← A Treatise on White Magic – Alice A. Bailey

Webinar Program 12 – Rule 8.6

Webinar Program 12 – Rule 8.6

The dangers incident to a premature and uncontrolled pouring in of pure spiritual energy to the mechanism of the personality. That vital spiritual force enters through the cranial aperture, and pours into the head centres. From them will follow the line of least resistance which is determined by the daily trend of the aspirant’s thought life.

Đó là những nguy hiểm phát sinh từ việc năng lượng tinh thần thuần khiết tràn vào quá sớm và không được kiểm soát trong bộ máy của phàm ngã. Mãnh lực tinh thần thiết yếu ấy đi vào qua lỗ sọ và tuôn vào các trung tâm trong đầu. Từ đó, nó sẽ đi theo con đường ít trở ngại nhất, vốn được quyết định bởi khuynh hướng hằng ngày của đời sống tư tưởng nơi người chí nguyện.

Another and rather potent danger is the result, literally, of the bringing together of the land and water. It demonstrates as the pouring into the brain consciousness (the land aspect) of the knowledges of the astral plane. One of the first things an aspirant becomes aware of is a tendency to the lower psychism. It is a reaction from the solar plexus centre. But this midway point can be utilised as a “jumping off place” into the world of astral phenomena. This will produce “death by drowning”, [250] for the aspirant’s spiritual life can be swamped and entirely submerged in the interests of the lower psychical experiences. It is here that many worthy aspirants go astray—temporarily it may be, but the times are so critical that it is a matter to be deplored if any time is lost in futile experimentation and the retracing of any path chosen.

Một nguy hiểm khác và khá mạnh mẽ là kết quả, theo nghĩa đen, của việc đưa đất và nước lại với nhau. Nó biểu hiện như sự tuôn vào tâm thức bộ não, tức phương diện đất, của các tri thức thuộc cõi cảm dục. Một trong những điều đầu tiên mà người chí nguyện nhận biết là khuynh hướng hướng về năng lực thông linh thấp. Đó là một phản ứng từ trung tâm tùng thái dương. Nhưng Điểm ở giữa này có thể được sử dụng như một “điểm phóng” vào thế giới của các hiện tượng cảm dục. Điều này sẽ tạo ra “cái chết do chết đuối”, [250] vì đời sống tinh thần của người chí nguyện có thể bị ngập chìm và hoàn toàn chìm xuống trong các mối quan tâm đến những kinh nghiệm thông linh thấp. Chính tại đây mà nhiều người chí nguyện xứng đáng đi lạc — có thể chỉ tạm thời, nhưng thời đại quá hệ trọng đến mức thật đáng tiếc nếu bất cứ thời gian nào bị mất trong những thử nghiệm vô ích và trong việc phải đi lại một con đường đã chọn.

A clue to the significance of these words is to be found in the recognition of the following occult fact. The place where water and land meet is the solar plexus centre. The place where water, land and air meet is in the head. Land is the symbol of the physical plane life, and of the exoteric form. Water is the symbol of the emotional nature. It is from the great centre of the personality life, the solar plexus, that the life is usually ruled and government administered. When the centre of direction lies below the diaphragm there is no magic possible. The animal soul controls and the spiritual soul is perforce quiescent. Air is the symbol of the higher life in which the Christ principle dominates, in which freedom is experienced and the soul comes to full expression. It is the symbol of the buddhic plane, as water is of the emotional. When the life of the personality is carried up into Heaven, and the life of the soul comes down on to earth, there is the place of meeting, and there the work of transcendental magic becomes possible.

Một manh mối về thâm nghĩa của những lời này được tìm thấy trong sự nhận biết sự kiện huyền bí sau đây. Nơi nước và đất gặp nhau là trung tâm tùng thái dương. Nơi nước, đất và khí gặp nhau là trong đầu. Đất là biểu tượng của đời sống cõi hồng trần và của hình tướng ngoại môn. Nước là biểu tượng của bản chất cảm xúc. Chính từ trung tâm lớn của đời sống phàm ngã, tức tùng thái dương, mà đời sống thường được cai quản và sự điều hành được thực hiện. Khi trung tâm điều hướng nằm dưới cơ hoành, không có huyền thuật nào khả hữu. Linh hồn động vật kiểm soát và linh hồn tinh thần bắt buộc phải yên lặng. Khí là biểu tượng của đời sống cao siêu, trong đó nguyên khí Đức Christ thống trị, tự do được kinh nghiệm và linh hồn đi đến biểu hiện trọn vẹn. Nó là biểu tượng của cõi Bồ đề, cũng như nước là biểu tượng của cõi cảm xúc. Khi đời sống của phàm ngã được nâng lên Thiên giới, và đời sống của linh hồn đi xuống trần gian, nơi đó là nơi gặp gỡ, và tại đó công việc huyền thuật siêu việt trở nên khả hữu.

This meeting place is the place of fire, the plane of mind. Fire is the symbol of the intellect and all magical work is an intelligent process, carried out in the strength of the soul, and by the use of the mind. To make itself felt on the physical plane, a brain is required which is receptive to higher impulses and which can be impressed by the soul utilizing the “chitta” or mental substance in order to create the needed thought forms, and so express the ideas and purposes of the intelligent loving soul. These are recognized by the brain and are [251] photographed upon the “vital airs” found in the brain cavity. When these vital airs can be sensed by the magician in meditation, and the thought-forms imprinted on this miniature reflection of the astral light, then the real potency in magic can begin to make itself felt. The brain has “heard” occultly the injunctions and instructions of the mind as it relays the behests of the soul. The vital airs are swept into form-making activity just as their higher correspondence, the “modifications of the thinking principle, the mind stuff” (as Patanjali calls it), are thrown into an analogous form-making activity. These can then be seen interiorly by the man who is seeking to perform the magical work and much of his success is dependent upon his ability to register impressions exactly, and to see with clarity the forms of the process in magic which he is seeking to demonstrate as magical work in the outer world.

Nơi gặp gỡ này là nơi của lửa, cõi trí. Lửa là biểu tượng của trí năng, và mọi công việc huyền thuật là một tiến trình thông tuệ, được thực hiện trong sức mạnh của linh hồn và bằng việc sử dụng thể trí. Để tự khiến mình được cảm nhận trên cõi hồng trần, cần có một bộ não tiếp nhận được các xung lực cao hơn và có thể được linh hồn in ấn, khi linh hồn sử dụng “tâm chất” hay chất liệu trí tuệ để tạo ra các hình tư tưởng cần thiết, và như vậy biểu hiện các ý tưởng cùng mục đích của linh hồn thông tuệ và đầy tình thương. Những điều này được bộ não nhận biết và được [251] ghi lại trên các “sinh khí” có trong khoang não. Khi những sinh khí này có thể được nhà huyền thuật cảm nhận trong tham thiền, và các hình tư tưởng được in lên phản ảnh thu nhỏ này của ánh sáng cảm dục, lúc ấy quyền năng thật sự trong huyền thuật có thể bắt đầu khiến chính nó được cảm nhận. Bộ não, theo nghĩa huyền bí, đã “nghe” các mệnh lệnh và huấn thị của thể trí khi thể trí chuyển tiếp các chỉ thị của linh hồn. Các sinh khí được cuốn vào hoạt động tạo hình, cũng như đối ứng cao hơn của chúng, tức “các biến thái của nguyên khí tư duy, chất liệu trí tuệ”, như Patanjali gọi, được đẩy vào một hoạt động tạo hình tương tự. Khi ấy, những điều này có thể được nhìn thấy bên trong bởi con người đang tìm cách thực hiện công việc huyền thuật, và phần lớn thành công của y tùy thuộc vào khả năng ghi nhận các ấn tượng một cách chính xác, và nhìn rõ các hình tướng của tiến trình trong huyền thuật mà y tìm cách chứng minh như công việc huyền thuật trong thế giới bên ngoài.

It might therefore be said that there are three stages in the form-making process. First, the soul or spiritual man, centered in the soul consciousness and functioning in “the secret place of the Most High”, visualizes the work to be done. This is not a sequential act, but the finished completed work of magic is visioned by a process that does not involve the time element or spatial concepts at all. Secondly, the mind responds to the soul (calling attention to the work to be performed), and is swept into thought-form making activity by this impression. According to the lucidity and illumination of the mind-stuff so will be the response to the impression. If the mind is a true reflector and receiver of soul impress, the corresponding thought-form will be true to its prototype. If it is not true (as is usually the case in the early stages of the work) then the thought-form created will be distorted and incorrect, unbalanced and “out of drawing”.

Vì vậy, có thể nói rằng có ba giai đoạn trong tiến trình tạo hình tướng. Trước hết, linh hồn hay con người tinh thần, tập trung trong tâm thức linh hồn và hoạt động trong “nơi bí mật của Đấng Tối Cao”, hình dung công việc cần làm. Đây không phải là một hành động theo trình tự, mà công việc huyền thuật đã hoàn tất trọn vẹn được thấy bằng tầm nhìn qua một tiến trình hoàn toàn không liên quan đến yếu tố thời gian hay các khái niệm không gian. Thứ hai, thể trí đáp ứng với linh hồn, vốn kêu gọi sự chú ý đến công việc phải được thực hiện, và nhờ ấn tượng này mà thể trí được cuốn vào hoạt động tạo hình tư tưởng. Tùy theo độ sáng rõ và sự soi sáng của chất liệu trí tuệ mà sẽ có sự đáp ứng với ấn tượng. Nếu thể trí là tấm gương phản chiếu và bộ tiếp nhận chân thật của ấn tượng linh hồn, hình tư tưởng tương ứng sẽ đúng với nguyên mẫu của nó. Nếu nó không đúng, như thường xảy ra trong các giai đoạn đầu của công việc, thì hình tư tưởng được tạo ra sẽ bị méo mó và sai lệch, mất cân đối và “không đúng bản vẽ”.

It is in meditation that this work of accurate reception [252] and correct building is learnt and hence the emphasis laid in all true schools of esoteric training upon a focussed mind, a capacity to visualize, an ability to build thought-forms, and an accurate grasp of egoic intent. Hence also the need of the magician beginning the practical work of magic with himself as the subject of the magical experiment. He begins to grasp the vision of the spiritual man, as he is in essence. He realizes the virtues and reactions which that spiritual man would evidence in physical plane life. He builds a thought-form of himself as the ideal man, the true server, the perfect master. He gradually coordinates his forces so that power to be these things in external reality begins to take shape so that all men can see. He creates a pattern in his mind which hews as true as he can make it to the prototype, and which serves to model the lower man and force conformity to the ideal. As he perfects his technique he finds a transmuting, transforming power at work upon the energies which constitute his lower nature, until all is subordinated and he becomes in practical manifestation what he is esoterically and essentially. As this takes place, he begins to be interested in the magical work in which it is the function of all true souls to participate.

Chính trong tham thiền mà công việc tiếp nhận chính xác [252] và xây dựng đúng đắn này được học, và vì thế trong mọi trường đào luyện nội môn chân chính, người ta nhấn mạnh đến một thể trí tập trung, khả năng hình dung, năng lực xây dựng các hình tư tưởng, và sự nắm bắt chính xác ý định của chân ngã. Vì thế cũng có nhu cầu để nhà huyền thuật bắt đầu công việc thực tiễn của huyền thuật với chính mình làm đối tượng của thí nghiệm huyền thuật. Y bắt đầu nắm bắt tầm nhìn về con người tinh thần, như y vốn là trong yếu tính. Y nhận ra các đức hạnh và phản ứng mà con người tinh thần ấy sẽ biểu lộ trong đời sống cõi hồng trần. Y xây dựng một hình tư tưởng về chính mình như con người lý tưởng, người phụng sự chân thật, vị chân sư toàn thiện. Y dần dần phối hợp các mãnh lực của mình để quyền năng trở thành những điều ấy trong thực tại bên ngoài bắt đầu thành hình, đến mức mọi người có thể thấy. Y tạo ra một mô hình trong thể trí mình, cắt gọt nó sao cho trung thành nhất có thể với nguyên mẫu, và mô hình ấy dùng để khuôn đúc phàm nhân cũng như buộc y phải phù hợp với lý tưởng. Khi y hoàn thiện kỹ thuật của mình, y thấy một quyền năng chuyển hoá, chuyển đổi đang tác động lên các năng lượng cấu thành bản chất thấp của mình, cho đến khi tất cả đều được đặt dưới quyền, và y trở thành trong biểu hiện thực tiễn điều mà y vốn là một cách huyền bí và trong yếu tính. Khi điều này diễn ra, y bắt đầu quan tâm đến công việc huyền thuật mà mọi linh hồn chân thật đều có chức năng tham gia.

Then the third aspect of the form-making process can manifest. The brain is synchronized with the mind, and the mind with the soul, and the plan is sensed. The vital airs in the head can be modified and respond to the force of the building magical work. A thought-form exists then as the result of the previous two activities, but it exists in the place of the brain activity and becomes a focussing centre for the soul, and a point through which energy can flow for the performance of the magical work.

Khi ấy, phương diện thứ ba của tiến trình tạo hình tướng có thể biểu hiện. Bộ não được đồng bộ với thể trí, và thể trí với linh hồn, và Thiên Cơ được cảm nhận. Các sinh khí trong đầu có thể được biến đổi và đáp ứng với mãnh lực của công việc huyền thuật kiến tạo. Khi ấy, một hình tư tưởng hiện hữu như kết quả của hai hoạt động trước đó, nhưng nó hiện hữu trong nơi hoạt động của bộ não và trở thành một trung tâm tập trung cho linh hồn, cũng như một điểm qua đó năng lượng có thể tuôn chảy để thực hiện công việc huyền thuật.

This magical work, carried out under the direction of the soul (inspiring the mind which in its turn impresses the brain), leads then (as the result of this triple coordinated activity) to the creation of a focussing centre, [253] or form, within the head of the magician. The energy which flows through this focal point acts through three distributing agents, and hence all three are involved in all magical work.

Công việc huyền thuật này, được thực hiện dưới sự điều hướng của linh hồn, linh hồn truyền cảm hứng cho thể trí, còn thể trí đến lượt nó in ấn bộ não, khi ấy dẫn đến, như kết quả của hoạt động phối hợp tam phân này, việc tạo ra một trung tâm tập trung, [253] hay hình tướng, trong đầu của nhà huyền thuật. Năng lượng tuôn qua điểm tập trung này tác động qua ba tác nhân phân phối, và do đó cả ba đều liên hệ trong mọi công việc huyền thuật.

1. The right eye, through which the vital energy of the spirit can express itself.

1. Mắt phải, qua đó năng lượng sinh lực của tinh thần có thể biểu hiện chính nó.

2. The throat centre, through which the Word, the second aspect or the soul expresses itself.

2. Trung tâm cổ họng, qua đó Linh từ, phương diện thứ hai hay linh hồn, biểu hiện chính nó.

3. The hands, through which the creative energy of the third aspect works.

3. Đôi tay, qua đó năng lượng sáng tạo của phương diện thứ ba hoạt động.

“The White Magician” works “with the eyes open, the voice proclaiming and the hands conferring.”

“Nhà Huyền Thuật Chánh Đạo” làm việc “với đôi mắt mở, giọng nói tuyên xưng và đôi tay ban truyền.”

These points are or technical interest to the experienced worker in magic, but of symbolic interest only to the aspirants for whom these letters are intended.

Những điểm này có tính kỹ thuật đối với người hoạt động kinh nghiệm trong huyền thuật, nhưng chỉ có ý nghĩa biểu tượng đối với những người chí nguyện mà các bức thư này được dành cho.

That the inner vision may be ours, the eye see clearly the glory of the Lord, and the voice speak only in benediction, and the hands be used only in helpfulness, may well be the prayer of each of us.

Nguyện linh thị bên trong thuộc về chúng ta, con mắt thấy rõ vinh quang của Chúa, tiếng nói chỉ thốt ra lời ban phúc, và đôi tay chỉ được dùng trong sự trợ giúp — đó rất có thể là lời cầu nguyện của mỗi người chúng ta.

RULE NINE

Webinar Program 13 – Rule 9.1

Condensation next ensues. The fire and waters meet, the form swells and grows. Let the magician get his form upon the proper path.

Sự cô đọng kế đó xảy ra. Lửa và nước gặp nhau, hình tướng trương nở và lớn lên. Hãy để nhà huyền thuật đưa hình tướng của mình vào đúng con đường.

The Necessity for Purity

[257]

[257]

Rule number nine is found on page 1017 in A Treatise on Cosmic Fire, and the comment given in the Treatise is noticeably brief:

Quy luật số chín được thấy ở trang 1017 trong Luận về Lửa Vũ Trụ, và lời bình được đưa ra trong Luận ấy ngắn gọn một cách đáng chú ý:

“This rule is very briefly summed up in the injunction: Let desire and mind be so pure and so equally apportioned and the created form so justly balanced that it cannot be attracted towards the destructive or ‘left-hand’ path.”

“Quy luật này được tóm lược rất ngắn gọn trong huấn lệnh: Hãy để dục vọng và thể trí được thanh khiết đến mức, được phân phối quân bình đến mức, và hình tướng được tạo ra được cân bằng đúng đắn đến mức, nó không thể bị hút về phía con đường hủy diệt hay ‘tả đạo’.”

The reasons for this brevity may be stated to be due to the extreme simplicity of this rule in the consciousness of the man who knows, and its extreme complexity from the standpoint of the casual reader. Only the simplest and most practical of its significances is there given but perhaps a few of the deeper meanings can be imparted.

Có thể nói rằng lý do của sự ngắn gọn này là do tính cực kỳ đơn giản của quy luật này trong tâm thức của người biết, và tính cực kỳ phức tạp của nó theo quan điểm của độc giả thông thường. Ở đó chỉ đưa ra thâm nghĩa đơn giản nhất và thực tiễn nhất của nó, nhưng có lẽ một vài ý nghĩa sâu hơn có thể được truyền đạt.

It is interesting to note that as progress is made upon the path, the forms in which truth can be given become more and more simple, whilst the meaning grasped becomes more and more wide and inclusive, and hence involves (on analysis) more and more complexity. Finally, resort is had to symbols and the cosmic plan is grasped through the presentation of geometrical forms to the inner eye of the aspirant.

Điều đáng chú ý là khi tiến bộ được thực hiện trên Đường Đạo, những hình tướng qua đó chân lý có thể được trao truyền ngày càng trở nên đơn giản hơn, trong khi ý nghĩa được nắm bắt ngày càng rộng lớn và bao gồm hơn, và vì thế, khi phân tích, hàm chứa ngày càng nhiều phức tạp hơn. Sau cùng, người ta phải viện đến các biểu tượng, và Thiên Cơ vũ trụ được nắm bắt qua sự trình hiện các hình thể hình học trước nội nhãn của người chí nguyện.

The cardinal point emphasized in this rule is purity and, in the last analysis, purity is largely a question of motive. If the incentive to action of any kind in the three worlds is based on personality desire and brought about by the applied use of the mind, then impurity characterizes that action. If the impulse emanates from the [258] Dweller in the form, it is then subordinated and controlled by the Dweller to the desired end. Then the characteristic is purity within the group limitations, for absolute purity only exists when entire freedom from control has been brought about. The soul is group conscious and group controlled, and (until the causal body has been overcome and liberation from its control achieved) the real significance of purity will not be comprehended. Suffice it to say that there is a close connotation between impurity and limitation of any kind, physical, emotional and mental.

Điểm chủ yếu được nhấn mạnh trong quy luật này là sự thanh khiết, và xét đến cùng, thanh khiết phần lớn là vấn đề động cơ. Nếu động lực thúc đẩy mọi loại hành động trong ba cõi thấp đặt nền trên dục vọng phàm ngã và được tạo ra bằng việc sử dụng thể trí, thì hành động ấy mang đặc tính bất tịnh. Nếu xung lực phát xuất từ [258] Kẻ Cư Ngụ trong hình tướng, thì nó được Kẻ Cư Ngụ đặt dưới quyền và kiểm soát để hướng đến mục tiêu mong muốn. Khi ấy đặc tính là thanh khiết trong các giới hạn của nhóm, vì sự thanh khiết tuyệt đối chỉ hiện hữu khi đã đạt được sự tự do hoàn toàn khỏi mọi kiểm soát. Linh hồn có ý thức nhóm và chịu sự kiểm soát của nhóm, và cho đến khi thể nguyên nhân đã được vượt qua và sự giải thoát khỏi quyền kiểm soát của nó đã đạt được, thâm nghĩa thật sự của thanh khiết sẽ không được thấu hiểu. Chỉ cần nói rằng có một mối liên hệ chặt chẽ giữa bất tịnh và mọi loại giới hạn, dù là hồng trần, cảm xúc hay trí tuệ.

But absolute purity need not here be considered by the aspirant. No one in the esoteric groups of the world has yet achieved the fifth initiation, wherein the meaning will enter the consciousness in a blaze of intensest realisation. For the majority, physical and emotional purity are the objectives, and primarily therefore liberation from emotional control and desire. Hence the constant, e’en though badly worded injunction in many of the esoteric books “Kill out desire”. Perhaps a more just rendering for the immediate present would be “re-orient desire” or “re-direct desire”, for a constant process of re-orientation of the entire desire nature so that it eventually becomes a habitual state of mind is the clue to all the transmutation processes, and to effective magical work.

Nhưng người chí nguyện không cần xét đến sự thanh khiết tuyệt đối ở đây. Chưa một ai trong các nhóm huyền bí của thế giới đạt đến lần điểm đạo thứ năm, nơi ý nghĩa ấy sẽ đi vào tâm thức trong một bừng sáng của sự chứng nghiệm mãnh liệt nhất. Đối với đa số, thanh khiết hồng trần và cảm xúc là các mục tiêu, và do đó trước hết là sự giải thoát khỏi sự kiểm soát và dục vọng cảm xúc. Vì thế có huấn lệnh thường xuyên, dù diễn đạt chưa tốt, trong nhiều sách huyền bí: “Hãy diệt trừ dục vọng.” Có lẽ một cách diễn đạt đúng hơn cho hiện tại trước mắt sẽ là “tái định hướng dục vọng” hoặc “chuyển hướng dục vọng”, vì tiến trình tái định hướng liên tục toàn bộ bản chất dục vọng, để cuối cùng nó trở thành một trạng thái quen thuộc của thể trí, chính là chìa khóa cho mọi tiến trình chuyển hoá và cho công việc huyền thuật hữu hiệu.

As progress on the Path is made the thought processes of the aspirant become more potent, and the thought-forms—created with definite purpose and in the meditation work—become more effective in the bringing about of results. It will be apparent therefore that in magical work (which has ever to be wrought out on the physical plane) there will always exist the tendency towards the “left-hand path” until soul consciousness is permanently established, and purity of motive has become a habit of the mind.

Khi tiến bộ được thực hiện trên Đường Đạo, các tiến trình tư tưởng của người chí nguyện trở nên mạnh mẽ hơn, và các hình tư tưởng—được tạo ra với mục đích xác định và trong công việc tham thiền—trở nên hữu hiệu hơn trong việc tạo ra các kết quả. Vì vậy, điều hiển nhiên là trong công việc huyền thuật, vốn luôn phải được thực hiện trên cõi hồng trần, khuynh hướng hướng về “tả đạo” sẽ luôn tồn tại cho đến khi tâm thức linh hồn được thiết lập thường hằng, và sự thanh khiết của động cơ đã trở thành một thói quen của thể trí.

[259]

[259]

May I remind all who read that the establishing and stabilizing of right habits is, for the aspirant to discipleship, a prime requisite. Those who are working in the field of planetary evolution are looking for dependable instruments, and this cannot be too emphatically impressed upon all of you. People whose emotional moods and feelings run riot or who lack physical control cannot be counted upon in an emergency by Those who are seeking helpers. People whose minds are clouded or whose inability to hold the mind “steady in the light” is inherent, are unsuitable workers in the high places of world endeavour. This remark need deter no one in these groups from pushing forward, for the recognition of a defect is a preliminary step towards its overcoming. These groups are in training and this must be borne in mind or else discouragement is apt to ensue when the ideal is enunciated. World need and opportunity go hand in hand at this time. The Great Ones, Who stand as a wall between humanity and planetary Karma are, we are told, hard pressed at this time, and I assure you that this is but an inadequate statement of the case.

Xin tôi nhắc tất cả những ai đọc rằng việc thiết lập và ổn định các thói quen đúng đắn là một điều kiện tiên quyết hàng đầu đối với người chí nguyện hướng tới địa vị đệ tử. Những Đấng đang hoạt động trong lĩnh vực tiến hoá hành tinh đang tìm kiếm những khí cụ đáng tin cậy, và điều này không thể được nhấn mạnh quá mức với tất cả các bạn. Những người có các tâm trạng và cảm xúc buông thả, hoặc thiếu sự kiểm soát hồng trần, không thể được Các Ngài, những Đấng đang tìm kiếm người trợ giúp, trông cậy trong trường hợp khẩn cấp. Những người có thể trí mờ đục, hoặc vốn không có khả năng giữ thể trí “vững vàng trong ánh sáng”, không thích hợp làm người hoạt động ở những vị trí cao trong nỗ lực thế giới. Nhận xét này không nên làm bất cứ ai trong các nhóm này nản lòng mà không tiến tới, vì sự nhận biết một khiếm khuyết là bước sơ khởi để vượt qua nó. Các nhóm này đang được huấn luyện, và điều này phải được ghi nhớ, nếu không sự nản lòng dễ xảy ra khi lý tưởng được nêu lên. Nhu cầu thế giới và cơ hội đang đi đôi với nhau vào lúc này. Các Đấng Cao Cả, những Đấng đứng như một bức tường giữa nhân loại và nghiệp quả hành tinh, như chúng ta được cho biết, đang chịu sức ép nặng nề vào lúc này; và tôi bảo đảm với các bạn rằng đây chỉ là một cách nói chưa đủ về tình trạng ấy.

The thoughts of men since the middle of the Atlantean period have steadily been attracted toward the destructive or left-hand path, because selfishness has been the motive, and self-interest the dominant factor. Part of the work of the Christ when He came 2000 years ago was to offset this tendency by the inculcation, through example and precept, of sacrifice and unselfishness, and the martyr spirit (tinctured as it oft was by hysteria and a heavenly self-interest) was one of the results of this endeavour. Seen from the standpoint of the Hierarchy, the effort has been successful, for the Christian spirit stands for re-orientation to heavenly things. Hence purity of motive and the instinct for service, which latter keynote is new from the standpoint of the past eternities.

Từ giữa thời kỳ Atlantis, tư tưởng của con người đã đều đặn bị hút về con đường hủy diệt hay tả đạo, vì ích kỷ là động cơ, và tư lợi là yếu tố chi phối. Một phần công việc của Đức Christ khi Ngài đến cách đây 2000 năm là hóa giải khuynh hướng này bằng cách truyền dạy, qua gương mẫu và giáo huấn, tinh thần hi sinh và vị tha; và tinh thần tử đạo, dù thường nhuốm màu cuồng loạn và một thứ tư lợi hướng thiên, là một trong những kết quả của nỗ lực này. Nhìn từ quan điểm của Thánh Đoàn, nỗ lực ấy đã thành công, vì tinh thần Kitô giáo tượng trưng cho sự tái định hướng về những điều thuộc thiên giới. Do đó có sự thanh khiết của động cơ và bản năng phụng sự, mà chủ âm sau này là điều mới mẻ theo quan điểm của các vĩnh cửu đã qua.

[260]

[260]

In spite of this, however, the tendency to selfish interest is the most potent factor in the world at this time, and hence the critical situation existing between the Hierarchy of Light and the hierarchy controlling the left-hand path, or the path of control by form and desire.

Tuy nhiên, bất chấp điều này, khuynh hướng tư lợi ích kỷ là yếu tố mạnh mẽ nhất trong thế giới vào lúc này, và vì thế có tình thế nguy kịch đang tồn tại giữa Thánh Đoàn Ánh sáng và huyền giai đang kiểm soát tả đạo, hay con đường kiểm soát bằng hình tướng và dục vọng.

Let there be no discouragement, however, for the spiritual thought, resulting in magical work, of one brother of pure intent is of far greater potency than that of many brothers who follow the tendencies of the personality. Though every true aspirant as he grasps the magnitude of the Plan and surveys the forces arrayed against him may be overcome by the apparent futility of his effort and the seeming smallness of the part he plays, let him remember that there is a steadily growing group of those similar to him and that this is a group effort. Under the Law the Great Ones work through Their disciples in all countries and never before have there been so many endeavouring to fit themselves for this function of being “Transmitters of the Purpose,” and never before has there existed such a strong inner integrity and subjective relation between workers in all fields in all parts of the world. For the first time in history is there a coherent group for the Masters to use. Heretofore, there have been lonely isolated workers or tiny detached groups, and this has greatly hampered the work. Now this is changed.

Tuy nhiên, đừng nản lòng, vì tư tưởng tinh thần đưa đến công việc huyền thuật của một huynh đệ có ý định thanh khiết thì có uy lực lớn hơn rất nhiều so với tư tưởng của nhiều huynh đệ đi theo các khuynh hướng của phàm ngã. Dù mọi người chí nguyện chân chính, khi y nắm bắt tầm vóc của Thiên Cơ và quan sát các mãnh lực dàn trận chống lại y, có thể bị lấn át bởi vẻ vô ích của nỗ lực mình và sự nhỏ bé dường như của vai trò mình, y hãy nhớ rằng có một nhóm những người giống như y đang đều đặn lớn mạnh, và đây là một nỗ lực nhóm. Theo Định luật, các Đấng Cao Cả làm việc qua các đệ tử của Các Ngài trong mọi quốc gia; và chưa bao giờ có nhiều người đến thế đang nỗ lực làm cho mình thích hợp với chức năng làm “Những Người Truyền Dẫn Thiên Ý” này, và chưa bao giờ có một sự toàn vẹn nội tại cùng mối liên hệ chủ quan mạnh mẽ đến thế giữa những người hoạt động trong mọi lĩnh vực ở khắp nơi trên thế giới. Lần đầu tiên trong lịch sử có một nhóm cố kết để các Chân sư sử dụng. Trước đây, chỉ có những người hoạt động cô độc, biệt lập, hoặc những nhóm nhỏ bé tách rời, và điều này đã cản trở công việc rất nhiều. Nay điều này đã thay đổi.

I want to charge you all to realize this and to work to substantiate this group integrity and to develop the power to recognize all such workers everywhere under any name or organization and to cooperate with them when so recognized. This is no easy thing to do. It presupposes the following:

Tôi muốn giao phó cho tất cả các bạn nhận ra điều này, và làm việc để làm vững chắc sự toàn vẹn nhóm này, cũng như phát triển năng lực nhận ra tất cả những người hoạt động như thế ở khắp mọi nơi, dưới bất cứ danh xưng hay tổ chức nào, và hợp tác với họ khi đã nhận ra. Đây không phải là điều dễ làm. Nó giả định những điều sau:

Webinar Program 14 – Rule 9.2

1. An inner sensitiveness to the Plan.

1. Một sự nhạy bén nội tâm đối với Thiên Cơ.

2. An ability to recognize principles, governing conduct and administration. [261]

2. Một khả năng nhận ra các nguyên tắc chi phối hành vi và quản trị. [261]

3. A capacity to overlook the non-essentials and to emphasize the essentials.

3. Một năng lực bỏ qua những điều không thiết yếu và nhấn mạnh những điều thiết yếu.

4. A submergence of personal ambition and interest in the furthering of the group ideals and

4. Sự chìm lắng của tham vọng và lợi ích cá nhân trong việc thúc đẩy các lý tưởng của nhóm, và

5. A steady preservation of the inner contact through meditation and the overlooking and non-emphasis of personality reactions.

5. Sự duy trì vững vàng tiếp xúc nội tâm qua tham thiền, cùng việc bỏ qua và không nhấn mạnh các phản ứng của phàm ngã.

These are basic pre-requisites and should receive the attention of workers and students in all groups.

Đây là những điều kiện tiên quyết căn bản và cần nhận được sự chú tâm của những người hoạt động và đạo sinh trong mọi nhóm.

It would be of value if each student would link up every day at five o’clock by an act of the will with this rapidly integrating group of servers, mystics and brothers. To this end it might be wise to commit to memory the following brief dedication to be said silently at that hour with the attention focussed in the head:

Sẽ có giá trị nếu mỗi đạo sinh, mỗi ngày vào lúc năm giờ, bằng một hành động của ý chí, liên kết với nhóm những người phụng sự, các nhà thần bí và các huynh đệ đang nhanh chóng tích hợp này. Vì mục đích ấy, có lẽ nên học thuộc lời thánh hiến ngắn sau đây, để đọc thầm vào giờ ấy với sự chú tâm tập trung trong đầu:

“May the Power of the one Life pour through the group of all true servers.

“Cầu xin Quyền năng của Sự sống duy nhất tuôn chảy qua nhóm của tất cả những người phụng sự chân chính.

“May the Love of the One Soul characterize the lives of all who seek to aid the Great Ones.

“Cầu xin Tình thương của Linh hồn Duy Nhất đặc trưng cho đời sống của tất cả những ai tìm cách trợ giúp các Đấng Cao Cả.

“May I fulfil my part in the One work through self-forgetfulness, harmlessness and right speech.”

“Cầu xin tôi hoàn thành phần việc của mình trong Công việc Duy Nhất qua sự quên mình, tính vô tổn hại và lời nói đúng đắn.”

Then carry the thought forward from the rapidly forming group of world-servers to the Great Ones who stand back of our world evolution.

Rồi hãy đưa tư tưởng tiến xa hơn, từ nhóm những người phụng sự thế giới đang nhanh chóng thành hình đến các Đấng Cao Cả đứng phía sau tiến hoá thế giới của chúng ta.

This can be done in a few seconds of time wherever one may be and in whatever company, and will not only aid in the magical work of the forces of light, but will serve to stabilize the individual, to increase his group consciousness, and to teach him the process of carrying forward interior subjective activities in the face of and in spite of outer exoteric functioning.

Điều này có thể được thực hiện trong vài giây, ở bất cứ nơi nào người ta có mặt và trong bất cứ nhóm người nào; và nó sẽ không chỉ trợ giúp công việc huyền thuật của các mãnh lực ánh sáng, mà còn phụng sự cho việc ổn định cá nhân, gia tăng tâm thức nhóm của y, và dạy y tiến trình đưa các hoạt động chủ quan nội tâm tiến tới, đối diện với và bất chấp chức năng ngoại môn bên ngoài.

Fundamental forms

The simplicity of this Rule nine is such that in a few words the entire process of creative evolution is summarized. On the mental plane an idea takes form. On [262] the desire plane sentient energy pervades that form. Under the evolutionary process the form “swells and grows”. Through the right direction of the form and its orientation in the needed direction, the purpose of the thinker is fulfilled.

Tính đơn giản của Quy luật chín này đến mức chỉ trong vài lời, toàn bộ tiến trình tiến hoá sáng tạo đã được tóm lược. Trên cõi trí, một ý tưởng mang lấy hình tướng. Trên [262] cõi dục vọng, năng lượng cảm thụ thấm nhuần hình tướng ấy. Dưới tiến trình thăng thượng tiến hoá, hình tướng “trương nở và lớn lên”. Qua sự điều hướng đúng đắn của hình tướng và sự định hướng của nó theo chiều hướng cần thiết, mục đích của người tư tưởng được hoàn thành.

All life is vibration and the result of vibration is form, dense or subtle, and ever subtler as ascension takes place. As the pulsating life progresses its rate of vibration changes, and in this changing of vibration lies hid the secret of form-shattering and form-building. Forms are of four kinds in this era of the fourth round:

Mọi sự sống đều là rung động, và kết quả của rung động là hình tướng, đậm đặc hay tinh tế, và ngày càng tinh tế hơn khi sự thăng lên diễn ra. Khi sự sống đang rung nhịp tiến bước, tốc độ rung động của nó thay đổi, và trong sự thay đổi rung động này ẩn giấu bí mật của việc phá vỡ hình tướng và xây dựng hình tướng. Các hình tướng có bốn loại trong kỷ nguyên này của cuộc tuần hoàn thứ tư:

1. The Form of the Personality, that vehicle of physical, astral and mental matter that provides the means of contact in the three worlds. It is built in each life, the key of the vibration being set up in the life preceding the present. That form proves adequate for the average man and serves him till death. The man who is entering on the occult path starts with the vehicle provided, but during incarnation builds for himself ever a newer and better vehicle, and the more progressed he is the more consciously he works. Hence eventuates that constant turmoil and frequent ill-health of the beginner in the occult life. He senses the law, he realises the need of raising his key, and frequently he begins with mistakes. He starts to build anew his physical body by diet and discipline, instead of working from the inner outward. In the careful discipline of the mind and the manipulation of thought-matter and in transmutation of emotion comes the working out on the physical plane. Add to the two above, physical plane purity as to food and manner of life, and in seven years time the man has built for himself three new bodies around the permanent atoms.

1. Hình Tướng của Phàm Ngã, vận cụ bằng vật chất hồng trần, cảm dục và trí tuệ, cung cấp phương tiện tiếp xúc trong ba cõi thấp. Nó được xây dựng trong mỗi đời sống, chủ âm của rung động được thiết lập trong đời sống trước đời hiện tại. Hình tướng ấy tỏ ra thích hợp cho người trung bình và phụng sự y cho đến khi chết. Người đang bước vào con đường huyền bí bắt đầu với vận cụ đã được cung cấp, nhưng trong khi lâm phàm, y luôn xây dựng cho mình một vận cụ mới hơn và tốt hơn; và y càng tiến bộ, y càng làm việc một cách có ý thức hơn. Vì thế phát sinh sự xáo trộn liên tục và tình trạng sức khỏe thường xuyên kém của người mới bắt đầu trong đời sống huyền bí. Y cảm nhận định luật, y nhận ra nhu cầu nâng cao chủ âm của mình, và thường y bắt đầu bằng những sai lầm. Y khởi sự xây dựng lại thể xác của mình bằng chế độ ăn uống và kỷ luật, thay vì làm việc từ bên trong ra bên ngoài. Trong sự kỷ luật cẩn thận thể trí, sự vận dụng chất liệu tư tưởng và sự chuyển hoá cảm xúc, công việc được thực hiện ra trên cõi hồng trần. Thêm vào hai điều trên sự thanh khiết trên cõi hồng trần về thức ăn và lối sống, thì trong bảy năm, con người đã xây dựng cho mình ba thể mới quanh các nguyên tử trường tồn.

Webinar Program 15 – Rule 9.3

2. The Form of the Environment. This is really the evolutionary working out of the involutionary group soul. It relates to our contacts, not just exterior, but on the inner planes as well. In similarity of vibration [263] comes coherency. When therefore a man raises his vibration and builds anew from the beginning, and alters consequently his key, it results in dissonance in his surroundings and subsequent discord. Therefore—under the law—there comes always to the striver after the Mysteries and the manipulator of the law, a period of aloneness and of sorrow when no man stands by and isolation is his lot. In lesser degree this comes to all, and to the arhat (or initiate of the fourth degree) this complete isolation is a characteristic feature. He stands midway between life in the three worlds and that in the world of adepts. His vibration does not synchronise, prior to initiation with the vibrations of either group. Under the law he is alone. But this is only temporary. When the environment satisfies then is the moment of anxiety; it indicates stagnation. The application of the law causes primary disruption.

2. Hình Tướng của Môi Trường. Đây thật ra là sự thực hiện tiến hoá của hồn nhóm giáng hạ tiến hoá. Nó liên quan đến các tiếp xúc của chúng ta, không chỉ bên ngoài mà cả trên các cõi bên trong. Trong sự tương đồng rung động [263] có sự cố kết. Vì vậy, khi một người nâng cao rung động của mình, xây dựng lại từ đầu, và do đó thay đổi chủ âm của mình, kết quả là sự bất hòa trong môi trường chung quanh và sau đó là xung đột. Vì thế, theo định luật, đối với người nỗ lực hướng tới các Bí Nhiệm và người vận dụng định luật, luôn luôn có một thời kỳ đơn độc và đau buồn, khi không ai đứng bên cạnh và sự cô lập là số phận của y. Ở mức độ thấp hơn điều này đến với tất cả, và đối với vị arhat, hay điểm đạo đồ bậc bốn, sự cô lập hoàn toàn này là một đặc điểm nổi bật. Ngài đứng ở điểm giữa giữa đời sống trong ba cõi thấp và đời sống trong thế giới của các chân sư. Rung động của Ngài, trước điểm đạo, không đồng bộ với rung động của nhóm nào cả. Theo định luật, Ngài đơn độc. Nhưng điều này chỉ tạm thời. Khi môi trường làm thỏa mãn, đó là lúc đáng lo ngại; nó chỉ ra sự trì trệ. Việc áp dụng định luật gây ra sự tan vỡ ban đầu.

3. The Form of the Devotee. Yes, I mean just that word, for it expresses an abstract idea. Each person of every degree has his devotion, that for which he lives, that for which—in ignorance, in knowledge or in wisdom—he wields as much of the law as he can grasp. Purely physical may that devotion be, centred in flesh, in lust for gold, in possessions concrete. He bends all his energies to the search for the satisfaction of that concrete form and therein learns. Purely astral may be the aim of the devotee—love of wife or child, or family, pride of race, love of popularity, or lust of some kind—to them he devotes the whole of his energy, using the physical body to fulfil the desire of the astral.

3. Hình Tướng của Người Sùng Tín. Vâng, tôi muốn nói đúng từ đó, vì nó diễn tả một ý tưởng trừu tượng. Mỗi người ở mọi cấp độ đều có sự sùng tín của mình, điều mà y sống vì nó, điều mà—trong vô minh, trong tri thức hay trong minh triết—y vận dụng bao nhiêu định luật tùy mức y có thể nắm bắt. Sự sùng tín ấy có thể thuần túy hồng trần, tập trung nơi xác thịt, nơi lòng ham muốn vàng bạc, nơi các sở hữu cụ thể. Y dồn mọi năng lượng của mình vào việc tìm kiếm sự thỏa mãn cho hình tướng cụ thể ấy, và trong đó y học hỏi. Mục tiêu của người sùng tín có thể thuần túy cảm dục—tình yêu đối với vợ hay con, hoặc gia đình, niềm tự hào về chủng tộc, lòng yêu thích sự nổi tiếng, hoặc một dục vọng nào đó—đối với những điều ấy y hiến dâng toàn bộ năng lượng của mình, sử dụng thể xác để hoàn thành dục vọng của cõi cảm dục.

Higher still may be the form of his devotion, —love of art, or science or philosophy, the life religious, scientific, or artistic—to them he consecrates his energies, physical, astral and mental, and always the form is that of devotion. Always the vibration measures up to the goal, finds that goal, passes it and disintegrates. Pain enters [264] into all shattering of the form, and changing of the key. Many lives, for millennia of years, are spent under the lower vibrations. As evolution progresses, more rapid is the development, and the key changes from life to life, whereas in the earlier stages one key or tone might be sounded for several lives in their entirety. As a man nears the Path, the Probationary Path becomes strewn with many shattered forms, and from lesser cycle to lesser cycle he changes the key, often in one life heightening his vibration several times. See therefore how the life of all aspirants, if progressing with the desired rapidity, is one of constant movement, constant changes and differentiations, and continuous building and breaking, planning and seeing those plans disrupted. It is a life of ceaseless suffering, of frequent clashing with the environing circumstances, of numerous friendships made and transferred, of mutation ceaseless and consequent agony. Ideals are transcended only to be found to be stations on the road to higher; visions are seen, only to be replaced by others; dreams are dreamt only to be realized and discarded; friends are made, to be loved and left behind, and to follow later and more slowly the footsteps of the striving aspirant; and all the time the fourth form is being built.

Cao hơn nữa có thể là hình tướng của sự sùng tín của y—tình yêu nghệ thuật, hoặc khoa học hay triết học, đời sống tôn giáo, khoa học hay nghệ thuật—đối với những điều ấy y thánh hiến các năng lượng của mình, hồng trần, cảm dục và trí tuệ; và hình tướng luôn luôn là hình tướng của sự sùng tín. Rung động luôn đo lường tương ứng với mục tiêu, tìm thấy mục tiêu ấy, vượt qua nó và tan rã. Đau khổ đi vào [264] mọi sự phá vỡ hình tướng và mọi sự thay đổi chủ âm. Nhiều đời sống, trong hàng thiên niên kỷ, được trải qua dưới các rung động thấp. Khi tiến hoá tiến triển, sự phát triển trở nên nhanh hơn, và chủ âm thay đổi từ đời này sang đời khác, trong khi ở các giai đoạn trước, một chủ âm hay âm điệu có thể được xướng lên trọn vẹn trong nhiều đời. Khi một người đến gần Đường Đạo, Con Đường Dự Bị trở nên rải đầy nhiều hình tướng đã bị phá vỡ; và từ chu kỳ nhỏ này sang chu kỳ nhỏ khác, y thay đổi chủ âm, thường trong một đời nâng cao rung động của mình nhiều lần. Vì vậy, hãy thấy rằng đời sống của tất cả những người chí nguyện, nếu tiến triển với tốc độ mong muốn, là đời sống của chuyển động liên tục, những thay đổi và biến phân liên tục, cùng sự xây dựng và phá vỡ không ngừng, lập kế hoạch và nhìn thấy các kế hoạch ấy bị phá tan. Đó là một đời sống đau khổ không ngừng, thường xuyên va chạm với các hoàn cảnh chung quanh, nhiều tình bạn được thiết lập rồi chuyển dịch, sự biến đổi không dứt và nỗi thống khổ theo sau. Các lý tưởng được vượt qua chỉ để nhận ra rằng chúng là những trạm trên con đường hướng tới điều cao hơn; các linh ảnh được thấy, chỉ để được thay thế bằng những linh ảnh khác; các giấc mơ được mơ, chỉ để được chứng nghiệm rồi bị gạt bỏ; các bạn hữu được kết giao, để được yêu thương rồi để lại phía sau, và về sau theo chậm hơn các bước chân của người chí nguyện đang nỗ lực; và trong suốt thời gian ấy, hình tướng thứ tư đang được xây dựng.

4. The Form of the Causal Body. This is the vehicle of the higher consciousness, the temple of the indwelling God, which seems of a beauty so rare and of a stability of so sure a nature that, when the final shattering comes of even that masterpiece of many lives, bitter indeed is the cup to drink, and unutterably bereft seems the unit of consciousness. Conscious then only of the innate Divine Spirit, conscious only of the Truth of the Godhead, realizing profoundly and to the depths of his being the ephemeral nature of the form and of all forms, standing alone in the vortex of initiatory rites, bereft of all on which he may have leant (be it friend, Master, doctrine [265] or environment), well may the Initiate cry out: “I am that I am, and there is naught else.” Well may he then figuratively place his hand in that of his Father in Heaven, and hold the other out in blessing on the world of men, for only the hands that have let slip all within the three worlds are free to carry the ultimate blessing to struggling humanity. Then he builds for himself a form such as he desires, —a new form that is no longer subject to shattering, but suffices for his need, to be discarded or used as occasion warrants.

4. Hình Tướng của Thể Nguyên Nhân. Đây là vận cụ của tâm thức cao siêu, ngôi đền của Thượng đế nội tại, dường như có một vẻ đẹp hiếm có và một sự ổn định chắc chắn đến mức, khi sự phá vỡ cuối cùng xảy đến ngay cả với kiệt tác của nhiều đời sống ấy, chén phải uống quả thật đắng cay, và đơn vị tâm thức dường như bị tước đoạt không lời nào tả xiết. Khi ấy chỉ còn ý thức về Tinh Thần Thiêng Liêng bẩm sinh, chỉ còn ý thức về Chân Lý của Thần Tính, nhận ra sâu xa đến tận đáy bản thể mình bản chất phù du của hình tướng và của mọi hình tướng, đứng một mình trong xoáy lốc của các nghi thức điểm đạo, bị tước khỏi tất cả những gì y có thể đã tựa vào, dù là bạn hữu, Chân sư, giáo lý [265] hay môi trường, thì điểm đạo đồ rất có thể thốt lên: “Tôi là cái Tôi là, và không có gì khác.” Khi ấy, một cách biểu tượng, y rất có thể đặt tay mình vào tay của Cha mình trên Trời, và đưa tay kia ra ban phúc cho thế giới loài người; vì chỉ những bàn tay đã buông bỏ tất cả trong ba cõi thấp mới tự do mang phúc lành tối hậu đến cho nhân loại đang phấn đấu. Khi ấy y xây dựng cho mình một hình tướng như y mong muốn—một hình tướng mới không còn chịu sự phá vỡ nữa, nhưng đủ cho nhu cầu của y, để được gạt bỏ hay sử dụng tùy hoàn cảnh đòi hỏi.

Webinar Program 16 – Rule 9.4

In these days you will need to ponder on this matter of the form, for with the entering in of a new ray, and the commencement of a new era comes ever a period of much disruption until the forms that be have adapted themselves to the newer vibration. In that adaptation those who have cultivated pliability and adaptability, or who have that for their personality ray, progress with less disruption than those more crystallized and fixed.

Trong những ngày này, các bạn sẽ cần suy ngẫm về vấn đề hình tướng này, vì với sự nhập cuộc của một cung mới và sự khởi đầu của một kỷ nguyên mới, luôn luôn có một thời kỳ nhiều tan vỡ cho đến khi các hình tướng hiện hữu tự thích nghi với rung động mới hơn. Trong sự thích nghi ấy, những ai đã vun bồi tính mềm dẻo và khả năng thích ứng, hoặc có điều đó như cung phàm ngã của mình, sẽ tiến bộ với ít tan vỡ hơn so với những người kết tinh và cố định hơn.

Particularly now should pliability and responsiveness of form be aimed at, for when He Whom we all adore comes, think you His vibration will not cause disruption if crystallization is present? It was so before; it will be so again.

Đặc biệt lúc này, nên nhắm tới tính mềm dẻo và sự đáp ứng của hình tướng, vì khi Đấng mà tất cả chúng ta tôn kính đến, các bạn có nghĩ rằng rung động của Ngài sẽ không gây tan vỡ nếu có sự kết tinh hiện diện chăng? Trước kia đã như vậy; rồi sẽ lại như vậy.

Cultivate responsiveness to the Great Ones, aim at mental expansion and keep learning. Think whenever possible in terms abstract or numerical, and by loving all, work at the plasticity of the astral body. In love of all that breathes comes capacity to vibrate universally, and in that astral pliability will come responsiveness to the vibration of the Great Lord.

Hãy vun bồi sự đáp ứng đối với các Đấng Cao Cả, nhắm đến sự mở rộng trí tuệ và tiếp tục học hỏi. Khi có thể, hãy tư duy bằng các thuật ngữ trừu tượng hoặc số học, và bằng tình thương đối với tất cả, hãy làm việc để tạo tính uyển chuyển cho thể cảm dục. Trong tình thương đối với tất cả những gì đang thở, năng lực rung động một cách phổ quát sẽ đến; và trong tính mềm dẻo cảm dục ấy sẽ đến sự đáp ứng với rung động của Đấng Chúa Tể Vĩ Đại.

This summation of process and of the forms is equally true of God and His cosmic creative work; of the soul, as it builds its instrument for expression, either unconsciously in the early stages or consciously in the later; of the disciple, as he seeks to express his realization of the work through group work and the organization of his [266] life; and of perfected man, as he learns, through experience, to centre his forces on the mental plane and from there accomplish his purpose in generating and producing those thought-forms which mould the minds of men, and embody in themselves that aspect of the Universal Mind which is needed for the right production of that immediate fraction of the Plan which his age and generation require.

Sự tổng kết này về tiến trình và các hình tướng cũng đúng như nhau đối với Thượng đế và công việc sáng tạo vũ trụ của Ngài; đối với linh hồn, khi nó xây dựng khí cụ của mình để biểu hiện, hoặc vô ý thức trong các giai đoạn đầu, hoặc hữu thức trong các giai đoạn sau; đối với đệ tử, khi y tìm cách biểu hiện sự chứng nghiệm của mình về công việc qua công việc nhóm và sự tổ chức đời sống [266] của y; và đối với con người hoàn thiện, khi y học, qua kinh nghiệm, cách tập trung các mãnh lực của mình trên cõi trí và từ đó hoàn thành mục đích của mình trong việc tạo sinh và sản xuất những hình tư tưởng uốn nắn thể trí của con người, và tự chúng hiện thân cho phương diện ấy của Vũ Trụ Trí cần thiết cho việc tạo ra đúng đắn phần nhỏ tức thời của Thiên Cơ mà thời đại và thế hệ của y đòi hỏi.

All these various applications of the rule could be elucidated and enlarged upon. Our problem, however, must be kept clearly in mind. We are conscious souls, or in process of becoming conscious. We are beginning, through our meditation work and our application to study, to work on mental levels. We are creating forms continuously, pervading them with energy and sending them out to fulfill their function in line with our realized subjective purpose.

Tất cả những ứng dụng khác nhau này của quy luật có thể được làm sáng tỏ và mở rộng. Tuy nhiên, vấn đề của chúng ta phải được giữ rõ ràng trong trí. Chúng ta là các linh hồn có ý thức, hoặc đang trong tiến trình trở nên có ý thức. Chúng ta đang bắt đầu, qua công việc tham thiền và sự chuyên cần học tập, làm việc trên các cấp độ trí tuệ. Chúng ta liên tục tạo ra các hình tướng, thấm nhuần chúng bằng năng lượng và gửi chúng ra để hoàn thành chức năng của chúng phù hợp với mục đích chủ quan mà chúng ta đã nhận biết.

The emphasis should be laid upon the word realized in the above paragraph. According to the clarity of vision and the depth of the inner realization so will be the adequacy of the created form, and so will be the strength of the life which will enable it to perform its intended function.

Trong đoạn trên, cần đặt trọng tâm vào từ đã nhận biết. Tùy theo độ rõ ràng của tầm nhìn và độ sâu của sự chứng nghiệm nội tâm, hình tướng được tạo ra sẽ thích đáng đến mức ấy, và sức mạnh của sự sống sẽ có thể làm cho nó thực hiện chức năng dự định đến mức ấy.

Up to the present time the majority of aspirants in the world express the results of little and weak thought, but rapid action. The goal for students should at this time be rapid concentrated thought and slow action. That slow action however will be potent in result; there will be no lost motion, no delayed reactions, and no tendency towards hesitation. The attention of the thinker being focussed on the mental plane, the progress of his manifested thought will be sure and inevitable. When the idea is clearly grasped, the attention closely focussed, and the energy or life aspect steadily applied, the result will be irresistible appearance and potent action on the physical plane.

Cho đến hiện nay, đa số người chí nguyện trên thế giới biểu hiện các kết quả của tư tưởng nhỏ bé và yếu ớt, nhưng hành động nhanh chóng. Mục tiêu cho các đạo sinh vào lúc này nên là tư tưởng tập trung nhanh chóng và hành động chậm rãi. Tuy nhiên, hành động chậm rãi ấy sẽ mạnh mẽ trong kết quả; sẽ không có chuyển động lãng phí, không có phản ứng trì hoãn, và không có khuynh hướng do dự. Khi sự chú tâm của người tư tưởng được tập trung trên cõi trí, sự tiến triển của tư tưởng đã biểu hiện của y sẽ chắc chắn và tất yếu. Khi ý tưởng được nắm bắt rõ ràng, sự chú tâm được tập trung chặt chẽ, và năng lượng hay phương diện sự sống được áp dụng vững vàng, kết quả sẽ là sự xuất hiện không thể cưỡng lại và hành động mạnh mẽ trên cõi hồng trần.

[267]

[267]

This thought must be borne in mind if the dangers of the left hand path are to be avoided. Let me here make some statements in brief tabulated form, which will produce a truer understanding of the words “left hand path”. We are dealing here primarily with those thought-forms which man creates:

Tư tưởng này phải được ghi nhớ nếu các nguy hiểm của tả đạo cần được tránh. Ở đây, hãy để tôi đưa ra một vài phát biểu ngắn gọn dưới dạng liệt kê, điều sẽ tạo ra một sự thấu hiểu đúng hơn về các từ “tả đạo”. Ở đây chúng ta chủ yếu đang đề cập đến những hình tư tưởng mà con người tạo ra:

1. The left hand path concerns the matter aspect and the life poured into the form serves only to vitalize the atoms in substance. The potency of the love aspect—as wielded by the soul—is lacking.

1. Tả đạo liên quan đến phương diện vật chất, và sự sống được đổ vào hình tướng chỉ phụng sự để tiếp sinh lực cho các nguyên tử trong chất liệu. Uy lực của phương diện bác ái, như được linh hồn vận dụng, thì thiếu vắng.

2. The form created is constituted of mental matter, of astral matter and of physical substance. It lacks the soul contribution. Its purpose is in line with the development of form, but not in line with soul expression.

2. Hình tướng được tạo ra được cấu thành từ chất liệu trí tuệ, chất liệu cảm dục và chất liệu hồng trần. Nó thiếu sự đóng góp của linh hồn. Mục đích của nó phù hợp với sự phát triển của hình tướng, nhưng không phù hợp với sự biểu hiện của linh hồn.

3. The left hand path, therefore, is the path of progress for substance or matter. It is not the path of progress for the soul aspect. It is the “way of the Holy Ghost” but not the way of the Son of God. I express this truth in these words as it serves peculiarly to make the distinction clear and yet preserves the integrity of substance-matter and their Unity within the One Life.

3. Vì vậy, tả đạo là con đường tiến bộ cho chất liệu hay vật chất. Nó không phải là con đường tiến bộ cho phương diện linh hồn. Nó là “con đường của Chúa Thánh Thần” nhưng không phải là con đường của Con của Thượng đế. Tôi diễn đạt chân lý này bằng những lời này vì nó đặc biệt giúp làm rõ sự phân biệt, đồng thời vẫn giữ nguyên tính toàn vẹn của chất liệu-vật chất và sự Hợp Nhất của chúng trong Sự Sống Duy Nhất.

4. All forms created at every stage are either confined to the left hand path or embrace it and yet go beyond it, and follow the right hand way. This sentence provides food for thought and its meaning is difficult to gather. It should be borne in mind that all forms, whether they follow the right or left hand way are alike up to a certain point; they travel the same progressive stages and at one time in their career they appear uniform and alike. Only when their purpose appears does the distinction become apparent, and hence the training of the aspirant in right motive as a preparatory step to true occult work.

4. Mọi hình tướng được tạo ra ở mọi giai đoạn hoặc bị giới hạn trong tả đạo, hoặc bao hàm nó nhưng vượt qua nó, và đi theo chánh đạo. Câu này cung cấp nhiều điều đáng suy ngẫm, và ý nghĩa của nó khó nắm bắt. Cần ghi nhớ rằng mọi hình tướng, dù chúng đi theo chánh đạo hay tả đạo, đều giống nhau cho đến một điểm nào đó; chúng đi qua cùng các giai đoạn tiến bộ, và vào một thời điểm trong hành trình của mình, chúng có vẻ đồng dạng và giống nhau. Chỉ khi mục đích của chúng xuất hiện thì sự phân biệt mới trở nên rõ ràng; vì thế người chí nguyện được huấn luyện về động cơ đúng đắn như một bước chuẩn bị cho công việc huyền bí chân chính.

[268]

[268]

The question might be asked: What is meant by occult work?

Câu hỏi có thể được đặt ra: Công việc huyền bí nghĩa là gì?

True occult work involves:

Công việc huyền bí chân chính bao hàm:

1. The contacting of the Plan.

1. Sự tiếp xúc với Thiên Cơ.

2. Right desire to co-operate with the Plan.

2. Dục vọng đúng đắn muốn hợp tác với Thiên Cơ.

3. The work of thought-form building and the confining of the attention of the creator of these thought-forms to the mental plane. This is of so potent a nature that the thought-forms created have a life cycle of their own and never fail to manifest and perform their work.

3. Công việc xây dựng hình tư tưởng và sự giữ sự chú tâm của người sáng tạo các hình tư tưởng ấy trên cõi trí. Điều này có bản chất mạnh mẽ đến mức các hình tư tưởng được tạo ra có một chu kỳ sống riêng của chúng và không bao giờ không biểu hiện và thực hiện công việc của chúng.

4. The direction of the thought-form from the mental plane and the confining of the attention to that specific enterprise, knowing that right thought and right orientation lead to correct functioning and the sure avoidance of the left hand path.

4. Sự điều hướng hình tư tưởng từ cõi trí và sự giữ sự chú tâm vào công việc đặc thù ấy, biết rằng tư tưởng đúng đắn và định hướng đúng đắn đưa đến sự vận hành chính xác và chắc chắn tránh được tả đạo.

This is a lesson little appreciated by aspirants. They engage in emotional desire for the appearance of their thought-form and the manifestation of the idea. They spend much time following the orthodox methods of work and in physical plane activities. They wear themselves out by identifying themselves with the form they have created instead of remaining detached from it, and acting solely as the directing agents. Learn to work on the plane of mind. Build there your form, remembering that if you submerge yourself in the form for which you are responsible it may obsess and dominate you and then the form will be the dominant factor and not the purpose of its existence. When the form controls then comes the danger that it may be turned in the wrong direction and find its way on to the left hand path and so increase the power of matter and its hold over sentient souls.

Đây là một bài học ít được người chí nguyện đánh giá đúng. Họ dấn vào dục vọng cảm xúc về sự xuất hiện của hình tư tưởng của mình và sự biểu hiện của ý tưởng. Họ dành nhiều thời gian theo các phương pháp làm việc chính thống và trong các hoạt động trên cõi hồng trần. Họ làm mình kiệt sức bằng cách đồng hoá với hình tướng mà họ đã tạo ra, thay vì vẫn tách rời khỏi nó và chỉ hành động như các tác nhân điều hướng. Hãy học làm việc trên cõi trí. Hãy xây dựng hình tướng của các bạn ở đó, nhớ rằng nếu các bạn nhấn chìm mình trong hình tướng mà các bạn chịu trách nhiệm, nó có thể ám ảnh và thống trị các bạn; khi ấy hình tướng sẽ là yếu tố chi phối chứ không phải mục đích hiện hữu của nó. Khi hình tướng kiểm soát, khi ấy nảy sinh nguy hiểm rằng nó có thể bị chuyển theo hướng sai lầm và tìm đường đi vào tả đạo, do đó gia tăng quyền năng của vật chất và sự nắm giữ của nó trên các linh hồn cảm thụ.

It might be briefly added that anything that tends to increase the power of matter and add to the potent energy of form-substance produces a tendency to the left [269] hand path and a gradual attraction away from the Plan and the Purpose which it veils and hides.

Có thể thêm ngắn gọn rằng bất cứ điều gì có khuynh hướng gia tăng quyền năng của vật chất và thêm vào năng lượng mạnh mẽ của chất liệu-hình tướng đều tạo ra khuynh hướng hướng về [269] tả đạo và một sức hút dần dần rời xa Thiên Cơ và Thiên Ý mà nó che phủ và ẩn giấu.

All work and all created thought-forms (whether they materialize as an organization, a religion, a school of thought, a book or a life work of any kind) which express spiritual ideals and lay the emphasis upon the life-aspect come under the category of white magic. They then form part of the stream of life which we call the right hand Path, because it leads humanity out of form into life, and away from matter into consciousness.

Mọi công việc và mọi hình tư tưởng được tạo ra, dù chúng hiện hình thành một tổ chức, một tôn giáo, một trường phái tư tưởng, một quyển sách hay bất cứ công trình đời sống nào, nếu biểu hiện các lý tưởng tinh thần và đặt trọng tâm vào phương diện sự sống, đều thuộc phạm trù chánh thuật. Khi ấy chúng trở thành một phần của dòng sự sống mà chúng ta gọi là chánh đạo, vì nó dẫn nhân loại ra khỏi hình tướng vào sự sống, và rời khỏi vật chất vào tâm thức.

In an ashram of one of the Great Ones not long ago, a disciple asked his master to express this truth to him in such a way that though the words might be few yet the import would be worthy of continuous consideration. His master made this reply:

Cách đây không lâu, trong một ashram của một trong các Đấng Cao Cả, một đệ tử xin Chân sư của mình diễn đạt chân lý này cho y theo cách mà tuy lời ít nhưng ý nghĩa đáng được suy ngẫm liên tục. Chân sư của y đáp:

“Only the Sons of Men know the distinction between the magic of the right and left hand ways and when they have achieved, these two ways will disappear. When the Sons of Men know the distinction which exists between matter and substance, the lesson of this epoch will be grasped. Other lessons will be left but this one passes. Matter and substance together work out the way of darkness. Substance and purpose blended indicate the way of light.”

“Chỉ các Con của Nhân Loại mới biết sự phân biệt giữa huyền thuật của chánh đạo và tả đạo; và khi họ đã thành tựu, hai con đường này sẽ biến mất. Khi các Con của Nhân Loại biết sự phân biệt hiện hữu giữa vật chất và chất liệu, bài học của kỷ nguyên này sẽ được nắm bắt. Những bài học khác sẽ còn lại, nhưng bài học này qua đi. Vật chất và chất liệu cùng nhau thực hiện con đường của bóng tối. Chất liệu và mục đích được hòa trộn chỉ ra con đường của ánh sáng.”

RULE TEN

Webinar Program 17 – Rule 10.1

[273]

[273]

As the waters bathe the form created, they are absorbed and used. The form increases in its strength; let the magician thus continue until the work suffices. Let the outer builders cease their labours then, and let the inner workers enter on their cycle.

Khi nước tắm gội hình tướng được tạo ra, chúng được hấp thu và sử dụng. Hình tướng gia tăng sức mạnh của nó; hãy để nhà huyền thuật tiếp tục như thế cho đến khi công việc đã đủ. Khi ấy hãy để các đấng kiến tạo bên ngoài ngừng lao tác, và để các người hoạt động bên trong bước vào chu kỳ của họ.

Thought-Form Building

In Rule Ten two facts about the form are stated, which are true of all forms, and three strong injunctions are given in the following terms:

Trong Quy luật Mười, hai sự kiện về hình tướng được nêu ra, vốn đúng với mọi hình tướng, và ba huấn lệnh mạnh mẽ được đưa ra như sau:

The facts are:

Các sự kiện là:

1. The form absorbs and uses the waters in which it is immersed.

1. Hình tướng hấp thu và sử dụng nước mà nó được ngâm trong đó.

2. As a result it grows in strength.

2. Kết quả là nó tăng trưởng trong sức mạnh.

The three injunctions are:

Ba huấn lệnh là:

1. Let the magician go on building his form until its adequate potency is assured.

1. Hãy để nhà huyền thuật tiếp tục xây dựng hình tướng của mình cho đến khi uy lực thích đáng của nó được bảo đảm.

2. Then let the “outer builders” cease from labour.

2. Khi ấy hãy để “các đấng kiến tạo bên ngoài” ngừng lao tác.

3. Let the “inner builders” enter on their cycle.

3. Hãy để “các đấng kiến tạo bên trong” bước vào chu kỳ của họ.

We have seen how, in the process of thought-form building, the time came when the form had to be oriented in the right direction and set upon the proper path in order to carry out its creator’s will and purpose. This takes place fairly early in the work and after the process of orientation the work of building proceeds, for the thought-form is not yet ready for an independent life. There is a true analogy between the gestation period of an infant and that of a thought-form. The importance of the right placement of the child within the womb is never overlooked by a good physician, and where there is analogously a wrong position upon the path to be followed into manifested existence, death and trouble oft ensue. The analogy is close—as you well know. Birth is preceded by the “breaking of the waters” (in medical [274] parlance), and before the thought-form brings about the desired results on the physical plane there comes too a similar reaction; the waters of desire become so potent as to cause precipitation, and the consequent appearance of the desired form of expression.

Chúng ta đã thấy rằng trong tiến trình xây dựng hình tư tưởng, đã đến lúc hình tướng phải được định hướng theo chiều hướng đúng và đặt trên con đường thích hợp để thực hiện ý chí và mục đích của người sáng tạo nó. Điều này xảy ra khá sớm trong công việc, và sau tiến trình định hướng, công việc xây dựng tiếp tục, vì hình tư tưởng chưa sẵn sàng cho một đời sống độc lập. Có một sự tương đồng chân thực giữa thời kỳ thai nghén của một hài nhi và của một hình tư tưởng. Tầm quan trọng của vị trí đúng đắn của đứa trẻ trong tử cung không bao giờ bị một thầy thuốc giỏi xem nhẹ; và tương tự, khi có một vị trí sai lầm trên con đường phải theo để đi vào hiện hữu biểu hiện, sự chết và rắc rối thường xảy ra. Sự tương đồng rất gần gũi, như các bạn biết rõ. Sự sinh ra được đi trước bởi việc “vỡ nước ối”, theo [274] ngôn ngữ y khoa; và trước khi hình tư tưởng tạo ra các kết quả mong muốn trên cõi hồng trần, cũng có một phản ứng tương tự: nước của dục vọng trở nên mạnh mẽ đến mức gây ra sự ngưng tụ, và theo sau là sự xuất hiện của hình tướng biểu hiện được mong muốn.

Let us take the facts and analogies as they stand and study them from the standpoint both of the macrocosm and the microcosm.

Chúng ta hãy lấy các sự kiện và tương đồng như chúng đang là, và nghiên cứu chúng từ quan điểm của cả Đại thiên địa lẫn Tiểu thiên địa.

We note that the form absorbs and uses the substance wherein it is immersed. Our solar system is one of many, and not the greatest. It constitutes a fragment of a greater whole. This greater whole, formed of seven parts (or seven solar systems), is itself immersed in the waters of space, is born of desire and, therefore, a child of necessity. It draws its life from its surroundings. Streaming into our solar system from all sides are force currents, emanating from what A Treatise on Cosmic Fire calls the “One about Whom naught may be said”. These currents embody His will and desire, express His love or attractive capacity, and manifest as that great thought-form we call our system.

Chúng ta ghi nhận rằng hình tướng hấp thu và sử dụng chất liệu trong đó nó được ngâm. Hệ mặt trời của chúng ta là một trong nhiều hệ, và không phải là hệ lớn nhất. Nó cấu thành một mảnh của một toàn thể lớn hơn. Toàn thể lớn hơn này, được tạo thành từ bảy phần, hay bảy hệ mặt trời, chính nó được ngâm trong nước của không gian, được sinh ra từ dục vọng, và vì vậy là một đứa con của nhu cầu tất yếu. Nó rút sự sống của mình từ môi trường chung quanh. Từ mọi phía, các dòng mãnh lực đang tuôn vào hệ mặt trời của chúng ta, phát xuất từ Đấng mà Luận về Lửa Vũ Trụ gọi là “Đấng Bất Khả Tư Nghị”. Những dòng này hiện thân cho ý chí và dục vọng của Ngài, biểu hiện tình thương hay năng lực thu hút của Ngài, và hiển lộ như hình tư tưởng vĩ đại mà chúng ta gọi là hệ của chúng ta.

In parentheses, it is well to note that this Existence is termed “the One about Whom naught may be said”, not because of secrecy or mystery, but because all formulation of ideas about His life and purpose are impossible until one has completed the term of evolution in our solar system. Note, I say, our solar system, not just our planetary existence. Speculation about the Existence who, through His life, informs seven solar systems is wasted energy. On our planet, only such great lives as the Buddha, the Kumaras and the planetary Logos, are beginning to sense the dynamic impulse of the greater Whole, and even they are only sensitive to it but are, as yet, utterly unable to conceive of its trend, for it lies beyond mind and love and will. It brings into play factors [275] for which we have no terms and tendencies which are as yet not even remotely visioned on our planet.

Trong ngoặc, nên lưu ý rằng Đấng Hiện Hữu này được gọi là “Đấng Bất Khả Tư Nghị”, không phải vì bí mật hay huyền nhiệm, mà vì mọi sự định hình ý tưởng về sự sống và mục đích của Ngài đều không thể có được cho đến khi người ta hoàn tất kỳ hạn tiến hoá trong hệ mặt trời của chúng ta. Hãy lưu ý, tôi nói hệ mặt trời của chúng ta, chứ không chỉ sự hiện hữu hành tinh của chúng ta. Suy đoán về Đấng Hiện Hữu, Đấng qua sự sống của Ngài thấm nhuần bảy hệ mặt trời, là năng lượng lãng phí. Trên hành tinh của chúng ta, chỉ những sự sống vĩ đại như Đức Phật, các Kumaras và Hành Tinh Thượng đế mới đang bắt đầu cảm nhận xung lực năng động của Toàn Thể lớn hơn; và ngay cả Các Ngài cũng chỉ nhạy cảm với nó, nhưng cho đến nay hoàn toàn chưa thể quan niệm về khuynh hướng của nó, vì nó nằm ngoài thể trí, tình thương và ý chí. Nó đưa vào hoạt động các yếu tố [275] mà chúng ta không có thuật ngữ để gọi, và các khuynh hướng mà trên hành tinh của chúng ta cho đến nay thậm chí chưa được mường tượng từ xa.

We have generated a term we call the ether. Occultly speaking, this is the modern way of expressing “the waters of space”, which are the waters of desire, in which we are immersed. It is in constant ebb and flux, and is the stream of life, constituted of forty-nine types of energy, which pours through the cosmic egoic lotus, and (radiating forth from it) feeds with its measure of sustenance the form—solar, planetary, or human—for which it is responsible. This is dealt with in A Treatise on Cosmic Fire.

Chúng ta đã tạo ra một thuật ngữ gọi là dĩ thái. Nói một cách huyền bí, đây là cách hiện đại để diễn đạt “nước của không gian”, tức nước của dục vọng, trong đó chúng ta được ngâm. Nó ở trong sự rút xuống và dâng lên liên tục, và là dòng sự sống, được cấu thành từ bốn mươi chín loại năng lượng, tuôn chảy qua Hoa Sen Chân Ngã vũ trụ, và từ đó tỏa ra, nuôi dưỡng bằng phần sinh lực của nó hình tướng—mặt trời, hành tinh hay con người—mà nó chịu trách nhiệm. Điều này được bàn đến trong Luận về Lửa Vũ Trụ.

Man is immersed in forces which are to him as the waters of space are to our solar system. He finds himself, as does our sun and its attendant planets, forming part of a whole, and just as our system is but one of seven systems, drawn together to form the body, or manifested expression of a life, so is the human kingdom of which he is an infinitesimal part, one of seven kingdoms. These are the correspondences in the life of the planetary Logos to the seven solar systems. When he begins to sense the life of the solar Logos as it expresses itself through the seven planetary schemes we will have touched the consciousness of the planetary Logos of our special scheme, who is sensing somewhat the united vibrations of the lives of the seven solar Logoi.

Con người được ngâm trong các mãnh lực, vốn đối với y cũng như nước của không gian đối với hệ mặt trời của chúng ta. Y thấy mình, cũng như mặt trời của chúng ta và các hành tinh đi kèm, là một phần của một toàn thể; và cũng như hệ của chúng ta chỉ là một trong bảy hệ được kéo lại với nhau để tạo thành thể, hay biểu hiện hiển lộ của một sự sống, thì giới nhân loại, mà y là một phần vô cùng nhỏ bé, cũng là một trong bảy giới. Đây là các tương ứng trong đời sống của Hành Tinh Thượng đế đối với bảy hệ mặt trời. Khi y bắt đầu cảm nhận sự sống của Thái dương Thượng đế khi nó biểu hiện qua bảy hệ hành tinh, chúng ta sẽ chạm đến tâm thức của Hành Tinh Thượng đế thuộc hệ hành tinh riêng của chúng ta, Đấng đang phần nào cảm nhận các rung động hợp nhất của sự sống của bảy Thái dương Thượng đế.

Webinar Program 18 – Rule 10.2

Bringing the analogy down closer still, the human kingdom itself is an analogous state of consciousness to the human unit through its subjective force existence, and from the standpoint of consciousness provides “the waters of space” in which a human being thrives and grows. Again, we are met in the fourth kingdom with expressions of the same seven forces, and as man awakens to a recognition of the seven rays or types, and begins to work consciously with them, he is taking the first step towards transcending them and controlling them [276] within his field of operation. This is now taking place. Knowledge of the seven ray types is beginning to permeate among the thinkers of the race and this knowledge was in past aeons the prerogative of the initiates of the time. Held latent in the astrological presentation is that information which will lead disciples to realization, and which will put them en rapport with the seven planetary schemes. Real developments in astrology may not be looked for, however, until the New Age is really with us and the new orientation achieved.

Đưa sự tương đồng xuống gần hơn nữa, chính giới nhân loại là một trạng thái tâm thức tương tự đối với đơn vị con người qua sự hiện hữu mãnh lực chủ quan của nó, và theo quan điểm tâm thức, cung cấp “nước của không gian” trong đó một con người sinh trưởng và lớn lên. Một lần nữa, trong giới thứ tư, chúng ta gặp các biểu hiện của cùng bảy mãnh lực; và khi con người thức tỉnh để nhận biết bảy cung hay bảy loại, và bắt đầu làm việc một cách có ý thức với chúng, y đang thực hiện bước đầu tiên để vượt lên trên chúng và kiểm soát chúng [276] trong phạm vi hoạt động của mình. Điều này hiện đang diễn ra. Tri thức về bảy loại cung đang bắt đầu thấm vào những người tư tưởng của nhân loại, và tri thức này trong các thời đại đã qua là đặc quyền của các điểm đạo đồ thời ấy. Được giữ tiềm tàng trong sự trình bày chiêm tinh là thông tin sẽ dẫn các đệ tử đến sự chứng nghiệm và đặt họ vào mối liên hệ hòa hợp với bảy hệ hành tinh. Tuy nhiên, không thể mong đợi những phát triển thực sự trong chiêm tinh học cho đến khi Kỷ Nguyên Mới thật sự ở cùng chúng ta và sự định hướng mới đã đạt được.

The form of humanity is completed. Its right placement within the womb of matter is the objective of the Hierarchy, with all the consequent implications. Note these words. The need at this time is terrific, and the soul is at the birthing in humanity as a whole. Cosmically speaking, if right direction of the forces of the human kingdom is now achieved, there will be manifested on the earth a humanity which will manifest a purpose, a beauty and a form which will be full expressions of an inner spiritual reality and in line with egoic purpose. Other eventualities can be sensed as sadly possible but these we will not consider for it is the hope and the belief of the watching Brothers that men will transcend all undesirable eventualities and make the goal. One word here, and one hint. The Hierarchy of the planet constitutes symbolically the head centre of humanity and their forces constitute the brain forces. On the physical plane are a large band of aspirants, probationary disciples and accepted disciples who are seeking to be responsive to the “head centre”, some consciously, others unconsciously. They are gathered from all fields of expression but are all creative in some way or other. They in their turn constitute what might be symbolically called the “pineal gland” of humanity. As in individual man this is usually dormant and asleep, so, in humanity, this group of cells within the brain of the body corporate is dormant, [277] but thrilling to the vibrations of the head centre—the occult Hierarchy. Some of the cells are awake. Let them intensify their endeavour and so awaken others. The pioneers of the human family, the scientists, thinkers and artists constitute the pituitary body. They express the concrete mind but lack that intuitive perception and idealism which would place them (symbolically speaking) in the pineal gland; they are nevertheless brilliant, expressive and investigating. The objective of the Hierarchy (again symbolically speaking) is to make the pineal gland so potent and, therefore, so attractive that the pituitary body of cell lives may be stimulated and thus a close interplay be brought about. This will lead to such potent action that there will be a streaming forth of new cells to the pineal gland and at the same time such a strong reaction set up that the entire body will be affected, resulting in the streaming upward of many stimulated lives to take the places of those who are finding their way into the centre of hierarchical endeavour.

Hình tướng của nhân loại đã hoàn tất. Việc đặt nó đúng vị trí trong lòng mẹ của vật chất là mục tiêu của Thánh Đoàn, cùng với mọi hàm ý theo sau. Hãy ghi nhận những lời này. Nhu cầu vào lúc này thật khủng khiếp, và linh hồn đang đi đến cuộc sinh nở trong toàn thể nhân loại. Nói theo vũ trụ, nếu hiện nay đạt được sự định hướng đúng đắn các mãnh lực của giới nhân loại, thì trên Trái Đất sẽ biểu hiện một nhân loại biểu lộ một mục đích, một vẻ đẹp và một hình tướng vốn là những biểu hiện trọn vẹn của một thực tại tinh thần bên trong và phù hợp với mục đích chân ngã. Có thể cảm nhận những khả năng khác như những điều đáng buồn có thể xảy ra, nhưng chúng ta sẽ không xét đến chúng, vì niềm hy vọng và niềm tin của các Huynh Đệ đang quan sát là con người sẽ vượt lên trên mọi khả năng bất hảo và đạt được mục tiêu. Ở đây có một lời, và một gợi ý. Thánh Đoàn của hành tinh, về mặt biểu tượng, cấu thành trung tâm đầu của nhân loại, và các mãnh lực của các Ngài cấu thành các mãnh lực của bộ não. Trên cõi hồng trần có một đoàn đông đảo gồm những người chí nguyện, các đệ tử dự bị và các đệ tử được chấp nhận, đang tìm cách đáp ứng với “trung tâm đầu”, một số có ý thức, số khác vô thức. Họ được quy tụ từ mọi lĩnh vực biểu hiện, nhưng tất cả đều sáng tạo theo cách này hay cách khác. Đến lượt họ, họ cấu thành điều có thể gọi một cách biểu tượng là “tuyến tùng” của nhân loại. Như nơi con người cá biệt, tuyến này thường bất động và ngủ yên, thì trong nhân loại, nhóm tế bào này bên trong bộ não của cơ thể tập thể cũng bất động, [277] nhưng đang rung cảm trước các rung động của trung tâm đầu — Thánh Đoàn huyền bí. Một số tế bào đã thức tỉnh. Hãy để họ tăng cường nỗ lực của mình và nhờ vậy đánh thức những người khác. Những người tiên phong của gia đình nhân loại, các nhà khoa học, nhà tư tưởng và nghệ sĩ, cấu thành tuyến yên. Họ biểu lộ trí cụ thể nhưng thiếu sự tri nhận trực giác và chủ nghĩa lý tưởng vốn sẽ đặt họ, nói theo biểu tượng, vào tuyến tùng; tuy nhiên họ vẫn rực sáng, giàu khả năng biểu hiện và đầy tinh thần khảo sát. Mục tiêu của Thánh Đoàn, lại nói theo biểu tượng, là làm cho tuyến tùng trở nên mạnh mẽ đến mức, do đó, có sức hấp dẫn đến mức, tuyến yên của các sự sống tế bào có thể được kích thích và nhờ vậy tạo nên một sự tương tác mật thiết. Điều này sẽ dẫn đến một hoạt động mạnh mẽ đến nỗi sẽ có một dòng các tế bào mới tuôn chảy đến tuyến tùng, đồng thời tạo nên một phản ứng mạnh đến mức toàn thể cơ thể sẽ chịu ảnh hưởng, đưa đến sự tuôn chảy hướng thượng của nhiều sự sống được kích thích để thay thế những sự sống đang tìm đường đi vào trung tâm của nỗ lực Thánh Đoàn.

The “waters of space”, in which this re-orientation and reversal of tendencies is progressing, are in a state of violent turmoil. The vortex of conflicting desire in which men find themselves is now chaotic and so potent that these waters are stirred to the very depths. Students of modern history and of social order are faced with an unprecedented condition, corresponding in the corporate body of humanity to that upheaval in the life of an individual aspirant which always precedes the passing onto the Path of Discipleship. Hence there is no cause for depression or undue anxiety, but only ardent desire that the transition may be made in due time and order and be neither too rapid—hence destructive to all right ties and affiliations—nor too prolonged and so strain beyond endurance the sorely tried fabric of humanity. All new manifestations in all kingdoms in all ages must come slowly, and therefore safely, to the birthing. [278] All new forms, if they are ultimately to carry weight and gather adequate momentum to carry them through their life cycle, must be built in silent subjectivity, in order that the building may be strong and sure and the inner contact with the creator (human or divine) and true conformity to the pattern may be substantial and unbreakable. This is true of a universe, a kingdom in nature, or a thought-form created by a human thinker.

“Các dòng nước của không gian”, trong đó sự tái định hướng và đảo ngược các khuynh hướng này đang tiến triển, đang ở trong tình trạng xáo động dữ dội. Vòng xoáy của dục vọng xung đột, trong đó con người đang thấy mình bị cuốn vào, hiện nay hỗn loạn và mạnh đến mức các dòng nước này bị khuấy động tận đáy sâu. Các đạo sinh nghiên cứu lịch sử hiện đại và trật tự xã hội đang đối diện với một tình trạng chưa từng có, tương ứng trong cơ thể tập thể của nhân loại với cuộc chấn động trong đời sống của một người chí nguyện cá biệt, vốn luôn luôn đi trước việc bước sang Con Đường Đệ Tử. Vì thế, không có lý do gì để chán nản hay lo âu quá mức, mà chỉ cần có ước vọng nồng nhiệt rằng sự chuyển tiếp có thể được thực hiện đúng thời và đúng trật tự, không quá nhanh — vì như vậy sẽ phá hoại mọi mối liên kết và liên hệ đúng đắn — cũng không quá kéo dài, khiến kết cấu nhân loại vốn bị thử thách đau đớn phải căng ra quá sức chịu đựng. Mọi biểu hiện mới trong mọi giới và mọi thời đại đều phải đi đến cuộc sinh nở một cách chậm rãi, và do đó an toàn. [278] Mọi hình tướng mới, nếu cuối cùng phải có trọng lượng và tích lũy đủ đà để mang chúng đi qua chu kỳ sống của mình, đều phải được xây dựng trong tính chủ quan thầm lặng, để công trình xây dựng có thể vững mạnh và chắc chắn, và để sự tiếp xúc bên trong với đấng sáng tạo, dù là con người hay thiêng liêng, cùng sự phù hợp chân thực với mô hình, có thể trở nên bền vững và không thể phá vỡ. Điều này đúng với một vũ trụ, một giới trong thiên nhiên, hoặc một hình tư tưởng do một nhà tư tưởng sáng tạo tạo ra.

In all form-building the technique of construction remains basically the same, and the rules and realizations may be summed up in the following aphoristic phrases.

Trong mọi sự xây dựng hình tướng, kỹ thuật kiến tạo về cơ bản vẫn như nhau, và các quy luật cùng những chứng nghiệm có thể được tóm lược trong các câu cách ngôn sau đây.

Let the creator know himself to be the builder, and not the building.

Hãy để đấng sáng tạo biết mình là đấng kiến tạo, chứ không phải là công trình được kiến tạo.

Let him desist from dealing with the raw material on the physical plane, and let him study the pattern and the blue prints, acting as the agent of the Divine Mind.

Hãy để y ngừng xử lý nguyên liệu thô trên cõi hồng trần, và hãy để y nghiên cứu mô hình cùng các bản thiết kế, hành động như tác nhân của Trí Thiêng Liêng.

Let him use two energies and work with three laws. These are the dynamic energy of purpose, conforming to the Plan, and the magnetic energy of desire, drawing the builders to the centre of endeavour.

Hãy để y sử dụng hai năng lượng và làm việc với ba định luật. Đó là năng lượng năng động của mục đích, phù hợp với Thiên Cơ, và năng lượng từ tính của dục vọng, thu hút các đấng kiến tạo về trung tâm nỗ lực.

Let these three laws hold sway, the law of synthetic limitation, of vibratory interplay, and of active precipitation. The one concerns the life, the second concerns the building, and the third produces manifested existence.

Hãy để ba định luật này nắm quyền: định luật của sự giới hạn tổng hợp, của sự tương tác rung động, và của sự ngưng tụ tích cực. Định luật thứ nhất liên quan đến sự sống, định luật thứ hai liên quan đến việc xây dựng, và định luật thứ ba tạo ra sự tồn tại biểu hiện.

Let him deal first with the outer builders, sending his call to the periphery of his circle of influence.

Hãy để y trước hết xử lý các đấng kiến tạo bên ngoài, gửi tiếng gọi của mình đến chu vi của vòng ảnh hưởng của y.

Let him set the waters of living substance in motion by his idea and impulse, bending the builders to his purpose and plan.

Hãy để y đặt các dòng nước của chất liệu sống vào chuyển động bằng ý tưởng và xung lực của mình, uốn các đấng kiến tạo theo mục đích và Thiên Cơ của y.

Let him build with judgment and with skill, preserving always the “stool of the director” and coming not down into close contact with his thought-form.

Hãy để y xây dựng với phán đoán và kỹ năng, luôn giữ “chiếc ghế của người điều khiển” và không đi xuống để tiếp xúc quá gần với hình tư tưởng của mình.

Let him project, in time and space, his form through [279] visualization, meditation and skill in action, and so produce that which his will commands, his love desires, and his need creates.

Hãy để y phóng chiếu hình tướng của mình trong thời gian và không gian qua [279] sự hình dung, tham thiền và kỹ năng trong hành động, và nhờ vậy tạo ra điều mà ý chí của y truyền lệnh, tình thương của y mong muốn, và nhu cầu của y tạo thành.

Let him withdraw the builders of the outer form, and let the inner builders of dynamic force push it forth into manifestation. Through the eye of the creator are these inner builders brought to functioning, directed action. Through the word of the creator were the outer builders guided. Through the ear of the creator the volume of the greater Word vibrates through the waters of space.

Hãy để y rút lui các đấng kiến tạo của hình tướng bên ngoài, và hãy để các đấng kiến tạo bên trong của mãnh lực năng động đẩy nó ra ngoài vào biểu hiện. Qua con mắt của đấng sáng tạo, các đấng kiến tạo bên trong này được đưa vào hoạt động có định hướng. Qua lời của đấng sáng tạo, các đấng kiến tạo bên ngoài đã được hướng dẫn. Qua tai của đấng sáng tạo, âm lượng của Linh từ lớn hơn rung động qua các dòng nước của không gian.

Let him remember the order of creative work. The waters of space respond to the word. The builders build. The cycle of creation ends and the form is adequate in manifestation. The cycle of performance succeeds and depends for its duration on the potency of the inner builders, who constitute the subjective form and transmit the vitalising life.

Hãy để y nhớ trật tự của công việc sáng tạo. Các dòng nước của không gian đáp ứng với lời. Các đấng kiến tạo xây dựng. Chu kỳ sáng tạo kết thúc và hình tướng trở nên đầy đủ trong biểu hiện. Chu kỳ hoạt động kế tiếp, và thời gian kéo dài của nó tùy thuộc vào quyền năng của các đấng kiến tạo bên trong, vốn cấu thành hình tướng chủ quan và truyền dẫn sự sống tiếp sinh lực.

Let him remember that the cessation of the form ensues when purpose is achieved, or when impotency of will produces failure of functioning in the cycle of performance.

Hãy để y nhớ rằng sự chấm dứt của hình tướng xảy ra khi mục đích đã đạt được, hoặc khi sự bất lực của ý chí tạo ra thất bại trong chức năng hoạt động của chu kỳ thực hiện.

Students would do well to study these cycles of creative building, of performance and of subsequent disintegration. They are true of a solar system, of a human being, and of the thought-forms of a creative thinker. The secret of all beauty lies in the right functioning of these cycles. The secret of all success on the physical plane lies in right understanding of law and of order. For the aspirant the goal of his endeavour is the correct building of forms in mental matter remembering that “as a man thinketh so is he”; that for him the control of mental substance and its use in clear thinking is an essential to progress.

Các đạo sinh nên nghiên cứu kỹ các chu kỳ xây dựng sáng tạo, hoạt động và tan rã theo sau. Chúng đúng với một hệ mặt trời, một con người, và các hình tư tưởng của một nhà tư tưởng sáng tạo. Bí mật của mọi vẻ đẹp nằm trong sự vận hành đúng đắn của các chu kỳ này. Bí mật của mọi thành công trên cõi hồng trần nằm trong sự thấu hiểu đúng đắn về định luật và trật tự. Đối với người chí nguyện, mục tiêu nỗ lực của y là xây dựng đúng đắn các hình tướng trong vật chất trí tuệ, luôn nhớ rằng “con người nghĩ thế nào thì y là như thế”; rằng đối với y, việc kiểm soát chất liệu trí tuệ và sử dụng nó trong tư tưởng rõ ràng là điều thiết yếu cho sự tiến bộ.

This will demonstrate in organization of the outer life, [280] in creative work of some kind—a book written, a picture painted, a home functioning rhythmically, a business run along sound and true lines, a life salvaged, and the outer dharma carried out with precision, whilst the inner adjustments proceed in the silence of the heart.

Điều này sẽ biểu lộ trong việc tổ chức đời sống bên ngoài, [280] trong công việc sáng tạo thuộc một loại nào đó — một quyển sách được viết ra, một bức tranh được vẽ, một mái nhà vận hành theo nhịp điệu, một doanh nghiệp được điều hành theo những đường lối lành mạnh và chân chính, một đời sống được cứu vãn, và bổn phận bên ngoài được thực hiện chính xác, trong khi các điều chỉnh bên trong tiến hành trong sự im lặng của trái tim.

For the disciple, the work extends. For him there has to be realization of the group plan and purpose and not simply of his own individual spiritual problem. There has to be conformity to the purpose for his immediate cycle and life period; the subordinating of his personal dharma and ideas to the need and service of that cycle. For him there has to be that attainment of knowledge, of strength, and of coordination between the personal self and the soul which will result in ability to build organized forms and groups on the physical plane and to hold them coherently together. This he does, not through the force of his own character and equipment but because that character and equipment enable him to act as a transmitter of the greater life energies and to serve as an efficient cooperator with a plan of which he can only vision a fragment. He works, however, faithfully at the building of his aspect of the great plan and finds one day when the building is completed and he sees the whole, that he has built true to design and in conformity with the blue prints as they have been carried in the minds of the architects (the Elder Brothers) who—in Their turn—are in touch with the Mind of the one Existence.

Đối với đệ tử, công việc mở rộng hơn. Đối với y, cần có sự chứng nghiệm Thiên Cơ và mục đích của nhóm, chứ không chỉ đơn giản là vấn đề tinh thần cá biệt của riêng y. Cần có sự phù hợp với mục đích của chu kỳ và giai đoạn đời sống trước mắt của y; sự đặt bổn phận và ý tưởng cá nhân của y dưới nhu cầu và sự phụng sự của chu kỳ ấy. Đối với y, cần có sự đạt được tri thức, sức mạnh và sự phối hợp giữa bản ngã cá nhân và linh hồn, điều này sẽ đưa đến khả năng xây dựng các hình tướng và nhóm có tổ chức trên cõi hồng trần, và giữ chúng kết hợp với nhau một cách mạch lạc. Y làm điều này, không phải nhờ mãnh lực của tính cách và trang bị riêng của mình, mà vì tính cách và trang bị ấy cho phép y hành động như một người truyền dẫn các năng lượng sự sống lớn hơn, và phụng sự như một cộng tác viên hữu hiệu với một Thiên Cơ mà y chỉ có thể thấy được một mảnh nhỏ. Tuy nhiên, y làm việc trung thành trong việc xây dựng phương diện của mình trong Thiên Cơ lớn, và một ngày kia, khi công trình đã hoàn tất và y thấy được toàn thể, y nhận ra rằng mình đã xây dựng đúng theo thiết kế và phù hợp với các bản thiết kế như chúng đã được giữ trong trí của các kiến trúc sư, tức các Huynh Trưởng, những Đấng — đến lượt các Ngài — đang tiếp xúc với Trí của Đấng Hiện Tồn Duy Nhất.

The practical application of these truths is of utmost importance. There is no life so circumscribed and no person so situated who cannot begin to work intelligently and to build thought-forms under law and with understanding. There is no day in any man’s life, particularly if he is an aspirant or a disciple, when a man cannot work in mental matter, control his use of thought, watch the effect of his mental processes on those he contacts, and [281] so handle his “chitta” or mind-stuff (as Patanjali calls it) that he becomes more and more useful.

Việc áp dụng thực tiễn những chân lý này có tầm quan trọng tối thượng. Không có đời sống nào bị giới hạn đến mức, và không có người nào ở trong hoàn cảnh đến mức, không thể bắt đầu làm việc một cách thông minh và xây dựng các hình tư tưởng theo định luật và với sự thấu hiểu. Không có ngày nào trong đời sống của bất cứ người nào, đặc biệt nếu y là người chí nguyện hay đệ tử, mà y không thể làm việc trong vật chất trí tuệ, kiểm soát cách dùng tư tưởng của mình, quan sát ảnh hưởng của các tiến trình trí tuệ của y trên những người y tiếp xúc, và [281] nhờ vậy xử lý “chitta” hay chất liệu trí tuệ của mình, như Patanjali gọi, để y ngày càng trở nên hữu ích hơn.

Webinar Program 19 – Rule 10.3

The Centres, Energies and Rays

There are two connections in which this Rule Ten can be studied and thereby results of practical value can be achieved. We can study it from the standpoint of the work which the soul does in relation to its instrument, the human being, and we can also study it from the standpoint of organisation work and of that form-building which the disciple does in relation to his service for the Hierarchy.

Có hai mối liên hệ trong đó Quy luật Mười này có thể được nghiên cứu, và nhờ vậy có thể đạt được những kết quả có giá trị thực tiễn. Chúng ta có thể nghiên cứu nó từ lập trường của công việc mà linh hồn thực hiện trong liên hệ với khí cụ của nó, tức con người, và chúng ta cũng có thể nghiên cứu nó từ lập trường của công việc tổ chức và của việc xây dựng hình tướng mà đệ tử thực hiện trong liên hệ với sự phụng sự của y cho Thánh Đoàn.

Back of the outer form of a human being, responsible for its creation, its maintenance and its use, lies, we know, the soul. Back of all activity for the furthering of human evolution as well as of other evolutionary processes stands the Hierarchy. Both represent centres of energy; both work under Law creatively; both proceed from subjective activity to objective manifestation and both are responsive (in the great sequence of graded lives) to vitalisation and stimulation from higher centres of energy. Some of the factors that the disciple has to learn to recognize as his particular series of lives unfolds falls into two main groups, each of them bringing his form aspect under seven types of energy, or influences.

Đằng sau hình tướng bên ngoài của một con người, chịu trách nhiệm về sự tạo thành, duy trì và sử dụng nó, như chúng ta biết, là linh hồn. Đằng sau mọi hoạt động nhằm thúc đẩy tiến hoá nhân loại cũng như các tiến trình thăng thượng tiến hoá khác là Thánh Đoàn. Cả hai đều đại diện cho các trung tâm năng lượng; cả hai đều làm việc một cách sáng tạo dưới Định luật; cả hai đều tiến từ hoạt động chủ quan đến biểu hiện khách quan; và cả hai đều đáp ứng, trong chuỗi lớn của các sự sống được phân cấp, với sự tiếp sinh lực và kích thích từ các trung tâm năng lượng cao hơn. Một số yếu tố mà đệ tử phải học nhận ra khi chuỗi sự sống đặc thù của y khai mở thuộc về hai nhóm chính, mỗi nhóm đưa phương diện hình tướng của y vào dưới bảy loại năng lượng hay ảnh hưởng.

There is first the group of forces which concerns purely the form side, that are the work of the outer Builders, and which are the predominant factors right up to the stage of the Probationary Path. These are the forces inherent in matter itself; they deal with the body nature and might be listed as follows:

Trước hết có nhóm mãnh lực chỉ liên quan đến phương diện hình tướng, là công việc của các Đấng Kiến Tạo bên ngoài, và là các yếu tố chi phối cho đến tận giai đoạn của Con Đường Dự Bị. Đây là các mãnh lực vốn có trong chính vật chất; chúng liên hệ đến bản chất thể xác và có thể được liệt kê như sau:

1. Physical forces. These are due to the life of the cells which constitute the body. This cell life is responsive to the cell life of the environment. Never let it be forgotten that the occultist always sees the correlation [282] between the factors in himself and the corresponding factors in his surroundings. We live in a world of forms. These forms are made up of lives and these lives have their own emanatory and contributory influence. They fall in their turn into three main groups:

1. Các mãnh lực hồng trần. Chúng phát sinh từ sự sống của các tế bào cấu thành thể xác. Sự sống tế bào này đáp ứng với sự sống tế bào của môi trường. Đừng bao giờ quên rằng nhà huyền bí học luôn thấy mối tương quan [282] giữa các yếu tố trong chính mình và các yếu tố tương ứng trong hoàn cảnh chung quanh. Chúng ta sống trong một thế giới của các hình tướng. Các hình tướng này được tạo thành bởi những sự sống, và các sự sống này có ảnh hưởng phát xạ và đóng góp riêng của chúng. Đến lượt chúng, chúng rơi vào ba nhóm chính:

a. Those emanations, which issuing from the cells themselves and dependent upon their quality, produce a good or a bad effect, are coarsening or refining in their influence, and raise or lower the physical vibration of the united cell body. Thus, as we well know, the physical effect of a coarse brutal animal natured man will be different to that of the refined beautifying results of contact with an older soul, functioning in a body, cultured, clean, disciplined and purified.

a. Những phát xạ xuất ra từ chính các tế bào và tùy thuộc vào phẩm tính của chúng, tạo ra một hiệu quả tốt hoặc xấu, có ảnh hưởng làm thô trược hoặc tinh luyện, và nâng cao hoặc hạ thấp rung động hồng trần của cơ thể tế bào hợp nhất. Như chúng ta đều biết rõ, ảnh hưởng hồng trần của một người có bản chất thú tính thô bạo sẽ khác với những kết quả tinh luyện và làm đẹp phát sinh từ sự tiếp xúc với một linh hồn già dặn hơn, đang vận hành trong một thể xác có văn hóa, sạch sẽ, kỷ luật và thanh lọc.

b. Those emanations, of a purely physical kind which are responsible for that chemical affinity between one animal body and another which produces the coming together of the sexes. It is an aspect of animal magnetism and is the response of the cells to the call of other cells, acting under the Law of Attraction and Repulsion. It is shared by man with the animals, and is instinctive and free from all mental reactions.

b. Những phát xạ thuộc loại thuần túy hồng trần, chịu trách nhiệm về ái lực hóa học giữa một thân thể động vật này với một thân thể động vật khác, tạo nên sự đến với nhau của hai giới. Đó là một phương diện của từ điện động vật và là sự đáp ứng của các tế bào trước tiếng gọi của các tế bào khác, hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi. Con người chia sẻ điều này với loài vật, và nó thuộc bản năng, không có mọi phản ứng trí tuệ.

c. Those forces or emanations, which are the response of the cells to harmonious rhythms and therefore dependent upon the cell having in itself something of that to which it responds. These emanations are little understood as yet, but will increasingly come to the fore as the race progresses. This type of force is that mysterious something which enables the physical body to recognise as harmonious or congenial a physical surrounding or environment, for instance. It is that undefinable reaction which results in two human beings (apart [283] from all sex attraction, for people of the same sex experience it with each other) having a harmonious effect physically upon each other. This is, on the outer plane, the esoteric basis for all group relation, and it is the understanding of these emanations that enables the isolation and segregation of races to be carried forward under the great evolutionary plan.

c. Những mãnh lực hay phát xạ là sự đáp ứng của các tế bào đối với các nhịp điệu hài hòa, và do đó tùy thuộc vào việc tế bào có trong chính nó điều gì đó thuộc về cái mà nó đáp ứng. Những phát xạ này hiện vẫn còn ít được thấu hiểu, nhưng sẽ ngày càng nổi bật khi nhân loại tiến bộ. Loại mãnh lực này là điều gì đó huyền nhiệm cho phép thể xác nhận biết một môi trường hay hoàn cảnh hồng trần là hài hòa hoặc thích hợp, chẳng hạn. Đó là phản ứng không thể định nghĩa, đưa đến việc hai con người, ngoài [283] mọi hấp dẫn giới tính, vì những người cùng giới cũng trải nghiệm điều đó với nhau, có ảnh hưởng hài hòa về mặt hồng trần đối với nhau. Trên cõi bên ngoài, đây là nền tảng huyền bí cho mọi quan hệ nhóm, và chính sự thấu hiểu các phát xạ này cho phép việc cô lập và phân tách các giống dân được tiến hành dưới Thiên Cơ thăng thượng tiến hoá vĩ đại.

These three might be described as the quality of the cell forces operating entirely on the physical plane which produce a peculiar type of physical body, the magnetic attraction between two physical bodies, and the racial types. These three factors guide the Manu of the race as He builds a new race and impresses the outer Builders with His ideas. They also guide a Master of the Wisdom as He builds His physical body at will for the carrying forward of His work in any time or place. These emanations should, in measure, be understood somewhat by all those engaged in forming organisations and groups for active service in the world. What, should the disciple ask himself, should be the vibratory quality of the cells of that body, of the individuals who compose it? What should be the quality of its attractive force, and of the magnetic effect it is to have in the world? What does the group possess through the medium of its corporate units which will put it en rapport with other groups and so make it harmonious in its relations with them? These questions warrant careful attention and should be considered by all group builders.

Ba điều này có thể được mô tả như phẩm tính của các mãnh lực tế bào hoạt động hoàn toàn trên cõi hồng trần, tạo ra một kiểu thể xác đặc thù, sự hấp dẫn từ tính giữa hai thể xác, và các kiểu mẫu giống dân. Ba yếu tố này hướng dẫn Đức Manu của giống dân khi Ngài xây dựng một giống dân mới và in khắc các ý tưởng của Ngài lên các Đấng Kiến Tạo bên ngoài. Chúng cũng hướng dẫn một Chân sư Minh Triết khi Ngài xây dựng thể xác của Ngài theo ý chí để xúc tiến công việc của Ngài ở bất cứ thời gian hay nơi chốn nào. Ở một mức độ nào đó, những phát xạ này nên được tất cả những ai tham gia vào việc hình thành các tổ chức và nhóm để phụng sự tích cực trong thế gian thấu hiểu phần nào. Đệ tử nên tự hỏi: phẩm tính rung động của các tế bào trong cơ thể ấy, tức các cá nhân cấu thành nó, nên là gì? Phẩm tính của mãnh lực hấp dẫn của nó, và của hiệu quả từ tính mà nó phải có trong thế gian, nên là gì? Nhóm sở hữu điều gì qua trung gian các đơn vị tập thể của nó, điều sẽ đưa nó vào sự hòa điệu với các nhóm khác và nhờ vậy làm cho nó hài hòa trong các quan hệ với họ? Những câu hỏi này đáng được chú ý cẩn thận và nên được mọi người xây dựng nhóm xem xét.

2. Vital forces. These are often regarded by the materialists as intangible and therefore not material at all. But the occultist regards the etheric medium as a form or aspect of matter and as relatively tangible as the outer objective form. To him the ether of space, which term necessarily includes the etheric form of all bodies, the [284] astral or emotional sentient body and the mental body, constituted of mind-stuff, are all of them material and are the substance of the form side of life. As the basis of correct understanding, it should be noted that the cell life to which we have above referred is coordinated, influenced and vitalised by the blood stream, that intricate system which interpenetrates every part of the body, is responsible for its welfare and demonstrates in a manner not yet truly comprehended the fact that the “blood is the life”. The blood is an aspect of energy, as is the sap in the vegetable kingdom.

2. Các mãnh lực sinh lực. Chúng thường bị các nhà duy vật xem là không thể sờ thấy và do đó hoàn toàn không thuộc vật chất. Nhưng nhà huyền bí học xem môi trường dĩ thái như một hình tướng hay phương diện của vật chất, và tương đối có thể sờ thấy như hình tướng khách quan bên ngoài. Đối với y, dĩ thái của không gian, thuật ngữ này tất nhiên bao gồm hình tướng dĩ thái của mọi thể, thể [284] cảm dục hay thể cảm thụ xúc cảm, và thể trí được cấu thành bằng chất liệu trí tuệ, tất cả đều là vật chất và là chất liệu của phương diện hình tướng của sự sống. Như nền tảng cho sự thấu hiểu đúng đắn, cần lưu ý rằng sự sống tế bào mà chúng ta đã nói đến ở trên được phối hợp, ảnh hưởng và tiếp sinh lực bởi dòng máu, hệ thống phức tạp thâm nhập mọi phần của cơ thể, chịu trách nhiệm cho sự an lành của nó, và biểu lộ theo một cách chưa được thật sự thấu hiểu sự kiện rằng “máu là sự sống”. Máu là một phương diện của năng lượng, cũng như nhựa sống trong giới thực vật.

The sympathetic nervous system, that marvellous apparatus of sensation, is closely related to the emotional or astral body. The contact is made via the solar plexus, just as the vitality, governing the quality of the blood stream, makes its contact via the heart. In the heart is the centre of physical plane existence. The cerebrospinal system works in close relation to the chitta or mind stuff. Therefore we have the following to consider:

Hệ thần kinh giao cảm, bộ máy cảm giác kỳ diệu ấy, liên hệ mật thiết với thể xúc cảm hay thể cảm dục. Sự tiếp xúc được tạo qua tùng thái dương, cũng như sinh lực, vốn chi phối phẩm tính của dòng máu, tạo sự tiếp xúc qua tim. Trong tim là trung tâm của sự tồn tại trên cõi hồng trần. Hệ não-tủy hoạt động trong liên hệ mật thiết với chitta hay chất liệu trí tuệ. Vì thế, chúng ta có những điều sau đây để xem xét:

1. Cell life

Blood stream

Heart centre

Thymus gland.

2. Sensory life

Sympathetic nervous system

Solar plexus centre

Pancreas.

3. Mental life

Cerebro-spinal system

Ajna centre

Pituitary body

4. Vital life

Seven centres

Spleen.

This, as you see, governs the manifestations of the quaternary, but there are other aspects of humanity which manifest through the objective form and which complete the entire man and make the seven of his manifold objective existence.

Như các bạn thấy, điều này chi phối các biểu hiện của bộ tứ, nhưng có những phương diện khác của nhân loại biểu hiện qua hình tướng khách quan, hoàn tất toàn thể con người và tạo nên con số bảy của sự tồn tại khách quan đa dạng của y.

5. Self-conscious

upper brain

Head centre

Pineal gland.

6. Self-expression

lower brain

Throat centre

Thyroid.

7. Self-perpetuation

sex organs

Sacral centre

Reproductive organs.

8. Self-assertion

entire man

Centre at base of spine

Adrenals.

[285] You will notice that eight factors are here enumerated, and it is here that many of the schools go astray. The heading ‘vital life’ is a comprehensive one, but it must be remembered that it relates entirely to the physical vitalisation of man through the lowest aspect of the centres. This vital life of the universe of matter enters into the human organism through the spleen.

[285] Các bạn sẽ nhận thấy rằng tám yếu tố được liệt kê ở đây, và chính ở đây nhiều trường phái đã đi lạc. Đề mục “sự sống sinh lực” là một đề mục bao quát, nhưng cần nhớ rằng nó hoàn toàn liên quan đến sự tiếp sinh lực hồng trần của con người qua phương diện thấp nhất của các trung tâm. Sự sống sinh lực này của vũ trụ vật chất đi vào cơ quan con người qua lá lách.

The centres have three main functions: —

Các trung tâm có ba chức năng chính: —

First, to vitalise the physical body.

Thứ nhất, tiếp sinh lực cho thể xác.

Second, to bring about the development of self-consciousness in man.

Thứ hai, đem lại sự phát triển ngã thức trong con người.

Third, to transmit spiritual energy and sweep the entire man into a state of spiritual being.

Thứ ba, truyền dẫn năng lượng tinh thần và cuốn toàn thể con người vào một trạng thái hiện tồn tinh thần.

The vitality aspect is shared by man with the animals and with all created forms, and his capacity to move freely in a three dimensional world is the outstanding achievement of that aspect. The self-consciousness aspect is the prerogative of the human family. When man has evolved, when all parts of his nervous system, his endocrine system, and his centres are coordinated and working in harmonious rhythm then the highest aspect (the spiritual) makes its presence felt. The spiritual energy and not just the consciousness or sentient energy pours through Man, the instrument of divine Life, and the custodian of forces, to be held and used for the other and lower kingdoms in nature.

Phương diện sinh lực được con người chia sẻ với loài vật và với mọi hình tướng được tạo ra, và khả năng di chuyển tự do trong một thế giới ba chiều là thành tựu nổi bật của phương diện đó. Phương diện ngã thức là đặc quyền của gia đình nhân loại. Khi con người đã tiến hoá, khi mọi phần của hệ thần kinh, hệ nội tiết và các trung tâm của y được phối hợp và hoạt động trong nhịp điệu hài hòa, thì phương diện cao nhất, tức phương diện tinh thần, làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận. Năng lượng tinh thần, chứ không chỉ là tâm thức hay năng lượng cảm thụ, tuôn đổ qua Con Người, khí cụ của Sự Sống thiêng liêng và người giữ gìn các mãnh lực, để được nắm giữ và sử dụng cho các giới khác thấp hơn trong thiên nhiên.

The above enumeration might therefore be arranged in the following order. The table gives man as he is intended to be and not as he now is in the course of his evolutionary progress.[286]

Vì thế, bảng liệt kê trên có thể được sắp xếp theo thứ tự sau đây. Bảng này trình bày con người như y được dự định phải trở thành, chứ không phải như y hiện đang là trong tiến trình thăng thượng tiến hoá của mình.[286]

Webinar Program 20 – Rule 10.4

1. Self-assertion (full development)

the coordinated quaternary

Centre at base of spine

Adrenals.

2. Self-expression (creative work)

Lower brain

Throat centre

Thyroid.

3. Self-conscious life (personality).

Upper Brain

Head centre

Pineal gland.

4. Self-perpetuation

Sex organs

Sacral centre

Sex glands.

5. Mental life

Cerebro-spinal system

Ajna centre

Pituitary.

6. Sensory life

Sympathetic nervous system

Solar plexus

Pancreas.

7. Cell life

Blood stream

Heart centre

Heart.

The eighth point, the vital life, functioning through the seven centres and a whole system of lesser chakras and the nadis (which underlie the nerves and are the cause of their existence as the centres are of the glands) is the medium of many forces and energies—some purely physical, others related to the Anima Mundi, the World Soul, and others unknown as yet, because they will only make their presence felt later in the evolutionary programme. They will then express divinity, the energy of the Father or the highest aspect.

Điểm thứ tám, sự sống sinh lực, vận hành qua bảy trung tâm và toàn bộ hệ thống các chakra nhỏ hơn cùng các nadi, vốn nằm dưới các dây thần kinh và là nguyên nhân của sự tồn tại của chúng, cũng như các trung tâm là nguyên nhân của các tuyến, là phương tiện của nhiều mãnh lực và năng lượng — một số thuần túy hồng trần, một số khác liên hệ đến Linh Hồn Thế Giới, và một số khác hiện vẫn chưa được biết, vì chúng chỉ sẽ làm cho sự hiện diện của mình được cảm nhận về sau trong chương trình thăng thượng tiến hoá. Khi ấy, chúng sẽ biểu lộ thiên tính, năng lượng của Cha hay phương diện cao nhất.

It should be noted that the above tabulation pictures the second ray unfoldment, and also that the self referred to is the self-realisation of the spiritual man. The lowest aspect of the vital life of God is the perpetuation of the species, and this is the result of the livingness of the incarnated Life; and the next is simply expressive of the stage when the “I” consciousness is dominant and has reached its consummation in the completed personality. Then comes the expression of the indwelling self, hidden by the personality, through its creative activity of a non-physical character. Finally, we have the assertion or full manifestation of the divine nature. This, curiously enough, can only occur when the lower spinal centre is aroused, when the energy of the material nature is carried by an act of the will up into Heaven, and when therefore the entire nature—material, sensitive or psychic, and the existence aspect—are unified and realised. Meditate upon these words, for they connote the consummation as far as humanity is concerned.

Cần lưu ý rằng bảng trên phác họa sự khai mở cung hai, và cũng cần lưu ý rằng bản ngã được nói đến là sự tự chứng nghiệm của con người tinh thần. Phương diện thấp nhất của sự sống sinh lực của Thượng đế là sự duy trì nòi giống, và đây là kết quả của tính sống động của Sự Sống lâm phàm; phương diện kế tiếp chỉ đơn giản biểu lộ giai đoạn trong đó tâm thức “tôi” chiếm ưu thế và đã đạt đến sự viên mãn trong phàm ngã hoàn tất. Rồi đến sự biểu lộ của bản ngã nội tại, bị phàm ngã che giấu, qua hoạt động sáng tạo có tính chất phi-hồng trần của nó. Cuối cùng, chúng ta có sự khẳng định hay biểu hiện trọn vẹn của bản chất thiêng liêng. Điều này, kỳ lạ thay, chỉ có thể xảy ra khi trung tâm thấp ở cột sống được khơi dậy, khi năng lượng của bản chất vật chất được đưa bằng một hành động của ý chí lên Thiên Đường, và khi do đó toàn bộ bản chất — vật chất, nhạy cảm hay thông linh, và phương diện tồn tại — được hợp nhất và chứng nghiệm. Hãy tham thiền về những lời này, vì chúng hàm ý sự viên mãn xét theo nhân loại.

[287]

[287]

The occult aphorism: “To will, to know, to dare, and to be silent”, has a special significance not hitherto revealed and at which it is only possible for me to hint. Those of you who have the inner knowledge will comprehend at once.

Câu cách ngôn huyền bí: “Ý chí, biết, dám làm, và im lặng”, có một thâm nghĩa đặc biệt chưa từng được mặc khải trước đây, và tôi chỉ có thể gợi ý về nó. Những ai trong các bạn có tri thức bên trong sẽ hiểu ngay.

To Will. These words relate to the ultimate achievement, when, by an act of the combined will of the soul and of the lower man, unification and realisation are brought about. It concerns the centre at the base of the spine.

Ý Chí. Những lời này liên quan đến thành tựu tối hậu, khi, bằng một hành động của ý chí phối hợp giữa linh hồn và phàm nhân, sự hợp nhất và chứng nghiệm được tạo nên. Điều này liên quan đến trung tâm ở đáy cột sống.

To Know. These words concern the Ajna centre, the centre between the eyebrows. A hint lies in the words ‘Let the Mother know the Father’. It has relation to the marriage in the Heavens.

Biết. Những lời này liên quan đến trung tâm ajna, trung tâm giữa hai lông mày. Một gợi ý nằm trong lời “Hãy để Mẹ biết Cha”. Nó liên hệ đến cuộc hôn phối trên Thiên Đường.

To Dare. These words give the clue to the subordination of the personality, and have a close connection with the solar plexus, the great clearing house of desire and of the astral forces, and also the main centre of the transmutative work.

Dám Làm. Những lời này đưa ra chìa khóa cho sự đặt phàm ngã dưới quyền, và có mối liên hệ mật thiết với tùng thái dương, kho trung chuyển lớn của dục vọng và của các mãnh lực cảm dục, đồng thời cũng là trung tâm chính của công việc chuyển hoá.

To Be Silent. This phrase relates to the transmutation of the lower creative energy into the higher creative life. The sacral centre has to relapse into silence.

Im Lặng. Cụm từ này liên quan đến sự chuyển hoá năng lượng sáng tạo thấp thành sự sống sáng tạo cao. Trung tâm xương cùng phải lui vào im lặng.

It will be seen then that for the disciple the following centres are of paramount importance:

Như vậy sẽ thấy rằng đối với đệ tử, các trung tâm sau đây có tầm quan trọng tối thượng:

1. The ajna centre, through which the purified personality expresses itself.

1. Trung tâm ajna, qua đó phàm ngã đã được thanh lọc tự biểu lộ.

2. The centre at the base of the spine, which is the centre through which complete and utter control and coordination is achieved, through the arousing of the purifying agency of fire.

2. Trung tâm ở đáy cột sống, là trung tâm qua đó sự kiểm soát và phối hợp hoàn toàn, tuyệt đối được đạt đến, nhờ việc khơi dậy tác nhân thanh lọc của lửa.

3. The sacral centre, wherein the basic force of our particular solar system, the force of attraction of form to form is transmuted, and the attractive force of the soul takes the place of the reproductive creative material activity.[288]

3. Trung tâm xương cùng, nơi mãnh lực căn bản của hệ mặt trời đặc thù của chúng ta, tức mãnh lực hấp dẫn của hình tướng đối với hình tướng, được chuyển hoá, và mãnh lực hấp dẫn của linh hồn thay thế hoạt động vật chất sáng tạo có tính sinh sản.[288]

4. The solar plexus centre which, situated in the centre of the body and being the organ of the astral body and of the lower psychism, gathers together all lower forces and redirects them under the impulse of the soul to their higher repositories.

4. Trung tâm tùng thái dương, nằm ở trung tâm của cơ thể và là cơ quan của thể cảm dục cũng như của thông linh thấp, tập hợp mọi mãnh lực thấp và chuyển hướng chúng, dưới xung lực của linh hồn, đến những kho chứa cao hơn của chúng.

I realise that the teaching given here is both deep and abstruse, but it is needed for the few, and their numbers will increase as time elapses.

Tôi nhận ra rằng giáo huấn được đưa ra ở đây vừa sâu xa vừa khó hiểu, nhưng nó cần thiết cho một số ít người, và số lượng của họ sẽ tăng lên khi thời gian trôi qua.

The complexity of the subject is also increased by the fact that each ray holds within its teaching a different approach and a different method for those souls who are found responsive to its peculiar impulse.

Tính phức tạp của đề tài cũng tăng lên bởi sự kiện rằng mỗi cung giữ trong giáo huấn của nó một cách tiếp cận khác và một phương pháp khác dành cho những linh hồn đáp ứng với xung lực đặc thù của nó.

Webinar Program 21 – Rule 10.5

I give here the seven keys for each of the ray methods. These can be studied in relation to the above tabulations and in connection with the four words we have been considering. We must remember that ‘To Will’ is the prerogative of Spirit, ‘To Know’ is the function of the Soul, ‘To Dare’ is the duty of the personality, and ‘To Be Silent’ is the ultimate dharma or destiny of the matter aspect, of the animal nature in its interplay with the soul.

Ở đây tôi đưa ra bảy chìa khóa cho từng phương pháp của các cung. Chúng có thể được nghiên cứu trong liên hệ với các bảng trên và trong mối liên hệ với bốn lời mà chúng ta đã xem xét. Chúng ta phải nhớ rằng “Ý Chí” là đặc quyền của Tinh thần, “Biết” là chức năng của Linh hồn, “Dám Làm” là bổn phận của phàm ngã, và “Im Lặng” là dharma hay định mệnh tối hậu của phương diện vật chất, của bản chất động vật trong sự tương tác của nó với linh hồn.

First Ray: — “Let the Forces come together. Let them mount to the High Place, and from that lofty eminence, let the soul look out upon a world destroyed. Then let the word go forth: ‘I still persist!’”

Cung Một: — “Hãy để các Mãnh lực hội tụ. Hãy để chúng tiến lên Chốn Cao, và từ đỉnh cao ấy, hãy để linh hồn nhìn ra một thế giới đã bị hủy diệt. Rồi hãy để lời phát ra: ‘Tôi vẫn kiên trì!’”

Second Ray: — “Let all the life be drawn to the Centre, and enter thus into the Heart of Love Divine. Then from that point of sentient Life, let the soul realise the consciousness of God. Let the word go forth, reverberating through the silence: ‘Naught is but Me!’”

Cung Hai: — “Hãy để mọi sự sống được kéo về Trung Tâm, và như vậy đi vào Trái Tim của Tình Thương Thiêng Liêng. Rồi từ điểm của Sự Sống cảm thụ ấy, hãy để linh hồn chứng nghiệm tâm thức của Thượng đế. Hãy để lời phát ra, vang vọng qua sự im lặng: ‘Không gì tồn tại ngoài Tôi!’”

Third Ray: — “Let the Army of the Lord, responsive to the word, cease their activities. Let knowledge end in wisdom. Let the point vibrating become the point quiescent, and all lines gather into One. Let the soul realise the One in Many and let the word go forth in [289] perfect understanding: ‘I am the Worker and the Work, the One that Is.’”

Cung Ba: — “Hãy để Đạo Quân của Chúa, đáp ứng với lời, chấm dứt các hoạt động của họ. Hãy để tri thức kết thúc trong minh triết. Hãy để điểm rung động trở thành điểm tĩnh lặng, và mọi đường quy tụ vào Đấng Duy Nhất. Hãy để linh hồn chứng nghiệm Đấng Duy Nhất trong Nhiều, và hãy để lời phát ra trong [289] sự thấu hiểu hoàn hảo: ‘Tôi là Người Hoạt Động và Công Việc, Đấng Duy Nhất Hiện Tồn.’”

Webinar Program 22 – Rule 10.6

Fourth Ray: — “Let the outer glory pass away and the beauty of the inner Light reveal the One. Let dissonance give place to harmony, and from the centre of the hidden Light, let the soul speak: Let the word roll forth: ‘Beauty and glory veil me not. I stand revealed. I am.’”

Cung Bốn: — “Hãy để vinh quang bên ngoài qua đi và vẻ đẹp của Ánh Sáng bên trong mặc khải Đấng Duy Nhất. Hãy để bất hòa nhường chỗ cho hài hòa, và từ trung tâm của Ánh Sáng ẩn giấu, hãy để linh hồn nói: Hãy để lời cuộn vang: ‘Vẻ đẹp và vinh quang không che phủ tôi. Tôi đứng trong sự mặc khải. Tôi hiện tồn.’”

Fifth Ray: — “Let the three forms of energy electric pass upward to the Place of Power. Let the forces of the head and heart and all the nether aspects blend. Then let the soul look out upon an inner world of light divine. Let the Word triumphant go forth: ‘I mastered energy for I am energy Itself. The Master and the mastered are but One.’”

Cung Năm: — “Hãy để ba hình tướng của năng lượng điện đi lên Chốn Quyền Năng. Hãy để các mãnh lực của đầu và tim cùng mọi phương diện thấp hòa nhập. Rồi hãy để linh hồn nhìn ra một thế giới bên trong của ánh sáng thiêng liêng. Hãy để Linh từ chiến thắng phát ra: ‘Tôi đã làm chủ năng lượng, vì tôi chính là Năng Lượng. Chân sư và điều được làm chủ chỉ là Một.’”

Sixth Ray: — “Let all desire cease. Let aspiration end. The search is over. Let the soul realise that it has reached the goal, and from that gateway to eternal Life and cosmic Peace, let the word sound: ‘I am the seeker and the sought. I rest!’”

Cung Sáu: — “Hãy để mọi dục vọng chấm dứt. Hãy để khát vọng kết thúc. Cuộc tìm kiếm đã qua. Hãy để linh hồn nhận ra rằng nó đã đạt mục tiêu, và từ cánh cổng ấy dẫn đến Sự Sống vĩnh cửu và Hòa Bình vũ trụ, hãy để lời vang lên: ‘Tôi là người tìm kiếm và là điều được tìm kiếm. Tôi an nghỉ!’”

Seventh Ray: — “Let the builders cease their work. The Temple is completed. Let the soul enter into its heritage and from the Holy Place command all work to end. Then in the silence subsequent, let him chant forth the Word: ‘The creative work is over. I, the Creator, Am. Naught else remains but Me.’”

Cung Bảy: — “Hãy để các đấng kiến tạo chấm dứt công việc của họ. Đền Thờ đã hoàn tất. Hãy để linh hồn bước vào cơ nghiệp của mình và từ Nơi Thánh truyền lệnh cho mọi công việc kết thúc. Rồi trong sự im lặng tiếp theo, hãy để y xướng lên Linh từ: ‘Công việc sáng tạo đã xong. Tôi, Đấng Sáng Tạo, Hiện Tồn. Không còn gì khác ngoài Tôi.’”

The vital forces, which are simply the passing through the outer sheath of the constantly moving ether of space, are of many kinds. One of the concepts, lying back of the astrological theories, is that the etheric body of any form constitutes part of the etheric body of the solar system, and is therefore the medium for the transmission of solar energies, of planetary forces, and of extra-solar or cosmic impulses, esoterically called ‘breaths’. These forces and energies of the cosmic rays are constantly circulating and following definite paths through the ether [290] of space in all parts, and are therefore constantly passing through the etheric bodies of every exoteric form. This is a basic truth and must be carefully borne in mind, for its implications are many and varied; but all lead back to the idea of unity, and of the Oneness of all manifestation, only to be known and realised on the subjective side.

Các mãnh lực sinh lực, vốn chỉ là sự đi xuyên qua lớp vỏ bên ngoài của dĩ thái không gian luôn chuyển động, có nhiều loại. Một trong những quan niệm nằm đằng sau các lý thuyết chiêm tinh là thể dĩ thái của bất cứ hình tướng nào cấu thành một phần của thể dĩ thái của hệ mặt trời, và do đó là phương tiện truyền dẫn các năng lượng thái dương, các mãnh lực hành tinh, và các xung lực ngoài hệ mặt trời hay vũ trụ, được gọi một cách huyền bí là “các hơi thở”. Những mãnh lực và năng lượng này của các cung vũ trụ liên tục lưu chuyển và đi theo những đường đi xác định qua dĩ thái [290] của không gian trong mọi phần, và do đó liên tục đi xuyên qua các thể dĩ thái của mọi hình tướng ngoại môn. Đây là một chân lý căn bản và phải được ghi nhớ cẩn thận, vì các hàm ý của nó nhiều và đa dạng; nhưng tất cả đều dẫn trở lại ý tưởng về sự hợp nhất, và về Tính Duy Nhất của mọi biểu hiện, điều chỉ có thể được biết và chứng nghiệm ở phía chủ quan.

The second basic idea is that the response of the etheric vehicle of all forms and its capacity to appropriate, to utilise, and to transmit are dependent upon the condition of the centres, of the chakras, as they are called in the East. These include not only the well known seven major centres but numbers of lesser vortices of force, as yet unnamed and unknown in the occident. It is dependent also upon the quality of the etheric vehicle, upon its aliveness, and also upon the interlacing network in which the centres have their place, and which in its entirety is called ‘the web’ or the ‘golden bowl’. If this is clear of impediments and of sediment, and if its channels are not clogged then the circulating rays, energies and forces can find an easy medium and can circulate unimpeded throughout the entire body. They can then utilise those centres which are responsive to their vibrations, and can be passed on and through to forms in other or the same kingdoms in nature. Here lies the secret of all scientific and occult healing. Healers are experimenting with the etheric body and yet little real knowledge is theirs. They know little or nothing of the centres in their own body through which the magnetic or other currents must flow; they are unaware of the condition of the etheric centres of those they seek to heal and of the nature of the forces they wish to employ. All they can do is to discipline their lives, and so control their appetites that they build a clean body and provide clear channels for the passage of forces from and through themselves to others.

Ý tưởng căn bản thứ hai là sự đáp ứng của vận cụ dĩ thái của mọi hình tướng, cùng khả năng thu nhận, sử dụng và truyền dẫn của nó, tùy thuộc vào tình trạng của các trung tâm, của các chakra, như chúng được gọi ở phương Đông. Chúng bao gồm không chỉ bảy trung tâm chính được biết rõ, mà còn nhiều vòng xoáy mãnh lực nhỏ hơn, hiện chưa được đặt tên và chưa được biết đến ở phương Tây. Điều này cũng tùy thuộc vào phẩm tính của vận cụ dĩ thái, vào tính sống động của nó, và vào mạng lưới đan xen trong đó các trung tâm có vị trí của chúng, và toàn thể mạng lưới ấy được gọi là “tấm lưới” hay “chiếc chén vàng”. Nếu mạng lưới này sạch khỏi các chướng ngại và cặn lắng, và nếu các kênh của nó không bị tắc nghẽn, thì các cung, năng lượng và mãnh lực đang lưu chuyển có thể tìm được một phương tiện dễ dàng và có thể lưu thông không bị cản trở khắp toàn thể cơ thể. Khi ấy chúng có thể sử dụng những trung tâm đáp ứng với các rung động của chúng, và có thể được chuyển tiếp đến và xuyên qua các hình tướng trong các giới khác hoặc cùng giới trong thiên nhiên. Ở đây nằm bí mật của mọi phương pháp trị liệu khoa học và huyền bí. Các nhà trị liệu đang thử nghiệm với thể dĩ thái, nhưng họ có rất ít tri thức thực sự. Họ biết rất ít hoặc hầu như không biết gì về các trung tâm trong chính cơ thể mình, qua đó các dòng từ tính hay các dòng khác phải chảy; họ không biết tình trạng của các trung tâm dĩ thái nơi những người họ tìm cách chữa lành, cũng như bản chất của các mãnh lực họ muốn sử dụng. Tất cả những gì họ có thể làm là kỷ luật đời sống của mình, và nhờ vậy kiểm soát các ham muốn, để xây dựng một thể xác trong sạch và cung cấp các kênh thông suốt cho sự đi qua của các mãnh lực từ chính họ, xuyên qua chính họ, đến những người khác.

The third concept to be noted is that forms are, as yet [291] primarily responsive to the forces which reach them from other forms on the planet, to the seven basic types of energies emanating from the seven planets, and also to the life-giving solar ray. All forms in all the four kingdoms respond to these many forces, to these seven energies and to the one ray. The human family are responsive also to other energies and to solar rays, —all however coloured by the force generated within the solar ring-pass-not.

Quan niệm thứ ba cần ghi nhận là các hình tướng hiện nay [291] chủ yếu đáp ứng với các mãnh lực đến với chúng từ những hình tướng khác trên hành tinh, với bảy loại năng lượng căn bản phát xạ từ bảy hành tinh, và cũng với cung thái dương ban sự sống. Mọi hình tướng trong cả bốn giới đều đáp ứng với nhiều mãnh lực này, với bảy năng lượng này và với một cung duy nhất. Gia đình nhân loại cũng đáp ứng với những năng lượng khác và với các cung thái dương — tuy nhiên tất cả đều được nhuộm màu bởi mãnh lực phát sinh bên trong vòng-giới-hạn của hệ mặt trời.

Webinar Program 23 – Rule 10.7

The work of the occultist and of the aspirant is to arrive at an understanding of these forces and so learn their nature and their use, their potency and vibratory rate. He has also to learn to recognise their source and be able to differentiate between forces, energies and rays. For the beginner a clear distinction can be made between forces and energies by appreciating the fact that personalities affect us through the forces emanating from their form aspect, but that these same personalities, purified and aligned, can be transmitters of the energies of the soul.

Công việc của nhà huyền bí học và của người chí nguyện là đi đến sự thấu hiểu các mãnh lực này, và nhờ vậy học biết bản chất và cách sử dụng của chúng, quyền năng và tốc độ rung động của chúng. Y cũng phải học nhận ra nguồn gốc của chúng và có khả năng phân biệt giữa các mãnh lực, năng lượng và cung. Đối với người mới bắt đầu, có thể tạo một sự phân biệt rõ ràng giữa mãnh lực và năng lượng bằng cách nhận thức sự kiện rằng các phàm ngã ảnh hưởng đến chúng ta qua các mãnh lực phát xạ từ phương diện hình tướng của họ, nhưng chính các phàm ngã ấy, khi đã được thanh lọc và chỉnh hợp, có thể trở thành những người truyền dẫn các năng lượng của linh hồn.

Broadly speaking, the work of the human kingdom is to transmit energy to the lower kingdoms in Nature, whilst the work of the Hierarchy, in its relation to the human kingdom, is to transmit energies from the spiritual realm, from other planetary centres, and from the solar system. These energies when stepped down for transmission differentiate into forces.

Nói rộng ra, công việc của giới nhân loại là truyền dẫn năng lượng đến các giới thấp hơn trong Thiên nhiên, trong khi công việc của Thánh Đoàn, trong liên hệ với giới nhân loại, là truyền dẫn các năng lượng từ cõi tinh thần, từ các trung tâm hành tinh khác, và từ hệ mặt trời. Khi được hạ giảm để truyền dẫn, các năng lượng này biến phân thành các mãnh lực.

Students must not get confused by the complexity of the subject. They must learn certain large generalisations, and remember that as the omniscience of the soul is tapped, the more detailed knowledge will gradually fall into place.

Các đạo sinh không nên bị rối trí bởi tính phức tạp của đề tài. Họ phải học một số khái quát lớn, và nhớ rằng khi sự toàn tri của linh hồn được khai thông, tri thức chi tiết hơn sẽ dần dần rơi vào đúng vị trí.

The other types of energy which concern the first two main groups with which the aspirant has to deal are related entirely to the form side. The third and succeeding groups are: [292]

Các loại năng lượng khác liên quan đến hai nhóm chính đầu tiên mà người chí nguyện phải xử lý đều hoàn toàn liên hệ với phương diện hình tướng. Nhóm thứ ba và các nhóm kế tiếp là: [292]

3. Astral energy.

3. Năng lượng cảm dục.

4. The energy of the lower concrete mind, of the chitta, the mind-stuff.

4. Năng lượng của hạ trí cụ thể, của chitta, tức chất liệu trí tuệ.

5. The energy of the Personality.

5. Năng lượng của Phàm ngã.

6. Planetary energy.

6. Năng lượng hành tinh.

7. Solar energy, or the Life Breath.

7. Năng lượng thái dương, hay Hơi Thở Sự Sống.

These can be subdivided as follows:

Chúng có thể được phân chia như sau:

3. Astral Energy. Emanating from:

3. Năng Lượng Cảm Dục. Phát xuất từ:

a. A man’s own astral or sentient body.

a. Thể cảm dục hay thể cảm thụ của chính một người.

b. The human family as a whole.

b. Gia đình nhân loại như một toàn thể.

c. The astral plane in the large sense.

c. Cõi cảm dục theo nghĩa rộng.

d. The ‘heart of the Sun’.

d. “Trái tim của Mặt Trời”.

4. Mental Energy. Emanating from:

4. Năng Lượng Trí Tuệ. Phát xuất từ:

a. The individual chitta or mind-stuff.

a. Chitta cá nhân hay chất liệu trí tuệ.

b. The mentality of:

b. Trí lực của:

1. The human family as a whole.

1. Gia đình nhân loại như một toàn thể.

2. The particular race to which a man belongs.

2. Giống dân đặc thù mà một người thuộc về.

c. The mental plane as a whole.

c. Cõi trí như một toàn thể.

d. The Universal Mind.

d. Vũ Trụ Trí.

5. Personality Energy. Emanating from:

5. Năng Lượng Phàm Ngã. Phát xuất từ:

a. The coordinated form of man.

a. Hình tướng đã phối hợp của con người.

b. Advanced human beings who are dominant personalities.

b. Những con người tiến hóa cao vốn là các phàm ngã chi phối.

c. Groups, i.e.

c. Các nhóm, tức là:

1. The Hierarchy of the Planet. Subjective.

1. Thánh Đoàn của Hành Tinh. Chủ quan.

2. The integrating group of Mystics. Objective.

2. Nhóm tích hợp của các nhà thần bí. Khách quan.

6. Planetary Energy. Emanating from:

6. Năng Lượng Hành Tinh. Phát xuất từ:

a. The seven planets. This is the basis of astrological practice.

a. Bảy hành tinh. Đây là nền tảng của thực hành chiêm tinh.

b. The Earth.

b. Trái Đất.

c. The Moon.

c. Mặt Trăng.

7. Solar Energy. Emanating from:

7. Năng Lượng Thái Dương. Phát xuất từ:

a. The physical Sun.

a. Mặt Trời hồng trần.

b. The Sun, acting as a transmitter of cosmic Rays. [293]

b. Mặt Trời, hoạt động như một đấng truyền dẫn các Cung vũ trụ. [293]

Webinar Program 24 – Rule 10.8

Astral Energy and Fear

The subject now to be considered is of most practical application for it concerns the astral body—the body in which a man is pre-eminently polarised and of which he is more potently conscious than of any other body. The etheric body is really below the threshold of consciousness. Human beings remain unaware of the passage of forces through this vehicle and the nearest they get to the recognition of it is when they speak in terms of vitality or lack of vitality. The physical body makes its presence felt when something goes wrong or through the gratification of one or other of the appetites. The situation is however different in connection with the astral body for there is the vehicle of experience for the majority, and few there are who do not pass the greater part of their conscious life, recording the reactions of that body and vibrating between the two poles of happiness and misery, of satisfaction or non-satisfaction, of assurance or doubt, of courage or of fear. This really means that the inherent force and life of the emotional sentient vehicle govern the life-expression and mould the experience of the incarnated soul. Therefore, it is of value to us to understand something of what those forces are, where they come from, and how they act and react on the man. There lies his battleground and there also lies his field of victory.

Đề tài nay cần được xem xét có ứng dụng thực tiễn cao nhất, vì nó liên quan đến thể cảm dục — thể mà trong đó con người phân cực nổi bật nhất và y có ý thức mạnh mẽ hơn bất cứ thể nào khác. Thể dĩ thái thật ra nằm dưới ngưỡng tâm thức. Con người vẫn không hay biết về sự lưu chuyển của các mãnh lực qua vận cụ này, và điều gần nhất mà họ đạt tới trong việc nhận ra nó là khi họ nói về sinh lực hoặc sự thiếu sinh lực. Thể xác khiến sự hiện diện của nó được cảm nhận khi có điều gì trục trặc, hoặc qua sự thỏa mãn một trong các dục vọng. Tuy nhiên, tình trạng lại khác đối với thể cảm dục, vì đó là vận cụ kinh nghiệm của đa số, và hiếm có ai lại không trải qua phần lớn đời sống hữu thức của mình bằng cách ghi nhận các phản ứng của thể ấy và rung động giữa hai cực của hạnh phúc và khổ đau, của thỏa mãn hoặc không thỏa mãn, của xác tín hoặc hoài nghi, của can đảm hoặc sợ hãi. Điều này thật sự có nghĩa là mãnh lực và sự sống vốn có của vận cụ cảm thụ xúc cảm chi phối sự biểu lộ đời sống và khuôn đúc kinh nghiệm của linh hồn nhập thể. Vì vậy, điều hữu ích cho chúng ta là thấu hiểu phần nào các mãnh lực ấy là gì, chúng đến từ đâu, và chúng hành động cũng như phản ứng trên con người như thế nào. Ở đó là chiến trường của y, và ở đó cũng là lĩnh vực chiến thắng của y.

To begin with, it is advisable to bear in mind that all astral energy is part of the astral energy of the solar system and that therefore:

Trước hết, nên ghi nhớ rằng mọi năng lượng cảm dục đều là một phần của năng lượng cảm dục của hệ mặt trời, và do đó:

1. The sentient body of a human being is an atom of substance in the sentient body of the planetary Logos.

1. Thể cảm thụ của một con người là một nguyên tử chất liệu trong thể cảm thụ của Hành Tinh Thượng đế.

2. The sentient body (a term I much prefer to the term astral, and which I shall continue to use) of [294] the planetary Logos is an aspect—not an atom—of the sentient body of the solar Logos.

2. Thể cảm thụ — một thuật ngữ mà Tôi thích hơn nhiều so với thuật ngữ cảm dục, và Tôi sẽ tiếp tục dùng — của [294] Hành Tinh Thượng đế là một phương diện, chứ không phải một nguyên tử, của thể cảm thụ của Thái dương Thượng đế.

3. This in its turn is influenced by, and is a channel for sentient forces, emanating from vast centres of energy outside our solar system altogether.

3. Đến lượt nó, thể này chịu ảnh hưởng của, và là một vận hà cho, các mãnh lực cảm thụ phát xuất từ những trung tâm năng lượng bao la hoàn toàn ở ngoài hệ mặt trời của chúng ta.

If this is borne in mind it becomes apparent that man, being but a tiny fragment of a vaster whole which in its turn is incorporated into a still vaster vehicle, is the meeting ground of forces greater and more diversified than his brain is capable of recognizing. Hence the complexity of his problem and hence all the possibilities growing out of those expansions of consciousness which we call initiation. Every stream of energy pouring through his body of desire and of sentient reaction, is but a pathway leading him to wider and every widening contacts and realisations. Here also lies the safeguard for the majority of human beings, in the fact that they possess as yet an apparatus inadequate for the registering and recording of those infinite possibilities which these avenues of realisation offer. Until the mental apparatus is sufficiently awakened and controlled it would not be possible for man to interpret rightly and utilise correctly the information which his body of sensitive response could, but fortunately does not yet, convey to him.

Nếu ghi nhớ điều này, sẽ trở nên hiển nhiên rằng con người, chỉ là một mảnh nhỏ bé của một toàn thể rộng lớn hơn, mà đến lượt toàn thể ấy lại được bao hàm trong một vận cụ còn rộng lớn hơn nữa, là điểm gặp gỡ của những mãnh lực lớn lao và đa dạng hơn mức bộ não của y có thể nhận biết. Do đó có sự phức tạp trong vấn đề của y, và do đó cũng có mọi khả năng phát sinh từ những mở rộng tâm thức mà chúng ta gọi là điểm đạo. Mỗi luồng năng lượng tuôn qua thể dục vọng và phản ứng cảm thụ của y chỉ là một lối đi dẫn y đến những tiếp xúc và chứng nghiệm rộng lớn hơn, và ngày càng rộng lớn hơn. Ở đây cũng có sự bảo vệ dành cho đa số con người, trong sự kiện rằng họ vẫn còn sở hữu một bộ máy chưa đủ khả năng ghi nhận và lưu lại những khả năng vô tận mà các con đường chứng nghiệm này đem lại. Cho đến khi bộ máy trí tuệ được đánh thức và kiểm soát đầy đủ, con người không thể diễn giải đúng và sử dụng đúng thông tin mà thể đáp ứng nhạy cảm của y có thể, nhưng may mắn thay vẫn chưa, truyền đạt cho y.

Apart from the constant circulation through his astral body of planetary and solar and cosmic energies, every human being has appropriated, out of the greater Whole, enough of the astral energy wherewith to construct his own individual and separate astral body, responsive to his peculiar note, coloured by his peculiar quality, and limiting him or not according to his point on the ladder of evolution.

Ngoài sự lưu chuyển thường xuyên qua thể cảm dục của y của các năng lượng hành tinh, thái dương và vũ trụ, mỗi con người đã chiếm hữu từ Toàn Thể lớn lao một lượng năng lượng cảm dục đủ để xây dựng thể cảm dục riêng biệt và cá nhân của mình, đáp ứng với âm điệu đặc thù của y, được tô màu bởi phẩm tính đặc thù của y, và giới hạn y hay không tùy theo điểm của y trên nấc thang tiến hoá.

This constitutes his astral ring-pass-not, defining the limits of his emotional response to life experience, embodying [295] in its quality the range of his desire life, but being at the same time capable of tremendous expansion, development, adjustment and control under the impulse of the mental body and of the soul. It is subject also to vibratory activity as the result of the interplay between it and the physical plane life experience, and thus the great wheel of experience is set in motion and will persist until the four Noble Truths of the Buddha are understood and realised.

Điều này cấu thành vòng-giới-hạn cảm dục của y, xác định các giới hạn của sự đáp ứng xúc cảm của y đối với kinh nghiệm đời sống, thể hiện [295] trong phẩm tính của nó phạm vi đời sống dục vọng của y, nhưng đồng thời có khả năng mở rộng, phát triển, điều chỉnh và kiểm soát vô cùng lớn lao dưới xung lực của thể trí và của linh hồn. Nó cũng chịu hoạt động rung động do kết quả của sự tương tác giữa nó và kinh nghiệm đời sống trên cõi hồng trần; và như thế, bánh xe kinh nghiệm vĩ đại được đưa vào chuyển động và sẽ tiếp diễn cho đến khi Tứ Diệu Đế của Đức Phật được thấu hiểu và chứng nghiệm.

This astral body has in it the counterparts of the etheric or laya centres, and through them stream the forces and energies, earlier dealt with, into the etheric body. These centres carry energies from the seven planets and from the sun to every part of the astral organism, thus putting man en rapport with all parts of the solar system. This results in the fixation of a man’s life destiny, until such a time as the man awakens to his immortal heritage and so becomes sensitive to forces that are as yet—for the many—unrecognised. These emanate from the form. This is the reason why a horoscope is frequently quite accurate in its delineation for the unevolved and for the unawakened, but is quite in error and at fault in the case of the highly evolved man. Man is, en masse, what his desire body makes him. Later, “as a man thinketh so is he”. The astral body, with its longings, appetites, moods, feelings, and cravings moulds the physical body through the attractive forces which flow through it, and so guides the man on unerringly to the fulfilment of his desires. If the cravings of the sentient nature are dominantly animal in their objective we shall have the man with strong appetites, living a life given over to the effort to satisfy them. If the craving is for comfort and for happiness, we shall have the man with a sensuous, beauty-loving and pleasure-loving disposition, governed practically entirely by selfish effort. So it is through all the many grades of desire, good, bad, [296] and ordinary, until that re-orientation takes place which so refocusses the astral energies that they are turned in a different direction. Desire becomes aspiration. Thus liberation from the wheel of birth is brought about and a man is freed from the necessity to reincarnate. Then the horoscope as now understood proves futile, untrue and useless and the term sometimes used, but wrongly, ‘the horoscope of the ego or the soul’ means nothing. The soul has no individual destiny, but is submerged into the One. Its destiny is the destiny of the group, and of the Whole; its desire is the working out of the great Plan, and its will is the glorification of the incarnated Logos.

Thể cảm dục này có trong nó các đối phần của những trung tâm dĩ thái hay laya, và qua chúng, các mãnh lực và năng lượng đã được bàn đến trước đây tuôn vào thể dĩ thái. Những trung tâm này mang các năng lượng từ bảy hành tinh và từ mặt trời đến mọi phần của cơ cấu cảm dục, nhờ đó đặt con người trong tương quan với mọi phần của hệ mặt trời. Điều này đưa đến sự cố định định mệnh đời sống của con người, cho đến khi y thức tỉnh trước di sản bất tử của mình và nhờ vậy trở nên nhạy cảm với những mãnh lực mà, đối với đa số, vẫn chưa được nhận biết. Những mãnh lực này phát xuất từ hình tướng. Đây là lý do vì sao một lá số chiêm tinh thường khá chính xác trong sự mô tả đối với người chưa tiến hoá và chưa thức tỉnh, nhưng lại hoàn toàn sai lạc và thiếu chính xác trong trường hợp người đã tiến hoá cao. Nhìn chung, con người là những gì thể dục vọng của y tạo nên. Về sau, “con người suy nghĩ thế nào, y là thế ấy”. Thể cảm dục, với những khát khao, dục vọng, tâm trạng, cảm xúc và thèm muốn của nó, khuôn đúc thể xác qua các mãnh lực hấp dẫn tuôn qua nó, và như thế dẫn dắt con người một cách không sai chạy đến sự hoàn thành các dục vọng của y. Nếu các thèm muốn của bản chất cảm thụ có mục tiêu chủ yếu là thú tính, chúng ta sẽ có con người với những dục vọng mạnh mẽ, sống một đời dành trọn cho nỗ lực thỏa mãn chúng. Nếu sự thèm muốn là hướng đến tiện nghi và hạnh phúc, chúng ta sẽ có con người với khuynh hướng ham khoái cảm, yêu cái đẹp và yêu lạc thú, hầu như hoàn toàn bị chi phối bởi nỗ lực ích kỷ. Cứ như thế xuyên qua mọi cấp độ đa dạng của dục vọng, tốt, xấu [296] và bình thường, cho đến khi xảy ra sự tái định hướng khiến các năng lượng cảm dục được tái tập trung đến mức chúng quay sang một hướng khác. Dục vọng trở thành khát vọng. Như vậy sự giải thoát khỏi bánh xe sinh tử được đem lại, và con người được giải phóng khỏi sự cần thiết phải tái lâm phàm. Khi ấy lá số chiêm tinh, như hiện nay được hiểu, chứng tỏ là vô ích, không đúng và không dùng được; và thuật ngữ đôi khi được dùng, nhưng sai lầm, “lá số chiêm tinh của chân ngã hay linh hồn” không có nghĩa gì. Linh hồn không có định mệnh cá nhân, mà hòa nhập vào Đấng Duy Nhất. Định mệnh của nó là định mệnh của nhóm và của Toàn Thể; dục vọng của nó là việc thực hiện Thiên Cơ vĩ đại, và ý chí của nó là sự tôn vinh Thượng đế lâm phàm.

I would like to suggest to students that they procure if possible The Science of the Emotions by Bhagavan Das. It is an able treatise on the astral and sentient body, and deals with the factors that most nearly concern the aspirant as he faces the problem of understanding and of controlling his emotional nature, of mastering the technique of development, and of reorienting it to wider experience and of preparing it for the tests and expansions of the second major initiation—the baptism and the final entering of the stream. Metaphorically speaking, the experience that lies ahead upon the Path is covered in the following esoteric phrases:

Tôi muốn gợi ý với các đạo sinh rằng nếu có thể, họ nên tìm đọc Khoa Học về Cảm Xúc của Bhagavan Das. Đó là một khảo luận có năng lực về thể cảm dục và thể cảm thụ, và bàn đến những yếu tố liên quan gần gũi nhất đến người chí nguyện khi y đối diện với vấn đề thấu hiểu và kiểm soát bản chất xúc cảm của mình, làm chủ kỹ thuật phát triển, tái định hướng nó đến kinh nghiệm rộng lớn hơn và chuẩn bị nó cho các thử thách cùng những mở rộng của lần điểm đạo lớn thứ hai — phép rửa và sự nhập lưu sau cùng. Nói theo ẩn dụ, kinh nghiệm đang nằm phía trước trên Đường Đạo được bao hàm trong những cụm từ huyền bí sau:

Webinar Program 25 – Rule 10.9

“When the stream enters the River of Life, its passage can be traced for a short moment and then is lost. When the currents of the sentient life meet where the river passes round the mountain’s massive foot, then one vast stream is seen which floweth north.”

“Khi dòng suối nhập vào Dòng Sông Sự Sống, lối đi của nó có thể được lần theo trong một khoảnh khắc ngắn ngủi rồi mất hút. Khi các dòng chảy của đời sống cảm thụ gặp nhau nơi dòng sông lượn quanh chân núi đồ sộ, bấy giờ người ta thấy một dòng lớn mênh mông chảy về phương bắc.”

The symbology of this is apparent, and can be also used to depict the flow of the two currents—Ida and Pingala—and their blending in the river of energy that mounts to the head. There is the meeting place, and there the sacrifice, enacted upon the mount of Golgotha (the place of the skull). [297]

Biểu tượng của điều này rất rõ, và cũng có thể được dùng để mô tả dòng chảy của hai luồng — Ida và Pingala — cùng sự hòa hợp của chúng trong dòng sông năng lượng vươn lên đầu. Ở đó là nơi gặp gỡ, và ở đó là sự hy sinh, được thực hiện trên núi Sọ. [297]

In considering the sentient body of a human being I will probably help the most if I deal with it in terms of its moods and ordinary expressions, for it is only in dealing with its effects and in seeking to master them that man arrives at knowledge of himself and so becomes a Master. The most ordinary manifestations of astral activity are:

Khi xem xét thể cảm thụ của một con người, có lẽ Tôi sẽ giúp ích nhiều nhất nếu bàn về nó theo các tâm trạng và các biểu hiện thông thường của nó, vì chỉ trong việc xử lý các hiệu quả của nó và tìm cách làm chủ chúng, con người mới đạt tới tri thức về chính mình và nhờ đó trở thành một Chân sư. Những biểu hiện thông thường nhất của hoạt động cảm dục là:

I. Fear.

I. Sợ hãi.

II. Depression or its opposite pole, hilarity.

II. Trầm cảm, hoặc cực đối lập của nó là sự vui nhộn quá độ.

III. Desire for the satisfaction of the animal appetites.

III. Dục vọng thỏa mãn các thèm muốn thú tính.

IV. Desire for happiness.

IV. Dục vọng về hạnh phúc.

V. Desire for liberation. Aspiration.

V. Dục vọng giải thoát. Khát vọng.

In these five are summed up practically most of the sentient experiences of man and we will consider each one from the following angles:

Trong năm điều này hầu như được tổng kết phần lớn các kinh nghiệm cảm thụ của con người, và chúng ta sẽ xem xét từng điều từ các góc độ sau:

1. The cause.

1. Nguyên nhân.

2. The effect.

2. Hiệu quả.

3. The method of direction.

3. Phương pháp định hướng.

You will note that I say ‘method of direction’ not method of control. Aspirants must learn that they are working with, and in, forces, and that right and wrong activity on the physical plane is due simply to a right or wrong direction of the force currents and not to anything inherently wrong or right in the energies themselves.

Các bạn sẽ lưu ý rằng Tôi nói “phương pháp định hướng”, chứ không phải phương pháp kiểm soát. Những người chí nguyện phải học rằng họ đang làm việc với các mãnh lực và trong các mãnh lực, và rằng hoạt động đúng hay sai trên cõi hồng trần chỉ đơn giản là do sự định hướng đúng hay sai của các dòng mãnh lực, chứ không phải do điều gì vốn sai hay đúng trong chính các năng lượng ấy.

I. Fear. This is one of the most usual of the manifestations of astral energy, and is put first because it constitutes, for the vast majority, the Dweller on the Threshold and also in the last analysis is the basic astral evil. Every human being knows fear and the range of the fear vibrations extends from the instinctual fears of the savage man based on his ignorance of the laws and forces of nature, and on his terror of the dark and the unknown, to the fears so prevalent today of loss of friends and loved ones, of health, of money, of popularity [298] and on to the final fears of the aspirant—the fear of failure, the fear which has its roots in doubt, the fear of ultimate negation or of annihilation, the fear of death (which he shares equally with all humanity) the fear of the great illusion of the astral plane, of the phantasmagoria of life itself, and also fear of loneliness on the Path, even to the very fear of Fear itself. This list could be largely extended but suffices to indicate the prevalence of fears of all kinds. They dominate most situations and darken many happy moments. They reduce man to a timid and frightened atom of sentient life, standing afraid before the stupendousness of the problems of existence, aware of his insufficiency as a man to cope with all situations and unable to leave his fears and questionings behind and step into his heritage of freedom and of life. Often he is so ridden by fear that he becomes afraid of his very reason. The picture cannot be too blackly coloured, for fear is the dominant astral energy at this time and sensitive humanity succumbs all too easily to it.

I. Sợ hãi. Đây là một trong những biểu hiện thông thường nhất của năng lượng cảm dục, và được đặt trước tiên vì đối với đại đa số, nó cấu thành Kẻ Chận Ngõ, và trong phân tích sau cùng, cũng là cái ác cảm dục căn bản. Mọi con người đều biết sợ hãi, và phạm vi các rung động sợ hãi trải dài từ những nỗi sợ bản năng của con người man dã, dựa trên sự vô minh của y về các định luật và mãnh lực của thiên nhiên, cũng như nỗi kinh hoàng của y trước bóng tối và điều chưa biết, đến những nỗi sợ rất phổ biến ngày nay về việc mất bạn bè và người thân yêu, mất sức khỏe, tiền bạc, sự nổi tiếng [298] và tiếp đến là những nỗi sợ sau cùng của người chí nguyện — sợ thất bại, nỗi sợ có gốc rễ trong hoài nghi, nỗi sợ sự phủ định tối hậu hoặc sự hủy diệt, sợ chết, điều y chia sẻ ngang bằng với toàn thể nhân loại, sợ đại ảo tưởng của cõi cảm dục, sợ ảo ảnh biến hiện của chính đời sống, và cũng sợ sự cô đơn trên Đường Đạo, thậm chí đến chính nỗi sợ Sợ Hãi. Danh sách này có thể được mở rộng rất nhiều, nhưng như vậy cũng đủ để chỉ ra sự phổ biến của mọi loại sợ hãi. Chúng chi phối phần lớn các tình huống và phủ bóng tối lên nhiều khoảnh khắc hạnh phúc. Chúng thu nhỏ con người thành một nguyên tử nhút nhát và khiếp sợ của đời sống cảm thụ, đứng run sợ trước tính đồ sộ của các vấn đề hiện hữu, nhận biết sự bất lực của mình với tư cách con người trong việc đương đầu với mọi tình huống, và không thể bỏ lại phía sau các nỗi sợ cùng những câu hỏi của mình để bước vào di sản tự do và sự sống. Thường khi y bị sợ hãi chế ngự đến mức trở nên sợ chính lý trí của mình. Bức tranh không thể bị tô quá đen tối, vì sợ hãi là năng lượng cảm dục đang chi phối vào lúc này, và nhân loại nhạy cảm quá dễ dàng khuất phục trước nó.