← A Treatise on White Magic – Alice A. Bailey

1st Aspect

1st Aspect

Will, enabling the Monad to participate in the universal purpose.

2nd Aspect

Love, the energy which is poured forth into the soul, making it what it is.

3rd Aspect

Intelligence, transmitted via the soul and brought into manifestation through the medium of the body.

Soul.........Love.........the Method

Linh hồn.........Bác ái.........Phương pháp

1st Aspect

Will, held in abeyance but expressing itself through the mind aspect of the personality and through Kundalini, which when aroused correctly makes possible the final initiations into the consciousness of the Monad.

2nd Aspect

Love, the dominating force of the soul life; through this possession and this type of energy, the soul can be en rapport with all souls. Through the emotional body, the soul can be in touch with all animal or subhuman souls, through its work on its own plane, with the meditating souls of all men; and through the principle of buddhi, with the second aspect of the Monad.

3rd Aspect

Knowledge. This aspect is brought into touch with the intelligence of all cells in the threefold body mechanism.

By a close study of the above it becomes apparent in what way the soul acts as the mediator between the soul and the personality.

Qua sự nghiên cứu kỹ lưỡng phần trên, sẽ trở nên rõ ràng bằng cách nào linh hồn hành động như trung gian giữa linh hồn và phàm ngã.

The personality hides within itself, as a casket hides [41] the jewel, that point of soul light which we call the light in the head. This is found within the brain, and is only discovered and later used when the highest aspect of the personality, the mind, is developed and functioning. Then the union with the soul is made and the soul functions through the lower personal nature.

Phàm ngã ẩn chứa trong chính nó, như một tráp ẩn chứa [41] viên ngọc, điểm ánh sáng linh hồn mà chúng ta gọi là ánh sáng trong đầu. Điểm này được tìm thấy trong bộ não, và chỉ được khám phá rồi về sau được sử dụng khi phương diện cao nhất của phàm ngã, tức thể trí, đã được phát triển và hoạt động. Khi ấy sự hợp nhất với linh hồn được thực hiện, và linh hồn hoạt động qua bản chất phàm ngã thấp.

The soul hides within itself, as the “jewel in the lotus,” that faculty of dynamic energy which is the manifested attribute of the monad, the will. When the soul has unfolded all its powers and has learnt to include within its consciousness all that is connoted by the “myriad forms that Being takes,” then in turn a higher or more inclusive state becomes possible and soul life is superseded by monadic life. This involves an ability to know, to love, and to participate in the plans of a life which has the power to include within its radius of consciousness not only the sum total of the lives and consciousness of the life of the Logos of our planet, but all the lives and consciousnesses within our solar system. The nature of this awareness is only possible of comprehension by the man who has arrived at soul-knowledge. The great need at this time is for experts in the life of the soul and for a group of men and women who, undertaking the great experiment and transition, add their testimony to the truth of the statements of the mystics and occultists of the ages.

Linh hồn ẩn chứa trong chính nó, như “viên ngọc trong hoa sen”, năng lực của năng lượng năng động vốn là thuộc tính đã biểu lộ của chân thần, tức ý chí. Khi linh hồn đã khai mở tất cả các quyền năng của nó và đã học cách bao gồm trong tâm thức của mình tất cả những gì được hàm chứa bởi “muôn vàn hình tướng mà Bản Thể khoác lấy”, thì đến lượt một trạng thái cao hơn hay bao gồm hơn trở nên khả hữu, và đời sống linh hồn được thay thế bởi đời sống chân thần. Điều này bao hàm khả năng biết, yêu thương và tham dự vào các Thiên Cơ của một sự sống có quyền năng bao gồm trong phạm vi tâm thức của mình không chỉ tổng thể các sự sống và tâm thức thuộc sự sống của Thượng đế hành tinh của chúng ta, mà còn tất cả các sự sống và các tâm thức trong hệ mặt trời của chúng ta. Bản chất của sự tỉnh thức này chỉ có thể được thấu hiểu bởi người đã đạt đến tri thức linh hồn. Nhu cầu lớn lao vào lúc này là cần có những chuyên gia trong đời sống linh hồn, và một nhóm những người nam và nữ, khi đảm nhận cuộc thử nghiệm và chuyển tiếp lớn lao, thêm chứng ngôn của họ vào chân lý của các phát biểu do các nhà thần bí và các nhà huyền bí học qua các thời đại đưa ra.

c. The Body, the Phenomenal Appearance.

c. Thể xác, Sắc tướng Hiện tượng.

Not much need be written here anent this, for the body nature and the form aspect have been the object of investigation and the subject of thought and discussion of thinking men for many centuries. Much at which they have arrived is basically correct. The modern investigator will admit the Law of Analogy as the basis of his premises and recognise sometimes the Hermetic theory that “As above, so below” may throw much light on the [42] present problems. The following postulates may serve to clarify: —

Không cần viết nhiều ở đây về điều này, vì bản chất thể xác và phương diện hình tướng đã là đối tượng khảo sát và chủ đề suy tư, bàn luận của những người biết tư duy trong nhiều thế kỷ. Phần lớn những gì họ đạt tới về căn bản là đúng. Nhà khảo sát hiện đại sẽ thừa nhận Định luật Tương đồng như nền tảng cho các tiền đề của mình, và đôi khi nhận ra rằng lý thuyết Hermetic “trên sao, dưới vậy” có thể soi nhiều ánh sáng lên [42] các vấn đề hiện tại. Các định đề sau đây có thể giúp làm sáng tỏ:

1. Man, in his body nature, is a sum total, a unity.

1. Con người, trong bản chất thể xác của y, là một tổng thể, một đơn vị hợp nhất.

2. This sum total is subdivided into many parts and organisms.

2. Tổng thể này được phân chia thành nhiều phần và cơ quan.

3. Yet these many subdivisions function in a unified manner and the body is a correlated whole.

3. Tuy vậy, nhiều phân phần này hoạt động theo một cách hợp nhất, và thể xác là một toàn thể tương quan.

4. Each of its parts differs in form and in function but all are inter-dependent.

4. Mỗi phần của nó khác nhau về hình tướng và chức năng, nhưng tất cả đều tùy thuộc lẫn nhau.

5. Each part and each organism is, in its turn, composed of molecules, cells, and atoms and these are held together in the form of the organism by the life of the sum total.

5. Mỗi phần và mỗi cơ quan, đến lượt nó, được cấu thành bởi các phân tử, tế bào và nguyên tử; và những phần tử này được giữ lại với nhau trong hình tướng của cơ quan bởi sự sống của tổng thể.

6. The sum total called man is roughly divided into five parts some of greater importance than others, but all completing that living organism we call a human being.

6. Tổng thể được gọi là con người được chia đại lược thành năm phần, một số phần quan trọng hơn các phần khác, nhưng tất cả đều hoàn tất cơ thể sống mà chúng ta gọi là một con người.

a. The head.

a. Đầu.

b. The upper torso, or that part which lies above the diaphragm.

b. Thân trên, hay phần nằm phía trên cơ hoành.

c. The lower torso, or that part lying below the diaphragm.

c. Thân dưới, hay phần nằm phía dưới cơ hoành.

d. The arms.

d. Hai tay.

e. The legs.

e. Hai chân.

7. These organisms serve varied purposes and upon their due functioning and proper adjustment the comfort of the whole depends.

7. Các cơ quan này phục vụ những mục đích khác nhau, và sự thoải mái của toàn thể tùy thuộc vào hoạt động đúng đắn và sự điều chỉnh thích hợp của chúng.

8. Each of these has its own life which is the sumtotal of the life of its atomic structure and is also animated by the unified life of the whole, directed from the head by the intelligent will or energy of the spiritual man.

8. Mỗi cơ quan này có sự sống riêng của nó, vốn là tổng thể sự sống của cấu trúc nguyên tử của nó, và cũng được làm linh hoạt bởi sự sống hợp nhất của toàn thể, được định hướng từ đầu bởi ý chí hay năng lượng thông minh của con người tinh thần.

9. The important part of the body is that triple division, the head, upper and lower torso. A man can function and live without his arms and legs.

9. Phần quan trọng của thể xác là sự phân chia tam phân: đầu, thân trên và thân dưới. Một người có thể hoạt động và sống mà không có tay và chân.

10. Each of these three parts is also triple from the [43] physical side, making the analogy to the three parts of man’s nature and the nine of perfected monadic life. There are other organs, but those enumerated are those which have an esoteric significance of greater value than the other parts.

10. Mỗi trong ba phần này cũng là tam phân xét từ phía [43] hồng trần, tạo nên sự tương đồng với ba phần trong bản chất của con người và chín phần của đời sống chân thần đã hoàn thiện. Có những cơ quan khác, nhưng những cơ quan được liệt kê là những cơ quan có thâm nghĩa huyền bí có giá trị lớn hơn các phần khác.

a. Within the head are:

a. Trong đầu có:

1. The five ventricles of the brain, or what we might call the brain as a unified organism.

1. Năm não thất, hay điều chúng ta có thể gọi là bộ não như một cơ quan hợp nhất.

2. The three glands, carotid, pineal and pituitary.

2. Ba tuyến: cảnh, tùng quả và yên.

3. The two eyes.

3. Hai mắt.

b. within the upper body are:

b. Trong thân trên có:

1. The throat.

1. Cổ họng.

2. The lungs.

2. Phổi.

3. The heart.

3. Tim.

c. Within the lower body are:

c. Trong thân dưới có:

1. The spleen.

1. Lá lách.

2. The stomach.

2. Dạ dày.

3. The sex organs.

3. Các cơ quan sinh dục.

11. The sum total of the body is also triple:

11. Tổng thể của thể xác cũng là tam phân:

a. The skin and bony structure.

a. Da và cấu trúc xương.

b. The vascular or blood system.

b. Hệ mạch hay hệ máu.

c. The three-fold nervous system.

c. Hệ thần kinh tam phân.

12. Each of these triplicities corresponds to the three parts of man’s nature:

12. Mỗi tam phân này tương ứng với ba phần trong bản chất của con người:

a. Physical nature: —The skin and bony structure are the analogy to the dense and etheric body of man.

a. Bản chất hồng trần: —Da và cấu trúc xương là sự tương đồng với thể xác đậm đặc và thể dĩ thái của con người.

b. Soul nature: —The blood vessels and circulatory system are the analogy to that all pervading soul which penetrates to all parts of the solar system, as the blood goes to all parts of the body.

b. Bản chất linh hồn: —Các mạch máu và hệ tuần hoàn là sự tương đồng với linh hồn thấm nhuần tất cả ấy, vốn thâm nhập vào mọi phần của hệ mặt trời, như máu đi đến mọi phần của thân thể.

c. Spirit nature: —The nervous system, as it energises and acts throughout the physical man is the correspondence to the energy of spirit.

c. Bản chất tinh thần: —Hệ thần kinh, khi nó truyền năng lượng và tác động khắp con người hồng trần, là sự tương ứng với năng lượng của tinh thần.

13. In the head we have the analogy to the spirit aspect, the directing will, the monad, the one: [44]

13. Trong đầu, chúng ta có sự tương đồng với phương diện tinh thần, ý chí chỉ đạo, chân thần, Đấng Duy Nhất: [44]

a. The brain with its five ventricles is the analogy to the physical form which the spirit animates in connection with man, that fivefold sum total which is the medium through which the spirit on the physical plane has to express itself.

a. Bộ não với năm não thất của nó là sự tương đồng với hình tướng hồng trần mà tinh thần làm linh hoạt trong liên hệ với con người, tổng thể ngũ phân ấy là trung gian qua đó tinh thần trên cõi hồng trần phải tự biểu đạt.

b. The three glands in the head are closely related to the soul or psychic nature (higher and lower).

b. Ba tuyến trong đầu liên hệ mật thiết với linh hồn hay bản chất thông linh, cao và thấp.

c. The two eyes are the physical plane correspondences to the monad, who is will and love-wisdom, or atma-buddhi, according to the occult terminology.

c. Hai mắt là các tương ứng trên cõi hồng trần với chân thần, vốn là ý chí và bác ái-minh triết, hay atma-bồ đề, theo thuật ngữ huyền bí học.

14. In the upper body we have an analogy to the triple soul nature.

14. Trong thân trên, chúng ta có một sự tương đồng với bản chất linh hồn tam phân.

a. The throat, corresponding to the third creative aspect or the body nature, the active intelligence of the soul.

a. Cổ họng, tương ứng với phương diện sáng tạo thứ ba hay bản chất thể xác, trí tuệ hoạt động của linh hồn.

b. The heart, the love wisdom of the soul, the buddhi or Christ principle.

b. Tim, bác ái-minh triết của linh hồn, bồ đề hay nguyên khí Đức Christ.

c. The lungs, the analogy for the breath of life, is the correspondence of spirit.

c. Phổi, sự tương đồng với hơi thở của sự sống, là sự tương ứng của tinh thần.

15. In the lower torso again we have this triple system carried out:

15. Trong thân dưới, chúng ta lại có hệ thống tam phân này được thể hiện:

a. The sex organs, the creative aspect, the fashioner of the body.

a. Các cơ quan sinh dục, phương diện sáng tạo, kẻ tạo dáng thể xác.

b. The stomach, as the physical manifestation of the solar plexus is the analogy to the soul nature.

b. Dạ dày, như sự biểu lộ hồng trần của tùng thái dương, là sự tương đồng với bản chất linh hồn.

c. The spleen, the receiver of energy and therefore the physical plane expression of the centre which receives this energy is the analogy to the energising spirit.

c. Lá lách, cơ quan tiếp nhận năng lượng, và do đó là sự biểu đạt trên cõi hồng trần của trung tâm tiếp nhận năng lượng này, là sự tương đồng với tinh thần truyền năng lượng.

The vital body is the expression of the soul energy and has the following function:

Thể sinh lực là sự biểu đạt của năng lượng linh hồn và có chức năng sau đây:

1. It unifies and links into one whole the sum total of all forms. [45]

1. Nó hợp nhất và liên kết tổng thể mọi hình tướng thành một toàn thể. [45]

2. It gives to every form its particular quality, and this is due to:

2. Nó ban cho mọi hình tướng phẩm tính riêng của nó, và điều này là do:

a. The type of matter drawn into that particular part of the web of life.

a. Loại vật chất được hút vào phần đặc thù ấy của mạng lưới sự sống.

b. The position in the body of the planetary Logos, for instance, of any specific form.

b. Vị trí trong thể của Hành Tinh Thượng đế, chẳng hạn, của bất cứ hình tướng đặc thù nào.

c. The particular kingdom in nature which is being vitalised.

c. Giới đặc thù trong thiên nhiên đang được tiếp sinh lực.

3. It is the principle of integration and the cohesive force of manifestation, from the strictly physical sense.

3. Nó là nguyên khí của sự tích hợp và mãnh lực cố kết của sự biểu lộ, xét theo nghĩa hồng trần nghiêm ngặt.

4. This web of life is the subjective analogy to the nervous system, and beginners in the esoteric sciences can, if they remember this, picture to themselves a network of nerves and plexus running throughout the entire body, or the sum total of all forms, coordinating and linking, and producing an essential unity.

4. Mạng lưới sự sống này là sự tương đồng chủ quan với hệ thần kinh; và những người mới bắt đầu trong các khoa học huyền bí, nếu họ nhớ điều này, có thể hình dung cho chính mình một mạng lưới các dây thần kinh và các đám rối chạy khắp toàn bộ thể xác, hay tổng thể của mọi hình tướng, phối hợp và liên kết, đồng thời tạo ra một sự hợp nhất thiết yếu.

5. Within that unity is diversity. Just as the varied organs of the human body are inter-related by the ramification of the nervous system, so within the body of the planetary Logos are the various kingdoms in nature and the multiplicity of forms. Back of the objective universe is the subtler sensitive body—one organism, not many, one sentient, responsive, connected form.

5. Trong sự hợp nhất ấy có sự đa dạng. Cũng như các cơ quan khác nhau của thân thể con người liên hệ với nhau qua sự phân nhánh của hệ thần kinh, thì trong thể của Hành Tinh Thượng đế cũng có các giới khác nhau trong thiên nhiên và vô số hình tướng. Phía sau vũ trụ khách quan là thể nhạy cảm vi tế hơn, một cơ quan duy nhất chứ không phải nhiều cơ quan, một hình tướng cảm nhận, đáp ứng và liên kết.

6. This sensitive form is not only that which responds to the environment but is the transmitter (from inner sources) of certain types of energy, and the object of the Treatise might here be stated to be that of considering the various types of energy transmitted to the form in the human kingdom, the responsiveness of the form to the types of force, the effects of that force upon man, and his gradual responsiveness to force emanating: [46]

6. Hình tướng nhạy cảm này không chỉ là điều đáp ứng với môi trường, mà còn là tác nhân truyền dẫn, từ các nguồn bên trong, một số loại năng lượng nhất định; và mục tiêu của Khảo luận này ở đây có thể được nêu là xem xét các loại năng lượng khác nhau được truyền đến hình tướng trong giới nhân loại, tính đáp ứng của hình tướng đối với các loại mãnh lực, các hiệu quả của mãnh lực ấy lên con người, và tính đáp ứng dần dần của y đối với mãnh lực xuất lộ: [46]

a. From his environment, plus his own outer physical body.

a. Từ môi trường của y, cộng với thể xác bên ngoài của chính y.

b. From the emotional plane, or astral force.

b. Từ cõi cảm xúc, hay mãnh lực cảm dục.

c. The mental plane or thought currents.

c. Cõi trí hay các dòng tư tưởng.

d. Egoic force, a force only registered by man and of which the fourth kingdom in nature is the custodian and which has mysterious and peculiar effects.

d. Mãnh lực chân ngã, một mãnh lực chỉ được con người ghi nhận, và giới thứ tư trong thiên nhiên là người gìn giữ nó, đồng thời nó có những hiệu quả huyền bí và đặc thù.

e. The type of energy which produces the concretion of ideas on the physical plane.

e. Loại năng lượng tạo ra sự cụ thể hóa các ý tưởng trên cõi hồng trần.

f. Strictly spiritual energy, or force from the plane of the monad.

f. Năng lượng tinh thần nghiêm ngặt, hay mãnh lực từ cõi của chân thần.

The different types of force can all be registered in the human kingdom. Some of them can be registered in the subhuman kingdoms, and the apparatus of the vital body in man is so constructed that through its three objective manifestations, the triple nervous system, through the seven major plexi, the lesser nerve ganglia, and the many thousands of nerves, the entire objective man can be responsive to:

Các loại mãnh lực khác nhau đều có thể được ghi nhận trong giới nhân loại. Một số trong chúng có thể được ghi nhận trong các giới dưới nhân loại; và bộ máy của thể sinh lực nơi con người được cấu tạo sao cho, qua ba biểu lộ khách quan của nó, tức hệ thần kinh tam phân, qua bảy đám rối chính, các hạch thần kinh nhỏ hơn và nhiều ngàn dây thần kinh, toàn thể con người khách quan có thể đáp ứng với:

a. The above mentioned types of force.

a. Các loại mãnh lực đã nêu trên.

b. Energies generated in and emanating from any part of the planetary etheric web of life.

b. Các năng lượng được sinh ra trong và xuất lộ từ bất cứ phần nào của mạng lưới sự sống dĩ thái hành tinh.

c. The solar web of life.

c. Mạng lưới sự sống thái dương.

d. The constellations of the Zodiac which appear to have a real effect upon our planet and of which astrology is as yet the immature study.

d. Các chòm sao Hoàng đạo, vốn dường như có một ảnh hưởng thực sự lên hành tinh của chúng ta, và chiêm tinh học cho đến nay vẫn là sự nghiên cứu còn non trẻ về điều ấy.

e. Certain cosmic forces which, it will be recognised later, play upon and produce changes in our solar system and consequently upon our planet and upon all forms upon and within that planetary life. This has been touched upon in the Treatise on Cosmic Fire.

e. Một số mãnh lực vũ trụ nhất định, về sau sẽ được nhận ra là tác động lên và tạo ra những thay đổi trong hệ mặt trời của chúng ta, và do đó trên hành tinh của chúng ta, cũng như trên mọi hình tướng trên và trong sự sống hành tinh ấy. Điều này đã được đề cập trong Luận về Lửa Vũ Trụ.

To all of these the planetary web of life is responsive, and, when astrologers work in the occult way and consider [47] the planetary horoscope, they will arrive more quickly at an understanding of the zodiacal and cosmic influences.

Mạng lưới sự sống hành tinh đáp ứng với tất cả những điều này; và khi các nhà chiêm tinh hoạt động theo cách huyền bí và xem xét [47] lá số chiêm tinh hành tinh, họ sẽ nhanh chóng đạt đến sự thấu hiểu hơn về các ảnh hưởng hoàng đạo và vũ trụ.

The anima mundi is that which lies back of the web of life. The latter is but the physical symbol of that universal soul; it is the outer and visible sign of the inner reality, the concretion of the sensitive responsive entity which links spirit and matter together. This entity we call the Universal Soul, the middle principle from the standpoint of the planetary life. When we narrow the concept down to the human family, and consider the individual man, we call it the mediating principle, for the soul of mankind is not only an entity linking spirit and matter, and mediating between monad and personality, but the soul of humanity has a unique function to perform in mediating between the higher three kingdoms in nature and the lower three. The higher three are:

Linh hồn thế giới là điều nằm phía sau mạng lưới sự sống. Mạng lưới này chỉ là biểu tượng hồng trần của linh hồn phổ quát ấy; nó là dấu hiệu bên ngoài và hữu hình của thực tại bên trong, sự cụ thể hóa của thực thể nhạy cảm và đáp ứng, vốn liên kết tinh thần và vật chất với nhau. Thực thể này chúng ta gọi là Linh hồn Phổ quát, nguyên khí trung đạo xét từ lập trường của sự sống hành tinh. Khi chúng ta thu hẹp khái niệm xuống gia đình nhân loại và xem xét con người cá nhân, chúng ta gọi nó là nguyên khí trung gian; vì linh hồn của nhân loại không chỉ là một thực thể liên kết tinh thần và vật chất, và làm trung gian giữa chân thần và phàm ngã, mà linh hồn của nhân loại còn có một chức năng độc nhất phải thực hiện trong việc làm trung gian giữa ba giới cao hơn trong thiên nhiên và ba giới thấp hơn. Ba giới cao hơn là:

1. The Spiritual Hierarchy of our planet, nature spirits or angels and human spirits, who stand at a peculiar point on the ladder of evolution. Of these Sanat Kumara, embodying a principle of the planetary Logos is the highest, and an initiate of the first degree is the lowest, with corresponding entities in what we call the angel or deva kingdom.

1. Huyền Giai Tinh Thần của hành tinh chúng ta, các tinh linh tự nhiên hay thiên thần và các tinh thần nhân loại, những vị đứng ở một điểm đặc biệt trên nấc thang tiến hoá. Trong số này, Đức Sanat Kumara, hiện thân cho một nguyên khí của Hành Tinh Thượng đế, là Đấng cao nhất; và một điểm đạo đồ bậc nhất là vị thấp nhất, cùng với các thực thể tương ứng trong điều chúng ta gọi là giới thiên thần hay giới deva.

2. The Hierarchy of Rays—certain groupings of the seven rays in relation to our planet.

2. Huyền Giai các Cung, tức những tập hợp nhất định của bảy cung trong liên hệ với hành tinh của chúng ta.

3. A Hierarchy of Lives, gathered by an evolutionary process out of our planetary evolution and from four other planets, who embody in themselves the purpose and plan of the solar Logos in relation to the five planets involved.

3. Một Huyền Giai các Sự Sống, được tập hợp bởi một tiến trình thăng thượng tiến hoá từ cuộc tiến hoá hành tinh của chúng ta và từ bốn hành tinh khác, những Đấng hiện thân trong chính Các Ngài mục đích và Thiên Cơ của Thái dương Thượng đế trong liên hệ với năm hành tinh liên hệ.

In narrowing the concept down to the microcosm, the ego or soul acts verily as the middle principle connecting [48] the Hierarchy of Monads with outer diversified forms which they use sequentially in the process of:

Khi thu hẹp khái niệm xuống tiểu thiên địa, chân ngã hay linh hồn quả thật hành động như nguyên khí trung đạo nối kết [48] Huyền Giai các Chân thần với những hình tướng bên ngoài đa dạng mà các Ngài sử dụng tuần tự trong tiến trình:

a. Gaining certain experiences, resulting in acquired attributes.

a. Thu nhận một số kinh nghiệm nhất định, đưa đến các thuộc tính đạt được.

b. Working out certain effects, initiated in an earlier system.

b. Thực hiện một số hiệu quả nhất định, đã được khởi phát trong một hệ trước.

c. Cooperating in the plan of the solar Logos in relation to His (if one may use a pronoun in speaking of a life which is an existence and yet is an extended concept) Karma—a point oft overlooked. This Karma of His must be worked out through the method of incarnation and the subsequent result of the incarnated energy upon the substance of the form. This is symbolised for us, if we could but grasp it, in the relation of the sun to the moon. “The Solar Lord with his warmth and light galvanises the moribund Lunar Lords into a spurious life. This is the great deception; and the Maya of His Presence.”—So runs the Old Commentary oft quoted by me in earlier books. The above concept has in it truth for the individual soul likewise.

c. Hợp tác trong Thiên Cơ của Thái dương Thượng đế liên quan đến Nghiệp quả của Ngài, nếu có thể dùng một đại từ khi nói về một sự sống vừa là một hiện hữu, vừa là một khái niệm mở rộng, một điểm thường bị bỏ qua. Nghiệp quả này của Ngài phải được thực hiện qua phương pháp lâm phàm và kết quả tiếp theo của năng lượng đã lâm phàm trên chất liệu của hình tướng. Điều này được biểu tượng hóa cho chúng ta, nếu chúng ta có thể nắm bắt, trong mối liên hệ giữa mặt trời và mặt trăng. “Chúa Tể Thái dương, bằng hơi ấm và ánh sáng của mình, kích động các Nguyệt tinh quân đang hấp hối vào một sự sống giả tạo. Đây là sự lừa dối lớn; và là Ảo lực của Sự Hiện Diện của Ngài.” Cổ Luận, mà tôi thường trích dẫn trong các sách trước đây, nói như thế. Khái niệm trên cũng chứa đựng chân lý đối với linh hồn cá nhân.

This middle principle is in process of revelation now. The lower aspect is functioning. The higher remains unknown, but that which links them (and at the same time reveals the nature of the higher) is on the verge of discovery. The structure, the mechanism, is now ready and developed to its point of usefulness; the vital life that can guide and motivate the machine is likewise present, and man now can intelligently use and control, not only the machine, but the active principle.

Nguyên khí trung đạo này hiện đang trong tiến trình mặc khải. Phương diện thấp đang hoạt động. Phương diện cao vẫn chưa được biết đến, nhưng điều liên kết chúng, đồng thời mặc khải bản chất của phương diện cao, đang ở ngưỡng được khám phá. Cấu trúc, bộ máy, nay đã sẵn sàng và phát triển đến điểm hữu dụng của nó; sự sống sinh lực có thể hướng dẫn và thúc đẩy cỗ máy cũng hiện diện, và nay con người có thể sử dụng và kiểm soát một cách thông minh không chỉ cỗ máy, mà cả nguyên khí hoạt động.

The great symbol of the soul in man is his vital or etheric body and for the following reasons:

Biểu tượng lớn lao của linh hồn trong con người là thể sinh lực hay thể dĩ thái của y, vì các lý do sau:

1. It is the physical correspondence to the inner light body we call the soul body, the spiritual body. It [49] is called the “golden bowl” in the Bible and is distinguished by:

1. Nó là sự tương ứng hồng trần với thể ánh sáng bên trong mà chúng ta gọi là thể linh hồn, thể tinh thần. Nó [49] được gọi là “chén vàng” trong Kinh Thánh và được phân biệt bởi:

a. Its light quality.

a. Phẩm tính ánh sáng của nó.

b. Its rate of vibration, which synchronises always with the development of the soul.

b. Tốc độ rung động của nó, vốn luôn đồng bộ với sự phát triển của linh hồn.

c. Its coherent force, linking and connecting every part of the body structure.

c. Mãnh lực cố kết của nó, liên kết và nối kết mọi phần của cấu trúc thân thể.

2. It is the microcosmic “web of life” for it underlies every part of the physical structure and has three purposes:

2. Nó là “mạng lưới sự sống” tiểu thiên địa, vì nó nằm bên dưới mọi phần của cấu trúc hồng trần và có ba mục đích:

a. To carry throughout the body the life principle, the energy which produces activity. This it does through the medium of the blood, and the focal point for this distribution is the heart. It is the conveyor of physical vitality.

a. Mang nguyên khí sự sống, năng lượng tạo ra hoạt động, đi khắp thể. Điều này được thực hiện qua trung gian của máu, và tiêu điểm cho sự phân phối này là trái tim. Nó là phương tiện chuyên chở sinh lực hồng trần.

b. To enable the soul, or human yet spiritual man to be en rapport with his environment. This is carried forward through the medium of the entire nervous system and the focal point of that activity is the brain. This is the seat of conscious receptivity.

b. Giúp linh hồn, hay con người nhân loại nhưng tinh thần, liên hệ mật thiết với môi trường của mình. Điều này được tiến hành qua trung gian của toàn bộ hệ thần kinh, và tiêu điểm của hoạt động ấy là bộ não. Đây là nơi trú ngụ của khả năng tiếp nhận hữu thức.

c. To produce eventually, through life and consciousness, a radiant activity, or manifestation of glory which will make of each human being a centre of activity for the distribution of light and attractive energy to others in the human kingdom, and through the human kingdom, to the subhuman kingdoms. This is a part of the plan of the planetary Logos for the vitalising and renewing of the vibration of those forms which we designate subhuman.

c. Sau cùng, nhờ sự sống và tâm thức, tạo ra một hoạt động rạng rỡ, hay một sự biểu hiện vinh quang, khiến mỗi con người trở thành một trung tâm hoạt động để phân phối ánh sáng và năng lượng hấp dẫn cho những người khác trong giới nhân loại, và qua giới nhân loại, cho các giới dưới nhân loại. Đây là một phần trong Thiên Cơ của Hành Tinh Thượng đế nhằm tiếp sinh lực và đổi mới rung động của những hình tướng mà chúng ta gọi là dưới nhân loại.

3. This microcosmic symbol of the soul not only underlies the entire physical structure and thus is a symbol of the anima mundi, or the world soul, but is indivisible, coherent and a unified entity, thereby symbolising the unity and homogeneity [50] of God. There are no separated organisms in it, but it is simply a body of freely flowing force, that force being a blend or unification of two types of energy in varying quantities, dynamic energy, and attractive or magnetic energy. These two types characterise the universal soul likewise—the force of will, and of love, or of atma and buddhi, and it is the play of these two forces on matter that attracts to the etheric body of all forms the needed physical atoms and that—having so attracted them—by the will force drives them into certain activities.

3. Biểu tượng tiểu thiên địa này của linh hồn không chỉ nằm bên dưới toàn bộ cấu trúc hồng trần và do đó là biểu tượng của linh hồn thế giới, mà còn bất khả phân, cố kết và là một thực thể hợp nhất, qua đó tượng trưng cho sự hợp nhất và tính đồng nhất [50] của Thượng đế. Trong đó không có những cơ quan tách biệt, mà chỉ đơn giản là một thể của mãnh lực lưu chuyển tự do; mãnh lực ấy là sự pha trộn hay hợp nhất của hai loại năng lượng theo những lượng khác nhau: năng lượng năng động, và năng lượng hấp dẫn hay từ tính. Hai loại này cũng đặc trưng cho linh hồn vũ trụ — mãnh lực của ý chí và của bác ái, hay của atma và Bồ đề; và chính sự vận hành của hai mãnh lực này trên vật chất thu hút về thể dĩ thái của mọi hình tướng những nguyên tử hồng trần cần thiết, rồi — sau khi đã thu hút chúng — bằng mãnh lực ý chí, thúc đẩy chúng vào những hoạt động nhất định.

4. This coherent unified body of light and energy is the symbol of the soul in that it has within it seven focal points, wherein the condensation, if it must be so called, of the two blended energies is intensified. These correspond to the seven focal points in the solar system, wherein the Solar Logos, through the seven Planetary Logoi, focusses His energies. This will be later elaborated. The point to be noted here is simply the symbolic nature of the etheric or vital body, for it is by understanding the nature of the energies displayed and the unified nature of the form and work that some idea as to the work of the soul, the middle principle in nature, can be grasped.

4. Thể ánh sáng và năng lượng cố kết, hợp nhất này là biểu tượng của linh hồn, vì trong nó có bảy tiêu điểm, nơi sự ngưng tụ, nếu phải gọi như vậy, của hai năng lượng đã hòa trộn được tăng cường. Những tiêu điểm này tương ứng với bảy tiêu điểm trong hệ mặt trời, nơi Thái dương Thượng đế, thông qua bảy Hành Tinh Thượng đế, tập trung các năng lượng của Ngài. Điều này sẽ được triển khai về sau. Điểm cần lưu ý ở đây chỉ là bản chất biểu tượng của thể dĩ thái hay thể sinh lực, vì nhờ thấu hiểu bản chất của các năng lượng được biểu lộ, cùng bản chất hợp nhất của hình tướng và công việc, người ta mới có thể nắm được phần nào ý niệm về công việc của linh hồn, nguyên khí trung gian trong thiên nhiên.

5. The symbolism is also carried forward when one remembers that the etheric body links the purely physical, or dense body with the purely subtle, the astral or emotional body. In this is seen the reflection of the soul in man which links the three worlds (corresponding to the solid, liquid and gaseous aspects of the strictly physical body of man) to the higher planes in the solar system, linking thus the mental to the buddhic and the mind to the intuitional states of consciousness.

5. Tính biểu tượng cũng được tiếp tục khi người ta nhớ rằng thể dĩ thái liên kết thể thuần hồng trần, hay thể đậm đặc, với thể thuần vi tế, tức thể cảm dục hay cảm xúc. Trong điều này có thể thấy sự phản chiếu của linh hồn trong con người, vốn liên kết ba cõi giới tương ứng với các phương diện rắn, lỏng và khí của thể hồng trần đúng nghĩa của con người, với các cõi cao hơn trong hệ mặt trời; nhờ vậy, nó liên kết trí tuệ với Bồ đề, và thể trí với các trạng thái tâm thức trực giác.

RULE ONE

The Solar Angel collects himself, scatters not his force but, in meditation deep, communicates with his reflection.

Thái dương Thiên Thần thu mình lại, không phân tán mãnh lực của Ngài, mà trong tham thiền sâu, giao tiếp với phản ảnh của Ngài.

Some Basic Assumptions

[53]

[53]

We are entering upon a course of study wherein the entire tendency will be to throw the student back upon himself, and thus upon that larger self which has only, in most cases, made its presence felt at rare and highly emotional intervals. When the self is known and not simply felt and, when the realisation is mental as well as sensory, then truly can the aspirant be prepared for initiation.

Chúng ta đang bước vào một khóa học mà toàn bộ khuynh hướng sẽ là đưa đạo sinh trở về với chính mình, và do đó trở về với Bản Ngã rộng lớn hơn ấy, vốn trong đa số trường hợp chỉ làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận vào những khoảng hiếm hoi và đầy cảm xúc mạnh. Khi bản ngã được nhận biết chứ không chỉ được cảm nhận, và khi sự chứng nghiệm vừa thuộc trí tuệ vừa thuộc cảm quan, bấy giờ người chí nguyện mới thật sự có thể được chuẩn bị cho điểm đạo.

I would like to point out that I am basing my words upon certain basic assumptions, which for the sake of clarity, I want briefly to state.

Tôi muốn nêu rõ rằng tôi đặt lời mình trên một số giả định căn bản, và vì sự sáng tỏ, tôi muốn trình bày vắn tắt các giả định ấy.

Firstly, that the student is sincere in his aspiration, and is determined to go forward no matter what may be the reaction of and upon the lower self. Only those who can clearly differentiate between the two aspects of their nature, the real self and the illusory self, can work intelligently. This has been well expressed in the Yoga Sutras of Patanjali.

Thứ nhất, đạo sinh chân thành trong khát vọng của mình, và quyết tâm tiến tới bất kể phản ứng của phàm ngã sẽ ra sao và tác động lên phàm ngã thế nào. Chỉ những ai có thể phân biệt rõ ràng giữa hai phương diện của bản chất mình, bản ngã chân thật và bản ngã ảo tưởng, mới có thể làm việc một cách thông minh. Điều này đã được diễn đạt rất hay trong Kinh Yoga của Patanjali.

“Experience (of the pairs of opposites) comes from the inability of the soul to distinguish between the personal self, and the purusa (or spirit). The objective forms exist for the use and experience of the spiritual man. By meditation upon this arises the intuitive perception of the spiritual man.” Book III.35.

“Kinh nghiệm về các cặp đối cực phát sinh từ sự bất lực của linh hồn trong việc phân biệt giữa bản ngã cá nhân và tinh thần. Các hình tướng khách quan hiện hữu để con người tinh thần sử dụng và trải nghiệm. Nhờ tham thiền về điều này, tri giác trực giác của con người tinh thần phát sinh.” Quyển III.35.

The forty-eighth Sutra in the same book gives a statement covering a later stage of this discriminative realisation. This discerning quality is fostered by a re-collected attitude of mind, and by careful attention to the method of a constant review of the life. [54]

Câu kinh thứ bốn mươi tám trong cùng quyển đưa ra một phát biểu bao quát một giai đoạn về sau của sự chứng nghiệm phân biện này. Phẩm tính phân biện tinh thần ấy được nuôi dưỡng bằng một thái độ thể trí hồi tâm, và bằng sự chú tâm cẩn thận vào phương pháp thường xuyên ôn xét đời sống. [54]

Secondly, I am acting upon the assumption that all have lived long enough and battled sufficiently with deterrent forces of life to have enabled them to develop a fairly true sense of values. I assume they are endeavouring to live as those who know something of the true eternal values of the soul. They are not to be kept back by any happenings to the personality or by the pressure of time and circumstance, by age or physical disability. They have wisely learnt that enthusiastic rushing forward and a violent energetic progress has its drawbacks, and that a steady, regular, persistent endeavour will carry them further in the long run. Spasmodic spurts of effort and temporary pressure peter out into disappointment and a weighty sense of failure. It is the tortoise and not the hare that arrives first at the goal, though both achieve eventually.

Thứ hai, tôi hành động dựa trên giả định rằng tất cả các bạn đã sống đủ lâu và đã chiến đấu đủ nhiều với các mãnh lực cản trở của đời sống để phát triển một ý thức khá đúng về các giá trị. Tôi giả định rằng các bạn đang nỗ lực sống như những người biết đôi chút về các giá trị vĩnh cửu chân thật của linh hồn. Các bạn không được để bất cứ biến cố nào xảy đến với phàm ngã, hay áp lực của thời gian và hoàn cảnh, tuổi tác hoặc khuyết tật hồng trần, giữ mình lại. Các bạn đã học một cách khôn ngoan rằng sự lao tới đầy nhiệt huyết và một tiến trình mãnh liệt, đầy năng lực, cũng có những bất lợi của nó; và rằng một nỗ lực đều đặn, thường xuyên, bền bỉ, về lâu dài sẽ đưa các bạn đi xa hơn. Những đợt cố gắng bộc phát và áp lực tạm thời sẽ tàn lụi trong thất vọng và một cảm thức nặng nề về thất bại. Chính con rùa, chứ không phải con thỏ, đến đích trước, dù cuối cùng cả hai đều đạt tới.

Thirdly, I assume that those who set themselves seriously to benefit by the instructions in this book are prepared to carry out the simple requirements, to read what is written thoughtfully, to attempt to organise their minds and adhere to their meditation work. The organising of the mind is an all-day affair, and the application of the mind to the thing in hand throughout the daily avocations, is the best way to make study and meditation periods fruitful and bring about fitness for the vocation of disciple.

Thứ ba, tôi giả định rằng những ai nghiêm túc đặt mình vào việc hưởng lợi từ các huấn thị trong quyển sách này đều sẵn sàng thực hiện những yêu cầu đơn giản, đọc điều được viết ra một cách suy tư, cố gắng tổ chức thể trí của mình và kiên trì với công việc tham thiền. Việc tổ chức thể trí là công việc của cả ngày, và việc áp dụng thể trí vào việc đang làm trong suốt các bổn phận hằng ngày là cách tốt nhất để làm cho các thời kỳ học hỏi và tham thiền sinh hoa kết quả, đồng thời tạo nên sự thích hợp cho thiên chức của người đệ tử.

With these assumptions clearly understood, my words are for those who are seeking to measure up to the need for trained servers. I say not, you note, those who measure up. Intention and effort are considered by us of prime importance, and are the two main requisites for all disciples, initiates and masters, plus the power of persistence.

Khi những giả định này đã được thấu hiểu rõ ràng, lời tôi dành cho những ai đang tìm cách đáp ứng nhu cầu về những người phụng sự được huấn luyện. Các bạn lưu ý, tôi không nói là những người đã đáp ứng. Ý định và nỗ lực được chúng tôi xem là có tầm quan trọng hàng đầu, và là hai điều kiện chính yếu cho mọi đệ tử, điểm đạo đồ và Chân sư, cộng thêm quyền năng bền bỉ.

In our consideration of these rules, I am not so much interested in their application to the magical work itself as in training the magician, and in developing him from [55] the standpoint of his own character. Later we may get down to the application of knowledge to the outer manifestation of world forces, but now our objective is something different; I seek to interest the minds and brains (and therefore the lower self) of students in the higher self, thereby keying up their mental interest so that sufficient impetus is generated to enable them to go forward.

Trong khi xem xét các quy luật này, tôi không quan tâm nhiều đến việc áp dụng chúng vào chính công việc huyền thuật cho bằng việc huấn luyện nhà huyền thuật, và phát triển y từ [55] quan điểm Tính cách của chính y. Về sau, chúng ta có thể đi vào việc áp dụng tri thức vào sự biểu hiện bên ngoài của các mãnh lực thế giới; nhưng hiện nay mục tiêu của chúng ta là một điều khác. Tôi tìm cách khơi dậy nơi thể trí và bộ não, và do đó nơi phàm ngã, của các đạo sinh sự quan tâm đến chân ngã, nhờ vậy nâng cao hứng thú trí tuệ của họ đến mức tạo ra đủ xung lực để giúp họ tiến tới.

Also, let it not be forgotten that once the magic of the soul is grasped by the personality, that soul steadily dominates and can be trusted to carry forward the training of the man to fruition, unhampered (as you necessarily are) by thoughts of time and space, and by an ignorance of the past career of the soul concerned. It should always be borne in mind that, when dealing with individuals, the work required is twofold:

Cũng đừng quên rằng một khi huyền thuật của linh hồn được phàm ngã nắm bắt, linh hồn ấy sẽ đều đặn làm chủ và có thể được tin cậy để đưa việc huấn luyện con người đến chỗ viên mãn, không bị cản trở như các bạn tất yếu bị cản trở bởi những tư tưởng về thời gian và không gian, cũng như bởi sự không biết về tiến trình quá khứ của linh hồn liên hệ. Cần luôn ghi nhớ rằng khi đề cập đến các cá nhân, công việc cần làm có tính nhị phân:

1. To teach them how to link up the personal lower self with the overshadowing soul so that in the physical brain there is an assured consciousness as to the reality of that divine fact. This knowledge renders the hitherto assumed reality of the three worlds futile to attract and hold, and is the first step, out of the fourth, into the fifth kingdom.

1. Dạy họ cách liên kết phàm ngã cá nhân với linh hồn đang phủ bóng, để trong bộ não hồng trần có một tâm thức chắc chắn về thực tại của sự kiện thiêng liêng ấy. Tri thức này khiến cho thực tại của ba cõi thấp, vốn trước đây được giả định là có thật, trở nên vô ích trong việc thu hút và cầm giữ; và đây là bước đầu tiên, từ giới thứ tư, đi vào giới thứ năm.

2. To give such practical instruction as will enable the aspirant to—

2. Đưa ra những huấn thị thực tiễn giúp người chí nguyện có thể—

a. Understand his own nature. This involves some knowledge of the teaching of the past as to the constitution of man and an appreciation of the interpretations of modern Eastern and Western investigators.

a. Thấu hiểu bản chất của chính mình. Điều này bao hàm một ít tri thức về giáo huấn quá khứ liên quan đến cấu tạo của con người, và sự đánh giá đúng các diễn giải của những nhà khảo cứu hiện đại ở Đông phương và Tây phương.

b. Control the forces of his own nature and learn something of the forces with which he is surrounded.

b. Kiểm soát các mãnh lực thuộc bản chất của chính mình, và học biết đôi chút về các mãnh lực bao quanh y.

c. Enable him so to unfold his latent powers that he can deal with his own specific problems, stand on his own feet, handle his own life, solve his [56] own difficulties and become so strong and poised in spirit that he forces recognition of his fitness to be recognized as a worker in the plan of evolution, as a white magician, and as one of that band of consecrated disciples whom we call the “hierarchy of our planet”.

c. Giúp y khai mở những quyền năng tiềm tàng của mình đến mức y có thể xử lý các vấn đề riêng biệt của chính mình, tự đứng vững trên đôi chân của mình, điều khiển đời sống của mình, giải quyết [56] những khó khăn của mình, và trở nên mạnh mẽ, quân bình trong tinh thần đến mức y buộc người ta phải công nhận sự thích hợp của y để được nhận biết như một người hoạt động trong Thiên Cơ tiến hoá, như một nhà huyền thuật chánh đạo, và như một thành viên của đoàn thể các đệ tử thánh hiến mà chúng ta gọi là “Thánh đoàn của hành tinh chúng ta”.

Students of these matters are therefore begged to extend their concept of that hierarchy of souls so that they include all the exoteric fields of human life (political, social, economic, and religious). They are begged not to narrow down the concept as so many do, to only those who have brought their own little particular organisation into being, or to those who are working purely on the subjective side of life, and along what are reoognised by the conservative as the so-called religious or spiritual lines. All that tends to lift the status of humanity on any plane of manifestation is religious work and has a spiritual goal, for matter is but spirit on the lowest plane, and spirit, we are told, is but matter on the highest. All is spirit and these differentiations are but the products of the finite mind. Therefore, all workers and knowers of God in or out of fleshly bodies, and working in any field of divine manifestation form part of the planetary hierarchy and are integral units in that great cloud of witnesses who are the “onlookers and observers”. They possess the power of spiritual insight or perception as well as objective or physical vision.

Vì vậy, các đạo sinh về những vấn đề này được khẩn thiết yêu cầu mở rộng quan niệm của mình về Thánh đoàn các linh hồn ấy, để họ bao gồm tất cả các lĩnh vực ngoại môn của đời sống nhân loại: chính trị, xã hội, kinh tế và tôn giáo. Họ được khẩn thiết yêu cầu đừng thu hẹp quan niệm ấy, như rất nhiều người vẫn làm, vào chỉ những ai đã tạo lập một tổ chức nhỏ bé riêng biệt của mình, hay vào những ai làm việc thuần túy ở mặt chủ quan của đời sống, và theo những đường lối mà người bảo thủ công nhận là những đường lối được gọi là tôn giáo hay tinh thần. Tất cả những gì có khuynh hướng nâng cao địa vị của nhân loại trên bất cứ cõi biểu hiện nào đều là công việc tôn giáo và có mục tiêu tinh thần; vì vật chất chỉ là tinh thần trên cõi thấp nhất, và tinh thần, như chúng ta được dạy, chỉ là vật chất trên cõi cao nhất. Tất cả đều là tinh thần, và những biến phân này chỉ là sản phẩm của thể trí hữu hạn. Vì vậy, tất cả những người hoạt động và những thức giả của Thượng đế, dù ở trong hay ngoài thân xác bằng thịt, và đang làm việc trong bất cứ lĩnh vực biểu hiện thiêng liêng nào, đều là một phần của Thánh đoàn hành tinh và là những đơn vị toàn vẹn trong đám mây lớn gồm các chứng nhân, những “người đứng nhìn và quan sát”. Họ có quyền năng của tuệ kiến hay tri giác tinh thần, cũng như tầm nhìn khách quan hay hồng trần.

In studying Rule I we could summarize it simply yet profoundly under the following words: —

Khi nghiên cứu Quy Luật I, chúng ta có thể tóm lược nó một cách đơn giản nhưng sâu xa dưới những từ sau: —

1. Egoic Communication.

1. Giao tiếp chân ngã.

2. Cyclic Meditation.

2. Tham thiền theo chu kỳ.

3. Coordination, or At-one-ment.

3. Phối hợp, hay Hợp Nhất.

The rules start off in A Treatise on Cosmic Fire with a brief summary of the process and a statement as to the nature of the white magician.[57]

Các quy luật khởi đầu trong Luận về Lửa Vũ Trụ bằng một bản tóm lược ngắn gọn về tiến trình và một phát biểu về bản chất của nhà huyền thuật chánh đạo.[57]

I would like in this first consideration of our subject to enumerate briefly the facts given in the commentary so as to demonstrate to the aspirant how much is given him for his consideration and helping if he knows how to read and ponder upon that which he reads. The brief exegesis of Rule I gives the following statements:

Trong lần xem xét đầu tiên này về chủ đề của chúng ta, tôi muốn liệt kê vắn tắt những sự kiện được đưa ra trong phần bình giải, để chứng minh cho người chí nguyện thấy y đã được trao cho biết bao điều để suy xét và trợ giúp, nếu y biết cách đọc và suy ngẫm về điều mình đọc. Phần chú giải ngắn của Quy Luật I đưa ra những phát biểu sau:

1. The white magician is one who is in touch with his soul.

1. Nhà huyền thuật chánh đạo là người tiếp xúc với linh hồn của mình.

2. He is receptive to and aware of the purpose and the plan of his soul.

2. Y tiếp nhận và nhận biết mục đích cùng Thiên Cơ của linh hồn mình.

3. He is capable of receiving impressions from the realm of spirit and of registering them in his physical brain.

3. Y có khả năng tiếp nhận các ấn tượng từ cõi tinh thần và ghi nhận chúng trong bộ não hồng trần của mình.

4. It is stated also that white magic—

4. Cũng có phát biểu rằng Chánh Thuật—

a. Works from above downwards.

a. Hoạt động từ trên xuống dưới.

b. Is the result of solar vibration, and therefore of egoic energy.

b. Là kết quả của rung động thái dương, và do đó của năng lượng chân ngã.

c. Is not an effect of the vibration of the form side of life, being divorced from emotion and mental impulse.

c. Không phải là hiệu quả của rung động thuộc phía hình tướng của đời sống, vì tách khỏi cảm xúc và xung lực trí tuệ.

5. The downflow of energy from the soul is the result of

5. Dòng năng lượng tuôn xuống từ linh hồn là kết quả của

a. Constant internal re-collectedness.

a. Sự hồi tâm nội tại liên tục.

b. Concentrated one-pointed communication by the soul with the mind and the brain.

b. Sự giao tiếp tập trung, nhất tâm, của linh hồn với thể trí và bộ não.

c. Steady meditation upon the plan of evolution.

c. Sự tham thiền đều đặn về Thiên Cơ tiến hoá.

6. The soul is, therefore, in deep meditation during the whole cycle of physical incarnation, which is all that concerns the student here.

6. Vì vậy, linh hồn ở trong tham thiền sâu suốt toàn bộ chu kỳ lâm phàm hồng trần, và đây là tất cả những gì liên hệ đến đạo sinh ở đây.

7. This meditation is rhythmic and cyclic in nature as is all else in the cosmos. The soul breathes and its form lives thereby.

7. Sự tham thiền này có bản chất nhịp nhàng và theo chu kỳ, như mọi điều khác trong vũ trụ. Linh hồn thở, và nhờ đó hình tướng của nó sống.

8. When the communication between the soul and its instrument is conscious and steady, the man becomes a white magician.

8. Khi sự giao tiếp giữa linh hồn và khí cụ của nó trở nên hữu thức và đều đặn, con người trở thành một nhà huyền thuật chánh đạo.

9. Therefore workers in white magic are invariably, and through the very nature of things, advanced human beings, for it takes many cycles of lives to train a magician.

9. Vì vậy, những người hoạt động trong Chánh Thuật luôn luôn, và do chính bản chất của sự việc, là những con người tiến bộ, vì phải mất nhiều chu kỳ sống mới huấn luyện được một nhà huyền thuật.

10. The soul dominates its form through the medium of the sutratma or life thread, and (through it) vitalises its triple instrument (mental, emotional and physical) and thus sets up a communication with the [58] brain. Through the brain, consciously controlled, the man is galvanised into intelligent activity on the physical plane.

10. Linh hồn làm chủ hình tướng của mình qua trung gian của sinh mệnh tuyến, hay Sợi dây Sự Sống, và nhờ đó tiếp sinh lực cho khí cụ tam phân của nó, tức thể trí, thể cảm xúc và thể xác; như vậy thiết lập một sự giao tiếp với [58] bộ não. Qua bộ não được kiểm soát một cách hữu thức, con người được kích hoạt vào hoạt động thông minh trên cõi hồng trần.

The above is a brief analysis of the first rule for magic and I would like to suggest that in the future as the students meditate on the rules that they make such an analysis themselves. If they do this during their consideration of each rule they will approach the whole matter with greater interest and knowledge. They will also save themselves much looking back and reference.

Trên đây là một phân tích ngắn về quy luật thứ nhất dành cho huyền thuật, và tôi muốn đề nghị rằng trong tương lai, khi các đạo sinh tham thiền về các quy luật, họ hãy tự mình thực hiện một phân tích như thế. Nếu họ làm điều này trong khi xem xét từng quy luật, họ sẽ tiếp cận toàn bộ vấn đề với sự quan tâm và tri thức lớn hơn. Họ cũng sẽ tránh được nhiều việc phải quay lại và tra cứu.

It will be seen from a consideration of the above analysis that a very clear summation is given and that the student is started in his study of magic with a brief understanding of the past situation, his equipment and the method of approach. Let us realize from the start the simplicity of the idea intended to be conveyed by my remarks hitherto. Just as in the past the instrument and its relation to the outer world has been the paramount fact in the experience of the spiritual man, so now it is possible for a readjustment to take place wherein the outstanding fact will be the spiritual man, the solar angel or soul. It will also be realised that his relationship (through the form side) will be to the inner as well as the outer worlds. Man has included in his relation only the form side of the field of average human evolution.

Từ việc xem xét phân tích trên, người ta sẽ thấy rằng một bản tổng kết rất rõ ràng đã được đưa ra, và đạo sinh được khởi đầu việc nghiên cứu huyền thuật với một sự thấu hiểu ngắn gọn về tình trạng quá khứ, trang bị của y và phương pháp tiếp cận. Ngay từ đầu, chúng ta hãy nhận ra tính đơn giản của ý tưởng mà những nhận xét của tôi từ trước đến nay muốn truyền đạt. Cũng như trong quá khứ khí cụ và mối liên hệ của nó với thế giới bên ngoài là sự kiện tối quan trọng trong kinh nghiệm của con người tinh thần, thì nay một sự điều chỉnh lại có thể diễn ra, trong đó sự kiện nổi bật sẽ là con người tinh thần, Thái dương Thiên Thần hay linh hồn. Người ta cũng sẽ nhận ra rằng mối liên hệ của y, thông qua phía hình tướng, sẽ hướng đến các thế giới bên trong cũng như bên ngoài. Con người chỉ mới bao gồm trong mối liên hệ của mình phía hình tướng của trường tiến hoá nhân loại trung bình.

He has used it and has been dominated by it. He has also suffered from it and consequently in time revolted, through utter satiety, from all that pertains to the material world. Dissatisfaction, disgust, distaste, and a deep fatigue are characteristic very frequently of those who are on the verge of discipleship. For what is a disciple? He is one who seeks to learn a new rhythm, to enter a new field of experience, and to follow the steps of that advanced humanity who have trodden ahead of him the path, leading from darkness to light, from the unreal to the real. He has tasted the joys of life in the [59] world of illusion and has learnt their powerlessness to satisfy and hold him. Now he is in a state of transition between the new and the old states of being. He is vibrating between the condition of soul awareness and form awareness. He is “seeing double”.

Y đã sử dụng nó và đã bị nó chi phối. Y cũng đã chịu đau khổ vì nó, và do đó, theo thời gian, qua sự no chán hoàn toàn, đã nổi dậy chống lại tất cả những gì thuộc về thế giới vật chất. Sự bất mãn, ghê chán, chán ngấy và một mệt mỏi sâu xa rất thường là đặc trưng của những ai đang ở ngưỡng cửa địa vị đệ tử. Vì đệ tử là gì? Y là người tìm cách học một nhịp điệu mới, bước vào một trường kinh nghiệm mới, và đi theo bước chân của nhân loại tiến bộ đã đi trước y trên con đường dẫn từ bóng tối đến ánh sáng, từ điều không thật đến điều thật. Y đã nếm trải những niềm vui của đời sống trong [59] thế giới ảo tưởng, và đã học biết sự bất lực của chúng trong việc thỏa mãn và cầm giữ y. Nay y đang ở trong một trạng thái chuyển tiếp giữa các trạng thái hiện tồn mới và cũ. Y rung động giữa tình trạng nhận biết linh hồn và nhận biết hình tướng. Y đang “nhìn đôi”.

His spiritual perception grows slowly and surely as the brain becomes capable of illumination from the soul, via the mind. As the intuition develops, the radius of awareness grows and new fields of knowledge unfold.

Tri giác tinh thần của y tăng trưởng chậm rãi và chắc chắn khi bộ não trở nên có khả năng nhận sự soi sáng từ linh hồn, qua thể trí. Khi trực giác phát triển, bán kính nhận biết tăng lên và những lĩnh vực tri thức mới khai mở.

The first field of knowledge receiving illumination might be described as comprising the totality of forms to be found in the three worlds of human endeavour, etheric, astral and mental. The would-be disciple, through this process, becomes aware of his lower nature and begins to realize the extent of his imprisonment and (as Patanjali puts it) “the modifications of the versatile psychic nature.” The hindrances to achievement and the obstacles to progress are revealed to him and his problem becomes specific. Frequently then he reaches the position in which Arjuna found himself, confronted by enemies who are those of his own household, confused as to his duty and discouraged as he seeks to balance himself between the pairs of opposites. His prayer then should be the famous prayer of India, uttered by the heart, comprehended by the head, and supplemented by an ardent life of service to humanity.

Lĩnh vực tri thức đầu tiên nhận được sự soi sáng có thể được mô tả là bao gồm toàn thể các hình tướng có trong ba cõi giới của nỗ lực nhân loại: dĩ thái, cảm dục và trí tuệ. Qua tiến trình này, người muốn làm đệ tử trở nên nhận biết bản chất thấp của mình và bắt đầu nhận ra mức độ giam hãm của mình, cũng như “những biến thái của bản chất thông linh linh hoạt”, như Patanjali diễn đạt. Những chướng ngại đối với thành tựu và những vật cản đối với tiến bộ được mặc khải cho y, và vấn đề của y trở nên cụ thể. Khi đó, y thường đạt đến vị thế mà Arjuna đã gặp: đối diện với những kẻ thù vốn là người trong chính nhà mình, bối rối về bổn phận và nản lòng khi tìm cách giữ quân bình giữa các cặp đối cực. Bấy giờ lời cầu nguyện của y nên là lời cầu nguyện nổi tiếng của Ấn Độ, được thốt ra bằng trái tim, được thấu hiểu bằng đầu óc, và được bổ sung bằng một đời sống phụng sự nhân loại nồng nhiệt.

“Unveil to us the face of the true spiritual sun,

“Xin vén mở cho chúng con khuôn mặt của mặt trời tinh thần chân thật,

Hidden by a disk of golden light,

Đang bị che khuất bởi một đĩa ánh sáng vàng,

That we may know the truth and do our whole duty

Để chúng con có thể biết chân lý và làm trọn bổn phận của mình

As we journey to Thy sacred feet.”

Khi chúng con hành trình đến đôi chân thiêng liêng của Ngài.”

As he perseveres and struggles, surmounts his problems and brings his desires and thoughts under control, the second field of knowledge is revealed—knowledge of the self in the spiritual body, knowledge of the ego as it expresses itself through the medium of the causal body, [60] the Karana Sarira, and awareness of that source of spiritual energy which is the motivating impulse behind the lower manifestation. The “disk of golden light” is pierced; the true sun is seen; the path is found and the aspirant struggles forward into ever clearer light.

Khi y kiên trì và tranh đấu, vượt qua các vấn đề của mình và đưa những ham muốn cùng tư tưởng của mình vào vòng kiểm soát, lĩnh vực tri thức thứ hai được mặc khải — tri thức về bản ngã trong thể tinh thần, tri thức về chân ngã khi nó biểu lộ qua trung gian của thể nguyên nhân, [60] và sự nhận biết về nguồn năng lượng tinh thần là xung lực thúc đẩy đằng sau sự biểu hiện thấp. “Đĩa ánh sáng vàng” bị xuyên thủng; mặt trời chân thật được nhìn thấy; con đường được tìm ra và người chí nguyện phấn đấu tiến tới trong ánh sáng ngày càng rõ ràng hơn.

As the knowledge of the self and as the consciousness of that which the self sees, hears, knows and contacts is stabilized, the Master is found; his group of disciples is contacted; the plan for the immediate share of work he must assume is realized and gradually worked out on the physical plane. Thus the activity of the lower nature decreases, and the man little by little enters into conscious contact with his Master and his group. But this follows upon the “lighting of the lamp”—the aligning of the lower and higher and the downflow of illumination to the brain.

Khi tri thức về bản ngã và tâm thức về những gì bản ngã thấy, nghe, biết và tiếp xúc được ổn định, Chân sư được tìm thấy; nhóm đệ tử của Ngài được tiếp xúc; Thiên Cơ cho phần công việc trước mắt mà y phải đảm nhận được nhận ra và dần dần được thực hiện trên cõi hồng trần. Như vậy hoạt động của bản chất thấp giảm dần, và con người từng chút một bước vào sự tiếp xúc hữu thức với Chân sư của mình và nhóm của Ngài. Nhưng điều này theo sau “việc thắp sáng ngọn đèn” — tức sự chỉnh hợp của cái thấp và cái cao, cùng dòng soi sáng tuôn xuống bộ não.

It is essential that these points should be grasped and studied by all aspirants so that they may take the needed steps and develop the desired awareness. Until this is done, the Master, no matter how willing He may be, is powerless, and can take no steps to admit a man to His group and thus take him into His auric influence, making him an outpost of His consciousness. Every step of the way has to be carried out by a man himself, and there is no short or easy road out of darkness into light.

Điều thiết yếu là mọi người chí nguyện phải nắm bắt và nghiên cứu những điểm này, để họ có thể thực hiện các bước cần thiết và phát triển sự nhận biết mong muốn. Cho đến khi điều này được thực hiện, Chân sư, dù Ngài có thiện chí đến đâu, cũng bất lực và không thể thực hiện bước nào để thu nhận một người vào nhóm của Ngài, và như vậy đưa y vào ảnh hưởng hào quang của Ngài, khiến y trở thành một tiền đồn của tâm thức Ngài. Mỗi bước trên đường đều phải do chính con người thực hiện, và không có con đường ngắn hay dễ dàng nào ra khỏi bóng tối để đi vào ánh sáng.

The Way of the Disciple

The white magician is ever one who, through conscious alignment with his ego, with his “angel”, is receptive to his plans and purposes, and therefore capable of receiving the higher impression. We must remember that while magic works from above downwards, and is the result of solar vibration, and not the impulses emanating from one or the other of the lunar pitris, the downflow of the impressing energy from the solar pitri is the result of his internal recollectedness, the indrawing of his [61] forces, prior to sending them concentratedly to his shadow, man, and his steady meditation upon the purpose and the plan. It may be of use to the student if he here remembers that the ego (as well as the Logos) is in deep meditation during the whole cycle of physical incarnation. This meditation is cyclic in nature, the pitri involved sending out to his “reflection” rhythmic streams of energy, which streams are recognised by the man concerned as his “high impulses,” his dreams and aspirations. Therefore, it will be apparent why workers in white magic are ever advanced and spiritual men, for the “reflection” is seldom responsive to the ego or the solar angel until many cycles of incarnation have transpired. The solar pitri communicates with his “shadow” or reflection by means of the sutratma, which passes down through the bodies to a point of entrance in the physical brain, if I might so express it, but the man, as yet, cannot focus or see clearly in any direction.

Nhà huyền thuật chánh đạo luôn là người, nhờ sự chỉnh hợp hữu thức với chân ngã của mình, với “thiên thần” của mình, mà tiếp nhận các Thiên Cơ và mục đích của nó, và do đó có khả năng tiếp nhận ấn tượng cao hơn. Chúng ta phải nhớ rằng, dù huyền thuật hoạt động từ trên xuống dưới, và là kết quả của rung động thái dương chứ không phải các xung lực phát xuất từ một hay một nhóm thái âm tổ phụ nào đó, dòng năng lượng gây ấn tượng tuôn xuống từ thái dương tổ phụ là kết quả của sự hồi tâm nội tại của y, của việc thu vào các [61] mãnh lực của y trước khi gửi chúng một cách tập trung đến cái bóng của y, tức con người, và của sự tham thiền đều đặn của y về mục đích và Thiên Cơ. Có thể hữu ích cho đạo sinh nếu ở đây y nhớ rằng chân ngã, cũng như Thượng đế, ở trong tham thiền sâu suốt toàn bộ chu kỳ lâm phàm hồng trần. Sự tham thiền này có bản chất theo chu kỳ, vị tổ phụ liên hệ gửi đến “phản ảnh” của mình những dòng năng lượng nhịp nhàng, và những dòng này được con người liên hệ nhận biết như “các xung lực cao” của mình, các giấc mơ và khát vọng của mình. Vì vậy, sẽ thấy rõ vì sao những người hoạt động trong Chánh Thuật luôn là những người tiến bộ và tinh thần, bởi “phản ảnh” hiếm khi đáp ứng với chân ngã hay Thái dương Thiên Thần cho đến khi nhiều chu kỳ lâm phàm đã trôi qua. Thái dương tổ phụ giao tiếp với “cái bóng” hay phản ảnh của mình bằng sinh mệnh tuyến, vốn đi xuống xuyên qua các thể đến một điểm vào trong bộ não hồng trần, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy; nhưng con người, cho đến lúc này, vẫn chưa thể tập trung hay nhìn rõ theo bất cứ hướng nào.

If he looks backward he can see only the fogs and miasmas of the planes of illusion, and fails to be interested. If he looks forward he sees a distant light which attracts him, but he cannot as yet see that which the light reveals. If he looks around, he sees but shifting forms and the cinematograph of the form side of life. If he looks within, he sees the shadows cast by the light, and becomes aware of much impedimenta which must be discarded before the light he sees in the distance can be approached, and then enter within him. Then he can know himself as light itself, and walk in that light and transmit it likewise to others.

Nếu y nhìn về phía sau, y chỉ có thể thấy những màn sương và khí độc của các cõi ảo tưởng, và không còn hứng thú. Nếu y nhìn về phía trước, y thấy một ánh sáng xa xăm thu hút y, nhưng y chưa thể thấy điều mà ánh sáng ấy mặc khải. Nếu y nhìn chung quanh, y chỉ thấy những hình tướng biến dịch và cuộn phim của phía hình tướng của đời sống. Nếu y nhìn vào bên trong, y thấy những bóng đổ do ánh sáng tạo ra, và nhận biết nhiều trở ngại phải được loại bỏ trước khi ánh sáng y thấy ở xa có thể được tiếp cận, rồi đi vào trong y. Khi ấy y có thể biết mình chính là ánh sáng, bước đi trong ánh sáng ấy và cũng truyền nó cho người khác.

It is perhaps well to remember that the stage of discipleship is in many ways the most difficult part of the entire ladder of evolution. The solar angel is unceasingly in deep meditation. The impulses of energy, emanating from him are increasing in vibratory rate and are becoming more and more powerful. The energy is [62] affecting more and more the forms through which the soul is seeking expression, and endeavouring to control.

Có lẽ nên nhớ rằng giai đoạn địa vị đệ tử, theo nhiều cách, là phần khó khăn nhất của toàn bộ nấc thang tiến hoá. Thái dương Thiên Thần không ngừng ở trong tham thiền sâu. Các xung lực năng lượng phát xuất từ y đang gia tăng tốc độ rung động và ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn. Năng lượng ấy [62] ngày càng tác động nhiều hơn đến các hình tướng qua đó linh hồn đang tìm cách biểu lộ và nỗ lực kiểm soát.

This brings me to the consideration of the seventh point I made in my earlier analysis of Rule I. I said, “The soul’s meditation is rhythmic and cyclic in its nature as is all else in the cosmos. The soul breathes and its form lives thereby”. The rhythmic nature of the soul’s meditation must not be overlooked in the life of the aspirant. There is an ebb and flow in all nature, and in the tides of the ocean we have a wonderful picturing of an eternal law. As the aspirant adjusts himself to the tides of the soul life he begins to realise that there is ever a flowing in, a vitalising and a stimulating which is followed by a flowing out as sure and as inevitable as the immutable laws of force. This ebb and flow can be seen functioning in the processes of death and incarnation. It can be seen also over the entire process of a man’s lives, for some lives can be seen to be apparently static and uneventful, slow and inert from the angle of the soul’s experience, whilst others are vibrant, full of experience and of growth. This should be remembered by all of you who are workers when you are seeking to help others to live rightly. Are they on the ebb or are they being subjected to the flow of the soul energy? Are they passing through a period of temporary quiescence, preparatory to greater impulse and effort, so that the work to be done must be that of strengthening and stabilising in order to enable them to “stand in spiritual being”, or are they being subjected to a cyclic inflow of forces? In this case the worker must seek to aid in the direction and utilisation of the energy which (if misdirected) will eventuate in wrecked lives but which when wisely utilised will produce a full and fruitful service.

Điều này đưa tôi đến việc xem xét điểm thứ bảy mà tôi đã nêu trong phân tích trước đây về Quy Luật I. Tôi đã nói: “Sự tham thiền của linh hồn có bản chất nhịp nhàng và theo chu kỳ, như mọi điều khác trong vũ trụ. Linh hồn thở, và nhờ đó hình tướng của nó sống”. Bản chất nhịp nhàng của sự tham thiền của linh hồn không được bỏ qua trong đời sống của người chí nguyện. Trong toàn thể thiên nhiên có sự lên xuống, và trong thủy triều của đại dương, chúng ta có một hình ảnh kỳ diệu về một định luật vĩnh cửu. Khi người chí nguyện tự điều chỉnh theo thủy triều của đời sống linh hồn, y bắt đầu nhận ra rằng luôn có một dòng chảy vào, một sự tiếp sinh lực và kích thích, rồi sau đó là một dòng chảy ra chắc chắn và tất yếu như các định luật bất biến của mãnh lực. Sự lên xuống này có thể được thấy đang vận hành trong các tiến trình của sự chết và lâm phàm. Nó cũng có thể được thấy trong toàn bộ tiến trình các kiếp sống của một con người; vì có những kiếp sống dường như tĩnh tại và không biến cố, chậm chạp và trì trệ xét từ góc độ kinh nghiệm của linh hồn, trong khi những kiếp khác thì rung động mạnh, đầy kinh nghiệm và tăng trưởng. Tất cả các bạn là những người hoạt động nên nhớ điều này khi tìm cách giúp người khác sống đúng. Họ đang ở thời kỳ suy triều hay đang chịu tác động của dòng chảy năng lượng linh hồn? Họ đang trải qua một giai đoạn tạm thời yên lặng, chuẩn bị cho một xung lực và nỗ lực lớn hơn, để công việc cần làm phải là củng cố và ổn định nhằm giúp họ “đứng vững trong hiện tồn tinh thần”; hay họ đang chịu tác động của một dòng mãnh lực tuôn vào theo chu kỳ? Trong trường hợp này, người hoạt động phải tìm cách trợ giúp trong việc định hướng và sử dụng năng lượng ấy; nếu bị hướng sai, nó sẽ dẫn đến những đời sống đổ vỡ, nhưng khi được sử dụng khôn ngoan, nó sẽ tạo ra một sự phụng sự đầy đủ và phong phú.

The above thoughts can also be applied by the student of humanity to the great racial cycles and much of interest will be discovered. Again, and of more vital importance [63] to us, these cyclic impulses in the life of the disciple are of a greater frequency and speed and forcefulness than in the life of the average man. They alternate with a distressing rapidity. The hill and valley experience of the mystic is but one way of expressing this ebb and flow. Sometimes the disciple is walking in the sunlight and at other times in the dark; sometimes he knows the joy of full communion and again all seems dull and sterile; his service is on occasion a fruitful and satisfying experience and he seems to be able to really aid; at other times he feels that he has naught to offer and his service is arid and apparently without results. All is clear to him some days and he seems to stand on the mountain top looking out over a sunlit landscape, where all is clear to his vision. He knows and feels himself to be a son of God. Later, however, the clouds seem to descend and he is sure of nothing, and seems to know nothing. He walks in the sunlight and is almost overpowered by the brilliance and heat of the solar rays, and wonders how long this uneven experience and the violent alternation of these opposites is to go on.

Những tư tưởng trên cũng có thể được đạo sinh về nhân loại áp dụng vào các đại chu kỳ nhân loại, và nhiều điều thú vị sẽ được khám phá. Một lần nữa, và có tầm quan trọng thiết yếu hơn [63] đối với chúng ta, những xung lực theo chu kỳ này trong đời sống của người đệ tử có tần suất, tốc độ và sức mạnh lớn hơn trong đời sống của người trung bình. Chúng thay phiên nhau với một sự nhanh chóng gây đau khổ. Kinh nghiệm đỉnh núi và thung lũng của nhà thần bí chỉ là một cách diễn đạt sự lên xuống này. Có lúc người đệ tử bước đi trong ánh mặt trời, và lúc khác trong bóng tối; có lúc y biết niềm hoan hỉ của sự hiệp thông trọn vẹn, rồi lại có lúc tất cả dường như u ám và cằn cỗi; sự phụng sự của y có khi là một kinh nghiệm phong phú và thỏa mãn, và y dường như thật sự có thể trợ giúp; lúc khác, y cảm thấy mình không có gì để hiến dâng, và sự phụng sự của y khô cằn, dường như không có kết quả. Có những ngày mọi sự đều rõ ràng đối với y, và y dường như đứng trên đỉnh núi nhìn ra một phong cảnh ngập nắng, nơi mọi sự đều sáng tỏ trước tầm nhìn của y. Y biết và cảm thấy mình là Con của Thượng đế. Tuy nhiên, về sau, mây dường như kéo xuống, và y không chắc chắn về điều gì, dường như chẳng biết gì. Y bước đi trong ánh mặt trời và gần như bị choáng ngợp bởi vẻ rực rỡ và sức nóng của các tia thái dương, rồi tự hỏi kinh nghiệm không đều này và sự luân phiên dữ dội của các đối cực ấy sẽ còn tiếp diễn bao lâu.

Once however that he grasps the fact he is watching the effect of the cyclic impulses and the effect of the soul’s meditation upon his form nature, the meaning becomes clearer and he realises that it is that form aspect which is failing in its response, and re-acting to energy with unevenness. He then learns that once he can live in the soul consciousness and attain that ‘high altitude’ (if I might so express it) at will, the fluctuations of the form life will not touch him. He then perceives the narrow-edged razor path which leads from the plane of physical life to the soul realm, and finds that when he can tread it with steadiness it leads him out of the ever changing world of the senses into the clear light of day and into the world of reality.

Tuy nhiên, một khi y nắm bắt được sự kiện rằng y đang quan sát hiệu quả của các xung lực theo chu kỳ và hiệu quả của sự tham thiền của linh hồn trên bản chất hình tướng của mình, ý nghĩa trở nên rõ ràng hơn; và y nhận ra rằng chính phương diện hình tướng ấy đang thất bại trong sự đáp ứng của nó, và đang phản ứng với năng lượng một cách không đều. Khi đó y học biết rằng một khi y có thể sống trong tâm thức linh hồn và đạt đến “độ cao” ấy theo ý muốn, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy, những dao động của đời sống hình tướng sẽ không chạm đến y. Khi đó y nhận ra con đường lưỡi dao hẹp dẫn từ cõi đời sống hồng trần đến cõi giới linh hồn, và thấy rằng khi y có thể bước trên đó một cách vững vàng, nó dẫn y ra khỏi thế giới giác quan luôn biến đổi để đi vào ánh sáng ban ngày trong trẻo và vào thế giới của thực tại.

The form side of life then becomes to him simply a [64] field for service and not a field of sensuous perception. Let the student ponder upon this last sentence. Let him aim to live as a soul. Then the cyclic impulses, emanating from the soul, are known to be impulses for which he himself is responsible and which he has sent forth; he then knows himself to be the initiating cause and is not subject to the effects.

Khi ấy, phía hình tướng của đời sống đối với y chỉ còn là một [64] lĩnh vực để phụng sự, chứ không phải là một lĩnh vực của tri giác cảm quan. Hãy để đạo sinh suy ngẫm về câu cuối này. Hãy để y nhắm đến việc sống như một linh hồn. Khi đó các xung lực theo chu kỳ phát xuất từ linh hồn được nhận biết là những xung lực mà chính y chịu trách nhiệm và đã gửi ra; bấy giờ y biết mình là nguyên nhân khởi phát và không còn lệ thuộc vào các hiệu quả.

Looked at from another angle we get two factors, the breath and the form which the breath energises and drives into activity. Upon careful study, it becomes apparent that we have, for aeons of time, identified ourselves with the form; we have emphasised the effects of the imparted activity but have not understood the nature of the breath, nor known the nature of the One who breathes. Now in our work we are concerning ourselves with that One Who, breathing rhythmically, will drive the form into right action and right control. This is our objective and our goal. A right understanding is necessary nevertheless if we are to appreciate intelligently our task and its effects.

Nhìn từ một góc độ khác, chúng ta có hai yếu tố: hơi thở và hình tướng mà hơi thở tiếp năng lượng và thúc đẩy vào hoạt động. Khi nghiên cứu kỹ, điều trở nên hiển nhiên là qua vô số thời đại, chúng ta đã đồng hoá mình với hình tướng; chúng ta đã nhấn mạnh các hiệu quả của hoạt động được truyền vào nhưng chưa thấu hiểu bản chất của hơi thở, cũng chưa biết bản chất của Đấng đang thở. Nay trong công việc của mình, chúng ta đang liên hệ đến Đấng ấy, Đấng khi thở một cách nhịp nhàng sẽ thúc đẩy hình tướng vào hành động đúng và sự kiểm soát đúng. Đây là mục tiêu và đích đến của chúng ta. Tuy nhiên, một sự thấu hiểu đúng là cần thiết nếu chúng ta muốn đánh giá một cách thông minh nhiệm vụ của mình và các hiệu quả của nó.

Much more could be said on this rule but enough has been here given for the average applicant to discipleship to consider and upon which to base action. Most of us are average, are we not? If we regard ourselves otherwise, we divorce ourselves from others and become guilty of the sin of separateness—the one real sin.

Có thể nói thêm rất nhiều về quy luật này, nhưng những gì đã được đưa ra ở đây là đủ để người xin vào địa vị đệ tử ở mức trung bình xem xét và dựa vào đó mà hành động. Phần lớn chúng ta đều là người trung bình, phải vậy không? Nếu chúng ta tự xem mình khác đi, chúng ta tách mình khỏi người khác và phạm vào tội chia rẽ — tội lỗi thật sự duy nhất.

An appreciation of the above thoughts should build in the aspirant a realisation of the value of his meditation work, whilst the idea of a cyclic response to soul impulse lies back of the activities of a morning meditation, a noonday recollection, and an evening review. A larger ebb and flow is also indicated in the two aspects of the full moon and the new moon. Let this be borne in mind.

Sự đánh giá đúng các tư tưởng trên sẽ xây dựng trong người chí nguyện một nhận thức về giá trị của công việc tham thiền của y, trong khi ý tưởng về một sự đáp ứng theo chu kỳ đối với xung lực linh hồn nằm sau các hoạt động của tham thiền buổi sáng, sự hồi tâm giữa trưa, và việc ôn xét buổi tối. Một sự lên xuống rộng lớn hơn cũng được chỉ ra trong hai phương diện của trăng tròn và trăng non. Hãy ghi nhớ điều này.

May there be a full and steady play of cyclic force from the kingdom of spirit upon each one of us calling us forth into the realm of light, love and service and producing [65] a cyclic response from each one! May there be a constant interchange between those who teach and the disciple who seeks instruction!

Cầu mong có sự vận hành đầy đủ và đều đặn của mãnh lực theo chu kỳ từ giới tinh thần tác động lên mỗi người chúng ta, gọi chúng ta tiến vào cõi giới của ánh sáng, tình thương và phụng sự, và tạo ra [65] một sự đáp ứng theo chu kỳ từ mỗi người! Cầu mong có sự trao đổi liên tục giữa những người dạy và người đệ tử tìm cầu huấn thị!

Much preliminary work will have to be done. The disciple on the physical plane and the inner teacher (whether one of the Great Ones or the “Master within the Heart”) need to know each other somewhat, and to accustom themselves to each other’s vibration. Teachers on the inner planes have much to contend with owing to the slowness of the mental processes of students in physical bodies. But confidence and trust will set up the right vibration which will produce eventually accurate work. Lack of faith, of calmness, of application, and the presence of emotional unrest will hinder. Long patience those on the inner side need in dealing with all who must, for lack of other and better material, be utilized. Some physical injudiciousness may make the physical body non-receptive; some worry or care may cause the astral body to vibrate to a rhythm impossible for the right reception of the inner purpose; some prejudice, some criticism, some pride, may be present that will make the mental vehicle of no use. Aspirants to this difficult work must watch themselves with infinite care, and keep the inner serenity and peace and a mental pliability that will tend to make them of some use in the guarding and guiding of humanity.

Nhiều công việc sơ bộ sẽ phải được thực hiện. Người đệ tử trên cõi hồng trần và huấn sư bên trong, dù là một trong Các Đấng Cao Cả hay “Chân sư trong Tim”, cần biết nhau phần nào, và tập quen với rung động của nhau. Các huấn sư trên các cõi bên trong phải đối phó với nhiều điều do sự chậm chạp của các tiến trình trí tuệ nơi các đạo sinh trong thân xác hồng trần. Nhưng lòng tin và sự tín nhiệm sẽ thiết lập rung động đúng, cuối cùng tạo ra công việc chính xác. Thiếu đức tin, thiếu sự điềm tĩnh, thiếu chuyên cần, và sự hiện diện của bất ổn cảm xúc sẽ cản trở. Những vị ở phía bên trong cần có sự kiên nhẫn lâu dài khi đề cập đến tất cả những ai, vì thiếu chất liệu khác và tốt hơn, phải được sử dụng. Một chút thiếu khôn ngoan về hồng trần có thể làm cho thể xác không tiếp nhận; một lo âu hay bận tâm nào đó có thể khiến thể cảm dục rung theo một nhịp điệu không thể tiếp nhận đúng mục đích bên trong; một định kiến, một sự phê bình, một lòng kiêu hãnh nào đó có thể hiện diện, khiến hiện thể trí tuệ trở nên vô dụng. Những người chí nguyện với công việc khó khăn này phải tự quan sát mình với sự cẩn trọng vô hạn, và giữ sự tĩnh lặng cùng an bình bên trong, cũng như một sự mềm dẻo trí tuệ có khuynh hướng khiến họ phần nào hữu dụng trong việc gìn giữ và dẫn dắt nhân loại.

The following rules might therefore be given:

Vì vậy, có thể đưa ra các quy luật sau:

1. It is essential that there should be an endeavor to arrive at absolute purity of motive.

1. Điều thiết yếu là phải có nỗ lực đạt đến sự thuần khiết tuyệt đối của động cơ.

2. The ability to enter the silence of the high places will follow next. The stilling of the mind depends upon the law of rhythm. If you are vibrating in many directions and registering thoughts from all sides, this law will be unable to touch you. Balance and poise must be restored before equilibrium can be reached. The law of vibration and the study of atomic substance are closely [66] intertwined. When more is known about these atoms and their action, reaction and inter-action, then people will control their bodies scientifically, synchronizing the laws of vibration and of rhythm. They are the same and yet unlike. They are phases of the law of gravitation. The earth is itself an entity which, by the force of will, holds all things to itself. This is an obscure matter, little has been learned about it as yet. The inbreathing and outbreathing of the entity of the earth affects vibration potently, —that is the vibration of the physical plane matter. There is a connection also between this and the moon. Those members of humanity who are specially under lunar influence respond to this attraction more than any others, and they are difficult to use as transmitters. The silence that comes from the inner calm is the one to cultivate. Aspirants are urged to remember that the time will come when they too will form part of the group of teachers on the inner side of the veil. If then they have not learnt the silence that comes from strength and from knowledge, how will they bear the apparent lack of communication that they will then find exists between them and those on the outer side? Learn therefore, how to keep quiet or usefulness will be hampered by astral fretfulness when on the other side of death.

2. Tiếp theo sẽ là khả năng bước vào sự im lặng của những nơi cao. Việc làm lắng yên thể trí tùy thuộc vào định luật nhịp điệu. Nếu các bạn đang rung động theo nhiều hướng và ghi nhận tư tưởng từ mọi phía, định luật này sẽ không thể chạm đến các bạn. Sự quân bình và ổn định phải được phục hồi trước khi có thể đạt đến thế cân bằng. Định luật rung động và việc nghiên cứu chất liệu nguyên tử có liên hệ [66] mật thiết với nhau. Khi người ta biết nhiều hơn về các nguyên tử này và về tác động, phản tác động cùng tương tác của chúng, bấy giờ con người sẽ kiểm soát các thể của mình một cách khoa học, đồng bộ hóa các định luật rung động và nhịp điệu. Chúng là một mà cũng không giống nhau. Chúng là các giai đoạn của định luật hấp dẫn. Chính Trái Đất là một thực thể, bằng mãnh lực ý chí, giữ mọi sự lại với mình. Đây là một vấn đề mờ tối; cho đến nay người ta mới học biết rất ít về nó. Sự hít vào và thở ra của thực thể Trái Đất tác động mạnh mẽ đến rung động — tức rung động của vật chất cõi hồng trần. Cũng có một mối liên hệ giữa điều này và mặt trăng. Những thành viên của nhân loại đặc biệt chịu ảnh hưởng mặt trăng đáp ứng với sức hút này nhiều hơn bất cứ ai khác, và họ khó được dùng làm những người truyền dẫn. Sự im lặng phát sinh từ sự an tĩnh bên trong là điều cần được vun bồi. Những người chí nguyện được thôi thúc nhớ rằng sẽ đến lúc chính họ cũng sẽ trở thành một phần của nhóm huấn sư ở phía bên trong bức màn. Nếu khi đó họ chưa học được sự im lặng phát sinh từ sức mạnh và tri thức, họ sẽ chịu đựng thế nào sự thiếu giao tiếp bề ngoài mà khi ấy họ sẽ thấy tồn tại giữa họ và những người ở phía bên ngoài? Vì vậy, hãy học cách giữ yên lặng, nếu không sự hữu dụng sẽ bị cản trở bởi sự bồn chồn cảm dục khi ở phía bên kia của sự chết.

3. Remember always that lack of calm in the daily life prevents the teachers on egoic levels from reaching you. Endeavor therefore to remain quiescent as life unrolls, work, toil, strive, aspire, and hold the inner calm. Withdraw steadily into interior work and so cultivate a responsiveness with the higher planes. A perfect steadiness of inner poise is what the Masters need in those whom They seek to use. It is an inner poise that holds to the vision yet does its outer work on the physical plane with a concentrated physical brain attention which is in no way deviated by the inner receptiveness. It involves a dual activity. [67]

3. Hãy luôn nhớ rằng sự thiếu điềm tĩnh trong đời sống hằng ngày ngăn cản các huấn sư trên các cấp độ chân ngã chạm đến các bạn. Vì vậy, hãy cố gắng giữ yên lặng khi đời sống mở ra; hãy làm việc, lao nhọc, phấn đấu, khát vọng, và giữ sự an tĩnh bên trong. Hãy đều đặn rút vào công việc nội tâm và nhờ đó vun bồi sự đáp ứng với các cõi cao hơn. Một sự vững vàng hoàn hảo của thế quân bình bên trong là điều các Chân sư cần nơi những người mà Các Ngài tìm cách sử dụng. Đó là một thế quân bình bên trong vẫn bám giữ tầm nhìn, nhưng đồng thời thực hiện công việc bên ngoài trên cõi hồng trần với sự chú tâm tập trung của bộ não hồng trần, không bị lệch hướng chút nào bởi khả năng tiếp nhận bên trong. Nó bao hàm một hoạt động kép. [67]

4. Learn to control thought. It is necessary to guard what you think. These are days when the race as a whole is becoming sensitive and telepathic and responsive to thought interplay. The time is approaching when thought will become public property, and others will sense what you think. Thought has, therefore, to be carefully guarded. Those who are contacting the higher truths and becoming sensitive to the Universal Mind must protect some of their knowledge from the intrusion of other minds. Aspirants must learn to inhibit certain thoughts, and prevent certain knowledge from leaking out into the public consciousness when in contact with their fellow men.

4. Hãy học kiểm soát tư tưởng. Cần phải canh giữ những gì các bạn nghĩ. Đây là những ngày mà nhân loại nói chung đang trở nên nhạy cảm, có tính viễn cảm và đáp ứng với sự tương tác tư tưởng. Thời điểm đang đến gần khi tư tưởng sẽ trở thành tài sản chung, và người khác sẽ cảm nhận được điều các bạn nghĩ. Vì vậy, tư tưởng phải được canh giữ cẩn thận. Những ai đang tiếp xúc với các chân lý cao hơn và trở nên nhạy cảm với Vũ Trụ Trí phải bảo vệ một phần tri thức của mình khỏi sự xâm nhập của những thể trí khác. Những người chí nguyện phải học cách ngăn giữ một số tư tưởng nhất định, và ngăn không cho một số tri thức rò rỉ vào tâm thức công cộng khi tiếp xúc với đồng loại.

It is of course of vital interest to appreciate the significance of the words “scatters not his force.” There are so many lines of activity into which the soul-inspired disciple may throw himself. Assurance as to varying lines of activity is not easy to reach and every aspirant knows perplexity. Let us put the problem in the form of a question, relegating it to the plane of every-day endeavour, as we are not yet in a position to comprehend in what way a soul can “scatter its forces” on the higher planes.

Dĩ nhiên, việc đánh giá đúng thâm nghĩa của những lời “không phân tán mãnh lực của mình” có tầm quan trọng thiết yếu. Có rất nhiều đường hoạt động mà người đệ tử được linh hồn gợi hứng có thể lao mình vào. Không dễ đạt đến sự chắc chắn về các đường hoạt động khác nhau, và mọi người chí nguyện đều biết sự bối rối. Chúng ta hãy đặt vấn đề dưới dạng một câu hỏi, đưa nó xuống cõi của nỗ lực hằng ngày, vì chúng ta chưa ở trong vị thế để thấu hiểu linh hồn có thể “phân tán các mãnh lực của mình” trên các cõi cao hơn theo cách nào.

What is the criterion whereby a man may know which out of several lines of activity is the right line to take? Is there, in other words, a revealing something which will enable a man unerringly to choose the right action and go the right way? The question has no reference to a choice existing between the path of spiritual endeavour and the way of the man of the world. It refers to right action when faced with a choice.

Đâu là tiêu chuẩn nhờ đó một người có thể biết trong số nhiều đường hoạt động, đâu là đường đúng để theo? Nói cách khác, có điều gì mặc khải giúp con người chọn đúng hành động một cách không sai lầm và đi đúng đường hay không? Câu hỏi này không liên quan đến sự chọn lựa giữa con đường nỗ lực tinh thần và con đường của người thế gian. Nó liên quan đến hành động đúng khi đứng trước một sự chọn lựa.

There is no question but that a man is faced, in his progress, with increasingly subtle distinctions. The crude discrimination between right and wrong which occupies the child soul is succeeded by the finer distinctions of right, or of more right, of high, or higher, and the [68] moral or spiritual values have to be faced with the most meticulous spiritual perception. In the stress and toil of life and in the constant pressure on each one from those who constitute their group, the complexity of the problem is very great.

Không còn nghi vấn gì rằng trong bước tiến của mình, con người phải đối diện với những phân biệt ngày càng tinh tế. Sự phân biện thô sơ giữa đúng và sai, vốn chiếm lĩnh linh hồn non trẻ, được tiếp nối bằng những phân biệt tinh tế hơn về điều đúng, hoặc điều đúng hơn, điều cao, hoặc cao hơn, và các giá trị [68] đạo đức hay tinh thần phải được đối diện bằng nhận thức tinh thần tỉ mỉ nhất. Trong sự căng thẳng và nhọc nhằn của đời sống, và dưới áp lực liên tục đè lên mỗi người từ những người cấu thành nhóm của họ, tính phức tạp của vấn đề trở nên rất lớn.

In solving such problems, certain broad discriminations can precede the more subtle and when these decisions have been made the more subtle can then take their place. The choice between selfish and unselfish action is the most obvious one to follow upon the choice between right and wrong, and is easily settled by the honest soul. A choice which involves discrimination between individual benefit and group responsibility rapidly eliminates other factors, and is easy to the man who shoulders his just responsibility. Note the use of the words “just responsibility.” We are considering the normal, sane man and not the over-conscientious morbid fanatic. There follows next the distinction between the expedient, involving factors of physical plane relations of business and of finance, leading up to a consideration of the highest good for all parties concerned. But having through this triple eliminative process arrived at a certain position, cases arise where choice still remains in which neither common sense nor logical, discerning reason seem to help. The desire is only to do the right thing; the intent is to act in the highest possible way and to take that line of action which will produce the best good of the group apart from personal considerations altogether. Yet light upon the path, which must be trodden, is not seen; the door which should be entered is unrecognized and the man remains in the state of constant indecision. What, then, must be done? One of two things:

Trong việc giải quyết những vấn đề như thế, một vài phân biện rộng lớn có thể đi trước những phân biện tinh tế hơn; và khi các quyết định ấy đã được đưa ra, những phân biện tinh tế hơn bấy giờ có thể chiếm vị trí của mình. Sự lựa chọn giữa hành động ích kỷ và hành động vô ngã là điều hiển nhiên nhất tiếp theo sau sự lựa chọn giữa đúng và sai, và được linh hồn chân thật giải quyết dễ dàng. Một lựa chọn bao hàm sự phân biện giữa lợi ích cá nhân và trách nhiệm nhóm nhanh chóng loại bỏ các yếu tố khác, và trở nên dễ dàng đối với người gánh vác trách nhiệm chính đáng của mình. Hãy lưu ý cách dùng các từ “trách nhiệm chính đáng.” Chúng ta đang xét đến con người bình thường, lành mạnh, chứ không phải kẻ cuồng tín bệnh hoạn và quá khắt khe với lương tâm. Kế đó là sự phân biệt giữa điều quyền nghi, bao hàm các yếu tố của những quan hệ trên cõi hồng trần về công việc và tài chính, dẫn đến việc cân nhắc điều thiện cao nhất cho tất cả các bên liên hệ. Nhưng sau khi, qua tiến trình loại trừ tam phân này, đã đi đến một lập trường nào đó, vẫn nảy sinh những trường hợp trong đó sự lựa chọn còn tồn tại, mà cả lẽ thường lẫn lý trí hợp lý, có phân biện dường như đều không giúp được. Ước muốn chỉ là làm điều đúng; ý định là hành động theo cách cao nhất có thể và chọn đường lối hành động sẽ tạo ra điều thiện tốt nhất cho nhóm, hoàn toàn tách khỏi mọi cân nhắc cá nhân. Tuy vậy, ánh sáng trên Đường Đạo phải bước đi lại không được nhìn thấy; cánh cửa cần bước vào lại không được nhận ra, và con người vẫn ở trong trạng thái do dự liên miên. Vậy phải làm gì? Một trong hai điều:

First the aspirant can follow his inclination and choose that line of action out of the residue of possible lines which seems to him the wisest and the best. This involves belief in the working of the law of Karma and also [69] a demonstration of that firm decisiveness which is the best way in which his personality can learn to abide by the decisions of his own soul. It involves also the ability to go forward upon the grounds of the decision made, and so to abide by the results without forebodings or regrets.

Thứ nhất, người chí nguyện có thể đi theo khuynh hướng của mình và chọn, trong phần còn lại của những đường lối khả hữu, đường lối hành động nào đối với y dường như minh triết nhất và tốt nhất. Điều này bao hàm niềm tin vào sự vận hành của định luật Nghiệp quả, và cũng [69] là một sự biểu lộ của tính quyết đoán vững chắc, vốn là cách tốt nhất để phàm ngã của y học cách tuân theo các quyết định của chính linh hồn mình. Nó cũng bao hàm khả năng tiến tới trên nền tảng của quyết định đã được đưa ra, và như thế chấp nhận các kết quả mà không lo sợ hay hối tiếc.

Secondly, he can wait, resting back upon an inner sense of direction, knowing that in due time he will ascertain, through the closing of all doors but one, which is the way he should go. For there is only one open door through which such a man can go. Intuition is needed for its recognition. In the first case mistakes may be made, and the man thereby learns and is enriched; in the second case, mistakes are impossible and only right action can be taken.

Thứ hai, y có thể chờ đợi, nương tựa vào một cảm thức định hướng bên trong, biết rằng đúng lúc y sẽ xác định được, qua việc mọi cánh cửa đều khép lại ngoại trừ một cánh, đâu là con đường y phải đi. Vì chỉ có một cánh cửa mở qua đó một người như thế có thể đi. Trực giác là cần thiết để nhận ra cánh cửa ấy. Trong trường hợp thứ nhất, sai lầm có thể xảy ra, và nhờ đó con người học hỏi và được làm phong phú; trong trường hợp thứ hai, sai lầm là không thể có, và chỉ hành động đúng mới có thể được thực hiện.

It is obvious, therefore, that all resolves itself into an understanding of one’s place upon the ladder of evolution. Only the highly advanced man can know the times and seasons and can adequately discern the subtle distinction between a psychic inclination and the intuition.

Do đó, rõ ràng là tất cả quy về việc thấu hiểu vị trí của mình trên chiếc thang tiến hoá. Chỉ người rất tiến hoá mới có thể biết thời điểm và chu kỳ, và có thể phân biện đầy đủ sự khác biệt tinh tế giữa một khuynh hướng thông linh và trực giác.

In considering these two ways of ultimate decision let not the man who should use his common sense and take a line of action based upon the use of the concrete mind, practice the higher method of waiting for a door to open. He is expecting too much in the place where he is. He has to learn through right decision and right use of the mind to solve his problems. Through this method he will grow, for the roots of intuitive knowledge are laid deep within the soul and the soul, therefore, must be contacted before the intuition can work. One hint only can here be given: —the intuition ever concerns itself with group activity and not with petty personal affairs. If you are still a man centered in the personality, recognize it, and with the equipment available, govern your actions. If you know yourself to be functioning as a soul and are lost in the interest of others, untrammeled by selfish desire, then [70] your just obligation will be met, your responsibilities shouldered, your group work carried forward, and the way will unfold before you, whilst you do the next thing and fulfill the nest duty. Out of duty, perfectly performed, will emerge those larger duties which we call world work; out of the carrying of family responsibilities will come that strengthening of our shoulders which will enable us to carry those of the larger group. What, then, is the criterion?

Khi xét hai cách quyết định tối hậu này, đừng để người cần dùng lẽ thường của mình và chọn một đường lối hành động dựa trên việc sử dụng trí cụ thể lại thực hành phương pháp cao hơn là chờ một cánh cửa mở ra. Y đang mong đợi quá nhiều ở vị trí hiện tại của mình. Y phải học cách giải quyết các vấn đề của mình qua quyết định đúng và việc sử dụng đúng thể trí. Nhờ phương pháp này y sẽ trưởng thành, vì các rễ của tri thức trực giác được đặt sâu trong linh hồn, và do đó phải tiếp xúc được với linh hồn trước khi trực giác có thể hoạt động. Ở đây chỉ có thể đưa ra một gợi ý: trực giác luôn liên quan đến hoạt động nhóm, chứ không liên quan đến những việc cá nhân nhỏ nhặt. Nếu bạn vẫn là một người tập trung trong phàm ngã, hãy nhận ra điều đó, và với trang bị sẵn có, hãy điều khiển các hành động của mình. Nếu bạn biết mình đang vận hành như một linh hồn và quên mình trong mối quan tâm đến người khác, không bị ham muốn ích kỷ trói buộc, thì [70] nghĩa vụ chính đáng của bạn sẽ được đáp ứng, trách nhiệm của bạn sẽ được gánh vác, công việc nhóm của bạn sẽ được tiến hành, và con đường sẽ khai mở trước bạn, trong khi bạn làm điều kế tiếp và chu toàn bổn phận kế tiếp. Từ bổn phận được thực hiện một cách hoàn hảo sẽ nảy sinh những bổn phận lớn lao hơn mà chúng ta gọi là công việc thế giới; từ việc gánh vác trách nhiệm gia đình sẽ đến sự làm mạnh đôi vai chúng ta, giúp chúng ta có thể gánh vác trách nhiệm của nhóm lớn hơn. Vậy tiêu chuẩn là gì?

For the high grade aspirant, let me repeat, the choice of action depends upon a sound use of the lower mind, the employment of a sane common-sense and the forgetfulness of selfish comfort and personal ambition. This leads to the fulfillment of duty. For the disciple there will be the automatic and necessary carrying forward of all the above, plus the use of the intuition which will reveal the moment when wider group responsibilities can be justly shouldered and carried simultaneously with those of the smaller group. Ponder on this. The intuition reveals not the way ambition can be fed, nor the manner in which desire for selfish advancement can be gratified.

Đối với người chí nguyện bậc cao, tôi xin nhắc lại, sự lựa chọn hành động tùy thuộc vào việc sử dụng lành mạnh hạ trí, vào việc vận dụng lẽ thường đúng đắn, và vào sự quên đi tiện nghi ích kỷ cùng tham vọng cá nhân. Điều này dẫn đến sự chu toàn bổn phận. Đối với đệ tử, tất cả những điều trên sẽ được thực hiện một cách tự động và cần thiết, cộng thêm việc sử dụng trực giác, vốn sẽ mặc khải thời điểm khi các trách nhiệm nhóm rộng lớn hơn có thể được gánh vác một cách chính đáng và được mang đồng thời với trách nhiệm của nhóm nhỏ hơn. Hãy suy ngẫm về điều này. Trực giác không mặc khải cách nuôi dưỡng tham vọng, cũng không chỉ ra phương thức thỏa mãn ham muốn tiến thân ích kỷ.

RULE TWO

When the shadow hath responded, in meditation deep the work proceedeth. The lower light is thrown upward; the greater light illuminates the three, and the work of the four proceedeth.

Khi bóng đã đáp ứng, trong tham thiền sâu xa, công việc tiếp diễn. Ánh sáng thấp được phóng lên trên; ánh sáng lớn hơn soi sáng bộ ba, và công việc của bộ bốn tiếp diễn.

Hindrances to Occult Study

[73]

[73]

This rule is one of the most difficult in the book and yet one of the most comprehensive. It will take us some time rightly to handle it. We have in it an interesting illustration of the microcosmic correspondence to the macrocosm. It can be elucidated in two ways in relation to the light it mentions.

Quy luật này là một trong những quy luật khó nhất trong sách, nhưng cũng là một trong những quy luật bao quát nhất. Chúng ta sẽ cần một thời gian để xử lý nó đúng đắn. Trong đó, chúng ta có một minh họa thú vị về sự tương ứng của Tiểu thiên địa với Đại thiên địa. Có thể làm sáng tỏ điều này theo hai cách liên quan đến ánh sáng mà quy luật đề cập.

Reference is made to the “greater light” which illuminates the three and, secondly, to the throwing upward of the “lower light”.

Có sự quy chiếu đến “ánh sáng lớn hơn” vốn soi sáng bộ ba, và thứ hai, đến việc phóng lên trên của “ánh sáng thấp”.

The “greater light” is that of the soul, who is light itself illuminating the manifestation of the three-fold personality. Herein lies the correspondence to the macrocosm as it is symbolized for us in God, the manifesting light of the solar system. The solar system is three in one, or one in three, and the light of the Logos illuminates the whole. The “lower light” is that which is hidden within the human being on the physical plane. This light, at a certain stage of man’s experience, is awakened throughout the physical body and blends eventually with the “greater light”. The light and life of God Himself may emanate from the central Spiritual Sun, but it is only as the light within the solar system itself is awakened and aroused that there will come that eventual blazing forth which will typify the glory of the Sun shining in its strength. Similarly, the light of the soul may emanate from the Monad, but it is only as the light within the little system (directed by the soul) is awakened and aroused that there will come the eventual shining forth of a son of God.

“Ánh sáng lớn hơn” là ánh sáng của linh hồn, vốn chính là ánh sáng, soi sáng sự biểu hiện của phàm ngã tam phân. Chính trong điều này có sự tương ứng với Đại thiên địa, như được biểu tượng hóa cho chúng ta nơi Thượng đế, ánh sáng biểu hiện của hệ mặt trời. Hệ mặt trời là ba trong một, hay một trong ba, và ánh sáng của Thượng đế soi sáng toàn thể. “Ánh sáng thấp” là ánh sáng ẩn trong con người trên cõi hồng trần. Ánh sáng này, ở một giai đoạn nào đó trong kinh nghiệm của con người, được đánh thức khắp thể xác và sau cùng hòa nhập với “ánh sáng lớn hơn”. Ánh sáng và sự sống của chính Thượng đế có thể phát ra từ Mặt trời Tinh thần Trung Ương, nhưng chỉ khi ánh sáng bên trong chính hệ mặt trời được đánh thức và khơi dậy thì sự bừng sáng cuối cùng mới xảy đến, biểu thị vinh quang của Mặt Trời chiếu rạng trong sức mạnh của nó. Tương tự, ánh sáng của linh hồn có thể phát ra từ chân thần, nhưng chỉ khi ánh sáng trong hệ thống nhỏ bé, do linh hồn điều khiển, được đánh thức và khơi dậy thì sự tỏa sáng cuối cùng của một Con của Thượng đế mới xuất hiện.

[74]

[74]

In these instructions, however, we are dealing primarily with the microcosm and the light within it; we shall not enlarge upon the macrocosmic analogies.

Tuy nhiên, trong các huấn thị này, chúng ta chủ yếu đề cập đến Tiểu thiên địa và ánh sáng bên trong nó; chúng ta sẽ không mở rộng về các tương đồng Đại thiên địa.

In considering this second rule, we must note that a conscious relation has been established between the soul and its shadow, the man on the physical plane. Both have been meditating. Students would do well to note this and to remember that one of the objectives of the daily meditation is to enable the brain and mind to vibrate in unison with the soul as it seeks “in meditation deep” to communicate with its reflection.

Khi xét quy luật thứ hai này, chúng ta phải lưu ý rằng một mối liên hệ có ý thức đã được thiết lập giữa linh hồn và bóng của nó, tức con người trên cõi hồng trần. Cả hai đều đã tham thiền. Các đạo sinh nên lưu ý điều này và nhớ rằng một trong những mục tiêu của tham thiền hằng ngày là làm cho bộ não và thể trí có thể rung động đồng điệu với linh hồn khi linh hồn tìm cách, “trong tham thiền sâu xa,” giao tiếp với hình phản chiếu của mình.

The correspondence to this relation, or synchronizing vibration is interesting:

Sự tương ứng với mối liên hệ này, hay sự rung động đồng bộ này, thật thú vị:

Soul......................Man on the Physical Plane

Linh hồn......................Con người trên Cõi Hồng Trần

Mind.....................Brain

Thể trí.....................Bộ não

Pineal Gland.........Pituitary Body

Tuyến tùng.........Tuyến yên

The relation also between the centers, and their synchronization is interesting and in it is epitomized the evolution of the race as well as the racial unit, man.

Mối liên hệ giữa các trung tâm, cùng sự đồng bộ của chúng, cũng thật thú vị; và trong đó được tóm lược sự tiến hoá của nhân loại cũng như của đơn vị nhân loại, tức con người.

Head Center...........Base of the Spine

Trung tâm đầu...........Đáy cột sống

Heart Center...........Solar Plexus

Trung tâm tim...........Tùng thái dương

Throat Center..........Sacral Center

Trung tâm cổ họng..........Trung tâm xương cùng

In the above lies a hint for the more advanced student (and he is the one who hesitates so to regard himself). It is also symbolized for us in the relation between the Eastern and the Western hemispheres and between those great bodies of truth which we call Religion and Science.

Trong những điều trên có một gợi ý dành cho đạo sinh tiến xa hơn, và y chính là người do dự khi tự xem mình như vậy. Điều này cũng được biểu tượng hóa cho chúng ta trong mối liên hệ giữa bán cầu Đông và bán cầu Tây, cũng như giữa những khối chân lý lớn lao mà chúng ta gọi là Tôn giáo và Khoa học.

The life of meditation proceeds and the rapport between the soul and its triple instrument becomes steadily closer, and the resulting vibration more powerful. How many lives this will take depends upon various factors, which are too numerous to be mentioned here but which the student will find it useful to consider. Let him list the factors which he feels he needs to take into account as he seeks to decide his evolutionary standpoint. [75]

Đời sống tham thiền tiếp diễn, mối tương giao giữa linh hồn và khí cụ tam phân của nó ngày càng trở nên gần gũi hơn, và rung động phát sinh ngày càng mạnh mẽ hơn. Điều này sẽ cần bao nhiêu kiếp sống tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, quá nhiều để có thể nêu ra ở đây, nhưng đạo sinh sẽ thấy hữu ích khi suy xét chúng. Hãy để y liệt kê những yếu tố mà y cảm thấy cần lưu ý khi tìm cách xác định vị trí tiến hoá của mình. [75]

The result of this response is a reorientation of the lower man in order to produce a synthesis of the Three and the One so that the work of the Four may proceed. Here you have the reflection consummated in the microcosm of that with which the Solar Logos started, the “Sacred Four” of the Cosmos; man in his turn becomes a “Sacred Four”—spirit and the three of manifestation.

Kết quả của sự đáp ứng này là sự tái định hướng của phàm nhân nhằm tạo ra một tổng hợp của Ba và Một, để công việc của Bốn có thể tiếp diễn. Ở đây các bạn có sự phản chiếu được hoàn tất trong Tiểu thiên địa của điều mà Thái dương Thượng đế đã khởi đầu: “Bốn Thiêng Liêng” của Vũ trụ; đến lượt mình, con người trở thành một “Bốn Thiêng Liêng” — tinh thần và bộ ba của sự biểu hiện.

Four words should be pondered upon here:

Bốn từ cần được suy ngẫm ở đây:

1. Communication

1. Giao tiếp

2. Response

2. Đáp ứng

3. Reorientation

3. Tái định hướng

4.Union

4. Hợp nhất

The Old Commentary expresses it in the following terms:

Cổ Luận diễn đạt điều này bằng những lời sau:

“When communion is established, words are forthwith used, and mantric law assumes its rightful place, provided that the One communicates the words and the three remain in silence.

“Khi sự giao cảm được thiết lập, lời liền được sử dụng, và định luật mantram đảm nhận vị trí chính đáng của nó, miễn là Đấng Duy Nhất truyền thông lời, còn bộ ba giữ im lặng.

“When response is recognized as emanating from the three, the One, in silence, listens. The roles are changed. A three-fold word issues from out the triple form. A turning round is caused. The eyes no longer look upon the world of form; they turn within, focus the light, and see, revealed, an inner world of being. With this the Manas stills itself, for eyes and mind are one.

“Khi sự đáp ứng được nhận ra là phát ra từ bộ ba, Đấng Duy Nhất, trong im lặng, lắng nghe. Các vai trò được đổi thay. Một lời tam phân phát ra từ hình tướng tam phân. Một sự xoay chiều được gây nên. Đôi mắt không còn nhìn vào thế giới của hình tướng; chúng quay vào trong, tập trung ánh sáng, và thấy, được mặc khải, một thế giới bản thể nội tại. Với điều này, trí tuệ lắng yên, vì mắt và thể trí là một.

“The heart no longer beats in tune with low desire, nor wastes its love upon the things that group and hide the Real. It beats with rhythm new; it pours its love upon the Real, and Maya fades away. Kama and heart are close allied; love and desire form one whole—one seen at night, the other in the light of day....

“Trái tim không còn đập theo nhịp với dục vọng thấp, cũng không lãng phí tình thương của nó trên những sự vật tụ hợp và che giấu Cái Thực. Nó đập theo nhịp điệu mới; nó tuôn tình thương của mình lên Cái Thực, và ảo lực phai tàn. Dục vọng và trái tim liên minh chặt chẽ; tình thương và ham muốn tạo thành một toàn thể — cái này được thấy trong đêm, cái kia trong ánh sáng ban ngày....

.......

.......

“When fire and love and mind submit themselves, sounding the three-fold word, there comes response.

“Khi lửa, tình thương và thể trí tự quy phục, xướng lên lời tam phân, thì sự đáp ứng xuất hiện.

“The One enunciates a word which drowns the triple sound. God speaks. A quivering and a shaking in the form responds. The new stands forth, a man remade; the form rebuilt; the house prepared. The fires unite, and [76] great the light that shines: the three merge with the One and through the blaze a four-fold fire is seen.”

“Đấng Duy Nhất phát âm một lời nhấn chìm âm thanh tam phân. Thượng đế phán. Một sự rung động và chấn động trong hình tướng đáp ứng. Cái mới hiện ra, một con người được tái tạo; hình tướng được xây dựng lại; ngôi nhà được chuẩn bị. Các ngọn lửa hợp nhất, và [76] ánh sáng chiếu rạng thật lớn lao: bộ ba hòa vào Đấng Duy Nhất, và xuyên qua ánh rực cháy, một ngọn lửa tứ phân được thấy.”

In this pictorial writing which I have sought to convey in modern English, the sages of old embodied an idea. The Old Commentary from which these words are taken has no assignable date. Should I endeavor to tell you its age I have no means of proving the truth of my words and hence would be faced with credulity—a thing aspirants must avoid in their search for the essential and Real. I have sought in the above few phrases to give the gist of what is expressed in the Commentary, through the means of a few symbols and a cryptic text. These old Scriptures are not read in the way modern students read books. They are seen, touched and realized. The meaning is disclosed in a flash. Let me illustrate: —The words “the One enunciates the word which drowns the triple sound” are depicted by a shaft of light ending in a symbolic word in gold superimposed over three symbols in black, rose and green. Thus are the secrets guarded with care.

Trong lối viết bằng hình ảnh này, điều mà tôi đã tìm cách chuyển tải bằng tiếng Anh hiện đại, các bậc hiền triết xưa đã kết tinh một ý tưởng. Cổ Luận, nơi những lời này được trích ra, không có niên đại có thể xác định. Nếu tôi cố nói cho các bạn biết tuổi của nó, tôi không có phương tiện nào để chứng minh sự thật trong lời mình, và vì thế sẽ phải đối diện với sự cả tin — một điều mà những người chí nguyện phải tránh trong cuộc tìm kiếm cái cốt yếu và Cái Thực. Trong vài câu trên, tôi đã tìm cách đưa ra phần cốt lõi của điều được diễn đạt trong Luận, qua phương tiện của một vài biểu tượng và một văn bản bí ẩn. Những Thánh thư cổ này không được đọc theo cách các đạo sinh hiện đại đọc sách. Chúng được thấy, được chạm đến và được chứng nghiệm. Ý nghĩa được hé lộ trong một tia chớp. Hãy để tôi minh họa: những lời “Đấng Duy Nhất phát âm lời nhấn chìm âm thanh tam phân” được mô tả bằng một tia sáng kết thúc nơi một từ biểu tượng bằng vàng, chồng lên trên ba biểu tượng màu đen, hồng và xanh lục. Như vậy các bí mật được gìn giữ cẩn trọng.

I felt it might be of interest to students to know this much about this ancient test book of the Adepts.

Tôi cảm thấy có thể sẽ hữu ích cho các đạo sinh khi biết được bấy nhiêu về sách giáo khoa cổ xưa này của các Chân sư.

Our consideration of this rule will fall into two parts:

Việc chúng ta xét quy luật này sẽ chia thành hai phần:

The relation between the soul and the personality. This will be handled particularly with reference to meditation in the daily life, more than from the theoretical and the academical.

Mối liên hệ giữa linh hồn và phàm ngã. Điều này sẽ được xử lý đặc biệt trong tương quan với tham thiền trong đời sống hằng ngày, hơn là từ phương diện lý thuyết và hàn lâm.

The significance of the words, “the lower light is thrown upward.” These deal with the centers and the Kundalini Fire.

Thâm nghĩa của những lời “ánh sáng thấp được phóng lên trên.” Những lời này đề cập đến các trung tâm và Lửa hỏa xà.

I would like here to point out the advisability of each student arriving at an understanding of his etheric body, and this for certain reasons.

Ở đây, tôi muốn chỉ ra sự nên làm đối với mỗi đạo sinh là đi đến một sự thấu hiểu về thể dĩ thái của mình, và điều này vì một số lý do nhất định.

First, the etheric body is the next aspect of the world substance to be studied by scientists and investigators. This time will be hastened if thinking men and women [77] can formulate intelligent ideas anent this interesting subject. We can aid in the revelation of the truth by our clear thinking and from the standpoint of the present pronouncements about the ether, scientists will eventually arrive at an understanding of etheric forms or bodies.

Thứ nhất, thể dĩ thái là phương diện kế tiếp của chất liệu thế giới sẽ được các nhà khoa học và nhà nghiên cứu khảo sát. Thời điểm này sẽ được thúc nhanh nếu những người nam và nữ biết suy nghĩ [77] có thể hình thành những ý tưởng thông minh về chủ đề thú vị này. Chúng ta có thể hỗ trợ sự mặc khải chân lý bằng tư duy rõ ràng của mình; và từ lập trường của những tuyên bố hiện nay về dĩ thái, các nhà khoa học rốt cuộc sẽ đi đến sự thấu hiểu các hình tướng hay các thể dĩ thái.

Secondly, the etheric body is composed of force currents, and in it are vital centers linked by lines of force with each other and with the nervous system of the physical man. Through these lines of force, it is connected also with the etheric body of the environing system. Note that in this lies the basis for a belief in immortality, for the law of brotherhood or unity and for astrological truth.

Thứ hai, thể dĩ thái được cấu thành bởi các dòng mãnh lực, và trong đó có các trung tâm sinh lực được liên kết với nhau và với hệ thần kinh của con người hồng trần bằng các đường mãnh lực. Qua những đường mãnh lực này, nó cũng được nối kết với thể dĩ thái của hệ thống bao quanh. Hãy lưu ý rằng chính trong điều này có nền tảng cho niềm tin vào sự bất tử, cho định luật huynh đệ hay hợp nhất, và cho chân lý chiêm tinh.

Thirdly, the need of realizing that the etheric body is vitalized and controlled by thought and can (through thought) be brought into full functioning activity. This is done by right thinking and not by breathing exercises and holding the nose. When this is grasped, much dangerous practice will be avoided and people will come into a normal and safe control of that most potent instrument, the vital body. That this end may rapidly be consummated is my earnest wish.

Thứ ba, cần nhận ra rằng thể dĩ thái được tiếp sinh lực và được kiểm soát bởi tư tưởng, và có thể, qua tư tưởng, được đưa vào hoạt động đầy đủ. Điều này được thực hiện bằng tư duy đúng, chứ không phải bằng các bài tập thở và việc bịt mũi. Khi điều này được nắm vững, nhiều thực hành nguy hiểm sẽ được tránh, và con người sẽ đi đến sự kiểm soát bình thường và an toàn đối với khí cụ đầy quyền năng ấy, tức thể sinh lực/thể dĩ thái. Ước nguyện tha thiết của tôi là mục tiêu này có thể nhanh chóng được hoàn tất.

Occult study is of profound importance, and students of these sciences must bring to bear upon them, all that they have of mental application and concentrated attention. It involves also the steady working out of the truths learnt.

Việc nghiên cứu huyền bí có tầm quan trọng sâu xa, và các đạo sinh của những khoa học này phải đem vào đó tất cả năng lực ứng dụng trí tuệ và sự chú tâm tập trung mà họ có. Nó cũng bao hàm việc kiên trì thực hành các chân lý đã học.

Occult study, as understood in the Occident, is intellectually investigated but not practically followed. Theoretically some glimmering of light may be appreciated by the man who aspires to the occult path, but the systematic working out of the laws involved has made small progress as yet.

Nghiên cứu huyền bí, như được hiểu ở phương Tây, được khảo sát bằng trí năng nhưng chưa được thực hành trong thực tế. Về mặt lý thuyết, một vài tia sáng lờ mờ có thể được người khát vọng bước vào con đường huyền bí nhận biết, nhưng việc thực hành có hệ thống các định luật liên quan cho đến nay vẫn đạt rất ít tiến bộ.

Wherein lies the hindrance? It may be of value if we study three things: [78]

Trở ngại nằm ở đâu? Có thể hữu ích nếu chúng ta nghiên cứu ba điều: [78]

1. The Occidental hindrances to correct occult study.

1. Những trở ngại của phương Tây đối với việc nghiên cứu huyền bí đúng đắn.

2. How these hindrances may be surmounted.

2. Làm thế nào các trở ngại này có thể được vượt qua.

3. Certain things the aspirant may safely undertake in the equipping of himself for treading the occult path, for that is the stage, and for the majority, the only stage at present possible.

3. Một số điều người chí nguyện có thể an toàn đảm nhận trong việc trang bị cho mình để bước trên con đường huyền bí, vì đó là giai đoạn, và đối với đa số, là giai đoạn duy nhất hiện nay có thể có.

One of the main hindrances to the correct apprehension of the laws of occultism and their practical application lies in the fact of the comparative newness of the occident, and the rapid changes which have been the outstanding feature of European and American civilisation. The history of Europe dates back a bare three thousand years, and that of America, as we know, barely as many centuries. Occultism flourishes in a prepared atmosphere, in a highly magnetised environment, and in a settled condition which is the result of age-long work upon the mental plane.

Một trong những trở ngại chính đối với sự lĩnh hội đúng đắn các định luật của huyền bí học và sự áp dụng thực tiễn của chúng nằm ở sự kiện rằng phương Tây tương đối còn mới, và những thay đổi nhanh chóng đã là đặc điểm nổi bật của nền văn minh châu Âu và châu Mỹ. Lịch sử châu Âu chỉ lùi lại vỏn vẹn ba nghìn năm, còn lịch sử châu Mỹ, như chúng ta biết, chỉ khoảng vài thế kỷ. Huyền bí học phát triển trong một bầu không khí đã được chuẩn bị, trong một môi trường được từ hóa cao độ, và trong một tình trạng ổn định vốn là kết quả của công việc lâu dài trên cõi trí.

This is one reason why India provides such an adequate school of endeavour. There knowledge of occultism dates back tens of thousands of years and time has set its mark even upon the physique of the people, providing them with bodies which offer not that resistance which occidental bodies so oft afford. The environment has been long permeated with the strong vibrations of the great Ones who reside within its borders and who, in Their passage to and fro, and through Their proximity, continuously magnetise the environing ether. This in itself affords another line of least resistance, for this etheric magnetisation affects the etheric bodies of the contacted population. These two facts, of time and of high vibration, result in that stability of rhythm which facilitates occult work, and offer a quiet field for mantric and ceremonial enterprise.

Đây là một lý do khiến Ấn Độ cung cấp một trường học nỗ lực thích hợp đến thế. Ở đó, tri thức về huyền bí học có từ hàng chục nghìn năm, và thời gian đã ghi dấu ấn ngay cả trên thể chất của người dân, cung cấp cho họ những thân thể không tạo ra sự kháng cự mà các thân thể phương Tây thường gây nên. Môi trường đã từ lâu thấm nhuần các rung động mạnh mẽ của các Đấng Cao Cả cư ngụ trong biên giới của nó, và các Ngài, trong khi qua lại và nhờ sự gần gũi của mình, liên tục từ hóa dĩ thái bao quanh. Chính điều này tạo nên một con đường ít trở ngại nhất khác, vì sự từ hóa dĩ thái này ảnh hưởng đến các thể dĩ thái của dân cư được tiếp xúc. Hai sự kiện này, về thời gian và rung động cao, dẫn đến sự ổn định của nhịp điệu, vốn tạo thuận lợi cho công việc huyền bí, và cung cấp một trường yên tĩnh cho công trình mantram và nghi lễ.

These conditions are not to be found in the West, where constant change in every branch of life is found, where [79] frequent rapid shifting of the scene of action causes wide areas of disturbance which militate against any work of a magic nature. The amount of force required to effect certain results does not warrant their use, and time has been allowed to elapse in an effort to produce an equilibrising effect.

Những điều kiện này không có ở phương Tây, nơi người ta thấy sự thay đổi liên tục trong mọi ngành của đời sống, nơi [79] sự chuyển dịch nhanh chóng và thường xuyên của khung cảnh hành động gây ra những vùng xáo trộn rộng lớn, chống lại bất kỳ công việc nào có bản chất huyền thuật. Lượng mãnh lực cần thiết để tạo ra một số kết quả nào đó không biện minh cho việc sử dụng chúng, và thời gian đã được phép trôi qua trong nỗ lực tạo ra một hiệu quả quân bình.

The climax of the disturbed condition has been passed, and a more stable state of affairs is gradually being brought about, and this may permit of definite occult work being attempted with success. The Master R. is working upon this problem, and likewise the Master of the English race, —not the Master who occupies Himself with the Labour Movement or the betterment of social conditions. They are aided by a disciple of rare capability in Sweden, and by an initiate in the southern part of Russia, who works much on the mental levels. Their aim is so to tap the resources of force stored up by the Nirmanakayas that its downflow may sweep out lower grade matter, and thus permit the free play of a higher vibration.

Đỉnh điểm của tình trạng xáo trộn đã qua, và một trạng thái sự việc ổn định hơn đang dần được tạo lập; điều này có thể cho phép công việc huyền bí xác định được thử nghiệm với thành công. Chân sư R. đang làm việc trên vấn đề này, và tương tự là Chân sư của nhân loại Anh — không phải Chân sư bận tâm đến Phong trào Lao động hay việc cải thiện các điều kiện xã hội. Các Ngài được trợ giúp bởi một đệ tử có năng lực hiếm có tại Thụy Điển, và bởi một điểm đạo đồ ở miền nam nước Nga, người làm việc nhiều trên các cấp độ trí tuệ. Mục tiêu của các Ngài là khai mở các nguồn mãnh lực được tích trữ bởi những Đấng phụng sự đã siêu thoát, để dòng tuôn đổ của nó có thể quét sạch vật chất cấp thấp, và như thế cho phép một rung động cao hơn hoạt động tự do.

Another hindrance may be found in the strong development of the concrete mind. I would here impress upon you that this development must in no way be considered a detriment. All has been in due course of evolution, and later when the Orient and the Occident have reached a point of better understanding and interplay their interaction will be of mutual benefit; the East will profit from the mental stimulation afforded by the strong mental vibration of its Western brother, whilst the Occidental will gain much from the abstract reasoning of the Oriental, and, through the effort to grasp that which the first subrace of the Aryan root race so easily apprehended, he will contact his higher mind, and thus build with greater facility the bridge between the higher and the lower mind. The two types need each other, and their effect upon each other tends to eventual synthesis. [80]

Một trở ngại khác có thể được thấy trong sự phát triển mạnh mẽ của trí cụ thể. Ở đây tôi muốn nhấn mạnh với các bạn rằng sự phát triển này tuyệt đối không nên được xem là một điều bất lợi. Tất cả đã diễn ra theo đúng tiến trình tiến hoá, và về sau, khi Đông phương và Tây phương đã đạt đến một điểm thấu hiểu và tương tác tốt hơn, sự tác động qua lại của họ sẽ đem lại lợi ích hỗ tương; phương Đông sẽ hưởng lợi từ sự kích thích trí tuệ do rung động trí tuệ mạnh mẽ của người huynh đệ phương Tây đem lại, trong khi người phương Tây sẽ thu được nhiều từ lý luận trừu tượng của người phương Đông; và qua nỗ lực nắm bắt điều mà giống dân phụ thứ nhất của giống dân gốc Arya đã lĩnh hội rất dễ dàng, y sẽ tiếp xúc với Thượng trí của mình, và như thế xây dựng dễ dàng hơn cây cầu giữa thượng trí và hạ trí. Hai loại hình này cần nhau, và ảnh hưởng của họ đối với nhau hướng đến tổng hợp cuối cùng. [80]

The concrete mind, in itself, offers opportunity for a treatise of great length, but here it will suffice to point out a few of the ways in which it hinders those races who so paramountly represent it.

Trí cụ thể, tự nó, cung cấp cơ hội cho một khảo luận rất dài, nhưng ở đây chỉ cần chỉ ra một vài cách thức mà nó cản trở những nhân loại đại diện nổi bật cho nó.

a. By its intense activity and stimulated action it hinders the downflow of inspiration from on high. It acts as a dark curtain that shuts out the higher illumination. Only through steadiness and a stable restfulness can that illumination percolate, via the higher bodies, to the physical brain and so be available for practical service.

a. Bằng hoạt động mãnh liệt và tác động được kích thích của mình, nó cản trở dòng chảy xuống của cảm hứng từ trên cao. Nó hoạt động như một bức màn tối che khuất sự soi sáng cao hơn. Chỉ qua sự vững vàng và trạng thái an nghỉ ổn định, sự soi sáng ấy mới có thể thấm qua các thể cao hơn đến bộ não hồng trần, và nhờ vậy trở nên khả dụng cho phụng sự thực tiễn.

b. The wisdom of the Triad exists for the use of the personality, but is barred by the disquisitions of the lower mind. When the fire of mind burns too fiercely, it forms a current which counteracts the higher downflow, and forces the lower fire back into seclusion. Only when the three fires meet, through the regulation of the middle fire of mind, can a full light be achieved, and the whole body be full of light, the fire from above—the triadal light—the fire of the lower self, —kundalini—and the fire of mind, —cosmic manas—must meet upon the altar. In their union comes the burning away of all that hinders and the completed emancipation.

b. Minh triết của Tam Nguyên Tinh Thần hiện hữu để phàm ngã sử dụng, nhưng bị ngăn chặn bởi các luận giải của hạ trí. Khi lửa của trí tuệ cháy quá dữ dội, nó tạo thành một dòng chảy chống lại dòng chảy xuống cao hơn, và buộc lửa thấp rút lui vào ẩn kín. Chỉ khi ba ngọn lửa gặp nhau, qua sự điều hòa ngọn lửa trung gian của trí tuệ, thì ánh sáng trọn vẹn mới có thể đạt được, và toàn thể thể sẽ đầy ánh sáng; lửa từ trên cao — ánh sáng của Tam Nguyên Tinh Thần — lửa của phàm ngã, tức hỏa xà, và lửa của trí tuệ, tức manas vũ trụ, phải gặp nhau trên bàn thờ. Trong sự hợp nhất của chúng, tất cả những gì cản trở bị thiêu rụi và sự giải thoát hoàn tất xuất hiện.

c. By discrimination—a faculty of the concrete mental body—the lower bodies are trained in the art of distinguishing illusion from the centre of reality, the real from the unreal, the self from the not-self. Then ensues, consequently, a period that must be surmounted wherein the attention of the Ego is centred necessarily on the lower self and its vehicles, and wherein, therefore, the vibrations of the Triad, the laws that deal with macrocosmic evolution, and the subjugation of fire for the use of the [81] Divine, have temporarily to be in abeyance. When man quickly sees the truth in all that he contacts, and automatically chooses truth or the real, then he learns next the lesson of joyful action, and the path of bliss opens before him. When this is so, the path of occultism becomes possible for him, for the concrete mind has served its purpose, and has become his instrument and not his master, his interpreter and not his hinderer.

c. Bằng sự phân biện — một năng lực của thể trí cụ thể — các thể thấp được rèn luyện trong nghệ thuật phân biệt ảo tưởng với trung tâm của thực tại, cái thực với cái không thực, bản ngã với phi-ngã. Khi đó, hệ quả là xuất hiện một giai đoạn phải được vượt qua, trong đó sự chú ý của Chân ngã tất yếu tập trung vào phàm ngã và các hiện thể của nó; và do đó, các rung động của Tam Nguyên Tinh Thần, các định luật liên quan đến sự tiến hoá Đại thiên địa, và sự chế ngự lửa để dùng cho [81] cái Thiêng Liêng, tạm thời phải ở trong trạng thái đình chỉ. Khi con người nhanh chóng thấy chân lý trong mọi điều y tiếp xúc, và tự động chọn chân lý hay cái thực, bấy giờ y kế tiếp học bài học về hành động hoan hỉ, và con đường chí phúc mở ra trước y. Khi điều này xảy ra, con đường huyền bí học trở nên khả hữu đối với y, vì trí cụ thể đã phục vụ mục đích của nó, và đã trở thành khí cụ của y chứ không phải chủ nhân của y, thông dịch viên của y chứ không phải kẻ cản trở y.

d. The concrete mind hinders in another and more unusual way, and one that is not realised by the student who attempts, at first, to tread the thorny road of occult development. When the concrete mind is rampant, and dominates the entire personality the aspirant cannot cooperate with these other lives and diverse evolutions until love supersedes concrete mind (even though he may, in theory, comprehend the laws that govern the evolution of the Logoic plan and the development of other solar entities besides his own Hierarchy). Mind separates; love attracts. Mind creates a barrier betwixt a man and every suppliant deva. Love breaks down every barrier, and fuses diverse groups in union. Mind repels by a powerful, strong vibration, casting off all that is contacted, as a wheel casts off all that hinders its whirling periphery. Love gathers all to itself, and carries all on with itself, welding separated units into a unified homogeneous whole. Mind repels through its own abundant heat, scorching and burning aught that approaches it. Love soothes and heals by the similarity of its heat to the heat in that which it contacts, and blends its warmth and flame with the warmth and flame of other evolving lives. Finally, mind disrupts and destroys whilst love produces coherence and heals. [82]

d. Trí cụ thể cản trở theo một cách khác và khác thường hơn, một cách mà đạo sinh, khi lần đầu cố bước trên con đường gai góc của sự phát triển huyền bí, không nhận ra. Khi trí cụ thể lan tràn và thống trị toàn bộ phàm ngã, người chí nguyện không thể hợp tác với các sự sống khác và các dòng tiến hoá đa dạng này cho đến khi tình thương thay thế trí cụ thể, dù về mặt lý thuyết y có thể thấu hiểu các định luật chi phối sự tiến hoá của Thiên Cơ Thượng đế và sự phát triển của các thực thể thái dương khác ngoài chính Thánh Đoàn của mình. Trí tuệ phân cách; tình thương thu hút. Trí tuệ tạo nên một rào chắn giữa con người và mọi thiên thần thỉnh cầu. Tình thương phá đổ mọi rào chắn, và dung hợp các nhóm đa dạng trong hợp nhất. Trí tuệ đẩy lui bằng một rung động mạnh mẽ và cường liệt, hất văng mọi điều được tiếp xúc, như một bánh xe hất văng mọi thứ cản trở chu vi đang quay của nó. Tình thương gom tất cả về với mình, và mang tất cả đi cùng mình, hàn gắn các đơn vị tách rời thành một toàn thể đồng nhất, hợp nhất. Trí tuệ đẩy lui qua sức nóng dồi dào của chính nó, thiêu sém và đốt cháy bất cứ điều gì đến gần nó. Tình thương xoa dịu và chữa lành nhờ sự tương đồng giữa sức nóng của nó và sức nóng trong điều mà nó tiếp xúc, và hòa trộn hơi ấm cùng ngọn lửa của nó với hơi ấm và ngọn lửa của các sự sống đang tiến hoá khác. Sau cùng, trí tuệ phá vỡ và hủy diệt, trong khi tình thương tạo ra sự cố kết và chữa lành. [82]

Every change, in human life, is subject to immutable laws, if such a paradoxical statement may be permitted. In the attempt to find out those laws, in order to conform to them, the occultist begins to offset karma, and thus colours not the astral light. The only method whereby these laws can as yet be apprehended by the many who are interested is by a close study of the vicissitudes of daily existence, as spread over a long period of years. By the outstanding features of a cycle of ten years, for instance, as they are contrasted with the preceding or succeeding similar period a student can approximate the trend of affairs and guide himself thereby. When the point in evolution is reached where the student can contrast preceding lives, and gain knowledge of the basic colouring of his previous life cycle, then rapid progress in adjusting the life to law is made. When succeeding lives can be likewise apprehended by the student, and their colouring seen and known, then karma (as known in the three worlds) ceases, and the adept stands master of all causes and effects as they condition and regulate his lower vehicle.

Mọi thay đổi trong đời sống con người đều chịu sự chi phối của các định luật bất biến, nếu được phép nói một câu có vẻ nghịch lý như thế. Trong nỗ lực tìm ra các định luật ấy để thuận theo chúng, nhà huyền bí học bắt đầu hóa giải nghiệp quả, và nhờ vậy không nhuộm màu ánh sáng cảm dục. Phương pháp duy nhất mà nhờ đó các định luật này cho đến nay có thể được đông đảo những người quan tâm lĩnh hội là nghiên cứu kỹ các thăng trầm của đời sống hằng ngày, trải dài qua một thời kỳ nhiều năm. Chẳng hạn, qua những đặc điểm nổi bật của một chu kỳ mười năm, khi được đối chiếu với một thời kỳ tương tự trước đó hoặc sau đó, đạo sinh có thể ước đoán xu hướng của sự việc và nhờ đó tự hướng dẫn mình. Khi đạt đến điểm tiến hoá mà đạo sinh có thể đối chiếu các kiếp sống trước, và thu được tri thức về sắc thái căn bản của chu kỳ đời sống trước của mình, bấy giờ sự tiến bộ nhanh chóng trong việc điều chỉnh đời sống theo định luật được thực hiện. Khi các kiếp sống kế tiếp cũng có thể được đạo sinh lĩnh hội tương tự, và sắc thái của chúng được thấy và được biết, bấy giờ nghiệp quả, như được biết trong ba cõi thấp, chấm dứt, và chân sư đứng làm chủ mọi nguyên nhân và kết quả khi chúng tác động và điều hòa hiện thể thấp của y.

He aspires to the occult path and considers changes and events in the light of all preceding events, and the longer and more accurate his memory the more he can dominate all possible situations.

Y khát vọng bước vào con đường huyền bí và xem xét các thay đổi cùng biến cố dưới ánh sáng của mọi biến cố trước đó; ký ức của y càng dài và càng chính xác, y càng có thể làm chủ mọi tình huống khả hữu.

Thus two of the hindrances will be found to be:

Như vậy, hai trong số các trở ngại sẽ được thấy là:

a. The comparative newness and change which is characteristic of the Occident.

a. Tính tương đối mới mẻ và sự thay đổi vốn là đặc trưng của phương Tây.

b. The development of the concrete mind.

b. Sự phát triển của trí cụ thể.

Our third hindrance grows out of the preceding one. It consists of the emphasis that has been laid in the West upon the material side of things. This has resulted in a three-fold condition of affairs. First, the world of spirit, or the formless abstract world of subjective consciousness is not recognised in a scientific sense. It is recognised [83] innately by those of mystic temperament, and by those who are able to study the subjective history of men and races, but science recognises not this aspect of manifestation, nor do scientific men, as a whole, believe in a world of super-physical endeavour. All that in the earlier races held paramount place in the lives and thought of the peoples is now approached sceptically, and discussions are preceded by a question mark. But progress has been made and much has arisen out of the war. The question, for instance, is rapidly changing from the formula “Is there a life after death?” to the enquiry “Of what nature is the future life?” and this is a portent of much encouragement.

Trở ngại thứ ba của chúng ta phát sinh từ trở ngại trước. Nó gồm sự nhấn mạnh đã được đặt ở phương Tây vào mặt vật chất của sự vật. Điều này đã dẫn đến một tình trạng sự việc tam phân. Thứ nhất, thế giới của tinh thần, hay thế giới trừu tượng vô hình tướng của tâm thức chủ quan, không được thừa nhận theo nghĩa khoa học. Nó được thừa nhận [83] một cách bẩm sinh bởi những người có khí chất thần bí, và bởi những người có khả năng nghiên cứu lịch sử chủ quan của con người và các nhân loại, nhưng khoa học không thừa nhận phương diện này của sự biểu hiện, và nói chung, các nhà khoa học không tin vào một thế giới nỗ lực siêu hồng trần. Tất cả những gì trong các nhân loại sơ khai từng giữ vị trí tối thượng trong đời sống và tư tưởng của các dân tộc, nay được tiếp cận bằng thái độ hoài nghi, và các cuộc thảo luận được đặt trước một dấu hỏi. Nhưng đã có tiến bộ, và nhiều điều đã nảy sinh từ chiến tranh. Chẳng hạn, câu hỏi đang nhanh chóng chuyển từ công thức “Có sự sống sau khi chết không?” sang sự tìm hiểu “Đời sống tương lai có bản chất như thế nào?”, và đây là một điềm báo rất đáng khích lệ.

Secondly, the masses of the people are suffering from suppression and from the effects of inhibition. Science has said, There is no God and no spirit within man. Religion has said, There must be a God, but where may He be found? The masses say, We desire not a God constructed by the brains of theologians. Therefore the true inner comprehension finds no room for expansion, and the activity that should be finding its legitimate expression in the higher aspiration, turns itself to the deification of things, —things pertaining to flesh, connected with the emotions, or having a relation to the mind. The war, again, has accomplished much by relegating things to their just position, and, by the removal of possessions, many have learnt the value of essentials, and the necessity of eliminating that which is superfluous.

Thứ hai, quần chúng đang chịu khổ vì sự đè nén và các tác động của sự ức chế. Khoa học đã nói: Không có Thượng đế và không có tinh thần trong con người. Tôn giáo đã nói: Phải có một Thượng đế, nhưng Ngài có thể được tìm thấy ở đâu? Quần chúng nói: Chúng tôi không muốn một Thượng đế do bộ não của các nhà thần học dựng nên. Do đó, sự thấu hiểu nội tại chân thật không tìm được chỗ để mở rộng, và hoạt động vốn phải tìm thấy sự biểu lộ chính đáng của nó trong khát vọng cao hơn lại quay sang thần thánh hóa các sự vật — những sự vật thuộc về xác thịt, liên hệ với cảm xúc, hoặc có quan hệ với thể trí. Một lần nữa, chiến tranh đã làm được nhiều điều bằng cách đưa sự vật về vị trí chính đáng của chúng; và qua việc mất đi tài sản, nhiều người đã học được giá trị của những điều thiết yếu và sự cần thiết phải loại bỏ những gì dư thừa.

A third condition of affairs grows out of the above two. A right apprehension of the future does not exist. When the life of the spirit is negated, when the manifesting life concentrates itself on things concrete and apparent then the true goal of existence disappears, the true incentive to right living is lost, and the sarcastic words of the initiate, Paul, “Let us eat and drink for tomorrow we die” characterise the attitude of the majority of men. [84]

Một tình trạng sự việc thứ ba phát sinh từ hai điều trên. Không tồn tại sự lĩnh hội đúng đắn về tương lai. Khi đời sống của tinh thần bị phủ nhận, khi sự sống đang biểu hiện tập trung vào những điều cụ thể và hiển hiện, thì mục tiêu chân thật của hiện hữu biến mất, động cơ chân thật cho đời sống đúng đắn bị mất đi, và những lời châm biếm của điểm đạo đồ Phao-lô: “Hãy ăn và uống, vì ngày mai chúng ta chết,” đặc trưng cho thái độ của đa số con người. [84]

Men deaden the inner voice that bears witness to the life hereafter, and they drown the words that echo in the silence by the noise and whirl of business, pleasure and excitement.

Con người làm tê liệt tiếng nói bên trong vốn làm chứng cho đời sống mai sau, và họ nhấn chìm những lời vang vọng trong im lặng bằng tiếng ồn và vòng xoáy của công việc, khoái lạc và kích động.

The whole secret of success in treading the occult path depends upon an attitude of mind; when the attitude is one of concrete materialism, of concentration upon form, and a desire for the things of the present moment, little progress can be made in apprehending the higher esoteric truth.

Toàn bộ bí quyết thành công trong việc bước trên con đường huyền bí tùy thuộc vào một thái độ của thể trí; khi thái độ ấy là chủ nghĩa duy vật cụ thể, là sự tập trung vào hình tướng, và là ham muốn những sự vật của khoảnh khắc hiện tại, thì rất ít tiến bộ có thể được thực hiện trong việc lĩnh hội chân lý huyền bí cao hơn.

A fourth hindrance is found in the physical body, which has been built up by the aid of meat and fermented foods and drinks, and nurtured in an environment in which fresh air and sunlight are not paramount factors. I am here generalising, and speaking for the masses of men, and not for the would-be earnest occult student. For long centuries food that has been decomposing, and hence in a condition of fermentation, has been the basic food of the occidental races; and the result can be seen in bodies unfitted for any strain such as occultism imposes, and which form a barrier to the clear shining forth of the life within. When fresh fruit and vegetables, clear water, nuts and grains, cooked and uncooked, form the sole diet of the evolving sons of men, then will be built bodies fitted to be vehicles for highly evolved Egos. They patiently await the turning of the wheel, and the coming in of a cycle which will permit of their fulfilling their destiny. The time is not yet, and the work of elimination and adjustment must be slow and tedious.

Một trở ngại thứ tư được tìm thấy trong thể xác, vốn đã được xây dựng với sự hỗ trợ của thịt, thức ăn và đồ uống lên men, và được nuôi dưỡng trong một môi trường nơi không khí trong lành và ánh sáng mặt trời không phải là những yếu tố chủ đạo. Ở đây tôi đang nói khái quát, và nói cho đại chúng, chứ không nói cho người đạo sinh huyền bí nghiêm túc đang mong muốn trở thành như vậy. Trong nhiều thế kỷ dài, thức ăn đang phân hủy, và do đó ở trong trạng thái lên men, đã là thức ăn căn bản của các nhân loại phương Tây; và kết quả có thể thấy trong những thân thể không thích hợp với bất kỳ sự căng thẳng nào như huyền bí học áp đặt, và tạo thành một rào chắn đối với sự tỏa sáng rõ ràng của sự sống bên trong. Khi trái cây và rau củ tươi, nước trong, các loại hạt và ngũ cốc, đã nấu hoặc chưa nấu, trở thành chế độ ăn duy nhất của những người con của nhân loại đang tiến hoá, bấy giờ những thân thể thích hợp làm hiện thể cho các Chân ngã tiến hoá cao sẽ được xây dựng. Các Ngài kiên nhẫn chờ bánh xe xoay chuyển, và sự xuất hiện của một chu kỳ cho phép các Ngài hoàn thành định mệnh của mình. Thời điểm ấy chưa đến, và công việc loại bỏ cùng điều chỉnh phải chậm rãi và nhọc nhằn.

The Overcoming of the Hindrances

Certain paramount realisations must precede this work of removing hindrances, and they might be enumerated as follows:

Một vài nhận thức tối quan trọng phải đi trước công việc loại bỏ các trở ngại này, và chúng có thể được liệt kê như sau:

a. A realisation that in obedience to the next duty and [85] adherence to the highest known form of truth lies the path of further revelation.

a. Một nhận thức rằng trong việc tuân theo bổn phận kế tiếp và [85] bám sát hình thức chân lý cao nhất đã biết, có con đường của sự mặc khải xa hơn.

b. A realisation that dispassion is the great thing to cultivate, and that a willingness to undergo joyously any amount of temporary inconvenience, pain or agony, must be developed, having in view the future glory which will blot out the clouds of the passing hour.

b. Một nhận thức rằng sự vô dục là điều lớn lao cần vun trồng, và rằng phải phát triển sự sẵn lòng vui vẻ chịu đựng bất kỳ mức độ bất tiện, đau đớn hay thống khổ tạm thời nào, với tầm nhìn hướng đến vinh quang tương lai vốn sẽ xóa tan những đám mây của giờ phút thoáng qua.

c. A realisation that synthesis is the method whereby comprehension is attained, and that, by blending the pairs of opposites, the middle path is gained that leads straight to the heart of the citadel.

c. Một nhận thức rằng tổng hợp là phương pháp nhờ đó sự thấu hiểu được đạt đến, và rằng bằng cách hòa trộn các cặp đối nghịch, con đường trung đạo được đạt tới, dẫn thẳng đến trái tim của thành trì.

With these three things paramountly controlling his views on life, the student may hope, by strenuous endeavour, to overcome the four hindrances which we have touched upon.

Với ba điều này giữ vai trò chi phối tối thượng trong quan điểm của y về đời sống, đạo sinh có thể hy vọng, bằng nỗ lực mạnh mẽ, vượt qua bốn trở ngại mà chúng ta đã đề cập.

In taking up our consideration of the second Rule we will deal first with the relation of the soul to the personality, primarily from the standpoint of meditation. We are dealing therefore with “the greater light” and will take up later the “throwing upward of the lower light”. This is in line also with the law of occult knowledge that one begins with universals.

Khi bắt đầu xét Quy luật thứ hai, trước hết chúng ta sẽ bàn đến mối liên hệ của linh hồn với phàm ngã, chủ yếu từ lập trường tham thiền. Do đó, chúng ta đang đề cập đến “ánh sáng lớn hơn” và về sau sẽ xét đến “việc phóng lên trên của ánh sáng thấp”. Điều này cũng phù hợp với định luật của tri thức huyền bí rằng người ta bắt đầu với những điều phổ quát.

It should be borne in mind that these rules are only for those whose personality is coordinated and whose minds are gradually being brought under control. The man therefore is utilising the lower mind, the reasoning mind, whilst the soul is utilising the higher or abstract mind. Both units are working with two aspects of the universal principle of mind, and on this ground their relation becomes possible. The man’s work with his mind is to render it negative and receptive to the soul, and this is his positive occupation (note the use here of the word ‘positive’ in the attempt to make the mind receptive, for herein lies the clue to right action). The soul’s work in [86] meditation is to make the point of that meditation so positive that the lower mind can be impressed, and so the lower man can be brought into line with the Eternal Plan.

Cần ghi nhớ rằng các quy luật này chỉ dành cho những người có phàm ngã đã được phối hợp và có thể trí đang dần được đưa vào kiểm soát. Do đó, con người đang sử dụng hạ trí, tức trí lý luận, trong khi linh hồn đang sử dụng thượng trí hay trí trừu tượng. Cả hai đơn vị đều làm việc với hai phương diện của nguyên khí trí tuệ phổ quát, và trên nền tảng này mối liên hệ của chúng trở nên khả hữu. Công việc của con người với thể trí của mình là làm cho nó trở nên âm tính và tiếp nhận đối với linh hồn; và đây là công việc tích cực của y, hãy lưu ý cách dùng từ “tích cực” ở đây trong nỗ lực làm cho thể trí trở nên tiếp nhận, vì chính trong điều này có chìa khóa cho hành động đúng. Công việc của linh hồn trong [86] tham thiền là làm cho điểm của sự tham thiền ấy trở nên tích cực đến mức hạ trí có thể được in dấu, và nhờ đó phàm nhân có thể được đưa vào hàng ngũ với Thiên Cơ vĩnh cửu.

Thus, again, we have a relation established between a positive and a negative vibration, and the study of these relations carries much information to the student, and is part of the teaching given in preparation for the first initiation. A list of these related situations might here be given showing them in their progressive relation on the path of evolution.

Như vậy, một lần nữa, chúng ta có một mối liên hệ được thiết lập giữa một rung động tích cực và một rung động âm tính; và việc nghiên cứu các mối liên hệ này mang lại nhiều thông tin cho đạo sinh, đồng thời là một phần của giáo huấn được đưa ra để chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất. Ở đây có thể đưa ra một danh sách các tình huống liên hệ này, cho thấy chúng trong mối quan hệ tiến triển của chúng trên con đường tiến hoá.

1. The relation between male and female physical bodies, called by man, the sex relation, and deemed of such paramount importance at this time. In the vale of illusion, the symbol oft engrosses attention and that which it represents is forgotten. In the solving of this relationship will come racial initiation, and it is with this that the race is now engrossed.

1. Mối liên hệ giữa các thể xác nam và nữ, được con người gọi là quan hệ tính dục, và được xem là có tầm quan trọng tối thượng vào thời điểm này. Trong thung lũng ảo tưởng, biểu tượng thường chiếm trọn sự chú ý, còn điều mà nó đại diện thì bị lãng quên. Trong việc giải quyết mối quan hệ này sẽ đến sự điểm đạo của nhân loại, và chính điều này hiện đang thu hút sự bận tâm của nhân loại.

2. The relation between the astral body and the physical, which, for the majority, is the control, by the positive astral nature, of the negative automatic physical. The physical body, the instrument of desire, is swayed and controlled by desire, —desire for physical life, and desire for the acquisition of the tangible.

2. Mối liên hệ giữa thể cảm dục và thể xác, vốn đối với đa số là sự kiểm soát của bản chất cảm dục tích cực đối với thể xác âm tính, tự động. Thể xác, khí cụ của ham muốn, bị ham muốn lay chuyển và kiểm soát — ham muốn đối với đời sống hồng trần, và ham muốn chiếm hữu những điều hữu hình.

3. The relation between the mind and the brain, which constitutes the problem of the more advanced men and races and of which the vast system of schools, colleges, and universities indicate the importance. Much progress in this relation has been made during the past fifty years, and the work of the psychologists marks its highest point. When this is understood, the mind will be regarded as the positive factor and the other two aspects of the form nature will respond receptively. They will be the automatons of the mind.

3. Mối liên hệ giữa thể trí và bộ não, vốn cấu thành vấn đề của những người và những nhân loại tiến hoá hơn, và tầm quan trọng của nó được chỉ ra bởi hệ thống rộng lớn các trường học, học viện và đại học. Nhiều tiến bộ trong mối liên hệ này đã được thực hiện trong năm mươi năm qua, và công trình của các nhà tâm lý học đánh dấu điểm cao nhất của nó. Khi điều này được thấu hiểu, thể trí sẽ được xem là yếu tố tích cực, và hai phương diện kia của bản chất hình tướng sẽ đáp ứng một cách tiếp nhận. Chúng sẽ là các cơ cấu tự động của thể trí.

4. The relation between the soul and the personality, which is the problem engrossing the attention of aspirants now, for they are the pioneers of the human family, the pathfinders into the world of the soul. With this [87] relation, the mystics and the occultists concern themselves.

4. Mối liên hệ giữa linh hồn và phàm ngã, vốn là vấn đề đang thu hút sự chú ý của những người chí nguyện hiện nay, vì họ là những người tiên phong của gia đình nhân loại, những người mở đường vào thế giới của linh hồn. Với mối [87] liên hệ này, các nhà thần bí và các nhà huyền bí học bận tâm.

5. The relation between the centres below the diaphragm and those above, or between:

5. Mối liên hệ giữa các trung tâm bên dưới cơ hoành và các trung tâm bên trên, hay giữa:

a. The centre at the base of the spine and the thousand petalled lotus, the head centre. In this the four petals of the basic centre become the many, or the quaternary is lost in the universal.

a. Trung tâm ở đáy cột sống và Hoa sen nghìn cánh, tức trung tâm đầu. Trong điều này, bốn cánh hoa của trung tâm căn bản trở thành nhiều cánh, hay tứ phân mất hút trong cái phổ quát.

b. The sacral centre and the throat. In this there comes a union between the twelve Creative Hierarchies and the quaternary, and the secret of the sixteen petals of the throat lotus is seen.

b. Trung tâm xương cùng và trung tâm cổ họng. Trong điều này, có sự hợp nhất giữa mười hai Huyền Giai Sáng Tạo và tứ phân, và bí mật của mười sáu cánh hoa nơi Hoa sen cổ họng được nhìn thấy.

c. The solar plexus centre and the heart, in which the ten of the perfect man in this solar system is lost in the consummated twelve. As the twelve Creative Hierarchies (in their outer and creative aspect) are contacted by the man, who is the perfected quaternary from the standpoint of the form, so in the relation between the solar plexus and heart is the second aspect perfected; the love of the soul can express itself perfectly through the emotional nature.

c. Trung tâm tùng thái dương và trái tim, trong đó con số mười của con người hoàn thiện trong hệ mặt trời này mất hút trong con số mười hai đã viên mãn. Khi mười hai Huyền Giai Sáng Tạo, trong phương diện bên ngoài và sáng tạo của các Ngài, được con người tiếp xúc — con người vốn là tứ phân đã hoàn thiện theo quan điểm của hình tướng — thì trong mối liên hệ giữa tùng thái dương và trái tim, phương diện thứ hai cũng được hoàn thiện; tình thương của linh hồn có thể biểu lộ một cách hoàn hảo qua bản chất cảm xúc.

6. The relation between the two head centres, or between the centre between the eyebrows and the centre above the head. This relation is set up and stabilised when soul and body are a functioning unit.

6. Mối liên hệ giữa hai trung tâm đầu, hay giữa trung tâm giữa hai chân mày và trung tâm phía trên đầu. Mối liên hệ này được thiết lập và ổn định khi linh hồn và thể xác là một đơn vị đang vận hành.

7. The relation between the pineal gland and the pituitary body as a result of the above.

7. Mối liên hệ giữa tuyến tùng và tuyến yên như kết quả của điều trên.

8. The relation between the higher and the lower mind, involving steady and increasing soul contact. The meditative attitude of the soul is duplicated in the three bodies (or by the spiritual man) and the steady meditation of the soul goes on also on its own plane. It is with this and with its effects that we are primarily concerned in this rule.

8. Mối liên hệ giữa thượng trí và hạ trí, bao hàm sự tiếp xúc linh hồn vững chắc và ngày càng tăng. Thái độ tham thiền của linh hồn được tái hiện trong ba thể, hay bởi con người tinh thần, và sự tham thiền bền bỉ của linh hồn cũng tiếp diễn trên chính cõi của nó. Chính điều này và các hiệu quả của nó là điều chúng ta chủ yếu quan tâm trong quy luật này.

A later relationship, which in no way concerns us, is [88] set up after the third initiation between the soul and the monad, and throughout the course of cosmic evolution these relationships will emerge. The race as a whole is, however, only concerned with the setting up of a relation between soul and body and beyond this there is no need to go.

Một mối liên hệ về sau, vốn không liên quan gì đến chúng ta, được [88] thiết lập sau lần điểm đạo thứ ba giữa linh hồn và chân thần, và trong suốt tiến trình tiến hoá vũ trụ, các mối liên hệ này sẽ xuất hiện. Tuy nhiên, toàn thể nhân loại chỉ liên quan đến việc thiết lập một mối liên hệ giữa linh hồn và thể xác, và không cần đi xa hơn điều này.

As the man seeks to reach control of the mind, the soul in its turn becomes more actively aggressive. The work of the solar Angel has hitherto been largely in its own world and concerned with its relation to spirit, and with this the man, working through his cycles on the physical plane, has had no concern. The main expenditure of energy by the soul has been general, and outward-going into the fifth kingdom. Now the solar Angel approaches a time of crisis and of re-orientation. In the early history of humanity there was a great crisis which we call individualisation. At that time the solar Angels, in response to a demand or a pull from the race of animal-men (as a whole, note that), sent a portion of their energy, embodying the quality of mentalisation, to these animal-men. They fecundated, if I might so express it, the brain. Thus was humanity brought into being. This germ, however, carried within it two other potentialities, that of spiritual love and spiritual life. These must in due time make their appearance.

Khi con người tìm cách đạt quyền kiểm soát thể trí, linh hồn đến lượt mình trở nên tích cực và mạnh mẽ hơn. Công việc của Thái dương Thiên Thần cho đến nay phần lớn diễn ra trong thế giới riêng của Ngài, và liên quan đến mối liên hệ của Ngài với tinh thần; còn con người, khi hoạt động qua các chu kỳ của mình trên cõi hồng trần, đã không liên quan đến điều này. Sự tiêu hao năng lượng chính của linh hồn đã có tính tổng quát, và hướng ra ngoài vào giới thứ năm. Giờ đây Thái dương Thiên Thần tiến đến một thời kỳ khủng hoảng và tái định hướng. Trong lịch sử sơ khai của nhân loại, đã có một cuộc khủng hoảng lớn mà chúng ta gọi là biệt ngã hóa. Vào thời điểm đó, các Thái dương Thiên Thần, đáp ứng một nhu cầu hay một sức kéo từ nhân loại người thú, xét như một toàn thể, hãy lưu ý điều đó, đã gửi một phần năng lượng của các Ngài, mang phẩm tính trí tuệ hóa, đến những người thú này. Nếu có thể diễn đạt như vậy, các Ngài đã thụ tinh cho bộ não. Như thế, nhân loại được đưa vào hiện hữu. Tuy nhiên, mầm này mang trong nó hai tiềm năng khác: tình thương tinh thần và sự sống tinh thần. Đến đúng thời, hai điều này phải xuất hiện.

The flowering forth of the mind in men, which so distinguishes the present age, indicates to the solar Angel a second crisis, of which the first was but the symbol. That for which the solar Angel exists is making its presence felt within humanity, and another strong pull is being exerted upon the solar Angel which this time will produce a second fecundation. This will give to man those qualities which will enable him to transcend human limitations, and become a part of the fifth or spiritual Kingdom in nature. The first effort of the solar Angel turned animal-men into human beings; the second will [89] turn human beings into spiritual entities, plus the gains of experience in the human family.

Sự nở rộ của trí tuệ nơi con người, vốn phân biệt thời đại hiện nay một cách rõ rệt, báo hiệu cho Thái dương Thiên Thần một cuộc khủng hoảng thứ hai, mà cuộc khủng hoảng thứ nhất chỉ là biểu tượng. Điều vì đó Thái dương Thiên Thần hiện hữu đang làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận trong nhân loại, và một sức kéo mạnh mẽ khác đang tác động lên Thái dương Thiên Thần; lần này sức kéo ấy sẽ tạo nên một sự thụ tinh thứ hai. Điều này sẽ ban cho con người những phẩm tính giúp y vượt qua các giới hạn của con người, và trở thành một phần của giới thứ năm hay giới tinh thần trong thiên nhiên. Nỗ lực đầu tiên của Thái dương Thiên Thần đã biến những người thú thành những con người; nỗ lực thứ hai sẽ [89] biến con người thành các thực thể tinh thần, cộng thêm những thành quả kinh nghiệm trong gia đình nhân loại.

For this the solar Angel, the soul, is organising itself and re-orienting itself so that its power can be redirected into the world of men. Contact must be made by the soul between the lower aspect of its triple nature and the aspect which has already found lodgment in the brain of man. Intelligent activity and love wisdom must be united, and the union must take place on the physical plane. In order to do this the soul is entering into “meditation deep”, in union with all other souls who may have brought their instrument into a responsive state. This is the basic group meditation, and when a man achieves what the oriental books call “samadhi”, he has succeeded in participating, as a soul, in this group meditation, and enters upon that cycle of service which expresses itself through the planetary Hierarchy. The rational mind and the abstract mind function as a unit, and the motivating principle is love. The soul, expressing love and abstract intelligence, is at one with its expression on the physical plane through the brain, and, when this is the case, the lower man has synchronised his meditation with that of the soul.

Vì điều này, Thái dương Thiên Thần, tức linh hồn, đang tự tổ chức và tự tái định hướng để quyền năng của Ngài có thể được chuyển hướng vào thế giới của con người. Linh hồn phải tạo sự tiếp xúc giữa phương diện thấp của bản chất tam phân của nó và phương diện đã tìm được chỗ trú trong bộ não của con người. Hoạt động thông tuệ và Bác Ái – Minh Triết phải được hợp nhất, và sự hợp nhất ấy phải diễn ra trên cõi hồng trần. Để làm điều này, linh hồn đang bước vào “tham thiền sâu”, trong sự hợp nhất với tất cả những linh hồn khác có thể đã đưa khí cụ của mình vào trạng thái đáp ứng. Đây là sự tham thiền nhóm căn bản, và khi một người đạt được điều mà các sách phương Đông gọi là “đại định”, y đã thành công trong việc tham dự, với tư cách linh hồn, vào sự tham thiền nhóm này, và bước vào chu kỳ phụng sự biểu lộ qua Thánh Đoàn hành tinh. Trí lý luận và trí trừu tượng vận hành như một đơn vị, và nguyên khí thúc đẩy là tình thương. Linh hồn, biểu lộ tình thương và trí tuệ trừu tượng, hợp nhất với sự biểu lộ của nó trên cõi hồng trần qua bộ não; và khi điều này xảy ra, phàm nhân đã đồng bộ sự tham thiền của mình với sự tham thiền của linh hồn.

This is the objective of our work. Let this not be forgotten, and let every effort be made to bring mind and brain into such a functioning condition that a man can slip out of his own meditation and (losing sight of his own thoughts) become the soul, the thinker in the kingdom of the soul.

Đây là mục tiêu công việc của chúng ta. Đừng quên điều này, và hãy thực hiện mọi nỗ lực để đưa thể trí và bộ não vào một tình trạng vận hành đến mức con người có thể thoát ra khỏi sự tham thiền riêng của mình và, khi mất hút khỏi các tư tưởng riêng, trở thành linh hồn, tức chủ thể tư duy trong giới của linh hồn.

It is perhaps a new thought to some that the soul is organising itself for effort, re-orienting its forces, and preparing for a fresh and powerful impulse, but so it is. All forms of life under the force of evolution pass from initiation to initiation and the soul is not exempt from the process. Just as the soul of animal-man became united with another divine principle, and so brought into [90] being the fourth kingdom in nature, so the soul in humanity is seeking contact with another divine aspect. When that contact is made the Kingdom of God will come on earth; the physical plane will thereby be transformed and that peculiar period, presented symbolically under the term millennium, will come.

Có lẽ đối với một số người, ý tưởng rằng linh hồn đang tự tổ chức cho nỗ lực, tái định hướng các mãnh lực của nó, và chuẩn bị cho một xung lực mới mẻ và mạnh mẽ là một tư tưởng mới, nhưng sự thật là như vậy. Mọi hình tướng của sự sống dưới mãnh lực tiến hoá đều đi từ điểm đạo này đến điểm đạo khác, và linh hồn không được miễn trừ khỏi tiến trình ấy. Cũng như linh hồn của người thú đã hợp nhất với một nguyên khí thiêng liêng khác, và nhờ vậy đưa [90] giới thứ tư trong thiên nhiên vào hiện hữu, thì linh hồn trong nhân loại cũng đang tìm cách tiếp xúc với một phương diện thiêng liêng khác. Khi sự tiếp xúc ấy được tạo lập, Thiên Giới sẽ đến trên Trái Đất; nhờ đó cõi hồng trần sẽ được chuyển đổi, và thời kỳ đặc biệt ấy, được trình bày một cách biểu tượng dưới thuật ngữ thiên niên kỷ, sẽ đến.

The Knowers of God in that era will preponderate over those who are simply aspiring to that knowledge, and their contact and the results of the force they transmit will be felt in all the kingdoms of nature. Dominion over all forms, and the power to act as transmitters of that spiritual energy we call love is the promised reward of the triumphant solar Angels, and the prized goal of their meditation work. The Sons of God will triumph on earth in full incarnated expression, and will bring light (therefore life) to all the manifested forms. This is the “life more abundant” of which the Christ speaks. This is the achievement of the true Nirvanee who, living in unbroken meditation in the spiritual realm yet can work on earth. The work of initiation is to enable a man to live ever at the centre, but to act as a distributor of divine energy in any direction and—after the later initiations—in all directions.

Những thức giả của Thượng đế trong thời đại ấy sẽ chiếm ưu thế hơn những người chỉ đơn thuần khát vọng đến tri thức ấy, và sự tiếp xúc của họ cùng các kết quả của mãnh lực họ truyền dẫn sẽ được cảm nhận trong mọi giới của thiên nhiên. Quyền thống trị trên mọi hình tướng, và quyền năng hoạt động như những vị truyền dẫn năng lượng tinh thần mà chúng ta gọi là tình thương, là phần thưởng đã hứa dành cho các Thái dương Thiên Thần chiến thắng, và là mục tiêu quý báu trong công việc tham thiền của các Ngài. Các Con của Thượng đế sẽ khải hoàn trên Trái Đất trong sự biểu lộ nhập thể trọn vẹn, và sẽ đem ánh sáng, do đó là sự sống, đến mọi hình tướng đã biểu hiện. Đây là “sự sống dồi dào hơn” mà Đức Christ nói đến. Đây là thành tựu của vị Niết Bàn chân chính, người sống trong sự tham thiền không gián đoạn trong cõi tinh thần mà vẫn có thể hoạt động trên Trái Đất. Công việc của điểm đạo là giúp con người luôn sống tại trung tâm, nhưng hành động như một vị phân phối năng lượng thiêng liêng theo bất cứ hướng nào và, sau các lần điểm đạo về sau, theo mọi hướng.

We will now, in our consideration of the next rule, take up the work of the “lesser light” of man on the physical plane. I, who have entered somewhat into an understanding of the life of the solar Angel, seek to assure my fellow pilgrims that the passing things of the senses are but trivial, and of no value compared to the rewards, here and in this life, to the man who seeks to merge his everyday consciousness with that of his own soul. He enters then into the community of souls, and stands not alone. The only lonely periods are the result of wrong orientation and the holding on to that which hides the vision, and fills the hands so full that they cannot grasp what has been called “the jewel in the lotus.”

Giờ đây, khi xem xét quy luật kế tiếp, chúng ta sẽ bàn đến công việc của “ánh sáng nhỏ hơn” của con người trên cõi hồng trần. Tôi, người đã phần nào đi vào sự thấu hiểu đời sống của Thái dương Thiên Thần, tìm cách bảo đảm với các bạn đồng hành của tôi rằng những điều thoáng qua của giác quan chỉ là tầm thường, và không có giá trị gì so với các phần thưởng, ngay tại đây và trong đời sống này, dành cho người tìm cách hòa nhập tâm thức hằng ngày của mình với tâm thức của linh hồn mình. Khi ấy y bước vào cộng đồng các linh hồn, và không đứng một mình. Những giai đoạn cô đơn duy nhất là kết quả của định hướng sai lầm và sự bám giữ vào điều che khuất tầm nhìn, làm cho đôi tay đầy ắp đến mức chúng không thể nắm lấy điều đã được gọi là “viên ngọc trong Hoa sen”.