn và bản chất của linh hồn như được bàn đến trong một huấn thị như thế này, rõ ràng và sáng tỏ như văn chương hiện hành đối với độc giả trung bình, và như những sách bán chạy nhất, theo cách các bạn gọi, đối với công chúng nói chung. Cũng vậy, tuy ít hơn về số lượng, có những linh hồn tiến bộ mà đối với họ tinh thần và bản chất của tinh thần cũng là một đề tài hợp lý và có thể thấu hiểu, được nhận thức và lĩnh hội nhờ trung gian của linh hồn và các quyền năng của nó, cũng như có thể đạt đến sự thấu hiểu linh hồn nhờ trung gian của thể trí được sử dụng đúng đắn. Ở một cấp độ hoàn toàn thấp hơn, chúng ta biết dễ dàng thấu hiểu bản chất của thể xác qua sự nghiên cứu và sử dụng đúng đắn bản chất ham muốn. Chính một dạng kiêu hãnh, và sự từ chối thừa nhận các giới hạn tạm thời của mình, đã làm nảy sinh trong độc giả sự khó chịu đối với những cụm từ nói một cách thích đáng và chân thật rằng: “Khi các bạn phát triển hơn, các bạn sẽ hiểu điều trên.” Điều này cần được làm sáng tỏ.

To the Master of the Wisdom, the nature of the spirit, or that positive centre of life which every form hides is no more a mystery than is the nature of the soul to the esoteric psychologist. The source of the one life, the plane, or state from which that life emanates is the great Hidden Mystery to the members of the hierarchy of adepts. The nature of spirit, its quality and type of cosmic energy, its rate of vibration and its basic cosmic differentiations are the study of initiates above the third degree and the subject of their investigations. They [26] bring to that study a fully developed intuition, plus that mental interpretive capacity which their cycle of incarnation has developed. They employ the awakened and developed inner light of their souls to interpret and comprehend that life which (divorced from the world of form) persists on the higher levels of consciousness and penetrates into our solar system from some exterior centre of being. They throw this light (which is in them and which they manipulate and use) in two directions therefore, standing as they do in the midmost state and functioning as they choose to function on the plane of the intuition or of buddhi. They cast that light into the world of form and know all things, interpreting all with correctness; they cast that light into the formless realms of the higher three planes (formless from the standpoint of man in the three worlds below the intuitional plane) and seek to understand, through steady expansive growth, the nature and purpose of that which is neither body nor soul, neither force nor matter, but which is the cause of both in the universe.

Đối với Chân sư Minh Triết, bản chất của tinh thần, hay trung tâm dương tính của sự sống mà mọi hình tướng che giấu, không còn là một mầu nhiệm hơn bản chất của linh hồn đối với nhà tâm lý học nội môn. Nguồn của sự sống duy nhất, cõi hay trạng thái từ đó sự sống ấy xuất phát, là Đại Mầu Nhiệm Ẩn Tàng đối với các thành viên của thánh đoàn các chân sư. Bản chất của tinh thần, phẩm tính và loại năng lượng vũ trụ của nó, tốc độ rung động và các biến phân vũ trụ căn bản của nó, là đối tượng nghiên cứu của các điểm đạo đồ trên cấp ba và là đề tài khảo sát của họ. Họ [26] đem vào sự nghiên cứu ấy một trực giác đã phát triển đầy đủ, cộng với năng lực diễn giải trí tuệ mà chu kỳ lâm phàm của họ đã phát triển. Họ sử dụng ánh sáng bên trong đã thức tỉnh và phát triển của linh hồn mình để diễn giải và lĩnh hội sự sống ấy, vốn tách khỏi thế giới hình tướng, vẫn tồn tại trên các cấp độ tâm thức cao hơn và thâm nhập vào hệ mặt trời của chúng ta từ một trung tâm hiện hữu nào đó bên ngoài. Do đó, đứng như họ đang đứng trong trạng thái trung gian và hoạt động tùy ý trên cõi trực giác hay Bồ đề, họ phóng ánh sáng này, vốn ở trong họ và được họ điều khiển và sử dụng, theo hai hướng. Họ chiếu ánh sáng ấy vào thế giới hình tướng và biết mọi sự, diễn giải tất cả một cách đúng đắn; họ chiếu ánh sáng ấy vào các lĩnh vực vô sắc của ba cõi cao, vô sắc theo quan điểm của con người trong ba cõi thấp dưới cõi trực giác, và tìm cách thấu hiểu, qua sự tăng trưởng mở rộng bền bỉ, bản chất và mục đích của điều không phải thể xác cũng không phải linh hồn, không phải mãnh lực cũng không phải vật chất, nhưng là nguyên nhân của cả hai trong vũ trụ.

Eventually, when the initiate has undergone the higher solar initiations and can function in the full consciousness of the monad, awareness of that which is divorced even from group form and from those nebulous sheaths which veil and hide the One, becomes possible. The highest types of consciousness work from the plane of the monad as the initiate of lower degree works from the plane of the soul and uses the organs of perception (if such an unsatisfactory phrase is legitimate) and means of knowledge of which average man has no idea; they penetrate or include within their radius of awareness that sum total of life, consciousness and form which we designate God. These initiates of high degree then begin to be aware of a vibration, a revealing light, a note or directional indicating sound which emanates from outside our solar system altogether. The only way in which [27] we can get an appreciation of the process followed in the expansion of the divine consciousness in man is to study the relation of the mind and the brain and note what follows when the brain becomes the intelligent instrument of the mind; then study the relation of the soul to the mind and what eventuates when man is directed by his soul and utilises the mind to control the physical plane activities through the medium of the brain. In these three—soul, mind and brain—we have the analogy and the clue to the understanding of spirit, soul and body, and their mutual functions. This was the subject matter of the book, The Light of the Soul. Upon the perfecting of the conditions dealt with in that book there follows still another expansion when the spirit aspect, man’s emanating source of energy, begins to use the soul (via the intuition) and to impress upon the soul-consciousness those laws, knowledges, forces and inspirations which will make the soul the instrument of the spirit or monad, just as the personal man became, at an earlier stage (via the mind), the instrument of the soul. In that earlier stage the development was two-fold. As the soul assumed control, via the mind, so the brain became responsive to the soul. Man was awakened to a knowledge of himself as he really was and to the three worlds of his normal evolution; later he became group conscious and was no longer a separated individual. As the soul is brought under the dominance of the spirit, an analogous two stages are likewise seen:

Cuối cùng, khi điểm đạo đồ đã trải qua các cuộc điểm đạo thái dương cao hơn và có thể hoạt động trong tâm thức đầy đủ của chân thần, y có thể nhận biết điều đã tách khỏi cả hình tướng nhóm lẫn những lớp vỏ mơ hồ che phủ và ẩn giấu Đấng Duy Nhất. Những loại tâm thức cao nhất hoạt động từ cõi chân thần, cũng như điểm đạo đồ cấp thấp hơn hoạt động từ cõi linh hồn và sử dụng các cơ quan tri giác, nếu một cụm từ không thỏa đáng như thế có thể được chấp nhận, cùng các phương tiện tri thức mà con người trung bình không có ý niệm gì; họ thâm nhập hoặc bao gồm trong bán kính nhận biết của mình tổng số sự sống, tâm thức và hình tướng mà chúng ta gọi là Thượng đế. Bấy giờ các điểm đạo đồ bậc cao này bắt đầu nhận biết một rung động, một ánh sáng mặc khải, một âm điệu hay âm thanh chỉ hướng phát xuất hoàn toàn từ bên ngoài hệ mặt trời của chúng ta. Cách duy nhất mà [27] chúng ta có thể có được sự nhận thức về tiến trình được theo trong sự mở rộng tâm thức thiêng liêng nơi con người là nghiên cứu mối quan hệ giữa thể trí và bộ não, và ghi nhận điều xảy ra khi bộ não trở thành khí cụ thông minh của thể trí; rồi nghiên cứu mối quan hệ giữa linh hồn và thể trí, và điều phát sinh khi con người được linh hồn mình hướng dẫn và sử dụng thể trí để kiểm soát các hoạt động cõi hồng trần qua trung gian của bộ não. Trong ba điều này—linh hồn, thể trí và bộ não—chúng ta có sự tương đồng và chìa khóa để thấu hiểu tinh thần, linh hồn và thể xác, cùng các chức năng hỗ tương của chúng. Đây là đề tài của quyển sách Ánh Sáng của Linh Hồn. Khi các điều kiện được bàn đến trong quyển sách ấy được hoàn thiện, sẽ theo sau một sự mở rộng khác nữa, khi phương diện tinh thần, nguồn năng lượng phát xuất của con người, bắt đầu sử dụng linh hồn, qua trực giác, và in vào tâm thức linh hồn những định luật, tri thức, mãnh lực và cảm hứng sẽ khiến linh hồn trở thành khí cụ của tinh thần hay chân thần, cũng như phàm nhân đã trở thành, ở một giai đoạn trước, qua thể trí, khí cụ của linh hồn. Ở giai đoạn trước ấy, sự phát triển có tính nhị phân. Khi linh hồn nắm quyền kiểm soát qua thể trí, thì bộ não trở nên đáp ứng với linh hồn. Con người được thức tỉnh để biết chính mình như y thật sự là, và biết ba cõi giới của sự tiến hoá bình thường của mình; về sau y trở nên có tâm thức nhóm và không còn là một cá nhân tách biệt. Khi linh hồn được đặt dưới quyền thống trị của tinh thần, cũng thấy có hai giai đoạn tương tự:

First, the disciple becomes aware not only of his group and allied groups, but his consciousness is expanded until it might be called planetary consciousness.

Thứ nhất, đệ tử trở nên nhận biết không chỉ nhóm của mình và các nhóm liên hệ, mà tâm thức của y còn được mở rộng cho đến mức có thể gọi là tâm thức hành tinh.

Secondly, he begins to merge that planetary awareness into something more synthetic still, and gradually develops the consciousness of the greater life which [28] includes the planetary life as man includes in his physical expression such living organisms as his heart or brain. When this takes place, he begins to comprehend the significance of spirit, the one life back of all forms, the central energy which is the cause of all manifestation.

Thứ hai, y bắt đầu hòa nhập sự nhận biết hành tinh ấy vào một điều còn tổng hợp hơn nữa, và dần dần phát triển tâm thức của sự sống lớn hơn vốn [28] bao gồm sự sống hành tinh, cũng như con người bao gồm trong biểu hiện hồng trần của mình những cơ cấu sống động như tim hay bộ não của y. Khi điều này xảy ra, y bắt đầu lĩnh hội thâm nghĩa của tinh thần, sự sống duy nhất đứng sau mọi hình tướng, năng lượng trung tâm vốn là nguyên nhân của mọi biểu hiện.

The first reaction of the average student on reading the above is to think immediately of the body nature as it expresses some type or other of energy. Thus the duality is the thing noted, and that which employs the thing is present in his mind. Yet one of the main necessities before occult aspirants at this time is to endeavour to think in terms of the one reality which is energy itself and nothing else. Therefore, it is of value to emphasise in our discussion of this abstruse subject, the fact that spirit and energy are synonymous terms and are interchangeable. Only in the realisation of this can we arrive at the reconciliation of science and religion and at a true understanding of the world of active phenomena by which we are surrounded and in which we move.

Phản ứng đầu tiên của đạo sinh trung bình khi đọc điều trên là lập tức nghĩ đến bản chất thể xác khi nó biểu đạt một loại năng lượng nào đó. Như vậy, nhị nguyên là điều được ghi nhận, và cái sử dụng sự vật ấy hiện diện trong trí y. Tuy nhiên, một trong những nhu cầu chính trước mắt các người chí nguyện huyền bí vào lúc này là cố gắng suy nghĩ theo các thuật ngữ của một thực tại duy nhất, vốn chính là năng lượng và không gì khác. Vì vậy, trong cuộc bàn luận của chúng ta về đề tài thâm áo này, điều hữu ích là nhấn mạnh sự kiện rằng tinh thần và năng lượng là các thuật ngữ đồng nghĩa và có thể thay thế cho nhau. Chỉ trong sự chứng nghiệm điều này, chúng ta mới có thể đạt đến sự hòa giải giữa khoa học và tôn giáo, cũng như sự thấu hiểu chân thật về thế giới hiện tượng năng động bao quanh chúng ta và trong đó chúng ta chuyển động.

The terms, organic and inorganic, are largely responsible for much of the confusion and the sharp differentiation existing in the minds of many people between body and spirit, between life and form, and have led to a refusal to admit the essential identity in nature of these two. The world in which we live is regarded by the majority as really solid and tangible, yet possessing some mysterious power (lying concealed within it) which produces movement, activity and change. This is of course putting it crudely, but it suffices to sum up the unintelligent attitude.

Các thuật ngữ hữu cơ và vô cơ phần lớn chịu trách nhiệm cho nhiều sự rối rắm và sự phân biệt sắc bén hiện hữu trong tâm trí của nhiều người giữa thể xác và tinh thần, giữa sự sống và hình tướng, và đã dẫn đến sự từ chối thừa nhận bản sắc thiết yếu trong thiên nhiên của hai điều này. Thế giới trong đó chúng ta sống được đa số xem là thật sự rắn chắc và hữu hình, nhưng lại sở hữu một quyền năng huyền nhiệm nào đó, ẩn giấu bên trong nó, tạo ra chuyển động, hoạt động và biến đổi. Dĩ nhiên đây là cách nói thô sơ, nhưng đủ để tóm lược thái độ thiếu hiểu biết.

The orthodox scientist is largely occupied with structures and relationships, with the composition of forms and with the activity produced by the component form parts and their interrelations and dependencies. The [29] chemicals and elements, and the functions and parts they play, and their mutual interactions as them compose all forms in all the kingdoms of nature, are the subject of their investigation. The nature of the atom, of the molecule, and the cell, their functions, the qualities of their force manifestations and the varying types of activity, the solving of the problem as to the character and nature of the energies—focalised or localised in the differing forms of the natural or material world—demand the consideration of the ablest minds in the world of thought. Yet, the questions, What is Life? or What is Energy? or What is the process of Becoming and the nature of Being? remain unanswered. The problem as to the Why and the Wherefore is regarded as fruitless and speculative and almost insoluble.

Nhà khoa học chính thống phần lớn bận tâm đến các cấu trúc và mối quan hệ, đến thành phần của các hình tướng, và đến hoạt động do các bộ phận thành phần của hình tướng cùng các mối liên hệ và lệ thuộc lẫn nhau của chúng tạo ra. Các [29] hóa chất và nguyên tố, các chức năng và vai trò chúng đảm nhiệm, cùng các tương tác lẫn nhau của chúng khi chúng cấu thành mọi hình tướng trong tất cả các giới của thiên nhiên, là đề tài khảo sát của họ. Bản chất của nguyên tử, phân tử và tế bào, các chức năng của chúng, các phẩm tính của những biểu hiện mãnh lực của chúng và các loại hoạt động khác nhau, việc giải quyết vấn đề về tính chất và bản chất của các năng lượng—được tập trung hay định vị trong những hình tướng khác nhau của thế giới tự nhiên hay vật chất—đòi hỏi sự chú tâm của những trí tuệ xuất sắc nhất trong thế giới tư tưởng. Tuy nhiên, các câu hỏi: Sự sống là gì? Năng lượng là gì? Tiến trình Trở Thành và bản chất của Bản Thể là gì? vẫn chưa được trả lời. Vấn đề về tại sao và vì đâu bị xem là vô ích, suy đoán và gần như không thể giải quyết.

Nevertheless, through pure reason, and through the correct functioning of the intuition these problems can be solved and these questions answered. Their solution is one of the ordinary revelations and attainments of initiation. The only true biologists are initiates of the mysteries, for they have an understanding of life and its purpose and are so identified with the life principle that they think and speak in terms of energy and its effects, and all their activities in connection with the work of the planetary hierarchy are based on a few fundamental formulas which concern life as it makes itself felt through its three differentiations or aspects: —energy, force, matter.

Tuy vậy, nhờ lý trí thuần túy và nhờ sự hoạt động đúng đắn của trực giác, các vấn đề này có thể được giải quyết và các câu hỏi này được trả lời. Lời giải của chúng là một trong những mặc khải và thành tựu thông thường của điểm đạo. Những nhà sinh học chân thật duy nhất là các điểm đạo đồ của các bí nhiệm, vì họ có sự thấu hiểu về sự sống và mục đích của nó, và đồng hóa với nguyên khí sự sống đến mức họ suy nghĩ và nói bằng các thuật ngữ năng lượng và các hiệu quả của nó; mọi hoạt động của họ liên quan đến công việc của Thánh Đoàn hành tinh đều dựa trên một vài công thức căn bản liên quan đến sự sống khi nó tự làm cho mình được cảm nhận qua ba biến phân hay phương diện của nó: năng lượng, mãnh lực, vật chất.

It should be noted here, that only as a man understands himself can he arrive at an understanding of that which is the sum total that we call God. This is a truism and an occult platitude but when acted upon leads to a revelation which makes the present ‘Unknown God’ a recognised reality. Let me illustrate.

Cần lưu ý ở đây rằng chỉ khi con người thấu hiểu chính mình, y mới có thể đạt đến sự thấu hiểu điều là tổng thể mà chúng ta gọi là Thượng đế. Đây là một chân lý hiển nhiên và một lời lẽ quen thuộc của huyền bí học, nhưng khi được đem ra thực hành, nó dẫn đến một mặc khải khiến “Thượng đế Chưa Biết” hiện nay trở thành một thực tại được công nhận. Hãy để tôi minh họa.

Man knows himself to be a living being and calls death that mysterious process wherein something which he [30] commonly designates as the breath of life is withdrawn. On its withdrawal, the form disintegrates. The cohesive vitalising force is gone and this produces a falling apart into its essential elements of that which has hitherto been regarded as the body.

Con người biết mình là một hữu thể sống động và gọi cái chết là tiến trình huyền nhiệm trong đó một điều mà y [30] thường gọi là hơi thở của sự sống bị rút lui. Khi nó rút lui, hình tướng tan rã. Mãnh lực cố kết tiếp sinh lực đã ra đi, và điều này tạo ra sự phân rã thành các yếu tố thiết yếu của cái cho đến nay vẫn được xem là thể xác.

This life principle, this basic essential of Being, and this mysterious elusive factor is the correspondence in man of that which we call spirit or life in the macrocosm. Just as the life in man holds together, animates, vitalises and drives into activity the form and so makes of him a living being, so the life of God—as the Christian calls it, —performs the same purpose in the universe and produces that coherent, living, vital ensemble which we call a solar system.

Nguyên khí sự sống này, yếu tố căn bản thiết yếu của Bản Thể này, và yếu tố huyền nhiệm khó nắm bắt này là sự tương ứng trong con người của điều mà chúng ta gọi là tinh thần hay sự sống trong Đại thiên địa. Cũng như sự sống trong con người giữ cho hình tướng kết hợp, làm nó linh hoạt, tiếp sinh lực cho nó và thúc đẩy nó vào hoạt động, qua đó biến y thành một hữu thể sống động, thì sự sống của Thượng đế, như người Cơ Đốc gọi, cũng thực hiện cùng mục đích ấy trong vũ trụ và tạo ra tổng thể cố kết, sống động, đầy sinh lực mà chúng ta gọi là một hệ mặt trời.

This life principle in man manifests in a triple manner:

Nguyên khí sự sống này trong con người biểu hiện theo cách tam phân:

1. As the directional will, purpose, basic incentive. This is the dynamic energy which sets his being functioning, brings him into existence, fixes the term of his life, carries him through the years, long or short, and abstracts itself at the close of his life cycle. This is the spirit in man, manifesting as the will to live, to be, to act, to pursue, to evolve. In its lowest aspect this works through the mental body or nature, and in connection with the dense physical makes itself felt through the brain.

1. Như ý chí định hướng, mục đích, động cơ căn bản. Đây là năng lượng năng động khiến bản thể y hoạt động, đưa y vào hiện hữu, ấn định thời hạn đời sống của y, đưa y qua các năm tháng dài hay ngắn, và tự rút lui vào cuối chu kỳ đời sống của y. Đây là tinh thần trong con người, biểu hiện như ý chí sống, hiện hữu, hành động, theo đuổi, tiến hoá. Ở phương diện thấp nhất, nó hoạt động qua thể trí hay bản chất trí tuệ, và trong liên hệ với thể xác đậm đặc, nó tự làm cho mình được cảm nhận qua bộ não.

2. As the coherent force. It is that significant essential quality which makes each man different, which produces that complex manifestation of moods, desires, qualities, complexes, inhibitions, feelings, and characteristics which produce a man’s peculiar psychology. This is the result of the interplay between the spirit or energy aspect and the matter or body nature. This is the distinctive subjective man, his colouring, or individual note; this it is which sets the [31] rate of vibratory activity of his body, produces his particular type of form, is responsible for the condition and nature of his organs, his glands, and his outer aspects. This is the soul and—in its lowest aspect—is to be seen working through the emotional or astral nature and, in connection with the dense physical body, through the heart.

2. Như mãnh lực cố kết. Đó là phẩm tính thiết yếu có thâm nghĩa khiến mỗi người khác biệt, tạo ra biểu hiện phức tạp của tâm trạng, ham muốn, phẩm tính, phức cảm, ức chế, cảm giác và đặc tính, vốn tạo nên tâm lý riêng biệt của một người. Đây là kết quả của sự tương tác giữa phương diện tinh thần hay năng lượng và bản chất vật chất hay thể xác. Đây là con người chủ quan đặc thù, sắc thái của y, hay âm điệu cá nhân của y; chính điều này ấn định [31] tốc độ hoạt động rung động của thể xác y, tạo ra loại hình tướng riêng của y, chịu trách nhiệm về tình trạng và bản chất của các cơ quan, các tuyến và các phương diện bên ngoài của y. Đây là linh hồn và—trong phương diện thấp nhất của nó—được thấy hoạt động qua bản chất cảm xúc hay cảm dục, và trong liên hệ với thể xác đậm đặc, qua trái tim.

3. As the activity of the atoms and cells of which the physical body is composed. It is the sum total of those little lives of which the human organs, comprising the entire man, are composed. These have a life of their own and a consciousness which is strictly individual and identified. This aspect of the life principle works through the etheric or vital body and, in connection with the solid mechanism of the tangible form, through the spleen.

3. Như hoạt động của các nguyên tử và tế bào cấu thành thể xác. Đó là tổng số những sự sống nhỏ bé cấu thành các cơ quan con người, bao gồm toàn thể con người. Chúng có sự sống riêng và một tâm thức hoàn toàn cá biệt và đã đồng hoá với chính mình. Phương diện này của nguyên khí sự sống hoạt động qua thể dĩ thái hay thể sinh lực, và trong liên hệ với bộ máy đặc của hình tướng hữu hình, qua lá lách.

Therefore let us remember that the definition of spirit is not possible of accomplishment, nor is the definition of God. When one says that spirit is the inexpressible, undefinable cause, the emanating energy, the one life and source of being, the totality of all forces, of all states of consciousness and of all forms, the aggregate of life and that which is actively manifested of that life, the self and the not-self, force, and all that force motivates, one is in reality evading the issue, attempting the impossible and hiding truth behind a form of words. This cannot however be avoided until such time as the soul-consciousness is touched and known and the formless One can be perceived through the clear light of the intuition.

Vì vậy, chúng ta hãy nhớ rằng không thể hoàn thành việc định nghĩa tinh thần, cũng không thể định nghĩa Thượng đế. Khi người ta nói rằng tinh thần là nguyên nhân không thể diễn đạt, không thể định nghĩa, là năng lượng phát xuất, là sự sống duy nhất và nguồn của bản thể, là tổng thể của mọi mãnh lực, mọi trạng thái tâm thức và mọi hình tướng, là tổng hợp của sự sống và những gì được biểu hiện một cách năng động từ sự sống ấy, là ngã và phi-ngã, là mãnh lực và tất cả những gì mãnh lực thúc đẩy, thì trong thực tại người ta đang né tránh vấn đề, cố làm điều bất khả và che giấu chân lý sau một hình thức ngôn từ. Tuy nhiên, điều này không thể tránh được cho đến khi tâm thức linh hồn được chạm đến và được biết, và Đấng Vô Sắc có thể được nhận biết qua ánh sáng trong trẻo của trực giác.

One of the first lessons we need to learn is that our minds, being as yet unresponsive to the hidden intuitions, make it impossible for us to say with assurance that such a condition is this, that or the other; that, until we can function in our soul-consciousness, it is not for us to say what is or what is not; that until we have submitted ourselves [32] to the needed training we are in no position to deny or affirm anything. Our attitude should be that of reasonable enquiry and our interest that of the investigating philosopher, willing to accept an hypothesis on the basis of its possibility, but being unwilling to acknowledge as proven truth anything until we know it for and in ourselves. I, an aspirant to the higher mysteries, and one who has searched into them for a longer period than has been possible as yet to many, may write of things as yet impossible of demonstration to you or to the public who may read these instructions. To me they may be and are truth and proven fact and for me that may suffice. For you they should be regarded as significant possibilities and hints as to the direction in which truth may be sought, but beyond that you should not permit yourself to go. The value of these instructions lies in their sum total and is to be found in the underlying structure or skeleton of coordinated and correlated statements which must be considered as a whole and not in detail and this for two reasons:

Một trong những bài học đầu tiên chúng ta cần học là: thể trí của chúng ta, vì vẫn chưa đáp ứng với những trực giác ẩn tàng, khiến chúng ta không thể nói một cách chắc chắn rằng một tình trạng như thế là điều này, điều kia hay điều khác; rằng, cho đến khi chúng ta có thể hoạt động trong tâm thức linh hồn của mình, chúng ta không có quyền nói điều gì là có hay không có; rằng, cho đến khi chúng ta đã đặt chính mình [32] vào sự huấn luyện cần thiết, chúng ta không ở vị thế để phủ nhận hay khẳng định bất cứ điều gì. Thái độ của chúng ta nên là thái độ tìm hiểu hợp lý, và mối quan tâm của chúng ta nên là của một triết gia đang khảo sát, sẵn lòng chấp nhận một giả thuyết trên cơ sở tính khả hữu của nó, nhưng không sẵn lòng thừa nhận bất cứ điều gì như chân lý đã được chứng minh cho đến khi chúng ta biết nó cho chính mình và trong chính mình. Tôi, một người chí nguyện hướng đến các huyền nhiệm cao siêu, và là người đã khảo sát chúng trong một thời gian dài hơn điều cho đến nay còn khả hữu đối với nhiều người, có thể viết về những điều hiện vẫn chưa thể chứng minh cho các bạn hoặc cho công chúng có thể đọc các huấn thị này. Đối với tôi, chúng có thể là, và quả thật là, chân lý và sự kiện đã được chứng minh, và đối với tôi điều đó có thể là đủ. Đối với các bạn, chúng nên được xem như những khả năng đầy thâm nghĩa và những gợi ý về phương hướng trong đó chân lý có thể được tìm kiếm; nhưng các bạn không nên cho phép mình đi xa hơn thế. Giá trị của các huấn thị này nằm trong tổng thể của chúng, và được tìm thấy trong cấu trúc nền tảng hay bộ khung của những mệnh đề được phối hợp và tương quan với nhau, vốn phải được xem xét như một toàn thể chứ không phải trong chi tiết; và điều này vì hai lý do:

1. Language, as earlier said, hides truth and does not reveal it. If truth is recognised, it is because the investigating student has found a point of truth in himself which serves to illumine his steps as he slowly and gradually presses forward.

1. Ngôn ngữ, như đã nói trước đây, che giấu chân lý chứ không mặc khải nó. Nếu chân lý được nhận ra, ấy là vì đạo sinh đang khảo sát đã tìm thấy một điểm chân lý trong chính mình, điểm ấy giúp soi sáng các bước của y khi y chậm rãi và dần dần tiến tới.

2. There are many types of minds, and it is not to be expected that the information given, for instance, in this Treatise will appeal to all. It should be remembered that all people are units of consciousness breathed forth on one of the seven emanations from God. Therefore, even their monads or spiritual aspects are inherently different just as in the prism (which is one) there are the seven differentiated colours. Even this is so only because of the nature and point of view and the perceiving apparatus of the man whose eye [33] registers and differentiates the varying rates of vibratory light. These seven subsidiary groups again produce a varying outlook, mentality, and approach, all equally right, but all presenting a slightly different angle of vision. When the above realisation is coupled to such factors as the different points in evolution, varying nationalities and characteristics, the inherent distinctions brought about through the interplay between the physical body involved and the environment, it will be apparent that no approach to such abstruse subjects as the nature of spirit and soul could have a general definition and submit themselves to a universal terminology.

2. Có nhiều loại thể trí, và không thể kỳ vọng rằng thông tin được đưa ra, chẳng hạn trong Khảo luận này, sẽ hấp dẫn tất cả. Cần nhớ rằng mọi người đều là những đơn vị tâm thức được thở ra trên một trong bảy phát xạ từ Thượng đế. Vì vậy, ngay cả các chân thần hay các phương diện tinh thần của họ cũng vốn khác nhau, cũng như trong lăng kính vốn là một lại có bảy màu sắc được biến phân. Ngay cả điều này cũng chỉ như thế do bản chất, quan điểm và bộ máy tri nhận của con người, người có mắt [33] ghi nhận và phân biệt các mức độ khác nhau của ánh sáng rung động. Bảy nhóm phụ này lại tạo ra một nhãn quan, một tâm thái và một cách tiếp cận khác nhau, tất cả đều đúng như nhau, nhưng mỗi nhóm đều trình bày một góc nhìn hơi khác biệt. Khi nhận thức trên đây được kết hợp với những yếu tố như các điểm tiến hoá khác nhau, các quốc tịch và đặc tính khác nhau, những phân biệt cố hữu phát sinh qua sự tương tác giữa thể xác liên hệ và môi trường, thì sẽ thấy rõ rằng không một cách tiếp cận nào đối với các chủ đề sâu kín như bản chất của tinh thần và linh hồn có thể có một định nghĩa phổ quát và quy phục một hệ thuật ngữ phổ quát.

b. The Soul, the Mediator or Middle Principle.

b. Linh hồn, Đấng Trung Gian hay Nguyên khí Trung Đạo.

There are two angles or points of view from which the nature of the soul must be grasped: one is the aspect of the soul in relation to the fourth kingdom in nature, i.e. the human, and the other that of the subhuman kingdoms in nature, which, it must be remembered, are reflections of the three higher.

Có hai góc độ hay quan điểm từ đó bản chất của linh hồn phải được thấu hiểu: một là phương diện của linh hồn trong liên hệ với giới thứ tư trong thiên nhiên, tức là giới nhân loại; và góc độ kia là của các giới dưới nhân loại trong thiên nhiên, vốn, cần nhớ rằng, là những phản chiếu của ba giới cao hơn.

It should be borne in mind that the soul of matter, the anima mundi, is the sentient factor in substance itself. It is the responsiveness of matter throughout the universe and that innate faculty in all forms, from the atom of the physicist, to the solar system of the astronomer, which produces the undeniable intelligent activity which all demonstrate. It can be called attractive energy, coherency, sentiency, aliveness, awareness or consciousness, but perhaps the most illuminating term is that the soul is the quality which every form manifests. It is that subtle something which distinguishes one element from another, one mineral from another. It is the intangible essential nature of the form which in the vegetable kingdom determines whether a rose or a cauliflower, an elm [34] or a watercress shall come into being; it is a type of energy which distinguishes the varying species of the animal kingdom and makes one man different from another in his appearance, nature and character. The scientist has tabulated, investigated and analysed the forms; names have been selected and given to the elements, and the minerals, the forms of vegetable life and the varying species of animals; the structure of the forms and the history of their evolutionary progress have been studied and deductions and conclusions have been reached, but the solution of the problem of life itself still eludes the wisest, and until the understanding of the “web of life” or of the body of vitality which underlies every form and links every part of a form with every other part is recognised and known to be a fact in nature, the problem will remain unsolved.

Cần ghi nhớ rằng linh hồn của vật chất, linh hồn thế giới, là yếu tố cảm nhận trong chính chất liệu. Đó là tính đáp ứng của vật chất trong khắp vũ trụ, và là năng lực bẩm sinh trong mọi hình tướng, từ nguyên tử của nhà vật lý học đến hệ mặt trời của nhà thiên văn học, vốn tạo ra hoạt động thông minh không thể phủ nhận mà tất cả đều biểu lộ. Nó có thể được gọi là năng lượng hấp dẫn, sự cố kết, tính cảm nhận, tính sống động, sự tỉnh thức hay tâm thức; nhưng có lẽ thuật ngữ soi sáng nhất là: linh hồn là phẩm tính mà mọi hình tướng biểu lộ. Đó là một điều vi tế nào đó phân biệt nguyên tố này với nguyên tố khác, khoáng vật này với khoáng vật khác. Đó là bản chất thiết yếu vô hình của hình tướng, vốn trong giới thực vật quyết định liệu một hoa hồng hay một bông cải, một cây du [34] hay một cây cải xoong sẽ xuất hiện; đó là một loại năng lượng phân biệt các loài khác nhau của giới động vật và khiến người này khác người kia về sắc tướng, bản chất và tính cách. Nhà khoa học đã lập bảng, khảo sát và phân tích các hình tướng; các tên gọi đã được chọn và đặt cho các nguyên tố, các khoáng vật, các hình tướng của sự sống thực vật và các loài khác nhau của động vật; cấu trúc của các hình tướng và lịch sử tiến bộ thăng thượng tiến hoá của chúng đã được nghiên cứu, các suy luận và kết luận đã được rút ra, nhưng lời giải cho vấn đề của chính sự sống vẫn lẩn tránh cả những người minh triết nhất; và cho đến khi sự thấu hiểu về “mạng lưới sự sống” hay về thể sinh lực nằm bên dưới mọi hình tướng và liên kết mọi phần của một hình tướng với mọi phần khác được nhận ra và biết là một sự kiện trong thiên nhiên, vấn đề ấy vẫn sẽ còn chưa được giải quyết.

The definition of the soul may be regarded as somewhat more feasible than that of spirit owing to the fact that there are many people who have experienced at sometime or another an illumination, an unfoldment, an uplifting, and a beatitude which has convinced them that there is a state of consciousness so far removed from that normally experienced as to bring them into a new state of being and a new level of awareness. It is something felt and experienced, and involves that psychic expansion which the mystic has registered down the ages, and which St. Paul referred to when he spoke of being “caught up to the third Heaven,” and of hearing things there which it is not lawful for man to utter. When hearing and sight on those levels are both producing registered experience then we have the occultist plus the mystic.

Định nghĩa về linh hồn có thể được xem là phần nào khả thi hơn định nghĩa về tinh thần, do sự kiện rằng có nhiều người, vào lúc này hay lúc khác, đã trải nghiệm một sự soi sáng, một sự khai mở, một sự nâng cao và một trạng thái phúc lạc khiến họ tin chắc rằng có một trạng thái tâm thức cách rất xa trạng thái thường được kinh nghiệm, đến mức đưa họ vào một trạng thái hiện tồn mới và một cấp độ tỉnh thức mới. Đó là điều được cảm nhận và trải nghiệm, và bao hàm sự mở rộng thông linh mà nhà thần bí đã ghi nhận qua các thời đại, và điều mà Thánh Phao-lô đã nói đến khi ông nói về việc được “đưa lên tầng trời thứ ba”, và nghe ở đó những điều con người không được phép thốt ra. Khi thính giác và thị giác trên các cấp độ ấy đều tạo ra kinh nghiệm được ghi nhận, bấy giờ chúng ta có nhà huyền bí học cộng với nhà thần bí.

1. The soul, macrocosmic and microcosmic, universal and human, is that entity which is brought into being when the spirit aspect and the matter aspect are related to each other. [35]

1. Linh hồn, đại thiên địa và tiểu thiên địa, vũ trụ và nhân loại, là thực thể được đưa vào hiện hữu khi phương diện tinh thần và phương diện vật chất liên hệ với nhau. [35]

a. The soul therefore is neither spirit nor matter but is the relation between them.

a. Do đó linh hồn không phải là tinh thần cũng không phải là vật chất, mà là mối liên hệ giữa hai điều ấy.

b. The soul is the mediator between this duality; it is the middle principle, the link between God and His form.

b. Linh hồn là trung gian giữa nhị nguyên này; nó là nguyên khí trung đạo, mối liên kết giữa Thượng đế và hình tướng của Ngài.

c. Therefore the soul is another name for the Christ principle, whether in nature or in man.

c. Vì vậy linh hồn là một tên gọi khác của nguyên khí Đức Christ, dù trong thiên nhiên hay trong con người.

2. The soul is the attractive force of the created universe and (when functioning) holds all forms together so that the life of God may manifest or express itself through them.

2. Linh hồn là mãnh lực hấp dẫn của vũ trụ được tạo dựng, và khi hoạt động, nó giữ mọi hình tướng lại với nhau để sự sống của Thượng đế có thể biểu lộ hay tự biểu đạt qua chúng.

a. Therefore the soul is the form-building aspect, and is that attractive factor in every form in the universe, in the planet, in the kingdoms of nature and in man (who sums up in himself all the aspects) which brings the form into being, which enables it to develop and grow so as to house more adequately the indwelling life, and which drives all God’s creatures forward along the path of evolution, through one kingdom after another, towards an eventual goal and a glorious consummation.

a. Do đó linh hồn là phương diện kiến tạo hình tướng, và là yếu tố hấp dẫn trong mọi hình tướng trong vũ trụ, trong hành tinh, trong các giới của thiên nhiên và trong con người, người tổng hợp trong chính mình mọi phương diện; yếu tố ấy đưa hình tướng vào hiện hữu, giúp nó phát triển và tăng trưởng để chứa đựng một cách thích hợp hơn sự sống nội tại, và thúc đẩy mọi tạo vật của Thượng đế tiến tới trên con đường tiến hoá, qua giới này đến giới khác, hướng đến một mục tiêu tối hậu và một sự viên mãn huy hoàng.

b. The soul is the force of evolution itself and this was in the mind of St. Paul when he spoke of the “Christ in you, the hope of glory.”

b. Linh hồn là chính mãnh lực của tiến hoá, và điều này đã ở trong trí của Thánh Phao-lô khi ông nói về “Đức Christ trong các bạn, niềm hy vọng vinh quang”.

3. This soul manifests differently in the various kingdoms of nature, but its function is ever the same, whether we are dealing with an atom of substance and its power to preserve its identity and form, and carry forward its activity along its own lines, or whether we deal with a form in one of the three kingdoms of nature, held coherently together, demonstrating characteristics, pursuing its own instinctual life and working as a whole towards something higher and better. [36]

3. Linh hồn biểu lộ khác nhau trong các giới khác nhau của thiên nhiên, nhưng chức năng của nó bao giờ cũng giống nhau, dù chúng ta đang đề cập đến một nguyên tử chất liệu và quyền năng của nó trong việc duy trì bản sắc và hình tướng của nó, và tiếp tục hoạt động theo đường lối riêng của nó, hay chúng ta đang đề cập đến một hình tướng trong một trong ba giới của thiên nhiên, được giữ lại với nhau một cách cố kết, biểu lộ các đặc tính, theo đuổi đời sống bản năng riêng của nó và hoạt động như một toàn thể hướng đến điều gì cao hơn và tốt đẹp hơn. [36]

a. Therefore the soul is that which gives distinctive characteristics and differing form manifestations.

a. Do đó linh hồn là điều ban cho các đặc tính phân biệt và những biểu lộ hình tướng khác nhau.

b. The soul plays upon matter, forcing it to assume certain shapes, to respond to certain vibrations and to build those specified phenomenal forms which we recognise in the world of the physical plane as mineral, vegetable, animal and human, —and for the initiate certain other forms as well.

b. Linh hồn tác động lên vật chất, buộc nó phải khoác lấy những hình dạng nhất định, đáp ứng với những rung động nhất định và xây dựng những hình tướng hiện tượng được xác định mà chúng ta nhận biết trong thế giới của cõi hồng trần như khoáng vật, thực vật, động vật và nhân loại, và đối với điểm đạo đồ còn có những hình tướng khác nữa.

4. The qualities, vibrations, colours, and characteristics in all the kingdoms of nature are soul qualities, as are the latent powers in any form seeking expression, and demonstrating potentiality. In their sum total at the close of the evolutionary period, they will reveal what is the nature of the divine life and of the world soul, —that oversoul which is revealing the character of God.

4. Các phẩm tính, rung động, màu sắc và đặc tính trong mọi giới của thiên nhiên đều là các phẩm tính linh hồn, cũng như các quyền năng tiềm ẩn trong bất cứ hình tướng nào đang tìm cách biểu đạt và biểu lộ tiềm năng. Trong tổng thể của chúng vào cuối thời kỳ tiến hoá, chúng sẽ mặc khải bản chất của sự sống thiêng liêng và của linh hồn thế giới, tức đại hồn đang mặc khải tính cách của Thượng đế.

a. Therefore the soul, through these qualities and characteristics, manifests as conscious response to matter, for the qualities are brought into being through the interplay of the pairs of opposites, spirit and matter, and their effect upon each other. This is the basis of consciousness.

a. Do đó linh hồn, qua các phẩm tính và đặc tính này, biểu lộ như sự đáp ứng có ý thức đối với vật chất; vì các phẩm tính được đưa vào hiện hữu qua sự tương tác của các cặp đối lập, tinh thần và vật chất, và ảnh hưởng của chúng lên nhau. Đây là nền tảng của tâm thức.

b. The soul is the conscious factor in all forms, the source of that awareness which all forms register and of that responsiveness to surrounding group conditions which the forms in every kingdom of nature demonstrate.

b. Linh hồn là yếu tố có ý thức trong mọi hình tướng, nguồn gốc của sự tỉnh thức mà mọi hình tướng ghi nhận, và của tính đáp ứng đối với các điều kiện nhóm chung quanh mà các hình tướng trong mọi giới của thiên nhiên biểu lộ.

c. Therefore the soul might be defined as that significant aspect in every form (made through this union of spirit and matter) which feels, registers awareness, attracts and repels, responds or denies response and keeps all forms in a constant condition of vibratory activity.

c. Do đó linh hồn có thể được định nghĩa là phương diện đầy thâm nghĩa trong mọi hình tướng, được tạo ra qua sự hợp nhất này của tinh thần và vật chất, vốn cảm nhận, ghi nhận sự tỉnh thức, hấp dẫn và đẩy lùi, đáp ứng hoặc từ chối đáp ứng, và giữ mọi hình tướng trong một trạng thái hoạt động rung động thường hằng.

d. The soul is the perceiving entity produced through the union of Father-Spirit and Mother-Matter. It is that which in the vegetable world, for instance, produces [37] response to the sun’s rays, and the unfolding of the bud; it is that in the animal kingdom which enables it to love its master, hunt its prey, and follow out its instinctual life; it is that in man which makes him aware of his environment and his group, which enables him to live his life in the three worlds of his normal evolution as the onlooker, the perceiver, the actor. This it is which enables him eventually to discover that this soul in him is dual and that part of him responds to the animal soul and part of him recognises his divine soul. The majority however, at this time will be found to be functioning fully as neither purely animal nor purely divine, but can be regarded as human souls.

d. Linh hồn là thực thể tri nhận được tạo ra qua sự hợp nhất của Cha-Tinh thần và Mẹ-Vật chất. Đó là điều, chẳng hạn trong giới thực vật, tạo ra [37] sự đáp ứng với các tia mặt trời và sự khai mở của nụ hoa; đó là điều trong giới động vật giúp nó yêu thương chủ, săn đuổi con mồi và theo đuổi đời sống bản năng của nó; đó là điều trong con người khiến y tỉnh thức về môi trường và nhóm của mình, giúp y sống đời mình trong ba cõi thấp của sự tiến hoá bình thường như người quan sát, người tri nhận, người hành động. Chính điều này cuối cùng giúp y khám phá rằng linh hồn này trong y là nhị phân, và một phần của y đáp ứng với linh hồn động vật, còn một phần của y nhận ra linh hồn thiêng liêng của mình. Tuy nhiên, đa số vào lúc này sẽ được thấy là không hoạt động trọn vẹn như thuần tuý động vật cũng không thuần tuý thiêng liêng, mà có thể được xem là các linh hồn nhân loại.

5. The soul of the universe is—for the sake of clarity—capable of differentiation or rather (owing to the limitations of the form through which that soul has to function) capable of recognition at differing rates of vibration and stages of development. The soul nature in the universe therefore manifests in certain great states of awareness with many intermediate conditions, of which the major can be enumerated as follows:

5. Linh hồn của vũ trụ, vì mục đích làm sáng tỏ, có khả năng biến phân, hay đúng hơn, do các giới hạn của hình tướng mà qua đó linh hồn ấy phải hoạt động, có khả năng được nhận biết ở những mức rung động và những giai đoạn phát triển khác nhau. Vì vậy, bản chất linh hồn trong vũ trụ biểu lộ trong một số trạng thái tỉnh thức lớn lao, với nhiều điều kiện trung gian; các trạng thái chính có thể được liệt kê như sau:

a. Consciousness, or that state of awareness in matter itself, due to the fact that Mother-Matter has been fecundated by Father-Spirit and thus life and matter have been brought together. This type of consciousness concerns the atom, molecule and cell of which all forms are constructed. Thus the form of the solar system, of a planet, and of all that is found upon or within a planet is produced.

a. Tâm thức, hay trạng thái tỉnh thức trong chính vật chất, do sự kiện Mẹ-Vật chất đã được Cha-Tinh thần thụ tinh, và nhờ vậy sự sống và vật chất đã được đưa lại với nhau. Loại tâm thức này liên quan đến nguyên tử, phân tử và tế bào, những thành phần từ đó mọi hình tướng được kiến tạo. Như thế hình tướng của hệ mặt trời, của một hành tinh, và của tất cả những gì được tìm thấy trên hay trong một hành tinh được tạo ra.

b. Intelligent sentient consciousness, i.e. that evidenced in the mineral and vegetable kingdoms. It is this which is responsible for the quality, shape, and colouring of the vegetable and mineral forms and for their specific natures.

b. Tâm thức cảm nhận thông minh, tức là tâm thức được chứng tỏ trong giới kim thạch và giới thực vật. Chính điều này chịu trách nhiệm về phẩm tính, hình dạng và màu sắc của các hình tướng thực vật và khoáng vật, cũng như về bản chất đặc thù của chúng.

c. Animal consciousness, the awareness of soul response [38] of all forms in the animal kingdom, producing their distinctions, species and nature.

c. Tâm thức động vật, sự tỉnh thức về đáp ứng linh hồn [38] của mọi hình tướng trong giới động vật, tạo ra các phân biệt, loài và bản chất của chúng.

d. Human consciousness, or self-consciousness, towards which the development of the life, form and awareness in the other three kingdoms has gradually tended. This term concerns the individual consciousness of man; and in the early stages is more animal than divine, owing to the dominance of the animal body with its instincts and tendencies. H.P.B. defines man accurately as “an animal plus a God”. Later it is more strictly human, neither purely animal nor entirely divine, but fluctuating between the two stages, thus making the human kingdom the great battleground between the pairs of opposites, between the urge or pull of spirit and the lure of matter or mother-nature, and between that called the lower self and the spiritual man.

d. Tâm thức nhân loại, hay ngã thức, là điều mà sự phát triển của sự sống, hình tướng và sự tỉnh thức trong ba giới kia đã dần dần hướng tới. Thuật ngữ này liên quan đến tâm thức cá nhân của con người; và trong các giai đoạn đầu, nó mang tính động vật hơn là thiêng liêng, do sự thống trị của thể động vật với các bản năng và khuynh hướng của nó. Bà Blavatsky định nghĩa con người một cách chính xác là “một con vật cộng với một Thượng đế”. Về sau, nó mang tính nhân loại nghiêm ngặt hơn, không thuần tuý động vật cũng không hoàn toàn thiêng liêng, mà dao động giữa hai giai đoạn; do đó khiến giới nhân loại trở thành bãi chiến trường lớn giữa các cặp đối lập, giữa sự thúc đẩy hay lực kéo của tinh thần và sức quyến rũ của vật chất hay mẹ-thiên nhiên, và giữa điều được gọi là phàm ngã với con người tinh thần.

e. Group consciousness, which is the consciousness of the great sum totals, is arrived at by man through the development, first of all, of his individual consciousness, the sum total of the lives of his animal, emotional and mental natures, plus the spark of divinity dwelling within the form which they make. Then comes awareness of his group, as specified for him in that group of disciples, working under some one Master who represents to him the Hierarchy. The Hierarchy might be defined as the sum total of those sons of men who are no longer centered in the individualised self-consciousness, but who have entered into a wider realisation, that of the planetary group life. There are stages in this realisation, mounting all the way from that tiny group recognition of the probationary disciple up to the completed group awareness of the life in Whom all forms have their being, the consciousness of the planetary Logos, that “Spirit before the Throne” Who manifests through the form of a planet, [39] as man manifests through his form in the human kingdom.

e. Tâm thức nhóm, vốn là tâm thức của các tổng thể lớn lao, được con người đạt đến qua sự phát triển, trước hết, của tâm thức cá nhân của y, tức tổng thể các sự sống thuộc bản chất động vật, cảm xúc và trí tuệ của y, cộng với tia lửa thiên tính cư ngụ trong hình tướng mà chúng tạo nên. Kế đó đến sự tỉnh thức về nhóm của y, như được xác định cho y trong nhóm đệ tử ấy, hoạt động dưới một Chân sư nào đó, Đấng đại diện cho Thánh đoàn đối với y. Thánh đoàn có thể được định nghĩa là tổng thể của những người con của nhân loại không còn tập trung trong ngã thức đã biệt ngã hóa, mà đã bước vào một sự chứng nghiệm rộng lớn hơn, tức đời sống nhóm hành tinh. Có các giai đoạn trong sự chứng nghiệm này, vươn lên từ sự nhận biết nhóm nhỏ bé của đệ tử dự bị cho đến sự tỉnh thức nhóm hoàn tất của sự sống trong Đấng mà mọi hình tướng có hiện hữu của chúng, tức tâm thức của Hành Tinh Thượng đế, “Tinh thần trước Thánh Ngai” ấy, Đấng biểu lộ qua hình tướng của một hành tinh, [39] như con người biểu lộ qua hình tướng của mình trong giới nhân loại.

The soul therefore may be regarded as the unified sentiency and the relative awareness of that which lies back of the form of a planet and of a solar system. These latter are the sum total of all forms, organic or inorganic, as the materialist differentiates them. The soul, though constituting one great total, is, however, limited in its expression by the nature and quality of the form in which it is found and there are consequently forms which are highly responsive to and expressive of the soul, and others which—owing to their density and the quality of the atoms of which they are composed—are incapable of recognising the higher aspects of the soul or of expressing more than its lower vibration, tone or color. The infinitely small is recognised, the infinitely vast is assumed; but it remains as yet a concept until such time as the consciousness of man is inclusive, as well as exclusive. This concept will be understood when the second aspect is contacted and men understand the nature of the soul. It must be also remembered that just as the basic triplicity of manifestation worked out symbolically in man as his quota of energy (physical energy), his nervous system and the body mass, so the soul can also be known as a triplicity, the higher correspondences of the lower.

Vì vậy linh hồn có thể được xem là tính cảm nhận hợp nhất và sự tỉnh thức tương đối của điều nằm sau hình tướng của một hành tinh và của một hệ mặt trời. Những hình tướng sau này là tổng thể của mọi hình tướng, hữu cơ hay vô cơ, như nhà duy vật phân biệt chúng. Tuy linh hồn cấu thành một tổng thể lớn lao, nó vẫn bị giới hạn trong sự biểu đạt bởi bản chất và phẩm tính của hình tướng trong đó nó được tìm thấy; do đó có những hình tướng đáp ứng cao độ với linh hồn và biểu đạt linh hồn, và có những hình tướng khác, do tính đậm đặc của chúng và phẩm tính của các nguyên tử cấu thành chúng, không có khả năng nhận biết các phương diện cao hơn của linh hồn, hay biểu đạt gì nhiều hơn rung động, âm điệu hoặc màu sắc thấp hơn của nó. Cái vô cùng nhỏ được nhận biết; cái vô cùng lớn được giả định; nhưng nó vẫn còn là một khái niệm cho đến khi tâm thức của con người có tính bao gồm cũng như tính loại trừ. Khái niệm này sẽ được thấu hiểu khi phương diện thứ hai được tiếp xúc và con người thấu hiểu bản chất của linh hồn. Cũng phải nhớ rằng, cũng như bộ ba căn bản của sự biểu lộ được thể hiện một cách biểu tượng trong con người như phần năng lượng của y, tức năng lượng hồng trần, hệ thần kinh của y và khối thân thể, thì linh hồn cũng có thể được biết như một bộ ba, những tương ứng cao hơn của phần thấp.

There is first of all what might be called the spiritual will, —that quota of the universal will which any one soul can express, and which is adequate for the purpose of enabling the spiritual man to co-operate in the plan and purpose of the great life in which he has his being. There is also the second soul quality which is spiritual love, the quality of group consciousness, of inclusiveness, of mediatorship, of attraction and of unification. This is the paramount soul characteristic, for only the soul has [40] it as the dynamic factor. The spirit, or monad is primarily the expression of will with love and intelligence as secondary principles, and the body nature, the personality, is paramountly distinguished by intelligence, but the soul has outstandingly the quality of love which demonstrates as wisdom also when the intelligence of the body nature is fused with the love of the soul. The following tabulation may make the thought clearer.

Trước hết có điều có thể được gọi là ý chí tinh thần, tức phần của ý chí phổ quát mà bất cứ linh hồn nào cũng có thể biểu đạt, và phần ấy thích hợp với mục đích giúp con người tinh thần hợp tác trong Thiên Cơ và Thiên Ý của sự sống vĩ đại trong đó y có hiện hữu của mình. Cũng có phẩm tính linh hồn thứ hai là bác ái tinh thần, phẩm tính của tâm thức nhóm, của tính bao gồm, của vai trò trung gian, của sự hấp dẫn và của sự hợp nhất. Đây là đặc tính tối thượng của linh hồn, vì chỉ linh hồn mới có [40] nó như yếu tố năng động. Tinh thần, hay chân thần, chủ yếu là sự biểu đạt của ý chí với bác ái và trí tuệ như các nguyên khí thứ yếu; còn bản chất thể xác, tức phàm ngã, được phân biệt nổi bật bởi trí tuệ; nhưng linh hồn có phẩm tính nổi bật là bác ái, phẩm tính ấy cũng biểu lộ như minh triết khi trí tuệ của bản chất thể xác được dung hợp với bác ái của linh hồn. Bảng sau đây có thể làm tư tưởng này rõ hơn.

Monad.........Will.........Purpose

Chân thần.........Ý chí.........Mục đích