The Science of the Breath
Now we come to the significant words in Rule IV. “The man breathes deeply.” This is a phrase covering many aspects of rhythmic living. It is the magical formula for the science of pranayama. It covers the art of the creative life. It sweeps a man into tune with the pulsating life of God Himself, and this through detachment and re-orientation.
Bây giờ chúng ta đến với những lời có thâm nghĩa trong Quy luật IV. “Con người thở sâu.” Đây là một cụm từ bao hàm nhiều phương diện của đời sống có nhịp điệu. Nó là công thức huyền thuật cho khoa học pranayama. Nó bao trùm nghệ thuật của đời sống sáng tạo. Nó đưa con người vào hòa điệu với sự sống đang đập nhịp của chính Thượng đế, và điều này được thực hiện qua sự tách rời và tái định hướng.
It is notably interesting as a demonstration of the succinctness and inclusiveness of occult phrases as in Rule IV. The art of breathing is dealt with in three phases, and these I commend to each of you for the most careful consideration.
Điều này đặc biệt thú vị như một minh chứng cho tính hàm súc và tính bao gồm của các cụm từ huyền bí, như trong Quy luật IV. Nghệ thuật thở được bàn đến trong ba giai đoạn, và tôi khuyên mỗi bạn hãy xem xét những giai đoạn này hết sức cẩn trọng.
There is first the aspect of Inhalation. “The man breathes deeply.” From the very depths of his being he draws the breath. In the process of phenomenal living, he draws the very breath of life from the soul. This is the first stage. In the process of detaching himself from phenomenal living, he draws from the depths of his being and experiences the life, that it may be rendered again back to the source from whence it came. In the occult life of the disciple, as he develops a new and subtler use of his response apparatus, he practices the science of the breath, and discovers that through deep [150] breathing (including the three stages of the deep, middle, and top breath) he can bring into activity, in the world of esoteric experiences, his vital body with its force centres. Thus the three aspects of “deep breathing” cover the entire soul experience, and the relationship to the three types of breath, touched upon above, can be worked out by the interested aspirant.
Trước hết có phương diện Hít vào. “Con người thở sâu.” Từ tận chiều sâu của bản thể mình, y rút vào hơi thở. Trong tiến trình sống hiện tượng, y rút chính hơi thở sự sống từ linh hồn. Đây là giai đoạn đầu tiên. Trong tiến trình tách mình khỏi đời sống hiện tượng, y rút từ những chiều sâu của bản thể mình và trải nghiệm sự sống, để sự sống ấy có thể được trao trả lại nguồn cội từ đó nó đã đến. Trong đời sống huyền bí của đệ tử, khi y phát triển một cách sử dụng mới và tinh tế hơn đối với bộ máy đáp ứng của mình, y thực hành khoa học về hơi thở, và khám phá rằng qua việc thở sâu [150], bao gồm ba giai đoạn của hơi thở sâu, giữa và trên, y có thể đưa thể sinh lực với các trung tâm mãnh lực của nó vào hoạt động trong thế giới của những kinh nghiệm huyền bí. Như vậy ba phương diện của “thở sâu” bao trùm toàn bộ kinh nghiệm của linh hồn, và mối liên hệ với ba loại hơi thở đã được chạm đến ở trên có thể được người chí nguyện quan tâm tự mình khai triển.
Next we read “he concentrates his forces.” Here we have the stage indicated which can be called retention of the breath. It is a holding of all the forces of the life steadily in the place of silence, and when this can be done with ease and with forgetfulness of process through familiarity and experience, then the man can see and hear and know in a realm other than the phenomenal world. In the higher sense this is the stage of contemplation, that “lull between two activities” as it has been so aptly called. The soul, the breath, the life has withdrawn out of the three worlds, and in the “secret place of the most high” is at rest and at peace, contemplating the beatific vision. In the life of the active disciple it produces those interludes which every disciple knows, when (through detachment and the capacity to withdraw) he is held by nothing in the world of form. As he is but wrestling toward perfection and has not yet attained, these interludes of silence, withdrawingness, and of detachment are frequently difficult and dark. All is silence and he stands appalled by the unknown, and by the apparently empty stillness in which he finds himself. This is called, in advanced cases, “the dark night of the soul”—the moment before the dawn, the hour before the light streams forth.
Kế tiếp chúng ta đọc: “y tập trung các mãnh lực của mình.” Ở đây chúng ta có giai đoạn được chỉ ra, có thể gọi là sự giữ hơi thở. Đó là việc giữ vững tất cả các mãnh lực của sự sống nơi chốn im lặng, và khi điều này có thể được thực hiện dễ dàng, với sự quên đi tiến trình nhờ quen thuộc và kinh nghiệm, bấy giờ con người có thể thấy, nghe và biết trong một cõi giới khác với thế giới hiện tượng. Theo nghĩa cao hơn, đây là giai đoạn chiêm ngưỡng, là “khoảng lặng giữa hai hoạt động” như đã được gọi rất thích đáng. Linh hồn, hơi thở, sự sống đã rút khỏi ba cõi giới, và trong “nơi kín nhiệm của Đấng Tối Cao” nó nghỉ ngơi và an bình, chiêm ngưỡng linh ảnh chí phúc. Trong đời sống của đệ tử linh hoạt, điều này tạo ra những khoảng xen kẽ mà mọi đệ tử đều biết, khi, nhờ sự tách rời và khả năng rút lui, y không bị điều gì trong thế giới hình tướng giữ lại. Vì y chỉ đang vật lộn hướng tới sự hoàn thiện và chưa đạt tới, nên những khoảng xen kẽ của im lặng, rút lui và tách rời này thường khó khăn và tối tăm. Tất cả đều im lặng và y đứng kinh hãi trước điều chưa biết, và trước sự tĩnh lặng dường như trống rỗng trong đó y thấy mình hiện diện. Trong những trường hợp tiến bộ, điều này được gọi là “đêm tối của linh hồn”—khoảnh khắc trước bình minh, giờ trước khi ánh sáng tuôn trào.
In the science of Pranayama it is the moment following upon inhalation wherein all the forces of the body have (through the medium of the breath) been carried upward to the head and concentrated there, prior to the stage of breathing forth. This moment of retention, when [151] properly carried forward, produces an interlude of intense concentration and it is in this moment that the aspirant must seize opportunity. Herein lies a hint.
Trong khoa học Pranayama, đó là khoảnh khắc theo sau việc hít vào, khi mọi mãnh lực của thể, qua trung gian của hơi thở, đã được đưa lên đầu và tập trung ở đó, trước giai đoạn thở ra. Khoảnh khắc giữ lại này, khi [151] được tiến hành đúng đắn, tạo ra một khoảng xen kẽ của sự tập trung mãnh liệt, và chính trong khoảnh khắc này người chí nguyện phải nắm lấy cơ hội. Chính trong đó có một gợi ý.
Then comes the process of exhalation. We read in Rule IV “he drives the thought-form from him.” This is ever the result of the final stage of the science of the breath. The form, vitalized by the one who breathes in correct rhythm, is sent forth to do its work and fulfil its mission. Study this idea with care, for it holds the secret of creative work.
Rồi đến tiến trình thở ra. Chúng ta đọc trong Quy luật IV: “y đẩy hình tư tưởng ra khỏi mình.” Đây luôn là kết quả của giai đoạn cuối cùng trong khoa học về hơi thở. Hình tướng, được tiếp sinh lực bởi người thở theo nhịp điệu đúng đắn, được gửi đi để làm công việc của nó và hoàn thành sứ mệnh của nó. Hãy nghiên cứu ý tưởng này cẩn trọng, vì nó nắm giữ bí mật của công việc sáng tạo.
In the experience of the soul, the form for manifestation in the three worlds is created through intense meditation, which is ever the paralleling activity of breathing. Then by an act of the will, resulting in a “breathing forth”, and engendered or arrived at dynamically in the interlude of contemplation or retention of the breath, the created form is sent forth into the phenomenal world, to serve as a channel of experience, a medium of expression and a response apparatus in the three worlds of human living.
Trong kinh nghiệm của linh hồn, hình tướng để biểu hiện trong ba cõi giới được tạo ra qua tham thiền mãnh liệt, vốn luôn là hoạt động song hành với hơi thở. Rồi bằng một hành vi của ý chí, dẫn đến một “sự thở ra”, và được phát sinh hoặc đạt tới một cách năng động trong khoảng xen kẽ của chiêm ngưỡng hay giữ hơi thở, hình tướng đã được tạo ra được gửi vào thế giới hiện tượng, để phụng sự như một kênh kinh nghiệm, một phương tiện biểu đạt và một bộ máy đáp ứng trong ba cõi giới của đời sống con người.
In the life of the disciple, through meditation and discipline he learns to reach high moments of interlude whenever he concentrates his forces on the plane of soul life, and then again by an act of his will, he breathes forth his spiritual purposes, plans and life into the world of experience. The thought form that he has constructed as to the part he has to play, and the concentration of energy which he has succeeded in bringing about become effective. The energy needed for the next step is breathed forth by the soul and passes down into the vital body, thus galvanizing the physical instrument with the needed constructive activity. That aspect of the plan which he has appreciated in contemplation, and that part of the general purpose of the Hierarchy in which his soul feels called upon to co-operate is breathed forth simultaneously, [152] via the mind into the brain, and thus “he drives the thought forms from him.”
Trong đời sống của đệ tử, qua tham thiền và kỷ luật, y học cách đạt tới những khoảnh khắc cao của khoảng xen kẽ bất cứ khi nào y tập trung các mãnh lực của mình trên cõi của đời sống linh hồn, rồi một lần nữa bằng một hành vi của ý chí, y thở ra các mục đích, kế hoạch và sự sống tinh thần của mình vào thế giới kinh nghiệm. Hình tư tưởng mà y đã kiến tạo về phần việc y phải đóng, và sự tập trung năng lượng mà y đã thành công trong việc tạo nên, trở nên hữu hiệu. Năng lượng cần thiết cho bước kế tiếp được linh hồn thở ra và đi xuống thể sinh lực, nhờ đó kích hoạt khí cụ hồng trần bằng hoạt động kiến tạo cần thiết. Phương diện của Thiên Cơ mà y đã nhận thức trong chiêm ngưỡng, và phần của mục đích chung của Thánh Đoàn mà linh hồn y cảm thấy được kêu gọi cộng tác, được thở ra đồng thời, [152] qua thể trí vào bộ não, và như vậy “y đẩy các hình tư tưởng ra khỏi mình.”
Finally, in the science of Pranayama, this stage covers that exhaling breath which, when carried forward with thought and conscious purpose behind it, serves to vitalize the centres and fill each of them with dynamic life. More need not be said here.
Cuối cùng, trong khoa học Pranayama, giai đoạn này bao hàm hơi thở ra, khi được tiến hành với tư tưởng và mục đích có ý thức phía sau, sẽ phụng sự để tiếp sinh lực cho các trung tâm và làm đầy mỗi trung tâm bằng sự sống năng động. Không cần nói thêm ở đây.
Thus, in this science of “breathing deeply” we have the whole process of creative work and of the evolutionary unfoldment of God in nature covered. It is the process whereby the Life, the One Existence, has brought the phenomenal world into being, and Rule IV is a digest of the Creation. It is equally the formula under which the individual soul works as it centres its forces for manifestation in the three worlds of human experience.
Như vậy, trong khoa học “thở sâu” này, chúng ta có toàn bộ tiến trình của công việc sáng tạo và sự khai mở thăng thượng tiến hoá của Thượng đế trong thiên nhiên được bao hàm. Đó là tiến trình nhờ đó Sự Sống, Hiện Hữu Duy Nhất, đã đưa thế giới hiện tượng vào hiện hữu, và Quy luật IV là bản tóm lược của Sự Sáng Tạo. Nó cũng chính là công thức theo đó linh hồn cá nhân làm việc khi linh hồn ấy tập trung các mãnh lực của mình để biểu hiện trong ba cõi giới của kinh nghiệm con người.
The right use of the Life-Breath is the whole art at which the aspirant, the disciple, and the initiate work, bearing in mind however that the science of the physical breath is the least important aspect and follows sequentially upon the right use of energy, which is the word we apply to the divine breath or life.
Việc sử dụng đúng đắn Hơi Thở-Sự Sống là toàn bộ nghệ thuật mà người chí nguyện, đệ tử và điểm đạo đồ làm việc hướng tới; tuy nhiên cần ghi nhớ rằng khoa học về hơi thở hồng trần là phương diện ít quan trọng nhất và theo sau một cách tuần tự việc sử dụng đúng đắn năng lượng, là từ chúng ta áp dụng cho hơi thở hay sự sống thiêng liêng.
Finally, in the mental life of the disciple, and in the great work of learning to be a conscious creator in mental matter and so produce results in the phenomenal world, this fourth Rule holds the instructions upon which the work is based. It embodies the science of the entire magical work.
Cuối cùng, trong đời sống trí tuệ của đệ tử, và trong công việc vĩ đại học cách trở thành một đấng sáng tạo có ý thức trong chất liệu trí tuệ để nhờ đó tạo ra các kết quả trong thế giới hiện tượng, Quy luật thứ tư này chứa đựng những huấn thị làm nền tảng cho công việc. Nó thể hiện khoa học của toàn bộ công việc huyền thuật.
Therefore, this Rule warrants the closest consideration and study. Rightly understood and rightly studied it would lead each aspirant out of the phenomenal world into the kingdom of the soul. Its instructions, if carried out, would lead the soul back again into the phenomenal world as the creating force in soul magic and as the manipulator and dominating factor of, and through, the medium of the form.
Do đó, Quy luật này xứng đáng được xem xét và nghiên cứu kỹ lưỡng nhất. Nếu được thấu hiểu đúng đắn và nghiên cứu đúng đắn, nó sẽ dẫn mỗi người chí nguyện ra khỏi thế giới hiện tượng vào giới của linh hồn. Các huấn thị của nó, nếu được thực hiện, sẽ dẫn linh hồn trở lại thế giới hiện tượng như mãnh lực sáng tạo trong huyền thuật của linh hồn và như tác nhân điều khiển, yếu tố chi phối của hình tướng và thông qua trung gian của hình tướng.
In the training of the occidental student, blind unquestioning [153] obedience is never asked. Suggestions are made as to method and as to a technique which has proved effective for thousands of years and with many disciples. Some rules as to breathing, as to helpful process and as to practical living on the physical plane will be imparted, but in the training of the new type of disciple during the coming age, it is the will of the watching Gurus and Rishis that they be left freer than has heretofore been the case. This may mean a slightly slower development at the beginning but will result, it is hoped, in a more rapid unfoldment during the later stages upon the Path of Initiation.
Trong việc huấn luyện đạo sinh phương Tây, sự vâng lời mù quáng không thắc mắc [153] không bao giờ được đòi hỏi. Những gợi ý được đưa ra về phương pháp và về một kỹ thuật đã chứng tỏ hiệu quả qua hàng ngàn năm và với nhiều đệ tử. Một số quy luật về hơi thở, về tiến trình hữu ích và về đời sống thực tiễn trên cõi hồng trần sẽ được truyền đạt, nhưng trong việc huấn luyện kiểu đệ tử mới trong thời đại sắp đến, ý muốn của các Đạo sư và Thánh triết đang quan sát là họ được để tự do hơn so với trước đây. Điều này có thể hàm ý một sự phát triển hơi chậm hơn vào lúc khởi đầu, nhưng hy vọng sẽ đưa đến một sự khai mở nhanh hơn trong các giai đoạn về sau trên Con Đường Điểm Đạo.
Therefore, students are urged to go forward during their period of training with courage and with joy, knowing that they are members of a band of disciples, knowing that they are not alone but that the strength of the band is theirs, the knowledge of the band is theirs too as they develop the capacity to apprehend it, —and knowing also that the love and wisdom and understanding of the watching Elder Brothers are back of every aspiring Son of God, e’en though apparently (and wisely) he is left to wrestle through to the light in the strength of his own omnipotent soul.
Do đó, các đạo sinh được thúc giục tiến bước trong thời kỳ huấn luyện của mình với lòng can đảm và sự hoan hỉ, biết rằng họ là thành viên của một đoàn đệ tử, biết rằng họ không đơn độc mà sức mạnh của đoàn là của họ, tri thức của đoàn cũng là của họ khi họ phát triển khả năng lĩnh hội nó,—và cũng biết rằng bác ái, minh triết và sự thấu hiểu của các Huynh Trưởng đang quan sát đứng sau mỗi Con của Thượng đế đầy khát vọng, dù bề ngoài, và một cách minh triết, y được để tự mình vật lộn đi tới ánh sáng trong sức mạnh của linh hồn toàn năng của chính mình.
RULE FIVE
Three things engage the Solar Angel before the sheath created passes downward; the condition of the waters, the safety of the one who thus creates, and steady contemplation. Thus are the heart, the throat, and eye, allied for triple service.
Ba điều thu hút Thái dương Thiên Thần trước khi lớp vỏ đã được tạo ra đi xuống; tình trạng của các vùng nước, sự an toàn của người sáng tạo như thế, và sự chiêm ngưỡng vững bền. Như vậy trái tim, cổ họng và mắt được liên kết cho sự phụng sự tam phân.
The Soul and Its Thought Forms
[157]
[157]
We have been dealing with the processes of creation as they concern:
Chúng ta đã bàn đến các tiến trình sáng tạo khi chúng liên quan đến:
1. The Creator of a solar system or a planetary scheme.
1. Đấng Sáng Tạo của một hệ mặt trời hay một hệ hành tinh.
2. The Ego, as it creates its body of manifestation. It should here be remembered that the entire human family has been brought into manifestation by a paralleling group of egos.
2. Chân ngã, khi nó tạo ra thể biểu hiện của mình. Ở đây cần nhớ rằng toàn thể gia đình nhân loại đã được đưa vào biểu hiện bởi một nhóm chân ngã song hành.
3. Man, as he creates those thought-forms by which he expresses himself, through which he works, and by which he is surrounded. It should also here be borne in mind that this definite creative work is only possible to those who function on mental levels—the thinkers of the world and the disciples of the Masters.
3. Con người, khi y tạo ra những hình tư tưởng nhờ đó y biểu đạt chính mình, qua đó y làm việc, và bởi đó y được bao quanh. Ở đây cũng cần ghi nhớ rằng công việc sáng tạo xác định này chỉ có thể thực hiện bởi những ai hoạt động trên các cấp độ trí tuệ—những nhà tư tưởng của thế giới và các đệ tử của các Chân sư.
In every case, as we have seen, the objective form has been the result of meditation on the part of the creating agency, of response from the material acted upon by the force generated in meditation, thus producing the building of the form, and its utilization through sound. This is succeeded by the stage wherein the form is seen objectively and becomes a vibrant living entity. Thus is “the Word made Flesh,” and thus do all forms—universes, men, and ensouled thoughts—come into being.
Trong mọi trường hợp, như chúng ta đã thấy, hình tướng khách quan là kết quả của tham thiền về phía tác nhân sáng tạo, của sự đáp ứng từ vật liệu chịu tác động bởi mãnh lực được sinh ra trong tham thiền, nhờ đó tạo nên việc xây dựng hình tướng, và sự sử dụng nó qua âm thanh. Tiếp theo là giai đoạn trong đó hình tướng được thấy một cách khách quan và trở thành một thực thể sống động, rung động. Như vậy “Linh từ trở thành Xác thịt,” và như vậy mọi hình tướng—các vũ trụ, con người, và các tư tưởng được phú linh—đi vào hiện hữu.
This fifth rule touches upon three factors which engage the attention of the creating agent before the physical form emerges into view on the exterior plane. These three are: [158]
Quy luật thứ năm này chạm đến ba yếu tố thu hút sự chú ý của tác nhân sáng tạo trước khi hình tướng hồng trần hiện ra trên cõi bên ngoài. Ba yếu tố này là: [158]
1. The condition of the waters.
1. Tình trạng của các vùng nước.
2. The safety of the one who thus creates.
2. Sự an toàn của người sáng tạo như thế.
3. Steady contemplation.
3. Sự chiêm ngưỡng vững bền.
We will deal briefly with these three and then we will consider the three factors which the disciple needs to relate if he ever aims to become an active and potent co-operator with the Hierarchy. These are the Eye, the Heart, the Throat. The interpretation and significance of these rules can be carried forward along several lines. For our purposes, the one followed will be that relating to the disciple and his work, and will deal with his training in the magical work of the ego, as that ego occupies and employs a physical form. These teachings are intended to be practical; they will emphasize the training and discipline of the disciple, and, scattered throughout, will be found those hints and esoteric suggestions which, when followed, will lead the aspirant on to experiment and to experience of truth. Those who are not true aspirants will fail to recognize the hints and thus will be preserved from danger and premature experience.
Chúng ta sẽ bàn ngắn gọn về ba yếu tố này, rồi sẽ xem xét ba yếu tố mà đệ tử cần liên hệ nếu y từng nhắm đến việc trở thành một cộng sự viên linh hoạt và có quyền năng với Thánh Đoàn. Đó là Mắt, Tim, Cổ Họng. Việc diễn giải và thâm nghĩa của các quy luật này có thể được tiến hành theo nhiều đường hướng. Vì mục đích của chúng ta, đường hướng được theo sẽ là đường hướng liên quan đến đệ tử và công việc của y, và sẽ bàn đến việc huấn luyện y trong công việc huyền thuật của chân ngã, khi chân ngã ấy chiếm hữu và sử dụng một hình tướng hồng trần. Những giáo huấn này nhằm có tính thực tiễn; chúng sẽ nhấn mạnh việc huấn luyện và kỷ luật của đệ tử, và rải rác trong đó sẽ tìm thấy những gợi ý và đề nghị huyền bí, những điều khi được noi theo sẽ dẫn người chí nguyện đến sự thử nghiệm và kinh nghiệm chân lý. Những ai không phải là người chí nguyện chân chính sẽ không nhận ra các gợi ý và nhờ vậy sẽ được gìn giữ khỏi nguy hiểm và kinh nghiệm quá sớm.
Let us therefore take up the three factors which engage our attention, and let us consider them from the standpoint of the human being who is creating thought-forms, and not primarily from the standpoint of a solar Creator or of an ego, preparing to take incarnation through the medium of form. Two collateral thoughts are here of value. One is that the process of creating thought-forms is part of the work done by every aspirant in the daily meditation process. If the student would remember that every time he sits down to his morning meditation he is learning to build and vitalize thought-forms, his work might assume greater interest. The tendency of most aspirants is to be occupied with their deficiencies in the work of meditation and their inability to control their minds, whereas both those aspects of their endeavour [159] would be aided if they were to be occupied by the profoundly engrossing work of thought-form building.
Vậy chúng ta hãy tiếp nhận ba yếu tố thu hút sự chú ý của mình, và hãy xem xét chúng từ quan điểm của con người đang tạo ra các hình tư tưởng, chứ không chủ yếu từ quan điểm của một Đấng Sáng Tạo thái dương hay của một chân ngã đang chuẩn bị nhập thể qua trung gian của hình tướng. Hai tư tưởng phụ trợ ở đây có giá trị. Một là tiến trình tạo ra các hình tư tưởng là một phần công việc được mọi người chí nguyện thực hiện trong tiến trình tham thiền hằng ngày. Nếu đạo sinh nhớ rằng mỗi lần y ngồi xuống tham thiền buổi sáng, y đang học cách xây dựng và tiếp sinh lực cho các hình tư tưởng, công việc của y có thể trở nên thú vị hơn. Khuynh hướng của hầu hết người chí nguyện là bận tâm với những thiếu sót của họ trong công việc tham thiền và sự bất lực của họ trong việc kiểm soát thể trí, trong khi cả hai phương diện ấy của nỗ lực [159] sẽ được trợ giúp nếu họ bận tâm với công việc xây dựng hình tư tưởng vô cùng cuốn hút.
A secondary and less important thought is that as egos, preparing to take human bodies, are deeply engaged in meditation work, it is highly improbable that they can be reached by the ordinary medium in the ordinary seance. At the most, only those who have passed over quite recently can be thus contacted, and they are, in most cases, in a condition of deep abstraction of a different kind. There is no time or purpose in enlarging upon this theme here but it is of interest to those investigating these matters.
Một tư tưởng thứ yếu và ít quan trọng hơn là, vì các chân ngã đang chuẩn bị nhận lấy các thể người đang dấn sâu vào công việc tham thiền, nên rất khó có khả năng họ có thể được tiếp xúc bởi đồng tử thông thường trong buổi gọi hồn thông thường. Nhiều nhất, chỉ những người vừa mới qua đời gần đây mới có thể được tiếp xúc theo cách ấy, và trong hầu hết các trường hợp, họ ở trong một tình trạng trừu xuất sâu thuộc một loại khác. Không có thời gian hay mục đích để mở rộng chủ đề này ở đây, nhưng nó có điều đáng quan tâm đối với những ai đang khảo cứu các vấn đề này.
1. The Condition of the Waters
1. Tình Trạng của Các Vùng Nước
The creating agency, man, has through the incentives of a co-ordinating purpose, intent meditation, and creative activity built the thought-form which he is ensouling with his own vitality and directing with his will. The time has come for that thought-form to be sent upon its mission and to carry out the purpose of its being. As we saw in the earlier rule, the form is “driven” from its creator by the power of the expulsive breath. This is a symbolic statement but, at the same time, an experimental fact in the magical work. In the disciple’s work, there is often failure owing to his inability to understand both the esoteric and the literal significance of this expulsive breath as he carries forward his meditation work. This expulsive breath is the result of a preceding period of rhythmic breathing, paralleled by concentrated meditation work, then a definite focussing of the attention and the breath, as the purpose of the created form is mentally defined, and finally, the vitalizing of the thought-form, by its creator, and its consequent energizing into independent life and activity.
Tác nhân sáng tạo, con người, qua các động cơ của một mục đích phối hợp, tham thiền chuyên chú, và hoạt động sáng tạo, đã xây dựng hình tư tưởng mà y đang phú linh bằng sinh lực của chính mình và định hướng bằng ý chí của mình. Thời điểm đã đến để hình tư tưởng ấy được gửi đi trong sứ mệnh của nó và thực hiện mục đích hiện hữu của nó. Như chúng ta đã thấy trong quy luật trước, hình tướng được “đẩy” ra khỏi người tạo ra nó bằng quyền năng của hơi thở tống xuất. Đây là một phát biểu biểu tượng nhưng đồng thời cũng là một sự kiện thực nghiệm trong công việc huyền thuật. Trong công việc của đệ tử, thường có thất bại do y không thể thấu hiểu cả thâm nghĩa huyền bí lẫn nghĩa đen của hơi thở tống xuất này khi y tiến hành công việc tham thiền. Hơi thở tống xuất này là kết quả của một giai đoạn trước đó của hơi thở có nhịp điệu, song hành với công việc tham thiền tập trung, rồi một sự tập trung xác định của sự chú ý và hơi thở, khi mục đích của hình tướng được tạo ra được xác định trong trí, và cuối cùng là việc người tạo ra hình tư tưởng tiếp sinh lực cho nó, cùng sự cấp năng lượng theo sau khiến nó đi vào đời sống và hoạt động độc lập.
The first hindrance to the potency of the work comes through the failure of the disciple to carry on these activities [160] simultaneously. The second cause of failure lies in his neglecting to consider the condition of the waters or the state of the emotional substance into which this mental form must go and so gather to itself the matter of the astral plane which will enable it to become a functioning entity on that plane. If it cannot do this, it becomes simply and eventually a dead form on the plane of mind, for it will lack that motivating power of desire which is necessary to carry it forward to completion on the physical plane.
Chướng ngại đầu tiên đối với quyền năng của công việc đến từ sự thất bại của đệ tử trong việc tiến hành các hoạt động này [160] đồng thời. Nguyên nhân thất bại thứ hai nằm ở việc y bỏ qua không xem xét tình trạng của các vùng nước hay trạng thái của chất liệu cảm xúc mà hình tướng trí tuệ này phải đi vào, để nhờ đó thu hút vào nó vật chất của cõi cảm dục, vốn sẽ giúp nó trở thành một thực thể hoạt động trên cõi ấy. Nếu nó không thể làm điều này, cuối cùng nó chỉ trở thành một hình tướng chết trên cõi trí, vì nó sẽ thiếu quyền năng thúc đẩy của dục vọng cần thiết để đưa nó tiến tới sự hoàn thành trên cõi hồng trần.
It is interesting to remember this: If a thought-form is sent forth into the emotional world to gather to itself a body of desire (the impelling force which produces all objectivity) and is immersed in a “condition of the waters” which can best be described as purely selfish, all that occurs is as follows: It is lost, by being drawn into the astral body of the disciple, which is the focal point for all astral energy employed by the disciple. It is swept into a vortex of which the individual astral body is the centre and loses its separate existence. The simile of the whirlpool is of value here. The thinker is like a man throwing a toy boat from the shore into a stream of water. If he throws it into a whirlpool, it is sucked in time into the central vortex and so disappears. Many forms, thus constructed by an aspirant in his meditation work are lost and fail in their objective because of the chaotic and whirling state of the aspirant’s emotional body. Thus good intentions come to naught; thus good purpose and planned work for the Master fail to materialize because, as the thought-form passes downward on to the plane of desire and emotion, it contacts only the seething waters of fear, of suspicion, of hatred, of vicious or purely physical desire. These being more potent than the little form, drown it, and it passes out of sight and out of existence, and the man becomes conscious of another abortive effort.
Điều này đáng ghi nhớ: Nếu một hình tư tưởng được phóng ra vào thế giới cảm xúc để thu hút vào nó một thể dục vọng, tức mãnh lực thúc đẩy tạo ra mọi tính khách quan, và bị nhúng vào một “tình trạng của các vùng nước” mà tốt nhất có thể mô tả là thuần túy ích kỷ, thì tất cả những gì xảy ra là như sau: Nó bị mất đi, do bị kéo vào thể cảm dục của đệ tử, vốn là tiêu điểm cho mọi năng lượng cảm dục mà đệ tử sử dụng. Nó bị cuốn vào một xoáy nước mà thể cảm dục cá nhân là trung tâm, và đánh mất sự hiện hữu riêng biệt của nó. Hình ảnh ví von về xoáy nước ở đây có giá trị. Nhà tư tưởng giống như một người ném chiếc thuyền đồ chơi từ bờ vào một dòng nước. Nếu y ném nó vào một xoáy nước, nó sẽ dần dần bị hút vào xoáy trung tâm và biến mất. Nhiều hình tướng do một người chí nguyện xây dựng như thế trong công việc tham thiền của y bị mất đi và thất bại trong mục tiêu của chúng vì trạng thái hỗn loạn và xoáy cuộn của thể cảm xúc nơi người chí nguyện. Như vậy các ý định tốt đẹp trở nên vô ích; như vậy mục đích tốt đẹp và công việc đã hoạch định cho Chân sư không thể hiện hình, bởi vì khi hình tư tưởng đi xuống cõi dục vọng và cảm xúc, nó chỉ tiếp xúc với những vùng nước sôi sục của sợ hãi, nghi ngờ, hận thù, dục vọng xấu xa hoặc thuần túy hồng trần. Những điều này mạnh hơn hình tướng nhỏ bé ấy, nhận chìm nó, và nó khuất khỏi tầm nhìn và khỏi hiện hữu, còn con người trở nên ý thức về một nỗ lực thất bại khác.
[161]
[161]
Or again, the “condition of the waters” is not that of a self-engendered whirlpool, but is more allied to that of a pool, stirred into a frothy and boiling surge, through the activities of others. There are many disciples who have achieved a fair measure of self-control and of personal disinterestedness. They are not the victims of personality desire and aims, and are comparatively free from the whirlpool of selfish tendencies. But their astral bodies are again and again swept into a state of agitation by the group for, and in which, they work. They are elated or depressed, satisfied or dissatisfied by the results they achieve or fail to achieve; this achievement or lack of achievement and the steadiness or disloyalties of their fellow servers produce agitation and emotional upset, and on this powerful reaction their thought-forms, constructed so diligently and prayerfully, come to naught. Their “skill in action” is lost, because they are tied to the desired result and so their labour produces nothing.
Hoặc nữa, “tình trạng của các vùng nước” không phải là một xoáy nước tự sinh, mà giống hơn một ao nước bị khuấy lên thành một đợt dâng sủi bọt và sôi sục do các hoạt động của người khác. Có nhiều đệ tử đã đạt được một mức độ khá về tự chủ và vô tư cá nhân. Họ không phải là nạn nhân của dục vọng và mục tiêu phàm ngã, và tương đối tự do khỏi xoáy nước của những khuynh hướng ích kỷ. Nhưng thể cảm dục của họ hết lần này đến lần khác bị cuốn vào trạng thái kích động bởi nhóm mà họ làm việc cho và trong đó. Họ phấn chấn hoặc chán nản, thỏa mãn hoặc bất mãn bởi những kết quả họ đạt được hoặc không đạt được; sự thành tựu hay thiếu thành tựu này, và sự vững vàng hay bất trung của các bạn đồng phụng sự, tạo ra sự kích động và xáo trộn cảm xúc, và trên phản ứng mạnh mẽ này các hình tư tưởng của họ, được xây dựng hết sức chuyên cần và đầy cầu nguyện, trở nên vô ích. “Kỹ năng trong hành động” của họ bị mất, vì họ bị ràng buộc vào kết quả mong muốn, và vì thế lao động của họ không tạo ra gì.
There are many other “conditions of the waters” which each aspirant can for himself supply. There is one more however upon which I would like to touch. The emotional body of the disciple which must feed and nurture the baby thought-form (with its mental nucleus) is necessarily part of the planetary emotional form and hence vibrates in unison with that form. This should also be carefully considered, for the emotional body is thrown into a state of activity by the general astral condition and must be handled wisely from this angle.
Có nhiều “tình trạng của các vùng nước” khác mà mỗi người chí nguyện có thể tự mình bổ sung. Tuy nhiên, có một điều nữa mà tôi muốn chạm đến. Thể cảm xúc của đệ tử, vốn phải nuôi dưỡng và chăm sóc hình tư tưởng non trẻ với hạt nhân trí tuệ của nó, tất yếu là một phần của hình tướng cảm xúc hành tinh và vì thế rung động đồng điệu với hình tướng ấy. Điều này cũng cần được xem xét cẩn thận, vì thể cảm xúc bị đưa vào trạng thái hoạt động bởi tình trạng cảm dục chung và phải được xử lý một cách minh triết từ góc độ này.
At this time there are three qualities predominating in the planetary form—fear, expectancy and a climaxing desire (in the human family) for material possession. Note the word “climaxing”. The summation of human desire for material happiness has been reached, and the peak of that desire has been passed; thus mankind has achieved and surmounted much. But the rhythm of the ages is strong.
Vào lúc này có ba phẩm tính đang chiếm ưu thế trong hình tướng hành tinh—sợ hãi, mong đợi và một dục vọng đang lên tới đỉnh điểm trong gia đình nhân loại đối với sở hữu vật chất. Hãy lưu ý từ “đang lên tới đỉnh điểm”. Sự tổng kết dục vọng của con người về hạnh phúc vật chất đã đạt đến, và đỉnh cao của dục vọng ấy đã được vượt qua; như vậy nhân loại đã đạt được và vượt qua nhiều điều. Nhưng nhịp điệu của các thời đại vẫn mạnh mẽ.
[162]
[162]
These three qualities have to be grasped and discounted by the aspirant as he seeks to serve from mental levels. In the place of fear he must substitute that peace which is the prerogative of those who live always in the Light of the Eternal; in the place of questioning expectancy he must substitute that placid, yet active, assurance of the ultimate objective which comes from a vision of the Plan and his contact with other disciples and later with the Master. Desire for material possession must be superseded by aspiration for those possessions which are the joy of the soul—wisdom, love and power to serve. Peace, assurance and right aspiration! These three words, when understood and experienced in the life of every day, will bring about that right “condition of the waters” which will ensure the survival of every thought-form, rightly engendered in meditation by the man, functioning as a soul.
Ba phẩm tính này phải được người chí nguyện nắm bắt và loại trừ ảnh hưởng khi y tìm cách phụng sự từ các cấp độ trí tuệ. Thay cho sợ hãi, y phải đặt vào sự an bình vốn là đặc quyền của những ai luôn sống trong Ánh sáng của Đấng Vĩnh Cửu; thay cho sự mong đợi đầy nghi vấn, y phải đặt vào sự xác tín bình thản nhưng linh hoạt về mục tiêu tối hậu, vốn đến từ tầm nhìn về Thiên Cơ và sự tiếp xúc của y với các đệ tử khác, và về sau với Chân sư. Dục vọng đối với sở hữu vật chất phải được thay thế bằng khát vọng hướng tới những sở hữu là niềm hoan hỉ của linh hồn—minh triết, bác ái và quyền năng phụng sự. An bình, xác tín và khát vọng đúng đắn! Ba từ này, khi được thấu hiểu và trải nghiệm trong đời sống hằng ngày, sẽ tạo nên “tình trạng của các vùng nước” đúng đắn, bảo đảm sự sống còn của mọi hình tư tưởng được sinh ra đúng đắn trong tham thiền bởi con người đang hoạt động như một linh hồn.
2. The Safety of the One Who Thus Creates
2. Sự An Toàn của Người Sáng Tạo Như Thế
It might be said here with emphasis, even if it is a recognized truism, that people are frequently slain (in the occult and therefore in the more important sense) by their own thought-forms. Thought creation, through concentration and meditation, is a potently dangerous matter. This must never be forgotten. There are forms of thought, unencumbered by much desire matter, which, failing to pass downward, poison the man on mental levels. This they do in two ways:
Ở đây có thể nói một cách nhấn mạnh, dù đó là một sự thật hiển nhiên được công nhận, rằng con người thường bị sát hại, theo nghĩa huyền bí và do đó là nghĩa quan trọng hơn, bởi chính các hình tư tưởng của mình. Việc tạo ra tư tưởng, qua tập trung và tham thiền, là một vấn đề nguy hiểm đầy quyền năng. Điều này không bao giờ được quên. Có những hình tướng tư tưởng, không bị nhiều vật chất dục vọng làm nặng nề, khi không thể đi xuống, sẽ đầu độc con người trên các cấp độ trí tuệ. Chúng làm điều này theo hai cách:
1. By growing so potent on the mental plane that the man falls a victim to the thing he has created. This is the “idée fixe” of the psychiatrist; the obsession which drives to lunacy; the one-pointed line of thought which eventually terrorises its creator.
1. Bằng cách trở nên mạnh mẽ đến mức trên cõi trí, con người trở thành nạn nhân của chính điều y đã tạo ra. Đây là “ý tưởng cố định” của nhà tâm thần học; là sự ám ảnh thúc đẩy đến điên loạn; là đường tư tưởng nhất tâm cuối cùng làm kinh hoàng chính người tạo ra nó.
2. By multiplying so fast that the mental aura of the man becomes like unto a thick and dense cloud, through [163] which the light of the soul must fail to penetrate, and through which the love of human beings, the lovely and beautiful and comforting activities of nature and of life in the three worlds equally fail to pierce. The man is smothered, is suffocated by his own thought-forms, and succumbs to the miasma which he himself has engendered.
2. Bằng cách nhân bội nhanh đến mức hào quang trí tuệ của con người trở nên giống như một đám mây dày đặc, qua [163] đó ánh sáng của linh hồn không thể xuyên thấu, và qua đó tình thương của con người, các hoạt động đáng yêu, đẹp đẽ và an ủi của thiên nhiên và của đời sống trong ba cõi giới cũng không thể xuyên qua. Con người bị bóp nghẹt, bị ngạt thở bởi chính các hình tư tưởng của mình, và gục ngã trước khí độc do chính y đã sinh ra.
Or again, there are lines of thought which draw forth from the emotional body a reaction of a poisonous nature. A certain line of thought is followed by a human being in relation to his brethren. It breeds hatred, jealousy and envy, and works through into manifestation in such a manner that it produces those physical plane activities which cause the death of their creator. This may be literal as in the case of murder, which is in many cases the result of crystallised intent, or it may result in disease. Pure thought, right motive and loving desire are the true correctives of disease, and where the desire for these (which does animate many) is raised to constructive thinking there will be the gradual elimination of disease. As yet, though many desire, few think. Let it never be forgotten that the Great Ones do not look for those who only desire and aspire. They look for those who blend with their desire the determination to learn to use their mental bodies and become creators, and who will work constructively towards these ends.
Lại nữa, có những dòng tư tưởng khơi ra từ thể cảm xúc một phản ứng có tính độc hại. Một dòng tư tưởng nào đó được con người theo đuổi trong tương quan với các huynh đệ của y. Nó sinh ra hận thù, ganh ghét và đố kỵ, rồi tác động xuyên qua để đi vào biểu hiện theo cách tạo ra những hoạt động trên cõi hồng trần gây nên cái chết cho chính kẻ đã tạo ra chúng. Điều này có thể theo nghĩa đen, như trong trường hợp sát nhân, vốn trong nhiều trường hợp là kết quả của ý định đã kết tinh, hoặc có thể đưa đến bệnh tật. Tư tưởng thanh khiết, động cơ đúng đắn và ước muốn đầy tình thương là những phương thuốc sửa chữa chân thật đối với bệnh tật; và nơi nào ước muốn về những điều này, vốn quả thật đang làm sinh động nhiều người, được nâng lên thành tư duy xây dựng, nơi đó bệnh tật sẽ dần dần được loại trừ. Cho đến nay, dù nhiều người ước muốn, nhưng ít người tư duy. Đừng bao giờ quên rằng Các Đấng Cao Cả không tìm kiếm những người chỉ biết ước muốn và khát vọng. Các Ngài tìm kiếm những người biết hòa vào ước muốn của mình quyết tâm học cách sử dụng thể trí và trở thành những người sáng tạo, và những người sẽ làm việc một cách xây dựng hướng tới các mục tiêu ấy.
Thus it will be seen why, in all systems of true occult training, the emphasis is laid on right thinking, loving desire, and pure, clean living. Only thus can the creative work be carried forward with safety, and only thus can the thought-form pass downward into objectivity, and be a constructive agent on the plane of human existence.
Do đó, có thể thấy vì sao, trong mọi hệ thống huấn luyện huyền bí chân chính, trọng tâm được đặt vào tư duy đúng đắn, ước muốn đầy tình thương, và đời sống thanh khiết, trong sạch. Chỉ như thế công việc sáng tạo mới có thể được tiến hành an toàn, và chỉ như thế hình tư tưởng mới có thể đi xuống vào tính khách quan, trở thành một tác nhân xây dựng trên cõi hiện tồn của nhân loại.
3. Steady Contemplation
3. Sự Chiêm ngưỡng Vững vàng
You will note here that the word ‘meditation’ is not used. The thought is a different one. The meditation [164] process, involving the use of thought and the mental building of the form so that it can be completed and rounded out and in line with the thought-form of the disciple’s group of co-disciples, and therefore with the Plan, has been completed to the best of the man’s ability. Now he must, with steadiness, contemplate that which he has created, and with equal steadiness inspire it with needed life, so that it can fulfill its function.
Ở đây các bạn sẽ lưu ý rằng từ “tham thiền” không được dùng. Ý tưởng ở đây là một ý tưởng khác. Tiến trình tham thiền [164], bao gồm việc sử dụng tư tưởng và việc kiến tạo hình tướng bằng trí tuệ để hình tướng ấy có thể được hoàn tất, được làm tròn đầy, và phù hợp với hình tư tưởng của nhóm các đệ tử đồng môn của đệ tử, và do đó phù hợp với Thiên Cơ, đã được hoàn tất đến mức tốt nhất theo khả năng của con người ấy. Giờ đây y phải, với sự vững vàng, chiêm ngưỡng điều mà y đã tạo ra, và với cùng một sự vững vàng ấy, truyền cảm hứng cho nó bằng sự sống cần thiết, để nó có thể hoàn thành chức năng của mình.
He ceases to reason, to think, to formulate, and to build in mental matter. He simply pours his life into the form and sends it forth to carry out his will. Just as long as he can contemplate and hold steady, so will his creation fulfill his intention and act as his agent.
Y thôi lý luận, thôi suy nghĩ, thôi hình thành công thức, và thôi xây dựng trong chất liệu trí tuệ. Y chỉ đơn giản tuôn sự sống của mình vào hình tướng và phóng nó ra để thi hành ý chí của y. Chừng nào y còn có thể chiêm ngưỡng và giữ vững, chừng ấy sáng tạo của y sẽ hoàn thành ý định của y và hành động như tác nhân của y.
Just so long as he can focus his attention on the ideal for which he created his thought-form and can link the form and the ideal together in one steady vision, just so long will it serve his purpose and express his ideal. Herein lies the secret of all successful co-operation with the Plan.
Chừng nào y còn có thể tập trung sự chú ý vào lý tưởng mà vì đó y đã tạo ra hình tư tưởng của mình, và có thể nối kết hình tướng cùng lý tưởng trong một tầm nhìn vững bền duy nhất, chừng ấy nó sẽ phụng sự mục đích của y và biểu lộ lý tưởng của y. Chính trong điều này có bí quyết của mọi sự hợp tác thành công với Thiên Cơ.
We will now study for a while the words “heart, throat, and eye,” for they have a peculiar significance. These three form the apparatus to be employed by all disciples during the world cycle which is so rapidly coming.
Bây giờ chúng ta sẽ nghiên cứu trong một thời gian các từ “tim, cổ họng và mắt”, vì chúng có một thâm nghĩa đặc biệt. Ba điều này tạo thành bộ khí cụ sẽ được mọi đệ tử sử dụng trong chu kỳ thế giới đang đến rất nhanh.
That there is not as yet a very large body of disciples in incarnation at this time, and that the apparatus with many who are functioning on the level of discipleship is but in embryo, is profoundly true. It should be remembered however, that the world cycle has only just been inaugurated and will cover a vast period of time. There are only about four hundred accepted disciples in the world at this time—that is, men and women who really know they are disciples and know what their work is and are doing it. There are nevertheless many hundreds (out of the present generation of young people) who stand on the verge of acceptance, and thousands are upon the probationary path.
Việc hiện nay chưa có một đoàn thể đệ tử rất đông đảo đang lâm phàm, và bộ khí cụ nơi nhiều người đang hoạt động ở cấp độ địa vị đệ tử mới chỉ ở trạng thái phôi thai, là điều hết sức đúng. Tuy nhiên, cần nhớ rằng chu kỳ thế giới chỉ vừa mới được khai mở và sẽ bao trùm một thời kỳ rộng lớn. Hiện nay trên thế giới chỉ có khoảng bốn trăm đệ tử được chấp nhận, nghĩa là những người nam và nữ thật sự biết mình là đệ tử, biết công việc của mình là gì và đang thực hiện công việc ấy. Tuy vậy, có nhiều trăm người, trong thế hệ trẻ hiện nay, đang đứng trên ngưỡng cửa của sự chấp nhận, và hàng ngàn người đang ở trên Con Đường Dự Bị.
[165]
[165]
In all truly esoteric groups, there should be forming a group in which an intellectual understanding of this mechanism of heart, throat, and eye, will be found. It should be constituted of those who are submitting themselves to a discipline and a training which will make its use a demonstrated fact in nature to them. I would call attention to those words, and request their careful study.
Trong mọi nhóm nội môn chân chính, cần phải hình thành một nhóm trong đó có sự thấu hiểu bằng trí tuệ về cơ cấu tim, cổ họng và mắt này. Nhóm ấy nên được cấu thành bởi những người đang tự đặt mình dưới một kỷ luật và một sự huấn luyện sẽ khiến việc sử dụng cơ cấu ấy trở thành một sự kiện đã được chứng minh trong tự nhiên đối với họ. Tôi muốn lưu ý đến những từ này, và yêu cầu các bạn nghiên cứu chúng cẩn thận.
A mechanism in the natural body comes into use in two ways: First, its use is involuntary, and there is no comprehension of how, or why, or when, the apparatus is used. An animal employs a mechanism, analogous in many respects to that employed by man. He sees, and hears and functions organically along similar lines to the human, but lacks the mental understanding and the linking of cause and effect which are characteristic of the higher kingdom in nature.
Một cơ cấu trong thể tự nhiên được đưa vào sử dụng theo hai cách: Thứ nhất, việc sử dụng nó là tự phát, và không có sự thấu hiểu về cách thức, lý do, hay thời điểm bộ khí cụ ấy được dùng. Một con vật sử dụng một cơ cấu, về nhiều phương diện tương tự với cơ cấu con người sử dụng. Nó thấy, nghe và hoạt động về mặt cơ thể theo những đường lối tương tự như con người, nhưng thiếu sự thấu hiểu trí tuệ và sự nối kết nguyên nhân với kết quả vốn là đặc điểm của giới cao hơn trong tự nhiên.
A similar state of affairs exists in the early stages of the path of discipleship, and the final stages of the probationary path. The disciple becomes aware of capacities and powers which are not as yet intelligently under his control. He experiences flashes of insight, and of knowledge which seem unaccountable and of no immediate value. He contacts vibrations and the phenomena of other realms but remains unaware of the process whereby he has done so, and is incompetent either to renew or recall the experience. Within his etheric body, he senses active forces. Sometimes he can localise them, and in any case he admits theoretically that there is awakening into conscious activity, a sevenfold structure, which is symbolic in form, and potent when employed. He cannot as yet control it and he is quite incapable of calling it into intelligent co-operation with his purposes and ideas, no matter how hard he tries. All that he can do is to register such phenomena and keep a record of these experiences, bearing always in mind that in the early stages of his unfoldment only the coarsest and most material [166] of the vibrations will be registered on his brain consciousness. He simply has to wait and to bring his mind to bear upon the purifying of his vehicles and the elimination of all that he recognises as liable to distort his vision. This period may be long or short according as the aspirant is entering into the subjective consciousness for the first time or is taking up the thread of an older or partially achieved undertaking.
Một tình trạng tương tự tồn tại trong các giai đoạn đầu của Con Đường Đệ Tử, và trong các giai đoạn cuối của Con Đường Dự Bị. Đệ tử trở nên ý thức về những năng lực và quyền năng chưa nằm dưới sự kiểm soát thông minh của y. Y trải nghiệm những tia chớp linh thị và tri thức dường như không thể giải thích và không có giá trị tức thời. Y tiếp xúc với các rung động và hiện tượng của những cõi khác, nhưng vẫn không biết tiến trình nhờ đó y đã làm như vậy, và không có khả năng tái lập hay hồi tưởng kinh nghiệm ấy. Trong thể dĩ thái của mình, y cảm nhận những mãnh lực đang hoạt động. Đôi khi y có thể định vị chúng, và trong mọi trường hợp, y thừa nhận về mặt lý thuyết rằng có một cấu trúc thất phân đang thức tỉnh vào hoạt động hữu thức, cấu trúc ấy có hình thức biểu tượng và đầy uy lực khi được sử dụng. Y chưa thể kiểm soát nó, và hoàn toàn không có khả năng kêu gọi nó hợp tác một cách thông minh với các mục đích và ý tưởng của mình, dù y cố gắng đến đâu. Tất cả những gì y có thể làm là ghi nhận các hiện tượng ấy và giữ một hồ sơ về những kinh nghiệm này, luôn luôn ghi nhớ rằng trong các giai đoạn đầu của sự khai mở nơi y, chỉ những rung động thô nhất và vật chất nhất [166] mới được ghi nhận trong tâm thức bộ não của y. Y chỉ cần chờ đợi và đem thể trí của mình tác động vào việc thanh lọc các hiện thể của mình, cũng như loại bỏ tất cả những gì y nhận ra là có khả năng làm méo mó tầm nhìn của y. Thời kỳ này có thể dài hoặc ngắn tùy theo việc người chí nguyện lần đầu tiên bước vào tâm thức chủ quan, hay đang tiếp nối sợi dây của một công trình cũ hơn hoặc đã được thành tựu một phần.
I would like here, to make perfectly clear to all true and earnest aspirants that, in the training to be given during the next few decades, the unfoldment of astral vision and hearing will be entirely ruled out, or (if it exists) will eventually have to be overcome. The true disciple has endeavoured to centre himself on the mental plane with the object in view of transferring his consciousness higher still, into the wider and inclusive awareness of the soul.
Ở đây, tôi muốn làm cho mọi người chí nguyện chân thật và nghiêm túc hoàn toàn rõ rằng, trong sự huấn luyện sẽ được trao trong vài thập niên tới, sự khai mở thị giác và thính giác cảm dục sẽ bị loại trừ hoàn toàn, hoặc nếu đã có, cuối cùng sẽ phải được vượt qua. Đệ tử chân chính đã cố gắng đặt trung tâm của mình trên cõi trí, với mục tiêu chuyển tâm thức của mình lên cao hơn nữa, vào nhận thức rộng lớn và bao gồm hơn của linh hồn.
His aim is to include the higher, and there is no need for him, at this stage, to regain that astral facility which was the possession, as you well know, of the little evolved races of the earth, and of many of the higher animals. Later on, when adeptship has been reached, he can function on the astral plane should he so choose, but it should be remembered, that the Master works with the soul aspect of humanity (and of all forms) and does not work with their astral bodies. This has been oft forgotten by teachers both in the East and in the West.
Mục tiêu của y là bao gồm cái cao hơn; và ở giai đoạn này, y không cần khôi phục lại khả năng cảm dục vốn, như các bạn biết rõ, là sở hữu của các giống dân ít tiến hóa trên Trái Đất và của nhiều loài thú cao hơn. Về sau, khi đã đạt đến địa vị chân sư, y có thể hoạt động trên cõi cảm dục nếu y chọn như vậy; nhưng cần nhớ rằng Chân sư làm việc với phương diện linh hồn của nhân loại, và của mọi hình tướng, chứ không làm việc với các thể cảm dục của họ. Điều này thường bị các huấn sư ở cả Đông phương lẫn Tây phương quên mất.
In working with souls the true technique of evolution is carried forward, for it is the soul within the forms in every kingdom in nature which is responsible for the developing work of, and within, the form. May I say therefore to students that their main objective is to become aware of the soul, to cultivate soul consciousness, and to learn to live and work as souls. Until such time as their use of their apparatus becomes voluntary they would be well advised to train their minds, study the [167] laws governing manifestation, and learn to include all that which we now cover by the word ‘higher’—a misnomer, but it must suffice.
Trong việc làm việc với các linh hồn, kỹ thuật chân chính của tiến hóa được tiến hành, vì chính linh hồn bên trong các hình tướng, trong mọi giới của tự nhiên, chịu trách nhiệm cho công việc phát triển của hình tướng và bên trong hình tướng. Vì vậy, tôi có thể nói với các đạo sinh rằng mục tiêu chính của họ là trở nên ý thức về linh hồn, vun trồng tâm thức linh hồn, và học sống cùng làm việc như các linh hồn. Cho đến khi việc sử dụng bộ khí cụ của họ trở nên tự nguyện, họ nên huấn luyện thể trí của mình, nghiên cứu các [167] định luật chi phối sự biểu hiện, và học bao gồm tất cả những gì hiện nay chúng ta gọi bằng từ “cao hơn”, một cách gọi sai, nhưng phải tạm đủ dùng.
Second, when the use of the subjective instrument becomes voluntary and a man knows how it should be employed, when he is using it, and can discontinue its use or resume it at will, then his whole status changes and his usefulness increases. Through the use of the mind, humanity has become aware of the purposes and employment of the physical apparatus. Now through the use of a still higher faculty, which is a characteristic of the soul, he enters into voluntary and intelligent control of his instrument and learns to understand the purposes for which it exists. This higher faculty is the intuition.
Thứ hai, khi việc sử dụng khí cụ chủ quan trở nên tự nguyện và một người biết nó phải được dùng như thế nào, khi nào y đang sử dụng nó, và có thể ngưng sử dụng hoặc tiếp tục sử dụng nó tùy ý, bấy giờ toàn bộ địa vị của y thay đổi và sự hữu dụng của y tăng lên. Nhờ sử dụng thể trí, nhân loại đã trở nên ý thức về các mục đích và công dụng của bộ khí cụ hồng trần. Giờ đây, nhờ sử dụng một quan năng còn cao hơn, vốn là đặc tính của linh hồn, y bước vào sự kiểm soát tự nguyện và thông minh đối với khí cụ của mình, và học thấu hiểu các mục đích mà vì đó khí cụ ấy hiện hữu. Quan năng cao hơn này là trực giác.
May I add with emphasis that only as the man becomes intuitive does he become of use in a Master’s group and I commend to all aspirants that they most carefully study the meaning and significance of the intuition. When it is beginning to function, then the disciple can pass from the stage of probation to that of acceptance in a Master’s group.
Tôi xin nhấn mạnh thêm rằng chỉ khi con người trở nên trực giác, y mới trở nên hữu dụng trong nhóm của một Chân sư; và tôi khuyên tất cả những người chí nguyện hãy nghiên cứu thật cẩn thận ý nghĩa và thâm nghĩa của trực giác. Khi trực giác bắt đầu hoạt động, bấy giờ đệ tử có thể chuyển từ giai đoạn dự bị sang giai đoạn được chấp nhận trong nhóm của một Chân sư.
You might ask here how this can be known or ascertained by the probationer.
Ở đây các bạn có thể hỏi làm sao điều này có thể được người dự bị biết hay xác định.
A great deal of training is given to a probationer without his really recognising it consciously. Fault tendencies are indicated to him as he seeks with sincerity to train himself for service, and the analysis of motive when truthfully undertaken, serves amazingly to lift the would-be disciple out of the astral or emotional world into that of the mind. It is in the mental world that the Masters are first contacted, and there They must be sought.
Rất nhiều sự huấn luyện được trao cho một người dự bị mà y không thật sự nhận biết một cách hữu thức. Những khuynh hướng sai lỗi được chỉ ra cho y khi y chân thành tìm cách huấn luyện mình để phụng sự; và việc phân tích động cơ, khi được thực hiện một cách trung thực, có tác dụng kỳ diệu trong việc nâng người muốn làm đệ tử ra khỏi thế giới cảm dục hay cảm xúc, vào thế giới của thể trí. Chính trong thế giới trí tuệ mà các Chân sư lần đầu được tiếp xúc, và chính ở đó Các Ngài phải được tìm kiếm.
But the time has come when the Light in the head is not only present but can be somewhat used. The karma of the aspirant is such that it becomes possible for him, through strenuously applied effort, to handle his life in [168] such a way that he can not only fulfill his karma and carry out his obligations, but has sufficient determination to enable him to handle the problems and obligations of discipleship also. His service to others is carried out with the right motive, and is beginning to count and make its power felt, and he is losing sight of his own interests in those of others. When this occurs certain esoteric happenings take place.
Nhưng thời điểm đã đến khi Ánh sáng trong đầu không chỉ hiện diện mà còn có thể được sử dụng phần nào. Nghiệp quả của người chí nguyện là như thế, đến nỗi nhờ nỗ lực được áp dụng mạnh mẽ, y có thể điều khiển đời sống mình theo [168] cách không chỉ hoàn thành nghiệp quả và thi hành các bổn phận của mình, mà còn có đủ quyết tâm để giúp y xử lý cả những vấn đề và bổn phận của địa vị đệ tử. Sự phụng sự của y đối với người khác được thực hiện với động cơ đúng đắn, và bắt đầu có giá trị cùng làm cho quyền năng của nó được cảm nhận; và y đang đánh mất tầm nhìn về các lợi ích riêng của mình trong lợi ích của người khác. Khi điều này xảy ra, một số sự kiện nội môn diễn ra.
The Master confers with some of His senior disciples as to the advisability of admitting the aspirant within the group aura, and of blending his vibration with that of the group. Then, if decision is arrived at, for the space of two years a senior disciple acts as the intermediary betwixt the Master and the newly accepted aspirant. He works with the new disciple, stepping down (if I so might express it) the vibration of the Master so as to accustom the disciple’s bodies to the higher increased rate. He impresses the disciple’s mind, via his Ego, with the group plans and ideals, and he watches his reaction to life’s occurrences and opportunities. He practically assumes, pro tem, the duties and position of Master.
Chân sư bàn bạc với một số đệ tử cao cấp của Ngài về sự thích hợp của việc thu nhận người chí nguyện vào trong hào quang nhóm, và hòa rung động của y với rung động của nhóm. Rồi, nếu quyết định được đưa ra, trong khoảng thời gian hai năm, một đệ tử cao cấp đóng vai trò trung gian giữa Chân sư và người chí nguyện mới được chấp nhận. Vị ấy làm việc với đệ tử mới, hạ thấp, nếu tôi có thể diễn tả như vậy, rung động của Chân sư để làm cho các thể của đệ tử quen với nhịp độ cao hơn và gia tăng ấy. Vị ấy gây ấn tượng lên thể trí của đệ tử, qua Chân ngã của y, bằng các kế hoạch và lý tưởng của nhóm, và theo dõi phản ứng của y trước những biến cố và cơ hội của đời sống. Trên thực tế, vị ấy tạm thời đảm nhận các bổn phận và vị trí của Chân sư.
All this time the aspirant remains in ignorance of what has happened and is unaware of his subjective contacts. He, however, recognizes in himself three things:
Trong suốt thời gian này, người chí nguyện vẫn không biết điều gì đã xảy ra và không ý thức về các tiếp xúc chủ quan của mình. Tuy nhiên, y nhận ra trong chính mình ba điều:
Increased mental activity. This at first will give him much trouble, and he will feel as if he were losing in mind control instead of gaining it, but this is only a temporary condition and gradually he will assume command.
Hoạt động trí tuệ gia tăng. Ban đầu điều này sẽ gây cho y nhiều phiền toái, và y sẽ cảm thấy như thể mình đang mất sự kiểm soát thể trí thay vì đạt được nó; nhưng đây chỉ là một tình trạng tạm thời, và dần dần y sẽ nắm quyền điều khiển.
Increased responsiveness to ideas and increased capacity to vision the plan of the Hierarchy. This will make him, in the early stages, fanatical to a degree. He will be continually swept off his feet with new ideals, new isms, new modes of living, new dreams for race betterment. He will take up one cult after another as they seem to make possible the coming millennium. But after [169] a time he regains his poise, and purpose assumes control of his life. He works at his own job, and carries forward his contribution to the activity of the whole, to the best of his ability.
Sự đáp ứng gia tăng đối với các ý tưởng và năng lực gia tăng để thấy Thiên Cơ của Thánh Đoàn. Trong các giai đoạn đầu, điều này sẽ khiến y trở nên cuồng tín ở một mức độ nào đó. Y sẽ liên tục bị cuốn đi bởi những lý tưởng mới, những chủ thuyết mới, những lối sống mới, những giấc mơ mới về sự cải thiện nhân loại. Y sẽ lần lượt tiếp nhận hết giáo phái này đến giáo phái khác, khi chúng dường như làm cho thiên niên kỷ sắp đến trở nên khả hữu. Nhưng sau [169] một thời gian, y lấy lại sự quân bình, và mục đích nắm quyền kiểm soát đời sống của y. Y làm công việc riêng của mình, và tiến hành phần đóng góp của mình vào hoạt động của toàn thể, theo khả năng tốt nhất của y.
Increased psychic sensitiveness. This is both an indication of growth and at the same time a test. He is apt to be taken in by the allurements of the psychic powers; he will be tempted to side-track his efforts from specialised service to the race into the exploitation of the psychic powers, and their use for self assertion. The aspirant has to grow in all parts of his nature, but until he can function as the soul, the psyche, consciously and with the use of cooperative intelligence, the lower powers must be quiescent. They can only be safely used by advanced disciples and initiates. They are weapons and instruments of service to be then used in the three worlds by those who are still tied by the Law of Rebirth to those worlds. Those who have passed through the great Liberation and have “occultly crossed the bridge” have no need to employ the powers inherent in the lower sheaths. They can use the infallible knowledge of the intuition, and the illumination of the principle of Light.
Sự nhạy cảm thông linh gia tăng. Điều này vừa là dấu hiệu của sự tăng trưởng, đồng thời cũng là một thử thách. Y dễ bị lôi cuốn bởi những quyến rũ của các quyền năng thông linh; y sẽ bị cám dỗ chuyển hướng nỗ lực của mình khỏi sự phụng sự chuyên biệt cho nhân loại sang việc khai thác các quyền năng thông linh, và sử dụng chúng để tự khẳng định. Người chí nguyện phải tăng trưởng trong mọi phần của bản chất mình; nhưng cho đến khi y có thể hoạt động như linh hồn, như nguyên lý tâm linh, một cách hữu thức và với việc sử dụng trí tuệ hợp tác, các quyền năng thấp phải ở trạng thái yên lặng. Chúng chỉ có thể được sử dụng an toàn bởi các đệ tử tiến bộ và các điểm đạo đồ. Khi ấy, chúng là vũ khí và khí cụ phụng sự được dùng trong ba cõi thấp bởi những người vẫn còn bị Định luật Tái sinh ràng buộc với các cõi ấy. Những ai đã trải qua cuộc Giải Thoát lớn lao và đã “vượt qua cây cầu một cách huyền bí” thì không cần sử dụng các quyền năng vốn có trong những lớp vỏ thấp. Họ có thể sử dụng tri thức không sai lầm của trực giác và sự soi sáng của nguyên khí Ánh sáng.
There is much misapprehension in people’s minds as to how a Master lets an accepted disciple become aware that he is accepted. An impression is abroad that he is told so and that an interview is accorded wherein the Master accepts him and starts him to work. Such is not the case. The occult law holds good in discipleship as in initiation, and the man goes forward blindly. He hopes, but he does not know; he expects that it may be so, but no tangible assurance is given; from a study of himself and of the requirements he arrives at the conclusion that perhaps he has reached the status of accepted disciple. He therefore acts on that assumption and with care he watches his acts, guards his words, and controls his thoughts so that no overt act, unnecessary word or unkind [170] thought will break the rhythm which he believes has been set up. He proceeds with his work but intensifies his meditation; he searches his motives; he seeks to equip his mental body; he sets before himself the ideal of service and seeks ever to serve; and then (when he is so engrossed in the work on hand that he has forgotten himself), suddenly one day he sees the One Who has for so long seen him.
Có nhiều sự hiểu lầm trong tâm trí con người về cách một Chân sư cho một đệ tử được chấp nhận biết rằng y đã được chấp nhận. Có một ấn tượng lan truyền rằng y được thông báo như vậy, và được ban cho một cuộc phỏng vấn trong đó Chân sư chấp nhận y và khởi sự giao công việc cho y. Sự việc không phải như thế. Định luật huyền bí vẫn đúng trong địa vị đệ tử cũng như trong điểm đạo, và con người tiến bước trong mù mờ. Y hy vọng, nhưng y không biết; y mong rằng có thể đúng như vậy, nhưng không có sự bảo đảm hữu hình nào được trao; từ việc nghiên cứu chính mình và các đòi hỏi, y đi đến kết luận rằng có lẽ y đã đạt đến địa vị đệ tử được chấp nhận. Vì thế, y hành động trên giả định ấy, và cẩn thận quan sát các hành vi của mình, giữ gìn lời nói, và kiểm soát tư tưởng, để không hành vi lộ liễu nào, lời nói không cần thiết nào, hay tư tưởng không tử tế nào [170] phá vỡ nhịp điệu mà y tin rằng đã được thiết lập. Y tiếp tục công việc của mình nhưng tăng cường tham thiền; y khảo sát các động cơ của mình; y tìm cách trang bị cho thể trí của mình; y đặt trước mình lý tưởng phụng sự và luôn tìm cách phụng sự; rồi khi y quá mải mê với công việc đang làm đến nỗi quên chính mình, bỗng một ngày kia y thấy Đấng đã thấy y từ rất lâu.
This may come in two ways: in full waking consciousness or by the registering of the interview on the physical brain as it has been participated in during the hours of sleep.
Điều này có thể đến theo hai cách: trong tâm thức tỉnh thức đầy đủ, hoặc qua việc ghi nhận cuộc gặp gỡ trên bộ não hồng trần như một điều đã được tham dự trong những giờ ngủ.
But accompanying this recognition of the event by the disciples will come certain other recognitions.
Nhưng đi kèm với việc các đệ tử nhận ra biến cố này sẽ có một số nhận biết khác.
1. The event is recognised as fact past all controversy. No doubt remains in the disciple’s mind.
1. Biến cố được nhận ra như một sự kiện vượt ngoài mọi tranh cãi. Không còn nghi ngờ nào trong tâm trí đệ tử.
2. There is recognised an inhibition on the disciple’s part to mention the happening to any one. Months or years may slip away before the disciple will mention it, and then only to those who are also recognised as disciples or to some fellow worker, also under the same group influence, whose right it is to know and whose right is sanctioned by the Master of the group.
2. Đệ tử nhận ra nơi mình có một sự kìm giữ, không được nhắc đến sự việc ấy với bất kỳ ai. Nhiều tháng hoặc nhiều năm có thể trôi qua trước khi đệ tử nhắc đến nó, và khi ấy chỉ với những người cũng được nhận ra là đệ tử, hoặc với một bạn đồng sự cũng ở dưới cùng một ảnh hưởng nhóm, người có quyền được biết, và quyền ấy được Chân sư của nhóm chuẩn nhận.
3. Certain factors, governing the Master’s relation to the disciple, are gradually recognised and begin increasingly to govern the disciple’s life.
3. Một số yếu tố chi phối mối liên hệ của Chân sư với đệ tử dần dần được nhận ra và ngày càng bắt đầu chi phối đời sống của đệ tử.
a. He recognises that his points of contact with his Master are governed by group emergency and need, and deal with his group service. It gradually dawns on him that his Master is only interested in him insofar as his ego can be used in service, through the personality on the physical plane. He begins to realise that his Master works with his soul and that it is his ego, therefore, which is en rapport with the Master and not the personal self. His problem, therefore, becomes increasingly clear and this is the problem of all disciples. It is to keep the [171] channel of communication open between the soul and the brain, via the mind, so that when the Master seeks to communicate, He can do so at once and easily. Sometimes a Master has to wait weeks before He can get His disciple’s ear, for the channel upward is closed and the soul is not en rapport with the brain. This is especially true of the early stages of discipleship.
a. Y nhận ra rằng các điểm tiếp xúc của y với Chân sư được chi phối bởi nhu cầu và tình thế khẩn cấp của nhóm, và liên quan đến sự phụng sự nhóm của y. Dần dần y hiểu ra rằng Chân sư chỉ quan tâm đến y trong chừng mực Chân ngã của y có thể được sử dụng trong phụng sự, thông qua phàm ngã trên cõi hồng trần. Y bắt đầu nhận ra rằng Chân sư làm việc với linh hồn của y, và do đó chính chân ngã của y ở trong sự giao cảm với Chân sư, chứ không phải phàm ngã cá nhân. Vì vậy, vấn đề của y ngày càng trở nên rõ ràng, và đây là vấn đề của mọi đệ tử. Đó là giữ cho [171] kênh giao tiếp giữa linh hồn và bộ não, qua thể trí, luôn mở, để khi Chân sư tìm cách giao tiếp, Ngài có thể làm điều đó ngay lập tức và dễ dàng. Đôi khi một Chân sư phải chờ nhiều tuần trước khi Ngài có thể khiến đệ tử của Ngài lắng nghe, vì kênh hướng thượng bị đóng lại và linh hồn không ở trong sự giao cảm với bộ não. Điều này đặc biệt đúng trong các giai đoạn đầu của địa vị đệ tử.
b. He finds that it is he who shuts the door in the majority of cases through lower psychism, physical disability, and lack of mind control, and he therefore discovers that he has to work constantly and ceaselessly with his lower self.
b. Y thấy rằng trong đa số trường hợp, chính y là người đóng cánh cửa lại qua thông linh thấp, khiếm khuyết hồng trần, và thiếu kiểm soát thể trí; vì vậy y khám phá rằng y phải làm việc liên tục và không ngừng với phàm ngã của mình.
c. He finds that one of the first things he has to do is to learn to discriminate between:
c. Y thấy rằng một trong những điều đầu tiên y phải làm là học phân biện giữa:
His own soul’s vibration.
Rung động của linh hồn chính y.
The vibration of the group of disciples with whom he is associated.
Rung động của nhóm đệ tử mà y liên kết.
The vibration of the Master.
Rung động của Chân sư.
All three are different and it is easy to confuse them, especially at first. It is a safe rule for aspirants to assume when they contact a high vibration and stimulus, that it is their own soul contacting them, the Master in the heart, and not run off with the idea (so flattering to their pride and personality) that the Master is endeavouring to reach them.
Cả ba đều khác nhau, và rất dễ nhầm lẫn chúng, đặc biệt lúc ban đầu. Một quy luật an toàn cho người chí nguyện là, khi họ tiếp xúc với một rung động và kích thích cao, hãy giả định rằng đó là linh hồn của chính họ đang tiếp xúc với họ, Chân sư trong tim, và đừng vội chạy theo ý tưởng, vốn rất nịnh nọt lòng kiêu hãnh và phàm ngã của họ, rằng Chân sư đang cố gắng tiếp cận họ.
d. He finds also that it is not the habit of the Masters to flatter or to make promises to their disciples. They are too busy and too wise, nor do They trouble Themselves to tell Their disciples that they are destined for high office, or that they are Their intermediaries and that the Hierarchy is depending upon them. Ambition, love of power, and the self-sufficiency which characterises many mental types test out the struggling aspirant, and he gets from his personality all that he needs in that line. These qualities delude him and lead him astray, forcing [172] him onto a pedestal from which eventually he must descend. The Masters say nothing to feed pride in Their disciples, nor do They speak words to them which could foster in Their chelas the spirit of separateness.
d. Y cũng thấy rằng các Chân sư không có thói quen tâng bốc hay hứa hẹn với các đệ tử của Các Ngài. Các Ngài quá bận rộn và quá minh triết, cũng không bận tâm nói với các đệ tử rằng họ được định sẵn cho chức vụ cao, hoặc rằng họ là các trung gian của Các Ngài và Thánh Đoàn đang nương tựa vào họ. Tham vọng, lòng yêu quyền lực, và sự tự mãn vốn đặc trưng cho nhiều kiểu người trí tuệ sẽ thử thách người chí nguyện đang phấn đấu, và y nhận được từ phàm ngã của mình tất cả những gì y cần theo đường lối ấy. Những phẩm tính này mê hoặc y và dẫn y lạc đường, buộc [172] y bước lên một bệ cao mà cuối cùng y phải đi xuống. Các Chân sư không nói điều gì để nuôi dưỡng lòng kiêu hãnh nơi các đệ tử của Các Ngài, cũng không nói với họ những lời có thể nuôi lớn nơi các đệ tử tinh thần chia rẽ.
e. The disciple soon finds also that the Masters are not easily accessible. They are busy men, ill able to spare even a few moments in which to communicate with the disciple, and only in emergencies, in the case of a beginner on the Path of Discipleship, do the Masters expend the necessary energy with which to get en rapport. With old and tried disciples, the contacts are more frequent, being more easily achieved and bearing more rapid results. It should be remembered, however, that the newer the disciple the more he demands attention and considers he should have it. The old and more experienced servers seek to fulfil their obligations and carry forward their work with as little contact with the Masters as possible. They seek to save the Master’s time and frequently consider an interview with the Master as demonstrating failure on their part, and producing, therefore, regret that they have had to take the Master’s precious time, and force Him to use His energy in order to safeguard the work from error and the disciple perhaps from harm. The aim of every high disciple is to carry out his work and be en rapport with the spiritual force centre which is his group, and thus in steady touch with the Master, without interviews and phenomenal contacts. Many only expect to contact their Master once a year, usually at the time of the full moon in May.
e. Đệ tử cũng sớm thấy rằng các Chân sư không dễ tiếp cận. Các Ngài là những người bận rộn, khó có thể dành ra dù chỉ vài khoảnh khắc để giao tiếp với đệ tử; và chỉ trong những trường hợp khẩn cấp, đối với một người mới bước vào Con Đường Đệ Tử, các Chân sư mới sử dụng năng lượng cần thiết để thiết lập sự giao cảm. Với các đệ tử lâu năm và đã được thử thách, các tiếp xúc thường xuyên hơn, vì chúng dễ đạt được hơn và đem lại kết quả nhanh hơn. Tuy nhiên, cần nhớ rằng đệ tử càng mới thì càng đòi hỏi sự chú ý và cho rằng mình phải được nhận điều đó. Những người phụng sự lâu năm và nhiều kinh nghiệm hơn tìm cách hoàn thành các bổn phận của mình và tiến hành công việc với càng ít tiếp xúc với các Chân sư càng tốt. Họ tìm cách tiết kiệm thời gian của Chân sư và thường xem một cuộc gặp với Chân sư là dấu hiệu cho thấy họ đã thất bại phần nào, do đó sinh ra sự tiếc nuối vì họ đã phải lấy thời gian quý báu của Chân sư, và buộc Ngài sử dụng năng lượng của Ngài để bảo vệ công việc khỏi sai lầm, và có lẽ bảo vệ đệ tử khỏi tổn hại. Mục tiêu của mọi đệ tử cao cấp là thực hiện công việc của mình và ở trong sự giao cảm với trung tâm mãnh lực tinh thần là nhóm của mình, và như thế ở trong sự liên hệ vững bền với Chân sư, không cần các cuộc gặp gỡ hay những tiếp xúc hiện tượng. Nhiều người chỉ mong tiếp xúc với Chân sư của mình mỗi năm một lần, thường vào thời điểm trăng tròn tháng Năm.
f. He finds also that the relationship between Master and disciple is governed by law and that there are definite stages of contact and grades in the desired rapport. These can be enumerated, but cannot be enlarged upon.
f. Y cũng thấy rằng mối quan hệ giữa Chân sư và đệ tử được chi phối bởi định luật, và có những giai đoạn tiếp xúc cùng các cấp độ rõ ràng trong sự giao cảm mong muốn. Những điều này có thể được liệt kê, nhưng không thể được khai triển.
1. The stage wherein a disciple is contacted by the Master through another chela on the physical plane. This is the stage of “Little Chelaship”.
1. Giai đoạn trong đó một đệ tử được Chân sư tiếp xúc thông qua một đệ tử khác trên cõi hồng trần. Đây là giai đoạn “Địa vị tiểu đệ tử”.
[173]
[173]
2. The stage wherein a higher disciple directs the chela from the egoic level. This is the stage called a “Chela in the Light”.
2. Giai đoạn trong đó một đệ tử cao hơn hướng dẫn đệ tử từ cấp độ chân ngã. Đây là giai đoạn được gọi là “Đệ tử trong Ánh sáng”.
3. The stage wherein, according to necessity, the Master contacts the chela through:
3. Giai đoạn trong đó, tùy theo nhu cầu, Chân sư tiếp xúc với đệ tử qua:
a. A vivid dream experience.
a. Một kinh nghiệm mộng sống động.
b. A symbolic teaching.
b. Một giáo huấn biểu tượng.
c. A using of a thought form of the Master.
c. Việc sử dụng một hình tư tưởng của Chân sư.
d. A contact in meditation.
d. Một tiếp xúc trong tham thiền.
e. A definite, remembered interview in the Master’s Ashram.
e. Một cuộc gặp rõ ràng, được ghi nhớ, trong ashram của Chân sư.
This is definitely the stage of Accepted Disciple.
Đây rõ ràng là giai đoạn của Đệ tử được chấp nhận.
4. The stage wherein, having shown his wisdom in work, and his appreciation of the Master’s problem, the disciple is taught how (in emergencies) to attract the Master’s attention and thus draw on His strength and knowledge and advice. This is an instantaneous happening, and practically takes none of the Master’s time. This stage has the peculiar name of “a chela on the Thread, or Sutratma.”
4. Giai đoạn trong đó, sau khi đã chứng tỏ minh triết trong công việc và sự thấu hiểu vấn đề của Chân sư, đệ tử được dạy cách, trong các trường hợp khẩn cấp, thu hút sự chú ý của Chân sư và nhờ đó rút lấy sức mạnh, tri thức và lời khuyên của Ngài. Đây là một sự kiện tức thời, và trên thực tế hầu như không lấy chút thời gian nào của Chân sư. Giai đoạn này có tên đặc biệt là “đệ tử trên Sợi dây, hay sinh mệnh tuyến”.
5. The stage wherein he is permitted to know the method whereby he may set up a vibration and a call which will entitle him to an interview with the Master. This is only permitted to those trusted chelas who can be depended upon not to use the knowledge for anything except the need of the work; no personality reason or distress would prompt them to use it. At this stage the disciple is called “one within the aura.”
5. Giai đoạn trong đó y được phép biết phương pháp nhờ đó y có thể thiết lập một rung động và một lời kêu gọi, khiến y có quyền được gặp Chân sư. Điều này chỉ được cho phép đối với những đệ tử đáng tin cậy, những người có thể được trông cậy rằng sẽ không sử dụng tri thức ấy cho bất cứ điều gì ngoài nhu cầu của công việc; không một lý do hay nỗi đau khổ phàm ngã nào thúc đẩy họ sử dụng nó. Ở giai đoạn này, đệ tử được gọi là “người ở trong hào quang”.
6. The stage wherein the disciple can get his Master’s ear at any time. He is in close touch always. This is the stage wherein a chela is being definitely prepared for an immediate initiation or, having taken initiation, is being given specialised work to do in collaboration with his ——. At this stage he is described as “one within his Master’s heart.”
6. Giai đoạn trong đó đệ tử có thể được Chân sư lắng nghe bất cứ lúc nào. Y luôn ở trong sự tiếp xúc mật thiết. Đây là giai đoạn trong đó một đệ tử đang được chuẩn bị rõ ràng cho một cuộc điểm đạo tức thời, hoặc sau khi đã thọ điểm đạo, đang được giao một công việc chuyên biệt để làm trong sự cộng tác với vị —— của mình. Ở giai đoạn này, y được mô tả là “người ở trong tim của Chân sư mình”.
[174]
[174]
There is a later stage of a still closer identification, where there is a blending of the Lights, but there is no adequate paraphrase of the terms used to cover the name. The six stages above mentioned have been paraphrased for occidental understanding and must in no way be considered as translations of the ancient terms.
Có một giai đoạn về sau của sự đồng hóa còn mật thiết hơn nữa, nơi có sự hòa nhập của các Ánh sáng, nhưng không có cách diễn giải thích đáng nào cho các thuật ngữ được dùng để bao hàm danh xưng ấy. Sáu giai đoạn nêu trên đã được diễn giải cho sự thấu hiểu của phương Tây, và tuyệt đối không được xem là những bản dịch của các thuật ngữ cổ xưa.
Such are some of the teachings concerning disciples and their recognitions and it is valuable for aspirants to ponder them. It should be realised that though good character, high ethics, sound morality and spiritual aspiration are basic and unalterable requirements, yet more is needed if the right to enter the Master’s Ashram is to be granted.
Đó là một vài giáo huấn liên quan đến các đệ tử và những nhận biết của họ, và rất hữu ích cho người chí nguyện suy ngẫm về chúng. Cần nhận ra rằng dù tính cách tốt, đạo đức cao, luân lý lành mạnh và khát vọng tinh thần là những đòi hỏi căn bản và bất biến, song vẫn cần nhiều hơn nữa nếu quyền được vào ashram của Chân sư phải được ban.
To be admitted to the privilege of being an outpost of His consciousness requires an unselfishness and a self-surrender for which few are prepared; to be drawn within His aura so that the disciple’s aura forms an integral part of the group aura presupposes a purity which few can cultivate; to have the ear of the Master and to earn the right to contact Him at will necessitates a sensitiveness and a fine discrimination which few would care to purchase at the price. Yet a door stands wide open to all who care to come, and no earnest, sincere soul, who meets the requirements, ever receives a rebuff.
Để được nhận vào đặc ân làm một tiền đồn của tâm thức Ngài đòi hỏi một sự vô ngã và một sự tự hiến mà ít người chuẩn bị sẵn; để được thu hút vào trong hào quang của Ngài, sao cho hào quang của đệ tử tạo thành một phần không thể tách rời của hào quang nhóm, giả định một sự thanh khiết mà ít người có thể vun trồng; để được Chân sư lắng nghe và giành được quyền tiếp xúc với Ngài tùy ý đòi hỏi một sự nhạy cảm và một năng lực phân biện tinh tế mà ít người sẵn lòng mua bằng cái giá phải trả. Tuy nhiên, một cánh cửa vẫn mở rộng cho tất cả những ai muốn đến, và không một linh hồn nghiêm túc, chân thành nào, khi đáp ứng các đòi hỏi, lại từng bị xua đuổi.
There is no question at this time that those who are in any way advanced in evolution are having that evolution hastened as never before in the history of the world. The crisis is so grave and the need of the world so great, that those who can contact the inner side of life, who can even in a small way sense the vibrations of the senior disciples and the Elder Brothers of the race, and who can bring down the ideals, as known on the higher planes, are being very carefully, forcefully, yet strenuously trained. It is necessary that they should be enabled to act accurately and adequately as transmitters and interpreters.
Hiện nay không còn nghi ngờ gì rằng những ai đã tiến xa trong tiến hóa theo bất cứ cách nào đang được thúc đẩy tiến hóa nhanh hơn bao giờ hết trong lịch sử thế giới. Cuộc khủng hoảng nghiêm trọng đến thế và nhu cầu của thế giới lớn lao đến thế, đến nỗi những người có thể tiếp xúc với phía bên trong của sự sống, những người dù chỉ phần nào có thể cảm nhận các rung động của các đệ tử cao cấp và các Huynh Trưởng của nhân loại, và những người có thể đem xuống các lý tưởng như chúng được biết trên các cõi cao, đang được huấn luyện rất cẩn thận, mạnh mẽ, nhưng cũng đầy gian khổ. Cần phải làm cho họ có khả năng hành động chính xác và đầy đủ như những người truyền đạt và diễn giải.
I would like to point out certain factors and methods [175] which should be borne in mind in connection with inspirational writing and mediumship, and which have a bearing on the writing of such books as The Secret Doctrine, the Scriptures of the world and those transmitted volumes which potently affect the thought of the race. The interpretation of the process arises from many causes; the status of the writers can be overestimated or not sufficiently appreciated; the terms used by the transmitter being dependent upon his educational status may also be incorrect or give rise to misinterpretation. It is necessary, therefore, that some understanding of the process should be found.
Tôi muốn chỉ ra một số yếu tố và phương pháp [175] cần được ghi nhớ liên quan đến việc viết do cảm hứng và đồng tử thuật, và có liên quan đến việc viết những quyển sách như Giáo Lý Bí Nhiệm, các kinh sách của thế giới và những tập sách được truyền đạt vốn ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng của nhân loại. Việc diễn giải tiến trình này phát sinh từ nhiều nguyên nhân; địa vị của các tác giả có thể bị đánh giá quá cao hoặc không được đánh giá đầy đủ; các thuật ngữ mà người truyền đạt sử dụng, vì tùy thuộc vào trình độ giáo dục của y, cũng có thể không chính xác hoặc làm phát sinh sự diễn giải sai lầm. Vì vậy, cần phải có một sự thấu hiểu nào đó về tiến trình này.
Some transmitters work entirely on astral levels and their work is necessarily part of the great illusion. They are unconscious mediums and are unable to check the source from whence the teachings come; if they claim to know that source, they are frequently in error. Some receive teaching from discarnate entities of no higher evolution, and frequently of lower, than themselves. Some are simply abstracting the content of their own subconsciousnesses, and hence we have the beautiful platitudes, couched in Christian phraseology, and tinctured by the mystical writings of the past, which litter the desks of disciples, working consciously on the physical plane.
Một số người truyền đạt làm việc hoàn toàn trên các cấp độ cảm dục, và công việc của họ tất yếu là một phần của đại ảo tưởng. Họ là những đồng tử vô thức và không thể kiểm chứng nguồn gốc từ đó các giáo huấn đến; nếu họ tuyên bố biết nguồn ấy, họ thường sai lầm. Một số nhận giáo huấn từ các thực thể không còn xác thân, có mức tiến hóa không cao hơn, và thường thấp hơn, chính họ. Một số chỉ đơn giản rút ra nội dung từ tiềm thức của chính mình, và do đó chúng ta có những lời sáo ngữ đẹp đẽ, được đặt trong ngôn ngữ Cơ Đốc và nhuốm màu bởi các tác phẩm thần bí của quá khứ, chất đầy trên bàn làm việc của các đệ tử đang làm việc một cách hữu thức trên cõi hồng trần.
Some work only on mental levels, learning, through telepathy, that which the Elder Brothers of the race and their own souls have to impart. They tap the sources of knowledge stored in the egoic consciousness. They become aware of the knowledge stored up in the brains of disciples on the same ray as themselves. Some of them, being outposts of the Master’s consciousness, become also cognizant of His thought. Some use several of the methods, either consciously or unconsciously. When they work consciously, it is then possible for them to correlate the teaching given and, under the Law of Correspondences [176] and through the use of symbols (which they see through mental clairvoyance), to ascertain the accuracy of their teaching. Those who work unconsciously (I refer not to astral psychics), can use only trust and discrimination until they are further evolved. They must accept nothing that contradicts facts imparted through the Lodge’s great Messengers, and they must be ready to superimpose upon the modicum of knowledge which they possess a further structure of greater extent.
Một số chỉ làm việc trên các cấp độ trí tuệ, học qua viễn cảm những gì các Huynh Trưởng của nhân loại và linh hồn của chính họ phải truyền đạt. Họ chạm đến các nguồn tri thức được lưu giữ trong tâm thức chân ngã. Họ trở nên ý thức về tri thức được tích lũy trong bộ não của các đệ tử cùng cung với họ. Một số người trong họ, vì là những tiền đồn của tâm thức Chân sư, cũng trở nên biết được tư tưởng của Ngài. Một số sử dụng nhiều phương pháp, hoặc hữu thức hoặc vô thức. Khi họ làm việc một cách hữu thức, bấy giờ họ có thể tương quan giáo huấn được trao và, dưới Định luật Tương Ứng [176] cùng qua việc sử dụng các biểu tượng mà họ thấy bằng thông nhãn trí tuệ, xác định sự chính xác của giáo huấn mình. Những người làm việc vô thức, tôi không nói đến những nhà thông linh cảm dục, chỉ có thể dùng lòng tin và sự phân biện cho đến khi họ tiến hóa hơn nữa. Họ không được chấp nhận điều gì mâu thuẫn với các sự kiện được truyền đạt qua những Sứ giả vĩ đại của Thánh đoàn, và họ phải sẵn sàng đặt lên trên phần tri thức nhỏ bé mà họ sở hữu một cấu trúc rộng lớn hơn.
Each generation now should produce its seers. I like the word spelt “see-ers”, for to see is to know. The fault of all of you is that you see not; you perceive an angle, a point of vision, a partial aspect of the great fabric of truth, but all that lies hidden behind is occult to your three dimensional vision. It is necessary for those who want to act as true transmitters and intermediaries between the Knowers of the race and the “little ones” that they keep their eyes on the horizon and seek thus to extend their vision; that they hold steadily the inner realization that they already have and seek to increase its scope; that they hold on to the truth that all things are headed towards the revelation, and that the form matters not. They must seek pre-eminently to be dependable instruments, unswayed by passing storms. They must endeavor to remain free from depression, no matter what occurs; liberated from discouragement; with a keen sense of proportion; a right judgment in all things; a regulated life; a disciplined physical body and a whole-hearted devotion to humanity. Where these qualities are present, the Masters can begin to use Their destined workers; where they are absent, other instruments must be found.
Mỗi thế hệ hiện nay nên sản sinh ra những nhà thông nhãn của mình. Tôi thích hiểu từ ấy là “những người thấy”, vì thấy là biết. Lỗi của tất cả các bạn là các bạn không thấy; các bạn chỉ nhận biết một góc độ, một điểm nhìn, một phương diện phần nào của tấm thảm chân lý vĩ đại, nhưng tất cả những gì ẩn phía sau vẫn còn huyền ẩn đối với tầm nhìn ba chiều của các bạn. Điều cần thiết đối với những ai muốn hành động như những người truyền đạt chân chính và những trung gian giữa các thức giả của nhân loại và “những người bé nhỏ” là họ phải giữ mắt mình hướng về chân trời và nhờ đó tìm cách mở rộng tầm nhìn; họ phải giữ vững nhận thức nội tâm mà họ đã có và tìm cách gia tăng phạm vi của nó; họ phải bám giữ chân lý rằng mọi sự đang tiến về phía sự mặc khải, và hình tướng không quan trọng. Trước hết, họ phải tìm cách trở thành những khí cụ đáng tin cậy, không bị lay chuyển bởi những cơn bão thoáng qua. Họ phải cố gắng giữ mình thoát khỏi sự chán nản, bất kể điều gì xảy ra; thoát khỏi sự nhụt chí; với Ý thức về tỉ lệ sắc bén; phán đoán đúng đắn trong mọi việc; một đời sống điều hòa; một thể xác được kỷ luật và một sự sùng hiến trọn vẹn cho nhân loại. Nơi nào có những phẩm tính này, các Chân sư có thể bắt đầu sử dụng những người hoạt động đã được định sẵn của Các Ngài; nơi nào chúng vắng mặt, những khí cụ khác phải được tìm thấy.
Some people learn at night and regularly bring over into their physical brain consciousness the facts they need to know and the teachings they should transmit. Many methods are tried, suited to the nature of the aspirant [177] or chela. Some have brains that act telepathically as transmitters. I deal with safer and rarer methods which utilize the mental vehicle as the intermediary between the soul and the brain, or between the teacher and the disciple. Methods of communication on the astral level, such as the ouija board, the planchette pencil, automatic writing, the direct voice and statements made by the temporarily obsessed medium are not utilized as a rule by chelas, though the direct voice has had its use at times. The higher mental methods are more advanced and surer—even if rarer.
Một số người học vào ban đêm và đều đặn đem vào tâm thức bộ não hồng trần của mình những sự kiện họ cần biết và những giáo huấn họ nên truyền đạt. Nhiều phương pháp được thử nghiệm, phù hợp với bản chất của người chí nguyện [177] hoặc đệ tử. Một số có bộ não hoạt động theo viễn cảm như các máy truyền đạt. Tôi đề cập đến những phương pháp an toàn hơn và hiếm hơn, sử dụng hiện thể trí làm trung gian giữa linh hồn và bộ não, hoặc giữa huấn sư và đệ tử. Các phương pháp giao tiếp trên cấp độ cảm dục, như bàn cầu cơ, bút cầu cơ, viết tự động, tiếng nói trực tiếp và những lời tuyên bố do đồng tử tạm thời bị ám đưa ra, thông thường không được các đệ tử sử dụng, dù tiếng nói trực tiếp đôi lúc cũng đã có công dụng của nó. Các phương pháp trí tuệ cao hơn thì tiến bộ hơn và chắc chắn hơn, dù hiếm hơn.
The true transmitters from the higher egoic levels to the physical plane proceed in one or other of the following ways:
Những người truyền đạt chân chính từ các cấp độ chân ngã cao xuống cõi hồng trần tiến hành theo một trong những cách sau:
1. They write from personal knowledge, and therefore employ their concrete minds at the task of stating this knowledge in terms that will reveal the truth to those that have the eyes to see, and yet will conceal that which is dangerous from the curious and the blind. This is a hard task to accomplish, for the concrete mind expresses the abstract most inadequately and, in the task of embodying the truth in words, much of the true significance is lost.
1. Họ viết từ tri thức cá nhân, và do đó sử dụng trí cụ thể của mình trong nhiệm vụ diễn đạt tri thức ấy bằng những thuật ngữ sẽ mặc khải chân lý cho những ai có mắt để thấy, nhưng đồng thời che giấu điều nguy hiểm khỏi kẻ tò mò và mù lòa. Đây là một nhiệm vụ khó thực hiện, vì trí cụ thể diễn đạt cái trừu tượng một cách rất không đầy đủ, và trong nhiệm vụ hiện thân chân lý bằng lời, nhiều thâm nghĩa chân thật bị mất đi.
2. They write because they are inspired. Because of their physical equipment, their purity of life, their singleness of purpose, their devotion to humanity and the very karma of service itself, they have developed the capacity to touch the higher sources from which pure truth, or symbolic truth, flows. They can tap thought currents that have been set in motion by that great band of Contemplators, called Nirmanakayas, or those definite, specialized thought currents originated by one of the great staff of teachers. Their brains, being receptive transmitters, enable them to express these contacted thoughts on paper—the accuracy of the transmission being dependent upon the receptivity of the instrument (that is, [178] the mind and the brain) of the transmitter. In these cases, the form of words and the sentences are largely left to the writer. Therefore, the appropriateness of the terms used and the correctness of the phraseology will depend upon his mental equipment, his educational advantages, the extent of his vocabulary and his inherent capacity to understand the nature and quality of the imparted thought and ideas.
2. Họ viết vì họ được cảm hứng. Nhờ trang bị hồng trần của họ, sự thanh khiết của đời sống họ, mục đích nhất tâm của họ, sự sùng hiến của họ đối với nhân loại và chính nghiệp quả phụng sự, họ đã phát triển năng lực chạm đến các nguồn cao hơn, từ đó chân lý thanh khiết hoặc chân lý biểu tượng tuôn chảy. Họ có thể chạm đến các dòng tư tưởng đã được nhóm lớn những Đấng Chiêm ngưỡng, được gọi là các vị Hóa Thân, khởi động, hoặc những dòng tư tưởng rõ ràng, chuyên biệt do một trong các đại huấn sư khởi phát. Bộ não của họ, vì là các cơ quan truyền đạt có khả năng tiếp nhận, giúp họ biểu lộ trên giấy những tư tưởng đã được tiếp xúc ấy, độ chính xác của sự truyền đạt tùy thuộc vào khả năng tiếp nhận của khí cụ, tức là [178] thể trí và bộ não, của người truyền đạt. Trong những trường hợp này, hình thức từ ngữ và câu văn phần lớn được để cho người viết. Vì vậy, sự thích hợp của các thuật ngữ được dùng và sự chính xác của lối diễn đạt sẽ tùy thuộc vào trang bị trí tuệ của y, các thuận lợi giáo dục của y, phạm vi từ vựng của y, và năng lực bẩm sinh của y trong việc thấu hiểu bản chất và phẩm tính của tư tưởng cùng các ý tưởng được truyền trao.
3. They write because of the development of the inner hearing. Their work is largely stenographic, yet is also partially dependent upon their standard of development and their education. A certain definite unfoldment of the centres, coupled with karmic availability, constitutes the basis of choice by the teacher on the subtler planes who seeks to impart a definite instruction and a specialized line of thought. The responsibility as to accuracy is therefore divided between the one who imparts the teaching and the transmitting agent. The physical plane agent must be carefully chosen and the accuracy of the imparted information, as expressed on the physical plane, will depend upon his willingness to be used, his positive mental polarization, and his freedom from astralism. To this must be added the fact that the better educated a man may be, the wider his range of knowledge and scope of world interests, the easier it will be for the teacher on the inner side to render, through his agency, the knowledge to be imparted. Frequently the dictated data may be entirely foreign to the receiver. He must have a certain amount, therefore, of education, and be himself a profound seeker of truth before he will be chosen to be the recipient of teachings that are intended for the general public or for esoteric use. Above everything else, he must have learnt through meditation to focus himself on the mental plane. Similarity of vibration and of interests hold the clue to the choice of a transmitter. [179] Note that I say; similarity of vibration and of interests and not equality of vibration and of interests.
3. Họ viết nhờ sự phát triển của thính giác bên trong. Công việc của họ phần lớn mang tính tốc ký, tuy cũng phần nào tùy thuộc vào mức độ phát triển và nền giáo dục của họ. Một sự khai mở rõ ràng nào đó của các trung tâm, kết hợp với khả năng theo nghiệp quả, tạo thành nền tảng cho sự lựa chọn của huấn sư trên các cõi tinh vi hơn, khi vị ấy tìm cách truyền trao một huấn thị rõ ràng và một đường lối tư tưởng chuyên biệt. Do đó, trách nhiệm về sự chính xác được chia giữa người truyền trao giáo huấn và tác nhân truyền đạt. Tác nhân trên cõi hồng trần phải được chọn lựa cẩn thận, và độ chính xác của thông tin được truyền trao, như được biểu lộ trên cõi hồng trần, sẽ tùy thuộc vào sự sẵn lòng được sử dụng của y, sự phân cực trí tuệ tích cực của y, và sự tự do của y khỏi khuynh hướng cảm dục. Thêm vào đó phải kể đến sự kiện rằng một người càng được giáo dục tốt, phạm vi tri thức và tầm quan tâm thế giới của y càng rộng, thì huấn sư ở phía bên trong càng dễ chuyển đạt, qua trung gian của y, tri thức cần được truyền trao. Thường khi dữ liệu được đọc truyền có thể hoàn toàn xa lạ với người tiếp nhận. Vì vậy, y phải có một mức độ giáo dục nào đó, và chính y phải là một người tìm kiếm chân lý sâu xa trước khi y được chọn làm người tiếp nhận các giáo huấn dành cho công chúng nói chung hoặc cho việc sử dụng nội môn. Trên hết mọi điều, y phải đã học qua tham thiền cách tập trung chính mình trên cõi trí. Sự tương đồng về rung động và về mối quan tâm nắm giữ chìa khóa cho việc lựa chọn một người truyền đạt. [179] Hãy lưu ý rằng tôi nói: sự tương đồng về rung động và về mối quan tâm, chứ không phải sự bằng nhau về rung động và về mối quan tâm.
This form of work might be divided into three methods: There is first the higher clairaudience that speaks directly from mind to mind. This is not exactly telepathy but a form of direct hearing. The teacher will speak to the disciple as person to person. A conversation is therefore carried on entirely on mental levels with the higher faculties as the focusing point. The use of the head centres is involved and they must both be vivified before this method can be employed. In the astral body the centres corresponding to the physical have to be awakened before astral psychism is possible. The work that I refer to here involves a corresponding vivification in the mental body counterparts.
Hình thức công việc này có thể được chia thành ba phương pháp: Trước hết có thông nhĩ cao, nói trực tiếp từ trí này sang trí khác. Đây không hẳn là viễn cảm mà là một hình thức nghe trực tiếp. Huấn sư sẽ nói với đệ tử như người với người. Vì vậy, một cuộc đối thoại được tiến hành hoàn toàn trên các cấp độ trí tuệ, với các quan năng cao hơn làm điểm tập trung. Việc sử dụng các trung tâm đầu có liên quan, và cả hai phải được tiếp sinh lực trước khi phương pháp này có thể được sử dụng. Trong thể cảm dục, các trung tâm tương ứng với các trung tâm hồng trần phải được đánh thức trước khi thông linh cảm dục có thể xảy ra. Công việc mà tôi đề cập ở đây liên quan đến một sự tiếp sinh lực tương ứng trong các đối phần của thể trí.
Secondly, we have telepathic communication. This is the registry in the physical brain consciousness of information imparted:
Thứ hai, chúng ta có Giao tiếp viễn cảm. Đây là việc ghi nhận trong tâm thức bộ não hồng trần thông tin được truyền đạt:
a. Direct from Master to pupil; from disciple to disciple; from student to student.
a. Trực tiếp từ Chân sư đến môn sinh; từ đệ tử đến đệ tử; từ đạo sinh đến đạo sinh.
b. From Master or disciple to the ego and thence to the personality, via the atomic sub-planes. You will note therefore that only those in whose bodies atomic sub-plane matter is found can work this way. Safety and accuracy lie in this equipment.
b. Từ Chân sư hoặc đệ tử đến chân ngã và từ đó đến phàm ngã, qua các cõi phụ nguyên tử. Vì vậy, các bạn sẽ lưu ý rằng chỉ những ai trong các thể của họ có chất liệu cõi phụ nguyên tử mới có thể làm việc theo cách này. Sự an toàn và chính xác nằm trong trang bị này.
c. From ego to ego via the causal body and transmitted direct according to the preceding method or stored up to work through gradually and at need.
c. Từ chân ngã đến chân ngã qua thể nguyên nhân, và được truyền đạt trực tiếp theo phương pháp trước, hoặc được tích trữ để tác động dần dần và khi cần.
Thirdly, we have inspiration. This involves another aspect of development. Inspiration is analogous to mediumship, but is entirely egoic. It utilizes the mind as the medium of transmission to the brain of that which the soul knows. Mediumship usually describes the process when confined entirely to the astral levels. On the egoic plane this involves inspiration. Ponder on this explanation for it explains much. Mediumship is dangerous. [180] Why is this so? Because the mental body is not involved and so the soul is not in control. The medium is an unconscious instrument, he is not himself the controlling factor; he is controlled. Frequently also the discarnate entities who employ this method of communication, utilizing the brain or voice apparatus of the medium, are not highly evolved, and are quite incapable of employing mental plane methods.
Thứ ba, chúng ta có cảm hứng. Điều này bao hàm một phương diện phát triển khác. Cảm hứng tương tự như trạng thái đồng tử, nhưng hoàn toàn thuộc về chân ngã. Nó sử dụng thể trí như trung gian truyền đạt đến bộ não những gì linh hồn biết. Trạng thái đồng tử thường mô tả tiến trình khi nó hoàn toàn bị giới hạn trong các cấp độ cảm dục. Trên cõi chân ngã, điều này bao hàm cảm hứng. Hãy suy ngẫm về lời giải thích này, vì nó giải thích được nhiều điều. Trạng thái đồng tử là nguy hiểm. [180] Tại sao lại như vậy? Vì thể trí không tham dự, nên linh hồn không nắm quyền kiểm soát. Đồng tử là một công cụ vô thức; y không phải là yếu tố kiểm soát; y bị kiểm soát. Thường khi, các thực thể đã lìa xác sử dụng phương pháp giao tiếp này, bằng cách dùng bộ não hoặc bộ máy phát âm của đồng tử, cũng không tiến hoá cao, và hoàn toàn không có khả năng dùng các phương pháp thuộc cõi trí.
Some people combine the method of inspiration and of receiving instruction along various lines and, when this is the case, great accuracy of transmission is found. Occasionally again, as in the case of H. P. B. you have deep knowledge, ability to be inspired and mental clairaudience combined. When this is the case you have a rare and useful instrument for the aiding of humanity.
Một số người kết hợp phương pháp cảm hứng với việc tiếp nhận giáo huấn theo nhiều đường lối khác nhau; và khi điều này xảy ra, sự truyền đạt có độ chính xác lớn. Đôi khi nữa, như trong trường hợp của H. P. B., các bạn có sự kết hợp giữa tri thức sâu xa, khả năng được cảm hứng và thông nhĩ trí tuệ. Khi điều này xảy ra, các bạn có một công cụ hiếm có và hữu ích để trợ giúp nhân loại.
Inspiration originates on the higher levels; it presupposes a very high point in evolution, for it involves the egoic consciousness and necessitates the use of atomic matter, thus opening up a wide range of communicators. It spells safety. It should be remembered that the soul is always good; it may lack knowledge in the three worlds and in this way be deficient; but it harbors no evil. Inspiration is always safe, whereas mediumship is always to be avoided. Inspiration may involve telepathy, for the person inspiring may do three things:
Cảm hứng bắt nguồn từ các cấp độ cao hơn; nó giả định một điểm tiến hoá rất cao, vì nó bao hàm tâm thức chân ngã và đòi hỏi việc sử dụng vật chất nguyên tử, nhờ đó mở ra một phạm vi rộng lớn các nguồn giao tiếp. Nó hàm ý sự an toàn. Cần nhớ rằng linh hồn luôn luôn thiện; linh hồn có thể thiếu tri thức trong ba cõi giới và theo cách ấy có thể còn khiếm khuyết; nhưng nó không chứa chấp điều ác. Cảm hứng luôn luôn an toàn, trong khi trạng thái đồng tử luôn luôn cần tránh. Cảm hứng có thể bao hàm viễn cảm, vì người truyền cảm hứng có thể làm ba điều:
a. He may use the brain of the appointed channel, throwing thoughts into it.
a. Y có thể sử dụng bộ não của kênh đã được chỉ định, ném các tư tưởng vào đó.
b. He may occupy his disciple’s body, the latter standing aside, consciously, in his subtler bodies, but surrendering his physical body.
b. Y có thể chiếm lấy thể xác của đệ tử mình, trong khi người sau đứng sang một bên, một cách hữu thức, trong các thể vi tế hơn của mình, nhưng nhường lại thể xác của mình.
c. A third method is one of a temporary fusing, if I might so call it, —an intermingling when the user and the used alternate or supplement, as needed, to do the appointed work. I cannot explain more clearly.
c. Phương pháp thứ ba là một sự dung hợp tạm thời, nếu Tôi có thể gọi như vậy, — một sự hòa trộn trong đó người sử dụng và người được sử dụng thay phiên nhau hoặc bổ sung cho nhau, tùy nhu cầu, để thực hiện công việc đã được chỉ định. Tôi không thể giải thích rõ hơn.
4. They write what they see. This method is not of such a high order. You will note that in the first case [181] you have wisdom or availability on buddhic or intuitional levels; in the second case you have transmission from the causal body, from the higher mental levels; in the third case you have sufficient development to enable the aspirant to receive dictation. In the fourth case, you have the ability to read in the astral light but frequently no ability to differentiate between that which is past, that which is, and that which will be. Therefore you have illusion and inaccuracy. This is a method, however, sometimes used but—unless directly used under stimulation applied by a Master—it is liable to be most misleading, as is its corollary, astral clairaudience. It is the method of mental clairvoyance, and requires a trained interpreting mind, which is rare indeed to find.
4. Họ viết những gì họ thấy. Phương pháp này không thuộc một cấp độ cao như vậy. Các bạn sẽ lưu ý rằng trong trường hợp thứ nhất [181] các bạn có minh triết hoặc khả năng sẵn có trên các cấp độ Bồ đề hay trực giác; trong trường hợp thứ hai, các bạn có sự truyền đạt từ thể nguyên nhân, từ các cấp độ thượng trí; trong trường hợp thứ ba, các bạn có sự phát triển đủ để giúp người chí nguyện tiếp nhận sự đọc cho chép. Trong trường hợp thứ tư, các bạn có khả năng đọc trong ánh sáng cảm dục, nhưng thường không có khả năng phân biệt giữa điều đã qua, điều đang là, và điều sẽ đến. Do đó các bạn có ảo tưởng và sự thiếu chính xác. Tuy nhiên, đây là một phương pháp đôi khi được sử dụng, nhưng — trừ phi được dùng trực tiếp dưới sự kích thích do một Chân sư áp dụng — nó rất dễ gây lầm lạc, cũng như hệ quả của nó là thông nhĩ cảm dục. Đó là phương pháp thông nhãn trí tuệ, và đòi hỏi một thể trí diễn giải đã được huấn luyện, điều quả thật hiếm gặp.
In all these cases that I have cited error may creep in owing to physical limitation and the handicap of words, but in the case of those who write from personal knowledge the errors in expression will be of no real moment; whilst in the second and third cases the errors will be dependent upon the point in evolution of the transmitting agent. If, however, he couples intelligence, devotion and service, with his capacity to receive and hear, he will soon correct the errors himself and his understanding will grow.
Trong tất cả các trường hợp Tôi đã nêu, sai lầm có thể len vào do giới hạn hồng trần và sự bất lợi của ngôn từ; nhưng trong trường hợp những người viết từ tri thức cá nhân, các sai lầm trong cách diễn đạt sẽ không có ý nghĩa thực sự; còn trong trường hợp thứ hai và thứ ba, các sai lầm sẽ tùy thuộc vào điểm tiến hoá của tác nhân truyền đạt. Tuy nhiên, nếu y kết hợp trí tuệ, sự sùng tín và phụng sự với khả năng tiếp nhận và nghe của mình, y sẽ sớm tự sửa chữa các sai lầm, và sự thấu hiểu của y sẽ tăng trưởng.
Later two new methods will be employed which will facilitate the transmission of truth from the inner side to the outer plane. Precipitated writing will be given to those who can be trusted, but the time is not yet for its general use. It will be necessary to wait until the work of the esoteric schools has reached a more definite phase of development. Conditions as yet are not appropriate, but humanity is urged to be ready and open-minded and prepared for this development. Later will come the power to materialize thought-forms. People will come into incarnation who will have the ability temporarily to create and vitalize these thought-forms, and [182] so enable the general public to see them. The time, however, is not yet. There is too much fear, and not enough experience of truth in the world. More knowledge must be acquired as to the nature of thought and of matter, and this must be followed experimentally by those with acute trained minds, a high rate of vibration, and bodies built of the finest matter. The attainment of this will involve discipline, pain, self-abnegation and abstinence. See you to it.
Về sau, hai phương pháp mới sẽ được sử dụng, giúp việc truyền đạt chân lý từ phía bên trong ra cõi bên ngoài trở nên dễ dàng hơn. Chữ viết ngưng tụ sẽ được ban cho những người có thể được tin cậy, nhưng thời điểm chưa đến để nó được sử dụng rộng rãi. Cần phải chờ cho đến khi công việc của các trường huyền bí đạt tới một giai đoạn phát triển rõ ràng hơn. Các điều kiện hiện nay chưa thích hợp, nhưng nhân loại được thúc giục hãy sẵn sàng, cởi mở trong trí tuệ và chuẩn bị cho sự phát triển này. Về sau sẽ đến quyền năng hiện hình các hình tư tưởng. Những người sẽ lâm phàm có khả năng tạm thời tạo ra và tiếp sinh lực cho các hình tư tưởng này, và [182] nhờ đó giúp công chúng nói chung có thể thấy chúng. Tuy nhiên, thời điểm chưa đến. Có quá nhiều sợ hãi, và chưa đủ kinh nghiệm về chân lý trong thế gian. Cần phải đạt được nhiều tri thức hơn về bản chất của tư tưởng và của vật chất, và điều này phải được theo đuổi bằng thực nghiệm bởi những người có thể trí sắc bén đã được huấn luyện, có mức rung động cao, và có các thể được kiến tạo bằng vật chất tinh anh nhất. Việc đạt tới điều này sẽ bao hàm kỷ luật, đau đớn, sự từ bỏ bản thân và tiết chế. Các bạn hãy chú tâm thực hiện điều đó.
The group of Teachers with whom the average aspirants and probationary disciples may be in touch on the mental plane are but men of like passions but with a longer experience upon the path and a wiser control of themselves. They do not work with aspirants because They personally like or care for them, but because the need is great and They seek those whom They can train. The attitude of mind that They look for is that of teachableness and the ability to record and refrain from questioning until more is known. Then the aspirant is urged to question everything. May I remind you of the words of one Teacher who said, “Know us for sane and balanced men who teach as we taught on earth, not flattering our pupils but disciplining them. We lead them on, not forcing them forward by feeding their ambitions by promises of power, but giving them information and leading them to use it in their work, knowing that right use of knowledge leads to experience and achievement of the goal.”
Nhóm các Huấn sư mà những người chí nguyện trung bình và các đệ tử dự bị có thể tiếp xúc trên cõi trí chỉ là những con người có cùng những cảm xúc như họ, nhưng có kinh nghiệm lâu dài hơn trên Đường Đạo và có sự tự chủ minh triết hơn. Các Ngài không làm việc với những người chí nguyện vì Các Ngài thích hoặc quan tâm đến họ về mặt cá nhân, mà vì nhu cầu rất lớn và Các Ngài tìm kiếm những người có thể được huấn luyện. Thái độ trí tuệ mà Các Ngài tìm kiếm là khả năng học hỏi, khả năng ghi nhận và kiềm chế không chất vấn cho đến khi biết nhiều hơn. Khi đó, người chí nguyện được thúc giục hãy chất vấn mọi điều. Tôi xin nhắc các bạn những lời của một Huấn sư đã nói: “Hãy biết chúng tôi là những người lành mạnh và quân bình, giảng dạy như chúng tôi đã giảng dạy trên Trái Đất, không tâng bốc học trò của mình mà kỷ luật họ. Chúng tôi dẫn họ tiến lên, không ép họ tiến tới bằng cách nuôi dưỡng tham vọng của họ bằng những lời hứa hẹn về quyền năng, mà trao cho họ thông tin và dẫn họ sử dụng nó trong công việc của họ, vì biết rằng việc sử dụng tri thức đúng đắn đưa đến kinh nghiệm và thành tựu mục tiêu.”
How often does one find a student more occupied with the Master and what He will do than he is with his own side of the question! And yet the fitting of himself for service and the equipping of himself for useful cooperation is, or should be, his main preoccupation.
Biết bao lần người ta thấy một đạo sinh quan tâm đến Chân sư và những gì Ngài sẽ làm hơn là quan tâm đến phần việc của chính mình trong vấn đề ấy! Thế nhưng, việc chuẩn bị chính y cho phụng sự và trang bị chính y để hợp tác hữu ích mới là, hoặc phải là, mối bận tâm chính của y.
Inquiry about the Master is more interesting than inquiry about the needed qualifications for discipleship. Interest for the data available in relation to the Adepts is more potent than the steadfast investigation into limitations [183] and disabilities which should engross the aspirant’s attention. Curiosity as to the habits and methods of specific Masters and Their ways of handling Their disciples is more prone to be displayed than patient application to right habits and ways of work in the life of the would-be disciple. All these matters are side issues and only handicap and limit, and one of the first things we advise one who would enter into communication with the Masters is to take his eyes off those things which concern him not, focus his attention on the needed steps and stages which should demonstrate in his life, and eliminate those wasted moments, moods and thought periods which so often occupy the major part of his thought life.
Việc tìm hiểu về Chân sư thú vị hơn việc tìm hiểu về những phẩm tính cần thiết cho địa vị đệ tử. Sự quan tâm đến dữ kiện sẵn có liên quan đến các Chân sư mạnh mẽ hơn việc bền bỉ khảo sát những hạn chế [183] và khiếm khuyết lẽ ra phải chiếm trọn sự chú ý của người chí nguyện. Sự tò mò về các thói quen và phương pháp của những Chân sư cụ thể, cùng cách Các Ngài xử lý các đệ tử của Các Ngài, dễ được biểu lộ hơn là sự kiên nhẫn áp dụng vào các thói quen đúng đắn và các phương cách làm việc đúng đắn trong đời sống của người muốn trở thành đệ tử. Tất cả những điều này đều là vấn đề phụ, chỉ gây trở ngại và giới hạn; và một trong những điều đầu tiên chúng tôi khuyên người muốn bước vào giao tiếp với các Chân sư là hãy rời mắt khỏi những điều không liên quan đến y, tập trung sự chú ý vào các bước và giai đoạn cần thiết phải được thể hiện trong đời sống y, và loại bỏ những khoảnh khắc, tâm trạng và thời kỳ tư tưởng bị lãng phí, vốn rất thường chiếm phần lớn đời sống tư tưởng của y.
When a Master seeks to find those fitted to be instructed and taught by Him, He looks for three things first of all. Unless these are present, no amount of devotion or aspiration, and no purity of life and mode of living suffices. It is essential that all aspirants should grasp these three factors and so save themselves much distress of mind and wasted motion.
Khi một Chân sư tìm kiếm những người thích hợp để được Ngài giáo huấn và dạy dỗ, trước hết Ngài tìm kiếm ba điều. Nếu ba điều này không hiện diện, thì không mức độ sùng tín hay khát vọng nào, cũng như không sự thanh khiết nào trong đời sống và cách sống, là đủ. Điều thiết yếu là mọi người chí nguyện phải nắm vững ba yếu tố này, nhờ đó tự cứu mình khỏi nhiều đau khổ trí tuệ và chuyển động lãng phí.
1. The Master looks for the light in the head.
1. Chân sư tìm kiếm ánh sáng trong đầu.
2. He investigates the karma of the aspirant.
2. Ngài khảo sát nghiệp quả của người chí nguyện.
3. He notes his service in the world.
3. Ngài ghi nhận sự phụng sự của y trong thế gian.
Unless there is indication that the man is what is termed esoterically “a lighted lamp” it is useless for the Master to waste His time. The light in the head, when present, is indicative of:
Nếu không có dấu hiệu cho thấy con người là điều mà một cách huyền bí được gọi là “một ngọn đèn được thắp sáng”, thì Chân sư sẽ vô ích khi lãng phí thời gian của Ngài. Ánh sáng trong đầu, khi hiện diện, là dấu hiệu của:
a. The functioning to a greater or less extent of the pineal gland, which is (as is well known) the seat of the soul and the organ of spiritual perception. It is in this gland that the first physiological changes take place incident upon soul contact and this contact is brought about through definite work along meditation lines, mind control, and the inflow of spiritual force.
a. Sự hoạt động, ở mức độ lớn hơn hoặc nhỏ hơn, của tuyến tùng, vốn là — như đã biết rõ — trụ sở của linh hồn và cơ quan của tri giác tinh thần. Chính trong tuyến này, những biến đổi sinh lý đầu tiên xảy ra do tiếp xúc với linh hồn; và sự tiếp xúc này được tạo ra nhờ công việc xác định theo các đường lối tham thiền, kiểm soát thể trí, và luồng tuôn vào của mãnh lực tinh thần.
[184]
[184]
b. The aligning of the man on the physical plane with his ego, soul or higher self, on the mental plane and the subordination of the physical plane life and nature to the impress and control of the soul. This is covered sufficiently in the first two or three chapters of Letters on Occult Meditation and these should be studied by aspirants.
b. Sự chỉnh hợp của con người trên cõi hồng trần với chân ngã, linh hồn hay chân ngã của y trên cõi trí, và sự đặt đời sống cũng như bản chất trên cõi hồng trần dưới ấn tượng và sự kiểm soát của linh hồn. Điều này đã được đề cập đầy đủ trong hai hoặc ba chương đầu của Thư về Tham Thiền Huyền Bí, và những chương này cần được người chí nguyện nghiên cứu.
c. The downflow of force via the sutratma, magnetic cord, or thread from the soul to the brain via the mind body. The whole secret of spiritual vision, correct perception and right contact lies in the proper appreciation of the above statement, and therefore the Yoga Sutras of Patanjali are ever the text-book of disciples, initiates and adepts, for therein are found those rules and methods which bring the mind under control, stabilize the astral body and so develop and strengthen the thread soul that it can and does become a veritable channel of communication between the man and his ego. The light of illumination streams down into the brain cavity and throws into objectivity three fields of knowledge. This is often forgotten and hence the undue distress and premature interpretations of the partially illuminated disciple or probationer.
c. Dòng mãnh lực tuôn xuống qua sutratma, dây từ tính, hay sợi dây từ linh hồn đến bộ não qua thể trí. Toàn bộ bí mật của tầm nhìn tinh thần, tri giác đúng đắn và tiếp xúc đúng đắn nằm trong sự thấu hiểu đúng mức lời phát biểu trên; và vì vậy Yoga Sutras của Patanjali luôn là sách giáo khoa của các đệ tử, điểm đạo đồ và chân sư, vì trong đó có các quy luật và phương pháp đưa thể trí vào dưới sự kiểm soát, ổn định thể cảm dục, và nhờ đó phát triển cũng như củng cố sợi dây linh hồn để nó có thể và thật sự trở thành một kênh giao tiếp chân thực giữa con người và chân ngã của y. Ánh sáng soi sáng tuôn xuống vào khoang não và đưa ba lĩnh vực tri thức ra thành khách quan. Điều này thường bị quên lãng, và từ đó phát sinh sự đau khổ quá mức cùng những diễn giải non sớm của đệ tử hoặc người dự bị chỉ được soi sáng một phần.
The light first throws into relief and brings into the foreground of consciousness those thought-forms and entities which depict the lower life, and which (in their aggregate) form the Dweller on the Threshold.
Trước hết, ánh sáng làm nổi bật và đưa lên tiền cảnh của tâm thức những hình tư tưởng và thực thể mô tả đời sống thấp, và những điều này, trong tổng thể của chúng, tạo thành Kẻ Chận Ngõ.
Thus the first thing of which the aspirant becomes aware is that which he knows to be undesirable and the revelation of his own unworthiness and limitations, and the undesirable constituents of his own aura burst on his vision. The darkness which is in him is intensified by the light which glimmers faintly from the centre of his being and frequently he despairs of himself and descends into the depths of depression. All mystics bear witness to this and it is a period which must be [185] lived through until the pure light of day drives all shadows and darkness away and little by little the life is brightened and lightened until the sun in the head is shining in all its glory.
Như vậy, điều đầu tiên mà người chí nguyện nhận biết là điều y biết là không đáng mong muốn, cùng sự mặc khải về sự bất xứng và các giới hạn của chính y; và những thành phần không đáng mong muốn trong chính hào quang của y bùng hiện trước tầm nhìn của y. Bóng tối ở trong y được tăng cường bởi ánh sáng le lói từ trung tâm bản thể của y, và thường khi y tuyệt vọng về chính mình, rơi xuống những vực sâu của trầm uất. Tất cả các nhà thần bí đều làm chứng cho điều này; và đó là một giai đoạn phải được [185] sống qua cho đến khi ánh sáng tinh khiết của ban ngày xua tan mọi bóng râm và bóng tối, và từng chút một đời sống được làm sáng lên, nhẹ đi, cho đến khi mặt trời trong đầu chiếu rạng trong toàn bộ vinh quang của nó.
d. Finally, the light in the head is indicative of the finding of the Path and there remains then for the man to study and understand the technique whereby the light is centralized, intensified, entered and eventually becomes that magnetic line (like unto a spider’s thread) which can be followed back until the source of the lower manifestation is reached and the soul consciousness is entered. The above language is symbolic and yet vitally accurate but is expressed thus in order to convey information to those who know, and protect those who as yet know not.
d. Cuối cùng, ánh sáng trong đầu là dấu hiệu cho thấy Đường Đạo đã được tìm thấy; và khi đó con người còn phải nghiên cứu và thấu hiểu kỹ thuật nhờ đó ánh sáng được tập trung, tăng cường, đi vào, và cuối cùng trở thành đường từ tính ấy — giống như sợi tơ nhện — có thể được lần ngược trở lại cho đến khi nguồn của biểu hiện thấp được đạt tới và tâm thức linh hồn được bước vào. Ngôn ngữ trên là biểu tượng, nhưng vẫn chính xác một cách thiết yếu; tuy nhiên, nó được diễn đạt như vậy nhằm truyền đạt thông tin cho những ai biết, và bảo vệ những ai hiện chưa biết.
“The path of the just is as a shining Light” and yet at the same time a man has to become that path itself. He enters the light and becomes the light and functions then as a lamp set in a dark place, carrying illumination to others and lighting the way before them.
“Con đường của người công chính như Ánh sáng chói rạng”, và đồng thời con người phải trở thành chính con đường ấy. Y đi vào ánh sáng và trở thành ánh sáng, rồi hoạt động như một ngọn đèn đặt nơi tối tăm, mang sự soi sáng đến cho người khác và chiếu sáng con đường trước mặt họ.
The next point that a Master has to consider before admitting a man into His group is whether or no such a step is karmically possible or whether there exist in a man’s record those conditions which negate his admission in this life.
Điểm kế tiếp mà một Chân sư phải xem xét trước khi nhận một người vào nhóm của Ngài là liệu bước ấy có khả thi về mặt nghiệp quả hay không, hoặc liệu trong hồ sơ của người ấy có tồn tại những điều kiện phủ nhận việc y được nhận vào trong đời này hay không.
There are three main factors to be considered separately and in their relation to each other.
Có ba yếu tố chính cần được xem xét riêng rẽ và trong mối liên hệ với nhau.
First, are there such karmic obligations in a man’s present life as would render it impossible for him to function as a disciple? In this connection it must be carefully borne in mind that a man can become a disciple and merit the attention of a Master only when his life counts for something in the world of men, when he is an influence in his sphere, and when he is moulding and acting upon the minds and hearts of other men.
Trước hết, trong đời sống hiện tại của một người có những nghĩa vụ nghiệp quả nào khiến y không thể hoạt động như một đệ tử hay không? Trong mối liên hệ này, cần ghi nhớ cẩn thận rằng một người chỉ có thể trở thành đệ tử và xứng đáng với sự chú ý của một Chân sư khi đời sống của y có giá trị nào đó trong thế giới loài người, khi y là một ảnh hưởng trong phạm vi của mình, và khi y đang uốn nắn cũng như tác động lên trí tuệ và trái tim của những người khác.
Until that is the case it is waste of a Master’s time to [186] personally deal with him, for he can be adequately helped in other ways and has, for instance, much knowledge from books and teachers which is as yet theory and not practice, and much experience to pass through under the guidance of his own ego, the Master in his heart. When a man is a disciple he is one because he can be used for working out the plan of the Hierarchy, and can be influenced to materialize those endeavours which are planned to enable humanity to make the needed forward steps. This involves (in his physical plane life) time, and thought, right circumstance, and other considerations and it is quite possible for a man to have reached the stage from the character standpoint, where he merits the recognition of a Master, and yet have obligations and duties to work through which would handicap him for active service in some particular life. This the Master has to consider and this a man’s own ego also considers.
Cho đến khi điều ấy xảy ra, Chân sư sẽ lãng phí thời gian nếu [186] đích thân đề cập đến y, vì y có thể được trợ giúp đầy đủ bằng những cách khác; chẳng hạn, y có nhiều tri thức từ sách vở và các huấn sư, vốn cho đến nay vẫn là lý thuyết chứ chưa phải thực hành, và còn nhiều kinh nghiệm phải trải qua dưới sự hướng dẫn của chính chân ngã mình, vị Chân sư trong trái tim y. Khi một người là đệ tử, y là đệ tử vì y có thể được sử dụng để thực hiện Thiên Cơ của Thánh Đoàn, và có thể được ảnh hưởng để hiện hình những nỗ lực đã được hoạch định nhằm giúp nhân loại thực hiện những bước tiến cần thiết. Điều này bao hàm, trong đời sống trên cõi hồng trần của y, thời gian, tư tưởng, hoàn cảnh đúng đắn và những xét đoán khác; và hoàn toàn có thể có trường hợp một người đã đạt tới giai đoạn, xét từ quan điểm Tính cách, trong đó y xứng đáng được một Chân sư công nhận, nhưng vẫn có những nghĩa vụ và bổn phận phải hoàn tất, vốn sẽ cản trở y trong việc phụng sự tích cực ở một đời sống cụ thể nào đó. Điều này Chân sư phải xem xét, và chính chân ngã của người ấy cũng xem xét.
The result quite frequently at this time is that (perhaps unconsciously to the physical brain) a man will shoulder a great amount of experience, and undertake the working out of an abnormal amount of responsibility in one particular life, in order to free himself for service and chelaship in a later life. He works then at the equipping of himself for the next life, and at the patient performance of duty in his home, his circle of friends, and his business. He realises that from the egoic standpoint one life is but a short matter and soon gone and that by study, intelligent activity, loving service, and patient endurance, he is working out of those conditions which are preventing his prompt acceptance in a Master’s group.
Kết quả khá thường thấy vào lúc này là, có lẽ một cách vô thức đối với bộ não hồng trần, một người sẽ gánh lấy một lượng lớn kinh nghiệm, và đảm nhận việc thực hiện một lượng trách nhiệm bất thường trong một đời sống cụ thể, nhằm tự giải phóng cho phụng sự và địa vị đệ tử trong một đời sống sau. Khi ấy y làm việc để tự trang bị cho đời sống kế tiếp, và kiên nhẫn chu toàn bổn phận trong gia đình, trong vòng bạn bè và trong công việc của mình. Y nhận ra rằng, từ quan điểm chân ngã, một đời sống chỉ là một việc ngắn ngủi và sớm qua đi; và rằng bằng học hỏi, hoạt động thông minh, phụng sự đầy tình thương và chịu đựng kiên nhẫn, y đang thoát ra khỏi những điều kiện ngăn trở việc y được chấp nhận nhanh chóng vào nhóm của một Chân sư.
A Master also studies the condition of an aspirant’s physical body and of the subtler bodies to see whether in them are to be found states of consciousness which would hinder usefulness and act as obstacles. These conditions are likewise karmic and must be adjusted before his admission among other chelas becomes possible. A sick [187] physical body, an astral body prone to moods, emotions and psychic delusions, and a mental body uncontrolled or ill-equipped are all dangerous to the student unless straightened out and perfected. A chela is subjected constantly to the play of force coming to him from three main sources:
Một Chân sư cũng nghiên cứu tình trạng thể xác và các thể vi tế hơn của người chí nguyện, để xem trong chúng có những trạng thái tâm thức nào cản trở sự hữu dụng và hoạt động như chướng ngại hay không. Những điều kiện này cũng thuộc về nghiệp quả và phải được điều chỉnh trước khi việc y được nhận vào giữa các đệ tử khác trở nên khả thi. Một thể xác bệnh tật [187], một thể cảm dục dễ rơi vào tâm trạng, cảm xúc và những ảo tưởng thông linh, cùng một thể trí không được kiểm soát hoặc trang bị kém, tất cả đều nguy hiểm cho đạo sinh nếu chưa được chỉnh đốn và hoàn thiện. Một đệ tử thường xuyên chịu tác động của mãnh lực đến với y từ ba nguồn chính:
1. His own ego,
1. Chân ngã của chính y,
2. His Master,
2. Chân sư của y,
3. The group of co-disciples,
3. Nhóm các đệ tử đồng môn,
and unless he is strong, purified and controlled, these forces will serve but to stimulate undesirable conditions, to foster that which should be eliminated and to bring to the surface all the hidden weaknesses. That this has to be done inevitably is so, but much must be done along this line before admission into a group of disciples; otherwise much of the Master’s valuable time will perforce be given to the elimination and nullifying of the effects of the chela’s violent reactions on other chelas in the same group. It is better to wait and work gradually and intelligently oneself than force one’s way unprepared into lines of forces before one can handle either them or their consequences.
và nếu y không mạnh mẽ, thanh luyện và được kiểm soát, những mãnh lực này chỉ sẽ kích thích các tình trạng không đáng mong muốn, nuôi dưỡng điều cần phải loại bỏ và đưa lên bề mặt mọi yếu điểm ẩn giấu. Điều này chắc chắn phải được thực hiện, nhưng nhiều việc theo đường lối này cần phải được làm trước khi được nhận vào một nhóm đệ tử; nếu không, nhiều thời gian quý báu của Chân sư tất yếu sẽ phải dành cho việc loại bỏ và vô hiệu hóa các tác động do những phản ứng dữ dội của đệ tử đối với các đệ tử khác trong cùng nhóm. Tốt hơn là chờ đợi và tự mình làm việc dần dần, một cách thông minh, hơn là chưa chuẩn bị mà ép mình đi vào các đường mãnh lực trước khi có thể xử lý chúng hoặc các hậu quả của chúng.
Another factor that an adept has to consider is whether there are in incarnation those chelas with whom a man has to work and who are karmically linked to him by ancient ties and old familiarity in similar work.
Một yếu tố khác mà một chân sư phải xem xét là liệu hiện đang lâm phàm có những đệ tử mà một người phải làm việc cùng, những người liên kết nghiệp quả với y bằng những mối dây cổ xưa và sự quen thuộc lâu đời trong công việc tương tự hay không.
Sometimes it may be deemed wiser for a man to wait a little while before being permitted to step off the physical path until a life comes in which his own co-workers, keyed to his vibration, and accustomed to work with him, are also in physical bodies, for a Master’s group is entered in service to be rendered and specific work to be done, and not because a man is to receive a cultural training which will make him an adept some day. Chelas train themselves and when ready for any work a Master uses [188] them. They develop themselves and work out their own salvation and as step by step is taken their particular Master lays more and more responsibility upon them. He will train them in service technique, and in vibratory response to the Plan, but they learn to control themselves and to fit themselves for service.
Đôi khi, có thể được xem là khôn ngoan hơn nếu một người chờ đợi thêm một thời gian trước khi được phép bước ra khỏi con đường hồng trần, cho đến khi một đời sống đến trong đó các đồng sự của chính y, được điều chỉnh theo rung động của y và quen làm việc với y, cũng đang ở trong các thể xác; vì người ta bước vào nhóm của một Chân sư để phụng sự cần được thực hiện và công việc cụ thể cần được làm, chứ không phải vì một người sẽ nhận được sự huấn luyện văn hóa giúp y một ngày nào đó trở thành chân sư. Các đệ tử tự huấn luyện chính mình; và khi họ sẵn sàng cho bất cứ công việc nào, Chân sư sử dụng [188] họ. Họ phát triển chính mình và thực hiện sự giải thoát của chính mình; và khi từng bước được thực hiện, Chân sư riêng của họ đặt ngày càng nhiều trách nhiệm lên họ. Ngài sẽ huấn luyện họ về kỹ thuật phụng sự và về đáp ứng rung động đối với Thiên Cơ, nhưng họ học cách kiểm soát chính mình và làm cho mình thích hợp để phụng sự.
There are other karmic factors to be considered by a Master but these are the three paramount ones and of the most importance for aspirants to consider now. They are specified so that no true and earnest worker need be depressed and discouraged if he has no conscious link with the Master and is unaware of any affiliation with an esoteric group of chelas. It may not be because he is not fit. It may simply be because his ego has chosen this life to clear the decks for later action, to eliminate hindrances in one or other, or all of the three lower bodies, or to wait for that time when his admission may count the most.
Có những yếu tố nghiệp quả khác mà một Chân sư phải xem xét, nhưng ba yếu tố này là tối quan trọng và là điều quan trọng nhất để những người chí nguyện hiện nay suy xét. Chúng được nêu rõ để không một người hoạt động chân thành và đúng đắn nào phải buồn nản hay nản lòng nếu y không có liên hệ hữu thức với Chân sư và không biết đến bất cứ sự liên kết nào với một nhóm đệ tử huyền bí. Có thể không phải vì y không thích hợp. Có thể chỉ đơn giản là vì chân ngã của y đã chọn đời sống này để dọn sạch sàn tàu cho hành động về sau, để loại bỏ các chướng ngại trong một hoặc nhiều, hay trong cả ba thể thấp, hoặc để chờ thời điểm khi việc y được nhận vào có thể mang lại hiệu quả lớn nhất.
The third factor, that of service, for which the Master looks is one upon which the aspirant has the least to say and may very probably misinterpret. Spiritual ambition, the desire to function as the centre of a group, the longing to hear oneself speaking, teaching, lecturing, or writing are often wrongly interpreted by the aspirant as service. The Master looks not at a worker’s worldly force or status, not at the numbers of people who are gathered around his personality but at the motives which prompt his activity and at the effect of his influence upon his fellowmen. True service is the spontaneous outflow of a loving heart and an intelligent mind; it is the result of being in the right place and staying there; it is produced by the inevitable inflow of spiritual force and not by strenuous physical plane activity; it is the effect of a man’s being what he truly is, a divine Son of God, and not by the studied effect of his words or deeds. A true server gathers around him those whom it is his duty to serve [189] and aid by the force of his life and his spiritualised personality, and not by his claims or loud speaking. In self-forgetfulness he serves; in self-abnegation he walks the earth, and he gives no thought to the magnitude or the reverse of his accomplishment and has no pre-conceived ideas as to his own value or usefulness. He lives, serves, works and influences, asking nothing for the separated self.
Yếu tố thứ ba, tức phụng sự, mà Chân sư tìm kiếm là điều mà người chí nguyện ít có tiếng nói nhất và rất có thể diễn giải sai. Tham vọng tinh thần, mong muốn hoạt động như trung tâm của một nhóm, niềm khao khát được nghe chính mình nói, giảng dạy, thuyết trình hoặc viết lách, thường bị người chí nguyện diễn giải sai là phụng sự. Chân sư không nhìn vào mãnh lực hay địa vị thế gian của một người hoạt động, cũng không nhìn vào số người quy tụ quanh phàm ngã của y, mà nhìn vào các động cơ thúc đẩy hoạt động của y và tác động của ảnh hưởng của y lên đồng loại. Phụng sự chân chính là dòng tuôn trào tự phát của một trái tim đầy tình thương và một thể trí thông minh; nó là kết quả của việc ở đúng nơi và ở lại đó; nó được tạo ra bởi luồng tuôn vào tất yếu của mãnh lực tinh thần, chứ không phải bởi hoạt động căng thẳng trên cõi hồng trần; nó là hiệu quả của việc một người là điều y thật sự là — một Con thiêng liêng của Thượng đế — chứ không phải bởi hiệu quả được sắp đặt của lời nói hay hành động của y. Một người phụng sự chân chính quy tụ quanh mình những người mà y có bổn phận phụng sự [189] và trợ giúp bằng mãnh lực của đời sống mình và phàm ngã đã được tinh thần hóa của mình, chứ không bằng những tuyên bố hay lời nói ồn ào. Trong sự quên mình, y phụng sự; trong sự từ bỏ bản thân, y bước đi trên Trái Đất; và y không nghĩ đến tầm vóc lớn hay nhỏ của thành tựu mình, cũng không có những ý tưởng định sẵn về giá trị hay sự hữu dụng của chính mình. Y sống, phụng sự, làm việc và ảnh hưởng, không đòi hỏi điều gì cho bản ngã biệt lập.
When a Master sees this manifestation in a man’s life, as the result of the awakening of the inner light and the adjustment of his karmic obligations, then He sounds out a note and waits to see if the man recognises his own group note. On this recognition, he is admitted into his own group of co-workers, and can stand in the presence of his Master.
Khi một Chân sư thấy sự biểu hiện này trong đời sống của một người, như kết quả của sự thức tỉnh ánh sáng bên trong và sự điều chỉnh các nghĩa vụ nghiệp quả của y, khi ấy Ngài xướng lên một âm điệu và chờ xem người ấy có nhận ra âm điệu nhóm của chính mình hay không. Trên sự nhận ra này, y được nhận vào nhóm đồng sự của chính mình, và có thể đứng trước sự hiện diện của Chân sư mình.
Heart, Throat and Eye
Later, when the knowledge here conveyed is assimilated, the aspirant will come to an understanding of the true meaning of the heart, the throat, and the eye—which it is the object of the Guides of the race to stimulate into functioning activity at this time. We will therefore consider now:
Về sau, khi tri thức được truyền đạt ở đây được đồng hóa, người chí nguyện sẽ đi đến sự thấu hiểu ý nghĩa chân thật của tim, cổ họng và mắt — những điều mà các Đấng Dẫn Dắt nhân loại đang nhằm kích thích để đi vào hoạt động trong thời điểm này. Vì vậy, giờ đây chúng ta sẽ xem xét:
1. The heart centre, the throat centre, and the centre between the eyes.
1. Trung tâm tim, trung tâm cổ họng, và trung tâm giữa hai mắt.
2. Their awakening and co-ordination.
2. Sự thức tỉnh và phối hợp của chúng.
3. To what uses they will be put in the coming world cycle.
3. Những công dụng mà chúng sẽ được dùng đến trong chu kỳ thế giới sắp tới.
This subject is of vital importance to the modern aspirant, for the mechanism of the heart, the throat, and the eye—constituting part of the inner structure which he must learn to use—has to be mastered and consciously employed by him before any true creative work is possible. When I use the words ‘creative work’ I am speaking esoterically and am not referring to the valuable work [190] done by the artists of the world in their many lines of expression. Their efforts, to the seer, are indicative of an inner stirring, of an inner co-ordination and a motivated activity which will lead to true esoteric endeavour and to creative work on the subtler planes.
Chủ đề này có tầm quan trọng thiết yếu đối với người chí nguyện hiện đại, vì bộ máy của tim, cổ họng và mắt — cấu thành một phần của cấu trúc bên trong mà y phải học cách sử dụng — phải được y làm chủ và vận dụng một cách hữu thức trước khi bất cứ công việc sáng tạo chân chính nào có thể xảy ra. Khi Tôi dùng các từ “công việc sáng tạo”, Tôi đang nói một cách huyền bí và không ám chỉ công việc giá trị [190] được các nghệ sĩ của thế gian thực hiện trong nhiều đường lối biểu đạt của họ. Đối với nhà thông nhãn, các nỗ lực của họ là dấu hiệu của một sự khuấy động bên trong, một sự phối hợp bên trong và một hoạt động có động cơ, những điều sẽ dẫn tới nỗ lực huyền bí chân chính và công việc sáng tạo trên các cõi vi tế hơn.
I am assuming in the student an elementary knowledge of the vital body and of its force centres and I am assuming that these seven centres or lotuses have, theoretically, a place in his imagination. I use the word imagination with purposeful intent, for until there is knowledge and clear vision, imaginative assumption is a potent factor in bringing about the activity of the centres.
Tôi giả định nơi đạo sinh một tri thức sơ đẳng về thể sinh lực và các trung tâm mãnh lực của nó; và Tôi giả định rằng bảy trung tâm hay hoa sen này, về mặt lý thuyết, có một vị trí trong sự tưởng tượng của y. Tôi dùng từ sự tưởng tượng với ý định có chủ đích, vì cho đến khi có tri thức và tầm nhìn rõ ràng, sự giả định bằng tưởng tượng là một yếu tố mạnh mẽ trong việc đưa các trung tâm vào hoạt động.
Let us, for the sake of clarity, list these lotuses with their petal numbers, and their location. Their colours are immaterial at present from the standpoint of the student, for much that has been given out is erroneous or in the nature of a blind, and in any case, the esoteric colours are widely different from the exoteric.
Để rõ ràng, chúng ta hãy liệt kê các hoa sen này với số cánh hoa và vị trí của chúng. Từ quan điểm của đạo sinh, màu sắc của chúng hiện không quan trọng, vì nhiều điều đã được đưa ra là sai lầm hoặc mang tính che đậy; và trong mọi trường hợp, các màu sắc huyền bí khác xa với các màu sắc ngoại môn.
1. The base of the spine..............4 petals.
1. Đáy cột sống..............4 cánh hoa.
2. The sacral centre.....................6 petals.
2. Trung tâm xương cùng.....................6 cánh hoa.
3. The solar plexus centre...........10 petals.
3. Trung tâm tùng thái dương...........10 cánh hoa.
Diaphragm.
Cơ hoành.
4. Heart centre.............................12 petals.
4. Trung tâm tim.............................12 cánh hoa.
5. Throat centre...........................16 petals.
5. Trung tâm cổ họng...........................16 cánh hoa.
6. Centre between the eyebrows..2 petals.
6. Trung tâm giữa hai lông mày..2 cánh hoa.
7. Head centre..............................1000 petals.
7. Trung tâm đầu..............................1000 cánh hoa.
Next, let the student remember two important facts, which may be regarded as elementary and preliminary but which nevertheless have to be worked out into conscious realisation and become part of the purposed intent of the aspirant’s training. It is easy to generalise. It is difficult to realise. It is simple to grasp the informative intellectual data regarding the centres of force; it is most difficult to bring about the rearrangement of the forces flowing through these vortices, and to learn to function consciously through the higher centres, subordinating the [191] lower ones. This has to be done also without laying the emphasis upon the form aspect as is the case in many practices used to vitalise the centres. The two facts of importance are:
Kế tiếp, đạo sinh hãy nhớ hai sự kiện quan trọng, có thể được xem là sơ đẳng và mở đầu, nhưng dù vậy vẫn phải được khai triển thành sự chứng nghiệm hữu thức và trở thành một phần trong ý định có chủ đích của việc huấn luyện người chí nguyện. Khái quát hóa thì dễ. Chứng nghiệm thì khó. Nắm bắt dữ kiện trí năng mang tính thông tin về các trung tâm mãnh lực thì đơn giản; nhưng tạo ra sự sắp xếp lại các mãnh lực tuôn chảy qua những xoáy lực này, và học cách hoạt động hữu thức qua các trung tâm cao hơn, đặt các trung tâm [191] thấp dưới quyền phụ thuộc, là điều hết sức khó. Điều này cũng phải được thực hiện mà không đặt nhấn mạnh lên phương diện hình tướng, như trường hợp trong nhiều thực hành được dùng để tiếp sinh lực cho các trung tâm. Hai sự kiện quan trọng là:
1. The three centres below the diaphragm,
1. Ba trung tâm dưới cơ hoành,
a. Base of spine,
a. Đáy cột sống,
b. Sacral centre,
b. Trung tâm xương cùng,
c. Solar plexus centre,
c. Trung tâm tùng thái dương,
which are, at present, the most potent in average humanity and the most ‘alive’, require to be re-organised, re-oriented, and to be brought from a state of positivity into that of negativity.
vốn hiện nay là những trung tâm mạnh nhất nơi nhân loại trung bình và “sống động” nhất, cần được tái tổ chức, tái định hướng, và được đưa từ trạng thái dương tính sang trạng thái âm tính.
Equally, the four centres above the diaphragm,
Tương tự, bốn trung tâm trên cơ hoành,
a. The heart centre,
a. Trung tâm tim,
b. The throat centre,
b. Trung tâm cổ họng,
c. The centre between the eyebrows,
c. Trung tâm giữa hai lông mày,
d. The head centre,
d. Trung tâm đầu,
must be awakened and brought fr om a state of negativity into that of positivity.
phải được đánh thức và đưa từ trạng thái âm tính sang trạng thái dương tính.
This has to be brought about in two ways. First, by the transference of the positive energy of the lower centres into that of the higher, and secondly by the awakening of the head centre by the demonstration of the activity of the will. The first effect is produced by character building, and by the purification of the bodies, as used by the soul in the three worlds. The second is the result of meditation and the development of organised purpose, imposed by the will upon the daily life. Character building, clean living, controlled emotional reactions, and right thinking are the platitudes of all religious systems and have lost weight from our very familiarity with them. It is not easy to remember that as we live purely and rightly, we are verily and indeed working with forces, subjecting energies to our needs, subordinating [192] elemental lives to the requirements of spiritual being, and bringing into activity a mechanism and a vital structure which has hitherto been only latent and quiescent. Nevertheless, it remains a fact that when the energies, latent at the base of the spine, are carried to the head and are brought (via the solar plexus, that clearing house of energy, and the medulla oblongata) to the centre between the eyebrows, then the personality, the matter aspect, reaches its apotheosis and the Virgin Mary—in the individual sense, which is a finite parallel of an infinite Reality—is “carried up into Heaven” there to sit by the side of her son, the Christ, the soul.
Điều này phải được thực hiện theo hai cách. Thứ nhất, bằng sự chuyển dịch năng lượng dương tính của các trung tâm thấp vào các trung tâm cao; và thứ hai, bằng sự thức tỉnh trung tâm đầu nhờ sự biểu lộ hoạt động của ý chí. Hiệu quả thứ nhất được tạo ra bằng lập hạnh và bằng sự thanh luyện các thể, như linh hồn sử dụng trong ba cõi giới. Hiệu quả thứ hai là kết quả của tham thiền và sự phát triển mục đích có tổ chức, được ý chí áp đặt lên đời sống hằng ngày. Lập hạnh, đời sống trong sạch, các phản ứng cảm xúc được kiểm soát và tư duy đúng đắn là những điều sáo mòn của mọi hệ thống tôn giáo, và đã mất sức nặng vì chúng ta quá quen thuộc với chúng. Không dễ nhớ rằng khi chúng ta sống thanh khiết và đúng đắn, chúng ta thật sự và quả thực đang làm việc với các mãnh lực, đặt các năng lượng dưới nhu cầu của mình, đặt [192] các sự sống hành khí dưới các yêu cầu của bản thể tinh thần, và đưa vào hoạt động một bộ máy cùng một cấu trúc sinh lực vốn cho đến nay chỉ tiềm tàng và yên lặng. Tuy nhiên, vẫn là sự thật rằng khi các năng lượng tiềm tàng ở đáy cột sống được đưa lên đầu và được mang, qua tùng thái dương — trạm trung chuyển năng lượng ấy — và hành tủy, đến trung tâm giữa hai lông mày, thì phàm ngã, phương diện vật chất, đạt tới sự tôn vinh tối cao của nó; và Đức Mẹ Đồng Trinh Maria — theo nghĩa cá nhân, vốn là một song đối hữu hạn của một Thực Tại vô hạn — được “đưa lên Thiên Đường” để ngồi bên cạnh con của bà, Đức Christ, tức linh hồn.
When the energies of the sacral centre, focussed hitherto on the work of physical creation and generation and therefore the source of physical sex life and interest, are sublimated, re-oriented and carried up to the throat centre, then the aspirant becomes a conscious creative force in the higher worlds; he enters within the veil, and begins to create the pattern of things which will bring about eventually the new heavens and the new earth.
Khi các năng lượng của trung tâm xương cùng, vốn cho đến nay tập trung vào công việc sáng tạo và sinh sản hồng trần, và do đó là nguồn của đời sống và sự quan tâm tính dục hồng trần, được thăng hoa, tái định hướng và đưa lên trung tâm cổ họng, khi ấy người chí nguyện trở thành một mãnh lực sáng tạo hữu thức trong các thế giới cao hơn; y đi vào bên trong bức màn, và bắt đầu tạo ra mô hình của những sự vật sẽ cuối cùng đem lại trời mới và đất mới.
When the energies of the solar plexus—expressions hitherto of the potent desire nature, feeding the emotional life of the personality—are equally transmuted and re-oriented, then they are carried to the heart centre and there is brought about as a result a realisation of group consciousness, of group love, and group purpose which makes the aspirant a server of humanity and a fit associate of the Elder Brethren of the race.
Khi các năng lượng của tùng thái dương — cho đến nay là các biểu hiện của bản chất dục vọng mạnh mẽ, nuôi dưỡng đời sống cảm xúc của phàm ngã — cũng được chuyển hoá và tái định hướng, khi ấy chúng được đưa đến trung tâm tim; và kết quả là sự chứng nghiệm về tâm thức nhóm, tình thương nhóm và mục đích nhóm được tạo ra, điều này làm cho người chí nguyện trở thành người phụng sự nhân loại và một cộng sự thích hợp của các Huynh Trưởng của nhân loại.
When these three transfers have been consummated then an activity transpires in the head centre, the ultimate governing factor, and by an act of the will of the indwelling ruling soul, certain happenings take place which we can consider later in our studies.
Khi ba sự chuyển dịch này đã hoàn tất, bấy giờ một hoạt động diễn ra trong trung tâm đầu, yếu tố cai quản tối hậu; và bằng một hành động của ý chí từ linh hồn cai quản nội tại, một số biến cố xảy ra mà chúng ta có thể xem xét về sau trong các nghiên cứu của mình.
2. The second fact to bear in mind is that as these changes and re-orientations take place, the disciple begins to awaken psychologically to new states of consciousness, [193] to new states of existence, and to new states of being. It will be apparent therefore how necessary it is to go slowly in these matters, so that the mental apprehension and ability to reason logically and sanely may parallel the growth of the intuition and of spiritual perception. Many schools are simply forcing schools, prematurely developing the higher faculties and leading the aspirant (if I might express it in mystical language) directly out of the realm of feeling and of desire into that of the intuition, but leaving the intellectual faculties and the mental apparatus totally undeveloped and latent. When this is the case then—again speaking mystically—an hiatus or a gap occurs, in part of the equipment which the soul must perforce use in the three worlds of its endeavour. The interpreting, organising, understanding mind is unable to play its part. Where there is lack of understanding and of mental ability, there is danger of misapprehension, of credulity and of wrong interpretation of the phenomena of other states of being. A sense of values will be lacking, and the aspirant will over-estimate the non-essentials and fail to grasp the value of the spiritual realities.
2. Sự kiện thứ hai cần ghi nhớ là khi những thay đổi và tái định hướng này xảy ra, đệ tử bắt đầu thức tỉnh về mặt tâm lý đối với các trạng thái tâm thức mới, [193] các trạng thái hiện hữu mới, và các trạng thái bản thể mới. Do đó sẽ hiển nhiên rằng cần thiết biết bao phải tiến hành chậm rãi trong những vấn đề này, để sự nắm bắt trí tuệ và khả năng lý luận hợp lý, lành mạnh có thể song hành với sự tăng trưởng của trực giác và tri giác tinh thần. Nhiều trường phái chỉ đơn giản là những trường phái cưỡng bức, phát triển non sớm các năng lực cao hơn và dẫn người chí nguyện — nếu Tôi có thể diễn đạt bằng ngôn ngữ thần bí — trực tiếp ra khỏi lĩnh vực cảm xúc và dục vọng vào lĩnh vực trực giác, nhưng để các năng lực trí năng và bộ máy trí tuệ hoàn toàn chưa phát triển và còn tiềm tàng. Khi điều này xảy ra, thì — lại nói một cách thần bí — có một khoảng gián đoạn hay khoảng trống xuất hiện trong một phần của trang bị mà linh hồn tất yếu phải sử dụng trong ba cõi giới nỗ lực của nó. Thể trí diễn giải, tổ chức và thấu hiểu không thể đóng vai trò của mình. Nơi nào thiếu sự thấu hiểu và năng lực trí tuệ, nơi đó có nguy cơ hiểu lầm, cả tin và diễn giải sai các hiện tượng của những trạng thái bản thể khác. Ý thức về giá trị sẽ thiếu vắng, và người chí nguyện sẽ đánh giá quá cao những điều không thiết yếu, đồng thời không nắm bắt được giá trị của các thực tại tinh thần.
Energy may pour into the force centres in these cases, but because there is no directing intelligence it will run riot and we then have those sad cases which strew the path of occult endeavour and have brought the work of the Lodge into disrepute—cases of over-emphasized personalities, of superstitious devotees, of credulous followers of leaders, of fanatical unbalanced idealists, and of those warped minds which arrogate to themselves powers which are not theirs. Men and women become swayed by astralism and wander in the vale of illusion regarding themselves as different from other men, placing themselves upon a pedestal far above average humanity. They fall consciously into the sin of separateness. Add to the above category, the cases of sex perversion, [194] brought about by over-stimulation of the sacral centre, the cases of neuroticism and over-sensitivity and emotionalism, brought about by the premature vitalisation of the solar plexus centre, and lastly the cases of insanity, brought about by over-stimulation of the brain cells through unwise meditation work, and it will become increasingly clear why it is deemed necessary to proceed slowly and to develop the mental processes as well as the spiritual nature.
Trong những trường hợp này, năng lượng có thể tuôn vào các trung tâm mãnh lực, nhưng vì không có trí tuệ chỉ đạo nên nó sẽ chạy loạn; và khi đó chúng ta có những trường hợp đáng buồn rải rác trên con đường nỗ lực huyền bí, đã khiến công việc của Thánh đoàn bị mang tiếng — những trường hợp của các phàm ngã được nhấn mạnh quá mức, các tín đồ mê tín, các môn đồ cả tin của những người lãnh đạo, các nhà lý tưởng cuồng tín và mất quân bình, và những trí tuệ méo mó tự nhận cho mình các quyền năng không thuộc về họ. Những người nam và nữ bị chi phối bởi tính cảm dục và lang thang trong thung lũng ảo tưởng, tự xem mình khác với những người khác, đặt mình lên một bệ cao vượt xa nhân loại trung bình. Họ rơi một cách hữu thức vào tội chia rẽ. Hãy thêm vào loại trên các trường hợp lệch lạc tính dục, [194] do sự kích thích quá mức trung tâm xương cùng gây ra; các trường hợp nhiễu tâm, quá nhạy cảm và duy cảm, do việc tiếp sinh lực non sớm cho trung tâm tùng thái dương gây ra; và sau cùng các trường hợp mất trí, do sự kích thích quá mức các tế bào não qua công việc tham thiền thiếu khôn ngoan; và điều sẽ ngày càng rõ ràng là tại sao cần phải tiến hành chậm rãi và phát triển các tiến trình trí tuệ cũng như bản chất tinh thần.
The average student starts with the knowledge that he has centres, and with a desire for purity of character. He is assured by those who know that, as he strives, meditates, studies and serves, certain changes will take place within him, and that there will arise from the depths of his being, an awakening which will be dynamic. He is told that there will follow a breathing forth, a stirring and a vitalising which will bring his subjective spiritual life into prominence. This subjective life expresses itself as spiritual energy, through the medium of the energy or vital body and the energy thus expressed will change his life focus and interests, and produce a magnetic and dynamic effect which will attract and lift humanity. This energy is sevenfold in nature and utilises seven focal points in the etheric body as its agents.
Đạo sinh trung bình bắt đầu với tri thức rằng y có các trung tâm, và với một mong muốn về sự thanh khiết của Tính cách. Y được những người biết bảo đảm rằng, khi y nỗ lực, tham thiền, học hỏi và phụng sự, những thay đổi nhất định sẽ diễn ra trong y, và từ các chiều sâu của bản thể y sẽ phát sinh một sự thức tỉnh có tính năng động. Y được nói rằng tiếp theo đó sẽ có một sự thở ra, một sự khuấy động và một sự tiếp sinh lực, điều sẽ đưa đời sống tinh thần nội tại của y lên vị trí nổi bật. Đời sống nội tại này tự biểu hiện như năng lượng tinh thần, qua trung gian của thể năng lượng hay thể sinh lực; và năng lượng được biểu hiện như vậy sẽ thay đổi trọng tâm đời sống và các mối quan tâm của y, đồng thời tạo ra một hiệu quả từ tính và năng động, sẽ thu hút và nâng cao nhân loại. Năng lượng này có bản chất thất phân và sử dụng bảy điểm tập trung trong thể dĩ thái làm các tác nhân của nó.
It is not possible for the aspirant to work with and utilise all these seven types of energy intelligently in the early stages of the Path of Discipleship. The emphasis, for training purposes, is laid upon only three of them. These are:
Người chí nguyện không thể làm việc với và sử dụng một cách thông minh tất cả bảy loại năng lượng này trong các giai đoạn đầu của Con Đường Đệ Tử. Vì mục đích huấn luyện, sự nhấn mạnh chỉ được đặt lên ba loại trong số đó. Đó là:
1. That of Will, strength or power, through the medium of the head centre. This is the energy of the spiritual man, and comes directly from the Monad, via the soul. Up to the third initiation however, all that the disciple needs to grasp is that the will aspect of the soul should control the personality, via the mental [195] body to the head centre. When this is the case the thousand-petalled lotus begins to function. The line of this stream of force is:
1. Năng lượng của Ý chí, sức mạnh hay quyền năng, qua trung gian của trung tâm đầu. Đây là năng lượng của con người tinh thần, và đến trực tiếp từ chân thần, qua linh hồn. Tuy nhiên, cho đến lần điểm đạo thứ ba, tất cả những gì đệ tử cần nắm bắt là phương diện ý chí của linh hồn phải kiểm soát phàm ngã, qua thể trí [195] đến trung tâm đầu. Khi điều này xảy ra, hoa sen nghìn cánh bắt đầu hoạt động. Đường của dòng mãnh lực này là:
Monad.
Chân thần.
Atma. Spiritual will.
Atma. Ý chí tinh thần.
The inner circle of petals in the egoic lotus, the will petals.
Vòng cánh hoa bên trong của Hoa Sen Chân Ngã, các cánh hoa ý chí.
The mental body.
Thể trí.
The head centre in the etheric body.
Trung tâm đầu trong thể dĩ thái.
The nervous system and brain.
Hệ thần kinh và bộ não.
2. That of Love-Wisdom, through the medium of the heart centre. This centre, when awakened, leads to that expansion of consciousness which initiates a man into his group life. He loses the sense of separateness, and finally emerges into the full light of realisation—a realisation of unity with his own indwelling God, with all humanity, with all souls in all forms of nature, and so with the Oversoul. This force stream comes likewise from the Monad, via the soul, and its line is as follows:
2. Năng lượng của Bác Ái – Minh Triết, qua trung gian của trung tâm tim. Trung tâm này, khi được đánh thức, dẫn đến sự mở rộng tâm thức vốn điểm đạo con người vào đời sống nhóm của y. Y mất đi ý thức chia rẽ, và cuối cùng đi vào ánh sáng trọn vẹn của chứng nghiệm — chứng nghiệm về sự hợp nhất với Thượng đế nội tại của chính mình, với toàn thể nhân loại, với mọi linh hồn trong mọi hình tướng của tự nhiên, và do đó với đại hồn. Dòng mãnh lực này cũng đến từ chân thần, qua linh hồn, và đường của nó như sau:
Monad.
Chân thần.
Buddhi. Spiritual love. The intuition.
Bồ đề. Tình thương tinh thần. Trực giác.
The second circle of petals in the egoic lotus, the love petals.
Vòng cánh hoa thứ hai trong Hoa Sen Chân Ngã, các cánh hoa bác ái.
The astral body.
Thể cảm dục.
The heart centre.
Trung tâm tim.
The blood stream.
Dòng máu.
In the little evolved man, this force stream simply passes through the heart centre direct to the solar plexus and expends its two aspects of vital life and of soul quality, one energising the blood stream and the other awakening the solar plexus centre. This then becomes the dominant factor in the energy life of the man, and the force through which his desire nature expresses itself, until such time as the aspirant brings [196] about the needed transmutation and re-orientation of his emotional desire nature. Then the heart awakens into activity and the life of the solar plexus centre becomes subordinated to that of the heart. This is brought about by the development of group interests, by the cultivation of inclusiveness and the steady loss of interest in the personality, and in things separative and selfish.
Ở người ít tiến hoá, dòng mãnh lực này chỉ đơn giản đi qua trung tâm tim thẳng đến tùng thái dương và tiêu dùng hai phương diện của nó là sự sống sinh lực và phẩm tính linh hồn, một phương diện tiếp năng lượng cho dòng máu, còn phương diện kia đánh thức trung tâm tùng thái dương. Khi ấy, trung tâm này trở thành yếu tố chi phối trong đời sống năng lượng của con người, và là mãnh lực qua đó bản chất dục vọng của y tự biểu hiện, cho đến khi người chí nguyện tạo ra [196] sự chuyển hoá và tái định hướng cần thiết đối với bản chất dục vọng cảm xúc của mình. Khi đó, tim thức tỉnh vào hoạt động, và đời sống của trung tâm tùng thái dương trở nên phụ thuộc vào đời sống của tim. Điều này được tạo ra nhờ sự phát triển các mối quan tâm nhóm, nhờ việc vun bồi tính bao gồm và sự mất dần mối quan tâm đối với phàm ngã, cũng như đối với những điều chia rẽ và ích kỷ.
3. That of active intelligence, or the energy which animates the form aspect, and which creates forms in line with the subjective purposes of the presiding intelligence—God or man, human or divine. This also proceeds from the third aspect of the Monad, and the line of its contact is:
3. Năng lượng của trí tuệ hoạt động, hay năng lượng làm sinh động phương diện hình tướng, và tạo ra các hình tướng phù hợp với các mục đích nội tại của trí tuệ chủ quản — Thượng đế hay con người, nhân loại hay thiêng liêng. Năng lượng này cũng phát xuất từ phương diện thứ ba của chân thần, và đường tiếp xúc của nó là:
Monad.
Chân thần.
Manas. Spiritual intelligence. The higher mind.
Manas. Trí tuệ tinh thần. Thượng trí.
The third or outer circle of petals in the egoic lotus, the knowledge petals.
Vòng thứ ba hay vòng ngoài của các cánh hoa trong Hoa Sen Chân Ngã, tức các cánh hoa tri thức.
The etheric body as a whole, as it pervades the dense physical body.
Thể dĩ thái xét như một toàn thể, khi nó thấm khắp thể xác đậm đặc.
The throat centre.
Trung tâm cổ họng.
The cells of the body.
Các tế bào của thể xác.
In the little evolved man, as in the case of the second aspect and its unfoldment, the energy simply passes through the throat centre and goes directly to the sacral centre, and thus brings into activity the generative processes and creative faculties, utilised in the reproductive work and sex life of the race.
Nơi người kém tiến hóa, cũng như trong trường hợp phương diện thứ hai và sự khai mở của nó, năng lượng chỉ đơn giản đi xuyên qua trung tâm cổ họng và đi thẳng đến trung tâm xương cùng, nhờ đó đưa các tiến trình sinh sản và những năng lực sáng tạo vào hoạt động, được sử dụng trong công việc tái tạo và đời sống tính dục của nhân loại.
This is a broad and general outline of the three main streams of force or divine energy and their direction.
Đây là một phác thảo rộng và tổng quát về ba dòng chính của mãnh lực hay năng lượng thiêng liêng và hướng đi của chúng.
The relationship of the head centre to the base of the spine, where lies the sleeping fire, will not be considered here, nor will the function of the solar plexus centre as a clearing-house for the lower energies be touched upon. I [197] am anxious for the students simply to grasp the general idea and the skeleton of the teaching.
Mối liên hệ giữa trung tâm đầu và đáy cột sống, nơi lửa đang ngủ yên, sẽ không được xét đến ở đây; chức năng của trung tâm tùng thái dương như một trạm thanh lọc cho các năng lượng thấp cũng sẽ không được đề cập. Tôi [197] mong các đạo sinh chỉ nắm được ý tưởng tổng quát và bộ khung của giáo huấn.
Every human being in the course of time works his way back on the Path of Return to one of the three major rays. All have eventually to express intelligent creative faculty, to be animated by divine love, and to bring into functioning activity the Will, as it works out divine purpose and plan.
Theo thời gian, mọi con người đều tự mở đường trở lại trên Con Đường Trở Về để đến một trong ba cung chính. Cuối cùng, tất cả đều phải biểu lộ năng lực sáng tạo thông minh, được linh hoạt bởi tình thương thiêng liêng, và đưa Ý Chí vào hoạt động chức năng, khi nó thực hiện Thiên Ý và Thiên Cơ.
The first centre which the aspirant seeks consciously to energise and on which he concentrates during the early stages of his novitiate, is the heart centre. He has to learn to be group conscious, to be sensitive to group ideals, and to be inclusive in his plans and concepts; he has to learn to love collectively and purely, and not be actuated by personality attraction, and the motive of reward. Until there is this awakening in the heart, he cannot be trusted to wield the creative powers of the throat centre, for they would be subordinated to self-aggrandisement and ambitions of various kinds.
Trung tâm đầu tiên mà người chí nguyện tìm cách tiếp sinh lực một cách có ý thức, và cũng là trung tâm mà y tập trung vào trong các giai đoạn đầu của thời kỳ sơ tu, là trung tâm tim. Y phải học trở nên có tâm thức tập thể, nhạy cảm với các lý tưởng tập thể, và bao gồm trong các kế hoạch cùng quan niệm của mình; y phải học yêu thương một cách tập thể và trong sạch, chứ không bị thúc đẩy bởi sự hấp dẫn của phàm ngã hay động cơ được tưởng thưởng. Cho đến khi có sự thức tỉnh này trong tim, y chưa thể được tin cậy để sử dụng các quyền năng sáng tạo của trung tâm cổ họng, vì chúng sẽ bị lệ thuộc vào sự tự tôn và những tham vọng đủ loại.
Here it should be noted that none of these unfoldments can ever be approached from the standpoint of complete static passivity or from the angle of an entirely new undertaking. We are in process of evolution. Certain aspects of our force centres are already awakened, and functioning in relation to the form aspect, but are not yet expressing soul qualities. We have behind us a long and fruitful past. We are none of us purely selfish or separative. Human society is now cohesive and inter-dependent. Humanity, as a whole, has already done much in bringing the heart centre into partial activity, and in awakening some of the more important aspects of the throat centre.
Ở đây cần lưu ý rằng không một sự khai mở nào trong các sự khai mở này có thể được tiếp cận từ lập trường hoàn toàn thụ động tĩnh tại, hay từ góc độ của một công việc hoàn toàn mới. Chúng ta đang ở trong tiến trình tiến hóa. Một vài phương diện của các trung tâm mãnh lực nơi chúng ta đã thức tỉnh và đang hoạt động trong liên hệ với phương diện hình tướng, nhưng chưa biểu lộ các phẩm tính của linh hồn. Phía sau chúng ta là một quá khứ dài lâu và phong phú. Không ai trong chúng ta hoàn toàn ích kỷ hay chia rẽ. Xã hội nhân loại hiện nay có tính cố kết và nương tựa lẫn nhau. Nhân loại, xét như một toàn thể, đã làm được nhiều điều trong việc đưa trung tâm tim vào hoạt động một phần, và trong việc đánh thức một vài phương diện quan trọng hơn của trung tâm cổ họng.
The problem with many aspirants today is that of the solar plexus, for it is wide open, actively functioning and almost fully awakened. The work of transmutation is however going on simultaneously, leading—as one might [198] naturally suppose—to a good deal of difficulty and to chaotic conditions. The heart centre is also beginning to vibrate, but is not yet awakened; the throat centre is frequently prematurely awakened, through the transfer of energy from the sacral centre. This is due to several causes—sometimes to spiritual purpose and intent, but more frequently to a negation of the normal sex life, owing to economic conditions, or to a lack of physical vitality, which predisposes to celibacy. This lack of vital force is in its turn due to many factors, but primarily to a long heredity, producing a degeneracy of the physical body, or to enforced celibacy in past lives; this enforced celibacy was very often the result of monasticism and the living of the mystical life. When this creative awakening finds expression through any of the arts—literature, painting, music, —or in group organization and executive work there is no harm wrought, for the energy finds a normal creative outlet. These points should he remembered by the aspirant. He is facing a most complex problem. He enters blindly into a situation which is the result of a long evolutionary process and to which he has not the key. Especially in the early stages and prior to the first initiation is this the case, for he has no knowledge of the history of the past, nor any prevision as to the future. He has simply to take his equipment and his opportunity and do the best he can, guided by the age-old rules of Raja Yoga, and the light of his own soul.
Vấn đề của nhiều người chí nguyện ngày nay là vấn đề của tùng thái dương, vì trung tâm này đang rộng mở, hoạt động mạnh mẽ và hầu như đã thức tỉnh hoàn toàn. Tuy nhiên, công việc chuyển hóa đang diễn ra đồng thời, dẫn đến — như người ta có thể [198] tự nhiên giả định — nhiều khó khăn và những tình trạng hỗn loạn. Trung tâm tim cũng đang bắt đầu rung động, nhưng chưa thức tỉnh; trung tâm cổ họng thường thức tỉnh quá sớm do sự chuyển dịch năng lượng từ trung tâm xương cùng. Điều này do nhiều nguyên nhân — đôi khi do mục đích và ý hướng tinh thần, nhưng thường hơn là do sự phủ nhận đời sống tính dục bình thường, vì các điều kiện kinh tế, hoặc do thiếu sinh lực thể chất, điều khiến người ta dễ thiên về đời sống độc thân. Sự thiếu mãnh lực sống này, đến lượt nó, do nhiều yếu tố, nhưng chủ yếu do di truyền lâu đời tạo nên sự suy thoái của thể xác, hoặc do đời sống độc thân bị cưỡng ép trong các kiếp trước; đời sống độc thân bị cưỡng ép này rất thường là kết quả của đời sống tu viện và đời sống thần bí. Khi sự thức tỉnh sáng tạo này được biểu lộ qua bất cứ nghệ thuật nào — văn chương, hội họa, âm nhạc — hoặc trong tổ chức tập thể và công việc điều hành, thì không gây hại gì, vì năng lượng tìm được một lối thoát sáng tạo bình thường. Người chí nguyện cần ghi nhớ những điểm này. Y đang đối diện với một vấn đề hết sức phức tạp. Y bước vào một tình huống một cách mù quáng, tình huống ấy là kết quả của một tiến trình tiến hóa lâu dài mà y không có chìa khóa để hiểu. Điều này đặc biệt đúng trong các giai đoạn đầu và trước lần điểm đạo thứ nhất, vì y không biết lịch sử quá khứ, cũng không có tiên kiến nào về tương lai. Y chỉ phải tiếp nhận trang bị và cơ hội của mình, rồi làm hết sức mình, được hướng dẫn bởi các quy luật ngàn xưa của Yoga Vương giả và ánh sáng của chính linh hồn mình.
As the heart centre is awakened and the throat centre swings into creative work, a definite relation is set up and there is an interplay of energy between the two. This activity in its turn brings about a response from that aspect of the thousand petalled lotus (a synthetic lotus) through which the energy always animating the heart and throat centres normally passes. This responsive [199] activity and inter-action brings about two results, and these should be most carefully noted.
Khi trung tâm tim được đánh thức và trung tâm cổ họng chuyển vào công việc sáng tạo, một mối liên hệ xác định được thiết lập và có sự tương tác năng lượng giữa hai trung tâm. Hoạt động này, đến lượt nó, tạo ra một đáp ứng từ phương diện của hoa sen ngàn cánh, tức một hoa sen tổng hợp, qua đó năng lượng vốn luôn linh hoạt các trung tâm tim và cổ họng thường đi qua. Hoạt động [199] đáp ứng và tương tác này tạo nên hai kết quả, và những điều này cần được ghi nhận hết sức cẩn thận.
First, the light in the head makes its appearance. A sparking (if I might so express it) is set up between the higher positive over-shadowing energy as it is centralised within the form of the thousand-petalled lotus, and the steadily heightening vibration of the heart and throat centres or lotuses. These two lower centres in their turn are responding to the energies being lifted and raised from the centres below the diaphragm.
Thứ nhất, ánh sáng trong đầu xuất hiện. Một sự phát tia, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy, được thiết lập giữa năng lượng cao hơn, tích cực, đang phủ bóng và được tập trung bên trong hình tướng của hoa sen ngàn cánh, với rung động ngày càng cao của các trung tâm hay các hoa sen tim và cổ họng. Đến lượt mình, hai trung tâm thấp hơn này đang đáp ứng với các năng lượng được nâng lên từ những trung tâm bên dưới cơ hoành.
Secondly, the centre between the eyebrows also begins to make its presence felt, and this significant two-petalled lotus begins to vibrate. It symbolises the work of at-one-ing the soul and the body, the subjective and the objective. In some occult books it is called the lotus with the ninety-six petals, but this is only a differentiation dealing with the energies focussed in the two petals. It will be noted that the sum total of the force petals in the centres (excluding the two head centres) amount in all to forty-eight petals. These energies in their two aspects of physical vital energy and soul qualities make up the ninety-six aspects or vibrations of the two petals of the Ajna or eyebrow centre. It must be remembered also that the word ‘petal’ only symbolises an expression of force and its apparent effect in matter.
Thứ hai, trung tâm giữa hai chân mày cũng bắt đầu làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận, và hoa sen hai cánh đầy thâm nghĩa này bắt đầu rung động. Nó tượng trưng cho công việc hợp nhất linh hồn và thể xác, cái chủ quan và cái khách quan. Trong một vài sách huyền bí, nó được gọi là hoa sen chín mươi sáu cánh, nhưng đây chỉ là một sự biến phân liên quan đến các năng lượng được tập trung trong hai cánh. Cần lưu ý rằng tổng số các cánh mãnh lực trong các trung tâm, không kể hai trung tâm đầu, cộng lại là bốn mươi tám cánh. Các năng lượng này, trong hai phương diện là năng lượng sinh lực hồng trần và các phẩm tính của linh hồn, hợp thành chín mươi sáu phương diện hay rung động của hai cánh thuộc trung tâm ajna hay trung tâm giữa hai chân mày. Cũng cần nhớ rằng từ “cánh hoa” chỉ tượng trưng cho một biểu lộ của mãnh lực và hiệu quả biểu kiến của nó trong vật chất.
The five centres with their forty-eight petals are synthesised therefore into the two-petalled lotus, and then we have forty-eight plus two equals fifty, the number of the perfected personality, for five is the number of man and ten is that of perfection. Symbolically also, if the sum total of the forty-eight petals of the five centres is added to the ninety-six petals of the centre between the eyebrows, the number one hundred and forty-four appears. This number signifies the completed work of the twelve creative Hierarchies, twelve times twelve, and thus the bringing together of the subjective soul and the [200] objective body in perfect union and at-one-ment. This is the consummation. To these figures, one hundred and forty-four add that of the number one thousand (the number of the petals in the lotus of the head centre) and you have the number of the saved in the Book of Revelations, the one hundred and forty-four thousand who can stand before God, for the three ciphers which are found indicate the personality. When man has completed within himself the great work, when the number one hundred and forty-four thousand is seen as symbolising his point of attainment, then he can stand before God—standing now not only before the Angel of the Presence, but before the very Presence Itself.
Do đó, năm trung tâm với bốn mươi tám cánh của chúng được tổng hợp vào hoa sen hai cánh; khi ấy ta có bốn mươi tám cộng hai bằng năm mươi, con số của phàm ngã đã hoàn thiện, vì năm là con số của con người và mười là con số của sự hoàn thiện. Về mặt biểu tượng cũng vậy, nếu tổng số bốn mươi tám cánh của năm trung tâm được cộng với chín mươi sáu cánh của trung tâm giữa hai chân mày, con số một trăm bốn mươi bốn xuất hiện. Con số này biểu thị công việc đã hoàn tất của mười hai Huyền Giai Sáng Tạo, mười hai nhân mười hai, và như vậy là sự kết hợp linh hồn chủ quan với [200] thể xác khách quan trong sự hợp nhất và hiệp nhất hoàn hảo. Đây là sự viên mãn. Cộng vào con số một trăm bốn mươi bốn này con số một ngàn, tức số cánh của hoa sen trung tâm đầu, và các bạn có con số những người được cứu trong Sách Khải Huyền: một trăm bốn mươi bốn ngàn người có thể đứng trước Thượng đế, vì ba số không trong đó chỉ phàm ngã. Khi con người đã hoàn tất đại công trình bên trong chính mình, khi con số một trăm bốn mươi bốn ngàn được thấy như tượng trưng cho điểm thành tựu của y, bấy giờ y có thể đứng trước Thượng đế — không chỉ đứng trước Thiên Thần của Hiện Diện, mà còn đứng trước chính Sự Hiện Diện.