← Aspects: A New Approach to Understanding the Planetary Relationships in Your Chart (Special Topics in Astrology Series)

Squaring Your Trines: Techniques for Working with Soft Aspects—Bình Phương Hóa Các Tam Hợp Của Bạn: Kỹ Thuật Làm Việc Với Các Góc Hợp Mềm

Squaring Your Trines: Techniques for Working with Soft Aspects—Bình Phương Hóa Các Tam Hợp Của Bạn: Kỹ Thuật Làm Việc Với Các Góc Hợp Mềm

Anyone who is destined to descend into a deep pit had better set about it with all the necessary precautions rather than risk falling into the hole backwards.

Bất cứ ai được định mệnh là sẽ phải đi xuống một hố sâu thì tốt hơn hết nên bắt tay vào đó với mọi biện pháp phòng ngừa cần thiết, thay vì liều rơi vào cái hố theo kiểu ngã ngửa.

-Carl Jung, Psyche and Symbol s

-Carl Jung, Psyche and Symbol s

Hard aspects can naturally lead to a working out of the planetary energies in our charts because we feel driven to do something to alleviate the pain. Not so with soft aspects, where we are often content to maintain the status quo. As a result, we must make an extra effort when dealing with these seductive places in our charts.

Các góc hợp căng một cách tự nhiên có thể dẫn đến việc triển khai các năng lượng hành tinh trong lá số của chúng ta, bởi chúng ta cảm thấy bị thúc bách phải làm điều gì đó để làm dịu nỗi đau. Với các góc hợp mềm thì không như vậy, nơi chúng ta thường bằng lòng duy trì hiện trạng. Vì thế, chúng ta phải nỗ lực thêm khi xử lý những vị trí quyến rũ này trong lá số của mình.

As with hard aspects, cultivating awareness is a good place to begin. Just as the aspects diagnostics grid can help disentangle the conflicting strains in squares and oppositions, so too can it (or other similar “diagnostics”) help us navigate the eddies and currents of our soft aspects. In the process, we create a kind of inflation index: Are we avoiding the work of hard aspects by an over-reliance on our trines and sextiles? Are we becoming overly complacent? These questions, by the way, should include whether we are leaning too heavily on other easy places in our charts-dignified and exalted planets, for example. In all these cases, the same thing that in one context is a help, or even a cure, can in another context lead to disaster. Another place of refuge in the natal chart is the Moon. But here, too, lurks a danger zone. While Gandhi’s Leo Moon was instrumental in defusing the tension of his volatile T-square, had he utilized it in excess it could have led to histrionics, even demagoguery. A client with Moon in Sagittarius hops on a plane and takes off for foreign climes every time there is a problem. Getting away to a totally different environment can be a huge benefit by giving us new perspectives on old problems. But used in excess, it can foster escapism.

Cũng như với các góc hợp căng, nuôi dưỡng sự tỉnh thức là một nơi tốt để bắt đầu. Cũng như lưới chẩn đoán góc hợp có thể giúp tháo gỡ các dòng xung đột trong các bình phương và đối vị, thì nó (hoặc các “chẩn đoán” tương tự khác) cũng có thể giúp chúng ta định hướng những xoáy nước và dòng chảy của các góc hợp mềm. Trong tiến trình đó, chúng ta tạo ra một dạng chỉ số phồng đại: Chúng ta có đang né tránh công việc của các góc hợp căng bằng cách quá dựa vào các tam hợp và lục hợp của mình không? Chúng ta có đang trở nên quá tự mãn không? Nhân tiện, các câu hỏi này cũng nên bao gồm việc liệu chúng ta có đang dựa quá nặng vào những vị trí dễ khác trong lá số—chẳng hạn các hành tinh ở vị trí "vượng" và "tướng"—hay không. Trong tất cả những trường hợp này, cùng một điều mà trong bối cảnh này là một sự trợ giúp, thậm chí là một phương thuốc, thì trong bối cảnh khác có thể dẫn đến thảm họa. Một nơi nương náu khác trong lá số chiêm tinh là Mặt Trăng. Nhưng ở đây cũng ẩn một vùng nguy hiểm. Dù Mặt Trăng Sư Tử của Gandhi đã là công cụ quan trọng để làm xì hơi độ căng của T-square biến động của ông, nếu ông sử dụng nó quá mức thì nó có thể dẫn đến tính kịch tính thái quá, thậm chí là mị dân. Một thân chủ có Mặt Trăng ở Nhân Mã cứ mỗi lần có vấn đề là nhảy lên máy bay và bay đến những xứ sở xa lạ. Rời đi đến một môi trường hoàn toàn khác có thể là một lợi ích lớn vì cho chúng ta những góc nhìn mới về các vấn đề cũ. Nhưng nếu dùng quá mức, nó có thể nuôi dưỡng sự trốn chạy.

One of the best reality checks for determining whether we’re being seduced by the soft places in our charts is relationships. In the following pages we’ll look at several cases where aspects between charts played a fundamental role in the individuation process.

Một trong những phép kiểm thực tế tốt nhất để xác định liệu chúng ta có đang bị những vị trí mềm trong lá số quyến rũ hay không chính là các mối quan hệ. Trong những trang tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét một số trường hợp mà các góc hợp giữa các lá số đã đóng vai trò nền tảng trong tiến trình cá thể hóa.

Relationship as Spiritual Practice

Mối Quan Hệ Như Một Thực Hành Tinh Thần

Bill & Hillary: Inflation and Its Nemesis

Bill & Hillary: Sự Phồng Đại và Kẻ Khắc Chế Nó

In the chart of former president Bill Clinton, there is one square (between the Sun and Moon, with the Moon in Venus-ruled Taurus), two inconjuncts, and two double conjunc tions. The rest of the chart is trines and sextiles (chart 52). It’s important to note that not only do soft aspects predominate but that they are in two “soft” signs: Libra and Leo. In addition, the Sun, Moon, and Venus are all enhanced by dignity or exaltation.

Trong lá số của cựu tổng thống Bill Clinton, có một bình phương (giữa Mặt Trời và Mặt Trăng, với Mặt Trăng ở Kim Ngưu do Sao Kim cai quản), hai góc 150°, và hai đồng vị kép. Phần còn lại của lá số là các tam hợp và lục hợp (lá số 52). Điều quan trọng cần lưu ý là không chỉ các góc hợp mềm chiếm ưu thế mà chúng còn nằm trong hai dấu hiệu “mềm”: Thiên Bình và Sư Tử. Ngoài ra, Mặt Trời, Mặt Trăng và Sao Kim đều được tăng cường bởi vị trí "vượng" hoặc "tướng".

Clinton’s chart presents a classic study in inflation, one for which his life provides many illustrations. Sadly, Clinton the president is apt to be remembered not for his accomplishments in office but for Monicagate-his affair with White House intern Monica Lewinsky, the most notorious offspring of these inflationary energies. In addition, his famous (or rather infamous) “I didn’t inhale” statement when asked whether he had ever smoked pot, and the even more absurd “It depends on what the meaning of the word `is’ is” during grand jury testimony on the Lewinsky affair, attest to Clinton’s tendency to take the easy way out: a typical expression of the shadow side of soft aspects.

Lá số của Clinton trình bày một nghiên cứu kinh điển về sự phồng đại, và đời sống của ông cung cấp nhiều minh họa. Đáng buồn thay, Clinton trên cương vị tổng thống có lẽ sẽ được nhớ đến không phải vì những thành tựu khi tại chức mà vì Monicagate—mối quan hệ của ông với thực tập sinh Nhà Trắng Monica Lewinsky, “đứa con” tai tiếng nhất của những năng lượng phồng đại này. Ngoài ra, câu nói nổi tiếng (hay đúng hơn là tai tiếng) “Tôi không hít” khi được hỏi liệu ông có từng hút cần sa hay không, và câu còn vô lý hơn “Còn tùy vào ý nghĩa của từ ‘là’ là gì” trong lời khai trước bồi thẩm đoàn về vụ Lewinsky, cho thấy khuynh hướng của Clinton là chọn lối thoát dễ: một biểu hiện điển hình của mặt bóng tối của các góc hợp mềm.

Clinton’s equivocating behavior is especially perplexing when viewed in relation to his intellectual achievements, from his years as a Rhodes Scholar at Oxford to his graduation from Yale Law School. Intellectual precociousness is keyed astrologically by the one place in his chart where the zodiac’s heavy hitters, Pluto and Saturn, make an appearance: in conjunction to Mercury. However, even his intellectual accomplishments are infected with the inflation hug. When his memoir, My Life, was published in 2004, the New York Times called it sloppy and self-indulgent. “In many ways, the hook is a mirror of Mr. Clinton’s presidency: lack of discipline leading to squandered opportunities; high expectations, undermined by self-indulgence and scattered concentration.” 6 Here is an incisive description of the inflation that can result from an over-reliance on the “easy” places in our charts.

Hành vi nước đôi của Clinton đặc biệt khó hiểu khi đặt cạnh những thành tựu trí tuệ của ông, từ những năm là học giả Rhodes ở Oxford đến khi tốt nghiệp Trường Luật Yale. Sự sớm nở trí tuệ được “khóa” về mặt chiêm tinh ở một nơi duy nhất trong lá số của ông nơi các “tay nặng ký” của Hoàng đạo, Sao Diêm Vương và Sao Thổ, xuất hiện: trong đồng vị với Sao Thủy. Tuy nhiên, ngay cả các thành tựu trí tuệ của ông cũng bị nhiễm “cái ôm” phồng đại. Khi hồi ký My Life của ông được xuất bản năm 2004, New York Times gọi nó là cẩu thả và tự nuông chiều. “Theo nhiều cách, cuốn sách là một tấm gương của nhiệm kỳ tổng thống của ông Clinton: thiếu kỷ luật dẫn đến lãng phí cơ hội; kỳ vọng cao, bị phá hoại bởi tự nuông chiều và sự tập trung tản mạn.” 6 Đây là một mô tả sắc bén về sự phồng đại có thể phát sinh từ việc quá dựa vào những vị trí “dễ” trong lá số của chúng ta.

Psyche intervened in the form of impeachment hearings and a hostile press to offset the inflation in Clinton’s chart-and in the person of Hillary Rodham. Hillary’s chart provides the restraining energies so lacking in Bill’s chart. Not only does her Saturn conjunct his Sun, but a Sun-Venus-Mercury conjunction in no-nonsense Scorpio in her chart squares all his Leo planets (chart 53). Interestingly, the two met when transiting Saturn was conjunct Clintons Moon and square his Sun.

Tâm thức đã can thiệp dưới hình thức các phiên điều trần luận tội và một nền báo chí thù địch để bù trừ sự phồng đại trong lá số của Clinton—và dưới hình thức con người Hillary Rodham. Lá số của Hillary cung cấp những năng lượng kiềm chế vốn thiếu vắng trong lá số của Bill. Không chỉ Sao Thổ của bà đồng vị Mặt Trời của ông, mà một đồng vị Mặt Trời–Sao Kim–Sao Thủy ở Bọ Cạp “không vòng vo” trong lá số của bà còn bình phương toàn bộ các hành tinh Sư Tử của ông (lá số 53). Thú vị là, hai người gặp nhau khi Sao Thổ quá cảnh đang đồng vị Mặt Trăng của Clinton và bình phương Mặt Trời của ông.

Saturn is the arch nemesis of the solar principle. Where the Sun radiates and expresses, Saturn disciplines and contracts. While antithetical, both are needed for healthy ego formation. Unbridled solar/ego energy is tantamount to looking at the Sun without protective eyewear: it is too much of an untempered good thing. Saturn is one of the forces that mediates the intensity of the solar force, in the process making it palatable for human consumption. We see Scorpio (and its ruler, Pluto) playing a similar role in the square that Hillary’s Sun-Venus-Mercury conjunction makes to Bill’s Leo Sun. Here is Hades, the Lord of the Underworld, making an unabashed challenge to the absolute authority of the Sun.

Sao Thổ là kẻ thù truyền kiếp của nguyên lý Mặt Trời. Nơi Mặt Trời tỏa rạng và biểu đạt, Sao Thổ kỷ luật và co rút. Dù đối nghịch, cả hai đều cần thiết cho sự hình thành bản ngã lành mạnh. Năng lượng Mặt Trời/bản ngã không bị kiềm chế tương đương với việc nhìn thẳng vào Mặt Trời mà không có kính bảo hộ: đó là quá nhiều của một điều tốt chưa được điều hòa. Sao Thổ là một trong những lực điều giải cường độ của lực Mặt Trời, qua đó khiến nó trở nên “dễ tiêu thụ” đối với con người. Chúng ta thấy Bọ Cạp (và chủ tinh của nó, Sao Diêm Vương) đóng một vai trò tương tự trong bình phương mà đồng vị Mặt Trời–Sao Kim–Sao Thủy của Hillary tạo với Mặt Trời Sư Tử của Bill. Đây là Hades, Chúa Tể Cõi Âm, đưa ra một thách thức không che đậy đối với quyền uy tuyệt đối của Mặt Trời.

Chart 52: Bill Clinton August 19, 1946 / 8:51 a.m. CST Texarkana, Arkansas / I’lacidus houses

Lá số 52: Bill Clinton 19 tháng 8, 1946 / 8:51 sáng CST Texarkana, Arkansas / Nhà Placidus

Being married to Hillary was not enough to save the wayward president from the scandais that nearly drove him out of office. However, one wonders where he might have ended up without her. In the final analysis, it may well come down to consciousness: through Hillary and other “balancing” forces, Clinton was forced to stop and reflect on his behavior-something that the sextiles and trines and exalted planets in his chart did not demand of him.

Việc kết hôn với Hillary đã không đủ để cứu vị tổng thống lạc lối khỏi những vụ bê bối suýt đẩy ông khỏi chức vụ. Tuy nhiên, người ta tự hỏi ông có thể đã kết thúc ở đâu nếu không có bà. Trong phân tích cuối cùng, có lẽ điều đó quy về tâm thức: thông qua Hillary và các lực “cân bằng” khác, Clinton bị buộc phải dừng lại và suy ngẫm về hành vi của mình—điều mà các lục hợp và tam hợp cùng các hành tinh ở vị trí "tướng" trong lá số của ông đã không đòi hỏi ở ông.

—

Chart 53: Synastry Biwheel for Bill and Hillary Clinton

Lá số 53: Bánh xe đôi Synastry cho Bill và Hillary Clinton

Inner Wheel: Bill Clinton August 19, 1946 / 8:51 a.m. CST Texarkana, Arkansas / Placidus houses

Bánh xe trong: Bill Clinton 19 tháng 8, 1946 / 8:51 sáng CST Texarkana, Arkansas / Nhà Placidus

Outer Wheel: Hillary Clinton October 26, 1947 / 8:00 p.m. CST Chicago, Illinois / Placidus houses

Bánh xe ngoài: Hillary Clinton 26 tháng 10, 1947 / 8:00 tối CST Chicago, Illinois / Nhà Placidus

We’ll now look at a very different case of Sun-Saturn in synastry.

Giờ đây chúng ta sẽ xem xét một trường hợp rất khác về Mặt Trời–Sao Thổ trong synastry.

“She Gave Him Sex, He Gave Her Class”: The Dance-Floor Magic of Ginger Rogers and Fred Astaire

“Cô Cho Anh Tình Dục, Anh Cho Cô Đẳng Cấp”: Ma Thuật Sàn Nhảy của Ginger Rogers và Fred Astaire

This quote (courtesy of Katharine Hepburn) provides a good thumbnail sketch of the chemistry between Fred Astaire and Ginger Rogers, the legendary dance team from the 1930s. The Rogers-Astaire synastry is not only a matter of tempering inflation but of each person providing a counterweight to the other’s one-sidedness.

Câu nói này (do Katharine Hepburn cung cấp) đưa ra một phác họa nhanh về phản ứng hóa học giữa Fred Astaire và Ginger Rogers, cặp đôi khiêu vũ huyền thoại của thập niên 1930. Synastry Rogers–Astaire không chỉ là chuyện điều hòa sự phồng đại mà còn là việc mỗi người cung cấp một đối trọng cho tính một chiều của người kia.

Rogers’ chart is soft and womanly: she had eight out of ten planets in yin elements (water and earth). In addition, there’s a dreamy conjunction between the Sun and Neptune, as well as a Sun-Moon trine.

Lá số của Rogers mềm và nữ tính: cô có tám trong mười hành tinh nằm trong các hành thủy và hành thổ. Ngoài ra, có một đồng vị mơ màng giữa Mặt Trời và sao Hải Vương, cùng với một tam hợp Mặt Trời–Mặt Trăng.

Astaire had eight of ten planets in fire and air, the yang elements, as well as a loose fire grand trine between Venus-Mercury, Mars, and Uranus-Saturn. Interestingly, one of his two yin planets-Sun in Taurus-sextiles Rogers’ Cancer Sun. That sextile alone, however, would not have been enough for dance-floor magic. In addition, Ginger’s Saturn, the unforgiving taskmaster of the zodiac, closely conjuncts Fred’s Sun. How interesting that this charming and alluring woman should provide, in the form of Saturn, such a disciplining force upon Astaire’s energies. One can almost see an invisible George Balanchine standing over them during rehearsals, barking out orders, keeping them in line. With Astaire’s Leo Mars (the symbol of a consummate performer) sitting right on Rogers’ Mercury, there was plenty of fancy footwork.

Astaire có tám trong mười hành tinh ở hành hỏa và hành khí, các hành dương, cùng với một đại tam hợp hành hỏa lỏng giữa Sao Kim–Sao Thủy, Sao Hỏa, và Sao Thiên Vương–Sao Thổ. Thú vị là, một trong hai hành tinh hành âm của ông—Mặt Trời ở Kim Ngưu—tạo lục hợp với Mặt Trời Cự Giải của Rogers. Tuy nhiên, chỉ riêng lục hợp đó sẽ không đủ cho ma thuật sàn nhảy. Ngoài ra, Sao Thổ của Ginger, người quản đốc nghiêm khắc không khoan nhượng của Hoàng đạo, đồng vị chặt chẽ với Mặt Trời của Fred. Thật thú vị khi người phụ nữ duyên dáng và quyến rũ này lại cung cấp, dưới hình thức Sao Thổ, một lực kỷ luật như vậy lên các năng lượng của Astaire. Người ta gần như có thể thấy một George Balanchine vô hình đứng trên họ trong các buổi tập, quát lệnh, giữ họ vào khuôn. Với Sao Hỏa Sư Tử của Astaire (biểu tượng của một nghệ sĩ biểu diễn bậc thầy) nằm ngay trên Sao Thủy của Rogers, đã có thừa những bước chân hoa mỹ.

Additional Synastry Examples

Các Ví Dụ Synastry Bổ Sung

Although this is not a book on synastry, a couple of other cases will help clarify just how helpful (and unhelpful) relationships can be in confronting the challenges of our charts.

Mặc dù đây không phải là một cuốn sách về synastry, một vài trường hợp khác sẽ giúp làm rõ mức độ hữu ích (và không hữu ích) của các mối quan hệ trong việc đối diện những thách thức của lá số chúng ta.

First, the unhelpful case. Recall Katharine Graham’s chart and particularly her VenusPluto conjunction in Cancer. It so happened that her husband, Phillip Graham-the one whose suicide sparked Katharine’s transformation into one of the most powerful women of the twentieth century-had close conjunctions between Pluto, Mercury, Saturn, and Venus in Cancer over the same degrees as Katharines. This proved to be too much for the couple to handle. As one might expect with Venus-Saturn, both husband and wife harbored feelings of massive insecurity. In the end, a process of projective identification took over whereby both projected their insecurity on the other and then vilified the other, trying desperately to push away the feelings they were so afraid of. We already know the outcome.

Trước hết, trường hợp không hữu ích. Hãy nhớ lại lá số của Katharine Graham và đặc biệt là đồng vị Sao Kim–Sao Diêm Vương ở Cự Giải. Tình cờ thay, chồng bà, Phillip Graham—người có vụ tự sát đã châm ngòi cho sự chuyển hóa của Katharine thành một trong những phụ nữ quyền lực nhất thế kỷ hai mươi—có các đồng vị chặt chẽ giữa Sao Diêm Vương, Sao Thủy, Sao Thổ và Sao Kim ở Cự Giải trên cùng những độ số như của Katharine. Điều này đã là quá sức đối với cặp đôi. Như người ta có thể dự đoán với Sao Kim–Sao Thổ, cả chồng lẫn vợ đều ôm giữ những cảm giác bất an khổng lồ. Cuối cùng, một tiến trình đồng nhất hóa phóng chiếu đã chiếm lĩnh, theo đó cả hai phóng chiếu sự bất an của mình lên người kia rồi bôi nhọ người kia, tuyệt vọng cố đẩy ra những cảm xúc mà họ sợ hãi đến vậy. Chúng ta đã biết kết cục.

Now consider a very different case of a Venus-Saturn synastic overlay. Actor/director Clint Eastwood has a tight opposition between Venus in Cancer and Saturn in Capri corn. Hilary Swank, his leading lady in the 2004 blockbuster film Million Dollar Baby, has Venus conjunct Saturn in Cancer, which conjuncts Eastwood’s Venus by three degrees. For Eastwood and Swank, this difficult overlay was one important factor in the creation of one of the best films of the decade. Of course, it helped that Swank’s Leo Sun conjuncted Eastwood’s Moon, and that Eastwood’s Neptune tightly conjuncted Swank’s Mars. It also helped that, unlike Katharine and Phil Graham, Pluto was not involved in the Venus-Saturn mix.

Giờ hãy xét một trường hợp rất khác của một lớp phủ synastry Sao Kim–Sao Thổ. Diễn viên/đạo diễn Clint Eastwood có một đối vị chặt giữa Sao Kim ở Cự Giải và Sao Thổ ở Ma Kết. Hilary Swank, nữ chính của ông trong bom tấn năm 2004 Million Dollar Baby, có Sao Kim đồng vị Sao Thổ ở Cự Giải, và đồng vị với Sao Kim của Eastwood trong phạm vi ba độ. Với Eastwood và Swank, lớp phủ khó này là một yếu tố quan trọng trong việc tạo ra một trong những bộ phim hay nhất của thập kỷ. Dĩ nhiên, cũng hữu ích khi Mặt Trời Sư Tử của Swank đồng vị Mặt Trăng của Eastwood, và sao Hải Vương của Eastwood đồng vị chặt với Sao Hỏa của Swank. Cũng hữu ích khi, không như Katharine và Phil Graham, Sao Diêm Vương không tham dự vào hỗn hợp Sao Kim–Sao Thổ.

Putting aside, for a moment, these other mitigating factors, there is an important lesson to be learned through these synastic case studies. Unlike Katharine and Phil, Eastwood and Swank had a goal, a “third thing”-the making of a movie-through which to work out and alchemize the formidable energies symbolized by Venus and Saturn. This is also true in the case of Fred Astaire and Ginger Rogers (recall that Ginger’s Saturn conjuncted Fred’s Sun), who had the vessel of their choreography routines and the container of a punishing studio schedule through which to alchemize the Sun-Saturn energies.

Tạm gác sang một bên, trong chốc lát, những yếu tố giảm nhẹ khác này, có một bài học quan trọng cần được rút ra từ các nghiên cứu tình huống synastry. Không như Katharine và Phil, Eastwood và Swank có một mục tiêu, một “điều thứ ba”—việc làm một bộ phim—thông qua đó để triển khai và luyện kim các năng lượng ghê gớm được biểu tượng bởi Sao Kim và Sao Thổ. Điều này cũng đúng trong trường hợp Fred Astaire và Ginger Rogers (hãy nhớ Sao Thổ của Ginger đồng vị Mặt Trời của Fred), những người có chiếc bình là các bài biên đạo của họ và cái “dung khí” của một lịch quay khắc nghiệt để luyện kim các năng lượng Mặt Trời–Sao Thổ.

Not true with Katharine and Phil, who had only the fragile container of their marriage. Ironically, the Washington Post could have provided a perfect container for the workingthrough of the intense energies in their charts. However, as she had done earlier in her life, Katharine sidelined herself from that process. In the final analysis, it might be that the only solution was the one that was played out: Phil’s tragic suicide, and the do-or-die ultimatum that was hoisted upon Katharine as a result.

Điều đó không đúng với Katharine và Phil, những người chỉ có cái dung khí mong manh của cuộc hôn nhân. Trớ trêu thay, Washington Post đã có thể cung cấp một dung khí hoàn hảo để triển khai các năng lượng mãnh liệt trong lá số của họ. Tuy nhiên, như bà đã làm trước đó trong đời mình, Katharine đã gạt mình ra khỏi tiến trình ấy. Trong phân tích cuối cùng, có thể giải pháp duy nhất chính là điều đã diễn ra: vụ tự sát bi thảm của Phil, và tối hậu thư sống-còn được đặt lên Katharine như một hệ quả.

End Word—Lời Kết

Two and a half millennia ago, a desperate man in search of enlightenment sat himself down under a Bodhi tree in Northeast India and slipped into a deep meditation. During the time he sat there, he was accosted by an array of demons who tried to terrify and ultimately destroy him. Violent storms of resentment and hatred arose. And then, worst of all, came enticing sensual delights. Through it all he remained steadfast, succumbing neither to the tempting nor the terrifying.

Hai thiên niên kỷ rưỡi trước, một người tuyệt vọng đi tìm giác ngộ đã ngồi xuống dưới một cây Bồ-đề ở Đông Bắc Ấn Độ và chìm vào một cuộc thiền định sâu. Trong thời gian ông ngồi đó, ông bị một loạt quỷ dữ quấy nhiễu, cố làm ông khiếp sợ và cuối cùng hủy diệt ông. Những cơn bão dữ của oán hận và thù ghét trỗi dậy. Và rồi, tệ nhất trong tất cả, là những khoái lạc nhục cảm quyến rũ. Xuyên suốt tất cả, ông vẫn kiên định, không khuất phục trước cái quyến rũ cũng không khuất phục trước cái kinh hoàng.

At the beginning of the meditation, the man’s name was Prince Siddhartha. At the end, it was Shakyamuni Buddha. Indeed, the experience under the Bodhi tree proved transformative not just for one man but for all of humankind.

Ở đầu cuộc thiền định, tên của người ấy là Thái tử Siddhartha. Ở cuối, đó là Shakyamuni Buddha. Thực vậy, trải nghiệm dưới cây Bồ-đề đã chứng tỏ tính chuyển hóa không chỉ đối với một người mà đối với toàn thể nhân loại.

Think of your natal chart as a Bodhi-tree experience in miniature. All the persecutors and demons (in the form of Saturn and Pluto and Uranus) are there, as are the enticing sensual delights (Venus, Jupiter, the Moon). The demonic elements are dramatized through hard aspects, and the enticing accentuated through those flowing trines and sextiles.

Hãy nghĩ về lá số chiêm tinh của bạn như một trải nghiệm cây Bồ-đề thu nhỏ. Tất cả những kẻ bức hại và quỷ dữ (dưới hình thức Sao Thổ, Sao Diêm Vương và Sao Thiên Vương) đều ở đó, cũng như những khoái lạc nhục cảm quyến rũ (Sao Kim, Sao Mộc, Mặt Trăng). Các yếu tố quỷ dữ được kịch hóa qua các góc hợp căng, và cái quyến rũ được nhấn mạnh qua những tam hợp và lục hợp trôi chảy.

Like Fred and Ginger, we need to find the “third thing” that will help us stay balanced throughout. For Rogers and Astaire, it was dance. For Hilary and Clint, it was moviemaking. For Lance Armstrong, it was cycling (and his struggle with cancer), and for Gandhi, service. Without this third thing, sitting down under the Bodhi tree can be a perilous experience. Use the gifts of your chart-both hard aspects and soft-to lead you to that third thing and, through it, to the Buddha nature that awaits at the other side of the encounter.

Giống như Fred và Ginger, chúng ta cần tìm ra “điều thứ ba” sẽ giúp chúng ta giữ cân bằng xuyên suốt. Với Rogers và Astaire, đó là khiêu vũ. Với Hilary và Clint, đó là làm phim. Với Lance Armstrong, đó là đua xe đạp (và cuộc chiến với ung thư), và với Gandhi, đó là phụng sự. Không có điều thứ ba này, việc ngồi xuống dưới cây Bồ-đề có thể là một trải nghiệm hiểm nguy. Hãy dùng những món quà của lá số—cả các góc hợp căng lẫn các góc hợp mềm—để dẫn bạn đến điều thứ ba ấy và, thông qua nó, đến Phật tính đang chờ đợi ở phía bên kia của cuộc chạm trán.

—

1. Louise DeSalvo, Writing as a Way of Healing (Boston: Beacon Press, 1999), p. 43.

1. Louise DeSalvo, Writing as a Way of Healing (Boston: Beacon Press, 1999), p. 43.

2. Robert Johnson, Inner Work (New York: HarperSanFrancisco, 1986), p. 7.

2. Robert Johnson, Inner Work (New York: HarperSanFrancisco, 1986), p. 7.

3. Stephen Cope, “Standing Psychotherapy on Its Head,” Yoga Journal, May/June 2001, pp. 172-74.

3. Stephen Cope, “Standing Psychotherapy on Its Head,” Yoga Journal, May/June 2001, pp. 172-74.

4. Donald Kalsched, The Inner World of Trauma (New York: Routledge, 1996), p. 37.

4. Donald Kalsched, The Inner World of Trauma (New York: Routledge, 1996), p. 37.

5. Carl Jung, Psyche and Symbol (Princeton, NJ: Princeton University Press, 1991), p. 70.

5. Carl Jung, Psyche and Symbol (Princeton, NJ: Princeton University Press, 1991), p. 70.

6. Michiko Kakutani, “A Pastiche of a Presidency: Imitating a Life,” review of My Life, by Bill Clinton, New York Times, June 20, 2004.

6. Michiko Kakutani, “A Pastiche of a Presidency: Imitating a Life,” review of My Life, by Bill Clinton, New York Times, June 20, 2004.

Appendix I

A Primer of Basic Astrology

The Planets—Các Hành Tinh

For psychological purposes, the planets are placed into two categories: personal and generational. The personal planets-Sun, Moon, Mercury, Venus, and Mars-are faster moving and, as a result, indicative of individual behavior and psychology. The generational planets-Jupiter, Saturn, Uranus, Neptune, and Pluto-move more slowly and are representative of generations. All the planets can manifest as either inner drives or outer events.

Vì các mục đích tâm lý học, các hành tinh được xếp vào hai nhóm: cá nhân và thế hệ. Các hành tinh cá nhân—Mặt Trời, Mặt Trăng, Sao Thủy, Sao Kim và Sao Hỏa—di chuyển nhanh hơn và, do đó, biểu thị hành vi và tâm lý cá nhân. Các hành tinh thế hệ—Sao Mộc, Sao Thổ, Sao Thiên Vương, sao Hải Vương và Sao Diêm Vương—di chuyển chậm hơn và đại diện cho các thế hệ. Tất cả các hành tinh đều có thể biểu hiện như những thôi thúc bên trong hoặc những biến cố bên ngoài.

The Personal Planets

Các Hành Tinh Cá Nhân

• Sun: identity, life force, the father

• Mặt Trời: bản sắc, sinh lực, người cha

• Moon: instincts and emotions, the feminine, the mother

• Mặt Trăng: bản năng và cảm xúc, tính nữ, người mẹ

• Mercury: thinking and communication

• Sao Thủy: tư duy và giao tiếp

• Venus: the love impulse, the drive for connection and affiliation, esthetics

• Sao Kim: xung lực yêu thương, động lực kết nối và liên kết, thẩm mỹ

• Mars: aggression and assertion, the urge for individuation and separation

• Sao Hỏa: tính hiếu chiến và sự khẳng định, thôi thúc cá thể hóa và tách biệt

The Generational Planets

Các Hành tinh Thế hệ

• Jupiter: expansion, faith, optimism

• Sao Mộc: mở rộng, đức tin, lạc quan

• Saturn: contraction, limitation, discipline, law and order

• Sao Thổ: co rút, giới hạn, kỷ luật, luật pháp và trật tự

• Uranus: revolution; electricity; violent, sudden change

• Sao Thiên Vương: cách mạng; điện lực; biến đổi dữ dội, đột ngột

• Neptune: transcendence, imagination

• sao Hải Vương: siêu việt, trí tưởng tượng

• Pluto: survival; the unconscious; transformation; death, sex, and rebirth

• Sao Diêm Vương: sinh tồn; vô thức; chuyển hóa; cái chết, tình dục và tái sinh

The Signs—Các Dấu hiệu

Elemental Groups

Các Nhóm theo Hành

The signs are patterns of energy through which the planets operate. They are categorized according to four elemental groups: fire, air, water, and earth. The fire and air signs are “masculine” and extroverted by nature; water and earth are “feminine” and introverted.

Các dấu hiệu là những mô thức năng lượng mà qua đó các hành tinh vận hành. Chúng được phân loại theo bốn nhóm hành: hỏa, khí, thủy và thổ. Các dấu hiệu hành hỏa và hành khí về bản chất là “nam tính” và hướng ngoại; hành thủy và hành thổ là “nữ tính” và hướng nội.

• Fire: Aries, Leo, Sagittarius-enthusiastic, idealistic

• Hỏa: Bạch Dương, Sư Tử, Nhân Mã—nhiệt thành, lý tưởng

• Air: Gemini, Libra, Aquarius-detached, cerebral, communicative

• Khí: Song Tử, Thiên Bình, Bảo Bình—tách biệt, thiên về trí óc, giao tiếp

• Water: Cancer, Scorpio, Pisces-emotional, empathetic

• Thủy: Cự Giải, Bọ Cạp, Song Ngư—giàu cảm xúc, đồng cảm

• Earth: Taurus, Virgo, Capricorn-practical, security conscious

• Thổ: Kim Ngưu, Xử Nữ, Ma Kết—thực tế, chú trọng an toàn

—

Modalities

Các Tính chất

The planets can also be categorized by three different modalities:

Các hành tinh cũng có thể được phân loại theo ba tính chất khác nhau:

• Cardinal: Aries, Cancer, Libra, Capricorn-initiating, self-reliant

• Chính yếu: Bạch Dương, Cự Giải, Thiên Bình, Ma Kết—khởi xướng, tự lực

• Fixed: Taurus, Leo, Scorpio, Aquarius-stubborn, persistent

• Cố định: Kim Ngưu, Sư Tử, Bọ Cạp, Bảo Bình—bướng bỉnh, bền bỉ

• Mutable: Gemini, Virgo, Sagittarius, Pisces-adaptable, impressionable

• Biến đổi: Song Tử, Xử Nữ, Nhân Mã, Song Ngư—thích nghi, dễ bị tác động

Rulerships-Dignities-Debilities—Chủ tinh–Vượng–Suy

The planets and the signs are integrally connected, with each of the signs ruled by a planet.

Các hành tinh và các dấu hiệu gắn kết chặt chẽ với nhau, trong đó mỗi dấu hiệu được một hành tinh cai quản.

—[Picture 100]

The planets are most powerful when placed in the signs that they rule. Conversely, they are weakest when placed in the opposing signs. For example, Venus, ruler of Taurus, is in its detriment in Scorpio.

Các hành tinh mạnh nhất khi được đặt trong các dấu hiệu mà chúng cai quản. Ngược lại, chúng yếu nhất khi được đặt trong các dấu hiệu đối xứng. Ví dụ, Sao Kim, chủ tinh của Kim Ngưu, ở vị trí "tù" trong Bọ Cạp.

In addition, the planets are exalted in some signs and in their fall in others. Exalted planets are strong, but not as strong as planets in their ruling signs. Planets in their fall are also weak.’

Hơn nữa, các hành tinh "vượng" trong một số dấu hiệu và ở vị trí "tử" trong những dấu hiệu khác. Các hành tinh "vượng" thì mạnh, nhưng không mạnh bằng các hành tinh ở trong dấu hiệu cai quản của chúng. Các hành tinh ở vị trí "tử" cũng yếu.’

Aspects—Các Góc hợp

Aspects are angular relationships between the planets, measured in degrees. It is useful to think of the zodiac as a 3600 pie, which, when sliced, produces these angular relationships. Cutting the pie into two large pieces and placing planets at either end produces an opposition. Cutting it into three pieces produces trines. When divided into four pieces squares are produced; and into six, sextiles.

Góc hợp là các mối quan hệ theo góc giữa các hành tinh, được đo bằng độ. Thật hữu ích khi hình dung Hoàng đạo như một chiếc bánh 3600, khi cắt ra sẽ tạo nên các mối quan hệ theo góc này. Cắt chiếc bánh thành hai phần lớn và đặt các hành tinh ở hai đầu sẽ tạo ra một đối vị. Cắt thành ba phần sẽ tạo ra các tam hợp. Khi chia thành bốn phần sẽ tạo ra các góc vuông; và thành sáu phần sẽ tạo ra các lục hợp.

Aspects reveal the intensity of life experience, as well as how the planetary energies relate to each other. Aspects can be likened to a kind of chemical reaction in which the vibrations of the planets combine and form a third energetic entity.’ Depending on the strength and position of the planets, the aspects can create very powerful impulses within the psyche.

Các góc hợp cho thấy cường độ của trải nghiệm đời sống, cũng như cách các năng lượng hành tinh liên hệ với nhau. Các góc hợp có thể được ví như một dạng phản ứng hóa học, trong đó các rung động của các hành tinh kết hợp và hình thành một thực thể năng lượng thứ ba.’ Tùy theo sức mạnh và vị trí của các hành tinh, các góc hợp có thể tạo ra những xung lực rất mạnh trong tâm thức.

There are two kinds of aspects: hard and soft (or difficult and easy).

Có hai loại góc hợp: cứng và mềm (hoặc khó và dễ).

The hard aspects bring challenge and conflict to the individual. They combine incompatible or opposing elements and require that the native employ both creativity and forbearance in order to make them work constructively. For example, say Mars in Aries (fire) squares Moon in Cancer (water) in a chart. Fire and water do not ordinarily get along, so the native must find a way of making this combination work. One solution-putting water in a pot and the pot on a hot stove-indicates just how productive these difficult aspects can be.

Các góc hợp cứng đem lại thách thức và xung đột cho cá nhân. Chúng kết hợp các hành không tương hợp hoặc đối nghịch và đòi hỏi đương số phải vận dụng cả tính sáng tạo lẫn sự nhẫn nại để khiến chúng vận hành một cách xây dựng. Ví dụ, giả sử Sao Hỏa ở Bạch Dương (hỏa) tạo góc vuông với Mặt Trăng ở Cự Giải (thủy) trong một lá số. Hỏa và thủy thường không hòa hợp, nên đương số phải tìm ra cách làm cho tổ hợp này vận hành. Một giải pháp—đổ nước vào nồi và đặt nồi lên bếp nóng—cho thấy các góc hợp khó này có thể năng suất đến mức nào.

The hard aspects are:

Các góc hợp cứng là:

• The square-90°

• Góc vuông-90°

• The opposition-180°

• Đối vị-180°

• The conjunction-0°

• Đồng vị-0°

Easy aspects combine the same or similar elements. Mars at 23° Virgo (earth) aspecting Saturn at 23° Scorpio (water) sextiles that planet. The Sun at the first degree of Aries (fire) aspecting Venus at the first degree of Leo (fire) is said to trine that planet. Both are examples of harmonious interactions. Soft aspects create pleasure and easy, but usually unremarkable, creativity.

Các góc hợp dễ kết hợp cùng hành hoặc các hành tương tự. Sao Hỏa ở 23° Xử Nữ (thổ) tạo góc hợp với Sao Thổ ở 23° Bọ Cạp (thủy) thì lục hợp với hành tinh đó. Mặt Trời ở độ thứ nhất của Bạch Dương (hỏa) tạo góc hợp với Sao Kim ở độ thứ nhất của Sư Tử (hỏa) thì được nói là tam hợp với hành tinh đó. Cả hai đều là ví dụ về những tương tác hài hòa. Các góc hợp mềm tạo ra khoái cảm và sự sáng tạo dễ dàng, nhưng thường không đáng chú ý.

The soft aspects are:

Các góc hợp mềm là:

• The sextile-60°

• Lục hợp-60°

• The trine-120°

• Tam hợp-120°

Orbs indicate the arc within which an aspect exerts influence. Most astrologers accept an orb of 7°, sometimes larger for the Sun and Moon.

Độ lệch cho biết cung độ mà trong đó một góc hợp phát huy ảnh hưởng. Hầu hết các nhà chiêm tinh chấp nhận độ lệch 7°, đôi khi lớn hơn đối với Mặt Trời và Mặt Trăng.

The Houses—Các Nhà

The houses are fields of life experience. They are:

Các nhà là những trường vực của trải nghiệm đời sống. Chúng là:

• First house: physical body, persona

• Nhà thứ nhất: thân thể vật lý, nhân dạng

• Second house: personal values and possessions

• Nhà thứ hai: các giá trị và tài sản cá nhân

• Third house: communication, short trips

• Nhà thứ ba: giao tiếp, các chuyến đi ngắn

• Fourth house: home, feelings, psychic roots, the mother

• Nhà thứ tư: nhà cửa, cảm xúc, cội rễ tâm linh, người mẹ

• Fifth house: creativity, children

• Nhà thứ năm: sáng tạo, con cái

• Sixth house: physical health, service, routine working environment

• Nhà thứ sáu: sức khỏe thể chất, phụng sự, môi trường làm việc thường nhật

• Seventh house: marriage, one-to-one relationships, opponents

• Nhà thứ bảy: hôn nhân, các mối quan hệ một-đối-một, đối thủ

• Eighth house: transformation, death, sexuality, other people’s resources

• Nhà thứ tám: chuyển hóa, cái chết, tính dục, nguồn lực của người khác

• Ninth house: metaphysics, long trips

• Nhà thứ chín: siêu hình học, các chuyến đi xa

• Tenth house: career, life path, the father

• Nhà thứ mười: sự nghiệp, lộ trình đời sống, người cha

• Eleventh house: friends, community, aspirations

• Nhà thứ mười một: bạn bè, cộng đồng, khát vọng

• Twelfth house: mysticism, the unconscious, confinement

• Nhà thứ mười hai: huyền môn, vô thức, giam hãm

1. Traditional rulerships, dignities, exaltations, and detriments are sometimes different from those of modern astrology.

1. Các chủ tinh, vượng, "tướng", và "tù" theo truyền thống đôi khi khác với chiêm tinh hiện đại.

2. Alan Oken, Alan Okens Complete Astrology (New York: Bantam Books, 1988), p. 386.

2. Alan Oken, Alan Okens Complete Astrology (New York: Bantam Books, 1988), p. 386.

Appendix II

Chart Sources

The Rodden rating system was used for the charts in this book.*

Hệ thống xếp hạng Rodden đã được dùng cho các lá số trong cuốn sách này.*

1. Mahatma Gandhi-October 2, 1869, Porbandar, India, 7:11 a.m. LMT. Rating: C.

1. Mahatma Gandhi-2 tháng 10, 1869, Porbandar, Ấn Độ, 7:11 sáng LMT. Xếp hạng: C.

2. Lance Armstrong-September 18, 1971, Plano, Texas. Not rated. Sunrise chart used.

2. Lance Armstrong-18 tháng 9, 1971, Plano, Texas. Không xếp hạng. Dùng lá số lúc mặt trời mọc.

3. Eric Harris-April 9, 1981, Wichita, Kansas, 9:37 p.m. CST. Rating: AA.

3. Eric Harris-9 tháng 4, 1981, Wichita, Kansas, 9:37 tối CST. Xếp hạng: AA.

4. Princess Diana-July 1, 1961, Sandringham, England, 7:45 p.m. GMD. Rating: A.

4. Công nương Diana-1 tháng 7, 1961, Sandringham, Anh, 7:45 tối GMD. Xếp hạng: A.

5. Princess Masako-December 9, 1963, Tokyo, Japan. Not rated. Sunrise chart used.

5. Công nương Masako-9 tháng 12, 1963, Tokyo, Nhật Bản. Không xếp hạng. Dùng lá số lúc mặt trời mọc.

6. Katharine Graham-June 16, 1917, New York, New York. Not rated. Graham was born at home and no time was listed on her birth certificate. Birth time adjusted to 8:43 a.m. EST by author.

6. Katharine Graham-16 tháng 6, 1917, New York, New York. Không xếp hạng. Graham sinh tại nhà và không có giờ sinh trên giấy khai sinh. Tác giả hiệu chỉnh giờ sinh thành 8:43 sáng EST.

7. Charles Schulz-November 26, 1922, St. Paul, Minnesota. Not rated. Birth time adjusted to 7:07 p.m. CST by author.

7. Charles Schulz-26 tháng 11, 1922, St. Paul, Minnesota. Không xếp hạng. Tác giả hiệu chỉnh giờ sinh thành 7:07 tối CST.

8. Martha Stewart-August 3, 1941, Jersey City, New Jersey, 1:33 p.m. EDT. Rating: AA.

8. Martha Stewart-3 tháng 8, 1941, Jersey City, New Jersey, 1:33 chiều EDT. Xếp hạng: AA.

9. Rush Limbaugh-January 12, 1951, Cape Girardeau, Missouri, 7:50 a.m. CST. Rating: AA.

9. Rush Limbaugh-12 tháng 1, 1951, Cape Girardeau, Missouri, 7:50 sáng CST. Xếp hạng: AA.

10. Jane Fonda-December 21, 1937, Manhattan, New York, 9:14 a.m. EST. Rating: AA.

10. Jane Fonda-21 tháng 12, 1937, Manhattan, New York, 9:14 sáng EST. Xếp hạng: AA.

11. Kurt Cobain-February 20, 1967, Aberdeen, Washington, 7:20 p.m. PST. Rating: AA.

11. Kurt Cobain-20 tháng 2, 1967, Aberdeen, Washington, 7:20 tối PST. Xếp hạng: AA.

12. Katharine Hepburn-May 12, 1907, Hartford, Connecticut, 5:47 p.m. EST. Rating: AA.

12. Katharine Hepburn-12 tháng 5, 1907, Hartford, Connecticut, 5:47 chiều EST. Xếp hạng: AA.

13. John Nash June 13, 1928, Bluefield, West Virginia, 7:00 a.m. EST. Rating: AA.

13. John Nash 13 tháng 6, 1928, Bluefield, West Virginia, 7:00 sáng EST. Xếp hạng: AA.

14. Marlon Brando-April 3, 1924, Omaha, Nebraska, 11:00 p.m. CST. Rating: AA.

14. Marlon Brando-3 tháng 4, 1924, Omaha, Nebraska, 11:00 tối CST. Xếp hạng: AA.

15. Muhammad Ali-January 17, 1942, Louisville, Kentucky, 6:35 p.m. CST. Rating: AA.

15. Muhammad Ali-17 tháng 1, 1942, Louisville, Kentucky, 6:35 chiều CST. Xếp hạng: AA.

16. United States of America-July 4, 1776, Philadelphia, Pennsylvania, 3:10 a.m. LMT. Not rated.

16. Hợp chủng quốc Hoa Kỳ-4 tháng 7, 1776, Philadelphia, Pennsylvania, 3:10 sáng LMT. Không xếp hạng.

17. Henry Miller-December 26, 1891, Manhattan, New York, 12:30 p.m. EST. Rating: A.

17. Henry Miller-26 tháng 12, 1891, Manhattan, New York, 12:30 trưa EST. Xếp hạng: A.

18. Thomas Merton-January 31, 1915, Prads, France, 9:00 a.m. GMT. Rating: AA.

18. Thomas Merton-31 tháng 1, 1915, Prads, Pháp, 9:00 sáng GMT. Xếp hạng: AA.

19. Bill Clinton-August 19, 1946, Texarkana, Arkansas, 8:51 a.m. CST. Rating: A.

19. Bill Clinton-19 tháng 8, 1946, Texarkana, Arkansas, 8:51 sáng CST. Xếp hạng: A.

20. Hillary Clinton-October 26, 1947, Chicago, Illinois, 8:00 p.m. CST. Rating: DD.

20. Hillary Clinton-26 tháng 10, 1947, Chicago, Illinois, 8:00 tối CST. Xếp hạng: DD.

* Rodden Rating System:

* Hệ thống Xếp hạng Rodden:

—[Picture 103]

From: http://www.astrodatabank.com.

Từ: http://www.astrodatabank.com.

Bibliography

Andersen, Hans Christian. The Red Shoes. 1845. Reprint, La Jolla, CA: Green Tiger Press, 1982.

Armstrong, Lance, with Sally Jenkins. It’s Not About the Bike. New York: Berkley Books, 2000.

Barton, Tamsyn. Ancient Astrology. New York: Routledge, 1994.

A Beautiful Mind. Film directed by Ron Howard. Universal Video, 2002.

Berger, M. “Katharine Graham of Washington Post Dies at 84.” New York Times, July 18, 2001, p. 1.

Berzoff, Joan, Laura Melano Flanagan, and Patricia Hertz. Inside Out and Outside In. Northvale, NJ: Jason Aronson, 1996.

Bosworth, Patricia. Marlon Brando. New York: Viking, 2001.

Brandon, J. “Americans Must Correct Their Ignorance of Asia.” Op-ed page, International Herald Tribune, October 23, 2001.

Burdick Harmon, Melissa. “The’Iransformation of Katharine Graham,” Biography, March 2003.

Campion, Nick. “Liz Greene Interview Part 2: The Lens of Astrology.” Mountain Astrologer (February-March, 2002): p. 39.

Carlson, M., and J. M. Horowitz. “The Accidental Feminist.” Time, February 17, 1997, p. 24.

Chadha, Yogesh. Gandhi: A Life. New York: John Wiley, 1997.

Childs, K. “Kay Graham’s Side of the Story.” Editor & Publisher, November 15, 1997, p. 17.

Chin, P. “Gentle Genius.” People, February 28, 2000, pp. 54-59.

Cope, Stephen. “Standing Psychotherapy on Its Head.” Yoga Journal, May/June 2001, pp. 172-74.

Cummins, C. “Life Without Sex?” Yoga Journal, November 2002, p. 96.

Cunningham, Donna. Astrology and Spiritual Development. San Rafael, CA.: Cassandra Press, 1989.

DeSalvo, Louise. Writing as a Way of Healing. Boston: Beacon Press, 1999.

Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, IV. Washington D.C.: American Psychiatric Association, 2000.

Edgerton, C. “Katharine Graham.” Entertainment Weekly, January 4, 2002, p. 37.

Edinger, Edward. Ego and Archetype. Boston: Shambhala, 1992.

Erlanger, S. “In Europe, Some Scold `World’s Policeman.”’ Op-ed page, New York Times, September 26, 2001.

Faiola, A. “Princess Masako Bears Royal Burden.” Washington Post, June 25, 2004, p. 1.

Felsenthal, Carol. Power, Privilege, and the Post: The Katharine Graham Story. New York: Seven Stories Press, 1993.

Fortune, Dion. The Training and Work of an Initiate. York Beach, ME: Samuel Weiser, 2000.

Fritchey, P. “She Moved to an Inner Life.” Newsweek, July 30, 2001, p. 57.

Gandhi. Film directed by Richard Attenborough. Columbia Video, 1982.

Gandhi, M. K. An Autobiography. Ahmedabad, India: Navajivan Trust, 1927.

Gauquelin, Michel. Cosmic Influences on Human Behavior. Santa Fe, NM: Aurora Press, 1994.

Gibbs, N., and T. Roche. “The Columbine Tapes.” Time, December 20, 1999, p. 46.

Giles, J. “The Poet of Alienation.” Newsweek, April 18, 1994, pp. 33-38.

Goode, E. “Wanted: Brave and Congenial.” International Herald Tribune, February 12, 2003.

Graham, Katharine. Personal History. New York: Vintage Books, 1998.

Halberstam, David. The Powers That Be. New York: Dell, 1979.

Hamaker-Zondag, Karen. The Yod Book. York Beach, ME: Samuel Weiser, 2000.

Hays, C., and D. Carr. “Before Facing Judge, Stewart Is Out and About.” Business section, New York Times, July 15, 2004, p. 1.

Hepburn, Katharine, host. AllAbout Me. Video directed by David Heeley. Turner Pictures, 1992.

Hillman, James. Re- Visioning Psychology. New York: HarperPerennial, 1975.

The Holy Bible. The Old Testament, revised standard edition. San Francisco: Ignatius Press, 1952.

Johnson, Robert. Inner Work. New York: HarperSanFrancisco, 1986.

Jung, Carl. Psyche and Symbol. Princeton, NJ: Princeton University Press, 1991.

Kakutani, Michiko. “A Pastiche of a Presidency: Imitating a Life.” Review of My Life, by Bill Clinton. New York Times, June 20, 2004.

Kalsched, Donald. The Inner World of Trauma. New York: Routledge, 1996.

Koh, T. “The Ignorance on Both Sides Can Cause Trouble.” International Herald Tribune, July 26, 2001, p. 4.

Krishnamurti, J. Freedom from the Known. Hampshire, UK: Krishnamurti Foundation Trust Ltd., 1969.

Lhalungpa, Lobsang P., trans. The Life ofMilarepa. New York: Penguin Books, 1977.

Lyman, R. “Marion Brando, Oscar-Winning Actor, Is Dead at 80.” New York Times, July 2, 2004, p. 1.

Martin, Claire. “Cycling Becomes Metaphor for Cancer Battle.” Denver Post, June 4, 2000.

Martin, Jay. Always Merry and Bright: The Life of Henry Miller. New York: Penguin, 1978.

Meachum, Virginia. Martha Stewart: Successful Businesswoman. Berkeley Heights, NJ: Enslow Publishers, 1998.

Merton, Thomas. The Seven Storey Mountain. New York: Harcourt Brace, 1998.

Moses, L. “U.S. Newspapers’ Leading Lady.” Editor &Publisher, July 23, 2001, p. 10.

Nasar, Sylvia. A Beautiful Mind. New York: Touchstone, 1998.

Oken, Alan. Alan Okens Complete Astrology. New York: Bantam Books, 1988.

Onishi, N. “A Princess’s Distress Pierces Japan’s Veil of Secrecy.” New York Times, August 7, 2004.

Reagan, N. “With Great Friendships, You Don’t Try to Figure Them Out.” Newsweek, July 30, 2001, p. 58.

Reich, Wilhelm. Character Analysis. New York: Touchstone, 1945.

Remnick, David. King of the World.- Muhammad Ali and the Rise of an American Hero. New York: Random House, 1998.

Rosenblatt, R. “Why So Many New Yorkers Are Crazy About the Place.” International Herald Tribune, November, 23, 2001.

Rudhyar, Dane. Person-Centered Astrology. New York: Aurora Press, 1980.

Schlesinger, A., Jr. “In Vindicating Herself She Became a Quiet Revolutionary.” Newsweek, July 30, 2001, P. 55.

. Review of Power, Privilege, and the Post: The Katharine Graham Story, by Carol Felsenthal. New Republic, May 3, 1993, p. 36.

Sciolino, E. “Who Hates Us? Who Loves Us?” Op-ed page, New York Times, September 23, 2001.

Siegel, Bernie. Love, Medicine 6’ Miracles. New York: HarperCollins, 1986.

Thomas, E. “An American Original.” Newsweek, July 30, 2001, p 48.

Tyl, Noel. The Creative Astrologer. St. Paul, MN: Llewellyn Publications, 2000.

. Synthesis & Counseling in Astrology. St. Paul, MN: Llewellyn Publications, 1994.

Wilford, J. N. “Solar System’s `Cousin’ Found.” New York Times, June 14, 2002, p. Al.

Wolf, Ernest. Treating the Self. New York: Guilford Press, 1988.

Yogananda, Paramahansa. Autobiography of a Yogi. Los Angeles: Self-Realization Fellowship, 2001.