The Awakening of the Centres
The question now arises: How can this awakening and co-ordination be brought about? What steps must be taken in order to produce this vitalisation and the eventual synthetic activity of the three centres? Faced with these questions, the true teacher finds a difficulty. It is not easy to make clear the esoteric and paralleling activities which are the result of character building. So oft the aspirant is anxious to be told some new thing and when he is told some old truth—so old and so familiar that it fails to call forth a registering response—he feels that the teacher has failed him and so succumbs to a sense of futility and depression. However, this must be met and the questions must be answered. I will state therefore the necessary requirements as succinctly as possible, giving them in their sequential order and according to their importance from the standpoint of the average aspirant. Let us then enumerate them in tabulated form, and then we will deal briefly with each point afterwards.
Bấy giờ câu hỏi nảy sinh: Làm thế nào sự thức tỉnh và phối hợp này có thể được thực hiện? Những bước nào phải được thực hiện để tạo ra sự tiếp sinh lực này và hoạt động tổng hợp sau cùng của ba trung tâm? Đối diện với các câu hỏi này, vị huấn sư chân chính gặp một khó khăn. Không dễ làm sáng tỏ các hoạt động huyền bí và song hành vốn là kết quả của lập hạnh. Người chí nguyện rất thường nóng lòng muốn được chỉ dạy một điều mới, và khi y được nói cho nghe một chân lý cũ — cũ đến mức quá quen thuộc, đến nỗi không gợi lên được một đáp ứng ghi nhận — y cảm thấy vị huấn sư đã làm mình thất vọng, rồi rơi vào cảm giác vô ích và chán nản. Tuy nhiên, điều này phải được đối diện và các câu hỏi phải được trả lời. Vì vậy, tôi sẽ nêu các yêu cầu cần thiết một cách ngắn gọn nhất có thể, trình bày chúng theo thứ tự tuần tự và theo tầm quan trọng của chúng từ lập trường của người chí nguyện trung bình. Vậy chúng ta hãy liệt kê chúng dưới dạng bảng, rồi sau đó sẽ bàn vắn tắt từng điểm.
1. Character building, the first and essential requisite.
1. Lập hạnh, điều kiện đầu tiên và thiết yếu.
2. Right motive. [201]
2. Động cơ đúng. [201]
3. Service.
3. Phụng sự.
4. Meditation.
4. Tham thiền.
5. A technical study of the science of the centres.
5. Nghiên cứu kỹ thuật về khoa học các trung tâm.
6. Breathing exercises.
6. Các bài tập thở.
7. Learning the technique of the Will.
7. Học kỹ thuật của Ý Chí.
8. The development of the power to employ time.
8. Phát triển năng lực sử dụng thời gian.
9. The arousing of the Kundalini fire.
9. Khơi dậy lửa hỏa xà.
This last and ninth point will not be considered at this stage of our training. The reason is obvious. Most aspirants are at the stage of the third and fourth points and are just beginning to work at the fifth and sixth. Let us touch briefly upon each of these necessary steps, and let me enjoin upon you the need there is to realise in some measure the responsibility entailed by knowledge. Do you appreciate the fact that if you were making full use of each piece of information given in the course of the training, and making it a fact in your experience, and were living out in your daily life the teaching so steadily imparted, you would be standing ere now before the Portal of Initiation? Do you realise that truth has to be wrought out in the texture of daily living before new truth can be safely imparted?
Điểm cuối cùng, điểm thứ chín này, sẽ không được xét đến ở giai đoạn huấn luyện hiện nay của chúng ta. Lý do rất hiển nhiên. Phần lớn người chí nguyện đang ở giai đoạn của điểm thứ ba và thứ tư, và chỉ mới bắt đầu làm việc với điểm thứ năm và thứ sáu. Chúng ta hãy đề cập vắn tắt từng bước cần thiết này, và tôi xin nhấn mạnh với các bạn nhu cầu phải nhận biết, trong một mức độ nào đó, trách nhiệm mà tri thức kéo theo. Các bạn có nhận thức được sự thật rằng nếu các bạn sử dụng trọn vẹn từng mảnh thông tin được trao trong tiến trình huấn luyện, biến nó thành một sự kiện trong kinh nghiệm của mình, và sống giáo huấn được truyền dạy đều đặn ấy trong đời sống hằng ngày, thì giờ đây các bạn đã đứng trước Cổng Điểm Đạo rồi chăng? Các bạn có nhận ra rằng chân lý phải được thực hiện trong kết cấu của đời sống hằng ngày trước khi chân lý mới có thể được truyền đạt một cách an toàn chăng?
1. Character building. These nine points are to be studied from their force aspect, and not from their ethical or spiritual import. It is the “world of force into which the initiate enters,” and it is the training he receives as an aspirant that makes such a step possible. Each of us enters life with a certain equipment—the product of past lives of endeavour and of experience. That equipment has in it certain deficiencies or lacks, and is seldom of a balanced nature. One man is too mental. Another is too psychic. A third is primarily physical, and still another is too mystical. One man is sensitive, irritable, and impressionable. Another is the reverse of all these qualities. One person is centred in [202] his animal nature, or is strictly material in his outlook on life, whilst another is visionary and free from the sins of the flesh. The diversities among men are innumerable, but in each life there is a predominant trend towards which all the energies of his nature turn. Perhaps he is swayed strongly by his physical forces and lives consequently the life of an animal. Or he is swayed by astral energy and lives a potently emotional and psychic life. Perhaps—like so many—he is swayed by three types of energy, physical, emotional and an occasional flow of soul energy. The point to be remembered is that the bodies in which we, as souls, are functioning, constitute primarily energy bodies. They are composed of energy units, atoms in a state of constant flux and movement and find their place in an environment of a similar nature. Acting as the positive nucleus in these energy bodies, and at present, in the majority of cases relatively static, is the soul. It exerts as yet little pressure upon its sheaths and identifies itself with them, thus temporarily negating its own intrinsic life.
1. Lập hạnh. Chín điểm này phải được nghiên cứu từ phương diện mãnh lực của chúng, chứ không từ ý nghĩa đạo đức hay tinh thần. Chính “thế giới của mãnh lực mà điểm đạo đồ bước vào”, và chính sự huấn luyện mà y nhận được với tư cách người chí nguyện làm cho bước ấy trở nên khả hữu. Mỗi người chúng ta bước vào đời với một trang bị nào đó — sản phẩm của những kiếp sống quá khứ đầy nỗ lực và kinh nghiệm. Trong trang bị ấy có những thiếu sót hay khiếm khuyết nhất định, và hiếm khi nó có tính cân bằng. Một người quá trí tuệ. Một người khác quá thông linh. Người thứ ba chủ yếu là hồng trần, và một người khác nữa quá thần bí. Một người nhạy cảm, dễ cáu kỉnh và dễ bị ấn tượng. Người khác lại trái ngược với tất cả các phẩm tính ấy. Một người tập trung trong [202] bản chất thú tính của mình, hoặc có cái nhìn về đời sống hoàn toàn vật chất, trong khi một người khác lại nhiều linh ảnh và thoát khỏi các tội lỗi của xác thịt. Sự đa dạng giữa con người là vô số, nhưng trong mỗi đời sống có một khuynh hướng chủ đạo mà mọi năng lượng trong bản chất của y đều hướng về. Có thể y bị các mãnh lực thể chất chi phối mạnh mẽ và do đó sống đời sống của một con vật. Hoặc y bị năng lượng cảm dục chi phối và sống một đời sống cảm xúc và thông linh mãnh liệt. Có lẽ — như rất nhiều người — y bị ba loại năng lượng chi phối: thể chất, cảm xúc và một dòng chảy thỉnh thoảng của năng lượng linh hồn. Điểm cần ghi nhớ là các thể mà trong đó chúng ta, với tư cách các linh hồn, đang hoạt động, trước hết là các thể năng lượng. Chúng được cấu thành bởi các đơn vị năng lượng, các nguyên tử ở trong trạng thái luôn biến động và chuyển động, và tìm vị trí của chúng trong một môi trường có bản chất tương tự. Hành động như hạt nhân tích cực trong các thể năng lượng này, và hiện nay trong đa số trường hợp tương đối tĩnh tại, là linh hồn. Cho đến nay, linh hồn chỉ tạo rất ít áp lực lên các lớp vỏ của mình và đồng hóa với chúng, do đó tạm thời phủ nhận sự sống nội tại của chính mình.
The day comes, however, when the soul awakens to the need of dominating the situation and of asserting its own authority. Then the man (spasmodically at the beginning) takes stock of the situation. He has to discover first which type of energy preponderates and is the motivating force in his daily experience. Having discovered this, he begins to re-organize, to re-orient and to re-build his bodies. The whole of this teaching can be summed up in two words: Vice and Virtue.
Tuy nhiên, ngày đến khi linh hồn thức tỉnh trước nhu cầu làm chủ tình thế và khẳng định uy quyền của mình. Khi ấy con người, lúc đầu một cách rời rạc, bắt đầu xem xét tình trạng. Trước hết y phải khám phá loại năng lượng nào chiếm ưu thế và là mãnh lực thúc đẩy trong kinh nghiệm hằng ngày của mình. Khi đã khám phá điều này, y bắt đầu tái tổ chức, tái định hướng và tái xây dựng các thể của mình. Toàn bộ giáo huấn này có thể được tóm gọn trong hai từ: thói xấu và đức hạnh.
Vice is the energy of the sheaths, individual or synthesised in the personality, as it controls the life activities and subordinates the soul to the sheaths and to the impulses and tendencies of the lower self.
Thói xấu là năng lượng của các lớp vỏ, riêng rẽ hoặc được tổng hợp trong phàm ngã, khi nó kiểm soát các hoạt động đời sống và khiến linh hồn lệ thuộc vào các lớp vỏ, vào các xung lực và khuynh hướng của phàm ngã.
Virtue is the calling in of new energies and of a new vibratory rhythm so that the soul becomes the positive controlling factor and the soul forces supersede those of [203] the bodies. This process is that of character building. Let me illustrate! A man is the victim of an irritable and nervous disposition. We say to him that he needs to be calm and peaceful and to cultivate detachment and so gain control of himself. We teach him that in place of a cross disposition there should be sweetness and calm. This sounds a platitude and most uninteresting. Yet what is really being stated is that in place of the restless self-centered emotional nature and the activity of the solar plexus centre (carrying the powerful forces of the astral plane) there should be imposed the steady detached and harmonising rhythm of the soul, the higher self. This work of imposing the higher vibration on the lower is character building, the first pre-requisite upon the Path of Probation. On reading this the earnest student can begin to sum up his energy assets; he can tabulate the forces which he feels control his life, and thus arrive at a reasonable and truthful understanding of the forces which require to be subordinated and those which require to be strengthened. Then in the light of true knowledge, let him go forward upon the path of his destiny.
Đức hạnh là sự kêu gọi các năng lượng mới và một nhịp điệu rung động mới, để linh hồn trở thành yếu tố tích cực kiểm soát và các mãnh lực linh hồn thay thế những mãnh lực của [203] các thể. Tiến trình này là lập hạnh. Hãy để tôi minh họa. Một người là nạn nhân của một khí chất dễ cáu kỉnh và căng thẳng thần kinh. Chúng ta nói với y rằng y cần trở nên bình thản và an hòa, cần vun bồi sự tách rời, và nhờ đó đạt được sự tự chủ. Chúng ta dạy y rằng thay cho tính khí gắt gỏng phải có sự dịu dàng và điềm tĩnh. Điều này nghe như một lời sáo rỗng và hết sức không thú vị. Tuy nhiên, điều thật sự được nói ở đây là: thay cho bản chất cảm xúc bất an, tập trung vào bản thân và hoạt động của trung tâm tùng thái dương, vốn mang các mãnh lực mạnh mẽ của cõi cảm dục, phải áp đặt nhịp điệu vững vàng, tách rời và hài hòa của linh hồn, tức chân ngã. Công việc áp đặt rung động cao hơn lên rung động thấp hơn này chính là lập hạnh, điều kiện tiên quyết đầu tiên trên Con Đường Dự Bị. Khi đọc điều này, đạo sinh nghiêm túc có thể bắt đầu tổng kết các tài sản năng lượng của mình; y có thể lập bảng các mãnh lực mà y cảm thấy đang kiểm soát đời sống mình, và nhờ đó đi đến một sự thấu hiểu hợp lý và chân thật về những mãnh lực cần phải được đặt dưới quyền và những mãnh lực cần được tăng cường. Rồi trong ánh sáng của tri thức chân thật, y hãy tiến bước trên con đường định mệnh của mình.
2. Right Motive. The Master of the Wisdom, we are told, is the “rare efflorescence of a generation of enquirers.” The question which the seeker now asks and which he only has the right to answer is: What is the motive governing my aspiration and my endeavour? Why do I seek to build upon a true foundation? Why do I so diligently invoke my soul?
2. Động cơ đúng. Như chúng ta được cho biết, Chân sư Minh Triết là “đóa hoa hiếm hoi của một thế hệ những người tìm kiếm”. Câu hỏi mà người tìm đạo bây giờ đặt ra, và chỉ y mới có quyền trả lời, là: Động cơ nào chi phối khát vọng và nỗ lực của tôi? Vì sao tôi tìm cách xây dựng trên một nền tảng chân thật? Vì sao tôi khẩn cầu linh hồn mình một cách chuyên cần đến vậy?
The development of right motive is a progressive effort, and constantly one shifts the focus of one’s incentive when one discovers himself, as the Light shines ever more steadily upon one’s way, and constantly a newer and higher motive emerges. Again, let me illustrate: An aspirant in the early stages is practically always a devotee. To measure up to the standard set by a loved friend and teacher, he struggles and strives and gains [204] ground. Later, this object of his devotion and ardent effort is superseded by devotion to one of the Great Ones, the Elder Brothers of the race. He bends all his powers and the forces of his nature to Their service. This incentive is, in its turn, surely and steadily superseded by a vital love for humanity, and love of one individual (be he ever so perfect) is lost sight of in love for the whole brotherhood of men. Unceasingly, as the soul takes more and more control of its instrument and the soul nature steadily manifests, this too is superseded by love of the ideal, of the Plan, and of the purposes underlying the universe itself. The man comes to know himself as naught but a channel through which spiritual agencies can work, and realises himself as a corporate part of the One Life. Then he sees even humanity as relative and fractional, and becomes immersed in the great Will.
Sự phát triển động cơ đúng là một nỗ lực tiệm tiến, và người ta không ngừng chuyển dịch trọng tâm của động lực thúc đẩy khi tự khám phá chính mình, khi Ánh sáng chiếu ngày càng vững chắc trên đường đi, và khi một động cơ mới hơn, cao hơn không ngừng xuất hiện. Một lần nữa, hãy để tôi minh họa: Người chí nguyện trong các giai đoạn đầu hầu như luôn là một người sùng tín. Để đạt đến chuẩn mực do một người bạn và huấn sư được yêu quý đặt ra, y phấn đấu, nỗ lực và tiến bộ [204] từng bước. Về sau, đối tượng của sự sùng tín và nỗ lực nồng nhiệt ấy được thay thế bằng sự sùng tín đối với một trong Các Đấng Cao Cả, các Huynh Trưởng của nhân loại. Y dồn mọi quyền năng và các mãnh lực trong bản chất của mình vào việc phụng sự Các Ngài. Động lực này, đến lượt nó, chắc chắn và đều đặn được thay thế bằng một tình thương sống động dành cho nhân loại; và tình thương dành cho một cá nhân, dù người ấy có hoàn hảo đến đâu, cũng bị khuất lấp trong tình thương dành cho toàn thể huynh đệ nhân loại. Không ngừng, khi linh hồn ngày càng kiểm soát khí cụ của nó và bản chất linh hồn biểu lộ đều đặn, điều này cũng được thay thế bằng tình thương đối với lý tưởng, đối với Thiên Cơ, và đối với các mục đích nằm bên dưới chính vũ trụ. Con người đi đến chỗ biết mình chẳng là gì ngoài một kênh dẫn qua đó các tác nhân tinh thần có thể làm việc, và nhận biết mình là một phần hữu cơ của Sự Sống Duy Nhất. Khi ấy y thấy ngay cả nhân loại cũng chỉ là tương đối và phân mảnh, và y đắm mình trong đại Ý Chí.
3. Service. A study of right motive leads naturally to right service, and often parallels in its objective form, the motivating consciousness. From service to an individual as an expression of love, to the family, or to the nation, there grows service to a member of the Hierarchy, to a Master’s group and thence service to humanity. Eventually there is developed a consciousness of and service of the Plan, and a consecration to the underlying purpose of the great Existence Who has brought all into being for the fulfillment of some specific objective.
3. Phụng sự. Việc nghiên cứu động cơ đúng tự nhiên dẫn đến phụng sự đúng, và trong hình thức khách quan của nó thường song hành với tâm thức thúc đẩy. Từ việc phụng sự một cá nhân như một biểu lộ của tình thương, đến gia đình, hay đến quốc gia, phát triển thành phụng sự một thành viên của Thánh đoàn, một nhóm của Chân sư, và từ đó là phụng sự nhân loại. Cuối cùng, một tâm thức về Thiên Cơ và sự phụng sự Thiên Cơ được phát triển, cùng với sự thánh hiến cho mục đích nền tảng của Đấng Hiện Hữu vĩ đại, Đấng đã đưa tất cả vào hiện tồn để hoàn thành một mục tiêu đặc thù nào đó.
4. Meditation. Upon this matter we will not enlarge as it has formed the basis of much of the teaching in my other books and many of you are working steadily upon the work of meditation. I have placed it fourth upon the list, for meditation is dangerous and unprofitable to the man who enters upon it without the basis of a good character and of clean living. Meditation then becomes only a medium for the bringing in of energies which but serve to stimulate the undesirable aspects of his life, just [205] as the fertilising of a garden full of weeds will produce a stupendous crop of them, and so crush out the weak and tiny flowers. Meditation is dangerous where there is wrong motive, such as desire for personal growth and for spiritual powers, for it produces, under these conditions only a strengthening of the shadows in the vale of illusion and brings to full growth the serpent of pride, lurking in the valley of selfish desire. Meditation is dangerous when the desire to serve is lacking. Service is another word for the utilisation of soul force for the good of the group. Where this impulse is lacking, energy may pour into the bodies, but—lacking use and finding no outlet—will tend to over-stimulate the centres, and produce conditions disastrous to the neophyte. Assimilation and elimination are laws of the soul life as well as of the physical life, and when this simple law is disregarded serious consequences will follow as inevitably as in the physical body.
4. Tham thiền. Về vấn đề này, chúng ta sẽ không bàn rộng, vì nó đã là nền tảng của nhiều giáo huấn trong các sách khác của tôi, và nhiều người trong các bạn đang đều đặn làm công việc tham thiền. Tôi đặt nó ở vị trí thứ tư trong danh sách, vì tham thiền nguy hiểm và không đem lại lợi ích cho người bước vào đó mà không có nền tảng của tính cách tốt và đời sống trong sạch. Khi ấy tham thiền chỉ trở thành một phương tiện đưa vào các năng lượng vốn chỉ kích thích những phương diện không đáng mong muốn trong đời sống của y, [205] cũng như việc bón phân cho một khu vườn đầy cỏ dại sẽ tạo ra một vụ cỏ dại khổng lồ, và như vậy bóp nghẹt những bông hoa yếu ớt, nhỏ bé. Tham thiền nguy hiểm khi có động cơ sai lầm, như ham muốn sự phát triển cá nhân và các quyền năng tinh thần, vì trong các điều kiện ấy, nó chỉ tạo ra sự củng cố các bóng tối trong thung lũng ảo tưởng, và làm cho con rắn kiêu hãnh, ẩn náu trong thung lũng của ham muốn ích kỷ, lớn mạnh đầy đủ. Tham thiền nguy hiểm khi thiếu ước muốn phụng sự. Phụng sự là một từ khác chỉ việc sử dụng mãnh lực linh hồn vì lợi ích của tập thể. Khi xung lực này thiếu vắng, năng lượng có thể tuôn vào các thể, nhưng vì thiếu sự sử dụng và không tìm được lối thoát, nó sẽ có khuynh hướng kích thích quá mức các trung tâm và tạo ra những tình trạng tai hại cho người sơ cơ. Đồng hóa và loại thải là các định luật của đời sống linh hồn cũng như của đời sống hồng trần; và khi định luật đơn giản này bị xem nhẹ, những hậu quả nghiêm trọng sẽ xảy ra tất yếu như trong thể xác.
5. Study of the centres. This we are now beginning. It is a study as yet in its infancy in the West, and little applied in the East. Our approach will be somewhat new, for though we will accustom ourselves to the names, locations and relationships of the centres we shall do no meditation work upon them. Eventually we shall arrive at an appreciation of their vibration, of their tone and colours and of the astrological significances. We shall not work with the centres down the spinal column, nor aim at their conscious utilisation as does the clairvoyant and clairaudient person. All the work done by students must be done entirely in the head and from the head. There is the seat of the Will, or Spirit aspect, working through the soul. There also is the synthetic expression of the personality, and in the understanding of the relation of the two head centres and their mutual interplay will come gradually the domination of the personality by the soul. This will lead to the consequent and subsequent [206] guided activity of the five other centres. The work in these five centres will eventually be as automatic as the present functioning of the heart and the lungs in the physical body.
5. Nghiên cứu các trung tâm. Điều này hiện nay chúng ta đang bắt đầu. Đó là một ngành nghiên cứu vẫn còn ở thời kỳ ấu thơ tại phương Tây, và ít được áp dụng ở phương Đông. Cách tiếp cận của chúng ta sẽ hơi mới, vì mặc dù chúng ta sẽ làm quen với tên gọi, vị trí và các mối liên hệ của các trung tâm, chúng ta sẽ không làm công việc tham thiền trên chúng. Cuối cùng, chúng ta sẽ đi đến sự nhận thức về rung động, âm điệu và màu sắc của chúng, cũng như các thâm nghĩa chiêm tinh của chúng. Chúng ta sẽ không làm việc với các trung tâm dọc theo cột sống, cũng không nhằm đến việc sử dụng chúng một cách có ý thức như người thông nhãn và thông nhĩ thường làm. Mọi công việc do các đạo sinh thực hiện phải được thực hiện hoàn toàn trong đầu và từ đầu. Tại đó là trụ sở của Ý Chí, hay phương diện Tinh thần, hoạt động thông qua linh hồn. Tại đó cũng là biểu lộ tổng hợp của phàm ngã; và trong sự thấu hiểu mối liên hệ giữa hai trung tâm đầu cùng sự tương tác lẫn nhau của chúng, dần dần sẽ đến sự thống trị phàm ngã bởi linh hồn. Điều này sẽ dẫn đến hoạt động được hướng dẫn, như hệ quả và tiếp sau đó, [206] của năm trung tâm còn lại. Công việc trong năm trung tâm này cuối cùng sẽ tự động như sự vận hành hiện nay của tim và phổi trong thể xác.
The presiding Intelligence, the Self, “seated on the throne between the eyebrows” and guided by the Light in the head will be awake to the interests of the soul and as alert as is the ‘I’ consciousness of the average self-centered man. By the rhythm of his divine life and by his conscious cooperation with the Plan, and functioning through the use of the Will, must the disciple in incarnation act as the agent of his soul in the three worlds.
Trí Tuệ chủ trì, Bản Ngã, “ngự trên ngai giữa hai chân mày” và được hướng dẫn bởi Ánh sáng trong đầu, sẽ tỉnh thức trước các lợi ích của linh hồn và linh hoạt như tâm thức “cái tôi” của người bình thường tập trung vào bản thân. Bằng nhịp điệu của đời sống thiêng liêng của mình, bằng sự hợp tác có ý thức với Thiên Cơ, và hoạt động thông qua việc sử dụng Ý Chí, đệ tử đang lâm phàm phải hành động như tác nhân của linh hồn mình trong ba cõi thấp.
6. Breathing Exercises. Little by little as progress is made will the needed instruction be imparted. Let me point out however that no breathing exercises can be safely used where there is no attempt to impose rhythm upon the life of every day. The two activities must go hand in hand.
6. Các bài tập thở. Từng chút một, khi có tiến bộ, sự chỉ dạy cần thiết sẽ được truyền đạt. Tuy nhiên, hãy để tôi chỉ ra rằng không một bài tập thở nào có thể được sử dụng an toàn khi không có nỗ lực áp đặt nhịp điệu lên đời sống hằng ngày. Hai hoạt động này phải song hành với nhau.
The effect of breathing exercises is varied:
Tác dụng của các bài tập thở rất đa dạng:
a. There is an oxygenating effect. The blood stream is purified and pressure is relieved. A symbolism underlies this: —for as the blood is oxygenated so is the life of the man in the three worlds permeated by spiritual energy.
a. Có tác dụng oxy hóa. Dòng máu được thanh lọc và áp lực được giảm nhẹ. Một biểu tượng nằm bên dưới điều này: vì như máu được oxy hóa, đời sống của con người trong ba cõi thấp cũng được thấm nhuần bởi năng lượng tinh thần.
b. There is the imposition of a peculiar rhythm, brought about by the particular spacing and time limit of the breaths—inhalation, retention, and exhalation—and this will vary according to the counts.
b. Có sự áp đặt một nhịp điệu đặc thù, được tạo ra bởi khoảng cách và thời lượng riêng của các hơi thở — hít vào, giữ lại và thở ra — và điều này sẽ thay đổi tùy theo số đếm.
c. There is a subtle effect of prana (which is the subjective element underlying the air breathed in and out) which affects most potently the body of prana, the vital or etheric body. Students should remember that subtle effects are more powerful than the physical effects. They produce results [207] in two directions; on the physical body and on the etheric body. The entire vital body assumes a particular rhythm according to the breathing exercises. This kept up for a long period of time will have a shattering or a cohesive effect upon the physical body, and devitalise or vitalise the etheric body correspondingly.
c. Có một tác dụng vi tế của sinh khí, tức yếu tố chủ quan nằm bên dưới không khí được hít vào và thở ra, tác động hết sức mạnh mẽ lên thể sinh khí, tức thể sinh lực hay thể dĩ thái. Các đạo sinh nên nhớ rằng các tác dụng vi tế mạnh hơn các tác dụng hồng trần. Chúng tạo ra kết quả [207] theo hai hướng: trên thể xác và trên thể dĩ thái. Toàn bộ thể sinh lực nhận lấy một nhịp điệu đặc thù tùy theo các bài tập thở. Nếu duy trì điều này trong một thời gian dài, nó sẽ có tác dụng phá vỡ hoặc cố kết đối với thể xác, và tương ứng sẽ làm suy giảm sinh lực hoặc tiếp sinh lực cho thể dĩ thái.
d. There is the effect upon the centres, which is most effectual and which follows the trend of the aspirant’s thought. If, for instance, a man thinks upon the solar plexus, that centre will inevitably be vitalised and his emotional nature be strengthened. Hence the need for students to hold their meditation steady in the head and so awaken the head centre.
d. Có tác dụng lên các trung tâm, một tác dụng rất hữu hiệu và đi theo chiều hướng tư tưởng của người chí nguyện. Chẳng hạn, nếu một người nghĩ đến tùng thái dương, trung tâm ấy tất yếu sẽ được tiếp sinh lực và bản chất cảm xúc của y sẽ được tăng cường. Vì vậy, các đạo sinh cần giữ tham thiền của mình vững chắc trong đầu và nhờ đó đánh thức trung tâm đầu.
Let no one doubt the effect of breathing exercises upon the vital body. As surely as eating and drinking build or destroy the physical body, and aid or hinder its right functioning, so do breathing exercises produce potent effects, if rightly used over a long enough period of time.
Đừng ai nghi ngờ tác dụng của các bài tập thở đối với thể sinh lực. Cũng chắc chắn như việc ăn uống xây dựng hoặc phá hủy thể xác, trợ giúp hoặc cản trở sự vận hành đúng của nó, các bài tập thở cũng tạo ra những tác dụng mạnh mẽ nếu được sử dụng đúng trong một thời gian đủ dài.
And what shall I say about the last three requirements? Nothing much, for the time is not yet ripe for their correct understanding. Step by step must the aspirant proceed and his theory must not persistently run ahead of his experience. Perhaps I can give the clue to each of these three through the formulation of a simple rule for daily living. This will be grasped by those for whom it is intended and will not work harm to the unevolved. This rule, when followed will bring about, gently and subjectively, the necessary conditions for the manifestation of the requirement.
Và tôi sẽ nói gì về ba yêu cầu cuối cùng? Không nhiều, vì thời điểm chưa chín muồi để thấu hiểu đúng về chúng. Người chí nguyện phải tiến từng bước, và lý thuyết của y không được liên tục chạy trước kinh nghiệm của mình. Có lẽ tôi có thể trao chìa khóa cho từng yêu cầu trong ba yêu cầu này qua việc hình thành một quy luật đơn giản cho đời sống hằng ngày. Những ai được dành cho điều đó sẽ nắm bắt được, và nó sẽ không gây hại cho người chưa tiến hóa. Quy luật này, khi được tuân theo, sẽ nhẹ nhàng và chủ quan tạo ra các điều kiện cần thiết cho sự biểu lộ của yêu cầu.
Learn to use the will through the development of steady purpose and the organising of the daily life, so that that purpose may reach fulfillment.
Hãy học sử dụng ý chí qua việc phát triển mục đích vững chắc và tổ chức đời sống hằng ngày, để mục đích ấy có thể đi đến hoàn thành.
Learn to do something else with time besides organise [208] it and use it. Learn to do several things simultaneously, and utilise therefore all the three bodies synchronously. Let me illustrate: —When you are practicing your daily breathing exercise keep your count with accuracy, listen attentively for the sound that “soundeth in the silence” of the interlude. At the same time think of yourself as the soul, the imposer of rhythm, and the voice that speaks. This is something which can be acquired by practice by each of you.
Hãy học làm một điều gì khác với thời gian ngoài việc tổ chức [208] và sử dụng nó. Hãy học làm nhiều việc đồng thời, và do đó sử dụng đồng bộ cả ba thể. Hãy để tôi minh họa: Khi các bạn thực hành bài tập thở hằng ngày, hãy giữ số đếm chính xác, lắng nghe chăm chú âm thanh “vang lên trong im lặng” của khoảng lặng. Đồng thời, hãy nghĩ về mình như linh hồn, như Đấng áp đặt nhịp điệu, và như tiếng nói đang cất lời. Đây là điều mà mỗi người trong các bạn có thể đạt được nhờ thực hành.
Discover the serpent of illusion by the help of the serpent of wisdom and then will the sleeping serpent mount upwards to the place of meeting.
Hãy khám phá con rắn ảo tưởng nhờ sự trợ giúp của con rắn minh triết; khi ấy con rắn đang ngủ sẽ vươn lên đến nơi gặp gỡ.
RULE SIX
The devas of the lower four feel the force when the eye opens; they are driven forth and lose their master.
Các thiên thần của bốn cõi thấp cảm nhận mãnh lực khi con mắt mở ra; chúng bị xua đi và mất chủ nhân của mình.
The Work of the Eye
[211]
[211]
We have for consideration now one of the simplest of the Rules for Magic yet at the same time one of the most practical, and one upon which the entire success of all magical work depends.
Bây giờ chúng ta phải xem xét một trong những Quy luật về huyền thuật đơn giản nhất, nhưng đồng thời cũng là một trong những quy luật thực tiễn nhất, và là một quy luật mà toàn bộ sự thành công của mọi công việc huyền thuật tùy thuộc vào.
I would like to point out to the investigating aspirant that the key to the situation depicted in the rule lies in the word contemplation found in the preceding one. Let us therefore study that word with care and seek its accurate definition.
Tôi muốn chỉ ra cho người chí nguyện đang khảo cứu rằng chìa khóa của tình huống được mô tả trong quy luật nằm trong từ chiêm ngưỡng đã xuất hiện trong quy luật trước. Vì vậy, chúng ta hãy nghiên cứu từ ấy một cách cẩn thận và tìm định nghĩa chính xác của nó.
To contemplate involves steady vision, one-pointedly directed towards a specific objective. The soul or solar angel might be regarded as gazing in three directions.
Chiêm ngưỡng hàm ý tầm nhìn vững chắc, được hướng nhất tâm về một mục tiêu xác định. Linh hồn hay Thái dương Thiên Thần có thể được xem như đang nhìn theo ba hướng.
1. Towards the Light Supernal, towards that central Life or Energy which holds hid within Itself the purpose and plan towards which all Being tends. I know not how to express this more clearly. What that directive force may be, what is the secret of Being Itself is only revealed during the more advanced initiations, and is only finally grasped when the causal body itself, the karana sarira, disintegrates and the final limitation slips away. With this direction of the solar Angel’s vision we need not concern ourselves.
1. Hướng về Ánh sáng Thiên thượng, hướng về Sự Sống hay Năng lượng trung tâm, vốn giữ kín bên trong Chính Nó mục đích và Thiên Cơ mà mọi Hiện Tồn đều hướng đến. Tôi không biết diễn đạt điều này rõ ràng hơn thế nào. Mãnh lực chỉ đạo ấy là gì, bí mật của chính Hiện Tồn là gì, chỉ được mặc khải trong các cuộc điểm đạo cao hơn, và chỉ được nắm bắt sau cùng khi thể nguyên nhân tan rã và giới hạn cuối cùng rơi đi. Chúng ta không cần bận tâm đến hướng nhìn này của Thái dương Thiên Thần.
2. Over the kingdom wherein the solar Angel reigns supreme, over the world of souls, or egoic impulses, of hierarchical work and of pure thought. This is the Kingdom of God, the world of heavenly Being. It is the state whereof disciples are becoming increasingly aware, wherein initiates work, and from which the Masters in Their graded ranks direct the evolutionary process of [212] the planet. These two directions in which the soul looks constitute the world of its spiritual experience and the object of its aspiration. Let it not be forgotten that the spiritual man, the solar Angel, has also his goal of endeavour, and that his becomes the predominant impulse once the subjugation of the vehicle in the three worlds is brought about. Just as the fully intelligent human being can only begin consciously to function as a soul and to contact the kingdom of the soul, so only the fully active and dominant soul, in which the buddhic principle is potentially controlling, can begin to contact the state of pure Being in which the monad or spirit eternally rests.
2. Trên giới mà Thái dương Thiên Thần trị vì tối thượng, trên thế giới của các linh hồn, hay các xung lực chân ngã, của công việc thánh đoàn và của tư tưởng thuần khiết. Đây là Thiên Giới, thế giới của Hiện Tồn thiên thượng. Đó là trạng thái mà các đệ tử ngày càng ý thức hơn, nơi các điểm đạo đồ làm việc, và từ đó các Chân sư trong những cấp bậc phân định của Các Ngài chỉ đạo tiến trình tiến hóa của [212] hành tinh. Hai hướng nhìn này của linh hồn cấu thành thế giới kinh nghiệm tinh thần của nó và đối tượng khát vọng của nó. Đừng quên rằng con người tinh thần, Thái dương Thiên Thần, cũng có mục tiêu nỗ lực của riêng mình, và mục tiêu ấy trở thành xung lực chi phối khi sự khuất phục vận cụ trong ba cõi thấp đã được thực hiện. Cũng như con người hoàn toàn thông minh chỉ có thể bắt đầu hoạt động một cách có ý thức như một linh hồn và tiếp xúc với giới của linh hồn, thì chỉ linh hồn hoàn toàn hoạt động và thống trị, trong đó nguyên khí Bồ đề đang có tiềm năng kiểm soát, mới có thể bắt đầu tiếp xúc với trạng thái Hiện Tồn thuần khiết, nơi chân thần hay tinh thần an trụ vĩnh cửu.
The development of the intellect in man marks his fitness for the work of treading the Path, back to full soul consciousness. The development of the buddhic or wisdom-love aspect in the solar Angel demonstrates his fitness for further progression in the awareness of the state of pure Being.
Sự phát triển trí năng nơi con người đánh dấu sự thích hợp của y đối với công việc bước trên Đường Đạo, trở về với tâm thức linh hồn trọn vẹn. Sự phát triển phương diện Bồ đề hay minh triết-bác ái nơi Thái dương Thiên Thần chứng tỏ sự thích hợp của Ngài đối với sự tiến bộ xa hơn trong nhận thức về trạng thái Hiện Tồn thuần khiết.
3. The third direction in which the soul looks and wherein he exercises the faculty of contemplative vision is towards his reflection in the three worlds. The object of the long struggle between the higher and the lower man has been to make the lower responsive to and sensitively aware of the forces emanating from the soul as the soul “contemplates” his triple instrument.
3. Hướng thứ ba mà linh hồn nhìn về, và trong đó y vận dụng năng lực của tầm nhìn chiêm ngưỡng, là hướng về phản ảnh của y trong ba cõi thấp. Mục tiêu của cuộc đấu tranh lâu dài giữa con người cao và con người thấp là làm cho cái thấp trở nên đáp ứng và nhạy bén nhận biết các mãnh lực phát xuất từ linh hồn khi linh hồn “chiêm ngưỡng” khí cụ tam phân của mình.
There is an interesting relation between these three “directions of contemplation” and the awakening in the three major centres. This cannot be more than hinted at owing to the abstruseness of the subject. So many factors govern this awakening, and each aspirant has to determine for himself the order and mode of his awakening.
Có một mối liên hệ thú vị giữa ba “hướng chiêm ngưỡng” này và sự thức tỉnh trong ba trung tâm chính. Điều này chỉ có thể được gợi ý, vì đề tài quá thâm sâu. Quá nhiều yếu tố chi phối sự thức tỉnh này, và mỗi người chí nguyện phải tự xác định cho mình trình tự và phương thức thức tỉnh của mình.
The centre between the eyebrows, commonly called the third eye has a unique and peculiar function. As I have pointed out elsewhere, students must not confound the pineal gland with the third eye. They are related, but not the same. In The Secret Doctrine they are apparently [213] regarded as the same, and the casual reader can easily confound them but they are by no means identical. This H. P. B. knew, but the apparent confusion was permitted until more of the etheric nature of forms was known. The third eye manifests as a result of the vibratory interaction between the forces of the soul, working through the pineal gland, and the forces of the personality, working through the pituitary body. These negative and positive forces interact, and when potent enough produce the light in the head. Just as the physical eye came into being in response to the light of the sun so the spiritual eye equally comes into being in response to the light of the spiritual sun. As the aspirant develops he becomes aware of the light. I refer to the light in all forms, veiled by all sheaths and expressions of the divine life, and not just to the light within the aspirant himself. As his awareness of this light increases so does the apparatus of vision develop, and the mechanism whereby he can see things in the spiritual light comes into being in the etheric body.
Trung tâm giữa hai chân mày, thường được gọi là con mắt thứ ba, có một chức năng độc đáo và đặc thù. Như tôi đã chỉ ra ở nơi khác, các đạo sinh không được lẫn lộn tuyến tùng với con mắt thứ ba. Chúng có liên hệ, nhưng không phải là một. Trong Giáo Lý Bí Nhiệm, dường như [213] chúng được xem là một, và độc giả đọc lướt có thể dễ dàng nhầm lẫn chúng, nhưng chúng tuyệt nhiên không đồng nhất. Bà Blavatsky biết điều này, nhưng sự lẫn lộn biểu kiến ấy được cho phép cho đến khi người ta biết nhiều hơn về bản chất dĩ thái của các hình tướng. Con mắt thứ ba biểu lộ như kết quả của sự tương tác rung động giữa các mãnh lực của linh hồn, hoạt động qua tuyến tùng, và các mãnh lực của phàm ngã, hoạt động qua tuyến yên. Các mãnh lực âm và dương này tương tác với nhau, và khi đủ mạnh, chúng tạo ra ánh sáng trong đầu. Cũng như mắt hồng trần xuất hiện để đáp ứng với ánh sáng của mặt trời, con mắt tinh thần cũng xuất hiện để đáp ứng với ánh sáng của mặt trời tinh thần. Khi người chí nguyện phát triển, y trở nên ý thức về ánh sáng. Tôi nói đến ánh sáng trong mọi hình tướng, bị che phủ bởi mọi lớp vỏ và các biểu lộ của sự sống thiêng liêng, chứ không chỉ ánh sáng bên trong chính người chí nguyện. Khi nhận thức của y về ánh sáng này tăng lên, bộ máy của tầm nhìn cũng phát triển, và cơ chế nhờ đó y có thể thấy các sự vật trong ánh sáng tinh thần xuất hiện trong thể dĩ thái.
This is the eye of Shiva, for it is only fully utilized in the magical work when the monadic aspect, the will aspect, is controlling.
Đây là con mắt của Đấng Hủy Diệt, vì nó chỉ được sử dụng trọn vẹn trong công việc huyền thuật khi phương diện chân thần, phương diện ý chí, đang kiểm soát.
By means of the third eye the soul accomplishes three activities:
Nhờ con mắt thứ ba, linh hồn hoàn thành ba hoạt động:
1. It is the eye of vision. By its means, the spiritual man sees behind the forms of all aspects of divine expression. He becomes aware of the light of the world, and contacts the soul within all forms. Just as the physical eye registers forms, so does the spiritual eye register the illumination within those forms which “illumination” indicates a specific state of being. It opens up the world of radiance.
1. Nó là con mắt của tầm nhìn. Nhờ nó, con người tinh thần nhìn thấy phía sau các hình tướng của mọi phương diện biểu lộ thiêng liêng. Y trở nên ý thức về ánh sáng của thế giới và tiếp xúc với linh hồn bên trong mọi hình tướng. Cũng như mắt hồng trần ghi nhận các hình tướng, con mắt tinh thần ghi nhận sự soi sáng bên trong các hình tướng ấy; “sự soi sáng” này chỉ một trạng thái hiện tồn đặc thù. Nó mở ra thế giới của hào quang rực rỡ.
2. It is the controlling factor of the magical work. All white magical work is carried forward with a definitely constructive purpose, made possible through the use of the intelligent will. In other words, the soul knows the [214] plan, and when the alignment is right and the attitude correct, the will aspect of the divine man can function and bring about results in the three worlds. The organ used is the third eye. The analogy to this can be seen in the often noticed power of the human eye as it controls other human beings and animals by a look, and through steady gazing can act magnetically. Force flows through the focused human eye. Force flows through the focused third eye.
2. Nó là yếu tố kiểm soát của công việc huyền thuật. Mọi công việc chánh thuật được tiến hành với một mục đích xây dựng xác định, điều này trở nên khả hữu nhờ việc sử dụng ý chí thông minh. Nói cách khác, linh hồn biết [214] Thiên Cơ; và khi sự chỉnh hợp đúng đắn, thái độ chính xác, phương diện ý chí của con người thiêng liêng có thể hoạt động và tạo ra kết quả trong ba cõi thấp. Cơ quan được sử dụng là con mắt thứ ba. Sự tương đồng với điều này có thể được thấy trong quyền năng thường được nhận ra của mắt người, khi nó kiểm soát những con người khác và thú vật bằng một cái nhìn, và qua việc nhìn chăm chú vững vàng có thể tác động một cách từ tính. Mãnh lực tuôn chảy qua mắt người được tập trung. Mãnh lực tuôn chảy qua con mắt thứ ba được tập trung.
3. It has a destructive aspect and the energy flowing through the third eye can have a disintegrating and destroying effect. It can, through its focused attention, directed by the intelligent will, drive out physical matter. It is the agent of the soul in the purificatory work.
3. Nó có một phương diện phá hủy, và năng lượng tuôn qua con mắt thứ ba có thể tạo ra một tác dụng làm tan rã và phá hủy. Nhờ sự chú tâm được tập trung, do ý chí thông minh điều hướng, nó có thể xua đuổi vật chất hồng trần. Nó là tác nhân của linh hồn trong công việc thanh lọc.
It should be noted here that in each of the subtle bodies in the three worlds there is a corresponding point of focus, and the centre between the eyebrows is but the physical counterpart (for etheric matter is physical) of inner correspondences.
Ở đây cần lưu ý rằng trong mỗi thể vi tế thuộc ba cõi thấp đều có một điểm tập trung tương ứng, và trung tâm giữa hai chân mày chỉ là đối phần hồng trần, vì vật chất dĩ thái là hồng trần, của các tương ứng bên trong.
Through this point of focus the soul looks out upon, or contemplates the mental plane, including the mental mechanism. Similarly on the emotional plane, the soul is brought into a state of awareness or vision of its emotional sheath and the world of astral phenomena, and the physical parallel exists for the etheric body.
Qua điểm tập trung này, linh hồn nhìn ra, hay chiêm ngưỡng, cõi trí, bao gồm cả bộ máy trí tuệ. Tương tự, trên cõi cảm xúc, linh hồn được đưa vào trạng thái nhận biết hay tầm nhìn về lớp vỏ cảm xúc của mình và thế giới các hiện tượng cảm dục; và sự song hành hồng trần tồn tại đối với thể dĩ thái.
It is this third work of the soul that is touched upon here, the destructive work of getting rid of the old forms, of shaking out of the bodies matter of an undesirable nature and of breaking down the barriers and limitations to true soul activity.
Chính công việc thứ ba này của linh hồn được đề cập ở đây: công việc phá hủy nhằm loại bỏ các hình tướng cũ, rũ bỏ khỏi các thể loại vật chất có bản chất không đáng mong muốn, và phá vỡ các rào cản cùng giới hạn đối với hoạt động chân thật của linh hồn.
These three activities of the soul, through the medium of the third eye, are the correspondences to the three aspects, and students would find it of interest to work these out.
Ba hoạt động này của linh hồn, qua trung gian con mắt thứ ba, là các tương ứng với ba phương diện, và các đạo sinh sẽ thấy thú vị khi tự triển khai chúng.
The seeing of the light within all forms through the agency of the third eye (brought into being through the realization of the light in the head, the spiritual light) is [215] but the correspondence to the physical eye, revealing forms in the light of the physical sun. This corresponds to the personality.
Việc thấy ánh sáng bên trong mọi hình tướng nhờ tác nhân con mắt thứ ba, được đưa vào hiện tồn qua sự nhận ra ánh sáng trong đầu, tức ánh sáng tinh thần, [215] chỉ là sự tương ứng với mắt hồng trần, vốn mặc khải các hình tướng trong ánh sáng của mặt trời hồng trần. Điều này tương ứng với phàm ngã.
The aspect of control through magnetic energy and the attractive force in the spiritual eye, which is the dominant factor in magical work, is the correspondence to the soul. In a most mysterious sense, the soul is the eye of the monad, enabling the monad, which is pure Being, to work, to contact, to know, and to see.
Phương diện kiểm soát qua năng lượng từ tính và mãnh lực hấp dẫn trong con mắt tinh thần, vốn là yếu tố chi phối trong công việc huyền thuật, là sự tương ứng với linh hồn. Theo một ý nghĩa hết sức huyền nhiệm, linh hồn là con mắt của chân thần, giúp chân thần, vốn là Hiện Tồn thuần khiết, có thể làm việc, tiếp xúc, hiểu biết và thấy.
The aspect of destruction is the correspondence to the monad or will aspect; in the last analysis it is the monad that brings about the final abstraction, destroys all forms, withdraws itself from manifestation and ends the cycle of creative work.
Phương diện phá hủy là sự tương ứng với chân thần hay phương diện ý chí; rốt cuộc, chính chân thần tạo ra sự trừu xuất cuối cùng, phá hủy mọi hình tướng, rút chính mình khỏi biểu lộ và kết thúc chu kỳ của công việc sáng tạo.
Bringing these concepts down to practical expression in relation to the Rule under consideration, it can be noted that all these three activities are dealt with in this Rule. The third eye opens as the result of conscious development, right alignment and the inflow of soul life. Then its magnetic controlling force makes itself felt, controlling the lives of the lower bodies, driving forth the lower four elementals (of earth, water, fire, air) and forcing the lunar lords to abdicate. The personality, which has hitherto been the master, no longer can control, and the soul comes into full domination in the three worlds.
Khi đưa các quan niệm này xuống biểu lộ thực tiễn trong liên hệ với Quy luật đang được xem xét, có thể lưu ý rằng cả ba hoạt động này đều được đề cập trong Quy luật này. Con mắt thứ ba mở ra như kết quả của sự phát triển có ý thức, sự chỉnh hợp đúng và dòng tuôn vào của sự sống linh hồn. Khi ấy mãnh lực kiểm soát từ tính của nó làm cho chính nó được cảm nhận, kiểm soát các sự sống của các thể thấp, xua đuổi bốn hành khí thấp, tức đất, nước, lửa, khí, và buộc các nguyệt tinh quân phải thoái vị. Phàm ngã, vốn cho đến nay là chủ nhân, không còn có thể kiểm soát, và linh hồn đi vào sự thống trị trọn vẹn trong ba cõi thấp.
The elemental of earth, who is the sum total of the many lives which form the physical body, is controlled and feels the eye of the Master (the one Master in the head) upon it. The gross elements constituting that body are “driven forth” and better and more adequate atoms or lives are built in.
Hành khí của đất, tức tổng thể của nhiều sự sống tạo thành thể xác, được kiểm soát và cảm nhận con mắt của Chân sư, vị Chân sư duy nhất trong đầu, đang đặt trên nó. Các nguyên tố thô trược cấu thành thể ấy bị “xua đi”, và những nguyên tử hay sự sống tốt hơn, thích hợp hơn được xây dựng vào.
The elemental of the astral or body of water undergoes a similar activity plus a stabilising effect which brings to an end the restlessness and fluidic tempestuousness which have hitherto characterised it. Through the controlling magnetic power of the spiritual eye, the soul [216] rebuilds the astral body and holds it steady and coherent through its focused attention.
Hành khí của thể cảm dục, hay thể nước, trải qua một hoạt động tương tự, cộng thêm một tác dụng ổn định, chấm dứt sự bất an và tính bão tố linh động vốn cho đến nay đã đặc trưng cho nó. Nhờ quyền năng từ tính kiểm soát của con mắt tinh thần, linh hồn [216] xây dựng lại thể cảm dục và giữ nó vững vàng, cố kết nhờ sự chú tâm tập trung của mình.
Again, an analogous process goes forward in the mental body. Old forms disappear before the clear light in which the spiritual man is working and as the Old Commentary puts it:
Một lần nữa, một tiến trình tương đồng diễn ra trong thể trí. Các hình tướng cũ biến mất trước ánh sáng trong trẻo nơi con người tinh thần đang làm việc, và như Cổ Luận diễn tả:
“One glance the soul doth cast upon the forms of mind. A ray of light streams out and darkness disappears; distortions and evil forms fade out, and all the little fires die out; the lesser lights are no more seen.
“Linh hồn phóng một thoáng nhìn lên các hình tướng của trí. Một tia sáng tuôn ra và bóng tối biến mất; những biến dạng và các hình tướng xấu ác phai tàn, và mọi ngọn lửa nhỏ đều tắt; các ánh sáng nhỏ hơn không còn được thấy nữa.
“The eye through light awakens into life the needed modes of Being. To the disciple this will carry knowledge. To the ignorant no sense is seen for a sense lacks.”
“Con mắt, nhờ ánh sáng, đánh thức vào sự sống những phương thức cần thiết của Bản Thể. Đối với đệ tử, điều này sẽ mang lại tri thức. Đối với kẻ vô minh, không thấy ý nghĩa nào, vì thiếu mất một ý thức.”
The elemental of the air symbolically understood is that substratum of energy which works through the forms of the etheric body, which is dealt with through the breath, and handled through the science of pranayama. This elemental form is the intricate etheric structure, the nadis and centres, and all advanced students know well how these are controlled by the focused attention of the soul in contemplation, acting through the head centre, focused in the region of the third eye and swept into right and specific activity by an act of the will. In the above sentence I have concentrated the formula for all magical work on the physical plane. It is through the etheric body and the force, directed through one or other of the centres, that the soul carries on the work in magic.
Hành khí của khí, hiểu theo nghĩa biểu tượng, là nền tảng năng lượng hoạt động qua các hình tướng của thể dĩ thái, được đề cập đến qua hơi thở, và được xử lý bằng khoa học pranayama. Hình tướng hành khí này là cấu trúc dĩ thái phức tạp, các kinh mạch và các trung tâm, và mọi đạo sinh cao cấp đều biết rõ những điều này được kiểm soát bởi sự chú tâm tập trung của linh hồn trong chiêm ngưỡng, tác động qua trung tâm đầu, tập trung tại vùng con mắt thứ ba và được đưa vào hoạt động đúng đắn, chuyên biệt bằng một hành vi của ý chí. Trong câu trên, tôi đã cô đọng công thức cho mọi công việc huyền thuật trên cõi hồng trần. Chính qua thể dĩ thái và mãnh lực, được hướng dẫn qua một trong các trung tâm, mà linh hồn tiến hành công việc trong huyền thuật.
It is through the intense focusing of intention in the head and the turning of the attention through the third eye towards the centre to be used that the force finds its correct outlet. That force is made potent by the energising, directed intelligent will. Study these points, for in them you will find the clue to the magical work in your own life reconstruction, to the magical work of human reconstruction which certain adepts are carrying on, and to the magical work of the evolution of the divine plan which is the motivating power of the occult Hierarchy.
Chính nhờ sự tập trung mãnh liệt của ý định trong đầu và sự chuyển hướng chú tâm qua con mắt thứ ba về phía trung tâm sẽ được dùng mà mãnh lực tìm được lối thoát đúng đắn của nó. Mãnh lực ấy trở nên mạnh mẽ nhờ ý chí thông minh, được tiếp năng lượng và được hướng dẫn. Hãy nghiên cứu những điểm này, vì trong đó các bạn sẽ tìm thấy chìa khóa cho công việc huyền thuật trong việc tái kiến tạo đời sống của chính mình, cho công việc huyền thuật tái kiến tạo nhân loại mà một số chân sư đang tiến hành, và cho công việc huyền thuật của sự tiến hoá Thiên Cơ thiêng liêng, vốn là quyền năng thúc đẩy của Thánh Đoàn huyền bí.
RULE SEVEN
Webinar Program 1 – Rule 7.1
The dual forces on the plane (whereon the vital power must be sought) are seen; the two paths face the solar Angel; the poles vibrate. A choice confronts the one who meditates.
Các mãnh lực kép trên cõi giới nơi phải tìm kiếm quyền năng thiết yếu được thấy; hai con đường đối diện với Thái dương Thiên Thần; các cực rung động. Một lựa chọn đối diện với người hành thiền.
The Battleground of the Astral Plane
[219]
[219]
We must start our study and consideration of the seventh Rule for Magic. We have completed the first six Rules which deal specifically with work on the mental plane, and hence have a practical value only for those who are beginning to utilize the power of the mind in the magical work of creation.
Chúng ta phải bắt đầu nghiên cứu và suy xét Quy Luật thứ bảy về Huyền Thuật. Chúng ta đã hoàn tất sáu Quy Luật đầu, vốn đề cập chuyên biệt đến công việc trên cõi trí, và vì thế chỉ có giá trị thực tiễn đối với những ai đang bắt đầu sử dụng quyền năng của trí trong công việc huyền thuật của sự sáng tạo.
It is interesting to note in this connection that, as humanity enters into its heritage of mind, there appears simultaneously a growing tendency towards magical work. Schools of affirmation are cropping up on all sides, whose announced intent is to create those natural conditions wherein a man may have what he deems to be admirable and advisable. Books on the subject of the creative mind are flooding the markets, and discussions on the force back of the creative arts are deemed of vital interest. Psychologists are giving the entire matter much consideration, and though at present the ideal is viewed almost entirely in terms of the physical plane, yet the sum total indicates a vibratory activity in the world soul, as it expresses itself through humanity, and issues forth from the mental realm. The pioneers of the race, and the foremost thinkers and creative workers of humanity are but the sensitives who respond most readily to the mental impulses. They are in the minority as yet, and most people respond to the forces and vibrations emanating from the plane of the emotions and of desire. More and more however are awakening, and the significance of the six first Rules of Magic will become increasingly apparent.
Trong mối liên hệ này, thật thú vị khi lưu ý rằng, khi nhân loại bước vào di sản trí tuệ của mình, đồng thời xuất hiện một khuynh hướng ngày càng tăng hướng về công việc huyền thuật. Các trường phái khẳng định đang mọc lên khắp nơi, với ý định được tuyên bố là tạo ra những điều kiện tự nhiên trong đó con người có thể có được điều y cho là đáng ngưỡng mộ và đáng khuyên dùng. Sách vở về đề tài trí sáng tạo đang tràn ngập thị trường, và các cuộc thảo luận về mãnh lực đứng sau các nghệ thuật sáng tạo được xem là có tầm quan trọng thiết yếu. Các nhà tâm lý học đang xem xét toàn bộ vấn đề này rất nhiều, và tuy hiện nay lý tưởng hầu như được nhìn hoàn toàn theo thuật ngữ của cõi hồng trần, song tổng thể vẫn cho thấy một hoạt động rung động trong linh hồn thế giới, khi nó biểu hiện qua nhân loại và tuôn ra từ cõi trí. Những người tiên phong của nhân loại, cùng các nhà tư tưởng và những người hoạt động sáng tạo hàng đầu của nhân loại, chỉ là những người nhạy cảm đáp ứng dễ dàng nhất với các xung lực trí tuệ. Hiện nay họ vẫn là thiểu số, và đa số con người đáp ứng với các mãnh lực và rung động xuất phát từ cõi của cảm xúc và ham muốn. Tuy nhiên, ngày càng nhiều người đang thức tỉnh, và thâm nghĩa của sáu Quy Luật Huyền Thuật đầu tiên sẽ ngày càng trở nên rõ ràng.
[220]
[220]
These fifteen rules are divided into:
Mười lăm quy luật này được chia thành:
Six rules on the mental plane.
Sáu quy luật trên cõi trí.
Five rules on the desire or astral plane.
Năm quy luật trên cõi ham muốn hay cõi cảm dục.
Four rules on the physical plane.
Bốn quy luật trên cõi hồng trần.
The main thought to be held clearly in the mind is that they confine themselves to the use of energy in the three worlds, and that this energy is either consciously manipulated by the governing soul or is swept into activity by the force inherent in the matter of the three worlds, independently of the soul. When this is the case, the man is a victim of his own form energies and the matter aspect of all manifestation. In the other case, he is the intelligent ruler, controller of his own destinies, and swings the lower energies into forms and activities through the power of his mind impulses, and the focussed attention of his own soul. In the six rules already considered one or two thoughts most clearly emerge and might be summed up in the following terms:
Tư tưởng chính cần được giữ rõ ràng trong thể trí là: các quy luật này tự giới hạn vào việc sử dụng năng lượng trong ba cõi thấp, và năng lượng này hoặc được linh hồn chủ quản thao tác một cách có ý thức, hoặc bị cuốn vào hoạt động bởi mãnh lực cố hữu trong vật chất của ba cõi thấp, độc lập với linh hồn. Khi trường hợp sau xảy ra, con người là nạn nhân của các năng lượng hình tướng của chính mình và của phương diện vật chất trong mọi biểu hiện. Trong trường hợp kia, y là người cai quản thông minh, người kiểm soát các định mệnh của chính mình, và đưa các năng lượng thấp vào các hình tướng và hoạt động nhờ quyền năng của các xung lực trí tuệ cùng sự chú tâm tập trung của chính linh hồn y. Trong sáu quy luật đã được xem xét, một hoặc hai tư tưởng nổi bật rõ ràng nhất và có thể được tóm lược như sau:
Rule 1—Recollection, resulting in concentration.
Quy Luật 1—Hồi tưởng, đưa đến tập trung.
Rule 2—Response, resulting in an interaction between higher and lower.
Quy Luật 2—Đáp ứng, đưa đến sự tương tác giữa cao và thấp.
Rule 3—Radiation, resulting in a sounding forth.
Quy Luật 3—Phóng xạ, đưa đến sự xướng vang.
Rule 4—Respiration, resulting in creative work.
Quy Luật 4—Hô hấp, đưa đến công việc sáng tạo.
Rule 5—Re-union, resulting in the at-one-ment.
Quy Luật 5—Tái hợp, đưa đến sự hợp nhất.
Rule 6—Re-orientation, resulting in a clear vision of the Plan.
Quy Luật 6—Tái định hướng, đưa đến một tầm nhìn rõ ràng về Thiên Cơ.
Students would do well to consider these relationships, and to work out the underlying synthesis.
Các đạo sinh nên suy xét những mối liên hệ này và tự tìm ra tổng hợp ẩn bên dưới.
In the words of this rule the astral plane, with its function and problem, is ably synthesized. Note the terms used in the description given in a few short phrases:
Trong lời của quy luật này, cõi cảm dục, với chức năng và vấn đề của nó, được tổng hợp một cách tài tình. Hãy lưu ý các thuật ngữ được dùng trong phần mô tả được đưa ra bằng vài cụm ngắn:
1. The plane of dual forces.
1. Cõi của các mãnh lực kép.
2. The plane of the two paths.
2. Cõi của hai con đường.
3. The plane whereon the vital power is sought. [221]
3. Cõi nơi quyền năng thiết yếu được tìm kiếm. [221]
4. The plane of the vibrating poles.
4. Cõi của các cực rung động.
5. The plane whereon a choice is made.
5. Cõi nơi một lựa chọn được thực hiện.
One of the most vital things every aspirant has to do is to learn to understand the astral plane, to comprehend its nature and to learn both to stand free from it and then to work on it. In this instruction, I seek to give some clear teaching on this plane, for the moment a man can “see” on the astral plane, and can achieve equilibrium and hold steady in the midst of its vibrating forces, that moment he is ready for initiation.
Một trong những điều thiết yếu nhất mà mỗi người chí nguyện phải làm là học cách thấu hiểu cõi cảm dục, lĩnh hội bản chất của nó, và học cả cách đứng tự do khỏi nó rồi sau đó làm việc trên đó. Trong huấn thị này, tôi tìm cách đưa ra một giáo huấn rõ ràng về cõi này, vì khoảnh khắc một người có thể “thấy” trên cõi cảm dục, có thể đạt được quân bình và đứng vững giữa các mãnh lực rung động của nó, chính khoảnh khắc ấy y đã sẵn sàng cho điểm đạo.
Webinar Program 2 – Rule 7.2
First, let us gather together some of the terms which are used to describe this sphere of divine Being wherewith a man has first to identify himself, penetrate to the centre, pierce through its veiled illusion, and eventually stand poised, untouched, detached, uninfluenced and free.
Trước hết, chúng ta hãy tập hợp một số thuật ngữ được dùng để mô tả khối cầu Bản Thể thiêng liêng này, nơi con người trước hết phải đồng hoá với nó, thâm nhập đến trung tâm, xuyên qua ảo tưởng che phủ của nó, và cuối cùng đứng quân bình, không bị chạm đến, tách rời, không bị ảnh hưởng và tự do.
The term “astral” so often used is in reality a misnomer. H. P. B. was basically right when she used the term in connection with the etheric or vital planes of the physical plane. When contact is made with the etheric world, the first impression given is always of a starry light, of brilliance, of scintillation. Gradually, however, the word became identified with Kama or desire, and so was used for the plane of emotional reaction.
Thuật ngữ “cảm dục” thường được dùng thật ra là một cách gọi sai. H. P. B. về căn bản đã đúng khi bà dùng thuật ngữ ấy liên hệ với các cõi dĩ thái hay sinh lực của cõi hồng trần. Khi tiếp xúc với thế giới dĩ thái, ấn tượng đầu tiên được trao truyền luôn là một ánh sáng đầy sao, rực rỡ, lấp lánh. Tuy nhiên, dần dần, từ này trở nên đồng nhất với Kama hay ham muốn, và vì thế được dùng cho cõi của phản ứng cảm xúc.
It is interesting to note this for it is in itself an instance of the effect of the astral plane upon the human brain, which in its uninformed condition reverses the reality and sees things in an upside down state. The appearance of the astral plane when first definitely seen by the “opened eye” of the aspirant is one of dense fog, confusion, changing forms, interpenetrating and intermingling colours, and is of such a kaleidoscopic appearance that the hopelessness of the enterprise seems overwhelming. It is not light, or starry or clear. It is apparently impenetrable disorder, for it is the meeting ground of forces. Because the forces in the aspirant’s [222] own body are equally in disorder, he blends in with the surrounding chaos to such an extent that it is at first almost impossible for the onlooking soul to dissociate its own astral mechanism from the astral mechanism of humanity as a whole, and from the astral mechanism of the world.
Điều này thật thú vị để lưu ý, vì tự nó là một trường hợp về tác động của cõi cảm dục lên bộ não con người, vốn trong tình trạng chưa được thông hiểu của nó đã đảo ngược thực tại và thấy sự vật trong trạng thái lộn ngược. Vẻ ngoài của cõi cảm dục khi lần đầu được “con mắt mở” của người chí nguyện thấy một cách xác định là một màn sương dày đặc, hỗn loạn, các hình tướng biến đổi, các màu sắc xuyên nhập và hòa lẫn vào nhau, và có vẻ ngoài như kính vạn hoa đến mức sự vô vọng của công việc dường như áp đảo. Nó không phải là ánh sáng, hay đầy sao, hay trong trẻo. Bề ngoài nó là sự rối loạn không thể xuyên thấu, vì nó là nơi gặp gỡ của các mãnh lực. Bởi các mãnh lực trong chính thể của người chí nguyện [222] cũng ở trong tình trạng rối loạn như thế, y hòa lẫn với sự hỗn mang chung quanh đến mức ban đầu linh hồn quan sát hầu như không thể tách biệt bộ máy cảm dục của chính mình khỏi bộ máy cảm dục của toàn thể nhân loại và khỏi bộ máy cảm dục của thế giới.
One of the first things then that the aspirant has to learn is to dissociate his own aura in the emotional sense from that of his surroundings and much time is expended in learning to do this. It is for this reason that one of the first qualifications of discipleship is discrimination, for it is through the use of the mind, as analyzer and separator, that the astral body is brought under control.
Vậy một trong những điều đầu tiên người chí nguyện phải học là tách rời hào quang của chính mình, theo nghĩa cảm xúc, khỏi hào quang của môi trường chung quanh, và nhiều thời gian được dùng để học làm điều này. Chính vì lý do này mà một trong những phẩm chất đầu tiên của địa vị đệ tử là phân biện, vì chính nhờ sử dụng thể trí như công cụ phân tích và tách biệt mà thể cảm dục được đưa vào sự kiểm soát.
Secondly, the astral plane is the plane of illusion, of glamour, and of a distorted presentation of reality. The reason for this is that every individual in the world is busy working in astral matter, and the potency of human desire and of world desire produces that constant “out-picturing” and form building which leads to the most concrete effects of astral matter. Individual desire, national desire, racial desire, the desire of humanity as a whole, plus the instinctual desire of all subhuman lives causes a constant changing and shifting of the substance of the plane; there is a building of the temporary forms, some of rare beauty, some of no beauty, and a vitalising by the astral energy of its creator. Add to these forms that persistent and steadily growing scenario we call the “akashic records” which concern the emotional history of the past, add the activities of the discarnate lives which are passing through the astral plane, either out of or towards incarnation, add the potent desire, purified and intelligent, of all superhuman Lives, including those of the occult planetary Hierarchy, and the sum total of forces present is stupendous. All play upon, around and through every human being, and according to the calibre of his physical body, and the condition of his centres [223] will be his response. Through this illusory panorama, the aspirant has to make his way, finding the clue or thread which will lead him out of the maze, and holding fast to each tiny fragment of reality as it presents itself to him, learning to distinguish truth from glamour, the permanent from the impermanent and the certainty from the unreal. As the Old Commentary puts it:
Thứ hai, cõi cảm dục là cõi của ảo tưởng, của ảo cảm, và của sự trình hiện thực tại một cách méo mó. Lý do là vì mỗi cá nhân trong thế giới đều đang bận rộn làm việc trong vật chất cảm dục, và quyền năng của ham muốn con người cùng ham muốn thế giới tạo ra sự “phóng ảnh ra ngoài” và kiến tạo hình tướng liên tục, dẫn đến các hiệu quả cụ thể nhất của vật chất cảm dục. Ham muốn cá nhân, ham muốn quốc gia, ham muốn chủng tộc, ham muốn của toàn thể nhân loại, cộng với ham muốn bản năng của mọi sự sống dưới nhân loại, gây ra sự biến đổi và dịch chuyển không ngừng của chất liệu cõi này; có sự kiến tạo các hình tướng tạm thời, một số có vẻ đẹp hiếm có, một số không có vẻ đẹp, và có sự tiếp sinh lực bởi năng lượng cảm dục của kẻ sáng tạo ra chúng. Hãy thêm vào các hình tướng này kịch bản dai dẳng và ngày càng tăng trưởng mà chúng ta gọi là “các ký ảnh tiên thiên”, liên quan đến lịch sử cảm xúc của quá khứ; thêm vào các hoạt động của những sự sống đã rời xác đang đi qua cõi cảm dục, hoặc ra khỏi hoặc hướng về sự lâm phàm; thêm vào ham muốn mạnh mẽ, đã được thanh luyện và thông minh, của mọi Sự Sống siêu nhân, kể cả các Sự Sống của Thánh Đoàn hành tinh huyền bí, thì tổng số các mãnh lực hiện diện là khổng lồ. Tất cả đều tác động lên, quanh và xuyên qua mỗi con người, và tùy theo phẩm chất của thể xác y cùng tình trạng các trung tâm của y [223] mà y sẽ đáp ứng. Xuyên qua toàn cảnh ảo tưởng này, người chí nguyện phải tìm đường đi, tìm chìa khóa hay sợi dây sẽ dẫn y ra khỏi mê cung, và bám chặt vào từng mảnh thực tại nhỏ bé khi nó hiện ra với y, học cách phân biệt chân lý với ảo cảm, cái thường tồn với cái vô thường, và điều chắc thật với điều không thực. Như Cổ Luận diễn tả:
“Let the disciple seize hold of the tail of the serpent of wisdom, and having with firmness grasped it, let him follow it into the deepest centre of the Hall of Wisdom. Let him not be betrayed into the trap set for him by the serpent of illusion, but let him shut his eyes to the colourful tracery upon its back, and his ears to the melody of its voice. Let him discern the jewel, set in the forehead of the serpent whose tail he holds, and by its radiance traverse the miry halls of maya.”
“Hãy để đệ tử nắm lấy đuôi con rắn minh triết, và khi đã nắm vững chắc, hãy để y theo nó vào trung tâm sâu nhất của Phòng Minh triết. Đừng để y bị phản bội vào cái bẫy được con rắn ảo tưởng đặt ra cho y, mà hãy để y nhắm mắt trước đường nét đầy màu sắc trên lưng nó, và bịt tai trước giai điệu của tiếng nó. Hãy để y phân biện viên ngọc, được đặt nơi trán của con rắn mà y đang nắm đuôi, và nhờ hào quang của nó băng qua các phòng lầy lội của ảo lực.”
No glamour, no illusion can long hold the man who has set himself the task of treading the razor-edged Path which leads through the wilderness, through the thick-set forest, through the deep waters of sorrow and distress, through the valley of sacrifice and over the mountains of vision to the gate of Deliverance. He may travel sometimes in the dark (and the illusion of darkness is very real); he may travel sometimes in a light so dazzling and bewildering that he can scarcely see the way ahead; he may know what it is to falter on the Path, and to drop under the fatigue of service and of strife; he may be temporarily sidetracked and wander down the by-paths of ambition, of self-interest and of material enchantment, but the lapse will be but brief. Nothing in heaven or hell, on earth or elsewhere can prevent the progress of the man who has awakened to the illusion, who has glimpsed the reality beyond the glamour of the astral plane, and who has heard, even if only once, the clarion call of his own soul.
Không ảo cảm nào, không ảo tưởng nào có thể giữ lâu người đã tự đặt cho mình nhiệm vụ bước trên Đường Đạo sắc như lưỡi dao cạo, dẫn qua hoang địa, qua khu rừng rậm rạp, qua những dòng nước sâu của sầu khổ và thống khổ, qua thung lũng hi sinh và vượt qua các ngọn núi của tầm nhìn đến cổng Giải Thoát. Y đôi khi có thể đi trong bóng tối, và ảo tưởng của bóng tối rất thực; y đôi khi có thể đi trong một ánh sáng chói lòa và gây bối rối đến mức hầu như không thấy con đường phía trước; y có thể biết thế nào là chao đảo trên Đường Đạo, và gục xuống dưới sự mệt mỏi của phụng sự và tranh đấu; y có thể tạm thời bị đưa lệch đường và lang thang xuống các lối phụ của tham vọng, tư lợi và sự mê hoặc vật chất, nhưng sự sa sút ấy chỉ ngắn ngủi. Không điều gì trên thiên đường hay địa ngục, trên Trái Đất hay nơi nào khác có thể ngăn cản bước tiến của người đã thức tỉnh trước ảo tưởng, đã thoáng thấy thực tại vượt ngoài ảo cảm của cõi cảm dục, và đã nghe, dù chỉ một lần, tiếng kèn vang dội của chính linh hồn mình.
Webinar Program 3 – Rule 7.3
The astral plane is also the Kurukshetra, both of humanity [224] as a whole and of the individual human unit. It is the battle-ground whereon must be found the Waterloo of every aspirant. In some one life, there comes an emotional crisis in which decisive action is taken, and the disciple proves his control of his emotional nature. This may take the form of some great and vital test, covering a brief time but calling forth every resource of wisdom and of purity that the disciple possesses, or it may be a long and protracted emotional strain, carried over many years of living. But in the attaining of success and in the achievement of clear vision and right discernment (through right discrimination) the disciple testifies to his fitness for the second initiation.
Cõi cảm dục cũng là Kurukshetra, cả của toàn thể nhân loại [224] lẫn của đơn vị con người cá biệt. Đó là chiến trường nơi phải tìm thấy Waterloo của mỗi người chí nguyện. Trong một kiếp sống nào đó, có một khủng hoảng cảm xúc trong đó hành động quyết định được thực hiện, và đệ tử chứng tỏ quyền kiểm soát của mình đối với bản chất cảm xúc. Điều này có thể mang hình thức của một thử thách lớn lao và thiết yếu nào đó, diễn ra trong thời gian ngắn nhưng kêu gọi mọi nguồn minh triết và thanh khiết mà đệ tử có, hoặc có thể là một sức căng cảm xúc kéo dài và dai dẳng, trải qua nhiều năm sống. Nhưng trong việc đạt được thành công, và trong việc đạt được tầm nhìn rõ ràng cùng phân biện tinh thần đúng đắn qua sự phân biện đúng, đệ tử chứng tỏ y xứng đáng với lần điểm đạo thứ hai.
I would like to point out that it is this test and crisis through which humanity is now passing, and which began in those conditions which culminated in the world war and the present world strain. The first initiation of humanity, as an entity, took place when individualization became possible, and the soul was born in the body of humanity. This was preceded by a period of fearful stress and strain, dimly sensed by the pioneers into the human kingdom from the ranks of the animal-men. Should this crisis be successfully passed, the second initiation of humanity will be the result—the passing through the baptism and the entering of the stream. So the world war and its resulting effects constitute the Kurukshetra of the world Arjuna, and the outcome is still in the balance. Let this not be forgotten. There is however no cause for pessimism. The outcome of good is inevitable. It is however a question of a slow or a rapid realization and liberation from the great world illusion, and to this end every aspirant is begged to work strenuously and to lend his aid. Every man who liberates himself, who sees clearly, and who releases himself from the glamour of illusion aids in the Great Work. [225]
Tôi muốn chỉ ra rằng chính thử thách và khủng hoảng này là điều nhân loại hiện đang trải qua, và nó đã bắt đầu trong những điều kiện đạt cao điểm nơi cuộc chiến tranh thế giới và sự căng thẳng thế giới hiện nay. Lần điểm đạo thứ nhất của nhân loại, với tư cách một thực thể, đã diễn ra khi sự biệt ngã hóa trở nên khả hữu, và linh hồn được sinh ra trong thể của nhân loại. Điều này được đi trước bởi một thời kỳ căng thẳng và áp lực đáng sợ, được những người tiên phong tiến vào giới nhân loại từ hàng ngũ người thú cảm nhận mơ hồ. Nếu khủng hoảng này được vượt qua thành công, lần điểm đạo thứ hai của nhân loại sẽ là kết quả—sự đi qua phép rửa và bước vào dòng nước. Vì thế, cuộc chiến tranh thế giới và các hệ quả của nó tạo thành Kurukshetra của Arjuna thế giới, và kết quả vẫn còn ở thế cân bằng. Đừng quên điều này. Tuy nhiên, không có lý do gì để bi quan. Kết quả tốt là tất yếu. Tuy vậy, vấn đề là sự nhận biết và giải thoát khỏi đại ảo tưởng thế giới sẽ chậm hay nhanh, và vì mục đích này, mỗi người chí nguyện được khẩn thiết yêu cầu làm việc mạnh mẽ và góp phần trợ giúp. Mỗi người tự giải thoát mình, thấy rõ ràng, và giải phóng mình khỏi ảo cảm của ảo tưởng đều trợ giúp Đại Công Việc. [225]
Again, the astral plane is that whereon the pairs of opposites act and interact, and whereon the pull of the great dualities is most potently felt. Primarily, the interaction is between the soul and its vehicle, matter, but there are many lesser dualities which play their part and are more easily recognized by the average man.
Một lần nữa, cõi cảm dục là nơi các cặp đối lập tác động và tương tác, và là nơi sức kéo của các nhị nguyên lớn được cảm nhận mạnh mẽ nhất. Trước hết, sự tương tác là giữa linh hồn và vận cụ của nó, tức vật chất, nhưng có nhiều nhị nguyên nhỏ hơn cùng đóng vai trò của chúng và dễ được người trung bình nhận ra hơn.
Light and darkness interact, as do pleasure and pain; good and evil meet and form the playground of the Gods, and poverty and riches are offset one against the other. The entire modern economic situation is of an astral nature; it is the outcome of desire and the result of a certain selfish use of the forces of matter. Heat and cold, as we understand the term, in a most peculiar manner are the result of the interplay of the pairs of opposites, and an interesting line of occult study concerns itself with the effects of racial emotions on climatic conditions. We most truly make our climate in one significant sense. When desire has burnt itself out, planetary life comes to an end, as climatic conditions will negate form-life as we understand it.
Ánh sáng và bóng tối tương tác, cũng như khoái lạc và đau khổ; thiện và ác gặp nhau và tạo thành sân chơi của các Thượng đế, và nghèo khó cùng giàu sang hóa giải lẫn nhau. Toàn bộ tình trạng kinh tế hiện đại có bản chất cảm dục; nó là kết quả của ham muốn và là hệ quả của một cách sử dụng ích kỷ nào đó đối với các mãnh lực của vật chất. Nóng và lạnh, như chúng ta hiểu thuật ngữ này, theo một cách rất đặc biệt, là kết quả của sự tương tác giữa các cặp đối lập, và một hướng nghiên cứu huyền bí thú vị liên quan đến các tác động của cảm xúc chủng tộc lên điều kiện khí hậu. Theo một ý nghĩa quan trọng, chính chúng ta thật sự tạo nên khí hậu của mình. Khi ham muốn đã tự thiêu rụi, sự sống hành tinh đi đến kết thúc, vì các điều kiện khí hậu sẽ phủ định sự sống hình tướng như chúng ta hiểu.
In relation to the human unit, the secret of liberation lies in the balancing of the forces and the equilibrising of the pairs of opposites. The Path is the narrow line between these pairs which the aspirant finds and treads, turning neither to the right nor to the left.
Liên quan đến đơn vị con người, bí quyết giải thoát nằm trong việc quân bình các mãnh lực và làm cân bằng các cặp đối lập. Đường Đạo là đường hẹp giữa các cặp này, mà người chí nguyện tìm thấy và bước đi, không rẽ sang phải cũng không rẽ sang trái.
It must be remembered always that when the pairs of opposites are discerned, when a man balances the forces of his own nature, when he has found the Path and become the Path, then he can work with the world forces, can preserve the balance and the equilibrium of the energies of the three worlds and so become a co-worker with the Masters of the Wisdom. Let us pray and hope that this may be the practical outcome of our understanding of the nature of the battleground of the astral plane.
Cần luôn nhớ rằng khi các cặp đối lập được phân biện, khi con người quân bình các mãnh lực của bản chất chính mình, khi y đã tìm thấy Đường Đạo và trở thành Đường Đạo, khi ấy y có thể làm việc với các mãnh lực thế giới, có thể gìn giữ sự cân bằng và quân bình của các năng lượng trong ba cõi thấp, và do đó trở thành cộng sự viên với các Chân sư Minh Triết. Chúng ta hãy cầu nguyện và hy vọng rằng đây có thể là kết quả thực tiễn từ sự thấu hiểu của chúng ta về bản chất chiến trường của cõi cảm dục.
Webinar Program 4 – Rule 7.4
The Two Paths
[226]
[226]
Passing from our consideration of the nature of the astral plane we will deal with its functions and the relation of the disciple to its activities. Let us remember certain things about it. First, it is pre-eminently the battle-ground, and on it is fought the warfare which eventuates in the final release of the imprisoned soul. It is useful to have in mind the outstanding characteristics of the three planes and the three bodies which function on them.
Rời khỏi sự suy xét của chúng ta về bản chất của cõi cảm dục, chúng ta sẽ đề cập đến các chức năng của nó và mối liên hệ của đệ tử với các hoạt động của nó. Chúng ta hãy nhớ một số điều về nó. Trước hết, nó nổi bật là chiến trường, và trên đó diễn ra cuộc chiến đưa đến sự giải thoát cuối cùng của linh hồn bị giam cầm. Thật hữu ích khi ghi nhớ các đặc điểm nổi bật của ba cõi và ba thể hoạt động trên đó.
The physical plane is the plane of active experience in and through matter. It is the plane of externalisation and, according to the condition and point of development of the inner man, so will be the outer form and its activities.
Cõi hồng trần là cõi của kinh nghiệm linh hoạt trong và qua vật chất. Đó là cõi của sự ngoại hiện, và tùy theo tình trạng cùng điểm phát triển của con người bên trong, hình tướng bên ngoài và các hoạt động của nó cũng sẽ như vậy.
The astral plane is the plane whereon the man passes through three stages of consciousness:
Cõi cảm dục là cõi nơi con người đi qua ba giai đoạn tâm thức:
a. He gains, through his sensory apparatus, consciousness in the world of forms, and develops ability to re-act to those forms with wisdom and intelligence. This consciousness he shares with the animal world, though he goes far beyond them in some respects, owing to his possession of a correlating and co-ordinating mind.
a. Nhờ bộ máy giác quan của mình, y đạt được tâm thức trong thế giới hình tướng, và phát triển khả năng phản ứng với các hình tướng ấy bằng minh triết và trí thông minh. Tâm thức này y chia sẻ với thế giới động vật, dù y vượt xa chúng ở một số phương diện, nhờ sở hữu một thể trí có khả năng tương liên và phối hợp.
b. Sensitivity, or awareness of moods, emotions and feelings, desires and aspirations which have their roots within him in the principle of self-consciousness, or in the ahamkara principle, as the occultist (who loves difficult phrases) is apt to call it. This he shares in common with his fellow-men.
b. Sự nhạy cảm, hay nhận biết về các tâm trạng, cảm xúc và tình cảm, ham muốn và khát vọng vốn có gốc rễ trong y nơi nguyên khí ngã thức, hay nơi nguyên khí tạo-ngã, như nhà huyền bí học, vốn ưa các cụm từ khó, thường gọi. Điều này y có chung với các đồng loại của mình.
c. Spiritual awareness or sensitiveness to the spiritual world, and the feeling aspect of the higher consciousness. This has its roots in the soul, presupposes the dominance of the mental nature, and is that faculty [227] which constitutes him a mystic. This awareness he shares in common with all disciples and it is the reward of the gained victories of his astral plane experience.
c. Sự nhận biết tinh thần hay tính nhạy cảm đối với thế giới tinh thần, và phương diện cảm nhận của tâm thức cao hơn. Điều này có gốc rễ trong linh hồn, giả định sự chi phối của bản chất trí tuệ, và là năng lực [227] khiến y trở thành một nhà thần bí. Sự nhận biết này y có chung với mọi đệ tử, và đó là phần thưởng của những chiến thắng đã đạt được qua kinh nghiệm cõi cảm dục của y.
The mental plane comes next. In it the right use of the intellect is the outstanding achievement. This is also characterised by three stages:
Cõi trí kế tiếp. Trong đó, việc sử dụng đúng trí năng là thành tựu nổi bật. Điều này cũng được đặc trưng bởi ba giai đoạn:
a. The stage wherein the mind is the receiver of impressions from the outer world, via the five senses and the brain. This is a negative condition, and, in it, the “modifications of the thinking principle” are brought about through the impacts of the external world, and the re-actions of the astral world.
a. Giai đoạn trong đó thể trí là nơi tiếp nhận các ấn tượng từ thế giới bên ngoài, qua năm giác quan và bộ não. Đây là một tình trạng âm tính, và trong đó, “những biến thái của nguyên khí tư tưởng” được tạo ra do các va chạm của thế giới bên ngoài và các phản ứng của thế giới cảm dục.
b. The stage wherein the mind initiates its own activities, and wherein the intellect is a dominating factor. Though thrown into activity by the factors enumerated above, it is responsive also to the thought currents of the mental plane as well, and becomes exceedingly active as the result of these two contacts. Out of these a third activity supervenes wherein the reasoning principle acts upon the information gained in these two ways, sets its own streams of thoughts, and formulates its own thought forms, as well as registering those of others.
b. Giai đoạn trong đó thể trí khởi phát các hoạt động riêng của nó, và trong đó trí năng là một yếu tố chi phối. Dù được đưa vào hoạt động bởi các yếu tố đã liệt kê ở trên, nó cũng đáp ứng với các dòng tư tưởng của cõi trí, và trở nên cực kỳ linh hoạt do hai tiếp xúc này. Từ đó phát sinh một hoạt động thứ ba, trong đó nguyên khí lý luận tác động lên thông tin thu được theo hai cách này, thiết lập các dòng tư tưởng của riêng nó, và tạo lập các hình tư tưởng của riêng nó, đồng thời ghi nhận các hình tư tưởng của người khác.
c. The stage wherein the soul, through concentration and meditation succeeds in imposing its ideas and impressions upon the mind held “steady in the light” and so enables the mental body to respond to impressions and contacts emanating from the subjective and spiritual worlds.
c. Giai đoạn trong đó linh hồn, nhờ tập trung và tham thiền, thành công trong việc in các ý tưởng và ấn tượng của mình lên thể trí được giữ “vững vàng trong ánh sáng”, và nhờ vậy khiến thể trí có thể đáp ứng với các ấn tượng và tiếp xúc phát ra từ các thế giới nội tâm và tinh thần.
Yet the battle, par excellence, is fought out in the astral body, and only reaches its most intense point and its potent fierceness when there is a good physical instrument and a well-equipped mentality. The greater the sensitivity of the astral body, the greater its reactions to [228] the physical world and to the mental condition and hence the fact emerges that disciples and the more highly evolved people in the world have a more potent astral body and work under greater emotional strain than the less highly evolved and the liberated sons of God.
Tuy nhiên, trận chiến đúng nghĩa nhất được chiến đấu trong thể cảm dục, và chỉ đạt đến điểm mãnh liệt nhất cùng sự dữ dội mạnh mẽ của nó khi có một công cụ hồng trần tốt và một trí tuệ được trang bị đầy đủ. Thể cảm dục càng nhạy cảm bao nhiêu, các phản ứng của nó đối với [228] thế giới hồng trần và tình trạng trí tuệ càng lớn bấy nhiêu, và từ đó nảy sinh sự kiện rằng các đệ tử và những người tiến hoá cao hơn trong thế giới có một thể cảm dục mạnh mẽ hơn và làm việc dưới sức căng cảm xúc lớn hơn so với những người kém tiến hoá hơn và các Con của Thượng đế đã được giải thoát.
Students are therefore begged to deal drastically and potently with their emotional natures, remembering that victory descends from above and cannot be worked up to from below. The soul must govern and its instrument in the warfare is the consecrated mind.
Do đó, các đạo sinh được khẩn thiết yêu cầu xử lý bản chất cảm xúc của mình một cách quyết liệt và mạnh mẽ, nhớ rằng chiến thắng đi xuống từ trên cao và không thể được xây dựng từ dưới lên. Linh hồn phải cai quản và công cụ của nó trong cuộc chiến là thể trí đã được thánh hiến.
It is interesting to note the occult sequence in the description given of this plane in the rule under consideration.
Thật thú vị khi lưu ý trình tự huyền bí trong phần mô tả về cõi này trong quy luật đang được xem xét.
It is first of all the plane of dual forces. The first thing the aspirant becomes aware of is duality. The little evolved man is aware of synthesis, but it is the synthesis of his material nature. The highly spiritual man is aware also of synthesis but it is that in his soul, whose consciousness is that of unity. But in between is the wretched aspirant, conscious of duality above all else and pulled hither and thither between the two. His first step has, for its objective, to make him aware of the pairs of opposites and of the necessity to choose between them. Through the light, which he has discovered in himself, he becomes aware of the dark. Through the good which attracts him, he sees the evil which is for him the line of least resistance. Through the activity of pain, he can visualize and become aware of pleasure, and heaven and hell become to him realities. Through the activity of the attractive life of his soul, he realizes the attraction of matter and of form, and is forced to recognize the urge and pull of both of them. He learns to feel himself as “pendant ‘twixt the two great forces”, and, once the dualities are grasped, it dawns on him slowly and surely that the deciding factor in the struggle is his divine will, in contradistinction to his selfish will. [229] Thus the dual forces play their part until they are seen as two great streams of divine energy, pulling in opposite directions, and he becomes then aware of the two paths, mentioned in our rule. One path leads back into the dreary land of rebirth, and the other leads through the golden gate to the city of free souls. One is therefore involutionary and involves him in deepest matter; the other leads him out of the body nature, and makes him eventually aware of his spiritual body, through which he can function in the kingdom of the soul. One path, later on (when he is a true and pledged chela) is known to him as the left hand path and the other the path of right activity.
Trước hết, đó là cõi của các mãnh lực kép. Điều đầu tiên người chí nguyện trở nên nhận biết là nhị nguyên. Người kém tiến hoá nhận biết tổng hợp, nhưng đó là tổng hợp của bản chất vật chất của y. Người có tinh thần cao cũng nhận biết tổng hợp, nhưng đó là tổng hợp trong linh hồn y, mà tâm thức của linh hồn là tâm thức của hợp nhất. Nhưng ở giữa là người chí nguyện khốn khổ, ý thức về nhị nguyên hơn bất cứ điều gì khác và bị kéo qua kéo lại giữa hai bên. Bước đầu tiên của y có mục tiêu là khiến y nhận biết các cặp đối lập và sự cần thiết phải chọn lựa giữa chúng. Nhờ ánh sáng mà y đã khám phá trong chính mình, y trở nên nhận biết bóng tối. Nhờ cái thiện thu hút y, y thấy cái ác, vốn đối với y là con đường ít trở ngại nhất. Nhờ hoạt động của đau khổ, y có thể hình dung và nhận biết khoái lạc, và thiên đường cùng địa ngục trở thành các thực tại đối với y. Nhờ hoạt động của sự sống hấp dẫn của linh hồn mình, y nhận ra sức hấp dẫn của vật chất và hình tướng, và buộc phải nhận biết sự thôi thúc cùng sức kéo của cả hai. Y học cảm thấy chính mình như “treo lơ lửng giữa hai mãnh lực lớn”, và một khi các nhị nguyên được nắm bắt, dần dần và chắc chắn y sáng tỏ rằng yếu tố quyết định trong cuộc đấu tranh là ý chí thiêng liêng của y, đối lập với ý chí ích kỷ của y. [229] Như vậy, các mãnh lực kép đóng vai trò của chúng cho đến khi chúng được thấy như hai dòng năng lượng thiêng liêng lớn, kéo theo hai hướng ngược nhau, và khi ấy y trở nên nhận biết hai con đường được nhắc đến trong quy luật của chúng ta. Một con đường dẫn trở lại vùng đất tái sinh ảm đạm, và con đường kia dẫn qua cổng vàng vào thành phố của các linh hồn tự do. Do đó, một con đường là giáng hạ tiến hoá và lôi kéo y vào vật chất sâu nhất; con đường kia dẫn y ra khỏi bản chất thể xác, và cuối cùng khiến y nhận biết thể tinh thần của mình, nhờ đó y có thể hoạt động trong giới của linh hồn. Một con đường, về sau, khi y là một đệ tử chân chính và đã cam kết, được y biết đến như tả đạo, và con đường kia là con đường của hoạt động đúng đắn.
Webinar Program 5- Rule 7.5
On one path, he becomes proficient in black magic, which is only the developed powers of the personality, subordinated to the selfish purposes of a man whose motives are those of self interest and worldly ambition. These confine him to the three worlds and shut the door which opens on to life. On the other path, he subordinates his personality and exercises the magic of the White Brotherhood, working always in the light of the soul with the soul in all forms, and laying no emphasis upon the ambitions of the personal self. Clear discrimination of these two paths reveals what is called in some occult books that “narrow razor-edged Path” which lies between the two. This is the “noble middle Path” of the Buddha and marks the fine line of demarcation between the pairs of opposites, and between the two streams which he has learnt to recognize—one going up unto the gates of heaven, and the other passing down into the nethermost hell.
Trên một con đường, y trở nên thành thạo trong Hắc thuật, vốn chỉ là các quyền năng đã phát triển của phàm ngã, bị đặt dưới các mục đích ích kỷ của một người mà động cơ là tư lợi và tham vọng thế gian. Những điều này giam giữ y trong ba cõi thấp và đóng cánh cửa mở vào sự sống. Trên con đường kia, y đặt phàm ngã của mình dưới quyền và thực hành huyền thuật của Huynh đệ Đoàn Chánh đạo, luôn làm việc trong ánh sáng của linh hồn cùng với linh hồn trong mọi hình tướng, và không nhấn mạnh vào các tham vọng của bản ngã cá nhân. Sự phân biện rõ ràng giữa hai con đường này mặc khải điều được gọi trong một số sách huyền bí là “Đường Đạo hẹp sắc như lưỡi dao cạo” nằm giữa hai con đường ấy. Đây là “Trung Đạo cao quý” của Đức Phật và đánh dấu ranh giới tinh tế giữa các cặp đối lập, cũng như giữa hai dòng mà y đã học nhận biết—một dòng đi lên đến các cổng thiên đường, và dòng kia đi xuống địa ngục thấp nhất.
By the exercise of the two main weapons of the aspirant, discrimination and dispassion, he gains that quality which is called in this rule “the vital power”. Just as the eye is the instrument of choice in choosing the way of travel on the physical plane and has besides a potency all its own whereby it attracts and develops its [230] own sign language, so a vital power is felt in the aspirant. This eventually brings the third eye into activity, and so there is gained a potency and a clear vision which make right choice and quick progress upon the way a steady progression. We are told that power is grown or developed in silence, and only he who can find a centre of peace within his head, where the paths of the bodily forces and the spiritual inflowing tides meet, can rightly practice true discrimination and that dispassion which bring the controlled astral and mental bodies under the guidance of the soul.
Bằng việc vận dụng hai khí cụ chính của người chí nguyện, phân biện và vô dục, y đạt được phẩm tính được gọi trong quy luật này là “quyền năng thiết yếu”. Giống như con mắt là công cụ lựa chọn trong việc chọn đường đi trên cõi hồng trần, và ngoài ra còn có một quyền năng riêng nhờ đó nó thu hút và phát triển [230] ngôn ngữ dấu hiệu riêng của mình, cũng vậy, một quyền năng thiết yếu được cảm nhận trong người chí nguyện. Điều này cuối cùng đưa con mắt thứ ba vào hoạt động, và nhờ đó đạt được một quyền năng cùng một tầm nhìn rõ ràng, khiến sự lựa chọn đúng đắn và sự tiến nhanh trên con đường trở thành một tiến trình vững chắc. Chúng ta được dạy rằng quyền năng lớn lên hay phát triển trong im lặng, và chỉ người nào có thể tìm thấy một trung tâm bình an trong đầu mình, nơi các con đường của những mãnh lực thuộc thể xác và các dòng tuôn nhập tinh thần gặp nhau, mới có thể thực hành đúng sự phân biện chân chính và vô dục vốn đưa các thể cảm dục và trí tuệ đã được kiểm soát vào dưới sự hướng dẫn của linh hồn.
Then he can understand the significance of “the vibrating poles”, and achieve that point of equilibrium which is the result of their interaction and vibration.
Khi ấy, y có thể thấu hiểu thâm nghĩa của “các cực rung động”, và đạt được điểm quân bình vốn là kết quả của sự tương tác và rung động của chúng.
The sensing of the dual forces and the clear discrimination of the two paths leads to the development of the vital power. This vital power demonstrates its first activity in enabling the aspirant to achieve a point of balance and so stand on that pinnacle of achievement whereon “a choice is made”.
Việc cảm nhận các mãnh lực kép và sự phân biện rõ ràng hai con đường dẫn đến sự phát triển của quyền năng thiết yếu. Quyền năng thiết yếu này biểu lộ hoạt động đầu tiên của nó qua việc giúp người chí nguyện đạt được một điểm cân bằng, và do đó đứng trên đỉnh cao thành tựu nơi “một lựa chọn được thực hiện”.
What is that choice? For the aspirant, it is that between rapid and slow progress. For the disciple, accepted and loyal, it is the choice between methods of service. For the initiate it oft lies betwixt spiritual advancement and the arduous work of staying with the group and working out the plan. For the Master it is the choice between the seven Paths, and it will therefore be apparent how much more strenuous and difficult is his problem.
Lựa chọn ấy là gì? Đối với người chí nguyện, đó là lựa chọn giữa tiến bộ nhanh và chậm. Đối với đệ tử đã được chấp nhận và trung thành, đó là lựa chọn giữa các phương pháp phụng sự. Đối với điểm đạo đồ, nó thường nằm giữa sự tiến bộ tinh thần và công việc gian khổ của việc ở lại với nhóm và thực hiện Thiên Cơ. Đối với Chân sư, đó là lựa chọn giữa bảy Con Đường, và do đó sẽ thấy rõ vấn đề của Ngài cam go và khó khăn hơn biết bao.
All however prepares the aspirant for right choice through right discrimination leading to right action, and made possible through practiced dispassion. In this sentence is summed up the technique of the warrior upon the battle-field of the desire plane.
Tuy nhiên, tất cả đều chuẩn bị người chí nguyện cho sự lựa chọn đúng đắn qua phân biện đúng, dẫn đến hành động đúng, và được làm cho khả hữu nhờ vô dục đã được thực hành. Trong câu này được tóm lược kỹ thuật của chiến sĩ trên chiến trường của cõi ham muốn.
It should here be noted that in the steadily developing power of choice, and the loyally fought battle of the astral [231] plane, the consciousness in the man shifts stage by stage. First, it is the battered earth-weary aspirant who has to struggle with desire, with glamour, with ambition and with his sensitive emotional body. He thinks the battle is stupendous but from the wider angle it is relatively small—yet all that he can stand.
Ở đây cần lưu ý rằng trong quyền năng lựa chọn đang phát triển đều đặn, và trong trận chiến được chiến đấu trung thành trên cõi cảm dục [231], tâm thức trong con người chuyển dịch từng giai đoạn. Trước hết, đó là người chí nguyện bị vùi dập và mệt mỏi vì Trái Đất, phải vật lộn với ham muốn, với ảo cảm, với tham vọng và với thể cảm xúc nhạy cảm của mình. Y nghĩ trận chiến là khổng lồ, nhưng từ góc nhìn rộng hơn, nó tương đối nhỏ—tuy vậy đó là tất cả những gì y có thể chịu đựng.
Later, it is the experienced probationary disciple who wrestles in the vale of illusion, and deals not alone with his own nature but with the forces of that vale also, recognising its dual nature. Then, the disciple comes forth to battle and faces with courage (and often with clear vision) the forces arrayed against him. They involve not only those in his own nature and in those aspects of the astral plane to which he naturally re-acts, but also involve the forces of illusion arrayed against the group of disciples to which he belongs. Let all disciples take note of this and have it in mind in these difficult and strenuous days. Such disciples are in conscious contact at times with their soul forces and for them there is no defeat nor turning back. They are the tried warriors, scarred and tired, yet knowing that triumphant victory lies ahead, for the soul is omnipotent. Accepted disciples, who battle all the above enumerated factors, plus the black forces arrayed against the Elder Brothers, can call upon the spiritual energies of their group and at rare and indicated moments upon the Master under whom they work. Thus the work and labour expands; thus the responsibility and struggle steadily increases; yet at the same time there is also a steadily growing reception of potencies which can be contacted and utilized and which when correctly contacted insure victory at the end.
Về sau, đó là đệ tử dự bị có kinh nghiệm, vật lộn trong thung lũng ảo tưởng, và không chỉ xử lý bản chất riêng của mình mà còn cả các mãnh lực của thung lũng ấy, nhận biết bản chất nhị nguyên của nó. Rồi đệ tử bước ra chiến đấu và đối diện với lòng can đảm, và thường với tầm nhìn rõ ràng, các mãnh lực được dàn ra chống lại y. Chúng không chỉ bao gồm những mãnh lực trong bản chất riêng của y và trong các phương diện của cõi cảm dục mà y tự nhiên phản ứng, mà còn bao gồm các mãnh lực ảo tưởng được dàn ra chống lại nhóm đệ tử mà y thuộc về. Tất cả các đệ tử hãy lưu ý điều này và ghi nhớ trong những ngày khó khăn và căng thẳng này. Những đệ tử như thế đôi khi tiếp xúc có ý thức với các mãnh lực linh hồn của họ, và đối với họ không có thất bại cũng không có quay lui. Họ là những chiến sĩ đã được thử thách, đầy sẹo và mệt mỏi, nhưng biết rằng chiến thắng khải hoàn đang ở phía trước, vì linh hồn là toàn năng. Các đệ tử được chấp nhận, những người chiến đấu với tất cả các yếu tố đã liệt kê ở trên, cộng với các mãnh lực đen tối dàn ra chống lại các Huynh Trưởng, có thể kêu gọi các năng lượng tinh thần của nhóm họ, và vào những thời điểm hiếm hoi, được chỉ định, kêu gọi Chân sư mà dưới quyền Ngài họ làm việc. Như thế, công việc và lao động mở rộng; như thế, trách nhiệm và cuộc đấu tranh tăng lên đều đặn; tuy nhiên, đồng thời cũng có sự tiếp nhận ngày càng tăng đều đặn các quyền năng có thể được tiếp xúc và sử dụng, và khi được tiếp xúc đúng đắn, chúng bảo đảm chiến thắng sau cùng.
Webinar Program 6 – Rule 7.6
The phrase “the one who meditates” relates to the soul. Arjuna, the aspiring disciple, resigns the struggle and hands the weapons and the reins of government to Krishna, the soul, and is rewarded at last by understanding [232] and by a vision of the divine form which veils the Son of God Who is Himself.
Cụm từ “người hành thiền” liên hệ đến linh hồn. Arjuna, đệ tử chí nguyện, từ bỏ cuộc đấu tranh và trao vũ khí cùng dây cương cai quản cho Krishna, linh hồn, và cuối cùng được tưởng thưởng bằng sự thấu hiểu [232] cùng một linh ảnh về hình tướng thiêng liêng che phủ Con của Thượng đế, chính là Ngài.
When this battle has been fought and won the disciple steps into the ranks of the white magicians of our planet and can wield forces, cooperate with the plan, command the elementals, and bring order out of chaos. He is no longer immersed in the world illusion but has risen above it. He can no longer be held down by the chains of his own past habits and his karma. He has gained the vital power and stands forth an Elder Brother.
Khi trận chiến này đã được chiến đấu và chiến thắng, đệ tử bước vào hàng ngũ các nhà huyền thuật chánh đạo của hành tinh chúng ta và có thể vận dụng các mãnh lực, hợp tác với Thiên Cơ, chỉ huy các hành khí, và đem trật tự ra khỏi hỗn mang. Y không còn chìm đắm trong ảo tưởng thế giới mà đã vượt lên trên nó. Y không còn có thể bị trói buộc bởi xiềng xích của các thói quen quá khứ và nghiệp quả của chính mình. Y đã đạt được quyền năng thiết yếu và đứng ra như một Huynh Trưởng.
Such is the path ahead of each and all who dare to tread it. Such is the opportunity offered to all students who have made their choice with dispassion and are prompted by love and the desire to serve.
Đó là con đường phía trước của mỗi người và tất cả những ai dám bước đi trên đó. Đó là cơ hội được trao cho mọi đạo sinh đã thực hiện lựa chọn của mình với vô dục và được thúc đẩy bởi tình thương cùng ham muốn phụng sự.
RULE EIGHT
Webinar Program 7- Rule 8.1
The Agnisuryans respond to the sound. The waters ebb and flow. Let the magician guard himself from drowning, at the point where land and water meet. The midway spot, which is neither dry nor wet, must provide the standing place whereon his feet are set. When water, land and air meet there is the place for magic to be wrought.
Các thiên thần lửa-thái dương đáp ứng với âm thanh. Nước rút xuống rồi dâng lên. Hãy để nhà huyền thuật tự giữ mình khỏi chết đuối, tại điểm nơi đất và nước gặp nhau. Nơi ở giữa, không khô cũng không ướt, phải cung cấp chỗ đứng nơi chân y được đặt. Khi nước, đất và khí gặp nhau, nơi đó là chỗ để huyền thuật được thực hiện.
Types of Astral Force
[235]
[235]
It would be advisable for the student to read with care the commentary on this rule as given in the Treatise on Cosmic Fire. It will be noted how extremely abstruse it is and how full of almost blind occult information. This should however be studied. The word “astral plane” should also be looked up and a general idea gained as to its nature and its function as the battle-ground of the senses, and as the place from which magic is wrought. The intelligent and constructive desire of the white magician, acting under the instruction of his own soul and therefore occupied with group work, is the motivating power back of all magical phenomena. This magical work is begun in the magician’s own life, extends to the world of the astral plane and from thence (when potent there) can begin to demonstrate on the physical plane and on the higher planes eventually.
Sẽ là điều đáng khuyên cho đạo sinh khi đọc kỹ phần bình giải về quy luật này như được đưa ra trong Luận về Lửa Vũ Trụ. Cần lưu ý rằng nó cực kỳ khó hiểu và đầy những thông tin huyền bí gần như mù mờ. Tuy nhiên, điều này cần được nghiên cứu. Từ “cõi cảm dục” cũng cần được tra cứu, và cần đạt được một ý niệm tổng quát về bản chất và chức năng của nó như chiến trường của các giác quan, và như nơi từ đó huyền thuật được thực hiện. Ham muốn thông minh và xây dựng của nhà huyền thuật chánh đạo, hành động dưới huấn thị của chính linh hồn mình và do đó bận tâm với công việc nhóm, là quyền năng thúc đẩy đứng sau mọi hiện tượng huyền thuật. Công việc huyền thuật này được bắt đầu trong đời sống riêng của nhà huyền thuật, mở rộng đến thế giới của cõi cảm dục và từ đó, khi đã mạnh mẽ tại đó, có thể bắt đầu biểu lộ trên cõi hồng trần và cuối cùng trên các cõi cao hơn.
We shall, therefore, take a good deal of time over this rule for it covers the immediate work and activity of the intelligent aspirant. It is the most important in the book from the standpoint of the average student. It cannot be understood where there is no soul contact, nor can the magical force of the soul work out in manifestation upon the physical plane until the meaning of its esoteric phrases has been somewhat wrought out in the inner experience of the magician.
Vì vậy, chúng ta sẽ dành khá nhiều thời gian cho quy luật này, vì nó bao quát công việc và hoạt động tức thời của người chí nguyện thông minh. Nó là quy luật quan trọng nhất trong sách xét từ quan điểm của đạo sinh trung bình. Nó không thể được thấu hiểu nơi không có tiếp xúc linh hồn, và mãnh lực huyền thuật của linh hồn cũng không thể vận hành ra biểu hiện trên cõi hồng trần cho đến khi ý nghĩa của các cụm từ huyền bí của nó đã phần nào được thực hiện trong kinh nghiệm nội tâm của nhà huyền thuật.
Most true aspirants are now at the midway spot, and can either drown (and so make no further progress this life), stand and so hold the ground gained, or become true practicing magicians, efficient in white magic, which is [236] based on love, animated by wisdom and intelligently applied to forms.
Hầu hết những người chí nguyện chân chính hiện nay đang ở Nơi ở giữa, và có thể hoặc chết đuối, do đó không tiến thêm được nữa trong kiếp sống này, hoặc đứng vững và nhờ vậy giữ được vùng đất đã đạt, hoặc trở thành những nhà huyền thuật thực hành chân chính, hữu hiệu trong Chánh Thuật, vốn [236] dựa trên tình thương, được làm sinh động bởi minh triết và được áp dụng một cách thông minh vào các hình tướng.
We will, therefore, divide this rule into several parts, the more easily to study it and take them up step by step, so as to grasp their application to the average life of the probationary disciple, and to gain a wise understanding of their wide implications.
Vì vậy, chúng ta sẽ chia quy luật này thành nhiều phần để dễ nghiên cứu hơn, và sẽ lần lượt bàn đến từng phần, nhằm nắm được cách áp dụng của chúng vào đời sống trung bình của đệ tử dự bị, và đạt được một sự thấu hiểu minh triết về các hàm ý rộng lớn của chúng.
These three divisions are:
Ba phần này là:
1. The response of the astral elementals and the consequent ebb and flow of the waters.
1. Sự đáp ứng của các hành khí cảm dục và hệ quả là sự rút xuống và dâng lên của nước.
2. The dangers of the midway spot, its nature and the opportunity it affords.
2. Các nguy hiểm của Nơi ở giữa, bản chất của nó và cơ hội mà nó đem lại.
3. The place where magic is wrought.
3. Nơi huyền thuật được thực hiện.
We will study now the first point which is summed up for us in the words:
Bây giờ chúng ta sẽ nghiên cứu điểm thứ nhất, được tóm lược cho chúng ta trong những lời:
“The Agnisuryans respond to the sound.
“Các thiên thần lửa-thái dương đáp ứng với âm thanh.
The waters ebb and flow.”
Nước rút xuống rồi dâng lên.”
The situation might be stated in the following terse statements. The rules already studied convey the truth anent the magician.
Tình huống có thể được trình bày trong các phát biểu ngắn gọn sau đây. Các quy luật đã được nghiên cứu truyền đạt chân lý liên quan đến nhà huyền thuật.
1. The soul has communicated with his instrument in the three worlds.
1. Linh hồn đã giao tiếp với công cụ của mình trong ba cõi thấp.
2. The man on the physical plane recognises the contact, and the light in the head shines forth, sometimes recognised and sometimes unrecognised by the aspirant.
2. Con người trên cõi hồng trần nhận ra sự tiếp xúc, và ánh sáng trong đầu tỏa rạng, đôi khi được người chí nguyện nhận ra và đôi khi không được nhận ra.
3. The soul sounds forth its note. A thought-form is created in consonance with the united meditation of the soul and the man, his instrument.
3. Linh hồn xướng lên chủ âm của nó. Một hình tư tưởng được tạo ra phù hợp với sự tham thiền hợp nhất của linh hồn và con người, là khí cụ của nó.
4. This thought-form, embodying the will of the ego or soul, cooperating with the personality, takes to itself a triple form, constituted of the matter of all three planes, and vitalized through the activity and by the emanations from the heart, throat and [237] ajna centres of the white magician—the soul in conjunction with its instrument.
4. Hình tư tưởng này, hiện thân cho ý chí của chân ngã hay linh hồn, hợp tác với phàm ngã, khoác lấy một hình tướng tam phân, được cấu thành bằng vật chất của cả ba cõi, và được tiếp sinh lực nhờ hoạt động cùng các phát xạ từ những trung tâm tim, cổ họng và [237] ajna của nhà huyền thuật chánh đạo — tức linh hồn liên kết với khí cụ của nó.
5. The personality sheaths, each with its own individual life, feel they are losing their power and the battle between the forces of matter and the force of the soul is violently renewed.
5. Các lớp vỏ của phàm ngã, mỗi lớp có sự sống cá biệt riêng, cảm thấy chúng đang mất quyền lực, và cuộc chiến giữa các mãnh lực của vật chất với mãnh lực của linh hồn lại bùng lên dữ dội.
6. This battle must be fought out on the astral plane and will decide three things:
6. Cuộc chiến này phải được quyết định trên cõi cảm dục và sẽ định đoạt ba điều:
a. Whether the soul will, in any one life (for some life holds the critical stage), be the dominant factor and the personality from henceforth be the servant of the soul.
a. Liệu linh hồn, trong bất cứ một kiếp sống nào đó, có trở thành yếu tố chủ đạo hay không, và từ đó trở đi phàm ngã có trở thành kẻ phụng sự linh hồn hay không.
b. Whether the astral plane is no longer the plane of illusion, but can become the field of service.
b. Liệu cõi cảm dục không còn là cõi của ảo tưởng nữa, mà có thể trở thành lĩnh vực phụng sự hay không.
c. Whether the man can become an active co-operator with the Hierarchy, able to create and to wield mental matter, and so work out the purposes of the Universal Mind, which are prompted by boundless and infinite love, and are the expression of the One Life.
c. Liệu con người có thể trở thành một cộng sự viên tích cực của Thánh đoàn, có khả năng tạo ra và vận dụng chất liệu trí tuệ, và nhờ đó thực hiện các mục đích của Vũ Trụ Trí, vốn được thúc đẩy bởi tình thương vô biên vô hạn, và là biểu hiện của Sự Sống Duy Nhất hay không.
This is the crux of the entire situation, and when the man has mastered the forces opposed to him, he is ready for the second initiation which marks the release of the soul from the prison of the astral body. Henceforth the soul will use the astral body, and mould desire into line with divine purpose.
Đây là điểm then chốt của toàn bộ tình thế, và khi con người đã làm chủ các mãnh lực chống đối mình, y sẵn sàng cho lần điểm đạo thứ hai, đánh dấu sự giải thoát của linh hồn khỏi nhà tù của thể cảm dục. Từ đó về sau, linh hồn sẽ sử dụng thể cảm dục và uốn nắn dục vọng cho phù hợp với Thiên Ý.
It is of value for the student to know where he stands and what his particular problem is. The average man is learning the control of the physical body and the organizing of his physical plane life. The student on the probationary path is learning a similar lesson in relation to his astral body, its focus, its desires and its work. The student on the path of accepted discipleship has to demonstrate this control and begin to discipline the mind nature and so function consciously in the mental body. [238] The work of the initiate and the adept grows out of these achievements and they need not be dealt with here.
Đối với đạo sinh, biết mình đang đứng ở đâu và vấn đề riêng của mình là gì là điều có giá trị. Người bình thường đang học cách kiểm soát thể xác và tổ chức đời sống của mình trên cõi hồng trần. Đạo sinh trên Con Đường Dự Bị đang học một bài học tương tự liên quan đến thể cảm dục, điểm tập trung, các dục vọng và công việc của nó. Đạo sinh trên con đường địa vị đệ tử được chấp nhận phải chứng minh sự kiểm soát này và bắt đầu kỷ luật bản chất thể trí, nhờ đó hoạt động một cách có ý thức trong thể trí. [238] Công việc của điểm đạo đồ và chân sư phát sinh từ những thành tựu này, và không cần được bàn đến ở đây.
The battle is spread over quite a series of lives, but in some one life it becomes critical; the final stand is made and Arjuna triumphs in the fight, but only by letting Krishna assume the reins of control, by learning mind control and by the revelation of the form of God. By distinguishing between the soul and the form, and by a vision of the perfection of the glory which can radiate from the forms “indwelt by God”, he learns to choose the way of light and to see his form and all forms as custodians of the light. So he buckles down to the work of making the astral body simply a reflector of that light and by the quelling of desire, through the subjugation of the “Agnisuryans” who constitute his astral body and are the living substance of the astral plane, he learns to function as an adept on that plane, to pierce through its illusion and to see life true.
Cuộc chiến trải dài qua cả một chuỗi kiếp sống, nhưng trong một kiếp sống nào đó nó trở nên quyết định; cuộc kháng cự cuối cùng diễn ra và Arjuna chiến thắng trong cuộc chiến, nhưng chỉ bằng cách để Krishna nắm lấy dây cương điều khiển, bằng cách học kiểm soát thể trí và nhờ sự mặc khải về hình tướng của Thượng đế. Bằng cách phân biệt giữa linh hồn và hình tướng, và nhờ tầm nhìn về sự toàn thiện của vinh quang có thể tỏa ra từ những hình tướng “được Thượng đế nội tại”, y học cách chọn con đường ánh sáng và nhìn thấy hình tướng của mình cùng mọi hình tướng như những nơi gìn giữ ánh sáng. Vì vậy, y chuyên tâm vào công việc làm cho thể cảm dục chỉ đơn thuần là một tấm gương phản chiếu ánh sáng ấy; và bằng cách dập tắt dục vọng, qua việc chế phục các “Agnisuryan” cấu thành thể cảm dục của y và là chất liệu sống của cõi cảm dục, y học cách hoạt động như một chân sư trên cõi ấy, xuyên thấu ảo tưởng của nó và thấy sự sống đúng như thật.
Webinar Program 8 – Rule 8.2
Speaking symbolically the substance of the astral plane is animated by three types of divine force, which, when brought together, produce the great Illusion. These are:
Nói theo biểu tượng, chất liệu của cõi cảm dục được linh hoạt hóa bởi ba loại mãnh lực thiêng liêng; khi được đưa lại cùng nhau, chúng tạo ra Đại Ảo Tưởng. Đó là:
First, the force of selfish desire. This involutionary energy plays a big part in bringing about evolution, for selfishness is the nursery of infant souls. Hence the aspirant refuses to be held by it.
Thứ nhất, mãnh lực của dục vọng ích kỷ. Năng lượng giáng hạ tiến hoá này giữ một vai trò lớn trong việc đưa đến tiến hoá, vì tính ích kỷ là vườn ươm của các linh hồn ấu thơ. Vì thế, người chí nguyện từ chối để nó nắm giữ mình.
Second, the force of fear. This is the product of ignorance, and in its initial stages it is not the product of wrong thinking. It is basically instinctual and is found dominating in the non-mental animal kingdom as well as in the human kingdom. But in the human, its power is increased potently through the powers of the mind, and through memory of past pain and grievance and through anticipation of those we foresee, the power of fear is enormously aggravated by the thought-form we ourselves have built of our own individual fears and [239] phobias. This thought form grows in power as we pay attention to it, for “energy follows thought” till we become dominated by it. Second ray people are peculiarly a prey to this. For the majority of them it constitutes the “dweller on the threshold”, just as ambition and love of power, backed by frantic desire and unscrupulousness form the “Dweller” for the first ray types. The crystallized thought form of intellectual achievement for selfish ends, and the use of knowledge for personality objectives stand before the portal of the path in the case of the third ray person, and unless broken up and destroyed will dominate him and turn him into a black magician.
Thứ hai, mãnh lực của sợ hãi. Đây là sản phẩm của vô minh, và trong những giai đoạn ban đầu, nó không phải là sản phẩm của tư duy sai lầm. Về căn bản, nó thuộc bản năng và được thấy đang thống trị trong giới động vật chưa có trí tuệ cũng như trong giới nhân loại. Nhưng nơi con người, quyền lực của nó được gia tăng mạnh mẽ nhờ các quyền năng của thể trí, và nhờ ký ức về đau đớn cùng bất bình trong quá khứ, cũng như nhờ sự dự đoán những điều ta thấy trước, quyền lực của sợ hãi bị làm trầm trọng thêm rất nhiều bởi hình tư tưởng mà chính chúng ta đã xây dựng từ những nỗi sợ và [239] ám ảnh cá biệt của mình. Hình tư tưởng này tăng thêm quyền lực khi chúng ta chú ý đến nó, vì “năng lượng đi theo tư tưởng”, cho đến khi chúng ta bị nó thống trị. Những người cung hai đặc biệt dễ trở thành nạn nhân của điều này. Đối với phần đông trong số họ, nó tạo thành “Kẻ Chận Ngõ”, cũng như tham vọng và lòng yêu quyền lực, được hậu thuẫn bởi dục vọng cuồng loạn và sự vô lương tâm, tạo thành “Kẻ Chận Ngõ” đối với những người cung một. Hình tư tưởng kết tinh của thành tựu trí tuệ vì những mục đích ích kỷ, và việc sử dụng tri thức cho các mục tiêu của phàm ngã, đứng trước cổng của Đường Đạo trong trường hợp người cung ba; nếu không bị phá vỡ và tiêu hủy, nó sẽ thống trị y và biến y thành một nhà hắc thuật.
You oft have been told that fear is an illusion. Yet this statement does not help. It is a generalisation that one can admit, yet which remains profoundly difficult to apply individually. The fears to which aspirants are subject (note the mode of wording this) are seldom of a selfish nature except insofar as suffering has caused them to recoil from a further continuation of untoward happenings. Their fears are wrapt in seeming love around their loved ones. Yet should each disciple ask himself a most practical question: How many of the torturing hours have been expended on realities and on tangible happenings, and how many on illusory premonitions and on doubts and questionings, based on that which has never happened? I would like to point out to my brothers that they need to do two things: To meditate on truth in daily life, using the concept of truth practised and lived by as their seed thought in meditation; to this end I would suggest that they memorise and use at all times when swept by illusory fears and needless foreboding the following formula or prayer:
Các bạn thường được bảo rằng sợ hãi là một ảo tưởng. Tuy vậy, lời khẳng định này không giúp được gì nhiều. Đó là một sự khái quát hóa mà người ta có thể thừa nhận, nhưng vẫn vô cùng khó áp dụng cho từng cá nhân. Những nỗi sợ mà người chí nguyện phải chịu, hãy lưu ý cách diễn đạt này, hiếm khi có bản chất ích kỷ, ngoại trừ trong chừng mực đau khổ đã khiến họ co rút trước khả năng tiếp diễn thêm của các biến cố bất lợi. Những nỗi sợ của họ được bọc trong tình thương có vẻ như dành cho những người thân yêu. Tuy vậy, mỗi đệ tử nên tự hỏi mình một câu hỏi hết sức thực tiễn: Bao nhiêu giờ phút dằn vặt đã được tiêu phí cho những thực tại và các biến cố hữu hình, và bao nhiêu cho những linh cảm hư ảo, những nghi ngờ và chất vấn dựa trên điều chưa từng xảy ra? Tôi muốn chỉ cho các huynh đệ của tôi rằng họ cần làm hai điều: tham thiền về chân lý trong đời sống hằng ngày, dùng quan niệm về chân lý được thực hành và sống theo làm tư tưởng hạt giống trong tham thiền; nhằm mục đích này, tôi đề nghị họ ghi nhớ và sử dụng mọi lúc, khi bị cuốn đi bởi những sợ hãi hư ảo và những linh cảm không cần thiết, công thức hay lời cầu nguyện sau đây:
“Let reality govern my every thought, and truth be the master of my life.”
“Nguyện thực tại cai quản mọi tư tưởng của tôi, và chân lý là chủ nhân đời tôi.”
Let each say this to himself as constantly as need requires, [240] forcing his mind to focus attention upon the significance of these spoken words.
Mỗi người hãy tự nói điều này với chính mình thường xuyên như nhu cầu đòi hỏi, [240] buộc thể trí tập trung chú ý vào thâm nghĩa của những lời được nói ra này.
I would suggest also sound common sense and the cultivation of an attitude of mind which refuses to permit time for illusory fears to grow.
Tôi cũng đề nghị lẽ thường lành mạnh và việc vun bồi một thái độ trí tuệ từ chối cho các sợ hãi hư ảo có thời gian để lớn lên.
Fear is the main obstacle frequently to a very vital step forward which could be taken in this life, but may have to be delayed to another if due opportunity is not taken and the will nature powerfully excited.
Sợ hãi thường là chướng ngại chính đối với một bước tiến rất thiết yếu có thể được thực hiện trong kiếp sống này, nhưng có thể phải trì hoãn sang một kiếp khác nếu cơ hội đúng lúc không được nắm lấy và bản chất ý chí không được khơi dậy mạnh mẽ.
The first ray aspirant who fails to overcome his Dweller may become a “destroyer of souls”, as it is called, and be condemned (until he learns his lesson) to work in the forces of matter, and with the forms which hold all souls in prison. This is the occult significance of the misunderstood words, death and destruction. Of this type, the Devil is the great prototype.
Người chí nguyện cung một không vượt qua được Kẻ Chận Ngõ của mình có thể trở thành một “kẻ hủy diệt linh hồn”, như cách gọi, và bị kết án, cho đến khi y học được bài học của mình, phải làm việc trong các mãnh lực của vật chất và với các hình tướng đang giam giữ mọi linh hồn trong tù ngục. Đây là ý nghĩa huyền bí của những từ bị hiểu sai là chết và hủy diệt. Kiểu mẫu vĩ đại của loại này là Quỷ Vương.
The second ray aspirant who builds his Dweller and permits its steady and increasing control becomes a “deluder of souls”. He is the true Anti-Christ, and through false teaching and the working of so-called miracles, through hypnotism and mass suggestion he draws a veil over the world and forces men to walk in the great illusion. It is interesting to note that the work of the Devil, the imprisoner of souls, is beginning to lose its power, for the race is on the verge of understanding that true death is immersion in form, and that matter is but a part of the divine whole. The thought form of this “Dweller on the Threshold” which humanity has built for millions of years is on the verge of destruction. But the work of Anti-Christ is only rising now to its height, and the delusion of riches, of possession, of false teaching will increasingly hold sway but the term of the delusion will be shorter than the term of destruction, for all these factors function under their own cycles and have their own ebb and flow.
Người chí nguyện cung hai xây dựng Kẻ Chận Ngõ của mình và cho phép nó kiểm soát ngày càng vững chắc và gia tăng thì trở thành một “kẻ mê hoặc linh hồn”. Y là Kẻ Phản Đức Christ đích thực, và qua giáo huấn sai lạc, qua việc thực hiện những điều gọi là phép lạ, qua thôi miên và ám thị quần chúng, y kéo một bức màn phủ lên thế giới và buộc con người bước đi trong Đại Ảo Tưởng. Điều thú vị cần lưu ý là công việc của Quỷ Vương, kẻ giam giữ các linh hồn, đang bắt đầu mất quyền lực, vì nhân loại đang ở ngưỡng thấu hiểu rằng cái chết đích thực là sự chìm đắm trong hình tướng, và vật chất chỉ là một phần của toàn thể thiêng liêng. Hình tư tưởng của “Kẻ Chận Ngõ” này mà nhân loại đã xây dựng trong hàng triệu năm đang ở ngưỡng bị hủy diệt. Nhưng công việc của Kẻ Phản Đức Christ hiện nay mới đang vươn tới đỉnh cao, và sự mê hoặc của của cải, của sự chiếm hữu, của giáo huấn sai lạc sẽ ngày càng chiếm ưu thế; tuy nhiên thời hạn của sự mê hoặc sẽ ngắn hơn thời hạn của sự hủy diệt, vì tất cả các yếu tố này hoạt động theo các chu kỳ riêng của chúng và có sự triều lên, triều xuống riêng.
The third ray person who also fails to shatter his [241] “Dweller” becomes what is called a “manipulator of souls” and uses the mind to destroy the real and to put a veil between the man and reality. It must be remembered that none of these names and these activities refer to the soul on its own plane but only to human souls in incarnation on the physical plane. This must be stressed, for on its own plane the souls of all men stand free from illusion, and neither can be destroyed, deluded nor manipulated. It is only “the souls in prison” who are subject to the activities of the forces of evil and only for a term. The first group works through governments, through politics, and the interplay between nations and is relatively small in number. The second ray group who delude and deceive, work through religious agencies, through mass psychology, and the misuse and misapplication of devotion and of the arts. They are largest in number. The third group work primarily through commercial relations in the business world, and through the use of money, the concretisation of prana or universal energy, and the outer symbol of the universal flux and flow. These thoughts are suggestive but not vital, dealing as they do with the cosmic tendencies.
Người cung ba cũng không phá vỡ được [241] “Kẻ Chận Ngõ” của mình sẽ trở thành điều được gọi là một “kẻ thao túng linh hồn”, và sử dụng thể trí để hủy hoại cái chân thật, đặt một bức màn giữa con người và thực tại. Cần nhớ rằng không một danh xưng hay hoạt động nào trong số này liên quan đến linh hồn trên cõi riêng của nó, mà chỉ liên quan đến các linh hồn con người đang nhập thể trên cõi hồng trần. Điều này phải được nhấn mạnh, vì trên cõi riêng của mình, linh hồn của mọi người đều đứng tự do khỏi ảo tưởng, và không thể bị hủy diệt, bị mê hoặc hay bị thao túng. Chỉ có “các linh hồn trong tù ngục” mới chịu sự chi phối của các hoạt động thuộc những mãnh lực của điều ác, và chỉ trong một thời hạn. Nhóm thứ nhất hoạt động qua các chính phủ, qua chính trị và sự tương tác giữa các quốc gia, và tương đối ít về số lượng. Nhóm cung hai, những kẻ mê hoặc và lừa dối, hoạt động qua các cơ quan tôn giáo, qua tâm lý quần chúng, và qua việc lạm dụng, áp dụng sai lòng sùng tín cùng các nghệ thuật. Họ đông đảo nhất. Nhóm thứ ba hoạt động chủ yếu qua các quan hệ thương mại trong thế giới kinh doanh, và qua việc sử dụng tiền bạc, tức sự cụ thể hóa của prana hay năng lượng vũ trụ, và là biểu tượng bên ngoài của dòng lưu chuyển và tuôn chảy vũ trụ. Những tư tưởng này có tính gợi ý nhưng không thiết yếu, vì chúng bàn đến các khuynh hướng vũ trụ.
Webinar Program 9 – Rule 8.3
Thirdly, the force of sex attraction. This is a pull from the physical plane and the swinging back of a type of involutionary energy on to the path of return. Cosmically speaking, it manifests as the attractive force between spirit and matter; spiritually speaking, it is demonstrated as the activity of the soul, as it seeks to draw the lower self into full realisation. Physically speaking, it is the urge which tends to unite male and female for the purpose of procreation. When man was purely animal, no sin was involved. When to this urge was added emotional desire, then sin crept in, and the purpose for which the urge manifested was perverted into the satisfaction of desire. Now that the race is more mental, and the force of mind is making itself felt in [242] the human body, an even more serious situation is apparent, which can only be safely worked out when the soul assumes control of its triple instrument.
Thứ ba, mãnh lực của sức hút tính dục. Đây là một lực kéo từ cõi hồng trần và là sự quay ngược của một loại năng lượng giáng hạ tiến hoá vào Con Đường Trở Về. Nói theo vũ trụ, nó biểu hiện như mãnh lực hấp dẫn giữa tinh thần và vật chất; nói theo tinh thần, nó được chứng minh như hoạt động của linh hồn khi linh hồn tìm cách lôi kéo phàm ngã vào sự chứng nghiệm trọn vẹn. Nói theo hồng trần, nó là thôi thúc có khuynh hướng hợp nhất nam và nữ nhằm mục đích sinh sản. Khi con người còn thuần túy là động vật, không có tội lỗi liên quan. Khi dục vọng cảm xúc được thêm vào thôi thúc này, lúc đó tội lỗi len vào, và mục đích mà thôi thúc biểu hiện bị xuyên tạc thành sự thỏa mãn dục vọng. Nay khi nhân loại đã trí tuệ hơn, và mãnh lực của thể trí đang khiến chính nó được cảm nhận trong [242] thể xác con người, một tình thế còn nghiêm trọng hơn lộ rõ, chỉ có thể được giải quyết an toàn khi linh hồn nắm quyền kiểm soát khí cụ tam phân của mình.
Humanity is now at the midway point as this rule shows. Man is swept by selfish desire and by ambition, for all of us have first ray qualities. He is racked by fear—his own, family fears, national fears and racial, for all of us swing to the rhythm of the second ray. He is dominated by sex and by money which is another manifestation of the energy of matter and hence has a triple problem with which he is well equipped to deal through the medium of his triple vehicle and the triple potencies of his divine soul. Let us close the instruction on that note—well equipped to deal. We can overcome mental inertia and begin to function as souls in command of our environment. The soul is omniscient and omnipotent.
Nhân loại hiện nay đang ở Điểm ở giữa, như quy luật này cho thấy. Con người bị cuốn đi bởi dục vọng ích kỷ và tham vọng, vì tất cả chúng ta đều có các phẩm tính cung một. Y bị dày vò bởi sợ hãi — sợ hãi của chính mình, sợ hãi của gia đình, của quốc gia và của nhân loại, vì tất cả chúng ta đều dao động theo nhịp điệu của cung hai. Y bị thống trị bởi tính dục và tiền bạc, vốn là một biểu hiện khác của năng lượng vật chất; do đó y có một vấn đề tam phân mà y được trang bị đầy đủ để xử lý qua trung gian của vận cụ tam phân và các quyền năng tam phân của linh hồn thiêng liêng mình. Chúng ta hãy khép lại huấn thị này trên chủ âm ấy — được trang bị đầy đủ để xử lý. Chúng ta có thể vượt qua Quán tính trí tuệ và bắt đầu hoạt động như những linh hồn làm chủ môi trường của mình. Linh hồn toàn tri và toàn năng.
Cyclic Ebb and Flow
Let us consider now the words “the ebb and flow of the waters.”
Bây giờ chúng ta hãy xem xét những lời “sự triều xuống và triều lên của các dòng nước.”
In the understanding of the law of cycles, we gain knowledge of the underlying laws of evolution and come to a realization of the rhythmic work of creation. Incidentally also we gain poise as we study our own life impulses, for they also have their ebb and flow, and alternate between periods of light and periods of darkness.
Trong sự thấu hiểu định luật về các chu kỳ, chúng ta đạt được tri thức về những định luật nền tảng của tiến hoá và đi đến sự nhận biết về công việc sáng tạo có nhịp điệu. Đồng thời, chúng ta cũng đạt được sự quân bình khi nghiên cứu các xung lực sống của chính mình, vì chúng cũng có sự triều xuống và triều lên, và luân phiên giữa các thời kỳ ánh sáng và các thời kỳ bóng tối.
We have with us always that symbolic daily occurrence wherein the part of the world in which we live swings out into the clear light of the sun, and later returns into the healing dark of the night. Our very familiarity with the phenomenon causes us to lose sight of its symbolic significance and to forget that under the great law, periods of light and dark, of good and evil, of submergence and emergence, of progress into illumination [243] and apparent betrayal into darkness, characterize the growth of all forms, distinguish the development of races and nations, and constitute the problem of the aspirant who has built for himself a picture of walking in a constant illumined condition and of leaving all dark places behind.
Chúng ta luôn có bên mình biến cố hằng ngày đầy biểu tượng, trong đó phần thế giới nơi chúng ta sống xoay ra vào ánh sáng trong trẻo của mặt trời, rồi sau đó trở về trong bóng tối chữa lành của đêm. Chính sự quen thuộc của chúng ta với hiện tượng này khiến chúng ta không còn thấy thâm nghĩa biểu tượng của nó, và quên rằng dưới định luật vĩ đại, các thời kỳ sáng và tối, thiện và ác, chìm xuống và nổi lên, tiến vào sự soi sáng [243] và dường như phản bội để rơi vào bóng tối, đều đặc trưng cho sự tăng trưởng của mọi hình tướng, phân biệt sự phát triển của các giống dân và quốc gia, và tạo thành vấn đề của người chí nguyện đã tự dựng cho mình một hình ảnh về việc bước đi trong một tình trạng được soi sáng liên tục và bỏ lại mọi nơi tối tăm phía sau.
In these Instructions, it is not possible for me to deal with the ebb and flow of the divine life as it manifests in the various kingdoms in nature and through the evolutionary growth of humanity, through experience in races, nations and families. I seek, however, to elaborate somewhat the cyclic experience of a soul in incarnation, indicating the apparent ebb and flow of its unfoldment.
Trong các Huấn Thị này, tôi không thể bàn đến sự triều xuống và triều lên của sự sống thiêng liêng khi nó biểu hiện trong các giới khác nhau của thiên nhiên và qua sự tăng trưởng tiến hoá của nhân loại, qua kinh nghiệm trong các giống dân, quốc gia và gia đình. Tuy nhiên, tôi tìm cách khai triển phần nào kinh nghiệm chu kỳ của một linh hồn đang nhập thể, chỉ ra sự triều xuống và triều lên bề ngoài của sự khai mở của nó.
The outstanding cycle for every soul is that of its forthgoing into incarnation and its return or flowing back into the centre from whence it came. According to the point of view will be the understanding of this ebb and flow. Souls might esoterically be regarded as those “seeking the light of experience” and therefore turned towards physical expression, and those “seeking the light of understanding”, and therefore retreating from the realm of human undertaking to forge their way inward into the soul consciousness, and so become “dwellers in the light eternal”. Without appreciating the significance of the terms, the psychologists have sensed these cycles and call certain types, extraverts, and others, introverts. These mark an ebb and flow in individual experience and are the tiny life correspondences to the great soul cycles. This passing into, and passing out of, the web of incarnated existence are the major cycles of any individual soul, and a study of the types of pralaya dealt with in The Secret Doctrine and A Treatise on Cosmic Fire would be found of real value by the student.
Chu kỳ nổi bật đối với mỗi linh hồn là chu kỳ đi ra nhập thể và trở về, hay chảy ngược lại vào trung tâm từ đó nó đã đến. Tùy theo quan điểm mà sự thấu hiểu về sự triều xuống và triều lên này sẽ khác nhau. Một cách huyền bí, các linh hồn có thể được xem như những kẻ “tìm kiếm ánh sáng của kinh nghiệm” và vì vậy quay về phía biểu hiện hồng trần, và những kẻ “tìm kiếm ánh sáng của sự thấu hiểu” và vì vậy rút lui khỏi lĩnh vực của nỗ lực nhân loại để mở đường đi vào bên trong, vào tâm thức linh hồn, và nhờ đó trở thành “những cư dân trong ánh sáng vĩnh cửu”. Dù không đánh giá đầy đủ thâm nghĩa của các thuật ngữ, các nhà tâm lý học đã cảm nhận được những chu kỳ này và gọi một số loại người là hướng ngoại, còn những loại khác là hướng nội. Chúng đánh dấu một sự triều xuống và triều lên trong kinh nghiệm cá nhân, và là những tương ứng nhỏ bé trong đời sống đối với các chu kỳ lớn của linh hồn. Sự đi vào và đi ra khỏi mạng lưới của hiện hữu nhập thể này là những chu kỳ lớn của bất cứ linh hồn cá biệt nào, và việc nghiên cứu các loại Giai kỳ qui nguyên được bàn đến trong Giáo Lý Bí Nhiệm và Luận về Lửa Vũ Trụ sẽ được đạo sinh thấy là thật sự có giá trị.
Webinar Program 10 – Rule 8.4
There is also an ebb and flow in soul experience on any one plane and this, in the early stages of development, will cover many lives. They are usually quite extreme in [244] their expression. A study of the racial ebb and flow will make this clearer. In Lemurian days the “flow”, or the outward going cycle, spent itself on the physical plane and the ebb carried the life aspect right back to the soul itself, and there was no secondary ebb and flow on the astral or mental planes.
Cũng có một sự triều xuống và triều lên trong kinh nghiệm của linh hồn trên bất cứ cõi nào, và trong các giai đoạn phát triển ban đầu, điều này sẽ bao trùm nhiều kiếp sống. Chúng thường khá cực đoan trong [244] biểu hiện. Việc nghiên cứu sự triều xuống và triều lên của các giống dân sẽ làm điều này rõ hơn. Trong những ngày Lemuria, “dòng triều lên”, hay chu kỳ đi ra ngoài, tự tiêu hao trên cõi hồng trần, còn dòng triều xuống mang phương diện sự sống trở thẳng về chính linh hồn, và không có sự triều xuống, triều lên thứ yếu nào trên các cõi cảm dục hay trí tuệ.
Later, the tide broke on the shores of the astral plane, though including the physical in less degree. The flow directed its attention to the emotional life, and the drift back to the centre took no account of the mental life at all. This was at its height for humanity in Atlantean days and is true also of many today. Now the ebb and flow is increasingly inclusive, and the mental experience has its place so that all three aspects are swept by the life of the soul; all are included in the outgoing energy of the incarnating soul, and for many lives and series of lives this cyclic force spends itself. Within the aspirant there arises an understanding of what is going on and he awakens to the desire to control consciously this ebb and flow or (to put it in simple words) to turn the forces of the outgoing energy in any direction he chooses, or to withdraw to his centre at will. He seeks to arrest this process of being swept out into incarnation without having any conscious purpose, and refuses to see the tide of his life beat out on emotional or mental spheres of existence, and then again see that life withdrawn without his conscious volition. He stands at the midway point and wants to control his own cycles, the “ebb and flow” as he himself may determine it. With conscious purpose he longs to walk in the dark places of incarnated existence and with equally conscious purpose he seeks to withdraw into his own centre. Hence he becomes an aspirant.
Về sau, thủy triều vỗ vào bờ của cõi cảm dục, dù vẫn bao gồm cõi hồng trần ở mức độ ít hơn. Dòng triều lên hướng sự chú ý của nó vào đời sống cảm xúc, và dòng trôi trở về trung tâm hoàn toàn không kể đến đời sống trí tuệ. Điều này đạt đến đỉnh cao đối với nhân loại trong những ngày Atlantis, và ngày nay cũng đúng với nhiều người. Giờ đây, sự triều xuống và triều lên ngày càng bao gồm hơn, và kinh nghiệm trí tuệ có vị trí của nó, đến mức cả ba phương diện đều được sự sống của linh hồn cuốn vào; tất cả đều được bao gồm trong năng lượng đi ra của linh hồn đang nhập thể, và trong nhiều kiếp sống cũng như nhiều chuỗi kiếp sống, mãnh lực chu kỳ này tự tiêu hao. Trong người chí nguyện nảy sinh sự thấu hiểu về điều đang diễn ra, và y thức tỉnh trước mong muốn kiểm soát một cách có ý thức sự triều xuống và triều lên này, hay nói đơn giản, hướng các mãnh lực của năng lượng đi ra theo bất cứ hướng nào y chọn, hoặc rút về trung tâm của mình theo ý muốn. Y tìm cách chặn đứng tiến trình bị cuốn ra nhập thể mà không có bất cứ mục đích có ý thức nào, và từ chối nhìn thấy thủy triều của đời sống mình tràn ra trên các lĩnh vực hiện hữu cảm xúc hay trí tuệ, rồi lại thấy sự sống ấy bị rút đi mà không có ý chí hữu thức của mình. Y đứng tại Điểm ở giữa và muốn kiểm soát các chu kỳ của chính mình, “sự triều xuống và triều lên” như chính y có thể quyết định. Với mục đích có ý thức, y khao khát bước đi trong những nơi tối tăm của hiện hữu nhập thể, và với mục đích có ý thức tương tự, y tìm cách rút về trung tâm riêng của mình. Vì thế y trở thành một người chí nguyện.
The life of the aspirant begins to repeat earlier cycles. He is assailed by a sudden stimulation of the physical nature and violently swept by ancient desires and lusts. [245] This may be succeeded by a cycle wherein the physical body is conscious of the flowing away from it of vital energy and is devitalised, because not the subject of attention. This accounts for much of the sickness and lack of vitality of many of our most cherished servers. The same process can affect the emotional body, and periods of exaltation and of highest aspiration alternate with periods of the deepest depression and lack of interest. The flow may pass on to the mental body and produce a cycle of intense mental activity. Constant study, much thought, keen investigation and a steady intellectual urge will characterize the mind of the aspirant. To this may succeed a cycle wherein all study is distasteful, and the mind seems to lie entirely fallow and inert. It is an effort to think, and the futility of phases of thought assail the mind. The aspirant decides that to be is better far than to do. “Can these dry bones live?” he asks, and has no desire to see them revitalised.
Đời sống của người chí nguyện bắt đầu lặp lại các chu kỳ trước kia. Y bị tấn công bởi một sự kích thích đột ngột của bản chất hồng trần và bị cuốn đi dữ dội bởi những dục vọng và ham muốn cổ xưa. [245] Điều này có thể được tiếp nối bởi một chu kỳ trong đó thể xác ý thức được rằng năng lượng sinh lực đang chảy ra khỏi nó và trở nên mất sinh lực, vì nó không còn là đối tượng của sự chú ý. Điều này giải thích phần lớn bệnh tật và sự thiếu sinh lực của nhiều người phụng sự đáng quý nhất của chúng ta. Cùng tiến trình ấy có thể ảnh hưởng đến thể cảm xúc, và các thời kỳ hưng phấn cùng khát vọng cao nhất luân phiên với những thời kỳ trầm cảm sâu nhất và thiếu hứng thú. Dòng triều có thể chuyển sang thể trí và tạo ra một chu kỳ hoạt động trí tuệ mãnh liệt. Sự học hỏi liên tục, nhiều suy tư, tìm tòi sắc bén và một thôi thúc trí tuệ đều đặn sẽ đặc trưng cho thể trí của người chí nguyện. Điều này có thể được tiếp nối bởi một chu kỳ trong đó mọi học hỏi đều trở nên chán ngán, và thể trí dường như hoàn toàn bỏ hoang và trì trệ. Suy nghĩ trở thành một nỗ lực, và sự vô ích của các giai đoạn tư tưởng tấn công thể trí. Người chí nguyện quyết định rằng hiện tồn tốt hơn nhiều so với hành động. Y hỏi: “Những xương khô này có thể sống lại chăng?” và không có chút ham muốn nào thấy chúng được tiếp sinh lực.
All true seekers after truth are conscious of this unstable experience and frequently regard it as a sin or as a condition to be strenuously fought. Then is the time to appreciate that “the midway spot which is neither dry nor wet must provide the standing place whereon his feet are set.”
Mọi người tìm kiếm chân lý chân thật đều ý thức về kinh nghiệm bất ổn này và thường xem nó như một tội lỗi hay như một tình trạng phải kiên quyết chiến đấu. Khi ấy là lúc cần nhận ra rằng “Nơi ở giữa, không khô cũng không ướt, phải cung cấp chỗ đứng để đôi chân y đặt lên.”
This is a symbolic way of saying that he needs to realize two things:
Đây là cách nói biểu tượng rằng y cần nhận ra hai điều:
1. That states of feeling are quite immaterial and are no indication of the state of the soul. The aspirant must centre himself in the soul consciousness, refuse to be influenced by the alternating conditions to which he seems subjected, and simply “stand in spiritual being” and then “having done all, stand.”
1. Rằng các trạng thái cảm xúc hoàn toàn không quan trọng và không phải là chỉ dấu về trạng thái của linh hồn. Người chí nguyện phải đặt mình vào tâm thức linh hồn, từ chối bị ảnh hưởng bởi những tình trạng luân phiên mà y dường như phải chịu, và chỉ đơn giản “đứng trong bản thể tinh thần”, rồi “sau khi đã làm tất cả, hãy đứng vững.”
2. That the achievement of equilibrium is only possible where alternation has been the rule, and that the cyclic ebb and flow will continue just as long as the soul’s [246] attention fluctuates between one or other aspect of the form and the true spiritual man.
2. Rằng việc đạt được quân bình chỉ có thể xảy ra nơi sự luân phiên từng là quy luật, và sự triều xuống, triều lên theo chu kỳ sẽ tiếp tục chừng nào sự chú ý của linh hồn [246] còn dao động giữa một phương diện nào đó của hình tướng và con người tinh thần chân thật.
The ideal is to achieve such a condition of conscious control that at will a man may be focussed in his soul consciousness or focussed in his form aspect, —each act of focussed attention being brought about through a realised and specific objective, necessitating such a focussing.
Lý tưởng là đạt đến một tình trạng kiểm soát hữu thức đến mức con người có thể tùy ý tập trung trong tâm thức linh hồn hoặc tập trung trong phương diện hình tướng của mình — mỗi hành vi tập trung chú ý đều được tạo ra nhờ một mục tiêu đã được nhận biết và xác định, đòi hỏi sự tập trung như thế.
Later when the words of the great Christian teacher have significance, he will be able to say “whether in the body or out of the body” is a matter of no moment. The act of service to be rendered will determine the point where the self is concentrated, but it will be the same self, whether freed temporarily from the form consciousness or immersed in the form in order to function in different aspects of the divine whole. The spiritual man seeks for the furthering of the plan and to identify himself with the divine mind in nature. Withdrawing to the midway spot, he endeavours to realize his divinity and then, having done so, he focusses himself in his mental form which puts him en rapport with the Universal Mind. He endures limitation so that thereby he may know and serve. He seeks to reach the hearts of men and to carry to them “inspiration” from the depths of the heart of spiritual being. Again he asserts the fact of his divinity and then, through a temporary identification with his body of sensory perception, of feeling, and of emotion, he finds himself at-one with the sensitive apparatus of divine manifestation which carries the love of God to all forms on the physical plane.
Về sau, khi lời của vị huấn sư Ki-tô giáo vĩ đại có thâm nghĩa, y sẽ có thể nói rằng “ở trong thể hay ngoài thể” đều không quan trọng. Hành động phụng sự cần được thực hiện sẽ quyết định điểm nơi bản ngã được tập trung, nhưng đó vẫn là cùng một bản ngã, dù tạm thời được giải phóng khỏi tâm thức hình tướng hay chìm trong hình tướng để hoạt động trong các phương diện khác nhau của toàn thể thiêng liêng. Con người tinh thần tìm cách thúc đẩy Thiên Cơ và đồng hoá với trí tuệ thiêng liêng trong thiên nhiên. Khi rút về Nơi ở giữa, y nỗ lực chứng nghiệm thiên tính của mình, rồi sau khi đã làm như vậy, y tập trung mình trong hình tướng trí tuệ, điều đặt y vào tương quan với Vũ Trụ Trí. Y chịu đựng giới hạn để nhờ đó có thể biết và phụng sự. Y tìm cách chạm đến trái tim con người và mang đến cho họ “cảm hứng” từ chiều sâu của trái tim bản thể tinh thần. Một lần nữa, y khẳng định sự thật về thiên tính của mình, rồi qua sự đồng hoá tạm thời với thể tri giác giác quan, cảm thọ và cảm xúc của mình, y thấy mình hợp nhất với bộ máy nhạy cảm của biểu hiện thiêng liêng, bộ máy mang tình thương của Thượng đế đến mọi hình tướng trên cõi hồng trần.
Again he seeks to aid in the materialising of the divine plan on the physical plane. He knows that all forms are the product of energy rightly used and directed. With full knowledge of his divine Sonship and a potent mind realisation of all that that term conveys, he focusses his forces in the vital body and becomes a focal point for the transmission of divine energy and hence a builder in [247] union with the building energies of the Cosmos. He carries the energy of illumined thought and sanctified desire down into the body of ether, and so works with intelligent devotion.
Một lần nữa, y tìm cách hỗ trợ việc hiện hình Thiên Cơ trên cõi hồng trần. Y biết rằng mọi hình tướng đều là sản phẩm của năng lượng được sử dụng và định hướng đúng đắn. Với tri thức đầy đủ về địa vị Con của Thượng đế nơi mình, và với sự nhận biết mạnh mẽ bằng trí tuệ về tất cả những gì thuật ngữ ấy truyền đạt, y tập trung các mãnh lực của mình trong thể sinh lực và trở thành một điểm tập trung để truyền dẫn năng lượng thiêng liêng, và do đó là một đấng kiến tạo trong [247] sự hợp nhất với các năng lượng kiến tạo của Vũ Trụ. Y đưa năng lượng của tư tưởng được soi sáng và dục vọng được thánh hóa xuống thể dĩ thái, và như vậy làm việc với lòng sùng tín thông tuệ.
You ask for a clearer definition of the “midway” spot.
Các bạn hỏi về một định nghĩa rõ hơn của “Nơi ở giữa”.
For the probationer it is the emotional plane, the Kurukshetra, or the plane of illusion, where land (physical nature) and water (emotional nature) meet.
Đối với người dự bị, đó là cõi cảm xúc, chiến trường Kurukshetra, hay cõi ảo tưởng, nơi đất, tức bản chất hồng trần, và nước, tức bản chất cảm xúc, gặp nhau.
For the disciple it is the mental plane where form and soul make contact and the great transition becomes possible. For the advanced disciple and the initiate, the midway spot is the causal body, the karana sarira, the spiritual body of the soul, standing as the intermediary between Spirit and matter, Life and form, the monad and the personality.
Đối với đệ tử, đó là cõi trí, nơi hình tướng và linh hồn tiếp xúc và cuộc chuyển tiếp lớn trở nên khả hữu. Đối với đệ tử tiến bộ và điểm đạo đồ, Nơi ở giữa là thể nguyên nhân, thể tinh thần của linh hồn, đứng như trung gian giữa Tinh thần và vật chất, Sự Sống và hình tướng, chân thần và phàm ngã.
This can also be discussed and understood in terms of the centres.
Điều này cũng có thể được bàn luận và thấu hiểu theo các trung tâm.
As every student knows, there are two centres in the head. One centre is between the eyebrows and has the pituitary body as its objective manifestation. The other is in the region at the top of the head and has the pineal gland as its concrete aspect. The pure mystic has his consciousness centred in the top of the head, almost entirely in the etheric body.
Như mọi đạo sinh đều biết, có hai trung tâm trong đầu. Một trung tâm nằm giữa hai lông mày và có tuyến yên làm biểu hiện khách quan. Trung tâm kia nằm ở vùng đỉnh đầu và có tuyến tùng làm phương diện cụ thể. Nhà thần bí thuần túy có tâm thức tập trung ở đỉnh đầu, hầu như hoàn toàn trong thể dĩ thái.
Webinar Program 11 – Rule 8.5
The advanced worldly man is centred in the pituitary region. When, through occult unfoldment and esoteric knowledge, the relation between the personality and the soul is established there is a midway spot in the centre of the head in the magnetic field which is called the “light in the head”, and it is here that the aspirant takes his stand. This is the spot of vital import. It is neither land or physical, nor water or emotional. It might be regarded as the vital or etheric body which has become the field of conscious service, of directed control, and of force utilisation towards specific ends.
Con người thế tục tiến bộ tập trung ở vùng tuyến yên. Khi, nhờ sự khai mở huyền bí và tri thức nội môn, mối quan hệ giữa phàm ngã và linh hồn được thiết lập, có một Nơi ở giữa tại trung tâm đầu trong trường từ tính được gọi là “ánh sáng trong đầu”, và chính tại đây người chí nguyện đứng vững. Đây là điểm có tầm quan trọng sinh tử. Nó không phải là đất hay hồng trần, cũng không phải là nước hay cảm xúc. Nó có thể được xem như thể sinh lực hay thể dĩ thái đã trở thành lĩnh vực phụng sự hữu thức, kiểm soát có định hướng và sử dụng mãnh lực hướng đến những mục đích xác định.
Here the magician takes his stand and through the [248] medium of his force or energy body performs the magical creative work.
Tại đây nhà huyền thuật đứng vững, và qua [248] trung gian của thể mãnh lực hay thể năng lượng của mình, y thực hiện công việc sáng tạo huyền thuật.
One point is rather abstrusely dealt with in this rule, but it clarifies, if the words are studied with care. At the close of the rule we are told that when “water, land and air meet” there is the place for the working of magic. Curiously in these phrases the idea of location is omitted and only the time equation considered.
Một điểm được bàn đến khá thâm áo trong quy luật này, nhưng sẽ sáng tỏ nếu những lời ấy được nghiên cứu cẩn thận. Ở cuối quy luật, chúng ta được bảo rằng khi “nước, đất và khí gặp nhau”, đó là nơi cho công việc huyền thuật. Điều kỳ lạ là trong các cụm từ này, ý tưởng về vị trí bị bỏ qua và chỉ yếu tố thời gian được xem xét.
Air is the symbol of the buddhic vehicle, of the plane of spiritual love, and when the three above enumerated (in their energy aspects) meet, it is indicative of a focussing in the soul consciousness and a centralisation of the man in the spiritual body. From that point of power, outside of form, from the central sphere of unification and from the focussed point within that circle of consciousness, the spiritual man projects his consciousness into the midway spot within the brain cavity where the magical work must, in relation to the physical plane, be carried out. This ability to project the consciousness from the plane of soul realisation into that of creative magical work on the etheric subplanes is gradually made possible as the student in his meditation work develops facility in focussing his attention in one or other of the centres in the body. This is accomplished through the medium of the force centres in the etheric body. He gradually gains that plasticity and that fluidity of the self-directed consciousness which will enable him to play on the centres, as a musician utilises the seven notes of music. When this has been achieved he can begin to train himself in wider and more extended focussings and must learn to withdraw his consciousness, not only to the brain, but to the soul on its own plane and thence re-direct his energies in the performance of the magical work of the soul.
Khí là biểu tượng của vận cụ Bồ đề, của cõi tình thương tinh thần; và khi ba yếu tố được liệt kê ở trên, trong các phương diện năng lượng của chúng, gặp nhau, điều đó chỉ ra sự tập trung trong tâm thức linh hồn và sự quy tụ của con người trong thể tinh thần. Từ điểm quyền năng ấy, bên ngoài hình tướng, từ khối cầu trung tâm của sự hợp nhất và từ điểm tập trung trong vòng tròn tâm thức ấy, con người tinh thần phóng chiếu tâm thức của mình vào Nơi ở giữa trong khoang não, nơi công việc huyền thuật, liên quan đến cõi hồng trần, phải được thực hiện. Khả năng phóng chiếu tâm thức từ cõi chứng nghiệm linh hồn vào cõi của công việc huyền thuật sáng tạo trên các cõi phụ dĩ thái dần dần trở nên khả hữu khi đạo sinh, trong công việc tham thiền của mình, phát triển sự thuần thục trong việc tập trung chú ý vào một hay một trung tâm khác trong thể. Điều này được hoàn thành qua trung gian của các trung tâm mãnh lực trong thể dĩ thái. Y dần dần đạt được tính mềm dẻo và tính linh động của tâm thức tự định hướng, nhờ đó y có thể tác động lên các trung tâm như một nhạc sĩ sử dụng bảy nốt nhạc. Khi điều này đã đạt được, y có thể bắt đầu tự rèn luyện trong những sự tập trung rộng hơn và mở rộng hơn, và phải học cách rút tâm thức của mình, không chỉ về bộ não, mà về linh hồn trên cõi riêng của nó, rồi từ đó tái định hướng các năng lượng của mình trong việc thực hiện công việc huyền thuật của linh hồn.
The fundamental secret of the cycles lies in this withdrawal and the subsequent re-focussing of attention and [249] it must be remembered in this connection that the basic law underlying all magical work is that “energy follows thought”. If aspirants would remember this they would live through their periods of aridity with greater ease and would be conscious of the underlying purpose.
Bí nhiệm căn bản của các chu kỳ nằm trong sự rút lui này và sự tái tập trung chú ý tiếp theo, và [249] trong mối liên hệ này cần nhớ rằng định luật căn bản nằm dưới mọi công việc huyền thuật là “năng lượng đi theo tư tưởng”. Nếu những người chí nguyện nhớ điều này, họ sẽ đi qua các thời kỳ khô cằn của mình dễ dàng hơn và sẽ ý thức được mục đích nền tảng.
It might here be asked what are the dangers of this midway spot?
Ở đây có thể hỏi: những nguy hiểm của Nơi ở giữa này là gì?
The dangers of too violent fluctuation between land and water, or between the emotional response to life and truth or life on the physical plane. Some aspirants are too emotional in their reactions; others too materialistic. The effect of this is felt in the midway spot and produces a violent instability. This instability has a direct effect on the solar plexus centre which was the “midway spot” in early Atlantean times, and is still the midway point in the transmutation processes of the aspiring personality. It transmutes and transmits the energies of the sacral centre and of the centre at the base of the spine, and is the clearing house for all energies focussed in the centres below the diaphragm.
Đó là những nguy hiểm của sự dao động quá dữ dội giữa đất và nước, hay giữa sự đáp ứng cảm xúc đối với đời sống và chân lý, hoặc đời sống trên cõi hồng trần. Một số người chí nguyện phản ứng quá cảm xúc; những người khác quá duy vật. Tác động của điều này được cảm nhận tại Nơi ở giữa và tạo ra một sự bất ổn dữ dội. Sự bất ổn này có tác động trực tiếp lên trung tâm tùng thái dương, vốn là “Nơi ở giữa” trong thời Atlantis sơ khai, và vẫn là Điểm ở giữa trong các tiến trình chuyển hoá của phàm ngã đang khát vọng. Nó chuyển hoá và truyền dẫn các năng lượng của trung tâm xương cùng và trung tâm ở đáy cột sống, đồng thời là nơi thanh lọc mọi năng lượng tập trung trong các trung tâm bên dưới cơ hoành.