← A Treatise on White Magic – Alice A. Bailey

Webinar Program 26 – Rule 10.10

Webinar Program 26 – Rule 10.10

You ask: What are the basic causes of fear? To that question, if carried far enough back into the esoteric history of the solar system there is no intelligible answer to be given. Only the advanced initiate can comprehend. Fear has its roots in the warp and woof of matter itself, and is par excellence, a formulation or effect of the mind principle, and a result of mental activity. The fact that birds and animals know fear puts the whole subject upon a wider footing than if it were simply a human failing and the result of the activity of the functioning of the human mind. It is not incident upon a man’s possessing a reasoning mind; if he used his reason in the correct way he could eliminate fear. It lies in what is called cosmic Evil—a high sounding phrase, conveying little. It is inherent in the fact of matter itself and in the play of the pairs of opposites—soul and matter. The sentient souls [299] of animals and of men are subconsciously aware of factors such as:

Các bạn hỏi: Những nguyên nhân căn bản của sợ hãi là gì? Đối với câu hỏi ấy, nếu truy nguyên đủ xa vào lịch sử huyền bí của hệ mặt trời, thì không có câu trả lời nào có thể hiểu được. Chỉ điểm đạo đồ cao cấp mới có thể lĩnh hội. Sợ hãi có gốc rễ trong chính sợi dọc và sợi ngang của vật chất, và đặc biệt là một sự hình thành hay hiệu quả của nguyên khí trí tuệ, và là kết quả của hoạt động trí tuệ. Sự kiện chim chóc và thú vật biết sợ đặt toàn bộ đề tài này trên một nền tảng rộng hơn nhiều so với nếu nó chỉ đơn giản là một nhược điểm của con người và là kết quả của hoạt động vận hành của thể trí con người. Nó không phát sinh do con người sở hữu trí tuệ biết lý luận; nếu y dùng lý trí của mình đúng cách, y có thể loại bỏ sợ hãi. Nó nằm trong điều được gọi là Cái Ác vũ trụ — một cụm từ nghe cao xa nhưng truyền đạt rất ít. Nó vốn có trong chính sự kiện của vật chất và trong sự vận hành của các cặp đối cực — linh hồn và vật chất. Các linh hồn cảm thụ [299] của động vật và con người đều nhận biết một cách tiềm thức những yếu tố như:

1. The vastness and therefore the sensed oppression of the Whole.

1. Tính bao la, và vì vậy là sự áp bức được cảm nhận, của Toàn Thể.

2. The pressure of all other lives and existences.

2. Áp lực của mọi sự sống và hiện hữu khác.

3. The working of inexorable Law.

3. Sự vận hành của Định luật không thể cưỡng lại.

4. The sense of imprisonment, of limitation, and of consequent inadequacy.

4. Cảm thức bị giam hãm, bị giới hạn, và do đó bất túc.

In these factors, growing out of the manifested process itself and persisting and growing in potency during the ages, are found the causes of all modern fear and the basis of all terror, above all that which is purely psychological and not just the instinctual fear of the animal.

Trong các yếu tố này, phát sinh từ chính tiến trình biểu hiện và tồn tại cũng như tăng trưởng về uy lực qua các thời đại, người ta tìm thấy nguyên nhân của mọi nỗi sợ hiện đại và nền tảng của mọi kinh hoàng, trên hết là loại hoàn toàn thuộc tâm lý chứ không chỉ là nỗi sợ bản năng của con vật.

To concretise the matter more clearly would not help. Of what use is it to be told that fear is a quality of evil (or of matter) which colours fundamentally or characterises the astral or sentient body of our planetary Logos? What have you gained if I outlined to you the problem of the great Life in Whom we live and move and have our being as He, on His Own cosmic plane, seeks liberation and faces His Own peculiar trials and tests? How can words adequate be found to convey a cosmic struggle between Lives so impersonal and exalted in consciousness that the words his, or he or tests prove simply laughable and convey no possible aspect of truth or reality whatsoever? Cosmic evil, cosmic progression, or cosmic problems can well be left to that distant time when aspirants have taken the third initiation, have lost all sense of separateness, and—being identified with the Life Aspect and not with the form side—can therefore enter somewhat into the state of consciousness of our planetary Logos, sense His destiny, and vision fleetingly the wonder of the consummation.

Cụ thể hóa vấn đề rõ hơn sẽ không giúp ích. Có ích gì khi được bảo rằng sợ hãi là một phẩm tính của cái ác, hay của vật chất, vốn tô màu căn bản hoặc đặc trưng cho thể cảm dục hay cảm thụ của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta? Các bạn đạt được gì nếu Tôi phác họa cho các bạn vấn đề của Sự Sống vĩ đại, trong Đấng mà chúng ta sống, chuyển động và có bản thể của mình, khi Ngài, trên cõi vũ trụ riêng của Ngài, tìm kiếm giải thoát và đối diện với các thử thách cùng trắc nghiệm đặc thù của chính Ngài? Làm sao có thể tìm được lời lẽ thích đáng để truyền đạt một cuộc đấu tranh vũ trụ giữa những Sự Sống vô ngã và cao cả trong tâm thức đến mức các từ như “của Ngài”, “Ngài” hay “thử thách” chỉ đơn giản trở nên buồn cười và không truyền đạt được bất cứ phương diện nào có thể có của chân lý hay thực tại? Cái ác vũ trụ, sự tiến triển vũ trụ, hay các vấn đề vũ trụ rất có thể được để lại cho thời điểm xa xôi khi những người chí nguyện đã nhận lần điểm đạo thứ ba, đã mất mọi cảm thức phân ly, và — nhờ đồng hoá với Phương diện Sự Sống chứ không với phía hình tướng — do đó có thể phần nào đi vào trạng thái tâm thức của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, cảm nhận định mệnh của Ngài, và thoáng thấy linh ảnh về sự kỳ diệu của cuộc viên thành.

Let us confine our attention therefore to man and more [300] particularly to average man, and see whence come the waves of fear which sweep him so constantly off his feet.

Vì vậy, chúng ta hãy giới hạn sự chú ý của mình vào con người, và đặc biệt hơn [300] vào con người trung bình, và xem những làn sóng sợ hãi thường xuyên cuốn y ngã quỵ đến từ đâu.

1. The Fear of Death is based upon:

1. Nỗi sợ chết dựa trên:

a. A terror of the final rending processes in the act of death itself.

a. Nỗi kinh hoàng trước các tiến trình xé lìa sau cùng trong chính hành vi chết.

b. Horror of the unknown and the indefinable.

b. Sự khiếp sợ trước điều chưa biết và điều không thể định nghĩa.

c. Doubt as to final immortality.

c. Hoài nghi về sự bất tử sau cùng.

d. Unhappiness at leaving loved ones behind or of being left behind.

d. Nỗi bất hạnh khi phải bỏ lại người thân yêu, hoặc bị bỏ lại.

e. Ancient reactions to past violent deaths, lying deep in the subconsciousness.

e. Các phản ứng cổ xưa đối với những cái chết dữ dội trong quá khứ, nằm sâu trong tiềm thức.

f. Clinging to form life, because primarily identified with it in consciousness.

f. Sự bám víu vào đời sống hình tướng, vì trong tâm thức chủ yếu đã đồng hoá với nó.

g. Old erroneous teaching as to Heaven and Hell, both equally unpleasant in prospect to certain types.

g. Giáo huấn sai lầm xưa cũ về Thiên đường và Địa ngục, cả hai đều là viễn cảnh khó chịu ngang nhau đối với một số loại người.

I speak about Death as one who knows the matter from both the outer world experience and the inner life expression: —There is no death. There is, as you know, entrance into fuller life. There is freedom from the handicaps of the fleshly vehicle. The rending process so such dreaded does not exist, except in the cases of violent and of sudden death and then the only true disagreeables are an instant and overwhelming sense of imminent peril and destruction, and something closely approaching an electric shock. No more. For the unevolved, death is literally a sleep and a forgetting, for the mind is not sufficiently awakened to react, and the storehouse of memory is as yet practically empty. For the average good citizen, death is a continuance of the living process in his consciousness and a carrying forward of the interests and tendencies of the life. His consciousness and his sense of awareness are the same and unaltered. He does not sense much difference, is well taken care of, and oft is unaware that he has passed [301] through the episode of death. For the wicked and cruelly selfish, for the criminal and for those few who live for the material side only, there eventuates that condition which we call ‘earth-bound’. The links they have forged with earth and the earthward bias of all their desires force them to remain close to the earth and their last setting in the earth environment. They seek desperately and by every possible means to re-contact it and to re-enter. In a few cases, great personal love for those left behind or the non-fulfilment of a recognised and urgent duty holds the good and beautiful in a somewhat similar condition. For the aspirant, death is an immediate entrance into a sphere of service and of expression to which he is well accustomed and which he at once recognises as not new. In his sleeping hours he has developed a field of active service and of learning. He now simply functions in it for the entire twenty-four hours (talking in terms of physical plane time) instead of for his usual few hours of earthly sleep.

Tôi nói về Cái Chết như một người biết rõ vấn đề từ cả kinh nghiệm thế giới bên ngoài lẫn sự biểu lộ đời sống bên trong: không có cái chết. Như các bạn biết, chỉ có sự bước vào đời sống đầy đủ hơn. Có sự tự do khỏi những trở ngại của vận cụ bằng xác thịt. Tiến trình xé lìa bị kinh sợ đến thế không tồn tại, ngoại trừ trong các trường hợp chết dữ dội và đột ngột; và khi ấy những điều thật sự khó chịu duy nhất là một cảm giác tức thời và áp đảo về hiểm nguy và hủy diệt sắp xảy ra, cùng một điều gì đó rất gần với một cú sốc điện. Không hơn. Đối với người chưa tiến hoá, cái chết đúng nghĩa là một giấc ngủ và sự quên lãng, vì thể trí chưa đủ thức tỉnh để phản ứng, và kho ký ức thực tế vẫn còn trống rỗng. Đối với công dân trung bình tốt lành, cái chết là sự tiếp tục của tiến trình sống trong tâm thức của y và sự nối tiếp các mối quan tâm cùng khuynh hướng của đời sống. Tâm thức và cảm thức nhận biết của y vẫn như cũ và không đổi. Y không cảm thấy có nhiều khác biệt, được chăm sóc chu đáo, và thường không hay biết rằng mình đã đi qua [301] biến cố của cái chết. Đối với kẻ ác và ích kỷ tàn nhẫn, đối với tội phạm và đối với một số ít người chỉ sống cho phía vật chất, sẽ xảy ra tình trạng mà chúng ta gọi là “bị ràng buộc với trần gian”. Những mối liên kết mà họ đã rèn tạo với Trái Đất và khuynh hướng hướng xuống trần gian của mọi dục vọng buộc họ phải ở gần Trái Đất và bối cảnh sau cùng của họ trong môi trường trần gian. Họ tuyệt vọng tìm cách, bằng mọi phương tiện có thể, để tái tiếp xúc với nó và tái nhập vào đó. Trong một vài trường hợp, tình thương cá nhân mãnh liệt đối với những người bị bỏ lại, hoặc việc chưa hoàn thành một bổn phận được nhận biết là khẩn thiết, giữ người tốt lành và đẹp đẽ trong một tình trạng phần nào tương tự. Đối với người chí nguyện, cái chết là sự bước vào tức khắc một khối cầu phụng sự và biểu lộ mà y đã rất quen thuộc và ngay lập tức nhận ra là không mới. Trong những giờ ngủ, y đã phát triển một lĩnh vực phụng sự và học hỏi tích cực. Giờ đây y chỉ đơn giản hoạt động trong đó suốt trọn hai mươi bốn giờ, nói theo thời gian cõi hồng trần, thay vì vài giờ ngủ trần gian thường lệ của mình.

As time progresses and before the close of the next century death will be finally seen to be non-existent in the sense in which it is now understood. Continuity of consciousness will be so widely developed and so many of the highest types of men will function simultaneously in the two worlds that the old fear will go and the intercourse between the astral plane and the physical plane will be so firmly established and so scientifically controlled that the work of the trance mediums will rightly and mercifully come to an end. The ordinary common trance mediumship and materialisations under controls and Indian guides are just as much perversions of the intercourse between the two planes as are sex perversions and the distortions of the true relationship and intercourse between the sexes. I refer not here to the work of clairvoyants, no matter how poor, nor to the taking possession of the body by entities of high calibre, but of [302] the unpleasant phenomena of the materialisation seance, of ectoplasm, and the blind unintelligent work done by old Atlantean degenerates and earthbound souls, the average Indian chief and guide. There is nothing to be learned from them and much to be avoided. The reign of the fear of death is well-nigh ended and we shall soon enter upon a period of knowledge and of certainty which will cut away the ground from under all our fears. In dealing with the fear of death, there is little to be done except to raise the whole subject onto a more scientific level, and—in this scientific sense—teach people to die. There is a technique of dying just as there is of living, but this technique has been lost very largely in the West and is almost lost except in a few centres of Knowers in the East. More of this can perhaps be dealt with later but the thought of the needed approach to this subject can rest in the minds of the students who read this and perhaps as they study and read and think, material of interest will come their way which could be gradually assembled and published.

Khi thời gian tiến triển và trước khi kết thúc thế kỷ tới, cái chết cuối cùng sẽ được thấy là không tồn tại theo ý nghĩa mà hiện nay nó được hiểu. Sự liên tục của tâm thức sẽ được phát triển rộng rãi đến mức, và nhiều loại người cao nhất sẽ hoạt động đồng thời trong hai thế giới đến mức, nỗi sợ xưa cũ sẽ mất đi; và sự giao tiếp giữa cõi cảm dục và cõi hồng trần sẽ được thiết lập vững chắc và được kiểm soát một cách khoa học đến mức công việc của các đồng tử xuất thần sẽ kết thúc một cách đúng đắn và nhân từ. Đồng cốt xuất thần thông thường và các hiện hình dưới sự kiểm soát của những thực thể điều khiển và những người hướng dẫn da đỏ cũng là những sự xuyên tạc của mối giao tiếp giữa hai cõi, chẳng khác gì các lệch lạc tình dục và những bóp méo của mối quan hệ cũng như giao tiếp chân chính giữa hai giới. Ở đây Tôi không nói đến công việc của các nhà thông nhãn, dù còn kém đến đâu, cũng không nói đến việc thể xác bị các thực thể có phẩm chất cao chiếm hữu, mà nói đến [302] những hiện tượng khó chịu của buổi gọi hồn hiện hình, của chất ngoại hiện, và công việc mù quáng, thiếu thông minh do những kẻ Atlantis thoái hóa xưa cũ và các linh hồn bị ràng buộc với trần gian, vị tù trưởng da đỏ và người hướng dẫn trung bình, thực hiện. Không có gì để học từ họ và có rất nhiều điều cần tránh. Sự thống trị của nỗi sợ chết hầu như đã chấm dứt, và chúng ta sẽ sớm bước vào một thời kỳ của tri thức và sự chắc chắn, điều sẽ cắt mất nền tảng dưới mọi nỗi sợ của chúng ta. Trong việc xử lý nỗi sợ chết, chẳng có mấy điều cần làm ngoài việc nâng toàn bộ đề tài lên một cấp độ khoa học hơn, và — theo nghĩa khoa học này — dạy con người biết chết. Có một kỹ thuật của sự chết cũng như có một kỹ thuật của sự sống, nhưng kỹ thuật này phần lớn đã bị mất ở phương Tây và hầu như đã mất, ngoại trừ trong một vài trung tâm của các Thức Giả ở phương Đông. Có lẽ về sau có thể bàn thêm về điều này, nhưng tư tưởng về cách tiếp cận cần thiết đối với đề tài này có thể lưu lại trong trí của các đạo sinh đọc những dòng này; và có lẽ khi họ học, đọc và suy nghĩ, tài liệu đáng quan tâm sẽ đến với họ, có thể dần dần được tập hợp và xuất bản.

2. Fear of the Future. This is a fear that will as yet show a growing tendency to develop and will cause much distress in the world before it is obliterated. It grows out of three human capacities:

2. Nỗi sợ tương lai. Đây là một nỗi sợ hiện vẫn sẽ cho thấy khuynh hướng phát triển ngày càng tăng và sẽ gây nhiều đau khổ trên thế giới trước khi nó bị xóa bỏ. Nó phát sinh từ ba năng lực của con người:

a. Instinctive psychological thought habits, which have their roots deep in the animal nature and hark back to the primal instinct of self-preservation. Savage races however, have little of this. That forward looking anticipatory state of mind is predominantly a human characteristic and is that germ of the imaginative faculty, linked to the mental processes, which will eventually merge into that intuitive meditation, plus visualisation, which is the true basis of all creative work. But at present it is a menace and a hindrance. Ancient suffering, dire memories, haunting miseries, deep-seated in the subconscious rise to the surface frequently and cause a condition [303] of fear and of distress which no amount of reasoning seems able to quiet. Facilities of communication put even the most unimportant en rapport with the tragedies, pains and sufferings of his brother thousands of miles away. The economic catastrophe of the present time has brought about a condition of mass terror, and the more sensitive the individual the more he will react to this state of mind. Fear of the future is therefore a distressing blend of instinctual memory and anticipatory imagination, and few there are who escape this menace. Worry and anxiety are the lot of every man and cannot and will not be offset and overcome by any lesser factor than the soul itself.

a. Các thói quen tư tưởng tâm lý bản năng, có gốc rễ sâu trong bản chất thú tính và quay về bản năng nguyên thủy tự bảo tồn. Tuy nhiên, các giống dân man dã ít có điều này. Trạng thái trí hướng về phía trước và dự đoán ấy chủ yếu là một đặc tính của con người, và là mầm của năng lực tưởng tượng, được liên kết với các tiến trình trí tuệ, cuối cùng sẽ hòa nhập vào sự tham thiền trực giác, cộng với sự hình dung, vốn là nền tảng chân chính của mọi công việc sáng tạo. Nhưng hiện nay nó là một mối đe dọa và một trở ngại. Khổ đau cổ xưa, ký ức thảm khốc, những nỗi khốn cùng ám ảnh, nằm sâu trong tiềm thức, thường trồi lên bề mặt và gây nên một tình trạng [303] sợ hãi và đau khổ mà dường như không lượng lý luận nào có thể làm lắng dịu. Các phương tiện truyền thông đặt ngay cả người không quan trọng nhất vào tương quan với những bi kịch, đau đớn và khổ nạn của huynh đệ y ở cách xa hàng ngàn dặm. Thảm họa kinh tế của thời hiện tại đã tạo ra một tình trạng kinh hoàng tập thể, và cá nhân càng nhạy cảm thì y càng phản ứng với trạng thái trí này. Vì vậy, nỗi sợ tương lai là một sự pha trộn gây đau khổ giữa ký ức bản năng và trí tưởng tượng dự đoán, và hiếm có ai thoát khỏi mối đe dọa này. Lo âu và băn khoăn là phần số của mọi người, và không thể cũng sẽ không được hóa giải hay vượt qua bởi bất cứ yếu tố nào thấp hơn chính linh hồn.

b. The flashes of prevision emanating from the soul who is dwelling in the consciousness of the Eternal Now. When contact with the soul is firmly established and the consciousness of the Knower is stabilised in the brain then prevision will carry with it no terror. The picture will then be seen as a whole, and not as a passing and fragmentary glimpse as is now the case. So again, the remedy remains the same: the establishing of such close relations between the soul and the brain, via the trained and controlled mind, that cause and effect will be seen as one, and right steps can be taken to handle situations correctly and to the best advantage. Prevision seldom takes the form of forecasting happiness, and the reason is not far to seek. The race is at a point where the prodigal son is conscious of the husks and of the futility of earthly life. He is ready for a careful consideration of the Buddha’s message, and he is ready because he has been devoured for centuries by war and famine, by desire and by the economic struggle. The vista he sees before him appears black and forbidding and full of cataclysmic disaster.

b. Những tia chớp tiên tri phát xuất từ linh hồn đang ngự trong tâm thức của Hiện Tại Vĩnh Cửu. Khi sự tiếp xúc với linh hồn được thiết lập vững chắc và tâm thức của thức giả được ổn định trong bộ não, bấy giờ khả năng tiên tri sẽ không mang theo sự kinh hoàng. Bức tranh khi ấy sẽ được thấy như một toàn thể, chứ không như một thoáng nhìn thoáng qua và rời rạc như hiện nay. Vì vậy, một lần nữa, phương thuốc vẫn như cũ: thiết lập những mối liên hệ gần gũi đến mức giữa linh hồn và bộ não, qua thể trí được rèn luyện và kiểm soát, để nguyên nhân và kết quả được thấy như một, và các bước đúng đắn có thể được thực hiện nhằm xử lý các tình huống một cách đúng đắn và hữu ích nhất. Tiên tri hiếm khi mang hình thức dự báo hạnh phúc, và lý do không khó tìm. Nhân loại đang ở một điểm mà người con hoang đàng ý thức được những vỏ trấu và sự vô ích của đời sống trần gian. Y đã sẵn sàng để xem xét cẩn trọng thông điệp của Đức Phật, và y sẵn sàng vì trong nhiều thế kỷ y đã bị chiến tranh và đói kém, dục vọng và cuộc đấu tranh kinh tế nuốt chửng. Viễn cảnh y thấy trước mặt mình có vẻ tối tăm, đáng sợ và đầy tai họa thảm khốc.

Yet if men carried the concept of brotherhood with all its implications into the life and work of every day, into [304] all intercourse whether between the capitalist and the labourer, the politician and the people, between nation and nation, or between race and race, there would emerge that peace on earth which nothing could upset or overturn. So simple a rule, and yet utterly beyond the mental grasp of the majority!

Tuy nhiên, nếu con người đưa khái niệm huynh đệ với mọi hàm ý của nó vào đời sống và công việc hằng ngày, vào [304] mọi giao tiếp, dù giữa nhà tư bản và người lao động, chính khách và dân chúng, giữa quốc gia với quốc gia, hay giữa chủng tộc với chủng tộc, thì sẽ xuất hiện nền hòa bình trên Trái Đất mà không gì có thể làm đảo lộn hay lật đổ. Một quy luật thật đơn giản, thế mà lại hoàn toàn vượt ngoài tầm nắm bắt của trí tuệ đa số!

Webinar Program 27 – Rule 10.11

c. A mass of individual distress and fear can be taken on by an individual and yet have nothing to do with him whatsoever. It is quite possible for a man to tune in on the fears of other people whilst he himself has literally nothing to fear of any kind. He can so identify himself with their forebodings of future disaster that he interprets them in terms of his own coming experience. He is unable to dissociate himself from their reactions and absorbs so much of the poison in their emotional and mental auras that he is swept into a very vortex of terror and of fear. Yet, if he did but know it, the future holds for him no hidden catastrophes. He is simply deluded, but the effect on his astral body and upon his solar plexus is identically the same. This is painfully the case now that there are so many thousands of sensitive aspiring souls, inexperienced in the handling of the world karma, wide open to the suffering of others and unable to distinguish between their own destiny in the immediate future and the destiny of others in their environment.

c. Một khối đau khổ và sợ hãi cá nhân có thể được một cá nhân tiếp nhận, nhưng lại không liên quan gì đến y cả. Hoàn toàn có thể một người bắt được làn sóng sợ hãi của người khác, trong khi bản thân y thật sự không có bất cứ điều gì phải sợ. Y có thể đồng hoá mình với những linh cảm của họ về tai họa tương lai đến mức diễn giải chúng như kinh nghiệm sắp đến của chính mình. Y không thể tách mình khỏi các phản ứng của họ và hấp thụ quá nhiều chất độc trong các hào quang xúc cảm và trí tuệ của họ đến mức bị cuốn vào chính một xoáy lốc kinh hoàng và sợ hãi. Thế nhưng, nếu y chỉ biết điều đó, thì tương lai không chứa đựng cho y những tai họa ẩn giấu nào. Y chỉ đơn giản bị mê lầm, nhưng hiệu quả trên thể cảm dục và trên tùng thái dương của y thì hoàn toàn giống nhau. Điều này hiện nay là trường hợp rất đau đớn, khi có hàng ngàn linh hồn chí nguyện nhạy cảm, thiếu kinh nghiệm trong việc xử lý nghiệp quả thế giới, mở rộng trước khổ đau của người khác và không thể phân biệt giữa định mệnh của chính mình trong tương lai gần với định mệnh của những người khác trong môi trường của họ.

It is possible also for the more advanced aspirant and those upon the Path of Discipleship to contact ancient vibrations of evil and misery on the astral plane—evil long past and gone; it is possible for them to read a tiny fragment of the akashic records which concerns coming distress to an individual or a group, which they themselves may never see and yet nevertheless appropriate the conveyed information to themselves and suffer consequently.

Cũng có thể đối với người chí nguyện tiến bộ hơn và những người trên Con Đường Đệ Tử, họ tiếp xúc với các rung động cổ xưa của cái ác và khốn khổ trên cõi cảm dục — cái ác đã qua từ lâu và đã mất; cũng có thể họ đọc được một mảnh rất nhỏ của các ký ảnh tiên thiên liên quan đến nỗi khổ sắp đến cho một cá nhân hay một nhóm, điều mà chính họ có thể không bao giờ thấy, nhưng tuy vậy lại quy thông tin được truyền đạt ấy về chính mình và do đó chịu khổ.

3. Fear of Physical Pain. Some people have this fear as the underlying cause of all their anxieties, little though [305] they may recognise it. It is really a result of the other three classes of fears; of the strain which they put upon their astral body, and the tension caused by the use of the imaginative faculty and the reasoning tension in the physical nervous system. This system becomes very much over-sensitised and capable of the most acute physical suffering. Ills and ails which would seem of no vital importance to the ordinary and more phlegmatic types are aggravated into a condition of real agony. This should be recognised by those who care for the sick and steps should be taken to minimise the physical condition through the use of sedatives and of anesthetics so that undue strain should not be put on an already overworked nervous system.

3. Nỗi sợ đau đớn thể xác. Một số người có nỗi sợ này như nguyên nhân nền tảng của mọi lo âu của họ, dù [305] họ có thể ít nhận ra điều ấy. Nó thật ra là kết quả của ba loại sợ hãi kia; của sức căng mà chúng đặt lên thể cảm dục của họ, và của sự căng thẳng do việc sử dụng năng lực tưởng tượng cùng sức căng lý luận trong hệ thần kinh thể xác. Hệ thống này trở nên quá nhạy cảm và có khả năng chịu đựng nỗi đau thể xác sắc bén nhất. Những bệnh tật và đau yếu dường như không có tầm quan trọng sống còn đối với những loại người bình thường và điềm đạm hơn lại bị khuếch đại thành một tình trạng thống khổ thật sự. Điều này nên được những người chăm sóc bệnh nhân nhận biết, và cần thực hiện các bước để giảm thiểu tình trạng thể xác qua việc dùng thuốc an thần và thuốc gây mê, sao cho không đặt sức căng quá mức lên một hệ thần kinh vốn đã làm việc quá tải.

You ask me whether I am endorsing the use of ether and chloroform in operations, and of sedative drugs. Not basically, but most certainly temporarily. When man’s contact with his soul is firmly established, and when he has developed the faculty of passing in and out of his physical body at will, these helps will no longer be needed. They may be regarded in the meantime as emergency measures, necessitated by world karma and the point of evolution of the race. I am not of course referring to the use of narcotics and of drugs by hysterical and unbalanced people, but to the judicious use of ameliorants of pain under the wise guidance of the physician.

Các bạn hỏi Tôi liệu Tôi có tán thành việc dùng ê-te và clorofom trong phẫu thuật, cũng như các thuốc an thần hay không. Về căn bản thì không, nhưng chắc chắn là tạm thời thì có. Khi sự tiếp xúc của con người với linh hồn của mình được thiết lập vững chắc, và khi y đã phát triển năng lực ra khỏi và đi vào thể xác theo ý muốn, những trợ giúp này sẽ không còn cần thiết. Trong lúc này, chúng có thể được xem như các biện pháp khẩn cấp, do nghiệp quả thế giới và điểm tiến hoá của nhân loại đòi hỏi. Dĩ nhiên, Tôi không nói đến việc dùng ma túy và thuốc men bởi những người cuồng loạn và mất quân bình, mà nói đến việc sử dụng thận trọng các phương tiện làm dịu đau dưới sự hướng dẫn minh triết của y sĩ.

4. Fear of Failure. This affects many people along many lines. The fear that one may fail to make good, the fear that we may not gain the love and admiration of those we love, the fear that others despise us or look down upon us, the fear that one may fail to see and grasp opportunity, these are all aspects of the fear complex which colours the lives of so many worthy people. This can be based upon an environment which is uncongenial and unappreciative, on an equipment which seems inadequate [306] to its task, and in many cases has its roots in the fact that a man is a disciple, or a really big soul ready to tread the Probationary Path.

4. Nỗi sợ thất bại. Điều này ảnh hưởng đến nhiều người trên nhiều đường hướng. Nỗi sợ rằng mình có thể không thành công, nỗi sợ rằng chúng ta có thể không giành được tình thương và sự ngưỡng mộ của những người chúng ta yêu, nỗi sợ rằng người khác khinh miệt hoặc xem thường chúng ta, nỗi sợ rằng mình có thể không thấy và nắm bắt được cơ hội — tất cả đều là các phương diện của phức cảm sợ hãi, vốn tô màu đời sống của rất nhiều người xứng đáng. Điều này có thể dựa trên một môi trường không thuận hợp và không biết trân trọng, trên một trang bị có vẻ không tương xứng [306] với nhiệm vụ của nó, và trong nhiều trường hợp có gốc rễ trong sự kiện rằng một người là đệ tử, hoặc là một linh hồn thật sự lớn lao, sẵn sàng bước vào Con Đường Dự Bị.

He has had a touch of soul contact; he has seen the vision and the possibility; he looks at his personality and ranges it up alongside the work to be done, and the quality of the people with whom that has brought him into contact. The result is an inferiority complex of a most powerful kind, because fed by real streams of force from above. Energy, we know, follows thought and is tinctured by the quality of that thought. The man turns a critical and disgusted eye upon his personality and by so doing feeds the very things which he deplores and thus renders himself still more inadequate to the task. It is a vicious circle of effort and must be offset by a complete realisation of the truth contained in the words: “As a man thinketh, so is he.” As he dwells upon the nature of his omniscient soul, he becomes like that soul. His thought is focussed in the soul consciousness and he becomes that soul in manifestation through the medium of the personality.

Y đã có một chạm đến tiếp xúc linh hồn; y đã thấy linh ảnh và khả năng; y nhìn vào phàm ngã của mình và đặt nó bên cạnh công việc cần làm, cùng phẩm tính của những người mà công việc ấy đã đưa y vào tiếp xúc. Kết quả là một phức cảm tự ti thuộc loại mạnh mẽ nhất, vì nó được nuôi dưỡng bởi những dòng mãnh lực thật sự từ trên cao. Như chúng ta biết, năng lượng đi theo tư tưởng và bị nhuốm màu bởi phẩm tính của tư tưởng ấy. Con người hướng một con mắt phê phán và chán ghét vào phàm ngã của mình, và khi làm như vậy, y nuôi dưỡng chính những điều mà y than trách, nhờ đó khiến mình càng thêm bất túc đối với nhiệm vụ. Đó là một vòng luẩn quẩn của nỗ lực và phải được hóa giải bằng một sự nhận biết trọn vẹn chân lý chứa trong những lời: “Con người suy nghĩ thế nào, y là thế ấy.” Khi y an trú trong bản chất của linh hồn toàn tri của mình, y trở nên giống như linh hồn ấy. Tư tưởng của y được tập trung trong tâm thức linh hồn, và y trở thành chính linh hồn ấy trong biểu hiện qua trung gian của phàm ngã.

This is but a brief summation of the major fears which afflict humanity and serves only to open up the subject and give opportunity for a few practical suggestions.

Đây chỉ là một tóm lược ngắn về những nỗi sợ chính yếu đang làm khổ nhân loại, và chỉ nhằm mở ra đề tài cũng như tạo cơ hội cho một vài gợi ý thực tiễn.

II. Depression or its polar opposite, hilarity. When we touch on the subject of depression we are dealing with something so widespread that few escape its attacks. It is like a miasma, a fog which environs the man and makes it impossible for him to see clearly, walk surely, and cognise Reality. It is part of the great astral illusion and, if this is grasped, it will become apparent why depression exists, for the cause of it is either astral or physical and incident to a world situation or a personal situation. We might therefore study depression in individuals and look at its causes. It is caused by: [307]

II. Trầm cảm hoặc cực đối lập của nó là sự vui nhộn quá độ. Khi chúng ta chạm đến đề tài trầm cảm, chúng ta đang xử lý một điều phổ biến đến mức ít người thoát khỏi các cuộc tấn công của nó. Nó giống như một chướng khí, một màn sương bao quanh con người và khiến y không thể thấy rõ, bước vững và nhận biết Thực Tại. Nó là một phần của đại ảo tưởng cảm dục, và nếu điều này được nắm bắt, sẽ trở nên hiển nhiên vì sao trầm cảm tồn tại, bởi nguyên nhân của nó hoặc là cảm dục hoặc là hồng trần, và gắn liền với một tình trạng thế giới hoặc một tình trạng cá nhân. Vì vậy, chúng ta có thể nghiên cứu trầm cảm nơi các cá nhân và xem xét các nguyên nhân của nó. Nó do những điều sau gây ra: [307]

1. The world glamour. This sweeps an isolated unit, otherwise free from individual conditions producing depression, into the depths of a world reaction. This world glamour with its devitalising and depressing results has its roots in various factors which we have only the time to briefly indicate:

1. Ảo cảm thế giới. Điều này cuốn một đơn vị cô lập, vốn ngoài ra không bị các điều kiện cá nhân gây trầm cảm, vào chiều sâu của một phản ứng thế giới. Ảo cảm thế giới này, với các kết quả làm suy giảm sinh lực và gây trầm uất, có gốc rễ trong nhiều yếu tố khác nhau mà chúng ta chỉ có thời gian nêu vắn tắt:

a. Astrological factors, either affecting the planetary chart and hence individuals, or primarily racial. These two factors are oft overlooked.

a. Các yếu tố chiêm tinh, hoặc ảnh hưởng đến lá số hành tinh và do đó đến các cá nhân, hoặc chủ yếu là thuộc nhân loại. Hai yếu tố này thường bị bỏ qua.

b. The path of the sun in the heavens. The southern path tends to a lowered vibratory influence and aspirants should bear this in mind in autumn and the early winter months.

b. Đường đi của mặt trời trên bầu trời. Đường đi phía nam có khuynh hướng tạo ảnh hưởng rung động thấp hơn, và những người chí nguyện nên ghi nhớ điều này trong các tháng mùa thu và đầu mùa đông.

c. The dark half of the moon, the period towards the end of the waning moon, and the early new moon. This, as you well know, affects the meditation work.

c. Nửa tối của mặt trăng, giai đoạn về cuối kỳ trăng tàn, và đầu kỳ trăng mới. Như các bạn biết rõ, điều này ảnh hưởng đến công việc tham thiền.

d. Psychological factors and mass inhibitions due undoubtedly to forces external to the planet and to plans, obscure in their intent to ordinary humanity. These forces, playing upon the human race, affect the most sensitive; they in their turn affect their environment and gradually a momentum is established which sweeps through a race or a nation, through a period or a cycle of years, and produces conditions of profound depression and of mutual distrust. It causes a sad self-absorption and this we term a panic or a wave of unrest. The fact that the working out may be military, economic, social or political, that it may take the form of a war, of a religious inquisition, of financial stringency or international distrust is incidental. The causes lie back in the blue prints of the evolutionary process

d. Các yếu tố tâm lý và những ức chế tập thể, chắc chắn do các mãnh lực bên ngoài hành tinh và do những kế hoạch có ý định mơ hồ đối với nhân loại bình thường. Những mãnh lực này, khi tác động lên nhân loại, ảnh hưởng đến những người nhạy cảm nhất; đến lượt họ, họ ảnh hưởng đến môi trường của mình, và dần dần một đà lực được thiết lập, quét qua một giống dân hay một quốc gia, qua một thời kỳ hay một chu kỳ năm tháng, và tạo ra những tình trạng trầm cảm sâu sắc cùng sự ngờ vực lẫn nhau. Nó gây nên một sự tự thu mình buồn bã, và điều này chúng ta gọi là một cơn hoảng loạn hay một làn sóng bất an. Việc sự biểu hiện có thể là quân sự, kinh tế, xã hội hay chính trị, có thể mang hình thức chiến tranh, cuộc truy bức tôn giáo, sự thắt chặt tài chính hay sự ngờ vực quốc tế, chỉ là điều phụ thuộc. Các nguyên nhân nằm sâu trong những bản thiết kế của tiến trình tiến hoá

and are governed—even if unrealised—by the good Law. [308]

và được chi phối — dù không được nhận ra — bởi Định luật thiện hảo. [308]

2. Astral polarisation. Just as long as a man identifies himself with his emotional body, just as long as he interprets life in terms of his moods and feelings, just as long as he reacts to desire, just so long will he have his moments of despair, of darkness, of doubt, of dire distress, and of depression. They are due to delusion, to the glamour of the astral plane, which distorts, reverses and deceives. There is no need to dwell on this. If there is one factor aspirants recognise it is the need of freeing themselves from the Great Illusion. Arjuna knew this, yet succumbed to despair. Yet in his hour of need, Krishna failed him not, but laid down in the Gita the simple rules whereby depression and doubt can be overcome. They may be briefly summarised as follows:

2. Sự phân cực cảm dục. Chừng nào con người còn đồng hoá mình với thể xúc cảm của mình, chừng nào y còn diễn giải đời sống theo các tâm trạng và cảm xúc của mình, chừng nào y còn phản ứng với dục vọng, thì chừng ấy y vẫn sẽ có những khoảnh khắc tuyệt vọng, tối tăm, hoài nghi, khổ đau dữ dội và trầm cảm. Chúng do mê lầm, do ảo cảm của cõi cảm dục, vốn bóp méo, đảo ngược và lừa dối. Không cần phải bàn dài về điều này. Nếu có một yếu tố mà những người chí nguyện nhận ra, thì đó là nhu cầu giải phóng mình khỏi Đại Ảo Tưởng. Arjuna biết điều này, nhưng vẫn khuất phục trước tuyệt vọng. Tuy nhiên, trong giờ phút cần thiết của ông, Đức Krishna đã không bỏ rơi ông, mà đã nêu ra trong Chí Tôn Ca những quy luật đơn giản nhờ đó trầm cảm và hoài nghi có thể được vượt qua. Chúng có thể được tóm tắt vắn tắt như sau:

a. Know thyself to be the undying One.

a. Hãy biết chính mình là Đấng bất tử.

b. Control thy mind, for through that mind the undying One can be known.

b. Hãy kiểm soát thể trí của ngươi, vì qua thể trí ấy Đấng bất tử có thể được biết.

c. Learn that the form is but the veil which hides the splendour of Divinity.

c. Hãy học rằng hình tướng chỉ là tấm màn che giấu huy hoàng của Thiên Tính.

d. Realise that the One Life pervades all forms so that there is no death, no distress, no separation.

d. Hãy nhận biết rằng Một Sự Sống thấm nhuần mọi hình tướng, để không có cái chết, không có khổ đau, không có chia ly.

e. Detach thyself therefore from the form side and come to Me, so dwelling in the place where Light and Life are found. Thus illusion ends.

e. Vì vậy, hãy tách rời khỏi phía hình tướng và đến với Ta, nhờ đó an trú nơi Ánh sáng và Sự Sống được tìm thấy. Như thế ảo tưởng chấm dứt.

It is his astral polarisation which lays a man open to his many emotional reactions and to waves of mass feeling of any kind. This is the cause of his being swept into that vortex of uncontrolled energy and misdirected emotional force which eventuates in a world war, a financial panic, a religious revival, or a lynching. It is this also that raises him to the heights of hilarity and of spurious happiness in which the “light deceptive” of the astral plane uncovers to him false sources of amusement, or the mass hilarity—owing to his sensitivity—sweeps him into that hysterical condition which finds its vent [309] in unrestrained merriment and which is the opposite pole of unrestrained weeping. I refer not here to true merriment nor the proper sense of humour, but to those hysterical outbreaks of hilarity which are so common among the rank and file of humanity and lead to reactions of fatigue.

Chính sự phân cực cảm dục của y đặt con người trước nhiều phản ứng xúc cảm và các làn sóng cảm xúc tập thể thuộc mọi loại. Đây là nguyên nhân khiến y bị cuốn vào xoáy lốc năng lượng không được kiểm soát và mãnh lực xúc cảm bị định hướng sai, điều dẫn đến chiến tranh thế giới, khủng hoảng tài chính, cuộc phục hưng tôn giáo hay hành động tư hình. Cũng chính điều này nâng y lên những đỉnh cao của sự vui nhộn quá độ và hạnh phúc giả tạo, trong đó “ánh sáng lừa dối” của cõi cảm dục hé lộ cho y những nguồn vui giả, hoặc sự vui nhộn tập thể — do tính nhạy cảm của y — cuốn y vào tình trạng cuồng loạn tìm lối thoát [309] trong tiếng cười không kiềm chế, và là cực đối lập của sự khóc lóc không kiềm chế. Ở đây Tôi không nói đến niềm vui chân thật hay ý thức hài hước đúng đắn, mà nói đến những bộc phát cuồng loạn của sự vui nhộn quá độ rất phổ biến trong đại đa số nhân loại và dẫn đến các phản ứng mệt mỏi.

3. A devitalised condition of the physical body. This is due to various causes, such as:

3. Một tình trạng suy giảm sinh lực của thể xác. Điều này do nhiều nguyên nhân khác nhau, chẳng hạn:

a. A depleted etheric or vital body.

a. Một thể dĩ thái hay thể sinh lực bị cạn kiệt.

b. Physical disease, either inherent or brought over from another life, accidental, or due to wrong emotional reactions, or produced as the result of group karma, such as an epidemic.

b. Bệnh tật thể xác, hoặc vốn có, hoặc được mang qua từ một đời sống khác, do tai nạn, do các phản ứng xúc cảm sai lầm, hoặc được tạo ra như kết quả của nghiệp quả nhóm, chẳng hạn một trận dịch.

c. Atmospheric. This is sometimes overlooked, but the condition of the atmosphere, the nature of the climate, the density, humidity or dryness, the heat or cold have a definite effect upon the psychological outlook.

c. Khí quyển. Điều này đôi khi bị bỏ qua, nhưng tình trạng khí quyển, bản chất của khí hậu, độ đậm đặc, độ ẩm hay khô, nóng hay lạnh, có ảnh hưởng rõ rệt lên cái nhìn tâm lý.

You will find, if you study, that all subsidiary and temporary causes of depression and its opposite can be grouped under one of these three heads, and when one has ascertained the cause, the cures will become apparent.

Nếu các bạn nghiên cứu, các bạn sẽ thấy rằng mọi nguyên nhân phụ thuộc và tạm thời của trầm cảm cùng đối cực của nó có thể được nhóm dưới một trong ba đề mục này; và khi đã xác định được nguyên nhân, các phương thuốc sẽ trở nên hiển nhiên.

I have dealt somewhat at length with the two first manifestations of astral force—Fear—fear of death, of the future, of suffering, of failure, and the many lesser fears to which humanity is subject—and Depression—because these two fears constitute for man the Dweller on the Threshold in this age and cycle. Both of them indicate sentient reaction to psychological factors and cannot be dealt with by the use of another factor such as courage. They must be met by the omniscience of the soul working through the mind, —not by its omnipotence. In this is to be found an occult hint. I shall not deal with the other factors listed, such as desire for happiness, for the satisfaction of the animal appetites, and [310] for liberation, for these do not constitute for the majority such a problem as the first two. One could write at length on the manifestation and the cause of all these, but when fear and depression are overcome, the race will enter into its heritage of happiness, of true satisfaction (of which the cravings above indicated are but the symbols) and of liberation. Let us deal with the basic evils first. Once they have been dominated all that remains is right orientation and polarisation in the soul.

Tôi đã bàn khá dài về hai biểu hiện đầu tiên của mãnh lực cảm dục—Sợ hãi—sợ chết, sợ tương lai, sợ đau khổ, sợ thất bại, và nhiều nỗi sợ nhỏ hơn mà nhân loại phải chịu—và Chán nản—bởi vì hai nỗi sợ này tạo thành Kẻ Chận Ngõ đối với con người trong thời đại và chu kỳ này. Cả hai đều biểu thị phản ứng cảm thụ trước các yếu tố tâm lý và không thể được xử lý bằng cách dùng một yếu tố khác như lòng can đảm. Chúng phải được đối diện bằng sự toàn tri của linh hồn hoạt động qua thể trí, chứ không phải bằng sự toàn năng của linh hồn. Chính trong điều này có một gợi ý huyền bí. Tôi sẽ không bàn đến các yếu tố khác đã liệt kê, như ham muốn hạnh phúc, ham muốn thỏa mãn các dục vọng thú tính, và [310] ham muốn giải thoát, vì đối với đa số, những điều này không tạo thành một vấn đề như hai điều đầu. Người ta có thể viết rất dài về sự biểu hiện và nguyên nhân của tất cả những điều này, nhưng khi sợ hãi và chán nản được vượt qua, nhân loại sẽ bước vào di sản của mình: hạnh phúc, sự thỏa mãn chân thật—mà những thèm khát nêu trên chỉ là các biểu tượng—và sự giải thoát. Trước hết, chúng ta hãy bàn đến những điều ác căn bản. Một khi chúng đã bị chế ngự, tất cả những gì còn lại là sự định hướng đúng và sự phân cực trong linh hồn.

We will next consider the overcoming of wrong vibration in the astral body and the use of astral energy in the right direction.

Tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét việc vượt qua rung động sai lầm trong thể cảm dục và việc sử dụng năng lượng cảm dục theo chiều hướng đúng.

We have been dealing at length with the subject of the astral or sentient body, and have considered the various wrong ways in which it makes its presence felt. Humanity vibrates primarily in one or other of these ways, and the sentient body of the average human being is scarcely ever free from some mood, some fear, some excitement. This has provided a condition whereby the solar plexus centre is abnormally developed. In the bulk of humanity the sacral centre and the solar plexus govern the life, and that is why desire for material living and for the sex life are so closely blended. The solar plexus in the animal is the brain and governs all the instinctual reactions, but is not so closely allied with the purely sex expression as it is in the human being. When the brain is becoming sensitive to the awakening mind and is not so entirely occupied with the mechanism which registers sensory impression, we shall have the orientation which will eventually raise the consciousness into those centres which lie above the diaphragm. The solar plexus will then again be relegated to its old function as a directing agent of the purely instinctual animal life. For the advanced pupil in the world, the solar plexus is largely the organ of psychic sensitivity and will remain so until the higher psychic powers supersede the lower [311] and man functions as a soul. Then the sensory life will drop below the threshold of consciousness.

Chúng ta đã bàn khá dài về đề tài thể cảm dục hay thể cảm thụ, và đã xem xét những cách sai lầm khác nhau qua đó nó làm cho sự hiện diện của mình được cảm nhận. Nhân loại rung động chủ yếu theo cách này hay cách khác trong số các cách ấy, và thể cảm thụ của con người trung bình hầu như không bao giờ thoát khỏi một tâm trạng nào đó, một nỗi sợ nào đó, một sự kích động nào đó. Điều này đã tạo nên một tình trạng trong đó trung tâm tùng thái dương phát triển bất thường. Trong phần lớn nhân loại, trung tâm xương cùng và tùng thái dương chi phối đời sống, và đó là lý do vì sao ham muốn đời sống vật chất và đời sống tính dục lại hòa quyện chặt chẽ đến thế. Tùng thái dương nơi con vật là bộ não và chi phối mọi phản ứng bản năng, nhưng không liên kết mật thiết với biểu hiện tính dục thuần túy như nơi con người. Khi bộ não trở nên nhạy bén với thể trí đang thức tỉnh và không còn hoàn toàn bận rộn với bộ máy ghi nhận ấn tượng giác quan, chúng ta sẽ có sự định hướng rốt cuộc nâng tâm thức lên các trung tâm nằm phía trên cơ hoành. Khi ấy, tùng thái dương sẽ lại được đưa trở về chức năng cũ của nó như một tác nhân điều hướng đời sống thú tính thuần bản năng. Đối với người học trò tiến hóa trên thế gian, tùng thái dương phần lớn là cơ quan của sự nhạy cảm thông linh và sẽ vẫn như vậy cho đến khi các quyền năng thông linh cao thay thế các quyền năng thấp [311] và con người hoạt động như một linh hồn. Khi đó đời sống giác quan sẽ rơi xuống dưới ngưỡng của tâm thức.

Webinar Program 28 – Rule 10.12

The Right Use of Energy

In considering the overcoming of wrong vibration and the right direction of astral energy it might be of value here if we were very briefly to list the major energies which impress the human organism and circulate through the sentient body of man.

Khi xem xét việc vượt qua rung động sai lầm và hướng dẫn đúng đắn năng lượng cảm dục, có lẽ sẽ hữu ích nếu ở đây chúng ta liệt kê thật ngắn gọn các năng lượng chính tác động lên cơ cấu con người và lưu chuyển qua thể cảm thụ của con người.

1. Energies passing and repassing through the sentient body of the planet itself. This is, in other words, the astral body of the spirit of the earth. This entity is not the planetary Logos, but a being of great power on the involutionary arc, who holds the same relation to the planetary Logos as the astral elemental does to the human being. Facts about this life will be found in the Treatise on Cosmic Fire. Its life is the aggregate of a vast number of lives, and those lunar pitris or lesser builders who constitute the sentient life of the personality aspect of the planetary Logos—a more potent force for good and also for evil, as we use the word “evil”. Evil, per se, is non-existent, as is good in the sense of the pairs of opposites. Only in time and in space are there varying states of consciousness, producing differing outer effects. The energy of this involutionary life has a potent effect on that other tiny involutionary life which constitutes our astral elemental. The fact that protects from complete sensitive identification with this greater life is man’s individuality and the potency of his rapidly coordinating personality.

1. Các năng lượng đi qua và trở lại xuyên qua thể cảm thụ của chính hành tinh. Nói cách khác, đây là thể cảm dục của tinh linh địa cầu. Thực thể này không phải là Hành Tinh Thượng đế, mà là một thực thể có quyền năng lớn trên cung giáng hạ tiến hoá, giữ cùng một mối quan hệ với Hành Tinh Thượng đế như hành khí cảm dục đối với con người. Các sự kiện về sự sống này sẽ được tìm thấy trong Luận về Lửa Vũ Trụ. Sự sống của nó là tổng hợp của một số lượng sự sống vô cùng lớn, và của những thái âm tổ phụ hay các vị tiểu kiến tạo cấu thành đời sống cảm thụ của phương diện phàm ngã của Hành Tinh Thượng đế—một mãnh lực mạnh mẽ hơn cho điều thiện và cũng cho điều ác, theo cách chúng ta dùng từ “ác”. Điều ác, xét chính nó, không hiện hữu, cũng như điều thiện theo nghĩa của các cặp đối cực cũng không hiện hữu. Chỉ trong thời gian và không gian mới có những trạng thái tâm thức biến đổi, tạo ra các hiệu quả bên ngoài khác nhau. Năng lượng của sự sống giáng hạ tiến hoá này có một ảnh hưởng mạnh mẽ lên sự sống giáng hạ tiến hoá nhỏ bé khác cấu thành hành khí cảm dục của chúng ta. Điều bảo vệ con người khỏi sự đồng hoá cảm thụ hoàn toàn với sự sống lớn hơn này là cá tính của y và quyền năng của phàm ngã đang nhanh chóng phối hợp của y.

Man is an individual. He is the result of other factors and the combination of these factors constitutes his protection from complete absorption in the planetary sentient life, as is the case with the animals. At death, man’s astral body disintegrates and then its particles [312] again constitute undifferentiated fragments of the great whole.

Con người là một cá thể. Y là kết quả của những yếu tố khác, và sự phối hợp của các yếu tố này tạo thành sự bảo vệ của y khỏi bị hấp thu hoàn toàn vào đời sống cảm thụ của hành tinh, như trường hợp nơi các loài vật. Khi chết, thể cảm dục của con người tan rã và rồi các hạt của nó [312] lại cấu thành những mảnh chưa biến phân của toàn thể vĩ đại.

2. Certain astral energies, emanating from some planetary forms which as yet exist not in the form of physical planets, nor yet in the etheric realm, but which are enclosed within the ring-pass-not of our solar system. They represent, in the planetary sense, two groups of lives: —First, those astral shells of decaying and disintegrating planets which are to be seen by the initiate, still revolving around our sun, but which are nevertheless fast disappearing. Our moon will join their number when the complete disintegration of the outer form has taken place. Second, the astral forms of those lesser solar lives on the evolutionary arc who are taking form slowly but have not yet taken an etheric body, and will never in this world period take a physical body. These two groups are the planetary correspondences to the re-incarnating types of men, and to those who have passed over and are slowly shedding their bodies, prior to eventual rebirth, or who have completely vacated their shells.

2. Một số năng lượng cảm dục nhất định, xuất lộ từ vài hình tướng hành tinh hiện chưa tồn tại dưới hình thức các hành tinh hồng trần, cũng chưa ở trong cõi dĩ thái, nhưng được bao bọc trong vòng-giới-hạn của hệ mặt trời chúng ta. Theo ý nghĩa hành tinh, chúng biểu thị hai nhóm sự sống: thứ nhất, các vỏ cảm dục của những hành tinh đang suy tàn và tan rã, mà điểm đạo đồ có thể thấy, vẫn còn xoay quanh mặt trời của chúng ta, nhưng tuy vậy đang nhanh chóng biến mất. Mặt trăng của chúng ta sẽ gia nhập số đó khi sự tan rã hoàn toàn của hình tướng bên ngoài đã xảy ra. Thứ hai, các hình tướng cảm dục của những sự sống thái dương nhỏ hơn trên cung thăng thượng tiến hoá, đang chậm rãi thành hình nhưng chưa khoác lấy một thể dĩ thái, và trong chu kỳ thế giới này sẽ không bao giờ khoác lấy một thể xác. Hai nhóm này là những tương ứng hành tinh với các kiểu người tái lâm phàm, và với những người đã qua đời và đang chậm rãi rũ bỏ các thể của mình trước khi rốt cuộc tái sinh, hoặc đã hoàn toàn rời bỏ các vỏ của mình.

There are two of these astral forms in close proximity to our Earth, which are rapidly “decomposing”, if I may so term it, and yet have a very potent influence. On account of this close relation, they produce two types of desire or of astral tendency among men. One produces much of that instinctual tendency to cruelty which one sees in children and in certain types of men, and the other has an effect upon the sex life and produces some of those tendencies to perversions which cause so much difficulty now. Sadistic tendencies and sex perversions find much strengthening influence from these dying astral emanations. In ancient days they were still more potent, being closer to our earth than now; hence the ritualistic cruelties and the horrors, for instance, of Sodom and Gomorrah. Their power is rapidly declining and it should be remembered that they would have no [313] power at all were there not in humanity itself certain instincts upon which these energies can work. It should also be remembered that in Lemurian times their influence was constructive, for in those days, the lesson of sex and the intelligent registering of pain had a place in the schemes of those who were endeavouring to lead animal man into human consciousness—not into soul consciousness or even into self-consciousness in those very early times.

Có hai hình tướng cảm dục như thế ở rất gần Trái Đất chúng ta, đang nhanh chóng “phân hủy”, nếu tôi có thể gọi như vậy, nhưng vẫn có ảnh hưởng rất mạnh. Do mối liên hệ gần gũi này, chúng tạo ra hai loại ham muốn hay khuynh hướng cảm dục nơi con người. Một loại tạo ra phần lớn khuynh hướng bản năng về sự tàn nhẫn mà người ta thấy nơi trẻ em và nơi một số kiểu người nhất định; loại kia ảnh hưởng lên đời sống tính dục và tạo ra một số khuynh hướng lệch lạc gây nên rất nhiều khó khăn hiện nay. Những khuynh hướng bạo dâm và các lệch lạc tính dục nhận được nhiều ảnh hưởng tăng cường từ các xuất lộ cảm dục đang tàn lụi này. Vào thời cổ, chúng còn mạnh hơn nữa, vì ở gần Trái Đất chúng ta hơn hiện nay; do đó có những sự tàn nhẫn nghi lễ và những điều ghê rợn, chẳng hạn như ở Sodom và Gomorrah. Quyền năng của chúng đang nhanh chóng suy giảm, và cần nhớ rằng chúng sẽ không có [313] chút quyền năng nào nếu trong chính nhân loại không có một số bản năng nhất định để các năng lượng này tác động lên. Cũng cần nhớ rằng trong thời Lemuria, ảnh hưởng của chúng mang tính kiến tạo, vì vào thời đó, bài học về tính dục và sự ghi nhận đau đớn một cách thông minh có một vị trí trong các hệ hành tinh của những Đấng đang nỗ lực dẫn dắt người thú vào tâm thức nhân loại—chứ không phải vào tâm thức linh hồn, hay thậm chí vào ngã thức trong những thời kỳ rất sơ khai ấy.

Close to our earth, on the road to rebirth, is a great Life in process of taking etheric form. This Life, being on the evolutionary arc and not constituting the life of a decaying shell, is having a real effect in the inauguration of the New Age. This effect is twofold: —through the emanations from the astral body of this great Life the work of breaking down the separative wall of individualism which demonstrates in man as selfishness and in nations as nationalism is carried forward. Through this rapidly integrating etheric body this Life is bringing the etheric body of our planet into a state of increased rapid vibration. Reference will be found in the Treatise on Cosmic Fire to an avatar from Sirius who comes to bring about certain planetary effects. This Life is not that avatar but is in the nature of a forerunner—of a St. John the Baptist, who “baptiseth with water (astral emanations) and the Holy Ghost”. More information along these lines is not possible, but mention is made of it, as the energies coming from these two factors must be borne in mind.

Gần Trái Đất chúng ta, trên con đường tái sinh, có một Sự Sống vĩ đại đang trong tiến trình khoác lấy hình tướng dĩ thái. Sự Sống này, vì ở trên cung thăng thượng tiến hoá và không cấu thành sự sống của một vỏ đang suy tàn, đang có một ảnh hưởng thật sự trong việc mở đầu Kỷ Nguyên Mới. Ảnh hưởng này có hai mặt: qua các xuất lộ từ thể cảm dục của Sự Sống vĩ đại này, công việc phá vỡ bức tường chia rẽ của chủ nghĩa cá nhân—biểu hiện nơi con người như sự ích kỷ và nơi các quốc gia như chủ nghĩa dân tộc—được xúc tiến. Qua thể dĩ thái đang nhanh chóng tích hợp này, Sự Sống ấy đang đưa thể dĩ thái của hành tinh chúng ta vào một trạng thái rung động nhanh hơn. Trong Luận về Lửa Vũ Trụ có đề cập đến một Đấng Hoá Thân từ Sirius đến để tạo ra một số hiệu quả hành tinh nhất định. Sự Sống này không phải là Đấng Hoá Thân ấy, nhưng có bản chất của một vị tiền phong—một Thánh John Tẩy Giả, Đấng “làm phép rửa bằng nước, tức các xuất lộ cảm dục, và bằng Chúa Thánh Thần”. Không thể cung cấp thêm thông tin theo các đường hướng này, nhưng điều ấy được nhắc đến vì các năng lượng đến từ hai yếu tố này phải được ghi nhớ.

3. Astral energies emanating from the new sign of the zodiac into which we are now entering, the sign Aquarius. This sign, that of the water-carrier, is a living sign and an emotional sign. It will (through the effect of its potent force) stimulate the astral bodies of men into a new coherency, into a brotherhood of humanity which will ignore all racial and national differences and will [314] carry the life of men forward into synthesis and unity. This means a tide of unifying life of such power that one cannot now vision it, but which—in a thousand years—will have welded all mankind into a perfect brotherhood. Its emotional effect will be to “purify” the astral bodies of men so that the material world ceases to hold such potent allure, and may in its later stages bring about a state of exaggeration as potent in the line of sentiency as that which we have undergone in the line of materiality! The final stages of all signs produce over-development of the factor on which they most potently work. At present the effect of this sign is constructive among the pioneers of the race, and destructive among the rank and file of humanity. Facts about the coming Aquarian age can be searched for in the current books on the subject and it profits not for me to enlarge upon them here.

3. Các năng lượng cảm dục xuất lộ từ dấu hiệu hoàng đạo mới mà hiện nay chúng ta đang bước vào, dấu hiệu Bảo Bình. Dấu hiệu này, dấu hiệu của người mang nước, là một dấu hiệu sống động và là một dấu hiệu cảm xúc. Nó sẽ, qua ảnh hưởng của mãnh lực mạnh mẽ của nó, kích thích các thể cảm dục của con người đi vào một sự cố kết mới, vào một tình huynh đệ của nhân loại vốn sẽ không để ý đến mọi khác biệt chủng tộc và quốc gia, và sẽ [314] đưa đời sống con người tiến tới tổng hợp và hợp nhất. Điều này hàm ý một triều lưu sự sống hợp nhất có quyền năng đến mức hiện nay người ta không thể hình dung được, nhưng trong một ngàn năm nữa sẽ hàn gắn toàn thể nhân loại thành một tình huynh đệ hoàn hảo. Ảnh hưởng cảm xúc của nó sẽ là “thanh lọc” các thể cảm dục của con người, đến nỗi thế giới vật chất không còn nắm giữ sức quyến rũ mạnh mẽ như thế nữa, và trong các giai đoạn về sau, có thể đem lại một trạng thái phóng đại mạnh mẽ theo tuyến cảm thụ như trạng thái mà chúng ta đã trải qua theo tuyến vật chất! Các giai đoạn cuối của mọi dấu hiệu đều tạo ra sự phát triển quá mức của yếu tố mà chúng tác động mạnh nhất. Hiện nay, ảnh hưởng của dấu hiệu này mang tính kiến tạo nơi những người tiên phong của nhân loại, và mang tính phá hoại nơi đại đa số nhân loại. Các sự kiện về thời đại Bảo Bình đang đến có thể được tìm kiếm trong các sách hiện hành về đề tài này, và tôi không cần mở rộng thêm ở đây.

4. Faint emanations from the sacred “heart of the sun”, unrecognized by the masses but instantly calling forth response from the mystics of the race who are asserting increasingly a group integrity of a very real moment and interest. These emanations are too high to be sensed by humanity at large, but the mystics react and are drawn together by the sensing of the new vibration. Their work is then to step down the vibration so that its effects can be sensed in time by the foremost of the race. The work of this group of mystics must therefore inevitably grow, for the “heart of the solar Logos” beats now in closer rhythm with this planet than has heretofore been the case (this not being a sacred planet.) The love and thought of that divine Life is turned towards this “little daughter of a long lost son”, as our planet is sometimes called in the occult books of the Great Ones.

4. Những xuất lộ yếu ớt từ “trái tim của mặt trời” thiêng liêng, không được quần chúng nhận ra nhưng tức khắc gợi lên đáp ứng từ các nhà thần bí của nhân loại, những người đang ngày càng khẳng định một sự toàn vẹn nhóm có ý nghĩa và giá trị rất thật. Những xuất lộ này quá cao để nhân loại nói chung cảm nhận được, nhưng các nhà thần bí phản ứng và được kéo lại với nhau nhờ cảm nhận rung động mới. Khi ấy, công việc của họ là hạ thấp rung động ấy xuống để đến kỳ, các hiệu quả của nó có thể được những người dẫn đầu nhân loại cảm nhận. Do đó, công việc của nhóm nhà thần bí này tất yếu phải tăng trưởng, vì “trái tim của Thái dương Thượng đế” hiện đang đập theo nhịp điệu gần gũi hơn với hành tinh này so với trước kia, hành tinh này vốn không phải là một hành tinh thiêng liêng. Tình thương và tư tưởng của Sự Sống thiêng liêng ấy đang hướng về “đứa con gái nhỏ của một người con trai đã mất từ lâu”, như hành tinh chúng ta đôi khi được gọi trong các sách huyền bí của Các Đấng Cao Cả.

5. Another mass emanation which sweeps the astral body of man into strenuous activity is the impulsive desire of the astral body of the fourth or human kingdom, [315] viewing it as a whole, or as the expression of a life. This sentient body of humanity responds in an unrealised manner to all the four above types of astral energy and according to the calibre of the individual astral body, and according to the stage of development so will come response. It is in this fact that the roots of mass psychology and of mob rule lie. Also the roots of public opinion, so-called, are to be found here, but it will be long before the psychologists of the academic schools will recognize these four factors. It is with this type of sentient response that the leaders of men seek to work, moulding the thoughts of men in order to awaken desire for this, that and the other. They work with this type of sentient matter without the least understanding of the situation, and without any comprehension of the factors with which they are dealing; they work magnetically if on the second ray, and with the inspiring of fear through destruction if on the first ray. If on the third ray, they use the Law of Expediency. Thus all three work with the astral bodies of men, and their capacity to succeed is dependent largely upon their own type of astral body, and its power to attract others who are sufficiently developed to respond with adequate sentiency and then to carry forward the good work. The man in the street is therefore the victim of the astral potency of those who drive him either for their own ends or for the good of his soul—for it works in both directions.

5. Một xuất lộ đại chúng khác cuốn thể cảm dục của con người vào hoạt động căng thẳng là ham muốn thôi thúc của thể cảm dục thuộc giới thứ tư hay giới nhân loại, [315] xét như một toàn thể, hay như biểu hiện của một sự sống. Thể cảm thụ này của nhân loại đáp ứng một cách chưa được nhận ra với cả bốn loại năng lượng cảm dục nêu trên, và tùy theo tầm vóc của thể cảm dục cá nhân, cũng như tùy theo giai đoạn phát triển, đáp ứng sẽ xuất hiện. Chính trong sự kiện này nằm rễ của tâm lý quần chúng và sự thống trị của đám đông. Những rễ của cái gọi là dư luận công chúng cũng được tìm thấy ở đây, nhưng còn lâu các nhà tâm lý học thuộc các trường phái hàn lâm mới nhận ra bốn yếu tố này. Chính với loại đáp ứng cảm thụ này mà các nhà lãnh đạo con người tìm cách làm việc, uốn nắn tư tưởng của con người để khơi dậy ham muốn đối với điều này, điều kia và điều khác. Họ làm việc với loại chất liệu cảm thụ này mà không hề thấu hiểu tình thế, và không hề có bất kỳ nhận thức nào về các yếu tố mà họ đang xử lý; nếu thuộc cung hai, họ làm việc bằng từ điện, và nếu thuộc cung một, họ làm việc bằng cách khơi dậy sợ hãi qua sự phá hủy. Nếu thuộc cung ba, họ dùng Định luật Cơ Nghi. Như vậy, cả ba đều làm việc với các thể cảm dục của con người, và khả năng thành công của họ phần lớn tùy thuộc vào loại thể cảm dục của chính họ, và vào quyền năng của nó trong việc thu hút những người khác đã phát triển đủ để đáp ứng với sự cảm thụ thích đáng, rồi tiếp tục công việc tốt đẹp. Vì thế, người bình thường trên đường phố là nạn nhân của quyền năng cảm dục của những kẻ thúc đẩy y, hoặc vì mục đích riêng của họ, hoặc vì lợi ích của linh hồn y—vì nó hoạt động theo cả hai hướng.

6. The astral life, or sensitive emanations of a man’s surrounding family or friends. They affect him far more than he may credit, or he may affect them, according to which side is positive and which is negative. Everyone we meet, or contact, every person with whom we live or daily consort has an effect upon us, either for good or evil. They either stir up our emotional nature in a good and high sense, and so aid its work of re-orientation, or they lower its standard so that progress is hindered and [316] the work of drawing downwards towards materiality is carried forward. This we know well, and it is unnecessary for me to enlarge upon it here.

6. Đời sống cảm dục, hay các xuất lộ nhạy cảm của gia đình hoặc bạn bè chung quanh một người. Chúng ảnh hưởng đến y nhiều hơn y có thể tin, hoặc y có thể ảnh hưởng đến họ, tùy bên nào là dương và bên nào là âm. Mỗi người chúng ta gặp hoặc tiếp xúc, mỗi người mà chúng ta sống chung hoặc giao du hằng ngày đều có ảnh hưởng đến chúng ta, hoặc theo hướng thiện hoặc theo hướng ác. Họ hoặc khuấy động bản chất cảm xúc của chúng ta theo một ý nghĩa tốt đẹp và cao thượng, và như vậy trợ giúp công việc tái định hướng của nó, hoặc họ hạ thấp tiêu chuẩn của nó khiến sự tiến bộ bị cản trở và [316] công việc kéo xuống vật chất được xúc tiến. Chúng ta biết rõ điều này, và tôi không cần mở rộng thêm ở đây.

Webinar Program 29 – Rule 10.13

7. The emotional (astral sentient) equipment with which a man enters into life, which he utilises, and which he builds as life progresses. Many a man is the victim of an emotional body which he has himself constructed as he responded to the energies of the groups enumerated above. The astral body reacts to all emanations of a sensitive character in three ways:

7. Trang bị cảm xúc, tức cảm thụ cảm dục, mà một người mang vào đời sống, sử dụng và xây dựng khi đời sống tiến triển. Biết bao người là nạn nhân của một thể cảm xúc do chính y tự kiến tạo khi y đáp ứng với các năng lượng của những nhóm đã được liệt kê ở trên. Thể cảm dục phản ứng với mọi xuất lộ có tính nhạy cảm theo ba cách:

a. Emotional. The astral body is swept into response of some kind to the emanations of the astral bodies—group bodies or individual—of those surrounding him. This phrase warrants careful study.

a. Cảm xúc. Thể cảm dục bị cuốn vào một loại đáp ứng nào đó trước các xuất lộ của các thể cảm dục—thể nhóm hay thể cá nhân—của những người chung quanh y. Cụm từ này đáng được nghiên cứu cẩn thận.

b. Sensitive. There is always a registering of all impressions by the sensitive astral body, even if emotional response lacks, and disciples have to learn to distinguish carefully between the two. Sometimes when emotional reaction lacks, as generally understood, there is nevertheless a registering of the originating cause which sought to bring about an effect on the emotional body.

b. Nhạy cảm. Luôn luôn có sự ghi nhận mọi ấn tượng bởi thể cảm dục nhạy cảm, ngay cả khi thiếu đáp ứng cảm xúc; và các đệ tử phải học phân biệt cẩn thận giữa hai điều này. Đôi khi, khi thiếu phản ứng cảm xúc theo cách thường hiểu, vẫn có sự ghi nhận nguyên nhân khởi phát đã tìm cách tạo ra một hiệu quả trên thể cảm xúc.

c. Simple reaction. The registering or the refusal to register or respond to an impact, to an emotional impression. This can be either good or bad.

c. Phản ứng đơn giản. Sự ghi nhận hoặc sự từ chối ghi nhận hay đáp ứng trước một tác động, một ấn tượng cảm xúc. Điều này có thể tốt hoặc xấu.

In all three cases, one or other of the pairs of opposites is chosen and the choice depends upon the quality of the astral mechanism of the man concerned. A fourth method involves complete detachment from the emotional body altogether, and a complete capacity to isolate oneself from any sensory impression at will—in order to serve with greater efficiency and to love with greater intelligence. Forget not that in the last analysis, love and emotion are not the same. [317]

Trong cả ba trường hợp, một bên này hay bên kia của các cặp đối cực được chọn, và sự chọn lựa tùy thuộc vào phẩm tính của cơ cấu cảm dục nơi người liên hệ. Một phương pháp thứ tư bao hàm sự tách rời hoàn toàn khỏi thể cảm xúc, và năng lực trọn vẹn để cô lập chính mình khỏi bất kỳ ấn tượng giác quan nào theo ý muốn—nhằm phụng sự hữu hiệu hơn và yêu thương với trí tuệ hơn. Đừng quên rằng xét đến cùng, tình thương và cảm xúc không phải là một. [317]

The practical question now arises: How is one to overcome the wrong vibration?

Giờ đây nảy sinh câu hỏi thực tiễn: Làm thế nào để vượt qua rung động sai lầm?

First: —It is necessary that one recognises what wrong vibration is, and that one is able to register reaction. A vibration, an impulse, an emotion, a desire originate in a lower aspect of the form side. They differ from an emanation coming from the soul. The two impacts upon the sentient body must be recognised as different. The question has to be asked: Is this reaction a response to personality life or is it a response to the soul consciousness? Does this impulse which seeks to sweep my sentient body into activity come from the divine Life within me or is it coming from the form aspect in any of its manifestations? Does it cause my astral body to become active in such a way that those who are en rapport with me are hurt thereby or helped? Are they hindered or aided?

Thứ nhất: cần phải nhận ra rung động sai lầm là gì, và có khả năng ghi nhận phản ứng. Một rung động, một xung lực, một cảm xúc, một ham muốn phát sinh từ một phương diện thấp của phía hình tướng. Chúng khác với một xuất lộ đến từ linh hồn. Hai tác động lên thể cảm thụ phải được nhận ra là khác nhau. Cần đặt câu hỏi: Phản ứng này là một đáp ứng với đời sống phàm ngã, hay là một đáp ứng với tâm thức linh hồn? Xung lực này, vốn tìm cách cuốn thể cảm thụ của tôi vào hoạt động, đến từ Sự Sống thiêng liêng bên trong tôi, hay đến từ phương diện hình tướng trong một biểu hiện nào đó của nó? Nó có khiến thể cảm dục của tôi trở nên hoạt động theo cách làm tổn hại hay trợ giúp những người có giao cảm với tôi không? Họ bị cản trở hay được trợ giúp?

A close study of one’s emotional reactions brings one to the consideration of that basic characteristic which cannot be over-emphasized in view of the world’s present condition. Harmlessness. I tell you that the achieving of harmlessness in the positive sense (not in the negative) means the attainment of that step which leads definitely to the Portal of Initiation. When first mentioned, it sounds of small moment, and to bring the whole subject of initiation into such small account that it becomes unimportant. But let him who so thinks practice that positive harmlessness which works out in right thought (because based on intelligent love), right speech (because governed by self-control), and right action (because founded on an understanding of the Law), and he will find that the attempt will call forth all the resources of his being and take much time to achieve. It is not the harmlessness that comes from weakness and sentimental loving disposition, which dislikes trouble because it upsets the settled harmony of life and leads to consequent [318] discomfort. It is not the harmlessness of the little evolved negative impotent man or woman, who has not the power to hurt because possessing so little equipment wherewith damage can be done.

Việc nghiên cứu kỹ các phản ứng cảm xúc của mình đưa người ta đến việc xem xét đặc tính căn bản không thể nhấn mạnh quá mức, xét theo tình trạng hiện tại của thế giới. Tính vô tổn hại. Tôi nói với các bạn rằng việc đạt được tính vô tổn hại theo nghĩa tích cực, chứ không theo nghĩa tiêu cực, có nghĩa là đạt đến bước chắc chắn dẫn tới Cổng Điểm Đạo. Khi mới được nhắc đến, điều ấy nghe có vẻ không quan trọng, và dường như hạ toàn bộ đề tài điểm đạo xuống một mức nhỏ bé đến mức nó trở nên không đáng kể. Nhưng người nào nghĩ như vậy hãy thực hành tính vô tổn hại tích cực, vốn biểu hiện trong tư tưởng đúng—vì đặt nền trên tình thương thông minh—trong lời nói đúng—vì được chế ngự bởi sự tự chủ—và trong hành động đúng—vì đặt nền trên sự thấu hiểu Định luật; y sẽ thấy rằng nỗ lực ấy sẽ kêu gọi mọi tài nguyên của bản thể y và cần nhiều thời gian để đạt được. Đó không phải là tính vô tổn hại phát sinh từ sự yếu đuối và khuynh hướng yêu thương ủy mị, vốn không thích rắc rối vì nó làm xáo trộn sự hòa hợp ổn định của đời sống và dẫn đến [318] sự khó chịu tiếp theo. Đó không phải là tính vô tổn hại của người nam hay người nữ tiêu cực, bất lực và ít tiến hóa, người không có năng lực gây tổn hại vì sở hữu quá ít trang bị để có thể gây hại.

It is the harmlessness that springs from true understanding and control of the personality by the soul, that leads inevitably to spiritual expression in every-day life. It emanates from a capacity to enter into the consciousness and to penetrate into the realisation of one’s brother, and when this has been accomplished—all is forgiven and all is lost sight of in the desire to aid and to help.

Đó là tính vô tổn hại phát sinh từ sự thấu hiểu chân thật và sự kiểm soát phàm ngã bởi linh hồn, dẫn tất yếu đến biểu hiện tinh thần trong đời sống hằng ngày. Nó xuất lộ từ năng lực bước vào tâm thức và thâm nhập vào sự chứng nghiệm của huynh đệ mình; và khi điều này đã được hoàn thành, mọi sự đều được tha thứ và mọi sự đều bị lãng quên trong ham muốn nâng đỡ và trợ giúp.

Response to wrong vibration will not be basically prevented by the methods of either “building a shell”, or by “insulation” through the power of mantrams and visualisation. These two methods are temporary expedients by which those who as yet have somewhat to learn seek to protect themselves. The building of a shell leads to separativeness, as you well know, and necessitates the eventual overcoming of the habit of shell-building, and a shattering and consuming of the shells already built. This latter can be more easily done than the overcoming of the habit. Automatically the building process goes on until finally the aspirant has built so many ramparts around himself that he can neither get out nor can any contacts be made with him. The process of insulation, which is a more advanced practice and calls for more magical knowledge, consists of the emanating of certain energies of the vital body in a particular direction, which serve to keep other energies at a distance through what is called impact. Through this impact upon approaching energies, they are reversed and sent in another direction. But those energies must go somewhere, and should they damage another person, is not the one who reversed their direction through a desire to protect himself responsible?

Đáp ứng với rung động sai lầm sẽ không được ngăn chặn tận gốc bằng các phương pháp “xây một cái vỏ” hay “cách ly” bằng quyền năng của các mantram và sự hình dung. Hai phương pháp này là những phương tiện tạm thời mà những người còn phải học hỏi thêm dùng để tìm cách tự bảo vệ. Việc xây dựng một cái vỏ dẫn đến sự chia rẽ, như các bạn biết rõ, và tất yếu đòi hỏi về sau phải vượt qua thói quen xây vỏ, đồng thời phá vỡ và thiêu hủy những cái vỏ đã được xây dựng. Điều sau có thể làm dễ dàng hơn so với việc vượt qua thói quen. Tiến trình xây dựng cứ tự động tiếp diễn cho đến cuối cùng người chí nguyện đã xây quá nhiều thành lũy chung quanh chính mình đến nỗi y không thể thoát ra, cũng không ai có thể tiếp xúc với y. Tiến trình cách ly, vốn là một thực hành cao hơn và đòi hỏi nhiều tri thức huyền thuật hơn, bao gồm việc phóng xuất một số năng lượng nhất định của thể sinh lực theo một hướng đặc biệt, nhằm giữ các năng lượng khác ở khoảng cách xa bằng cái được gọi là tác động. Qua tác động này lên các năng lượng đang tiến đến, chúng bị đảo chiều và được gửi sang một hướng khác. Nhưng các năng lượng ấy phải đi đến một nơi nào đó; và nếu chúng gây hại cho một người khác, chẳng phải người đã đảo chiều chúng vì ham muốn tự bảo vệ mình phải chịu trách nhiệm hay sao?

The practice of harmlessness is the best and easiest [319] way for the aspirant to work. There is then nothing in him which is inimical to any life in any form, and he therefore attracts to himself only that which is beneficent. He uses the beneficent forces thus attracted for the helping of other beings. This has to be the first step, and the discipline it entails and the constant supervision of all the activities on the three planes of human evolution and of all reactions bring the emotional body under the dominance of the illumined mind. They also bring about the understanding of one’s fellow men.

Việc thực hành tính vô tổn hại là cách tốt nhất và dễ nhất [319] để người chí nguyện làm việc. Khi ấy, trong y không có gì thù nghịch với bất kỳ sự sống nào trong bất kỳ hình tướng nào, và do đó y chỉ thu hút về mình những gì thiện lành. Y sử dụng các mãnh lực thiện lành được thu hút như thế để trợ giúp các sinh linh khác. Đây phải là bước đầu tiên, và kỷ luật mà nó đòi hỏi cùng sự giám sát liên tục mọi hoạt động trên ba cõi của sự tiến hóa nhân loại và mọi phản ứng sẽ đưa thể cảm xúc vào dưới quyền chi phối của thể trí được soi sáng. Chúng cũng đem lại sự thấu hiểu đối với đồng loại của mình.

There is secondly, a later stage wherein the disciple learns to absorb and transmute the wrong vibrations and the energies which are destructive. He has no shells nor barriers. He does not insulate himself nor isolate himself from his brothers. Through harmlessness he has learnt to neutralise all evil emanations. Now he acts with a positiveness of a new kind. Definitely and with full awareness of what he is doing, he gathers into himself all the evil emanations (destructive energies, and wrong forces) and he breaks them up into their component parts and returns them whence they came, neutralised, impotent and harmless, yet intact in nature. You say that this is a hard teaching and conveys but little to the average aspirant? Such is ever the way in esoteric teaching, but those who know will understand and for them I speak.

Thứ hai, có một giai đoạn về sau trong đó đệ tử học cách hấp thu và chuyển hoá các rung động sai lầm cùng những năng lượng phá hoại. Y không có vỏ cũng không có rào chắn. Y không cách ly mình cũng không cô lập mình khỏi các huynh đệ. Qua tính vô tổn hại, y đã học cách trung hòa mọi xuất lộ ác. Giờ đây, y hành động với một tính tích cực thuộc loại mới. Một cách dứt khoát và với sự nhận biết đầy đủ về điều mình đang làm, y thu vào trong mình mọi xuất lộ ác—các năng lượng phá hoại và các mãnh lực sai lầm—rồi phân giải chúng thành các thành phần cấu tạo và trả chúng về nơi chúng đã đến, đã được trung hòa, bất lực và vô tổn hại, nhưng vẫn nguyên vẹn trong bản chất. Các bạn nói rằng đây là một giáo huấn khó và truyền đạt rất ít cho người chí nguyện trung bình chăng? Trong giáo huấn huyền bí, đường lối bao giờ cũng như thế; nhưng những ai biết sẽ thấu hiểu, và tôi nói với họ.

Another method is still more advanced and is utilised by the initiate. Through a knowledge of the law and of certain Words of Power he can command the energies to reverse themselves and to return to their originating centre. But with this method we have nothing to do. There must as yet be much practice in harmlessness and a close watch kept upon its application in the daily life.

Một phương pháp khác còn cao hơn nữa và được điểm đạo đồ sử dụng. Qua tri thức về định luật và về một số Quyền năng từ nhất định, y có thể ra lệnh cho các năng lượng tự đảo chiều và trở về trung tâm phát xuất của chúng. Nhưng chúng ta không liên quan đến phương pháp này. Hiện nay vẫn còn phải thực hành nhiều tính vô tổn hại và phải theo dõi chặt chẽ việc áp dụng nó trong đời sống hằng ngày.

The right direction of astral energy can be summed up in its three aspects from the ancient Book of Rules, given to chelas of the entering degrees. All true esoteric [320] schools begin with the control of the astral body and, the chela had to memorise and practice these three rules after he had made some real growth in the manifestation of harmlessness.

Việc hướng dẫn đúng năng lượng cảm dục có thể được tóm lược trong ba phương diện của nó từ Sách Quy Luật cổ xưa, được trao cho các đệ tử thuộc các cấp độ nhập môn. Mọi trường huyền bí chân chính [320] đều bắt đầu với việc kiểm soát thể cảm dục; và đệ tử phải ghi nhớ cũng như thực hành ba quy luật này sau khi y đã có một sự tăng trưởng thật sự trong biểu hiện của tính vô tổn hại.

Rule I. Enter thy brother’s heart and see his woe. Then speak. Let the words spoken convey to him the potent force he needs to loose his chains. Yet loose them not thyself. Thine is the work to speak with understanding. The force received by him will aid him in his work.

Quy luật I. Hãy bước vào trái tim huynh đệ của ngươi và thấy nỗi khổ của y. Rồi hãy nói. Hãy để những lời được nói ra truyền cho y mãnh lực quyền năng mà y cần để tháo gỡ xiềng xích của mình. Nhưng ngươi đừng tự mình tháo gỡ chúng. Công việc của ngươi là nói với sự thấu hiểu. Mãnh lực mà y nhận được sẽ trợ giúp y trong công việc của y.

Rule II. Enter thy brother’s mind and read his thoughts, but only when thy thoughts are pure. Then think. Let the thoughts thus created enter thy brother’s mind and blend with his. Yet keep detached thyself, for none have the right to sway a brother’s mind. The only right there is, will make him say: “He loves. He standeth by. He knows. He thinks with me and I am strong to do the right.” Learn thus to speak. Learn thus to think.

Quy luật II. Hãy bước vào thể trí huynh đệ của ngươi và đọc tư tưởng của y, nhưng chỉ khi tư tưởng của ngươi thanh khiết. Rồi hãy suy nghĩ. Hãy để những tư tưởng được tạo ra như thế đi vào thể trí huynh đệ của ngươi và hòa nhập với tư tưởng của y. Nhưng ngươi hãy giữ mình tách rời, vì không ai có quyền chi phối thể trí của một huynh đệ. Quyền duy nhất hiện hữu sẽ khiến y nói: “Người ấy yêu thương. Người ấy đứng bên cạnh. Người ấy biết. Người ấy suy nghĩ cùng tôi, và tôi mạnh mẽ để làm điều đúng.” Hãy học nói như thế. Hãy học suy nghĩ như thế.

Rule III. Blend with thy brother’s soul and know him as he is. Only upon the plane of soul can this be done. Elsewhere the blending feeds the fuel of his lower life. Then focus on the plan. Thus will he see the part that he and you and all men play. Thus will he enter into life and know the work accomplished.

Quy luật III. Hãy hòa nhập với linh hồn huynh đệ của ngươi và biết y như y là. Chỉ trên cõi của linh hồn điều này mới có thể được thực hiện. Ở nơi khác, sự hòa nhập nuôi thêm nhiên liệu cho đời sống thấp của y. Rồi hãy tập trung vào Thiên Cơ. Như thế y sẽ thấy phần việc mà y, ngươi và mọi người đảm nhận. Như thế y sẽ bước vào sự sống và biết công việc đã hoàn thành.

A note, appended to these three rules says:

Một ghi chú được thêm vào ba quy luật này nói rằng:

“These three energies—of speech, of thought, and of purpose—when wielded with understanding by the chela and blended with the awakening forces of his brother whom he seeks to aid, are the three energies with which all adepts work.”

“Ba năng lượng này—của lời nói, của tư tưởng và của mục đích—khi được đệ tử sử dụng với sự thấu hiểu và hòa trộn với các mãnh lực đang thức tỉnh của huynh đệ mà y tìm cách trợ giúp, chính là ba năng lượng mà mọi chân sư đều làm việc với.”

It is almost impossible to translate these ancient formulas into adequate terms, but the above rough paraphrase will convey the idea to the illumined; these rules [321] sum up the few thoughts which the average aspirant needs to grasp about the right direction of energy, and for which he is ready.

Hầu như không thể dịch các công thức cổ xưa này thành những thuật ngữ thích đáng, nhưng bản diễn giải sơ lược trên sẽ truyền đạt ý tưởng cho người được soi sáng; các quy luật này [321] tóm lược một vài tư tưởng mà người chí nguyện trung bình cần nắm bắt về việc hướng dẫn đúng năng lượng, và điều mà y đã sẵn sàng tiếp nhận.

The Present Age and the Future

Thus we have seen the place that the tiny sentient unit, employed by an individual human being, plays in relation to the Great Whole. We have noted the various forms which astral evolution assumes. We have also recorded some of the sources from which astral energy comes. We have found that each of us is immersed in a sea of sentient forces which have their effect upon us because—under the Law—we have appropriated for our own use a portion of that universal energy, through the medium of which we are en rapport with the whole. One of the types of astral energy upon which we did not touch emanates, we are told, from the “Heart of the Sun”. I cannot, however, touch upon it at length owing to the inability of the human brain to understand it or the human heart to appropriate it until such time as the heart centre is opened and functioning. This stream of living energy can nevertheless be sensed in a large way, though not as yet appropriated in its pure essence. We call it the “love of God”. It is indeed that free flowing, outgoing, magnetically attractive force which leads each pilgrim home to the Father’s House. It is that force which stirs in the heart of humanity and finds expression through the medium of world avatars, through the mystical yearning found in every human being, through all movements that have for their objective the welfare of humanity, through philanthropic and educational tendencies of every kind, and (in the natural world so-called) through the instinct of protective motherhood. But it is essentially a group sentiency, and only in the coming Aquarian Age will its true nature find correct understanding and right appropriation. I touch on it here as it is one of [322] the factors to be considered. Only those, however, whose “hearts are opened and lifted up unto the Lord” will know whereof I speak.

Như vậy, chúng ta đã thấy vị trí mà đơn vị cảm thụ nhỏ bé, được một cá nhân con người sử dụng, đảm nhận trong mối quan hệ với Toàn Thể Vĩ Đại. Chúng ta đã ghi nhận các hình thức khác nhau mà sự tiến hóa cảm dục mang lấy. Chúng ta cũng đã ghi lại một số nguồn từ đó năng lượng cảm dục phát sinh. Chúng ta đã thấy rằng mỗi người chúng ta đều chìm trong một biển các mãnh lực cảm thụ, vốn có tác động lên chúng ta bởi vì—dưới Định luật—chúng ta đã chiếm dụng cho riêng mình một phần của năng lượng phổ quát ấy, qua trung gian của nó chúng ta có giao cảm với toàn thể. Một trong các loại năng lượng cảm dục mà chúng ta chưa chạm đến được cho biết là xuất lộ từ “Trái Tim của Mặt Trời”. Tuy nhiên, tôi không thể bàn dài về nó do bộ não con người không có khả năng thấu hiểu nó, hoặc trái tim con người không có khả năng tiếp nhận nó, cho đến khi trung tâm tim được mở ra và hoạt động. Dẫu vậy, dòng năng lượng sống động này có thể được cảm nhận một cách rộng lớn, tuy chưa thể được tiếp nhận trong tinh chất thuần khiết của nó. Chúng ta gọi nó là “tình thương của Thượng đế”. Thật vậy, đó là mãnh lực tuôn chảy tự do, hướng ra ngoài, thu hút bằng từ tính, dẫn mỗi người hành hương trở về Nhà của Cha. Đó là mãnh lực khuấy động trong trái tim nhân loại và tìm thấy biểu hiện qua trung gian các Đấng Hoá Thân thế giới, qua niềm khát khao thần bí có trong mọi con người, qua mọi phong trào lấy phúc lợi của nhân loại làm mục tiêu, qua các khuynh hướng bác ái và giáo dục thuộc mọi loại, và trong cái gọi là thế giới tự nhiên, qua bản năng bảo vệ của người mẹ. Nhưng về bản chất, đó là một sự cảm thụ nhóm, và chỉ trong Kỷ Nguyên Bảo Bình đang đến, bản chất chân thật của nó mới tìm được sự thấu hiểu đúng và sự tiếp nhận đúng. Tôi chạm đến nó ở đây vì nó là một trong [322] các yếu tố cần được xem xét. Tuy nhiên, chỉ những ai có “trái tim được mở ra và được nâng lên tới Chúa” mới biết tôi đang nói về điều gì.

It is needless for us to concern ourselves with that which lies far ahead of the race. Immediate problems call for attention—problems which are personal or racial and which all concern the control of the astral vehicle. Opportunity is offered to demonstrate in chaos the potentialities of the ego or soul, and its capacity to control and dominate in its little sphere of influence. Therein lies for all aspirants at this time the peculiar effort of the coming days, and I would—for your guidance—make certain suggestions to be followed by you or not as deemed wise.

Chúng ta không cần bận tâm đến điều nằm rất xa phía trước nhân loại. Những vấn đề trước mắt đòi hỏi sự chú ý—những vấn đề cá nhân hay chủng tộc, và tất cả đều liên quan đến việc kiểm soát vận cụ cảm dục. Cơ hội được trao để biểu lộ trong hỗn loạn các tiềm năng của chân ngã hay linh hồn, và năng lực của nó trong việc kiểm soát và thống ngự trong phạm vi ảnh hưởng nhỏ bé của mình. Chính trong đó có nỗ lực đặc biệt của những ngày sắp tới đối với mọi người chí nguyện vào lúc này; và để hướng dẫn các bạn, tôi xin đưa ra một số gợi ý, các bạn có thể làm theo hoặc không tùy điều các bạn cho là minh triết.

We must remember that every aspirant is a focal point of energy and should be, in his place, a conscious focal point. In the midst of the whirl and storm he should make his presence felt. The Law of action and re-action works here, and often the Great Ones (foreseeing the need of just such points of inner contact in periods of world unrest, such as the present) gather into certain localities those who are aspirants to service. They act as a balance and aid the general plan, and at the same time they themselves learn much needed lessons.

Chúng ta phải nhớ rằng mỗi người chí nguyện là một điểm tập trung năng lượng và trong vị trí của mình, nên là một điểm tập trung có ý thức. Giữa cơn xoáy và bão tố, y nên làm cho sự hiện diện của mình được cảm nhận. Định luật hành động và phản ứng hoạt động ở đây, và thường Các Đấng Cao Cả, khi thấy trước nhu cầu về chính những điểm tiếp xúc nội tâm như thế trong các thời kỳ bất ổn thế giới như hiện nay, tập hợp vào một số địa phương nhất định những người chí nguyện phụng sự. Họ hành động như một sự quân bình và trợ giúp Thiên Cơ chung, đồng thời chính họ học được nhiều bài học cần thiết.

The effort on the part of all aspirants should not be to resist and repel the pressure or to fight and ward off. Such a method centres the attention upon the not-self and leads to added chaos. The effort should be along the lines of an endeavour to make contact with the higher self, and keep it stable and steady, and to be in such direct alignment that the force and power of the soul may be poured upon and through the lower threefold nature. This pouring through will bring about a steady radiation which will affect the surroundings exactly in proportion to the extent of the inner contact, and in direct relation to the clarity of the channel linking the [323] physical brain to the causal body. The aspirant should also strive after that self-forgetfulness which merges itself in the good of those contacted. This self-forgetfulness refers to the lower self. Self-recollectedness and self-forgetfulness should be companions.

Nỗ lực của mọi người chí nguyện không nên là chống lại và đẩy lùi áp lực, hoặc chiến đấu và ngăn chặn. Một phương pháp như thế tập trung sự chú ý vào phi-ngã và dẫn đến hỗn loạn thêm. Nỗ lực nên theo đường hướng cố gắng tiếp xúc với chân ngã, giữ cho tiếp xúc ấy ổn định và vững vàng, và ở trong một sự chỉnh hợp trực tiếp đến mức mãnh lực và quyền năng của linh hồn có thể được tuôn đổ lên và xuyên qua bản chất tam phân thấp. Sự tuôn đổ xuyên qua này sẽ tạo nên một bức xạ vững vàng, ảnh hưởng đến môi trường chung quanh đúng theo mức độ của tiếp xúc nội tâm, và trong mối liên hệ trực tiếp với độ trong sáng của kênh nối bộ não [323] hồng trần với thể nguyên nhân. Người chí nguyện cũng nên cố gắng đạt đến sự quên mình, hòa nhập vào điều thiện của những người được tiếp xúc. Sự quên mình này liên quan đến phàm ngã. Sự tự nhớ mình và sự quên mình nên là bạn đồng hành.

The man who aims at providing a point of contact, between conditions of chaos and Those Who work for constructive ends and order, should likewise use that most necessary factor of common-sense in all that he does. This involves always obedience to the law of economy of force, due to discrimination, and a true sense of values. Where these are present, time will be economised, strength will be husbanded, energy will be wisely distributed, excessive zeal will be eliminated, and the Great Ones will be able to depend upon an aspirant’s sagacity and thus find a helper.

Người nào nhằm mục tiêu cung cấp một điểm tiếp xúc giữa các tình trạng hỗn loạn và Những Đấng làm việc cho các mục đích kiến tạo và trật tự, cũng nên dùng yếu tố vô cùng cần thiết là lương tri trong tất cả những gì y làm. Điều này luôn bao hàm sự tuân phục định luật tiết kiệm mãnh lực, do phân biện, và một ý thức chân thật về các giá trị. Nơi nào những điều này hiện diện, thời gian sẽ được tiết kiệm, sức lực sẽ được giữ gìn, năng lượng sẽ được phân phối một cách minh triết, lòng nhiệt thành quá mức sẽ bị loại bỏ, và Các Đấng Cao Cả sẽ có thể nương cậy vào sự sáng suốt của một người chí nguyện và như vậy tìm được một người trợ giúp.

All occult training has in view the development of the aspirant so that he may indeed be a focal point of spiritual energy. It should be remembered, however, that under the law, this training will be cyclic, and will have its ebb and flow, as all else in nature. Times of activity succeed times of pralaya, and periods of registered contact alternate with periods of apparent silence. Note here the choice of words. This alternation is due to the imposition of the Law of Periodicity and if the student develops as desired, each pralayic period is succeeded by one of greater activity, and of more potent achievement. Rhythm, ebb and flow, and the measured beat of the pulsating life are ever the law of the universe, and in learning to respond to time vibration of the high Places this rhythmic periodicity must be borne in mind. The same law governs a human being, a planet, a solar system—all centres or focal points of energy in some greater Life. If such work as you are doing is to succeed (and it is largely the work of developing the ability to touch certain currents on mental levels—currents which [324] emanate from the higher self, from your egoic group, or from the Master) definite planned conditions must be provided. Certain factors must be present. If they do not exist, then the currents are (if I may so express it) deflected, and contact fails of accomplishment. If occupation with mundane affairs is necessitated—and such periods come in every life cycle—then the attention should be concentrated on these details, and the higher contact may be then temporarily unrealised. Such attention to affairs on the physical plane is not necessarily loss of time, for it may be as much a part of the plan at that particular time as any other kind of service. Full expression and consciousness on each and every plane is the objective, remembering that each plane with its varying states of consciousness is equally a part of the divine Life. What is lacking as yet with the majority of aspirants is a synthetic consciousness and the capacity to hold and register continuity.

Mọi huấn luyện huyền bí đều nhằm phát triển người chí nguyện để y thật sự có thể là một điểm tập trung của năng lượng tinh thần. Tuy nhiên, cần nhớ rằng dưới định luật, sự huấn luyện này sẽ có tính chu kỳ, và sẽ có sự lên xuống như mọi điều khác trong thiên nhiên. Các thời kỳ hoạt động nối tiếp các thời kỳ Giai kỳ qui nguyên, và các giai đoạn tiếp xúc được ghi nhận luân phiên với các giai đoạn dường như im lặng. Ở đây hãy lưu ý cách chọn từ. Sự luân phiên này là do tác động của Định luật Chu Kỳ; và nếu đạo sinh phát triển như mong muốn, mỗi thời kỳ qui nguyên sẽ được tiếp nối bởi một thời kỳ hoạt động lớn hơn và thành tựu mạnh mẽ hơn. Nhịp điệu, sự lên xuống, và nhịp đập đều đặn của sự sống đang rung động luôn luôn là định luật của vũ trụ; và trong việc học đáp ứng với rung động thời gian của các Nơi Cao, cần ghi nhớ tính chu kỳ nhịp nhàng này. Cùng một định luật chi phối một con người, một hành tinh, một hệ mặt trời—tất cả đều là các trung tâm hay điểm tập trung năng lượng trong một Sự Sống lớn hơn nào đó. Nếu công việc như công việc các bạn đang làm muốn thành công, và đó phần lớn là công việc phát triển khả năng chạm đến một số dòng lưu trên các cấp độ trí tuệ—những dòng lưu [324] xuất lộ từ chân ngã, từ nhóm chân ngã của các bạn, hoặc từ Chân sư—thì những điều kiện được hoạch định rõ ràng phải được cung cấp. Một số yếu tố nhất định phải hiện diện. Nếu chúng không tồn tại, thì các dòng lưu, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy, bị lệch hướng, và sự tiếp xúc không thành tựu. Nếu cần phải bận rộn với các công việc thế gian—và những thời kỳ như thế đến trong mọi chu kỳ đời sống—thì sự chú ý nên được tập trung vào các chi tiết ấy, và khi đó sự tiếp xúc cao có thể tạm thời không được nhận ra. Sự chú ý như thế đối với các công việc trên cõi hồng trần không nhất thiết là mất thời gian, vì nó có thể là một phần của Thiên Cơ vào thời điểm đặc biệt đó nhiều như bất kỳ loại phụng sự nào khác. Biểu hiện trọn vẹn và tâm thức trên từng cõi và mọi cõi là mục tiêu, khi nhớ rằng mỗi cõi với các trạng thái tâm thức khác nhau của nó đều là một phần của Sự Sống thiêng liêng. Điều còn thiếu nơi đa số người chí nguyện hiện nay là một tâm thức tổng hợp và năng lực duy trì cũng như ghi nhận sự liên tục.

If emotional or mental chaos exists, then again the currents are deflected and the brain makes no record of that which may be inwardly seen and heard. If fatigue is present and the physical body is in need of rest, then likewise the inner fails to be recorded. It is the centres in the etheric vehicle which are vitalised and become active in this work of contact and consequent transmission of energy; if therefore the vitality is low and the pranic fluids are not assimilated, then the whole vibratory contact is lowered and the centre fails to register vibration and response. When again the stimulation is adequate and the other conditions are resolved into the necessary quietude, then again the currents may be encountered, response follows and a fresh cycle of receptivity eventuates. I have entered thus into explanation as I have seen many questioning, and am anxious that the process followed may be somewhat clarified. It is wise that all who work should have a clear understanding [325] of that work and should—along lines so closely affecting their power to serve—be fully aware of each step taken.

Nếu có hỗn loạn cảm xúc hay trí tuệ, thì các dòng lưu lại bị lệch hướng và bộ não không ghi lại được điều có thể được thấy và nghe bên trong. Nếu có mệt mỏi và thể xác cần nghỉ ngơi, thì điều bên trong cũng không được ghi nhận. Chính các trung tâm trong vận cụ dĩ thái được tiếp sinh lực và trở nên hoạt động trong công việc tiếp xúc này và sự truyền dẫn năng lượng tiếp theo; do đó, nếu sinh lực thấp và các lưu chất prana không được đồng hóa, thì toàn bộ tiếp xúc rung động bị hạ thấp và trung tâm không ghi nhận được rung động và đáp ứng. Khi sự kích thích lại đầy đủ và các điều kiện khác được giải quyết thành sự tĩnh lặng cần thiết, thì các dòng lưu lại có thể được gặp gỡ, đáp ứng tiếp theo và một chu kỳ tiếp nhận mới xảy ra. Tôi đã đi vào giải thích như vậy vì tôi thấy nhiều người thắc mắc, và tôi mong tiến trình được theo có thể phần nào được làm sáng tỏ. Điều minh triết là mọi người hoạt động đều nên có một sự thấu hiểu rõ ràng [325] về công việc ấy, và nên—trong những đường hướng ảnh hưởng rất mật thiết đến quyền năng phụng sự của họ—nhận biết đầy đủ từng bước đã được thực hiện.

As regards the problems occupying the attention of all of you who are living in this time of world unrest and upheaval, I have a word of cheer to give you. Though, to you, the whole situation may have seemed clouded and the horizon darkened by storms, bear in mind that when the disturbance is general, as now, and the whole area involved, then the end is near. In nature, a general electric storm serves to clear the atmosphere, and ushers in a period of sunshine and more grateful living conditions. We have had the electrical storm of the world war, and the period of gradual dispersion of the clouds has been with us, with the thunder rumbling round, and sudden sharp storms of wind and rain upsetting the hopefulness of those desiring sunshine. Those who with patience carry on the work, who keep the inner calm and surety who lose sight of the foreground of personalities, and bear only in mind the formless forces that are at work through all forms and seasons, will see order brought out of chaos, construction out of past destruction and present adjustments; they will see the setting loose of fresh life forces, hitherto shut out by the crystallising shells built by man. So hold the inner vision steadily and have that long patience which endures through the lesser cycle, because the key to the greater cycle has been held with firmness.

Về các vấn đề đang chiếm sự chú ý của tất cả các bạn, những người đang sống trong thời kỳ bất ổn và biến động thế giới này, tôi có một lời khích lệ để trao cho các bạn. Dù đối với các bạn, toàn bộ tình thế có thể dường như bị mây mù che phủ và chân trời bị bão tố làm tối sầm, hãy ghi nhớ rằng khi sự xáo trộn là chung, như hiện nay, và toàn bộ khu vực đều liên can, thì kết thúc đã gần. Trong thiên nhiên, một cơn giông điện tổng quát có tác dụng làm sạch bầu khí quyển và mở ra một thời kỳ nắng sáng cùng những điều kiện sống dễ chịu hơn. Chúng ta đã có cơn giông điện của cuộc chiến tranh thế giới, và thời kỳ tan dần của mây đã ở với chúng ta, với tiếng sấm vẫn rền vang chung quanh, và những cơn gió mưa bất chợt, dữ dội làm chao đảo niềm hy vọng của những người mong muốn nắng sáng. Những ai kiên nhẫn tiếp tục công việc, giữ sự bình an và xác tín nội tâm, không còn chú ý đến tiền cảnh của các phàm ngã, mà chỉ ghi nhớ các mãnh lực vô hình đang hoạt động qua mọi hình tướng và mọi mùa, sẽ thấy trật tự được đưa ra từ hỗn loạn, sự kiến tạo phát sinh từ sự phá hủy trong quá khứ và các điều chỉnh hiện tại; họ sẽ thấy sự phóng thích các mãnh lực sự sống mới, trước đây bị ngăn lại bởi những cái vỏ kết tinh do con người xây dựng. Vì vậy, hãy giữ vững tầm nhìn nội tâm và có sự kiên nhẫn lâu dài chịu đựng qua chu kỳ nhỏ, bởi vì chìa khóa của chu kỳ lớn đã được nắm giữ vững chắc.

It might be of value to touch briefly upon certain main lines of thought which are emerging at the present time and which are the outgrowth of the past and the promise of the future.

Có lẽ sẽ hữu ích nếu chạm ngắn gọn đến một số đường hướng tư tưởng chính đang nổi lên hiện nay, vốn là kết quả của quá khứ và lời hứa hẹn của tương lai.

The thoughts of men have ever been religious. There has never been a time when religion or the thoughts of men about God, about the infinite, and about the Life which has brought all into being has not been present. [326] Even the most ignorant of savage races have recognized a Power and have attempted to define their relationship to that Power in terms of fear, of sacrifice or of propitiation. From the rudiments of nature worship, from the fetichism and degraded idol worship of primitive man we have built up a structure of truth which though as yet imperfect and inadequate, does verily lay the foundation of the future Temple of Truth where the light of the Lord will be seen and which will prove adequate as an expression of Reality.

Tư tưởng của con người bao giờ cũng mang tính tôn giáo. Chưa bao giờ có một thời kỳ mà tôn giáo, hay tư tưởng của con người về Thượng đế, về vô hạn, và về Sự Sống đã đưa mọi sự vào hiện hữu, lại không hiện diện. [326] Ngay cả những chủng tộc hoang dã ngu dốt nhất cũng đã nhận ra một Quyền Năng và đã cố gắng xác định mối quan hệ của họ với Quyền Năng ấy bằng các thuật ngữ của sợ hãi, hiến tế hoặc xoa dịu. Từ những mầm mống của việc thờ phụng thiên nhiên, từ bái vật giáo và sự thờ thần tượng suy đồi của con người nguyên thủy, chúng ta đã xây dựng nên một cấu trúc chân lý; dù hiện còn bất toàn và chưa đầy đủ, nó thật sự đặt nền móng cho Thánh Điện Chân Lý tương lai, nơi ánh sáng của Chúa sẽ được thấy và sẽ chứng tỏ là thích đáng như một biểu hiện của Thực Tại.

Out of the darkness of time there have emerged the great religions. These religions though diverse in their theologies and forms of worship, though characterized by distinctions of organization and ceremonial, and though differing in their methods of application of truth, are united in three basic aspects:

Từ bóng tối của thời gian, các tôn giáo lớn đã xuất hiện. Các tôn giáo này, dù khác nhau trong thần học và hình thức thờ phượng, dù được đặc trưng bởi những khác biệt về tổ chức và nghi lễ, và dù khác nhau trong các phương pháp áp dụng chân lý, vẫn hợp nhất trong ba phương diện căn bản:

1. In their teaching as to the nature of God and of man.

1. Trong giáo huấn của chúng về bản chất của Thượng đế và của con người.

2. In their symbolism.

2. Trong hệ thống biểu tượng của chúng.

3. In certain fundamental doctrines.

3. Trong một số giáo lý nền tảng.

When men recognize this and succeed in isolating that inner significant structure of truth which is the same in all climes and in all races, then there will emerge the universal religion, the One Church, and that unified though not uniform approach to God, which will demonstrate the truth of St. Paul’s words “One Lord, one faith, one baptism, one God and Father of all, who is above all and through all and in you all.” Theologies will disappear into the knowledge of God; doctrines and dogmas will no longer be regarded as necessary, for faith will be based on experience, and authority will give place to personal appreciation of Reality. The power of the Church over the group will be supplanted by the power of the awakened soul in men; the age of miracles and the disputations as to the why and how of those miracles [327] with the consequent scepticism or agnosticism will give way to the understanding of the laws of nature which control the superhuman realm and the supernatural stage of the evolutionary process. Man will enter into his divine heritage and know himself as the Son of the Father, with all the divine characteristics, powers and capacities which are his because of his divine endowment. But in the meantime what have we? A breaking away from old established tradition, a revolt from authority, whether of the Church, of dogma, doctrine or theology; a tendency towards self-determination and an overthrowing of the old standards, and of old barriers of thought and the divisions existing between races and faiths.

Khi con người nhận ra điều này và thành công trong việc tách riêng cấu trúc thâm nghĩa bên trong của chân lý — vốn đồng nhất trong mọi miền khí hậu và trong mọi nhân loại — bấy giờ tôn giáo phổ quát, Giáo hội Duy Nhất, và cách tiếp cận Thượng đế hợp nhất dù không đồng dạng sẽ xuất hiện; điều đó sẽ chứng minh chân lý trong lời của Thánh Phao-lô: “Một Chúa, một đức tin, một phép rửa, một Thượng đế và Cha của tất cả, Đấng ở trên tất cả, xuyên qua tất cả và ở trong tất cả các bạn.” Các nền thần học sẽ tan biến vào tri thức về Thượng đế; các giáo lý và tín điều sẽ không còn được xem là cần thiết, vì đức tin sẽ đặt nền trên kinh nghiệm, và quyền uy sẽ nhường chỗ cho sự thẩm nhận cá nhân về Thực Tại. Quyền lực của Giáo hội đối với tập thể sẽ được thay thế bằng quyền năng của linh hồn đã thức tỉnh nơi con người; thời đại của các phép lạ và những tranh luận về lý do và cách thức của các phép lạ ấy [327] cùng với sự hoài nghi hay thuyết bất khả tri phát sinh từ đó, sẽ nhường chỗ cho sự thấu hiểu các định luật của thiên nhiên vốn chi phối lĩnh vực siêu nhân và giai đoạn siêu nhiên của tiến trình thăng thượng tiến hoá. Con người sẽ bước vào di sản thiêng liêng của y và biết mình là Con của Cha, với mọi đặc tính, quyền năng và năng lực thiêng liêng vốn thuộc về y do thiên phú thiêng liêng của y. Nhưng trong lúc này, chúng ta có gì? Một sự tách rời khỏi truyền thống cũ đã được thiết lập, một cuộc phản kháng chống lại quyền uy, dù là của Giáo hội, của tín điều, giáo lý hay thần học; một khuynh hướng hướng tới quyền tự quyết và sự lật đổ các chuẩn mực cũ, các rào cản tư tưởng cũ và những phân chia hiện hữu giữa các nhân loại và các tín ngưỡng.

Hence we are passing through an intermediate stage of chaos and of questioning, of rebellion and consequent apparent license. The methods of science, —investigation and analysis, comparison and deduction, —are being applied to religious belief. The history of religions, the foundations of doctrine, the origin of ideas and the growth of the God idea are being subjected to research and study. This leads to much disputation; to the rejection of old established ideas as to God, the soul, man and his destiny. Schools of thought have ever existed differing in their ideas and methods and the six Schools of Indian Philosophy have embodied in themselves practically all the basic speculations of man as to the why and wherefore of manifestation. Little which is new has been added by the occident to these six speculative schools, though the western mind, with its genius for scientific techniques and method, has elaborated the ideas and differentiated the six theories into a multiplicity of lesser propositions. Out of the medley of ideas, theories, speculations, religions, churches, cults, sects and organizations, two main lines of thought are emerging—one doomed eventually to die out, the other to strengthen and grow until it, in its turn, gives birth to that (for us) [328] ultimate formulation of truth which will suffice for the next age and carry man to a high pinnacle of the Temple to the Mount of Initiation. These two lines are:

Do đó, chúng ta đang đi qua một giai đoạn trung gian của hỗn độn và chất vấn, của phản kháng và sự buông thả có vẻ như là hệ quả. Các phương pháp của khoa học — khảo sát và phân tích, so sánh và suy luận — đang được áp dụng vào niềm tin tôn giáo. Lịch sử các tôn giáo, nền tảng của giáo lý, nguồn gốc của các ý tưởng và sự tăng trưởng của ý niệm về Thượng đế đang được đặt dưới sự nghiên cứu và khảo cứu. Điều này dẫn đến nhiều tranh luận; đến sự bác bỏ những ý tưởng cũ đã được thiết lập về Thượng đế, linh hồn, con người và định mệnh của y. Các trường phái tư tưởng, khác nhau về ý tưởng và phương pháp, vẫn luôn tồn tại; và sáu Trường phái Triết học Ấn Độ đã hàm chứa trong chính chúng hầu như mọi suy tư căn bản của con người về lý do và nguyên nhân của sự biểu hiện. Tây phương đã thêm vào sáu trường phái suy tư này rất ít điều mới mẻ, dù trí tuệ Tây phương, với thiên tài về kỹ thuật và phương pháp khoa học, đã khai triển các ý tưởng và biến phân sáu lý thuyết ấy thành vô số mệnh đề nhỏ hơn. Từ hỗn hợp các ý tưởng, lý thuyết, suy tư, tôn giáo, giáo hội, giáo phái, tông phái và tổ chức, hai dòng tư tưởng chính đang xuất hiện — một dòng cuối cùng sẽ tiêu vong, dòng kia sẽ mạnh lên và tăng trưởng cho đến khi đến lượt nó sinh ra sự trình bày chân lý tối hậu đối với chúng ta [328], đủ cho thời đại kế tiếp và đưa con người lên một đỉnh cao của Đền thờ đến Núi Điểm Đạo. Hai dòng ấy là:

1. Those who look back to the past, who hang on to the old ways, the ancient theologies, and the reactionary rejection methods of finding truth. These are the people who recognize authority, whether that of a prophet, a bible or a theology. These are those who prefer obedience to imposed authority to the self-imposed guidance of an enlightened soul. These are the followers of a Church and a government, who are distinguished by a pure devotion and love, but refuse recognition to the divine intelligence with which they are gifted. Their devotion, their love of God, their strict but misguided conscience, their intolerance mark them out as devotees, but they are blinded by their own devotion and their growth is limited by their fanaticism. They belong mostly to the older generation and the hope for them lies in their devotion and the fact that evolution itself will carry them forward into the second group.

1. Những người nhìn về quá khứ, bám víu vào các đường lối cũ, các nền thần học cổ xưa, và các phương pháp phản động, phủ nhận trong việc tìm kiếm chân lý. Đây là những người thừa nhận quyền uy, dù là quyền uy của một tiên tri, một bộ kinh thánh hay một nền thần học. Đây là những người ưa thích sự vâng phục quyền uy áp đặt hơn là sự hướng dẫn tự nguyện của một linh hồn đã giác ngộ. Đây là những môn đồ của một Giáo hội và một chính quyền, được phân biệt bởi lòng sùng tín và tình thương thuần khiết, nhưng khước từ việc thừa nhận trí tuệ thiêng liêng mà họ được ban tặng. Lòng sùng tín của họ, tình thương Thượng đế của họ, lương tâm nghiêm khắc nhưng lầm hướng của họ, sự bất khoan dung của họ đánh dấu họ như những người sùng tín, nhưng họ bị chính lòng sùng tín của mình làm mù quáng và sự tăng trưởng của họ bị giới hạn bởi cuồng tín. Phần lớn họ thuộc thế hệ cũ, và hy vọng dành cho họ nằm trong lòng sùng tín của họ và trong sự kiện rằng chính tiến hoá sẽ đưa họ tiến vào nhóm thứ hai.

To this first group is committed the work of crystallization which will result in the complete destruction of the old form; to them is given the task of defining the old truths so that the mind of the race will be clarified, that non-essentials and essentials will be recognized for what they are, and fundamental ideas so contrasted with the formulation of dogmas that that which is basic will be seen and the secondary and unimportant beliefs therefore rejected, for only the basic and causative will be of value in the coming age.

Nhóm thứ nhất này được giao phó công việc kết tinh, vốn sẽ dẫn đến sự hủy diệt hoàn toàn hình tướng cũ; họ được trao nhiệm vụ xác định các chân lý cũ để trí tuệ của nhân loại được làm sáng tỏ, để những điều không cốt yếu và những điều cốt yếu được nhận ra đúng như chúng là, và để các ý tưởng nền tảng được đặt trong tương phản rõ rệt với sự lập thành các tín điều, hầu điều căn bản được thấy rõ và các niềm tin thứ yếu, không quan trọng, do đó bị loại bỏ; vì trong thời đại đang đến, chỉ những gì căn bản và có tính nguyên nhân mới có giá trị.

2. The second group is as yet a very small minority, but a steadily growing one. It is that inner group of lovers of God, the intellectual mystics, the knowers of reality who belong to no one religion or organization, but who regard themselves as members of the Church universal and as “members one of another”. They are [329] gathered out of every nation, race and people; they are of every color and school of thought, yet they speak the same language, learn by the same symbols, tread the same path, have rejected the same non-essentials, and have isolated the same body of essential beliefs. They recognize each other; they accord equal devotion to the spiritual leaders of all races, and use each other’s Bibles with equal freedom. They form the subjective background of the new world; they constitute the spiritual nucleus of the coming world religion; they are the unifying principle which will eventually save the world.

2. Nhóm thứ hai hiện vẫn là một thiểu số rất nhỏ, nhưng đang tăng trưởng đều đặn. Đó là nhóm nội tại gồm những người yêu Thượng đế, các nhà thần bí trí tuệ, các thức giả về thực tại, không thuộc về bất cứ tôn giáo hay tổ chức nào, nhưng tự xem mình là thành viên của Giáo hội phổ quát và là “các chi thể của nhau”. Họ được [329] tập hợp từ mọi quốc gia, nhân loại và dân tộc; họ thuộc mọi màu da và mọi trường phái tư tưởng, nhưng họ nói cùng một ngôn ngữ, học bằng cùng những biểu tượng, bước trên cùng một con đường, đã bác bỏ cùng những điều không cốt yếu, và đã tách riêng cùng một hệ thống các niềm tin cốt yếu. Họ nhận ra nhau; họ dành lòng sùng tín ngang nhau cho các nhà lãnh đạo tinh thần của mọi nhân loại, và sử dụng các Kinh Thánh của nhau với cùng một sự tự do. Họ tạo thành bối cảnh chủ quan của thế giới mới; họ cấu thành hạt nhân tinh thần của tôn giáo thế giới đang đến; họ là nguyên khí hợp nhất cuối cùng sẽ cứu thế giới.

In the past we have had world Saviours—Sons of God who have enunciated a world message and brought an increase of light to the peoples. Now, in the fullness of time, and through the work of evolution there is emerging a group who perhaps will bring salvation to the world, and who—embodying the group ideas and demonstrating the group nature, manifesting in a small way the true significance of the body of Christ, and giving to the world a picture of the true nature of a spiritual organism—will so stimulate and energize the thoughts and souls of men that the new age will be ushered in by an outpouring of the love, knowledge and harmony of God Himself.

Trong quá khứ, chúng ta đã có các Đấng Cứu Thế — các Con của Thượng đế đã tuyên thuyết một thông điệp thế giới và đem thêm ánh sáng cho các dân tộc. Giờ đây, trong sự viên mãn của thời gian, và qua công trình của tiến hoá, đang xuất hiện một nhóm có lẽ sẽ đem sự cứu rỗi đến cho thế giới; và nhóm ấy — hiện thân cho các ý tưởng tập thể và biểu lộ bản chất tập thể, biểu hiện theo một cách nhỏ bé thâm nghĩa đích thực của thân thể Đức Christ, và trao cho thế giới một hình ảnh về bản chất thật của một cơ cấu tinh thần — sẽ kích thích và tiếp sinh lực cho tư tưởng và linh hồn của con người đến mức thời đại mới sẽ được mở ra bằng một lần tuôn đổ tình thương, tri thức và sự hài hòa của chính Thượng đế.

Religions in the past have been founded by a great soul, by an Avatar, by an outstanding spiritual personality, and the stamp of their lives and words and teaching has been set upon the race and has persisted for many centuries. What will be the effect of the message of a group Avatar? What will be the potency of the work of a group of knowers of God, enunciating truth and banded together subjectively in the great work of saving the world? What will be the effect of the mission of a group of world Saviours, not as Christs, but all knowers of God in some degree, who supplement each other‘s efforts, reinforce each other’s message, and constitute an organism [330] through which the spiritual energy and principle of spiritual life can make their presence felt in the world?

Các tôn giáo trong quá khứ đã được sáng lập bởi một linh hồn vĩ đại, bởi một Đấng Hoá Thân, bởi một phàm ngã tinh thần nổi bật, và dấu ấn của đời sống, lời nói và giáo huấn của các Ngài đã được đặt lên nhân loại và tồn tại qua nhiều thế kỷ. Hiệu quả của thông điệp từ một Đấng Hoá Thân tập thể sẽ là gì? Quyền năng của công trình do một nhóm thức giả về Thượng đế, tuyên thuyết chân lý và liên kết với nhau một cách chủ quan trong đại sự nghiệp cứu thế giới, sẽ là gì? Hiệu quả của sứ mệnh do một nhóm các Đấng Cứu Thế của thế giới, không phải như các Đức Christ, nhưng đều là những thức giả về Thượng đế ở một mức độ nào đó, bổ sung nỗ lực của nhau, củng cố thông điệp của nhau, và cấu thành một cơ cấu [330] qua đó năng lượng tinh thần và nguyên khí của sự sống tinh thần có thể làm cho sự hiện diện của chúng được cảm nhận trong thế giới, sẽ là gì?

Such a body now exists with its members in every land. Relatively they are few and far between, but steadily their numbers are increasing and increasingly their message will be felt. In them is rested a spirit of construction; they are the builders of the new age; to them is given the work of preserving the spirit of truth, and the reorganizing of the thoughts of men so that the racial mind is controlled and brought into that meditative and reflective condition which will permit it to recognize the next unfoldment of divinity.

Một cơ thể như thế hiện đang tồn tại, với các thành viên ở mọi xứ sở. Tương đối mà nói, họ còn ít và rải rác, nhưng số lượng của họ đang tăng lên đều đặn và thông điệp của họ sẽ ngày càng được cảm nhận. Nơi họ an trụ một tinh thần xây dựng; họ là những đấng kiến tạo của thời đại mới; họ được trao công việc gìn giữ tinh thần của chân lý, và tổ chức lại tư tưởng của con người để trí tuệ nhân loại được kiểm soát và được đưa vào trạng thái tham thiền và suy tư, cho phép nó nhận ra sự khai mở kế tiếp của thiên tính.

Connected with these two groups, the reactionary doctrinaires and the subjective band of mystics, is the majority of the new generation of young people who are part of neither band and whose ideas are largely disorganized by the recognition of both. This majority do not belong to the past and refuse to accept the authority of that past. They do not belong to the inner group of Knowers who are working at the task of swinging the thoughts of men into right channels, for they have not reached as yet the point of knowledge. They only recognize two things: their need for freedom, and an intense eagerness for knowledge. They despise the tradition of the past; they reject the old formulations of truth; and because as yet they stand on no sure ground but are only in the position of seekers and enquirers, we have our present state of world upheaval, of apparent license and disruption. It should not be forgotten that this world state is therefore the result of the clashing of the three types of force prevalent in the world of today.

Liên hệ với hai nhóm này — những nhà giáo điều thủ cựu và đoàn thể chủ quan của các nhà thần bí — là đa số thế hệ trẻ mới, những người không thuộc về đoàn thể nào trong hai đoàn thể ấy và có các ý tưởng phần lớn bị xáo trộn do nhận biết cả hai. Đa số này không thuộc về quá khứ và từ chối chấp nhận quyền uy của quá khứ ấy. Họ không thuộc về nhóm nội tại của các Thức giả đang làm công việc đưa tư tưởng của con người vào những kênh đúng đắn, vì họ chưa đạt đến điểm tri thức. Họ chỉ nhận ra hai điều: nhu cầu tự do của họ, và một sự háo hức mãnh liệt đối với tri thức. Họ khinh thường truyền thống của quá khứ; họ bác bỏ các công thức cũ của chân lý; và bởi vì hiện họ chưa đứng trên một nền tảng chắc chắn nào mà chỉ ở vị thế của những người tìm kiếm và chất vấn, nên chúng ta có tình trạng hiện nay của thế giới: biến động, buông thả có vẻ như vậy và đổ vỡ. Không nên quên rằng tình trạng thế giới này vì thế là kết quả của sự va chạm giữa ba loại mãnh lực đang thịnh hành trong thế giới ngày nay.

1. That emanating from the holders with the old tradition, who, emphasizing the forms and the past produce the destruction of those forms.

1. Mãnh lực phát ra từ những người bám giữ truyền thống cũ, những người, khi nhấn mạnh các hình tướng và quá khứ, tạo ra sự hủy diệt các hình tướng ấy.

2. That emanating from the inner group of mystics, [331] who, under the guidance of the planetary Hierarchy are building the new form.

2. Mãnh lực phát ra từ nhóm nội tại của các nhà thần bí, [331] những người, dưới sự hướng dẫn của Thánh Đoàn hành tinh, đang xây dựng hình tướng mới.

3. That emanating from the masses who belong to neither group and who are wielding force as yet blindly and often unwisely until such time comes when they recognize those constructive channels into which it can wisely be poured.

3. Mãnh lực phát ra từ quần chúng, những người không thuộc về nhóm nào và hiện vẫn còn sử dụng mãnh lực một cách mù quáng và thường thiếu minh triết, cho đến khi đến thời điểm họ nhận ra những kênh xây dựng mà mãnh lực ấy có thể được tuôn đổ vào một cách khôn ngoan.

Hence the problem of this transition period and hence the necessity for the giving out of teaching which will enable the seeking aspirant and enquirer to find himself. Hence the need for the laws of the soul and for the truth as to individual unfoldment to be made clear to those who, rejecting the old tradition, and refusing recognition to the mystic, yet seek to know themselves as liberated souls. With that knowledge will come the steady growth of the Building Mystics, for when a man has found his soul and recognizes its relationship to its mechanism of expression, the threefold lower man, he automatically passes into the consciousness of the subjective life, begins to work with cause and is no longer lost in the world of effects. Then he finds himself standing shoulder to shoulder with the mystics and knowers of all time. This is the trend of the religious impulse at this time and this is the glory of the coming age.

Do đó có vấn đề của thời kỳ chuyển tiếp này, và do đó có sự cần thiết phải ban ra giáo huấn giúp người chí nguyện và người chất vấn đang tìm kiếm tìm thấy chính mình. Do đó có nhu cầu làm sáng tỏ các định luật của linh hồn và chân lý về sự khai mở cá nhân cho những ai, trong khi bác bỏ truyền thống cũ và từ chối thừa nhận nhà thần bí, vẫn tìm cách biết mình như những linh hồn được giải thoát. Cùng với tri thức ấy sẽ đến sự tăng trưởng đều đặn của các Nhà Thần Bí Kiến Tạo, vì khi một người đã tìm thấy linh hồn mình và nhận ra mối quan hệ của nó với bộ máy biểu hiện của nó, tức phàm nhân tam phân, y tự động đi vào tâm thức của đời sống chủ quan, bắt đầu làm việc với nguyên nhân và không còn lạc mất trong thế giới của các hiệu quả. Khi ấy y thấy mình đứng vai kề vai với các nhà thần bí và các thức giả của mọi thời. Đây là khuynh hướng của xung lực tôn giáo vào lúc này và đây là vinh quang của thời đại đang đến.

If it is true that there is being gathered together in the background of our present world-state a group of mystics who are distinguished by knowledge, vision, and a power to work on mental levels, unseen and unrecognized by men, it could also be noted that this band is not confined to the strictly religious types. Men and women in every branch of human thought are found among this group including scientists and philosophers.

Nếu đúng là trong hậu trường của tình trạng thế giới hiện nay của chúng ta đang có một nhóm các nhà thần bí được tập hợp lại, những người nổi bật bởi tri thức, tầm nhìn và quyền năng làm việc trên các cấp độ trí tuệ, không được con người thấy và không được công nhận, thì cũng có thể lưu ý rằng đoàn thể này không bị giới hạn trong các mẫu người thuần túy tôn giáo. Những người nam và nữ trong mọi ngành tư tưởng nhân loại đều được tìm thấy trong nhóm này, gồm cả các nhà khoa học và triết gia.

Like all else at this time, science itself is in process of transformation, and little as it is realized by many, their work with what they call matter, and their investigations of the atom are entering into a new field. In this [332] field the older techniques and mechanisms will gradually be discarded and a new approach and a different fundamental concept as to the nature of matter will mark the new age. Within the next twenty-five years, emerging out of the two seemingly different ideas as to the nature of the atom, a recognition of certain energy impulses will be seen and this will be based on the discovery of those energies which (playing on the atom and on atomic forms) produce the tangible concrete shapes to which we give names in the various kingdoms of nature. The truth of certain basic premises of the Ageless Wisdom will be demonstrated, such as:

Giống như mọi điều khác vào lúc này, chính khoa học cũng đang trong tiến trình chuyển đổi; và dù nhiều người ít nhận ra, công việc của họ với cái mà họ gọi là vật chất, cùng những khảo sát của họ về nguyên tử, đang bước vào một lĩnh vực mới. Trong lĩnh vực này [332], các kỹ thuật và bộ máy cũ sẽ dần dần bị loại bỏ, và một cách tiếp cận mới cùng một quan niệm nền tảng khác về bản chất của vật chất sẽ đánh dấu thời đại mới. Trong vòng hai mươi lăm năm tới, phát sinh từ hai ý tưởng có vẻ khác nhau về bản chất của nguyên tử, người ta sẽ thấy sự thừa nhận một số xung lực năng lượng nhất định; và điều này sẽ đặt nền trên sự khám phá những năng lượng vốn, khi tác động lên nguyên tử và các hình tướng nguyên tử, tạo ra những dạng thức cụ thể hữu hình mà chúng ta đặt tên trong các giới khác nhau của thiên nhiên. Chân lý của một số tiền đề căn bản thuộc Minh Triết Ngàn Đời sẽ được chứng minh, chẳng hạn như:

1. The soul is the form-building principle, producing attraction and cohesion.

1. Linh hồn là nguyên khí kiến tạo hình tướng, tạo ra sự hấp dẫn và cố kết.

2. This soul is an aspect or type of energy, distinguished from that of matter itself.

2. Linh hồn này là một phương diện hay một loại năng lượng, khác với năng lượng của chính vật chất.

3. The atom has been recognized as an energy unit, but as yet the energy which sweeps atoms into aggregates which we call organisms and forms has not been isolated. This the mystics in the scientific world will sense and work to demonstrate during the next generation. It is this type of energy, the energy of the form building aspect of manifestation which is the source of all magical work; and it is this energy in the various kingdoms of nature that produces form, shape, species, kind, type and the differentiations which mark and distinguish the myriad forms through which life itself manifests. It is the quality of the energy which produces the quantity of forms; it is the light which causes the emergence into consciousness of the race of heterogeneous shapes which aggregates of atoms can assume.

3. Nguyên tử đã được nhận ra như một đơn vị năng lượng, nhưng năng lượng cuốn các nguyên tử vào những tổ hợp mà chúng ta gọi là các cơ cấu và hình tướng vẫn chưa được tách riêng. Các nhà thần bí trong thế giới khoa học sẽ cảm nhận điều này và nỗ lực chứng minh nó trong thế hệ kế tiếp. Chính loại năng lượng này, năng lượng của phương diện kiến tạo hình tướng trong sự biểu hiện, là nguồn gốc của mọi công việc huyền thuật; và chính năng lượng này trong các giới khác nhau của thiên nhiên tạo ra hình tướng, dáng vẻ, loài, loại, mẫu và các biến phân đánh dấu và phân biệt vô số hình tướng qua đó chính sự sống biểu hiện. Chính phẩm tính của năng lượng tạo ra số lượng hình tướng; chính ánh sáng làm phát sinh vào trong tâm thức nhân loại những dạng thức dị biệt mà các tổ hợp nguyên tử có thể khoác lấy.

4. This type of energy which produces the shapes and forms and coherent organisms in all the kingdoms of nature is not the life principle. The life principle will remain undiscovered and unrecognized until such time as [333] the soul or qualifying principle, the builder of the forms is studied, recognized and in its turn investigated.

4. Loại năng lượng tạo ra các dạng thức, hình tướng và cơ cấu cố kết trong mọi giới của thiên nhiên này không phải là nguyên khí sự sống. Nguyên khí sự sống sẽ vẫn chưa được khám phá và chưa được nhận biết cho đến khi [333] linh hồn hay nguyên khí định phẩm, đấng kiến tạo các hình tướng, được nghiên cứu, được nhận ra và đến lượt nó được khảo sát.

5. This is only possible as man steps forth into a fuller conscious possession of his divine heritage, and working as a soul and in control of his mechanism (physical, emotional, and mental) can work consciously en rapport with the soul in all forms.

5. Điều này chỉ có thể xảy ra khi con người bước tới trong sự sở hữu có ý thức đầy đủ hơn đối với di sản thiêng liêng của mình, và khi y, làm việc như một linh hồn và kiểm soát bộ máy của mình — hồng trần, cảm xúc và trí tuệ — có thể làm việc một cách có ý thức trong quan hệ hòa hợp với linh hồn trong mọi hình tướng.

This will be possible only as the race grasps the above hypothesis, and recognizes it as a possibility and seeks to demonstrate the fact of the soul-factor lying back of its structure or body of manifestation, or equally, seeks to disprove it. All great scientists and workers in the realm of objective nature have worked as souls, and all the most amazing of the developments in the realm of physics and chemistry, as in other departments of human knowledge, have been made when the worker in any particular field has launched forth with faith in some hypothesis he has formed, and has investigated and progressed his work forward stage by stage until he has contacted an aspect of the truth hitherto unformulated by man. Then, having through the use of his intuition entered into a new realm of thought, he takes the knowledge there discovered and formulates it in such way by theory, principle, experiment and mechanical contrivance that it becomes the possession of the group, and in due time is understood and utilized by the world. But in its genesis it has been mystical work and based on a mystical intuition.

Điều này sẽ chỉ có thể xảy ra khi nhân loại nắm bắt giả thuyết trên, nhận ra nó như một khả thể và tìm cách chứng minh sự kiện về yếu tố linh hồn nằm phía sau cấu trúc hay thể biểu hiện của nó, hoặc cũng vậy, tìm cách bác bỏ nó. Mọi nhà khoa học vĩ đại và những người hoạt động trong lĩnh vực thiên nhiên khách quan đều đã làm việc như các linh hồn; và tất cả những phát triển đáng kinh ngạc nhất trong lĩnh vực vật lý và hóa học, cũng như trong các ngành tri thức nhân loại khác, đã được tạo ra khi người hoạt động trong một lĩnh vực đặc thù nào đó tiến bước với niềm tin vào một giả thuyết mà y đã hình thành, rồi khảo sát và thúc đẩy công việc của mình tiến lên từng giai đoạn cho đến khi y tiếp xúc với một phương diện của chân lý trước đó chưa từng được con người công thức hóa. Khi ấy, sau khi nhờ sử dụng trực giác mà bước vào một lĩnh vực tư tưởng mới, y lấy tri thức đã khám phá ở đó và công thức hóa nó bằng lý thuyết, nguyên khí, thí nghiệm và phương tiện cơ giới sao cho nó trở thành sở hữu của tập thể, và đúng thời được thế giới thấu hiểu và sử dụng. Nhưng trong nguồn gốc của nó, đó là công việc thần bí và đặt nền trên một trực giác thần bí.

It might be noted here that three great discoveries are imminent and during the next two generations will revolutionize modern thought and life.

Có thể lưu ý ở đây rằng ba khám phá lớn đang gần kề và trong hai thế hệ tới sẽ cách mạng hóa tư tưởng và đời sống hiện đại.

One is already sensed and is the subject of experiment and investigation, the releasing of the energy of the atom. This will completely change the economic and political situation in the world, for the latter is largely dependent upon the former. Our mechanical civilization will be simplified, and an era ushered in which will be [334] free from the incubus of money (its possession and its non-possession), and the human family will recognize universally its status as a bridging kingdom between the three lower kingdoms of nature and the fifth or spiritual kingdom. There will be time and freedom for a soul culture which will supersede our modern methods of education, and the significance of soul powers and the development of the superhuman consciousness will engross the attention of educators and students everywhere.

Một khám phá đã được cảm nhận và đang là đối tượng của thí nghiệm và khảo sát: sự giải phóng năng lượng của nguyên tử. Điều này sẽ thay đổi hoàn toàn tình hình kinh tế và chính trị trong thế giới, vì tình hình sau phần lớn lệ thuộc vào tình hình trước. Nền văn minh cơ giới của chúng ta sẽ được giản lược, và một kỷ nguyên sẽ được mở ra, [334] thoát khỏi gánh nặng của tiền bạc — việc có nó và không có nó — và gia đình nhân loại sẽ nhận ra một cách phổ quát địa vị của mình như một giới bắc cầu giữa ba giới thấp của thiên nhiên và giới thứ năm hay giới tinh thần. Sẽ có thời gian và tự do cho một nền văn hóa linh hồn, vốn sẽ thay thế các phương pháp giáo dục hiện đại của chúng ta; và thâm nghĩa của các quyền năng linh hồn cùng sự phát triển của tâm thức siêu nhân sẽ thu hút sự chú ý của các nhà giáo dục và đạo sinh ở khắp nơi.

A second discovery will grow out of the present investigations as to light and color. The effect of color on people, animals and units in the vegetable kingdom will be studied and the result of those studies will be the development of etheric vision or the power to see the next grade of matter with the strictly physical eye. Increasingly will people think and talk in terms of light, and the effect of the coming developments in this department of human thought will be triple.

Một khám phá thứ hai sẽ nảy sinh từ các khảo sát hiện nay về ánh sáng và màu sắc. Tác động của màu sắc lên con người, động vật và các đơn vị trong giới thực vật sẽ được nghiên cứu; và kết quả của những nghiên cứu ấy sẽ là sự phát triển của thị giác dĩ thái, hay quyền năng thấy cấp độ vật chất kế tiếp bằng chính con mắt hồng trần. Con người sẽ ngày càng suy nghĩ và nói năng theo các thuật ngữ của ánh sáng, và tác động của những phát triển đang đến trong ngành tư tưởng nhân loại này sẽ có tính tam phân.

a. People will possess etheric vision.

a. Con người sẽ sở hữu thị giác dĩ thái.

b. The vital or etheric body, lying as the inner structure of the outer forms, will be seen and noted and studied in all kingdoms of nature.

b. Thể sinh lực hay thể dĩ thái, nằm như cấu trúc bên trong của các hình tướng bên ngoài, sẽ được thấy, ghi nhận và nghiên cứu trong mọi giới của thiên nhiên.

c. This will break down all barriers of race and all distinctions of color; the essential brotherhood of man will be established. We shall see each other and all forms of divine manifestation as light units of varying degrees of brightness and shall talk and think increasingly in terms of electricity, of voltage, of intensity and of power. The age and status of men, in regard to the ladder of evolution, will be noted and become objectively apparent, the relative capacities of old souls, and young souls will be recognized, thereby re-establishing on earth the rule of the enlightened.

c. Điều này sẽ phá vỡ mọi rào cản nhân loại và mọi phân biệt về màu da; tình huynh đệ cốt yếu của con người sẽ được thiết lập. Chúng ta sẽ thấy nhau và mọi hình tướng biểu hiện thiêng liêng như các đơn vị ánh sáng với những mức độ sáng chói khác nhau, và sẽ ngày càng nói và nghĩ bằng các thuật ngữ về điện, điện thế, cường độ và quyền năng. Tuổi và địa vị của con người, xét theo nấc thang tiến hoá, sẽ được ghi nhận và trở nên hiển nhiên một cách khách quan; các năng lực tương đối của những linh hồn già và những linh hồn trẻ sẽ được nhận ra, qua đó tái lập trên Trái Đất sự cai quản của những người đã giác ngộ.

Note here, that these developments will be the work of the scientists of the next two generations and the result [335] of their efforts. Their work with the atom of substance, and their investigations in the realm of electricity, of light and of power, must inevitably demonstrate the relation between forms, which is another term for brotherhood, and the fact of the soul, the inner light and radiance of all forms.

Hãy lưu ý ở đây rằng những phát triển này sẽ là công việc của các nhà khoa học trong hai thế hệ tới và là kết quả [335] của các nỗ lực của họ. Công việc của họ với nguyên tử chất liệu, cùng những khảo sát của họ trong lĩnh vực điện, ánh sáng và quyền năng, tất yếu phải chứng minh mối quan hệ giữa các hình tướng — vốn là một thuật ngữ khác cho tình huynh đệ — và sự kiện về linh hồn, ánh sáng và hào quang bên trong của mọi hình tướng.

The third development, which will be the last probably to take place, will be more strictly in the realm of what the occultists call magic. It will grow out of the study of sound and the effect of sound and will put into man’s hands a tremendous instrument in the world of creation. Through the use of sound the scientist of the future will bring about his results; through sound, a new field of discovery will open up; the sound which every form in all kingdoms of nature gives forth will be studied and known and changes will be brought about and new forms developed through its medium. One hint only may I give here and that is, that the release of energy in the atom is linked to this new coming science of sound.

Phát triển thứ ba, có lẽ sẽ là điều cuối cùng xảy ra, sẽ thuộc về lĩnh vực mà các nhà huyền bí học gọi là huyền thuật theo nghĩa chặt chẽ hơn. Nó sẽ phát sinh từ việc nghiên cứu âm thanh và tác động của âm thanh, và sẽ đặt vào tay con người một công cụ phi thường trong thế giới sáng tạo. Qua việc sử dụng âm thanh, nhà khoa học tương lai sẽ tạo ra các kết quả của mình; qua âm thanh, một lĩnh vực khám phá mới sẽ mở ra; âm thanh mà mỗi hình tướng trong mọi giới của thiên nhiên phát ra sẽ được nghiên cứu và biết đến, và các thay đổi sẽ được tạo ra, các hình tướng mới sẽ được phát triển thông qua môi giới của nó. Tôi chỉ có thể đưa ra một gợi ý ở đây, đó là sự giải phóng năng lượng trong nguyên tử có liên hệ với khoa học mới về âm thanh sắp đến này.

The significance of what has happened in the world during the last century in the realm of sound is not appreciated yet nor understood. Terrific effects are however being produced by the unbelievably increased noise and sound emanating from the planet at this time. The roar of machinery, the rumble of the transportation mechanisms in all parts of the world—trains, vessels and airplanes—the focussing of the sounds of men in such congested areas as the great cities, and, at this time, the universal use of the radio bringing musical sounds into every home and into street life are producing effects upon the bodies of men and upon all forms of life everywhere which will become apparent only as time elapses. Some forms of life in the animal kingdom, but primarily in the vegetable kingdom, will disappear and the response of the human mechanism to this world of sound, uproar and [336] music in which it will increasingly find itself will be most interesting.

Thâm nghĩa của những gì đã xảy ra trong thế giới trong thế kỷ vừa qua thuộc lĩnh vực âm thanh vẫn chưa được đánh giá đúng cũng như chưa được thấu hiểu. Tuy nhiên, những hiệu quả khủng khiếp đang được tạo ra bởi tiếng ồn và âm thanh gia tăng đến mức khó tin phát ra từ hành tinh vào lúc này. Tiếng gầm của máy móc, tiếng ầm ì của các bộ máy vận chuyển ở khắp nơi trên thế giới — xe lửa, tàu bè và máy bay — sự tập trung các âm thanh của con người trong những khu vực đông nghẹt như các đại đô thị, và vào lúc này, việc sử dụng phổ quát vô tuyến truyền thanh đưa âm thanh âm nhạc vào mọi gia đình và vào đời sống đường phố, đang tạo ra các hiệu quả trên các thể của con người và trên mọi hình tướng sự sống ở khắp nơi, vốn chỉ trở nên rõ ràng khi thời gian trôi qua. Một số hình tướng sự sống trong giới động vật, nhưng chủ yếu trong giới thực vật, sẽ biến mất; và sự đáp ứng của bộ máy con người đối với thế giới âm thanh, náo động và [336] âm nhạc này, trong đó nó sẽ ngày càng thấy mình hiện diện, sẽ vô cùng đáng chú ý.

These three developments will usher in the new age, will produce in this transition period the needed changes, and will inaugurate a new era wherein brotherhood will be the keynote, for it will be a demonstrated fact in nature. It will be an age wherein men will walk in the light, for it will be a world of recognized inner radiance, wherein the work of the world will be carried forward through the medium of sound, and eventually through the use of words of power and the work of the trained magician. These trained workers in substance, understanding the nature of matter, seeing always in terms of light and comprehending the purpose of sound will bring about those structural changes and those material transformations which will establish a civilization adequate for the work of the coming race. This work will be that of the conscious unification of the soul and its vehicle of manifestation. Those cultural methods also which will take the undeveloped of the race and carry them forward to a better manifestation, and a truer expression of themselves will be established and this it is the privilege of the coming generation of scientific investigators to bring about.

Ba phát triển này sẽ mở ra thời đại mới, sẽ tạo ra trong thời kỳ chuyển tiếp này những thay đổi cần thiết, và sẽ khai mở một kỷ nguyên mới trong đó tình huynh đệ sẽ là chủ âm, vì nó sẽ là một sự kiện đã được chứng minh trong thiên nhiên. Đó sẽ là một thời đại trong đó con người bước đi trong ánh sáng, vì đó sẽ là một thế giới của hào quang bên trong đã được nhận biết; trong đó công việc của thế giới sẽ được tiến hành qua môi giới của âm thanh, và cuối cùng qua việc sử dụng các Linh từ quyền năng và công việc của nhà huyền thuật đã được huấn luyện. Những người hoạt động đã được huấn luyện này trong chất liệu, thấu hiểu bản chất của vật chất, luôn thấy theo các thuật ngữ của ánh sáng và lĩnh hội mục đích của âm thanh, sẽ tạo ra những thay đổi cấu trúc và những chuyển hoá vật chất vốn sẽ thiết lập một nền văn minh thích hợp cho công việc của nhân loại đang đến. Công việc này sẽ là sự hợp nhất có ý thức giữa linh hồn và vận cụ biểu hiện của nó. Những phương pháp văn hóa có thể đưa những người chưa phát triển trong nhân loại tiến lên đến một sự biểu hiện tốt đẹp hơn và một sự biểu đạt chân thật hơn về chính họ cũng sẽ được thiết lập; và chính đặc quyền của thế hệ các nhà khảo sát khoa học đang đến là tạo nên điều này.

The outstanding characteristic, however, of the coming cycle will be an outgrowth of psychology. It will be the emergence of a new factor from the standpoint of the modern psychologist of the materialistic school and will involve the recognition of the soul.

Tuy nhiên, đặc tính nổi bật của chu kỳ đang đến sẽ là một sự phát triển từ tâm lý học. Đó sẽ là sự xuất hiện của một yếu tố mới xét từ lập trường của nhà tâm lý học hiện đại thuộc trường phái duy vật, và sẽ bao hàm sự thừa nhận linh hồn.

The mechanistic school of psychologists has served and is serving an invaluable purpose, and the findings of the behaviorists are sound in fact, though erroneous in conclusion. They serve as a needed brake upon the more speculative and mystical school, which is dignified by the name of introspectionist. Like much else in the world at this time, from two great lines of thought, such [337] as the mechanistic and the introspective or subjective mentioned above, a third will manifest which will embody the truth in both positions and duly adjust them to each other. On a larger scale this is working out in the fusing of occident and orient, of mysticism and occultism. We have no quarrel with either, but in the evolution of thought the main trends of ideas at this time are rapidly approaching each other and from them a synthesis will emerge which will prove an adequate platform upon which the coming cycle may make its stand.

Trường phái tâm lý học cơ giới đã phụng sự và đang phụng sự một mục đích vô giá; và các kết luận thực nghiệm của những nhà hành vi học là đúng về sự kiện, dù sai lầm trong kết luận. Họ đóng vai trò như một cái thắng cần thiết đối với trường phái thiên về suy tư và thần bí hơn, được gọi bằng danh xưng trang trọng là trường phái nội quan. Giống như nhiều điều khác trong thế giới vào lúc này, từ hai dòng tư tưởng lớn, chẳng hạn như cơ giới và nội quan hay chủ quan đã nêu trên, [337] một dòng thứ ba sẽ biểu hiện, dòng này sẽ hiện thân cho chân lý trong cả hai lập trường và điều chỉnh chúng một cách đúng đắn với nhau. Trên một quy mô lớn hơn, điều này đang diễn ra trong sự dung hợp giữa Tây phương và Đông phương, giữa Thần bí học và huyền bí học. Chúng ta không tranh cãi với bên nào, nhưng trong sự tiến hoá của tư tưởng, các khuynh hướng chính của ý tưởng vào lúc này đang nhanh chóng tiến lại gần nhau, và từ chúng sẽ xuất hiện một tổng hợp chứng tỏ là nền tảng thích đáng để chu kỳ đang đến có thể đứng vững.

It might be of value here if we noted the tendency of three lines of thought, roughly speaking in the field of psychology.

Có thể hữu ích ở đây nếu chúng ta ghi nhận khuynh hướng của ba dòng tư tưởng, nói một cách đại lược trong lĩnh vực tâm lý học.

1. The mechanistic, laying the emphasis upon structure, ascribing the reactions of the human organism, mental, emotional, and physical—entirely to the material aspect, and regarding the structure as responsible for and giving rise to all the lines of conduct and characteristics which man displays, both abnormal and normal.

1. Trường phái cơ giới, đặt trọng tâm vào cấu trúc, quy mọi phản ứng của cơ cấu con người — trí tuệ, cảm xúc và hồng trần — hoàn toàn cho phương diện vật chất, và xem cấu trúc là chịu trách nhiệm cho, cũng như làm phát sinh, mọi đường lối hành vi và đặc tính mà con người biểu lộ, cả bất thường lẫn bình thường.

2. The introspective school, positing a self or a conscious something which is responsible for conditions and which, as has sometimes been said, is “aware of awareness”. This school of psychologists recognizes the structure but goes further and regards certain aspects of conduct, and certain reactions and problems as insoluble under the pure mechanistic process. They approach more nearly the occult position, but do not go so far.

2. Trường phái nội quan, đặt giả định về một bản ngã hay một cái gì đó có ý thức, chịu trách nhiệm cho các tình trạng và, như đôi khi đã nói, “ý thức về sự ý thức”. Trường phái tâm lý học này thừa nhận cấu trúc nhưng đi xa hơn, và xem một số phương diện của hành vi, cùng một số phản ứng và vấn đề, là không thể giải quyết dưới tiến trình thuần cơ giới. Họ tiến gần hơn đến lập trường huyền bí học, nhưng không đi xa đến mức ấy.

3. Then there are what I might call the vitalists, or that group of psychologists who, admitting the fact of the structure, yet regard it as subjected to the influences of energies and forces emanating from an outer environment. These are the energies of a wider nature than those arising entirely within a man’s own self, and number among them the great basic urges for which nature itself is responsible and which can be seen and felt in units of organic life, other than the human.

3. Kế đó có những người mà tôi có thể gọi là các nhà sinh lực luận, hay nhóm các nhà tâm lý học, tuy thừa nhận sự kiện về cấu trúc, vẫn xem nó là chịu ảnh hưởng của các năng lượng và mãnh lực phát ra từ một môi trường bên ngoài. Đây là những năng lượng có bản chất rộng lớn hơn những năng lượng hoàn toàn phát sinh bên trong chính bản ngã của con người; và trong số đó có những thôi thúc căn bản vĩ đại mà chính thiên nhiên chịu trách nhiệm, những thôi thúc có thể được thấy và cảm nhận trong các đơn vị của sự sống hữu cơ khác với con người.

[338]

[338]

The truth which is safeguarded in all these schools is one truth and each aspect of it is correlated.

Chân lý được gìn giữ trong tất cả các trường phái này là một chân lý duy nhất, và mỗi phương diện của nó đều tương liên.

There is a mechanism through which the real man functions, and there is a structure which he has built up in conformity to the laws of nature and which he can learn to use and control. But, in accordance with the more subjective and speculative school he must learn to differentiate between himself, as the conscious centre of awareness, the “I” upon the throne of intelligence, and the apparatus through which he can contact the outer world. When the “I”, the user of the mechanism, can do this he becomes aware of another fact and that is that not only is he a generator and user of energy, and the director of a quota of vitality which is his own, but that there are energies and forces in nature and the planet, and also extra-planetary or cosmic, to which he can also respond and which he can learn to use and adapt. The three present schools are therefore, in embryo, custodians of these three factors. Under the present system of quarrel and separation, these three schools are occupied largely with disproving each other’s theories. But they are all three of them correct in their facts though wrong in their deductions. They all three need each other and from a blending of the three presentations there will emerge the fourth, which will be nearer the truth than any of the separated three.

Có một bộ máy qua đó con người thật vận hành, và có một cấu trúc mà y đã xây dựng phù hợp với các định luật của thiên nhiên, và y có thể học cách sử dụng và kiểm soát. Nhưng, theo trường phái chủ quan và suy tư hơn, y phải học cách phân biệt giữa chính y, như trung tâm có ý thức của sự nhận biết, “cái ngã” trên ngai của trí tuệ, và bộ dụng cụ qua đó y có thể tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Khi “cái ngã”, người sử dụng bộ máy, có thể làm điều này, y trở nên nhận biết một sự kiện khác: không chỉ y là một nguồn phát sinh và người sử dụng năng lượng, cũng như là người điều khiển một phần sinh lực vốn thuộc về y, mà còn có những năng lượng và mãnh lực trong thiên nhiên và hành tinh, cũng như ngoài hành tinh hay vũ trụ, mà y cũng có thể đáp ứng và có thể học cách sử dụng, thích ứng. Do đó, ba trường phái hiện nay, trong phôi thai, là những người gìn giữ ba yếu tố này. Dưới hệ thống tranh cãi và chia rẽ hiện nay, ba trường phái này phần lớn bận rộn với việc bác bỏ các lý thuyết của nhau. Nhưng cả ba đều đúng trong các sự kiện của mình, dù sai trong các suy diễn. Cả ba đều cần nhau, và từ sự hòa trộn của ba cách trình bày sẽ xuất hiện cách thứ tư, gần chân lý hơn bất cứ trường phái nào trong ba trường phái tách biệt.

When we come to the consideration of other basic trends in the world of current thought it becomes apparent that one of the most dominant is the increasing emphasis laid upon group consciousness, or environal awareness. This has been recognized by the man in the street as a sense of responsibility and indicates in the individual an egoic vibration. It is one of the first signs that the soul is beginning to use its mechanism. No longer does the man live in the interests of the separated self but he begins to realize the need for adjustment to [339] and in the condition of his neighbor. He assumes the duty of being in a very real sense his brother’s keeper, and realizes that in reality progress, contentment, peace of mind and prosperity do not exist for him apart from that of his brother. This realization is steadily expanding from the individual to the state and nation, from the family unit to the world, and hence the big organizations, fraternities, clubs, leagues and movements which have for their objective the uplift and welfare of men everywhere. The necessity of giving instead of getting is growing in the racial consciousness and the recognition of certain of the basic concepts connected with brotherhood is steadily growing. Brotherhood as a fact in nature is as yet largely a theory, but brotherhood as an ideal is now fashioned in the racial consciousness.

Khi chúng ta xét đến các khuynh hướng căn bản khác trong thế giới tư tưởng hiện thời, điều trở nên rõ ràng là một trong những khuynh hướng nổi trội nhất là sự nhấn mạnh ngày càng tăng vào tâm thức tập thể, hay sự nhận biết về môi trường. Người bình thường đã nhận ra điều này như một ý thức trách nhiệm, và nó cho thấy nơi cá nhân một rung động chân ngã. Đó là một trong những dấu hiệu đầu tiên rằng linh hồn đang bắt đầu sử dụng bộ máy của nó. Con người không còn sống vì lợi ích của bản ngã tách biệt nữa, mà bắt đầu nhận ra nhu cầu điều chỉnh theo [339] tình trạng của người lân cận và trong tình trạng ấy. Y nhận lấy bổn phận, theo một ý nghĩa rất thật, là người gìn giữ huynh đệ của mình, và nhận ra rằng trong thực tại, sự tiến bộ, mãn nguyện, an bình của trí tuệ và thịnh vượng không tồn tại cho y nếu tách khỏi những điều ấy nơi huynh đệ của y. Sự nhận ra này đang mở rộng đều đặn từ cá nhân đến nhà nước và quốc gia, từ đơn vị gia đình đến thế giới; do đó có các tổ chức lớn, huynh đệ đoàn, câu lạc bộ, liên minh và phong trào lấy việc nâng cao và phúc lợi của con người ở khắp nơi làm mục tiêu. Nhu cầu cho đi thay vì nhận lấy đang tăng trưởng trong tâm thức nhân loại, và sự thừa nhận một số khái niệm căn bản liên hệ đến tình huynh đệ đang tăng trưởng đều đặn. Tình huynh đệ như một sự kiện trong thiên nhiên hiện vẫn phần lớn là một lý thuyết, nhưng tình huynh đệ như một lý tưởng nay đã được định hình trong tâm thức nhân loại.

One of the great schools of thought or trend of ideas which is destined to pass away is that of the current philosophies as we now know them. Philosophy in its technical sense as the love of wisdom will increase as men understand increasingly the meaning of wisdom and become epochally wiser, but the present schools of philosophy have nearly served their purpose. This has been the formulation of ideas concerning God and His relation to man, concerning divinity, eschatology and spiritual relationships.

Một trong những trường phái tư tưởng lớn hay khuynh hướng ý tưởng được định sẵn sẽ qua đi là các nền triết học hiện hành như chúng ta hiện biết. Triết học theo nghĩa kỹ thuật là tình yêu minh triết sẽ gia tăng khi con người ngày càng thấu hiểu ý nghĩa của minh triết và trở nên minh triết hơn theo từng thời đại; nhưng các trường phái triết học hiện nay gần như đã phụng sự xong mục đích của chúng. Mục đích ấy là sự công thức hóa các ý tưởng liên quan đến Thượng đế và mối quan hệ của Ngài với con người, liên quan đến thiên tính, cánh chung luận và các mối quan hệ tinh thần.

The last great gestures of the philosophical schools remain yet to be made. Their place will be taken in later centuries by those who will in deed and in truth be cosmologists, for once the Word of Mankind is understood and grasped and the significance of the individual appreciated, the Word of the Cosmos will receive due and more correct attention, and the laws and nature of that great Being in Whom we live and move and have our being will be studied. The cosmic Christ can never be known by any except the individual Christ.

Những cử chỉ lớn cuối cùng của các trường phái triết học vẫn còn phải được thực hiện. Trong các thế kỷ sau, vị trí của họ sẽ do những người thật sự và đúng nghĩa là các nhà vũ trụ luận đảm nhận; vì một khi Linh từ của Nhân loại được thấu hiểu và nắm bắt, và thâm nghĩa của cá nhân được đánh giá đúng, Linh từ của Vũ trụ sẽ nhận được sự chú ý xứng đáng và chính xác hơn, và các định luật cùng bản chất của Đấng Vĩ Đại trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện tồn sẽ được nghiên cứu. Đức Christ vũ trụ không bao giờ có thể được biết bởi bất cứ ai ngoại trừ Đức Christ cá nhân.

Man, as we shall see as we proceed, is on the verge of [340] establishing his divinity. Evolution has carried forward the perfecting of the mechanism to such an extent that it is now a coordinated integrated organism, a usable structure and ready for the divine user. In the course of the next few decades the fact of the soul will be established, and the work of the introspective thinkers, the mystics and occult students will be carried forward to the point where soul force will be established as a racial concept, and the laws of the soul will be recognized as superseding, though not abrogating (for the lesser is ever included in the greater) the laws of man. This in the sense that the law is ever kept by a manifesting soul, for, since there is no inclination to break it, there is no tendency on his part to infringe it.

Như chúng ta sẽ thấy khi tiếp tục, con người đang ở ngưỡng [340] thiết lập thiên tính của mình. Tiến hoá đã đưa sự hoàn thiện của bộ máy tiến xa đến mức hiện nay nó là một cơ cấu phối hợp, tích hợp, một cấu trúc có thể sử dụng và sẵn sàng cho người sử dụng thiêng liêng. Trong vài thập kỷ tới, sự kiện về linh hồn sẽ được thiết lập, và công việc của các nhà tư tưởng nội quan, các nhà thần bí và đạo sinh huyền bí sẽ được đưa đến điểm mà mãnh lực linh hồn được thiết lập như một khái niệm của nhân loại; và các định luật của linh hồn sẽ được thừa nhận là thay thế, dù không bãi bỏ, các định luật của con người, vì cái thấp hơn bao giờ cũng được bao gồm trong cái lớn hơn. Điều này theo nghĩa rằng định luật luôn được linh hồn đang biểu hiện tuân giữ, bởi vì, do không có khuynh hướng phá vỡ nó, nên về phía y cũng không có xu hướng vi phạm nó.

This growing conviction as to the soul as the self is evidenced by the opposition to the theory called forth by the schools of thought which emphasize the dominance of matter and trace all phenomena, objective and subjective, to the activity of matter. Through the wrestling of those holding differing points of view truth emerges into the light, just as in a larger case, spirit “mounts on the shoulders of matter” back to its original position, plus the gain in quality which is the result of the experience. This being so, knowledge will take the place of theory, and direct evidence that of speculation. The theorising of men as to their divine nature must shortly give place to conviction and their philosophising to direct investigation of the soul. That which is recognized and admitted, even if not understood, is the object of attention and investigation and the day will dawn before so very long when an experimental science of the soul will have its place in the universities and public endowments and not the proving of the soul, but an analysis of its nature, purposes, and life will receive an attention equal to that now gives by modern scientists in their varying branches to the mechanism the soul seeks and eventually will use, [341] for naught can arrest that great evolutionary development.

Niềm xác tín ngày càng tăng về linh hồn như bản ngã được chứng tỏ bởi sự phản đối lý thuyết mà các trường phái tư tưởng nhấn mạnh quyền thống trị của vật chất và truy nguyên mọi hiện tượng, khách quan lẫn chủ quan, về hoạt động của vật chất đã gây ra. Qua sự vật lộn của những người giữ các quan điểm khác nhau, chân lý xuất hiện vào ánh sáng; cũng như trong trường hợp lớn hơn, tinh thần “leo lên vai vật chất” trở về vị trí nguyên thủy của nó, cộng thêm lợi ích về phẩm tính là kết quả của kinh nghiệm. Nếu như vậy, tri thức sẽ thay thế lý thuyết, và bằng chứng trực tiếp sẽ thay thế suy tư. Sự lý thuyết hóa của con người về bản chất thiêng liêng của họ chẳng bao lâu phải nhường chỗ cho xác tín, và sự triết lý của họ phải nhường chỗ cho sự khảo sát trực tiếp về linh hồn. Điều được thừa nhận và chấp nhận, dù chưa được thấu hiểu, sẽ trở thành đối tượng của chú ý và khảo sát; và chẳng bao lâu nữa, ngày sẽ đến khi một khoa học thực nghiệm về linh hồn có vị trí của nó trong các đại học và các quỹ công, và không phải việc chứng minh linh hồn, mà là sự phân tích bản chất, mục đích và đời sống của nó sẽ nhận được sự chú ý ngang bằng với sự chú ý mà các nhà khoa học hiện đại trong các ngành khác nhau hiện dành cho bộ máy mà linh hồn tìm kiếm và cuối cùng sẽ sử dụng, [341] vì không gì có thể ngăn cản sự phát triển thăng thượng tiến hoá vĩ đại ấy.

Certain words of warning I would like to give and also a summarisation of much earlier said:

Tôi muốn đưa ra một vài lời cảnh báo và cũng tóm lược nhiều điều đã nói trước đây:

First, hold not on to the form no matter what it be. All forms are but experiments, and reach the point where they are in balance—to be either discarded or vivified.

Thứ nhất, đừng bám giữ hình tướng, bất kể nó là gì. Mọi hình tướng chỉ là những cuộc thử nghiệm, và đạt đến điểm chúng ở trong thế cân bằng — hoặc bị loại bỏ, hoặc được tiếp sinh lực.

Secondly, remember that all personalities (your own included) have their periods of ebb and flow, under the law. The periods of ebb in the case of those holding prominent position cause at times consternation to all those who follow their personalities, and not the inner God within their own heart.

Thứ hai, hãy nhớ rằng mọi phàm ngã, kể cả của chính các bạn, đều có các thời kỳ thăng trầm của chúng, dưới định luật. Những thời kỳ suy giảm trong trường hợp những người giữ vị trí nổi bật đôi khi gây hoang mang cho tất cả những ai đi theo phàm ngã của họ, chứ không theo Thượng đế nội tại trong chính trái tim mình.

Thirdly, bear in mind, also, that just as in the individual life there come the periods wherein the vision is obscured, the valley is traversed, and the stars shut out by the fog, so in connection with groups will the same be seen. But bear equally in mind that after the valley is crossed (for all aspirants and for all truly spiritual groups) the Mount of Initiation is seen and ascended; after obscuration succeeds the vision, and after night comes the day. In the great cycles affecting cosmic groups this also can be seen; in the lesser cycles, controlling the races, the same eventuates and the same law persists in all the lesser groups down to the groups of tiny lives that hold sway in the vehicles of man. This needs emphasis.

Thứ ba, cũng hãy ghi nhớ rằng, cũng như trong đời sống cá nhân có những thời kỳ khi tầm nhìn bị che khuất, thung lũng phải được băng qua, và các vì sao bị sương mù che lấp, thì liên quan đến các nhóm cũng sẽ thấy điều tương tự. Nhưng cũng hãy ghi nhớ rằng sau khi thung lũng được băng qua, đối với mọi người chí nguyện và mọi nhóm thật sự tinh thần, Núi Điểm Đạo được nhìn thấy và được leo lên; sau sự che khuất là tầm nhìn, và sau đêm là ngày. Trong các chu kỳ lớn ảnh hưởng đến các nhóm vũ trụ, điều này cũng có thể được thấy; trong các chu kỳ nhỏ hơn, chi phối các nhân loại, điều tương tự xảy ra và cùng một định luật vẫn tồn tại trong mọi nhóm nhỏ hơn, xuống đến các nhóm sự sống bé nhỏ đang nắm quyền trong các hiện thể của con người. Điều này cần được nhấn mạnh.

Fourthly, do not permit yourselves to be discouraged. Discouragement is due to three causes. Paramountly it is due to the lowering of the vitality of the bodily organism. When such is the case, the astral body makes too strong a demand upon the physical, and in the endeavour to respond and in the sensed incapacity to do so adequately, lies one cause of the sense of discouragement. This often attacks those of you who are finely organised in the physical vehicle. The cure for this type of discouragement [342] is obvious, is it not? Rest and relaxation build anew, and give time for nature to adjust the trouble. The sun too revitalises with prana and this should be considered. After all, sound common sense is the special requirement, and also the realisation that one’s work is adjusted to one’s capacity, and not to the overwhelming need. Meditate on this.

Thứ tư, đừng để mình nản lòng. Sự nản lòng do ba nguyên nhân. Trước hết, nó do sự hạ thấp sinh lực của cơ cấu thân xác. Khi trường hợp này xảy ra, thể cảm dục đặt một đòi hỏi quá mạnh lên thể xác; và trong nỗ lực đáp ứng cùng cảm nhận về sự bất lực không thể làm điều đó một cách đầy đủ, có một nguyên nhân của cảm giác nản lòng. Điều này thường tấn công những ai trong các bạn có hiện thể hồng trần được tổ chức tinh tế. Phương thuốc cho loại nản lòng này [342] là hiển nhiên, phải không? Nghỉ ngơi và thư giãn xây dựng lại, và cho thiên nhiên thời gian điều chỉnh khó khăn. Mặt trời cũng tiếp sinh lực bằng sinh khí, và điều này nên được cân nhắc. Xét cho cùng, lẽ thường lành mạnh là điều đặc biệt cần thiết, cùng với sự nhận ra rằng công việc của một người được điều chỉnh theo năng lực của người ấy, chứ không theo nhu cầu quá sức. Hãy tham thiền về điều này.

Another basis for discouragement is the over-development of the concrete mind, which in its turn makes too great a demand upon the emotional nature, and consequently again upon the physical. Too great a capacity to see all around a subject, too disproportionate a comprehension of the world’s need, and too quick an apprehension of the many issues involved in connection with some particular matter produce a violent vibration in the astral body. This leads to a shattering of the physical vehicle, and the result sensed we term discouragement. It is here that a sense of proportion must be cultivated, that the faculty of wise balancing enters, and that mental equilibrium must be achieved. The cure lies in the realisation that time, eternity, evolution (call it what you will) brings all things to pass, and that everything does not depend upon individual effort. It is possible for wise souls to hasten the good work, but the end, nevertheless, is sure. If the wise souls are not forthcoming yet the force of evolution brings all things to pass, even if more slowly. Do not forget this, but when discouragement from mental sources settles down upon you, in quietness adjust yourself, and in contemplation sense the ultimate achievement of that great factor, Time.

Một nền tảng khác của sự nản lòng là sự phát triển quá mức của trí cụ thể, đến lượt nó đặt một đòi hỏi quá lớn lên bản chất cảm xúc, và do đó lại lên thể xác. Năng lực quá lớn để thấy mọi mặt quanh một đề tài, sự lĩnh hội quá mất cân xứng về nhu cầu của thế giới, và sự nắm bắt quá nhanh nhiều vấn đề liên quan đến một sự việc đặc thù nào đó tạo ra một rung động dữ dội trong thể cảm dục. Điều này dẫn đến sự chấn động của hiện thể hồng trần, và kết quả được cảm nhận ấy chúng ta gọi là sự nản lòng. Chính ở đây, Ý thức về tỉ lệ phải được vun trồng, năng lực cân bằng khôn ngoan phải đi vào, và sự quân bình trí tuệ phải đạt được. Phương thuốc nằm trong sự nhận ra rằng thời gian, vĩnh cửu, tiến hoá — gọi nó là gì tùy bạn — đưa mọi sự đến chỗ hoàn thành, và rằng mọi sự không lệ thuộc vào nỗ lực cá nhân. Các linh hồn minh triết có thể thúc đẩy công việc tốt đẹp, nhưng rốt cuộc kết quả vẫn chắc chắn. Nếu các linh hồn minh triết chưa xuất hiện, mãnh lực của tiến hoá vẫn đưa mọi sự đến chỗ hoàn thành, dù chậm hơn. Đừng quên điều này; nhưng khi sự nản lòng từ các nguồn trí tuệ đổ xuống trên bạn, hãy trong tĩnh lặng điều chỉnh chính mình, và trong chiêm ngưỡng cảm nhận thành tựu tối hậu của yếu tố vĩ đại ấy: Thời gian.

A third cause lies in more occult realms, and is due to the balancing of the pairs of opposites. When the pendulum swings—as it must and does—towards that which we call dark, evil, and undesirable, it produces in those of you who are oriented towards the light a tension which results in discomfort in all the bodies, and is specially [343] sensed as depression by the physical body. The more sensitive your body, the greater your responsiveness to this form of temptation. It is one of the things which specially hinders the aspirant. It renders him negative and receptive from the form side, and slows down his vibration. It prevents achievement and his service to the world suffers in consequence. The cure for discouragement does not lie in cultivating a violent counter vibration. It lies in the wise use of the mental body, and in a capacity to reason logically and to see the cause of the conditions, which lies either in your own personality or in your environment. Thus poise will he attained. It lies also in the appreciation of Time as a solvent as aforesaid. It lies also in the stilling of the concrete mind and a subsequent linking up with the soul and, via the soul, with the egoic group and consequently with the Master. It must never be forgotten that contact with the Master is made in this order, and that he who comes more and more under the guidance of the soul is he who more and more enters into the consciousness of his Master.

Một nguyên nhân thứ ba nằm trong các lĩnh vực huyền bí hơn, và do sự cân bằng của các cặp đối cực. Khi con lắc dao động — như nó phải và vẫn làm — hướng về điều mà chúng ta gọi là tối tăm, tà ác và không đáng mong muốn, nó tạo ra nơi những ai trong các bạn hướng về ánh sáng một sự căng thẳng, dẫn đến khó chịu trong mọi thể, và đặc biệt [343] được thể xác cảm nhận như sự trầm uất. Thể của bạn càng nhạy cảm, sự đáp ứng của bạn đối với hình thức cám dỗ này càng lớn. Đó là một trong những điều đặc biệt cản trở người chí nguyện. Nó khiến y trở nên tiêu cực và dễ tiếp nhận từ phía hình tướng, và làm chậm rung động của y. Nó ngăn cản thành tựu, và sự phụng sự của y đối với thế giới do đó chịu tổn hại. Phương thuốc cho sự nản lòng không nằm trong việc vun trồng một rung động đối kháng dữ dội. Nó nằm trong việc sử dụng thể trí một cách khôn ngoan, và trong năng lực suy luận hợp lý, thấy nguyên nhân của các tình trạng, vốn nằm hoặc trong phàm ngã của bạn hoặc trong môi trường của bạn. Nhờ vậy sự quân bình sẽ đạt được. Nó cũng nằm trong sự thẩm nhận Thời gian như một dung môi, như đã nói ở trên. Nó cũng nằm trong việc làm lặng trí cụ thể và sau đó liên kết với linh hồn, rồi qua linh hồn với nhóm chân ngã, và do đó với Chân sư. Không bao giờ được quên rằng sự tiếp xúc với Chân sư được thực hiện theo trình tự này, và rằng người nào ngày càng ở dưới sự hướng dẫn của linh hồn thì người ấy ngày càng đi vào tâm thức của Chân sư mình.

Then having with unselfish intent linked up with the Master, there comes next the deliberate and concentrated effort to work with pure dispassion, and with no desire to see the fruit of action. This process, long continued and pursued with patience, will result eventually in the attaining of an equilibrium which nothing can disturb.

Khi ấy, sau khi với ý định vô ngã đã liên kết với Chân sư, tiếp theo sẽ đến nỗ lực có chủ đích và tập trung để làm việc với sự vô chấp thuần khiết, và không có ham muốn thấy quả của hành động. Tiến trình này, nếu được tiếp tục lâu dài và theo đuổi với kiên nhẫn, cuối cùng sẽ dẫn đến việc đạt được một sự quân bình mà không gì có thể khuấy động.

I would like to state that there are five things which those who choose the path of occultism need to cultivate, and that the group should specially seek to attain. They are as follows:

Tôi muốn nói rằng có năm điều mà những ai chọn con đường huyền bí học cần vun trồng, và nhóm nên đặc biệt tìm cách đạt tới. Chúng như sau:

1. Consecration of motive.

1. Sự thánh hiến động cơ.

2. Utter fearlessness.

2. Sự hoàn toàn vô úy.

3. The cultivation of the imagination, balanced wisely by the reasoning faculty. [344]

3. Sự vun trồng Sự tưởng tượng, được cân bằng một cách khôn ngoan bởi năng lực lý trí. [344]

4. A capacity to weigh the evidence wisely, and to accept only that which is compatible with the highest instinct and intuition.

4. Một năng lực cân nhắc bằng chứng một cách minh triết, và chỉ chấp nhận điều gì tương hợp với bản năng cao nhất và trực giác.

5. A willingness to experiment.

5. Một sự sẵn lòng thực nghiệm.

These five tendencies, coupled with purity of life and regulation of thought will lead to the sphere of achievement. Remember too that it is not purposed that you should find out all the knowable, but only just as much of it as may be employed wisely for the illumination of the race and of those whom you can each, in your own place, influence.

Năm khuynh hướng này, kết hợp với đời sống thanh khiết và sự điều chỉnh tư tưởng, sẽ dẫn đến khối cầu thành tựu. Cũng hãy nhớ rằng mục đích không phải là các bạn khám phá mọi điều khả tri, mà chỉ vừa đủ phần nào có thể được sử dụng một cách minh triết cho sự soi sáng nhân loại và những người mà mỗi bạn, tại vị trí riêng của mình, có thể gây ảnh hưởng.

A real problem, as you all realise, lies in the achieving of utter fearlessness. All fear, doubt, and worry have to be eliminated. If this can be done the development of the inner point of contact and the knowledge of how to tap the sources of inspiration will increase in a wonderful manner. So many close the sources of information through an uncontrolled emotional nature. The astral body can be controlled. How?

Một vấn đề thật sự, như tất cả các bạn đều nhận ra, nằm ở việc đạt được sự hoàn toàn vô úy. Mọi sợ hãi, nghi ngờ và lo âu đều phải được loại bỏ. Nếu điều này có thể thực hiện, thì sự phát triển của điểm tiếp xúc bên trong và tri thức về cách khai thông các nguồn cảm hứng sẽ gia tăng một cách kỳ diệu. Rất nhiều người khép lại các nguồn thông tin do bản chất cảm xúc không được kiểm soát. Thể cảm dục có thể được kiểm soát. Bằng cách nào?

1. By direct inhibition. This method can be used to advantage by beginners, but it is not the best method to follow. It reacts on the physical body, leads to congestion in the astral body, and to a similar condition in the etheric vehicle. It often produces headache, congestion of the liver and other disorders.

1. Bằng sự ức chế trực tiếp. Phương pháp này có thể được người sơ cơ sử dụng một cách hữu ích, nhưng đó không phải là phương pháp tốt nhất để theo. Nó phản tác dụng trên thể xác, dẫn đến sự sung huyết trong thể cảm dục, và đến một tình trạng tương tự trong hiện thể dĩ thái. Nó thường tạo ra đau đầu, sung huyết gan và các rối loạn khác.

2. By a direct realisation of the issues at stake and the consciousness that, for a pupil of the Master, nothing comes to pass but what can lead to increased knowledge and development, and greater usefulness in service. Fear with many is not based on timidity (a paradoxical statement!) but is often based on a mental condition, such as pride. Those who are becoming polarised in the mental body, find their fears allied to the intellect. They are therefore harder to overcome than the fears of a person polarised in the astral body. The latter can bring the [345] intellect to bear on the elimination of fear in the astral body. The mental types have to call directly on the Ego, for always the higher must be called in to deal with the lower. Hence the necessity for always keeping the channel clear. Do not crush out fear. Force it out by the dynamic power of substitution. This leads to my third suggestion that students in the group should cure the fear habit by—

2. Bằng sự nhận ra trực tiếp những vấn đề đang lâm nguy và bằng tâm thức rằng, đối với một môn sinh của Chân sư, không điều gì xảy đến mà không thể dẫn tới tri thức và sự phát triển gia tăng, cùng sự hữu dụng lớn hơn trong phụng sự. Với nhiều người, sợ hãi không đặt nền trên sự nhút nhát, mà thường đặt nền trên một tình trạng trí tuệ, chẳng hạn như kiêu hãnh. Những ai đang trở nên phân cực trong thể trí thấy rằng những nỗi sợ của mình liên kết với trí năng. Vì vậy, chúng khó vượt qua hơn những nỗi sợ của một người phân cực trong thể cảm dục. Người sau có thể đem [345] trí năng tác động vào việc loại bỏ sợ hãi trong thể cảm dục. Những người thuộc loại trí tuệ phải trực tiếp kêu gọi Chân ngã, vì cái cao luôn phải được triệu thỉnh để xử lý cái thấp. Do đó có sự cần thiết phải luôn giữ cho vận hà được trong sáng. Đừng đè nén sợ hãi. Hãy xua nó ra bằng quyền năng năng động của sự thay thế. Điều này dẫn tới gợi ý thứ ba của tôi rằng các đạo sinh trong nhóm nên chữa thói quen sợ hãi bằng—

3. A direct method of relaxation, concentration, stillness and flushing the entire personality with pure white light. Proceed in the following manner:

3. Một phương pháp trực tiếp gồm thư giãn, tập trung, tĩnh lặng và tuôn tràn toàn bộ phàm ngã bằng ánh sáng trắng tinh khiết. Hãy tiến hành theo cách sau:

You are, we will say, in a state of panic; suggestions of great unpleasantness are crowding in; your imagination is running riot, and your mind enforces the riot. Forget not that the fears of an emotional person are not so potent as yours. Having a strong mental body, you clothe your fear reactions with mental matter, highly vitalised, which causes a powerful thoughtform to be created. This circulates between you and the feared event. Realising this you will proceed to seek quietness. You will relax your physical body, endeavour to quiet your astral body as far as may be, and to steady the mind. Then visualizing yourself (the personality), the soul and the Master—He, as the apex of the triangle, —you will with deliberation call down a stream of pure white light, and, pouring it through your lower vehicles, you will cleanse away all that hinders. Continue this process until you realise that the needed work is accomplished. At first you may have to do it many times. Later just once will suffice, and later still the whole process may be needless, for you will have achieved conquest.

Giả sử các bạn đang ở trong trạng thái hoảng loạn; những gợi ý về điều rất khó chịu đang ùa vào; sự tưởng tượng của các bạn đang nổi loạn, và thể trí của các bạn củng cố cuộc nổi loạn ấy. Đừng quên rằng những nỗi sợ của một người cảm xúc không mạnh như của các bạn. Vì có một thể trí mạnh, các bạn khoác cho các phản ứng sợ hãi của mình bằng chất liệu trí tuệ được tiếp sinh lực mạnh mẽ, điều này khiến một hình tư tưởng đầy quyền lực được tạo ra. Nó luân chuyển giữa các bạn và biến cố bị sợ hãi. Nhận ra điều này, các bạn sẽ tiến hành tìm kiếm sự yên tĩnh. Các bạn sẽ thư giãn thể xác, cố gắng làm lặng thể cảm dục hết mức có thể, và làm vững thể trí. Rồi, khi hình dung chính mình là phàm ngã, linh hồn và Chân sư—Ngài, như đỉnh của tam giác—các bạn sẽ thận trọng kêu gọi một dòng ánh sáng trắng tinh khiết tuôn xuống, và khi đổ nó qua các hiện thể thấp của mình, các bạn sẽ tẩy sạch mọi điều cản trở. Hãy tiếp tục tiến trình này cho đến khi các bạn nhận ra rằng công việc cần thiết đã hoàn tất. Lúc đầu, các bạn có thể phải làm điều đó nhiều lần. Về sau, chỉ một lần là đủ, và về sau nữa, toàn bộ tiến trình có thể không còn cần thiết, vì các bạn đã đạt được sự chinh phục.

This applies to the fears connected with the personality. You use the love aspect, flooding yourself with love and light. The legitimate fears which arise [346] from things connected with the circumstances of the work to be done, and from the knowledge of materialised obstructions to the work must be treated somewhat differently. Here again a definite method must be followed:

Điều này áp dụng cho những nỗi sợ liên quan đến phàm ngã. Các bạn sử dụng phương diện bác ái, làm tràn ngập chính mình bằng tình thương và ánh sáng. Những nỗi sợ chính đáng phát sinh [346] từ các sự việc liên quan đến hoàn cảnh của công việc phải làm, và từ tri thức về những chướng ngại đã hiện hình đối với công việc, phải được xử lý hơi khác. Ở đây, một lần nữa, cần theo một phương pháp xác định:

Still the physical body.

Làm yên thể xác.

Quiet by temporary inhibition the astral body.

Làm lặng thể cảm dục bằng sự ức chế tạm thời.

Link up with the Ego, and definitely reason out the proper method of procedure in meeting the difficulty. Having exhausted all the higher rational methods and having clearly seen your course of action, you then—

Liên kết với Chân ngã, và suy luận dứt khoát về phương pháp tiến hành đúng đắn trong việc đối diện với khó khăn. Sau khi đã dùng hết mọi phương pháp lý trí cao hơn và đã thấy rõ đường lối hành động của mình, bấy giờ các bạn—

Raise your vibration as high as may be and call down, from intuitional levels, added light on the difficulty. If your intuition and reasoning faculty produce harmony and thus show the way out, then proceed. As an occult fact past all controversy, you know that naught can now happen but what is for the best. You are sure of guidance, and he who sees thus the end from the beginning makes no error.

Nâng rung động của mình lên cao nhất có thể và kêu gọi thêm ánh sáng từ các cấp độ trực giác tuôn xuống trên khó khăn. Nếu trực giác và năng lực lý luận của các bạn tạo ra sự hài hòa và nhờ đó chỉ ra lối thoát, thì hãy tiến hành. Như một sự kiện huyền bí vượt ngoài mọi tranh cãi, các bạn biết rằng nay không điều gì có thể xảy ra ngoại trừ điều tốt đẹp nhất. Các bạn chắc chắn về sự hướng dẫn, và người nào thấy được kết cục ngay từ khởi đầu như thế thì không phạm sai lầm.

A third class of fears—which aspirants contact more and more as they grow in strength and usefulness in service—is based on the realisation of the forces that are working against the Plan and hindering the work to be done. Occult attacks and occult powers, warring militantly against the aspirant will occur; they may make their power felt in one or other of the vehicles and—in rare cases—where the aspirant is important enough, on all at once. Sometimes they will be attacks directed against the individual worker, sometimes against groups of workers. To counter them you employ the first method with the following additions and changes. You link yourself up either as an individual or forming one of a group with your own soul and with the Lodge of Masters, [347] not simply with your own Master, but with the Brotherhood for which you are working. Then when stillness has been achieved, you visualise those Masters of whom you know, and raising your vibration higher still, you connect up, if possible, with the Chohans, with the Christ and the Manu, according to the line, religious or political, with which you may be working, and along which the attack will come. You then pour through the linking chain, and through all the vehicles, a stream of violet light. This method is only for use when the need is dire and the necessity great. The reason for caution lies in the etheric vehicle, which responds most violently to the colour violet.

Một loại sợ hãi thứ ba—mà những người chí nguyện tiếp xúc ngày càng nhiều khi họ tăng trưởng về sức mạnh và sự hữu dụng trong phụng sự—đặt nền trên sự nhận ra các mãnh lực đang hoạt động chống lại Thiên Cơ và cản trở công việc phải làm. Các cuộc tấn công huyền bí và các quyền năng huyền bí, chiến đấu dữ dội chống lại người chí nguyện, sẽ xảy ra; chúng có thể khiến quyền năng của chúng được cảm nhận trong một hay một số hiện thể, và—trong những trường hợp hiếm hoi—khi người chí nguyện đủ quan trọng, trong tất cả cùng một lúc. Đôi khi chúng sẽ là những cuộc tấn công nhằm vào người hoạt động cá nhân, đôi khi nhằm vào các nhóm người hoạt động. Để chống lại chúng, các bạn sử dụng phương pháp thứ nhất với những bổ sung và thay đổi sau đây. Các bạn liên kết chính mình, hoặc với tư cách cá nhân, hoặc như một thành viên của một nhóm, với linh hồn của chính mình và với Đoàn Chân sư, [347] không chỉ với Chân sư của riêng mình, mà với Huynh Đệ Đoàn mà các bạn đang làm việc cho. Rồi khi đã đạt được sự tĩnh lặng, các bạn hình dung những Chân sư mà mình biết, và nâng rung động của mình lên cao hơn nữa, nếu có thể, các bạn liên kết với các Chohan, với Đức Christ và Đức Manu, tùy theo đường lối tôn giáo hay chính trị mà các bạn có thể đang hoạt động, và theo đó cuộc tấn công sẽ đến. Sau đó các bạn tuôn qua chuỗi liên kết ấy, và qua mọi hiện thể, một dòng ánh sáng tím. Phương pháp này chỉ dùng khi nhu cầu thật cấp bách và sự cần thiết thật lớn. Lý do phải thận trọng nằm ở hiện thể dĩ thái, vốn đáp ứng dữ dội nhất với màu tím.

With these precautions in mind the fear vibration can be faced and eventually eliminated. Fears fall into two categories for the worker: —Fear of what the future holds, and, secondly, doubt as to the outcome of any effort. With most people it is a combination of the two. Most aspirants have no basic doubt as to the ultimate issue, but they do doubt at times the working out of those issues in the present time, and they shrink back also from the path of endeavour, knowing—and rightly knowing—that it leads through trial and loneliness to the Feet of the Hierophant. They are likewise distressed by troubles and high vibrations which seem to emanate from high spiritual sources. Strong vibrations will come with ever increasing frequency, and as the race progresses in evolution the vibrations will wax stronger and their reactions must be dealt with in wisdom.

Với những phòng bị này trong trí, rung động sợ hãi có thể được đối diện và cuối cùng bị loại bỏ. Đối với người hoạt động, các nỗi sợ rơi vào hai phạm trù: sợ điều tương lai nắm giữ, và thứ hai, nghi ngờ về kết quả của bất cứ nỗ lực nào. Với đa số người, đó là sự kết hợp của cả hai. Hầu hết những người chí nguyện không có nghi ngờ căn bản về kết cuộc tối hậu, nhưng đôi khi họ nghi ngờ việc thực hiện những kết cuộc ấy trong hiện tại, và họ cũng lùi lại trước con đường nỗ lực, vì biết—và biết đúng—rằng con đường ấy dẫn qua thử thách và cô đơn đến dưới Chân Đấng Chủ Lễ Điểm Đạo. Họ cũng đau khổ bởi những rắc rối và những rung động cao dường như xuất phát từ các nguồn tinh thần cao. Những rung động mạnh sẽ đến với tần suất ngày càng tăng, và khi nhân loại tiến bộ trong tiến hoá, các rung động sẽ mạnh thêm và các phản ứng của chúng phải được xử lý bằng minh triết.

Two things manifest when the spiritual vibration is exceedingly potent. All good aspirations and synchronous high vibrations are stimulated and, secondly, all that we term “evil” is likewise stimulated. Aspirants should bear this carefully in mind. There may demonstrate such a factor as a crime wave, but there will also demonstrate an increasing number of groups that stand for [348] spiritual endeavor and high aspiration. The effect of the heightening of the vibration on you, the aspirant, may manifest in various ways also. It may result in bodily fatigue and this must be dealt with—not so much by sleep and by rest, though a just proportion of them is necessary—but above all by a change of vibration, of recreation and of amusement. Secondly, it results frequently in a profound depression, in an utter sinking of the heart as the future is faced. Face that future, however, and remember that what the future holds is not revealed, but that “joy cometh in the morning”. It results also in a sensitiveness of the astral body that is, perhaps, even more hard to bear. This must be dealt with by the individual as best he may, bearing in mind the suggestions that I have given him. It results also in a permanent stimulation of the atoms in the various vehicles and their coherent, stabilized vibration. It lifts a little nearer to the goal, though perhaps the aspirant may not realize it.

Hai điều biểu lộ khi rung động tinh thần cực kỳ mạnh mẽ. Mọi khát vọng tốt đẹp và những rung động cao tương ứng được kích thích, và thứ hai, mọi điều mà chúng ta gọi là “ác” cũng được kích thích. Những người chí nguyện nên ghi nhớ kỹ điều này. Có thể biểu lộ một yếu tố như là làn sóng tội phạm, nhưng cũng sẽ biểu lộ số lượng ngày càng tăng các nhóm đại diện cho [348] nỗ lực tinh thần và khát vọng cao cả. Tác động của sự nâng cao rung động trên các bạn, người chí nguyện, cũng có thể biểu lộ theo nhiều cách. Nó có thể đưa đến sự mệt mỏi của thân thể, và điều này phải được xử lý—không hẳn bằng giấc ngủ và nghỉ ngơi, dù một tỉ lệ thích đáng của chúng là cần thiết—mà trên hết bằng sự thay đổi rung động, bằng giải trí và tiêu khiển. Thứ hai, nó thường đưa đến một sự chán nản sâu xa, một sự trĩu nặng hoàn toàn của trái tim khi đối diện với tương lai. Tuy nhiên, hãy đối diện với tương lai ấy, và nhớ rằng điều tương lai nắm giữ không được mặc khải, nhưng “niềm hoan hỉ đến vào buổi sáng”. Nó cũng đưa đến một sự nhạy cảm của thể cảm dục, có lẽ còn khó chịu đựng hơn. Điều này phải được cá nhân xử lý hết sức có thể, ghi nhớ những gợi ý mà tôi đã trao cho y. Nó cũng đưa đến sự kích thích thường xuyên các nguyên tử trong các hiện thể khác nhau và rung động cố kết, ổn định của chúng. Nó nâng người chí nguyện đến gần mục tiêu hơn một chút, dù có lẽ y không nhận ra điều đó.

Everything depends upon the pupil’s ability to grasp the inner meaning of all events. His entire progress upon the Path rests upon his attitude in making the teaching his own. It is only as we transmute the lessons on the inner planes into practical knowledge that they become part of our own experience and are no longer theoretical. Expansion of consciousness should be an ever increasing practical experience. Theories are of no value until we have changed them into fact. Hence the value of meditating on an ideal. In the meditation our thoughts vibrate temporarily to the measure of the conception, and in time that vibration becomes permanent.

Mọi sự tùy thuộc vào năng lực của môn sinh trong việc nắm bắt ý nghĩa bên trong của mọi biến cố. Toàn bộ sự tiến bộ của y trên Đường Đạo dựa vào thái độ của y trong việc biến giáo huấn thành của chính mình. Chỉ khi chúng ta chuyển hoá các bài học trên các cõi bên trong thành tri thức thực tiễn, chúng mới trở thành một phần kinh nghiệm của chính chúng ta và không còn là lý thuyết. Sự mở rộng tâm thức nên là một kinh nghiệm thực tiễn ngày càng gia tăng. Các lý thuyết không có giá trị cho đến khi chúng ta biến chúng thành sự kiện. Do đó có giá trị của việc tham thiền về một lý tưởng. Trong tham thiền, các tư tưởng của chúng ta rung động tạm thời theo mức độ của quan niệm ấy, và theo thời gian rung động đó trở nên thường xuyên.

Those who, with open eyes, enter on occult training need indeed to count the cost. The reward at the end is great, but the path is rough and the true occultist walks it alone. The capacity to stand alone, to assume responsibility, [349] and then to carry all through single-handed, and to brave evil for the sake of the good achieved is the mark of a White Brother. Be prepared then for loneliness, for dangers of a dim and obscure character, and expect to see your life spent for no reward that touches the personality. It is only as the consciousness expands, and one finds one’s true position in the cosmic whole that the reward becomes apparent; but cease from fear, and know that the personality is only temporary, and what matter if it suffer? Some good gained for the universal Brotherhood, some law explained and demonstrated in the life of every day, may make the Master say eventually (yes, eventually, after all is over) well done! Let your eyes therefore look straight on. Turn not to the right hand nor to the left. The path leads upward and on to greater rapidity of vibration and to greater sensitiveness. Seek the point of balance in your work and keep that balance, for the years hold much work, much pressure and much suffering.

Những ai, với đôi mắt mở, bước vào sự huấn luyện huyền bí quả thật cần tính đến cái giá phải trả. Phần thưởng ở cuối đường là lớn lao, nhưng con đường thì gồ ghề và nhà huyền bí học chân chính bước đi trên đó một mình. Năng lực đứng một mình, đảm nhận trách nhiệm, [349] rồi một tay gánh vác tất cả, và can đảm đối diện với điều ác vì lợi ích của điều thiện đã đạt được, là dấu hiệu của một Huynh đệ Chánh đạo. Vậy hãy chuẩn bị cho sự cô đơn, cho những nguy hiểm có tính chất mờ tối và không rõ ràng, và hãy trông đợi thấy đời mình được tiêu dùng mà không có phần thưởng nào chạm đến phàm ngã. Chỉ khi tâm thức mở rộng, và con người tìm thấy vị trí đích thực của mình trong toàn thể vũ trụ, phần thưởng mới trở nên hiển nhiên; nhưng hãy chấm dứt sợ hãi, và biết rằng phàm ngã chỉ là tạm thời, và có quan trọng gì nếu nó đau khổ? Một điều thiện nào đó đạt được cho Huynh Đệ Đoàn phổ quát, một định luật nào đó được giải thích và chứng minh trong đời sống hằng ngày, cuối cùng có thể khiến Chân sư nói: tốt lắm! Vậy hãy để mắt các bạn nhìn thẳng phía trước. Đừng rẽ sang phải hay sang trái. Con đường dẫn lên cao và tiến tới sự nhanh hơn của rung động cùng sự nhạy bén lớn hơn. Hãy tìm điểm quân bình trong công việc của các bạn và giữ sự quân bình ấy, vì những năm tháng phía trước chứa đựng nhiều công việc, nhiều áp lực và nhiều đau khổ.

Are you strong enough to see the world’s woe, to see disaster and yet keep joyful? Can you be a partner in the work of furthering the evolution of the race and see the necessity for trouble and for discipline and yet not move to stem the tide of sorrow? Picked and tried souls are being trained all over the world at the present time. The Masters are overwhelmed with the work and Their time is over-occupied. They give what They can but on the individual aspirant depends the use made of that which is given.

Các bạn có đủ mạnh để thấy nỗi thống khổ của thế giới, thấy tai họa mà vẫn giữ được sự hoan hỉ không? Các bạn có thể là cộng sự trong công việc thúc đẩy tiến hoá của nhân loại, thấy sự cần thiết của rắc rối và kỷ luật, mà vẫn không động lòng ngăn chặn dòng triều đau buồn không? Những linh hồn được chọn lọc và thử thách đang được huấn luyện khắp thế giới vào lúc này. Các Chân sư đang bị tràn ngập bởi công việc và thời gian của Các Ngài bị chiếm dụng quá mức. Các Ngài ban cho những gì Các Ngài có thể, nhưng việc sử dụng điều được ban tùy thuộc vào từng người chí nguyện cá nhân.

Those of us who watch and guide on the inner side of life realize more than perhaps you who bear the burden and heat of physical plane existence know. We know your physical disabilities and some day may be able to help definitely in the building up of strong bodies for world service. Now—such is the astral miasma—it is well nigh impossible for you, our struggling brethren, [350] to have good health; the karma of the world prohibits it. The astral corruption and the foul cesspools of the lower levels of the mental plane infect all, and lucky is he who escapes. We watch with tenderness all of you, who, with weak and sensitive bodies, struggle, work, fight, fail, continue and serve. Not one hour of service, given in pain and tension, not one day’s labor followed with racked nerves, with head tired and with heart sick, is allowed to pass unnoticed. We know and we care, yet, we may do naught that you, struggling in the field of the world, can do of that which is needed. The world’s karma engulfs each of you at this epoch. If you could but realize it, the time is short, and rest, joy and peace are on their way.

Những Chúng Tôi, những Đấng quan sát và hướng dẫn ở mặt bên trong của sự sống, nhận ra nhiều điều hơn có lẽ các bạn, những người gánh chịu gánh nặng và sức nóng của sự tồn tại trên cõi hồng trần, biết được. Chúng Tôi biết những khiếm khuyết thể xác của các bạn, và một ngày nào đó có thể giúp đỡ một cách xác định trong việc xây dựng những thân thể mạnh mẽ cho phụng sự thế gian. Hiện nay—vì miasma cảm dục như thế—hầu như không thể nào để các bạn, các huynh đệ đang phấn đấu của Chúng Tôi, [350] có sức khỏe tốt; nghiệp quả của thế giới ngăn cấm điều đó. Sự băng hoại cảm dục và những hố ô uế của các cấp thấp thuộc cõi trí lây nhiễm tất cả, và may mắn thay cho người nào thoát khỏi. Chúng Tôi quan sát với lòng trìu mến tất cả các bạn, những người, với các thân thể yếu ớt và nhạy cảm, đang phấn đấu, làm việc, chiến đấu, thất bại, tiếp tục và phụng sự. Không một giờ phụng sự nào được trao trong đau đớn và căng thẳng, không một ngày lao động nào tiếp nối với thần kinh rã rời, đầu mệt mỏi và tim đau buồn, lại được phép trôi qua mà không được ghi nhận. Chúng Tôi biết và Chúng Tôi quan tâm, tuy vậy, Chúng Tôi không thể làm điều mà các bạn, đang phấn đấu trong cánh đồng thế gian, có thể làm đối với điều cần thiết. Nghiệp quả của thế giới nhấn chìm mỗi người trong các bạn vào kỷ nguyên này. Giá như các bạn có thể nhận ra điều đó, thời gian thì ngắn, và nghỉ ngơi, hoan hỉ cùng bình an đang trên đường đến.

The half-gained victory, the days lived through with a certain measure of success, yet with an unachieved ideal, the minutes of exhaustion of soul and body when the emptiness of everything, even of service itself, seems the only noticeable thing, the weeks and months of endeavor and of struggle against apparently insuperable odds, against the stupendous power of the forces of evolution, against the roaring tide of the world’s ignorance, —all are known. Take comfort in the assurance that love rules all; take courage from the realization that the Hierarchy stands.

Chiến thắng mới đạt được một nửa, những ngày đã sống qua với một mức độ thành công nào đó nhưng với lý tưởng chưa thành tựu, những phút giây kiệt quệ của linh hồn và thân thể khi sự trống rỗng của mọi sự, ngay cả của chính việc phụng sự, dường như là điều duy nhất đáng chú ý, những tuần và tháng nỗ lực và chiến đấu chống lại những chênh lệch dường như không thể vượt qua, chống lại quyền năng phi thường của các mãnh lực tiến hoá, chống lại dòng triều gầm thét của sự vô minh thế giới—tất cả đều được biết đến. Hãy tìm sự an ủi trong niềm xác tín rằng tình thương cai quản tất cả; hãy lấy can đảm từ sự nhận ra rằng Thánh Đoàn vẫn đứng vững.

Those who are to teach the world more about the Masters and who are being trained to be focal points of contact are put through a very drastic disciplining. They are tested in every possible way and taught much through bitter experience. They are taught to attach no importance to recognition. They are trained not to judge from the appearance but from the inner vision. Capacity to recognize the Master’s purpose and the ability to love are counted of paramount importance. Aspirants who seek to be chosen for work as disciples must lose all desire for the things of self and must be willing at any [351] cost to pay the price of knowledge. If proof is to be given to the world of the subjective realm of reality it will be bought with the heart’s blood, for only “in the blood of the heart” can power be safely gained and wisely wielded. As you go on and, as aspirants, study the hidden laws of nature, you will realize the need for the price paid. The spiritual unfoldment of the disciple’s character must keep pace with his inner knowledge. This knowledge grows in three ways:

Những ai sẽ dạy thế giới nhiều hơn về các Chân sư và đang được huấn luyện để trở thành các điểm hội tụ tiếp xúc, phải trải qua một kỷ luật rất nghiêm khắc. Họ được thử thách bằng mọi cách có thể và được dạy nhiều qua kinh nghiệm cay đắng. Họ được dạy không xem trọng sự công nhận. Họ được huấn luyện không phán đoán theo vẻ ngoài mà theo linh thị bên trong. Năng lực nhận ra mục đích của Chân sư và khả năng yêu thương được xem là có tầm quan trọng tối thượng. Những người chí nguyện tìm cách được chọn cho công việc với tư cách đệ tử phải mất hết mọi ham muốn đối với những điều thuộc về cái tôi và phải sẵn lòng, bằng bất cứ [351] giá nào, trả cái giá của tri thức. Nếu bằng chứng phải được trao cho thế giới về cõi thực tại chủ quan, thì nó sẽ được mua bằng máu của trái tim, vì chỉ “trong máu của trái tim” quyền năng mới có thể được đạt được một cách an toàn và vận dụng một cách minh triết. Khi các bạn tiến bước và, với tư cách những người chí nguyện, nghiên cứu các định luật ẩn tàng của thiên nhiên, các bạn sẽ nhận ra sự cần thiết của cái giá đã trả. Sự khai mở tinh thần của Tính cách đệ tử phải theo kịp tri thức bên trong của y. Tri thức này tăng trưởng theo ba cách:

1. By definite expansions of consciousness, which open up to the disciple a realization of the points to be attained. This produces in his mind a formulation of what lies ahead to be grasped and is the first step towards acquirement. An aspirant is definitely taken on the inner planes and shown by a more advanced chela what is the work to be done, much in the same way as a pupil is shown by his master the lesson to be learned.

1. Bằng những mở rộng tâm thức xác định, mở ra cho đệ tử sự nhận ra các điểm phải đạt tới. Điều này tạo ra trong thể trí của y một sự định hình về điều nằm phía trước cần được nắm bắt, và là bước đầu tiên hướng tới sự thủ đắc. Một người chí nguyện được đưa một cách xác định lên các cõi bên trong và được một đệ tử tiến bộ hơn chỉ cho thấy công việc phải làm, phần nào giống như một môn sinh được thầy của mình chỉ cho bài học phải học.

2. The next step is the mastering of the lesson and the working out in meditation and experiment of the truths sensed. This is a lengthy process, for all has to be assimilated and made part and parcel of the disciple’s very self before he can go on. It resembles the working out of a sum—figure by figure, line by line, the working out being carried forward until the answer is achieved. This work is done both on the inner planes and on the physical. In the Hall of Learning the pupil is taught nightly for a short time before proceeding with any work of service. This teaching he brings over into his physical brain consciousness in the form of a deep interest in certain subjects, and in an increasing aptitude to think concretely and abstractly on the various occult matters that are occupying his attention. He attempts to experiment and tries various methods of studying the laws and in process of time arrives at results that are of value to him. Time passes and as he appropriates and knows more, his knowledge takes a synthetic form and he becomes [352] ready to teach and to impart to others the residue of knowledge of which he is sure.

2. Bước kế tiếp là làm chủ bài học và khai triển trong tham thiền cùng thực nghiệm những chân lý đã cảm nhận. Đây là một tiến trình lâu dài, vì tất cả phải được đồng hóa và trở thành một phần trọn vẹn của chính bản ngã đệ tử trước khi y có thể tiếp tục. Nó giống như việc giải một bài toán—từng con số, từng dòng một, công việc giải được tiếp tục cho đến khi đạt được đáp án. Công việc này được thực hiện cả trên các cõi bên trong lẫn trên cõi hồng trần. Trong Phòng Học Tập, môn sinh được dạy mỗi đêm trong một thời gian ngắn trước khi tiến hành bất cứ công việc phụng sự nào. Giáo huấn này y mang xuống tâm thức bộ não hồng trần của mình dưới hình thức một mối quan tâm sâu sắc đối với một số chủ đề nhất định, và trong một năng khiếu ngày càng tăng để suy nghĩ cụ thể và trừu tượng về các vấn đề huyền bí khác nhau đang chiếm sự chú ý của y. Y cố gắng thực nghiệm và thử nhiều phương pháp nghiên cứu các định luật, và theo thời gian đạt được những kết quả có giá trị đối với y. Thời gian trôi qua, và khi y chiếm hữu và biết nhiều hơn, tri thức của y mang hình thức tổng hợp, và y trở nên [352] sẵn sàng dạy dỗ và truyền đạt cho người khác phần tri thức còn lại mà y chắc chắn.

3. In teaching others comes further knowledge. The definition of truth in teaching crystallises the facts learnt, and, in the play of other minds, the aspirant’s own vibration becomes keyed up to ever higher planes, and thus fresh intuition and fresh reaches of truth pour in.

3. Trong việc dạy người khác, tri thức thêm nữa sẽ đến. Việc định nghĩa chân lý trong giảng dạy kết tinh các sự kiện đã học, và trong sự tương tác của những thể trí khác, rung động của chính người chí nguyện được nâng lên tới các cõi ngày càng cao hơn, và như thế trực giác mới cùng những tầm với mới của chân lý tuôn vào.

When one lesson has, in this way, been mastered, a further one is set, and when a pupil has learnt a particular series of lessons he graduates and passes an initiation. The whole group he teaches is benefited by his step forward, for every disciple carries those he instructs along with him in a curious indefinable sense. The benefit to the unit reacts upon the whole. A Master carries His disciples on and up with Him in a similar manner. The matter is abstruse and largely one of the secrets of the law of vibratory expansion. The initiation of the Logos has a universal effect.

Khi một bài học đã được làm chủ theo cách này, một bài học khác được đặt ra, và khi một môn sinh đã học xong một loạt bài học đặc thù, y tốt nghiệp và vượt qua một cuộc điểm đạo. Toàn bộ nhóm mà y dạy được lợi ích nhờ bước tiến của y, vì mỗi đệ tử mang theo những người y huấn luyện cùng tiến với mình theo một ý nghĩa kỳ lạ khó định nghĩa. Lợi ích đối với đơn vị tác động trở lại trên toàn thể. Một Chân sư cũng mang các đệ tử của Ngài tiến lên và đi lên với Ngài theo một cách tương tự. Vấn đề này sâu kín và phần lớn là một trong những bí mật của định luật mở rộng rung động. Cuộc điểm đạo của Thượng đế có một tác động phổ quát.

You are right in your assumption that the probationary path corresponds to the later stages of the period of gestation. At the first initiation what is called in the New Testament “the babe in Christ” starts upon the pilgrimage of the path. The first initiation simply stands for commencement. A certain structure of right living, of thinking and of conduct has been attained; the form that the Christ is to occupy has been constructed and now that form is to be vivified and indwelt. The Christ life enters and the form becomes alive. Therein lies the difference between theory and making that theory a part of yourself. You can have a perfect picture or image but it lacks the life. You have a person who has modelled his life on the divine as far as he can. He has a good copy yet something is lacking. What is this something? The manifestation of the indwelling Christ. The germ has been there but it has lain dormant. Now it is fostered and brought to birth, and the first initiation is [353] attained. Much then remains to be done. The analogy is complete. Many years were spent by the disciple Jesus between the birth and baptism. The remaining three initiations were taken in three years. You have the same situation on the path of the aspirant.

Các bạn đúng trong giả định rằng Con Đường Dự Bị tương ứng với các giai đoạn sau của thời kỳ thai nghén. Ở lần điểm đạo thứ nhất, điều trong Tân Ước gọi là “hài nhi trong Đức Christ” bắt đầu cuộc hành hương trên con đường. Lần điểm đạo thứ nhất chỉ đơn giản biểu thị sự khởi đầu. Một cấu trúc nhất định của đời sống đúng đắn, tư tưởng và hành vi đúng đắn đã đạt được; hình tướng mà Đức Christ sẽ chiếm ngự đã được kiến tạo, và nay hình tướng ấy phải được làm cho sinh động và được cư ngụ. Sự sống Đức Christ đi vào và hình tướng trở nên sống động. Chính trong đó có sự khác biệt giữa lý thuyết và việc biến lý thuyết ấy thành một phần của chính các bạn. Các bạn có thể có một bức tranh hay hình ảnh hoàn hảo nhưng nó thiếu sự sống. Các bạn có một người đã mô phỏng đời mình theo điều thiêng liêng hết mức y có thể. Y có một bản sao tốt, nhưng vẫn thiếu điều gì đó. Điều đó là gì? Sự biểu lộ của Đức Christ nội tại. Mầm đã có ở đó nhưng vẫn nằm yên. Nay nó được nuôi dưỡng và đưa đến sự sinh ra, và lần điểm đạo thứ nhất [353] được đạt tới. Khi ấy còn nhiều điều phải làm. Sự tương đồng là trọn vẹn. Nhiều năm đã trôi qua đối với đệ tử Jesus giữa lúc sinh ra và phép rửa. Ba cuộc điểm đạo còn lại được trải qua trong ba năm. Các bạn có cùng tình huống trên con đường của người chí nguyện.

The second initiation marks the crisis of the control of the astral body. After baptism there remain the three temptations, demonstrating the complete control of the three lower vehicles. Then comes the Transfiguration, followed by knowledge of the future and complete self-abnegation. Therefore, you have the following:

Lần điểm đạo thứ hai đánh dấu cuộc khủng hoảng của việc kiểm soát thể cảm dục. Sau phép rửa vẫn còn ba cám dỗ, chứng minh sự kiểm soát hoàn toàn ba hiện thể thấp. Rồi đến cuộc Biến hình, tiếp theo là tri thức về tương lai và sự tự quên mình hoàn toàn. Do đó, các bạn có những điều sau:

1. The moment of conception—i.e. individualization.

1. Khoảnh khắc thụ thai—tức là biệt ngã hóa.

2. Nine months gestation—i.e. the wheel of life.

2. Chín tháng thai nghén—tức là bánh xe sự sống.

3. First initiation—i.e. the birth hour.

3. Lần điểm đạo thứ nhất—tức là giờ sinh ra.

The path is, therefore, a path on which steady expansion of consciousness is undergone with increasing sensitivity to the higher vibrations. This works out at first as sensitiveness to the inner voice and this is one of the most necessary faculties in a disciple. The Great Ones are looking for those who can rapidly obey the inner voice of their soul. The times are critical and all aspirants are urged also to render themselves sensitive to the voice of their Master as well. His time is fully occupied and disciples must train themselves to be sensitive to His impression. A slight hint, a pointed finger, a hurried suggestion, may be all that He has time to give, and each disciple must be upon the watch. The pressure upon Them is great now that They are moving closer to the physical plane. More souls are conscious of Them than when They worked on mental levels only and They also, working on denser planes, are finding conditions more difficult. The devas and disciples, aspirants and those upon the probationary path are being gathered around Them now and are being organized into groups with special work assigned. Some souls can work only in mass [354] formation, banded together and unified by a common aspiration. Such are the majority of Christians, for instance, in the churches. These, knowing not the laws of occultism, and only sensing the inner truth, work on broad lines of preparation. They are aided by bands of lesser devas or angels who suggest, guide and control.

Do đó, con đường là một con đường trên đó diễn ra sự mở rộng tâm thức đều đặn với sự nhạy bén ngày càng tăng đối với các rung động cao hơn. Điều này lúc đầu biểu hiện thành sự nhạy bén với tiếng nói bên trong, và đây là một trong những năng lực cần thiết nhất nơi một đệ tử. Các Đấng Cao Cả đang tìm kiếm những ai có thể nhanh chóng vâng theo tiếng nói bên trong của linh hồn mình. Thời điểm đang nguy cấp, và mọi người chí nguyện cũng được thúc giục làm cho mình nhạy bén với tiếng nói của Chân sư mình. Thời gian của Ngài bị chiếm dụng hoàn toàn, và các đệ tử phải tự huấn luyện để nhạy bén với ấn tượng của Ngài. Một gợi ý nhẹ, một ngón tay chỉ hướng, một lời đề nghị vội vã, có thể là tất cả những gì Ngài có thời gian để trao, và mỗi đệ tử phải luôn canh chừng. Áp lực trên Các Ngài hiện nay rất lớn khi Các Ngài đang tiến gần hơn đến cõi hồng trần. Nhiều linh hồn có ý thức về Các Ngài hơn so với khi Các Ngài chỉ hoạt động trên các cấp độ trí tuệ, và chính Các Ngài, khi làm việc trên các cõi đậm đặc hơn, cũng thấy các điều kiện khó khăn hơn. Các thiên thần và đệ tử, người chí nguyện và những người trên Con Đường Dự Bị hiện đang được quy tụ quanh Các Ngài và được tổ chức thành các nhóm với công việc đặc biệt được giao. Một số linh hồn chỉ có thể làm việc trong đội hình quần chúng [354], liên kết với nhau và được thống nhất bởi một khát vọng chung. Chẳng hạn, đó là đa số tín hữu Ki-tô trong các giáo hội. Những người này, không biết các định luật của huyền bí học, và chỉ cảm nhận chân lý bên trong, làm việc theo các đường lối chuẩn bị rộng lớn. Họ được các nhóm thiên thần thấp hơn trợ giúp, những vị này gợi ý, hướng dẫn và kiểm soát.

Others more advanced work in smaller groups. They idealize more and in them you see the thinkers and leaders of social reform, of humanitarian regeneration and of church leadership, either Christian or Oriental. The higher devas guide them, the blue and yellow devas, as the former group are guided by the blue and rose.

Những người khác tiến bộ hơn làm việc trong các nhóm nhỏ hơn. Họ lý tưởng hóa nhiều hơn, và trong họ các bạn thấy những nhà tư tưởng và lãnh đạo của cải cách xã hội, của sự tái sinh nhân đạo và của sự lãnh đạo giáo hội, dù thuộc Ki-tô giáo hay phương Đông. Các thiên thần cao hơn hướng dẫn họ, các thiên thần xanh lam và vàng, cũng như nhóm trước được các thiên thần xanh lam và hồng hướng dẫn.

Back of them stand the still more advanced—the aspirants, probationers and disciples of the world. They work singly or in twos or threes and never in groups exceeding nine—the occult significance of these numbers being necessary to the success of their work. Great white and gold devas attend their labours.

Đứng phía sau họ là những người còn tiến bộ hơn—những người chí nguyện, dự bị đệ tử và đệ tử của thế giới. Họ làm việc đơn lẻ hoặc theo cặp đôi hay bộ ba, và không bao giờ trong các nhóm vượt quá chín người—ý nghĩa huyền bí của các con số này là cần thiết cho sự thành công của công việc họ. Các thiên thần lớn màu trắng và vàng phụ giúp những lao tác của họ.

Back again of these three groups stand the Masters and the devas of the formless levels—a Great Brotherhood, pledged to serve humanity.

Lại phía sau ba nhóm này là các Chân sư và các thiên thần của những cấp độ vô hình tướng—một Huynh Đệ Đoàn Vĩ Đại, đã nguyện phụng sự nhân loại.

Movements are being set on foot to transmute, if possible, the labours of destruction into constructive work. The time is critical, for a pause has come in the work of the destroyers. There is opportunity for the tide to turn and for the re-building of the body social.

Các phong trào đang được khởi sự để, nếu có thể, chuyển hoá những lao tác hủy diệt thành công việc xây dựng. Thời điểm đang nguy cấp, vì một khoảng dừng đã đến trong công việc của những kẻ hủy diệt. Có cơ hội để dòng triều xoay chuyển và để tái thiết cơ thể xã hội.

It is for this reason that each one of you needs to make a fresh dedication of himself to the work of the redemption. Personalities must be submerged. Aspirants must live harmlessly in thought and word and deed. In this way each one of you will provide a pure channel, will become an outpost for the consciousness of the Master and provide a centre of energy through which the Brotherhood can work.

Chính vì lý do này mà mỗi người trong các bạn cần thực hiện một sự hiến dâng mới của chính mình cho công việc cứu chuộc. Các phàm ngã phải được chìm xuống. Những người chí nguyện phải sống vô tổn hại trong tư tưởng, lời nói và hành động. Bằng cách này, mỗi người trong các bạn sẽ cung cấp một vận hà thanh khiết, sẽ trở thành một tiền đồn cho tâm thức của Chân sư và cung cấp một trung tâm năng lượng qua đó Huynh Đệ Đoàn có thể làm việc.

The prime problem of the aspirant is to dominate the emotional nature. Then he stands victor on the field of [355] Kurukshetra; the clouds have rolled away, and henceforth he can walk in the light. Let it here be remembered that this very freedom to walk in the light carries with it its own problems. You ask how this can be? Let me give one simple, yet (I think you will find) convincing argument.

Vấn đề chính yếu của người chí nguyện là chế ngự bản chất cảm xúc. Khi ấy y đứng như người chiến thắng trên chiến trường [355] Kurukshetra; mây đã tan đi, và từ đó về sau y có thể bước đi trong ánh sáng. Ở đây hãy nhớ rằng chính sự tự do được bước đi trong ánh sáng này mang theo những vấn đề riêng của nó. Các bạn hỏi điều này có thể như thế nào? Hãy để tôi đưa ra một lập luận đơn giản, nhưng tôi nghĩ các bạn sẽ thấy có sức thuyết phục.

When a man literally walks in the light of his soul and the clear light of the sun pours through him—revealing the Path, —it reveals at the same time the Plan. Simultaneously however, he becomes aware of the fact that the Plan is very far as yet from consummation. The dark becomes more truly apparent; the chaos and misery and failure of the world groups stand revealed; the filth and dust of the warring forces are noted, and the whole sorrow of the world bears down upon the astounded, yet illuminated, aspirant. Can he stand this pressure? Can he become indeed acquainted with grief and yet rejoice forever in the divine consciousness? Has he the ability to face what the light reveals and still go his way with serenity, sure of the ultimate triumph of good? Will he be overwhelmed by the surface evil and forget the heart of Love which beats behind all outer seeming? This situation should ever be remembered by the disciple, or he will be shattered by that which he has discovered.

Khi một người thật sự bước đi trong ánh sáng của linh hồn mình và ánh sáng trong trẻo của mặt trời tuôn qua y—mặc khải Đường Đạo—đồng thời nó cũng mặc khải Thiên Cơ. Tuy nhiên, cùng lúc ấy, y trở nên ý thức về sự kiện rằng Thiên Cơ vẫn còn rất xa mới hoàn tất. Bóng tối trở nên thật sự rõ ràng hơn; sự hỗn loạn, khốn khổ và thất bại của các nhóm thế giới hiện lộ; sự ô uế và bụi bặm của các mãnh lực giao chiến được ghi nhận, và toàn bộ nỗi buồn của thế giới đè nặng lên người chí nguyện kinh ngạc nhưng đã được soi sáng. Y có thể chịu được áp lực này không? Y có thể thật sự quen thuộc với đau khổ mà vẫn mãi vui mừng trong tâm thức thiêng liêng không? Y có khả năng đối diện với điều ánh sáng mặc khải mà vẫn đi con đường của mình với sự tĩnh lặng, chắc chắn về chiến thắng tối hậu của điều thiện không? Liệu y sẽ bị cái ác bề mặt áp đảo và quên mất trái tim Tình thương đang đập phía sau mọi sắc tướng bên ngoài không? Tình huống này đệ tử phải luôn ghi nhớ, nếu không y sẽ bị nghiền nát bởi điều y đã khám phá.

But with the advent of the light, he becomes aware of a new (for him) form of energy. He learns to work in a new field of opportunity. The realm of the mind opens up before him, and he discovers that he can differentiate between the emotional nature and the mental. He discovers also that the mind can be made to assume the position of the controller, and that the sentient forces respond with obedience to mental energies. “The light of reason” brings this about—light that is always present in man but which only becomes significant and potent when seen and known, either phenomenally or intuitionally.

Nhưng với sự xuất hiện của ánh sáng, y trở nên ý thức về một hình thức năng lượng mới đối với y. Y học làm việc trong một lĩnh vực cơ hội mới. Cõi của thể trí mở ra trước y, và y khám phá rằng y có thể phân biệt giữa bản chất cảm xúc và bản chất trí tuệ. Y cũng khám phá rằng thể trí có thể được khiến đảm nhận vị trí của người kiểm soát, và các mãnh lực cảm thọ đáp ứng bằng sự vâng phục đối với các năng lượng trí tuệ. “Ánh sáng của lý trí” đem điều này đến—ánh sáng luôn hiện diện trong con người nhưng chỉ trở nên có thâm nghĩa và mạnh mẽ khi được thấy và được biết, hoặc theo hiện tượng hoặc theo trực giác.

[356]

[356]

Much false teaching is going about these days in connection with the mind and the soul. It might be summed up in the teaching of one school which shall be nameless, as follows:

Ngày nay có nhiều giáo huấn sai lạc đang lưu hành liên quan đến thể trí và linh hồn. Nó có thể được tóm lược trong giáo huấn của một trường phái không cần nêu tên, như sau:

Nature is cruel and selective. She works by the Law of the survival of the fittest; in the process of selection, millions of lives are sacrificed and much birthing of forms comes to naught. Hence the achieving of soul life is a rare event. Few people have souls and only a few therefore possess immortality and go hence to their own place of power to return no more. The rest are lost, submerged and swallowed up in the general process of nature, and the human kingdom as a whole is a dead loss except for a few emerging and significant figures which the past and the present produce. They have achieved through the sacrifice of the many.

Thiên nhiên tàn nhẫn và có tính chọn lọc. Nàng hoạt động theo Định luật sinh tồn của kẻ thích nghi nhất; trong tiến trình chọn lọc, hàng triệu sự sống bị hy sinh và nhiều sự sinh ra của các hình tướng trở nên vô ích. Do đó, việc đạt được đời sống linh hồn là một biến cố hiếm hoi. Ít người có linh hồn, và vì vậy chỉ một số ít sở hữu sự bất tử và đi từ đây đến nơi quyền năng riêng của họ để không còn trở lại. Phần còn lại bị mất đi, bị chìm ngập và nuốt chửng trong tiến trình chung của thiên nhiên, và toàn thể giới nhân loại là một tổn thất hoàn toàn ngoại trừ một vài nhân vật đang xuất hiện và có thâm nghĩa mà quá khứ và hiện tại tạo ra. Họ đã đạt được thông qua sự hy sinh của số đông.

But the reaction of men themselves to this teaching is an adequate answer. The sense of immortality, the surety of an eternal future, the innate belief in God, the revelation of the light, the achieving of a wisdom which helps and aids is not the prerogative of the Senecas, of the St. Pauls, of the Akbars of the race. It is found (and sometimes in its purest form) in the humblest peasant. Words of wise counsel fall from the lips of the illiterate, and a knowledge of God and a belief in the soul’s immortality are discovered to be latent in the hearts of the most unlikely and oft of the most sinful. But when the highly evolved and the most intelligent of the race discover in themselves the divine Flame, and awaken the power of the supreme Controller, seated at the heart of their being, they are very apt to place themselves in a higher category than other people, and to classify those who do not have their mental grasp of the differentiations of the evolutionary development as differing so widely from them as not to deserve the name of Sons of God. They regard all not working in mental energy as lacking souls [357] and hence as lacking eternal persistence as individuals. This is only a glamour of the mind, is part of the great heresy of separateness, and indicates faintly the coming period wherein the mind will be as dominant and as misleading as is the sentient body at this time.

Nhưng phản ứng của chính con người đối với giáo huấn này là một câu trả lời đầy đủ. Ý thức về sự bất tử, niềm chắc chắn về một tương lai vĩnh cửu, niềm tin bẩm sinh vào Thượng đế, sự mặc khải của ánh sáng, việc đạt được một minh triết trợ giúp và nâng đỡ, không phải là đặc quyền của các Seneca, các Thánh Phao-lô, các Akbar của nhân loại. Nó được tìm thấy, và đôi khi trong hình thức tinh khiết nhất, nơi người nông dân khiêm hạ nhất. Những lời khuyên minh triết rơi từ môi người thất học, và tri thức về Thượng đế cùng niềm tin vào sự bất tử của linh hồn được phát hiện là tiềm tàng trong trái tim của những người ít ngờ nhất và thường là tội lỗi nhất. Nhưng khi những người tiến hoá cao và thông minh nhất của nhân loại khám phá trong chính mình Ngọn Lửa thiêng liêng, và đánh thức quyền năng của Đấng Kiểm Soát tối thượng ngự nơi trái tim bản thể họ, họ rất dễ đặt mình vào một phạm trù cao hơn những người khác, và phân loại những ai không có sự nắm bắt trí tuệ như họ về các biến phân của sự phát triển thăng thượng tiến hoá là khác biệt với họ đến mức không xứng đáng với danh hiệu Các Con của Thượng đế. Họ xem tất cả những ai không làm việc trong năng lượng trí tuệ là thiếu linh hồn [357] và do đó thiếu sự bền tồn vĩnh cửu như những cá nhân. Điều này chỉ là một ảo cảm của thể trí, là một phần của Đại Tà thuyết về sự chia rẽ, và chỉ ra một cách mờ nhạt thời kỳ sắp đến, khi thể trí sẽ thống trị và gây lầm lạc cũng như thể cảm thọ hiện nay.

Let us therefore study the types of mental energy with which the individual has to work and see how this great heresy of separateness and the “fallacy of repudiation”, as it is sometimes called, can be offset.

Vì vậy, chúng ta hãy nghiên cứu các loại năng lượng trí tuệ mà cá nhân phải làm việc với, và xem cách thức Đại Tà thuyết về sự chia rẽ này, cùng “sai lầm của sự phủ nhận”, như đôi khi được gọi, có thể được hóa giải.

One of the first things we have to remember as we consider these types of energy is that their trend and work can be grasped more easily in a larger sense in relation to humanity than can their effects in an individual use of mental energy. Only a few human beings are as yet consciously using this type of force and only a few can therefore understand what it really entails. Increasingly men will come, as units, into possession of their intellectual heritage but, numerically speaking, scarce one in ten thousand is utilising this inherent power and knowingly functioning in his mental body.

Một trong những điều đầu tiên chúng ta phải nhớ khi xem xét các loại năng lượng này là khuynh hướng và công việc của chúng có thể được nắm bắt dễ hơn theo nghĩa rộng trong liên hệ với nhân loại, hơn là các tác động của chúng trong việc cá nhân sử dụng năng lượng trí tuệ. Chỉ một số ít con người hiện nay đang sử dụng loại mãnh lực này một cách có ý thức, và vì vậy chỉ một số ít có thể thấu hiểu nó thật sự bao hàm điều gì. Ngày càng nhiều người, với tư cách các đơn vị, sẽ đi vào quyền sở hữu di sản trí tuệ của mình, nhưng xét về số lượng, hiếm có một người trong mười ngàn đang sử dụng quyền năng cố hữu này và hoạt động một cách biết rõ trong thể trí của mình.

When however we look at humanity as a whole and cast our eyes back over the past racial development, we can see how mental energy has had a most definite effect and has produced outstanding results. The use of two factors differentiates man from the animal, whether he uses them consciously or unconsciously. Both are latent in the animal but man is the only entity in the three worlds who can consciously reap benefit from them. One of these factors is pain, and the other is the faculty of discrimination. Through the means of pain and a subsequent process of analysis, of relation plus memory and visualisation, man has learnt what to avoid and what to cultivate. This works in the realm of physical plane happenings and of sensory experience. Through discrimination as to ideas and as to thought currents, man has learnt to decide upon what to base his activities in all departments [358] of human affairs, even though he has but an imperfect grasp as to the true nature of ideas and his application of the truths sensed is quite imperfect. That he often chooses unwisely, that the ideas governing group conduct are not of the highest, that public opinion is proverbially moulded by personal and selfish interests may be only too sadly true. Nevertheless—through pain and learning to utilise the power of choice in the realm of ideas—man is steadily forging ahead towards full liberty and full control of the earth, which it is his right to inherit. The Old Commentary says in relation to these two characteristics of man something that conveys much of beauty, couched in symbolic language. The phrases run as follows and it must be borne in mind whilst pondering upon them that water symbolises sentiency or astral reaction, and fire is the symbol of the mentality.

Tuy nhiên, khi chúng ta nhìn nhân loại như một toàn thể và ngoái mắt nhìn lại sự phát triển của nhân loại trong quá khứ, chúng ta có thể thấy năng lượng trí tuệ đã có một tác động rất rõ rệt và đã tạo ra những kết quả nổi bật. Việc sử dụng hai yếu tố phân biệt con người với con vật, dù y sử dụng chúng một cách có ý thức hay vô thức. Cả hai đều tiềm tàng trong con vật, nhưng con người là thực thể duy nhất trong ba cõi thấp có thể một cách có ý thức gặt hái lợi ích từ chúng. Một trong hai yếu tố này là đau khổ, và yếu tố kia là năng lực phân biện. Thông qua phương tiện đau khổ và một tiến trình tiếp theo gồm phân tích, liên hệ cộng với ký ức và sự hình dung, con người đã học điều gì phải tránh và điều gì phải vun trồng. Điều này hoạt động trong phạm vi các biến cố trên cõi hồng trần và kinh nghiệm giác quan. Thông qua sự phân biện về các ý tưởng và các dòng tư tưởng, con người đã học cách quyết định điều gì làm nền tảng cho các hoạt động của mình trong mọi ngành [358] của những sự vụ nhân loại, dù y chỉ có sự nắm bắt chưa hoàn hảo về bản chất thật của các ý tưởng và việc y áp dụng các chân lý đã cảm nhận thì khá bất toàn. Việc y thường chọn lựa thiếu minh triết, việc các ý tưởng chi phối hành vi nhóm không phải là những ý tưởng cao nhất, việc dư luận quần chúng thường được uốn nắn bởi các lợi ích cá nhân và ích kỷ—tất cả điều này có thể chỉ quá buồn thay là đúng. Tuy nhiên—thông qua đau khổ và việc học sử dụng quyền năng chọn lựa trong cõi của các ý tưởng—con người đang đều đặn rèn đường tiến tới tự do trọn vẹn và sự kiểm soát trọn vẹn Trái Đất, điều mà y có quyền thừa hưởng. Cổ Luận nói về hai đặc tính này của con người bằng những lời truyền đạt nhiều vẻ đẹp, được diễn đạt trong ngôn ngữ biểu tượng. Các câu như sau, và khi suy ngẫm về chúng, cần ghi nhớ rằng nước tượng trưng cho cảm thọ hay phản ứng cảm dục, còn lửa là biểu tượng của trí tuệ.

“The assuaging waters cool. They slowly bring relief, abstracting form from all that can be touched. The quivering fever heat of long repressed desire yields to the cooling draught. Water and pain negate each other. Long is the process of the cooling draught.

“Những dòng nước xoa dịu làm mát. Chúng chậm rãi đem lại sự nhẹ nhõm, rút hình tướng ra khỏi mọi điều có thể được chạm đến. Cơn sốt run rẩy của ham muốn bị kìm nén lâu ngày nhường chỗ cho thức uống làm mát. Nước và đau khổ phủ định lẫn nhau. Tiến trình của thức uống làm mát thì dài lâu.

“The burning fire releases all that blocks the way of life. Bliss comes and follows after fire, as fire upon the waters. Water and fire together blend and cause the great Illusion. Fog they produce and mist and steam and noise, veiling the Light, hiding the Truth and shutting out the Sun.

“Ngọn lửa thiêu đốt giải phóng mọi điều chặn đường sự sống. Chí phúc đến và theo sau lửa, như lửa trên nước. Nước và lửa cùng hòa trộn và gây nên đại Ảo tưởng. Chúng tạo ra sương mù, hơi mù, hơi nước và tiếng động, che phủ Ánh sáng, giấu kín Chân lý và ngăn khuất Mặt trời.

“The fire burns fiercely. Pain and the waters disappear. Cold, heat, the light of day, the radiance of the rising sun and perfect knowledge of the Truth appear.

“Ngọn lửa cháy dữ dội. Đau khổ và nước biến mất. Lạnh, nóng, ánh sáng ban ngày, vẻ rạng rỡ của mặt trời mọc và tri thức hoàn hảo về Chân lý xuất hiện.

“This is the path for all who seek the light. First form, and all its longing. Then pain. Then the assuaging waters and the appearance of a little fire. The fire grows, and heat is then active within the tiny sphere and does its fiery work. Moisture likewise is seen; dense fog, and to the pain is added sad bewilderment, for they who use the fire of mind during the early stage are lost within a light illusory.

“Đây là con đường cho tất cả những ai tìm kiếm ánh sáng. Trước hết là hình tướng, và mọi khao khát của nó. Rồi đau khổ. Rồi những dòng nước xoa dịu và sự xuất hiện của một ngọn lửa nhỏ. Ngọn lửa lớn dần, và sức nóng khi ấy hoạt động trong khối cầu nhỏ bé và thực hiện công việc bốc lửa của nó. Độ ẩm cũng được thấy; sương mù đậm đặc, và thêm vào đau khổ là sự hoang mang buồn bã, vì những ai sử dụng lửa của trí tuệ trong giai đoạn đầu bị lạc trong một ánh sáng hư ảo.

“Fierce grows the heat; next comes the loss of power to suffer. When this stage has been outgrown, there comes [359] the shining of the unobstructed sun and the clear bright light of truth. This is the path back to the hidden Centre.

“Sức nóng trở nên dữ dội; tiếp đến là sự mất đi năng lực chịu đau khổ. Khi giai đoạn này đã được vượt qua, bấy giờ [359] có sự chiếu rạng của mặt trời không bị che khuất và ánh sáng trong trẻo, rực rỡ của chân lý. Đây là con đường trở về Trung Tâm ẩn tàng.

“Use pain. Call for the fire, oh, pilgrim in a strange and foreign land. The waters wash away the mud and slime of nature’s growth. The fires burn the hindering forms which seek to hold the pilgrim back and so they bring release. The living waters, as a river, sweep the pilgrim to the Father’s Heart. The fires destroy the veil hiding the Father’s Face.”

“Hãy sử dụng đau khổ. Hãy kêu gọi lửa, hỡi người hành hương trong một vùng đất xa lạ và dị quốc. Những dòng nước rửa sạch bùn và nhớt của sự tăng trưởng trong thiên nhiên. Những ngọn lửa thiêu rụi các hình tướng cản trở tìm cách giữ người hành hương lại, và như thế chúng đem lại giải thoát. Những dòng nước sống động, như một con sông, cuốn người hành hương đến Trái Tim của Cha. Những ngọn lửa hủy diệt bức màn che giấu Thánh Nhan của Cha.”

Perhaps one of the first things that every student has to learn, as he seeks to grasp the nature and use of mind, is that public opinion has to give place to individual consciousness of right, and that then that individual consciousness has to be so employed and concentrated that it is seen in its right proportion as that living germ which can expand into the divine flower of the Son of Mind, the Manasaputra, and as the thread which leads back into the realm of the Universal Mind. This thread and this consciousness, when followed, will lead the individual into the Council Chamber wherein the plan and the purpose of the great Life will stand revealed, and wherein all human selfishness and self-seeking fade out in the clear light of the Will of God. Through right understanding and right use and control of the astral nature and a comprehension of the nature of the sentient consciousness, man can penetrate into the very heart of God Himself and know past all controversy that all is well, for all is Love. Through right use of the mind, and through correct understanding of the nature of the intellect, man can enter into the mind of God and know that all is well, for all is planned, and divine purpose is steadily working out its objectives.

Có lẽ một trong những điều đầu tiên mà mọi đạo sinh phải học, khi y tìm cách nắm bắt bản chất và cách sử dụng thể trí, là dư luận quần chúng phải nhường chỗ cho tâm thức cá nhân về điều đúng, và rồi tâm thức cá nhân ấy phải được sử dụng và tập trung đến mức nó được thấy trong tỉ lệ đúng của nó như mầm sống có thể mở rộng thành bông hoa thiêng liêng của Con của Trí Tuệ, Manasaputra, và như sợi dây dẫn trở về cõi của Vũ Trụ Trí. Sợi dây này và tâm thức này, khi được theo, sẽ dẫn cá nhân vào Phòng Hội Đồng, nơi Thiên Cơ và mục đích của Sự sống vĩ đại sẽ hiện lộ, và nơi mọi sự ích kỷ cùng tự lợi của con người phai biến trong ánh sáng trong trẻo của Ý Chí của Thượng Đế. Thông qua sự thấu hiểu đúng, sự sử dụng và kiểm soát đúng bản chất cảm dục, cùng một sự lĩnh hội bản chất của tâm thức cảm thọ, con người có thể thâm nhập vào chính trái tim của Thượng đế và biết, vượt ngoài mọi tranh cãi, rằng tất cả đều tốt đẹp, vì tất cả đều là Tình thương. Thông qua việc sử dụng đúng thể trí, và thông qua sự thấu hiểu đúng bản chất của trí năng, con người có thể đi vào trí của Thượng đế và biết rằng tất cả đều tốt đẹp, vì tất cả đều đã được hoạch định, và Thiên Ý đang đều đặn thực hiện các mục tiêu của nó.

The work of the Atlantean Adepts was to impress upon the world consciousness the fact that God is Love. This is a symbolic expression of the truth as is the use of the word God. The work of the Aryan Adepts is to impress upon the world consciousness that God is Will. To do [360] this for the human family, They work with the intellect so as to bring it into control, to subordinate other forms to the mind and through the mind to reveal to man the vision of what is and what will be. Man is therefore brought into line with the esoteric head centre of the one Life. In the animal kingdom, through the development of sentiency and its allied unfoldment through pain, They are bringing those types of forms into line with the heart centre in Nature. This is a phrase conveying a truth which cannot be more clearly expressed until man has become more inclusive in his consciousness. Through colour in the vegetable Kingdom those forms of divine manifestation are also brought into vibratory contact with that centre of force in Nature which is analogous to the throat centre in man.

Công việc của các Chân sư Atlantis là in sâu vào tâm thức thế giới sự kiện rằng Thượng đế là Tình thương. Đây là một cách diễn đạt biểu tượng của chân lý, cũng như việc dùng từ Thượng đế. Công việc của các Chân sư Arya là in sâu vào tâm thức thế giới rằng Thượng đế là Ý chí. Để làm [360] điều này cho gia đình nhân loại, Các Ngài làm việc với trí năng để đưa nó vào sự kiểm soát, để đặt các hình thức khác dưới quyền thể trí, và thông qua thể trí mặc khải cho con người tầm nhìn về điều đang là và điều sẽ là. Do đó con người được đưa vào sự chỉnh hợp với trung tâm đầu huyền bí của Sự sống duy nhất. Trong giới động vật, thông qua sự phát triển cảm thọ và sự khai mở liên hệ của nó qua đau khổ, Các Ngài đang đưa những loại hình tướng ấy vào sự chỉnh hợp với trung tâm tim trong Thiên nhiên. Đây là một cụm từ truyền đạt một chân lý không thể được diễn tả rõ ràng hơn cho đến khi con người trở nên bao gồm hơn trong tâm thức của mình. Thông qua màu sắc trong giới thực vật, những hình tướng biểu lộ thiêng liêng ấy cũng được đưa vào tiếp xúc rung động với trung tâm mãnh lực trong Thiên nhiên tương ứng với trung tâm cổ họng nơi con người.

In using these words I refer primarily to the Life which is expressing itself through our planet, to our planetary Logos, but the idea can (needless to say) be progressed to include the great Life of which our planetary Logos is but a reflection and an expression. Man, the brain of nature; the animals, the expression of the heart; the vegetable world, the expression of the creative force or of the throat centre; these three kingdoms in nature forming, in a peculiar manner, correspondences to the three higher centres in man, as the three kingdoms on the involutionary arc correspond to the three lower centres, and the mineral kingdom—abstruse as the idea may seem to those of you who have not the consciousness of the life-aspect—corresponding to the solar plexus, the great clearing house between that which is above and that which is below.

Khi dùng những lời này, tôi chủ yếu nói đến Sự sống đang biểu lộ chính nó qua hành tinh của chúng ta, đến Hành Tinh Thượng đế của chúng ta; nhưng ý tưởng này, dĩ nhiên, có thể được mở rộng để bao gồm Sự sống vĩ đại mà Hành Tinh Thượng đế của chúng ta chỉ là một phản ảnh và một biểu hiện. Con người, bộ não của thiên nhiên; các loài vật, biểu hiện của trái tim; thế giới thực vật, biểu hiện của mãnh lực sáng tạo hay của trung tâm cổ họng; ba giới này trong thiên nhiên, theo một cách đặc biệt, tạo thành các tương ứng với ba trung tâm cao nơi con người, cũng như ba giới trên cung giáng hạ tiến hoá tương ứng với ba trung tâm thấp, và giới kim thạch—dù ý tưởng này có thể có vẻ sâu kín đối với những ai trong các bạn chưa có tâm thức về phương diện sự sống—tương ứng với tùng thái dương, trạm trung chuyển lớn giữa cái ở trên và cái ở dưới.

These analogies change as time progresses. In Lemurian days, viewing it as a kingdom in nature, humanity expressed the solar plexus aspect, whilst the animal kingdom stood for the sacral centre, and the centre at the base of the spine was symbolised by the vegetable [361] kingdom. In the middle of the Atlantean period, when certain great changes and experiments were wrought, a shift in the entire process took place; certain egos came in, as you know, as related in the Secret Doctrine and in a Treatise on Cosmic Fire, and a tremendous stepping forward became possible through their efforts. The chitta or mind-stuff became more vibrant and now we have the period of its intensest activity in the concrete sense.

Những tương đồng này thay đổi theo thời gian. Vào thời Lemuria, xét như một giới trong thiên nhiên, nhân loại biểu hiện phương diện tùng thái dương, trong khi giới động vật tượng trưng cho trung tâm xương cùng, và trung tâm ở đáy cột sống được biểu tượng bằng giới thực vật [361]. Vào giữa thời kỳ Atlantis, khi một số thay đổi và thí nghiệm lớn được thực hiện, một sự chuyển dịch trong toàn bộ tiến trình đã diễn ra; như các bạn biết, một số chân ngã đã nhập vào, như được kể trong Giáo Lý Bí Nhiệm và trong Luận về Lửa Vũ Trụ, và nhờ nỗ lực của họ, một bước tiến vượt bậc đã trở nên khả hữu. Chitta, hay chất liệu trí tuệ, trở nên rung động mạnh hơn, và hiện nay chúng ta đang ở thời kỳ hoạt động mãnh liệt nhất của nó theo nghĩa cụ thể.

We are told in the esoteric teaching that all three aspects of Divinity are themselves triple, and hence we can divide the energy of mind as far as humanity is concerned into three aspects also. We have therefore:

Trong giáo huấn huyền bí, chúng ta được dạy rằng cả ba phương diện của thiên tính tự thân đều là tam phân, và do đó, xét riêng đối với nhân loại, chúng ta cũng có thể chia năng lượng của trí tuệ thành ba phương diện. Vì vậy, chúng ta có:

1. The lower concrete mind, called the chitta or mind-stuff in the Yoga Sutras of Patanjali.

1. Hạ trí cụ thể, được gọi là chitta hay chất liệu trí tuệ trong Kinh Du-già của Patanjali.

2. The abstract mind, or that aspect of the mind which is related to the world of ideas.

2. Trí trừu tượng, hay phương diện của trí tuệ liên hệ với thế giới của các ý tưởng.

3. The intuition or pure reason which is for man the highest aspect of the mentality.

3. Trực giác hay lý trí thuần khiết, vốn đối với con người là phương diện cao nhất của trí năng.

These three find their overshadowing or enveloping field of expression in the third aspect of the Logos, which we call the Universal Mind, the active intelligent Deity. The lines of force from these three lower aspects lead back (if one may use so inadequate an expression) on to the third plane, as the astral lines of force lead back to the second or monadic plane, though as far as man’s consciousness is concerned they only lead back to the buddhic or intuitional plane.

Ba phương diện này tìm thấy lĩnh vực biểu hiện được phủ bóng hay bao bọc của chúng trong phương diện thứ ba của Thượng đế, mà chúng ta gọi là Vũ Trụ Trí, Thượng đế hoạt động thông tuệ. Các đường mãnh lực từ ba phương diện thấp này dẫn trở về — nếu có thể dùng một cách diễn đạt bất toàn như thế — đến cõi thứ ba, cũng như các đường mãnh lực cảm dục dẫn trở về cõi thứ hai hay cõi chân thần, mặc dù xét theo tâm thức con người, chúng chỉ dẫn trở về cõi Bồ đề hay cõi trực giác.

It is interesting to note that just as the Monad, impelled by desire, produces that form of life which we call the personality, so the mind aspect, as part of the purpose working out through the Universal Mind, in its form produces that manifestation which we call a Manasaputra, the great Son of Mind on the mental plane. Hence it is the mind principle in humanity which brings into [362] manifestation the egoic body, the causal vehicle, the karana sarira, the twelve-petalled lotus. We are of course talking entirely in terms of the form aspect here. The reason for this lies back on the cosmic planes, whereon the planetary Logos has His life. From the cosmic astral plane comes the impulse which produces form existence and concrete expression—for all form-taking is the result of desire. From the cosmic mental plane comes the will-to-be in time and space, which produces the seven groups of egoic lives and the third outpouring.

Điều đáng chú ý là cũng như chân thần, bị thúc đẩy bởi dục vọng, tạo ra hình thức sự sống mà chúng ta gọi là phàm ngã, thì phương diện trí tuệ, như một phần của mục đích đang vận hành qua Vũ Trụ Trí, trong hình tướng của nó tạo ra sự biểu hiện mà chúng ta gọi là một Con của Trí Tuệ vĩ đại trên cõi trí. Do đó, chính nguyên khí trí tuệ trong nhân loại đưa vào [362] biểu hiện thể chân ngã, hiện thể nguyên nhân, thể nguyên nhân, hoa sen mười hai cánh. Dĩ nhiên, ở đây chúng ta hoàn toàn đang nói theo phương diện hình tướng. Lý do của điều này nằm sâu trên các cõi vũ trụ, nơi Hành Tinh Thượng đế có sự sống của Ngài. Từ cõi cảm dục vũ trụ phát ra xung lực tạo nên sự hiện hữu trong hình tướng và sự biểu hiện cụ thể — vì mọi sự khoác lấy hình tướng đều là kết quả của dục vọng. Từ cõi trí vũ trụ phát ra ý chí-hiện tồn trong thời gian và không gian, tạo nên bảy nhóm sự sống chân ngã và lần tuôn đổ thứ ba.

It will be seen then inferentially, how the right use of energy by the initiate puts him en rapport not only with the higher planes of the solar system but also with those cosmic planes whereon our Logos has His Personality aspect, using these words in symbolic fashion. The right use of physical energy by the initiate gives him the 'freedom' of the cosmic physical plane. The right use of astral energy gives him power on the cosmic astral, and the correct use of mental energy gives him entrance on to the cosmic mental. Inferentially then, the three higher centres in man when functioning perfectly play their part in this work of carrying energies from these exalted spheres into the field of activity of the initiate and of being doorways into realms hitherto closed to him.

Do đó, có thể suy ra rằng việc sử dụng đúng năng lượng của điểm đạo đồ đặt y trong mối liên hệ hòa điệu không chỉ với các cõi cao hơn của hệ mặt trời, mà còn với những cõi vũ trụ nơi Thượng đế của chúng ta có phương diện Phàm ngã của Ngài, dùng những từ này theo nghĩa biểu tượng. Việc sử dụng đúng năng lượng hồng trần của điểm đạo đồ đem lại cho y “quyền tự do” trên cõi hồng trần vũ trụ. Việc sử dụng đúng năng lượng cảm dục đem lại cho y quyền năng trên cõi cảm dục vũ trụ, và việc sử dụng đúng năng lượng trí tuệ cho y lối vào cõi trí vũ trụ. Do đó, có thể suy ra rằng ba trung tâm cao hơn trong con người, khi hoạt động hoàn hảo, góp phần vào công việc này: chuyển các năng lượng từ những khối cầu cao cả ấy vào lĩnh vực hoạt động của điểm đạo đồ, và trở thành những cửa ngõ dẫn vào các cảnh giới trước kia còn khép kín đối với y.

Each centre or chakra is composed of three concentric interblending whorls or wheels which in the spiritual man upon the probationary path move slowly in one direction, but gradually quicken their activity as he nears the portal of the Path of Initiation. On initiation, the centre of the chakra (a point of latent fire) is touched, and the rotation becomes intensified, and the activity, fourth dimensional. It is difficult to express these ideas in words that can be comprehended by the uninitiated, but the effect could be described as a changing from a measured turn to one of a scintillating radiation, a ‘wheel [363] turning upon itself’, as the ancient Scriptures express it. Hence, when by purification, conformity to rule, and an aspiration that brooks no hindrance and that ceases not for pain, the aspirant has caused his centres to pulsate and to rotate, then—and only then—can the Master lead him into the Presence of the Hierophant. The Initiator then, with full knowledge of the disciple’s ray and of his sub-ray, both egoic and personal, and recognising any karma that still may cling, touches the centre or centres which are in line for vivification, and the hidden fire will then rush up and become focalised. Remember always that in the vivification of a centre there is always a corresponding vitalisation of the analogous head centre, till eventually the seven centres in the body and the seven centres in the head rotate in unison. Remember also that just as the four minor rays pass into the three major rays, so the four minor centres carry on the correspondence and pass into pralaya, finding their focal point in the throat centre. Thus you will have the three centres—head, heart and throat—carrying the inner fire, with the three major head centres vibrating in unison also.

Mỗi trung tâm hay luân xa được cấu thành bởi ba vòng xoáy hay bánh xe đồng tâm đan hòa vào nhau; nơi con người tinh thần trên Con Đường Dự Bị, chúng chuyển động chậm rãi theo một hướng, nhưng dần dần gia tăng hoạt động khi y đến gần cổng của Con Đường Điểm Đạo. Khi điểm đạo, trung tâm của luân xa — một điểm lửa tiềm tàng — được chạm đến, và sự xoay chuyển trở nên mãnh liệt hơn, còn hoạt động thì mang tính chiều thứ tư. Thật khó diễn đạt những ý tưởng này bằng lời sao cho người chưa được điểm đạo có thể hiểu được, nhưng hiệu quả có thể được mô tả như sự chuyển đổi từ một vòng quay đều đặn sang một sự tỏa chiếu lấp lánh, một “bánh xe [363] tự xoay quanh chính nó”, như các Kinh văn cổ diễn tả. Vì vậy, khi nhờ thanh luyện, tuân hợp quy luật, và một khát vọng không chấp nhận trở ngại nào, không ngừng lại trước đau khổ, người chí nguyện đã khiến các trung tâm của mình rung nhịp và xoay chuyển, thì khi ấy — và chỉ khi ấy — Chân sư mới có thể dẫn y vào sự hiện diện của Đấng Chủ Lễ Điểm Đạo. Bấy giờ, Đấng Điểm đạo, với tri thức đầy đủ về cung và cung phụ của đệ tử, cả chân ngã lẫn phàm ngã, và nhận biết bất kỳ nghiệp quả nào còn có thể bám víu, chạm vào trung tâm hay các trung tâm đang đến kỳ được tiếp sinh lực, và khi ấy ngọn lửa ẩn tàng sẽ vọt lên và trở nên tập trung. Hãy luôn nhớ rằng trong sự tiếp sinh lực cho một trung tâm, luôn có một sự tiếp sinh lực tương ứng cho trung tâm đầu tương tự, cho đến cuối cùng bảy trung tâm trong thể và bảy trung tâm trong đầu cùng xoay chuyển đồng bộ. Cũng hãy nhớ rằng cũng như bốn cung phụ hòa nhập vào ba cung chính, thì bốn trung tâm phụ cũng tiếp nối sự tương ứng ấy và đi vào Giai kỳ qui nguyên, tìm thấy điểm tập trung của chúng nơi trung tâm cổ họng. Như vậy, các bạn sẽ có ba trung tâm — đầu, tim và cổ họng — mang ngọn lửa bên trong, đồng thời ba trung tâm chính trong đầu cũng rung động đồng bộ.

I realise that this is all intricate and technical. It has its place and value however, and much that here is communicated will find its usefulness when you are all passed over to the other side and a fresh band of aspirants will follow in your footsteps. The training of the mental body has a value, and many evade such technicalities, hiding behind an emphasis upon the life side of truth, all due to an inherent mental laziness. This that you now receive is but the A. B. C. of esotericism. Waste not time however in too detailed deduction. All that is now possible is a broad general outline, patient reserve, a willingness to recognise physical brain limitations and the accepting of an hypothesis. Believe these hypotheses possible unless your intuition revolts or they are contradicted [364] by past teaching given by other of the Lodge’s Messengers. I do not dogmatise to you. I only in these instructions give you certain information, —the correctness of which I leave the future to demonstrate. I simply ask that you make record and in the coming years much that may now seem peculiar or mayhap even contradictory will be elucidated, slowly unravelled, and more easily comprehended. A little knowledge leads to much confusion unless laid aside for future use when the years of instruction have increased the store.

Tôi nhận ra rằng tất cả điều này đều phức tạp và kỹ thuật. Tuy nhiên, nó có vị trí và giá trị của nó, và nhiều điều được truyền đạt ở đây sẽ tỏ ra hữu ích khi tất cả các bạn đã chuyển sang phía bên kia và một đoàn người chí nguyện mới sẽ theo dấu chân các bạn. Việc rèn luyện thể trí có giá trị, và nhiều người lảng tránh những chi tiết kỹ thuật như thế, ẩn mình sau sự nhấn mạnh vào phương diện sự sống của chân lý, tất cả đều do một sự lười biếng trí tuệ cố hữu. Điều các bạn đang nhận hiện nay chỉ là phần vỡ lòng của huyền bí học. Tuy nhiên, đừng phí thời gian vào sự suy diễn quá chi tiết. Tất cả những gì hiện nay có thể làm là một phác thảo tổng quát rộng rãi, sự dè dặt kiên nhẫn, thiện chí nhận ra các giới hạn của bộ não hồng trần và sự chấp nhận một giả thuyết. Hãy tin rằng các giả thuyết này có thể đúng, trừ khi trực giác của các bạn phản kháng hoặc chúng mâu thuẫn [364] với giáo huấn trước đây do các Sứ giả khác của Thánh đoàn trao truyền. Tôi không áp đặt giáo điều lên các bạn. Trong các huấn thị này, tôi chỉ trao cho các bạn một số thông tin, mà tính chính xác của nó tôi để tương lai chứng minh. Tôi chỉ yêu cầu các bạn ghi nhận, và trong những năm tới, nhiều điều hiện nay có thể có vẻ kỳ lạ hoặc có lẽ thậm chí mâu thuẫn sẽ được làm sáng tỏ, dần dần được tháo gỡ, và được thấu hiểu dễ dàng hơn. Một ít tri thức sẽ dẫn đến nhiều rối rắm nếu không được gác lại để dùng về sau, khi những năm tháng huấn luyện đã làm tăng thêm kho dự trữ.

To return to our theme: —The heart centre in man opens the door into what is called “the heart of the Sun.” The throat centre opens the way into full understanding of the path of the physical Sun and all true astrologers must eventually have that centre functioning. The head centre opens the way to the central spiritual Sun, each passing, via the planetary correspondence, to one of the cosmic planes.

Trở lại chủ đề của chúng ta: Trung tâm tim trong con người mở cánh cửa vào cái được gọi là “trái tim của Mặt Trời”. Trung tâm cổ họng mở đường vào sự thấu hiểu trọn vẹn về con đường của Mặt Trời hồng trần, và mọi nhà chiêm tinh chân chính cuối cùng phải có trung tâm ấy hoạt động. Trung tâm đầu mở đường đến Mặt trời Tinh thần Trung Ương, mỗi trung tâm đi qua sự tương ứng hành tinh để đến một trong các cõi vũ trụ.

Thus we have a summation of technicalities, and of facts, which are (under the Law of Analogy) of purely academic interest and no more. Even those of us who are initiate know practically nothing of the cosmic planes beyond the cosmic physical. Our consciousness is only beginning to be solar, and we are labouring in our small measure to overcome those planetary limitations which hold us back from solar knowledge and life. For aspirants who have not even a knowledge of what planetary consciousness signifies, the above information has only one value and that is, that it emphasises the synthetic nature of the great plan and the fact that the smallest unit is an integral part of the whole. It enforces the idea that energy is a life fluid circulating throughout the entire body of the Logos, and vivifying therefore even the tiniest atom in that whole. It is valuable to endeavour to grasp the picture and to vision the wonder of what is transpiring. It is waste of time, nevertheless, to [365] ponder upon the cosmic astral plane, for instance, when even the plane of the ego (the fifth subplane of the cosmic physical plane, counting from above downwards) is as yet inaccessible to the average man and is the goal for all his aspiration and meditation.

Như vậy, chúng ta có một sự tổng kết các chi tiết kỹ thuật và các sự kiện, vốn — dưới định luật tương đồng — chỉ có giá trị học thuật thuần túy, không hơn. Ngay cả những người trong chúng tôi đã được điểm đạo cũng hầu như không biết gì về các cõi vũ trụ vượt ngoài cõi hồng trần vũ trụ. Tâm thức của chúng tôi chỉ mới bắt đầu trở nên thái dương, và chúng tôi đang nỗ lực trong mức độ nhỏ bé của mình để vượt qua những giới hạn hành tinh đang cản trở chúng tôi khỏi tri thức và sự sống thái dương. Đối với những người chí nguyện thậm chí còn chưa biết tâm thức hành tinh hàm ý điều gì, thông tin trên chỉ có một giá trị: nó nhấn mạnh bản chất tổng hợp của Thiên Cơ vĩ đại và sự kiện rằng đơn vị nhỏ nhất là một phần không thể tách rời của toàn thể. Nó củng cố ý tưởng rằng năng lượng là một lưu chất sự sống lưu chuyển khắp toàn bộ thể của Thượng đế, và do đó tiếp sinh lực ngay cả cho nguyên tử nhỏ bé nhất trong toàn thể ấy. Thật có giá trị khi cố gắng nắm bắt bức tranh và hình dung điều kỳ diệu của những gì đang diễn ra. Tuy nhiên, sẽ là phí thời gian khi [365] suy ngẫm về cõi cảm dục vũ trụ chẳng hạn, trong khi ngay cả cõi của chân ngã — cõi phụ thứ năm của cõi hồng trần vũ trụ, tính từ trên xuống — hiện vẫn chưa thể tiếp cận đối với con người trung bình, và là mục tiêu của mọi khát vọng cùng tham thiền của y.

For man, therefore, the Universal Mind can best be grasped as it expresses itself through what we call the concrete mind, the abstract mind, and the intuition or pure reason.

Do đó, đối với con người, Vũ Trụ Trí có thể được nắm bắt tốt nhất khi nó biểu hiện qua cái chúng ta gọi là trí cụ thể, trí trừu tượng, và trực giác hay lý trí thuần khiết.

The concrete mind is the form building faculty. Thoughts are things. The abstract mind is the pattern building faculty, or the mind which works with the blue prints upon which the forms are modelled. The intuition or pure reason is the faculty which enables man to enter into contact with the Universal Mind and grasp the plan synthetically, to seize upon divine Ideas or isolate some fundamental and pure truth.

Trí cụ thể là năng lực kiến tạo hình tướng. Tư tưởng là sự vật. Trí trừu tượng là năng lực kiến tạo mô hình, hay trí tuệ làm việc với các bản thiết kế mà theo đó các hình tướng được tạo mẫu. Trực giác hay lý trí thuần khiết là năng lực giúp con người tiếp xúc với Vũ Trụ Trí và nắm bắt Thiên Cơ một cách tổng hợp, nắm lấy các Ý tưởng thiêng liêng hoặc tách ra một chân lý căn bản và thuần khiết nào đó.

The goal of all the work of an aspirant is to understand those aspects of the mind with which he has to learn to work. His work therefore might be summed up as follows:

Mục tiêu của toàn bộ công việc của một người chí nguyện là thấu hiểu những phương diện của trí tuệ mà y phải học cách làm việc với chúng. Vì vậy, công việc của y có thể được tóm lược như sau:

1. He has to learn to think; to discover that he has an apparatus which is called the mind and to uncover its faculties and powers. These have been well analysed for us in the first two books of the Yoga Sutras of Patanjali.

1. Y phải học suy nghĩ; khám phá rằng y có một bộ máy được gọi là thể trí, và phát hiện các năng lực cùng quyền năng của nó. Những điều này đã được phân tích kỹ cho chúng ta trong hai quyển đầu của Kinh Du-già của Patanjali.

2. He has to learn next to get back of his thought processes and form building propensities and discover the ideas which underlie the divine thought-form, the world process, and so learn to work in collaboration with the plan and subordinate his own thought-form building to these ideas. He has to learn to penetrate into the world of these divine ideas and to study the “pattern of things in the Heavens” as it is called in the Bible. He [366] must begin to work with the blue prints upon which all that is, is modelled and moulded. He becomes then a student-symbolist, and from being an idolater he becomes a divine idealist. I use these words in their true sense and connotation.

2. Kế đó, y phải học cách đi vào phía sau các tiến trình tư tưởng và các khuynh hướng kiến tạo hình tướng của mình, để khám phá những ý tưởng nằm dưới hình tư tưởng thiêng liêng, tiến trình thế giới, và nhờ vậy học cách làm việc cộng tác với Thiên Cơ, đồng thời đặt việc kiến tạo hình tư tưởng riêng của mình dưới sự chi phối của những ý tưởng ấy. Y phải học cách thâm nhập vào thế giới của các ý tưởng thiêng liêng này và nghiên cứu “mô hình của vạn vật trên các tầng trời”, như được gọi trong Kinh Thánh. Y [366] phải bắt đầu làm việc với các bản thiết kế mà theo đó mọi sự hiện hữu đều được tạo mẫu và khuôn đúc. Khi ấy, y trở thành một đạo sinh biểu tượng học, và từ một kẻ thờ ngẫu tượng, y trở thành một nhà lý tưởng thiêng liêng. Tôi dùng những từ này theo ý nghĩa và hàm ý chân thật của chúng.

3. From that developed idealism, he must progress even deeper still, until he enters the realm of pure intuition. He can then tap truth at its source. He enters into the mind of God Himself. He intuits as well as idealises and is sensitive to divine thoughts. They fertilise his mind. He calls these intuitions later, as he works them out, ideas or ideals, and bases all his work and conduct of affairs upon them.

3. Từ chủ nghĩa lý tưởng đã phát triển ấy, y phải tiến sâu hơn nữa, cho đến khi đi vào cảnh giới của trực giác thuần khiết. Khi ấy, y có thể chạm đến chân lý ngay tại nguồn. Y đi vào chính Trí của Thượng đế. Y trực nhận cũng như lý tưởng hóa, và trở nên nhạy bén với các tư tưởng thiêng liêng. Chúng làm phong nhiêu trí tuệ của y. Về sau, khi triển khai chúng, y gọi những trực nhận này là các ý tưởng hay lý tưởng, và đặt toàn bộ công việc cùng cách điều hành sự vụ của mình trên nền tảng đó.

4. Then follows the work of conscious thought-form building, based upon these divine ideas, emanating as intuitions from the Universal Mind. This goes forward through meditation.

4. Rồi tiếp theo là công việc kiến tạo hình tư tưởng một cách có ý thức, dựa trên những ý tưởng thiêng liêng ấy, vốn xuất phát như các trực giác từ Vũ Trụ Trí. Điều này tiến hành qua tham thiền.

Every true student knows that this involves concentration in order to focus or orient the lower mind to the higher. Temporarily the normal thought-form building tendencies are inhibited. Through meditation which is the mind’s power to hold itself in the light, and in that light become aware of the plan, he learns to “bring through” the needed ideas. Through contemplation he finds himself able to enter into that silence which will enable him to tap the divine mind, wrest God’s thought out of the divine consciousness and to know. This is the work before each aspirant and hence the necessity of his understanding the nature of his mental problem, the tools with which he must perforce work, and the use he must make of what he learns and gains through right use of the mental apparatus.

Mọi đạo sinh chân chính đều biết rằng điều này bao hàm sự tập trung để quy tụ hay định hướng hạ trí về phía thượng trí. Tạm thời, các khuynh hướng kiến tạo hình tư tưởng thông thường bị ức chế. Nhờ tham thiền, vốn là quyền năng của thể trí giữ chính nó trong ánh sáng, và trong ánh sáng ấy trở nên nhận biết Thiên Cơ, y học cách “đưa xuyên qua” các ý tưởng cần thiết. Nhờ chiêm ngưỡng, y thấy mình có khả năng đi vào sự tĩnh lặng cho phép y chạm đến trí tuệ thiêng liêng, giành lấy tư tưởng của Thượng đế từ tâm thức thiêng liêng và biết. Đây là công việc trước mắt mỗi người chí nguyện, và do đó cần thiết y phải thấu hiểu bản chất vấn đề trí tuệ của mình, các công cụ mà y buộc phải làm việc với chúng, và cách sử dụng những gì y học được và đạt được nhờ việc dùng đúng bộ máy trí tuệ.

How is this to be done? How bring through and how build afterwards?

Điều này phải được thực hiện như thế nào? Làm sao đưa xuyên qua và sau đó kiến tạo?

[367]

[367]

No matter how small or unimportant an individual thinker may be, yet in cooperation with his brethren, he wields a mighty force. Only through the steady strong right thinking of the people and the understanding of the correct use of mental energy can progressive evolution go forward along the desired lines. Right thinking depends upon many things, and it might be useful to state some of them very simply:

Dù một người tư tưởng cá nhân có nhỏ bé hay không quan trọng đến đâu, nhưng khi cộng tác với các huynh đệ của mình, y vận dụng một mãnh lực hùng mạnh. Chỉ nhờ tư tưởng đúng đắn, vững mạnh và bền bỉ của quần chúng, cùng sự thấu hiểu việc sử dụng đúng năng lượng trí tuệ, tiến hoá tiến bộ mới có thể đi tới theo những đường hướng mong muốn. Tư tưởng đúng đắn tùy thuộc vào nhiều điều, và có thể hữu ích khi nêu một số điều thật đơn giản:

1. An ability to sense the vision. That involves a capacity in a faint measure to realise the archetype on which the Lodge is endeavouring to fashion the race. It involves cooperation in the work of the Manu, and the development of abstract as well as synthetic thought, the flashing forth of the intuition. The intuition wrests from the high places a touch of the ideal plan as it lies latent in the mind of the Logos. As men develop this capacity, they will touch sources of power that are not on mental levels at all but which constitute those from which the mental plane itself draws sustenance.

1. Khả năng cảm nhận tầm nhìn. Điều đó bao hàm năng lực, dù còn mờ nhạt, để nhận ra nguyên mẫu mà Thánh đoàn đang cố gắng dùng để định hình nhân loại. Nó bao hàm sự cộng tác trong công việc của Đức Manu, và sự phát triển tư tưởng trừu tượng cũng như tổng hợp, sự lóe sáng của trực giác. Trực giác giành lấy từ những nơi cao một nét chạm của Thiên Cơ lý tưởng khi nó còn tiềm tàng trong trí của Thượng đế. Khi con người phát triển năng lực này, họ sẽ chạm đến những nguồn quyền năng vốn hoàn toàn không ở trên các cấp độ trí tuệ, nhưng chính là những nguồn mà cõi trí tự nó rút dưỡng chất từ đó.

2. Then, having sensed the vision and glimpsed a fraction of the beauty (how little men see is astounding!) in your hands lies the opportunity to bring down to the mental plane as much of the plan as you possibly can. Nebulous and faint at first is your grasp after it, yet it will begin to materialise. Seldom at first will you find that you can contact it, for the vision comes through the medium of the causal body and few can hold that high consciousness for a long time. But the struggle to apprehend will lead to results, and little by little the idea will seep through to the concrete levels of the mental plane. Then it becomes a concrete thought, something that can be definitely visualised and appropriated as a basis for thought.

2. Rồi, sau khi đã cảm nhận tầm nhìn và thoáng thấy một phần vẻ đẹp — con người thấy được ít ỏi đến kinh ngạc! — trong tay các bạn có cơ hội đem xuống cõi trí càng nhiều phần của Thiên Cơ càng tốt. Lúc đầu, sự nắm bắt của các bạn về nó còn mơ hồ và yếu ớt, nhưng nó sẽ bắt đầu hiện hình. Ban đầu, hiếm khi các bạn thấy mình có thể tiếp xúc với nó, vì tầm nhìn đến qua trung gian của thể nguyên nhân, và ít người có thể giữ được tâm thức cao ấy trong một thời gian dài. Nhưng nỗ lực nắm bắt sẽ đưa đến kết quả, và từng chút một ý tưởng sẽ thấm xuống các cấp độ cụ thể của cõi trí. Khi ấy, nó trở thành một tư tưởng cụ thể, một điều có thể được hình dung rõ ràng và được tiếp nhận làm nền tảng cho tư tưởng.

3. This accomplished, what comes next? A period of gestation, a period wherein you build your thought-form of as much of the vision as you can bring through into [368] your consciousness. Slowly must this be done, for a stable vibration and a well built form is desired. Hurried work leads nowhere. As you build there will gradually be sensed a longing, a desire to see this vision brought to earth, and see it becoming known to others among the sons of men. Then you vitalise the thoughtform with the power of your will, you seek to make it be; the rhythm becomes heavier and slower, the material built into your form is necessarily coarser, and you find that your thought-form of the vision is clothed in matter of the mental and astral planes.

3. Khi điều này hoàn tất, điều gì tiếp theo? Một thời kỳ thai nghén, một giai đoạn trong đó các bạn xây dựng hình tư tưởng của mình từ phần tầm nhìn mà các bạn có thể đưa xuyên qua vào [368] tâm thức. Điều này phải được làm chậm rãi, vì điều được mong muốn là một rung động ổn định và một hình tướng được kiến tạo tốt. Công việc vội vàng không dẫn đến đâu. Khi các bạn xây dựng, dần dần sẽ cảm nhận được một niềm khao khát, một ước muốn thấy tầm nhìn này được đưa xuống Trái Đất và trở nên được biết đến bởi những người khác trong số những người con của nhân loại. Khi ấy, các bạn tiếp sinh lực cho hình tư tưởng bằng quyền năng ý chí của mình, các bạn tìm cách làm cho nó hiện tồn; nhịp điệu trở nên nặng hơn và chậm hơn, chất liệu được đưa vào hình tướng của các bạn tất nhiên thô hơn, và các bạn thấy rằng hình tư tưởng về tầm nhìn của mình được khoác trong vật chất của cõi trí và cõi cảm dục.

4. Happy the disciple who can bring the vision nearer still to humanity, and work it into existence on the physical plane. Remember this, that the materialisation of any aspect of the vision on the physical plane is never the work of one man. Only when it has been sensed by the many, only when they have worked at its material form can their united efforts draw it into outer manifestation. Thus you see the value of educating public opinion; it brings the many helpers to the aid of the few visionaries. Always the Law holds good;—in descent, differentiation. The two or three sense the plan intuitively; then the rhythm they set up with their thought sweeps the mental plane matter into activity; thinkers seize hold of the idea. This is a hard thing to learn and difficult to do but the reward is great.

4. Hạnh phúc thay đệ tử nào có thể đưa tầm nhìn đến gần nhân loại hơn nữa, và làm cho nó hiện hữu trên cõi hồng trần. Hãy nhớ điều này: sự hiện hình của bất kỳ phương diện nào của tầm nhìn trên cõi hồng trần không bao giờ là công việc của một người. Chỉ khi nhiều người đã cảm nhận được nó, chỉ khi họ đã làm việc với hình tướng vật chất của nó, thì những nỗ lực hợp nhất của họ mới có thể kéo nó vào sự biểu hiện bên ngoài. Như vậy, các bạn thấy giá trị của việc giáo dục công luận; nó đem nhiều người trợ giúp đến hỗ trợ cho số ít những người có tầm nhìn. Định luật luôn đúng: trong sự giáng xuống có biến phân. Hai hoặc ba người cảm nhận Thiên Cơ bằng trực giác; rồi nhịp điệu mà họ thiết lập bằng tư tưởng của mình cuốn vật chất cõi trí vào hoạt động; các nhà tư tưởng nắm lấy ý tưởng. Đây là điều khó học và khó làm, nhưng phần thưởng thì lớn lao.

To those who wrestle, strive, and hold on, the joy is doubled when the materialisation comes. The joy of contrast will be yours, for knowing the past of darkness you will revel in the light of fruition; the joy of tried and tested companionship will be yours, for years will have proved to you who are your chosen associates, and in community of suffering will come the strengthened link; the joy of peace after victory will be yours, for to the tired warrior the fruits of achievement and rest are doubly sweet; the joy of participation in the Masters’ [369] plan will be yours, and all is well that associates you closely with Them; the joy of having helped to solace a needy world, of having brought light to darkened souls, of having healed in some measure the open sore of the world’s distress, will be yours, and in the consciousness of days well spent, and in the gratitude of salvaged souls, comes the deepest joy of all, —the joy a Master knows when He is instrumental in lifting a brother up a little higher on the ladder. This is the joy that is set before you all—and not so very far ahead it lies. So work, not for joy but towards it; not for reward, but from the inner need to help; not for gratitude, but from the urge that comes from having seen the vision and realisation of the part you have to play in bringing that vision down to earth.

Đối với những ai vật lộn, nỗ lực và kiên trì, niềm hoan hỉ được nhân đôi khi sự hiện hình xảy đến. Niềm hoan hỉ của tương phản sẽ thuộc về các bạn, vì khi biết quá khứ của bóng tối, các bạn sẽ vui sướng trong ánh sáng của sự thành tựu; niềm hoan hỉ của tình bạn đồng hành đã được thử thách và chứng nghiệm sẽ thuộc về các bạn, vì năm tháng sẽ chứng tỏ cho các bạn ai là những cộng sự được chọn, và trong cộng đồng khổ đau, mối liên kết sẽ được củng cố; niềm hoan hỉ của bình an sau chiến thắng sẽ thuộc về các bạn, vì đối với chiến sĩ mệt mỏi, hoa trái của thành tựu và nghỉ ngơi ngọt ngào gấp bội; niềm hoan hỉ được tham dự vào Thiên Cơ của các Chân sư [369] sẽ thuộc về các bạn, và mọi điều liên kết các bạn chặt chẽ với Các Ngài đều tốt lành; niềm hoan hỉ vì đã giúp an ủi một thế giới thiếu thốn, đã đem ánh sáng đến cho những linh hồn tối tăm, đã phần nào chữa lành vết thương hở của nỗi khổ thế gian, sẽ thuộc về các bạn; và trong tâm thức về những ngày tháng đã được dùng tốt, cùng trong lòng biết ơn của những linh hồn được cứu vớt, có niềm hoan hỉ sâu xa nhất trong tất cả — niềm hoan hỉ mà một Chân sư biết khi Ngài là khí cụ nâng một huynh đệ lên cao hơn một chút trên chiếc thang. Đây là niềm hoan hỉ được đặt trước tất cả các bạn — và nó không nằm quá xa phía trước. Vì vậy, hãy làm việc, không phải vì niềm hoan hỉ mà hướng tới nó; không phải vì phần thưởng, mà do nhu cầu bên trong muốn giúp đỡ; không phải vì lòng biết ơn, mà do thôi thúc phát sinh từ việc đã thấy tầm nhìn và nhận ra phần việc các bạn phải đóng trong việc đưa tầm nhìn ấy xuống Trái Đất.

It is helpful to differentiate between happiness, joy and bliss:

Sẽ hữu ích khi phân biệt giữa hạnh phúc, sự hoan hỉ và chí phúc:

First, happiness, which has its seat in the emotions, and is a personality reaction.

Thứ nhất, hạnh phúc, có chỗ trú trong các cảm xúc và là một phản ứng của phàm ngã.

Second, joy, which is a quality of the soul and is realised in the mind, when alignment takes place.

Thứ hai, sự hoan hỉ, là một phẩm tính của linh hồn và được nhận biết trong trí tuệ khi sự chỉnh hợp diễn ra.

Third, bliss, which is the nature of the Spirit and about which speculation is fruitless until the soul realises its oneness with the Father. This realisation follows upon an earlier stage wherein the personal self is at-oned with the soul. Therefore speculation and analysis as to the nature of bliss is profitless to the average man whose metaphors and terminologies must perforce be personal and related to the world of the senses. Does the aspirant refer to his happiness or joy? If he refers to the latter it must come as the effect of group consciousness, of group solidarity, of oneness with all beings, and may not be interpreted in terms of happiness after all. Happiness comes when the personality is meeting with those conditions which satisfy it in one part or other of its lower nature; it comes when there is a sense of physical [370] well being, of contentment with one’s environment or surrounding personalities, or of satisfaction with one’s mental opportunities and contacts. Happiness is the goal of the separated self.

Thứ ba, chí phúc, là bản chất của Tinh thần, và mọi suy đoán về nó đều vô ích cho đến khi linh hồn nhận ra sự hợp nhất của mình với Đấng Cha. Sự nhận ra này theo sau một giai đoạn trước đó, trong đó bản ngã phàm nhân được hợp nhất với linh hồn. Vì vậy, suy đoán và phân tích về bản chất của chí phúc là vô ích đối với con người trung bình, vì các ẩn dụ và thuật ngữ của y buộc phải mang tính cá nhân và liên hệ với thế giới của giác quan. Người chí nguyện đang nói đến hạnh phúc hay sự hoan hỉ của mình? Nếu y nói đến điều sau, thì nó phải đến như kết quả của tâm thức nhóm, của sự đoàn kết nhóm, của sự hợp nhất với mọi hữu thể, và rốt cuộc không thể được diễn giải theo nghĩa hạnh phúc. Hạnh phúc đến khi phàm ngã gặp được những điều kiện thỏa mãn nó trong một phần nào đó của bản chất thấp; nó đến khi có cảm giác an lành về hồng trần [370], sự hài lòng với môi trường hay những phàm ngã chung quanh, hoặc sự thỏa mãn với các cơ hội và tiếp xúc trí tuệ của mình. Hạnh phúc là mục tiêu của bản ngã tách biệt.

When however we seek to live as souls, the contentment of the lower man is discounted and we find joy in our group relationships and in bringing about those conditions which lead to the better expression of the souls of those we contact. This bringing of joy to others in order to produce conditions in which they may better express themselves may have a physical effect as we seek to better their material conditions, or an emotional effect as our presence brings to them peace and uplift, or an intellectual result as we stimulate them to clarity of thought and understanding. But the effect upon ourselves is joy, for our action has been selfless and non-acquisitive, and not dependent upon the aspirant’s circumstance or worldly state. Much happiness is necessarily foregone when ill-health makes its pressure felt, as the environment is difficult and the “accumulated karma of many births” presses down, or as the troubles of the family, nation or race weigh upon the sensitive personality. The happiness of youth or the self-centred contentment of the selfish insulated person (hiding himself behind the shield of his protective desires) must not be confounded with joy.

Tuy nhiên, khi chúng ta tìm cách sống như các linh hồn, sự mãn nguyện của phàm nhân bị giảm giá trị, và chúng ta tìm thấy sự hoan hỉ trong các mối quan hệ nhóm của mình, cũng như trong việc tạo ra những điều kiện dẫn đến sự biểu hiện tốt hơn của linh hồn nơi những người chúng ta tiếp xúc. Việc đem sự hoan hỉ đến cho người khác nhằm tạo ra các điều kiện trong đó họ có thể biểu hiện chính mình tốt hơn có thể có hiệu quả hồng trần, khi chúng ta tìm cách cải thiện điều kiện vật chất của họ; hoặc có hiệu quả cảm xúc, khi sự hiện diện của chúng ta đem đến cho họ bình an và nâng đỡ; hoặc có kết quả trí tuệ, khi chúng ta kích thích họ đạt đến sự sáng rõ trong tư tưởng và thấu hiểu. Nhưng hiệu quả đối với chính chúng ta là sự hoan hỉ, vì hành động của chúng ta đã vô ngã và không chiếm hữu, không tùy thuộc vào hoàn cảnh hay địa vị thế gian của người chí nguyện. Nhiều hạnh phúc tất yếu phải được từ bỏ khi bệnh tật tạo áp lực, khi môi trường khó khăn và “nghiệp quả tích lũy của nhiều kiếp” đè nặng, hoặc khi những rắc rối của gia đình, quốc gia hay nhân loại đè lên phàm ngã nhạy cảm. Hạnh phúc của tuổi trẻ hay sự mãn nguyện tập trung vào bản thân của người ích kỷ bị cô lập — ẩn mình sau tấm khiên của các dục vọng tự vệ — không được lẫn lộn với sự hoan hỉ.

It is a platitude as well as an occult paradox to say that in the midst of profound personality distress and unhappiness, the joy of the soul may be known and felt. Such however is the case, and it is for this the student must aim. Some people are happy because they shut their eyes to truth, or are self-hypnotised, hiding themselves within a shell of illusion. But the aspirant has frequently reached the stage wherein his eyes are wide open; he has learnt to speak truth to himself, and has built up no separating wall between himself and [371] others. He is awake and alive; he is sensitive and frequently suffering. He wonders why apparently what the world calls happiness and peace have left him, and asks what is to be the outcome.

Nói rằng giữa nỗi đau khổ và bất hạnh sâu xa của phàm ngã, sự hoan hỉ của linh hồn vẫn có thể được biết và cảm nhận, vừa là một lời sáo ngữ vừa là một nghịch lý huyền bí. Tuy nhiên, sự thật là như vậy, và đó là điều đạo sinh phải nhắm tới. Một số người hạnh phúc vì họ nhắm mắt trước chân lý, hoặc tự thôi miên, ẩn mình trong một lớp vỏ ảo tưởng. Nhưng người chí nguyện thường đã đạt đến giai đoạn mắt y mở rộng; y đã học nói sự thật với chính mình, và không dựng lên bức tường chia cách giữa mình và [371] người khác. Y tỉnh thức và sống động; y nhạy cảm và thường xuyên đau khổ. Y tự hỏi vì sao dường như điều thế gian gọi là hạnh phúc và bình an đã rời bỏ y, và hỏi kết quả sẽ là gì.

We who watch and guide on the inner side, watch with loving care all of you who struggle in the thick of the fray. We are like the General Headquarters Staff who follow the course of the battle from a secure eminence. In our security lies your ultimate success, for we hold in our hands the solution of many problems, and apply that solution when the battle goes contrary. One thing always would I have you remember. It is of vital importance. It is this statement, that in the destruction of the form lies hid the secret of all evolution. Think not this is truism. You will see it in constant application and need to be prepared for its demonstration. The Masters utilize the form to the uttermost; They seek to work through it, imprisoning the life in confining walls for just as long as the purpose is served and the race instructed through that form. Then the time comes that the form no longer serves the purpose intended, when the structure atrophies, crystallises and becomes easily destructible. Its destruction then becomes the matter of greatest concern and usefulness, and it goes, whilst a new form takes its place. Watch and see if this be not so. Always the building of the form, always its utilisation for as long as possible, always the destruction of the form when it hinders and cramps the expanding light, always then the rapid reconstruction of a new form. Such has been the method since the commencement of the aeon.

Chúng tôi, những người quan sát và hướng dẫn ở phía bên trong, dõi theo bằng sự chăm sóc đầy tình thương tất cả các bạn đang vật lộn giữa cuộc giao tranh ác liệt. Chúng tôi giống như Bộ tham mưu tổng hành dinh, theo dõi diễn tiến trận chiến từ một cao điểm an toàn. Trong sự an toàn của chúng tôi có thành công tối hậu của các bạn, vì chúng tôi nắm trong tay lời giải cho nhiều vấn đề, và áp dụng lời giải ấy khi trận chiến trở nên bất lợi. Tôi luôn muốn các bạn ghi nhớ một điều. Điều đó có tầm quan trọng thiết yếu. Đó là lời khẳng định này: trong sự phá hủy hình tướng ẩn giấu bí mật của mọi tiến hoá. Đừng nghĩ đây chỉ là một chân lý hiển nhiên. Các bạn sẽ thấy nó được áp dụng thường xuyên và cần chuẩn bị cho sự biểu lộ của nó. Các Chân sư sử dụng hình tướng đến mức tối đa; Các Ngài tìm cách làm việc qua nó, giam giữ sự sống trong những bức tường hạn định chừng nào mục đích còn được phụng sự và nhân loại còn được dạy dỗ qua hình tướng ấy. Rồi đến lúc hình tướng không còn phục vụ mục đích đã định, khi cấu trúc teo tóp, kết tinh và trở nên dễ bị phá hủy. Khi ấy sự phá hủy nó trở thành vấn đề có mối quan tâm và công dụng lớn nhất, và nó ra đi, trong khi một hình tướng mới thay thế. Hãy quan sát và xem có phải không phải như vậy chăng. Luôn luôn là việc xây dựng hình tướng, luôn luôn là việc sử dụng nó lâu nhất có thể, luôn luôn là việc phá hủy hình tướng khi nó cản trở và bó hẹp ánh sáng đang mở rộng, và rồi luôn luôn là sự tái kiến tạo nhanh chóng một hình tướng mới. Phương pháp đã như vậy từ khi khởi đầu kỷ nguyên.

In the infancy of the race the forms endured for a long time. Evolution moved more slowly, but now on the upward trend of all things, the form has but short duration. It lives vitally for a brief period; it moves with rapidity and then is succeeded by another form. This [372] rapidity will increase not decrease as the consciousness or inner expansion of the life of the race vibrates ever to a faster and lighter rate of rhythm.

Trong thời thơ ấu của nhân loại, các hình tướng tồn tại trong một thời gian dài. Tiến hoá vận hành chậm hơn, nhưng nay, trên khuynh hướng đi lên của vạn vật, hình tướng chỉ có thời hạn ngắn. Nó sống mạnh mẽ trong một giai đoạn ngắn; nó chuyển động nhanh chóng rồi được thay thế bằng một hình tướng khác. Tốc độ này [372] sẽ tăng lên chứ không giảm đi, khi tâm thức hay sự mở rộng bên trong của sự sống nhân loại rung động với một nhịp điệu ngày càng nhanh hơn và nhẹ hơn.

It is necessary likewise that you arrive at the realization that one of the principal objects of endeavor at the present time on the part of those whom you call the Elder Brothers of the race, is to stimulate, purify and coordinate the etheric body. This etheric body is not only the transmitter of prana but is the medium for all the energies which we are considering. Its importance also lies in other directions:

Cũng cần thiết để các bạn đi đến nhận thức rằng một trong những mục tiêu chính của nỗ lực hiện nay nơi những Đấng mà các bạn gọi là Huynh Trưởng của nhân loại là kích thích, thanh luyện và phối hợp thể dĩ thái. Thể dĩ thái này không chỉ là bộ truyền dẫn prana, mà còn là môi giới cho mọi năng lượng mà chúng ta đang xem xét. Tầm quan trọng của nó cũng nằm ở những phương diện khác:

a. Being of physical plane matter, literally, etheric consciousness is the next step ahead for the race. This will demonstrate at first as the ability to see etherically and to cognize etheric matter.

a. Vì nó đúng nghĩa là vật chất cõi hồng trần, nên tâm thức dĩ thái là bước kế tiếp phía trước của nhân loại. Điều này lúc đầu sẽ biểu lộ như khả năng thấy bằng dĩ thái và nhận biết vật chất dĩ thái.

b. It is the field of exploration immediately ahead of the modern scientist. In ten years time, many medical practitioners will be recognizing it as a fact of nature.

b. Nó là lĩnh vực khảo sát ngay trước mắt nhà khoa học hiện đại. Trong mười năm nữa, nhiều nhà y học sẽ nhận ra nó như một sự kiện của thiên nhiên.

c. Most of the diseases that the physical body suffers from at present have their roots in the etheric body. There are few, if any, purely physical diseases. Disease has its source in astral and etheric conditions.

c. Phần lớn các bệnh mà thể xác hiện nay phải chịu đều có gốc rễ trong thể dĩ thái. Có rất ít, nếu có, bệnh tật thuần túy hồng trần. Bệnh tật có nguồn gốc trong các điều kiện cảm dục và dĩ thái.

d. The secret of safe and sane clairvoyance and clairaudience depends upon the purification of the etheric vehicle.

d. Bí mật của thông nhãn và thông nhĩ an toàn, lành mạnh tùy thuộc vào sự thanh luyện hiện thể dĩ thái.

e. The etheric emanations of people can be great contaminators. In the purification, therefore, of this body lies the secret of a sweeter and saner humanity.

e. Các phát xạ dĩ thái của con người có thể là những tác nhân ô nhiễm lớn. Vì vậy, trong sự thanh luyện thể này có bí mật của một nhân loại dịu lành và lành mạnh hơn.

Hence, the importance of the etheric. There are many other reasons which will later be emphasized. In beginning to form your ideas on the subject, however, it is the part of wisdom to adhere to wide generalities until the whole matter has taken clear shape in your mind.

Do đó có tầm quan trọng của dĩ thái. Có nhiều lý do khác về sau sẽ được nhấn mạnh. Tuy nhiên, khi bắt đầu hình thành các ý tưởng của mình về chủ đề này, phần của minh triết là bám vào những khái quát rộng rãi cho đến khi toàn bộ vấn đề đã có hình dạng rõ ràng trong trí các bạn.

Work on the etheric body, however, from the standpoint of the Hierarchy is not confined only to the bodies of men. It is a planetary process. The etheric body of [373] the earth itself is being subjected to a definite stimulation. The spirit of the earth, that mysterious entity—not the planetary Logos—is being vivified in a new sense and in his vivification many interesting developments eventuate. In three ways this is being attempted:

Tuy nhiên, công việc trên thể dĩ thái, xét từ quan điểm của Thánh đoàn, không chỉ giới hạn vào các thể của con người. Đó là một tiến trình hành tinh. Thể dĩ thái của [373] chính Trái Đất đang chịu một sự kích thích xác định. Tinh linh địa cầu, thực thể huyền bí ấy — không phải Hành Tinh Thượng đế — đang được tiếp sinh lực theo một nghĩa mới, và trong sự tiếp sinh lực của y, nhiều phát triển thú vị xảy ra. Điều này đang được cố gắng theo ba cách:

1. By an increased rate of vibration of the etheric atoms, caused by the coming in of the ceremonial ray. This must not be pictured as a sudden and violent change. From the standpoint of the human student the rate of increase is apparently so slow and gradual as to be inappreciable. Nevertheless, the stimulation exists, and in the course of centuries will be recognized.

1. Bằng một tốc độ rung động gia tăng của các nguyên tử dĩ thái, do sự đi vào của cung nghi lễ gây nên. Điều này không nên được hình dung như một thay đổi đột ngột và dữ dội. Từ quan điểm của đạo sinh nhân loại, tốc độ gia tăng dường như chậm và dần dần đến mức không thể nhận thấy. Tuy vậy, sự kích thích vẫn tồn tại, và trong dòng nhiều thế kỷ sẽ được nhận biết.

2. By the play of certain astral forces on the etheric body that leads to slow but definite changes in the internal structure of the atom, the coming into consciousness of another of the spirillae and a general tightening up of the whole cosmos of the atom.

2. Bằng sự tác động của một số mãnh lực cảm dục lên thể dĩ thái, dẫn đến những thay đổi chậm nhưng xác định trong cấu trúc nội tại của nguyên tử, sự đi vào tâm thức của một loa tuyến khác, và một sự siết chặt chung của toàn bộ vũ trụ nhỏ của nguyên tử.

3. By the use on the inner planes by the Mahachohan of one of the powerful talismans of the seventh ray.

3. Bằng việc Đức Mahachohan sử dụng trên các cõi bên trong một trong những linh phù quyền năng của cung bảy.

The spirit of the earth, it might be noted, is of slow and gradual arousing. He is on the involutionary arc and passes on to the evolutionary in some dim and distant future. Therefore, he will not carry us with him. He but serves our purpose now, offering us a home within his body, yet remaining dissociated from us. The devas of the ethers from this very stimulation are consequently hastening forward in evolution and approximating also nearer to their ideal.

Cần lưu ý rằng tinh linh địa cầu đang được đánh thức một cách chậm rãi và dần dần. Y ở trên cung giáng hạ tiến hoá và sẽ chuyển sang cung thăng thượng tiến hoá trong một tương lai mờ xa. Vì vậy, y sẽ không mang chúng ta theo cùng y. Hiện nay y chỉ phục vụ mục đích của chúng ta, cho chúng ta một mái nhà trong thể của y, nhưng vẫn tách biệt với chúng ta. Do chính sự kích thích này, các thiên thần của dĩ thái đang tiến nhanh trong tiến hoá và cũng tiến gần hơn đến lý tưởng của họ.

In all I have said anent the etheric body of men, anent the planet, anent the spirit of the earth, the crux of the whole situation lies in the fact that the five rays at this time have the seventh ray as their predominating ray. The seventh ray is the ray that controls the etheric and the devas of the ethers. It controls the seventh sub-plane of all planes but it dominates at this time the seventh sub-plane of the physical plane. Being in the fourth [374] round also, when a ray comes into definite incarnation, it not only controls on planes of the same number but has a special influence on the fourth sub-plane. Note how this works at this time in the three worlds:

Trong tất cả những gì tôi đã nói về thể dĩ thái của con người, về hành tinh, về tinh linh địa cầu, điểm then chốt của toàn bộ tình thế nằm ở sự kiện rằng năm cung hiện nay có cung bảy làm cung chủ đạo của chúng. Cung bảy là cung kiểm soát dĩ thái và các thiên thần của dĩ thái. Nó kiểm soát cõi phụ thứ bảy của mọi cõi, nhưng hiện nay nó thống trị cõi phụ thứ bảy của cõi hồng trần. Vì chúng ta cũng đang ở cuộc tuần hoàn thứ tư [374], nên khi một cung đi vào lâm phàm xác định, nó không chỉ kiểm soát trên các cõi có cùng số, mà còn có ảnh hưởng đặc biệt trên cõi phụ thứ tư. Hãy lưu ý cách điều này vận hành hiện nay trong ba cõi thấp:

1. The fourth ether, the lowest of the ethers, is to be the next physical plane of consciousness. Etheric matter is even now becoming visible to some, and will be entirely visible at the end of this century to many.

1. Dĩ thái thứ tư, thấp nhất trong các dĩ thái, sẽ là cõi hồng trần kế tiếp của tâm thức. Vật chất dĩ thái ngay hiện nay đang trở nên hữu hình đối với một số người, và sẽ hoàn toàn hữu hình đối với nhiều người vào cuối thế kỷ này.

2. The fourth sub-plane of the astral holds the majority of men when they pass over and consequently much work on the greatest number can therefore be accomplished.

2. Cõi phụ thứ tư của cõi cảm dục giữ đa số con người khi họ chuyển sang bên kia, và do đó có thể thực hiện nhiều công việc đối với số đông nhất.

3. The fourth mental sub-plane is the plane of devachan.

3. Cõi phụ thứ tư của cõi trí là cõi thiên đường.