RULE THREE
The Energy circulates. The point of light, the product of the labours of the four, waxeth and groweth. The myriads gather round ita glowing warmth until its light recedes. Its fire grows dim. Then shall the second sound go forth.
Năng lượng lưu chuyển. Điểm ánh sáng, sản phẩm từ các lao động của bốn, lớn mạnh và tăng trưởng. Muôn vàn sinh linh tụ quanh hơi ấm rực sáng của nó cho đến khi ánh sáng của nó rút lui. Lửa của nó mờ dần. Bấy giờ âm thanh thứ hai sẽ phát ra.
Soul Light and Body Light
[93]
[93]
In these Rules for Magic, the laws of creative work are embodied and the means whereby man can function as an incarnated soul. They do not deal primarily with the rules governing man's development. Incidentally, of course, much may be learnt in this connection, for man grows through creative work and understanding, but this is not the primary objective of the teaching.
Trong các Quy Luật về Huyền Thuật này, các định luật của công việc sáng tạo được hàm chứa, cũng như các phương tiện nhờ đó con người có thể vận hành như một linh hồn nhập thể. Chúng không chủ yếu đề cập đến các quy luật chi phối sự phát triển của con người. Dĩ nhiên, ngẫu nhiên có thể học được nhiều điều trong liên hệ này, vì con người tăng trưởng qua công việc sáng tạo và sự thấu hiểu, nhưng đó không phải là mục tiêu chính của giáo huấn.
Through the gradually growing synthesis of the meditation process carried on by the soul on its own plane and that of the aspirant the man manifests (in the physical brain) a point of light which has been occultly lighted on the plane of the mind. Light ever signifies two things, energy and its manifestation in form of some kind, for light and matter are synonymous terms. The thought of the man and the idea of the soul have found a point of rapport, and the germ of a thought form has come into being. This thought form, when completed, will embody as much of the great plan (on which the Hierarchy is working) as the man can vision, grasp, and embody on the mental plane. This, in the early stages of a man's aspiration, in his first steps along the Path of Discipleship, and for the first two initiations, is covered by the word “Service”. He grasps, gropingly at first, the idea of the unity of the Life, and its manifestation as the Brotherhood existing between all forms of that divine Life. This subjective ideal gradually leads to an appreciation of the way in which this essential relationship can work out practically. This can be seen finding its expression in the great humanitarian efforts, in the organisations [94] for the relief of human and animal suffering, and in world wide efforts for the betterment of the internal relations of nations, religions and groups.
Thông qua sự tổng hợp tăng trưởng dần dần giữa tiến trình tham thiền do linh hồn thực hiện trên cõi riêng của nó và tiến trình tham thiền của người chí nguyện, con người biểu hiện, trong bộ não hồng trần, một điểm ánh sáng đã được thắp lên một cách huyền bí trên cõi trí. Ánh sáng bao giờ cũng chỉ hai điều: năng lượng và sự biểu hiện của nó trong một loại hình tướng nào đó, vì ánh sáng và vật chất là những thuật ngữ đồng nghĩa. Tư tưởng của con người và ý tưởng của linh hồn đã tìm thấy một điểm tương giao, và mầm của một hình tư tưởng đã đi vào hiện hữu. Hình tư tưởng này, khi hoàn tất, sẽ hiện thân được chừng nào mà con người có thể nhìn thấy, nắm bắt và thể hiện trên cõi trí của đại Thiên Cơ, mà Thánh Đoàn đang hoạt động theo đó. Điều này, trong các giai đoạn đầu của khát vọng nơi con người, trong những bước đầu tiên của y trên Con Đường Đệ Tử, và trong hai lần điểm đạo đầu, được bao hàm trong từ “Phụng sự”. Y nắm bắt, lúc đầu còn dò dẫm, ý tưởng về sự hợp nhất của Sự sống, và sự biểu hiện của nó như tình huynh đệ hiện hữu giữa mọi hình tướng của Sự sống thiêng liêng ấy. Lý tưởng chủ quan này dần dần dẫn đến sự đánh giá đúng phương cách mà mối liên hệ thiết yếu này có thể được thực hiện một cách thực tiễn. Điều này có thể được thấy đang tìm sự biểu lộ của nó trong những nỗ lực nhân đạo lớn lao, trong các tổ chức [94] cứu trợ nỗi đau khổ của con người và động vật, và trong những nỗ lực trên toàn thế giới nhằm cải thiện các quan hệ nội tại giữa các quốc gia, tôn giáo và nhóm.
Enough human units have now contacted the hierarchical plan so that it may be safely concluded that the collective brain of the human family (that entity which we call the fourth Kingdom of Nature) is susceptible to the vision, and has fashioned its lighted form on the mental plane. Later, the thought of service and of self will be found inadequate, and a more suitable form of expression will be found, but this suffices for the present.
Hiện nay đã có đủ các đơn vị nhân loại tiếp xúc với Thiên Cơ của Thánh Đoàn, đến mức có thể kết luận một cách an toàn rằng bộ não tập thể của gia đình nhân loại, thực thể mà chúng ta gọi là giới thứ tư trong Thiên nhiên, có khả năng tiếp nhận tầm nhìn, và đã tạo nên hình tướng được soi sáng của nó trên cõi trí. Về sau, tư tưởng về phụng sự và về bản ngã sẽ được nhận thấy là không còn thích đáng, và một hình thức biểu lộ phù hợp hơn sẽ được tìm ra, nhưng hiện tại điều này là đủ.
This thought form, created by the aspirant, is brought into being by the focussed energies of the soul and the re-oriented forces of the personality. This is pictured as covering three stages.
Hình tư tưởng này, do người chí nguyện tạo ra, được đưa vào hiện hữu bởi các năng lượng được tập trung của linh hồn và các mãnh lực được tái định hướng của phàm ngã. Điều này được mô tả như bao gồm ba giai đoạn.
1. The period wherein the aspirant struggles to achieve that inner quiet and directed attentiveness which will enable him to hear the Voice of the Silence. That voice expresses to him, through symbol and interpreted life experience the purposes and plans with which he may cooperate. According to his stage of development those plans will express either:
1. Thời kỳ trong đó người chí nguyện phấn đấu để đạt sự yên tĩnh nội tâm và sự chú tâm có định hướng, nhờ đó y có thể nghe Tiếng Nói của Im Lặng. Tiếng nói ấy biểu lộ cho y, qua biểu tượng và kinh nghiệm sống đã được giải thích, các mục đích và kế hoạch mà y có thể cộng tác. Tùy theo giai đoạn phát triển của y, các kế hoạch ấy sẽ biểu lộ hoặc là:
a. The already materialized plans, taking group form on the physical plane, with which he may cooperate and in whose interest he may submerge his own.
a. Các kế hoạch đã hiện hình, đang mang hình thức nhóm trên cõi hồng trần, mà y có thể cộng tác và vì lợi ích của chúng mà y có thể làm chìm mất lợi ích riêng của mình.
b. The plan, or fraction of a plan, which is his individual privilege to bring through into manifestation and thus cause to materialize as a group activity on the physical plane. It is the function of some aspirants to aid and help those groups which are already in functioning activity. It is the function of others to bring into being those forms of activity which are, as yet, on the subjective plane. Only those aspirants who are freed from personal [95] ambition can truly cooperate in this second aspect of the work. Therefore “Kill out ambition.”
b. Kế hoạch, hay một phần của kế hoạch, mà y có đặc ân cá nhân là đưa xuyên qua vào biểu hiện và nhờ đó khiến nó hiện hình như một hoạt động nhóm trên cõi hồng trần. Chức năng của một số người chí nguyện là trợ giúp và hỗ trợ những nhóm đã đang hoạt động. Chức năng của những người khác là đưa vào hiện hữu những hình thức hoạt động hiện còn ở trên cõi chủ quan. Chỉ những người chí nguyện đã được giải thoát khỏi tham vọng cá nhân [95] mới có thể thật sự cộng tác trong phương diện thứ hai này của công việc. Vì vậy, “Hãy diệt trừ tham vọng”.
2. The period wherein he habituates himself to the clear hearing and correct interpretation of the inner voice of the soul and broods reflectively upon the imparted message. During this period “the Energy circulates.” A constant rhythmic response to the thought energy of the soul is set up, and, figuratively speaking, there is a steady flow of force between that centre of energy we call the soul on its own plane, and that centre of force which is a human being. The energy travels along the “thread” we call the sutratma and sets up a vibratory response between the brain and the soul.
2. Thời kỳ trong đó y tự tập cho quen với việc nghe rõ và giải thích đúng tiếng nói bên trong của linh hồn, và trầm tư suy ngẫm về thông điệp được truyền trao. Trong thời kỳ này, “Năng lượng lưu chuyển”. Một sự đáp ứng nhịp nhàng liên tục đối với năng lượng tư tưởng của linh hồn được thiết lập, và, nói theo nghĩa bóng, có một dòng mãnh lực đều đặn giữa trung tâm năng lượng mà chúng ta gọi là linh hồn trên cõi riêng của nó, và trung tâm mãnh lực là một con người. Năng lượng đi dọc theo “sợi dây” mà chúng ta gọi là sinh mệnh tuyến, và thiết lập một đáp ứng rung động giữa bộ não và linh hồn.
An interesting angle of information might here be given, as it is my intent in these Instructions ever to link up the analogies between the different aspects of divinity, as they express themselves in man or in the macrocosm, the Heavenly Man.
Ở đây có thể đưa ra một góc nhìn thông tin thú vị, vì ý định của tôi trong các Huấn thị này luôn là nối kết các tương đồng giữa những phương diện khác nhau của thiên tính, khi chúng biểu lộ nơi con người hay nơi Đại thiên địa, Đấng Thiên Nhân.
The ancient yoga of Atlantean days (which has come down to us in the necessarily fragmentary teaching of the yoga of the centres) conveys to us the information that the reflection of the sutratma in the human organism is called the spinal cord, and expresses itself in three nerve channels. These three are called ida, pingala, and the central channel, the sushumna. When the negative and positive forces of the body, which express themselves via the ida and pingala nerve routes, are equilibrized, the forces can ascend and descend by the central channel to and from the brain, passing through the centres up the spine without hindrance. When this is the case we have perfected soul expression in the physical man.
Yoga cổ xưa của thời Atlantis, vốn đã truyền đến chúng ta trong giáo huấn tất yếu là rời rạc của yoga về các trung tâm, cho chúng ta biết rằng phản ảnh của sinh mệnh tuyến trong cơ thể con người được gọi là tủy sống, và biểu lộ qua ba kinh mạch thần kinh. Ba kinh này được gọi là kinh trái, kinh phải và kinh trung ương. Khi các mãnh lực âm và dương của thể xác, biểu lộ qua các đường thần kinh trái và phải, được quân bình, các mãnh lực có thể đi lên và đi xuống qua kinh trung ương đến và từ bộ não, đi qua các trung tâm dọc theo cột sống mà không bị cản trở. Khi điều này xảy ra, chúng ta có sự biểu lộ linh hồn hoàn thiện nơi con người hồng trần.
This is in reality a correspondence to the sutratma as it links the physical man and the soul, for the sutratma in its turn expresses the positive energy of spirit, the negative energy of matter, and the equilibrized energy [96] of the soul—the attainment of equilibrium being the present objective of humanity. During the period of the later initiations, the positive use of the spiritual energy supersedes the equilibrized use of soul force, but that is a later stage with which the aspirant need not as yet trouble himself. Let him find the “noble middle Path” between the pairs of opposites, and incidentally he will find that the forces he uses on the physical plane will employ the central nerve channel up the spine. This will occur as the transmission of light and truth to the physical brain, via the central channel of the linking sutratma, really works out into satisfactory usefulness. Those ideas and concepts (speaking in symbol) which come via the sutratmic negative channel are well meaning, but lack force and peter out into insignificance. They are emotionally coloured, and lack the organized form which pure mind can give. Those which come via the opposite channel (speaking figuratively) produce too rapid concretion, and are motivated by the personal ambition of a ruling mentality. The mind is ever egoistic, self-seeking, and expresses that personal ambition which carries within it the germ of its own destruction.
Điều này thật ra là một tương ứng với sinh mệnh tuyến khi nó nối kết con người hồng trần và linh hồn, vì đến lượt mình, sinh mệnh tuyến biểu lộ năng lượng dương của tinh thần, năng lượng âm của vật chất, và năng lượng quân bình [96] của linh hồn — việc đạt được quân bình là mục tiêu hiện nay của nhân loại. Trong thời kỳ của các lần điểm đạo về sau, việc sử dụng tích cực năng lượng tinh thần thay thế cho việc sử dụng quân bình mãnh lực linh hồn, nhưng đó là một giai đoạn về sau mà người chí nguyện chưa cần bận tâm. Hãy để y tìm thấy “Con Đường trung dung cao quý” giữa các cặp đối nghịch, và nhân tiện y sẽ thấy rằng các mãnh lực y sử dụng trên cõi hồng trần sẽ vận dụng kinh thần kinh trung ương dọc theo cột sống. Điều này sẽ xảy ra khi việc truyền dẫn ánh sáng và chân lý đến bộ não hồng trần, qua kinh trung ương của sinh mệnh tuyến nối kết, thật sự được thể hiện thành sự hữu dụng thỏa đáng. Những ý tưởng và khái niệm, nói theo biểu tượng, đến qua kinh âm của sinh mệnh tuyến thì có thiện chí, nhưng thiếu mãnh lực và tàn lụi thành vô nghĩa. Chúng bị nhuộm màu cảm xúc, và thiếu hình thức có tổ chức mà trí tuệ thuần khiết có thể đem lại. Những điều đến qua kinh đối nghịch, nói theo nghĩa bóng, tạo ra sự kết tinh quá nhanh, và được thúc đẩy bởi tham vọng cá nhân của một trí tuệ thích cai trị. Thể trí bao giờ cũng vị kỷ, tìm kiếm cho bản thân, và biểu lộ tham vọng cá nhân vốn mang trong nó mầm mống tự hủy diệt.
When, however, the sutratmic sushumna, the central nerve channel and its energy is employed, the soul, as a magnetic intelligent creator, transmits its energies. The plans can then mature according to divine purpose and proceed with their building activities “in the light”. The point of egoic and lunar contact emits ever the point of light, as we have seen from our Rules for Magic, and that has its focus at the point in the sutratma which has its correspondence in the light in the head of the aspirant.
Tuy nhiên, khi kinh trung ương của sinh mệnh tuyến, tức kinh thần kinh trung ương và năng lượng của nó, được sử dụng, linh hồn, với tư cách một đấng sáng tạo thông tuệ và từ tính, truyền dẫn các năng lượng của mình. Khi ấy các kế hoạch có thể chín muồi phù hợp với Thiên Ý và tiến hành các hoạt động kiến tạo của chúng “trong ánh sáng”. Điểm tiếp xúc giữa chân ngã và mặt trăng luôn phát ra điểm ánh sáng, như chúng ta đã thấy từ các Quy Luật về Huyền Thuật, và điểm ấy có tiêu điểm tại điểm trong sinh mệnh tuyến có sự tương ứng của nó trong ánh sáng nơi đầu của người chí nguyện.
3. The period wherein he sounds the sacred Word and—blending it with the voice of the Ego or Soul—sets in motion mental matter for the building of his thought form. It is the man on the physical plane who now sounds the Word, and he does it in four ways: [97]
3. Thời kỳ trong đó y xướng Linh từ thiêng liêng và, hòa nó với tiếng nói của Chân ngã hay Linh hồn, làm cho vật chất trí tuệ chuyển động để kiến tạo hình tư tưởng của y. Chính con người trên cõi hồng trần giờ đây xướng Linh từ, và y làm điều đó theo bốn cách: [97]
a. He becomes the Word incarnated, and endeavours “to be what he is.”
a. Y trở thành Linh từ nhập thể, và cố gắng “hiện hữu đúng như điều y là”.
b. He sounds the Word within himself, seeking to do it as the soul. He visualizes himself as the soul breathing out energy through the medium of that Word through the entire system which his soul animates—his mental, emotional, vital, and physical instruments.
b. Y xướng Linh từ bên trong chính mình, tìm cách làm điều đó như linh hồn. Y hình dung chính mình là linh hồn đang thở ra năng lượng qua phương tiện của Linh từ ấy, xuyên suốt toàn bộ hệ thống mà linh hồn y làm linh hoạt — các khí cụ trí tuệ, cảm xúc, sinh lực và hồng trần của y.
c. He sounds the Word literally on the physical plane, thus affecting the three grades of matter in his environment. All the time that he is thus occupied he is “holding the mind steady in the light”, and is keeping his consciousness immovably in the realm of the soul.
c. Y xướng Linh từ theo nghĩa đen trên cõi hồng trần, nhờ đó tác động đến ba cấp độ vật chất trong môi trường của y. Trong suốt thời gian y bận rộn như vậy, y đang “giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng”, và đang giữ tâm thức của mình bất lay chuyển trong cõi giới của linh hồn.
d. Also he carries forward (and this is the most difficult stage) a paralleling activity of a steady visualization of the thought form through which he hopes to express that aspect of the plan which he has contacted, and which he hopes to bring into active being through his own life and in his own environment.
d. Y cũng tiếp tục, và đây là giai đoạn khó khăn nhất, một hoạt động song hành là sự hình dung bền bỉ về hình tư tưởng mà qua đó y hy vọng biểu lộ phương diện của Thiên Cơ mà y đã tiếp xúc, và y hy vọng đưa vào hiện hữu tích cực qua đời sống riêng của mình và trong môi trường riêng của mình.
This is only truly possible when a steady rapport has been established between the soul and the brain. The process involves the capacity of the brain to register what the soul is visioning and becoming aware of in the Kingdom of the Soul. It involves also a paralleling activity in the mind, for the aspirant must interpret the vision and utilize the concrete intelligent faculty for the wise adaptation of time and of form to the true expression of that which has been learnt. This is by no means an easy thing to do, but the aspirant has eventually to learn to express himself in full consciousness in more than one way and that simultaneously. He begins to learn a triple activity in this manner. This the Old Commentary expresses as follows: [98]
Điều này chỉ thật sự có thể xảy ra khi một tương giao vững chắc đã được thiết lập giữa linh hồn và bộ não. Tiến trình này bao hàm năng lực của bộ não ghi nhận điều linh hồn đang nhìn thấy và đang nhận biết trong Giới của Linh hồn. Nó cũng bao hàm một hoạt động song hành trong thể trí, vì người chí nguyện phải giải thích tầm nhìn và sử dụng năng lực thông tuệ cụ thể để thích ứng thời gian và hình tướng một cách khôn ngoan với sự biểu lộ chân thật của điều đã học được. Điều này tuyệt nhiên không dễ thực hiện, nhưng cuối cùng người chí nguyện phải học cách biểu lộ chính mình trong tâm thức trọn vẹn theo hơn một cách, và đồng thời như vậy. Y bắt đầu học một hoạt động tam phân theo cách này. Cổ Luận diễn tả điều này như sau: [98]
The Solar Orb shines forth in radiant splendor. The illuminated mind reflects the solar glory. The lunar orb rises from the centre to the summit, and is transformed into a radiant sun of light. When these three suns are one, Brahma breaks forth. A lighted world is born.
Quả cầu Thái dương tỏa sáng trong vẻ huy hoàng rực rỡ. Thể trí được soi sáng phản chiếu vinh quang Thái dương. Quả cầu mặt trăng vươn lên từ trung tâm đến đỉnh cao, và được chuyển đổi thành một mặt trời ánh sáng rạng rỡ. Khi ba mặt trời này là một, Thượng đế sáng tạo bừng hiện. Một thế giới được soi sáng ra đời.
This literally means that when the soul (symbolized as the Solar Orb) the mind, and the light in the head form one unit, the creative power of the solar Angel can express itself in the three worlds, and can construct a form through which its energy can actively express itself. The lunar orb is a symbolic way of expressing the solar plexus which eventually must do two things:
Điều này theo nghĩa đen có nghĩa là khi linh hồn, được biểu tượng như Quả cầu Thái dương, thể trí, và ánh sáng trong đầu hình thành một đơn vị, quyền năng sáng tạo của Thái dương Thiên Thần có thể biểu lộ trong ba cõi thấp, và có thể kiến tạo một hình tướng qua đó năng lượng của Ngài có thể biểu lộ một cách tích cực. Quả cầu mặt trăng là một cách biểu tượng để chỉ tùng thái dương, vốn cuối cùng phải làm hai điều:
1. Blend and fuse the energies of the lower two centres of force, and
1. Hòa trộn và dung hợp các năng lượng của hai trung tâm mãnh lực thấp hơn, và
2. Raise these fused energies and so, blending with the energies of the other and higher centres, reach the head.
2. Nâng các năng lượng đã được dung hợp này lên, rồi nhờ hòa trộn với các năng lượng của những trung tâm khác và cao hơn, đạt đến đầu.
All the above embodies a teaching and a theory. This has to be wrought out in the practical experiment and experience and conscious activity of the aspirant.
Tất cả những điều trên hiện thân một giáo huấn và một lý thuyết. Điều này phải được thực hiện trong thí nghiệm thực tiễn, trong kinh nghiệm và hoạt động hữu thức của người chí nguyện.
I would like also to point out the nature of the service humanity as a whole is rendering in the general plan of evolution. The rule under our consideration applies not only to the individual man but to the predestined activity of the fourth Kingdom in Nature. Through his meditation, discipline and service, man fans into radiant light, illuminating the three worlds, that point of light which flickered into being at the time of his individualization in past ages. This finds its reflection in the light in the head. Thus a rapport is set up, which permits not only of vibratory synchronization but of a radiation and display of magnetic force, permitting of its recognition in the three worlds of a man's immediate environment.
Tôi cũng muốn chỉ ra bản chất của sự phụng sự mà toàn thể nhân loại đang thực hiện trong Thiên Cơ chung của tiến hoá. Quy luật chúng ta đang xem xét không chỉ áp dụng cho từng con người riêng lẻ mà còn cho hoạt động đã được tiền định của giới thứ tư trong Thiên nhiên. Qua sự tham thiền, kỷ luật và phụng sự của mình, con người thổi bùng thành ánh sáng rạng rỡ, soi sáng ba cõi thấp, điểm ánh sáng đã le lói đi vào hiện hữu vào thời điểm y biệt ngã hóa trong các thời đại quá khứ. Điều này tìm thấy phản ảnh của nó trong ánh sáng nơi đầu. Như vậy, một tương giao được thiết lập, cho phép không chỉ sự đồng bộ rung động mà còn sự bức xạ và phô diễn mãnh lực từ tính, nhờ đó nó có thể được nhận ra trong ba cõi thấp thuộc môi trường trực tiếp của con người.
So it is with the human kingdom. As its illumination increases, as its light waxes more potent, its effect upon [99] the sub-human kingdoms is analogous to that of the individual soul, its reflection, upon man in physical incarnation. I say analogous as a causative force, though not a correspondence in effects. Note this difference. Humanity is macrocosmic in relation to the sub-human states of consciousness, and this H. P. B. has well pointed out. The effect upon these lesser and more material states is primarily four-fold.
Đối với giới nhân loại cũng như vậy. Khi sự soi sáng của nó gia tăng, khi ánh sáng của nó trở nên mạnh mẽ hơn, hiệu quả của nó trên [99] các giới dưới nhân loại tương tự với hiệu quả của linh hồn cá nhân, phản ảnh của nó, trên con người đang lâm phàm. Tôi nói là tương tự như một mãnh lực nguyên nhân, dù không phải là một tương ứng về các hiệu quả. Hãy lưu ý sự khác biệt này. Nhân loại có tính Đại thiên địa trong quan hệ với các trạng thái tâm thức dưới nhân loại, và H. P. B. đã chỉ rõ điều này. Hiệu quả trên các trạng thái thấp hơn và vật chất hơn này chủ yếu là tứ phân.
1. The stimulating of the spiritual aspect, expressing itself as the soul in all forms, such as the form of a mineral, a flower, or an animal. The positive aspect of energy in all these forms will wax stronger, producing radiation, for instance, increasingly in the mineral kingdom. In this lies a hint of the nature of the process that will set a term to our own planetary existence and eventually, to our solar system. In the vegetable kingdom, the effect will be the demonstration of increased beauty and diversity, and the evolution of new species with an objective impossible to explain to those not yet initiate. The production of nutritive forms which will serve the needs of the lesser devas and angels will be one of the results.
1. Sự kích thích phương diện tinh thần, biểu lộ như linh hồn trong mọi hình tướng, chẳng hạn hình tướng của một khoáng vật, một bông hoa, hay một con vật. Phương diện dương của năng lượng trong tất cả những hình tướng này sẽ trở nên mạnh hơn, tạo ra sự bức xạ, chẳng hạn ngày càng tăng trong giới kim thạch. Chính trong điều này có một gợi ý về bản chất của tiến trình sẽ đặt dấu chấm hết cho sự hiện hữu hành tinh của chúng ta và cuối cùng cho hệ mặt trời của chúng ta. Trong giới thực vật, hiệu quả sẽ là sự biểu lộ vẻ đẹp và tính đa dạng gia tăng, và sự tiến hoá của các loài mới với một mục tiêu không thể giải thích cho những ai chưa là điểm đạo đồ. Việc tạo ra các hình tướng dinh dưỡng sẽ phục vụ nhu cầu của các thiên thần và các thiên sứ thấp hơn sẽ là một trong những kết quả.
In the animal kingdom the effect will be the elimination of pain and suffering and a return to the ideal conditions of the Garden of Eden. When man functions as a soul, he heals; he stimulates and vitalizes; he transmits the spiritual forces of the universe, and all harmful emanations and all destructive forces find in the human kingdom a barrier. Evil and its effects are largely dependent upon humanity for a functioning channel. Humanity's function is to transmit and handle force. This is done in the early and ignorant stages destructively and with harmful results. Later when acting under the influence of the soul, force is rightly and wisely handled and good eventuates. True indeed it is that “the whole creation travaileth in pain until now, waiting for the manifestation of the sons of God.” [100]
Trong giới động vật, hiệu quả sẽ là sự loại trừ đau đớn và khổ đau, và sự trở lại những điều kiện lý tưởng của Vườn Ê-đen. Khi con người vận hành như một linh hồn, y chữa lành; y kích thích và tiếp sinh lực; y truyền dẫn các mãnh lực tinh thần của vũ trụ, và mọi phát xạ có hại cùng mọi mãnh lực phá hoại đều tìm thấy trong giới nhân loại một hàng rào ngăn chặn. Điều ác và các hiệu quả của nó phần lớn tùy thuộc vào nhân loại để có một kênh vận hành. Chức năng của nhân loại là truyền dẫn và xử lý mãnh lực. Trong các giai đoạn đầu và vô minh, điều này được thực hiện một cách phá hoại và với những kết quả có hại. Về sau, khi hành động dưới ảnh hưởng của linh hồn, mãnh lực được xử lý đúng đắn và khôn ngoan, và điều thiện xảy ra. Quả thật đúng rằng “toàn thể tạo vật vẫn quằn quại trong đau đớn cho đến nay, chờ đợi sự hiển lộ của các Con của Thượng đế”. [100]
2. The bringing of light. Humanity is the planetary light bearer, transmitting the light of knowledge, of wisdom, and of understanding, and this in the esoteric sense. These three aspects of light carry three aspects of soul energy to the soul in all forms, through the medium of the anima mundi, the world soul. Physically speaking, this can be realized if we can appreciate the difference between our planetary illumination today and that of five hundred years ago—our brilliantly lit cities, our rural districts, shining through the night with their lighted streets and homes; our airways, outlined with their search-lights and fields of blazing globes; our oceans, dotted with their lighted ships, and increasingly our lighted airships will be seen, darting through the skies.
2. Việc đem lại ánh sáng. Nhân loại là vị mang ánh sáng của hành tinh, truyền dẫn ánh sáng của tri thức, của minh triết và của sự thấu hiểu, và điều này theo nghĩa huyền bí. Ba phương diện ánh sáng này mang ba phương diện của năng lượng linh hồn đến linh hồn trong mọi hình tướng, qua phương tiện của linh hồn thế giới. Nói theo hồng trần, điều này có thể được nhận ra nếu chúng ta có thể đánh giá đúng sự khác biệt giữa sự chiếu sáng của hành tinh chúng ta ngày nay và sự chiếu sáng cách đây năm trăm năm — các thành phố rực rỡ ánh đèn của chúng ta, những vùng thôn quê của chúng ta, sáng lên suốt đêm với đường phố và nhà cửa được thắp sáng; các tuyến đường hàng không của chúng ta, được vạch rõ bằng đèn pha và những sân bãi đầy các quả cầu sáng rực; các đại dương của chúng ta, điểm xuyết những con tàu sáng đèn, và ngày càng nhiều khí cầu sáng đèn của chúng ta sẽ được thấy lao qua bầu trời.
These are but the result of man's growing illumination. His knowledge aspect of light has brought this into being. Who shall say what will eventuate when the wisdom aspect predominates? When these are welded by understanding, the soul will control in the three worlds and in all kingdoms of nature.
Những điều này chỉ là kết quả của sự soi sáng ngày càng tăng của con người. Phương diện ánh sáng của tri thức nơi y đã đưa điều này vào hiện hữu. Ai có thể nói điều gì sẽ xảy ra khi phương diện minh triết chiếm ưu thế? Khi những điều này được hàn gắn bằng sự thấu hiểu, linh hồn sẽ kiểm soát trong ba cõi thấp và trong mọi giới của thiên nhiên.
3. The transmission of energy. The clue to the significance of this can be grasped as a concept, though as yet it will fail of comprehension, in the realization that the human kingdom acts upon and affects the three sub-human kingdoms. The downpouring spiritual Triangle and the upraising matter Triangle meet point to point in humanity when the point of balance can be found. In man's achievement and spiritualization is the hope of the world. Mankind itself is the world Saviour, of which all world Saviours have been but the symbol and the guarantee.
3. Sự truyền dẫn năng lượng. Chìa khóa cho thâm nghĩa của điều này có thể được nắm bắt như một khái niệm, dù hiện nay nó vẫn chưa thể được thấu hiểu đầy đủ, trong nhận thức rằng giới nhân loại tác động lên và ảnh hưởng đến ba giới dưới nhân loại. Tam giác tinh thần tuôn xuống và Tam giác vật chất nâng lên gặp nhau đầu mút với đầu mút trong nhân loại khi điểm quân bình có thể được tìm thấy. Trong thành tựu và sự tinh thần hóa của con người có niềm hy vọng của thế giới. Chính nhân loại là Đấng Cứu Thế của thế giới, mà tất cả các Đấng Cứu Thế của thế giới chỉ là biểu tượng và bảo chứng.
4. The blending of the deva or angel evolution and the human. This is a mystery which will be solved as man arrives at the consciousness of his own solar Angel, only to discover that that too is also but a form of life which, [101] having served its purpose, must be left behind. The angel or deva evolution is one of the great lines of force, contained in the divine expression and the solar Angels, the Agnishvattas of The Secret Doctrine and of A Treatise on Cosmic Fire belong—in their form aspect—to this line.
4. Sự hòa trộn của dòng tiến hoá thiên thần và dòng tiến hoá nhân loại. Đây là một huyền nhiệm sẽ được giải quyết khi con người đạt đến tâm thức của chính Thái dương Thiên Thần của mình, chỉ để khám phá rằng điều ấy cũng chỉ là một hình thức của sự sống, [101] sau khi đã phục vụ mục đích của nó, phải được bỏ lại phía sau. Dòng tiến hoá thiên thần là một trong những đường mãnh lực lớn, được chứa trong sự biểu lộ thiêng liêng; và các Thái dương Thiên Thần, các đấng lửa trí của Giáo Lý Bí Nhiệm và của Luận về Lửa Vũ Trụ, thuộc về đường này trong phương diện hình tướng của các Ngài.
Thus humanity serves, and in the development of a conscious aptitude for service, in the growth of a conscious understanding of the individual part to be played in the working out of the plan and in the rendering of the personality subject to the soul, will come the steady progress of humanity towards its goal of world service.
Như vậy nhân loại phụng sự, và trong sự phát triển của một năng lực hữu thức đối với phụng sự, trong sự tăng trưởng của một sự thấu hiểu hữu thức về phần việc cá nhân phải đảm nhận trong việc thực hiện Thiên Cơ, và trong việc khiến phàm ngã phục tùng linh hồn, sẽ đến sự tiến bộ vững chắc của nhân loại hướng tới mục tiêu phụng sự thế giới của mình.
May I speak a word here so as to make this consummation a practical goal in your life? Harmful magnetic conditions, as the result of man's wrong handling of force are the causes of evil in the world around us, including the three sub-human kingdoms. How can we, as individuals, change this? By the development in ourselves of Harmlessness. Therefore, study yourself from this angle. Study your daily conduct and words and thoughts so as to make them utterly harmless. Set yourself to think those thoughts about yourself and others which will be constructive and positive, and hence harmless in their effects. Study your emotional effect on others so that by no mood, no depression, and no emotional reaction can you harm a fellow-man. Remember in this connection, violent spiritual aspiration and enthusiasm, misplaced or misdirected, may quite easily harm a fellow-man, so look not only at your wrong tendencies but at the use of your virtues.
Tôi có thể nói một lời ở đây để làm cho sự viên mãn này trở thành một mục tiêu thực tiễn trong đời sống của các bạn không? Các tình trạng từ tính có hại, như kết quả của việc con người xử lý mãnh lực sai lầm, là nguyên nhân của điều ác trong thế giới quanh chúng ta, bao gồm cả ba giới dưới nhân loại. Làm thế nào chúng ta, với tư cách những cá nhân, có thể thay đổi điều này? Bằng sự phát triển trong chính mình tính vô tổn hại. Vì vậy, hãy nghiên cứu chính mình từ góc độ này. Hãy nghiên cứu hành vi, lời nói và tư tưởng hằng ngày của bạn để làm cho chúng hoàn toàn vô tổn hại. Hãy tự đặt mình vào việc suy nghĩ những tư tưởng về chính mình và về người khác mang tính xây dựng và tích cực, và do đó vô tổn hại trong các hiệu quả của chúng. Hãy nghiên cứu hiệu quả cảm xúc của bạn trên người khác để không một tâm trạng nào, không một sự chán nản nào, và không một phản ứng cảm xúc nào có thể khiến bạn gây hại cho một đồng loại. Trong liên hệ này, hãy nhớ rằng khát vọng và nhiệt thành tinh thần mãnh liệt, nếu đặt sai chỗ hay hướng sai đường, rất dễ gây hại cho một đồng loại; vì vậy, hãy nhìn không chỉ vào các khuynh hướng sai lầm của bạn mà còn vào cách bạn sử dụng các đức tính của mình.
If harmlessness is the keynote of your life, you will do more to produce right harmonious conditions in your personality than any amount of discipline along other lines. The drastic purgation brought about by the attempt to be harmless will go far to eliminate wrong [102] states of consciousness. See to it therefore, and bring this idea in your evening review.
Nếu tính vô tổn hại là chủ âm của đời sống bạn, bạn sẽ làm được nhiều hơn để tạo ra những điều kiện hài hòa đúng đắn trong phàm ngã của mình so với bất cứ mức độ kỷ luật nào theo các đường hướng khác. Sự thanh lọc quyết liệt do nỗ lực trở nên vô tổn hại đem lại sẽ tiến xa trong việc loại trừ các trạng thái tâm thức [102] sai lầm. Vì vậy, hãy chú tâm đến điều đó, và đưa ý tưởng này vào phần hồi quán buổi tối của bạn.
I would like to urge each one who reads these pages to make a fresh beginning in spiritual living. I would say to him, forget all past achievements, realize fervour, and concentrate upon the Plan.
Tôi muốn thúc giục mỗi người đọc những trang này hãy khởi đầu lại trong đời sống tinh thần. Tôi muốn nói với y rằng: hãy quên mọi thành tựu quá khứ, hãy nhận biết nhiệt tâm, và hãy tập trung vào Thiên Cơ.
By this time some progress in group realization has surely been made, and less interest in the separated self has been gained. More faith in the Good Law which guides all creation to ultimate perfection has been visioned without doubt, and, through this vision, has come the capacity to take one's eyes off the affairs of individual experience, and fasten them on the working out of the purpose for the whole. This is the objective and the goal. Breadth of vision, inclusiveness of understanding and a widened horizon are the preliminary essentials to all work under the guidance of the hierarchy of adepts; the stabilizing of the consciousness in the one life, and the recognition of the basic unity of all creation has to be somewhat developed before any one can be trusted with certain knowledges and Words of Power and the manipulation of those forces which bring the subjective reality into outer manifestation.
Đến lúc này, chắc chắn đã có một vài tiến bộ trong sự chứng nghiệm nhóm, và sự quan tâm đến bản ngã tách biệt đã giảm bớt. Không nghi ngờ gì, đã có thêm niềm tin vào Định luật Thiện lành đang hướng dẫn toàn thể tạo vật đến sự hoàn thiện tối hậu; và qua tầm nhìn này đã đến năng lực rời mắt khỏi các sự vụ của kinh nghiệm cá nhân, và hướng chúng vào việc thực hiện mục đích cho toàn thể. Đây là mục tiêu và cứu cánh. Tầm nhìn rộng lớn, sự thấu hiểu bao gồm và chân trời mở rộng là những điều thiết yếu sơ khởi cho mọi công việc dưới sự hướng dẫn của Thánh đoàn các chân sư; sự ổn định tâm thức trong sự sống duy nhất, và sự nhận biết về sự hợp nhất căn bản của toàn thể tạo vật, phải được phát triển phần nào trước khi bất cứ ai có thể được tin cậy trao cho một số tri thức và Quyền năng từ nhất định, cũng như việc vận dụng những mãnh lực đưa thực tại chủ quan vào biểu hiện bên ngoài.
Therefore, I say to you at this time, I—an older and perhaps more experienced disciple and worker in the great vineyard of the Lord—practice harmlessness with zest and understanding, for it is (if truly carried out) the destroyer of all limitation. Harmfulness is based on selfishness, and on an ego-centric attitude. It is the demonstration of forces concentrated for self-enforcement, self-aggrandisement, and self-gratification. Harmlessness is the expression of the life of the man who realizes himself to be everywhere, who lives consciously as a soul, whose nature is love, whose method is inclusiveness, and to whom all forms are alike in that they veil and hide the light, and are but externalizations of [103] the one Infinite Being. This realization, let me remind you, will demonstrate in a true comprehension of a brother's need, divorced from sentiment and expediency. It will lead to that silence of the tongue which grows out of non-reference to the separate self. It will produce that instantaneous response to true need which characterizes the Great Ones who (passing beneath the outer appearance) see the inner cause which produces the conditions noted in the outer life, and so, from that point of wisdom, true help and guidance can be given. Harmlessness brings about in the life caution in judgment, reticence in speech, ability to refrain from impulsive action, and the demonstration of a non-critical spirit. So, free passage can be given to the forces of true love, and to those spiritual energies which seem to vitalize the personality, leading consequently to right action.
Vì vậy, vào lúc này, tôi nói với các bạn rằng tôi — một đệ tử và người hoạt động lớn tuổi hơn và có lẽ nhiều kinh nghiệm hơn trong vườn nho lớn của Chúa — hãy thực hành tính vô tổn hại với nhiệt tâm và sự thấu hiểu, vì nếu được thực hiện thật sự, nó là kẻ hủy diệt mọi giới hạn. Tính gây hại đặt nền trên tính ích kỷ và trên một thái độ lấy chân ngã làm trung tâm. Nó là sự biểu lộ của các mãnh lực được tập trung để tự củng cố, tự khuếch trương và tự thỏa mãn. Tính vô tổn hại là sự biểu lộ đời sống của con người nhận ra chính mình ở khắp nơi, sống một cách hữu thức như một linh hồn, có bản chất là tình thương, có phương pháp là tính bao gồm, và đối với y mọi hình tướng đều như nhau ở chỗ chúng che phủ và giấu kín ánh sáng, và chỉ là các sự ngoại hiện của [103] Đấng Hiện Hữu Vô Biên duy nhất. Sự nhận biết này, hãy để tôi nhắc các bạn, sẽ biểu lộ trong một sự thấu hiểu chân thật về nhu cầu của huynh đệ, tách khỏi tình cảm ủy mị và sự tiện lợi. Nó sẽ dẫn đến sự im lặng của lưỡi, vốn phát sinh từ việc không quy chiếu về bản ngã riêng biệt. Nó sẽ tạo ra sự đáp ứng tức thời đối với nhu cầu chân thật, điều đặc trưng cho Các Đấng Cao Cả, những Đấng khi vượt qua bên dưới vẻ ngoài, thấy nguyên nhân bên trong tạo ra các điều kiện được ghi nhận trong đời sống bên ngoài, và vì thế, từ điểm minh triết ấy, sự giúp đỡ và hướng dẫn chân thật có thể được trao. Tính vô tổn hại đem lại trong đời sống sự thận trọng khi phán xét, sự dè dặt trong lời nói, năng lực kiềm chế hành động bốc đồng, và sự biểu lộ một tinh thần không phê phán. Nhờ vậy, lối đi tự do có thể được trao cho các mãnh lực của tình thương chân thật, và cho những năng lượng tinh thần dường như tiếp sinh lực cho phàm ngã, do đó dẫn đến hành động đúng đắn.
Let harmlessness, therefore, be the keynote of your life. An evening review should be carried forward entirely along this line; divide the review work in three parts and consider:
Vì vậy, hãy để tính vô tổn hại là chủ âm của đời sống bạn. Một cuộc hồi quán buổi tối nên được tiến hành hoàn toàn theo đường hướng này; hãy chia công việc hồi quán thành ba phần và xem xét:
1. Harmlessness in thought. This will primarily result in the control of speech.
1. Tính vô tổn hại trong tư tưởng. Điều này chủ yếu sẽ dẫn đến việc kiểm soát lời nói.
2. Harmlessness in emotional reaction. This will result in being a channel for the love aspect of the soul.
2. Tính vô tổn hại trong phản ứng cảm xúc. Điều này sẽ dẫn đến việc trở thành một kênh dẫn cho phương diện tình thương của linh hồn.
3. Harmlessness in act. This will produce poise, skill in action and the release of the creative will.
3. Tính vô tổn hại trong hành động. Điều này sẽ tạo ra sự quân bình, kỹ năng trong hành động và sự giải phóng ý chí sáng tạo.
These three approaches to the subject should be studied from their effects upon one's own self and development, and from their effect upon those whom one contacts and upon one's environing associates.
Ba cách tiếp cận này đối với chủ đề cần được nghiên cứu từ các hiệu quả của chúng trên bản thân và sự phát triển của chính mình, cũng như từ hiệu quả của chúng trên những người mà mình tiếp xúc và trên các cộng sự bao quanh mình.
May I interpolate here the remark that I make suggestions, based on experience in occult work. There is no obligation to obey. We seek to train intelligent servers of the race, and these are developed by self-initiated [104] effort, freedom in action and discrimination in method and not by unquestioning obedience, negative acquiescence, and blind following. Let this not be forgotten. If any command may ever emanate from the subjective band of teachers of whom I am a humble member, let it be to follow the dictates of your own soul and the promptings of your higher self.
Tôi có thể xen vào đây nhận xét rằng tôi đưa ra các gợi ý, dựa trên kinh nghiệm trong công việc huyền bí. Không có nghĩa vụ phải tuân theo. Chúng tôi tìm cách đào luyện những người phụng sự thông tuệ của nhân loại, và những người này được phát triển bằng nỗ lực [104] tự khởi xướng, bằng tự do trong hành động và phân biện trong phương pháp, chứ không bằng sự vâng phục không thắc mắc, sự thuận phục tiêu cực và sự đi theo mù quáng. Đừng quên điều này. Nếu có bất cứ mệnh lệnh nào có thể từng phát ra từ nhóm huấn sư chủ quan mà tôi là một thành viên khiêm tốn, thì hãy để đó là: hãy đi theo các mệnh lệnh của chính linh hồn bạn và những thôi thúc của chân ngã của bạn.
Before we proceed to an analysis of this Rule and of the previous one, for Rules II and III are the two halves of a whole, I would like to remind you that, in this series of meditations upon these ancient formulas, we are concerned with the magical work of the aspirant as a co-worker in the enterprises of the Great White Lodge. We are dealing with the methods of white magic. Let me remind you also, that the magical work of our planetary Hierarchy consists of tending the psyche in the world of forms, so that the unfolding flower of the soul may be nurtured and fostered in such wise that radiant glory, magnetic force and (ultimately) spiritual energy may be demonstrated through the medium of the form. Thus the power of the three Rays of divine Manifestation may be seen.
Trước khi chúng ta tiến hành phân tích Quy luật này và quy luật trước, vì Quy luật Hai và Quy luật Ba là hai nửa của một toàn thể, tôi muốn nhắc các bạn rằng, trong loạt tham thiền này về những công thức cổ xưa, chúng ta đang quan tâm đến công việc huyền thuật của người chí nguyện với tư cách một cộng sự trong các công cuộc của Thánh đoàn. Chúng ta đang đề cập đến các phương pháp của Chánh Thuật. Tôi cũng xin nhắc các bạn rằng công việc huyền thuật của Thánh Đoàn hành tinh của chúng ta cốt ở việc chăm sóc tâm hồn trong thế giới của các hình tướng, để đóa hoa linh hồn đang khai mở có thể được nuôi dưỡng và vun bồi theo cách mà vinh quang rạng rỡ, mãnh lực từ tính và cuối cùng là năng lượng tinh thần có thể được biểu lộ qua phương tiện của hình tướng. Như vậy, quyền năng của ba Cung của sự Biểu Hiện thiêng liêng có thể được nhìn thấy.
First Ray........... Spiritual Energy
Cung một........... Năng lượng tinh thần
Second Ray......... Magnetic Force
Cung hai......... Mãnh lực từ tính
Third Ray........... Radiant Glory
Cung ba........... Vinh quang rạng rỡ
These rays likewise find their microcosmic reflections in the aura of perfected man.
Các cung này cũng tìm thấy những phản ảnh Tiểu thiên địa của chúng trong hào quang của con người hoàn thiện.
First Ray... Monadic... Spiritual Energy... Head Centre
Cung một... Chân thần... Năng lượng tinh thần... Trung tâm đầu
Second Ray. Egoic..... Magnetic Force... Heart Centre
Cung hai. Chân ngã..... Mãnh lực từ tính... Trung tâm tim
Third Ray.. Personality..Radiant Glory.... Solar Plexus
Cung ba.. Phàm ngã..Vinh quang rạng rỡ.... Tùng thái dương
You inquire, Why do I not say the throat centre? Because the centres below the diaphragm symbolize primarily the personal lower self, and in their synthesising centre, the solar plexus, express the magnetic force of the matter aspect in man. The throat centre is swept [105] into increasing creative activity as the personality vibrates to the soul.
Các bạn hỏi: Tại sao tôi không nói trung tâm cổ họng? Bởi vì các trung tâm bên dưới cơ hoành chủ yếu tượng trưng cho phàm ngã thấp cá nhân, và trong trung tâm tổng hợp của chúng, tức tùng thái dương, biểu lộ mãnh lực từ tính của phương diện vật chất trong con người. Trung tâm cổ họng được cuốn [105] vào hoạt động sáng tạo ngày càng tăng khi phàm ngã rung động theo linh hồn.
Let us now consider the words at the end of the previous rule: “The lower light is thrown upward and the greater light illuminates the three; the work of the four proceedeth.”
Giờ đây chúng ta hãy xem xét các lời ở cuối quy luật trước: “Ánh sáng thấp hơn được phóng lên trên và ánh sáng lớn hơn soi sáng ba; công việc của bốn tiếp diễn.”
What of this lower light? The student should remember that for the present purposes he has three bodies of light to consider:
Ánh sáng thấp hơn này là gì? Đạo sinh cần nhớ rằng, cho các mục đích hiện nay, y có ba thể ánh sáng cần xem xét:
There is the radiant body of the soul itself, found on its own plane, and called, frequently, the Karana Sarira or the causal body.
Có thể rạng rỡ của chính linh hồn, được tìm thấy trên cõi riêng của nó, và thường được gọi là thể nguyên nhân.
There is the vital or etheric body, the vehicle of prana which is the body of golden light, or rather the flame coloured vehicle.
Có thể sinh lực hay thể dĩ thái, vận cụ của prana, là thể ánh sáng vàng, hay đúng hơn là vận cụ màu lửa.
There is the body of “dark light”, which is the occult way of referring to the hidden light of the physical body, and to the light latent in the atom itself.
Có thể “ánh sáng tối”, là cách nói huyền bí chỉ ánh sáng ẩn tàng của thể xác, và ánh sáng tiềm tàng trong chính nguyên tử.
These three types of energy are referred to in the Old Commentary under the following symbolic terms:
Ba loại năng lượng này được nhắc đến trong Cổ Luận dưới các thuật ngữ biểu tượng sau:
“When the radiant light of the Solar Angel is fused with the golden light of the cosmic intermediary, it awakens from darkness the rush light of anu, the speck.”
“Khi ánh sáng rạng rỡ của Thái dương Thiên Thần được dung hợp với ánh sáng vàng của trung gian vũ trụ, nó đánh thức từ bóng tối ánh sáng nhỏ bé của nguyên tử, đốm vi trần.”
The “cosmic intermediary” is the term given to the etheric body, which is part and parcel of the universal ether. It is through the etheric body that all the energies flow, whether emanating from the soul, or from the sun, or from a planet. Along those living lines of fiery essence pass all the contacts that do not emanate specifically from the tangible world.
“Trung gian vũ trụ” là thuật ngữ chỉ thể dĩ thái, vốn là một phần không thể tách rời của dĩ thái phổ quát. Chính qua thể dĩ thái mà mọi năng lượng tuôn chảy, dù xuất phát từ linh hồn, từ mặt trời, hay từ một hành tinh. Dọc theo những đường sống động của tinh chất rực lửa ấy đi qua mọi tiếp xúc không xuất phát một cách đặc thù từ thế giới hữu hình.
The dark light of the tiny atoms of which the physical vehicle is constructed is responsive to the stimulation passing down from the soul into its vehicle, and, when the man is under control of the soul, there eventuates the shining forth of the light throughout the body. This [106] shows as the radiance emanating from the bodies of adepts and saints, giving the effect of bright and shining light.
Ánh sáng tối của những nguyên tử bé nhỏ cấu tạo nên vận cụ hồng trần đáp ứng với sự kích thích truyền xuống từ linh hồn vào vận cụ của nó; và khi con người ở dưới sự kiểm soát của linh hồn, ánh sáng bừng tỏa khắp thể xác. Điều này [106] biểu hiện như hào quang phát ra từ các thể của các chân sư và các thánh nhân, tạo nên ấn tượng về ánh sáng rực rỡ và chói lọi.
When the radiant light of the soul is blended with the magnetic light of the vital body, it stimulates the atoms of the physical body to such an extent that each atom becomes in turn a tiny radiant centre. This only becomes possible when the head, heart, the solar plexus and the centre at the base of the spine are connected in a peculiar fashion, which is one of the secrets of the first initiation. When these four are in close cooperation the “floor of the triangle” as it is symbolically called, is prepared for the magical work. In other words—these can be enumerated as follows:
Khi ánh sáng rạng rỡ của linh hồn hòa trộn với ánh sáng từ tính của thể sinh lực, nó kích thích các nguyên tử của thể xác đến mức mỗi nguyên tử lần lượt trở thành một trung tâm rạng rỡ bé nhỏ. Điều này chỉ có thể xảy ra khi đầu, tim, tùng thái dương và trung tâm ở đáy cột sống được nối kết theo một cách đặc biệt, vốn là một trong những bí mật của lần điểm đạo thứ nhất. Khi bốn trung tâm này hợp tác mật thiết, “đáy của tam giác”, như cách gọi biểu tượng, được chuẩn bị cho công việc huyền thuật. Nói cách khác, các yếu tố này có thể được liệt kê như sau:
a. The physical material form with its centre at the base of the spine.
a. Hình tướng vật chất hồng trần, với trung tâm của nó ở đáy cột sống.
b. The vital body working through the heart centre where the life principle has its seat. The activities of the body which are due to this stimulation are carried through the circulation of the blood.
b. Thể sinh lực hoạt động qua trung tâm tim, nơi nguyên khí sự sống an tọa. Các hoạt động của thể xác do sự kích thích này tạo ra được thực hiện qua tuần hoàn máu.
c. The emotional body, working through the solar plexus centre.
c. Thể cảm xúc, hoạt động qua trung tâm tùng thái dương.
d. The head centre, the direct agent of the soul and its interpreter, the mind. These four are in complete accord and alignment.
d. Trung tâm đầu, tác nhân trực tiếp của linh hồn và khí cụ diễn giải của nó là thể trí. Bốn yếu tố này hoàn toàn hòa hợp và chỉnh hợp.
When this is the case, the work of initiation and its interludes of active discipleship become possible. Before this time the work cannot proceed. This is foreshadowed in the aspirant when there is enacted a symbolic happening in the light in the head which is the forerunner of the later stage of initiation.
Khi tình trạng này hiện hữu, công việc điểm đạo và các giai đoạn xen kẽ của địa vị đệ tử tích cực trở nên khả hữu. Trước thời điểm này, công việc không thể tiến hành. Điều này được báo trước nơi người chí nguyện khi một sự kiện biểu tượng diễn ra trong ánh sáng nơi đầu, vốn là tiền thân của giai đoạn điểm đạo về sau.
In this stage, the soul light penetrates into the region of the pineal gland; there it produces an irradiation of the ethers of the head, of the vital airs; this produces a stimulation of the atoms of the brain so that their light [107] is fused and blended with the other two, the etheric light and the soul light, and there is then produced that inner radiant sun of which the aspirant becomes conscious in his physical brain experience. Frequently students speak of a diffused light or glow, this is the light of the physical plane atoms of which the brain is composed; later they may speak of seeing what appears to be like a sun in the head. This is the contacting of the etheric light, plus the physical atomic light. Later they become aware of an intensely bright electric light; this is the soul light, plus the etheric and the atomic. When that is seen, they frequently become aware of a dark centre within the radiant sun. This is the entrance to the Path disclosed by the “shining of the light upon the door.”
Ở giai đoạn này, ánh sáng linh hồn thâm nhập vào vùng tuyến tùng; tại đó nó tạo ra sự chiếu rạng trong các chất dĩ thái của đầu, trong các luồng sinh khí; điều này kích thích các nguyên tử của bộ não, khiến ánh sáng của chúng [107] được dung hợp và hòa trộn với hai ánh sáng kia: ánh sáng dĩ thái và ánh sáng linh hồn; bấy giờ mặt trời rạng rỡ bên trong được tạo ra, và người chí nguyện trở nên có ý thức về nó trong kinh nghiệm của bộ não hồng trần. Các đạo sinh thường nói đến một ánh sáng hay vầng sáng lan tỏa; đó là ánh sáng của các nguyên tử cõi hồng trần cấu tạo nên bộ não. Về sau, họ có thể nói đến việc thấy một điều gì tựa như mặt trời trong đầu. Đó là sự tiếp xúc với ánh sáng dĩ thái, cộng với ánh sáng nguyên tử hồng trần. Về sau nữa, họ trở nên nhận biết một ánh sáng điện cực kỳ chói lọi; đó là ánh sáng linh hồn, cộng với ánh sáng dĩ thái và ánh sáng nguyên tử. Khi điều ấy được thấy, họ thường nhận biết một trung tâm tối nằm trong mặt trời rạng rỡ. Đây là lối vào Đường Đạo, được hiển lộ nhờ “ánh sáng chiếu rạng trên cánh cửa”.
Students must remember that it is possible to have reached a high stage of spiritual consciousness without seeing any of this brain radiance. This is altogether in the nature of phenomena, and is largely determined by the calibre of the physical body, by past karma and achievement, and by the ability of the aspirant to bring down “power from on high”, and to hold that energy steady in the brain centre whilst he himself in meditation is detached from the form aspect, and can look serenely at it.
Các đạo sinh phải nhớ rằng có thể đạt tới một giai đoạn cao của tâm thức tinh thần mà không thấy bất kỳ ánh sáng rạng rỡ nào trong bộ não. Điều này hoàn toàn thuộc về bản chất của hiện tượng, và phần lớn được quyết định bởi phẩm chất của thể xác, bởi nghiệp quả và thành tựu trong quá khứ, cũng như bởi khả năng của người chí nguyện trong việc đưa “quyền năng từ trên cao” xuống và giữ năng lượng ấy ổn định trong trung tâm bộ não, trong khi chính y, khi tham thiền, vẫn tách rời khỏi phương diện hình tướng và có thể nhìn nó một cách tĩnh lặng.
When this has been accomplished (and it is not an objective to be worked for, but is simply an indication to be registered in the consciousness and then dismissed) the consequent stimulation produces a reaction of the physical body. The magnetic power of the light in the head, and the radiant force of the soul produce stimulation. The centres begin to vibrate, and their vibration awakens the atoms of the material body until eventually the powers of the vibrating etheric body have swung even the lowest centre into line with the highest. Thus the fires of the body (the sum total of the energy of the atoms) are swept into increased activity until such time [108] as there is a rising up the spine of that fiery energy. This is brought about by the magnetic control of the soul, seated “on the throne between the eyebrows”.
Khi điều này đã được hoàn tất — và đó không phải là một mục tiêu cần cố đạt, mà chỉ đơn giản là một dấu hiệu cần ghi nhận trong tâm thức rồi buông bỏ — sự kích thích phát sinh sẽ tạo ra một phản ứng nơi thể xác. Quyền năng từ tính của ánh sáng trong đầu và mãnh lực rạng rỡ của linh hồn tạo nên sự kích thích. Các trung tâm bắt đầu rung động, và rung động của chúng đánh thức các nguyên tử của thể vật chất cho đến khi, cuối cùng, các quyền năng của thể dĩ thái đang rung động đã đưa ngay cả trung tâm thấp nhất vào hàng ngũ với trung tâm cao nhất. Như vậy, các lửa của thể xác — tổng số năng lượng của các nguyên tử — được cuốn vào hoạt động gia tăng cho đến thời điểm [108] có sự trỗi dậy dọc theo cột sống của năng lượng bốc lửa ấy. Điều này được tạo nên bởi sự kiểm soát từ tính của linh hồn, an tọa “trên ngai giữa hai lông mày”.
Here enters in the work of one of the means of yoga, abstraction or withdrawal. Where the three lights are blended, where the centres are aroused and the atoms are also vibrating, it becomes possible for the man to centre all three in the head at will. Then, by the act of the will and the knowledge of certain words of Power he can enter into samadhi and be withdrawn from his body, carrying the light with him. In this way the greater light (the three fused and blended) illuminates the three worlds of man's endeavours and “the light is thrown upward” and illuminates all the spheres of man's conscious and unconscious experience. This is spoken of in the occult writings of the Masters in these words:
Ở đây, công việc của một trong các phương tiện yoga bước vào: sự trừu xuất hay rút lui. Nơi ba ánh sáng đã hòa trộn, nơi các trung tâm được khơi động và các nguyên tử cũng đang rung động, con người có thể tập trung cả ba nơi đầu tùy ý. Khi đó, bằng hành động của ý chí và tri thức về một số Quyền năng từ, y có thể nhập đại định và rút khỏi thể xác, mang ánh sáng theo mình. Bằng cách này, ánh sáng lớn hơn — ba ánh sáng đã dung hợp và hòa trộn — soi sáng ba cõi giới của nỗ lực con người; “ánh sáng được phóng lên trên” và soi sáng mọi khối cầu thuộc kinh nghiệm hữu thức và vô thức của con người. Trong các trước tác huyền bí của các Chân sư, điều này được nói bằng những lời sau:
“Then the Bull of God carries the light in his forehead, and his eye transmits the radiance; His head, with magnetic force, resembles the blazing sun, and from the lotus of the head, the path of light issues. It enters into the Greater Being, producing a living fire. The Bull of God sees the Solar Angel, and knows that Angel to be the light wherein he walks.”
“Bấy giờ Bò Đực của Thượng đế mang ánh sáng nơi trán, và mắt của Ngài truyền phát hào quang; đầu Ngài, với mãnh lực từ tính, giống như mặt trời rực cháy, và từ Hoa sen nơi đầu, con đường ánh sáng phát xuất. Nó đi vào Đại Hữu Thể, tạo nên một ngọn lửa sống. Bò Đực của Thượng đế thấy Thái dương Thiên Thần, và biết Thiên Thần ấy là ánh sáng trong đó Ngài bước đi.”
Then the work of the four proceeds. The four are at-one. The Solar Angel is identified with his instrument; the life of the sheaths is subordinated to the life of the inner divinity; the light of the sheaths is fused with the light of the soul. The head, the heart, and the base of the spine are geometrically aligned and certain developments then become possible.
Bấy giờ công việc của bốn yếu tố tiếp diễn. Bốn yếu tố là một. Thái dương Thiên Thần đồng hoá với khí cụ của Ngài; sự sống của các lớp vỏ phục tùng sự sống của thiên tính bên trong; ánh sáng của các lớp vỏ được dung hợp với ánh sáng của linh hồn. Đầu, tim và đáy cột sống được chỉnh hợp theo hình học, và khi ấy một số phát triển nhất định trở nên khả hữu.
In these two Rules, the foundation of the magical work of the soul has been laid down. Let us list, for the sake of clarity, the steps outlined:
Trong hai Quy luật này, nền tảng của công việc huyền thuật của linh hồn đã được đặt ra. Để rõ ràng, chúng ta hãy liệt kê các bước đã được phác thảo:
1. The Solar Angel begins the work of initiating the Personality.[109]
1. Thái dương Thiên Thần bắt đầu công việc điểm đạo Phàm ngã.[109]
2. He withdraws his forces from soul enterprises in the spiritual Kingdom, and centres his attention on the work to be done.
2. Ngài rút các mãnh lực của mình khỏi những công việc của linh hồn trong giới tinh thần, và tập trung sự chú ý vào công việc phải làm.
3. He enters into deep meditation.
3. Ngài đi vào tham thiền sâu.
4. Magnetic rapport with the instrument in the three worlds is instituted.
4. Mối liên hệ từ tính với khí cụ trong ba cõi được thiết lập.
5. The instrument, man, responds, and also enters into meditation.
5. Khí cụ, tức con người, đáp ứng và cũng đi vào tham thiền.
6. The work proceeds in ordered stages and with cyclic activity.
6. Công việc tiến hành theo các giai đoạn có trật tự và với hoạt động theo chu kỳ.
7. The light of the soul is thrown downwards.
7. Ánh sáng của linh hồn được phóng xuống dưới.
8. The light of the vital body and the physical form is synchronised with that of the head.
8. Ánh sáng của thể sinh lực và hình tướng hồng trần được đồng bộ với ánh sáng của đầu.
9. The centres swing into activity.
9. Các trung tâm chuyển vào hoạt động.
10. The light of the soul and the two other aspects of light are so intense that now all life in the three worlds is illumined.
10. Ánh sáng của linh hồn và hai phương diện ánh sáng kia mãnh liệt đến mức bấy giờ toàn bộ sự sống trong ba cõi đều được soi sáng.
11. Alignment is produced, the work of discipleship and of initiation becomes possible and proceeds according to the Law of Being.
11. Sự chỉnh hợp được tạo ra; công việc địa vị đệ tử và điểm đạo trở nên khả hữu và tiến hành theo Định luật Bản Thể.
Principles and Personalities
There is, however, a point which merits consideration and which could be approached in the form of a question. The student might well enquire into the matter as follows:
Tuy nhiên, có một điểm đáng được xem xét và có thể được tiếp cận dưới hình thức một câu hỏi. Đạo sinh có thể tìm hiểu vấn đề như sau:
“Some people approach the problem of Being through mental appreciation; others through heart understanding; some are motivated through the head and others through the heart; some do things or avoid doing them because they know, rather than feel; some react to their surroundings mentally rather than emotionally.
“Một số người tiếp cận vấn đề Hiện Tồn qua sự lĩnh hội trí tuệ; những người khác qua sự thấu hiểu của tim; một số được thúc đẩy qua đầu, những người khác qua tim; một số làm hoặc tránh làm các việc vì họ biết hơn là vì họ cảm thấy; một số đáp ứng với môi trường xung quanh bằng trí tuệ hơn là bằng cảm xúc.
“The point on which to seek illumination is whether the path for some is not to serve because they know rather than love God, Who, after all, is but their innermost selves. Is [110] this not the path of the occultist and of the sage rather than of the mystic and the saint? When all is said and done, is it not a question, primarily, of the ray one is on and the Master under whom one serves one's apprenticeship? Is not true knowledge a species of intellectual love? If a poet can pen an ode to intellectual beauty why may not we express appreciation of a unity that is conceived of the head rather than of the heart? Hearts are well enough in their way but they are not suited to the world's rough usage.
“Điểm cần tìm sự soi sáng là liệu con đường của một số người có phải là phụng sự bởi vì họ biết Thượng đế hơn là yêu Thượng đế — Đấng, xét cho cùng, chỉ là bản ngã sâu kín nhất của họ. Đây [110] chẳng phải là con đường của nhà huyền bí học và bậc hiền triết hơn là của nhà thần bí và thánh nhân sao? Sau cùng, chẳng phải chủ yếu là vấn đề cung mà một người thuộc về và Chân sư dưới quyền người ấy học việc phụng sự sao? Chẳng phải tri thức chân thật là một loại tình thương trí tuệ sao? Nếu một thi sĩ có thể viết một bài tụng ca vẻ đẹp trí tuệ, tại sao chúng ta lại không thể bày tỏ sự trân trọng đối với một sự hợp nhất được nhận thức bằng đầu hơn là bằng tim? Tim có giá trị theo cách riêng của nó, nhưng nó không thích hợp với sự va đập thô nhám của thế gian.
“Can one do aught but accept his present limitation while seeking such transcendence as is his by the Divine Law of evolution? Is there not such a thing (by comparison) as a spiritual inferiority complex on the part of such as are sensible (and perhaps over-sensitive) of the fact that while their lives intellectually are replete with interest, the desert of their hearts has not yet been made to blossom like the rose?
“Một người có thể làm gì khác hơn là chấp nhận giới hạn hiện tại của mình, trong khi tìm kiếm sự siêu vượt vốn thuộc về mình theo Định luật thiêng liêng của tiến hóa? Chẳng phải có một điều như vậy — nếu so sánh — là phức cảm tự ti tinh thần nơi những người ý thức rõ, và có lẽ quá nhạy cảm, rằng dù đời sống trí tuệ của họ đầy hứng thú, sa mạc trong tim họ vẫn chưa được làm cho nở hoa như hoa hồng sao?
“In other words, provided one repairs to his appointed station and there serves in his acceptance of Brotherhood in the Presence of Fatherhood, what difference does it make that the fundamental postulate is with him a thing of the head rather than of the heart?”
“Nói cách khác, miễn là một người trở về vị trí đã được chỉ định cho mình và tại đó phụng sự trong sự chấp nhận tình huynh đệ trước Sự Hiện Diện của Tình Phụ Tử, thì có gì khác biệt nếu định đề căn bản nơi người ấy là một điều thuộc về đầu hơn là thuộc về tim?”
I would answer such a questioning as follows:
Tôi xin đáp lại câu hỏi ấy như sau:
It is not a question of ray or even of the basic distinction between the occultist and the mystic. In the rounded-out individual both head and heart must function with equal power. In time and space, however, and during the process of evolution, individuals are distinguished by a predominating tendency in any one life; it is only because we do not see all the picture that we draw these temporary distinctions. In one life a man may be predominantly mental and for him the path of the Love of God would be unsuited. The Love of God is shed abroad in his heart and to a considerable degree his occult approach is based on the mystic perception of past lives. For him the problem is to know God, with the view of interpreting that knowledge in love to all. Responsible [111] love, demonstrated in duty to group and family, is therefore for him the line of least resistance. Universal love, raying out to all nature and all forms of life, will follow on a more developed knowledge of God, but this will be part of his development in another life.
Đây không phải là vấn đề cung, hay thậm chí là sự phân biệt căn bản giữa nhà huyền bí học và nhà thần bí. Trong cá nhân đã phát triển trọn vẹn, cả đầu lẫn tim phải vận hành với quyền năng ngang nhau. Tuy nhiên, trong thời gian và không gian, và trong tiến trình tiến hóa, các cá nhân được phân biệt bởi một khuynh hướng trội hơn trong một đời sống nào đó; chỉ vì chúng ta không thấy toàn bộ bức tranh nên chúng ta mới đưa ra những phân biệt tạm thời này. Trong một đời sống, một người có thể thiên về trí tuệ, và đối với y, con đường Tình thương của Thượng đế sẽ không thích hợp. Tình thương của Thượng đế được tuôn rải trong tim y, và ở một mức độ đáng kể, cách tiếp cận huyền bí của y đặt nền trên tri giác thần bí của các kiếp trước. Vấn đề của y là biết Thượng đế, với mục đích diễn giải tri thức ấy trong tình thương đối với tất cả. Tình thương có trách nhiệm, được biểu lộ qua bổn phận đối với nhóm và gia đình, vì thế đối với y là con đường ít trở ngại nhất. Tình thương phổ quát, tỏa chiếu đến toàn thể thiên nhiên và mọi hình thái sự sống, sẽ theo sau một tri thức phát triển hơn về Thượng đế; nhưng điều này sẽ là một phần trong sự phát triển của y ở một đời sống khác.
Students of human nature (and this all aspirants should be) would do well to bear in mind that there are temporary differences. People differ in:
Những đạo sinh về bản chất con người — và tất cả người chí nguyện nên là như vậy — cần ghi nhớ rằng có những khác biệt tạm thời. Con người khác nhau về:
a. Ray (which affects predominantly the magnetism of the life).
a. Cung, vốn ảnh hưởng chủ yếu đến từ điện của sự sống.
b. Approach to truth, either the occult or the mystic path having the stronger drawing power.
b. Cách tiếp cận chân lý, trong đó con đường huyền bí học hoặc con đường thần bí có sức hút mạnh hơn.
c. Polarisation, deciding the emotional, mental or physical intent of a life.
c. Sự phân cực, quyết định ý hướng cảm xúc, trí tuệ hay hồng trần của một đời sống.
d. Status in evolution, leading to the diversities seen among men.
d. Địa vị trong tiến hóa, dẫn đến những sai biệt được thấy giữa người với người.
e. Astrological sign, determining the trend of any particular life.
e. Dấu hiệu chiêm tinh, quyết định khuynh hướng của một đời sống cụ thể.
f. Race, bringing the personality under the peculiar racial thought form.
f. Nhân loại, đặt phàm ngã dưới hình tư tưởng đặc thù của chủng tộc.
The sub-ray on which a man is found, that minor ray which varies from incarnation to incarnation, largely gives him his coloring for this life. It is his secondary hue. Forget not, the primary ray of the Monad continues through the aeon. It changes not. It is one of the three primary rays that eventually synthesise the sons of men. The ray of the ego varies from round to round, and, in more evolved souls, from race to race, and comprises one of the five rays of our present evolution. It is the predominating ray to which a man's causal body vibrates. It may correspond to the ray of the monad, or it may be one of the complementary colours to the primary. The ray of the personality varies from [112] life to life, till the gamut of the seven sub-rays of the Monadic ray has been passed through.
Cung phụ mà một người thuộc về, cung nhỏ thay đổi từ kiếp lâm phàm này sang kiếp lâm phàm khác, phần lớn đem lại sắc thái cho y trong đời sống này. Đó là màu sắc thứ yếu của y. Đừng quên rằng cung chính của chân thần vẫn tiếp tục suốt đại kiếp. Nó không thay đổi. Nó là một trong ba cung chính cuối cùng tổng hợp những người con của nhân loại. Cung của chân ngã thay đổi từ cuộc tuần hoàn này sang cuộc tuần hoàn khác, và nơi các linh hồn tiến hóa hơn, từ giống dân này sang giống dân khác; nó bao gồm một trong năm cung của cuộc tiến hóa hiện tại của chúng ta. Đó là cung chủ đạo mà thể nguyên nhân của một người rung động theo. Nó có thể tương ứng với cung của chân thần, hoặc có thể là một trong các màu bổ sung cho cung chính. Cung của phàm ngã thay đổi từ [112] đời sống này sang đời sống khác, cho đến khi toàn bộ thang bảy cung phụ của cung chân thần đã được đi qua.
Therefore, in dealing with people whose monads are on a similar or complementary ray it will be found that they approach each other sympathetically. We must remember however that evolution must be far advanced for the ray of the monad to influence extensively. So the majority of cases come not under this category.
Do đó, khi tiếp xúc với những người có chân thần ở trên một cung tương tự hoặc bổ sung, người ta sẽ thấy họ tiếp cận nhau một cách cảm thông. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng tiến hóa phải rất cao thì cung của chân thần mới có ảnh hưởng rộng rãi. Vì vậy, đa số trường hợp không thuộc phạm trù này.
With average advanced men, who are struggling to approximate themselves to the ideal, similarity of the egoic ray will produce mutual comprehension, and friendship follows. It is easy for two people on the same egoic ray to comprehend each other's point of view, and they become great friends, with unshaken faith in each other, for each recognizes the other acting as he himself would act.
Với những người trung bình nhưng tiến hóa cao, đang nỗ lực tiến gần đến lý tưởng, sự tương đồng của cung chân ngã sẽ tạo ra sự thấu hiểu lẫn nhau, và tình bạn tiếp theo sau. Hai người ở trên cùng cung chân ngã dễ dàng thấu hiểu quan điểm của nhau, và họ trở thành bạn thân, với niềm tin không lay chuyển nơi nhau, vì mỗi người nhận ra người kia hành động như chính mình sẽ hành động.
But when (added to the egoic similarity of ray) you have the same ray of personality, then you have one of those rare things a perfect friendship, a successful marriage, an unbreakable link between two. This is rare indeed.
Nhưng khi, ngoài sự tương đồng về cung chân ngã, bạn còn có cùng cung phàm ngã, thì bạn có một trong những điều hiếm có: một tình bạn hoàn hảo, một cuộc hôn nhân thành công, một mối liên kết không thể phá vỡ giữa hai người. Điều này quả thật hiếm.
When you have two people on the same personality ray but with the egoic ray dissimilar, you may have those brief and sudden friendships and affinities, that are as ephemeral as a butterfly. These things need bearing in mind and with their recognition comes the ability to be adaptable. Clarity of vision results in a circumspect attitude.
Khi có hai người ở cùng cung phàm ngã nhưng khác cung chân ngã, bạn có thể thấy những tình bạn và sự tương hợp ngắn ngủi, đột ngột, phù du như cánh bướm. Những điều này cần được ghi nhớ, và cùng với sự nhận biết chúng, khả năng thích nghi sẽ đến. Sự sáng rõ của tầm nhìn đưa đến một thái độ thận trọng.
Another cause of difference can be due to the polarization of the bodies. Unless this too meets with recognition in dealing with people lack of comprehension ensues. When you use the term: “a man polarized in his astral body”—you really mean a man whose ego works principally through that vehicle. Polarity indicates the clarity of the channel. Let me illustrate. The ego of the average [113] man has its home on the third sub-plane of the mental plane. If a man has an astral vehicle largely composed of third sub-plane astral matter, and a mental vehicle mostly on the fifth sub-plane, the ego will centre his endeavour on the astral body. If he has a mental body of fourth sub-plane matter and an astral body of fifth sub-plane, the polarization will be mental.
Một nguyên nhân khác của sự khác biệt có thể do sự phân cực của các thể. Nếu điều này cũng không được nhận biết khi tiếp xúc với con người, sự thiếu thấu hiểu sẽ xảy ra. Khi bạn dùng thuật ngữ “một người phân cực trong thể cảm dục của mình”, bạn thật sự muốn nói đến một người mà chân ngã của y hoạt động chủ yếu qua hiện thể ấy. Sự phân cực chỉ ra độ sáng rõ của kênh dẫn. Hãy để tôi minh họa. Chân ngã của người trung bình [113] có trú sở trên cõi phụ thứ ba của cõi trí. Nếu một người có hiện thể cảm dục phần lớn được cấu tạo bằng vật chất cảm dục của cõi phụ thứ ba, và hiện thể trí chủ yếu ở cõi phụ thứ năm, chân ngã sẽ tập trung nỗ lực của mình vào thể cảm dục. Nếu y có thể trí bằng vật chất của cõi phụ thứ tư và thể cảm dục thuộc cõi phụ thứ năm, sự phân cực sẽ là trí tuệ.
When you speak of the ego taking more or less control of a man you really mean that he has built into his bodies matter of the higher sub-planes.
Khi bạn nói về việc chân ngã kiểm soát một người ít hay nhiều, bạn thật sự muốn nói rằng y đã xây vào các thể của mình vật chất của các cõi phụ cao hơn.
The ego takes control with interest only when the man has almost entirely eliminated matter of the seventh, sixth, and fifth sub-planes from his vehicles. When he has built in a certain proportion of matter of the fourth sub-plane the ego extends his control; when there is a certain proportion of the third sub-plane, then the man is on the Path; when second sub-plane matter predominates then he takes initiation, and when he has matter only of atomic substance, he becomes a Master. Therefore, the sub-plane a man is on is of importance, and the recognition of his polarization elucidates life.
Chân ngã chỉ thật sự quan tâm nắm quyền kiểm soát khi con người gần như đã loại bỏ hoàn toàn vật chất của các cõi phụ thứ bảy, thứ sáu và thứ năm khỏi các hiện thể của mình. Khi y đã xây vào một tỷ lệ nhất định vật chất của cõi phụ thứ tư, chân ngã mở rộng sự kiểm soát của mình; khi có một tỷ lệ nhất định của cõi phụ thứ ba, bấy giờ con người ở trên Đường Đạo; khi vật chất của cõi phụ thứ hai chiếm ưu thế, y thọ điểm đạo; và khi y chỉ có vật chất thuộc chất liệu nguyên tử, y trở thành một Chân sư. Do đó, cõi phụ mà một người đang ở trên đó có tầm quan trọng, và sự nhận biết về sự phân cực của y soi sáng đời sống.
The third thing you need to remember is that even when these two points are admitted, the age of the soul's experience frequently causes lack of comprehension. The above two points do not carry us very far, for the capacity to sense a man's ray is not for this race as yet. Approximate supposition and the use of the intuition is all that is now possible. The little evolved cannot comprehend completely the much evolved, and in a lesser degree, the advanced ego comprehends not an initiate. The greater can apprehend the lesser but the reverse is not the case.
Điều thứ ba bạn cần nhớ là, ngay cả khi hai điểm này được thừa nhận, tuổi đời kinh nghiệm của linh hồn thường gây ra sự thiếu thấu hiểu. Hai điểm trên không đưa chúng ta đi xa lắm, vì năng lực cảm nhận cung của một người hiện nay chưa thuộc về nhân loại này. Điều duy nhất hiện có thể là phỏng đoán gần đúng và sử dụng trực giác. Người tiến hóa ít không thể hoàn toàn thấu hiểu người tiến hóa nhiều; và ở mức độ thấp hơn, chân ngã tiến hóa cao cũng không thấu hiểu một điểm đạo đồ. Cái lớn hơn có thể nhận thức cái nhỏ hơn, nhưng điều ngược lại thì không.
As regards the action of those whose point of attainment greatly transcends your own, I can only ask you to do three things: [114]
Về hành động của những vị có điểm thành tựu vượt xa chính bạn, tôi chỉ có thể yêu cầu bạn làm ba điều: [114]
a. Reserve judgment. Their vision is greater. Forget not that one of the greatest qualities members of the Lodge have achieved is their ability to view the destruction of form as unimportant. Their concern is with the evolving life.
a. Dành lại sự phán xét. Tầm nhìn của các Ngài rộng lớn hơn. Đừng quên rằng một trong những phẩm tính lớn nhất mà các thành viên của Thánh đoàn đã đạt được là khả năng xem sự hủy hoại hình tướng là không quan trọng. Mối quan tâm của các Ngài là sự sống đang tiến hóa.
b. Realize that all events are brought around by the Brothers with a wise purpose in view. Lesser grade initiates, though utterly free agents, fit into the plans of their superiors just as do you in your lesser way. They have their lessons to learn, and the rule of learning is that all experience has to be bought. Apprehension comes by the punishment that follows an ill-judged act. Their superiors stand by to turn to good account situations brought about by the errors of those inferior in point of development.
b. Nhận ra rằng mọi biến cố đều được các Huynh Đệ đưa đến với một mục đích minh triết trong tầm nhìn. Các điểm đạo đồ cấp thấp hơn, dù hoàn toàn là những tác nhân tự do, vẫn ăn khớp với các thiên cơ của những vị cao hơn họ, cũng như bạn theo cách nhỏ bé hơn của mình. Họ có những bài học phải học, và quy luật của việc học là mọi kinh nghiệm đều phải được trả giá. Sự nhận thức đến qua hình phạt theo sau một hành động phán đoán sai lầm. Những vị cao hơn họ đứng bên để chuyển các tình huống do sai lầm của những người thấp hơn về điểm phát triển thành điều hữu ích.
c. Remember also that the Law of Rebirth holds hidden the secret of the present crisis. Groups of egos come together to work out certain karma involved in past days. Men have erred grievously in the past. Punishment and transmutation are the natural working out. Violence and cruelty in the past will reap its heavy karma, but it lies in the hands of you all now to transmute the old mistakes.
c. Cũng hãy nhớ rằng Định luật Tái sinh che giấu bí mật của cuộc khủng hoảng hiện tại. Các nhóm chân ngã đến với nhau để giải quyết một số nghiệp quả nhất định liên quan đến những ngày đã qua. Con người đã phạm sai lầm nghiêm trọng trong quá khứ. Hình phạt và sự chuyển hoá là kết quả vận hành tự nhiên. Bạo lực và tàn ác trong quá khứ sẽ gặt lấy nghiệp quả nặng nề của chúng, nhưng hiện nay việc chuyển hoá các sai lầm xưa nằm trong tay tất cả các bạn.
Also bear in mind that principles are eternal, personalities temporal. Principles are to be viewed in the light of eternity; personalities from the standpoint of time. The trouble is that, in many situations, two principles are involved, one of which is secondary. The difficulty lies in the fact that (both being principles) both are right. It is a rule for safe guidance always to remember that usually basic principles (for their wise comprehension and fruitful working out) call for the play of the intuition whilst secondary principles are more purely mental. The methods hence necessarily differ. When holding to the basic principles, the wisest methods are [115] silence and a joyful confidence that the Law works, an avoidance of all personality innuendo except wise and loving comment, and a determination to see all in the light of eternity and not of time, coupled with a constant endeavour to follow the law of love and see only the divine in your brothers, e'en if on an opposing side.
Cũng hãy ghi nhớ rằng các nguyên lý là vĩnh cửu, các phàm ngã là tạm thời. Các nguyên lý phải được nhìn trong ánh sáng của vĩnh cửu; các phàm ngã từ quan điểm của thời gian. Vấn đề là, trong nhiều tình huống, có hai nguyên lý cùng liên quan, một trong hai là thứ yếu. Khó khăn nằm ở chỗ, vì cả hai đều là nguyên lý, nên cả hai đều đúng. Một quy luật để hướng dẫn an toàn là luôn nhớ rằng các nguyên lý căn bản thường đòi hỏi sự vận dụng của trực giác để được thấu hiểu minh triết và triển khai hữu hiệu, trong khi các nguyên lý thứ yếu thuần túy thuộc trí tuệ hơn. Vì thế, các phương pháp tất yếu khác nhau. Khi giữ vững các nguyên lý căn bản, những phương pháp minh triết nhất là [115] im lặng và một niềm tin hoan hỉ rằng Định luật đang vận hành; tránh mọi ám chỉ phàm ngã ngoại trừ nhận xét minh triết và đầy tình thương; và một quyết tâm nhìn mọi sự trong ánh sáng của vĩnh cửu chứ không phải của thời gian, đi đôi với nỗ lực thường xuyên tuân theo định luật bác ái và chỉ thấy điều thiêng liêng nơi các huynh đệ của bạn, ngay cả khi họ ở phía đối lập.
In secondary principles, which all opposing forces are at present emphasizing, the use of the lower mind involves the danger of criticism, the employment of methods sanctioned by time in the three worlds—methods involving personal attack, invective and the expenditure of force along destructive lines, and a spirit contrary to the law of the plane of unity. The term “opposing forces” is used rightly if you employ it only in a scientific sense and mean the contrasting pole that leads to equilibrium. Remember therefore, that opposing groups may be quite sincere, but the concrete mind acts in them as a barrier to the free play of the higher vision. Their sincerity is great but their point of attainment along some lines less than that of those who adhere to basic principles, seen in the light of the intuition.
Trong các nguyên lý thứ yếu, mà tất cả các mãnh lực đối lập hiện nay đang nhấn mạnh, việc sử dụng hạ trí kéo theo nguy cơ chỉ trích, việc dùng những phương pháp được thời gian trong ba cõi chuẩn nhận — các phương pháp bao hàm công kích cá nhân, lời mắng nhiếc và sự tiêu hao mãnh lực theo các đường lối phá hoại — cùng một tinh thần trái với định luật của cõi hợp nhất. Thuật ngữ “các mãnh lực đối lập” được dùng đúng nếu bạn chỉ dùng nó theo nghĩa khoa học và hiểu là cực tương phản dẫn đến quân bình. Vì vậy, hãy nhớ rằng các nhóm đối lập có thể hoàn toàn chân thành, nhưng trí cụ thể hoạt động nơi họ như một rào cản đối với sự vận hành tự do của tầm nhìn cao hơn. Sự chân thành của họ rất lớn, nhưng điểm thành tựu của họ theo một số đường lối lại thấp hơn điểm thành tựu của những người bám giữ các nguyên lý căn bản, được thấy trong ánh sáng của trực giác.
A principle is that which embodies some aspect of the truth on which this system of ours is based; it is the seeping through to the consciousness of the man of a little of the idea on which our Logos bases all He does. The basis of all Logoic action is love in activity, and the fundamental idea on which He bases action connected with the human Hierarchy is the power of love to drive onward, —call it evolution, if you like, call it inherent urge, should you so prefer, but it is love causing motion and urging onward to completion. It is the driving of one and all to further expression. Hence, this principle should underlie all activity, and the government of the lesser organizations, if founded on love leading to activity, would lead to a divine urge in all its members, driving them likewise on to fullest expression, and thus tend [116] to more adequate completeness and more satisfactory endeavour.
Một nguyên lý là điều thể hiện một phương diện nào đó của chân lý mà hệ thống của chúng ta đặt nền trên đó; đó là sự thấm vào tâm thức con người một chút ý tưởng mà Thượng đế của chúng ta đặt nền cho mọi điều Ngài làm. Nền tảng của mọi hành động thuộc Thượng đế là bác ái trong hoạt động, và ý tưởng căn bản mà Ngài đặt nền cho hành động liên quan đến Thánh đoàn nhân loại là quyền năng của tình thương thúc đẩy tiến tới — hãy gọi đó là tiến hóa nếu bạn muốn, hãy gọi đó là thôi thúc nội tại nếu bạn thích hơn — nhưng đó là tình thương gây nên chuyển động và thúc giục tiến tới hoàn tất. Đó là sự thúc đẩy từng người và tất cả đi đến sự biểu lộ xa hơn. Vì thế, nguyên lý này phải nằm dưới mọi hoạt động; và việc quản trị các tổ chức nhỏ hơn, nếu được đặt nền trên tình thương dẫn đến hoạt động, sẽ đưa đến một thôi thúc thiêng liêng nơi tất cả thành viên của chúng, cũng thúc đẩy họ tiến tới sự biểu lộ trọn vẹn nhất, và như vậy có khuynh hướng [116] đưa đến sự hoàn chỉnh thích đáng hơn và nỗ lực thỏa đáng hơn.
A principle, when really fundamental, appeals at once to the intuition and calls out an immediate re-action of assent from the man's higher Self. It makes little or no appeal to the personality. It embodies a conception of the ego in his relationship to others. A principle is that which governs always the action of the ego on his own plane, and it is only as we come more and more under the guidance of that ego that our personality conceives of, and responds to these ideas. This is a point to be borne in mind in all dealings with others and should modify judgments. To apprehend a principle justly marks a point in evolution.
Một nguyên lý, khi thật sự căn bản, lập tức kêu gọi trực giác và khơi dậy một phản ứng tán đồng tức thời từ Bản Ngã Cao Siêu của con người. Nó ít hoặc hầu như không kêu gọi phàm ngã. Nó thể hiện một quan niệm của chân ngã trong mối quan hệ của y với những người khác. Một nguyên lý là điều luôn luôn chi phối hành động của chân ngã trên cõi riêng của y, và chỉ khi chúng ta ngày càng ở dưới sự hướng dẫn của chân ngã ấy thì phàm ngã của chúng ta mới nhận thức và đáp ứng với các ý tưởng này. Đây là một điểm cần ghi nhớ trong mọi giao tiếp với người khác và phải làm dịu các phán xét. Nhận thức một nguyên lý một cách đúng đắn đánh dấu một điểm trong tiến hóa.
A principle is that which ensouls a statement dealing with the highest good of the greatest number. That a man should love his wife is a statement of a principle governing the personality but it must later be transmuted into the greater principle that a man must love his fellow men. Principles are of three kinds and the higher must be reached via the lower:
Một nguyên lý là điều phú linh cho một phát biểu liên quan đến lợi ích cao nhất của số đông lớn nhất. Việc một người nên yêu vợ mình là một phát biểu về một nguyên lý chi phối phàm ngã, nhưng về sau nó phải được chuyển hoá thành nguyên lý lớn hơn rằng một người phải yêu đồng loại của mình. Các nguyên lý có ba loại, và cái cao hơn phải được đạt tới qua cái thấp hơn:
(a) Principles governing the lower personal self, dealing with the actions or active life of that lower self. They embody the third aspect or the activity aspect of logoic manifestation and form the basis of later progress. They control the man during his little evolved state, and during his period of thoughtlessness and might be comprehended more easily if I were to say that they are embodied in the commonly accepted rules of decent living. Thou shalt not kill, thou shalt not steal, have to do with a man's active life, with the building up of character.
(a) Các nguyên lý chi phối phàm ngã thấp, liên quan đến các hành động hay đời sống hoạt động của phàm ngã thấp ấy. Chúng thể hiện phương diện thứ ba, hay phương diện hoạt động, của sự biểu lộ thuộc Thượng đế và tạo thành nền tảng cho bước tiến về sau. Chúng kiểm soát con người trong trạng thái còn ít tiến hóa và trong giai đoạn thiếu suy nghĩ của y; có thể thấu hiểu chúng dễ hơn nếu tôi nói rằng chúng được thể hiện trong các quy luật sống đứng đắn được chấp nhận phổ biến. “Ngươi không được giết”, “ngươi không được trộm cắp” liên quan đến đời sống hoạt động của con người, đến việc lập hạnh.
(b) Principles governing the higher self and dealing with the love or wisdom aspect. It is with these that we are now concerned and half the troubles in [117] the world at present arise from the fact that these higher principles, having to do with love or wisdom in all their fullness, are only now beginning to be apprehended by the rank and file of mankind. In the quick recognition of their truthfulness and the attempt to make them facts, without previously adjusting the environment to those ideals, comes the frequent clashing and warfare between those actuated by the principles governing the personality and those governing the higher Self. Until more of the race are governed by the soul consciousness this warfare is inevitable and cannot be avoided. When the emotional plane is dominated by the intuitional, then will come universal comprehension.
(b) Các nguyên lý chi phối chân ngã và liên quan đến phương diện bác ái hay minh triết. Chính với những nguyên lý này mà chúng ta hiện đang quan tâm, và một nửa những rắc rối trong [117] thế giới hiện nay phát sinh từ sự kiện rằng các nguyên lý cao hơn này, liên quan đến bác ái hay minh triết trong toàn bộ sự viên mãn của chúng, chỉ mới bắt đầu được đại đa số nhân loại nhận thức. Trong sự nhanh chóng nhận ra tính chân thật của chúng và nỗ lực biến chúng thành sự kiện, mà chưa điều chỉnh môi trường trước cho phù hợp với các lý tưởng ấy, thường phát sinh sự va chạm và chiến tranh giữa những người được thúc đẩy bởi các nguyên lý chi phối phàm ngã và những người được thúc đẩy bởi các nguyên lý chi phối Bản Ngã Cao Siêu. Cho đến khi nhiều người hơn trong nhân loại được tâm thức linh hồn chi phối, cuộc chiến này là không tránh khỏi. Khi cõi cảm xúc được trực giác chế ngự, bấy giờ sự thấu hiểu phổ quát sẽ đến.
The first set of principles is learnt by the man through grasping, and the subsequent disaster that results from that seizure. He stole, he suffered the penalty and he stole no more. The principle was wrought into him by pain and he learnt that only that which was his by right and not by seizure could be enjoyed. The world is learning this lesson in groups now, for, as its revolutionaries seize and unlawfully hold, they find the stolen property suffices not but brings sorrow. Thus in time they learn the principles.
Nhóm nguyên lý thứ nhất được con người học qua sự nắm bắt, và qua tai họa theo sau hành vi chiếm đoạt ấy. Y đã trộm cắp, y chịu hình phạt, và y không trộm nữa. Nguyên lý được rèn vào y bằng đau khổ, và y học rằng chỉ điều gì thuộc về y theo lẽ phải, chứ không do chiếm đoạt, mới có thể được hưởng thụ. Thế giới hiện nay đang học bài học này theo nhóm; vì khi những người cách mạng chiếm lấy và giữ một cách phi pháp, họ thấy tài sản bị đánh cắp không đủ dùng mà còn đem lại đau khổ. Như vậy, theo thời gian họ học các nguyên lý.
The second set of principles is learnt through renunciation and service. A man looks away (having learnt first principles) from the things of the personality and in service learns the power of love in its occult significance. He spends and consequently receives; he lives the life of renunciation and the wealth of the heavens pours in on him; he gives all and is full to completeness; he asks nothing for himself and is the richest man on earth.
Nhóm nguyên lý thứ hai được học qua sự từ bỏ và phụng sự. Một người quay mắt khỏi những sự vật của phàm ngã — sau khi đã học các nguyên lý đầu tiên — và trong phụng sự, y học quyền năng của tình thương theo thâm nghĩa huyền bí của nó. Y cho đi và do đó nhận lại; y sống đời từ bỏ và sự giàu có của các cõi trời tuôn đổ vào y; y cho tất cả và được đầy trọn đến viên mãn; y không cầu xin gì cho bản thân và là người giàu có nhất trên Trái Đất.
First principles deal with the differentiated unit and with evolution through heterogeneity. Principles such as the race is learning now have to do with groups; the [118] question is not — “What will be best for the man?” but “What will be best for the many?” and only those who can think with vision of the many as one, can state these principles satisfactorily. They are the most important, for they are the basic principles of this love system. The trouble today is that men are confused. Certain first principles, the lower activity fundamentals are ingrained and inherent now, and a few of the higher egoic or love principles are seeping through into their bewildered brains causing an apparent momentary clashing of ideas. Therefore like Pilate they say: “What is truth?” If they will but remember that the higher principles deal with the good of the group and the lower with the good of the individual, mayhap clarity, will ensue. The lower activity of personal life, no matter how good or how worthy, must eventually be transcended by the higher love life that seeks the good of the group and not of the unit.
Các nguyên lý đầu tiên liên quan đến đơn vị đã biến phân và đến tiến hóa qua tính dị biệt. Những nguyên lý mà nhân loại hiện đang học liên quan đến các nhóm; vấn đề [118] không phải là: “Điều gì sẽ tốt nhất cho một người?” mà là “Điều gì sẽ tốt nhất cho nhiều người?” và chỉ những ai có thể suy nghĩ bằng tầm nhìn về nhiều người như một mới có thể phát biểu các nguyên lý này một cách thỏa đáng. Chúng là những nguyên lý quan trọng nhất, vì chúng là các nguyên lý căn bản của hệ thống bác ái này. Khó khăn ngày nay là con người bị lẫn lộn. Một số nguyên lý đầu tiên, các nền tảng hoạt động thấp, hiện đã ăn sâu và trở thành bẩm sinh; và một vài nguyên lý chân ngã hay nguyên lý bác ái cao hơn đang thấm vào các bộ não rối bời của họ, gây nên một sự va chạm ý tưởng có vẻ nhất thời. Vì vậy, như Pilate, họ nói: “Chân lý là gì?” Nếu họ chỉ cần nhớ rằng các nguyên lý cao hơn liên quan đến lợi ích của nhóm, còn các nguyên lý thấp hơn liên quan đến lợi ích của cá nhân, có lẽ sự sáng rõ sẽ theo sau. Hoạt động thấp của đời sống cá nhân, dù tốt đẹp hay xứng đáng đến đâu, cuối cùng phải được siêu vượt bởi đời sống bác ái cao hơn, vốn tìm kiếm lợi ích của nhóm chứ không phải của đơn vị.
All that tends to synthesis and divine expression in collections of units is approaching closer to the ideal and approximating the higher principles. In thinking out these ideas may come some helpfulness. You have an illustration of what I say in the fact that many of the struggles that arise in organizations are based on the fact that some worthy people follow personalities, sacrificing themselves for a principle, yes, but a principle governing the personality life. Others, dimly glimpsing something higher and seeking the good of the groups and not of a person, stumble onto a higher principle, and in so doing bring in the force of the ego. They are working for others and aiming at the helping of their group. When egos and personalities clash, the victory of the higher is sure; the lower principle must give way to the higher. One is concentrated on what seems to him to be of paramount value, the fulfilling of the wish of the personal life, and (at this period) is only secondarily [119] interested in the good of the many though he may have moments when he thinks that is his primary intent. The other cares naught for what becomes of the personal self and is only interested in the helping of the many. It boils down, to use an apt expression, to the question of selfish or unselfish motive, and, as you know, motives vary as time speeds by and the man nears the goal of the probationary path.
Tất cả những gì có khuynh hướng đưa đến tổng hợp và sự biểu lộ thiêng liêng trong các tập hợp đơn vị đều tiến gần hơn đến lý tưởng và gần với các nguyên lý cao hơn. Khi suy ngẫm các ý tưởng này, có thể nảy sinh một sự trợ giúp nào đó. Bạn có một minh họa cho điều tôi nói trong sự kiện rằng nhiều cuộc đấu tranh phát sinh trong các tổ chức đặt nền trên việc một số người xứng đáng đi theo các phàm ngã, hy sinh chính mình cho một nguyên lý — đúng vậy — nhưng là một nguyên lý chi phối đời sống phàm ngã. Những người khác, lờ mờ thoáng thấy điều gì cao hơn và tìm kiếm lợi ích của các nhóm chứ không phải của một cá nhân, tình cờ chạm đến một nguyên lý cao hơn, và khi làm như vậy, họ đưa mãnh lực của chân ngã vào. Họ đang làm việc cho người khác và nhắm đến việc trợ giúp nhóm của mình. Khi các chân ngã và các phàm ngã va chạm, chiến thắng của cái cao hơn là điều chắc chắn; nguyên lý thấp phải nhường chỗ cho nguyên lý cao. Một người tập trung vào điều dường như đối với y có giá trị tối thượng: sự hoàn thành ước muốn của đời sống cá nhân; và trong giai đoạn này, y chỉ quan tâm thứ yếu [119] đến lợi ích của nhiều người, dù y có thể có những lúc nghĩ rằng đó là ý hướng chính của mình. Người kia không bận tâm đến điều gì sẽ xảy đến cho phàm ngã cá nhân và chỉ quan tâm đến việc trợ giúp nhiều người. Nói cho cùng, dùng một cách diễn đạt thích hợp, vấn đề quy về động cơ ích kỷ hay vô kỷ; và như bạn biết, động cơ thay đổi khi thời gian trôi nhanh và con người tiến gần mục tiêu của Con Đường Dự Bị.
(c) Still higher principles are those comprehended by the Spirit and are only readily comprehended by the monadic consciousness. Only as the man transcends his active personal life and substitutes the life of love or wisdom as led by the ego can he begin to understand the scope of that life of love and know it as demonstrated power. Just as the personality deals with the principles governing the life of activity of the lower self, and the ego works with the law of love as demonstrated in group work, or love showing itself in the synthesis of the many into the few, so the Monad deals with the active life of love shown in power through the synthesis of the few into the one.
(c) Các nguyên lý còn cao hơn nữa là những nguyên lý được Tinh thần thấu hiểu và chỉ dễ dàng được thấu hiểu bởi tâm thức chân thần. Chỉ khi con người siêu vượt đời sống cá nhân hoạt động của mình và thay thế bằng đời sống bác ái hay minh triết do chân ngã dẫn dắt, y mới có thể bắt đầu hiểu phạm vi của đời sống bác ái ấy và biết nó như quyền năng được biểu lộ. Cũng như phàm ngã liên quan đến các nguyên lý chi phối đời sống hoạt động của phàm ngã thấp, và chân ngã làm việc với định luật bác ái được biểu lộ trong công việc nhóm, tức bác ái tự biểu lộ trong sự tổng hợp nhiều thành ít, thì chân thần liên quan đến đời sống hoạt động của bác ái được biểu lộ trong quyền năng qua sự tổng hợp ít thành một.
One deals with the life of the man on the physical plane, or in the three worlds, the second with his life on causal levels, and the last with his life after the attainment of the goal of present human endeavour. One deals with units, another with groups and the last with unity. One deals with differentiation at its most diverse point, the second with the many resolved into the egoic groups, whilst the third sees the differentiation resolved back into the seven, which marks unity for the human hierarchy.
Một nguyên lý liên quan đến đời sống của con người trên cõi hồng trần, hay trong ba cõi; nguyên lý thứ hai liên quan đến đời sống của y trên các cấp độ nguyên nhân; và nguyên lý sau cùng liên quan đến đời sống của y sau khi đạt mục tiêu của nỗ lực nhân loại hiện tại. Một nguyên lý liên quan đến các đơn vị, một nguyên lý khác liên quan đến các nhóm, và nguyên lý sau cùng liên quan đến sự hợp nhất. Một nguyên lý liên quan đến sự biến phân ở điểm đa dạng nhất của nó; nguyên lý thứ hai liên quan đến nhiều người được quy về các nhóm chân ngã; trong khi nguyên lý thứ ba thấy sự biến phân được quy trở lại thành bảy, điều đánh dấu sự hợp nhất đối với Thánh đoàn nhân loại.
All these factors and many others produce differences among human beings, and in sizing himself up a man must needs bring them into his consideration.
Tất cả những yếu tố này và nhiều yếu tố khác tạo nên các khác biệt giữa con người, và khi tự đánh giá mình, con người tất yếu phải đưa chúng vào sự xem xét.
It should therefore be borne in mind that a disciple of any of the Masters will have his peculiar equipment, and his individual assets and deficiencies. He can nevertheless [120] rest assured that, until the path of Knowledge has been added to the path of Love, he can never take the major initiations, for these are undergone on the higher levels of the mental plane. Until the path of light is united to the path of life the great transition from the fourth into the fifth kingdom cannot be taken. Certain expansions of consciousness are possible; initiations on the astral and lower mental planes can be taken; some of the vision can be seen, the sense of the Presence can be felt; the Beloved can be reached by love, and the bliss and the joy of this contact can carry with it its abiding joy, but that clear perception which comes from the experience undergone on the Mount of Illumination is a different thing to the joy experienced on the Mount of Blessing. The Heart leads in the one, the Head leads in the other.
Vì vậy, cần ghi nhớ rằng một đệ tử của bất kỳ Chân sư nào cũng sẽ có trang bị riêng, cùng những tài sản và thiếu sót cá nhân của mình. Tuy nhiên, y có thể [120] yên tâm rằng, cho đến khi con đường Tri thức được thêm vào con đường Bác ái, y không bao giờ có thể thọ các cuộc điểm đạo lớn, vì các cuộc điểm đạo này được trải qua trên các cấp độ cao hơn của cõi trí. Cho đến khi con đường ánh sáng được hợp nhất với con đường sự sống, cuộc chuyển tiếp lớn từ giới thứ tư sang giới thứ năm không thể được thực hiện. Một số mở rộng tâm thức là khả hữu; các cuộc điểm đạo trên cõi cảm dục và cõi hạ trí có thể được thọ nhận; một phần tầm nhìn có thể được thấy; cảm thức về Sự Hiện Diện có thể được cảm nhận; Đấng Yêu Dấu có thể được đạt tới bằng tình thương, và chí phúc cùng sự hoan hỉ của sự tiếp xúc này có thể mang theo niềm hoan hỉ bền vững của nó; nhưng tri giác sáng rõ đến từ kinh nghiệm được trải qua trên Núi Soi Sáng là điều khác với niềm hoan hỉ được kinh nghiệm trên Núi Chúc Phúc. Trong trường hợp này, Tim dẫn dắt; trong trường hợp kia, Đầu dẫn dắt.
To answer categorically: The path of knowledge is that of the occultist and the sage; that of love is that of the mystic and the saint. The head or the heart approach is not dependent upon the ray, for both ways must be known; the mystic must become the occultist; the white occultist has been the saintly mystic. True knowledge is intelligent love, for it is the blending of the intellect and the devotion. Unity is sensed in the heart; its intelligent application to life has to be worked out through knowledge.
Trả lời một cách dứt khoát: Con đường tri thức là con đường của nhà huyền bí học và bậc hiền triết; con đường bác ái là con đường của nhà thần bí và thánh nhân. Cách tiếp cận bằng đầu hay bằng tim không tùy thuộc vào cung, vì cả hai con đường đều phải được biết; nhà thần bí phải trở thành nhà huyền bí học; nhà huyền bí học chánh đạo đã từng là nhà thần bí thánh thiện. Tri thức chân thật là tình thương thông minh, vì đó là sự hòa trộn của trí năng và sự sùng tín. Sự hợp nhất được cảm nhận trong tim; việc áp dụng nó một cách thông minh vào đời sống phải được thực hiện qua tri thức.
It is of prime value to recognize the tendency of the life purpose, and to know whether the head or the heart method is the objective of any specific life. A fine spiritual discrimination is needed here however, lest the glamour of illusion tempt to the path of inertia. Ponder these words with care, and see that the question is based on a true foundation and does not grow out of an inferiority complex, the consideration of a brother's enterprise and a consequent jealous tendency, or upon a placid complacency which negates activity. [121]
Điều có giá trị hàng đầu là nhận ra khuynh hướng của mục đích đời sống, và biết liệu phương pháp của đầu hay của tim là mục tiêu của một đời sống cụ thể nào đó. Tuy nhiên, ở đây cần có sự phân biện tinh thần tinh tế, kẻo ảo cảm của ảo tưởng cám dỗ người ta vào con đường của Quán tính. Hãy suy ngẫm kỹ những lời này, và hãy thấy rằng câu hỏi được đặt trên một nền tảng chân thật, chứ không phát sinh từ một phức cảm tự ti, từ việc cân nhắc công việc của một huynh đệ và khuynh hướng ghen tị theo sau, hay từ một sự tự mãn bình thản phủ định hoạt động. [121]
As a general rule for the average aspirant to discipleship, it may be safely assumed that the past has seen much application of the heart way, and that in this incarnation the mental unfoldment is of prime importance.
Như một quy luật tổng quát đối với người chí nguyện trung bình hướng đến địa vị đệ tử, có thể an toàn giả định rằng quá khứ đã chứng kiến nhiều sự áp dụng con đường của tim, và trong lần lâm phàm này, sự khai mở trí tuệ có tầm quan trọng hàng đầu.
An ancient Scripture says:
Một Kinh văn cổ nói:
“Seek not, Oh twice-blessed One, to attain the spiritual essence before the mind absorbs. Not thus is wisdom sought. Only he who hath the mind in leash, and seeth the world as in a mirror can be safely trusted with the inner senses. Only he who knoweth the five senses to be illusion, and that naught remaineth save the two ahead, can be admitted into the secret of the Cruciform transposed.
“Đừng tìm kiếm, hỡi Đấng hai lần được ban phúc, để đạt tới tinh hoa tinh thần trước khi thể trí hấp thu. Minh triết không được tìm kiếm theo cách ấy. Chỉ người nào giữ thể trí trong dây cương, và thấy thế gian như trong một tấm gương, mới có thể được tin cậy an toàn với các giác quan bên trong. Chỉ người nào biết năm giác quan là ảo tưởng, và không còn gì ngoài hai giác quan phía trước, mới có thể được nhận vào bí mật của Thập Giá được chuyển vị.
“The path that is trodden by the Server is the path of fire that passeth through his heart and leadeth to the head. It is not on the path of pleasure, nor on the path of pain that liberation may be taken nor that wisdom cometh. It is by the transcendence of the two, by the blending of pain with pleasure, that the goal is reached, that goal that lieth ahead, like a point of light seen in the darkness of a winter's night. That point of light may call to mind the tiny candle in some attic drear, but—as the path that leadeth to that light is trodden through the blending of the pairs of opposites—that pin-point, cold and flickering, groweth with steady radiance till the warm light of some blazing lamp cometh to the mind of the wanderer by the way.
“Con đường mà Người Phụng Sự bước đi là con đường lửa đi qua tim y và dẫn đến đầu. Không phải trên con đường khoái lạc, cũng không phải trên con đường đau khổ mà sự giải thoát có thể được đạt tới hay minh triết đến. Chính bằng sự siêu vượt cả hai, bằng sự hòa trộn đau khổ với khoái lạc, mà mục tiêu được đạt tới — mục tiêu nằm phía trước như một điểm sáng được thấy trong bóng tối của một đêm đông. Điểm sáng ấy có thể gợi nhớ ngọn nến nhỏ trong một căn gác buồn tẻ nào đó; nhưng khi con đường dẫn đến ánh sáng ấy được bước đi qua sự hòa trộn các cặp đối cực, thì điểm kim nhỏ bé, lạnh lẽo và chập chờn ấy lớn dần với hào quang ổn định, cho đến khi ánh sáng ấm áp của một ngọn đèn rực cháy hiện ra trong trí người lữ hành trên đường.
“Pass on, O Pilgrim, with steady perseverance. No candle is there nor earth lamp fed with oil. Ever the radiance groweth till the path ends within a blaze of glory, and the wanderer through the night becometh the child of the sun, and entereth within the portals of that radiant orb.”
“Hãy tiến lên, hỡi Người Hành Hương, với sự kiên trì vững chắc. Ở đó không có ngọn nến nào, cũng không có đèn trần thế nào được nuôi bằng dầu. Hào quang mãi lớn dần cho đến khi con đường kết thúc trong một ánh rực rỡ vinh quang, và kẻ lang thang trong đêm trở thành đứa con của mặt trời, đi vào các cổng của quầng sáng rạng rỡ ấy.”
RULE FOUR
Sound, light, vibration, and the form blend and merge, and thus the work is one. It proceedeth under the law, and naught can hinder now the work from going forward. The man breathes deeply. He concentrates his forces, and drives the thought-form from him.
Âm thanh, ánh sáng, rung động và hình tướng hòa trộn và hợp nhất, và như vậy công việc là một. Nó tiến hành dưới định luật, và bấy giờ không gì có thể ngăn cản công việc tiến tới. Con người hít thở sâu. Y tập trung các mãnh lực của mình và đẩy hình tư tưởng ra khỏi mình.
The Creative Work of Sound
[125]
[125]
Before centering our attention upon this rule, it would be well to recollect certain things, so that our reflection on the rule may proceed with profit.
Trước khi tập trung sự chú ý của chúng ta vào quy luật này, sẽ hữu ích nếu nhớ lại một vài điều, để sự suy ngẫm của chúng ta về quy luật có thể tiến hành có lợi.
First, the rule we are at present considering concerns work on the mental plane, and before such work is possible it is important to have a developed mind, a well-nurtured intelligence, and also to have achieved some measure of mind control. These rules are not for beginners in the occult sciences; they are for those who are ready for magical work and for labour on the plane of mind. Love is the great unifier, the prime attractive impulse, cosmic and microcosmic, but the mind is the main creative factor and the utiliser of the energies of the cosmos. Love attracts, but the mind attracts, repels and co-ordinates, so that its potency is inconceivable. Is it not possible dimly to sense a state of affairs in mental realms analogous to that now seen in the emotional? Can we picture the condition of the world when the intellect is as potent and as compelling as is the emotional nature at this time? The race is progressing into an era wherein men will function as minds; when intelligence will be stronger than desire, and when thought powers will be used for appeal and for the guidance of the world, as now physical and emotional means are employed.
Trước hết, quy luật mà chúng ta hiện đang xem xét liên quan đến công việc trên cõi trí; và trước khi công việc như thế trở nên khả hữu, điều quan trọng là phải có một thể trí phát triển, một trí tuệ được nuôi dưỡng tốt, và cũng phải đạt được một mức độ kiểm soát thể trí nào đó. Những quy luật này không dành cho người mới bắt đầu trong các khoa học huyền bí; chúng dành cho những ai đã sẵn sàng cho công việc huyền thuật và cho kỳ công trên cõi trí. Tình thương là yếu tố hợp nhất vĩ đại, xung lực hấp dẫn nguyên thủy, cả vũ trụ lẫn tiểu thiên địa; nhưng thể trí là yếu tố sáng tạo chính và là khí cụ sử dụng các năng lượng của vũ trụ. Tình thương thu hút, nhưng thể trí thu hút, đẩy lùi và phối hợp, đến mức quyền năng của nó không thể quan niệm nổi. Chẳng phải có thể lờ mờ cảm nhận một tình trạng trong các cõi trí tương đồng với điều hiện nay được thấy trong cõi cảm xúc sao? Chúng ta có thể hình dung tình trạng thế giới khi trí năng mạnh mẽ và có sức cưỡng dẫn như bản chất cảm xúc vào lúc này không? Nhân loại đang tiến vào một kỷ nguyên trong đó con người sẽ vận hành như các thể trí; khi trí tuệ sẽ mạnh hơn dục vọng, và khi các quyền năng tư tưởng sẽ được dùng để kêu gọi và hướng dẫn thế giới, như hiện nay các phương tiện hồng trần và cảm xúc đang được sử dụng.
There lies in this thought a profoundly necessary incentive for a right understanding of the laws of thought, and a correct instruction to be given of the use of mental [126] matter, and the building of that matter into thought forms.
Trong tư tưởng này có một động lực hết sức cần thiết để thấu hiểu đúng các định luật của tư tưởng, và để đưa ra sự huấn luyện đúng đắn về cách sử dụng chất liệu trí tuệ [126], cũng như việc kiến tạo chất liệu ấy thành các hình tư tưởng.
These rules concern themselves with this information. The second necessary recollection is that the worker in magic and the potent entity wielding these forces must be the soul, the spiritual man, and this for the following reasons:
Các quy luật này liên quan đến thông tin ấy. Điều cần ghi nhớ thứ hai là người hoạt động trong huyền thuật và thực thể mạnh mẽ vận dụng các mãnh lực này phải là linh hồn, con người tinh thần, vì những lý do sau đây:
1. Only the soul has a direct and clear understanding of the creative purpose and of the plan.
1. Chỉ linh hồn mới có sự thấu hiểu trực tiếp và rõ ràng về mục đích sáng tạo và về Thiên Cơ.
2. Only the soul, whose nature is intelligent love can be trusted with the knowledge, the symbols and the formulas which are necessary to the correct conditioning of the magical work.
2. Chỉ linh hồn, với bản chất là tình thương sáng suốt, mới có thể được tin cậy giao phó tri thức, các biểu tượng và các công thức cần thiết cho việc định hình đúng đắn công việc huyền thuật.
3. Only the soul has power to work in all three worlds at once, and yet remain detached, and therefore karmically free from the results of such work.
3. Chỉ linh hồn mới có quyền năng hoạt động đồng thời trong cả ba cõi thấp mà vẫn tách rời, và do đó tự do về mặt nghiệp quả đối với các kết quả của công việc ấy.
4. Only the soul is truly group-conscious and actuated by pure unselfish purpose.
4. Chỉ linh hồn mới thật sự có tâm thức nhóm và được thúc đẩy bởi mục đích thanh khiết, vô tư lợi.
5. Only the soul, with the open eye of vision, can see the end from the beginning, and can hold in steadiness the true picture of the ultimate consummation.
5. Chỉ linh hồn, với con mắt tầm nhìn đã mở, mới có thể thấy kết cuộc ngay từ khởi đầu, và giữ vững hình ảnh chân thật của sự viên mãn tối hậu.
You ask, whether workers in black magic possess not an equal power? I answer, no. They can work in the three worlds, but they work from and in the plane of mind, and do not function, therefore, outside their field of endeavour, as does the soul. They can achieve, from their proximity and identification with their working materials, results more potent temporarily and more rapid in accomplishment than the worker in the White Brotherhood, but the results are ephemeral; they carry destruction and disaster in their wake, and the black magician is eventually submerged in the resulting cataclysm.
Các bạn hỏi liệu những người hoạt động trong Hắc thuật có sở hữu một quyền năng ngang bằng hay không? Tôi trả lời là không. Họ có thể hoạt động trong ba cõi thấp, nhưng họ hoạt động từ và trong cõi trí, và do đó không vận hành bên ngoài phạm vi nỗ lực của họ như linh hồn vẫn làm. Nhờ sự gần gũi và đồng hoá với chất liệu làm việc của họ, họ có thể đạt được những kết quả tạm thời mạnh mẽ hơn và thành tựu nhanh chóng hơn người hoạt động trong Huynh đệ Đoàn Chánh đạo, nhưng các kết quả ấy chóng tàn; chúng kéo theo sự hủy diệt và tai họa, và nhà hắc thuật cuối cùng bị nhấn chìm trong cơn đại biến do chính kết quả ấy gây ra.
Let us therefore remember the necessity of a correct [127] use of the mind, and (at the same time) let us ever hold a position beyond and detached from the creative work of our minds, desires and physical accomplishment.
Vì vậy, chúng ta hãy nhớ đến sự cần thiết phải sử dụng thể trí một cách đúng đắn [127], đồng thời luôn giữ một vị thế vượt lên trên và tách rời khỏi công việc sáng tạo của thể trí, dục vọng và thành tựu hồng trần của chúng ta.
Four words stand forth as one considers Rule IV. First, sound, the formula, or word of power which the soul communicates and so starts the work. This word is dual. It is sounded forth on the note to which the soul responds, his own peculiar note, blended with that of his personality. This chord of two notes is the producer of the resulting effects, and is more important than the set phrase composing the word of power.
Bốn từ nổi bật khi người ta xem xét Quy luật IV. Trước hết là âm thanh, công thức, hay Quyền năng từ mà linh hồn truyền đạt và nhờ đó khởi động công việc. Linh từ này có tính nhị phân. Nó được xướng lên theo âm điệu mà linh hồn đáp ứng, âm điệu riêng biệt của chính y, hòa quyện với âm điệu của phàm ngã y. Hợp âm gồm hai âm điệu này tạo ra các hiệu quả tiếp theo, và quan trọng hơn cụm từ cố định cấu thành Quyền năng từ.
Herein lies the problem—to sound these two notes synchronously and with the mind focussed. Herein lies a clue to the significance of the AUM or OM. In the early stages of meditation work, the word is sounded audibly, whilst later it is sounded inaudibly. This training in the sound of the AUM is an unconscious preparation for the dual work of spiritual creation; and facility comes as the attentive aspirant accustoms himself to hear within his brain the soundless sound of OM.
Chính trong đó có vấn đề: xướng hai âm điệu này đồng thời và với thể trí được tập trung. Chính trong đó có một chìa khóa cho thâm nghĩa của AUM hay OM. Trong những giai đoạn đầu của công việc tham thiền, Linh từ được xướng thành tiếng; về sau, nó được xướng không thành tiếng. Sự rèn luyện trong âm thanh của AUM này là một sự chuẩn bị vô thức cho công việc nhị phân của sáng tạo tinh thần; và sự thuần thục đến khi người chí nguyện chăm chú tự tập quen nghe trong bộ não của mình âm thanh vô thanh của OM.
I would suggest here, that students accustom themselves to work in this manner, sounding the word audibly and with much frequency at the close of the morning meditation, but emphasizing in the early part that close attention to the inaudible hearing which will develop the sensitivity of the inner ear, the etheric ear. Later, when the personal note or sound is established and the inner sound is sensed, there can be definite practise in blending the two. This entails the closest attention and the power to perform two activities simultaneously, with the mental attitude of attention to both.
Ở đây, tôi muốn đề nghị rằng các đạo sinh nên tự tập quen làm việc theo cách này, xướng Linh từ thành tiếng và thường xuyên vào cuối buổi tham thiền buổi sáng, nhưng trong phần đầu cần nhấn mạnh sự chú tâm sát sao vào việc nghe không thành tiếng, điều sẽ phát triển độ nhạy của nội nhĩ, tức tai dĩ thái. Về sau, khi âm điệu hay âm thanh cá nhân đã được thiết lập và âm thanh bên trong được cảm nhận, có thể thực hành rõ ràng việc hòa quyện hai âm ấy. Điều này đòi hỏi sự chú tâm cao độ nhất và quyền năng thực hiện đồng thời hai hoạt động, với thái độ trí tuệ chú ý đến cả hai.
Students whose aspiration is keen and clear would do well to face the issue where the magical work is concerned, and study their aptitude in meditation and their willingness to proceed with stability and caution with the needed discipline. To facilitate this I would suggest [128] that any who are deeply concerned in the work should study and answer the following questions in the light of their souls, and to their higher selves make reply.
Những đạo sinh có khát vọng mãnh liệt và rõ ràng nên đối diện vấn đề liên quan đến công việc huyền thuật, và nghiên cứu khả năng của mình trong tham thiền cũng như sự sẵn lòng tiến tới với sự ổn định và thận trọng, cùng với kỷ luật cần thiết. Để tạo thuận lợi cho điều này, tôi đề nghị [128] rằng bất cứ ai thật sự quan tâm sâu xa đến công việc này nên nghiên cứu và trả lời các câu hỏi sau đây trong ánh sáng của linh hồn mình, và đáp lại chân ngã của mình.
1. Do you feel you have reached the stage wherein you can:
1. Bạn có cảm thấy mình đã đạt đến giai đoạn trong đó bạn có thể:
a. Eliminate the meditation form as you now have it.
a. Loại bỏ hình thức tham thiền như hiện nay bạn đang có.
b. Enter with relative facility into the state of contemplation.
b. Đi vào trạng thái chiêm ngưỡng với sự tương đối dễ dàng.
c. Recognize the vibration of your own soul.
c. Nhận ra rung động của linh hồn chính mình.
2. Does the Sacred Word mean anything to you, and could you formulate clearly the reason you sound it?
2. Linh từ Thiêng liêng có ý nghĩa gì đối với bạn không, và bạn có thể trình bày rõ ràng lý do bạn xướng Linh từ ấy không?
3. Are you anxious to proceed in this work because your personality aspires, or because your soul is beginning consciously to utilize its mechanism?
3. Bạn nóng lòng tiến hành công việc này vì phàm ngã của bạn khát vọng, hay vì linh hồn của bạn đang bắt đầu sử dụng bộ máy của nó một cách có ý thức?
In connection with this last question, a close analysis is called for, and I conjure you to speak truth to yourself and thus clearly ascertain the true position. This question lies between a man’s soul and himself.
Liên quan đến câu hỏi cuối cùng này, cần có một sự phân tích sát sao, và tôi khẩn thiết kêu gọi các bạn hãy nói thật với chính mình, nhờ đó xác định rõ vị trí chân thật. Câu hỏi này nằm giữa linh hồn của một người và chính y.
I would like to interpolate here a few words in connection with myself. Students can side-track their energies in idle speculation as to my identity. Of what moment is it? My province in relation to the group is to give needed assistance to those who seek to fit themselves for active work as disciples. I am a disciple and, having progressed further along the Path of Return than the aspirants who study these instructions, know somewhat the pitfalls, understand what is needed, and can aid in the preparation for the momentous moment when they pass the portal. Is more necessary? Is not truth of equal value if enunciated by an aspirant, a disciple or a Master, or e’en a Christ? Mayhap the nearer I am to you the greater may be my usefulness. My anonymity will not be broken and speculations as to my identity are fruitless [129] waste of time. Suffice it that I am an Oriental, that I am on the Teaching Ray, and closely associated with the Master K. H., that part of my work is the steady search for aspirants of strong heart, fervent devotion and trained minds, and that I am a disciple, as are all from the humblest probationer up to the greatest of the Great Ones. One lesson all aspirants need to learn and to learn early and that is, that concentration upon the personality of the Teacher, hoping for personal contact with him, and constant visioning of that condition called “accepted chelaship” serves to postpone that contact and delay the acceptance. Seek to equip your instrument, learn to function in quietness, fulfill your obligations and do your duty, develop restraint of speech and that calm poise that comes from an unselfish life motive and forget the selfish satisfaction that might well up in the heart when recognition of faithfulness comes from the watching Hierarchy.
Ở đây, tôi muốn chen vào vài lời liên quan đến chính tôi. Các đạo sinh có thể làm lệch hướng năng lượng của mình vào những suy đoán vô ích về lai lịch của tôi. Điều đó quan trọng gì? Phạm vi của tôi trong liên hệ với nhóm là đem lại sự trợ giúp cần thiết cho những ai tìm cách tự chuẩn bị cho công việc tích cực với tư cách là các đệ tử. Tôi là một đệ tử và, vì đã tiến xa hơn trên Con Đường Trở Về so với những người chí nguyện đang nghiên cứu các huấn thị này, tôi biết phần nào các cạm bẫy, thấu hiểu điều cần thiết, và có thể trợ giúp trong việc chuẩn bị cho thời điểm trọng đại khi họ đi qua cánh cửa. Cần gì hơn nữa? Chân lý há chẳng có cùng giá trị dù được phát biểu bởi một người chí nguyện, một đệ tử hay một Chân sư, thậm chí bởi một Đức Christ sao? Có lẽ tôi càng gần các bạn thì sự hữu ích của tôi càng lớn. Sự ẩn danh của tôi sẽ không bị phá vỡ, và những suy đoán về lai lịch của tôi chỉ là sự lãng phí thời gian vô ích [129]. Chỉ cần biết rằng tôi là một người phương Đông, rằng tôi thuộc Cung Giáo Huấn và liên hệ mật thiết với Chân sư K.H.; rằng một phần công việc của tôi là kiên trì tìm kiếm những người chí nguyện có trái tim mạnh mẽ, lòng sùng tín nhiệt thành và thể trí được rèn luyện; và rằng tôi là một đệ tử, cũng như tất cả mọi người, từ người dự bị khiêm tốn nhất cho đến vị vĩ đại nhất trong Các Đấng Cao Cả. Một bài học mà mọi người chí nguyện cần học, và học từ sớm, là việc tập trung vào phàm ngã của Huấn sư, hy vọng có sự tiếp xúc cá nhân với Ngài, và liên tục hình dung tình trạng được gọi là “địa vị đệ tử được chấp nhận” chỉ làm trì hoãn sự tiếp xúc ấy và làm chậm sự chấp nhận. Hãy tìm cách trang bị khí cụ của bạn, học cách vận hành trong tĩnh lặng, hoàn thành các bổn phận và làm tròn trách nhiệm, phát triển sự kiềm chế lời nói và sự quân bình điềm tĩnh phát sinh từ động cơ sống vô tư lợi, và quên đi sự thỏa mãn ích kỷ có thể dâng lên trong tim khi sự trung thành được Thánh đoàn đang quan sát công nhận.
Give this Instruction careful consideration. These are days wherein many adjustments and changes are being wrought in the world of men. In the resulting confusion, individuals are appreciating the necessity for the uniting of their forces and for cooperation in their efforts, and the need for group work is more apparent than ever before. These are days, therefore, wherein quietness and confidence must be your strength, and wherein the only safeguard lies in a close searching of all underlying motives. As seen on the surface, many apparently diverse principles emerge and the surge of battle appears to go, first one way and then another. As seen on the inner side, the emerging factors are simpler. The contest leads primarily to a testing of motives, and through this testing it is made apparent (to the watching Guides) who, in every group, are capable of clear thinking, accurate discrimination, patient endurance, and an ability to proceed along the probationary path toward the portal of initiation, [130] untrammelled and undisturbed in their inner life by the upheavals on the surface. Could you but see it, the unrest and difficulty everywhere is producing a good which far outweighs the seeming evil. Souls are finding themselves and learning dependence upon the inner Ruler. When all outward props fail and when all the apparent authorities differ in the solution proffered, then souls are thrown back upon themselves and learn to seek within. This inner contact with the higher self is becoming apparent in gradually unfolding degree, and leads to that self-reliance and inward calm which is based upon the rule of the inner God and which, therefore, makes a man an instrument for service in the world.
Hãy xem xét kỹ Huấn thị này. Đây là những ngày mà nhiều điều chỉnh và thay đổi đang được thực hiện trong thế giới của con người. Trong sự hỗn loạn phát sinh, các cá nhân đang nhận ra sự cần thiết phải hợp nhất các mãnh lực của họ và hợp tác trong các nỗ lực của họ, và nhu cầu về công việc nhóm hiện rõ hơn bao giờ hết. Vì vậy, đây là những ngày trong đó sự tĩnh lặng và lòng tin cậy phải là sức mạnh của các bạn, và trong đó sự bảo vệ duy nhất nằm ở việc khảo sát kỹ lưỡng mọi động cơ nền tảng. Khi nhìn trên bề mặt, nhiều nguyên tắc dường như khác biệt xuất hiện, và làn sóng chiến đấu dường như lúc nghiêng bên này, lúc nghiêng bên kia. Khi nhìn từ phía bên trong, các yếu tố đang xuất hiện đơn giản hơn. Cuộc tranh đấu chủ yếu dẫn đến một cuộc thử thách các động cơ, và qua cuộc thử thách này, các Đấng Hướng Đạo đang quan sát thấy rõ ai, trong mỗi nhóm, có khả năng tư duy rõ ràng, phân biện chính xác, chịu đựng kiên nhẫn, và có khả năng tiến bước trên con đường dự bị hướng đến cổng điểm đạo [130], không bị trói buộc và không bị xáo động trong đời sống nội tâm bởi những biến động trên bề mặt. Nếu các bạn có thể thấy được, sự bất ổn và khó khăn ở khắp nơi đang tạo ra một điều thiện vượt xa điều ác bề ngoài. Các linh hồn đang tìm thấy chính mình và học nương tựa vào Đấng Cai Quản bên trong. Khi mọi chỗ dựa bên ngoài sụp đổ và khi mọi thẩm quyền bề ngoài khác nhau trong giải pháp được đưa ra, bấy giờ các linh hồn bị đẩy trở lại với chính mình và học tìm kiếm bên trong. Sự tiếp xúc nội tâm này với chân ngã đang trở nên rõ ràng theo mức độ khai mở dần dần, và dẫn đến sự tự chủ cùng sự an tĩnh bên trong vốn dựa trên quyền cai quản của Thượng đế nội tâm, và do đó khiến con người trở thành một khí cụ phụng sự trong thế gian.
Several things are apparent at this juncture to the careful thoughtful student of men and of motives.
Vào thời điểm này, có vài điều trở nên rõ ràng đối với đạo sinh biết suy tư cẩn trọng về con người và các động cơ.
First: That idealism and the sensing of the plan for humanity have a close relationship. Idealism is analogous to the thought that precedes creation. The capacity for abstract thought and for concentration on the ideal is only now in process of development, for this capacity involves the utilization of certain atoms, the employment of matter of the higher sub-planes and the ability to synchronize one’s vibrations with the Great Ones. Only a few people in the race are true idealists (though their numbers are increasing); the small minority only, employ the concrete mind; while the masses are swayed entirely by the emotions. The time is coming when the intuitional body (the buddhic vehicle) will be organized, utilizing the higher spiritual mind as its medium. When that organization is completed the lower concrete mind will be nothing but a transmitter or an interpreter. Even abstract or concrete thought will be superseded, and we shall have simply the inflow of the intuition, taking form through the medium of the mind stuff. We shall, therefore, have the apprehension of much that is now incomprehensible to our lower plane vision.
Trước hết: chủ nghĩa lý tưởng và sự cảm nhận Thiên Cơ dành cho nhân loại có một mối liên hệ mật thiết. Chủ nghĩa lý tưởng tương tự với tư tưởng đi trước sự sáng tạo. Khả năng tư duy trừu tượng và tập trung vào lý tưởng hiện chỉ mới đang trong tiến trình phát triển, vì khả năng này liên quan đến việc sử dụng một số nguyên tử nhất định, dùng chất liệu của các cõi phụ cao hơn, và khả năng đồng bộ hóa các rung động của mình với Các Đấng Cao Cả. Chỉ một ít người trong nhân loại là những nhà lý tưởng đích thực, dù số lượng của họ đang tăng lên; chỉ một thiểu số nhỏ sử dụng trí cụ thể; còn quần chúng thì hoàn toàn bị cảm xúc chi phối. Thời điểm đang đến khi thể trực giác, tức vận cụ Bồ đề, sẽ được tổ chức, sử dụng trí tuệ tinh thần cao hơn làm trung gian. Khi sự tổ chức ấy hoàn tất, hạ trí cụ thể sẽ không là gì khác ngoài một bộ truyền dẫn hay một người diễn giải. Ngay cả tư tưởng trừu tượng hay cụ thể cũng sẽ bị thay thế, và chúng ta sẽ chỉ có dòng tuôn nhập của trực giác, mang hình tướng qua trung gian chất liệu trí tuệ. Vì vậy, chúng ta sẽ có sự lĩnh hội nhiều điều hiện nay còn không thể hiểu được đối với tầm nhìn ở cõi thấp của chúng ta.
[131]
[131]
In all great movements you have some thought or aggregation of thoughts cast into the minds of the so-called idealists by the Great White Brotherhood. The idea is sounded forth by Them. They choose a man or a group of men and cast into their minds some idea. There it germinates and is embodied by them in other thoughts, not so pure or so wise but necessarily colored by the individuality of the thinker. These thought-forms are, in their turn, picked up by the concrete thinkers of the world who—grasping the main outline of the idea—crystallize it and build it into more definite shape, into one more easily apprehended by the general public. It has therefore now reached the lower levels of the mental plane, and a further development becomes possible. It is then seized upon as desirable by those who are focussed upon the astral plane; to them it makes an emotional appeal, becoming public opinion. It is now practically ready to take shape upon the physical plane, and we have the practical adaptation of an ideal to the needs of the physical life. It has been stepped down; it has lost much of its original beauty; it is not as pure and as lovely as when first conceived, and it is distorted from its original shape but it is, nevertheless, more adapted to public use and can be employed as a stepping-stone to higher things.
Trong mọi phong trào lớn, các bạn có một tư tưởng hay một tập hợp tư tưởng được Huynh đệ Đoàn Chánh đạo gieo vào thể trí của những người được gọi là các nhà lý tưởng. Ý tưởng được Các Ngài xướng ra. Các Ngài chọn một người hoặc một nhóm người và gieo vào thể trí họ một ý tưởng nào đó. Ở đó, nó nảy mầm và được họ thể hiện trong những tư tưởng khác, không thuần khiết hay minh triết bằng, nhưng tất yếu được nhuộm màu bởi cá tính của người tư duy. Đến lượt mình, các hình tư tưởng này được những người tư duy cụ thể của thế gian tiếp nhận; khi nắm được đường nét chính của ý tưởng, họ kết tinh nó và kiến tạo nó thành hình dạng xác định hơn, dễ được công chúng nói chung lĩnh hội hơn. Do đó, nó nay đã đạt đến các cấp độ thấp hơn của cõi trí, và một sự phát triển tiếp theo trở nên khả hữu. Rồi nó được những người tập trung trên cõi cảm dục nắm lấy như một điều đáng mong muốn; đối với họ, nó có sức hấp dẫn cảm xúc và trở thành công luận. Lúc này, nó gần như đã sẵn sàng mang hình tướng trên cõi hồng trần, và chúng ta có sự thích nghi thực tiễn của một lý tưởng với các nhu cầu của đời sống hồng trần. Nó đã được hạ xuống; nó đã mất đi nhiều vẻ đẹp nguyên thủy; nó không còn thuần khiết và đẹp đẽ như khi mới được hình thành, và nó bị méo mó so với hình dạng ban đầu, nhưng dù vậy, nó thích hợp hơn cho việc sử dụng của công chúng và có thể được dùng như một bậc thang dẫn đến những điều cao hơn.
Secondly: In this sensing of the plan and its later materialization, human units are involved and men have perforce to be employed. A vision is given of tremendous possibilities and indications are also granted of the manner in which these possibilities may become facts, but beyond that the Great Ones do not go. The detail and the method of concretizing the ideal and the necessary work is left to the sons of men. To the disciple who is an organizer and transmitter of the Plan falls the work of filling in the details and of taking the necessary action. At this point it is wise for him to remember that he comes (with his little plans) under the same law as do the Great [132] Ones in Their large endeavours, and that it is in his dealings with people and his manipulation of the human equation that the difficulties arise.
Thứ hai: trong sự cảm nhận Thiên Cơ này và sự hiện hình về sau của nó, các đơn vị nhân loại đều có liên quan, và con người tất yếu phải được sử dụng. Một tầm nhìn về những khả năng vô cùng lớn lao được ban cho, và những chỉ dẫn cũng được trao về cách thức qua đó các khả năng ấy có thể trở thành sự kiện, nhưng Các Đấng Cao Cả không đi xa hơn thế. Chi tiết và phương pháp cụ thể hóa lý tưởng cùng công việc cần thiết được giao lại cho những người con của nhân loại. Đối với người đệ tử là nhà tổ chức và người truyền dẫn Thiên Cơ, công việc lấp đầy các chi tiết và thực hiện hành động cần thiết được trao phó. Ở điểm này, y nên nhớ rằng y, với những kế hoạch nhỏ bé của mình, cũng ở dưới cùng một định luật như Các [132] Đấng Cao Cả trong những nỗ lực lớn lao của Các Ngài, và chính trong các giao tiếp của y với con người cùng việc xử lý phương trình nhân loại mà các khó khăn phát sinh.
Units for work fall into three groups:
Các đơn vị cho công việc chia thành ba nhóm:
(a) Those who can sense the plan and are commissioned to work it out.
(a) Những người có thể cảm nhận Thiên Cơ và được ủy nhiệm để thực hiện nó.
(b) Those who can be used but who are blind to the greater issues.
(b) Những người có thể được sử dụng nhưng mù lòa trước các vấn đề lớn hơn.
(c) Those who can sense nothing except those things which concern their own selfish interests.
(c) Những người không thể cảm nhận điều gì ngoài những điều liên quan đến các lợi ích ích kỷ của riêng họ.
The first group the Masters can contact. They work with these units of the human family and expect fair promise of average success. These both hear the sound, and vision the Plan. The second group have to be utilized as best may be, by the disciples of the world. The final group are frequently to be offset from the energy standpoint, and only used when necessary.
Nhóm thứ nhất, các Chân sư có thể tiếp xúc. Các Ngài làm việc với những đơn vị này của gia đình nhân loại và kỳ vọng một triển vọng hợp lý về thành công trung bình. Những người này vừa nghe âm thanh, vừa thấy Thiên Cơ. Nhóm thứ hai phải được các đệ tử của thế gian tận dụng tốt nhất có thể. Nhóm cuối cùng thường phải được hóa giải từ lập trường năng lượng, và chỉ được sử dụng khi cần thiết.
One of the primary conditions that a disciple has to cultivate, in order to sense the plan and be used by the Master, is solitude. In solitude the rose of the soul flourishes; in solitude the divine self can speak; in solitude the faculties and the graces of the higher self can take root and blossom in the personality. In solitude also the Master can approach and impress upon the quiescent soul the knowledge that He seeks to impart, the lesson that must be learnt, the method and plan for work that the disciple must grasp. In solitude the sound is heard. The Great Ones have to work through human instruments and the plan and the vision are much handicapped by failure on the part of these instruments.
Một trong những điều kiện chính yếu mà một đệ tử phải vun bồi để cảm nhận Thiên Cơ và được Chân sư sử dụng là sự cô tịch. Trong cô tịch, đóa hồng của linh hồn nở rộ; trong cô tịch, bản ngã thiêng liêng có thể lên tiếng; trong cô tịch, các năng lực và ân huệ của chân ngã có thể bén rễ và nở hoa trong phàm ngã. Cũng trong cô tịch, Chân sư có thể đến gần và ghi khắc lên linh hồn tĩnh lặng tri thức mà Ngài tìm cách truyền đạt, bài học phải được học, phương pháp và kế hoạch công việc mà đệ tử phải nắm bắt. Trong cô tịch, âm thanh được nghe thấy. Các Đấng Cao Cả phải làm việc qua các khí cụ nhân loại, và Thiên Cơ cùng tầm nhìn bị cản trở rất nhiều do sự thất bại của các khí cụ này.
Third: This brings me to the third point, the problems and the difficulties with which the Masters have to contend as They seek to further the plans of evolution through the medium of the sons of men. In conclave wise They make Their plans; with judgment, after due [133] discussion, They apportion the tasks; then, to those who offer themselves for service and who have some measure of soul contact, They seek to transmit as much of the plan as possible. They impress the plan and some suggestion as to its scope upon the mind of some man or some woman upon the physical plane. If that mind is unstable or oversatisfied, if it is filled with pride, with despair, or with self-depreciation, the vision does not come through with clarity of outline; if the emotional body is vibrating violently with some rhythm set up by the personality, or if the physical vehicle is ailing and concentrated attention is therefore prevented, what will happen? The Master will turn sadly away, distressed to think of the opportunity for service that the worker has lost through his own fault, and He will seek someone else to fill the need, —someone perhaps not so fundamentally suitable, but the only one available on account of the failure of the first one approached.
Thứ ba: điều này đưa tôi đến điểm thứ ba, các vấn đề và khó khăn mà các Chân sư phải đối diện khi Các Ngài tìm cách thúc đẩy các kế hoạch tiến hoá qua trung gian những người con của nhân loại. Trong mật nghị minh triết, Các Ngài lập kế hoạch; với sự phán đoán, sau khi thảo luận [133] đầy đủ, Các Ngài phân chia các nhiệm vụ; rồi đối với những ai tự hiến dâng cho phụng sự và có một mức độ tiếp xúc linh hồn nào đó, Các Ngài tìm cách truyền đạt càng nhiều Thiên Cơ càng tốt. Các Ngài ghi khắc Thiên Cơ và một vài gợi ý về phạm vi của nó lên thể trí của một người nam hay một người nữ trên cõi hồng trần. Nếu thể trí ấy bất ổn hoặc quá tự mãn, nếu nó đầy kiêu hãnh, tuyệt vọng hay tự hạ thấp mình, tầm nhìn sẽ không truyền xuống với đường nét rõ ràng; nếu thể cảm dục rung động dữ dội theo một nhịp điệu nào đó do phàm ngã thiết lập, hoặc nếu vận cụ hồng trần đau yếu và vì thế sự chú tâm tập trung bị ngăn cản, điều gì sẽ xảy ra? Chân sư sẽ buồn bã quay đi, đau lòng khi nghĩ đến cơ hội phụng sự mà người hoạt động đã đánh mất do lỗi của chính y, và Ngài sẽ tìm một người khác để đáp ứng nhu cầu — có lẽ một người không phù hợp căn bản bằng, nhưng là người duy nhất hiện có vì người đầu tiên được tiếp cận đã thất bại.
It might incidentally be of value here to remind aspirants to service that much work done by many is the result of over-zealousness and is not a carrying forward of the Master’s work. With wise discrimination He apportions the work and never lays upon one human being more than he can adequately accomplish. He can and does train His disciple so that it appears to the on-looking world as if he accomplishes miracles but forget not that the vast amount of work accomplished by one useful disciple only becomes possible when the control of all his three bodies is co-ordinated and his alignment accomplished. He who has a stable mental body that is strongly positive in reception from above, whilst negative to lower vibrations, he who has an astral body that is clear, uncoloured and still, he who also has a physical body with steady nerves and stable rhythm (it will be like a casket, beautiful, yet strong as steel) will serve as a vessel meet for the Master’s use, a channel [134] through which He can unhindered pour His blessing upon the world.
Nhân đây, có thể hữu ích khi nhắc nhở những người chí nguyện phụng sự rằng nhiều công việc do nhiều người thực hiện là kết quả của sự quá nhiệt thành, chứ không phải là việc xúc tiến công việc của Chân sư. Với sự phân biện sáng suốt, Ngài phân chia công việc và không bao giờ đặt lên một con người nhiều hơn những gì y có thể hoàn thành một cách thích đáng. Ngài có thể và thật sự huấn luyện đệ tử của Ngài đến mức đối với thế gian quan sát, dường như y làm được các phép lạ; nhưng đừng quên rằng khối lượng công việc lớn lao mà một đệ tử hữu dụng hoàn thành chỉ trở nên khả hữu khi sự kiểm soát cả ba thể của y được phối hợp và sự chỉnh hợp của y được hoàn tất. Người nào có thể trí ổn định, mạnh mẽ tích cực trong việc tiếp nhận từ bên trên, đồng thời âm đối với các rung động thấp hơn; người nào có thể cảm dục trong sáng, không nhuốm màu và tĩnh lặng; người nào cũng có thể xác với thần kinh vững vàng và nhịp điệu ổn định, giống như một chiếc tráp đẹp đẽ mà bền chắc như thép, người ấy sẽ phụng sự như một bình chứa thích hợp cho Chân sư sử dụng, một vận hà [134] qua đó Ngài có thể tuôn đổ phúc lành của Ngài xuống thế gian mà không bị cản trở.
Fourth: It should be noted that even the Great Ones Themselves have to lay Their plans largely allowing for the lack of perception of those on the physical plane through whom They have to work. They are handicapped and dependent upon Their physical plane instruments and Their main trouble concerns the point of evolution reached by the mass of men in the Occident.
Thứ tư: cần lưu ý rằng ngay cả chính Các Đấng Cao Cả cũng phải lập kế hoạch phần lớn có xét đến sự thiếu tri giác của những người trên cõi hồng trần mà qua họ Các Ngài phải làm việc. Các Ngài bị hạn chế và tùy thuộc vào các khí cụ trên cõi hồng trần của Các Ngài, và khó khăn chính của Các Ngài liên quan đến điểm tiến hoá mà khối đông con người ở phương Tây đã đạt tới.
Remember that this point is indicative of the success of the evolutionary process and not of its failure but, because much yet remains to be done, the work of the Lodge is often hindered. The point reached at this time might be expressed as a swinging from the rank materialism of the past into a growing and profound realization of the unseen worlds without the balance that comes from self-acquired knowledge. The forces that have been set in motion by the thinkers—the scientists of the world, the truly advanced religious men, the Spiritualists, the Christian Scientists, the New Thought workers, the Theosophists and the modern philosophers and workers in other fields of human thought—are gradually and steadily affecting the subtler bodies of humanity and are bringing them to a point where they are beginning to realize three things:
Hãy nhớ rằng điểm này biểu thị sự thành công của tiến trình tiến hoá chứ không phải sự thất bại của nó; nhưng vì còn nhiều điều phải làm, công việc của Thánh đoàn thường bị cản trở. Điểm đã đạt được vào lúc này có thể được diễn tả như một sự dao động từ chủ nghĩa vật chất thô thiển của quá khứ sang một sự nhận biết ngày càng sâu sắc về các thế giới vô hình, nhưng chưa có sự cân bằng đến từ tri thức tự mình đạt được. Các mãnh lực đã được các nhà tư tưởng khởi động — các nhà khoa học của thế gian, những người tôn giáo thật sự tiến bộ, các nhà thần linh học, các nhà Khoa học Kitô giáo, những người hoạt động trong Tư tưởng Mới, các nhà Thông Thiên Học, và các triết gia hiện đại cùng những người hoạt động trong các lĩnh vực khác của tư tưởng nhân loại — đang dần dần và đều đặn ảnh hưởng đến các thể tinh anh hơn của nhân loại và đưa họ đến điểm bắt đầu nhận ra ba điều:
a. The reality of the unseen worlds.
a. Thực tại của các thế giới vô hình.
b. The terrific power of thought.
b. Quyền năng khủng khiếp của tư tưởng.
c. The need for scientific knowledge on these two matters.
c. Nhu cầu về tri thức khoa học đối với hai vấn đề này.
Fifth: Certain dangers which aspirants must watch as they seek to be of use should here be mentioned:
Thứ năm: ở đây cần nêu ra một số nguy cơ mà những người chí nguyện phải canh chừng khi họ tìm cách trở nên hữu ích:
They must guard against overemphasizing one aspect at the expense of another part of the plan or vision.
Họ phải đề phòng việc nhấn mạnh quá mức một phương diện gây thiệt hại cho một phần khác của Thiên Cơ hay tầm nhìn.
They must avoid unequal concentration of thought [135] upon that part of the plan which appeals the most to them personally.
Họ phải tránh sự tập trung tư tưởng không cân bằng [135] vào phần Thiên Cơ hấp dẫn họ nhất về mặt cá nhân.
They must recognize the inability of the workers to continue to bring through the plans and to work together peacefully and steadily. Friction is oft unavoidable.
Họ phải nhận ra sự bất lực của những người hoạt động trong việc tiếp tục truyền dẫn các kế hoạch và làm việc chung với nhau một cách hòa bình, đều đặn. Ma sát thường khó tránh khỏi.
They must watch for the creeping in of self-interest and of ambition.
Họ phải canh chừng sự len lỏi của tư lợi và tham vọng.
They must guard against fatigue, due to long effort in materializing the plan and the strain incident upon high endeavour.
Họ phải đề phòng sự mệt mỏi do nỗ lực lâu dài trong việc hiện hình Thiên Cơ và sức căng phát sinh từ nỗ lực cao cả.
They must develop the capacity to recognize those who are sent to help them in the work.
Họ phải phát triển khả năng nhận ra những người được gửi đến để giúp họ trong công việc.
They must above all watch against failure to keep in touch with the higher self and with the Master.
Trên hết, họ phải canh chừng nguy cơ không duy trì được sự tiếp xúc với chân ngã và với Chân sư.
Another point that has to be remembered is that the problem to be solved by all who are seeking to co-operate with the Great White Lodge has four objects in view.
Một điểm khác cần được ghi nhớ là vấn đề phải được giải quyết bởi tất cả những ai tìm cách hợp tác với Thánh đoàn có bốn mục tiêu trước mắt.
First, that in the working out of the plan there is also the working out of karma. This karma is not merely individual nor purely national, but is part of the total working out of world karma.
Thứ nhất, trong việc thực hiện Thiên Cơ cũng có việc thực hiện nghiệp quả. Nghiệp quả này không chỉ là cá nhân cũng không thuần túy là quốc gia, mà là một phần của toàn bộ sự vận hành nghiệp quả thế giới.
Second. Another object is the preparing of an instrument for service in the inauguration of the New Age during the next two hundred years. The integration of a group of knowers and of mystics is going on steadily in all parts of the world and in all organizations. One group is being gathered but its members belong to many groups. To this group of knowers and mystics is given the opportunity of being the channel through which the Hierarchy can work, and through which the Great Ones can send Their illuminating thought. Through it also they can work for the uplift (in the occult sense) of humanity and thus aid evolution on every plane. According to the response of disciples, of mystics and of knowers everywhere, so will be the rapid coming in of the New Age.
Thứ hai. Một mục tiêu khác là chuẩn bị một khí cụ để phụng sự trong việc khai mở Kỷ Nguyên Mới trong hai trăm năm tới. Sự tích hợp của một nhóm các thức giả và nhà thần bí đang diễn ra đều đặn ở mọi nơi trên thế giới và trong mọi tổ chức. Một nhóm đang được quy tụ, nhưng các thành viên của nó thuộc về nhiều nhóm. Nhóm các thức giả và nhà thần bí này được trao cơ hội trở thành vận hà qua đó Thánh đoàn có thể làm việc, và qua đó Các Đấng Cao Cả có thể gửi tư tưởng soi sáng của Các Ngài. Qua nhóm ấy, Các Ngài cũng có thể làm việc để nâng cao nhân loại theo nghĩa huyền bí, và nhờ đó trợ giúp tiến hoá trên mọi cõi. Tùy theo sự đáp ứng của các đệ tử, các nhà thần bí và các thức giả ở khắp nơi, Kỷ Nguyên Mới sẽ đến nhanh chóng như thế.
[136]
[136]
I here seek to sound a word of warning: In the failure to respond, in the failure to adjust, construct and refine, in the failure to turn the inner ear to those voices on the subtler planes which utter “the Words of Reconstruction” may come the ultimate transference of the forces of reconstruction to other channels, the consequent withholding of opportunities and the ultimate discarding of the instrumentality of the group as a medium of service. I would like to emphasize the statement anent “the Words of Reconstruction,” begging all of you who earnestly desire to hear these words to study the Introduction to the book, Light on the Path. Let it be remembered that if the Great Ones have to change Their plans as to this integrating group of mystics, it will be changed by the mystics themselves—viewed as a group.
Ở đây, tôi tìm cách xướng lên một lời cảnh báo: trong sự thất bại đáp ứng, trong sự thất bại điều chỉnh, kiến tạo và tinh luyện, trong sự thất bại quay nội nhĩ về phía những tiếng nói trên các cõi tinh anh đang thốt ra “những Linh từ Tái thiết”, có thể xảy ra sự chuyển dịch tối hậu các mãnh lực tái thiết sang những vận hà khác, hệ quả là các cơ hội bị giữ lại và cuối cùng khí cụ nhóm bị loại bỏ như một phương tiện phụng sự. Tôi muốn nhấn mạnh lời phát biểu liên quan đến “những Linh từ Tái thiết”, khẩn cầu tất cả các bạn, những người tha thiết mong muốn nghe các Linh từ này, hãy nghiên cứu phần Dẫn nhập của sách Ánh sáng trên Đường Đạo. Hãy nhớ rằng nếu Các Đấng Cao Cả phải thay đổi kế hoạch của Các Ngài liên quan đến nhóm các nhà thần bí đang được tích hợp này, thì sự thay đổi ấy sẽ do chính các nhà thần bí thực hiện, khi được nhìn như một nhóm.
The third objective is the development of the intuition and discrimination of the disciples in the world, and their ability to sense the higher vision and to achieve at the cost of the lower, the consciousness of that higher plane. They will have to remember that the lower objective, owing to its proximity, will loom in many ways more attractive, and can only be transcended at infinite cost. Intuition must be developed in many people, and their sense of values adequately adjusted before this group, which must inaugurate the New Age, can measure up to the requirements.
Mục tiêu thứ ba là phát triển trực giác và sự phân biện của các đệ tử trong thế gian, cũng như khả năng của họ cảm nhận tầm nhìn cao hơn và đạt được tâm thức của cõi cao ấy với cái giá là cái thấp. Họ sẽ phải nhớ rằng mục tiêu thấp hơn, do ở gần hơn, sẽ hiện ra theo nhiều cách hấp dẫn hơn, và chỉ có thể được vượt qua với cái giá vô cùng lớn. Trực giác phải được phát triển nơi nhiều người, và ý thức về giá trị của họ phải được điều chỉnh thích đáng trước khi nhóm này, vốn phải khai mở Kỷ Nguyên Mới, có thể đáp ứng các yêu cầu.
Present day troubles are largely due to the lack of intuitive perception in the past and this fault lies primarily among the mystics of the world and not so much among the lower aspirants. The trouble has not lain in lack of idealism or even in a lack of intelligence and sincerity, it consists in the failure to sacrifice the personality at all times in order to make the intuitive realization demonstrate its realities. Compromise has been permitted and in the occult world compromise is forbidden. When indulged in, it leads to disaster and sweeps away eventually, [137] in ruin and in storm, the personalities of those who so stoop. People have sought to adjust the truth to the hour instead of adjusting the hour to the truth, and in diplomacy they have endeavored to bring about as much of the reality as they deem wise. The Masters are looking out for those with clear vision, uncompromising adherence to the truth as sensed, and capacity to drive steadily forward toward the ideal. This entails the following factors:
Những rắc rối ngày nay phần lớn do sự thiếu tri giác trực giác trong quá khứ, và lỗi này chủ yếu nằm nơi các nhà thần bí của thế gian hơn là nơi những người chí nguyện thấp hơn. Rắc rối không nằm ở sự thiếu chủ nghĩa lý tưởng, cũng không hẳn ở sự thiếu trí tuệ và lòng thành thật; nó nằm ở sự thất bại trong việc luôn luôn hy sinh phàm ngã để sự nhận biết trực giác có thể biểu lộ các thực tại của nó. Sự thỏa hiệp đã được cho phép, và trong thế giới huyền bí, thỏa hiệp bị cấm. Khi được nuông chiều, nó dẫn đến tai họa và cuối cùng cuốn phăng [137] trong đổ nát và bão tố các phàm ngã của những kẻ hạ mình như thế. Con người đã tìm cách điều chỉnh chân lý cho phù hợp với thời điểm, thay vì điều chỉnh thời điểm cho phù hợp với chân lý; và bằng ngoại giao, họ đã cố gắng đem lại chừng ấy thực tại mà họ cho là khôn ngoan. Các Chân sư đang tìm kiếm những người có tầm nhìn rõ ràng, sự trung thành không thỏa hiệp với chân lý như đã cảm nhận, và khả năng tiến thẳng vững vàng về phía lý tưởng. Điều này đòi hỏi các yếu tố sau:
1. A recognition of that ideal through meditation.
1. Nhận ra lý tưởng ấy qua tham thiền.
2. Its application to the present through one-pointedness.
2. Áp dụng nó vào hiện tại qua sự nhất tâm.
3. Removal of the old and hindering thought-forms through self-sacrifice.
3. Loại bỏ các hình tư tưởng cũ kỹ và cản trở qua sự tự hy sinh.
4. A refusal to compromise, through clear vision.
4. Từ chối thỏa hiệp qua tầm nhìn rõ ràng.
5. A discrimination that enables the disciple always to distinguish between the acts of an individual and the individual himself.
5. Sự phân biện giúp đệ tử luôn phân biệt giữa hành vi của một cá nhân và chính cá nhân ấy.
6. Realization that, in the occult work, it is not permitted to interfere with personal karma any more than it is permitted to shield from the consequences of action. This entails therefore a refusal to interfere in anyone’s business—that is, as regards the personality life, and yet involves a refusal to shirk the business of the larger cause. It is essential that the workers learn to discriminate between the factors which make for personal liberty and those which militate against group liberty.
6. Nhận biết rằng trong công việc huyền bí, không được phép can thiệp vào nghiệp quả cá nhân, cũng như không được phép che chắn khỏi các hệ quả của hành động. Do đó, điều này đòi hỏi sự từ chối can thiệp vào công việc của bất cứ ai, tức là liên quan đến đời sống phàm ngã, nhưng đồng thời cũng bao hàm sự từ chối né tránh công việc của chính nghĩa lớn hơn. Điều thiết yếu là những người hoạt động phải học phân biện giữa các yếu tố tạo nên tự do cá nhân và những yếu tố chống lại tự do nhóm.
The fourth result to be brought about by the present opportunity to work is the bringing in the new cycle and the new group of participants. Workers in the new era will be drawn from all groups and the test of their choice depends largely upon the measure of impersonality with which they work and the strength of their [138] inner contact with the soul. It is not easy for any of you, therefore, submerged as you are in the smoke and roar of battle, to judge results with accuracy or to judge people with perfect propriety. These things have to be dealt with on the inner planes and are noted by the watching guides of the race. I would like here briefly to point out a few of the things for which the Great Ones look.
Kết quả thứ tư cần được đem lại bởi cơ hội làm việc hiện nay là sự đưa vào chu kỳ mới và nhóm những người tham dự mới. Những người hoạt động trong kỷ nguyên mới sẽ được rút ra từ mọi nhóm, và sự thử thách cho việc chọn lựa họ phần lớn tùy thuộc vào mức độ phi cá nhân mà họ thể hiện trong công việc và sức mạnh của sự tiếp xúc [138] nội tâm với linh hồn. Vì vậy, không dễ cho bất cứ ai trong các bạn, khi đang chìm trong khói và tiếng gầm của trận chiến, phán đoán kết quả một cách chính xác hay phán đoán con người một cách hoàn toàn thích đáng. Những điều này phải được xử lý trên các cõi bên trong và được các vị hướng đạo đang quan sát nhân loại ghi nhận. Ở đây, tôi muốn vắn tắt chỉ ra một vài điều mà Các Đấng Cao Cả tìm kiếm.
They look to see whether the inner flame—the result of effort wisely to work and think and do—burns with increased brilliance; they note whether it remains hidden and dim through the whirl of astral currents and by thought forms of personal antagonism, ambition and envy. As a result of world work some will be drawn into closer connection with the work of the Hierarchy, and others will be temporarily set back. Capacity to dominate the astral and to work from mental levels will largely count.
Các Ngài quan sát xem ngọn lửa bên trong, kết quả của nỗ lực làm việc, suy nghĩ và hành động một cách sáng suốt, có cháy sáng hơn không; Các Ngài ghi nhận liệu nó có vẫn bị che khuất và mờ nhạt bởi vòng xoáy của các dòng cảm dục và bởi các hình tư tưởng của sự đối kháng cá nhân, tham vọng và ganh tị hay không. Do kết quả của công việc thế giới, một số người sẽ được kéo vào mối liên hệ gần gũi hơn với công việc của Thánh đoàn, còn những người khác sẽ tạm thời bị đẩy lùi. Khả năng chế ngự cảm dục và làm việc từ các cấp độ trí tuệ sẽ có giá trị rất lớn.
They look to see who can struggle and contend for principle with personalities, and yet keep the link of love intact. This counts perhaps more than men realize and a man who can stand for principle and yet love all human beings—refusing compromise and yet refusing hate—has something rare to offer in these days and the Great Ones can use him. See to it, therefore, all of you who work, that with clear vision, upright purpose and firm undeviating action you forge ahead. See to it that you deal with patience and forbearance with those of your brothers who choose the lesser principle and the lesser right, who sacrifice the good of the group for their own personal ends or who use unworthy methods. Give to them love and care and a ready helping hand, for they will stumble on the way and sound the depth of the law. Stand ready then to lift them up and to offer to them opportunities for service, knowing that service is the great healer and teacher.
Các Ngài quan sát xem ai có thể đấu tranh và tranh đấu vì nguyên tắc với các phàm ngã, mà vẫn giữ nguyên vẹn mối dây tình thương. Điều này có lẽ quan trọng hơn con người nhận ra; và một người có thể đứng vững vì nguyên tắc mà vẫn thương yêu mọi con người, từ chối thỏa hiệp nhưng cũng từ chối thù hận, có một điều hiếm quý để dâng hiến trong những ngày này, và Các Đấng Cao Cả có thể sử dụng y. Vì vậy, tất cả các bạn đang hoạt động, hãy đảm bảo rằng với tầm nhìn rõ ràng, mục đích ngay thẳng và hành động vững chắc không lệch hướng, các bạn tiến lên phía trước. Hãy đảm bảo rằng các bạn đối xử bằng kiên nhẫn và khoan dung với những huynh đệ của mình, những người chọn nguyên tắc nhỏ hơn và điều đúng nhỏ hơn, những người hy sinh lợi ích của nhóm cho mục đích cá nhân của riêng họ, hoặc những người sử dụng các phương pháp không xứng đáng. Hãy trao cho họ tình thương, sự chăm sóc và bàn tay trợ giúp sẵn sàng, vì họ sẽ vấp ngã trên đường và thăm dò chiều sâu của định luật. Khi ấy, hãy sẵn sàng nâng họ dậy và trao cho họ các cơ hội phụng sự, biết rằng phụng sự là người chữa lành và huấn sư vĩ đại.
[139]
[139]
The Great Ones look to see the faculty of pliability and adaptability working out, that faculty of adaptation that is one of the fundamental laws of species which nature so wonderfully demonstrates. The transference of this law to the inner planes and its working out in the new cycle of effort must be undertaken. This law of adaptation involves the appreciation of the need, the recognition of the new force coming in with the new cycle and the consequent bringing together in wide synthesis of the need and of the force, regarding the personal self simply as a focal point for action and transmutation. It involves the transmutation of the five senses and their extension into the subtler planes so that sight, hearing, touch, taste and smell are welded into one synthetic cooperating whole, for use in the great work. On the physical plane, these tend to the unification of the personal life and to the adaptation of the physical world to the needs of the personal self. On the subtler planes they must be transmuted until they are adequate to the needs of the group of which the individual forms a fragmentary part. The ability to do this is one of the things that the Great Ones look for in those individuals whose privilege it may be to inaugurate the New Age.
Các Đấng Cao Cả quan sát xem năng lực mềm dẻo và thích nghi có được thể hiện hay không, năng lực thích nghi vốn là một trong những định luật căn bản của các loài mà thiên nhiên biểu lộ một cách kỳ diệu. Việc chuyển định luật này sang các cõi bên trong và thực hiện nó trong chu kỳ nỗ lực mới phải được đảm nhận. Định luật thích nghi này bao hàm sự nhận thức nhu cầu, sự nhận ra mãnh lực mới đang đi vào cùng với chu kỳ mới, và hệ quả là sự kết hợp trong một tổng hợp rộng lớn giữa nhu cầu và mãnh lực, xem bản ngã cá nhân chỉ như một điểm tập trung cho hành động và sự chuyển hoá. Nó bao hàm sự chuyển hoá năm giác quan và sự mở rộng của chúng vào các cõi tinh anh hơn, để thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác và khứu giác được hàn kết thành một toàn thể tổng hợp hợp tác, dùng cho công việc vĩ đại. Trên cõi hồng trần, các giác quan này có khuynh hướng thống nhất đời sống cá nhân và thích nghi thế giới hồng trần với các nhu cầu của bản ngã cá nhân. Trên các cõi tinh anh hơn, chúng phải được chuyển hoá cho đến khi chúng đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của nhóm mà cá nhân chỉ là một phần mảnh nhỏ trong đó. Khả năng làm điều này là một trong những điều Các Đấng Cao Cả tìm kiếm nơi những cá nhân có thể có đặc ân khai mở Kỷ Nguyên Mới.
Above all, They look for an enlarged channel from the soul to the physical brain, via the mind. Such an enlarged channel indicates that a man can be used. One might almost express it by saying that They look for the perfecting of the antaskarana, that channel of communication between the soul consciousness and the brain whose possessor is one whom the Masters can successfully use. They are guided in their choice of workers by a man’s personally achieved capacity and by his own hard won ability. When there is capacity, ability, and faculty, then the Great Ones joyfully employ him. The wrong angle has been, at times, over-emphasized and the reverse of this taught. The Masters must not be sought [140] because a man seeks capacity. They will be found when a man has capacity—capacity that makes him available for group work and that can be extended under careful instruction into the higher powers of the soul. Leadership in groups controlling the work of the New Age will grow out of the discipline of the individual, and leaders will be found among those who sense the inner issue. Leadership that endures does not come to those who strive for place and power nor for those who have their eyes only on outward conditions and overlook the underlying causes. Leadership does not come to those who place the personal self and its position and power before the good of the group. It comes enduringly to those who seek nothing for the separated self, to those who lose themselves in the good of the whole.
Trên hết, Các Ngài tìm kiếm một vận hà được mở rộng từ linh hồn đến bộ não hồng trần, qua thể trí. Một vận hà được mở rộng như thế cho thấy rằng một người có thể được sử dụng. Hầu như có thể diễn tả điều ấy bằng cách nói rằng Các Ngài tìm kiếm sự hoàn thiện của antahkarana, vận hà giao tiếp giữa tâm thức linh hồn và bộ não, mà người sở hữu nó là người các Chân sư có thể sử dụng thành công. Các Ngài được hướng dẫn trong việc chọn lựa những người hoạt động bởi khả năng do cá nhân đạt được của một người và năng lực mà chính y đã gian khổ giành được. Khi có khả năng, năng lực và bản lĩnh, bấy giờ Các Đấng Cao Cả hoan hỉ sử dụng y. Đôi khi, góc nhìn sai đã bị nhấn mạnh quá mức và điều ngược lại đã được dạy. Không nên tìm kiếm các Chân sư [140] vì một người tìm kiếm khả năng. Các Ngài sẽ được tìm thấy khi một người có khả năng — khả năng khiến y sẵn sàng cho công việc nhóm và có thể được mở rộng, dưới sự huấn luyện cẩn trọng, thành các quyền năng cao hơn của linh hồn. Quyền lãnh đạo trong các nhóm kiểm soát công việc của Kỷ Nguyên Mới sẽ phát sinh từ kỷ luật của cá nhân, và các nhà lãnh đạo sẽ được tìm thấy giữa những người cảm nhận vấn đề bên trong. Quyền lãnh đạo bền vững không đến với những ai cố gắng giành địa vị và quyền lực, cũng không đến với những ai chỉ chăm chú vào các điều kiện bên ngoài mà bỏ qua các nguyên nhân nền tảng. Quyền lãnh đạo không đến với những ai đặt bản ngã cá nhân cùng địa vị và quyền lực của nó lên trước lợi ích của nhóm. Nó đến một cách bền vững với những ai không tìm kiếm điều gì cho bản ngã biệt lập, với những ai đánh mất chính mình trong lợi ích của toàn thể.
To resume our consideration of the AUM. The Sound or the Sacred Word when correctly used has various effects which might be touched upon here.
Trở lại việc xem xét AUM. Âm thanh hay Linh từ Thiêng liêng, khi được sử dụng đúng, có nhiều hiệu quả khác nhau có thể được đề cập ở đây.
OM sounded forth, with intent thought behind it, acts as a disturber, a loosener of the coarse matter of the body of thought, of emotion, and of the physical body. When sounded forth with intense spiritual aspiration behind it, it acts as an attractive medium, and gathers in particles of pure matter to fill the places of those earlier thrown out. Students should strive to have these two activities in their minds as they use the Word in their meditation. This utilization of the Word is of practical value, and results in the building of good bodies for the use of the soul.
OM được xướng ra, với tư tưởng có chủ đích phía sau, hoạt động như một tác nhân khuấy động, làm lỏng ra chất liệu thô của thể tư tưởng, thể cảm xúc và thể xác. Khi được xướng ra với khát vọng tinh thần mãnh liệt phía sau, nó hoạt động như một trung gian hấp dẫn, quy tụ các hạt chất liệu tinh khiết để lấp vào chỗ của những hạt trước đó đã bị đẩy ra. Các đạo sinh nên cố gắng giữ hai hoạt động này trong thể trí khi họ sử dụng Linh từ trong tham thiền. Việc sử dụng Linh từ này có giá trị thực tiễn và đem lại kết quả là kiến tạo các thể tốt đẹp cho linh hồn sử dụng.
The use of the OM serves also to indicate to the workers on the universal planes, and to those in the outer world who are gifted with spiritual perception that a disciple is available for work and can be utilized actively in the needed places of the earth. This should be borne in mind by all aspirants and should serve as an [141] incentive in making the outer phenomenal life coincide with the spiritual impulse.
Việc sử dụng OM cũng nhằm báo hiệu cho những người hoạt động trên các cõi phổ quát, và cho những người ở thế giới bên ngoài có thiên phú tri giác tinh thần, rằng một đệ tử đang sẵn sàng cho công việc và có thể được sử dụng tích cực tại những nơi cần thiết trên Trái Đất. Điều này nên được mọi người chí nguyện ghi nhớ và nên đóng vai trò như một [141] động lực để khiến đời sống hiện tượng bên ngoài phù hợp với xung lực tinh thần.
The use of the Sacred Word has its place also in the magical work of the Hierarchy. Thought forms are created for the embodiment of ideas and these embodied forms are sent forth to contact the minds of the disciples who are responsible in the group of a Master for the carrying forward of the plan.
Việc sử dụng Linh từ Thiêng liêng cũng có vị trí của nó trong công việc huyền thuật của Thánh đoàn. Các hình tư tưởng được tạo ra để thể hiện các ý tưởng, và các hình tướng đã được thể hiện này được gửi đi để tiếp xúc với thể trí của những đệ tử chịu trách nhiệm trong nhóm của một Chân sư về việc xúc tiến Thiên Cơ.
Through the cultivated receptivity of the developed and controlled mental body, aspirants become aware of the ideas which the Masters bring through from the plane of the Universal Mind, and hence are in a position to co-operate intelligently. They, in their turn, as this Rule seeks to indicate, create thought forms of those received ideas, and utilize them in their groups for the helping of the world. The main work of a disciple on the mental plane is to train himself to do four things:
Nhờ khả năng tiếp nhận được vun bồi của thể trí đã phát triển và được kiểm soát, những người chí nguyện trở nên nhận biết các ý tưởng mà các Chân sư truyền xuống từ cõi của Vũ Trụ Trí, và do đó ở trong vị thế có thể hợp tác một cách thông minh. Đến lượt họ, như Quy luật này tìm cách chỉ ra, họ tạo ra các hình tư tưởng từ những ý tưởng đã tiếp nhận ấy, và sử dụng chúng trong các nhóm của họ để trợ giúp thế gian. Công việc chính của một đệ tử trên cõi trí là tự rèn luyện để làm bốn điều:
1. To be receptive to the mind of the Master.
1. Tiếp nhận thể trí của Chân sư.
2. To cultivate a right intuitive understanding of the thoughts sent him by the Master.
2. Vun bồi sự thấu hiểu trực giác đúng đắn về những tư tưởng được Chân sư gửi đến cho y.
3. To embody the ideas received in such form as will be suitable for those he is engaged in helping.
3. Thể hiện các ý tưởng đã nhận được trong hình tướng thích hợp với những người mà y đang tham gia trợ giúp.
4. Through sound, light and vibration to make his thought form active (embodying as much of the universal thought as is desirable) so that other minds may contact it.
4. Qua âm thanh, ánh sáng và rung động, làm cho hình tư tưởng của y trở nên hoạt động, thể hiện nhiều tư tưởng phổ quát đến mức thích hợp, để các thể trí khác có thể tiếp xúc với nó.
Thus are groups gathered, organized, taught and lifted, and thus the Hierarchy of Adepts can reach the world.
Nhờ vậy, các nhóm được quy tụ, tổ chức, giảng dạy và nâng cao, và nhờ vậy Thánh đoàn các Chân sư có thể vươn tới thế gian.
There are many other uses, of course, but if the students will ponder on these three they will make it possible for further uses to be imparted later.
Dĩ nhiên còn nhiều cách sử dụng khác, nhưng nếu các đạo sinh suy ngẫm về ba cách này, họ sẽ khiến những cách sử dụng tiếp theo có thể được truyền đạt về sau.
May I add, that the sound is only truly potent when the disciple has learnt to subordinate the lesser sounds. Only as the sounds he sends forth normally into the [142] three worlds are reduced in volume and in activity, as well as in quantity will it be possible for the Sound to be heard, and so to accomplish its purpose. Only as the multitude of spoken words is reduced, and silence in speech is cultivated, will it be possible for the Word to make its power felt on the physical plane. Only when the many voices of the lower nature and of our environment are silenced, will the “Voice that speaketh in the stillness” make its presence felt. Only when the sound of many waters dies away in the adjustment of the emotions will the clear note of the God of the waters be heard.
Tôi xin nói thêm rằng âm thanh chỉ thật sự mạnh mẽ khi đệ tử đã học cách đặt các âm thanh thấp hơn vào vị trí phụ thuộc. Chỉ khi các âm thanh mà y thường phát ra vào [142] ba cõi thấp được giảm bớt về âm lượng, hoạt động cũng như số lượng, thì Âm Thanh mới có thể được nghe thấy và nhờ đó hoàn thành mục đích của nó. Chỉ khi vô số lời nói được giảm bớt, và sự im lặng trong lời nói được vun bồi, Linh từ mới có thể khiến quyền năng của nó được cảm nhận trên cõi hồng trần. Chỉ khi nhiều tiếng nói của bản chất thấp và của môi trường quanh ta được làm im lặng, thì “Tiếng Nói lên tiếng trong tĩnh lặng” mới khiến sự hiện diện của nó được cảm nhận. Chỉ khi âm thanh của nhiều dòng nước lắng xuống trong sự điều chỉnh các cảm xúc, âm điệu trong trẻo của Thượng đế của các dòng nước mới được nghe thấy.
People seldom realize the potency of a word, yet it is stated, “In the beginning was the Word, and the Word was God. Without Him was not anything made that was made.” When therefore we read those words our minds go back to the dawn of the creative process when, through the medium of sound, God spoke and the worlds were made.
Con người hiếm khi nhận ra quyền năng của một lời, tuy vậy có lời chép rằng: “Ban đầu là Linh từ, và Linh từ là Thượng đế. Không có Ngài thì chẳng có điều gì đã được tạo ra mà được tạo ra.” Vì vậy, khi đọc những lời ấy, thể trí chúng ta quay về buổi bình minh của tiến trình sáng tạo, khi qua trung gian âm thanh, Thượng đế đã phán và các thế giới được tạo nên.
It has been said that, “the chief agency by which Nature’s wheel is moved in a phenomenal direction is sound,” for the original sound or word sets in vibration the matter of which all forms are made and initiates that activity which characterizes even the atom of substance.
Người ta đã nói rằng: “tác nhân chính nhờ đó bánh xe của Thiên nhiên được chuyển động theo hướng hiện tượng là âm thanh,” vì âm thanh hay Linh từ nguyên thủy làm rung động chất liệu mà mọi hình tướng được tạo nên từ đó, và khởi phát hoạt động vốn đặc trưng ngay cả cho nguyên tử chất liệu.
The literature and the scriptures of all the ancient nations and great religions bear testimony to the efficacy of sound in producing all that is tangible and visible. The Hindus say very beautifully that “the Great Singer built the worlds, and the Universe is His Song.” This is another way of expressing the same idea. If this is realized and the science of this concept somewhat understood, the significance of our own words and the utterance of sound in speech, becomes almost a momentous happening.
Văn học và kinh điển của mọi dân tộc cổ xưa và các tôn giáo lớn đều làm chứng cho hiệu lực của âm thanh trong việc tạo ra mọi điều hữu hình và khả kiến. Người Ấn nói rất đẹp rằng “Đấng Ca Sĩ Vĩ Đại đã xây dựng các thế giới, và Vũ trụ là Bài Ca của Ngài.” Đây là một cách khác để diễn đạt cùng một ý tưởng. Nếu điều này được nhận ra và khoa học của quan niệm này được thấu hiểu phần nào, thì thâm nghĩa của chính lời nói chúng ta và việc phát ra âm thanh trong ngôn từ trở thành một sự kiện gần như trọng đại.
Sound or speech and the use of words have been regarded [143] by the ancient philosophers (and are increasingly so regarded by modern thinkers) as the highest agent used by man in moulding himself and his surroundings. Thought, speech and the resultant activity on the physical plane complete the triplicity which make a man what he is, and place him where he is.
Âm thanh hay lời nói và việc sử dụng ngôn từ đã được các triết gia cổ xưa xem [143] là tác nhân cao nhất mà con người dùng để uốn nắn chính mình và môi trường quanh mình, và các nhà tư tưởng hiện đại ngày càng nhìn nhận như vậy. Tư tưởng, lời nói và hoạt động phát sinh trên cõi hồng trần hoàn tất bộ ba khiến một người trở thành điều y là, và đặt y vào nơi y đang ở.
The purpose of all speech is to clothe thought and thus make our thoughts available for others. When we speak we evoke a thought and make it present, and we bring that which is concealed within us into audible expression. Speech reveals, and right speech can create a form of beneficent purpose, just as wrong speech can produce a form which has a malignant objective. Without realizing this, however, ceaselessly and irresponsibly, day after day, we speak; we use words; we multiply sounds; and surround ourselves with form worlds of our own creation. Is it not essential, therefore, that before we speak we should think, thus remembering the injunction, “You must attain to knowledge, ere you can attain to speech”? Having thought, let us then choose the right words to express the right thought, attempting to give correct pronunciation, proper values, and true tonal quality to every word we utter.
Mục đích của mọi lời nói là khoác áo cho tư tưởng và nhờ đó làm cho tư tưởng của chúng ta trở nên khả dụng đối với người khác. Khi nói, chúng ta gợi lên một tư tưởng và làm cho nó hiện diện, và chúng ta đưa điều vốn ẩn giấu bên trong mình vào sự biểu đạt có thể nghe được. Lời nói mặc khải, và lời nói đúng đắn có thể tạo nên một hình tướng của mục đích thiện ích, cũng như lời nói sai lầm có thể tạo ra một hình tướng mang mục tiêu ác hại. Tuy nhiên, không nhận ra điều này, chúng ta nói không ngừng và thiếu trách nhiệm, ngày này qua ngày khác; chúng ta dùng lời; chúng ta nhân bội âm thanh; và bao quanh mình bằng những thế giới hình tướng do chính mình tạo ra. Do đó, chẳng phải điều thiết yếu là trước khi nói, chúng ta phải suy nghĩ, nhờ đó ghi nhớ huấn thị: “Bạn phải đạt tới tri thức, trước khi bạn có thể đạt tới lời nói” sao? Sau khi đã suy nghĩ, chúng ta hãy chọn những lời đúng đắn để biểu đạt tư tưởng đúng đắn, cố gắng đem lại cách phát âm chuẩn xác, giá trị thích hợp, và phẩm tính âm điệu chân thực cho mỗi lời chúng ta thốt ra.
Then will our spoken word create a thought form which will embody the idea we have in our minds. Then too will our words carry no discord, but will add their quota to that great harmonizing chord or unifying word which it is the function of mankind ultimately to utter. Wrong speech separates, and it is interesting to bear in mind that the word, the symbol of unity, is divine, whereas speech in its many diversifications is human.
Bấy giờ lời nói của chúng ta sẽ tạo ra một hình tư tưởng thể hiện ý tưởng mà chúng ta có trong thể trí. Khi ấy, lời của chúng ta cũng sẽ không mang sự bất hòa, mà sẽ đóng góp phần của mình vào hợp âm điều hòa vĩ đại ấy, hay linh từ hợp nhất ấy, vốn là chức năng mà nhân loại cuối cùng phải xướng lên. Lời nói sai lầm gây chia rẽ, và điều đáng ghi nhớ là linh từ, biểu tượng của sự hợp nhất, là thiêng liêng, trong khi lời nói trong nhiều biến thể của nó là thuộc về con người.
As evolution proceeds, and the human family rises into its true position in the great plan of the universe, right and correct speech will be increasingly cultivated, because we shall think more before we utter words, or, as a great teacher has said, “through meditation we shall [144] rectify the mistakes of wrong speech;” and the significance of word forms, true and correct sounds, and vocal quality will become ever more apparent.
Khi tiến hoá tiếp diễn, và gia đình nhân loại vươn lên vị trí chân thực của mình trong Thiên Cơ vĩ đại của vũ trụ, lời nói đúng đắn và chuẩn xác sẽ ngày càng được vun bồi, bởi vì chúng ta sẽ suy nghĩ nhiều hơn trước khi thốt lời, hoặc như một huấn sư vĩ đại đã nói, “qua tham thiền chúng ta sẽ [144] sửa chữa những sai lầm của lời nói sai trái;” và thâm nghĩa của các hình tướng lời nói, các âm thanh chân thực và chuẩn xác, cùng phẩm tính giọng nói sẽ ngày càng trở nên hiển nhiên hơn.
The second word of importance in this fourth Rule is the word light. First the sound and then the first effect of sound, the pouring forth of light, causing the revelation of the thought form.
Từ thứ hai có tầm quan trọng trong Quy luật thứ tư này là từ ánh sáng. Trước hết là âm thanh, rồi đến hiệu quả đầu tiên của âm thanh, tức sự tuôn đổ ánh sáng, gây nên sự mặc khải của hình tư tưởng.
Light is known by what is revealed. The absence of light produces the fading away, into apparent non-existence, of the phenomenal world.
Ánh sáng được nhận biết qua điều được mặc khải. Sự vắng mặt của ánh sáng khiến thế giới hiện tượng phai mờ đi, đi vào trạng thái dường như không hiện hữu.
The thought form created by the Sound is intended to be a source of revelation. It must reveal truth, and bring an aspect of reality to the cognisance of the onlooker. Hence the second quality of the thought form in its highest use is that it brings light to those who need it, to those who walk in darkness.
Hình tư tưởng do Âm Thanh tạo ra được dự định là một nguồn mặc khải. Nó phải mặc khải chân lý, và đưa một phương diện của thực tại đến sự nhận biết của người quan sát. Do đó, phẩm tính thứ hai của hình tư tưởng trong công dụng cao nhất của nó là nó đem ánh sáng đến cho những ai cần ánh sáng, cho những ai bước đi trong bóng tối.
I deal not here with light as the soul, cosmically or individually. I touch not upon light as the universal second aspect of divinity. I seek only in these Instructions to deal with that aspect of truth which will make the aspirant a practical worker, and so enable him to work with intelligence. His main work (and increasingly he will find this to be so) is to create thought-forms to carry revelation to thinking human beings. To do this he must work occultly, and through the sound of his breathed forth work, through the truth revealed in form, will he carry light and illumination into the dark places of the earth
Ở đây tôi không đề cập đến ánh sáng như là linh hồn, dù theo vũ trụ hay theo cá nhân. Tôi không chạm đến ánh sáng như phương diện thứ hai phổ quát của thiên tính. Trong các Huấn thị này, tôi chỉ tìm cách đề cập đến phương diện chân lý nào sẽ làm cho người chí nguyện trở thành một người hoạt động thực tiễn, và nhờ vậy giúp y làm việc bằng trí tuệ. Công việc chính của y, và y sẽ ngày càng thấy điều này là đúng, là tạo ra các hình tư tưởng để chuyển tải sự mặc khải đến những người biết suy nghĩ trong nhân loại. Để làm điều này, y phải làm việc một cách huyền bí, và qua âm thanh của công việc được y thở ra, qua chân lý được mặc khải trong hình tướng, y sẽ mang ánh sáng và sự soi sáng vào những nơi tối tăm của Trái Đất.
Then he finally makes his thought form live through the power of his own assurance, spiritual understanding and vitality. Thus the significance of the third word, vibration, appears. His message is heard, for it is sounded forth; it carries illumination, for it conveys the Truth and reveals Reality; it is of vital import, for it vibrates with the life of its creator, and is held in being as long as his thought and sound and intelligence animate [145] it. This is true of a message, of an organization, and of all forms of life, which are but the embodied ideas of a cosmic or a human creator.
Rồi cuối cùng y làm cho hình tư tưởng của mình sống động nhờ quyền năng của sự xác tín, thấu hiểu tinh thần và sinh lực của chính mình. Như vậy thâm nghĩa của từ thứ ba, rung động, xuất hiện. Thông điệp của y được nghe thấy, vì nó được xướng ra; nó mang sự soi sáng, vì nó truyền đạt Chân lý và mặc khải Thực tại; nó có tầm quan trọng sống còn, vì nó rung động bằng sự sống của người tạo ra nó, và được giữ trong hiện hữu chừng nào tư tưởng, âm thanh và trí tuệ của y còn làm linh hoạt [145] nó. Điều này đúng với một thông điệp, một tổ chức, và mọi hình tướng sự sống, vốn chỉ là các ý tưởng được thể hiện của một đấng sáng tạo vũ trụ hay con người.
Students would find it of value to take these three vital words and trace their relation to all embodied thought forms—a cosmos, a plane, a kingdom in nature, a race, a nation, a human being. Consider the diverse groups of creating agencies—solar Logoi, solar Angels, human beings, and others. Consider the spheres of the creative process and see how true the Old Commentary is when it says:
Các đạo sinh sẽ thấy có giá trị khi lấy ba từ thiết yếu này và truy nguyên mối liên hệ của chúng với mọi hình tư tưởng được thể hiện—một vũ trụ, một cõi, một giới trong thiên nhiên, một nhân loại, một quốc gia, một con người. Hãy xem xét các nhóm tác nhân sáng tạo khác nhau—các Thái dương Thượng đế, các Thái dương Thiên Thần, con người, và những tác nhân khác. Hãy xem xét các khối cầu của tiến trình sáng tạo và nhận thấy Cổ Luận chân thực biết bao khi nói:
“The sound reverberated amidst varying wheels of uncreated matter; and lo, the sun and all the lesser wheels appeared. The light shone forth amidst the many wheels, and thus the many forms of God, the diverse aspects of his radiant robe blazed forth.
“Âm thanh vang vọng giữa những bánh xe khác nhau của vật chất chưa được tạo thành; và kìa, mặt trời cùng mọi bánh xe nhỏ hơn xuất hiện. Ánh sáng chiếu rạng giữa nhiều bánh xe, và như thế nhiều hình tướng của Thượng đế, những phương diện khác nhau của chiếc áo rực rỡ của Ngài, bừng sáng.
“The vibrant palpitating wheels turned over. Life, in its many stages and in its many grades commenced the process of unfolding, and lo, the law began to work. Forms arose, and disappeared, but life moved on. Kingdoms arose, holding their many forms which drew together, turned together, and later separated, but still the life moved on.
“Những bánh xe rung động và đập nhịp quay chuyển. Sự sống, trong nhiều giai đoạn và ở nhiều cấp bậc, bắt đầu tiến trình khai mở, và kìa, định luật bắt đầu vận hành. Các hình tướng xuất hiện rồi biến mất, nhưng sự sống vẫn tiến bước. Các giới xuất hiện, chứa đựng nhiều hình tướng của chúng, những hình tướng tụ lại, cùng xoay chuyển, rồi về sau tách rời, nhưng sự sống vẫn tiến bước.
“Mankind, hiding the Son of God, the Word incarnate, broke forth into the light of revelation. Races appeared and disappeared. The forms, veiling the radiant soul, emerged, achieved their purpose and vanished into night, but lo, the life moved on, blended this time with light. Life merged with light, both blending to reveal a beauty and a power, an active liberating force, a wisdom and a love that we call a Son of God.
“Nhân loại, che giấu Con của Thượng đế, Linh từ nhập thể, bừng ra trong ánh sáng của sự mặc khải. Các giống dân xuất hiện rồi biến mất. Các hình tướng, che phủ linh hồn rạng ngời, hiện ra, hoàn thành mục đích của chúng rồi tan vào đêm tối, nhưng kìa, sự sống vẫn tiến bước, lần này hòa quyện với ánh sáng. Sự sống hợp nhất với ánh sáng, cả hai hòa quyện để mặc khải một vẻ đẹp và một quyền năng, một mãnh lực giải thoát linh hoạt, một minh triết và một bác ái mà chúng ta gọi là Con của Thượng đế.
“Through the many Sons of God, who in their inmost centre are but one, God in his Fatherhood is known. Yet still that lighted life moved on to a dread point of power, of force creative, concerning which we say: It is the All, the Container of the Universe, the persistent centre of the Spheres, the One.”
“Qua nhiều Con của Thượng đế, những Đấng trong trung tâm sâu thẳm nhất của mình chỉ là một, Thượng đế trong cương vị Cha được nhận biết. Tuy vậy, sự sống được soi sáng ấy vẫn tiến bước đến một điểm quyền năng đáng sợ, của mãnh lực sáng tạo, mà về đó chúng ta nói: Đó là Toàn Thể, Đấng Chứa Đựng Vũ Trụ, trung tâm bền bỉ của các Khối Cầu, Đấng Duy Nhất.”
We have touched upon two words of significance in the fourth Rule, —sound and light, —and one paramount idea emerges. The soul is to be known as light, as the [146] revealer, whilst the Spirit aspect will later be recognized as sound. Complete light and illumination is the right of the disciple who attains to the third initiation, whilst the true comprehension of the sound, of the triple AUM, the synthesizing factor in manifestation appears only to the one who stands master of the three worlds.
Chúng ta đã chạm đến hai từ có thâm nghĩa trong Quy luật thứ tư—âm thanh và ánh sáng—và một ý tưởng tối quan trọng xuất hiện. Linh hồn phải được nhận biết như ánh sáng, như đấng [146] mặc khải, trong khi phương diện Tinh thần về sau sẽ được nhận ra như âm thanh. Ánh sáng và sự soi sáng trọn vẹn là quyền của đệ tử đạt đến lần điểm đạo thứ ba, trong khi sự lĩnh hội chân thực về âm thanh, về AUM tam phân, yếu tố tổng hợp trong biểu hiện, chỉ xuất hiện đối với người đứng làm chủ ba cõi giới.
The word vibration must next engage our attention but it may not be dissociated from the next word in the sequence form. Vibration, the effect of divine activity, is two-fold. There is the first effect in which the vibration (issuing from the realm of subjectivity in response to sound and light) produces response in matter, and therefore attracts or calls together the atoms out of which molecules, cells, organisms and finally the integrated form can be built. This effected, the aspect of vibration is to be noted as a duality.
Tiếp theo, từ rung động phải thu hút sự chú ý của chúng ta, nhưng nó không thể bị tách rời khỏi từ kế tiếp trong chuỗi là hình tướng. Rung động, hiệu quả của hoạt động thiêng liêng, có tính nhị phân. Có hiệu quả đầu tiên trong đó rung động, phát xuất từ cõi giới chủ quan để đáp ứng với âm thanh và ánh sáng, tạo ra sự đáp ứng trong vật chất, và do đó thu hút hoặc triệu tập các nguyên tử, từ đó các phân tử, tế bào, cơ quan và cuối cùng hình tướng tích hợp có thể được xây dựng. Khi điều này đã được thực hiện, phương diện rung động phải được ghi nhận như một nhị nguyên.
The form, through the medium of the five senses, becomes aware of the vibratory aspect of all forms in the environment wherein it, itself, is a functioning entity. Later, in time and space, that functioning form becomes increasingly aware of its own interior vibration, and by tracing back that vibration to its originating source becomes aware of the Self, and later of the Kingdom of the Self. Humanity as a whole is aware of its environment and, through the information conveyed by the sense of sight, hearing, touch, taste and smell, the phenomenal world, the outer garment of God, is known, and communication between the Self and what we call the natural world is set up. As the mind appropriates and synthesizes this knowledge, the dweller in the form passes through the following stages:
Hình tướng, qua trung gian của năm giác quan, trở nên nhận biết phương diện rung động của mọi hình tướng trong môi trường nơi chính nó là một thực thể đang hoạt động. Về sau, trong thời gian và không gian, hình tướng đang hoạt động ấy ngày càng nhận biết rung động nội tại của chính nó, và bằng cách truy ngược rung động ấy đến nguồn gốc phát sinh, nó trở nên nhận biết Bản Ngã, và về sau là Giới của Bản Ngã. Nhân loại nói chung nhận biết môi trường của mình, và qua thông tin được truyền đạt bởi thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác và khứu giác, thế giới hiện tượng, lớp áo bên ngoài của Thượng đế, được nhận biết, và sự giao tiếp giữa Bản Ngã với điều chúng ta gọi là thế giới tự nhiên được thiết lập. Khi thể trí chiếm hữu và tổng hợp tri thức này, cư dân trong hình tướng trải qua các giai đoạn sau:
1. Vibration is registered, and the environment has its effect upon the form.
1. Rung động được ghi nhận, và môi trường tạo hiệu quả của nó lên hình tướng.
2. This effect is noted, but not understood. The man, under the slow and steady impact of this vibratory [147] effect, slowly awakens to consciousness or awareness.
2. Hiệu quả này được nhận thấy, nhưng chưa được thấu hiểu. Con người, dưới tác động chậm rãi và đều đặn của hiệu quả rung động [147] này, dần dần thức tỉnh đến tâm thức hay sự nhận biết.
3. The environment begins to interest the man and he regards it as desirable. Steadily the attraction of the three worlds grows and holds the man in reiterated incarnation. (The word “re-iterated” is literally and more academically correct than the word “repeated.” Each of us is really a re-iterated word, sounding in time and space.)
3. Môi trường bắt đầu làm con người quan tâm và y xem nó là đáng khao khát. Sức hấp dẫn của ba cõi giới đều đặn gia tăng và giữ con người trong sự nhập thể tái diễn. Từ “tái diễn” theo nghĩa đen và theo học thuật thì chính xác hơn từ “lặp lại.” Mỗi chúng ta thật sự là một linh từ được tái xướng, vang lên trong thời gian và không gian.
4. Later, when the vibration of the environing forms of the natural world becomes monotonous through constant impact over many lives, the man begins to turn a deaf ear and an un-seeing eye upon the familiar phenomenal world of desire. He becomes insensitive to its vibratory impact and increasingly aware of the vibration of the Self.
4. Về sau, khi rung động của các hình tướng bao quanh thuộc thế giới tự nhiên trở nên đơn điệu do tác động liên tục qua nhiều kiếp sống, con người bắt đầu ngoảnh tai không nghe và nhắm mắt không nhìn đối với thế giới hiện tượng quen thuộc của dục vọng. Y trở nên không nhạy cảm với tác động rung động của nó và ngày càng nhận biết rung động của Bản Ngã.
5. Later, on the Path of Probation and of Discipleship, this subtler vibratory activity exerts an increasing allure. The outer world ceases to attract. The inner world of the self assumes paramount place in the desire nature.
5. Về sau, trên Con Đường Dự Bị và Con Đường Đệ Tử, hoạt động rung động tinh tế hơn này tạo nên một sức lôi cuốn ngày càng tăng. Thế giới bên ngoài không còn hấp dẫn. Thế giới bên trong của bản ngã chiếm vị trí tối quan trọng trong bản chất dục vọng.
6. Little by little, using the language of modern psychology, within the outer form, which is the response apparatus for the process of becoming aware of the phenomenal world, the disciple builds a new subtler response apparatus whereby the subjective worlds can be known.
6. Từng chút một, dùng ngôn ngữ của tâm lý học hiện đại, bên trong hình tướng bên ngoài, vốn là bộ máy đáp ứng cho tiến trình trở nên nhận biết thế giới hiện tượng, đệ tử xây dựng một bộ máy đáp ứng mới tinh tế hơn, nhờ đó các thế giới chủ quan có thể được nhận biết.
When this stage is reached there ensues a steady turning away from vibratory contact with the outer worlds of form, and an atrophying of desire in that direction. All seems arid and undesirable, and all fails to satisfy the ardent and aspiring soul. The difficult process of re-orientation toward a new world, a new state of being and a new condition of awareness is set up, and because the inner subtle response apparatus is only in an embryonic [148] condition there is a devastating sense of loss, a groping in the dark, and a period of spiritual wrestling and exploration that tests the endurance and steadfastness of purpose of the aspirant to the very limits.
Khi đạt đến giai đoạn này, sẽ tiếp theo một sự quay lưng đều đặn khỏi sự tiếp xúc rung động với các thế giới hình tướng bên ngoài, và một sự teo mòn của dục vọng theo hướng ấy. Mọi sự dường như khô cằn và không đáng khao khát, và mọi sự đều không làm thỏa mãn linh hồn nồng nhiệt và đầy khát vọng. Tiến trình khó khăn của sự tái định hướng về một thế giới mới, một trạng thái hiện hữu mới và một tình trạng nhận biết mới được thiết lập, và vì bộ máy đáp ứng tinh tế bên trong chỉ mới ở trong tình trạng phôi thai [148] nên có một cảm thức mất mát tàn phá, một sự mò mẫm trong bóng tối, và một giai đoạn vật lộn và thăm dò tinh thần thử thách sức chịu đựng và sự kiên định mục đích của người chí nguyện đến tận giới hạn.
But (and this is the encouraging point to be remembered) all “proceedeth under the law and naught can hinder the work from going forward.” Note these words in Rule IV. There comes a stage when a man is verily and indeed “founded on the rock,” and though he may experience the alternation of light and shade, though the waves of the purifying waters may roll over him, and threaten to sweep him off his feet, and though he may feel himself deaf and dumb and blind, naught can ultimately defeat the purpose of the soul. All that is lacking is the developed spiritual body which is equipped to respond to the vibration of the inner spiritual world. It exists in embryo, and the secret of its use lies in the attitude of the brain to the functions of the etheric body, as it exists as an intermediary between the brain, nervous system and the mind, or between the soul, mind and the brain. This cannot be elaborated here but the hint can be given for the reflection of the keen aspirant.
Nhưng, và đây là điểm khích lệ cần được ghi nhớ, tất cả “đều tiến hành theo định luật và không gì có thể ngăn cản công việc tiến tới.” Hãy lưu ý những lời này trong Quy luật IV. Có một giai đoạn khi con người thật sự và đúng nghĩa “được đặt nền trên đá,” và dù y có thể trải nghiệm sự luân phiên của ánh sáng và bóng tối, dù những làn sóng của nước thanh luyện có thể cuộn qua y và đe dọa cuốn y khỏi chỗ đứng, và dù y có thể cảm thấy mình điếc, câm và mù, cuối cùng không gì có thể đánh bại mục đích của linh hồn. Điều còn thiếu chỉ là thể tinh thần đã phát triển, được trang bị để đáp ứng với rung động của thế giới tinh thần bên trong. Nó hiện hữu trong phôi thai, và bí mật của việc sử dụng nó nằm trong thái độ của bộ não đối với các chức năng của thể dĩ thái, khi thể này hiện hữu như một trung gian giữa bộ não, hệ thần kinh và thể trí, hoặc giữa linh hồn, thể trí và bộ não. Điều này không thể được khai triển ở đây, nhưng gợi ý có thể được đưa ra để người chí nguyện sắc bén suy ngẫm.
We have therefore the following stages dealt with in Rule IV and pointed out with lucid clarity, yet with that parsimony of phrase which distinguishes all occult and symbolic writings:
Do đó, chúng ta có các giai đoạn sau được bàn đến trong Quy luật IV và được chỉ ra với sự sáng tỏ minh bạch, nhưng bằng sự tiết kiệm ngôn từ vốn phân biệt mọi trước tác huyền bí và biểu tượng:
1. The integration of the form, as the result of the activity of the soul, through the use of
1. Sự tích hợp của hình tướng, như kết quả của hoạt động của linh hồn, qua việc sử dụng
a. Sound,
a. Âm thanh,
b. Light,
b. Ánh sáng,
c. Vibration.
c. Rung động.
2. The development of a response apparatus for use in the phenomenal world.
2. Sự phát triển một bộ máy đáp ứng để sử dụng trong thế giới hiện tượng.
3. The eventual turning away from the phenomenal world, as the result of use and consequent satiety, [149] and the gradual use of the subtler response apparatus.
3. Sự quay lưng cuối cùng khỏi thế giới hiện tượng, như kết quả của việc sử dụng và sự no chán theo sau, [149] và việc sử dụng dần dần bộ máy đáp ứng tinh tế hơn.
4. The response apparatus of the soul—mind, etheric body, brain and nervous system—is re-oriented, and the man becomes aware of the kingdom of the soul, another kingdom in nature.
4. Bộ máy đáp ứng của linh hồn—thể trí, thể dĩ thái, bộ não và hệ thần kinh—được tái định hướng, và con người trở nên nhận biết giới của linh hồn, một giới khác trong thiên nhiên.
5. The turning away from the kingdom of the world to the kingdom of the soul becomes an esoteric habit, and in this thought lies hid the secret of esoteric psychology. The man is stabilized in the spiritual life. Naught can now hinder.
5. Sự quay lưng khỏi giới của thế gian để hướng về giới của linh hồn trở thành một thói quen huyền bí, và trong tư tưởng này ẩn giấu bí mật của Tâm Lý Học Nội Môn. Con người được ổn định trong đời sống tinh thần. Giờ đây không gì có thể ngăn cản.